21 - 4 - 2019 | 21:16
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI Biển Đông: Vùng nước dữ cho việc xây dựng liên minh

Biển Đông: Vùng nước dữ cho việc xây dựng liên minh

Email In PDF.

Mỹ đang phải đối mặt với những trở ngại tại Biển Đông. Washington cần tiến hành các hoạt động hợp tác biển song phương và với các nhóm nước đặc biệt nhằm xây dựng những mạng lưới liên minh khu vực đủ mạnh để giải quyết các vấn đề an ninh và đảm bảo lợi ích của Mỹ.

 

 


Tất cả các quốc gia tiến hành trao đổi và buôn bán hàng hóa bằng đường biển đều chia sẻ một lợi ích chung trong việc đảm bảo tự do hải tại khu vực Biển Đông. Khoảng một phần ba tàu thuyền thương mại của thế giới đi qua tuyến đường biển này, vận chuyển tài nguyên thiên nhiên và các hàng hóa thành phẩm đến người mua trong khắp khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Các nhà xuất nhập khẩu thương mại sẽ phải chịu chi phí nhiên liệu và bảo trì cao hơn nếu bị buộc phải đi đường vòng qua nút giao điểm hàng hải quan trọng này.

Tuy nhiên, bất chấp việc có những lợi ích chung này, Mỹ vẫn phải đối mặt với những trở ngại thực sự trong việc xây dựng một liên minh hàng hải quốc tế tại khu vực. Thách thức được đặt ra ở đây là Mỹ phải đoàn kết các quốc gia tham gia hoạt động trên biển để chống lại các mối đe dọa mà khó có thể được giải quyết một cách triệt để được.[1] Không giống như các mối đe dọa từ  Nhật Bản, Đức và Liên Xô, các thành viên trong liên minh này không phải đối mặt với cái mà học thuyết Tôn Tử gọi là “tử địa” (death ground), trong đó những lợi ích quan trọng hay thậm chí là lợi ích sống còn bị đe dọa. Ngoài ra, Hoa Kỳ cần phải xây dựng một liên minh như vậy trong tình hình kinh tế khó khăn với sự thắt chặt tài chính hơn bao giờ hết. Tình huống này có thể mang lại những hậu quả nhất định. Vị trí lãnh đạo trong các đồng minh cũng như các liên minh gần như thuộc về nước nào có đóng góp nhân lực và vật lực nhiều nhất. Ví dụ, trong Khối Đồng Minh thời chiến tranh thế giới thứ hai, quyền lực được chuyển dịch từ Anh sang Mỹ bởi ngành công nghiệp Mỹ lúc bấy giờ đã bắt đầu sản xuất các nguyên liệu chiến tranh trên số lượng lớn.[2] Sự chuyển giao quyền lực này cũng đúng trong thời đại ngày nay. Washington đang cố gắng để dẫn dắt và lãnh đạo các khối liên minh tại chính thời điểm mà khả năng để làm điều đó của nước này đang suy giảm.

Ngày nay, hợp tác trên biển là cụm từ được lặp lại liên tục trong chính sách của Mỹ đối với các vùng biển có lưu thông hàng hải trên thế giới. Do những cơ quan trên biển - Hải quân Mỹ, Thủy quân lục chiến (USMC) và Cảnh sát biển(USCG) – thấy rõ được rằng việc giảm ngân sách, chi phí đóng tàu tăng cao và tinh giảm cơ cấu lực lượng đang hạn chế các lựa chọn của họ,[3] họ phải tìm kiếm sự giúp đỡ từ các đối tác địa phương để quét sạch các mối đe dọa như khủng bố, cướp biển, phổ biến vũ khí và các hình thức buôn bán bất hợp pháp ra khỏi các tuyến đường biển. Các hạm đội của Mỹ, cho dù vẫn duy trì được sức mạnh lớn nhất trên thế giới, nhưng đang ngày càng trở nên quá nhỏ bé và quá hạn chế để có thể bảo vệ toàn thể cộng đồng hàng hải – “chuỗi liên kết của hệ thống quốc tế”, như đã được miêu tả trong một tuyên bố chính thức –  – chống lại những mối đe dọa tới các tuyến đường biển quan trọng.[4] Biển Đông, nằm ở giao điểm giữa hai đại dương và cho phép các lực lượng quân đội Mỹ dễ dàng di chuyển, phải trở thành tâm điểm trong hợp tác hàng hải quốc tế.

Việc duy trì những lực lượng này ở trong tình trạng tốt là một trong những mục tiêu hàng đầu của các nỗ lực hỗ trợ hàng hải của Mỹ. Chiến lược năm 2007 của Hải quân, Thủy quân lục chiến và Cảnh sát biển của Mỹ có tiêu đề “Chiến lược hợp tác cho Sức mạnh trên biển ở thế kỷ 21” (CS-21) và vẫn còn hiệu lực cho đến thời điểm này. Chiến lược sức mạnh trên biển này nâng cao nhiệm vụ giám hộ đối với hệ thống buôn bán và thương mại trên biển, vấn đề mà Mỹ đã chịu trách nhiệm từ năm 1945, tới mức độ là một nhiệm vụ “cốt lõi” của các đơn vị trên biển. CS-21 xác định Tây Thái Bình Dương và khu vực Ấn Độ Dương/Vịnh Ba Tư là các mối đe dọa trung tâm cho sức mạnh trên biển của Mỹ, bao gồm cả chức năng cảnh sát cũng như chức năng quân sự. Lời mở đầu của CS-21 tuyên bố rằng Hoa Kì sẽ “tham gia với các quốc gia có cùng chí hướng khác bảo vệ và duy trì hệ thống có tính toàn cầu và kết nối lẫn nhau này để nhờ đó các bên có thể phát triển sự thịnh vượng”.[5]

Mục tiêu này của Mỹ gặp phải sự phản đối gay gắt từ phía Trung Quốc, nước đang ngày càng gia tăng sức mạnh chính trị, kinh tế và quân sự. Bắc Kinh coi sự tham gia của Mỹ tại các vùng biển lân cận như là một cái cớ để kiềm chế những tham vọng chính đáng của Trung Quốc. Khả năng ngăn cản các hành động của Mỹ mà Trung Quốc coi là thù địch với các lợi ích của mình đang ngày càng gia tăng cùng với sự ảnh hưởng về ngoại giao. Sự phụ thuộc kinh tế giữa hai cường quốc Thái Bình Dương cho phép Bắc Kinh ràng buộc các hoạt động của Mỹ tại Biển Đông với các mối quan hệ kinh tế tốt đẹp. Trong thực tế, Trung Quốc có thể giữ các mối quan hệ kinh tế xuyên Thái Bình Dương như là con tin để bắt Mỹ phải có thái độ “tốt” tại khu vực Đông Nam Á. Kết quả là, những nhà cầm quyền Mỹ gần đây tỏ ra khiên cưỡng trong việc bác bỏ các ý muốn của Trung Quốc trong những vấn đề mà phía Trung Quốc xem là quan trọng đối với lợi ích quốc gia của họ.

Tuy nhiên, Hoa Kỳ không thể từ bỏ các lợi ích của họ tại Biển Đông. Mặc dù những phản đối của Trung Quốc có thể ngăn cản Mỹ xây dựng một liên minh khu vực đủ mạnh để giải quyết các vấn đề an ninh, thì phía Mỹ vẫn nên tiến hành các hoạt động hỗ trợ hàng hải song phương, thậm chí là hợp tác với các nhóm có mục đích đặc biệt được thành lập bởi những nước có quan tâm. Những hoạt động này sẽ giúp thúc đẩy các lợi ích của Mỹ và đồng thời cũng đặt nền tảng cho hợp tác hàng hải một cách sâu rộng hơn trong thời điểm mà môi trường an ninh trong khu vực đang thay đổi một cách đáng kể.

Chiến lược biển của Mỹ

Duy trì tự do hàng hải không phải chỉ là câu chuyện của lực lượng hải quân. “Hàng hải” (maritime) bao hàm ý nghĩa rộng hơn so với “hải quân” (naval). Giáo sư Geofrey Till của trường Đại học King ở Luân Đôn lý giải điều này một cách rất hợp lí bằng cách kết hợp các nhiệm vụ “giữ trật tự trên biển” trong thời bình với các chức năng chiến đấu truyền thống. Từ đó ông mở rộng và đa dạng hóa các khái niệm về sức mạnh trên biển. Các lực lượng hải quân đóng vai trò nhất định trong cách nhìn của Till, tuy nhiên các lực lượng phi quân sự khác như Cảnh sát Biển, Bộ ngoại giao, các cơ quan thực thi pháp luật, các cơ quan tình báo, hải quan và biên phòng cũng có những vai trò riêng. Ngay cả những công ty tư nhân ví dụ như các công ty vận hành các ga chứa hàng công-ten-nơ cũng đều có những vai trò nhất định.[6] Trên tinh thần này, CS-21 tuyên bố “Trước đây, chưa bao giờ các lực lượng trên biển của Mỹ - Lực lượng Hải quân, Thủy quân lục chiến, và Cảnh sát biển – lại cùng nhau để tạo nên một chiến lược biển thống nhất”.[7] Để rõ ràng hơn, chúng ta nên biết rằng, chiến lược hiện thời – chiến lược của những năm 1980 - chỉ đơn thuần là một chiến lược dành cho lực lượng hải quân với mục đích là để đánh bại Hải quân Liên Xô trong thời kì chiến tranh.[8]

Chiến lược an ninh biển quốc gia (NSMS) năm 2005, văn kiện đến ngày nay vẫn còn hiệu lực, thừa nhận sự cấp bách về việc mở rộng tầm nhìn của chiến lược quốc gia vượt ra ngoài các mục tiêu hàng hải đơn thuần. Bộ Quốc Phòng và Cục An ninh nội địa Mỹ cũng ban hành các chiến lược phối hợp hành động, tái khẳng định rằng an ninh biển liên quan đến nhiều vấn đề hơn so với sức mạnh hải quân. Cảnh sát biển Mỹ hiện nay là cơ quan của Bộ An ninh nội địa, đóng vai trò như cục hải quan và biên phòng Mỹ để từ đó cũng góp phần bảo vệ các vùng biển. Chiến lược an ninh biển quốc gia, do đó có một cái nhìn về các thách thức rộng hơn so với CS-21. Chiến lược này tuyên bố:

An ninh biển có được kết quả tốt nhất khi kết hợp các hoạt động gìn giữ an ninh biển của cộng đồng và cá nhân trên quy mô toàn cầu để từ đó hình thành nên một nỗ lực chung nhằm giải quyết các mối đe dọa hàng hải. Chiến lược an ninh biển quốc gia mới này sắp xếp tất cả các chương trình an ninh biển của các chính phủ liên bang và các sáng kiến thành một nỗ lực quốc gia toàn diện và gắn kết liên quan đến các bang, các tiểu bang, các địa phương, và các khu vực tư nhân có liên quan.[9]

Văn kiện này đưa ra ba nguyên tắc để quản lý những hoạt động trên biển của Mỹ: bảo toàn tự do trên biển, đảm bảo sự liên tục cho vận chuyển hàng hóa và tạo điều kiện thuận lợi cho sự di chuyển hàng hóa và con người qua biên giới của Mỹ đồng thời cũng loại bỏ các cá nhân hoặc các trang thiết bị có thể gây nguy hiểm. Từ những nguyên tắc này, các tác giả  rút ra được bốn mục tiêu chiến lược, trong đó hai mục tiêu đặc biệt phù hợp cho bài viết này: i) ngăn chặn các cuộc tấn công khủng bố đường biển và “tội phạm cũng như các hành động thù địch”; ii) “bảo vệ đại dương và nguồn tài nguyên đại dương”.[10] Quan điểm này phù hợp với cách nhìn về trật tự hợp lí trên biển của Till.

Cả NSMS và CS-21 đều không thừa nhận bất kì ranh giới địa lý nào. Các lợi ích sống còn của Mỹ có thể được hình dung là đang bị đe dọa tại bất kì tuyến lưu thông đường biển nào trên thế giới. Theo nhà lý luận về sức mạnh biển Afred Thayer Mahan, nhà trí thức có công lớn trong việc xây dựng Lực lượng Hải quân Mỹ hiện đại, thì NSMS mô tả các vùng biển và đại dương như một vùng rộng lớn riêng biệt và không thể phân chia.[11]

Nước mặn chiếm hơn hai phần ba diện tích bề mặt của Trái Đất. Các vùng nước này là những vùng đơn lẻ, là các đại đương lớn, và là một vùng hàng hải rộng lớn ảnh hưởng tới cuộc sống ở khắp mọi nơi. Mặc dù các đại dương trên thế giới được phân chia theo địa lý thành 4 khu vực – Đại Tây Dương, Bắc Băng Dương, Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương – có tên gọi khác nhau, thì đây là vẫn những vùng địa lý được xác định lớn nhất trên Trái Đất.[12]

Theo đó, khi xem xét đến khủng bố đường biển, NSMS quy định rằng các lực lượng cần được “đào tạo, trang bị, chuẩn bị để phát hiện, răn đe, ngăn chặn và tiêu diệt các phần tử khủng bố trong phạm vi hàng hải”.[13] Đây được coi như một hướng dẫn về việc tăng cường hoạt động dựa trên địa lý. Tài liệu này, tuy nhiên, thẳng thắn thừa nhận rằng không một quốc gia nào sở hữu đủ nguồn lực cần thiết để có thể một mình giám sát toàn bộ cộng đồng. Cộng đồng chung là quá lớn, những đòi hỏi của cộng đồng là quá nhiều còn nguồn lực để thực hiện những đòi hỏi này thì lại quá ít. Chiến lược cũng cam kết “tăng cường hợp tác quốc tế để đảm bảo việc thực thi đúng pháp luật và kịp thời các hành động để chống lại các mối đe dọa hàng hải”.[14]

Các vùng biển hẹp đặt ra những mối lo ngại đặc biệt. NSMS quan sát thấy rằng “khoảng 1/3 thương mại của thế giới và 1/2 lượng dầu của thế giới được chuyên chở qua eo biển Malacca và Singapore”.[15] Cũng cần lưu ý rằng cánh cổng giao thương giữa Biển Đông và Ấn Độ Dương này là vùng  địa lý duy nhất được đề cập một cách cụ thể ở trong tài liệu. Những tuyến đường giao thông này có thể bị đóng lại bởi các tai nạn hoặc những hành động có chủ ý, như việc phong tỏa quân sự, cướp biển hay tấn công khủng bố. Để loại bỏ những mối đe dọa tới vận chuyển hàng hóa trong những vùng biển quan trọng, tài liệu này cho rằng Bộ Ngoại giao Mỹ nên phối hợp các sáng kiến mà “xây dựng dựa trên các kết quả hiện có, như là Sáng kiến an ninh công-ten-nơ (CSI), Sáng kiến an ninh phòng ngừa vũ khí hủy diệt (PSI), Chương trình hợp tác hải quan – thương mại chống khủng bố” với các hiệp ước, điều ước phù hợp.[16]

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây

James R. Holmes

Quang Tiệp (dịch)

Quang Hưng (hiệu đính)

Bản dịch chương VI: Rough Waters for Coalition Building trong báo cáo: Cooperation from Strenth: The United States, China and the South China Sea của Trung tâm An ninh mới (CNAS) của Mỹ.



[1] Điều này có nghĩa các nước tham gia vào cuộc chiến này sẽ phải cố gắng hết sức mình bởi vì họ không có sự lựa chọn nào khác. Sun Tzu, The Illustrated Art of War, trans. Samuel B. Griffith (Oxford: Oxford University Press, 2005), 209-212.

[2]  Maurice Matloff, “Allied Strategy in Europe, 1939-1945,” in Makers of Modern Strategy, ed. Peter Paret (Princeton: Princeton University Press, 1986), 687- 692

[3]  Sam Fellman, “CNO Warns Deep Cuts Will Hollow Fleet,” Navy Times, November 2, 2011, http://www.navytimes.com/news/2011/11/navy-cno-warns-that-deep-cuts-will-hollow-fleet-110211/.

[4]  U.S. Department of Defense, Quadrennial Defense Review Report (February 2010), 8, http://www.defense.gov/qdr/images/QDR_as_of_12Feb10_1000.pdf.

[5]  U.S. Navy, Marine Corps, and Coast Guard, A Cooperative Strategy for 21st Century Seapower (October 2007), http://www.navy.mil/maritime/Maritimestrategy.pdf.

[6]  Geoffrey Till, Seapower (London: Frank Cass, 2004), 310-350

[7]  U.S. Navy, Marine Corps and Coast Guard, A Cooperative Strategy for 21st Century Seapower.

[8]  Norman Friedman, The U.S. Maritime Strategy (London: Jane’s Information Group, 1988).

[9] White House, The National Strategy for Maritime Security (September 2005), ii, http://www.dhs.gov/xlibrary/assets/HSPD13_MaritimeSecurityStrategy.pdf.

[10] White House, The National Strategy for Maritime Security, iii, 7-8. Hai mục tiêu khác là “bảo vệ các khu dân cư hoặc các cơ sở hạ tầng tại những khu vực có liên quan đến hàng hải” và “giảm thiểu thiệt hại và xúc tiến công cuộc phục hồi”.

[11] Rolf Hobson, Imperialism at Sea: Naval Strategic Thought, the Ideology of Sea Power, and the Tirpitz Plan, 1875-1914 (Boston: Brill, 2002), 173

[12] White House, The National Strategy for Maritime Security, 1. Emphasis added.

[13] Sđd., 9. Đã thêm phần nhấn mạnh.

[14] Sđd., 14-15.

[15] Sđd., 14-15.

[16] Sđd., 14-15.

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Nhận diện chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông

Nhận diện chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông

Để giành kiểm soát trên Biển Đông, đầu tiên, Trung Quốc cần phải cô lập khu vực. Trong nỗ lực cô lập khu vực, Trung Quốc sử dụng chiến lược hai hướng “cây gậy và củ cà rốt”, vừa lôi kéo các nước láng giềng khi thuận tiện trong khi đe dọa các nước chống đối mình.

Đọc tiếp...

Nhận diện mục đích của Trung Quốc ở Biển Đông

Nhận diện mục đích của Trung Quốc ở Biển Đông

Tại sao Trung Quốc lại tập trung vào Biển Đông đến như vậy và tại sao lại vào thời điểm này? Nghiên cứu cho thấy, một phần Trung Quốc được thúc đẩy bởi nhận thức về cơ hội, một phần vì nhận thức về sự suy yếu của Mỹ và một phần bởi nhu cầu lên tiếng về những tuyên bố pháp lý của nhà nước.

Đọc tiếp...

Phán quyết Biển Đông: Chúng ta nên hiểu Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển như thế nào?

Phán quyết Biển Đông: Chúng ta nên hiểu Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển như thế nào?

Người ta thường cho rằng cơ chế giải quyết tranh chấp được quy định tại phần XV Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS) được áp dụng rất hạn chế, phản ánh ý đồ của những người soạn thảo UNCLOS. Vì vậy, các tòa trọng tài cần diễn giải phần XV một cách thận trọng, lưu ý đến những giới hạn về thẩm quyền của toà. Tuy nhiên, Phán quyết Vụ kiện Biển Đông đã đi ngược lại với cách tiếp cận này.

Đọc tiếp...

Leo thang trên biển: Tình trạng ổn định và bất ổn định tại các vùng biển Đông Á

Leo thang trên biển: Tình trạng ổn định và bất ổn định tại các vùng biển Đông Á

Bài viết lập luận rằng các bất ổn cường độ thấp sẽ xảy ra trong tranh chấp biển hoặc cạnh tranh sức mạnh trên biển; tuy nhiên, ít có khả năng tạo ra chu kỳ leo thang kéo dài bởi đặc điểm của môi trường chiến lược biển khu vực.

Đọc tiếp...

Đã đến lúc cần suy nghĩ nghiêm túc về một chiến lược tại Biển Đông

Đã đến lúc cần suy nghĩ nghiêm túc về một chiến lược tại Biển Đông

Thời điểm hiện tại, tình hình Biển Đông đang đi vào thời điểm quan trọng khi những bước tiến của Trung Quốc đang tích tụ dần còn dư địa cho Mỹ hành động đang giảm đi, và các nhà quan sát tại khu vực thì đang tự hỏi liệu Mỹ đã sẵn sàng đối mặt với thách thức này hay chưa. Và Mỹ vẫn đang loay hoay đi tìm một chiến lược.

Đọc tiếp...

"Không độc chiếm" Biển Đông?

Dù có sự khác biệt giữa Vương quốc Trung Hoa và Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, nhưng Simon nhận thấy Trung Quốc vẫn giữ khuynh hướng sơ khởi đó là thưởng cho "những quốc gia sẵn sàng thừa nhận vị thế bá chủ khu vực của mình" trong khi phạt "những quốc gia từ chối tuân phục". Để thấy rõ nhất cách tiếp cận này của Trung Quốc, ta có thể nhìn ngay vào quan hệ của nước này tại Đông Nam Á trong năm 2018.

Đọc tiếp...

Vai trò các Chủ thể Doanh nghiệp trong Chính sách Biển Đông của Trung Quốc

Vai trò các Chủ thể Doanh nghiệp trong Chính sách Biển Đông của Trung Quốc

Bài viết phân tích 3 trường hợp nghiên cứu trong lĩnh vực - du lịch, khai thác năng lượng và cơ sở hạ tầng - từ đó nêu bật vai trò các chủ thể doanh nghiệp Trung Quốc đã làm thay đổi chính sách Biển Đông của Trung Quốc như thế nào.

Đọc tiếp...

Chiến lược xây dựng Trung Quốc trở thành cường quốc biển của Bắc Kinh

Chiến lược xây dựng Trung Quốc trở thành cường quốc biển của Bắc Kinh

Bài phân tích đánh giá việc Bắc Kinh xác định chiến lược biển của mình trong các tuyên bố công khai của lãnh đạo. Mục đích là nhằm hiểu được nhiều hơn về ý đồ và ưu tiên chiến lược của Trung Quốc trong lĩnh vực biển; đồng thời cung cấp cho giới hoạch định chính sách và các chuyên gia an ninh quốc gia vốn kiến thức cụ thể và đầy đủ nhất để đối trọng với Trung Quốc trong các vấn đề trên biển.

Đọc tiếp...

Biển Đông: Các Động lực Thay đổi

Biển Đông: Các Động lực Thay đổi

Hành động của Trung Quốc tại Biển Đông khiến các nước trong khu vực cảnh giác. Thực tế này thúc đẩy Philippines kiện Trung Quốc. Vào năm 2016, tòa đã đưa ra phán quyết. Hành động và phản ứng của các bên liên quan tới phán quyết và các sự kiện chính trị khác đã khiến năm 2016 trở thành một năm đáng chú ý. Cuộc bầu cử Tổng thống ở Philippines và Mỹ cũng bổ sung những động lực khác khiến tình hình khu vực thay đổi.

 

Đọc tiếp...

Cạnh tranh ảnh hưởng Trung - Mỹ tại Đông Nam Á

Cạnh tranh ảnh hưởng Trung - Mỹ tại Đông Nam Á

Bài viết so sánh chính sách đối ngoại của Trung Quốc và Mỹ, cụ thể là các hình thức hội nhập kinh tế và cách tiếp cận địa chính trị tại Đông Nam Á. Các tác giả so sánh động cơ và lý do các cường quốc lớn và hạng hai trong khu vực chấp nhận hoặc tranh cãi về các chính sách của Mỹ và Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Khảo cổ học và chủ nghĩa yêu nước: Chiến lược dài hạn của Trung Quốc ở Biển Đông

Khảo cổ học và chủ nghĩa yêu nước: Chiến lược dài hạn của Trung Quốc ở Biển Đông

Các ghi chép của Trung Quốc cho thấy chuyến thám hiểm chính thức đầu tiên của Trung Quốc tới Hoàng Sa vào năm 1902 chưa từng diễn ra. Thay vào đó, một cuộc thám hiểm bí mật được tiến hành nhiều thập kỷ sau đó để ngụy tạo bằng chứng khảo cổ học trên quần đảo Hoàng Sa nhằm củng cố yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Trung Quốc và ASEAN trên Biển Đông: Những cơ hội và nguy hiểm

Trung Quốc và ASEAN trên Biển Đông: Những cơ hội và nguy hiểm

Quan hệ giữa Trung Quốc và ASEAN về vấn đề Biển Đông dường như đang được cải thiện. Trong khu vực, người ta nói đến hợp tác kinh tế và khoa học, khai thác chung tài nguyên biển, bộ quy tắc ứng xử. Nhưng thực tế hoàn toàn khác và chúng ta không thể quên một điều cốt yếu: Sự mất cân xứng về công nghệ và quân sự, những cơ hội và nguy hiểm của việc khai thác chung... có lợi cho Bắc Kinh!

Đọc tiếp...

Cách thức đúng đắn để Mỹ đẩy lùi Trung Quốc ở Biển Đông

Cách thức đúng đắn để Mỹ đẩy lùi Trung Quốc ở Biển Đông

Một liên minh hiệu quả ở Biển Đông sẽ là thứ giúp bảo vệ các quyền lợi mà các nước Đông Nam Á được hưởng trong vùng biển của chính họ, đồng thời khiến Bắc Kinh phải đưa ra những nhượng bộ dài hạn hoặc phải trả một cái giá cắt cổ về ngoại giao và kinh tế. Nhưng để làm được điều đó, Washington cần đưa chính sự sáng tạo và tham vọng mà họ đã thể hiện ở biển Hoa Đông đến Biển Đông.

Đọc tiếp...

Hiểu và đánh bại cuộc nổi dậy trên biển của Trung Quốc ở Biển Đông

Hiểu và đánh bại cuộc nổi dậy trên biển của Trung Quốc ở Biển Đông

Để khôi phục được vị thế, Mỹ và các đồng minh của nước này cần phải điều chỉnh lại cách hiểu của họ về chiến dịch của Trung Quốc trên Biển Đông và định hướng lại chiến lược của Mỹ nhằm đánh bại nó.

Đọc tiếp...

Phát biểu của ông Ngô Sỹ Tồn: Những thách thức địa chính trị trên Biển Đông mà Trung Quốc đang phải đối mặt

Phát biểu của ông Ngô Sỹ Tồn: Những thách thức địa chính trị trên Biển Đông mà Trung Quốc đang phải đối mặt

Bài phát biểu của ông Ngô Sỹ Tồn nhận định tình hình Biển Đông mà ông đã nắm được qua cuộc trao đổi với chuyên gia, học giả các viện nghiên cứu chính sách nhân chuyến công tác tới Mỹ, Nhật Bản và Úc gần đây, đồng thời đưa ra một số phán đoán và phân tích về tình hình địa chính trị ở Biển Đông hiện nay.

Đọc tiếp...

Khai thác chung tài nguyên dầu khí ở Biển Đông giữa Trung Quốc – Philippines: Thách thức và triển vọng

Khai thác chung tài nguyên dầu khí ở Biển Đông giữa Trung Quốc – Philippines: Thách thức và triển vọng

Vài năm trở lại đây, vấn đề khai thác chung tài nguyên dầu khí ở Biển Đông giữa Trung Quốc và Philippines thu hút sự chú ý rất lớn từ các quốc gia trong và ngoài khu vực. Trên quan điểm của Trung Quốc, triển vọng khai thác chung giữa hai nước có khả thi? Cần phải giải quyết những thách thức nào để đi đến thỏa thuận khai thác trên thực tế?

Đọc tiếp...

Thương mại, chiến tranh và Biển Đông

Thương mại, chiến tranh và Biển Đông

Trong vùng biển từng được cho là đã đạt được tiến bộ, một mặt trận đáng lo ngại đang hình thành: làn sóng ngầm liên kết tranh chấp ở Biển Đông với cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung.

Đọc tiếp...

Phán quyết Tòa trọng tài Biển Đông: nhìn từ góc độ giải quyết tranh chấp

Phán quyết Tòa trọng tài Biển Đông: nhìn từ góc độ giải quyết tranh chấp

Việc thực thi hay chấp nhận Phán quyết là điều quan trọng để giải quyết tranh chấp, nhưng quan trọng hơn là các quốc gia và những nước phụ thuộc vào hoạt động giao thương trong khu vực phải tìm kiếm giải pháp hòa bình và thực dụng để cân bằng lợi ích của tất cả các bên liên quan.

Đọc tiếp...

Du kích trong vùng biển sương mù -Lực lượng dân quân biển của Trung Quốc và luật pháp quốc tế

Du kích trong vùng biển sương mù -Lực lượng dân quân biển của Trung Quốc và luật pháp quốc tế

Phân tích chuyên sâu cho thấy, hành động dân quân biển Trung Quốc “cấu thành” trách nhiệm pháp lý cho chính phủ Trung Quốc, đồng thời làm xói mòn các ngành luật chuyên biệt của luật pháp quốc tế. Phân tích cũng đưa ra những khuyến nghị cụ thể để đối phó với thách thức mà dân quân biển Trung Quốc đặt ra.

Đọc tiếp...

Hoạt động Xây đảo tại Biển Đông: Tính Pháp lý và Những Giới hạn

Hoạt động Xây đảo tại Biển Đông: Tính Pháp lý và Những Giới hạn

Mặc dù Phán quyết của Toà tập trung chủ yếu vào việc làm rõ phạm vi các quyền lợi biển của Trung Quốc và Philippines ở Biển Đông, tuy nhiên phần về hoạt động cải tạo và xây đảo của Trung Quốc cũng rất đáng chú ý. Với mục đích này, bài viết sẽ kiểm chứng những kết luận của Tòa về tính pháp lý trong hoạt động xây đảo của Trung Quốc cũng như những quy định pháp lý về những hoạt động này.

Đọc tiếp...

Lựa chọn Mô hình của Bismarck hay Wilhelm? Sự Trỗi dậy Hòa bình và Chính sách Biển Đông của Trung Quốc

Lựa chọn Mô hình của Bismarck hay Wilhelm? Sự Trỗi dậy Hòa bình và Chính sách Biển Đông của Trung Quốc

Trung Quốc đứng trước lựa chọn áp dụng mô hình của Otto von Bismarck hoặc đi theo mô hình của một lãnh đạo người Đức khác, Kaiser Wilhelm. Theo đó, nước này theo đuổi chính sách phát triển quân sự, tìm cách mở rộng lãnh thổ, có phần xem nhẹ những quan ngại của các nước láng giềng.

Đọc tiếp...

Cân bằng quyền lực liên kết và những khả năng cho Luật quốc tế tại Biển Đông

Cân bằng quyền lực liên kết và những khả năng cho Luật quốc tế tại Biển Đông

Các tác giả bài phân tích cho rằng việc làm sống lại lập luận về “cân bằng quyền lực liên kết” sẽ đưa ra những ý tưởng mới giúp luật quốc tế có thể phát huy khả năng của mình trong tranh chấp Biển Đông. Từ đó, bài viết đề xuất chương trình nghiên cứu liên ngành giữa Luật quốc tế và Nghiên cứu chiến lược nhằm thúc đẩy giải quyết tranh chấp trên biển Đông dựa trên các nguyên tắc pháp luật.

Đọc tiếp...

“Vùng biển Hợp tác” hay “Vùng biển Xung đột”: Biển Đông trong bối cảnh hợp tác biển Trung Quốc – ASEAN

“Vùng biển Hợp tác” hay “Vùng biển Xung đột”: Biển Đông trong bối cảnh hợp tác biển Trung Quốc – ASEAN

Bài viết đánh giá tổng quan về mối quan hệ hợp tác biển Trung Quốc ASEAN cũng như những động lực và tác động đằng sau những sáng kiến hợp tác giữa hai bên. Bên cạnh đó, bài viết đưa ra phương hướng và triển vọng để Biển Đông trở thành “vùng biển hợp tác”, góp phần duy trì hòa bình, ổn định khu vực.

Đọc tiếp...

Duterte và chính sách đối ngoại gây tranh cãi của Philippines

Duterte và chính sách đối ngoại gây tranh cãi của Philippines

Dưới thời Tổng thống Rodrigo Duterte, Philippines được xem là người bạn thân mới của Trung Quốc. Tuy nhiên cách làm này của Tổng thống Philippines đã gây ra phản ứng trong nước trên diện rộng, khiến cho chính quyền của Duterte phải cẩn thận hơn trong những bước đi tiếp theo.

Đọc tiếp...

Phán quyết Trọng tài về vấn đề Biển Đông - Những tác động nào đối với Tự do Hàng hải và Sử dụng Vũ lực?

Phán quyết Trọng tài về vấn đề Biển Đông - Những tác động nào đối với Tự do Hàng hải và Sử dụng Vũ lực?

Bài viết đánh giá các tác động của Phán quyết đối với tự do hàng hải và việc sử dụng vũ lực ở Biển Đông, xác định các kết luận rút ra từ Phán quyết và các vấn đề tồn tại. Phán quyết cũng gián tiếp đặt ra vấn đề việc sử dụng vũ lực để bảo vệ các quyền lưu thông trên biển.

Đọc tiếp...

Biển Đông: Bất ổn gia tăng giữa những xu hướng theo chủ nghĩa xét lại

Biển Đông: Bất ổn gia tăng giữa những xu hướng theo chủ nghĩa xét lại

Vai trò lãnh đạo đang sa sút của Mỹ và trật tự dựa trên nguyên tắc đang suy yếu có quan hệ phụ thuộc qua lại với chủ nghĩa xét lại và thái độ quyết đoán ngày càng tăng của Bắc Kinh. Cách thức điều này diễn ra ở Biển Đông là một tiền lệ nguy hiểm cho các điểm nóng quân sự khác trên khắp Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Khu vực này có thể làm gì để ứng phó?

Đọc tiếp...

Phải chăng giờ là thời điểm Mỹ cần chống lại “sự nổi dậy” của Trung Quốc ở Biển Đông?

Phải chăng giờ là thời điểm Mỹ cần chống lại “sự nổi dậy” của Trung Quốc ở Biển Đông?

Chế độ quản trị bằng luật pháp quốc tế sẽ đứng vững hay sụp đổ là phụ thuộc vào việc các tàu thuyền dân sự có tự tin hoạt động ở những nơi và theo cách thức họ muốn trong khuôn khổ các quyền lợi hợp pháp quốc tế của mình hay không.

Đọc tiếp...

Trung Quốc có sử dụng vũ lực hay cưỡng bức ở Biển Đông hay không? - Tầm quan trọng của từ ngữ

Trung Quốc có sử dụng vũ lực hay cưỡng bức ở Biển Đông hay không? - Tầm quan trọng của từ ngữ

Vì sao việc định nghĩa hành vi sử dụng vũ lực có ý nghĩa quan trọng trong luật quốc tế? Và việc nhận định các hành động của Trung Quốc tại Biển Đông là hành vi sử dụng vũ lực theo nghĩa của Điều 2(4) Hiến chương Liên Hợp Quốc có tác động như thế nào về mặt pháp lý?

Đọc tiếp...

Vấn đê biển Đông trong chính sách châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ từ sau Chiến tranh Lạnh

Vấn đê biển Đông trong chính sách châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ từ sau Chiến tranh Lạnh

Bài viết tập trung phân tích, làm rõ quan điểm của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông được thể hiện qua động thái thay đổi lập trường từ “không dính líu” sang “can dự có chừng mực” và “tích cực can dự” trong các diễn biến liên quan đến Biển Đông. Đồng thời bài viết cũng đưa ra một số nhận xét về quan điểm của Mỹ đối với vấn đề Biển Đông từ sau Chiến tranh Lạnh.

Đọc tiếp...

Hai năm sau Phán quyết, Biển Đông vẫn tiếp tục là thử thách đối với trật tự dựa trên luật lệ

Hai năm sau Phán quyết, Biển Đông vẫn tiếp tục là thử thách đối với trật tự dựa trên luật lệ

Trung Quốc đang nỗ lực sử dụng sức mạnh quân sự nhằm hủy hoại các quyền mà luật pháp quốc tế dành cho các quốc gia, đe dọa đến hòa bình và an ninh thế giới.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 10171 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin