29 - 11 - 2020 | 15:30
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI Triển vọng cho việc giải quyết và quản lý xung đột ở Biển Đông (tiếp theo)

Triển vọng cho việc giải quyết và quản lý xung đột ở Biển Đông (tiếp theo)

Email In PDF.

( Phần 1 )

Những kịch bản giải quyết tranh chấp Biển Đông hiện nay sẽ rất khó khăn vì các bên liên quan và các yêu sách lãnh thổ chồng lấn đã lên đến đỉnh điểm, thêm vào đó tất cả các bên đều không có ý định nhượng bộ trong những yêu sách của mình. Trong bối cảnh đó, theo tác giả thì biện pháp khả thi để giải quyết vấn đề là chủ yếu tập trung vào thăm dò và khai thác chung kết hợp với gác lại vấn đề chủ quyền

 


NHỮNG KỊCH BẢN GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT


Nhìn lại nỗ lực quản lý các tranh chấp Biển Đông, giờ chúng sẽ tập trung vào các kịch bản giải quyết khác nhau. Vấn đề Biển Đông khó giải quyết vì nhiều bên liên quan và các yêu sách lãnh thổ chồng lấn đã lên đến đỉnh điểm. Trọng tài quốc tế không thể đưa ra một một kịch bản có khả năng giải quyết các tranh chấp. Tất cả các bên yêu sách đều lặp lại tuyên bố chủ quyền của mình và họ không hề muốn nhượng bộ trong những yêu sách lãnh thổ. Các quốc gia đã từ chối thảo luận vấn đề quyền tài phán trên các đảo và đưa các yêu sách chồng lấn của mình lên Tòa án Pháp lý Quốc tế (ICJ) hay Tòa án Quốc tế về Luật Biển (ITLOS). Điều này có thể trái ngược hẳn với những tranh chấp lãnh thổ khác ở Đông Nam Á. Ví dụ, tháng 11 năm 2007, Xin-ga-po và Ma-lai-xi-a đã đệ trình những yêu sách lãnh thổ của họ đối với đảo Petra Branca/Pulau Batu Puteh lên ICJ nhờ trọng tài quốc tế phân xử. Kết thúc 28 năm tranh chấp lãnh thổ, tòa xử vào tháng 5 năm 2008 đã ủng hộ Xin-ga-po nhưng quyết định trao hai bãi nhỏ hơn, gọi là Middle Rocks, cho Ma-lai-xi-a.

Không có cách giải quyết pháp lý rõ ràng nào cho những yêu sách xung đột nhau ở Biển Đông. Leni Stenseth nhận thấy rằng “dường như không bên yêu sách nào có cơ sở pháp lý rõ ràng và vai trò của luật quốc tế trong giải quyết tranh chấp có vẻ còn hạn chế.”[1] Trung Quốc và Đài Loan có những yêu sách lịch sử rộng nhất ở Biển Đông. Tuy nhiên, trong khi nguyên tắc lịch sử và sự phát hiện đầu tiên có thể tạo cơ sở cho lập trường của một bên tranh chấp, luật quốc tế đã cho thấy những nguyên tắc đó chưa đủ để xác định chủ quyền. Thay vào đó, danh nghĩa ban đầu do nguyên tắc phát hiện xác lập phải được bổ xung bằng việc liên tục sử dụng và chiếm giữ một vùng lãnh thổ. Thậm chí danh nghĩa có được do chiếm giữ có thể thay thế những yêu sách lịch sử.[2] Thêm vào đó những yêu sách của Trung Quốc là khó chứng minh, bởi vì truyền thống Nho giáo cho rằng lãnh thổ được thể hiện bằng những vùng ảnh hưởng hơn là  đường biên giới rõ ràng.[3]

Bản thân UNCLOS không thể được áp dụng để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ đang tồn tại.  Trong những trường hợp như vậy, UNCLOS quy định “các quốc gia có những yêu sách chồng lấn phải giải quyết những yêu sách của họ bằng đàm phán một cách có thiện chí”[4] tuy nhiên không có những ranh giới trên biển rõ ràng ở hầu hết các vùng ở Biển Đông và một số bên yêu sách thậm chí đã không xác định được những yêu sách chính xác của mình. Vì vấn đề dầu mỏ đang trở nên cấp thiết, không một chính quyền nào dám mạo hiểm từ bỏ các lợi ích quốc gia trong khu vực. Thay vì làm đơn giản hóa vấn đề,  UNCLOS đã có tác động làm phức tạp và căng thẳng thêm các tranh chấp này.

Điều nghịch lý là việc giải thích chặt chẽ UNCLOS có thể ngăn cản hầu hết các điểm đảo có được một vùng đặc quyền kinh tế (EEZ), vì thế hạn chế những vùng có thể có các tuyên bố chồng lấn. Khoản 121, đọan 3 nói rằng, “Các đảo đá mà không thể duy trì nơi cư trú hay đời sống kinh tế cho con người sẽ không có vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa”;[5] thay vào đó các đảo đá này chỉ được phép có lãnh hải 12 hải lý. Tuy nhiên không có những chỉ dẫn cụ thể để phân biệt giữa đá và đảo. Những hạn chế đó đã mở đường cho các bên yêu sách tranh chấp và khai thác. Ngoài sự bàn cãi xung quanh cái gì cấu thành một hòn đảo, việc dùng thềm lục địa để yêu sách lãnh thổ cũng gặp rắc rối tương tự. Dù nhiều bên yêu sách đã lấy lý do thềm lục địa kéo dài để biện minh cho quan điểm của mình, điều này vẫn “không đủ cơ sở pháp lý để yêu sách các hòn đảo”[6]. Những vùng biển được xác định theo UNCLOS có thể mang lại quyền khai thác tài nguyên, nhưng không mang lại chủ quyền cho bản thân các hòn đảo trong đó. Cuối cùng, không có điểm nào ở cả Quần đảo Trường Sa (A: Spratlys Islands, TQ: Nansa/Nam Sa – nd hay ) hay Quần đảo Hoàng Sa (A: Pracels Islands,  QT: Xisha/Tây Xa - nd) cách nhau 200 hải lý. Điều này có nghĩa là vùng đặc quyền kinh tế mà các bên tranh chấp yêu sách chắc chắn chồng lấn lên yêu sách của một vài bên khác, làm tăng nguy cơ xung đột.

MỘT BIỆN PHÁP KHẢ THI TRONG TƯƠNG LAI


Căn cứ vào sự phức tạp của những yêu sách, các đề xuất dự định để giải quyết tranh chấp Biển Đông chủ yếu tập trung vào thăm dò và khai thác chung kết hợp với gác lại vấn đề chủ quyền. Cách tiếp cận này thường được xem là lựa chọn khả thi nhất để tăng cường hợp tác và ổn định khu vực. Hiệp ước Timor Gap giữa Úc và In-đo-nê-xi-a, Hiệp định Vịnh Bắc Bộ (Tonkin Gap Treaty) giữa Trung Quốc và Việt Nam và các hiệp định song phương đang tồn tại trong phân định ranh giới biển được xem như những hình mẫu để đưa ra một kế hoạch cùng thăm dò và khai thác cho Biển Đông.

Các tập đoàn dầu khí nhà nước của Trung Quốc, Việt Nam, Phi-líp-pin đã ký Thỏa thuận thăm dò địa chấn chung (JMSU) như một hiệp định thương mại để tiến hành một số cuộc khảo sát trước khi thăm dò trong một số vùng ở Trường Sa (A: Spratlys, QT: Nansha/Nam Sha - nd). Ban đầu, thỏa thuận chỉ bao gồm Trung Quốc và Phi-lip-pin trước khi Việt Nam quyết định tham gia vào năm 2005. Việc ký kết thỏa thuận đảm bảo cho Ma-ni-la và Hà Nội ít nhất có mặt trong quá trình thăm dò tại khu vực mà họ có những yêu sách chủ quyền chồng lấn với Bắc Kinh. Thỏa thuận được ký giữa các tập đoàn dầu khí hơn là giữa các chính phủ, điều này đã làm đơn giản hóa quy trình. Tuy nhiên sau khi nó được ký kết năm 2005, các phe đối lập ở Phi-lip-pin đã chỉ trích cam kết như một dấu hiệu rằng chính phủ muốn giảm đi những yêu sách của quốc gia này trong các vùng lãnh thổ tranh chấp. JMSU (Thỏa thuận thăm dò địa chấn chung) cuối cùng hết hiệu lực vào ngày 30 tháng 8 năm 2008. Việc gia hạn thỏa thuận đã bị chỉ trích nhiều hơn do những cáo buộc tham nhũng liên quan đến các khoản cho vay của Trung Quốc để ký kết hiệp định ban đầu.[7] Thậm chí nếu một kế hoạch thăm dò và khai thác chung cho Biển Đông được đàm phán thành công, sự chênh lệch quá rõ về sức mạnh và việc thiếu một thỏa thuận tổng thể về các vấn đề chủ quyền của các quốc gia ven bờ có thể vẫn đẩy các bên yếu hơn vào tình trạng bấp bênh trong trường hợp những điều kiện kinh tế thay đổi hay phát sinh những tình huống chiến lược. Kết quả là một kế hoạch phát triển chung như vây chỉ có thể thành công nếu được đặt trong và bổ sung cho một cơ chế quản lý hợp tác rộng hơn. Trong điều kiện chưa chuẩn bị kỹ lưỡng, sự chênh lệch quá mức về sức mạnh này có thể vẫn đặt các bên yếu hơn trong tình trạng bấp bênh. Nếu không có một cấu trúc pháp lý và những cơ chế rộng hơn thì kế hoạch khai thác chung sẽ chỉ tái khẳng định những yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc do sự phân bố sức mạnh không đều ở Biển Đông. Các bên yêu sách Đông Nam Á chỉ có mặt trong quá trình thăm dò ở những khu vực mà họ có những yêu sách lãnh thổ chồng lấn với Bắc Kinh. Trong phạm vi JMSU, Valencia khẳng định rằng việc khảo sát chung có hại cho Phi-lip-pin, vì nó bao gồm khu vực thềm lục địa hợp pháp của Phi-lip-pin mà Trung Quốc và Việt Nam không yêu sách. Hơn nữa thỏa thuận đã tạo ra tính chính danh để Trung Quốc yêu sách một cách không hợp pháp khu vực đó ở Biển Đông.”[8]

Tóm lại, việc ký kết một kế hoạch thăm dò và khai thác chung sẽ cần phải được tiến hành trước bằng việc đàm phán một khuôn khổ để gác lại những yêu sách lãnh thổ hiện tại, thiết lập một quy tắc ứng xử chặt chẽ, điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia khu vực và quản lý các tranh chấp hiện tại và tiềm tàng. Việc thiết lập một khuôn khổ như vậy có vẻ không giống với một hiệp định thông thường. Thật vậy, sự bế tắc của những yêu sách lãnh thổ đan xen với chính trị dân tộc chủ nghĩa vẫn là một chướng ngại lớn trong việc quản lý và giải quyết xung đột ở Biển Đông.

PGS. Ralf Emmers, Đại học Công nghệ Nanyang, Singapore

Người dịch: Nguyễn Văn Bình

Hiệu đính: Đỗ Thị Thủy

Bản gốc tiếng Anh “The prospects for managing and resolving conflict in the South China Sea tạp chí Harvard Asia Quarterly chủ đề “The Disputed Sea – Maritime Security in East Asia” tháng 12/2010. 

Đề nghị chỉ được dẫn đường link mọi thông tin, bài viết  trên www.nghiencuubiendong.vn, không đăng lại khi chưa có sự đồng ý của Ban Biên tập NCBĐ

 



[1] Leni Stenseth, Nationalism and Foreign Policy – The Case of China’s Nansha Rhetoric (Disertation submitted to the Department of Polictical Sience, University of Oslo, 1998), 10.

[2] Bob Catley và Makmur Keliat, Spratlys: The Dispute in the South China Sea (Aldershot, UK: Ashgate Publishing, 1997), 35.

[3] Joshua P. Rowan, “The U.S.-Japan Security Alliance, ASEAN, and the South China Sea Dispute,” Asia Survey 45-3 (2005): 426.

[4] Erik Kreil, “Energy Issues in the South China Sea Region,” in Cooperation Monitoring in the South China Sea, ed. John C. Baker and David G. Wiencek (Westport, CT: Praeger, 2002), 38.

[5] Xem Khoản 121 (3) phần phụ lục và phụ đề Công ước về luật biển của Liên Hợp Quốc năm 1982.

[6] Leszek Buzynski và Iskandar Sazlan, “Maritime Claims and Energy Cooperation,” Comtemporary Southeast Asia 29-1 (2007):147.

[7] Ian Storey, “Trouble and strife in the South China Sea Part II: the Philipines and China,” China Brieaf [The Jame Town Foundation] 12-9, ngày 28 tháng 4 năm 2008, 6.

[8] Xem Valencia, “In Response to Robert Backman”.


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Đánh giá chiến lược của Trung Quốc tại Biển Đông

Đánh giá chiến lược của Trung Quốc tại Biển Đông

Chống tiếp cận/ngăn chặn xâm nhập (A2/AD) là chiến lược biển được xây dựng nhằm ngăn không cho lực lượng hải quân đối phương tự do di chuyển trong một không gian chiến đấu. Bài viết sẽ phân tích những thuận lợi và khó khăn khi Trung Quốc thực hiện A2/AD tại Biển Đông.

Đọc tiếp...

Khả năng Trung Quốc thiết lập một ADIZ ở Biển Đông

Khả năng Trung Quốc thiết lập một ADIZ ở Biển Đông


Trung Quốc sẽ được gì và mất gì khi thiết lập một ADIZ ở Biển Đông? Những dự báo của giới quan sát về khả năng thành công của một ADIZ trong khu vực này.

 

Đọc tiếp...

Thấy gì từ “sứ mệnh West Capella” của Mỹ ở Biển Đông?

Thấy gì từ “sứ mệnh West Capella” của Mỹ ở Biển Đông?

Một số nhà quan sát cho rằng hành động đáp trả của Mỹ mang tính tự phát, không đủ mạnh và còn khiến Bắc Kinh bạo trợn hơn. Trong thời gian vài tuần đầu, những cáo buộc như vậy bị cho là quá vội vàng, song cũng bộc lộ sự yếu kém cố hữu trong cách tiếp cận của Mỹ đối với vấn đề an ninh biển ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Đọc tiếp...

Lợi dụng đại dịch Covid 19, Trung Quốc hành động cứng rắn ở Biển Đông

Lợi dụng đại dịch Covid 19, Trung Quốc hành động cứng rắn ở Biển Đông

Trong khi thế giới chiến đấu với COVID-19, Trung Quốc đang tiến gần hơn tới việc thiết lập sự thống trị trong khu vực.

Đọc tiếp...

Đằng sau chiến lược chiếm Biển Đông của Trung Quốc

Đằng sau chiến lược chiếm Biển Đông của Trung Quốc

 

Bắc Kinh đang từng bước tiến đến mục tiêu buộc cộng quốc tế chấp thuận các tuyên bố chủ quyền của nước này đối với Biển Đông. Cứ mỗi thập kỷ trôi qua, Bắc Kinh lại đạt được một bước tiến mới trong nghị trình của mình.

Đọc tiếp...

Báo cáo khoa học: Bằng chứng về những thay đổi môi trường gây ra bởi hành vi bồi đắp đảo của Trung Quốc

Báo cáo khoa học: Bằng chứng về những thay đổi môi trường gây ra bởi hành vi bồi đắp đảo của Trung Quốc

Bài báo cáo định lượng những ảnh hưởng đến môi trường từ các hành vi bồi đắp đảo trên Biển Đông, kết quả từ việc nạo vét và có thể tác động tiêu cực đến hệ động vật, thực vật biển và hệ sinh thái biển. Mức độ thiệt hại gây ra bởi việc xây dựng đảo được cho là trầm trọng vì các rạn san hô ở Biển Đông tập trung đa dạng sinh học biển lớn nhất trên Trái Đất.

Đọc tiếp...

Biển Đông và quá trình bị biến thành lãnh thổ “lịch sử” của Trung Quốc năm 1975

Biển Đông và quá trình bị biến thành lãnh thổ “lịch sử” của Trung Quốc năm 1975

Để chứng minh cho cái gọi là chủ quyền “mang tính lịch sử”, giới học giả Trung Quốc đã nỗ lực lập luận, đưa ra những bằng chứng lịch sử. Tuy nhiên, các bằng chứng mà họ đưa ra rất mập mờ, không có bất cứ tham chiếu nào về vị trí trích dẫn chính xác, thậm chí còn cố tình sửa đổi ngôn từ gốc.

Đọc tiếp...

[Ngô Sĩ Tồn] Triển vọng tình hình Biển Đông năm 2020: Những biến động khó lường

[Ngô Sĩ Tồn] Triển vọng tình hình Biển Đông năm 2020: Những biến động khó lường

Bằng lập luận xuyên tác, vô căn cứ, Trung Quốc đã, đang và sẽ thực hiện hình thức “tuyên truyền đen” để bôi nhọ những hoạt động phù hợp với luật pháp quốc tế của các quốc gia yêu sách khác ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Chính sách của Malaysia đối với tranh chấp trên Biển Đông

Chính sách của Malaysia đối với tranh chấp trên Biển Đông

Kể từ cuối những năm 1980, khi Biển Đông nổi lên là một vấn đề an ninh nghiêm trọng, Malaysia đã nhất quán tuân theo một chính sách và chỉ có những điều chỉnh nhỏ nhằm bảo vệ chủ quyền và các quyền chủ quyền của quốc gia này, duy trì luật pháp quốc tế cùng với thúc đẩy hòa bình và ổn định trên Biển Đông.

Đọc tiếp...

Đánh giá các căn cứ của Trung Quốc ở Biển Đông

Đánh giá các căn cứ của Trung Quốc ở Biển Đông

Tương tự như các căn cứ quân sự ở Đại lục, các tiền đồn của Trung Quốc tại Biển Đông được tích hợp vào một hệ thống các hệ thống lực lượng chung lớn hơn nhằm hỗ trợ các chiến lược đang hình thành của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA).

Đọc tiếp...

Trung Quốc chọc giận Indonesia tại Biển Đông

Trung Quốc chọc giận Indonesia tại Biển Đông

Vụ xâm nhập tháng 12/2019 đánh dấu các diễn biến mới trong vấn đề quần đảo Natuna. Bắc Kinh đã thay đổi lập trường và hiện tuyên bố quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển liên quan gần quần đảo Trường Sa. Đây không còn là vấn đề “ngư trường truyền thống”.

Đọc tiếp...

Chiến lược cạnh tranh và thách thức của Trung Quốc ở Biển Đông

Chiến lược cạnh tranh và thách thức của Trung Quốc ở Biển Đông

Hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông và tham vọng tại Đông Nam Á tiếp tục được xem xét kỹ lưỡng giữa các xu hướng rộng lớn hơn, bao gồm việc cạnh tranh Mỹ-Trung ngày càng gay gắt, các cuộc thảo luận ngày một tăng về kiến trúc khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương và nỗ lực không ngừng của các quốc gia Đông Nam Á và Bắc Kinh nhằm hướng tới một bộ quy tắc ứng xử ràng buộc ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Báo cáo chưa đầy đủ về hoạt động quân sự của Mỹ tại Biển Đông năm 2018

Báo cáo chưa đầy đủ về hoạt động quân sự của Mỹ tại Biển Đông năm 2018

Chừng nào sức mạnh của Trung Quốc vẫn đang phát triển, ngay cả khi nước này tiếp tục hạn chế sử dụng sức mạnh, quân đội Mỹ vẫn sẽ tiếp tục tăng cường bố trí lực lượng và hiện diện quân sự, tăng cường hoạt động “tự do hàng hải” khiến Biển Đông trở thành “chiến trường”. Trong tương lai, lực lượng quân đội Mỹ sẽ không ngừng tập trung ở Biển Đông, gia tăng cường độ hành động hơn nữa.

Đọc tiếp...

Trung Quốc-Philippines: Triển vọng khai thác dầu khí

Trung Quốc-Philippines: Triển vọng khai thác dầu khí

Bầu không khí của chuyến thăm thứ 5 của Duterte đến Trung Quốc đã trở nên u ám sau các hành động của Trung Quốc như phái hàng trăm tàu cá đến đảo Thị Tứ và đâm chìm một tàu cá Philippines gần bãi Cỏ Rong trong nửa đầu năm 2019.

Đọc tiếp...

Trung Quốc khẳng định sức mạnh bằng "họng súng" và "vỏ bọc hòa bình"

Trung Quốc khẳng định sức mạnh bằng

"Người dân Trung Quốc đã học được giá trị của hòa bình"..."Trung Quốc chưa bao giờ tiến hành bất kỳ cuộc chiến tranh hay xung đột nào" hay "Trung Quốc luôn đi đầu trong việc hướng tới hòa bình và ổn định khu vực"... Đây là những "Khẩu hiệu" mà Trung Quốc thường rêu rao để đánh bóng hình ảnh của mình. Tuy nhiên, những gì Trung Quốc làm hoàn toàn trái ngược với điều đó.

Đọc tiếp...

"Hàng xóm bắt nạt": Hành động của Trung Quốc ở Biển Đông sẽ phản tác dụng

Mọi hành động đều có phản ứng khác nhau; các quốc gia ở Đông Nam Á cũng như các quốc gia có lợi ích ở khu vực này chắc chắn sẽ không khoanh tay đứng nhìn. Trên thực tế, Bắc Kinh đang “mời gọi" các nước chống lại họ, và điều này không mang lại lợi ích cho Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Chiến tranh pháp lý của Trung Quốc, tranh chấp tài nguyên và luật biển

Chiến tranh pháp lý của Trung Quốc, tranh chấp tài nguyên và luật biển

Học thuyết “Tam chiến” của Trung Quốc vạch ra bộ ba phương pháp tấn công: chiến tranh thông tin, chiến tranh tâm lý và chiến tranh pháp lý. Trong số này, chức năng của chiến tranh pháp lý là nhằm “thúc đẩy tính hiệu quả của các cơ chế và quy trình pháp lý hiện hành để hạn chế hành vi đối địch, đối phó trong các hoàn cảnh bất lợi, đảo ngược các án lệ, và tối đa hóa lợi thế trong các tình huống liên quan đến các lợi ích cốt lõi của Trung Quốc”.

Đọc tiếp...

Câu chuyện về chủ quyền và vai trò cá nhân lãnh đạo trong xác lập vị thế của Trung Quốc

Câu chuyện về chủ quyền và vai trò cá nhân lãnh đạo trong xác lập vị thế của Trung Quốc

Hành vi và khát vọng bá quyền trên biển của Trung Quốc đang khiến cả châu Á giận dữ. Qua nghiên cứu so sánh tư tưởng và ngoại giao, bài phân tích sẽ giúp hiểu được viễn cảnh hình thành khát vọng bá quyền trên biển của Trung Quốc và ảnh hưởng của các chính sách hải quân của nước này đến các quốc gia khác trong việc sửa đổi hoặc hình thành các chiến lược biển mới.

Đọc tiếp...

Cách thức ngăn chặn Trung Quốc trên Biển Đông

Cách thức ngăn chặn Trung Quốc trên Biển Đông

Mỹ và đồng minh phải sử dụng sức mạnh của họ trên mọi lĩnh vực quân sự và phi quân sự. Theo đó, các hoạt động hộ tống bảo vệ hàng hải sẽ đi kèm với các nỗ lực đồng thời nhằm giúp các chính phủ và nền kinh tế ở Đông Nam Á vững vàng hơn trước ảnh hưởng xấu của Trung Quốc, cũng như việc phát triển và triển khai các lực lượng chiến đấu tinh nhuệ với nhiệm vụ ngăn chặn hành vi gây hấn quy mô lớn của Trung Quốc

Đọc tiếp...

Tôn trọng và tuân thủ luật pháp - Ưu tiên hàng đầu cho vấn đề hóc búa ở Biển Đông

Tôn trọng và tuân thủ luật pháp - Ưu tiên hàng đầu cho vấn đề hóc búa ở Biển Đông

Những diễn biến gần đây ở Biển Đông, một trong những tuyến đường biển sầm uất nhất trên thế giới, không chỉ đáng báo động mà còn nhiều khả năng biến thành một cuộc chiến tranh thực sự. Nếu điều đó xảy ra, hòa bình và ổn định ở Đông Nam Á sẽ tiêu tan.

Đọc tiếp...

Đối đầu ở Bãi Tư Chính: Giông tố mới ở Biển Đông

Đối đầu ở Bãi Tư Chính: Giông tố mới ở Biển Đông

Vụ việc ở Bãi Tư Chính là một phần trong những nỗ lực của Trung Quốc nhằm ngăn cản hoạt động khai thác tài nguyên hợp pháp ở Biển Đông của các quốc gia ven biển và hợp tác giữa họ với các nước ngoài khu vực. Những hành động này có thể mang lại lợi ích trước mắt cho Trung Quốc, nhưng về lâu dài sẽ dẫn đến bất lợi cho quốc gia này.

Đọc tiếp...

Philippines: Làm thế nào để đứng vững giữa cuộc cạnh tranh Trung-Mỹ?

Philippines: Làm thế nào để đứng vững giữa cuộc cạnh tranh Trung-Mỹ?

Philippines đã đúng khi mong muốn có mối quan hệ thân thiện với Trung Quốc, đặc biệt là khi nước này mong muốn mở cửa để phát triển kinh tế hơn nữa. Manila cũng phải nhớ rằng hòa bình và thịnh vượng lâu dài phụ thuộc vào quyền tự do và sự tôn trọng lẫn nhau giữa các nước có chủ quyền, cũng như trật tự quốc tế dựa trên nguyên tắc. Trong lời nói và hành động, Philippines cần phải giữ vững lập trường để bảo vệ những nguyên tắc quan trọng này.

 

Đọc tiếp...

Đỉnh điểm của việc Trung Quốc quân sự hóa biển Đông

Đỉnh điểm của việc Trung Quốc quân sự hóa biển Đông

Tính tới giờ, việc Trung Quốc tiến hành quân sự hóa một số đảo nhân tạo trên Biển Đông được cho là động thái ở mức cao nhất của nước này đối với các vấn đề ở khu vực. Thực chất hành động cũng như mục đích đằng sau của Trung Quốc đe dọa tới không chỉ các nước trong khu vực mà còn tới cả nước lớn như Mỹ.

Đọc tiếp...

Thực chất tình hình tại biển Đông

Thực chất tình hình tại biển Đông

Các vấn đề tại Biển Đông vốn đã xảy ra trong một khoảng thời gian dài, đặc biệt là giữa các bên có yêu sách ở khu vực này. Gần đây, những vấn đề trên trở nên phức tạp hơn do những tính toán chiến lược không chỉ của các bên có tranh chấp, mà còn của cả các nước lớn bên ngoài khu vực.

Đọc tiếp...

Gót chân Asin của ASEAN trong vấn đề Biển Đông

Gót chân Asin của ASEAN trong vấn đề Biển Đông

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), từ lâu được mô tả là mô hình thành công nhất của sự hội nhập khu vực trong thế giới hậu thực dân, đã ngày càng trở nên bất lực trong việc kiềm chế Trung Quốc làm xói mòn trật tự dựa trên quy tắc của khu vực vốn được định hướng bằng nguyên tắc không gây hấn, tránh xung đột và chủ nghĩa đa phương tự do.

Đọc tiếp...

Các vấn đề trong liên minh Mỹ-Philippines

Các vấn đề trong liên minh Mỹ-Philippines

Hiện nay, không có thông tin công khai về việc Chính phủ Philippines chính thức yêu cầu Mỹ có một đánh giá hiệp ước chính thức. Người ta cho rằng một đánh giá chính thức sẽ vấp phải những khó khăn, trước hết là trong việc đạt được sự nhất trí về những sửa đổi đối với một hiệp ước có từ 7 thập kỷ trước và sau đó là trong việc phê chuẩn một hiệp ước đã sửa đổi ở cả 2 nước.

Đọc tiếp...

Suy nghĩ về các hành động của Trung Quốc tại Bãi Tư Chính

Suy nghĩ về các hành động của Trung Quốc tại Bãi Tư Chính

Nếu không có một phản ứng cứng rắn từ phía cộng đồng quốc tế đối với các hành động của Trung Quốc tại Bãi Tư Chính, các vụ việc tương tự sẽ còn lặp lại trong những năm tới, lý do đơn giản là Bắc Kinh rất hào hứng nhận ra rằng các hành động cưỡng ép của họ đã mang lại hiệu quả.

Đọc tiếp...

Vai trò ngày càng tăng của EU ở Biển Đông

Vai trò ngày càng tăng của EU ở Biển Đông

Yêu cầu của EU đòi phải được thừa nhận là một bên tham gia về chính trị và an ninh ở châu Á không phải là mới. Tham vọng của họ có một ghế tại EAS và gần đây hơn là địa vị quan sát viên tại Nhóm chuyên gia ADMM+ là chủ đề của nhiều cuộc thảo luận, xoay quanh đòi hỏi chính là thừa nhận giá trị thực tế của EU đối với an ninh khu vực. Bởi vậy, việc xem xét kỹ lưỡng các chính sách và hành động của EU ở Biển Đông là điều hợp lôgích.

Đọc tiếp...

Hệ lụy từ hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông

Hệ lụy từ hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông

Việc kiểm soát Biển Đông có nghĩa là Trung Quốc có khả năng bác bỏ hệ thống trật tự thế giới dựa trên các quy tắc, từ chối tuân thủ các chuẩn mực, kỳ vọng, và UNCLOS; đẩy người bảo vệ trật tự thế giới (Mỹ) khỏi Tây Thái Bình Dương, làm suy yếu hoặc phá hủy các đồng minh ở Tây Thái Bình Dương, khiến uy tín của Mỹ bị nghi ngờ ở phạm vi khu vực cũng như quốc tế và phá hủy cơ sở hạ tầng an ninh ở Đông Nam Á.

Đọc tiếp...

Nhận diện chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông

Nhận diện chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông

Để giành kiểm soát trên Biển Đông, đầu tiên, Trung Quốc cần phải cô lập khu vực. Trong nỗ lực cô lập khu vực, Trung Quốc sử dụng chiến lược hai hướng “cây gậy và củ cà rốt”, vừa lôi kéo các nước láng giềng khi thuận tiện trong khi đe dọa các nước chống đối mình.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 2758 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin