19 - 5 - 2012 | 9:35
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI Quản lý Biển Đông: Từ tự do trên biển tới các phong trào khoanh vùng biển

Quản lý Biển Đông: Từ tự do trên biển tới các phong trào khoanh vùng biển

Email In PDF.

Quản lý, kiểm soát quyền sử dụng tài nguyên và an ninh hàng hải Biển Đông là ba vấn đề chính mà Giáo sư David Rosenberg[1], Đại học Middlebury trong bài viết  đăng trên Series đặc biệt của tạp chí Harvard Asia Quarterly.

Giới thiệu

Ai là quản lý Biển Đông?[2] Ai kiểm soát quyền sử dụng đối với các nguồn tài nguyên đáng kể ở khu vực này? Ai đảm bảo an toàn và an ninh cho các bên có liên quan? Ba phong trào đã nổi lên nhằm cố gắng đưa ra đáp án cho những câu hỏi này. Đầu tiên, phong trào kiểm soát nguồn tài nguyên của các quốc gia ven biển muốn khẳng định và mở rộng những tuyên bố về Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) theo Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển (UNCLOS) năm 1994. Với sự gia tăng dân số, nhu cầu của người tiêu dùng và khả năng của khoa học công nghệ, các quốc gia ven biển đang quan tâm đến việc quản lý và khai thác các nguồn tài nguyên trong Vùng đặc quyền kinh tế của mình. Thứ hai, phong trào bảo tồn đã phát triển để đảm bảo cho việc sử dụng nguồn tài nguyên bền vững với môi trường và bảo tồn sự đa dạng sinh học của biển đúng như niềm tin của công chúng và không cho phép khai thác tư nhân. Thứ ba và lâu đời nhất là phong trào an ninh của các chủ thể quốc tế có lợi ích liên quan, những người muốn bảo tồn sự tự do về biển và các eo biển của Biển Đông cùng với những luồng nước quần đảo cho thương mại và tàu thủy.

Bài viết này nghiên cứu ba phong trào trên và những xu hướng thống nhất và gây chia rẽ giữa chúng[3], đồng thời đưa ra một nghịch lý: sự hội nhập khu vực đã làm tăng lên chủ nghĩa dân tộc về nguồn tài nguyên.

 Phong trào kiểm soát nguồn tài nguyên

Trên 500 triệu người ở Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Việt Nam, Malaysia, Singapore, Indonesia, Brunei và Phillippine sống trong phạm vi 100 dặm của bờ Biển Đông. Nhiều người trong số họ phụ thuộc vào biển để kiếm kế sinh nhai. Nghề cá ở vùng Biển Đông có vai trò quan trọng mang lại nguồn protein giá rẻ, kế sinh nhai và là nguồn thu nhập ngoại hối. Biển Đông còn đem lại môi trường sống và môi trường sinh sản cho thủy sản ngành tôm và cá ngừ có giá trị vào bậc nhất trên thế giới. Tỷ lệ lớn lao động ven biển cũng phụ thuộc vào môi trường biển thông qua nghề đánh bắt cá, vận tải biển, thăm dò và khai thác dầu khí và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác, vui chơi giải trí và du lịch.

Khi dân số đô thị ven biển tăng và kỹ thuật đánh bắt cá được cải tiến, nhu cầu về nguồn cá ngày càng tăng lên đáng kể và dẫn tới việc khai thác và đánh bắt quá mức trong những vùng nước chung trên Biển Đông. Tỷ lệ đánh bắt cá bắt đầu giảm từ những năm 1970 cùng với sự giảm mạnh mẽ hơn được ghi nhận vào những năm 1980 khi tàu đánh cá bằng lưới rà đáy biển được đưa vào sử dụng rộng rãi. Sự giảm sút trong ngành cá không chỉ thể hiện rõ ở tỷ lệ đánh bắt giảm mà còn thể hiện ở kích cỡ cá nhỏ hơn và các hoạt động thị trường cũng làm giảm chuỗi thức ăn từ những loài cá lớn có giá trị cao như cái ngừ, cá mú, cá hồng sang các loại cá nhỏ hơn với giá trị thấp hơn như cá trích, cá mòi và cá thu. Nuôi trồng thủy sản và các sản phẩm thay thế khác đã mở rộng đáng kể trong khu vực, làm giảm áp lực đánh bắt. Tuy nhiên, nuôi trồng thủy sản cho mục đích thương mại, toàn diện và trên quy mô lớn mới diễn ra gần đây và vẫn chưa rõ rằng liệu khả năng bền vững của nó như thế nào.

Các quốc gia với bờ biển rộng lớn tiếp giáp với biển như Indonesia, Malaysia, Việt Nam, Philippine và Trung quốc muốn bảo vệ chủ quyền và quyền kiểm soát tài nguyên của mình trong Vùng đặc quyền kinh tế kéo dài trong phạm vi 200 hải lý ngoài đường bờ biển của mình. Tuyên bố về chủ quyền lãnh thổ đối với các hải đảo, rạn san hô trên Biển Đông đặc biệt quan trọng như một cơ sở cho việc khẳng định Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) quanh các đảo bị tranh chấp và tài nguyên dầu mỏ và khí tự nhiên được cho là có trên các đảo này.

Điều này dẫn đến những tuyên bố chủ quyền lãnh thổ mâu thuẫn và trùng lặp nhau. Ví dụ như, Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam yêu sách chủ quyền đối với toàn bộ quần đảo Trường Sa trong khi Malaysia, Brunei và Philippine tuyên bố chủ quyền với một phần quần đảo. Khoảng 45 hải đảo đang bị chiếm giữ bởi lực lượng nhỏ quân đội của Trung Quốc, Malaysia, Philippines, Đài Loan và Việt Nam (Xem bản đồ 1). Khung pháp lý quốc tế về việc sử dụng tài nguyên trên Biển Đông được đưa ra bởi Công ước LHQ về Luật biển. Công ước kêu gọi việc thành lập các khu vực quản lý nguồn tài nguyên chung và đưa ra những hướng dẫn thực hiện, thậm chí ở cả những nơi mà tuyên bố chủ quyền lãnh thổ có mâu thuẫn chưa được giải quyết. Ví dụ như, điều 61 của Công ước LHQ về Luật biển yêu cầu các quốc gia phải giám sát việc đánh bắt cá của mình liên quan đến sản lượng đánh bắt bền vững cả về môi trường và kinh tế. Điều 116-119 đưa ra những thỏa thuận tạm thời cho việc quản lý nguồn tài nguyên chung ở các khu vực bị tranh chấp.

Bản đồ 1


Các phong trào bảo tồn

Địa chất và khí hậu đã kết hợp để sản sinh ra một lượng đáng kể đa dạng sinh học và các nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú cho vùng Biển Đông. Biển Đông bao gồm các quần đảo lớn, hải đảo, và bán đảo, vô số các rạn san hô, gió mùa đổi hướng theo mùa, và các dòng hải lưu ngầm, tất cả kết hợp tạo nên những điều kiện thuận lợi đặc biệt cho một hệ sinh thái biển màu mỡ. Hơn 30% các rạn san hô trên thế giới tiếp giáp biển Đông, đặc biệt là xung quanh các quần đảo Indonesia và Philippine. San hô là cơ sở của chuỗi thức ăn thủy sản, chúng cung cấp môi trường sống cho sự đa dạng sinh học cao nhất trên thế giới. Chúng cũng hỗ trợ vài nghìn loài sinh vật khác nhau và đóng vai trò quan trọng trong việc làm giảm ảnh hưởng của sóng lên các bãi biển, từ đó giảm sự xói mòn. Đáy biển nông và bằng phẳng của Biển Đông là một trong những ngư trường năng suất nhất trên thế giới.

Hình 1

 

Có nhiều phong trào bảo tồn quanh vùng Biển Đông, mỗi phong trào này đều có sự pha trộn đặc trưng nhấn mạnh vào các khía cạnh khoa học, kỹ thuật, giáo dục, đào tạo, xây dựng chính sách, và thực hiện. Những biện pháp đơn phương được thực hiện bởi các chính phủ đơn lẻ bao gồm việc khuyến khích nuôi trồng thủy sản và canh tác cá, thành lập các khu vực bảo tồn biển, và áp đặt các lệnh cấm đánh cá. Những biện pháp đa phương từ những nỗ lực lớn và đầy tham vọng của Chương trình môi trường LHQ/Chương trình môi trường toàn cầu (UNDP/GEF) trên biển Đông cho tới những thoải thuận chuyên sâu và mang tính phân định hơn như Hiệp định về Quản lý nguồn tài nguyên chung Trung-Việt ở Vịnh Bắc Bộ.

Có lẽ những nố lực đa phương tham vọng nhất có ảnh hưởng đến sự quản lý thủy sản khu vực chính là dự án UNEP/GEF về Đảo ngược sự suy thoái môi trường trên Biển Đông và Vịnh Thái Lan. Vào tháng 3 năm 2001, tất cả các quốc gia ven biển đã gác những tuyên bố lãnh thổ đầy cạnh tranh sang một bên và ký một thỏa thuận để bảo vệ môi trường biển chung của mình. Mục tiêu cuối cùng là để thành lập “khu tị nạn” – khu bảo tồn cá- bao gồm những sinh cảnh biển vô cùng quan trọng trên Biển Đông, được bảo vệ khỏi việc khai thác quá mức nhờ một hệ thống quản lý thủy sản đa phương bao gồm các chính phủ thành viên.

Một nỗ lực lớn về giáo dục đang được thực hiện để cho các bên có liên quan thấy được sự suy thoái hiện tại của Biển Đông và thuyết phục họ về tầm quan trọng của việc quản lý tài nguyên bền vững. Tuy nhiên, tiến bộ hữu hình trong việc thay đổi suy thoái môi trường đang diễn ra chậm chạp.

Thỏa thuận toàn cầu liên kết đầu tiên hướng tới việc đánh bắt cá triệt để là Hiệp định Dự trữ cá của LHQ năm 1995. Hiệp định này đã làm tăng lên một lượng lớn các tổ chức quản lý thủy sản khu vực (RFMOs) để đối phó với việc khai thác quá mức trữ lượng cá có giá trị cao và có tính di động lớn, hay di chuyển qua lại giữa các ranh giới của các Vùng đặc quyền kinh tế. Tổ chức quản lý thủy sản đầu tiên ở khu vực là Công ước về bảo tồn và quản lý Trữ lượng cá có tính di cư cao ở biển Tây và Trung Thái Bình Dương (WCPO). Các cuộc đàm phán bao gồm 28 quốc gia xung quanh Biển Đông và các quốc đảo Thái Bình Dương liền kề, tất cả đều tích cực tham gia vào việc quản lý bền vững đối với ngành thủy sản cá ngừ.

Thủy sản cá ngừ của biển Tây và Trung Thái Bình Dương là lớn nhất và có giá trị lớn nhất trên thế giới, bao gồm trữ lượng cá ngừ vằn, cá ngừ vân, cá ngừ vàng, và cá ngừ mắt to. Biển Tây và Trung Thái Bình Dương hàng năm cung cấp khoảng một nửa số lượng đánh bắt cá ngừ trên toàn thế giới, bao gồm cá ngừ đóng hộp cho thị trường thế giới và thị trường cá sống (sashimi) đầy hấp dẫn của Nhật Bản. Hầu hết cá ngừ di cư rộng rãi trên khắp khu vực này, tuy nhiên có khoảng 70% tổng sản lượng được đánh bắt trong các Vùng đặc quyền kinh tế của các quốc gia ven biển. Các quốc gia đánh bắt cá xa bờ như Nhật Bản, Đài Loan, Thái Lan và Hàn Quốc với đội tàu đánh bắt cá ngừ tiên tiến chiếm hầu hết sản lượng đánh bắt cá ngừ và trả lệ phí khai thác cao để được tiếp cận vùng biển trong Vùng đặc khu kinh tế của khu vực.

Tất cả những nỗ lực liên chính phủ đều mang tính tự nguyện cao nhằm khuyến khích sự tham gia rộng rãi. Những nỗ lực này đã tạo ra một lượng lớn thông tin, giáo dục, đào tạo, kế hoạch và giám sát thông qua hoạt động của mình. Tuy nhiên, với phạm vi rộng lớn của các chính phủ tham gia, năng lực và mối quan tâm khác nhau và quá ít sự thực hiện nghiêm ngặt hoặc tôn trọng các yêu cầu, các tổ chức đa phương cho đến nay chỉ đạt được hiệu quả hạn chế trong việc thực hiện quản lý thủy bền vững. Các yếu tố kinh tế và thương mại cho đến nay đã thay thế phong trào bảo tồn đối với ngành thủy sản bền vững.

Những phong trào về an ninh

Biển Đông là một trong những vùng biển nhộn nhịp nhất trên thế giới. Hơn một nửa số thương thuyển (tính theo trọng tải) đi qua Biển Đông hàng năm. Hơn một nửa lưu lượng tàu chở dầu trên thế giới di chuyển qua vùng biển của khu vực này. Hơn một nửa trong số mười cảng vận chuyển hàng đầu trên thế giới nằm trên hoặc xung quanh Biển Đông. Đối với những quốc gia định hướng xuất khẩu nhưng nhập khẩu năng lượng của Đông Á, Biển Đông là một mạch vận tải chính cho việc xuất khẩu hàng hóa và nhập khẩu năng lượng thiết yếu. Biển Đông đang trở thành trung tâm của cuộc cách mạng công nghiệp Châu Á (Xem hình 1)

Biển Đông cũng là một liên kết hàng hải chiến lược giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Đối với các cường quốc hàng hải, tự do hàng hải thông qua các tuyến đường biển của Biển Đông là hết sức quan trọng đối với đội tàu hải quân của họ. Các quốc gia có vận chuyển và lợi ích của hải quân lớn như Hoa Kỳ và Nhật Bản chủ yếu là muốn duy trì tự do hàng hải qua eo biển và tuyến đường biển của Biển Đông cho tàu chở dầu, tàu container, tàu hải quân của họ. Mỹ sẽ gửi tàu chiến của mình, bao gồm tàu sân bay của Hạm đội Thái Bình Dương, qua Biển Đông để hỗ trợ cho các sứ mệnh quân sự của họ ở biển Ả Rập và vùng Vịnh Ba Tư. Đây là đường giao thông huyết mạch trọng yếu kết nối Nhật Bản với các nhà cung cấp năng lượng Trung Đông (Xem Bản đồ 2)

Bản đồ 2

 

Khối lượng tàu bè qua lại lớn trong khu vực Biển Đông đã tạo ra cơ hội cho các cuộc tấn công vào các tàu thương mại. Hơn hai thập kỷ qua, hơn một nửa báo cáo trên thế giới về cướp biển diễn ra trên hoặc xung quanh Biển Đông. Do ảnh hưởng của cướp biển và hâụ khủng bố 9/11, đã có sự giám sát quốc tế tăng cường đối với các cảng và các container vận chuyển bằng đường biển. Các nước ven biển có nhiều mối quan tâm an ninh khác, bao gồm cả những xung đột thường xuyên liên quan đến đến các tàu đánh cá cạnh tranh các nguồn cá đang dần cạn kiệt, cũng như việc buôn bán ma túy, người tị nạn và lao động cưỡng bức.

Do ảnh hưởng của tất cả những mối lo ngại an ninh này, đã có sự giám sát quốc tế tăng cường đối với các tuyến đường biển, cảng, và các container vận chuyển đường biển. Các nước ven biển đang hiện đại hóa hải quân và lực lượng bảo vệ bờ biển và  các đội tuần tra để bảo đảm an toàn tuyến đường biển cũng như nguồn tài nguyên biển của mình. Do đó, các hoạt động thu thập tình báo và quân đội của một số quốc gia đang ngày càng sâu sắc, mang tính xâm nhập, gây tranh cãi, và nguy hiểm.

Xem tiếp phần 2

 Giáo sư David Rosenberg, Đại học Middlebury

Bản gốc tiếng Anh “GOVERNING THE SOUTH CHINA SEA: From Freedom of the Seas To Enclosure Movements” Bài viết được in trong Series đặc biệt của tạp chí Harvard Asia Quarterly với chủ đề “The Disputed Sea – Maritime Security in East Asia” tháng 12/2010

Bản quyền tiếng Việt thuộc NCBĐ

[1] David Rosenberg  Giáo sư Khoa học Chính trị, Trường Middlebury, Vermont; Nghiên cứu viên mời, Trường Nghiên cứu Châu Á - Thái Bình Dương, Đại học Quốc gia Australia;  Biên tập viên trang www.southchinasea.org

[2] Caitlin Arnold, Middlebury, năm 2011, được cám ơn sâu sắc vì những hỗ trợ nghiên cứu quý giá của cô.

[3] Một thư mục toàn diện hiện hành có chú giải về Hội nhập Đông Á được cung cấp bởi Tiến sĩ Bernhard Seliger trong cuốn “Recent Bibliography of East Asian Regionalism and Intergration” (2007-2010), truy cập tại trang www.asianintegration.org


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Bình luận


Mã bảo mật
Tạo mã mới

Nghiên cứu của Bộ Quốc Phòng Pháp về Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Nghiên cứu của Bộ Quốc Phòng Pháp về Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa có diện tích bề mặt chưa quá 15 km² là mục tiêu theo đuổi của những yêu sách và xung đột gia tăng kể từ những năm 1970. Những lợi ích từ yêu sách hai quần đảo này đối với các quốc gia là gì?

Đọc tiếp...

Leszek Buszynski, Biển Đông: Dầu hỏa, Yêu sách biển và cuộc cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung

Leszek Buszynski, Biển Đông: Dầu hỏa, Yêu sách biển và cuộc cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung

Tham vọng của Trung Quốc tại Biển Đông đang kích thích sự can dự của Mỹ. Những yêu sách chủ quyền, nhu cầu tài nguyên đang khiến cho căng thẳng tại Biển Đông gia tăng và cánh cửa giải quyết triệt để vấn đề trở nên hẹp hơn. Đọc tiếp...

Cửu Long khuấy biển: Trung Quốc làm căng thẳng Biển Đông

Cửu Long khuấy biển: Trung Quốc làm căng thẳng Biển Đông

Việc thiếu sự chỉ đạo nhất quán và phối hợp chặt chẽ về vấn đề Biển Đông trong nội bộ Trung Quốc, thêm vào đó là sự mơ hồ trong chính sách Biển Đông của chính quyền trung ương, các cơ quan, lực lượng liên quan đã lợi dụng điều này nhằm gia tăng lợi ích cục bộ của mình. Tất cả các nhân tố trên là nguyên nhân dẫn đến tình hình căng thẳng tại Biển Đông hiện nay

Đọc tiếp...

Liệu Mỹ có bị cuốn vào một cuộc xung đột vũ trang ở Biển Đông?

Liệu Mỹ có bị cuốn vào một cuộc xung đột vũ trang ở Biển Đông?

Trong bài viết trên trang Hội đồng Quan hệ Đối ngoại (Mỹ), Bonnie Glaser (CSIS) đánh giá rằng khả năng xảy ra xung đột vũ trang ở Biển Đông là hoàn toàn có thể. Tác giả đề cập đến 3 trường hợp Mỹ có thể bị cuốn vào cuộc xung đột đó đồng thời khuyến nghị một số biện pháp ngoại giao phòng ngừa.

Đọc tiếp...

M. Taylor Fravel, Chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông

M. Taylor Fravel, Chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông

Trì hoãn là chiến lược mà Trung Quốc đã sử dụng đối với Biển Đông từ giữa những năm 90 đến nay. Bài viết sẽ đi sâu phân tích vì sao Trung Quốc lại sử dụng chiến lược này và một số kết quả mà Trung Quốc đạt được cũng như tác động như thế nào đối với khu vực

Đọc tiếp...

Trung Quốc có thực sự điều chỉnh chính sách ở Biển Đông?

Trung Quốc có thực sự điều chỉnh chính sách ở Biển Đông?

Gần đây, Trung Quốc dường như đang theo đuổi cách tiếp cận mới ôn hòa hơn trong tranh chấp Biển Đông. Mục tiêu chủ yếu của chính sách thân thiện hơn là nhằm khôi phục hình ảnh của nước này ở Đông Á và ngăn chặn Mỹ thúc đẩy vai trò trong khu vực. Chưa biết cách tiếp cận mới của Bắc Kinh có thể kéo dài hay không, nhưng ít nhất nó cũng thể hiện Trung Quốc có thể điều chỉnh chính sách đối ngoại của họ. 

Đọc tiếp...

Biển Đông: Vùng nước dữ cho việc xây dựng liên minh

Biển Đông: Vùng nước dữ cho việc xây dựng liên minh

Mỹ đang phải đối mặt với những trở ngại tại Biển Đông. Washington cần tiến hành các hoạt động hợp tác biển song phương và với các nhóm nước đặc biệt nhằm xây dựng những mạng lưới liên minh khu vực đủ mạnh để giải quyết các vấn đề an ninh và đảm bảo lợi ích của Mỹ.

Đọc tiếp...

Will Rogers, Vai trò của tài nguyên thiên nhiên ở Biển Đông

Will Rogers, Vai trò của tài nguyên thiên nhiên ở Biển Đông

Nhu cầu về tài nguyên thiên nhiên gia tăng trong bối cảnh nguồn cung suy giảm đang đặt ra những thách thức đối với các nước xung quanh Biển Đông. Điều này sẽ tác động thế nào đến cách ứng xử của họ đối với bên ngoài: gia tăng cạnh tranh hay thúc đẩy hợp tác?. Đọc tiếp...

Peter A. Dutton, Những rạn nứt trong nền tàng toàn cầu: Luật pháp quốc tế và sự bất ổn tại Biển Đông

Peter A. Dutton, Những rạn nứt trong nền tàng toàn cầu: Luật pháp quốc tế và sự bất ổn tại Biển Đông

Trung Quốc đang đòi hỏi lợi ích của mình theo những cách thức có thể đe dọa đến những nguyên tắc nền tảng đang điều phối quan hệ quốc tế. Xu hướng này được minh chứng rõ nét nhất tại Biển Đông. Mỹ cần can dự để Trung Quốc tuân thủ luật pháp quốc tế hiện hành.

Đọc tiếp...

Năng lực "Chống hải quân" gần bờ của Trung Quốc mới là thách thức đối với Mỹ và khu vực

Năng lực

Năng lực hải quân Trung Quốc đang ngày càng phát triển, tuy nhiên tương quan giữa năng lực tác chiến gần bờ và xa bờ của Trung Quốc lại tồn tại khoảng cách khác biệt rất lớn, và sẽ còn một khoảng cách rất dài để theo kịp Mỹ. Giải quyết và hiểu thực sự bản chất của vấn đề này sẽ góp phần tránh xung đột đối đầu quân sự Mỹ - Trung cũng như sự xuất hiện của chủ nghĩa bá quyền.

Đọc tiếp...

Ian Storey, Ngoại giao song phương và đa phương của Trung Quốc ở Biển Đông

Ian Storey, Ngoại giao song phương và đa phương của Trung Quốc ở Biển Đông

Trung Quốc tăng cường nỗ lực ngoại giao vừa trấn an các nước láng giềng, vừa củng cố yêu sách tại  Biển Đông. Mặc dù phương thức song phương là chủ đạo, nhưng tại sao nước này lại đàm phán hai thỏa thuận với ASEAN trong hai thập kỷ qua? Mục tiêu là duy trì nguyên trạng? Đọc tiếp...

M. Taylor Fravel, An ninh ở Biển Đông và cuộc tranh giành các quyền trên biển

M. Taylor Fravel, An ninh ở Biển Đông và cuộc tranh giành các quyền trên biển

Tranh chấp Biển Đông hiện nay có thể dẫn đến sự bất ổn khu vực, thậm chí là xung đột vũ trang, tuy nhiên những cơ hội hợp tác để giảm sự gia tăng căng thẳng vẫn tồn tại. Và về chiến lược lâu dài, Mỹ cần phải có các nỗ lực can dự cân bằng để duy trì ổn định ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Patrick M. Cronin và Robert D. Kaplan, Chiến lược của Mỹ đối với Biển Đông

Patrick M. Cronin và Robert D. Kaplan, Chiến lược của Mỹ đối với  Biển Đông

Lợi ích của Mỹ đang bị đe dọa trước sự trỗi dậy của Trung Quốc. Những luật chơi mà Mỹ đã thiết lập đang có nguy cơ “bị xem xét lại”, điển hình lại tại Biển Đông. Mỹ cần làm gì? Các khuyến nghị đầy đủ của think-tank hàng đầu của Mỹ CNAS.

Đọc tiếp...

Mùa Đông của Biển Đông: Tình hình, cục diện và kế sách cho Trung Quốc

Mùa Đông của Biển Đông: Tình hình, cục diện và kế sách cho Trung Quốc

Loạt bài của các chuyên gia về Biển Đông đăng trên tạp chí “Tri thức thế giới” của Bộ Ngoại giao Trung Quốc: một nửa giang sơn của Trung Quốc là phần bao bọc xung quanh phía Nam nhưng đang ở trong trạng thái của “mùa Đông lạnh giá”? “Trung Quốc cần phải có kế sách đối phó như thế nào?”

Đọc tiếp...

GS. Carlyle A.Thayer, BIỂN ĐÔNG: CÓ CHỈ LÀ CỦA TRUNG QUỐC?

GS. Carlyle A.Thayer, BIỂN ĐÔNG: CÓ CHỈ LÀ CỦA TRUNG QUỐC?

Trung Quốc đã phát tín hiệu phủ nhận UNCLOS bằng việc khẳng định “chủ quyền không thể tranh cãi” đối với Biển Đông, quan điểm của Bắc Kinh đã gây nên xung đột với các quốc gia khác. Để đạt giải pháp công bằng cho tất cả các bên, các nước ASEAN cần liên kết để tìm ra một tiếng nói chung trong cách tiếp cận để giải quyết vấn đề Biển Đông đối với Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Thất bại tại Biển Đông nhưng Trung Quốc vẫn chìm đắm trong giấc mộng

Thất bại tại Biển Đông nhưng Trung Quốc vẫn chìm đắm trong giấc mộng

Về khía cạnh chiến lược, chính sách ngoại giao, quan hệ quốc tế và truyền thông trong vấn đề Biển Đông, Trung Quốc đã hoàn toàn bại trận. Dường như không một quốc gia nào ủng hộ lập trường cũng như lối hành xử của nước này. Bừi viết của Viện trưởng Viện Nghiên cứu Đông Á, Đại học Quốc gia Singapore, Trịnh Vĩnh Niên trên Liên hợp Buổi sáng phân tích về nguyên nhân thất bại cũng như đối sách cho Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông.

Đọc tiếp...

Chính sách Biển Đông của Mỹ trong quan hệ với Trung Quốc

Chính sách Biển Đông của Mỹ trong quan hệ với Trung Quốc

 Báo cáo của Trung tâm An ninh Mới của Mỹ (CNAS) cho rằng các lợi ích của Mỹ đang ngày càng bị đe dọa trước sự lớn mạnh của Trung Quốc, nhất là trước việc nước này sẵn sàng “xem xét lại” các luật chơi đã được thiết lập. Mỹ cần không ngừng quan tâm đến Biển Đông và tăng cường hợp tác. Hợp tác chỉ có thể đạt hiệu quả dựa trên sức mạnh răn đe quân sự của Mỹ.

Đọc tiếp...

Tranh chấp Biển Đông trong quan hệ ASEAN và Trung Quốc: Đa phương và Song phương

Tranh chấp Biển Đông trong quan hệ ASEAN và Trung Quốc: Đa phương và Song phương

Từ việc phân tích tổng hợp các nhân tố dẫn đến căng thẳng và kéo dài trong tranh chấp Biển Đông, TS. Aileen S.P Baviera , Đại học Philippines đề cập đến các giải pháp: song phương, đa phương, hợp tác về an ninh hàng hải nhằm thúc đẩy giải quyết tranh chấp Biển Đông, trong đó tác giả nhấn mạnh đến vai trò tiếp cận đa phương.

Đọc tiếp...

Liệu có thể giải quyết tranh chấp Biển Đông? Những chọn lựa của ASEAN trước một Trung Quốc quyết đoán

Liệu có thể giải quyết tranh chấp Biển Đông? Những chọn lựa của ASEAN trước một Trung Quốc quyết đoán

Bài viết của GS. Leszek Buszynski, Đại học Quốc gia Úc, phân tích nhân tố địa chính trị chiến lược trong tranh chấp Biển Đông. Trước một Trung Quốc ngày một quyết đoán, nếu ASEAN không đoàn kết và đi đến thống nhất lập trường trong tranh chấp thì giải pháp cuối cùng cho Biển Đông rất xa vời.

Đọc tiếp...

Báo cáo đặc biệt của Mỹ về tranh chấp tại Biển Đông và Biển Hoa Đông

Báo cáo đặc biệt của Mỹ về tranh chấp tại Biển Đông và Biển Hoa Đông

Bản báo cáo của của Cục Nghiên cứu Quốc gia về Châu Á (NBR) của Mỹ phân tích, đánh giá những rủi ro ở vùng Biển Đông, biển Hoa Đông và Vịnh Thái Lan; các xu hướng gần đây tại các vùng biển tranh chấp - bao gồm cả tích cực và tiêu cực; các rào cản và cơ hội để thúc đẩy hợp tác. Cuối cùng, báo cáo đề xuất một loạt các kiến nghị chính sách cho các bên liên quan. Bản báo cáo được thực hiện bởi các chuyên gia quốc tế hàng đầu trong lĩnh vực này.

Đọc tiếp...

Trung Quốc: Tọa đàm hẹp về tình hình Biển Đông và lợi ích, chiến lược của Trung Quốc

Trung Quốc: Tọa đàm hẹp về tình hình Biển Đông và lợi ích, chiến lược của Trung Quốc

Tọa đàm tại Bắc Kinh giữa các chuyên gia hàng đầu của Trung Quốc, tập trung phân tích tầm quan trọng của biển đối với sự phát triển của Trung Quốc, những diễn biến gấn đây về tình hình Nam Hải (Biển Đông), đặc biệt là nhân tố Mỹ và ảnh hưởng đến cục diện xung quanh Trung Quốc. Các học giả cũng đưa ra các kiến nghị chính sách cho Chính phủ Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông. Đọc tiếp...

Trung Quốc có thể bảo vệ được "lợi ích cốt lõi" tại Biển Đông hay không?

Trung Quốc có thể bảo vệ được

Đặt giả thuyết rằng Trung Quốc thực sự coi Biển Đông là “lợi ích cốt lõi”, bài viết của Toshi Yoshihara James R. Holmes, Đại học Hải chiến Mỹ, phân tích khả năng thành công của Trung Quốc trong việc bảo vệ “lợi ích cốt lõi” của mình tại Biển Đông. Khía cạnh mà tác giả tập trung phân tích chủ yếu nhằm vào năng lực quốc phòng của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA).

Đọc tiếp...

ASEAN và tranh chấp Biển Đông

ASEAN và tranh chấp Biển Đông

Bài viết của GS. Baldas Ghoshal, Thành viên danh dự của Viện Nghiên cứu Hòa bình và Xung đột (Ấn Độ), nhìn vào cách tiếp cận của ASEAN đối với tranh chấp Biển Đông, kiểm định tính hiệu quả của ASEAN trong việc đối phó với các yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc, bên tranh chấp chính, và đánh giá triển vọng xoa dịu căng thẳng trong khu vực bằng những khuôn khổ pháp lý hiện hành. Đọc tiếp...

Tuyên bố Hà Nội của Clinton về Biển Đông: Khởi nguồn chiến lược kiềm chế Trung Quốc của Mỹ?

Tuyên bố Hà Nội của Clinton về Biển Đông:  Khởi nguồn chiến lược kiềm chế Trung Quốc của Mỹ?

Bài viết của TS. Renato Cruz De Castro (Philippines) nghiên cứu ngụ ý chính sách dài hạn của Mỹ trong Tuyên bố Hà Nội ngày 24/7/2010 của Ngoại trưởng Mỹ Hilary Clinton về tranh chấp Biển Đông, đó là chính sách kiềm chế (constrainment ) đối với một Trung Quốc đang ngày càng quyết đoán trong vấn đề tranh chấp lãnh thổ. Bài viết cũng đưa ra những thách thức về khả năng thành công của với chính sách này.

Đọc tiếp...

Đánh giá hiệu quả các khuôn khổ và cơ chế về an ninh biển trên Biển Đông hiện nay

Đánh giá hiệu quả các khuôn khổ và cơ chế về an ninh biển trên Biển Đông hiện nay

Trong bối cảnh tình hình Biển Đông căng thẳng, bài nghiên cứu của GS. Peter Dutton, Viện nghiên cứu Biển Trung Quốc, Học viện Hải quân Mỹ, đánh giá vai trò của các khuôn khổ và cơ chế an ninh biển hiện tại như Công ước luật biển 1982 hay Tuyên bố ứng xử 2002 trong việc duy trì hoà bình và thúc đẩy phát triển ở khu vực. Bài viết cũng đưa ra một số kiến nghị nhằm xây dựng lòng tin và đề ra tiến trình hướng tới sự ổn định lâu dài.

Đọc tiếp...

Vai trò của Nhật Bản trong vấn đề Biển Đông

Vai trò của Nhật Bản trong vấn đề Biển Đông

Bài viết của tác giả Trang Ngọc Hoa, đăng trên trang trang mạng “Viện Nghiên cứu các Vấn đề Quốc tế Trung Quốc – China Institute of International studies” đã nêu ra một số đánh giá và phân tích của phía Trung Quốc về lợi ích, vai trò và chính sách của Nhật Bản trong vấn đề Biển Đông. Đọc tiếp...

Địa chính trị, Hải quân và Chiến lược ở Biển Đông

Địa chính trị, Hải quân và Chiến lược ở Biển Đông

Bài nghiên cứu của hai học giả Trung tâm Tài nguyên và An ninh Đại dương Quốc gia Úc, Đại học  New South Wales, Úc phân tích ba lĩnh vực trong vấn đề Biển Đông: địa chính trị, phát triển hải quân và chiến lược.  Trong đó nghiên cứu cụ thể  về việc Trung Quốc phản đối các hoạt động quân sự ở vùng đặc quyền kinh tế nhằm thể hiện quyết tâm tăng cường vị thế chiến lược tại Biển Đông.

Đọc tiếp...

Những sự việc căng thẳng trên Biển Đông gần đây: Đã đến lúc cần Bộ quy tắc ứng xử?

Những sự việc căng thẳng trên Biển Đông gần đây: Đã đến lúc cần Bộ quy tắc ứng xử?

Bàn về những sự việc căng thẳng trên Biển Đông thời gian gần đây, học giả Aileen S.P.Baviera vừa có bài viết đăng trên RSIS Commentaries No. 91/2011 ngày 14/6, nhan đề China and the South China Sea: Time for Code of Conduct?; hoặc trên The Manila Times.Tác giả đã nêu diễn biến những vụ việc đáng quan ngại xảy ra trên Biển Đông xuất phát từ động thái của Trung Quốc, khẳng định bản chất vô lý của Trung Quốc trên Biển Đông, nhấn mạnh yêu cầu cần có COC trong bối cảnh hiện nay và kiến nghị thái độ của các bên liên quan nhằm hướng tới mục tiêu giải quyết hòa bình tranh chấp trên Biển Đông. 

Đọc tiếp...

Ngoại giao ống dẫn dầu của Trung Quốc: Mối đe dọa của những xung đột cường độ thấp

Ngoại giao ống dẫn dầu của Trung Quốc: Mối đe dọa của những xung đột cường độ thấp

Bài viết của TS. Emmanuel Karagiannis, Đại học Macedonia nêu những thuận lợi và khó khăn trong chiến lược xây dựng và duy trì những đường dẫn dầu xuyên quốc gia của Trung Quốc tại khu vực Trung và Đông Nam Á. Bài viết được in trong Series đặc biệt của tạp chí Harvard Asia Quarterly của Trường Đại học Havard với chủ đề "Tranh chấp biển- An ninh hàng hải tại Đông Á", (The Disputed Sea – Maritime Security in East Asia) tháng 12/2010.

Đọc tiếp...

Đối tượng tranh chấp trên Biển Đông: đảo hay đá?

Đối tượng tranh chấp trên Biển Đông: đảo hay đá?

Mạng bình luận trường RSIS Singapore đăng bài phân tích “Islands or Rocks? Evolving Dispute in South China Sea” của Robert Beckman, Giám đốc Trung tâm Luật Quốc tế, giáo sư tại Khoa Luật Đại học Quốc gia Singapore. Tác giả cho rằng cuộc tranh cãi về quyền khai thác tài nguyên quanh quần đảo Trường Sa đã biến thành một cuộc tranh cãi về mặt quy chế pháp lý của các đảo, đá.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

         

CHUYÊN ĐỀ ĐẶC BIỆT

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 3882 khách và 1 thành viên Trực tuyến

Đăng nhập



Bản đồ - Hình ảnh

HỘI THẢO QUỐC TẾ LẦN 3