12 - 8 - 2020 | 16:54
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI Trung Quốc có thể bảo vệ được "lợi ích cốt lõi" tại Biển Đông hay không?

Trung Quốc có thể bảo vệ được "lợi ích cốt lõi" tại Biển Đông hay không?

Email In PDF.

Đặt giả thuyết rằng Trung Quốc thực sự coi Biển Đông là “lợi ích cốt lõi”, bài viết của Toshi Yoshihara James R. Holmes, Đại học Hải chiến Mỹ, phân tích khả năng thành công của Trung Quốc trong việc bảo vệ “lợi ích cốt lõi” của mình tại Biển Đông. Khía cạnh mà tác giả tập trung phân tích chủ yếu nhằm vào năng lực quốc phòng của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA).

 

Có cảm giác quanh các báo cáo rằng Trung Quốc đã tuyên bố Biển Đông là “lợi ích cốt lõi” của quốc gia. Các quan chức cao cấp của Trung Quốc được cho là đã đưa ra khái niệm này trong một cuộc gặp kín vào tháng 3 năm 2010 với hai chức sắc của Mỹ, Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ James B. Steinberg và ông Jeffrey Bader, Giám đốc phụ trách khu vực Châu Á thuộc Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ.[1] Tiếp đó, trong bài phỏng vấn với Tạp chí “The Australian”, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã tiết lộ rằng đoàn đại biểu Trung Quốc đã tái khẳng định tuyên bố của Bắc Kinh trong Đối Thoại Chiến Lược và Kinh Tế Mỹ-Trung lần thứ 2 được tổ chức tại Bắc Kinh vào tháng 5 năm 2010.[2] Từ đó xuất hiện rất nhiều các tranh cãi về của ngữ cảnh cũng như nội dung chính xác của các phát biểu tại các cuộc họp đó.[3] Từ đó, các quan chức Trung Quốc đã kiềm chế công khai mô tả Biển Đông theo thuật ngữ chính thức và cứng nhắc đó.

Sự mơ hồ và tranh cãi xung quanh vấn đề này gợi nhớ đến một sự kiện tương tự cách đó 15 năm, khi khủng hoảng tại Eo biển Đài Loan lên tới đỉnh điểm. Vào thời điểm đó, một vị tướng của Trung Quốc đã nói với cựu đại sứ Hoa Kỳ, Chas Freeman rằng lãnh đạo Hoa Kì “nên lo cho Los Angeles hơn lo Đài Loan”. Phát biểu đó được cho là sự úp mở về một mối đe dọa hạt nhân.[4] Sự phủ nhận sau này của Trung Quốc về điều này đã tạo nên sự mập mờ về bản chất của cuộc đối thoại không chính thức này. Tuy nhiên, những sự kiện này cho thấy rằng Bắc Kinh thường khoanh đỏ những vấn đề mà họ coi là tối quan trọng đối với lợi ích của mình. Chúng cũng cảnh báo về việc xem các phát ngôn của Trung Quốc như thật.

Đặt giả thiết cho cuộc tranh luận rằng Trung Quốc coi vấn đề Biển Đông là “lợi ích cốt lõi” của quốc gia. Việc khẳng định lợi ích đó đã đặt tầm quan trọng của vùng nước đó lên mức dành cho các vùng lãnh thổ như Tây Tạng, Đài Loan và Tân Cương mà Trung Quốc xem như một phần lãnh thổ quốc gia không thể tách rời của họ và sẽ bảo vệ bằng mọi giá. Điều này cho thấy một mục tiêu chính trị với phạm vi đáng ngạc nhiên. Để bảo vệ “lợi ích cốt lõi” của mình, Trung Quốc có thể tăng cường các nỗ lực ngoại giao và quân sự ở mức cao nhất. Nhưng liệu Quân đội giải phóng nhân dân (PLA) có thể thực hiện điều đó và bằng cách nào?

Liệu Bắc Kinh có các phương tiện quân sự, chiến lược và tinh thần chiến đấu quả cảm để bảo vệ được lợi ích quan trọng này của quốc gia? Đánh giá khả năng hiện tại và những khả năng tiềm ẩn của Trung Quốc sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách và các nhà phân tích xác định liệu mục đích của Bắc Kinh tại Biển Đông có nằm trong khả năng các phương tiện quân sự của họ hay không. Nếu không, cần xác định thời gian và nguồn lực mà Trung Quốc phải đầu từ để có thể bảo vệ được lợi ích cốt lõi của mình. Đánh giá được điều này sẽ gợi ý các nước liên quan chủ yếu trong khu vực có thể đối phó như thế nào với chính sách ngày càng tham vọng của Trung Quốc mà không khiêu khích một sự phản ứng thái quá từ Bắc Kinh.

Phạm vi các mục tiêu chiến lược

Trước tiên cần xác định Bắc Kinh hàm ý gì trong cụm từ “lợi ích cốt lõi” và chỉ đạo chiến lược nào xuất phát từ lợi ích đó? Nếu lãnh đạo Đảng cộng sản Trung Quốc thực sự xử lí vấn đề Biển Đông như đã từng làm với Đài Loan thì có thể thấy rõ một số ngụ ý chiến lược sau:

Chủ quyền lãnh thổ là không thể chia cắt. Nếu lãnh đạo Trung Quốc coi chủ quyền trên biển không thể tách khỏi chủ quyển trên đất liền thì không thể để các tranh chấp về lãnh thổ không được giải quyết vô thời hạn.[5] Mặc dù Bắc Kinh đã có ý định gác lại các tuyên bố chủ quyền gây tranh cãi sang một bên vì mục đích khai thác chung nguồn tài nguyên thiên nhiên nhưng quan điểm của Trung Quốc về sự toàn vẹn lãnh thổ là bất khả xâm phạm. Vì thế dù thế nào thì Trung Quốc phải tìm được cách giải quyết cho vấn đề này.

Trung Quốc cần sức mạnh vũ trang để chiếm giữ các vùng lãnh thổ mà Trung Quốc đang có tranh chấp. Theo đó, nếu Biển Đông là lợi ích cốt lỗi cần được đảm bảo trong bất cứ hoàn cảnh nào thì Trung Quốc phải chuẩn bị những điều cần thiết nhằm đánh bại nỗ lực từ các nước bên ngoài để có thể biến nguyên trạng hiện tại thành một thực tế chính trị lâu dài. Bắc Kinh cần có đủ khả năng để chiếm giữ toàn bộ và nguyên vẹn tất cả vùng lãnh thổ đang có tranh chấp đồng thời ngăn cản ý định đảo ngược các lợi ích của Trung Quốc từ kẻ thù.

Trung Quốc phải áp đặt một trật tự mới trong khu vực. Để củng cố sự thống nhất quốc gia và bảo vệ tất cả các lợi ích cốt lõi của mình, Trung Quốc phải thiết lập một trật tự mới trong khu vực bất chấp những thách thức từ những nước láng giềng và các cường quốc bên ngoài. Nước này có thể thiết lập trật tự khu vực đó bằng sự đồng thuận hoặc ngoại giao cưỡng bức, tùy thuộc vào hoàn cảnh. Tuy nhiên để ngăn chặn các mối đe dọa đến trật tự mà Trung Quốc thiết lập, việc xây dựng một lực lương hải quân thống trị ở khu vực là điều khôn ngoan.

Những gợi ý này sẽ thúc giục các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc hướng tới quan điểm tối đa hóa lợi ích cốt lõi của quốc gia. Nếu Bắc Kinh hành động dựa trên các gợi ý này thì Biển Đông sẽ trở thành một cái hồ của Trung Quốc trong đó PLA chặn mọi đường vào của hải quân nước ngoài.

 

Một sự diễn giải khiêm tốn hơn căn cứ vào lịch sử Hoa Kỳ cũng có khả năng xảy ra. Một số người ở Trung Quốc xem Biển Đông, Hoa Đông và Hoàng Hải mà những người dân thường Trung Quốc gọi một cách đơn giản là ''Tam Hải” (ba vùng biển) hoặc ''Cận Hải'' (các vùng biển gần) theo cách tương tự mà những người Mỹ thế kỷ 19 xem biển Caribbean và Vịnh Mexico là hai khu vực mà Hoa Kỳ phải chiếm hữu để hiện thực hóa tiềm năng chính trị và thương mại của nước này.[6] Ngoại trừ một số ít các đảo chiếm từ Tây Ban Nha năm 1898, Washington không có tuyên bố lãnh thổ nào ở Caribbe hay vùng Vịnh và cũng không ngăn cản các tàu chiến của châu Âu tại khu vực này. Chính quyền Mỹ chủ yếu muốn ngăn chặn những nỗ lực của Châu Âu để có được các căn cứ Hải quân xuyên qua các làn đường biển dẫn đến eo đất Trung Mỹ, vị trí tương lai của một kênh đào xuyên đại dương.

Đó là chính xác là mục đích mà tổng thống Theodore Roosevelt muốn nói đến trong “Hệ luận” năm 1904 của ông đối với học thuyết Monroe. Roosevelt tuyên bố quyền hạn chế để can thiệp vào công việc của các quốc gia Caribe kém phát triển không có khả năng trả các khoản vay cho các ngân hàng Châu Âu. Các chính phủ Châu Âu thường gửi tàu chiến để chiếm các phòng thuế hải quan ở những quốc gia này để trả nợ cho những chủ nợ của họ. Để có thể làm như vậy, họ đã chiếm hữu lãnh thổ ven biển thuộc châu Mỹ nơi mà họ có thể biến thành căn cứ Hải quân dọc theo các làn đường biển Caribe. [7] Một viễn cảnh như thế là điềm xấu đối với các nhà chiến lược hàng hải Hoa Kì.

Tại sao việc chặn trước sự xâm nhập châu Âu quan trọng như vậy? Đối với nhà tư tưởng về sức mạnh biển Alfred Thayer Mahan, Eo đất (Isthmus) tạo nên một “cổng vào” Thái Bình Dương cho Hoa Kỳ ''.[8] Đào một kênh ngang qua Nicaragua hoặc Panama và bảo vệ các cửa ngõ hướng đến kênh đào đó là mối quan tâm lớn nhất của Mahan. Ông tiên đoán rằng '' các quốc gia thương mại táo bạo '' như nước Đức dưới thời Kaiser sẽ đấu tranh giành các thuộc địa có vị trí địa chính trị, như các đế quốc Tây Ban Nha và Anh đã làm trong nhiều thế kỷ.[9] Mahan cho rằng Hoa Kỳ bây giờ đặt lợi ích vượt trội lên eo đất này, do cả lợi ích thương mại đang phát triển ở vùng Viễn Đông và vì vị trí địa lý đặc biệt của nó mà đã cản trở '' sự liên lạc nhanh chóng và an toàn giữa hai vùng bờ biển của chúng ta''.[10] Đối với ông, sự lưu thông tự do vận tải quân sự và thương mại giữa bờ Đông và bờ Tây, và giữa Bắc Mỹ và Châu Á, tạo thành lợi ích cốt lõi của Mỹ tại Vùng vịnh và biển Carribe.

Để giữ vững lợi ích cốt lõi này, Mahan đòi hỏi lực lượng Hải quân Mỹ cần có 20 tàu chiến để có thể “chiến đấu, với những cơ hội chiến thắng hợp lý, lực lượng lớn nhất có thể được đem đến để chống lại nước này” ở các vùng biển phía Nam. [11] Một đội tàu “có khả năng tạo ra những cú đánh mạnh” và có thể giành lấy “quyền làm chủ trên biển” từ các đạo quân châu Âu được phái đến châu Mỹ.[12]

Biển Đông là câu trả lời của Trung Quốc cho Biển Carribe và Vùng Vịnh. Với vai trò là con đường biển quan trọng đến Ấn Độ Dương và eo Malacca, Biển Đông cũng khá giống với các biển nửa kín của Mỹ. Bán đảo Malay và quần đảo Sumatra nổi lên là một không gian địa lý, tạo nên một eo đất lớn, mà dưới con mắt của người Trung Quốc giống như eo đất đã từng ám ảnh Mahan. Và Biển Đông cũng giống như biển Carribe của Mahan, là một vùng biển mà chỉ có một quốc gia biển lớn là Trung Quốc bao quanh nó. Hai biển kín là Baltic và biển Đen, mà tiếp giáp với một cường quốc lục địa nổi bật là Nga, cũng đặt ra một tình huống tương tự. Liên Xô đã xây dựng một lực lượng hải quân mạnh để biến những biển trên thành của mình. Dường như các tình huống tương tự tạo ra các chiến lược tương tự.

NẾU TẬP TRUNG VÀO BIỂN ĐÔNG, TRUNG QUỐC CÓ THỂ XAO NHÃNG CÁC LỢI ÍCH Ở BIỂN HOÀNG HẢI VÀ BIỂN HOA ĐÔNG

Nhưng mà nước Mỹ cuối thế kỷ vẫn nằm rất xa khỏi các mối đe dọa từ các cường quốc chính khác. Nước này có khả năng để ngỏ bờ biển Thái Bình Dương hoặc Đại Tây Dương của mình ít nhiều không cần phòng thủ để tập trung năng lượng của mình vào một sự mở rộng kín đáo. Trung Quốc thì lại không có lợi thế này. Nếu nước này chỉ tập trung hải quân vào việc xử lý các tranh chấp ở Biển Đông thì sẽ có thể mất những lợi ích quan trọng ở biển Hoàng Hải và Hoa Đông. Bắc Triều Tiên vẫn tiếp tục gây phiền nhiễu ở ngay cửa ngõ biển của Trung Quốc. Đối thủ kình địch là Nhật Bản thì đang khoe mình với một đội tàu đẳng cấp thế giới và một vị trí chiến lược trên các con đường giao thông vận tải (sea lines of communication SLOCs) của Trung Quốc. Tình thế bế tắc trên eo biển Đài Loan vẫn bị kéo dài, lần lữa, đòi hỏi sự quan tâm chính sách của Trung Quốc. Cùng lúc đó, lợi ích biển ngày càng lớn kêu gọi sự chú ý của Trung Quốc đến các vùng biển bên ngoài Đông Á và đến các nhiệm vụ như chống cướp biển. Bắc Kinh không thể thờ ơ trước những vấn đề như vậy, những vấn đề có thể vắt kiệt các nguồn lực của các đội quân Đông Nam Á.

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây


Toshi Yoshihara, James R. Holmes 

PGS. về chiến lược trường ĐH Hải chiến Hoa Kỳ 

Quách Huyền (dịch) 

Đỗ Thủy (hiệu đính)

Bài viết đăng trên The Washington Quarterly, mùa xuân năm 2011 với nhan đề “ Can China Defend a “Core Interest” in the South China Sea? 


[1] Edward Wong “Chinese Military Seeks to Extend Its Naval Power,” New York Times April 23, 2010, http://www.nytimes.com/2010/04/24/world/asia/24navy.html.


[2] U.S. State Department, “Remarks by Secretary Clinton: Interview with Greg Sheridan of The Austraslian,” Melbourne, Australia, 8/11/2010 http:///www.state.gov/secretary/rm/2010/11/15067/htm.

[3] Để xem một số lý giải hợp lý về những vấn đề này, xem Carlyle A. Thayer, “Recent Developments in the Soouth China Sea: Grounds for Cautious Optimism?” RSIS Working Paper, số 220 (14/12/2010) trang 2-6, http://www.rsis.edu.sg/publications/WorkingPapers/WP220.pdf, và Michale D. Swaine, “China’s Assertive Behavior, Phần I: On ‘Core Interests’, “China Leadership Monitor số34 (Fall2010), trang 8-11, http://www.carnegieendowmenr.org/files/Swaine_CLM_34_1114101.pdf.

[4] John W. Garver, Face Off: China, the United States, and Taiwan’s Democratization (Seattle: University of Washington Press, 1997), trang 129.

[5] Trong khi bản chất thật sự của các yêu sách biến của Bắc Kinh vẫn đang được tranh luận thì thậm chí trong số các nhà phân tích Trung Quốc, một nhóm học giả xem Biển Đông là lãnh thổ có chủ quyền. Xem Peter A. Dutton, “Through a Chinese Lens,” Naval Institute Proceedings 126, số 4 (4/2010): trang 24-39. Ngoài ra, xét về quan điểm lịch sử, xem Andrew R. Wilson, “The Maritime Transformations of Ming China,” trong China Goes to Sea: Maritime Transformation in Comparative Historical Perspective, eds. Andrew S. Erickson, Lyle J. Goldstein, and Carnes Lord (Annapolis: Naval Institute Press, 2009), trang 235-287.

[6] Fareed Zakaria, From Wealth to Power. The Unusual Origins of America’s World Role (Princeton: Princeton University Press, 1998), trang 128-180.

[7] Dexter Perkins, A History of the Monroe Doctrine (Boston: Little, Brown, 1955), trang 228-275.

[8] Alfred Thayer Mahan, Naval Strategy, Compared and Contrasted with the Principles and Practice of Military Operations on Land (Boston: Little Brown, 1911), trang 111.

[9] Alfred Thayer Mahan, The Interest of America in Sea Power, Present and Future (1897; tái bản, Freeport: Books Libraries Press, 1970), trang 65-68.

[10] Nt, trang 78-83.

[11] Nt, trang 198.

[12] Alfred Thayer Mahan, The Influence of Sea Power upon History, 1660- 1783 (1890; tái bản, New York: Dover, 1987), trang 138; Mahan, Interest of America in Sea Power, trang 198; Margaret Tuttle Sprout, “Mahan: Evangelist of Sea Power,” trong Makers of Modern Strategy: Military Thought from Machiavelli to Hitler, ed. Edward Mead Earle (Princeton: Princeton University Press, 1943), trang 433.



Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Đánh giá chiến lược của Trung Quốc tại Biển Đông

Đánh giá chiến lược của Trung Quốc tại Biển Đông

Chống tiếp cận/ngăn chặn xâm nhập (A2/AD) là chiến lược biển được xây dựng nhằm ngăn không cho lực lượng hải quân đối phương tự do di chuyển trong một không gian chiến đấu. Bài viết sẽ phân tích những thuận lợi và khó khăn khi Trung Quốc thực hiện A2/AD tại Biển Đông.

Đọc tiếp...

Khả năng Trung Quốc thiết lập một ADIZ ở Biển Đông

Khả năng Trung Quốc thiết lập một ADIZ ở Biển Đông


Trung Quốc sẽ được gì và mất gì khi thiết lập một ADIZ ở Biển Đông? Những dự báo của giới quan sát về khả năng thành công của một ADIZ trong khu vực này.

 

Đọc tiếp...

Thấy gì từ “sứ mệnh West Capella” của Mỹ ở Biển Đông?

Thấy gì từ “sứ mệnh West Capella” của Mỹ ở Biển Đông?

Một số nhà quan sát cho rằng hành động đáp trả của Mỹ mang tính tự phát, không đủ mạnh và còn khiến Bắc Kinh bạo trợn hơn. Trong thời gian vài tuần đầu, những cáo buộc như vậy bị cho là quá vội vàng, song cũng bộc lộ sự yếu kém cố hữu trong cách tiếp cận của Mỹ đối với vấn đề an ninh biển ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Đọc tiếp...

Lợi dụng đại dịch Covid 19, Trung Quốc hành động cứng rắn ở Biển Đông

Lợi dụng đại dịch Covid 19, Trung Quốc hành động cứng rắn ở Biển Đông

Trong khi thế giới chiến đấu với COVID-19, Trung Quốc đang tiến gần hơn tới việc thiết lập sự thống trị trong khu vực.

Đọc tiếp...

Đằng sau chiến lược chiếm Biển Đông của Trung Quốc

Đằng sau chiến lược chiếm Biển Đông của Trung Quốc

 

Bắc Kinh đang từng bước tiến đến mục tiêu buộc cộng quốc tế chấp thuận các tuyên bố chủ quyền của nước này đối với Biển Đông. Cứ mỗi thập kỷ trôi qua, Bắc Kinh lại đạt được một bước tiến mới trong nghị trình của mình.

Đọc tiếp...

Báo cáo khoa học: Bằng chứng về những thay đổi môi trường gây ra bởi hành vi bồi đắp đảo của Trung Quốc

Báo cáo khoa học: Bằng chứng về những thay đổi môi trường gây ra bởi hành vi bồi đắp đảo của Trung Quốc

Bài báo cáo định lượng những ảnh hưởng đến môi trường từ các hành vi bồi đắp đảo trên Biển Đông, kết quả từ việc nạo vét và có thể tác động tiêu cực đến hệ động vật, thực vật biển và hệ sinh thái biển. Mức độ thiệt hại gây ra bởi việc xây dựng đảo được cho là trầm trọng vì các rạn san hô ở Biển Đông tập trung đa dạng sinh học biển lớn nhất trên Trái Đất.

Đọc tiếp...

Biển Đông và quá trình bị biến thành lãnh thổ “lịch sử” của Trung Quốc năm 1975

Biển Đông và quá trình bị biến thành lãnh thổ “lịch sử” của Trung Quốc năm 1975

Để chứng minh cho cái gọi là chủ quyền “mang tính lịch sử”, giới học giả Trung Quốc đã nỗ lực lập luận, đưa ra những bằng chứng lịch sử. Tuy nhiên, các bằng chứng mà họ đưa ra rất mập mờ, không có bất cứ tham chiếu nào về vị trí trích dẫn chính xác, thậm chí còn cố tình sửa đổi ngôn từ gốc.

Đọc tiếp...

[Ngô Sĩ Tồn] Triển vọng tình hình Biển Đông năm 2020: Những biến động khó lường

[Ngô Sĩ Tồn] Triển vọng tình hình Biển Đông năm 2020: Những biến động khó lường

Bằng lập luận xuyên tác, vô căn cứ, Trung Quốc đã, đang và sẽ thực hiện hình thức “tuyên truyền đen” để bôi nhọ những hoạt động phù hợp với luật pháp quốc tế của các quốc gia yêu sách khác ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Chính sách của Malaysia đối với tranh chấp trên Biển Đông

Chính sách của Malaysia đối với tranh chấp trên Biển Đông

Kể từ cuối những năm 1980, khi Biển Đông nổi lên là một vấn đề an ninh nghiêm trọng, Malaysia đã nhất quán tuân theo một chính sách và chỉ có những điều chỉnh nhỏ nhằm bảo vệ chủ quyền và các quyền chủ quyền của quốc gia này, duy trì luật pháp quốc tế cùng với thúc đẩy hòa bình và ổn định trên Biển Đông.

Đọc tiếp...

Đánh giá các căn cứ của Trung Quốc ở Biển Đông

Đánh giá các căn cứ của Trung Quốc ở Biển Đông

Tương tự như các căn cứ quân sự ở Đại lục, các tiền đồn của Trung Quốc tại Biển Đông được tích hợp vào một hệ thống các hệ thống lực lượng chung lớn hơn nhằm hỗ trợ các chiến lược đang hình thành của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA).

Đọc tiếp...

Trung Quốc chọc giận Indonesia tại Biển Đông

Trung Quốc chọc giận Indonesia tại Biển Đông

Vụ xâm nhập tháng 12/2019 đánh dấu các diễn biến mới trong vấn đề quần đảo Natuna. Bắc Kinh đã thay đổi lập trường và hiện tuyên bố quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển liên quan gần quần đảo Trường Sa. Đây không còn là vấn đề “ngư trường truyền thống”.

Đọc tiếp...

Chiến lược cạnh tranh và thách thức của Trung Quốc ở Biển Đông

Chiến lược cạnh tranh và thách thức của Trung Quốc ở Biển Đông

Hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông và tham vọng tại Đông Nam Á tiếp tục được xem xét kỹ lưỡng giữa các xu hướng rộng lớn hơn, bao gồm việc cạnh tranh Mỹ-Trung ngày càng gay gắt, các cuộc thảo luận ngày một tăng về kiến trúc khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương và nỗ lực không ngừng của các quốc gia Đông Nam Á và Bắc Kinh nhằm hướng tới một bộ quy tắc ứng xử ràng buộc ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Báo cáo chưa đầy đủ về hoạt động quân sự của Mỹ tại Biển Đông năm 2018

Báo cáo chưa đầy đủ về hoạt động quân sự của Mỹ tại Biển Đông năm 2018

Chừng nào sức mạnh của Trung Quốc vẫn đang phát triển, ngay cả khi nước này tiếp tục hạn chế sử dụng sức mạnh, quân đội Mỹ vẫn sẽ tiếp tục tăng cường bố trí lực lượng và hiện diện quân sự, tăng cường hoạt động “tự do hàng hải” khiến Biển Đông trở thành “chiến trường”. Trong tương lai, lực lượng quân đội Mỹ sẽ không ngừng tập trung ở Biển Đông, gia tăng cường độ hành động hơn nữa.

Đọc tiếp...

Trung Quốc-Philippines: Triển vọng khai thác dầu khí

Trung Quốc-Philippines: Triển vọng khai thác dầu khí

Bầu không khí của chuyến thăm thứ 5 của Duterte đến Trung Quốc đã trở nên u ám sau các hành động của Trung Quốc như phái hàng trăm tàu cá đến đảo Thị Tứ và đâm chìm một tàu cá Philippines gần bãi Cỏ Rong trong nửa đầu năm 2019.

Đọc tiếp...

Trung Quốc khẳng định sức mạnh bằng "họng súng" và "vỏ bọc hòa bình"

Trung Quốc khẳng định sức mạnh bằng

"Người dân Trung Quốc đã học được giá trị của hòa bình"..."Trung Quốc chưa bao giờ tiến hành bất kỳ cuộc chiến tranh hay xung đột nào" hay "Trung Quốc luôn đi đầu trong việc hướng tới hòa bình và ổn định khu vực"... Đây là những "Khẩu hiệu" mà Trung Quốc thường rêu rao để đánh bóng hình ảnh của mình. Tuy nhiên, những gì Trung Quốc làm hoàn toàn trái ngược với điều đó.

Đọc tiếp...

"Hàng xóm bắt nạt": Hành động của Trung Quốc ở Biển Đông sẽ phản tác dụng

Mọi hành động đều có phản ứng khác nhau; các quốc gia ở Đông Nam Á cũng như các quốc gia có lợi ích ở khu vực này chắc chắn sẽ không khoanh tay đứng nhìn. Trên thực tế, Bắc Kinh đang “mời gọi" các nước chống lại họ, và điều này không mang lại lợi ích cho Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Chiến tranh pháp lý của Trung Quốc, tranh chấp tài nguyên và luật biển

Chiến tranh pháp lý của Trung Quốc, tranh chấp tài nguyên và luật biển

Học thuyết “Tam chiến” của Trung Quốc vạch ra bộ ba phương pháp tấn công: chiến tranh thông tin, chiến tranh tâm lý và chiến tranh pháp lý. Trong số này, chức năng của chiến tranh pháp lý là nhằm “thúc đẩy tính hiệu quả của các cơ chế và quy trình pháp lý hiện hành để hạn chế hành vi đối địch, đối phó trong các hoàn cảnh bất lợi, đảo ngược các án lệ, và tối đa hóa lợi thế trong các tình huống liên quan đến các lợi ích cốt lõi của Trung Quốc”.

Đọc tiếp...

Câu chuyện về chủ quyền và vai trò cá nhân lãnh đạo trong xác lập vị thế của Trung Quốc

Câu chuyện về chủ quyền và vai trò cá nhân lãnh đạo trong xác lập vị thế của Trung Quốc

Hành vi và khát vọng bá quyền trên biển của Trung Quốc đang khiến cả châu Á giận dữ. Qua nghiên cứu so sánh tư tưởng và ngoại giao, bài phân tích sẽ giúp hiểu được viễn cảnh hình thành khát vọng bá quyền trên biển của Trung Quốc và ảnh hưởng của các chính sách hải quân của nước này đến các quốc gia khác trong việc sửa đổi hoặc hình thành các chiến lược biển mới.

Đọc tiếp...

Cách thức ngăn chặn Trung Quốc trên Biển Đông

Cách thức ngăn chặn Trung Quốc trên Biển Đông

Mỹ và đồng minh phải sử dụng sức mạnh của họ trên mọi lĩnh vực quân sự và phi quân sự. Theo đó, các hoạt động hộ tống bảo vệ hàng hải sẽ đi kèm với các nỗ lực đồng thời nhằm giúp các chính phủ và nền kinh tế ở Đông Nam Á vững vàng hơn trước ảnh hưởng xấu của Trung Quốc, cũng như việc phát triển và triển khai các lực lượng chiến đấu tinh nhuệ với nhiệm vụ ngăn chặn hành vi gây hấn quy mô lớn của Trung Quốc

Đọc tiếp...

Tôn trọng và tuân thủ luật pháp - Ưu tiên hàng đầu cho vấn đề hóc búa ở Biển Đông

Tôn trọng và tuân thủ luật pháp - Ưu tiên hàng đầu cho vấn đề hóc búa ở Biển Đông

Những diễn biến gần đây ở Biển Đông, một trong những tuyến đường biển sầm uất nhất trên thế giới, không chỉ đáng báo động mà còn nhiều khả năng biến thành một cuộc chiến tranh thực sự. Nếu điều đó xảy ra, hòa bình và ổn định ở Đông Nam Á sẽ tiêu tan.

Đọc tiếp...

Đối đầu ở Bãi Tư Chính: Giông tố mới ở Biển Đông

Đối đầu ở Bãi Tư Chính: Giông tố mới ở Biển Đông

Vụ việc ở Bãi Tư Chính là một phần trong những nỗ lực của Trung Quốc nhằm ngăn cản hoạt động khai thác tài nguyên hợp pháp ở Biển Đông của các quốc gia ven biển và hợp tác giữa họ với các nước ngoài khu vực. Những hành động này có thể mang lại lợi ích trước mắt cho Trung Quốc, nhưng về lâu dài sẽ dẫn đến bất lợi cho quốc gia này.

Đọc tiếp...

Philippines: Làm thế nào để đứng vững giữa cuộc cạnh tranh Trung-Mỹ?

Philippines: Làm thế nào để đứng vững giữa cuộc cạnh tranh Trung-Mỹ?

Philippines đã đúng khi mong muốn có mối quan hệ thân thiện với Trung Quốc, đặc biệt là khi nước này mong muốn mở cửa để phát triển kinh tế hơn nữa. Manila cũng phải nhớ rằng hòa bình và thịnh vượng lâu dài phụ thuộc vào quyền tự do và sự tôn trọng lẫn nhau giữa các nước có chủ quyền, cũng như trật tự quốc tế dựa trên nguyên tắc. Trong lời nói và hành động, Philippines cần phải giữ vững lập trường để bảo vệ những nguyên tắc quan trọng này.

 

Đọc tiếp...

Đỉnh điểm của việc Trung Quốc quân sự hóa biển Đông

Đỉnh điểm của việc Trung Quốc quân sự hóa biển Đông

Tính tới giờ, việc Trung Quốc tiến hành quân sự hóa một số đảo nhân tạo trên Biển Đông được cho là động thái ở mức cao nhất của nước này đối với các vấn đề ở khu vực. Thực chất hành động cũng như mục đích đằng sau của Trung Quốc đe dọa tới không chỉ các nước trong khu vực mà còn tới cả nước lớn như Mỹ.

Đọc tiếp...

Thực chất tình hình tại biển Đông

Thực chất tình hình tại biển Đông

Các vấn đề tại Biển Đông vốn đã xảy ra trong một khoảng thời gian dài, đặc biệt là giữa các bên có yêu sách ở khu vực này. Gần đây, những vấn đề trên trở nên phức tạp hơn do những tính toán chiến lược không chỉ của các bên có tranh chấp, mà còn của cả các nước lớn bên ngoài khu vực.

Đọc tiếp...

Gót chân Asin của ASEAN trong vấn đề Biển Đông

Gót chân Asin của ASEAN trong vấn đề Biển Đông

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), từ lâu được mô tả là mô hình thành công nhất của sự hội nhập khu vực trong thế giới hậu thực dân, đã ngày càng trở nên bất lực trong việc kiềm chế Trung Quốc làm xói mòn trật tự dựa trên quy tắc của khu vực vốn được định hướng bằng nguyên tắc không gây hấn, tránh xung đột và chủ nghĩa đa phương tự do.

Đọc tiếp...

Các vấn đề trong liên minh Mỹ-Philippines

Các vấn đề trong liên minh Mỹ-Philippines

Hiện nay, không có thông tin công khai về việc Chính phủ Philippines chính thức yêu cầu Mỹ có một đánh giá hiệp ước chính thức. Người ta cho rằng một đánh giá chính thức sẽ vấp phải những khó khăn, trước hết là trong việc đạt được sự nhất trí về những sửa đổi đối với một hiệp ước có từ 7 thập kỷ trước và sau đó là trong việc phê chuẩn một hiệp ước đã sửa đổi ở cả 2 nước.

Đọc tiếp...

Suy nghĩ về các hành động của Trung Quốc tại Bãi Tư Chính

Suy nghĩ về các hành động của Trung Quốc tại Bãi Tư Chính

Nếu không có một phản ứng cứng rắn từ phía cộng đồng quốc tế đối với các hành động của Trung Quốc tại Bãi Tư Chính, các vụ việc tương tự sẽ còn lặp lại trong những năm tới, lý do đơn giản là Bắc Kinh rất hào hứng nhận ra rằng các hành động cưỡng ép của họ đã mang lại hiệu quả.

Đọc tiếp...

Vai trò ngày càng tăng của EU ở Biển Đông

Vai trò ngày càng tăng của EU ở Biển Đông

Yêu cầu của EU đòi phải được thừa nhận là một bên tham gia về chính trị và an ninh ở châu Á không phải là mới. Tham vọng của họ có một ghế tại EAS và gần đây hơn là địa vị quan sát viên tại Nhóm chuyên gia ADMM+ là chủ đề của nhiều cuộc thảo luận, xoay quanh đòi hỏi chính là thừa nhận giá trị thực tế của EU đối với an ninh khu vực. Bởi vậy, việc xem xét kỹ lưỡng các chính sách và hành động của EU ở Biển Đông là điều hợp lôgích.

Đọc tiếp...

Hệ lụy từ hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông

Hệ lụy từ hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông

Việc kiểm soát Biển Đông có nghĩa là Trung Quốc có khả năng bác bỏ hệ thống trật tự thế giới dựa trên các quy tắc, từ chối tuân thủ các chuẩn mực, kỳ vọng, và UNCLOS; đẩy người bảo vệ trật tự thế giới (Mỹ) khỏi Tây Thái Bình Dương, làm suy yếu hoặc phá hủy các đồng minh ở Tây Thái Bình Dương, khiến uy tín của Mỹ bị nghi ngờ ở phạm vi khu vực cũng như quốc tế và phá hủy cơ sở hạ tầng an ninh ở Đông Nam Á.

Đọc tiếp...

Nhận diện chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông

Nhận diện chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông

Để giành kiểm soát trên Biển Đông, đầu tiên, Trung Quốc cần phải cô lập khu vực. Trong nỗ lực cô lập khu vực, Trung Quốc sử dụng chiến lược hai hướng “cây gậy và củ cà rốt”, vừa lôi kéo các nước láng giềng khi thuận tiện trong khi đe dọa các nước chống đối mình.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 5232 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin