27 - 9 - 2020 | 7:31
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI Triển vọng cho việc giải quyết và quản lý xung đột ở Biển Đông

Triển vọng cho việc giải quyết và quản lý xung đột ở Biển Đông

Email In PDF.

Bài viết của PGS. Ralf Emmers, Đại học Công nghệ Nanyang, Singapore, nhìn lại những nỗ lực được các bên đưa ra nhằm quản lý và giải quyết xung đột ở Biển Đông, và đánh giá triển vọng cho việc giải quyết các tranh chấp, bao gồm phương án tòa án quốc tế và khai thác chung.

Bài viết được in trong Series đặc biệt của tạp chí Harvard Asia Quarterly của Trường Đại học Havard với chủ đề: "Tranh chấp biển- An ninh hàng hải tại Đông Á", (The Disputed Sea – Maritime Security in East Asia) tháng 12/2010.

 

LỜI TỰA

Trong mấy tháng gần đây, những căng thẳng trong tranh chấp Biển Đông đã leo thang, với việc vấn đề đã chi phối Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) tháng 7 năm 2010 tại Việt Nam. Các vấn đề phân định chủ quyền và biên giới chưa được giải quyết và tiếp tục là những nhân tố đang leo thang. Nguy cơ xung đột vẫn tồn tại, đặc biệt khi nhu cầu năng lượng của các quốc gia tăng lên và quá trình hiện đại hóa quân sự diễn ra. Trung Quốc tiếp tục hiện đại hóa hải quân và thường xuyên tuyên bố chủ quyền của quốc gia này ở Biển Đông là không thể tranh cãi. Các quốc gia Đông Nam Á cũng vậy, không muốn nhượng bộ những yêu sách lãnh thổ của họ. Ngoài ra, các quốc gia yêu sách ở Đông Nam Á vẫn hoài nghi về những ý định của Trung Quốc.[1] Kết quả là tình hình Biển Đông trở nên mong manh, biến động, và có khả năng bất ổn. Tình trạng bấp bênh hiện tại đã tác động trực tiếp đến cả các thành tựu và hạn chế của việc quản lý và giải quyết xung đột ở Biển Đông.

Bài viết này xem xét cách quản lý và những giải pháp khả thi cho những tranh chấp lãnh hải ở Biển Đông. Trong bài, quản lý tranh chấp được kết hợp với nỗ lực ngoại giao để ngăn chặn một cuộc xung đột vũ trang công khai xảy ra, trong khi giải quyết xung đột hướng đến một giải pháp cho những thù địch về ngoại giao, kinh tế và quân sự. Một giải pháp ngoại giao cho những tranh chấp như vậy vẫn chưa được hình thành do tầm quan trọng chiến lược của các tranh chấp về lãnh thổ, những nguồn năng lượng tiềm năng, và nguy cơ của việc gia tăng và cạnh tranh sức mạnh.

Bài viết khẳng định rằng bước đầu tiên để tiến tới quản lý và giải quyết tranh chấp là đưa ra một công thức gác lại vấn đề chủ quyền cho đến khi việc thăm dò và khai thác tài nguyên chung có thể làm dịu bớt hay thậm chí vượt qua được những căn nguyên địa chính trị ban đầu dẫn đến tình thế an ninh tiến thoái lưỡng nan này. Nhiệm vụ này đòi hỏi ít nhất phải tạm thời tách rời triển vọng thăm dò và khai thác chung khỏi vấn đề yêu sách chủ quyền và lãnh thổ. Sự bế tắc của những yêu sách chủ quyền chồng lấn và việc sử dụng và lạm dụng luật quốc tế của các quốc gia tranh chấp được xem là những nhân tố chính kìm hãm việc tạo ra diễn tiến tích cực.

Bài viết gồm hai phần lần lượt nhìn lại nỗ lực đưa ra các bước quản lý và giải quyết xung đột ở Biển Đông. Phần đầu nhấn mạnh tiến bộ đạt được đối với việc quản lý xung đột ở Biển Đông, điển hình là Tuyên bố về Cách ứng xử của các bên ở Biển Đông năm 2002 được ký bởi Trung Quốc và các thành viên của Hiêp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Tuy nhiên, Điều đáng luy ý là những hạn chế của tuyên bố và sự thất bại trong việc tiến tới thực hiện nó. Trong việc giải quyết xung đột, bối cảnh lãnh thổ dẫn đến tranh chấp Biển Đông nhìn chung vẫn không thay đổi. Bài viết đã bác bỏ kịch bản xem trọng tài quốc tế như một giải pháp khả thi và thay vào đó tập trung tiến hành những kế hoạch thăm dò và khai thác chung kết hợp với gác lại yêu cầu lãnh thổ.

QUẢN LÝ XUNG ĐỘT Ở BIỂN ĐÔNG

Nhìn chung các tình huống liên quan đến tranh chấp Biển Đông thường phản ánh bầu không khí quan hệ khu vực. Sự ấm lên của các mối quan hệ Trung Quốc – Đông Nam Á vào đầu những năm 2000 đã tạo được tiến bộ trong vấn đề quản lý xung đột. Việc ký kết Tuyên bố về Cách ứng xử của các bên ở Biển Đông đã cho thấy mong muốn của các bên liên quan là theo đuổi yêu sách của họ bằng biện pháp hòa bình. Tuyên bố đã công khai lên án việc sử dụng vũ lực ở Biển Đông và đã góp phần làm giảm căng thẳng giữa các quốc gia yêu sách. Tuyên bố cũng được xem như một tín hiệu rằng Trung Quốc sẵn sàng tôn trọng các nguyên tắc và chuẩn mực của ASEAN trong Hiệp định Hợp tác Thân thiện (TAC) của khối này và cùng tồn tại hòa bình với các quốc gia láng giềng Đông Nam Á. Quan điểm hòa giải này được thể hiện rõ hơn khi Trung Quốc là quốc gia không phải thành viên ASEAN đầu tiên ký TAC vào năm 2003. Cuối cùng, tuyên bố 2002 được công nhận là một “diễn tiến quan trọng” bởi vì nó ràng buộc các bên ký kết thực hiện các hoạt động hợp tác và làm tăng khả năng đạt được các thỏa thuận về kế hoạch thăm dò và khai thác dầu khí chung.[2] Ví dụ, tổng thống Phi-lip-pin Gloria Arroyo tuyên bố rằng thỏa thuận do các tập đoàn dầu khí nhà nước của Trung Quốc, Việt Nam, Phi-lip-pin ký năm 2005 để tiến hành các cuộc thăm dò khảo sát ở Trường Sa là sự thi hành đầu tiên những điều khoản trong tuyên bố 2002.[3]

Tuy nhiên, tuyên bố chỉ là một bước nhỏ trong mục tiêu ban đầu để tiến tới một bộ quy tắc ứng xử chi tiết và mang tính ràng buộc cho Biển Đông.[4] Nhiều nhà phân tích vẫn hoài nghi về khả năng tuyên bố có thể tạo ra một khuôn khổ cho việc quản lý xung đột, nhất là xét việc thiếu các cơ chế ngăn chặn và giải quyết những nguyên nhân có thể gây xung đột của tuyên bố này[5] Là một tuyên bố chính trị hơn là một hiệp định và chỉ dựa vào sự đồng thuận và mẫu thức chung thấp nhất, thỏa thuận này vừa không chặt chẽ về mặt pháp lý vừa không mang tính ràng buộc. Hơn nữa tuyên bố tránh giải quyết vấn đề chủ quyền, vì tất cả các bên tranh chấp đều khư khư những yêu sách lãnh thổ của mình. Việc thông qua văn kiện cũng đòi hỏi những sự nhượng bộ lớn và giảm bớt nội dung của tuyên bố bao gồm việc không đề cập đến phạm vi địa lý cụ thể của tuyên bố.

Chưa có tiến bộ đáng kể nào hướng đến quản lý xung đột được tiến hành kể từ năm 2002. Thất bại trong thực hiện tuyên bố và tiến tới phát triển thành một bộ quy tắc ứng xử là hệ quả của một vài nhân tố. Bắc Kinh dường như chỉ chuẩn bị ủng hộ một bộ quy tắc ứng đa phương không mang tính ràng buộc mà chỉ giới hạn liên quan đến Quần đảo Trường Sa (A: Spratlys Islands, TQ: Nansa/Nam Sa - nd) và tập trung vào đối thoại và duy trì sự ổn định khu vực hơn là vấn đề quyền tài phán. Các quốc gia yêu sách Đông Nam Á đều không muốn nhượng bộ những yêu sách lãnh thổ của họ. Sự thiếu đồng thuận giữa các quốc gia ASEAN trong vấn đề Biển Đông cũng có liên quan. Các thành viên có những mối quan hệ khác nhau với Trung Quốc và quan điểm trái ngược nhau về mối đe dọa tiềm tàng Trung Quốc. Thêm vào đó, một số thành viên có các yêu sách xung đột ở Trường Sa (A: Spratlys Islands, TQ: Nansa/Nam Sa - nd), trong khi các thành viên khác không liên quan đến vấn đề chủ quyền. Những nguyên nhân gây chia rẽ này đã khiến cho việc đạt đến một quan điểm tập thể trở lên phức tạp và làm ASEAN yếu đi trong đàm phán với Bắc Kinh.

Sự không cân đối về sức mạnh ngày càng tăng ở Biển Đông do sức mạnh hải quân ngày một phát triển của Trung Quốc đã gây thêm nghi ngờ về khả năng quản lý tranh chấp của ASEAN. Ngày càng có nhiều tranh luận về việc liệu cách tiếp cận của ASEAN đối với quản lý xung đột ở Biển Đông có thể giảm bớt sự phân bổ sức mạnh không đều này hay không. Sự phân bố sức mạnh đang thay đổi chưa được theo kịp bằng tiến triển hơn nữa trong việc thực hiện các cơ chế quản lý xung đột. Thay vào đó, từ năm 2006 tình hình ở đây đã leo thang cao hơn và Trung Quốc đã cương quyết hơn trong việc đẩy mạnh những yêu sách lãnh thổ.[6] Cần phải nhấn mạnh rằng không chỉ Bắc Kinh chịu trách nhiệm trong việc gia tăng căng thẳng ở Biển Đông. Những hành động của các bên yêu sách khác cũng đã gây bất lợi cho việc quản lý tình hình.

Ví dụ, vấn đề lãnh thổ đã leo thang nhiều hơn do các đệ trình yêu sách của Phi-lip-pin, Ma-lai-xi-a và Việt Nam lên Uỷ ban Ranh giới Thềm lục địa của Liên Hợp Quốc (United Nations Commission on the Limits of the Continential Shelf). Các quốc gia tham gia Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển (UNCLOS) trước năm 1999 đã phải đệ trình trước ngày 13 tháng 5 năm 2009 yêu sách bổ xung của mình về những quyền kinh tế khi thềm lục địa của họ kéo dài hơn 200 hải lý tính từ đường cơ sở. Trung Quốc đã phản ứng giận giữ và gọi đệ trình này là những yêu sách mới vi phạm quyền tài phán và quyền chủ quyền của nước này ở Biển Đông.[7] Trong khi phản ứng của Trung Quốc là có thể đoán trước vì những yêu sách mới chồng lấn với yêu sách của quốc gia này, cần phải nhấn mạnh rằng Bắc Kinh đã đưa bản đồ đường đứt đoạn chữ U vào trong công hàm phản đối của nước này, do đó khơi lại những mối ngờ vực trước đây tại Hà Nội, Kua la Lumpur và Manila.[8] Bắc Kinh cũng mới lập ra Vụ Các vấn đề Biên giới và Đại dương và tăng cường các khả năng tuần tra để cố gắng khẳng định chủ quyền của quốc gia này ở Biển Đông.

Cuối cùng, cạnh tranh Trung - Mỹ gia tăng trên biển đã làm phức tạp thêm việc quản lý một cách hòa bình những tranh chấp ở Biển Đông. Vụ việc hải quân Trung Quốc và các tàu tuần tra dân sự ở phía nam đảo Hải Nam sách nhiễu tàu do thám Mỹ USNS Impecable, vào tháng 3 năm 2009 đã gây thêm lo ngại cho một số quốc gia Đông Nam Á. Trong khi Bắc Kinh tuyên bố rằng tàu Impecable đã liên quan đến các ‘hoạt động trái phép’ trong vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia này, vụ việc cũng đã được xem như một ví dụ về sự cương quyết của Trung Quốc ở Biển Đông. Ngoại trưởng Mỹ, Hillary Clinton, đã phản đối Trung Quốc về vấn đề Biển Đông và tuyên bố vùng biển này có lợi ích quốc gia của Mỹ tại cuộc họp ARF vào tháng 7 tại Hà Nội,, động thái được xem là nguyên nhân khiến Bắc Kinh quan ngại. Ở Đông Nam Á, người ta lo ngại rằng cạnh tranh Trung – Mỹ ngày càng tăng có thể dẫn đến chính sách ngoại giao và hoạt động hải quân cứng rắn của Trung Quốc ở Biển Đông.[9] Do đó không không ngạc nhiên khi các lãnh đạo ASEAN đã yêu cầu không đưa vấn đề Biển Đông vào thông cáo cuối cùng trong buổi bế mạc hội nghị cấp cao (ASEAN - Mỹ) lần thứ hai với tổng thống Mỹ Barrack Obama vào tháng 9 năm 2010.

 

Xem tiếp phần 2

 

PGS. Ralf Emmers, Đại học Công nghệ Nanyang, Singapore

Người dịch: Nguyễn Văn Bình

Hiệu đính: Đỗ Thị Thủy

Bản gốc tiếng Anh “The prospects for managing and resolving conflict in the South China Sea”  tạp chí Harvard Asia Quarterly chủ đề “The Disputed Sea – Maritime Security in East Asia” tháng 12/2010. 

Đề nghị chỉ được dẫn đường link mọi thông tin, bài viết  trên www.nghiencuubiendong.vn, không đăng lại khi chưa có sự đồng ý của Ban Biên tập NCBĐ



[1] Xem Mark J. Valencia, “In Respones to Robert Beckman,” RSIS Commentaries 53, June 4, 2007.

[2] Zou Keyuan, “Joint Development in the South China Sea: a New Approach,” The International Journal of Maritime and Coastal Law 21 – 1 (2006): 101.

[3] Luz Baguioro, “ Three Nations Sign Pact for Joint Spratlys Survey,” The Straits Time, March 15, 2005.

[4] Ralf Emmer, “Keeping Waters Calm in the South China Sea,” The Straits Times, Singapore, November 21, 2002.

[5] Xem Jorn, “ Managing Security in ASEAN – China Relations: Liberal Peace of Hegemonic Stability,” Asian Perspective 31-1 (2007): 221; Clive Schofield and Ian Storey, “Enery Security and South East Asia: The Im pact on Maritime Boundary and Territorial Disputes,” Harvard Asia Quarterly 9-4 (2005).

[6] Michael Richardson, “China’s Land and Sea Claims: Balancing Stability and Desire for Expansion,” The Straist Times, Steptember 7, 2009.

[7] Ian storey, “ China-Vietnam’s Year of Friendship Turns Fractious,” The Straist Times, Singapore, May 26, 2009.

[8] Giáo sư Robert Beckman đưa ra quan điểm này tại cuộc thảo luận chung tại Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Thượng Hải, Singapore, tháng 11, 2009.

[9] Barru Waom, “South China Sea: ASEAN Caught in a Tight Spot,” The Straist Times, 16 tháng 9, 2010.

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Đánh giá chiến lược của Trung Quốc tại Biển Đông

Đánh giá chiến lược của Trung Quốc tại Biển Đông

Chống tiếp cận/ngăn chặn xâm nhập (A2/AD) là chiến lược biển được xây dựng nhằm ngăn không cho lực lượng hải quân đối phương tự do di chuyển trong một không gian chiến đấu. Bài viết sẽ phân tích những thuận lợi và khó khăn khi Trung Quốc thực hiện A2/AD tại Biển Đông.

Đọc tiếp...

Khả năng Trung Quốc thiết lập một ADIZ ở Biển Đông

Khả năng Trung Quốc thiết lập một ADIZ ở Biển Đông


Trung Quốc sẽ được gì và mất gì khi thiết lập một ADIZ ở Biển Đông? Những dự báo của giới quan sát về khả năng thành công của một ADIZ trong khu vực này.

 

Đọc tiếp...

Thấy gì từ “sứ mệnh West Capella” của Mỹ ở Biển Đông?

Thấy gì từ “sứ mệnh West Capella” của Mỹ ở Biển Đông?

Một số nhà quan sát cho rằng hành động đáp trả của Mỹ mang tính tự phát, không đủ mạnh và còn khiến Bắc Kinh bạo trợn hơn. Trong thời gian vài tuần đầu, những cáo buộc như vậy bị cho là quá vội vàng, song cũng bộc lộ sự yếu kém cố hữu trong cách tiếp cận của Mỹ đối với vấn đề an ninh biển ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Đọc tiếp...

Lợi dụng đại dịch Covid 19, Trung Quốc hành động cứng rắn ở Biển Đông

Lợi dụng đại dịch Covid 19, Trung Quốc hành động cứng rắn ở Biển Đông

Trong khi thế giới chiến đấu với COVID-19, Trung Quốc đang tiến gần hơn tới việc thiết lập sự thống trị trong khu vực.

Đọc tiếp...

Đằng sau chiến lược chiếm Biển Đông của Trung Quốc

Đằng sau chiến lược chiếm Biển Đông của Trung Quốc

 

Bắc Kinh đang từng bước tiến đến mục tiêu buộc cộng quốc tế chấp thuận các tuyên bố chủ quyền của nước này đối với Biển Đông. Cứ mỗi thập kỷ trôi qua, Bắc Kinh lại đạt được một bước tiến mới trong nghị trình của mình.

Đọc tiếp...

Báo cáo khoa học: Bằng chứng về những thay đổi môi trường gây ra bởi hành vi bồi đắp đảo của Trung Quốc

Báo cáo khoa học: Bằng chứng về những thay đổi môi trường gây ra bởi hành vi bồi đắp đảo của Trung Quốc

Bài báo cáo định lượng những ảnh hưởng đến môi trường từ các hành vi bồi đắp đảo trên Biển Đông, kết quả từ việc nạo vét và có thể tác động tiêu cực đến hệ động vật, thực vật biển và hệ sinh thái biển. Mức độ thiệt hại gây ra bởi việc xây dựng đảo được cho là trầm trọng vì các rạn san hô ở Biển Đông tập trung đa dạng sinh học biển lớn nhất trên Trái Đất.

Đọc tiếp...

Biển Đông và quá trình bị biến thành lãnh thổ “lịch sử” của Trung Quốc năm 1975

Biển Đông và quá trình bị biến thành lãnh thổ “lịch sử” của Trung Quốc năm 1975

Để chứng minh cho cái gọi là chủ quyền “mang tính lịch sử”, giới học giả Trung Quốc đã nỗ lực lập luận, đưa ra những bằng chứng lịch sử. Tuy nhiên, các bằng chứng mà họ đưa ra rất mập mờ, không có bất cứ tham chiếu nào về vị trí trích dẫn chính xác, thậm chí còn cố tình sửa đổi ngôn từ gốc.

Đọc tiếp...

[Ngô Sĩ Tồn] Triển vọng tình hình Biển Đông năm 2020: Những biến động khó lường

[Ngô Sĩ Tồn] Triển vọng tình hình Biển Đông năm 2020: Những biến động khó lường

Bằng lập luận xuyên tác, vô căn cứ, Trung Quốc đã, đang và sẽ thực hiện hình thức “tuyên truyền đen” để bôi nhọ những hoạt động phù hợp với luật pháp quốc tế của các quốc gia yêu sách khác ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Chính sách của Malaysia đối với tranh chấp trên Biển Đông

Chính sách của Malaysia đối với tranh chấp trên Biển Đông

Kể từ cuối những năm 1980, khi Biển Đông nổi lên là một vấn đề an ninh nghiêm trọng, Malaysia đã nhất quán tuân theo một chính sách và chỉ có những điều chỉnh nhỏ nhằm bảo vệ chủ quyền và các quyền chủ quyền của quốc gia này, duy trì luật pháp quốc tế cùng với thúc đẩy hòa bình và ổn định trên Biển Đông.

Đọc tiếp...

Đánh giá các căn cứ của Trung Quốc ở Biển Đông

Đánh giá các căn cứ của Trung Quốc ở Biển Đông

Tương tự như các căn cứ quân sự ở Đại lục, các tiền đồn của Trung Quốc tại Biển Đông được tích hợp vào một hệ thống các hệ thống lực lượng chung lớn hơn nhằm hỗ trợ các chiến lược đang hình thành của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA).

Đọc tiếp...

Trung Quốc chọc giận Indonesia tại Biển Đông

Trung Quốc chọc giận Indonesia tại Biển Đông

Vụ xâm nhập tháng 12/2019 đánh dấu các diễn biến mới trong vấn đề quần đảo Natuna. Bắc Kinh đã thay đổi lập trường và hiện tuyên bố quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển liên quan gần quần đảo Trường Sa. Đây không còn là vấn đề “ngư trường truyền thống”.

Đọc tiếp...

Chiến lược cạnh tranh và thách thức của Trung Quốc ở Biển Đông

Chiến lược cạnh tranh và thách thức của Trung Quốc ở Biển Đông

Hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông và tham vọng tại Đông Nam Á tiếp tục được xem xét kỹ lưỡng giữa các xu hướng rộng lớn hơn, bao gồm việc cạnh tranh Mỹ-Trung ngày càng gay gắt, các cuộc thảo luận ngày một tăng về kiến trúc khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương và nỗ lực không ngừng của các quốc gia Đông Nam Á và Bắc Kinh nhằm hướng tới một bộ quy tắc ứng xử ràng buộc ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Báo cáo chưa đầy đủ về hoạt động quân sự của Mỹ tại Biển Đông năm 2018

Báo cáo chưa đầy đủ về hoạt động quân sự của Mỹ tại Biển Đông năm 2018

Chừng nào sức mạnh của Trung Quốc vẫn đang phát triển, ngay cả khi nước này tiếp tục hạn chế sử dụng sức mạnh, quân đội Mỹ vẫn sẽ tiếp tục tăng cường bố trí lực lượng và hiện diện quân sự, tăng cường hoạt động “tự do hàng hải” khiến Biển Đông trở thành “chiến trường”. Trong tương lai, lực lượng quân đội Mỹ sẽ không ngừng tập trung ở Biển Đông, gia tăng cường độ hành động hơn nữa.

Đọc tiếp...

Trung Quốc-Philippines: Triển vọng khai thác dầu khí

Trung Quốc-Philippines: Triển vọng khai thác dầu khí

Bầu không khí của chuyến thăm thứ 5 của Duterte đến Trung Quốc đã trở nên u ám sau các hành động của Trung Quốc như phái hàng trăm tàu cá đến đảo Thị Tứ và đâm chìm một tàu cá Philippines gần bãi Cỏ Rong trong nửa đầu năm 2019.

Đọc tiếp...

Trung Quốc khẳng định sức mạnh bằng "họng súng" và "vỏ bọc hòa bình"

Trung Quốc khẳng định sức mạnh bằng

"Người dân Trung Quốc đã học được giá trị của hòa bình"..."Trung Quốc chưa bao giờ tiến hành bất kỳ cuộc chiến tranh hay xung đột nào" hay "Trung Quốc luôn đi đầu trong việc hướng tới hòa bình và ổn định khu vực"... Đây là những "Khẩu hiệu" mà Trung Quốc thường rêu rao để đánh bóng hình ảnh của mình. Tuy nhiên, những gì Trung Quốc làm hoàn toàn trái ngược với điều đó.

Đọc tiếp...

"Hàng xóm bắt nạt": Hành động của Trung Quốc ở Biển Đông sẽ phản tác dụng

Mọi hành động đều có phản ứng khác nhau; các quốc gia ở Đông Nam Á cũng như các quốc gia có lợi ích ở khu vực này chắc chắn sẽ không khoanh tay đứng nhìn. Trên thực tế, Bắc Kinh đang “mời gọi" các nước chống lại họ, và điều này không mang lại lợi ích cho Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Chiến tranh pháp lý của Trung Quốc, tranh chấp tài nguyên và luật biển

Chiến tranh pháp lý của Trung Quốc, tranh chấp tài nguyên và luật biển

Học thuyết “Tam chiến” của Trung Quốc vạch ra bộ ba phương pháp tấn công: chiến tranh thông tin, chiến tranh tâm lý và chiến tranh pháp lý. Trong số này, chức năng của chiến tranh pháp lý là nhằm “thúc đẩy tính hiệu quả của các cơ chế và quy trình pháp lý hiện hành để hạn chế hành vi đối địch, đối phó trong các hoàn cảnh bất lợi, đảo ngược các án lệ, và tối đa hóa lợi thế trong các tình huống liên quan đến các lợi ích cốt lõi của Trung Quốc”.

Đọc tiếp...

Câu chuyện về chủ quyền và vai trò cá nhân lãnh đạo trong xác lập vị thế của Trung Quốc

Câu chuyện về chủ quyền và vai trò cá nhân lãnh đạo trong xác lập vị thế của Trung Quốc

Hành vi và khát vọng bá quyền trên biển của Trung Quốc đang khiến cả châu Á giận dữ. Qua nghiên cứu so sánh tư tưởng và ngoại giao, bài phân tích sẽ giúp hiểu được viễn cảnh hình thành khát vọng bá quyền trên biển của Trung Quốc và ảnh hưởng của các chính sách hải quân của nước này đến các quốc gia khác trong việc sửa đổi hoặc hình thành các chiến lược biển mới.

Đọc tiếp...

Cách thức ngăn chặn Trung Quốc trên Biển Đông

Cách thức ngăn chặn Trung Quốc trên Biển Đông

Mỹ và đồng minh phải sử dụng sức mạnh của họ trên mọi lĩnh vực quân sự và phi quân sự. Theo đó, các hoạt động hộ tống bảo vệ hàng hải sẽ đi kèm với các nỗ lực đồng thời nhằm giúp các chính phủ và nền kinh tế ở Đông Nam Á vững vàng hơn trước ảnh hưởng xấu của Trung Quốc, cũng như việc phát triển và triển khai các lực lượng chiến đấu tinh nhuệ với nhiệm vụ ngăn chặn hành vi gây hấn quy mô lớn của Trung Quốc

Đọc tiếp...

Tôn trọng và tuân thủ luật pháp - Ưu tiên hàng đầu cho vấn đề hóc búa ở Biển Đông

Tôn trọng và tuân thủ luật pháp - Ưu tiên hàng đầu cho vấn đề hóc búa ở Biển Đông

Những diễn biến gần đây ở Biển Đông, một trong những tuyến đường biển sầm uất nhất trên thế giới, không chỉ đáng báo động mà còn nhiều khả năng biến thành một cuộc chiến tranh thực sự. Nếu điều đó xảy ra, hòa bình và ổn định ở Đông Nam Á sẽ tiêu tan.

Đọc tiếp...

Đối đầu ở Bãi Tư Chính: Giông tố mới ở Biển Đông

Đối đầu ở Bãi Tư Chính: Giông tố mới ở Biển Đông

Vụ việc ở Bãi Tư Chính là một phần trong những nỗ lực của Trung Quốc nhằm ngăn cản hoạt động khai thác tài nguyên hợp pháp ở Biển Đông của các quốc gia ven biển và hợp tác giữa họ với các nước ngoài khu vực. Những hành động này có thể mang lại lợi ích trước mắt cho Trung Quốc, nhưng về lâu dài sẽ dẫn đến bất lợi cho quốc gia này.

Đọc tiếp...

Philippines: Làm thế nào để đứng vững giữa cuộc cạnh tranh Trung-Mỹ?

Philippines: Làm thế nào để đứng vững giữa cuộc cạnh tranh Trung-Mỹ?

Philippines đã đúng khi mong muốn có mối quan hệ thân thiện với Trung Quốc, đặc biệt là khi nước này mong muốn mở cửa để phát triển kinh tế hơn nữa. Manila cũng phải nhớ rằng hòa bình và thịnh vượng lâu dài phụ thuộc vào quyền tự do và sự tôn trọng lẫn nhau giữa các nước có chủ quyền, cũng như trật tự quốc tế dựa trên nguyên tắc. Trong lời nói và hành động, Philippines cần phải giữ vững lập trường để bảo vệ những nguyên tắc quan trọng này.

 

Đọc tiếp...

Đỉnh điểm của việc Trung Quốc quân sự hóa biển Đông

Đỉnh điểm của việc Trung Quốc quân sự hóa biển Đông

Tính tới giờ, việc Trung Quốc tiến hành quân sự hóa một số đảo nhân tạo trên Biển Đông được cho là động thái ở mức cao nhất của nước này đối với các vấn đề ở khu vực. Thực chất hành động cũng như mục đích đằng sau của Trung Quốc đe dọa tới không chỉ các nước trong khu vực mà còn tới cả nước lớn như Mỹ.

Đọc tiếp...

Thực chất tình hình tại biển Đông

Thực chất tình hình tại biển Đông

Các vấn đề tại Biển Đông vốn đã xảy ra trong một khoảng thời gian dài, đặc biệt là giữa các bên có yêu sách ở khu vực này. Gần đây, những vấn đề trên trở nên phức tạp hơn do những tính toán chiến lược không chỉ của các bên có tranh chấp, mà còn của cả các nước lớn bên ngoài khu vực.

Đọc tiếp...

Gót chân Asin của ASEAN trong vấn đề Biển Đông

Gót chân Asin của ASEAN trong vấn đề Biển Đông

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), từ lâu được mô tả là mô hình thành công nhất của sự hội nhập khu vực trong thế giới hậu thực dân, đã ngày càng trở nên bất lực trong việc kiềm chế Trung Quốc làm xói mòn trật tự dựa trên quy tắc của khu vực vốn được định hướng bằng nguyên tắc không gây hấn, tránh xung đột và chủ nghĩa đa phương tự do.

Đọc tiếp...

Các vấn đề trong liên minh Mỹ-Philippines

Các vấn đề trong liên minh Mỹ-Philippines

Hiện nay, không có thông tin công khai về việc Chính phủ Philippines chính thức yêu cầu Mỹ có một đánh giá hiệp ước chính thức. Người ta cho rằng một đánh giá chính thức sẽ vấp phải những khó khăn, trước hết là trong việc đạt được sự nhất trí về những sửa đổi đối với một hiệp ước có từ 7 thập kỷ trước và sau đó là trong việc phê chuẩn một hiệp ước đã sửa đổi ở cả 2 nước.

Đọc tiếp...

Suy nghĩ về các hành động của Trung Quốc tại Bãi Tư Chính

Suy nghĩ về các hành động của Trung Quốc tại Bãi Tư Chính

Nếu không có một phản ứng cứng rắn từ phía cộng đồng quốc tế đối với các hành động của Trung Quốc tại Bãi Tư Chính, các vụ việc tương tự sẽ còn lặp lại trong những năm tới, lý do đơn giản là Bắc Kinh rất hào hứng nhận ra rằng các hành động cưỡng ép của họ đã mang lại hiệu quả.

Đọc tiếp...

Vai trò ngày càng tăng của EU ở Biển Đông

Vai trò ngày càng tăng của EU ở Biển Đông

Yêu cầu của EU đòi phải được thừa nhận là một bên tham gia về chính trị và an ninh ở châu Á không phải là mới. Tham vọng của họ có một ghế tại EAS và gần đây hơn là địa vị quan sát viên tại Nhóm chuyên gia ADMM+ là chủ đề của nhiều cuộc thảo luận, xoay quanh đòi hỏi chính là thừa nhận giá trị thực tế của EU đối với an ninh khu vực. Bởi vậy, việc xem xét kỹ lưỡng các chính sách và hành động của EU ở Biển Đông là điều hợp lôgích.

Đọc tiếp...

Hệ lụy từ hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông

Hệ lụy từ hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông

Việc kiểm soát Biển Đông có nghĩa là Trung Quốc có khả năng bác bỏ hệ thống trật tự thế giới dựa trên các quy tắc, từ chối tuân thủ các chuẩn mực, kỳ vọng, và UNCLOS; đẩy người bảo vệ trật tự thế giới (Mỹ) khỏi Tây Thái Bình Dương, làm suy yếu hoặc phá hủy các đồng minh ở Tây Thái Bình Dương, khiến uy tín của Mỹ bị nghi ngờ ở phạm vi khu vực cũng như quốc tế và phá hủy cơ sở hạ tầng an ninh ở Đông Nam Á.

Đọc tiếp...

Nhận diện chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông

Nhận diện chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông

Để giành kiểm soát trên Biển Đông, đầu tiên, Trung Quốc cần phải cô lập khu vực. Trong nỗ lực cô lập khu vực, Trung Quốc sử dụng chiến lược hai hướng “cây gậy và củ cà rốt”, vừa lôi kéo các nước láng giềng khi thuận tiện trong khi đe dọa các nước chống đối mình.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 4262 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin