19 - 5 - 2012 | 9:28
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI Trung Quốc và khai thác chung ở Biển Đông (Phần II)

Trung Quốc và khai thác chung ở Biển Đông (Phần II)

Email In PDF.

Tiếp theo phần I, phần này tập trung phân tích những quan điểm, quan ngại khác nhau trong nội bộ Trung Quốc trong chính sách “Gác tranh chấp, cung khai thác” trong tranh chấp Trường Sa. Phần này sẽ tập trung vào quan điểm của Trung Quốc về năng lượng, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến an ninh năng lượng.

Quan điểm và những mối quan ngại của Trung Quốc

Theo chính sách “gác tranh chấp, cùng khai thác” trong giải quyết vấn đề Trường Sa, như được nhắc đến trên đây, hai sự đồng thuận cơ bản có vẻ như đã xuất hiện ở Trung Quốc trong thời kỳ sau Đặng Tiểu Bình. Sự đồng thuận thứ nhất là Trung Quốc có quyền chủ quyền không thể tranh cãi đối với Biển Đông từ góc nhìn lịch sử và luật quốc tế.[1] Sự đồng thuận thứ hai là, với điều kiện Trung Quốc sẽ theo đuổi những tuyên bố chủ quyền của mình nếu và khi vấn đề này được đưa ra, Trung Quốc xem cùng khai thác là chính sách khả thi nhất để giải quyết tranh chấp Hoàng Sa.[2] Đối với sự đồng thuận thứ hai, phải chú ý rằng đây là một định hướng rất chung chung và mơ hồ, và có thể có rất nhiều quan điểm về định hướng này, trong đó một vài quan điểm khó nhận thấy hơn các quan điểm khác trong nội tại Trung Quốc. Về vấn đề này, sẽ là hữu ích nếu xem xét quan điểm của giới lãnh đạo trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc (CCP) và chính quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng này như quân đội, chính quyền địa phương và các công ty dầu lớn ở Trung Quốc. Mặc dù giới lãnh đạo trung ương có vai trò quan trọng trong việc quyết định và điều chỉnh các chính sách của Trung Quốc về vấn đề Biển Đông, và các chủ thể khác như quân đội, chính quyền địa phương và các công ty dầu liên quan, thực hiện những chính sách này, những chủ thể khác này cũng có thể thể hiện quan điểm, ý tưởng và các mối quan ngại ảnh hưởng đến việc đưa ra chính sách của trung ương. Bởi vì những động thái đầu tiên đối với việc cùng khai thác chủ yếu là về lĩnh vực năng lượng, nên phần còn lại của chương này  sẽ tập trung vào quan điểm của Trung Quốc về năng lượng, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến an ninh năng lượng.

Giới lãnh đạo trung ương Trung Quốc có ít nhất hai mối quan ngại về vấn đề phân loại an ninh năng lượng của Biển Đông đối với Trung Quốc. Mối quan ngại thứ nhất liên quan đến kết quả của sự tăng trưởng GDP hai con số trong hai thập niên vừa qua, đó là mối quan tâm mới nổi lên của Trung Quốc đến tài nguyên nhiên liệu hóa thạch, cụ thể là dầu. Thực tế là từ năm 1993, Trung Quốc đã trở thành nước nhập khẩu. Để đáp ứng nhu cầu năng lượng ngày càng tăng của mình, Bắc Kinh đã cố gắng mở rộng nguồn cung cấp dầu và khí ở trong nước và nước ngoài bằng mọi phương tiện có thể. Trung Quốc cũng đã cố gắng nâng cao hiệu suất sử dụng năng lượng. Giới lãnh đạo Trung Quốc đã từ lâu muốn trở thành quốc gia tự cung tự cấp trong sản xuất năng lượng.[3] Theo đó, khai thác các nguồn tài nguyên dầu và khí trong nước được xem là một cách đảm bảo an ninh năng lượng của quốc gia này. Bởi đa số nguồn dầu gần bờ ở phía Đông Trung Quốc đã quá lâu đời và bắt đầu giảm sút sản lượng, từ cuối những năm 1990 hay thậm chí sớm hơn, Bắc Kinh đã chuyển mối quan tâm qua thăm dò năng lượng ở phía tây Trung Quốc và các vùng xa bờ.[4] Đối với năng lượng xa bờ, vùng nước ven biển Trung Quốc được cho là có tiềm năng lớn về dầu và khí chất lượng cao và ở gần với các trung tâm tiêu thụ. Dầu và khí thô từ Trung Quốc sẽ đóng vai trò quan trọng hơn trong việc cân bằng năng lượng trong tương lai gần.

Biển Đông được một số người Trung Quốc miêu tả là “Vịnh Ba Tư thứ hai” bởi Biển Đông được cho là vùng sở hữu nguồn tài nguyên dầu, khí và chất đốt dồi dào. Theo Bộ Đất đai và Tài nguyên Trung Quốc, có hơn 200 cấu trúc dầu và các chất tương tự khí và 180 điểm khai thác dầu và khí ở Biển Đông. Trữ lượng dầu ở các điểm khai thác nói trên được ước tính có thể đạt 23 đến 30 tỉ tấn, chiếm một phần ba tổng tài nguyên dầu và khí của Trung Quốc.[5] Trữ lượng dồi dào về chất đốt, một nguồn năng lượng sạch mới sẽ được khai thác trong tương lai, cũng đã được phát hiện ở khu vực này.[6] Những dự đoán lạc quan này chắc chắn đã củng cố lập trường vững chắc của Trung Quốc đối với vấn đề Biển Đông.

Hình 10.1: Nhập khẩu dầu của Trung Quốc, 1993-2006

 

Bảng 10.1 Những nguồn nhập khẩu dầu thô chính của Trung Quốc

Vùng

1995

2003

Trung Đông

43,3 %

47,2 %

Châu Phi

7,2 %

30,2 %

Đông Nam Á

38,8 %

7,4 %

Trung Á và Nga

0,2 %

11,1 %

Nam Mỹ

0,0 %

3.4 %

Các vùng khác

10,5 %

4.0 %

Tổng

100 %

100 %

Tổng nhập khẩu (tỉ tấn)

17,079

126818

Nguồn: số liệu năm 1995: ban biên tập niên giám Quan hệ Đối ngoại Kinh tế và Thương mại Trung Quốc, Almanac of China’s Foreign Economic Relations and Trade 1997/98, Beijing: China National Economy Publishing House Economic Information & Agency, 1997; số liệu năm 2005: Ban biên tập niên giám Thương mại Trung Quốc, China Commerce Yearbook 2007, Beijing: China Commerce and Trade Press, 2007.

Mối quan ngại thứ hai liên quan đến ảnh hưởng của Biển Đông đối với an ninh vận chuyển năng lượng của Trung Quốc. Như được thể hiện ở hình 10.1, tỷ lệ nhập khẩu dầu trong tổng lượng dầu tiêu thụ ở Trung Quốc đã tăng từ 43% năm 2000 lên đến 56% năm 2006. Nhập khẩu dầu tử Trung Đông và châu Phi tăng mạnh từ 50% lên 77% trong tổng lượng dầu nhập khẩu lần lượt trong các năm 1995 và 2005 như được thể hiện trong Bảng 10.1. Người ta ước tính rằng 70% lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc phải vượt qua eo biển Malacca và đi theo các đường biển ở Biển Đông. Theo một vài nguồn tin từ Trung Quốc, gần 60% số lượng các tàu đi qua vùng biển này mỗi ngày là tàu Trung Quốc.[7] Với lượng dầu nhập khẩu ngày càng tăng và sự lệ thuộc ngày càng lớn đối với đường biển, Biển Đông có vai trò hết sức quan trọng đối với an ninh năng lượng của Trung Quốc. Cũng như Nhật Bản và một số quốc gia nhập khẩu dầu khác, con đường này được xem như đường máu của Trung Quốc và sự an toàn trong việc vận chuyển dầu của Trung Quốc sẽ bị đe dọa nếu Biển Đông bị kiểm soát bởi các quốc gia khác.[8]

Để bảo vệ an ninh giao thông liên lạc đường biển, phục vụ cho việc nhập khẩu dầu của chính quốc gia mình, Trung Quốc đã tìm kiếm các con đường thay thế khác. Đáng chú ý là Trung Quốc đang xem xét việc xây dựng các cảng có thể giúp vận chuyển dầu. Những cảng đang được xây dựng với sự giúp đỡ và cố vấn từ Trung Quốc bao gồm cảng Gwadar ở Pakistan, cảng Shitte ở Myanmar, cảng Chittagong ở Bangladesh và cảng Hambantota ở Srilanka.[9]  Ngoài ra, Trung Quốc cũng quan tâm đến việc xây dựng kênh Kra ở Thái Lan.[10]

Xem xét tầm quan trọng chiến lược của Biển Đông đối với an ninh năng lượng, an ninh kinh tế và an ninh quốc gia của Trung Quốc, rõ ràng là Trung Quốc sẽ không từ bỏ những yêu sách về chủ quyền ở Biển Đông. Ngoài ra, chủ nghĩa dân tộc đang lên của người Trung Quốc, đặc biệt khi nhắc đến vấn đề lãnh thổ, sẽ làm giới lãnh đạo trung ương trở nên thận trọng trong việc nhượng bộ đối với những tranh chấp về biển. Theo Trung Quốc, nguyên nhân chính cho việc các quốc gia Đông Nam Á, mà đặc biệt là Việt Nam đòi chủ quyền ở Biển Đông và thay đổi lập trường trước đây, không tiếp tục thừa nhận chủ quyền hợp pháp của Trung Quốc trên Biển Đông là nguồn lợi dầu và khí.[11]

Về vấn đề quân đội Trung Quốc, Quân giải phóng nhân dân (PLA) là thế lực đứng sau chính phủ Trung Quốc trong việc khẳng định chủ quyền đối với Biển Đông. Tất nhiên luôn có những quan điểm ủng hộ cùng khai thác ở Trường Sa. Tuy vậy, cũng có những thế lực diều hâu khác ủng hộ việc sử dụng vũ lực để giành lại Trường Sa. Đây cũng chính là một phương pháp được Đặng Tiểu Bình đề xuất. Những người thuộc phe diều hâu khó mà chấp nhận sự thật rằng các nước khác cũng đang rất chú ý khai thác dầu và khí từ những nguồn mà họ cho là thuộc lãnh thổ Trung Quốc.[12] Thực tế là Lưu Hoa Thanh, khi còn là Phó Chủ tịch Ủy ban Quân sự thuộc Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, đã muốn phát triển hải quân Trung Quốc. Cụ thể, vào đầu những năm 1990, ông đã khẳng định rằng, đối với Trung Quốc, nơi có khả năng xảy ra chiến tranh nhất trong vòng 10 năm tới là Biển Đông, và do đó Trung Quốc cần có các tàu chuyên chở chiến đấu. Ông Lưu nhấn mạnh rằng một lực lượng tàu chuyên chở chiến đấu không phải là để đấu với Mỹ hay Nga, mà là để chiến đấu với Đài Loan và trong những xung đột về lãnh thổ ở Biển Đông và để bảo vệ những quyền lợi về biển của Trung Quốc.[13] Với việc tăng cường ngân sách cho quân sự những năm gần đây, không hề ngạc nhiên là đã có những lời kêu gọi cho việc đổ thêm tiền để hiện đại hóa hải quân Trung Quốc, bao gồm cả việc xây dựng các tàu chuyên chở chiến đấu để bảo vệ an ninh năng lượng và hoạt động kinh doanh ở nước ngoài và các hoạt động khác của Trung Quốc.[14]

Cuối cùng, phải chú ý rằng một vài chính quyền địa phương ở Trung Quốc, cụ thể là những tỉnh tiếp giáp biển Đông như Hải Nam, vùng tự trị Quảng Tây, và các công ty dầu Trung Quốc rất muốn tiến hành khai thác và sản xuất dầu ở Biển Đông. Thực tế, những mong muốn trên càng trở nên mạnh mẽ trong bối cảnh những thỏa thuận Trung Quốc-ASEAN được ký kết nhằm thiết lập ACFTA trong vòng mười năm như đã được nhắc đến trước đây cùng với việc giá dầu ngày càng tăng. Hải Nam và vùng tự trị Quảng Tây, hai tỉnh ven bờ Biển Đông, là những tỉnh sẽ phải chịu ảnh hưởng nếu mâu thuẫn và căng thẳng xảy ra ở Biển Đông. Những tranh chấp này không những ngăn cản giới lãnh đạo trung ương Trung Quốc chấp thuận những kế hoạch phát triển đầy tham vọng mà còn làm giảm đầu tư nước ngoài. Được ủy quyền quản lý một số phần của Biển Đông, Hải Nam và Quảng Tây đã cố gắng tận dụng nguồn dầu và khí xa bờ để nâng tầm phát triển kinh tế của tỉnh. Thực tế, đối với trường hợp của Hải Nam, nguồn năng lượng sản xuất xa bờ đã giúp tỉnh này tự cung tự cấp về dầu và khí. Hải Nam có tham vọng trở thành trung tâm hóa dầu của Trung Quốc. Là tỉnh được Trung Quốc giao quản lý đa số phần Biển Đông, Hải Nam sẽ là bên có lợi nhất nếu các dự án cùng khai thác có thể được tiến hành trong khu vực. Về vấn đề này, Hải Nam đã đề xuất lên Quốc hội Trung Quốc năm 2002 là Trung Quốc nên đưa ra một kế hoạch toàn diện để phát triển Biển Đông.[15] Đảo này xem việc duy trì hòa bình và ổn định ở Biển Đông là có lợi cho việc phát triển năng lượng chung. Do đó, Hải Nam rất hoan nghênh việc ký Hiệp định giữa ba quốc gia Trung Quốc, Việt Nam và Philippines trong việc tiến hành khảo sát địa chất chung trên Biển Đông và người đứng đầu đảo Hải Nam, ông Vệ Lưu Thành đã phát biểu tại Diễn đàn Boao năm 2005 rằng Hải Nam sẵn sàng đóng vai trò tích cực trong việc thúc đẩy hợp tác năng lượng vùng và liên khu vực.[16]

Tương tự, Quảng Tây cũng rất tích cực trong việc thúc đẩy cùng khai thác trên Biển Đông bởi đây là vùng gần nhất với Đông Nam Á về mặt địa lý. Vùng này đang thúc đẩy việc thành lập Chương trình hợp tác kinh tế vùng vịnh Bắc Bộ mở rộng bao gồm Quảng Tây, Quảng Đông, Hải Nam, Việt Nam, Thái Lan, Campuchia, Malaysia, Singapore, Indonesia, Philippines và Brunei. Đề xuất của Trung Quốc, nhắc đến tất cả các quốc gia tranh chấp, là một phần của nỗ lực phát triển vùng ven biển thành nhà máy năng lượng của Trung Quốc.[17] Được tán thành bởi chính phủ Trung Quốc, đề xuất sẽ bao gồm những hoạt động hợp tác trong lĩnh vực năng lượng biển, môi trường biển và hoạt động kết nối các cảng,v.v…giữa các quốc gia Biển Đông.

Đối với các công ty dầu Trung Quốc, Công ty Dầu khí Ngoài khơi Quốc gia Trung Quốc (CNOOC) là nhân vật chính trong sản xuất dầu xa bờ. Được thành lập năm 1992 với mục đích thu hút đầu tư nước ngoài, CNOOC đã độc quyền hóa quyền khai thác và sản xuất dầu xa bờ cho đến gần đây. Những nhà đầu tư nước ngoài được phép tham gia vào việc khai thác và sản xuất dầu xa bờ với điều kiện là họ phải hợp tác với CNOOC. Những khai thác và sản xuất ban đầu ở Biển Đông do CNOOC và các nhà đầu tư nước ngoài tiến hành mang lại kết quả khá là đáng thất vọng. Việc khai thác và sản xuất sau đó của CNOOC phần lớn tập trung vào vùng nước nông ven bờ, đáng chú ý là những vùng ở vịnh Bắc Bộ và phía nam vùng lòng chảo sông Châu Giang. Tuy nhiên, với những báo cáo đầy lạc quan về triển vọng khai thác dầu ở Biển Đông, nhất là báo cáo của Bộ Đất đai và Tài nguyên Trung Quốc, như đã nhắc tới ở trên, thì việc CNOOC có những quyền lợi mới khi tham gia khai thác sâu và sản xuất dầu ở Biển Đông là hoàn toàn tự nhiên.

Có những lý do để cho rằng CNOOC tiếp thu nhanh việc cùng khai thác với các quốc gia tranh chấp. Trước hết, CNOOC không có các phương tiện kỹ thuật dưới nước ngay cả sau nhiều năm hợp tác với các công ty dầu. Vào khoảng năm 2005, CNOOC bị cho là không thể thăm dò dầu ở độ sâu hơn 350m.[18] Do đó, CNOOC phải phụ thuộc vào các công ty nước ngoài nếu muốn khai thác và sản xuất dầu ở dưới nước sâu. Tuy nhiên, các nhà đầu tư nước ngoài lại thấy việc đầu tư vào vùng đang tranh chấp ở Biển Đông là quá mạo hiểm. Ví dụ, CNOOC ký hợp đồng với công ty Năng lượng Creston trụ sở ở Denver để khai thác dầu ở phía đông nam quần đảo Trường Sa (Lô 21-Wan’an Bei) vào năm 2002. Vùng này chồng lần với vùng đã được Việt Nam giao cho ConocoPhilips. Cuối cùng, không có hợp đồng nào tiếp tục được.[19] Do đó, việc cùng khai thác giữa các quốc gia tranh chấp sẽ giúp xoa dịu các mối quan ngại của nhà đầu tư, mặc dù việc cùng khai thác cũng phải đưa ra các công thức chia sẻ chiến lợi phẩm.

Thứ hai, các bên tranh chấp, trừ Trung Quốc đã khoan hơn 1000 giếng dầu ở Trường Sa cho đến cuối những năm 1990. Rõ ràng là các bên tranh chấp đó đã thu một nguồn lợi kinh tế khổng lồ từ hàng trăm triệu tấn dầu thô được sản xuất hàng năm. Tuy nhiên, cho đến hiện tại Trung Quốc vẫn không nhận được một giọt dầu nào từ Trường Sa và các công ty dầu Trung Quốc đã bị các bên tranh chấp như Việt Nam, Malaysia cấm đấu thầu các hợp đồng khai thác và sản xuất dầu. Do đó, cùng khai thác ở Trường Sa hi vọng sẽ cho các công ty dầu Trung Quốc, đặc biệt là CNOOC một cơ hội chia sẻ nguồn tài nguyên năng lượng ở Trường Sa.

Thứ ba, về mọi mặt, chính phủ Trung Quốc muốn thúc đẩy sản xuất dầu và khí xa bờ. Theo CNOOC, trữ lượng dầu xa bờ và tài nguyên khí của Trung Quốc lần lượt là 27,53 tỉ tấn và 10,600 tỉ mét khối. Tuy nhiên, tỷ lệ phát hiện lần lượt chỉ là 18,5% và 9,2%. Do đó, dầu xa bờ, bao gồm dầu ở Biển Đông, có thể là nguồn năng lượng chính cho Trung Quốc.[20] Để khuyến khích việc khoan giếng dầu xa bờ, Tập đoàn dầu khí Trung Quốc (CNPC) và Tập đoàn hóa dầu Trung Quốc (Sinopec) đã được cấp giấy phép khai thác và sản xuất dầu vào năm 2004. Đối mặt với nhiều đối thủ cạnh tranh hơn, CNOOC đã tiến hành nhiều biện pháp nhằm duy trì vị trí dẫn đầu trong khai thác và sản xuất dầu xa bờ. Một trong những biện pháp quan trọng nhất là quyết định nâng cấp kỹ thuật và năng lực khai thác ở nước sâu. CNOOC dự kiến chi 10 tỷ nhân dân tệ phát triển hạ tầng khai thác dầu ở vùng nước sâu năm 2007 và thiết bị khai thác vùng nước sâu đầu tiên dự kiến sẽ sẵn sàng hoạt động vào năm 2010.[21] Với tình hình khai thác và sản xuất dầu trên cạn cũng như ở vùng nước nông ngày càng khó khăn, trong khi kỹ thuật khai thác ở vùng nước sâu ngày càng tân tiến, có vẻ như CNOOC hiện đang muốn phát triển khả năng khoan dầu và khí ở vùng nước sâu. Điều này đặc biệt đúng trong bối cảnh giá dầu tăng cao và những vùng biển sâu đang được cho là những vùng chủ yếu có thể tìm thấy trữ lượng lớn dầu và khí trong tương lai. Tuy nhiên, CNOOC có thể sẽ không muốn khai thác và sản xuất một mình ở Biển Đông vì có quá nhiều tuyên bố chủ quyền ở vùng này. Thay vào đó, sẽ tốt hơn nếu CNOOC cùng tham gia cùng khai thác với các công ty dầu khác của các quốc gia đang tranh chấp nhằm làm dịu bớt căng thẳng và, có lẽ quan trọng hơn, chia sẻ những nguy cơ về đầu tư và tài chính trong khai thác và sản xuất dầu ở vùng nước sâu.


(Xem tiếp phần cuối)

 PGS. Lee Lai To,Khoa Chính trị học, Đại học Quốc gia Sinh-ga-po

TS. Chen Shaofeng, nghiên cứu viên Viện Đông Á, Đại học Quốc gia Sinh-ga-po

 

Người dịch:  Hồ Thị Hiếu Minh

Hiệu đính: Lê Quang Hưng

 

Bài viết trích trong " Security and International Politics In the South China Sea ",

Chủ biên: Sam Bateman, Ralf  Emmers, năm 2009.

Bản gốc tiếng Anh "China and  joint development in the South China Sea An energy security perspective"

(Đề nghị chỉ được dẫn đường link mọi thông tin, bài viết  trên www.nghiencuubiendong.vn, không cắt đăng lại khi chưa có sự đồng ý của Ban Biên tập Website)


[1] Xem, ví dụ, “The issue of South China Sea,” một tuyên bố do Bộ Ngoại giao Trung Quốc đưa ra tháng 6 năm 2000 tại www.fas.org/news/china/2000/china000600.htm, truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2008.

[2] Xem, ví dụ, Shijun Li, “Woguo de Xisha, Nansha, Zhongsha Qundao” (China’s Paracels, Spratlys, and Macclesfield Banks), Hainan Tongji (Hainan Statistics), tháng 6 năm 1996, có thể xem tại www.nansha.org.cn/publications/2/05.htm, truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2008.

[3] Erica S. Downs, “The Chinese Energy Security Debate.” China Quarterly 177 (tháng 3, 2004), tr. 24-29.

[4] “Li Peng Zongli tan Zhongguo shiyou gongye de fazhan” (Thủ tướng Lý Bằng nói về sự phát triển của nền công nghiệp dầu Trung Quốc), Liaowang (Outlook) 41 (13 tháng 10 năm 1997), tr. 4-5.

[5] Jia Quanxin, “Zhongguo Nanhai Shiyou chuliang keguan, Zhonghaiyou Meiguo Danwen xieshou kaifa” (trữ lượng dầu ở Biển Đông có triển vọng khai thác rất lớn, CNOOC đã hợp tác với công ty dầu Daven của Mỹ để phát triển tiềm năng này), Zhongguo Xinwenshe (China News Agency), 7 tháng 12 năm 2005, có thể xem tại www.chinanews.com.cn/2005/2005-12-07/8/661981.shtml, truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2008.

[6] “Xin kangtan jieguo xianshi-Nanhai keranbing chuliang da lushang shiyou yibang” (New prospecting results show-reserves of Combustible ice reach one half of onshore oil reserves in South China Sea), Zhongguo Shiyou Wang (China Oil News), ngày 18 tháng 3 năm 2004, có thể xem tại www.cnooc.com.cn/zhyww/xwygg/208290.shtml, truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2008.

[7] Xem, ví dụ, Wang Yiwei, “Yuan you jin lu kunrao Zhongguo shiyou, 2020 nian duiwai yicundu jiejin 60 percent” (Worrying about China’s oil, foreign dependency rate approximates 60 percent by 2020), Zhongguo Gongshan Shibao (China Business Times), 27 tháng 8, 2004, có thể xem tại http://news.xinhuanet.com/fortune/2004-08/27/content_1897776.htm, truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2008.

[8] “Pinglun: Mei yu kongzhi Maliujia, nanhai hui fasheng chongtu?” (Review: The US wants to control the Strait of Malacca, Will any conflict come about in the South China Sea), Guofang Zhishi Bao (National Defense Knowlwdge), 13 tháng 4, 2004; Du Wenlong and Shi Zhikun. “Nansha qundao-yaoyuan de lanse guotu” (The Spratly Islands, Our distant blue territory), Bingqi Zhishi (Weaponry Knowledge), 1 (2008), tr. 25-28.

[9] Bill Gertz, “China Builds up Strategic Sea-Lanes,” Washington Times, 18 tháng 1 năm 2005.

[10] Xem, ví dụ, Franz Schurmann, “China’s Demand for Oil May Make Thailand Canal a Reality,”, at http.//news.pacificnews.org/news/view_article.html?article_id=101ae63f, truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2008.

[11] Tan Zaiwen, “Nanhai gongtong kaifa de guoji zhengzhi jingjixue” (International political economy of the joint development in South China Sea), Nanyang Wenti Yanjiu (South East Asian Affairs) 3 (2005), tr. 10.

[12] Xem, ví dụ, Du Wenlong and Shi Zhikun, “Nansha qundao-yaoyuan de lanse guotu.”

[13] “nanhai wenti de yuanyin ji muqian de Nanhai jushi” (Sources of South China Sea problem and the current situation on the South China Sea)” tại www.smxpt.cn/dyw/Article_Show.asp?ArticleID=271, truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2008, không có tác giả.

[14] Xem, ví dụ, Du Wenlong and Shi Zhikun, “nansha qundao-yaoyuan de lanse guotu”; Mengxia Wang, “’Haiyang quanyi’:yige mingan er chenzhong de huati”(Marine rights: a sensitive but distressing topic), Zhongguo Chuanjian (China Ship Survey) (tháng 4 năm 2004), tr. 4-7; “Zhonghe pingshu” Comprehensive Review), Xiandai Jianchuan (Modern Vessel) 12 (2004), tr. 4-7; Lu Xiangyang, “Fennu hou de sisuo! Qian tan Woguo haiyang quanyi de baohu” (Refelections after anger: Preliminary analysis of protecting China’s marine rights), Shipborne Weapons (tháng 10, 2004), tr. 12-16.

[15] “Jinnian Renda shoudao she hai yu’an er shi si jian” (People’s Congress received 24 sea-related proposals this year), Zhongguo Haiyang Bao (China Oceans Newspaper), 19 tháng 3 năm 2002.

[16] Pu Yuntong, “Wei Liucheng:Hainansheng ke wei Nanhai nengyuan hezuo duihua tigong pingtai” (Wei Liucheng: Hainan can provide platform for energy cooperation and dialogue in the South China Sea), Xinghua Wang, 22 tháng 4 năm 2005, có thể thấy tại www.cnooc.com.cn/zhy.

[17] Li Mingjiang, “Making a ‘lake’ of South China Sea,” Straits Times, 15 tháng 1 năm 2008.

[18] “Zhonghaiyou lianshou Mei Jia gongsi kaifa Nanhai youtian” (CNOOC collaborated with American and Canadian companies to develop oilfields in SCS), Guoji Shang bao (International Business Newspaper), 13 tháng 12 năm 2005

[19] Alan Boyd, “South China Sea: It’s not all about oil.” Asian Times, 6 tháng 9 năm 2003.

[20] CNOOC, “Woguo zixing sheji jianzao dunwei fushi shengchan chuyouchuan wenshi” (“The largest floating production oil tanker designed and manufactured by China was in place”), 9 tháng 6 năm 2004, có thể xem tại www.cnooc.com.cn.

[21] “Zhongguo shiyue jiang shouci duli kang you” (China would independently conduct oil exploration in deep sea in October), Beijing Chenbao (Beijing Morning Daily), 20 tháng 8 năm 2007.

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Bình luận


Mã bảo mật
Tạo mã mới

Nghiên cứu của Bộ Quốc Phòng Pháp về Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Nghiên cứu của Bộ Quốc Phòng Pháp về Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa có diện tích bề mặt chưa quá 15 km² là mục tiêu theo đuổi của những yêu sách và xung đột gia tăng kể từ những năm 1970. Những lợi ích từ yêu sách hai quần đảo này đối với các quốc gia là gì?

Đọc tiếp...

Leszek Buszynski, Biển Đông: Dầu hỏa, Yêu sách biển và cuộc cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung

Leszek Buszynski, Biển Đông: Dầu hỏa, Yêu sách biển và cuộc cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung

Tham vọng của Trung Quốc tại Biển Đông đang kích thích sự can dự của Mỹ. Những yêu sách chủ quyền, nhu cầu tài nguyên đang khiến cho căng thẳng tại Biển Đông gia tăng và cánh cửa giải quyết triệt để vấn đề trở nên hẹp hơn. Đọc tiếp...

Cửu Long khuấy biển: Trung Quốc làm căng thẳng Biển Đông

Cửu Long khuấy biển: Trung Quốc làm căng thẳng Biển Đông

Việc thiếu sự chỉ đạo nhất quán và phối hợp chặt chẽ về vấn đề Biển Đông trong nội bộ Trung Quốc, thêm vào đó là sự mơ hồ trong chính sách Biển Đông của chính quyền trung ương, các cơ quan, lực lượng liên quan đã lợi dụng điều này nhằm gia tăng lợi ích cục bộ của mình. Tất cả các nhân tố trên là nguyên nhân dẫn đến tình hình căng thẳng tại Biển Đông hiện nay

Đọc tiếp...

Liệu Mỹ có bị cuốn vào một cuộc xung đột vũ trang ở Biển Đông?

Liệu Mỹ có bị cuốn vào một cuộc xung đột vũ trang ở Biển Đông?

Trong bài viết trên trang Hội đồng Quan hệ Đối ngoại (Mỹ), Bonnie Glaser (CSIS) đánh giá rằng khả năng xảy ra xung đột vũ trang ở Biển Đông là hoàn toàn có thể. Tác giả đề cập đến 3 trường hợp Mỹ có thể bị cuốn vào cuộc xung đột đó đồng thời khuyến nghị một số biện pháp ngoại giao phòng ngừa.

Đọc tiếp...

M. Taylor Fravel, Chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông

M. Taylor Fravel, Chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông

Trì hoãn là chiến lược mà Trung Quốc đã sử dụng đối với Biển Đông từ giữa những năm 90 đến nay. Bài viết sẽ đi sâu phân tích vì sao Trung Quốc lại sử dụng chiến lược này và một số kết quả mà Trung Quốc đạt được cũng như tác động như thế nào đối với khu vực

Đọc tiếp...

Trung Quốc có thực sự điều chỉnh chính sách ở Biển Đông?

Trung Quốc có thực sự điều chỉnh chính sách ở Biển Đông?

Gần đây, Trung Quốc dường như đang theo đuổi cách tiếp cận mới ôn hòa hơn trong tranh chấp Biển Đông. Mục tiêu chủ yếu của chính sách thân thiện hơn là nhằm khôi phục hình ảnh của nước này ở Đông Á và ngăn chặn Mỹ thúc đẩy vai trò trong khu vực. Chưa biết cách tiếp cận mới của Bắc Kinh có thể kéo dài hay không, nhưng ít nhất nó cũng thể hiện Trung Quốc có thể điều chỉnh chính sách đối ngoại của họ. 

Đọc tiếp...

Biển Đông: Vùng nước dữ cho việc xây dựng liên minh

Biển Đông: Vùng nước dữ cho việc xây dựng liên minh

Mỹ đang phải đối mặt với những trở ngại tại Biển Đông. Washington cần tiến hành các hoạt động hợp tác biển song phương và với các nhóm nước đặc biệt nhằm xây dựng những mạng lưới liên minh khu vực đủ mạnh để giải quyết các vấn đề an ninh và đảm bảo lợi ích của Mỹ.

Đọc tiếp...

Will Rogers, Vai trò của tài nguyên thiên nhiên ở Biển Đông

Will Rogers, Vai trò của tài nguyên thiên nhiên ở Biển Đông

Nhu cầu về tài nguyên thiên nhiên gia tăng trong bối cảnh nguồn cung suy giảm đang đặt ra những thách thức đối với các nước xung quanh Biển Đông. Điều này sẽ tác động thế nào đến cách ứng xử của họ đối với bên ngoài: gia tăng cạnh tranh hay thúc đẩy hợp tác?. Đọc tiếp...

Peter A. Dutton, Những rạn nứt trong nền tàng toàn cầu: Luật pháp quốc tế và sự bất ổn tại Biển Đông

Peter A. Dutton, Những rạn nứt trong nền tàng toàn cầu: Luật pháp quốc tế và sự bất ổn tại Biển Đông

Trung Quốc đang đòi hỏi lợi ích của mình theo những cách thức có thể đe dọa đến những nguyên tắc nền tảng đang điều phối quan hệ quốc tế. Xu hướng này được minh chứng rõ nét nhất tại Biển Đông. Mỹ cần can dự để Trung Quốc tuân thủ luật pháp quốc tế hiện hành.

Đọc tiếp...

Năng lực "Chống hải quân" gần bờ của Trung Quốc mới là thách thức đối với Mỹ và khu vực

Năng lực

Năng lực hải quân Trung Quốc đang ngày càng phát triển, tuy nhiên tương quan giữa năng lực tác chiến gần bờ và xa bờ của Trung Quốc lại tồn tại khoảng cách khác biệt rất lớn, và sẽ còn một khoảng cách rất dài để theo kịp Mỹ. Giải quyết và hiểu thực sự bản chất của vấn đề này sẽ góp phần tránh xung đột đối đầu quân sự Mỹ - Trung cũng như sự xuất hiện của chủ nghĩa bá quyền.

Đọc tiếp...

Ian Storey, Ngoại giao song phương và đa phương của Trung Quốc ở Biển Đông

Ian Storey, Ngoại giao song phương và đa phương của Trung Quốc ở Biển Đông

Trung Quốc tăng cường nỗ lực ngoại giao vừa trấn an các nước láng giềng, vừa củng cố yêu sách tại  Biển Đông. Mặc dù phương thức song phương là chủ đạo, nhưng tại sao nước này lại đàm phán hai thỏa thuận với ASEAN trong hai thập kỷ qua? Mục tiêu là duy trì nguyên trạng? Đọc tiếp...

M. Taylor Fravel, An ninh ở Biển Đông và cuộc tranh giành các quyền trên biển

M. Taylor Fravel, An ninh ở Biển Đông và cuộc tranh giành các quyền trên biển

Tranh chấp Biển Đông hiện nay có thể dẫn đến sự bất ổn khu vực, thậm chí là xung đột vũ trang, tuy nhiên những cơ hội hợp tác để giảm sự gia tăng căng thẳng vẫn tồn tại. Và về chiến lược lâu dài, Mỹ cần phải có các nỗ lực can dự cân bằng để duy trì ổn định ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Patrick M. Cronin và Robert D. Kaplan, Chiến lược của Mỹ đối với Biển Đông

Patrick M. Cronin và Robert D. Kaplan, Chiến lược của Mỹ đối với  Biển Đông

Lợi ích của Mỹ đang bị đe dọa trước sự trỗi dậy của Trung Quốc. Những luật chơi mà Mỹ đã thiết lập đang có nguy cơ “bị xem xét lại”, điển hình lại tại Biển Đông. Mỹ cần làm gì? Các khuyến nghị đầy đủ của think-tank hàng đầu của Mỹ CNAS.

Đọc tiếp...

Mùa Đông của Biển Đông: Tình hình, cục diện và kế sách cho Trung Quốc

Mùa Đông của Biển Đông: Tình hình, cục diện và kế sách cho Trung Quốc

Loạt bài của các chuyên gia về Biển Đông đăng trên tạp chí “Tri thức thế giới” của Bộ Ngoại giao Trung Quốc: một nửa giang sơn của Trung Quốc là phần bao bọc xung quanh phía Nam nhưng đang ở trong trạng thái của “mùa Đông lạnh giá”? “Trung Quốc cần phải có kế sách đối phó như thế nào?”

Đọc tiếp...

GS. Carlyle A.Thayer, BIỂN ĐÔNG: CÓ CHỈ LÀ CỦA TRUNG QUỐC?

GS. Carlyle A.Thayer, BIỂN ĐÔNG: CÓ CHỈ LÀ CỦA TRUNG QUỐC?

Trung Quốc đã phát tín hiệu phủ nhận UNCLOS bằng việc khẳng định “chủ quyền không thể tranh cãi” đối với Biển Đông, quan điểm của Bắc Kinh đã gây nên xung đột với các quốc gia khác. Để đạt giải pháp công bằng cho tất cả các bên, các nước ASEAN cần liên kết để tìm ra một tiếng nói chung trong cách tiếp cận để giải quyết vấn đề Biển Đông đối với Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Thất bại tại Biển Đông nhưng Trung Quốc vẫn chìm đắm trong giấc mộng

Thất bại tại Biển Đông nhưng Trung Quốc vẫn chìm đắm trong giấc mộng

Về khía cạnh chiến lược, chính sách ngoại giao, quan hệ quốc tế và truyền thông trong vấn đề Biển Đông, Trung Quốc đã hoàn toàn bại trận. Dường như không một quốc gia nào ủng hộ lập trường cũng như lối hành xử của nước này. Bừi viết của Viện trưởng Viện Nghiên cứu Đông Á, Đại học Quốc gia Singapore, Trịnh Vĩnh Niên trên Liên hợp Buổi sáng phân tích về nguyên nhân thất bại cũng như đối sách cho Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông.

Đọc tiếp...

Chính sách Biển Đông của Mỹ trong quan hệ với Trung Quốc

Chính sách Biển Đông của Mỹ trong quan hệ với Trung Quốc

 Báo cáo của Trung tâm An ninh Mới của Mỹ (CNAS) cho rằng các lợi ích của Mỹ đang ngày càng bị đe dọa trước sự lớn mạnh của Trung Quốc, nhất là trước việc nước này sẵn sàng “xem xét lại” các luật chơi đã được thiết lập. Mỹ cần không ngừng quan tâm đến Biển Đông và tăng cường hợp tác. Hợp tác chỉ có thể đạt hiệu quả dựa trên sức mạnh răn đe quân sự của Mỹ.

Đọc tiếp...

Tranh chấp Biển Đông trong quan hệ ASEAN và Trung Quốc: Đa phương và Song phương

Tranh chấp Biển Đông trong quan hệ ASEAN và Trung Quốc: Đa phương và Song phương

Từ việc phân tích tổng hợp các nhân tố dẫn đến căng thẳng và kéo dài trong tranh chấp Biển Đông, TS. Aileen S.P Baviera , Đại học Philippines đề cập đến các giải pháp: song phương, đa phương, hợp tác về an ninh hàng hải nhằm thúc đẩy giải quyết tranh chấp Biển Đông, trong đó tác giả nhấn mạnh đến vai trò tiếp cận đa phương.

Đọc tiếp...

Liệu có thể giải quyết tranh chấp Biển Đông? Những chọn lựa của ASEAN trước một Trung Quốc quyết đoán

Liệu có thể giải quyết tranh chấp Biển Đông? Những chọn lựa của ASEAN trước một Trung Quốc quyết đoán

Bài viết của GS. Leszek Buszynski, Đại học Quốc gia Úc, phân tích nhân tố địa chính trị chiến lược trong tranh chấp Biển Đông. Trước một Trung Quốc ngày một quyết đoán, nếu ASEAN không đoàn kết và đi đến thống nhất lập trường trong tranh chấp thì giải pháp cuối cùng cho Biển Đông rất xa vời.

Đọc tiếp...

Báo cáo đặc biệt của Mỹ về tranh chấp tại Biển Đông và Biển Hoa Đông

Báo cáo đặc biệt của Mỹ về tranh chấp tại Biển Đông và Biển Hoa Đông

Bản báo cáo của của Cục Nghiên cứu Quốc gia về Châu Á (NBR) của Mỹ phân tích, đánh giá những rủi ro ở vùng Biển Đông, biển Hoa Đông và Vịnh Thái Lan; các xu hướng gần đây tại các vùng biển tranh chấp - bao gồm cả tích cực và tiêu cực; các rào cản và cơ hội để thúc đẩy hợp tác. Cuối cùng, báo cáo đề xuất một loạt các kiến nghị chính sách cho các bên liên quan. Bản báo cáo được thực hiện bởi các chuyên gia quốc tế hàng đầu trong lĩnh vực này.

Đọc tiếp...

Trung Quốc: Tọa đàm hẹp về tình hình Biển Đông và lợi ích, chiến lược của Trung Quốc

Trung Quốc: Tọa đàm hẹp về tình hình Biển Đông và lợi ích, chiến lược của Trung Quốc

Tọa đàm tại Bắc Kinh giữa các chuyên gia hàng đầu của Trung Quốc, tập trung phân tích tầm quan trọng của biển đối với sự phát triển của Trung Quốc, những diễn biến gấn đây về tình hình Nam Hải (Biển Đông), đặc biệt là nhân tố Mỹ và ảnh hưởng đến cục diện xung quanh Trung Quốc. Các học giả cũng đưa ra các kiến nghị chính sách cho Chính phủ Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông. Đọc tiếp...

Trung Quốc có thể bảo vệ được "lợi ích cốt lõi" tại Biển Đông hay không?

Trung Quốc có thể bảo vệ được

Đặt giả thuyết rằng Trung Quốc thực sự coi Biển Đông là “lợi ích cốt lõi”, bài viết của Toshi Yoshihara James R. Holmes, Đại học Hải chiến Mỹ, phân tích khả năng thành công của Trung Quốc trong việc bảo vệ “lợi ích cốt lõi” của mình tại Biển Đông. Khía cạnh mà tác giả tập trung phân tích chủ yếu nhằm vào năng lực quốc phòng của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA).

Đọc tiếp...

ASEAN và tranh chấp Biển Đông

ASEAN và tranh chấp Biển Đông

Bài viết của GS. Baldas Ghoshal, Thành viên danh dự của Viện Nghiên cứu Hòa bình và Xung đột (Ấn Độ), nhìn vào cách tiếp cận của ASEAN đối với tranh chấp Biển Đông, kiểm định tính hiệu quả của ASEAN trong việc đối phó với các yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc, bên tranh chấp chính, và đánh giá triển vọng xoa dịu căng thẳng trong khu vực bằng những khuôn khổ pháp lý hiện hành. Đọc tiếp...

Tuyên bố Hà Nội của Clinton về Biển Đông: Khởi nguồn chiến lược kiềm chế Trung Quốc của Mỹ?

Tuyên bố Hà Nội của Clinton về Biển Đông:  Khởi nguồn chiến lược kiềm chế Trung Quốc của Mỹ?

Bài viết của TS. Renato Cruz De Castro (Philippines) nghiên cứu ngụ ý chính sách dài hạn của Mỹ trong Tuyên bố Hà Nội ngày 24/7/2010 của Ngoại trưởng Mỹ Hilary Clinton về tranh chấp Biển Đông, đó là chính sách kiềm chế (constrainment ) đối với một Trung Quốc đang ngày càng quyết đoán trong vấn đề tranh chấp lãnh thổ. Bài viết cũng đưa ra những thách thức về khả năng thành công của với chính sách này.

Đọc tiếp...

Đánh giá hiệu quả các khuôn khổ và cơ chế về an ninh biển trên Biển Đông hiện nay

Đánh giá hiệu quả các khuôn khổ và cơ chế về an ninh biển trên Biển Đông hiện nay

Trong bối cảnh tình hình Biển Đông căng thẳng, bài nghiên cứu của GS. Peter Dutton, Viện nghiên cứu Biển Trung Quốc, Học viện Hải quân Mỹ, đánh giá vai trò của các khuôn khổ và cơ chế an ninh biển hiện tại như Công ước luật biển 1982 hay Tuyên bố ứng xử 2002 trong việc duy trì hoà bình và thúc đẩy phát triển ở khu vực. Bài viết cũng đưa ra một số kiến nghị nhằm xây dựng lòng tin và đề ra tiến trình hướng tới sự ổn định lâu dài.

Đọc tiếp...

Vai trò của Nhật Bản trong vấn đề Biển Đông

Vai trò của Nhật Bản trong vấn đề Biển Đông

Bài viết của tác giả Trang Ngọc Hoa, đăng trên trang trang mạng “Viện Nghiên cứu các Vấn đề Quốc tế Trung Quốc – China Institute of International studies” đã nêu ra một số đánh giá và phân tích của phía Trung Quốc về lợi ích, vai trò và chính sách của Nhật Bản trong vấn đề Biển Đông. Đọc tiếp...

Địa chính trị, Hải quân và Chiến lược ở Biển Đông

Địa chính trị, Hải quân và Chiến lược ở Biển Đông

Bài nghiên cứu của hai học giả Trung tâm Tài nguyên và An ninh Đại dương Quốc gia Úc, Đại học  New South Wales, Úc phân tích ba lĩnh vực trong vấn đề Biển Đông: địa chính trị, phát triển hải quân và chiến lược.  Trong đó nghiên cứu cụ thể  về việc Trung Quốc phản đối các hoạt động quân sự ở vùng đặc quyền kinh tế nhằm thể hiện quyết tâm tăng cường vị thế chiến lược tại Biển Đông.

Đọc tiếp...

Những sự việc căng thẳng trên Biển Đông gần đây: Đã đến lúc cần Bộ quy tắc ứng xử?

Những sự việc căng thẳng trên Biển Đông gần đây: Đã đến lúc cần Bộ quy tắc ứng xử?

Bàn về những sự việc căng thẳng trên Biển Đông thời gian gần đây, học giả Aileen S.P.Baviera vừa có bài viết đăng trên RSIS Commentaries No. 91/2011 ngày 14/6, nhan đề China and the South China Sea: Time for Code of Conduct?; hoặc trên The Manila Times.Tác giả đã nêu diễn biến những vụ việc đáng quan ngại xảy ra trên Biển Đông xuất phát từ động thái của Trung Quốc, khẳng định bản chất vô lý của Trung Quốc trên Biển Đông, nhấn mạnh yêu cầu cần có COC trong bối cảnh hiện nay và kiến nghị thái độ của các bên liên quan nhằm hướng tới mục tiêu giải quyết hòa bình tranh chấp trên Biển Đông. 

Đọc tiếp...

Ngoại giao ống dẫn dầu của Trung Quốc: Mối đe dọa của những xung đột cường độ thấp

Ngoại giao ống dẫn dầu của Trung Quốc: Mối đe dọa của những xung đột cường độ thấp

Bài viết của TS. Emmanuel Karagiannis, Đại học Macedonia nêu những thuận lợi và khó khăn trong chiến lược xây dựng và duy trì những đường dẫn dầu xuyên quốc gia của Trung Quốc tại khu vực Trung và Đông Nam Á. Bài viết được in trong Series đặc biệt của tạp chí Harvard Asia Quarterly của Trường Đại học Havard với chủ đề "Tranh chấp biển- An ninh hàng hải tại Đông Á", (The Disputed Sea – Maritime Security in East Asia) tháng 12/2010.

Đọc tiếp...

Đối tượng tranh chấp trên Biển Đông: đảo hay đá?

Đối tượng tranh chấp trên Biển Đông: đảo hay đá?

Mạng bình luận trường RSIS Singapore đăng bài phân tích “Islands or Rocks? Evolving Dispute in South China Sea” của Robert Beckman, Giám đốc Trung tâm Luật Quốc tế, giáo sư tại Khoa Luật Đại học Quốc gia Singapore. Tác giả cho rằng cuộc tranh cãi về quyền khai thác tài nguyên quanh quần đảo Trường Sa đã biến thành một cuộc tranh cãi về mặt quy chế pháp lý của các đảo, đá.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

         

CHUYÊN ĐỀ ĐẶC BIỆT

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 3801 khách và 1 thành viên Trực tuyến

Đăng nhập



Bản đồ - Hình ảnh

HỘI THẢO QUỐC TẾ LẦN 3