27 - 9 - 2020 | 8:46
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI Đông Nam Á và tranh chấp Biển Đông (Phần I)

Đông Nam Á và tranh chấp Biển Đông (Phần I)

Email In PDF.

Các quốc gia Đông Nam Á đã phô bày những điểm đồng thuận và bất đồng trong lập trường của họ về tranh chấp Biển Đông. Trong một vài trường hợp, họ đã đoàn kết và đưa ra một tiếng nói chung. Vào những thời điểm khác, tinh thần đoàn kết giữa các quốc gia thuộc ASEAN lại bị vỡ vụn. NCBĐ giới thiệu bài viết của học giả Úc Christopher Chung phân tích về các nhân tố ảnh hưởng đến tính đoàn kết hay phân tán của các nước ASEAN trong vấn đề Biển Đông qua các trường hợp điển hình (case study) trong lịch sử.


Giới thiệu chung

Ngày 4 tháng 11 năm 2002, Bộ trưởng ngoại giao các nước trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Thứ trưởng ngoại giao Trung Quốc đã ký Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông. Việc này dường như đã mở ra một kỷ nguyên mới trong quan hệ giữa hai bên liên quan đến tranh chấp biển Đông. Bộ trưởng ngoại giao Philippines, Blas Ople, cho rằng tuyên bố này tạo nên “một nền tảng vững chắc cho các cuộc đàm phán trong tương lai với Trung Quốc và các đối tác ASEAN khác của chúng tôi về vấn đề an ninh lãnh thổ và hàng hải”.[1] Trong khi đó, Thứ trưởng ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị khẳng định rằng điều này đã cho thế giới thấy được một dấu hiệu tích cực trong việc Trung Quốc và ASEAN hoàn toàn có khả năng giải quyết tranh chấp giữa họ với nhau một cách hòa bình thông qua đối thoại”[2] và đó cũng là “dấu hiệu có thể dẫn tới những mối quan hệ mới giữa ASEAN và Trung Quốc”.[3]

Tuyên bố này là một bước chuyển biến thực tế nhằm gác lại tranh chấp biển Đông trong khi ưu tiên phát triển quan hệ kinh tế giữa ASEAN và Trung Quốc.[4] Điều này được khẳng định bằng việc ASEAN và Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ký với nhau Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện nhằm thiết lập một khu vực mậu dịch tự do ngay sau ngày Tuyên bố trên được ký kết. Các con số cũng đã nói lên điều đó. Năm 2000 mậu dịch giữa Trung Quốc và ASEAN là 39.5 tỷ đô-la. Con số này ước tính sẽ tăng lên đến 190 tỷ đô-la vào năm 2007, trong khi đó tổng đầu tư hai chiều là hơn 45 tỷ đô. Hai bên hiện đã trở thành đối tác thương mại lớn thứ tư của nhau.[5] Nếu được thành lập, khu vực hợp tác kinh tế Vịnh Bắc Bộ mở rộng hay biển Đông mở rộng sẽ thúc đẩy hơn nữa mối quan hệ này.[6] Về mặt chính trị, ASEAN và Trung Quốc cũng đã xích lại gần nhau hơn. Với việc thực hiện thành công “chính sách vùng ngoại vi” nhằm hỗ trợ hiện đại hóa kinh tế và các mục tiêu an ninh quốc gia, đầu những năm 90 Trung Quốc đã bắt đầu mở hay nối lại quan hệ ngoại giao với tất cả các nước thành viên ASEAN.[7] Điều này đã tạo nền tảng cho việc xây dựng lòng tin và và sự tin cậy lẫn nhau và cũng là một phản đề của thuyết “mối đe dọa Trung Quốc”.[8] Từ tháng 7 năm 1996 Trung Quốc trở thành một đối tác đối thoại đầy đủ của ASEAN và cuộc gặp mặt thượng đỉnh hàng năm đã được tổ chức từ năm 1997 – năm mà tuyên bố chung định hướng quan hệ giữa hai bên được ký kết. Năm 2003 Trung Quốc ký Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác của ASEAN – văn bản ràng buộc các nước ký kết phải giải quyết tranh chấp giữa họ bằng biện pháp hòa bình. Điều này đặc biệt liên quan đến bốn quốc gia Đông Nam Á trực tiếp dính dáng đến tranh chấp biển Đông này: Brunei, Malaysia, Philippines và Việt Nam.[9] Indonesia và Canada đã bảo trợ một loạt các cuộc họp rất hữu ích trong khuôn khổ Hội nghị không chính thức về quản lý xung đột tiềm tàng ở biển Đông, giúp cho các nước yêu sách hiểu rõ hơn cơ hội cũng như lợi ích từ sự hợp tác thiết thực.[10]

Đặt trong bối cảnh đó, chương này sẽ xem xét quan điểm của các nước Đông Nam Á đối với tranh chấp biển Đông. Lập luận ở đây là các quốc gia này tùy lúc và tùy vấn đề đã đoàn kết hoặc chia rẽ với lập trường quan điểm không loại trừ nhau. Có lúc các thành viên ASEAN có chung một tiếng nói về sự phát triển trong khu vực biển Đông. Lúc khác, hoạt động của các thành viên riêng biệt hoặc sự bất động của cả hiệp hội nói chung đã làm cho sự đoàn kết này gần như vỡ vụn. Cũng có những lúc các nước này vừa nhất trí với nhau, lại vừa bất hòa với nhau, đứng về cùng phía nhau và tách ra riêng biệt về cùng một vấn đề.

Các lập trường về tranh chấp biển Đông

Đoàn kết

Từ năm 1992 đến năm 1998, Trung Quốc đã ban hành một thể chế pháp lý biển khá toàn diện, mà nhiều phần trong đó như một chất xúc tác đưa các quốc gia ASEAN xích lại gần nhau hơn trong việc phản đối hiệu lực của chúng. Năm 1992, Trung Quốc công bố Luật về Lãnh hải và các vùng tiếp giáp của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Phạm vi địa lý của đạo luật này bao gồm Đài Loan, các đảo Diaoyutai/Senkaku (Trung Quốc gọi là Điếu Ngư Đài – nd), Penghu (Bành Hồ), Đông Sa (Pratas), Trường Sa và Hoàng Sa.[11] Việc công bố này đã dấy lên sự phản đối không những từ Nhật Bản do có liên quan đến các đảo ở Senkaku mà còn từ nhiều quốc gia Đông Nam Á khác. Trong khi Malaysia yêu cầu giải thích chính thức và hàm ý của đạo luật này thì Việt Nam đã gửi công hàm phản đối bí mật đến Bắc Kinh ở cả cấp Đảng và chính phủ.[12] Philippines và Indonesia cũng đã gửi bản kháng nghị qua đường ngoại giao.

Ở cấp độ khu vực, bộ trưởng ngoại giao các nước ASEAN đã thể hiện mối quan tâm sâu sắc của mình bằng việc thông qua Tuyên bố về biển Đông trong cuộc họp của họ ngày 22 tháng 7 năm 1992 tại Manila (hay còn gọi là Tuyên bố Manila).[13] Tuyên bố này bao gồm 5 yếu tố. Thứ nhất, nó nhấn mạnh sự cần thiết của việc giải quyết tất cả các vấn đề về chủ quyền và thẩm quyền liên quan đến biển Đông bằng biện pháp hòa bình. Thứ hai, tất cả các bên phải thận trọng và kiềm chế để tạo nên một “bầu không khí tích cực” cho việc giải quyết mọi tranh chấp. Thứ ba, trong khi không thành kiến về các vấn đề chủ quyền và thẩm quyền, các bên phải cố gắng đạt được sự hợp tác có thể ở biển Đông liên quan đến an toàn giao thông hàng hải và thông tin liên lạc, bảo vệ chống lại ô nhiễm môi trường biển, phối hợp các hoạt động tìm kiếm và cứu nạn, chống cướp biển, cướp bóc vũ trang và buôn bán trái phép các chất ma túy. Bốn, các quốc gia sẽ áp dụng các quy định của Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác của khối ASEAN như là cơ sở cho việc thiết lập một bộ qui tắc ứng xử trên biển Đông. Cuối cùng, các quốc gia đều được mời tham gia vào bản tuyên bố này. Tuyên bố Manila, được ký bởi bộ trưởng ngoại giao các nước Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan, là bản tuyên bố liên chính phủ đầu tiên nhằm đẩy mạnh việc thiết lập một bộ qui tắc ứng xử trên Biển Đông.

Việt Nam đã thông qua tuyên bố mặc dù vào thời điểm đó Việt Nam chưa là thành viên của khối ASEAN.[14] Trong khi đó, Trung Quốc không đồng tình với bản Tuyên bố này. Mặc dù vậy, Trung Quốc vẫn gián tiếp tham gia tuyên bố thông qua việc Phong trào không liên kết tán thành văn kiện này tại hội nghị thượng  đỉnh  họp tại Jakarta vào tháng 9 năm 1992.[15] Một nhà bình luận đã lưu ý:

Trung Quốc hiển nhiên đã không đồng ý với tất cả các điều khoản trong bản Tuyên bố. Họ cho rằng khu vực Biển Đông đặc biệt là đảo Pratas và Hoàng Sa không dính dáng đến ASEAN. Họ cũng bày tỏ mối quan ngại rằng Tuyên bố chính thức có thể sẽ là một tiền lệ cho những cuộc thảo luận tiếp theo về vấn đề thẩm quyền và chủ quyền, điều mà Trung Quốc không tán thành vì Trung Quốc sẽ phải thỏa hiệp yêu sách của mình đối với toàn bộ khu vực Trường Sa.[16]

Tháng 7 năm 1993, hội nghị Bộ trưởng ngoại giao các quốc gia ASEAN đã thúc giục “các bên liên quan trực tiếp tán thành các nguyên tắc trong Tuyên bố”,[17] ngầm ám chỉ Trung Quốc. Trung Quốc đã phớt lờ sự thúc giục đó.

Vào ngày 15 tháng 5 năm 1996 Trung Quốc tuyên bố  đường cơ sở lãnh hải của mình, bao gồm một phần thuộc lãnh hải gần đại lục và gần quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa).[18] Trong quần đảo Hoàng Sa, Trung Quốc đã liệt kê 28 điểm cơ sở có tác dụng khoanh vùng khu vực này.[19] Những đường cơ sở còn lại của lãnh hải sẽ được tuyên bố ‘vào một thời điểm khác’.20]

Một vài nước Đông Nam Á đã bày tỏ sự quan ngại của họ đối với tuyên bố về đường cơ sở của Trung Quốc. Bộ trưởng ngoại giao Malaysia Abdullah Ahmad Badawi nhấn mạnh trong bài diễn văn khai mạc Hội nghị sau bộ trưởng ASEAN – Trung Quốc vào tháng 7 năm 1996 rằng “Tuyên bố về đường cơ sở của Trung Quốc vào ngày 15 tháng 5 năm 1996 đã dấy lên nhiều nghi vấn trong cộng đồng ASEAN. Chúng tôi hy vọng sẽ nhận  được lời giải thích nào đó từ phía Trung Quốc về tuyên bố này cũng như ý nghĩa của nó.”[21] Bộ trưởng ngoại giao Trung Quốc Tiền Kỳ Tham và cũng là trưởng đoàn đại biểu đến dự cuộc họp đã đưa ra một lời giải thích không rõ ràng: “Phát triển mối quan hệ lâu dài, láng giềng hữu  nghị với khối ASEAN là một nhân tố quan trọng trong chính sách ngoại giao của Trung Quốc” và “cả Trung Quốc và ASEAN đều đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm một môi trường hòa bình và ổn định trong khu vực và đang có những nỗ lực cụ thể để duy trì và phát triển nó.”[22]

Philippines, Singapore và Việt Nam cũng lên tiếng bày tỏ mối quan ngại  của họ đối với tuyên bố về đường cơ sở của Trung Quốc. Về phía Manila, họ cho rằng việc “rào lại” Hoàng Sa sẽ gây mất ổn định trong khu vực, đi ngược lại với tinh thần hợp tác trên biển Đông, và chẳng giúp gì cho việc giải quyết các tranh chấp ở đó.[23] Lo ngại của Singapore liên quan đến việc Trung Quốc tuyên bố đường cơ sở của quần đảo Hoàng Sa là vi phạm các điều khoản trong Công ước luật biển của Liên Hợp Quốc năm 1982 và những tác động của nó đối với tự do hàng hải nếu phương pháp tương tự được sử dụng trên quần đảo Trường Sa.[24] Trong công hàm không chính thức do Phái đoàn thường thực trình lên Liên Hợp Quốc, Việt Nam cho rằng việc thiết lập đường cơ sở xác định lãnh hải ở Hoàng Sa vi phạm nghiêm trọng đến chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo”, và tuyên bố hành động đó của Trung Quốc hoàn toàn không có hiệu lực và giá trị nào cả.[25] Thêm vào đó, Hà Nội còn nhấn mạnh rằng, trái lại với Công ước luật biển của Liên Hợp Quốc năm 1982, Trung Quốc đã coi Trường Sa là một quần đảo và sát nhập một cách bất hợp pháp một phần biển đáng kể vào nội thủy của mình.[26]

Càng có thêm nhiều vấn đề nổi lên sau khi Trung Quốc tuyên bố đạo luật về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa vào tháng 6 năm 1998.[27] Điều 14 ghi nhận rằng các điều khoản này không hề ảnh hưởng tới “các quyền lịch sử” của Trung Quốc. Một số nhà bình luận đã dùng cụm từ này để ám chỉ những yêu sách của Trung Quốc trên biển Đông. Đặc biệt là những đặc điểm về địa lý và có thể là các vùng nước trong đường lưỡi bò đã xuất hiện trên bản đồ Trung Quốc từ năm 1947.[28] Ý nghĩa chính xác của cụm từ này trong đạo luật còn chưa rõ ràng.

Việt Nam đã đệ trình công hàm lên Liên Hợp Quốc vào 6/8/1998 kháng nghị đạo luật này về hai điểm. Thứ nhất, một lần nữa khẳng định rằng việc vạch đường cơ sở xác định chiều rộng lãnh hải xung quanh quần đảo Hoàng Sa đã vi phạm chủ quyền của Việt Nam tại vùng đó và hoàn toàn trái với luật quốc tế. Thứ hai, Việt Nam không công nhận các “quyền lợi lịch sử” mà trái với luật quốc tế và xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và các lợi ích chính đáng trong lãnh hải và thềm lục địa của của Việt Nam trên biển Đông.[29]

Philippines cũng chống lại  đạo luật trên. Sự phản đối của Philippines không chỉ liên quan đến việc xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của nước này trong khu quần đảo Kalayaan mà còn liên quan đến việc thiếu một đường phân định ranh giới vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc. Thêm vào đó, Manila còn lo ngại rằng điều 14 của đạo luật này liên quan đến các quyền lịch sử là một nỗ lực của Trung Quốc  nhằm “ngầm nhấn mạnh” yêu sách của họ trên quần đảo Trường Sa.[30]

Minh chứng thứ 2 về việc đoàn kết cùng nhau liên quan đến động thái năm 1995 của Trung Quốc tại Đá Vành Khăn. Vào tháng 2 năm đó, Phillippine đã công khai tuyên bố họ đã phát hiện những tòa nhà được xây dựng bởi Trung Quốc trên dải đá ngầm đó.[31] Một trồi đá tọa cách Palawan 135 hải lý về phía tây, dải đá nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và trên vùng thềm lục địa mà Phillippines đã tuyên bố là của mình.[32] Trung Quốc, Đài Loan và Việt Nam cũng yêu sách dải đá này.

Hành động của Trung Quốc là dấu hiệu cho động thái đầu tiên chống lại một quốc gia thành viên trong ASEAN[33] và từ bỏ cách làm trước kia là nhắm vào những điểm mà Việt Nam yêu sách ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trung Quốc đã bào chữa cho việc xây dựng này bằng cách tuyên bố những công trình trên chỉ là chỗ trú chân cho ngư dân,[34] và Philippines đã phủ nhận ngay điều này. Do lực lượng không quân, hải quân và điều kiện kinh tế của Philippine còn yếu, rất khó để tăng sức ép đối với Trung Quốc để dỡ bỏ những công trình đó. Lo ngại về một cuộc đối đầu quân sự có nghĩa là Philippines đã không nỗ lực trục xuất Trung Quốc ra khỏi đá Vành Khăn.[35]

Ngoại giao là lựa chọn thực tế duy nhất đối với Philippines lúc này, tập trung vào cách tiếp cận 3 hướng: i) đối thoại song phương với Trung Quốc bao gồm một bộ ‘quy tắc ứng xử’ được ký kết vào tháng 8 năm 1995, ii) vươn ra tầm khu vực trong khuôn khổ ASEAN và diễn đàn khu vực ASEAN và iii) vượt ra ngoài tầm khu vực bằng cách tham vấn Mỹ và Nhật Bản, Hội nghị Á – Âu, Hội nghị liên minh liên nghị viện và Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Kofi Annan.[36]

Philippines đã thành công trong việc dành được sự ủng hộ của ASEAN để lên án hành động của Trung Quốc tại Đá Vành Khăn. Vào ngày 18 tháng 3 năm 1995 các bộ trưởng ngoại giao của các nước ASEAN đã ra một tuyên bố bày tỏ mối quan ngại của mình đối với những diễn biến trên biển Đông và thúc giục tất cả các quốc gia liên quan tán thành nội dung cũng như tinh thần của Tuyên bố Manila năm 1992.[37] Các bộ trưởng kêu gọi tất cả các bên kiềm chế các hành động có nguy cơ chia rẽ khu vực và đe dọa đến hòa bình an ninh Biển Đông. Họ cũng kêu gọi ‘một phương án kịp thời để giải quyết vấn đề do những diễn biến gần đây trên Đá Vành Khăn gây ra và hối thúc các quốc gia trong khu vực tiến hành các hoạt động mang tính hợp tác để xây dựng lòng tin và ổn định trong khu vực.[38] Mặc dù Trung Quốc không được nêu tên trong tuyên bố trên nhưng rõ ràng Trung Quốc chính là đối tượng mà tuyên bố nhắm đến. Lập trường đoàn kết của ASEAN được thể hiện một lần nữa trong buổi khai mạc cuộc họp ASEAN- Trung Quốc tại Hàng Châu vào tháng 4 năm 1995. Phillipines đặc biệt đánh giá cao hành động thiện ý này và gửi đến Trung Quốc một thông điệp rõ ràng rằng ASEAN đang lên tiếng với cùng một tiếng nói về vấn đề này.[39]

Vào tháng 8 năm 1995, Philippines thúc đẩy để tiến tới thảo luận về tranh chấp này tại phiên họp thứ 2 của Diễn đàn khu vực ASEAN tại Brunei. Vì không muốn chọc giận Trung Quốc trong giai đoạn khởi động của diễn đàn nên việc Philippines đề xuất ban hành một bộ luật về cách hành xử trên biển Đông đã nhận được rất ít sự ủng hộ.[40] Trước khi diễn ra phiên họp, ông Tiền Kỳ Tham, Bộ trưởng ngoại giao Trung Quốc đã đưa ra một số tuyên bố tích cực: Trung Quốc sẵn sàng bàn bạc về tranh chấp biển Đông trên diễn đàn đa phương, sẵn sàng giải quyết các tranh chấp lãnh thổ theo Công ước luật biển năm 1982, sẵn sàng dừng tất cả việc xây dựng các công trình và xuất bản một văn kiện về chính sách bảo vệ quốc gia của mình.[41] Một nhà bình luận cho rằng những tuyên bố của ông Tiền nhằm không dấy lên sự đối đầu của ASEAN trong thời gian mối quan hệ Mỹ - Trung đang ngày càng xấu đi và đáp lại lập trường đoàn kết của các thành viên ASEAN tại cuộc họp tại Hàng Châu tháng 4 năm 1995.[42]

Phản ứng của Singapore về Trung Quốc chiếm đóng Đá Vành Khăn rất thú vị. Tuy vốn là một người ủng hộ mạnh mẽ sự can dự gần gũi hơn với Trung Quốc, thủ tướng Goh Chok Tong cũng bày tỏ mối quan ngại của Singapore về sự việc Đá Vành Khăn trong suốt cuộc họp với thủ tướng Lý Bằng tại Bắc Kinh vào tháng 5 năm 1995.[43] Theo như đưa tin, ông Goh đã chỉ ra rằng hành động của Trung Quốc có một ảnh hưởng tiêu cực đến ổn định và tự do hàng hải trong khu vực. Sự can thiệp này ‘đã gửi một tín hiệu rõ ràng đến lãnh đạo Trung Quốc rằng Singapore đang đứng về phía các nước ASEAN trong vấn đề này và mối quan hệ của Singapore với khối ASEAN đã vượt lên trên cả mối quan hệ của nước này với Trung Quốc.’[44]

Chia rẽ

Ngược lại với thời kỳ đoàn kết về vấn đề tranh chấp Biển Đông, sự rạn nứt giữa các thành viên ASEAN cũng đã bắt đầu hiện rõ. Hai trường hợp được xem xét ở đây là việc tăng cường sự hiện diện của Trung Quốc trên Đá Vành Khăn vào năm 1998 và động thái của Malaysia tại Bãi Thám Hiểm  (Investigator Shoal) và Đá  En ca (Erica Reef)    

Vào tháng 10 năm 1998, Philippines đã nhận thấy rằng Trung Quốc đang củng cố sự hiện diện của họ tại Đá Vành Khăn bằng việc xây dựng khung cho hai công trình bê tông bên cạnh hai công trình hiện có.[45] Một toà nhà 3 tầng cùng với một bãi đáp cho máy bay trực thăng về sau cũng đã lần lượt được xây dựng, mở rộng quy mô, chức năng và khả năng của kết cấu dải đá ngầm. Việc xây dựng hoàn thành vào tháng 1 năm 1999.  Mặc dù Philippines phản đối hành động này vì nó đã vi phạm bản ký kết song phương về qui tắc ứng xử vào năm 1995 nhưng Trung Quốc vẫn phủ nhận hành động trên và khăng khăng rằng công việc đó được tiến hành chỉ để tu sửa nơi trú ngụ cho các ngư dân. Trung Quốc đã biện hộ rằng họ đã thông báo trước cho Đại Sứ Quán Philippine tại Bắc Kinh về công việc sắp tới đó.[46] Trung Quốc cũng đã cố gắng mô tả việc xây dựng năm 1998 như một công việc do chính quyền địa phương chứ không phải trung ương cho phép.[47] Theo Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Orlando Mercado, diễn biến mới này là “triển khai xa nhất của sức mạnh Trung Quốc và là con dao găm đâm thẳng vào điểm yếu của chúng ta”.[48]    

Lợi ích của ASEAN trong tranh chấp Biển Đông không được chú trọng trong thời gian tranh chấp Đá Vành Khăn lần thứ hai. Khác với năm 1995, ASEAN chỉ đưa ra duy nhất một lời khiển trách nhẹ đối với hành động mới nhất của Trung Quốc. Tuyên bố Hà Nội được thông qua tại Hội Nghị Thượng Đỉnh ASEAN lần thứ 6 được tổ chức vào ngày 15-16 tháng 12 năm 1998 đã chứa đựng một ám chỉ gián tiếp đến vấn đề này, kêu gọi “tất cả các bên liên quan  kiềm chế và tránh những hành động có thể làm tổn hại tới hoà bình, an ninh và ổn định của khu vực Đông Nam Á và Châu Á-Thái Bình Dương.[49]    

Một lý giải cho phản ứng im lặng này là các thách thức mà ASEAN phải đối mặt vào thời điểm đó: việc kết nạp các nước Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam làm thành viên ASEAN và cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á. Tổng Thư Ký ASEAN Rodolfo Sverino đã lưu ý rằng: ‘chúng ta đang có những vấn đề lớn hơn để giải quyết, đặc biệt là vấn đề kinh tế”.[50] Quyết định không phá giá đồng Nhân dân tệ của Trung Quốc đã ngăn chặn vòng xoáy tình trạng mất giá đồng tiền của các nền kinh tế trong khu vực, đồng thời cũng làm giảm đi những lời chỉ trích về hành động của Trung Quốc trên Đá Vành Khăn.

Thứ trưởng Ngoại Giao Philippine Laruo Baja đã mô tả cảm giác cô lập này trong một bài diễn văn tại Câu Lạc Bộ Rotary ở Manila vào tháng 4 năm 1999:

Chúng ta đã bị bỏ rơi trong vụ việc đá Vành Khăn. Những nước khác nói rằng trong khi họ hiểu và  thông cảm với hoàn cảnh của chúng ta, vấn đề ở đây chỉ là mâu thuẫn song phương giữa Philippines và Trung Quốc. Thậm chí một số nước ASEAN bằng hữu của chúng ta đã im lặng, rụt rè hoặc không thể vượt qua khỏi những nguyên tắc chung về giải quyết hòa bình các tranh chấp và những câu nói lịch sự xã giao đưa ra tại hành lang các cuộc họp. Có thể hiểu được rằng, họ đều phải theo đuổi chương trình nghị sự riêng của nước mình.[51]

Việc Philippines bị ASEAN bỏ mặc như “một đứa trẻ mồ côi”[52] trái ngược hoàn toàn với sự đoàn kết mà các thành viên đã thể hiện trong tranh chấp Đá Vành Khăn lần thứ nhất. Một nhà bình luận Philippines cho rằng ‘sự hiện diện của Trung Quốc trên Đá Vành Khăn như một lời nhắc nhở và cảnh báo Philippines không nên buông lỏng sự đề phòng, cảnh giác về sự xâm lấn của Trung Quốc.[53]

Trường hợp thứ hai thể hiện sự rạn nứt giữa các thành viên ASEAN liên quan tới phản ứng về sự chiếm đóng và xây dựng của Malaysia trên Đá En ca và Bãi Thám Hiểm vào giữa năm 1999. Đây là lần đầu tiên một thành viên ASEAN có hành động chống lại yêu sách của những nước khác ở Biển Đông, trong trường hợp này là Philippines và Việt Nam. Trung Quốc và Đài Loan cũng yêu sách các bãi đá này.

Sự chiếm đóng của Malaysia là một sự tiếp tục của cách tiếp cận chặn trước bắt đầu từ đầu những năm 1980 với việc chiếm đóng Đá Hoa Lau (Swallow Reef). Bãi Thám Hiểm cách Palawan khoảng 460 km, và cách Kota Kinabalu xấp xỉ 250km. Nó chỉ cách điểm chiếm đóng xa nhất và chủ yếu nhất  của Malaysia tại Trường Sa là Đá Hoa Lau 80 km.[54] Đá En ca nằm ở phía Tây của Bãi Thám Hiểm và cách thành phố Peurto Princesa của Philippines khoảng 525 km.

Tháng 3 năm 1998 quân đội Philippines đã quan sát và thấy một công trình trông giống như một cái nền ở Bãi Thám Hiểm và một tàu chiến neo đậu ở gần đó.[55] Philippines đã không đưa ra một bản kháng nghị chính thức nào sau khi nhận được tuyên bố từ Bộ Trưởng Ngoại Giao Malaysia Abdullah Badawi rằng hành động này không được Kuala Lumpur cho phép. Tháng 6 năm 1999, một toà nhà 2 tầng, một sân bay dành cho máy bay lên thẳng, một cầu tàu và ăng-ten sóng ra-đa đã thay thế công trình cơ bản. Trung Quốc, Đài Loan và Việt Nam đều phản đối hành động này của Malaysia nhưng nước này dưòng như đã phớt lờ những phản đối đó. Philipppine cảm thấy như bị lừa gạt bởi những gì ngài Badawi đã cam đoan hồi đầu năm. Ngày 24 tháng 6, Philippines đã đưa ra một bản kháng nghị ngoại giao bày tỏ rằng không chỉ Bãi Thám Hiểm thuộc lãnh thổ Philippine và nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của nước này mà Malaysia đã đi ngược lại Bản Tuyên Bố Manila năm 1992 và những hiệp định sau đó của ASEAN nhằm giảm bớt căng thẳng ở khu vực Biển Đông.[56] Theo đó, Malaysia bị yêu cầu xem xét lại hành động của mình trên tinh thầm đoàn kết, hợp tác ASEAN và vì lợi ích của hoà bình và sự ổn định của khu vực.[57]      

Để bào chữa cho hành động đã rồi của Malaysia, ngày 27 tháng 6, Thủ Tướng Mahathir đã nhận định rằng: “chúng tôi đã xây dựng trên đúng khu vực của mình và không nằm ngoài khu vực đó nhằm phục vụ cho những nghiên cứu về khí hậu và đời sống ở biển cũng như ngăn chặn sự va chạm tàu thuyền”.[58] Ngoại Trưởng Syed Hamid Albar cũng bày tỏ sự đồng tình “thông điệp của chúng tôi rất rõ ràng. Chúng tôi không làm bất cứ một hành động gì ngoài việc có mặt trên khu vực mà chúng tôi coi là lãnh thổ của mình. Vì vậy, nếu Philippines phản đối lại sự thật rằng chúng tôi đang ở trên thềm lục địa của chúng tôi, chúng tôi sẽ có lời giải thích.”[59]    

Gần như là ăn miếng trả miếng, Tổng thống Joseph Estrada tuyên bố rằng Philippines cũng sẽ xây dựng trên những đảo mà nước này đòi yêu sách. Như ông nói, “nếu họ đã và đang xây dựng những công trình, chúng ta cũng sẽ xây những công trình của chính chúng ta. Do đó, chúng ta sẽ có một giải pháp tương tự về vấn đề này. Chúng ta sẽ không cho phép mình bị lợi dụng.[60] Tuyên bố của ngài Estrada đã tạo nên một sự không thống nhất giữa Bộ Ngoại Giao và Bộ Quốc Phòng trong việc đáp lại hành động của Malaysia. Trong khi ngài Estrada ủng hộ đề xuất của Bộ trưởng Quốc Phòng Orlando Mercado về việc Manila xây dựng công trình trên những hòn đảo mà nước này yêu sách thì Bộ trưởng Bộ Ngoại Giao Domingo Siazon lại phản đối đề xuất này.[61] Ông Siazon lập luận rằng động thái đó có thể làm phức tạp thêm vấn đề vốn đã rất nhạy cảm này và có thể làm xói mòn nền tảng đạo đức của Philippines trong tranh chấp biển Đông trên vũ đài quốc tế.[62] Cuối cùng quan điểm của Siazon cũng chiếm được ưu thế. Hai ông Mercado và Siazon trước đó đã có những kết luận khác nhau về việc liệu Trung Quốc và Malaysia có thông đồng với nhau trong ‘sự bùng nổ xây dựng các công trình’ ở Trường Sa hay không.[63] Trong khi ông Mercado nghi ngờ về khả năng này thì ngài Siazon lại nhắc nhở việc Trung Quốc xây dựng trên Bãi Thám hiểm diễn ra khi Bộ Truởng Bộ Ngoại Giao Malaysia Syed Hamid Albar có chuyến viếng thăm Bắc Kinh vào tháng 5 năm 1998.[64] Các quan chức ngoại giao khác cũng nhận thấy rằng không thể có việc Trung Quốc không hề hay biết hoặc không giám sát, theo dõi những hành động của Malaysia.[65] Hơn nữa có một sự tương phản nổi bật giữa sự phản đối hết sức mềm mỏng của Bắc Kinh đối với Malaysia với những lời tuyên bố ôn hòa về chủ quyền không thể tranh cãi của Trung Quốc trên những khu vực tranh chấp và những lời phê bình gay gắt của Trung Quốc liên quan đến yêu sách của Philippines trên Đá Vành Khăn và bãi Scarborough.

Mối lo ngại của Philippines càng tăng lên vào tháng 7 năm 1999 khi phát hiện ra rằng Malaysia đã và đang cho xây dựng một toà nhà 2 tầng và một sân bay trên một đảo đang bị tranh chấp khác là Đá En ca. Vào ngày 20 tháng 8, Philippines đã gửi một bản kháng nghị ngoại giao.[66] Chủ tịch Thượng Viện Philippines Blas Ople đã kêu gọi Bộ Ngoại Giao gửi một bản kháng nghị đanh thép hơn so với bản kháng nghị về việc chiếm đóng Bãi Thám Hiểm, bao gồm yêu cầu tháo dỡ hết các công trình và Malaysia phải rút khỏi dải đá ngầm này.[67] Tuy nhiên lời kêu gọi của ngài Ople đã bị suy yếu khi Bộ trưởng Quốc Phòng Mercado thú nhận rằng Đá En ca nằm ngoài vùng đặc quyền kinh tế của Phillipines và nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Malaysia.[68] Tuy nhiên ông Mercado lại không đưa ra được một bằng chứng nào về kết luận trên. Đại Sứ Quán Malaysia tại Manila ngay lập tức đã biện hộ cho việc chiếm giữ ở cả Bãi Thám Hiểm và Đá En ca bằng cách chỉ ra vị trí của chúng trên bản đồ năm 1979 xác định lãnh hải và ranh giới thềm lục địa của Malaysia (the Peta baru), cũng như những nhân tố lịch sử và pháp lý hỗ trợ yêu sách chủ quyền của nước này. Hơn nữa, Đại Sứ Quán còn quả quyết rằng không có một phần nào nằm trong vùng biển của Malaysia lại thuộc quần đảo Trường Sa.[69] Philippines đã bác bỏ lời nhận định này và đe doạ sẽ đưa vấn đề này ra Liên Hợp Quốc.[70]

Để giảm bớt căng thẳng, Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao Malaysia - Syed Hamid Albar tuyên bố rằng:

Chúng tôi sẽ không tiến hành bất cứ một hành động nào làm tăng sự căng thẳng cũng như không có ý định sử dụng những hòn đảo với mục đích  xâm lược. Philippines có thể tiến hành bất cứ một hành động nào mà họ muốn. Quan điểm của chúng tôi rất rõ ràng. Cả dải đá ngầm và bãi cát ngầm đều nằm trong lãnh thổ Malaysia. Chúng tôi có mặt ở đó vì mục đích hoà bình.[71]

Malaysia phản đối bất cứ những thảo luận nào liên quan tới sự chiếm đóng của mình trên Bãi Thám Hiểm và Đá En ca tại Hội Nghị các Bộ trưởng ASEAN năm 1999. Quan điểm của Bộ trưởng Ngoại Giao Malaysia Syed Hamid Albar là: “những vấn đề song phương sẽ được thảo luận song phương”.[72] Ngược lại, Bộ trưởng Ngoại Giao Philippines Siazon đã chỉ ra rằng: “Vấn đề Trường Sa chắc chắn sẽ luôn được thảo luận tại đây (tại Hội Nghị các Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao ASEAN). Đây cũng là vấn đề chính được nhiều nước quan tâm.”[73] Bộ trưởng ngoại giao Thái Lan Surin Pitsuwan nhất trí đưa ra gợi ý rằng các nước đưa ra yêu sách đều có lý do quan ngại bởi vì bất cứ một mâu thuẫn nào xảy ra ở khu vực Biển Đông đều có quan hệ mật thiết tới an ninh đường biển quốc tế. Theo quan điểm của ông:

Đây là một vấn đề của toàn khu vực. Các nước có yêu sách đối nghịch nhau có thể cho rằng đây là mâu thuẫn nội bộ sẽ được giải quyết và xử lý giữa họ với nhau, nhưng những căng thẳng và xung đột như thế sẽ có tác động bất lợi cho tất cả chúng ta.[74]

Một vài giải pháp về động thái của Malaysia trên các hòn đảo cũng được đề xuất. Thứ nhất, những hoạt động của Trung Quốc ở Đá Vành Khăn thể hiện những lợi ích của việc ủng hộ hành động này. Khi một đảo tranh chấp bị chiếm đóng và các công trình kiên cố được xây dựng, việc chiếm hữu trên thực tế làm cho việc trục xuất và tháo gỡ công trình bằng sức ép ngoại giao, luật pháp, quân đội hoặc tinh thần trở nên khó khăn. Thủ tướng Mahathir dường như đã thừa nhận giá trị của chính sách chặn trước khi ông nhận định Malaysia đã tiến hành xây dựng trên Bãi Thám Hiểm vì lo sợ rằng những quốc gia khác sẽ viện đến những hành động như vậy như trước đó đã từng xảy ra ở một số dải đá ngầm khác.[75] Giải pháp thứ hai là phát triển Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông. Như sẽ được phân tích cụ thể ở phần sau, vào tháng 5 năm 1999, Philippines và Việt Nam đã bắt đầu soạn một bản dự thảo của Bộ quy tắc. Hành động chặn trước của Kuala Lumpur trong việc chiếm đóng Bãi Thám Hiểm và Đá En ca trước khi đàm phán chi tiết về Bộ quy tắc khởi động sẽ bảo vệ thành quả của Malaysia thông qua việc đã rồi. Vì Trung Quốc đã chứng minh trong vụ Đá Vành Khăn, khi một dải đá đã thuộc quyền sở hữu của một nước thì việc trả lại nguyên trạng cũ là cực kỳ khó khăn.

Sau khi Malaysia chiếm đóng hai dải đá ngầm, nước này khá im hơi lặng tiếng. Điều này có thể được hiểu rằng vì Malaysia đã phá vỡ những gì mình đã cam kết trong Bản tuyên bố năm 1992 về Biển Đông, đặc biệt, ở đoạn thứ hai của Bản tuyên bố chỉ ra rằng các bên cam kết thực hiện kiềm chế để thúc đẩy một bầu không khí tích cực để giải quyết mọi tranh chấp.

(Xem tiếp phần 2)

...





Christopher Chung

Người dịch: Ngọc Trang

Hiệu đính: Đỗ Thị Thủy

Bài viết trích trong " Security and International Politics In the South China Sea ",

Chủ biên: Sam Bateman, Ralf  Emmers, năm 2009.

Bản gốc tiếng Anh "Southeast Asia and the South China Sea Dispute"

(Đề nghị chỉ được dẫn đường link mọi thông tin, bài viết  trên www.nghiencuubiendong.vn, không cắt đăng lại khi chưa có sự đồng ý của Ban Biên tập Website)


[1] ‘Ople Lauds Signing of  Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea’, Bộ ngoại giao, Philippines, press release no. 246-02, 4 November 2002, tại www.dfa.gov.ph/news/pr/pr2002/no/pr246.htm.

[2] Trích trong ‘Editorial and Opinionn: Beyond Terrorism’, Philippine Daily Inquirer, 7 November 2002.

[3] Trích trong ‘ASEAN, China Sign Document on Territorial Dispute’, Kyoto News, 5 November 2002.

[4] Để hiểu được vì sao mức độ tranh chấp giảm đi trong thời gian gần đây, xem R.Emmers, The De-escalation of the spratly Dispute in Sine-Southest Asian Relations, RSIS Working Paper No 129 (Singapore: S. Rajaratnam School of International Studies, Nanyang Technological University, 2007).

[5] Số liệu từ R. Sutter and C.-H. Huang, ‘China-Southeast Asia Relations: Singapore Summits, Harmony, and Challenges’, Comparative Connections. A Quarterly E-Journal on East Asian Bilateral Relations, January 2008, tại www.csis.org/media/csis/pubs/0704qchina_seasia.pdf; và ASEAN-China Expert Group on Economic Cooperation, Forging Closer ASEAN-China Economic Relations in the Twenty-First Century (Jakarta: ASEAN, 2001), tr. 1.

[6] Xem M. Li, Security in the South China Sea: China’s Balancing Act and New Regional Dynamics, RSIS Working Paper No. 129 (Singapore: S. Rajaratnam School of International Studies, Nanyang Technological University, 2008), tr. 17-21.


[7] Về chính sách ngoại biên, xem S. Zhao, ‘China’s periphery Policy and Its Asian Neighbours’, Security Dialogue 30,3 (September 1999), tr. 335-346.

[8] Về các quan điểm đối với vấn đề ‘Mối đe dọa Trung Quốc’ xem H. Yee và I. Storey (eds), The China Threat: Perceptions, Myths and Reality (London and New York: RoutledgeCurzon, 2002); R. Bernstein và R.H. Munro, ‘China I: The Coming Conflict with America’, Foreign Affairs 76, 2 (March-April 1997), tr. 18-32; R.S. Ross, ‘Beijing as a Consevative Power’, Foreign Affairs 76, 2 (March-April 1997), tr. 33-44; D. Roy, ‘The “China Threat” Issue: Major Arguments’, Asian Survey 36, 8 (August 1996), tr. 758-771.

[9] Các phân tích về những yêu sách đối với biển Đông bao gồm M. Chemillier-Gendreau, Sovereignty over the Paracel and Spratly Islands (The Hague: Kluwer Law International, 2000); M.J. Valencia, J.M. van Dyke và N.A. Ludwig, Sharing the Resources of the south China Sea (The Hague: Martinus Nijhoff Publishers, 1997), tr. 20-38; M. Samuels, Contest for the South China sea (New York and London: Methuen, 1982).

[10] Xem H. Djalal, ‘Indonesia and the South China Sea Initiative’, Ocean Development and International Law 32, 2 9April 2001), tr. 97-103; I. Townsend-Gault, ‘Preventive Diplomacy and Pro-activity in the South China Sea’, Contemporary Southeast Asia 20, 2 (august 1998), tr. 171-190.

[11] Xem Điều 2, Luật qui định về lãnh hải và vùng tiếp giáp của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, 25 February 1992, Law of the Sea Bulletin 21 (New York: Uunited nations Division for the Ocean affairs and the Law of the Sea, Office of Legal Affairs, 1992), tr. 24.

[12] ‘Testing the Waters’, Far Eastern Economic Review, 12 March 1992, tr. 8-9.

[13] Tuyên bố ASEAN về biển Đông (1992), Manila, Philippines, 22 July 1992, tại www.aseansec.org/5233.htm.

[14] L.T. Lee, China and the South china Sea Dialogues  (Westport: Prarger, 1999), tr. 26.

[15] Về sự phản đối không thành công của Trung Quốc đối với việc Hội nghị cấp cao Phong trào Không liên kết thông qua Tuyên bố ASEAN về biển Đông năm 1992, xem C. Smith và S. Aznam, ‘Reason and Rheto’, Far Eastern Economic Review, 17 September 1992, tr. 11.

[16] Lee, China and the south China Sea Dialogues, tr. 26.

[17] Đoạn 13, Joint Communiqué of the 26th ASEAN Ministerial Meeting, Singapore, 23-24 July 1993, tại www. Aseansec.org/3666.htm.

[18] Xem Lời nói đầu, Tuyên bố của Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về đường cơ sở xác định lãnh hải của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, 15 May 1996, Law of the Sea Bulletin 32 (New York: United Nations, division for Ocean Affairs and the Law of the Sea, Office of Legal Affairs, 1996), tr. 37.

[19] H.K. Park,  The Law of the Sea and Northeast Asia. A Challenge for Cooperation (The Hague: Kluwer Law International, 2000), tr. 24.

[20] United Nationns, Division for Ocean Affairs and the Law of the sea, Office of Legal Affairs, ‘Declaration of the Government of the People’s Republic of China on the Baselines of the Territorial Sea of the People’s Republic of China, 15 May 1996’, tr. 40.

[21] Tuyên bố của ngài Datuk A.H.A. Badawi, Bộ trưởng Bộ ngoại giao Malaysia, 22 July 1996, www.seansec.org/4348.htm.

[22] Lời mở đầu của ngài Tiền Kỳ Tham, Phó thủ tướng và Bộ trưởng ngoại giao nước Cộng hòa nhân dân Trung hoa, 22 July 1996, tại www.seansec.org/4347.htm.

[23] United Nationns, Division for Ocean Affairs and the Law of the sea, Office of Legal Affairs, ‘Philippines, Statement of the Department of Foreign Affairs on the Ratification by China of the United Nations Convention on the Law of the Sea’, Law of the Sea Bulletin 32 (New York: United Nations, Division for Ocean Affairs and the Law of the Sea, Office of Legal Affairs, 1996), tr. 88.

[24] I. Storey, ‘Singapore and the Rise of China’, trong H. Yee và I. Storey (eds), The China Thread: Perceptions, Myths and Reality (London and New York: RoutledgeCurzon 2002), tr. 205-266 tại tr. 215.

[25] United Nationns, Division for Ocean Affairs and the Law of the sea, Office of Legal Affairs, ‘Vietnam. Objections to the statement of 15 May 1996 made by the Government of the People’s Republic of China on the baselines from which the breadth of China’s territorial sea is measured’, Law of the Sea Bulletin 32 (New York: United Nations, Division for Ocean Affairs and the Law of the Sea, Office of Legal Affairs, 1996), tr. 91.

[26] Nt.

[27] Xem văn bản đạo luật đầy đủ tại United Nations, Division for Ocean Affairs and the Law of the sea, Office of Legal Affairs, China: People’s Republic of China Exclusive Economic Zone and Continental shelf Act’, Law of the Sea Bulletin 32 (New York: United Nations, Division for Ocean Affairs and the Law of the Sea, Office of Legal Affairs, 1998), tr. 28-31.

[28] Về phân tích đường lưỡi bò của Trung Quốc xem K. Zou, ‘Chinese Traditional Maritime Boundary Line in the south China Sea and its Legal Consequences for the Resolution of the Dispute over the Spratly Islands’, International Journal of Marine and Coastal Law 14,1 (March 1999), tr. 27-55.

[29] United Nationns, Division for Ocean Affairs and the Law of the sea, Office of Legal Affairs, Vietnam: Dispute regarding the Law on the Exclusive Economic Zone and Continental shelf of the People’s Republic of China which was passed on 26 June 1998’, ’, Law of the Sea Bulletin 38 (New York: United Nations, Division for Ocean Affairs and the Law of the Sea, Office of Legal Affairs, 1998), tr. 54-55.

[30] ‘Manila to Protest New Beijing Initiative in Territorial Dispute’, BusinessWorld (Philippines), 21 September 1998.

[31] R. Tiglao, ‘Remote Control. China Expands Reefs to Extend Claims’, Far Eastern economic Reviewi, 1 June 1995, tr. 20.

[32] M.J. Valencia, “Mischief at the Reef’, Far eastern Economic Review, 20 may 1993, tr. 31.

[33] Việt Nam chưa là thành viên của khối ASEAN cho đến tháng 7 năm 1995, 5 tháng sau khi các công trình xây dựng của Trung Quốc được tìm thấy tại Đá Vành Khăn.

[34] Tiglao, ‘Remote Control’, tr. 20.

[35] R. Tasker, ‘A line in the Sand’, Far Eastern Economic Review, 6 April 1995, tr. 14.

[36] Xem I.J. Storey, ‘Creeping Assertieness: China, the Philippines and the South China Sea Dispute’, Contemporary Southeast Asia 21, 1 (April 1999), tr. 106-109; I. Storey, ‘Manila Looks to USA for Help over Spratlys’, Jane’s Intelligence Review 11, 7 (August 1999), tr. 47; D. Zha và M.J. Valencia, ‘Mischief Reef: Geopolitics and Implications’, Journal of Contemporary Asia 31, 1 (March, 2001) , tr. 89.

[37] ASEAN, Statement by the ASEAN Foreign mnisters on the Recent developments in the South China Sea, 18 March 1995, tại www.aseansec.org/2089.htm.

[38] Nt

[39] Storey, ‘Creeping Assertiveness’, tr. 107-108.

[40] Tlđd., tr. 108.

[41] Tlđd.; S.I. Hay, ASEAN’s Regional Security Dialogue Pỏcess: From Expectation to Reality?, Institute of Southeast Asian studies Working Papers, International Politics and Securities Issues No. 1(97) (Singapore: Institute of Southeast Asian studies, 1997), tr. 19.

[42] Hay, ASEAN’s Regional Security Dialogue Process, tr 19-20.

[43] Storey, ‘Singapore and the Rise of China’, tr. 214.

[44] Tlđd., tr. 215.

[45] Storey, ‘Creeping Assertivenes’, tr. 98; R.Tiglo, A. Sherry, N. Thayer and M. Vatikiotis, “Tis the season”, Far Eastern Economic Review, 24 December 1998, tr.18.

[46] Nt

[47] B. Wain,’ Asean’s Inaction Encourages Chinese Audacity’, Asian Wall Street Journal, 25 June 1999

[48] Tiglaoat al.,”Tis the Season”, tr.18

[49] Association of Southeast Asian Nations, Sixth ASEAN Summit, Hanoi Declaration of 1998, Hanoi, Vietnam, 16 December 1998, ASEAN Documents Series 1998-1999, Supplementary Edition (Jakatar: ASEAN, 1999), tr. 5.

[50] Tiglaoat al.,”Tis the Season”, tr.18.

[51] C.A. Thayer, “Some Progress, along with  Disagreement and Disarray: China- ASEAN Relations’, Comparative Connections- 2nd Quarter 1999, tại www.csis.org/pacfor/cc/992Qchina_asean.html.

[52] Nt.

[53] A.S.P Baviera,’perceptions of a China Threat: A Philippine Perspective’, trong H. Yee và I. Storey (eds), The China Threat: Perceptions, Myths and Reality (London and Newyork: RoutledgeCurzon, 2002), tr.259-260.    

[54] R. Tiglao, ‘Seaside Boom’, Far Eastern Economic Review, 8 July 1999, tr.14.

[55] Phần này được trích từ Tiglao, ‘Seaside boom’, tr.14.

[56] ‘Philippines Formally Protests Malaysian Action in Spratlys’, Agence France-Presse, 24 June 1999.

[57] ‘Malaysia Defends Presence in Spratlys’, Reuters, 24 June 1999.

[58] ‘Structure is on Malaysian Territory- Dr Mahathir’, Bernama, 27 June 1999.

[59] ‘Malaysia Defends Presence in Spratlys.’

[60] ‘Building on Spratlys? So Will We- Erap’, Manila Standrd, 23 June 1999.

[61] ‘Manila Drops Plan to Build Structures in the Spratlys’, Asian Political News, 12 July 1999.

[62] Nt.

[63] ‘RP Sees China- KL Collusion on Spratlys’, Manila Standard, 25 June 1999.’

[64] Nt.

[65] Tlđd.;’Manila Drops Plan to Build Structures in the Spratlys.’

[66] Philippines Hands Protest Note to Malaysia’, Asociated Press, 20 August 1999.’

[67] ‘Philippine Senate Head Wants Malaysia to Tear Down Spratlys Structures’, Agence France-Press, 20 August 1999.

[68] ‘Stronger Protest vs Malaysian Moves in Spratlys Needed, DFA Told’, BusinessWorld (Philippines), 23 August 1999.

[69] M. Talosig, ‘Reefs Within Our Territory- Malaysia’, Gulf News, 23 August 1999.

[70] Y.L.G. Arbon, N.P. Aquino and C.R.A. Garcia,’Manila to Seek UN Intervention in Maritime Tiff with Malaysia’, BusinessWorld (Philippines), 24 August 1999; ‘Philippines Considers Taking Apratlys Row with Malaysia to United Nations’, Bernama, 23 August 1999. 

[71] ‘No Cause for Tension over Spratlys, Malaysia says’, Kyodo News, 24 August 1999; ‘Malysia Not Contributing to Tension in Spratlys: Minister’, Agence France-Presse, 24 August 1999.

[72] ‘ASEAN seeks progress on S. China Sea code of conduct, Asian Political News, 26 July 1999.

[73] Nt.

[74] Nt.

[75] ‘Structure is on Malaysian Territory – Dr Mahathir.’

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Đánh giá chiến lược của Trung Quốc tại Biển Đông

Đánh giá chiến lược của Trung Quốc tại Biển Đông

Chống tiếp cận/ngăn chặn xâm nhập (A2/AD) là chiến lược biển được xây dựng nhằm ngăn không cho lực lượng hải quân đối phương tự do di chuyển trong một không gian chiến đấu. Bài viết sẽ phân tích những thuận lợi và khó khăn khi Trung Quốc thực hiện A2/AD tại Biển Đông.

Đọc tiếp...

Khả năng Trung Quốc thiết lập một ADIZ ở Biển Đông

Khả năng Trung Quốc thiết lập một ADIZ ở Biển Đông


Trung Quốc sẽ được gì và mất gì khi thiết lập một ADIZ ở Biển Đông? Những dự báo của giới quan sát về khả năng thành công của một ADIZ trong khu vực này.

 

Đọc tiếp...

Thấy gì từ “sứ mệnh West Capella” của Mỹ ở Biển Đông?

Thấy gì từ “sứ mệnh West Capella” của Mỹ ở Biển Đông?

Một số nhà quan sát cho rằng hành động đáp trả của Mỹ mang tính tự phát, không đủ mạnh và còn khiến Bắc Kinh bạo trợn hơn. Trong thời gian vài tuần đầu, những cáo buộc như vậy bị cho là quá vội vàng, song cũng bộc lộ sự yếu kém cố hữu trong cách tiếp cận của Mỹ đối với vấn đề an ninh biển ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Đọc tiếp...

Lợi dụng đại dịch Covid 19, Trung Quốc hành động cứng rắn ở Biển Đông

Lợi dụng đại dịch Covid 19, Trung Quốc hành động cứng rắn ở Biển Đông

Trong khi thế giới chiến đấu với COVID-19, Trung Quốc đang tiến gần hơn tới việc thiết lập sự thống trị trong khu vực.

Đọc tiếp...

Đằng sau chiến lược chiếm Biển Đông của Trung Quốc

Đằng sau chiến lược chiếm Biển Đông của Trung Quốc

 

Bắc Kinh đang từng bước tiến đến mục tiêu buộc cộng quốc tế chấp thuận các tuyên bố chủ quyền của nước này đối với Biển Đông. Cứ mỗi thập kỷ trôi qua, Bắc Kinh lại đạt được một bước tiến mới trong nghị trình của mình.

Đọc tiếp...

Báo cáo khoa học: Bằng chứng về những thay đổi môi trường gây ra bởi hành vi bồi đắp đảo của Trung Quốc

Báo cáo khoa học: Bằng chứng về những thay đổi môi trường gây ra bởi hành vi bồi đắp đảo của Trung Quốc

Bài báo cáo định lượng những ảnh hưởng đến môi trường từ các hành vi bồi đắp đảo trên Biển Đông, kết quả từ việc nạo vét và có thể tác động tiêu cực đến hệ động vật, thực vật biển và hệ sinh thái biển. Mức độ thiệt hại gây ra bởi việc xây dựng đảo được cho là trầm trọng vì các rạn san hô ở Biển Đông tập trung đa dạng sinh học biển lớn nhất trên Trái Đất.

Đọc tiếp...

Biển Đông và quá trình bị biến thành lãnh thổ “lịch sử” của Trung Quốc năm 1975

Biển Đông và quá trình bị biến thành lãnh thổ “lịch sử” của Trung Quốc năm 1975

Để chứng minh cho cái gọi là chủ quyền “mang tính lịch sử”, giới học giả Trung Quốc đã nỗ lực lập luận, đưa ra những bằng chứng lịch sử. Tuy nhiên, các bằng chứng mà họ đưa ra rất mập mờ, không có bất cứ tham chiếu nào về vị trí trích dẫn chính xác, thậm chí còn cố tình sửa đổi ngôn từ gốc.

Đọc tiếp...

[Ngô Sĩ Tồn] Triển vọng tình hình Biển Đông năm 2020: Những biến động khó lường

[Ngô Sĩ Tồn] Triển vọng tình hình Biển Đông năm 2020: Những biến động khó lường

Bằng lập luận xuyên tác, vô căn cứ, Trung Quốc đã, đang và sẽ thực hiện hình thức “tuyên truyền đen” để bôi nhọ những hoạt động phù hợp với luật pháp quốc tế của các quốc gia yêu sách khác ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Chính sách của Malaysia đối với tranh chấp trên Biển Đông

Chính sách của Malaysia đối với tranh chấp trên Biển Đông

Kể từ cuối những năm 1980, khi Biển Đông nổi lên là một vấn đề an ninh nghiêm trọng, Malaysia đã nhất quán tuân theo một chính sách và chỉ có những điều chỉnh nhỏ nhằm bảo vệ chủ quyền và các quyền chủ quyền của quốc gia này, duy trì luật pháp quốc tế cùng với thúc đẩy hòa bình và ổn định trên Biển Đông.

Đọc tiếp...

Đánh giá các căn cứ của Trung Quốc ở Biển Đông

Đánh giá các căn cứ của Trung Quốc ở Biển Đông

Tương tự như các căn cứ quân sự ở Đại lục, các tiền đồn của Trung Quốc tại Biển Đông được tích hợp vào một hệ thống các hệ thống lực lượng chung lớn hơn nhằm hỗ trợ các chiến lược đang hình thành của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA).

Đọc tiếp...

Trung Quốc chọc giận Indonesia tại Biển Đông

Trung Quốc chọc giận Indonesia tại Biển Đông

Vụ xâm nhập tháng 12/2019 đánh dấu các diễn biến mới trong vấn đề quần đảo Natuna. Bắc Kinh đã thay đổi lập trường và hiện tuyên bố quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển liên quan gần quần đảo Trường Sa. Đây không còn là vấn đề “ngư trường truyền thống”.

Đọc tiếp...

Chiến lược cạnh tranh và thách thức của Trung Quốc ở Biển Đông

Chiến lược cạnh tranh và thách thức của Trung Quốc ở Biển Đông

Hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông và tham vọng tại Đông Nam Á tiếp tục được xem xét kỹ lưỡng giữa các xu hướng rộng lớn hơn, bao gồm việc cạnh tranh Mỹ-Trung ngày càng gay gắt, các cuộc thảo luận ngày một tăng về kiến trúc khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương và nỗ lực không ngừng của các quốc gia Đông Nam Á và Bắc Kinh nhằm hướng tới một bộ quy tắc ứng xử ràng buộc ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Báo cáo chưa đầy đủ về hoạt động quân sự của Mỹ tại Biển Đông năm 2018

Báo cáo chưa đầy đủ về hoạt động quân sự của Mỹ tại Biển Đông năm 2018

Chừng nào sức mạnh của Trung Quốc vẫn đang phát triển, ngay cả khi nước này tiếp tục hạn chế sử dụng sức mạnh, quân đội Mỹ vẫn sẽ tiếp tục tăng cường bố trí lực lượng và hiện diện quân sự, tăng cường hoạt động “tự do hàng hải” khiến Biển Đông trở thành “chiến trường”. Trong tương lai, lực lượng quân đội Mỹ sẽ không ngừng tập trung ở Biển Đông, gia tăng cường độ hành động hơn nữa.

Đọc tiếp...

Trung Quốc-Philippines: Triển vọng khai thác dầu khí

Trung Quốc-Philippines: Triển vọng khai thác dầu khí

Bầu không khí của chuyến thăm thứ 5 của Duterte đến Trung Quốc đã trở nên u ám sau các hành động của Trung Quốc như phái hàng trăm tàu cá đến đảo Thị Tứ và đâm chìm một tàu cá Philippines gần bãi Cỏ Rong trong nửa đầu năm 2019.

Đọc tiếp...

Trung Quốc khẳng định sức mạnh bằng "họng súng" và "vỏ bọc hòa bình"

Trung Quốc khẳng định sức mạnh bằng

"Người dân Trung Quốc đã học được giá trị của hòa bình"..."Trung Quốc chưa bao giờ tiến hành bất kỳ cuộc chiến tranh hay xung đột nào" hay "Trung Quốc luôn đi đầu trong việc hướng tới hòa bình và ổn định khu vực"... Đây là những "Khẩu hiệu" mà Trung Quốc thường rêu rao để đánh bóng hình ảnh của mình. Tuy nhiên, những gì Trung Quốc làm hoàn toàn trái ngược với điều đó.

Đọc tiếp...

"Hàng xóm bắt nạt": Hành động của Trung Quốc ở Biển Đông sẽ phản tác dụng

Mọi hành động đều có phản ứng khác nhau; các quốc gia ở Đông Nam Á cũng như các quốc gia có lợi ích ở khu vực này chắc chắn sẽ không khoanh tay đứng nhìn. Trên thực tế, Bắc Kinh đang “mời gọi" các nước chống lại họ, và điều này không mang lại lợi ích cho Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Chiến tranh pháp lý của Trung Quốc, tranh chấp tài nguyên và luật biển

Chiến tranh pháp lý của Trung Quốc, tranh chấp tài nguyên và luật biển

Học thuyết “Tam chiến” của Trung Quốc vạch ra bộ ba phương pháp tấn công: chiến tranh thông tin, chiến tranh tâm lý và chiến tranh pháp lý. Trong số này, chức năng của chiến tranh pháp lý là nhằm “thúc đẩy tính hiệu quả của các cơ chế và quy trình pháp lý hiện hành để hạn chế hành vi đối địch, đối phó trong các hoàn cảnh bất lợi, đảo ngược các án lệ, và tối đa hóa lợi thế trong các tình huống liên quan đến các lợi ích cốt lõi của Trung Quốc”.

Đọc tiếp...

Câu chuyện về chủ quyền và vai trò cá nhân lãnh đạo trong xác lập vị thế của Trung Quốc

Câu chuyện về chủ quyền và vai trò cá nhân lãnh đạo trong xác lập vị thế của Trung Quốc

Hành vi và khát vọng bá quyền trên biển của Trung Quốc đang khiến cả châu Á giận dữ. Qua nghiên cứu so sánh tư tưởng và ngoại giao, bài phân tích sẽ giúp hiểu được viễn cảnh hình thành khát vọng bá quyền trên biển của Trung Quốc và ảnh hưởng của các chính sách hải quân của nước này đến các quốc gia khác trong việc sửa đổi hoặc hình thành các chiến lược biển mới.

Đọc tiếp...

Cách thức ngăn chặn Trung Quốc trên Biển Đông

Cách thức ngăn chặn Trung Quốc trên Biển Đông

Mỹ và đồng minh phải sử dụng sức mạnh của họ trên mọi lĩnh vực quân sự và phi quân sự. Theo đó, các hoạt động hộ tống bảo vệ hàng hải sẽ đi kèm với các nỗ lực đồng thời nhằm giúp các chính phủ và nền kinh tế ở Đông Nam Á vững vàng hơn trước ảnh hưởng xấu của Trung Quốc, cũng như việc phát triển và triển khai các lực lượng chiến đấu tinh nhuệ với nhiệm vụ ngăn chặn hành vi gây hấn quy mô lớn của Trung Quốc

Đọc tiếp...

Tôn trọng và tuân thủ luật pháp - Ưu tiên hàng đầu cho vấn đề hóc búa ở Biển Đông

Tôn trọng và tuân thủ luật pháp - Ưu tiên hàng đầu cho vấn đề hóc búa ở Biển Đông

Những diễn biến gần đây ở Biển Đông, một trong những tuyến đường biển sầm uất nhất trên thế giới, không chỉ đáng báo động mà còn nhiều khả năng biến thành một cuộc chiến tranh thực sự. Nếu điều đó xảy ra, hòa bình và ổn định ở Đông Nam Á sẽ tiêu tan.

Đọc tiếp...

Đối đầu ở Bãi Tư Chính: Giông tố mới ở Biển Đông

Đối đầu ở Bãi Tư Chính: Giông tố mới ở Biển Đông

Vụ việc ở Bãi Tư Chính là một phần trong những nỗ lực của Trung Quốc nhằm ngăn cản hoạt động khai thác tài nguyên hợp pháp ở Biển Đông của các quốc gia ven biển và hợp tác giữa họ với các nước ngoài khu vực. Những hành động này có thể mang lại lợi ích trước mắt cho Trung Quốc, nhưng về lâu dài sẽ dẫn đến bất lợi cho quốc gia này.

Đọc tiếp...

Philippines: Làm thế nào để đứng vững giữa cuộc cạnh tranh Trung-Mỹ?

Philippines: Làm thế nào để đứng vững giữa cuộc cạnh tranh Trung-Mỹ?

Philippines đã đúng khi mong muốn có mối quan hệ thân thiện với Trung Quốc, đặc biệt là khi nước này mong muốn mở cửa để phát triển kinh tế hơn nữa. Manila cũng phải nhớ rằng hòa bình và thịnh vượng lâu dài phụ thuộc vào quyền tự do và sự tôn trọng lẫn nhau giữa các nước có chủ quyền, cũng như trật tự quốc tế dựa trên nguyên tắc. Trong lời nói và hành động, Philippines cần phải giữ vững lập trường để bảo vệ những nguyên tắc quan trọng này.

 

Đọc tiếp...

Đỉnh điểm của việc Trung Quốc quân sự hóa biển Đông

Đỉnh điểm của việc Trung Quốc quân sự hóa biển Đông

Tính tới giờ, việc Trung Quốc tiến hành quân sự hóa một số đảo nhân tạo trên Biển Đông được cho là động thái ở mức cao nhất của nước này đối với các vấn đề ở khu vực. Thực chất hành động cũng như mục đích đằng sau của Trung Quốc đe dọa tới không chỉ các nước trong khu vực mà còn tới cả nước lớn như Mỹ.

Đọc tiếp...

Thực chất tình hình tại biển Đông

Thực chất tình hình tại biển Đông

Các vấn đề tại Biển Đông vốn đã xảy ra trong một khoảng thời gian dài, đặc biệt là giữa các bên có yêu sách ở khu vực này. Gần đây, những vấn đề trên trở nên phức tạp hơn do những tính toán chiến lược không chỉ của các bên có tranh chấp, mà còn của cả các nước lớn bên ngoài khu vực.

Đọc tiếp...

Gót chân Asin của ASEAN trong vấn đề Biển Đông

Gót chân Asin của ASEAN trong vấn đề Biển Đông

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), từ lâu được mô tả là mô hình thành công nhất của sự hội nhập khu vực trong thế giới hậu thực dân, đã ngày càng trở nên bất lực trong việc kiềm chế Trung Quốc làm xói mòn trật tự dựa trên quy tắc của khu vực vốn được định hướng bằng nguyên tắc không gây hấn, tránh xung đột và chủ nghĩa đa phương tự do.

Đọc tiếp...

Các vấn đề trong liên minh Mỹ-Philippines

Các vấn đề trong liên minh Mỹ-Philippines

Hiện nay, không có thông tin công khai về việc Chính phủ Philippines chính thức yêu cầu Mỹ có một đánh giá hiệp ước chính thức. Người ta cho rằng một đánh giá chính thức sẽ vấp phải những khó khăn, trước hết là trong việc đạt được sự nhất trí về những sửa đổi đối với một hiệp ước có từ 7 thập kỷ trước và sau đó là trong việc phê chuẩn một hiệp ước đã sửa đổi ở cả 2 nước.

Đọc tiếp...

Suy nghĩ về các hành động của Trung Quốc tại Bãi Tư Chính

Suy nghĩ về các hành động của Trung Quốc tại Bãi Tư Chính

Nếu không có một phản ứng cứng rắn từ phía cộng đồng quốc tế đối với các hành động của Trung Quốc tại Bãi Tư Chính, các vụ việc tương tự sẽ còn lặp lại trong những năm tới, lý do đơn giản là Bắc Kinh rất hào hứng nhận ra rằng các hành động cưỡng ép của họ đã mang lại hiệu quả.

Đọc tiếp...

Vai trò ngày càng tăng của EU ở Biển Đông

Vai trò ngày càng tăng của EU ở Biển Đông

Yêu cầu của EU đòi phải được thừa nhận là một bên tham gia về chính trị và an ninh ở châu Á không phải là mới. Tham vọng của họ có một ghế tại EAS và gần đây hơn là địa vị quan sát viên tại Nhóm chuyên gia ADMM+ là chủ đề của nhiều cuộc thảo luận, xoay quanh đòi hỏi chính là thừa nhận giá trị thực tế của EU đối với an ninh khu vực. Bởi vậy, việc xem xét kỹ lưỡng các chính sách và hành động của EU ở Biển Đông là điều hợp lôgích.

Đọc tiếp...

Hệ lụy từ hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông

Hệ lụy từ hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông

Việc kiểm soát Biển Đông có nghĩa là Trung Quốc có khả năng bác bỏ hệ thống trật tự thế giới dựa trên các quy tắc, từ chối tuân thủ các chuẩn mực, kỳ vọng, và UNCLOS; đẩy người bảo vệ trật tự thế giới (Mỹ) khỏi Tây Thái Bình Dương, làm suy yếu hoặc phá hủy các đồng minh ở Tây Thái Bình Dương, khiến uy tín của Mỹ bị nghi ngờ ở phạm vi khu vực cũng như quốc tế và phá hủy cơ sở hạ tầng an ninh ở Đông Nam Á.

Đọc tiếp...

Nhận diện chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông

Nhận diện chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông

Để giành kiểm soát trên Biển Đông, đầu tiên, Trung Quốc cần phải cô lập khu vực. Trong nỗ lực cô lập khu vực, Trung Quốc sử dụng chiến lược hai hướng “cây gậy và củ cà rốt”, vừa lôi kéo các nước láng giềng khi thuận tiện trong khi đe dọa các nước chống đối mình.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 4134 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin