19 - 5 - 2012 | 9:36
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI Tìm hiểu bản chất thách thức của Trung Quốc đối với khu vực biển Đông Á

Tìm hiểu bản chất thách thức của Trung Quốc đối với khu vực biển Đông Á

Email In PDF.

Bài viết của James Manicom, Trường Quan hệ Quốc tế Balsillie, Canada phân tích các ý đồ, suy nghĩ thực sụ đằng sau quan điểm của các quốc gia về vấn đề tranh chấp biển, trong trường hợp này là Trung Quốc, Mỹ và Nhật Bản. Bài viết của tác giả được đăng trên Series đặc biệt của tạp chí Harvard Asia Quarterly của Trường Đại học Havard với chủ đề: "Tranh chấp biển- An ninh hàng hải tại Đông Á", (The Disputed Sea – Maritime Security in East Asia) tháng 12/2010.

Vốn là một cường quốc lục địa trong lịch sử, Trung Quốc đang nỗ lực trở thành một cường quốc biển trong thế kỷ 21. Trong khi thực tế này nói riêng đã đặt ra một thách thức chiến lược lâu dài cho Mỹ và các đồng minh của mình, cách thức Trung Quốc theo đuổi kế hoạch bành trướng trên biển của nước này đặt ra một bài toán trực tiếp và cấp bách hơn cho Mỹ và trật tự khu vực Đông Á. Nhìn bề ngoài, một số khía cạnh của sự bành trướng trên biển của Trung Quốc có vẻ như khá ôn hòa. Việc đưa Hải quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Hoa (PLAN) đến Vịnh Aden năm 2008 hẳn nhiên là một sự kiện bước ngoặt chứng tỏ khả năng phô diễn sức mạnh biển ngoài khu vực của Trung Quốc, nhưng sự kiện này lại nằm trong sự hưởng ứng một biện pháp đối phó của cộng đồng quốc tế đối với một vấn đề an ninh xuyên quốc gia. Tương tự như vậy, những nỗ lực phân định thềm lục địa mở rộng của Trung Quốc trong các vùng biển Hoa Đông và Biển Đông là phù hợp với các tiến trình luật quốc tế và điều này có thể sẽ khiến Trung Quốc phải làm rõ cơ sở cho một số yêu sách của họ.[1]

Tuy nhiên, những khía cạnh khác của sự bành trướng này có vẻ ít ôn hòa hơn do cách thức mà Bắc Kinh đã và đang khẳng định những yêu sách biển của mình bằng cả lời nói và hành động. Trong tháng 1/2010, báo The Economist đã cho rằng tranh cãi ngoại giao nảy lửa giữa Bắc Kinh và Tokyo báo hiệu Nhật Bản đang dần mất kiên nhẫn với thái độ không khoan nhượng của Trung Quốc tại biển Hoa Đông.[2] Sự hiện diện quân sự của Trung Quốc tại Biển Đông và việc áp đặt các lệnh cấm đánh bắt cá nghiêm ngặt trong các vùng nước tranh chấp dường như xác nhận những tham vọng không giới hạn của Trung Quốc.[3] Vì thái độ này tương phản rõ rệt với thái độ hợp tác thông thường trong các vấn đề tranh chấp biên giới biển kể từ năm 2004, nhiều lý giải về thay đổi trong ứng xử của Trung Quốc đã được đặt ra. Có thể lập luận rằng tình trạng suy thoái tại Mỹ đã làm nổi rõ sự đi xuống tương đối của Mỹ so với Trung Quốc, từ đó có thể khuyến khích Trung Quốc khẳng định mình một cách mạnh mẽ hơn tại khu vực biển (mà Trung Quốc cho là) của mình. Theo những người khác, chiều hướng đối ngoại cứng rắn của Trung Quốc là nhằm đáp ứng làn sóng dân tộc chủ nghĩa trong nước.[4] Sự bành trướng về hải quân của Trung Quốc do đó có thể được hiểu là một biểu thị của chiến dịch xây dựng bản sắc quốc gia trong nội bộ nước này.[5]

Bất kể lý do là gì chăng nữa, lối hành xử của Trung Quốc đã khơi mào cho hành động cân bằng từ các quốc gia biển khác tại Đông Á. Các bên yêu sách tại Biển Đông, đặc biệt là Việt Nam, đã và đang đáp lại cách hành xử của Trung Quốc bằng việc đầu tư vào vũ khí quân dụng hạng nặng, ví dụ như tàu ngầm loại Kilo, và nâng cấp quan hệ an ninh với Mỹ. Nhật đang chuẩn bị để trở thành một cường quốc biển chủ động hơn nữa bằng việc thực hành các quyền tài phán của mình tại Thái Bình Dương và khu vực biển Hoa Đông và đã tìm kiếm đảm bảo an ninh từ Washington. Thái độ của Mỹ đối với nhiều vấn đề biên giới biển tại Đông Á cũng đang thay đổi. Có thể xuất phát từ nhu cầu cần phản ứng trước việc Triều Tiên làm đắm tàu Cheonan vào tháng 3/2010, Washington rõ ràng đang sẵn sàng đóng một vai trò chủ động hơn trong các vấn đề an ninh khu vực. Ngoài các cuộc trình diễn quân sự nhằm ủng hộ Hàn Quốc, Mỹ đã có một lập trường ngoại giao thẳng thắn về các vấn đề an ninh khu vực. Phát biểu tại cuộc Đối thoại hằng năm Shangri-La, Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates đã phàn nàn về sự miễn cưỡng của Trung Quốc trong việc thúc đẩy các trao đổi quân sự. Trong khi đó, Ngoại trưởng Hillary Clinton cũng đưa ra tuyên bố thẳng thừng rằng Mỹ ủng hộ tự do hàng hải trong khu vực Biển Đông tại Diễn đàn Khu vực ASEAN và bộc lộ sự ủng hộ về mặt ngoại giao đối với việc dàn xếp các tranh chấp chủ quyền thông qua thương lượng.[6] Các tuyên bố ngoại giao này đã củng cố những nỗ lực cải thiện quan hệ quốc phòng với Việt Nam và trùng khớp với các kế hoạch tố chức một cuộc  tập trận quân sự tác chiến thủy bộ với Nhật Bản.[7]

Thái độ ngày càng chủ động của Trung Quốc đối với môi trường biển của mình và phản ứng của khu vực cho thấy môi trường an ninh tại Đông Á trở nên xấu đi. Trong khi mạng lưới các yêu sách chồng lấn liên quan đến các nguồn tài nguyên dưới đáy biển và các vùng đánh bắt cá tại Đông Á đã được nhiều người biết đến, những diễn biến gần đây cho thấy một thách thức mới với những hệ lụy quan trọng đến an ninh biển khu vực. Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển (UNCLOS) chia nhiều khu vực biển khác nhau trong đó các quốc gia có các quyền chủ quyền ở các mức độ khác nhau. Chủ quyền của một quốc gia là tuyệt đối trong các vùng nội thủy, gần như tuyệt đối trừ việc cản trở các quyền đi qua không gây hại đối với vùng lãnh hải, và giới hạn trong các quyền kinh tế đối với Vùng Đặc quyền Kinh tế (EEZ). Cách diễn dịch của Trung Quốc đối với các quyền hàng hải được thừa nhận và các chuẩn tắc ứng xử trong các khu vực này mâu thuẫn với cách diễn dịch của Mỹ cũng như của Nhật Bản, đồng minh chính của Mỹ tại khu vực. Những khác biệt này càng trầm trọng trong trường hợp Nhật Bản do những căng thẳng liên quan đến cuộc tranh chấp biên giới biển tại biển Hoa Đông. Với lối hành xử ngày càng chủ động trên biển của Nhật, đã có chứng cứ rằng những khác biệt này dẫn đến những cuộc đối đầu trên biển mà có thể thấy qua cuộc đụng độ giữa một tàu tuần duyên và một thuyền đánh cá gần quần đảo Sensaku/Điếu Ngư tháng 9/2010. Bài viết này tìm hiểu nguồn gốc của những thách thức này và tranh luận rằng các cuộc tranh chấp về việc xác định vị trí và phân loại các vùng nước đang tranh chấp đặt ra một thách thức có tác động mạnh mẽ đến ổn định khu vực, khác với các tranh chấp hiện thời về các đường biên giới biển chồng lấn.

CĂNG THẲNG HÀNG HẢI TRUNG-MỸ

Mặc dù giữa Trung Quốc và Mỹ không có cuộc tranh chấp nào về đường biên giới biển, giữa hai nước tồn tại hai bất đồng cơ bản liên quan đến các quy định và chuẩn tắc ứng xử để kiểm soát hành vi tàu thuyền qua lại trên biển. Bất đồng thứ nhất về tự do hàng hải của các tàu quân sự hoạt động trong các khu vực nước của các quốc gia ven biển đã làm dấy lên một số rắc rối giữa hai nước. Tháng 3/2009, tàu hải quân Mỹ Impecable đã đụng độ với một đội năm tàu Trung Quốc, trong đó có hai tàu đánh cá dân sự có lưới rà, khi đang lai dắt một lưới định vị âm thanh trên Biển Đông. Mặc dù cuộc va chạm thu hút nhiều sự chú ý của giới truyền thông, nhất là vì cảnh phim các thủy thủ Trung Quốc cởi quần áo khi bị vòi rồng của tàu Impeccable bắn trúng, những đụng độ có cùng tính chất như vậy thực ra đã xảy ra giữa các phương tiện quân sự Mỹ và Trung Quốc từ năm 2001.[8] Tháng 4/2001, một máy bay trinh sát EP-3 của Mỹ đã va chạm với một máy bay đánh chặn F-8 của Trung Quốc, làm thiệt mạng phi công Trung Quốc, và buộc phải hạ cánh trên đảo Hải Nam. Tương tự, lực lượng không quân và hải quân Trung Quốc đã chặn tàu hải quân Mỹ Bowditch trên biển Hoàng Hải vào năm 2002 và lần nữa vào tháng 3/2009. Một tháng sau máy bay Trung Quốc lại tiến sát tàu hải quân Mỹ Victorious. Trong tất cả các trường hợp, các tàu và máy bay Mỹ đều đang tiến hành các hoạt động thăm dò và nghiên cứu mà Washington biện hộ là phù hợp với quyền tự do hàng hải theo luật biển quốc tế. Trung Quốc ngược lại tranh cãi rằng các hoạt động này của Mỹ, mà thực ra là tất cả các hoạt động khảo sát mà không có sự cho phép của quốc gia ven biển, đều bị cấm trong các vùng nước của Trung Quốc.[9]

Mục đích của cuộc thảo luận này không phải là để xác định hành động của bên nào là chính đáng theo luật quốc tế mà nhằm vạch ra những suy nghĩ đằng sau quan điểm của mỗi nước. Thực tế, cả hai bên đều có thể đưa ra những lý lẽ biện luận cho hành động của mình theo cách hiểu của mỗi bên về luật quốc tế. Một số cho rằng mặc dù không tham gia UNCLOS, Mỹ chấp nhận đa phần công ước này như luật thông dụng quốc tế, đặc biệt là về tự do hàng hải mà Mỹ lâu nay luôn ủng hộ.[10] Tàu Impeccable bị chặn cách bờ đảo Hải Nam 75 hải lý, như vậy là nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc. Tuy nhiên các học giả luật quốc tế sẽ nhanh chóng chỉ ra rằng các quốc gia được hưởng quyền tự do hàng hải qua vùng đặc quyền kinh tế của một quốc gia ven biển và do đó tàu Impeccable đã không làm gì sai. Vùng đặc quyền kinh tế được hiểu tốt nhất như là một khu vực thỏa hiệp giữa các quyền kinh tế của các quốc gia ven biển và quyền quá cảnh của các quốc gia sử dụng khác. Nó trao cho các quốc gia ven biển toàn quyền tài phán trong khai thác tài nguyên và các hoạt động thương mại khác, trong khi đó vẫn duy trì tự do thông tin liên lạc và hàng hải cho các quốc gia sử dụng vùng biển đó.[11] Mặc dù UNCLOS nhập nhằng trong việc phân biệt những loại hoạt động thăm dò nào có thể chịu sự điều phối của một quốc gia ven biển trong phạm vi đặc quyền kinh tế của mình, Townshend-Gault và Schofield kết luận rằng rất khó để nói rằng hoạt động thăm dò của tàu Impeccable có thể được xem là một sự vi phạm quyền kinh tế của quốc gia ven biển là Trung Quốc.[12] Ít khả năng chính phủ Mỹ sẽ tìm kiếm lợi ích thương mại từ dữ liệu thu thập được qua cuộc thăm dò này.[13]

Ngược lại, theo quan điểm của Trung Quốc thì Mỹ đang lạm dụng các quyền tự do hàng hải của mình để tiến hành các hoạt động thu thập tin tức tình báo gây tổn hại tới an ninh quốc gia Trung Quốc.[14] Theo Mark Valencia, các lực lượng Mỹ đang thử khả năng phát hiện tàu thuyền và máy bay nước ngoài của Trung Quốc bằng cách “phá nhiễu” các trạm ra-đa của Trung Quốc, làm gián đoạn liên lạc giữa tàu thuyền và bờ biển và tìm cách dò tìm phương thức các tàu ngầm Trung Quốc ra vào căn cứ.[15] Do đó, theo quan điểm của Trung Quốc, các hoạt động này là một dạng vận động chuẩn bị chiến tranh mà luật trong nước Trung Quốc ngăn cấm.[16] Theo Ji Guoxing, các dạng hoạt động này trái với Điều 301 của UNCLOS, trong đó quy định rằng các bên phải tránh đe dọa chủ quyền của nước khác khi sử dụng các quyền trên biển của mình.[17] Một vài tác giả Trung Quốc cũng đặt vấn đề rằng một nước không tham gia Công ước như Mỹ lại tranh cãi về cách diễn dịch các điều khoản về nghiên cứu và tự do hàng hải trong Công ước.[18]

Vấn đề này do đó không chỉ đơn thuần là việc hai bên có cách diễn dịch khác nhau về luật hàng hải quốc tế. Hai cách diễn dịch của hai nước rất trái ngược và cả hai cách đều được các nước khác trong cộng đồng quốc tế ủng hộ. Theo Phó trợ lý Ngoại trưởng Mỹ Scot Marciel, “Trong một số trường hợp chúng ta không chia sẻ hay thậm chí không thể hiểu cách diễn dịch của Trung Quốc đối với luật hàng hải quốc tế”.[19] Một vài học giả Mỹ cho rằng Trung Quốc đang theo đuổi một nỗ lực định hướng các luật lệ và chuẩn tắc quốc tế nhằm đảm bảo các luật lệ và chuẩn tắc này không giới hạn tự do hành động của Trung Quốc. Các “chiến binh pháp lý” của Trung Quốc có mục tiêu là hợp pháp hóa trên cả hai cấp độ trong nước và quốc tế cách diễn dịch của Trung Quốc về khái niệm chủ quyền.[20] Các nước đồng tình với thái độ của Trung Quốc đối với các hoạt động nghiên cứu quân sự bao gồm Bangladesh, Brazil, Cape Verde, Ấn Độ, Malaysia, Pakistan và Uruguay. Hành động của Trung Quốc đối với các tàu và máy bay Mỹ cần được hiểu trong bối cảnh này.

Ngoài bất đồng về việc tàu thuyền có thể làm gì trong các vùng biển của các quốc gia ven biển, đã có bằng chứng cho thấy Trung Quốc và Mỹ có cách diễn dịch khác nhau về vị trí các khu vực biển này. Mặc dù truyền thông phương Tây không chú ý nhưng Bắc Kinh đã tuyên bố vào tháng 2/2010 rằng Trung Quốc vừa hoàn thành một dự án lắp đặt 13 công trình kiến trúc đóng vai trò như những cơ sở điểm trên nhiều bãi đá dọc bờ biển Trung Quốc.[21] Các điểm cơ sở này lần lượt được dùng để vẽ các đường cơ sở để đo lường các khu vực hàng hải của Trung Quốc, bao gồm lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Các vùng nước phiá trong gần đất liền của các đường cơ sở này là nội thủy. 49 căn cứ điểm như vậy được liệt kê trong Tuyên bố về Lãnh hải của Trung Quốc vào tháng 5/1996.[22] Nhiều căn cứ điểm này bị chỉ trích bởi các cường quốc láng giềng cũng như Mỹ với lý do chúng không phù hợp với các tiêu chuẩn của UNCLOS về điểm cơ sở. Các cơ sở điểm của Trung Quốc quá xa so với bờ biển, hoặc quá cách xa nhau – nhiều cái cách nhau hơn 100 hải lý – và do đó không phải là các địa điểm phù hợp dùng làm cơ sở điểm. Nỗ lực xây dựng các điểm đánh dấu trên 13 trong số các địa điểm này của Trung Quốc là nhằm xóa bỏ các chỉ trích này.

Theo Điều 7 của UNCLOS, đoạn thứ 4, “các đường cơ sở thẳng không được kéo đến hoặc xuất phát từ các bãi cạn lúc nổi lúc chìm, trừ trường hợp ở đó có những đèn biển hoặc các thiết bị tương tự thường xuyên nhô trên mặt nước hoặc việc vạch các đường cơ sở thẳng đó đã được sự thừa nhận chung của quốc tế”.[23] Nhiều cơ sở điểm của Trung Quốc nằm dưới mặt đại dương khi thủy triều lên, do đó không thể dùng làm căn cứ điểm trừ trường hợp một trong hai điều kiện kể trên xảy ra. Do tuyên bố đường cơ sở thẳng của Trung Quốc ít được quốc tế công nhận, các nỗ lực đánh dấu các địa điểm này bằng các ngọn hải đăng và các công trình khác của Trung Quốc là nhằm củng cố các lý lẽ của nước này về các điểm cơ sở đã nêu. Điều này có hệ lụy quan trọng đối với Mỹ trong thời kỳ mà Washington và Bắc Kinh đang tranh cãi về các chuẩn tắc và luật lệ được thừa nhận xung quanh việc các tàu thuyền và máy bay có thể làm gì trong các vùng nước tại Đông Á. Ví dụ, một trong các điểm cơ sở này, Waikejiao, nằm cách bờ biển Trung Quốc 73km.[24] Theo góc nhìn của Trung Quốc, công trình hải đăng vừa được xây dựng tại địa điểm này củng cố địa vị điểm cơ sở của đảo này. Khu vực nước phía tây của đảo này do đó, theo quan điểm của Trung Quốc, là khu vực nội thủy của quốc gia mà Trung Quốc có chủ quyền tuyệt đối. Ngược lại, từ góc nhìn của Mỹ thì Waikejiao cũng như 7 đảo/bãi đá khác được Trung Quốc sử dụng làm điểm cơ sở không đạt tiêu chuẩn UNCLOS.[25] Vì vậy, các khu vực nước phía tây các thực thể này được Washington xem như là một dạng kết hợp giữa lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc, trong đó các tàu thuyền ít nhất cũng có quyền qua lại không gây hại.

Sự tranh cãi này có những hệ lụy về mặt tác chiến đối với quân đội Mỹ. Trong khi Washington vẫn không công nhận các yêu sách đường cơ sở thẳng của Trung Quốc, để thể hiện lập trường nhất quán các tàu thuyền và máy bay Mỹ có thể sẽ phớt lờ các yêu sách đường cơ sở tham vọng của Bắc Kinh và tiến hành các hoạt động nghiên cứu và giám sát trong các khu vực này. Điều này phù hợp với luận điểm của Mỹ rằng các hoạt động nghiên cứu và giám sát là được cho phép trong vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc, đồng thời thể hiện sự kiên định của Mỹ trong việc phủ nhận các điểm cơ sở mà Trung Quốc vạch ra. Kiên định với yêu sách của mình, Trung Quốc lại coi khu vực nằm trong các điểm cơ sở đã tuyên bố là nội thủy, và do đó cho rằng sự hiện diện của tàu quân sự Mỹ trong khu vực này là sự vi phạm chủ quyền Trung Quốc và là một sự xâm lược đối với nước Trung Quốc. Phản ứng gay gắt của Trung Quốc trong vụ Impeccable và cuộc va chạm EP3 cho thấy phản kháng của Trung Quốc đối với hoạt động của các lực lượng Mỹ trong các khu vực nội thủy mà Trung Quốc đã khẳng định sẽ rất gay gắt. Hai bất đồng về chuẩn tắc ứng xử trên biển này do đó đặt ra một thách thức rất nghiêm trọng cho an ninh Đông Á. Ngoài bất đồng về việc tàu thuyền Mỹ có thể làm gì trong vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc, hai bên còn bất đồng về chính việc định vị các vùng nước mà trong đó các mức độ chủ quyền khác nhau được áp dụng.

Cũng đã có một số chứng cứ nổi lên cho thấy rằng Trung Quốc đang tìm cách xác định lại địa điểm và các điều kiện cho phép các lực lượng Mỹ được triển khai ở Đông Á. Ví dụ, đáp lại vụ đắm tàu Cheonan, Mỹ đã tổ chức một loạt các cuộc tập trận trong khu vực biển gần Triều Tiên như một sự phô diễn lực lượng. Trung Quốc đã nhân cơ hội này khẳng định lại điều mà họ cho là hành vi hợp pháp đối với các lực lượng hải quân hoạt động trong các vùng biển khu vực bằng cách nhấn mạnh rằng các cuộc tập trận này không được diễn ra trong vùng biển Hoàng Hải.[26] Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội Trung Quốc, tướng Mã Hiểu Thiên đã cảnh báo Washington không được điều tàu sân bay George Washington, vốn neo đậu tại Yokosuka, Nhật Bản, đến biển Hoàng Hải trong màn trình diễn lực lượng với Hàn Quốc.[27] Mục đích chính không phải là nỗ lực làm dịu sự công kích đối với Bình Nhưỡng mà đây là một cố gắng của Bắc Kinh nhằm hạn chế Mỹ tiếp cận Hoàng Hải. Rắc rối là ở chỗ điều này đi ngược lại chính sách của Trung Quốc trước đó. Tàu George Washington từng được điều đến Hoàng Hải vào tháng 11/2009 và không gặp phải bất kỳ sự phản đối nào từ Trung Quốc. Như Ralph Cossa tranh luận, sự phản đối của Trung Quốc đối với việc triển khai tàu sân bay này càng khiến cho việc triển khai nó trở nên cần thiết để bảo vệ các quyền tự do hàng hải.[28]

Tóm lại, ngày càng rõ rằng Trung Quốc đang theo đuổi một cách diễn dịch hạn chế về cái và nơi mà Trung Quốc chấp nhận quyền hoạt động của các lực lượng Mỹ. Tại cuộc Đối thoại Chiến lược và Kinh tế Mỹ-Trung năm 2010, Ủy viên Quốc vụ viện Trung Quốc Đới Bỉnh Quốc đã nói với các viên chức Mỹ rằng Trung Quốc xem Biển Đông là một “lợi ích cốt lõi của quốc gia”.[29] Điều này sau đó chưa từng được lập lại bởi một viên chức nào của Trung Quốc, nhưng tuyên bố này đã được hiểu là nhằm ý đồ thể hiện Bắc Kinh coi Biển Đông ngang hàng với Tây Tạng, Đài Loan và Tân Cương là các vấn đề nội bộ mà sự can thiệp của Mỹ không được hoan nghênh. Tương tự, Người phát ngôn Bộ Quốc phòng Trung Quốc, Đại tá Cảnh Nhạn Sinh đã tuyên bố Trung Quốc có “chủ quyền không thể tranh cãi” đối với Biển Đông, nhưng sẽ cho phép tự do hàng hải trong các khu vực này.[30] Không rõ điều này có nghĩa là gì. Một quốc gia không thể tuyên bố chủ quyền đối với một đại dương mà chỉ có thể tuyên bố chủ quyền đối với các đảo trong khu vực biển đó. Nếu điều này là đúng và nếu Trung Quốc thực sự làm vậy, như Đại tá Cảnh Nhạn Sinh xác nhận, hồ sơ hành xử của Trung Quốc đối với việc thực hiện các quyền tự do này trước đây vẫn gây nhiều băn khoăn. Sự không nhất quán của Trung Quốc sẽ gây khó khăn cho quân đội Mỹ trong việc dự đoán những tương tác sắp tới với Trung Quốc và có thể dẫn đến những tính toán sai trong tương lai.

James Manicom, Trường Quan hệ Quốc tế Balsillie, Canada

Người dịch: Lê Thùy Trang

Hiệu đính: Đỗ Thị Thủy

Xem tiếp phần 2


Bản gốc tiếng Anh “Beyond Boundary Disputes: Understanding the Nature of China’s Challenge to Maritime East Asia”. Bài viết được in trong Series đặc biệt của tạp chí Harvard Asia Quarterly với chủ đề "The Disputed Sea - Maritime Security in East Asia" tháng 12/2010.

Bản quyền tiếng Việt thuộc NCBĐ



[1] Robert Beckman, “South China Sea: Worsening Dispute or Growing Clarity in Claims?” RSIS Commentaries 90, ngày 16/8/2010.

[2] “Choppy Waters: East and South, China Makes a Splash,” The Economist, ngày 21/1/ 2010.

[3] Michael Richardson, “Changing Tides to Watch in the South China Sea,” The Straits Times, ngày 14/6/2010.

[4] Ian Buruma, “What is Driving China’s Recent Thuggish Approach to Foreign Relations?” The Guardian, ngày 7/11/2010.

[5] Robert Ross, “China’s Naval Nationalism: Sources, Prospects, and the U.S. Response,” International Security 34 (Fall 2009): 46-81.

[6] Geoff Dyer, “Power Play in the South China Sea,” Financial Times, ngày 9/8/2010.

[7] Carlyle A. Thayer, “Vietnam’s Defensive Diplomacy,” Wall Street Journal, ngày 19/8/2010.

[8] John M. Van Dyke, “Military Ships and Planes Operating in the Exclusive Economic Zone of Another Country,” Marine Policy 28 (2004): 29-39.

[9] Cheng Xizhong, “A Chinese Perspective on Operational Modalities,” Marine Policy 28 (2004): 25-27.

[10] James Kraska, “The Legal War Behind the Impeccable Incident,” World Politics Review, ngày 16/3/2009.

[11] R. R. Churchill và A. V. Lowe, The Law of the Sea, tái bản lần thứ 3. (Manchester: Manchester University Press, 1999), chương 9 và 13.

[12] Ian Townsend-Gault và Clive Schofield, “Hardly Impeccable Behaviour: Confrontations between Foreign Ships and Coastal States in the EEZ,” International Zeitschrift 5 (tháng 4/2009), truy cập ngày 9/9/2009, http://www.zeitschrift.co.uk/indexv5n1.html

[13] Sam Bateman, “Hydrographic Surveying in the EEZ: Differences and Overlaps with Marine Scientific Research,” Marine Policy 29 (2005): 163-74.

[14] Zhang Haiwen, “The Conflict between Jurisdiction of Coastal States on MSR in EEZ and Military Survey,” trong Recent Developments in the Law of the Sea and China, eds., Myron H. Nordquist, John Norton Moore và Kuen-chen Fu, (Leiden: Martinus Nijhoff Publishers, 2006): 317-331.

[15] Mark J. Valencia, “The South China Sea Brouhaha: Separating Substance from Atmospherics,” Policy Forum 10-044, August 10, 2010, accessed August 11, 2010, http://www.nautilus.org/publications/essays/napsnet/policy-forums-online/security2009-2010/the-south-china-sea-brouhaha-separatingsubstance-from-atmospherics

[16] Ren Xiaofeng and Cheng Xizhong, “A Chinese Perspective,” Marine Policy 29 (2005): 139-46.

[17] Ji Guoxing, “The Legality of the “Impeccable Incident”,” China Security 5 (2009): 18.

[18] Zhang Haiwen, “Is It Safeguarding the Freedom of Navigation or Maritime Hegemony of the United States?—Comments on Raul (Pete) Pedrozo’s Article on Military Activities in the EEZ,” Chinese Journal of International Law 9 (2010): 31-47.

[19] Scot Marciel, Điều trần tại Tiểu ban Đông Á và Thái Bình Dương, Ủy ban Đối ngoại Thượng viện. Maritime Issues and Sovereignty Disputes in East Asia, ngày 15/7/2009.

[20] Peter Dutton, “China’s Views of Sovereignty and Methods of Access Control,” Điều trần trước Ủy ban Đánh giá Kinh tế và An ninh Mỹ-Trung, ngày 27/2/2008.

[21] Peh Shing Huei, “Beijing Lays Markers for East China Sea,” The Straits Times, ngày 9/2/2010.

[22] Declaration of the Government of the People’s Republic of China on the baselines of the territorial sea, ngày 15/5/1996, http://www.un.org/Depts/los/LEGISLATIONANDTREATIES/PDFFILES/CHN_1996_Declaration.pdf.

[23] Công ước LHQ về Luật biển, Phần II, Điều 7, đoạn thứ 4.

[24] Will Clem, “Engineers Finish Marking Of Sea Borders,” South China Morning Post, ngày 10/2/2010.

[25] US Department of State, “Straight Baseline Claim: China,” Limits in the Seas, No. 117 (Bureau of Oceans and International Environmental and Scientific Affairs), 1996: 6.

[26] “Strategic Jousting between China and America,” The Economist, ngày 29/7/2010.

[27] Michael Richardson, “Steering a Fine Line in the Yellow Sea,” Straits Times, ngày 23/8/2010.

[28] Ralph Cossa, “Not China’s Coastal Waters,” Japan Times, ngày 1/9/2010.

[29] Edward Wong, “Chinese Military Seeks to Extend its Naval Power”, New York Times, ngày 23/4/2010.

[30] Cheng Guangjin and Wu Jiao, “Sovereign Waters are not in Question,” China Daily, ngày 21/7/2010.


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Bình luận


Mã bảo mật
Tạo mã mới

Nghiên cứu của Bộ Quốc Phòng Pháp về Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Nghiên cứu của Bộ Quốc Phòng Pháp về Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa có diện tích bề mặt chưa quá 15 km² là mục tiêu theo đuổi của những yêu sách và xung đột gia tăng kể từ những năm 1970. Những lợi ích từ yêu sách hai quần đảo này đối với các quốc gia là gì?

Đọc tiếp...

Leszek Buszynski, Biển Đông: Dầu hỏa, Yêu sách biển và cuộc cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung

Leszek Buszynski, Biển Đông: Dầu hỏa, Yêu sách biển và cuộc cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung

Tham vọng của Trung Quốc tại Biển Đông đang kích thích sự can dự của Mỹ. Những yêu sách chủ quyền, nhu cầu tài nguyên đang khiến cho căng thẳng tại Biển Đông gia tăng và cánh cửa giải quyết triệt để vấn đề trở nên hẹp hơn. Đọc tiếp...

Cửu Long khuấy biển: Trung Quốc làm căng thẳng Biển Đông

Cửu Long khuấy biển: Trung Quốc làm căng thẳng Biển Đông

Việc thiếu sự chỉ đạo nhất quán và phối hợp chặt chẽ về vấn đề Biển Đông trong nội bộ Trung Quốc, thêm vào đó là sự mơ hồ trong chính sách Biển Đông của chính quyền trung ương, các cơ quan, lực lượng liên quan đã lợi dụng điều này nhằm gia tăng lợi ích cục bộ của mình. Tất cả các nhân tố trên là nguyên nhân dẫn đến tình hình căng thẳng tại Biển Đông hiện nay

Đọc tiếp...

Liệu Mỹ có bị cuốn vào một cuộc xung đột vũ trang ở Biển Đông?

Liệu Mỹ có bị cuốn vào một cuộc xung đột vũ trang ở Biển Đông?

Trong bài viết trên trang Hội đồng Quan hệ Đối ngoại (Mỹ), Bonnie Glaser (CSIS) đánh giá rằng khả năng xảy ra xung đột vũ trang ở Biển Đông là hoàn toàn có thể. Tác giả đề cập đến 3 trường hợp Mỹ có thể bị cuốn vào cuộc xung đột đó đồng thời khuyến nghị một số biện pháp ngoại giao phòng ngừa.

Đọc tiếp...

M. Taylor Fravel, Chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông

M. Taylor Fravel, Chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông

Trì hoãn là chiến lược mà Trung Quốc đã sử dụng đối với Biển Đông từ giữa những năm 90 đến nay. Bài viết sẽ đi sâu phân tích vì sao Trung Quốc lại sử dụng chiến lược này và một số kết quả mà Trung Quốc đạt được cũng như tác động như thế nào đối với khu vực

Đọc tiếp...

Trung Quốc có thực sự điều chỉnh chính sách ở Biển Đông?

Trung Quốc có thực sự điều chỉnh chính sách ở Biển Đông?

Gần đây, Trung Quốc dường như đang theo đuổi cách tiếp cận mới ôn hòa hơn trong tranh chấp Biển Đông. Mục tiêu chủ yếu của chính sách thân thiện hơn là nhằm khôi phục hình ảnh của nước này ở Đông Á và ngăn chặn Mỹ thúc đẩy vai trò trong khu vực. Chưa biết cách tiếp cận mới của Bắc Kinh có thể kéo dài hay không, nhưng ít nhất nó cũng thể hiện Trung Quốc có thể điều chỉnh chính sách đối ngoại của họ. 

Đọc tiếp...

Biển Đông: Vùng nước dữ cho việc xây dựng liên minh

Biển Đông: Vùng nước dữ cho việc xây dựng liên minh

Mỹ đang phải đối mặt với những trở ngại tại Biển Đông. Washington cần tiến hành các hoạt động hợp tác biển song phương và với các nhóm nước đặc biệt nhằm xây dựng những mạng lưới liên minh khu vực đủ mạnh để giải quyết các vấn đề an ninh và đảm bảo lợi ích của Mỹ.

Đọc tiếp...

Will Rogers, Vai trò của tài nguyên thiên nhiên ở Biển Đông

Will Rogers, Vai trò của tài nguyên thiên nhiên ở Biển Đông

Nhu cầu về tài nguyên thiên nhiên gia tăng trong bối cảnh nguồn cung suy giảm đang đặt ra những thách thức đối với các nước xung quanh Biển Đông. Điều này sẽ tác động thế nào đến cách ứng xử của họ đối với bên ngoài: gia tăng cạnh tranh hay thúc đẩy hợp tác?. Đọc tiếp...

Peter A. Dutton, Những rạn nứt trong nền tàng toàn cầu: Luật pháp quốc tế và sự bất ổn tại Biển Đông

Peter A. Dutton, Những rạn nứt trong nền tàng toàn cầu: Luật pháp quốc tế và sự bất ổn tại Biển Đông

Trung Quốc đang đòi hỏi lợi ích của mình theo những cách thức có thể đe dọa đến những nguyên tắc nền tảng đang điều phối quan hệ quốc tế. Xu hướng này được minh chứng rõ nét nhất tại Biển Đông. Mỹ cần can dự để Trung Quốc tuân thủ luật pháp quốc tế hiện hành.

Đọc tiếp...

Năng lực "Chống hải quân" gần bờ của Trung Quốc mới là thách thức đối với Mỹ và khu vực

Năng lực

Năng lực hải quân Trung Quốc đang ngày càng phát triển, tuy nhiên tương quan giữa năng lực tác chiến gần bờ và xa bờ của Trung Quốc lại tồn tại khoảng cách khác biệt rất lớn, và sẽ còn một khoảng cách rất dài để theo kịp Mỹ. Giải quyết và hiểu thực sự bản chất của vấn đề này sẽ góp phần tránh xung đột đối đầu quân sự Mỹ - Trung cũng như sự xuất hiện của chủ nghĩa bá quyền.

Đọc tiếp...

Ian Storey, Ngoại giao song phương và đa phương của Trung Quốc ở Biển Đông

Ian Storey, Ngoại giao song phương và đa phương của Trung Quốc ở Biển Đông

Trung Quốc tăng cường nỗ lực ngoại giao vừa trấn an các nước láng giềng, vừa củng cố yêu sách tại  Biển Đông. Mặc dù phương thức song phương là chủ đạo, nhưng tại sao nước này lại đàm phán hai thỏa thuận với ASEAN trong hai thập kỷ qua? Mục tiêu là duy trì nguyên trạng? Đọc tiếp...

M. Taylor Fravel, An ninh ở Biển Đông và cuộc tranh giành các quyền trên biển

M. Taylor Fravel, An ninh ở Biển Đông và cuộc tranh giành các quyền trên biển

Tranh chấp Biển Đông hiện nay có thể dẫn đến sự bất ổn khu vực, thậm chí là xung đột vũ trang, tuy nhiên những cơ hội hợp tác để giảm sự gia tăng căng thẳng vẫn tồn tại. Và về chiến lược lâu dài, Mỹ cần phải có các nỗ lực can dự cân bằng để duy trì ổn định ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Patrick M. Cronin và Robert D. Kaplan, Chiến lược của Mỹ đối với Biển Đông

Patrick M. Cronin và Robert D. Kaplan, Chiến lược của Mỹ đối với  Biển Đông

Lợi ích của Mỹ đang bị đe dọa trước sự trỗi dậy của Trung Quốc. Những luật chơi mà Mỹ đã thiết lập đang có nguy cơ “bị xem xét lại”, điển hình lại tại Biển Đông. Mỹ cần làm gì? Các khuyến nghị đầy đủ của think-tank hàng đầu của Mỹ CNAS.

Đọc tiếp...

Mùa Đông của Biển Đông: Tình hình, cục diện và kế sách cho Trung Quốc

Mùa Đông của Biển Đông: Tình hình, cục diện và kế sách cho Trung Quốc

Loạt bài của các chuyên gia về Biển Đông đăng trên tạp chí “Tri thức thế giới” của Bộ Ngoại giao Trung Quốc: một nửa giang sơn của Trung Quốc là phần bao bọc xung quanh phía Nam nhưng đang ở trong trạng thái của “mùa Đông lạnh giá”? “Trung Quốc cần phải có kế sách đối phó như thế nào?”

Đọc tiếp...

GS. Carlyle A.Thayer, BIỂN ĐÔNG: CÓ CHỈ LÀ CỦA TRUNG QUỐC?

GS. Carlyle A.Thayer, BIỂN ĐÔNG: CÓ CHỈ LÀ CỦA TRUNG QUỐC?

Trung Quốc đã phát tín hiệu phủ nhận UNCLOS bằng việc khẳng định “chủ quyền không thể tranh cãi” đối với Biển Đông, quan điểm của Bắc Kinh đã gây nên xung đột với các quốc gia khác. Để đạt giải pháp công bằng cho tất cả các bên, các nước ASEAN cần liên kết để tìm ra một tiếng nói chung trong cách tiếp cận để giải quyết vấn đề Biển Đông đối với Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Thất bại tại Biển Đông nhưng Trung Quốc vẫn chìm đắm trong giấc mộng

Thất bại tại Biển Đông nhưng Trung Quốc vẫn chìm đắm trong giấc mộng

Về khía cạnh chiến lược, chính sách ngoại giao, quan hệ quốc tế và truyền thông trong vấn đề Biển Đông, Trung Quốc đã hoàn toàn bại trận. Dường như không một quốc gia nào ủng hộ lập trường cũng như lối hành xử của nước này. Bừi viết của Viện trưởng Viện Nghiên cứu Đông Á, Đại học Quốc gia Singapore, Trịnh Vĩnh Niên trên Liên hợp Buổi sáng phân tích về nguyên nhân thất bại cũng như đối sách cho Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông.

Đọc tiếp...

Chính sách Biển Đông của Mỹ trong quan hệ với Trung Quốc

Chính sách Biển Đông của Mỹ trong quan hệ với Trung Quốc

 Báo cáo của Trung tâm An ninh Mới của Mỹ (CNAS) cho rằng các lợi ích của Mỹ đang ngày càng bị đe dọa trước sự lớn mạnh của Trung Quốc, nhất là trước việc nước này sẵn sàng “xem xét lại” các luật chơi đã được thiết lập. Mỹ cần không ngừng quan tâm đến Biển Đông và tăng cường hợp tác. Hợp tác chỉ có thể đạt hiệu quả dựa trên sức mạnh răn đe quân sự của Mỹ.

Đọc tiếp...

Tranh chấp Biển Đông trong quan hệ ASEAN và Trung Quốc: Đa phương và Song phương

Tranh chấp Biển Đông trong quan hệ ASEAN và Trung Quốc: Đa phương và Song phương

Từ việc phân tích tổng hợp các nhân tố dẫn đến căng thẳng và kéo dài trong tranh chấp Biển Đông, TS. Aileen S.P Baviera , Đại học Philippines đề cập đến các giải pháp: song phương, đa phương, hợp tác về an ninh hàng hải nhằm thúc đẩy giải quyết tranh chấp Biển Đông, trong đó tác giả nhấn mạnh đến vai trò tiếp cận đa phương.

Đọc tiếp...

Liệu có thể giải quyết tranh chấp Biển Đông? Những chọn lựa của ASEAN trước một Trung Quốc quyết đoán

Liệu có thể giải quyết tranh chấp Biển Đông? Những chọn lựa của ASEAN trước một Trung Quốc quyết đoán

Bài viết của GS. Leszek Buszynski, Đại học Quốc gia Úc, phân tích nhân tố địa chính trị chiến lược trong tranh chấp Biển Đông. Trước một Trung Quốc ngày một quyết đoán, nếu ASEAN không đoàn kết và đi đến thống nhất lập trường trong tranh chấp thì giải pháp cuối cùng cho Biển Đông rất xa vời.

Đọc tiếp...

Báo cáo đặc biệt của Mỹ về tranh chấp tại Biển Đông và Biển Hoa Đông

Báo cáo đặc biệt của Mỹ về tranh chấp tại Biển Đông và Biển Hoa Đông

Bản báo cáo của của Cục Nghiên cứu Quốc gia về Châu Á (NBR) của Mỹ phân tích, đánh giá những rủi ro ở vùng Biển Đông, biển Hoa Đông và Vịnh Thái Lan; các xu hướng gần đây tại các vùng biển tranh chấp - bao gồm cả tích cực và tiêu cực; các rào cản và cơ hội để thúc đẩy hợp tác. Cuối cùng, báo cáo đề xuất một loạt các kiến nghị chính sách cho các bên liên quan. Bản báo cáo được thực hiện bởi các chuyên gia quốc tế hàng đầu trong lĩnh vực này.

Đọc tiếp...

Trung Quốc: Tọa đàm hẹp về tình hình Biển Đông và lợi ích, chiến lược của Trung Quốc

Trung Quốc: Tọa đàm hẹp về tình hình Biển Đông và lợi ích, chiến lược của Trung Quốc

Tọa đàm tại Bắc Kinh giữa các chuyên gia hàng đầu của Trung Quốc, tập trung phân tích tầm quan trọng của biển đối với sự phát triển của Trung Quốc, những diễn biến gấn đây về tình hình Nam Hải (Biển Đông), đặc biệt là nhân tố Mỹ và ảnh hưởng đến cục diện xung quanh Trung Quốc. Các học giả cũng đưa ra các kiến nghị chính sách cho Chính phủ Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông. Đọc tiếp...

Trung Quốc có thể bảo vệ được "lợi ích cốt lõi" tại Biển Đông hay không?

Trung Quốc có thể bảo vệ được

Đặt giả thuyết rằng Trung Quốc thực sự coi Biển Đông là “lợi ích cốt lõi”, bài viết của Toshi Yoshihara James R. Holmes, Đại học Hải chiến Mỹ, phân tích khả năng thành công của Trung Quốc trong việc bảo vệ “lợi ích cốt lõi” của mình tại Biển Đông. Khía cạnh mà tác giả tập trung phân tích chủ yếu nhằm vào năng lực quốc phòng của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA).

Đọc tiếp...

ASEAN và tranh chấp Biển Đông

ASEAN và tranh chấp Biển Đông

Bài viết của GS. Baldas Ghoshal, Thành viên danh dự của Viện Nghiên cứu Hòa bình và Xung đột (Ấn Độ), nhìn vào cách tiếp cận của ASEAN đối với tranh chấp Biển Đông, kiểm định tính hiệu quả của ASEAN trong việc đối phó với các yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc, bên tranh chấp chính, và đánh giá triển vọng xoa dịu căng thẳng trong khu vực bằng những khuôn khổ pháp lý hiện hành. Đọc tiếp...

Tuyên bố Hà Nội của Clinton về Biển Đông: Khởi nguồn chiến lược kiềm chế Trung Quốc của Mỹ?

Tuyên bố Hà Nội của Clinton về Biển Đông:  Khởi nguồn chiến lược kiềm chế Trung Quốc của Mỹ?

Bài viết của TS. Renato Cruz De Castro (Philippines) nghiên cứu ngụ ý chính sách dài hạn của Mỹ trong Tuyên bố Hà Nội ngày 24/7/2010 của Ngoại trưởng Mỹ Hilary Clinton về tranh chấp Biển Đông, đó là chính sách kiềm chế (constrainment ) đối với một Trung Quốc đang ngày càng quyết đoán trong vấn đề tranh chấp lãnh thổ. Bài viết cũng đưa ra những thách thức về khả năng thành công của với chính sách này.

Đọc tiếp...

Đánh giá hiệu quả các khuôn khổ và cơ chế về an ninh biển trên Biển Đông hiện nay

Đánh giá hiệu quả các khuôn khổ và cơ chế về an ninh biển trên Biển Đông hiện nay

Trong bối cảnh tình hình Biển Đông căng thẳng, bài nghiên cứu của GS. Peter Dutton, Viện nghiên cứu Biển Trung Quốc, Học viện Hải quân Mỹ, đánh giá vai trò của các khuôn khổ và cơ chế an ninh biển hiện tại như Công ước luật biển 1982 hay Tuyên bố ứng xử 2002 trong việc duy trì hoà bình và thúc đẩy phát triển ở khu vực. Bài viết cũng đưa ra một số kiến nghị nhằm xây dựng lòng tin và đề ra tiến trình hướng tới sự ổn định lâu dài.

Đọc tiếp...

Vai trò của Nhật Bản trong vấn đề Biển Đông

Vai trò của Nhật Bản trong vấn đề Biển Đông

Bài viết của tác giả Trang Ngọc Hoa, đăng trên trang trang mạng “Viện Nghiên cứu các Vấn đề Quốc tế Trung Quốc – China Institute of International studies” đã nêu ra một số đánh giá và phân tích của phía Trung Quốc về lợi ích, vai trò và chính sách của Nhật Bản trong vấn đề Biển Đông. Đọc tiếp...

Địa chính trị, Hải quân và Chiến lược ở Biển Đông

Địa chính trị, Hải quân và Chiến lược ở Biển Đông

Bài nghiên cứu của hai học giả Trung tâm Tài nguyên và An ninh Đại dương Quốc gia Úc, Đại học  New South Wales, Úc phân tích ba lĩnh vực trong vấn đề Biển Đông: địa chính trị, phát triển hải quân và chiến lược.  Trong đó nghiên cứu cụ thể  về việc Trung Quốc phản đối các hoạt động quân sự ở vùng đặc quyền kinh tế nhằm thể hiện quyết tâm tăng cường vị thế chiến lược tại Biển Đông.

Đọc tiếp...

Những sự việc căng thẳng trên Biển Đông gần đây: Đã đến lúc cần Bộ quy tắc ứng xử?

Những sự việc căng thẳng trên Biển Đông gần đây: Đã đến lúc cần Bộ quy tắc ứng xử?

Bàn về những sự việc căng thẳng trên Biển Đông thời gian gần đây, học giả Aileen S.P.Baviera vừa có bài viết đăng trên RSIS Commentaries No. 91/2011 ngày 14/6, nhan đề China and the South China Sea: Time for Code of Conduct?; hoặc trên The Manila Times.Tác giả đã nêu diễn biến những vụ việc đáng quan ngại xảy ra trên Biển Đông xuất phát từ động thái của Trung Quốc, khẳng định bản chất vô lý của Trung Quốc trên Biển Đông, nhấn mạnh yêu cầu cần có COC trong bối cảnh hiện nay và kiến nghị thái độ của các bên liên quan nhằm hướng tới mục tiêu giải quyết hòa bình tranh chấp trên Biển Đông. 

Đọc tiếp...

Ngoại giao ống dẫn dầu của Trung Quốc: Mối đe dọa của những xung đột cường độ thấp

Ngoại giao ống dẫn dầu của Trung Quốc: Mối đe dọa của những xung đột cường độ thấp

Bài viết của TS. Emmanuel Karagiannis, Đại học Macedonia nêu những thuận lợi và khó khăn trong chiến lược xây dựng và duy trì những đường dẫn dầu xuyên quốc gia của Trung Quốc tại khu vực Trung và Đông Nam Á. Bài viết được in trong Series đặc biệt của tạp chí Harvard Asia Quarterly của Trường Đại học Havard với chủ đề "Tranh chấp biển- An ninh hàng hải tại Đông Á", (The Disputed Sea – Maritime Security in East Asia) tháng 12/2010.

Đọc tiếp...

Đối tượng tranh chấp trên Biển Đông: đảo hay đá?

Đối tượng tranh chấp trên Biển Đông: đảo hay đá?

Mạng bình luận trường RSIS Singapore đăng bài phân tích “Islands or Rocks? Evolving Dispute in South China Sea” của Robert Beckman, Giám đốc Trung tâm Luật Quốc tế, giáo sư tại Khoa Luật Đại học Quốc gia Singapore. Tác giả cho rằng cuộc tranh cãi về quyền khai thác tài nguyên quanh quần đảo Trường Sa đã biến thành một cuộc tranh cãi về mặt quy chế pháp lý của các đảo, đá.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

         

CHUYÊN ĐỀ ĐẶC BIỆT

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 3880 khách và 1 thành viên Trực tuyến

Đăng nhập



Bản đồ - Hình ảnh

HỘI THẢO QUỐC TẾ LẦN 3