28 - 1 - 2020 | 4:06
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI Chính sách Biển Đông của Mỹ trong quan hệ với Trung Quốc

Chính sách Biển Đông của Mỹ trong quan hệ với Trung Quốc

Email In PDF.

 Báo cáo của Trung tâm An ninh Mới của Mỹ (CNAS) cho rằng các lợi ích của Mỹ đang ngày càng bị đe dọa trước sự lớn mạnh của Trung Quốc, nhất là trước việc nước này sẵn sàng “xem xét lại” các luật chơi đã được thiết lập. Mỹ cần không ngừng quan tâm đến Biển Đông và tăng cường hợp tác. Hợp tác chỉ có thể đạt hiệu quả dựa trên sức mạnh răn đe quân sự của Mỹ.

obama.jpg


Báo cáo dài 115 trang, gồm 6 chương do các học giả hàng đầu của CNAS, Viện Công nghệ Massachuset (MIT), Học viện Hải chiến Hoa Kỳ và Viện Nghiên cứu Đông Nam Á của Singapore thực hiện.

Nhận định chính của báo cáo cho rằng các lợi ích của Mỹ đang ngày càng bị đe dọa trước sự lớn mạnh về quân sự và kinh tế của Trung Quốc, nhất là trước việc nước này sẵn sàng “xem xét lại” các luật lệ đã được thiết lập. Mỹ và các nước khác có lợi ích quan trọng về tự do hàng hải, bao gồm cả tự do thương mại và hoạt động quân sự; trong khi Trung Quốc đang tìm mọi cách để hạn chế tự do này, bao gồm cả việc đòi xem xét lại các luật lệ trên biển từ trước đến nay và phát triển sức mạnh quân sự nhằm ngăn chặn “tiếp cận” (access) đến khu vực. Do đó, Chính quyền Mỹ cần tích cực và không ngừng quan tâm đến vấn đề Biển Đông. Mỹ cần phải tăng cường hợp tác nhưng hợp tác chỉ có thể đạt hiệu quả dựa trên sức mạnh răn đe quân sự của Mỹ

 

 

1) Lợi ích của Mỹ tại Biển Đông 

Báo cáo đánh giá tầm quan trọng của Biển Đông ở các khía cạnh: i) Biển Đông là trung tâm dân số của thế giới trong thế kỷ 21 thông qua giao thương hàng hóa, tài nguyên của 1,5 tỷ người Trung Quốc, 600 triệu người Đông Nam Á và 1,3 tỷ người tiểu lục địa Ấn Độ; ii) Các tuyến đường vận tải qua Biển Đông là giao thoa của toàn cầu hóa và địa chính trị; iii) Biển Đông là “Vịnh Péc-xích thứ hai về dầu mỏ” với trữ lượng hơn 130 tỷ thùng (nếu dựa vào đánh giá của phía Trung Quốc), và nếu Trung Quốc kiểm soát được nguồn năng lượng này thì nước này sẽ ít phụ thuộc vào nguồn cung từ Trung Đông và vận tải qua eo Malacca, qua đó có thể “độc lập” hơn, ít bị “tổn thương” so với vận tải qua các tuyến đường hiện nay do Hải quân Mỹ đảm bảo an ninh; iv) Ở khía cạnh nào đó, Biển Đông là “trận chiến chính” của việc chuyển giao quyền lực thế giới, là thuốc thử về cán cân quyền lực mới giữa Trung Quốc đang lên và Mỹ đang đi xuống. 

Báo cáo cho rằng tranh chấp Biển Đông có từ lâu và sẽ không thể giải quyết được một sớm một chiều. Tình hình gần đây tái diễn căng thẳng nhưng sẽ không dẫn đến đụng độ giữa các nước trong thời gian ngắn trước mắt. Tuy nhiên, Biển Đông đã trở thành trung tâm của cạnh tranh địa-chính trị lâu dài, trong đó sự lớn mạnh của Trung Quốc sẽ thúc đẩy cạnh tranh quyền lực và chủ nghĩa dân tộc.  Trong bối cảnh đó, việc Trung Quốc nêu tham vọng yêu sách và nhất là sẵn sàng sử dụng sức mạnh quân sự để củng cố yêu sách sẽ đe dọa đến “độ tin cậy” của sức mạnh quân sự, và sự thống trị của Mỹ tại Châu Á-Thái Bình Dương.

Trong các thập kỷ tới, thách thức lớn nhất đối với Mỹ là làm thế nào để duy trì các luật chơi trên biển đã được thiết lập, nhất là tự do hàng hải, nhưng lại phải thích nghi với sự trỗi dậy của các cường quốc khu vực, đặc biệt là Trung Quốc. Báo cáo cho rằng Mỹ cần duy trì mục tiêu là bảo vệ lợi ích của mình nhằm duy trì nguyên trạng nhưng không nhất thiết phải dẫn đến “đụng độ” với Trung Quốc; Mỹ cần cùng các nước khu vực thúc đẩy các khuôn khổ đa phương, “ràng buộc” Trung Quốc vào các tiêu chuẩn luật pháp quốc tế, qua đó điều chỉnh hành vi của Trung Quốc.

2) Đánh giá về chiến lược Biển Đông của Trung Quốc  

- Biển Đông gắn bó với Trung Quốc dưới nhiều góc độ: địa lý, lịch sử, tài nguyên và nhất là việc đảm bảo các tuyến đường vận tải biển. Trung Quốc có tham vọng và nhu cầu kiểm soát các tuyến đường biển huyết mạch mang tính sống còn đối với kinh tế nước này qua Biển Đông và eo Malacca. Nếu đường biển này bị phong tỏa dù chỉ một ngày, nguồn cung năng lượng cho Trung Quốc bị gián đoạn, thì có thể dẫn đến bất ổn xã hội. `

- Trung Quốc có nhu cầu chính đáng trong việc phát triển hải quân nhằm đảm bảo các tuyến đường biển. Tuy nhiên, hiện Trung Quốc đã lớn mạnh, có lực lượng hải quân hùng mạnh, lại tạo ra các thách thức cho trật tự khu vực Đông Á.  Lực lượng tàu ngầm của Trung Quốc chủ yếu là tàu diesel (trong khi của Mỹ là tàu hạt nhân), nhưng tàu ngầm diesel chạy êm, thích hợp hơn trong triển khai tại các vùng biển đông đúc ở Đông Á. Báo cáo đánh giá xu hướng đáng lo ngại là Trung Quốc hiện có 60 tàu ngầm và sẽ có 75 chiếc trong vòng vài năm tới, nhiều hơn Mỹ (trong khi Mỹ chỉ triển khai 55% lực lượng tàu ngầm ở Thái Bình Dương). Tỷ lệ tăng trưởng mới tàu ngầm giữa Trung Quốc và Mỹ từ năm 2000 là 4/1; và từ năm 2005 là 8/1.

- Báo cáo nhận định rằng sức mạnh của Trung Quốc không chỉ trong vấn đề tàu ngầm hay quân sự, mà còn ở quy mô dân số, khả năng kinh tế và vị trí địa lý trung tâm. Trung Quốc sẽ tích cực sử dụng các đòn bẩy sức mạnh trong vấn đề Biển Đông để đạt sự thừa nhận vai trò thống lĩnh và nhân nhượng từ các nước khác. Đa số các nước trong khu vực có quan hệ kinh tế, thương mại chặt chẽ với Trung Quốc, nhưng đều rất thận trọng và đề phòng Trung Quốc. Các nước này một mặt tăng cường quan hệ, nhưng lại lo ngại Trung Quốc, muốn duy trì sự hiện diện quân sự của Mỹ. Tuy vậy, các nước khu vực lại không muốn Mỹ gây căng thẳng với Trung Quốc do lo ngại bị lâm vào thế “kẹt” trong cuộc chơi giữa hai cường quốc. Chính sách của Trung Quốc là khai thác tối đa hạn chế này bằng cách kết hợp cân bằng giữa quyết đoán trên thực địa và thu phục bằng ngoại giao, nhằm ngăn chặn các mầm mống của liên minh kiềm chế Trung Quốc ở Đông Nam Á.    

- Tuy Trung Quốc ngày càng dân chủ hóa, nhưng lợi ích địa chiến lược của Trung Quốc không phụ thuộc vào hình thức của thể chế hay ý thức hệ. Đối với Đảng Cộng sản Trung Quốc hiện nay, tính chính danh được duy trì và củng cố bởi tăng trưởng kinh tế cao. Do đó, sự ổn định của Trung Quốc phụ thuộc vào nguồn cung tài nguyên và tự do giao thương trên biển. Theo đó, Chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông sẽ không hướng tới “đụng độ”, mà trọng tâm chính là tìm cách đạt được mục tiêu mà không cần dùng đến sức mạnh, tức “thắng không cần đánh”.  Nếu có thể dịch chuyển được cán cân lực lượng nghiêng theo phía mình, thì Trung Quốc có thể đẩy Mỹ ra khỏi khu vực Biển Đông và ngoài chuỗi đảo thứ nhất ở Tây Thái Bình Dương, thiết lập ảnh hưởng lên các nước khác trong khu vực, khiến các nước này bị “Phần Lan hóa” – không thể thực thi chính sách đối ngoại độc lập, nhất là không dám đi với Mỹ để đối phó với Trung Quốc.

- Cách thức triển khai chính sách của Trung Quốc là kết hợp giữa “đe dọa”  và “hợp tác” (coercion and cooperation) – vừa thu phục vừa gia tăng ảnh hưởng lên các nước Đông Nam Á;  hay “đàm và chiếm” (talk and take).  Trung Quốc sẽ kiên trì chống quốc tế hóa, chống đưa Biển Đông ra bàn thảo tại các diễn đàn đa phương. Theo đánh giá của nhóm tác giả: song phương sẽ giúp Trung Quốc “chia để trị”; đa phương sẽ đẩy Trung Quốc vào thế yếu. Các phát triển liên quan đến Biển Đông nửa sau năm 2011 thể hiện rõ việc quốc tế hóa và việc nêu cao quan ngại của cộng đồng thế giới đối với các hành động của Trung Quốc đã buộc nước này phải điều chỉnh chính sách, ngoại giao mềm dẻo hơn. Trung Quốc chấp nhận ký Văn bản hướng dẫn thực thi DOC và chịu đàm phán về COC sau khi vấn đề Biển Đông được quốc tế hóa trong năm 2010, 2011. Trung Quốc cũng điều chỉnh, có các bước đi nhằm củng cố quan hệ song phương với hai nước chủ chốt khác ở Biển Đông là Việt Nam và Philippines.

- Tuy vậy, theo nhóm tác giả, hiện vẫn không rõ hiện Trung Quốc có một chiến lược kiên định, rõ ràng với Biển Đông hay chưa, hay các nhóm lợi ích khác nhau triển khai hành động riêng rẽ, không có sự phối hợp tầm quốc gia. Đơn cử trong lĩnh vực luật, có nhiều cơ quan khác nhau thực thi pháp luật trên Biển Đông nhưng chính sách và phát biểu của họ nhiều khi không có sự phối hợp. Lãnh đạo Trung Quốc nhận ra tình trạng này và đang cố gắng thiết lập các cơ chế liên Bộ ngành để hoạch định và thực thi chính sách đối với vấn đề Biển Đông.

3) Kiến nghị chính sách đối với chính quyền Mỹ

Trên cơ sở phân tích trên, Bản báo cáo của CNAS khuyến nghị các nhà hoạch định chính sách cần thực hiện 5 bước tổng quát để bảo vệ lợi ích của Hoa Kỳ và đồng minh trên Biển Đông. Các bước này bao gồm:

i) Tăng cường sự hiện diện hải quân: Mỹ cần tiếp tục đi đầu trong lĩnh vực ngoại giao và kinh tế, tuy nhiên điều này cần phải có sự hậu thuẫn từ sức mạnh quân sự. Biển Đông trước tiên là sân chơi về sức mạnh hải quân hiện đại. Sức mạnh hải quân ngày càng gia tăng của Trung Quốc đang đe dọa đến các lực lượng hải quân và các căn cứ quân sự của Mỹ, đe dọa tự do thông thương trên biển và vai trò kiểm soát đường biển từ trước đến nay của Mỹ. Do đó, Mỹ cần đảm bảo sức mạnh hải quân nhằm: i) duy trì cân bằng quyền lực để kiểm soát và bảo vệ tự do hàng hải trên Biển Đông; ii) răn đe không để xảy ra xung đột hoặc ít nhất cho thấy kẻ hiếu chiến sẽ không dễ dàng thắng, qua đó giúp duy trì hòa bình và thịnh vượng trong khu vực. 

 ii) Củng cố mạng lưới an ninh trong khu vực: Mỹ cần thúc đẩy một mạng lưới các đối tác an ninh, bổ sung cho hệ thống liên minh “trục và nan hoa” hiện nay giữa Mỹ và các nước đồng minh như Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, Thái Lan, Phi-líp-pin.  Mỹ cần xây dựng một mạng lưới các nước đối tác trong khu vực làm đối trọng với sức mạnh hải quân của Trung Quốc trong khu vực. Việt Nam, Philippines là các nhân tố chính. Nếu Việt Nam không dám đương đầu với Trung Quốc thì các nước yếu hơn như Philippines sẽ không thể nào dám đương đầu với Trung Quốc. Nếu sức mạnh của Mỹ suy giảm, Việt Nam không có lựa chọn nào khác là phải sống chung với Trung Quốc. 

Do Mỹ vẫn cần phải hợp tác với Trung Quốc và một số nước (như Việt Nam) không muốn thể hiện công khai đối phó Trung Quốc. Do đó, hình thức quan hệ đối tác chiến lược dựa trên lợi ích chung (có thể hiểu như các liên minh ngầm) sẽ giúp tránh gây tâm lý thù địch từ phía Trung Quốc. Các liên minh ngầm này thậm chí còn có thể mạnh hơn cả những liên minh chính thức.

Mỹ cũng cần có chính sách nhất quán về sự hiện diện quân sự qua khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) thông qua các căn cứ truyền thống ở Nhật Bản, Hàn Quốc, các địa điểm tiếp cận mới trong khu vực với cách làm mới. Ví dụ như năm 2011 Mỹ có quyết định cho hai tầu chiến dừng tại Singapore mà không xác định là dừng thường xuyên hay không.  Mô hình mới này mang tính linh động, không cố định, tránh các nước đối tác bị Trung Quốc gây sức ép. Mô hình này có thể áp dụng cho cho các nước ASEAN khác như Philippines và Việt Nam.

iii) Củng cố các nguyên tắc và thể chế đa phương: Mỹ cần tiếp tục thúc đẩy bàn thảo vấn đề  trong các chương trình an ninh và ngoại giao của mình, bao gồm việc tham dự các hội thảo ở kênh 2 như cuộc hội thảo Biển Đông hàng năm do Việt Nam tổ chức tại Hà Nội, cho đến các cuộc họp chính thức liên quan như ASEAN, ARF, ADMM+ và EAS.

iv) Đầu tư vào thương mại mở khu vực. Mỹ cần tăng cường thúc đẩy hơn nữa liên kết kinh tế giữa các nước trong khu vực cũng như giữa Mỹ với các nước trong khu vực. Việc tăng cường liên kết kinh tế giúp Mỹ tăng đầu tư chiến lược vào khu vực năng động nhất trên thế giới. Tiềm năng phát triển của Quan hệ Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) một ngày sẽ trở thành thể chế thương mại ưu đãi bao trùm. Nếu Mỹ và các nước không thúc đẩy liên kết kinh tế trong khu vực như vậy, một hệ thống thương mại như vậy do Trung Quốc lãnh đạo sẽ hình thành và điều này là bất lợi cho Mỹ.

v) Định hình mối quan hệ thực tế với Trung Quốc. Mỹ cần có chính sách đúng đắn với Trung Quốc – không quá ảo hưởng về “hợp tác toàn cầu” cũng như không quá bi quan về “sự đối đầu không tránh khỏi” với Trung Quốc. Mỹ cần tích cức can dự ngoại giao và kinh tế, hậu thuẫn hiệu quả bởi sức mạnh quân sự áp đảo và nền kinh tế tăng trưởng tốt của Mỹ. Mục đích chính là duy trì quan hệ hợp tác tổng thể, nhưng không để mất thế thượng phong về sức mạnh quân sự, đảm bảo Trung Quốc không thể trở thành bá quyền khu vực.     

Thái Giang (TTBĐ)

 

    


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Báo cáo chưa đầy đủ về hoạt động quân sự của Mỹ tại Biển Đông năm 2018

Báo cáo chưa đầy đủ về hoạt động quân sự của Mỹ tại Biển Đông năm 2018

Chừng nào sức mạnh của Trung Quốc vẫn đang phát triển, ngay cả khi nước này tiếp tục hạn chế sử dụng sức mạnh, quân đội Mỹ vẫn sẽ tiếp tục tăng cường bố trí lực lượng và hiện diện quân sự, tăng cường hoạt động “tự do hàng hải” khiến Biển Đông trở thành “chiến trường”. Trong tương lai, lực lượng quân đội Mỹ sẽ không ngừng tập trung ở Biển Đông, gia tăng cường độ hành động hơn nữa.

Đọc tiếp...

Trung Quốc-Philippines: Triển vọng khai thác dầu khí

Trung Quốc-Philippines: Triển vọng khai thác dầu khí

Bầu không khí của chuyến thăm thứ 5 của Duterte đến Trung Quốc đã trở nên u ám sau các hành động của Trung Quốc như phái hàng trăm tàu cá đến đảo Thị Tứ và đâm chìm một tàu cá Philippines gần bãi Cỏ Rong trong nửa đầu năm 2019.

Đọc tiếp...

Trung Quốc khẳng định sức mạnh bằng "họng súng" và "vỏ bọc hòa bình"

Trung Quốc khẳng định sức mạnh bằng

"Người dân Trung Quốc đã học được giá trị của hòa bình"..."Trung Quốc chưa bao giờ tiến hành bất kỳ cuộc chiến tranh hay xung đột nào" hay "Trung Quốc luôn đi đầu trong việc hướng tới hòa bình và ổn định khu vực"... Đây là những "Khẩu hiệu" mà Trung Quốc thường rêu rao để đánh bóng hình ảnh của mình. Tuy nhiên, những gì Trung Quốc làm hoàn toàn trái ngược với điều đó.

Đọc tiếp...

"Hàng xóm bắt nạt": Hành động của Trung Quốc ở Biển Đông sẽ phản tác dụng

Mọi hành động đều có phản ứng khác nhau; các quốc gia ở Đông Nam Á cũng như các quốc gia có lợi ích ở khu vực này chắc chắn sẽ không khoanh tay đứng nhìn. Trên thực tế, Bắc Kinh đang “mời gọi" các nước chống lại họ, và điều này không mang lại lợi ích cho Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Chiến tranh pháp lý của Trung Quốc, tranh chấp tài nguyên và luật biển

Chiến tranh pháp lý của Trung Quốc, tranh chấp tài nguyên và luật biển

Học thuyết “Tam chiến” của Trung Quốc vạch ra bộ ba phương pháp tấn công: chiến tranh thông tin, chiến tranh tâm lý và chiến tranh pháp lý. Trong số này, chức năng của chiến tranh pháp lý là nhằm “thúc đẩy tính hiệu quả của các cơ chế và quy trình pháp lý hiện hành để hạn chế hành vi đối địch, đối phó trong các hoàn cảnh bất lợi, đảo ngược các án lệ, và tối đa hóa lợi thế trong các tình huống liên quan đến các lợi ích cốt lõi của Trung Quốc”.

Đọc tiếp...

Câu chuyện về chủ quyền và vai trò cá nhân lãnh đạo trong xác lập vị thế của Trung Quốc

Câu chuyện về chủ quyền và vai trò cá nhân lãnh đạo trong xác lập vị thế của Trung Quốc

Hành vi và khát vọng bá quyền trên biển của Trung Quốc đang khiến cả châu Á giận dữ. Qua nghiên cứu so sánh tư tưởng và ngoại giao, bài phân tích sẽ giúp hiểu được viễn cảnh hình thành khát vọng bá quyền trên biển của Trung Quốc và ảnh hưởng của các chính sách hải quân của nước này đến các quốc gia khác trong việc sửa đổi hoặc hình thành các chiến lược biển mới.

Đọc tiếp...

Cách thức ngăn chặn Trung Quốc trên Biển Đông

Cách thức ngăn chặn Trung Quốc trên Biển Đông

Mỹ và đồng minh phải sử dụng sức mạnh của họ trên mọi lĩnh vực quân sự và phi quân sự. Theo đó, các hoạt động hộ tống bảo vệ hàng hải sẽ đi kèm với các nỗ lực đồng thời nhằm giúp các chính phủ và nền kinh tế ở Đông Nam Á vững vàng hơn trước ảnh hưởng xấu của Trung Quốc, cũng như việc phát triển và triển khai các lực lượng chiến đấu tinh nhuệ với nhiệm vụ ngăn chặn hành vi gây hấn quy mô lớn của Trung Quốc

Đọc tiếp...

Tôn trọng và tuân thủ luật pháp - Ưu tiên hàng đầu cho vấn đề hóc búa ở Biển Đông

Tôn trọng và tuân thủ luật pháp - Ưu tiên hàng đầu cho vấn đề hóc búa ở Biển Đông

Những diễn biến gần đây ở Biển Đông, một trong những tuyến đường biển sầm uất nhất trên thế giới, không chỉ đáng báo động mà còn nhiều khả năng biến thành một cuộc chiến tranh thực sự. Nếu điều đó xảy ra, hòa bình và ổn định ở Đông Nam Á sẽ tiêu tan.

Đọc tiếp...

Đối đầu ở Bãi Tư Chính: Giông tố mới ở Biển Đông

Đối đầu ở Bãi Tư Chính: Giông tố mới ở Biển Đông

Vụ việc ở Bãi Tư Chính là một phần trong những nỗ lực của Trung Quốc nhằm ngăn cản hoạt động khai thác tài nguyên hợp pháp ở Biển Đông của các quốc gia ven biển và hợp tác giữa họ với các nước ngoài khu vực. Những hành động này có thể mang lại lợi ích trước mắt cho Trung Quốc, nhưng về lâu dài sẽ dẫn đến bất lợi cho quốc gia này.

Đọc tiếp...

Philippines: Làm thế nào để đứng vững giữa cuộc cạnh tranh Trung-Mỹ?

Philippines: Làm thế nào để đứng vững giữa cuộc cạnh tranh Trung-Mỹ?

Philippines đã đúng khi mong muốn có mối quan hệ thân thiện với Trung Quốc, đặc biệt là khi nước này mong muốn mở cửa để phát triển kinh tế hơn nữa. Manila cũng phải nhớ rằng hòa bình và thịnh vượng lâu dài phụ thuộc vào quyền tự do và sự tôn trọng lẫn nhau giữa các nước có chủ quyền, cũng như trật tự quốc tế dựa trên nguyên tắc. Trong lời nói và hành động, Philippines cần phải giữ vững lập trường để bảo vệ những nguyên tắc quan trọng này.

 

Đọc tiếp...

Đỉnh điểm của việc Trung Quốc quân sự hóa biển Đông

Đỉnh điểm của việc Trung Quốc quân sự hóa biển Đông

Tính tới giờ, việc Trung Quốc tiến hành quân sự hóa một số đảo nhân tạo trên Biển Đông được cho là động thái ở mức cao nhất của nước này đối với các vấn đề ở khu vực. Thực chất hành động cũng như mục đích đằng sau của Trung Quốc đe dọa tới không chỉ các nước trong khu vực mà còn tới cả nước lớn như Mỹ.

Đọc tiếp...

Thực chất tình hình tại biển Đông

Thực chất tình hình tại biển Đông

Các vấn đề tại Biển Đông vốn đã xảy ra trong một khoảng thời gian dài, đặc biệt là giữa các bên có yêu sách ở khu vực này. Gần đây, những vấn đề trên trở nên phức tạp hơn do những tính toán chiến lược không chỉ của các bên có tranh chấp, mà còn của cả các nước lớn bên ngoài khu vực.

Đọc tiếp...

Gót chân Asin của ASEAN trong vấn đề Biển Đông

Gót chân Asin của ASEAN trong vấn đề Biển Đông

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), từ lâu được mô tả là mô hình thành công nhất của sự hội nhập khu vực trong thế giới hậu thực dân, đã ngày càng trở nên bất lực trong việc kiềm chế Trung Quốc làm xói mòn trật tự dựa trên quy tắc của khu vực vốn được định hướng bằng nguyên tắc không gây hấn, tránh xung đột và chủ nghĩa đa phương tự do.

Đọc tiếp...

Các vấn đề trong liên minh Mỹ-Philippines

Các vấn đề trong liên minh Mỹ-Philippines

Hiện nay, không có thông tin công khai về việc Chính phủ Philippines chính thức yêu cầu Mỹ có một đánh giá hiệp ước chính thức. Người ta cho rằng một đánh giá chính thức sẽ vấp phải những khó khăn, trước hết là trong việc đạt được sự nhất trí về những sửa đổi đối với một hiệp ước có từ 7 thập kỷ trước và sau đó là trong việc phê chuẩn một hiệp ước đã sửa đổi ở cả 2 nước.

Đọc tiếp...

Suy nghĩ về các hành động của Trung Quốc tại Bãi Tư Chính

Suy nghĩ về các hành động của Trung Quốc tại Bãi Tư Chính

Nếu không có một phản ứng cứng rắn từ phía cộng đồng quốc tế đối với các hành động của Trung Quốc tại Bãi Tư Chính, các vụ việc tương tự sẽ còn lặp lại trong những năm tới, lý do đơn giản là Bắc Kinh rất hào hứng nhận ra rằng các hành động cưỡng ép của họ đã mang lại hiệu quả.

Đọc tiếp...

Vai trò ngày càng tăng của EU ở Biển Đông

Vai trò ngày càng tăng của EU ở Biển Đông

Yêu cầu của EU đòi phải được thừa nhận là một bên tham gia về chính trị và an ninh ở châu Á không phải là mới. Tham vọng của họ có một ghế tại EAS và gần đây hơn là địa vị quan sát viên tại Nhóm chuyên gia ADMM+ là chủ đề của nhiều cuộc thảo luận, xoay quanh đòi hỏi chính là thừa nhận giá trị thực tế của EU đối với an ninh khu vực. Bởi vậy, việc xem xét kỹ lưỡng các chính sách và hành động của EU ở Biển Đông là điều hợp lôgích.

Đọc tiếp...

Hệ lụy từ hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông

Hệ lụy từ hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông

Việc kiểm soát Biển Đông có nghĩa là Trung Quốc có khả năng bác bỏ hệ thống trật tự thế giới dựa trên các quy tắc, từ chối tuân thủ các chuẩn mực, kỳ vọng, và UNCLOS; đẩy người bảo vệ trật tự thế giới (Mỹ) khỏi Tây Thái Bình Dương, làm suy yếu hoặc phá hủy các đồng minh ở Tây Thái Bình Dương, khiến uy tín của Mỹ bị nghi ngờ ở phạm vi khu vực cũng như quốc tế và phá hủy cơ sở hạ tầng an ninh ở Đông Nam Á.

Đọc tiếp...

Nhận diện chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông

Nhận diện chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông

Để giành kiểm soát trên Biển Đông, đầu tiên, Trung Quốc cần phải cô lập khu vực. Trong nỗ lực cô lập khu vực, Trung Quốc sử dụng chiến lược hai hướng “cây gậy và củ cà rốt”, vừa lôi kéo các nước láng giềng khi thuận tiện trong khi đe dọa các nước chống đối mình.

Đọc tiếp...

Nhận diện mục đích của Trung Quốc ở Biển Đông

Nhận diện mục đích của Trung Quốc ở Biển Đông

Tại sao Trung Quốc lại tập trung vào Biển Đông đến như vậy và tại sao lại vào thời điểm này? Nghiên cứu cho thấy, một phần Trung Quốc được thúc đẩy bởi nhận thức về cơ hội, một phần vì nhận thức về sự suy yếu của Mỹ và một phần bởi nhu cầu lên tiếng về những tuyên bố pháp lý của nhà nước.

Đọc tiếp...

Phán quyết Biển Đông: Chúng ta nên hiểu Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển như thế nào?

Phán quyết Biển Đông: Chúng ta nên hiểu Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển như thế nào?

Người ta thường cho rằng cơ chế giải quyết tranh chấp được quy định tại phần XV Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS) được áp dụng rất hạn chế, phản ánh ý đồ của những người soạn thảo UNCLOS. Vì vậy, các tòa trọng tài cần diễn giải phần XV một cách thận trọng, lưu ý đến những giới hạn về thẩm quyền của toà. Tuy nhiên, Phán quyết Vụ kiện Biển Đông đã đi ngược lại với cách tiếp cận này.

Đọc tiếp...

Leo thang trên biển: Tình trạng ổn định và bất ổn định tại các vùng biển Đông Á

Leo thang trên biển: Tình trạng ổn định và bất ổn định tại các vùng biển Đông Á

Bài viết lập luận rằng các bất ổn cường độ thấp sẽ xảy ra trong tranh chấp biển hoặc cạnh tranh sức mạnh trên biển; tuy nhiên, ít có khả năng tạo ra chu kỳ leo thang kéo dài bởi đặc điểm của môi trường chiến lược biển khu vực.

Đọc tiếp...

Đã đến lúc cần suy nghĩ nghiêm túc về một chiến lược tại Biển Đông

Đã đến lúc cần suy nghĩ nghiêm túc về một chiến lược tại Biển Đông

Thời điểm hiện tại, tình hình Biển Đông đang đi vào thời điểm quan trọng khi những bước tiến của Trung Quốc đang tích tụ dần còn dư địa cho Mỹ hành động đang giảm đi, và các nhà quan sát tại khu vực thì đang tự hỏi liệu Mỹ đã sẵn sàng đối mặt với thách thức này hay chưa. Và Mỹ vẫn đang loay hoay đi tìm một chiến lược.

Đọc tiếp...

"Không độc chiếm" Biển Đông?

Dù có sự khác biệt giữa Vương quốc Trung Hoa và Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, nhưng Simon nhận thấy Trung Quốc vẫn giữ khuynh hướng sơ khởi đó là thưởng cho "những quốc gia sẵn sàng thừa nhận vị thế bá chủ khu vực của mình" trong khi phạt "những quốc gia từ chối tuân phục". Để thấy rõ nhất cách tiếp cận này của Trung Quốc, ta có thể nhìn ngay vào quan hệ của nước này tại Đông Nam Á trong năm 2018.

Đọc tiếp...

Vai trò các Chủ thể Doanh nghiệp trong Chính sách Biển Đông của Trung Quốc

Vai trò các Chủ thể Doanh nghiệp trong Chính sách Biển Đông của Trung Quốc

Bài viết phân tích 3 trường hợp nghiên cứu trong lĩnh vực - du lịch, khai thác năng lượng và cơ sở hạ tầng - từ đó nêu bật vai trò các chủ thể doanh nghiệp Trung Quốc đã làm thay đổi chính sách Biển Đông của Trung Quốc như thế nào.

Đọc tiếp...

Chiến lược xây dựng Trung Quốc trở thành cường quốc biển của Bắc Kinh

Chiến lược xây dựng Trung Quốc trở thành cường quốc biển của Bắc Kinh

Bài phân tích đánh giá việc Bắc Kinh xác định chiến lược biển của mình trong các tuyên bố công khai của lãnh đạo. Mục đích là nhằm hiểu được nhiều hơn về ý đồ và ưu tiên chiến lược của Trung Quốc trong lĩnh vực biển; đồng thời cung cấp cho giới hoạch định chính sách và các chuyên gia an ninh quốc gia vốn kiến thức cụ thể và đầy đủ nhất để đối trọng với Trung Quốc trong các vấn đề trên biển.

Đọc tiếp...

Biển Đông: Các Động lực Thay đổi

Biển Đông: Các Động lực Thay đổi

Hành động của Trung Quốc tại Biển Đông khiến các nước trong khu vực cảnh giác. Thực tế này thúc đẩy Philippines kiện Trung Quốc. Vào năm 2016, tòa đã đưa ra phán quyết. Hành động và phản ứng của các bên liên quan tới phán quyết và các sự kiện chính trị khác đã khiến năm 2016 trở thành một năm đáng chú ý. Cuộc bầu cử Tổng thống ở Philippines và Mỹ cũng bổ sung những động lực khác khiến tình hình khu vực thay đổi.

 

Đọc tiếp...

Cạnh tranh ảnh hưởng Trung - Mỹ tại Đông Nam Á

Cạnh tranh ảnh hưởng Trung - Mỹ tại Đông Nam Á

Bài viết so sánh chính sách đối ngoại của Trung Quốc và Mỹ, cụ thể là các hình thức hội nhập kinh tế và cách tiếp cận địa chính trị tại Đông Nam Á. Các tác giả so sánh động cơ và lý do các cường quốc lớn và hạng hai trong khu vực chấp nhận hoặc tranh cãi về các chính sách của Mỹ và Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Khảo cổ học và chủ nghĩa yêu nước: Chiến lược dài hạn của Trung Quốc ở Biển Đông

Khảo cổ học và chủ nghĩa yêu nước: Chiến lược dài hạn của Trung Quốc ở Biển Đông

Các ghi chép của Trung Quốc cho thấy chuyến thám hiểm chính thức đầu tiên của Trung Quốc tới Hoàng Sa vào năm 1902 chưa từng diễn ra. Thay vào đó, một cuộc thám hiểm bí mật được tiến hành nhiều thập kỷ sau đó để ngụy tạo bằng chứng khảo cổ học trên quần đảo Hoàng Sa nhằm củng cố yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Trung Quốc và ASEAN trên Biển Đông: Những cơ hội và nguy hiểm

Trung Quốc và ASEAN trên Biển Đông: Những cơ hội và nguy hiểm

Quan hệ giữa Trung Quốc và ASEAN về vấn đề Biển Đông dường như đang được cải thiện. Trong khu vực, người ta nói đến hợp tác kinh tế và khoa học, khai thác chung tài nguyên biển, bộ quy tắc ứng xử. Nhưng thực tế hoàn toàn khác và chúng ta không thể quên một điều cốt yếu: Sự mất cân xứng về công nghệ và quân sự, những cơ hội và nguy hiểm của việc khai thác chung... có lợi cho Bắc Kinh!

Đọc tiếp...

Cách thức đúng đắn để Mỹ đẩy lùi Trung Quốc ở Biển Đông

Cách thức đúng đắn để Mỹ đẩy lùi Trung Quốc ở Biển Đông

Một liên minh hiệu quả ở Biển Đông sẽ là thứ giúp bảo vệ các quyền lợi mà các nước Đông Nam Á được hưởng trong vùng biển của chính họ, đồng thời khiến Bắc Kinh phải đưa ra những nhượng bộ dài hạn hoặc phải trả một cái giá cắt cổ về ngoại giao và kinh tế. Nhưng để làm được điều đó, Washington cần đưa chính sự sáng tạo và tham vọng mà họ đã thể hiện ở biển Hoa Đông đến Biển Đông.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 4396 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin