13 - 11 - 2019 | 7:29
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI "Các vùng biển gần”: Những quan niệm trái ngược nhau về không gian biển

"Các vùng biển gần”: Những quan niệm trái ngược nhau về không gian biển

Email In PDF.

Đối với vấn đề Biển Đông, Trung Quốc luôn thể hiện cách tiếp cận mâu thuẫn  qua yêu sách về Đường Lưỡi Bò. Một mặt Trung Quốc tiếp cận theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển (UNCLOS), mặt khác Trung Quốc cũng lại diễn giải về không gian biển của mình theo cách tiếp cận đơn phương từ phía Trung Quốc. Đó là nội dung bài viết gửi cho NCBD  ngay trước Hội thảo tại Hải Nam của  James Clad (nhưng sau đó ông không tham dự Hội thảo). James Clad - nguyên Phó trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng  Mỹ về  Nam và Đông Nam Á từ 2007 đến 2009, Giáo sư Nghiên cứu Đông Nam Á, Georgetown University từ 1995 đến 2002, hiện đang là Nghiên cứu viên cao cấp, Viện nghiên cứu chiến lược quốc gia, Đại học Quốc phòng , Washington DC.

 

 

Tôi muốn cảm ơn những người đã tổ chức Hội nghị này ở Hải Nam. Hội nghị đã cho chúng ta có một cơ hội “thử nhiệt” ở Biển Đông theo một cách khác với những gì thường thấy tại các viện tham mưu ở Washington; dùng phép ẩn dụ hàng hải trong một hội nghị như thế này, chúng ta có thể “thử xới lên vấn đề.”

 

Biển Đông luôn luôn có sức hút đối với những người chuyên vẽ bản đồ, các nhà ngoại giao, các công ty khai thác năng lượng và khoáng sản, các hải quân khu vực hay toàn cầu, các học giả về sự di cư của loài người và động vật, các công ty vận tải biển và những sinh viên chuyên ngành chiến lược lớn.

 

Chúng ta cũng không nên bỏ qua xem bao nhiêu dân thường, thuộc bao nhiêu quốc tịch, sống dựa vào các nghề trên biển truyền thống – từ đánh bắt cá cho đến vận chuyển đơn thuần. Trong nhiều thế kỷ, Biển Đông đã là tuyến đường chính để trao đổi hàng hóa, tư tưởng, đồng thời truyền bá văn hoá và những tác động ngoại lai, cả những điều tốt và xấu.

 

Cũng như trên đất liền (terra firma), những người dân du cư đã di chuyển trên biển này hàng thế kỉ, nhưng trước đây những người dân này đã quên lãng các đặc quyền đương thời của tính lãnh thổ chủ quyền nhất định. Đúng vậy, những kẻ thống trị vùng biển thời xa xưa có thể nắm giữ các bến cảng hay eo biển chiến lược trên các quần đảo, dù lớn hay nhỏ, bên trong hay gần khu vực biển Đông. Họ thu thuế đối với các tàu thuyền cung cấp lương thực đến đó hay chỉ đi qua.

 

Nhưng bản thân vùng này khi đó dường như cũng không có giới hạn. Bây giờ thì không còn nữa: Trong thời đại của chúng ta, cũng như những gì diễn ra trên đất liền, mô hình của Châu Âu về lãnh thổ chủ quyền cùng mở rộng đã xâm nhập sâu rộng chưa từng thấy. Sự tiếp tục mở rộng hơn nữa của đại dương và biển cả được mong chờ phân chia cho chính quyền này hoặc chính quyền kia đã trở thành một xu hướng gần như không thể đảo ngược. Đây chính là nơi chúng ta tìm thấy chính mình ngày nay: Hệ thống thế giới của chúng ta được xây dựng dựa trên lãnh thổ có trật tự và có biên giới, luôn sẵn sàng cho việc mở rộng các đường biên giới lấn vào thế giới đại dương. Trên khắp quả địa cầu, các yêu sách chủ quyền và tuyên bố bác bỏ chúng đã nhiều lên gấp bội khi mà đã gần đến hạn đệ trình đối với các nước ký kết UNCLOS (Công ước Liên hiệp quốc về luật biển).

 

Với cương vị là một nhà báo và giáo sư đại học trong các thập kỷ 80, 90 của thế kỷ 20, và gần đây nhất là Phó trợ lý Bộ trưởng quốc phòng Mỹ, tôi nhìn thấy sự phức tạp của sự tương tác giữa con người ở vùng biển này, không chỉ là trong sự chồng lấn yêu sách về chủ quyền sở hữu và sự khẳng định về thực tiễn hoạt động trong quá khứ. Khi còn là thanh niên, tôi nghiên cứu lịch sử hàng hải ở New Zealand. Trong suốt những năm tháng tuổi 20, tôi đã đi cùng với các thương gia hàng hải di cư, người Buginese và Bajau sử dụng thuyền buồm để chở các hàng hóa giá trị có chi phí đơn vị thấp, khối lượng lớn và không dễ hỏng như gỗ hay các bao xi măng dọc theo một vài đường bờ biển phía nam ven bờ biển Đông.

 

Thậm chí là ngày nay, các hoạt động ngày càng gia tăng của các quốc gia - dân tộc xung quanh hay bên ngoài vùng biển này cũng không làm trở ngại các hoạt động đơn giản này. Cả các quốc gia đưa ra yêu sách và những bên quan tâm dù nằm ở rất xa biển Đông vẫn có thể chấp nhận, thậm chí là khuyến khích, một loạt các hành động, bao gồm cả những hành động phi truyền thống, không có định kiến về lập trường lãnh thổ quốc gia của họ. Hội nghị này kêu gọi những ý tưởng và bình luận về:

 

 

-         Hợp tác khu vực và cùng phát triển;

-         An toàn hàng hải và an ninh đường biển;

-         Ngăn chặn cướp biển và khủng bố biển;

-         Quản lý bền vững nguồn tài nguyên biển;

-         Bảo vệ môi trường biển, và

-         Nghiên cứu khoa học biển.

 

Cả phạm vi lẫn bản chất cụ thể của các vấn đề trên đều cần được nhanh chóng nghiên cứu để có định nghĩa rõ ràng hơn. Chẳng hạn như việc ‘cùng khai thác’ các nguồn tài nguyên dầu khí được xem như là thúc đẩy những mục đích bí mật trong khi thực tế thì không hề có bí mật nào cả. Hoặc nữa như ‘nghiên cứu khoa học biển’ (MSR) luôn đặt ra vấn đề cần có thỏa thuận chung về phạm vi của hoạt động trên. Một số các quốc gia đưa ra yêu sách hoặc các nước đòi quyền đi qua vô hại có định nghĩa về ‘nghiên cứu khoa học biển’ rộng hơn so với những nước khác.

 

Cá nhân tôi đã có kinh nghiệm thực tiễn về việc cố gắng khuyến khích các hoạt động hợp tác trong vùng lãnh thổ tranh chấp, đặc biệt là ở châu Á, hay thậm chí ngay cả ở khu vực hoà dịu hơn - ít nhất là về mặt chính trị, mặc dù không phải là về mặt khí hậu, chẳng hạn như Nam Cực. Tại Nam Á, tôi từng viết về các cách nhằm khuyến khích thương mại qua biên giới cũng như các mối liên hệ rộng hơn giữa con người với con người. Các cách thức này nhằm giảm bớt những khía cạnh gay gắt trong sự đối địch giữa các quốc gia.

 

Trong an ninh và thương mại biển, chúng ta nên tìm kiếm và sẵn sàng chấp nhận các giải pháp song song có lợi. Do thiếu một cơ chế bao trùm để giải quyết toàn diện về lãnh thổ chủ quyền thì việc tập trung vào ‘những việc có thể thực hiện được’ được coi là giải pháp hợp lý. Điều này tạo ra một môi trường thiện chí, tin cậy và tích cực.

 

Điều đó nói lên rằng các bộ ngoại giao rất thận trọng thậm chí trong việc thừa nhận sự tử tế của một nước khác với lập luận rằng điều này có thể dễ dàng chuyển tải một hàm ý rộng hơn là một nước cần phải xin ‘sự cho phép’ từ một nước khác để làm việc mà mình hoàn toàn có quyền quyết định. Điều này thể hiện rõ ràng cách tiếp cận của nhiều quốc gia là thực thi điều mà họ cho là quyền tự do qua lại mà không gặp bất cứ cản trở nào ở các vùng biển sâu. Vì thế, các luật sư thường tránh né các hành động tỏ ý công khai sẵn sàng xin ‘sự cho phép’ của một cường quốc khác để thực hiện điều mà họ cho rằng mình được phép làm sau một thời gian sử dụng lâu dài và đã được củng cố.

 

Trong những năm gần đây, Hoa Kỳ đã nhấn mạnh về sự cần thiết là các nước phải tôn trọng “của chung” - bầu trời, biển, thậm chí là cả không gian ảo trên máy tính. Là một nước có lợi ích trên toàn cầu và là cường quốc thường trú tại bờ Tây Thái Bình Dương, Hoa Kỳ luôn chào đón việc mở rộng các hoạt động hợp tác ở Biển Đông.

Trích từ Diễn văn khai mạc của Bộ trưởng Quốc phòng Hoa kỳ Robert M. Gates tại hội nghị các bộ trưởng quốc phòng châu Á ‘Shangrila’ do Viện nghiên cứu chiến lược quốc tế London tại Singapore tổ chức ngày 31 tháng 5 năm 2008

“…Trong chuyến đi tới châu Á của tôi, thông qua các nước chủ nhà, tôi biết rằng họ đang lo lắng về những tác động về mặt an ninh của sự gia tăng về nhu cầu nguồn nguyên nhiên liệu, về nền ngoại giao cưỡng bức và các áp lực khác mà có thể dẫn tới cạnh tranh khốc liệt. Chúng ta không nên quên rằng trong các thập niên gần đây toàn cầu hóa giúp cho các quốc gia có thể chia sẻ lợi ích một cách dễ dàng hơn. Thành tựu này có được trên hết là nhờ sự thông thoáng: cởi mở về thương mại, ý tưởng và các sự cởi mở về cái mà tôi gọi là “các lĩnh vực chung” - dù là trong lĩnh vực biển, không gian vũ trụ hay không gian ảo máy tính.

Trên thực tế, thậm chí “Chủ nghĩa khu vực mở rộng” (open regionalism) do khối ASEAN khởi xướng cũng là một phần của hệ thống này - một hệ thống pháp trị mà đã tạo điều kiện cho các quốc gia và công dân của họ cơ hội và sự thịnh vượng vô đối. Nếu không có hệ thống và các quy định của hệ thống, các căng thẳng có thể gia tăng khi các quốc gia cạnh tranh nhau về các nguồn lực.

Chính sách của Hoa Kỳ tiếp tục hỗ trợ các nỗ lực nhằm duy trì hệ thống này. Chẳng hạn như chúng tôi hoan nghênh sự quay trở lại của các động thái vào thời điểm giữa những năm 1990 về “quy tắc ứng xử” giữa các quốc gia có tranh chấp đối nghịch về lãnh thổ và nguồn lực tại Biển Đông. Lúc đó cũng như bây giờ chúng tôi nhấn mạnh rằng chúng tôi không thiên vị một yêu sách hoặc một quốc gia hơn những yêu sách hay quốc gia khác. Chúng tôi lúc đó cũng như hiện nay thúc giục việc duy trì một môi trường hòa dịu, không căng thẳng, trong đó các yêu sách đối nghịch nhau có thể được bàn bạc và nếu có thể là giải quyết. Tất cả chúng ta ở châu Á đều phải đảm bảo rằng các hành động của chúng ta không phải là các chiến thuật gây áp lực kể cả khi nó cùng tồn tại trong cái lốt là hợp tác. Như chúng ta đã chứng kiến trong mấy thập kỉ vừa qua, sự tin cậy xuất phát từ sự cởi mở và minh bạch đã mang lại lợi ích cho tất cả các thành viên ở khu vực…”

 

Những ngày này, Biển Đông thu hút nhiều sự chú ý chiến lược hơn, đặc biệt là trong vấn đề năng lượng, hải quân và vận tải biển. Thẳng thắn mà nói, một vài nước trong khu vực châu Á Thái Bình Dương đã phát hiện ra là những gì họ thấy là một cách tiếp cận mâu thuẫn của Trung Quốc đối với không gian biển của nước này. Cho phép tôi mô tả dưới đây những nghi ngờ này có ý nghĩa thế nào khi mà các nước này cho rằng họ đã chứng kiến cách tiếp cận trái ngược, thậm chí là mâu thuẫn của Trung Quốc đối với biển Đông.

 

Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển (UNCLOS) và tập quán của luật quốc tế?

Cách tiếp cận đầu tiên liên quan đến các vùng biển ngoài khơi lục địa Trung Quốc, những vùng nước rộng lớn được vẽ và khoanh lại theo các quyền quy chế biển được quy định trong Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển (UNCLOS).

Trung Quốc đã ký kết Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982 và mười bốn năm sau là một thành viên của Công ước này khi Quốc hội nước này phê chuẩn Công ước năm 1996. Hai năm sau, Trung Quốc ban hành luật khẳng định các nguyên tắc của UNCLOS.

Theo Công ước và nói đúng ra, quy chế biển của Trung Quốc bao gồm phần nội thủy nằm bên trong đường cơ sở thẳng, việc lựa chọn đường cơ sở thẳng, và sau đó là vùng biển nằm bên ngoài đường cơ sở. Kết quả là một vùng lãnh hải rộng 12 hải lý, vùng tiếp giáp 24 hải lý, vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý, và một thềm lục địa trải dài ra ngoài vùng đặc quyền kinh tế.

Tất cả những vùng này nằm trong cái mà những nhà ngoại giao Trung Quốc miêu tả là “các vùng biển gần” của họ, nhưng chính phủ Trung Quốc đã diễn giải nhiều hoạt động được cho phép khác nhau, cả truyền thống và phi truyền thống, trong quy chế biển của họ theo cách mà Hoa Kỳ và tất cả các nước khác trong khu vực không thể dễ dàng chấp nhận được.

Đây là những lý do cơ bản tại sao những nước láng giềng lân cận của Trung Quốc cũng như những nước xa hơn, bao gồm cả Mỹ, có cách tiếp cận khác chính phủ Trung Quốc:

·        Đầu tiên, họ thấy rằng đường cơ sở của Trung Quốc là quá dài và mở rộng quá xa ngoài đường bờ biển tự nhiên, nên đã tạo ra vùng nội thủy quá rộng lớn;

·        Thứ hai, họ thấy những nỗ lực áp đặt yêu cầu phải xin phép trước khi đi trong lãnh hải của Trung Quốc (đặc biệt đối với các tàu thuyền nước ngoài qua lại vô hại) là không được ghi nhận trong UNCLOS hay tập quán quốc tế;

·        Thứ ba, họ có bất đồng về việc diễn giải ý nghĩa chính xác của cụm từ “việc sử dụng hợp pháp khác” của vùng đặc quyền kinh tế theo điều 58(1) của Công ước. Ví dụ, các hoạt động thăm dò không vì mục đích kinh tế – như là những thăm dò với mục đích quân sự hoặc an toàn lưu thông hàng hải– có được xem là “nghiên cứu khoa học biển” (MSR) và, do đó, bị coi như là vi phạm Công ước hay không? Trái lại, chúng ta cho rằng các hoạt động thăm dò độ sâu của biển, thử độ mặn, theo dõi tàu ngầm hay các hoạt động do thám tất cả đều là “các quyền tự do trên biển cả” và do đó được coi là phù hợp với điều khoản “việc sử dụng hợp pháp khác”.

·        Cuối cùng, và đúng như trong cấu trúc của UNCLOS, rất nhiều người ủng hộ lập trường của Nhật Bản rằng vùng đặc quyền kinh tế của nước này, trong khi chồng lấn với vùng của Trung Quốc, có thể và nên được giải quyết bằng cách phân chia đều vùng biển bằng cách vẽ một đường cách đều dọc thềm lục địa của biển Hoa Đông. Tôi để ý những người bạn Trung Quốc của chúng ta cho rằng Trung Quốc được phép có thềm lục địa kéo dài xuống đến tận vùng lõm Okinawa. Dĩ nhiên, dọc theo thềm dài này có cả tranh chấp quần đảo Senkaku (Trung Quốc gọi là Điếu Ngư Đài – nd) và các nguồn hydrocarbon có thể khai thác được.

 

… Hay Chủ nghĩa đơn phương?

Cách tiếp cận thứ hai đối với không gian biển của Trung Quốc đi liền với các vùng nước ở vòng cung phía Nam biển Đông. 

Trung Quốc nhìn nhận rằng đây là “lãnh hải” của mình, một quy chế đặc biệt nằm trong cái gọi là “đường đứt khúc chín đoạn” được vẽ trên các bản đồ Trung Quốc và được đánh dấu dọc theo các bờ biển của các nước ven biển khác. Thỉnh thoảng đường này gọi là “đường lưỡi bò” bởi vì hình dáng của nó, chính quyền Quốc Dân Đảng lần đầu tiên vẽ đường này năm 1947.

Không có đường nào xuất hiện trong các bản đồ của Trung Quốc giữa “các vùng biển gần” của nước này và vòng cung phía Nam đường lưỡi bò và các đối tác của chúng ta ở Châu Á thấy rằng những người bạn Trung Quốc của chúng ta hơi mơ hồ về vị trí cụ thể của vùng lãnh hải nằm bên trong đường lưỡi bò. Tôi cũng không thấy bất cứ viện dẫn bằng văn bản nào của Trung Quốc về các nguyên tắc của UNCLOS giúp khẳng định yêu sách này đối với vòng cung phía nam.

Mặc dù Trung Quốc và các quốc gia khác chưa khẳng định đặc quyền nào đối với việc hạn chế lưu thông hàng hải, Trung Quốc thường xuyên cảnh báo các công ty khai thác tài nguyên thiên nhiên làm việc cho các quốc gia ven biển Đông không được tìm kiếm hydrocarbon và các hoạt động thăm dò khác trong “lãnh hải” được tuyên bố chủ quyền đơn phương này. Những lời cảnh báo này, mặc dù lịch sự nhưng rất cứng rắn, lại nổi lên một lần nữa tại một Hội nghị về các đường biên giới biển ở Houston, Texas vào tháng tư này.

Khi chỉ vận dụng cách tiếp cận “các vùng  Biển gần” này, Trung Quốc xác định việc nước này xác định yêu sách đối với tất cả các quy chế biển nằm hướng ra biển của vùng đất chủ quyền là hoàn toàn phù hợp với các nguyên tắc UNCLOS. Nhưng với phần phía Nam của biển Đông, Trung Quốc đã lý giải “lô-gíc của vòng cung này” theo một đường tiếp tuyến khác, với một yêu sách chủ quyền bao gồm toàn bộ các điểm nổi và chìm dưới mặt biển bởi vì chúng nằm phía dưới, hay nổi lên phía trên “lãnh hải” được bao quanh bởi đường đứt khúc chín đoạn. 

Trong khi Trung Quốc không tuyên bố chủ quyền đối với vùng lãnh hải xa hơn hay vùng đặc quyền kinh tế từ những điểm này, nó có ý nghĩa là tất cả các điểm nổi trong đường lưỡi bò – quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa và bãi đá Scarborough – nằm trong vùng yêu sách của Trung Quốc, mặc dù mỗi điểm đó đều có ít nhất một nước tuyên bố chủ quyền khác nữa.

Việc xác định hay phân xử các đường biên giới quốc tế phụ thuộc vào ba nguyên tắc pháp lý cơ bản - tính mặc nhận, tính độc chiếm và lịch sử - để chứng minh chủ quyền. Dù vai trò của lịch sử có như thế nào đi nữa thì yêu sách của Trung Quốc đối với đường lưỡi bò chỉ nổi lên kể từ khi Quốc dân đảng vẽ đường đứt khúc.

Sự hiện diện lịch sử lại là một vấn đề khác. Giới học thuật Trung Quốc  và Việt  Nam đưa ra những mảnh vỡ đồ gốm hay những bản viết tay không nhìn rõ để chứng minh sự hiện diện lịch sử - nhưng không nhất thiết là sự độc chiếm trong những vùng biển tranh chấp này vốn nằm xa bờ biển Trung Quốc.

Như tất cả chúng ta nhận ra, những nước láng giềng của Trung Quốc có chung những điểm tương đồng khá lớn với lập trường ngoại giao của Trung Quốc trong các vấn đề quốc tế, từ biến đổi khí hậu và tự do hóa thương mại cho đến sự chấp nhận một nước Trung Quốc, bao gồm cả Đài Loan. Nhưng không một quốc gia ven biển Đông nào thừa nhận đường lưỡi bò mà tiến tới tận đường bao quanh quần đảo Natuna của Indonesia.

Ngược lại, số lượng các quốc gia yêu sách chủ quyền ở quần đảo Trường Sa vẫn chưa giảm bớt được một nước nào kể từ khi đàm phán nhằm đạt được Công ước luật biển đã xác định và làm rõ cách chia này trong suốt những năm 70. Cần xem xét sự chống cự dũng cảm của Việt Nam đối với sự chiếm đóng của Trung Quốc ở Hoàng Sa, hay sự phản đối của các nước ASEAN chống lại chiến thuật loại trừ nhằm hạn chế các hoạt động tìm kiếm hydrocarbon bởi các công ty dầu khí quốc gia hay nước ngoài. Ít nhất, thỏa thuận năm 2002 của Trung Quốc nhằm hướng tới một bộ quy tắc ứng xử ở biển Đông cho thấy sự sẵn sàng thoả hiệp, một sự từ bỏ trên thực tế về tính độc quyền tiến hành các hoạt động trong những vùng nước này.

Các hoạt động hợp tác, cùng phát triển và các chủ đề khác trong hội nghị này đều có những cơ sở và lô-gíc riêng của chúng. Tuy nhiên, vấn đề chủ quyền đã cản trở những bước tiến trong các lĩnh vực này, mặc cho các dàn xếp song phương thống nhất những thỏa thuận chung mà không tổn hại đến yêu sách với các nước khác, bao gồm cả Trung Quốc.

Để phục vụ mục đích thảo luận, hình ảnh bên dưới thể hiện những ranh giới mà khu vực kinh tế đặc quyền 200 hải lý của các nước ven biển có thể được kéo dài từ đường bờ biển đến biển Đông nếu người ta có thể bỏ qua tác dụng của các đảo, rặng đá và vùng nước cạn đang tranh chấp trong khu vực này.

 

Theo đó, các quốc gia trên sẽ có được đặc quyền khai thác, phát triển và bảo vệ các tài nguyên động vật và phi động vật trong tầng nước, đáy biển và tầng đất bên dưới vượt xa giới tuyến “lưỡi bò” của Trung Quốc. Cần chú ý cách các vùng đặc quyền kinh tế chồng lấn và liền kề nhau được phân cách (trong trường hợp này, về mặt lý thuyết) bằng các đường cách đều đơn giản như thế nào.

 

 

Khu vực “lỗ bánh vòng” màu xanh đậm ở giữa bản đồ thể hiện phần thềm lục địa kéo dài vượt khỏi khu vực kinh tế đặc quyền. Đây là vùng mà các quốc gia ven biển được phép yêu sách miễn là giới hạn thềm lục địa được chứng minh về mặt khoa học theo các nguyên tắc của UNCLOS và theo các hướng dẫn trong Ủy Ban về Giới Hạn của Thềm Lục Địa (CLCS). CLCS xem xét và đưa ra các khuyến nghị về việc đệ trình yêu sách chủ quyền của các nước đối với phần thềm lục địa kéo dài.

 

 

Cuối cùng, bầu không khí hiện tại có thể được cải thiện bằng những hành động quyết đoán để tiến hành hợp tác trong lĩnh vực khảo sát khoa học hải dương, thậm chí là hợp tác chung hoặc đa phương trong lĩnh vực dò tìm tài nguyên hydrocarbon. Hoàn toàn dễ hiểu khi khu vực đã có đôi chút hoài nghi về giá trị của nhiều sáng kiến, bao gồm “các biện pháp xây dựng lòng tin” và rất nhiều các hoạt động thiếu giá trị thực tiễn khác do Diễn đàn khu vực Đông Nam Á tài trợ. Vấn đề an toàn với những cuộc diễn tập trên biển và việc chia sẻ thông tin về môi trường đánh dấu những bước khởi đầu có ích, nhưng không gì có thể đẩy nhanh những hoạt động hợp tác chân chính – trong các lĩnh vực quan trọng như năng lượng, thương mại, giao thông hàng hải và an ninh- bằng mong muốn đạt được một hướng tiếp cận chung và sự hợp lý hoá cách tiếp cận đó để tiến tới xác định không gian biển của mỗi quốc gia. 

 

 

 

Người dịch: Ngô Quang Hưng

 


 

(Đề nghị chỉ được dẫn đường link mọi thông tin, bài viết  trên www.nghiencuubiendong.vn, không cắt đăng lại khi chưa có sự đồng ý của Ban Biên tập Website)

Thành viên đăng ký đọc bản gốc:

"Near Sea": Contrasting Perceptions of Maritime Space

 

 


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Báo cáo chưa đầy đủ về hoạt động quân sự của Mỹ tại Biển Đông năm 2018

Báo cáo chưa đầy đủ về hoạt động quân sự của Mỹ tại Biển Đông năm 2018

Chừng nào sức mạnh của Trung Quốc vẫn đang phát triển, ngay cả khi nước này tiếp tục hạn chế sử dụng sức mạnh, quân đội Mỹ vẫn sẽ tiếp tục tăng cường bố trí lực lượng và hiện diện quân sự, tăng cường hoạt động “tự do hàng hải” khiến Biển Đông trở thành “chiến trường”. Trong tương lai, lực lượng quân đội Mỹ sẽ không ngừng tập trung ở Biển Đông, gia tăng cường độ hành động hơn nữa.

Đọc tiếp...

Trung Quốc-Philippines: Triển vọng khai thác dầu khí

Trung Quốc-Philippines: Triển vọng khai thác dầu khí

Bầu không khí của chuyến thăm thứ 5 của Duterte đến Trung Quốc đã trở nên u ám sau các hành động của Trung Quốc như phái hàng trăm tàu cá đến đảo Thị Tứ và đâm chìm một tàu cá Philippines gần bãi Cỏ Rong trong nửa đầu năm 2019.

Đọc tiếp...

Trung Quốc khẳng định sức mạnh bằng "họng súng" và "vỏ bọc hòa bình"

Trung Quốc khẳng định sức mạnh bằng

"Người dân Trung Quốc đã học được giá trị của hòa bình"..."Trung Quốc chưa bao giờ tiến hành bất kỳ cuộc chiến tranh hay xung đột nào" hay "Trung Quốc luôn đi đầu trong việc hướng tới hòa bình và ổn định khu vực"... Đây là những "Khẩu hiệu" mà Trung Quốc thường rêu rao để đánh bóng hình ảnh của mình. Tuy nhiên, những gì Trung Quốc làm hoàn toàn trái ngược với điều đó.

Đọc tiếp...

"Hàng xóm bắt nạt": Hành động của Trung Quốc ở Biển Đông sẽ phản tác dụng

Mọi hành động đều có phản ứng khác nhau; các quốc gia ở Đông Nam Á cũng như các quốc gia có lợi ích ở khu vực này chắc chắn sẽ không khoanh tay đứng nhìn. Trên thực tế, Bắc Kinh đang “mời gọi" các nước chống lại họ, và điều này không mang lại lợi ích cho Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Chiến tranh pháp lý của Trung Quốc, tranh chấp tài nguyên và luật biển

Chiến tranh pháp lý của Trung Quốc, tranh chấp tài nguyên và luật biển

Học thuyết “Tam chiến” của Trung Quốc vạch ra bộ ba phương pháp tấn công: chiến tranh thông tin, chiến tranh tâm lý và chiến tranh pháp lý. Trong số này, chức năng của chiến tranh pháp lý là nhằm “thúc đẩy tính hiệu quả của các cơ chế và quy trình pháp lý hiện hành để hạn chế hành vi đối địch, đối phó trong các hoàn cảnh bất lợi, đảo ngược các án lệ, và tối đa hóa lợi thế trong các tình huống liên quan đến các lợi ích cốt lõi của Trung Quốc”.

Đọc tiếp...

Câu chuyện về chủ quyền và vai trò cá nhân lãnh đạo trong xác lập vị thế của Trung Quốc

Câu chuyện về chủ quyền và vai trò cá nhân lãnh đạo trong xác lập vị thế của Trung Quốc

Hành vi và khát vọng bá quyền trên biển của Trung Quốc đang khiến cả châu Á giận dữ. Qua nghiên cứu so sánh tư tưởng và ngoại giao, bài phân tích sẽ giúp hiểu được viễn cảnh hình thành khát vọng bá quyền trên biển của Trung Quốc và ảnh hưởng của các chính sách hải quân của nước này đến các quốc gia khác trong việc sửa đổi hoặc hình thành các chiến lược biển mới.

Đọc tiếp...

Cách thức ngăn chặn Trung Quốc trên Biển Đông

Cách thức ngăn chặn Trung Quốc trên Biển Đông

Mỹ và đồng minh phải sử dụng sức mạnh của họ trên mọi lĩnh vực quân sự và phi quân sự. Theo đó, các hoạt động hộ tống bảo vệ hàng hải sẽ đi kèm với các nỗ lực đồng thời nhằm giúp các chính phủ và nền kinh tế ở Đông Nam Á vững vàng hơn trước ảnh hưởng xấu của Trung Quốc, cũng như việc phát triển và triển khai các lực lượng chiến đấu tinh nhuệ với nhiệm vụ ngăn chặn hành vi gây hấn quy mô lớn của Trung Quốc

Đọc tiếp...

Tôn trọng và tuân thủ luật pháp - Ưu tiên hàng đầu cho vấn đề hóc búa ở Biển Đông

Tôn trọng và tuân thủ luật pháp - Ưu tiên hàng đầu cho vấn đề hóc búa ở Biển Đông

Những diễn biến gần đây ở Biển Đông, một trong những tuyến đường biển sầm uất nhất trên thế giới, không chỉ đáng báo động mà còn nhiều khả năng biến thành một cuộc chiến tranh thực sự. Nếu điều đó xảy ra, hòa bình và ổn định ở Đông Nam Á sẽ tiêu tan.

Đọc tiếp...

Đối đầu ở Bãi Tư Chính: Giông tố mới ở Biển Đông

Đối đầu ở Bãi Tư Chính: Giông tố mới ở Biển Đông

Vụ việc ở Bãi Tư Chính là một phần trong những nỗ lực của Trung Quốc nhằm ngăn cản hoạt động khai thác tài nguyên hợp pháp ở Biển Đông của các quốc gia ven biển và hợp tác giữa họ với các nước ngoài khu vực. Những hành động này có thể mang lại lợi ích trước mắt cho Trung Quốc, nhưng về lâu dài sẽ dẫn đến bất lợi cho quốc gia này.

Đọc tiếp...

Philippines: Làm thế nào để đứng vững giữa cuộc cạnh tranh Trung-Mỹ?

Philippines: Làm thế nào để đứng vững giữa cuộc cạnh tranh Trung-Mỹ?

Philippines đã đúng khi mong muốn có mối quan hệ thân thiện với Trung Quốc, đặc biệt là khi nước này mong muốn mở cửa để phát triển kinh tế hơn nữa. Manila cũng phải nhớ rằng hòa bình và thịnh vượng lâu dài phụ thuộc vào quyền tự do và sự tôn trọng lẫn nhau giữa các nước có chủ quyền, cũng như trật tự quốc tế dựa trên nguyên tắc. Trong lời nói và hành động, Philippines cần phải giữ vững lập trường để bảo vệ những nguyên tắc quan trọng này.

 

Đọc tiếp...

Đỉnh điểm của việc Trung Quốc quân sự hóa biển Đông

Đỉnh điểm của việc Trung Quốc quân sự hóa biển Đông

Tính tới giờ, việc Trung Quốc tiến hành quân sự hóa một số đảo nhân tạo trên Biển Đông được cho là động thái ở mức cao nhất của nước này đối với các vấn đề ở khu vực. Thực chất hành động cũng như mục đích đằng sau của Trung Quốc đe dọa tới không chỉ các nước trong khu vực mà còn tới cả nước lớn như Mỹ.

Đọc tiếp...

Thực chất tình hình tại biển Đông

Thực chất tình hình tại biển Đông

Các vấn đề tại Biển Đông vốn đã xảy ra trong một khoảng thời gian dài, đặc biệt là giữa các bên có yêu sách ở khu vực này. Gần đây, những vấn đề trên trở nên phức tạp hơn do những tính toán chiến lược không chỉ của các bên có tranh chấp, mà còn của cả các nước lớn bên ngoài khu vực.

Đọc tiếp...

Gót chân Asin của ASEAN trong vấn đề Biển Đông

Gót chân Asin của ASEAN trong vấn đề Biển Đông

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), từ lâu được mô tả là mô hình thành công nhất của sự hội nhập khu vực trong thế giới hậu thực dân, đã ngày càng trở nên bất lực trong việc kiềm chế Trung Quốc làm xói mòn trật tự dựa trên quy tắc của khu vực vốn được định hướng bằng nguyên tắc không gây hấn, tránh xung đột và chủ nghĩa đa phương tự do.

Đọc tiếp...

Các vấn đề trong liên minh Mỹ-Philippines

Các vấn đề trong liên minh Mỹ-Philippines

Hiện nay, không có thông tin công khai về việc Chính phủ Philippines chính thức yêu cầu Mỹ có một đánh giá hiệp ước chính thức. Người ta cho rằng một đánh giá chính thức sẽ vấp phải những khó khăn, trước hết là trong việc đạt được sự nhất trí về những sửa đổi đối với một hiệp ước có từ 7 thập kỷ trước và sau đó là trong việc phê chuẩn một hiệp ước đã sửa đổi ở cả 2 nước.

Đọc tiếp...

Suy nghĩ về các hành động của Trung Quốc tại Bãi Tư Chính

Suy nghĩ về các hành động của Trung Quốc tại Bãi Tư Chính

Nếu không có một phản ứng cứng rắn từ phía cộng đồng quốc tế đối với các hành động của Trung Quốc tại Bãi Tư Chính, các vụ việc tương tự sẽ còn lặp lại trong những năm tới, lý do đơn giản là Bắc Kinh rất hào hứng nhận ra rằng các hành động cưỡng ép của họ đã mang lại hiệu quả.

Đọc tiếp...

Vai trò ngày càng tăng của EU ở Biển Đông

Vai trò ngày càng tăng của EU ở Biển Đông

Yêu cầu của EU đòi phải được thừa nhận là một bên tham gia về chính trị và an ninh ở châu Á không phải là mới. Tham vọng của họ có một ghế tại EAS và gần đây hơn là địa vị quan sát viên tại Nhóm chuyên gia ADMM+ là chủ đề của nhiều cuộc thảo luận, xoay quanh đòi hỏi chính là thừa nhận giá trị thực tế của EU đối với an ninh khu vực. Bởi vậy, việc xem xét kỹ lưỡng các chính sách và hành động của EU ở Biển Đông là điều hợp lôgích.

Đọc tiếp...

Hệ lụy từ hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông

Hệ lụy từ hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông

Việc kiểm soát Biển Đông có nghĩa là Trung Quốc có khả năng bác bỏ hệ thống trật tự thế giới dựa trên các quy tắc, từ chối tuân thủ các chuẩn mực, kỳ vọng, và UNCLOS; đẩy người bảo vệ trật tự thế giới (Mỹ) khỏi Tây Thái Bình Dương, làm suy yếu hoặc phá hủy các đồng minh ở Tây Thái Bình Dương, khiến uy tín của Mỹ bị nghi ngờ ở phạm vi khu vực cũng như quốc tế và phá hủy cơ sở hạ tầng an ninh ở Đông Nam Á.

Đọc tiếp...

Nhận diện chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông

Nhận diện chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông

Để giành kiểm soát trên Biển Đông, đầu tiên, Trung Quốc cần phải cô lập khu vực. Trong nỗ lực cô lập khu vực, Trung Quốc sử dụng chiến lược hai hướng “cây gậy và củ cà rốt”, vừa lôi kéo các nước láng giềng khi thuận tiện trong khi đe dọa các nước chống đối mình.

Đọc tiếp...

Nhận diện mục đích của Trung Quốc ở Biển Đông

Nhận diện mục đích của Trung Quốc ở Biển Đông

Tại sao Trung Quốc lại tập trung vào Biển Đông đến như vậy và tại sao lại vào thời điểm này? Nghiên cứu cho thấy, một phần Trung Quốc được thúc đẩy bởi nhận thức về cơ hội, một phần vì nhận thức về sự suy yếu của Mỹ và một phần bởi nhu cầu lên tiếng về những tuyên bố pháp lý của nhà nước.

Đọc tiếp...

Phán quyết Biển Đông: Chúng ta nên hiểu Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển như thế nào?

Phán quyết Biển Đông: Chúng ta nên hiểu Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển như thế nào?

Người ta thường cho rằng cơ chế giải quyết tranh chấp được quy định tại phần XV Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS) được áp dụng rất hạn chế, phản ánh ý đồ của những người soạn thảo UNCLOS. Vì vậy, các tòa trọng tài cần diễn giải phần XV một cách thận trọng, lưu ý đến những giới hạn về thẩm quyền của toà. Tuy nhiên, Phán quyết Vụ kiện Biển Đông đã đi ngược lại với cách tiếp cận này.

Đọc tiếp...

Leo thang trên biển: Tình trạng ổn định và bất ổn định tại các vùng biển Đông Á

Leo thang trên biển: Tình trạng ổn định và bất ổn định tại các vùng biển Đông Á

Bài viết lập luận rằng các bất ổn cường độ thấp sẽ xảy ra trong tranh chấp biển hoặc cạnh tranh sức mạnh trên biển; tuy nhiên, ít có khả năng tạo ra chu kỳ leo thang kéo dài bởi đặc điểm của môi trường chiến lược biển khu vực.

Đọc tiếp...

Đã đến lúc cần suy nghĩ nghiêm túc về một chiến lược tại Biển Đông

Đã đến lúc cần suy nghĩ nghiêm túc về một chiến lược tại Biển Đông

Thời điểm hiện tại, tình hình Biển Đông đang đi vào thời điểm quan trọng khi những bước tiến của Trung Quốc đang tích tụ dần còn dư địa cho Mỹ hành động đang giảm đi, và các nhà quan sát tại khu vực thì đang tự hỏi liệu Mỹ đã sẵn sàng đối mặt với thách thức này hay chưa. Và Mỹ vẫn đang loay hoay đi tìm một chiến lược.

Đọc tiếp...

"Không độc chiếm" Biển Đông?

Dù có sự khác biệt giữa Vương quốc Trung Hoa và Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, nhưng Simon nhận thấy Trung Quốc vẫn giữ khuynh hướng sơ khởi đó là thưởng cho "những quốc gia sẵn sàng thừa nhận vị thế bá chủ khu vực của mình" trong khi phạt "những quốc gia từ chối tuân phục". Để thấy rõ nhất cách tiếp cận này của Trung Quốc, ta có thể nhìn ngay vào quan hệ của nước này tại Đông Nam Á trong năm 2018.

Đọc tiếp...

Vai trò các Chủ thể Doanh nghiệp trong Chính sách Biển Đông của Trung Quốc

Vai trò các Chủ thể Doanh nghiệp trong Chính sách Biển Đông của Trung Quốc

Bài viết phân tích 3 trường hợp nghiên cứu trong lĩnh vực - du lịch, khai thác năng lượng và cơ sở hạ tầng - từ đó nêu bật vai trò các chủ thể doanh nghiệp Trung Quốc đã làm thay đổi chính sách Biển Đông của Trung Quốc như thế nào.

Đọc tiếp...

Chiến lược xây dựng Trung Quốc trở thành cường quốc biển của Bắc Kinh

Chiến lược xây dựng Trung Quốc trở thành cường quốc biển của Bắc Kinh

Bài phân tích đánh giá việc Bắc Kinh xác định chiến lược biển của mình trong các tuyên bố công khai của lãnh đạo. Mục đích là nhằm hiểu được nhiều hơn về ý đồ và ưu tiên chiến lược của Trung Quốc trong lĩnh vực biển; đồng thời cung cấp cho giới hoạch định chính sách và các chuyên gia an ninh quốc gia vốn kiến thức cụ thể và đầy đủ nhất để đối trọng với Trung Quốc trong các vấn đề trên biển.

Đọc tiếp...

Biển Đông: Các Động lực Thay đổi

Biển Đông: Các Động lực Thay đổi

Hành động của Trung Quốc tại Biển Đông khiến các nước trong khu vực cảnh giác. Thực tế này thúc đẩy Philippines kiện Trung Quốc. Vào năm 2016, tòa đã đưa ra phán quyết. Hành động và phản ứng của các bên liên quan tới phán quyết và các sự kiện chính trị khác đã khiến năm 2016 trở thành một năm đáng chú ý. Cuộc bầu cử Tổng thống ở Philippines và Mỹ cũng bổ sung những động lực khác khiến tình hình khu vực thay đổi.

 

Đọc tiếp...

Cạnh tranh ảnh hưởng Trung - Mỹ tại Đông Nam Á

Cạnh tranh ảnh hưởng Trung - Mỹ tại Đông Nam Á

Bài viết so sánh chính sách đối ngoại của Trung Quốc và Mỹ, cụ thể là các hình thức hội nhập kinh tế và cách tiếp cận địa chính trị tại Đông Nam Á. Các tác giả so sánh động cơ và lý do các cường quốc lớn và hạng hai trong khu vực chấp nhận hoặc tranh cãi về các chính sách của Mỹ và Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Khảo cổ học và chủ nghĩa yêu nước: Chiến lược dài hạn của Trung Quốc ở Biển Đông

Khảo cổ học và chủ nghĩa yêu nước: Chiến lược dài hạn của Trung Quốc ở Biển Đông

Các ghi chép của Trung Quốc cho thấy chuyến thám hiểm chính thức đầu tiên của Trung Quốc tới Hoàng Sa vào năm 1902 chưa từng diễn ra. Thay vào đó, một cuộc thám hiểm bí mật được tiến hành nhiều thập kỷ sau đó để ngụy tạo bằng chứng khảo cổ học trên quần đảo Hoàng Sa nhằm củng cố yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Trung Quốc và ASEAN trên Biển Đông: Những cơ hội và nguy hiểm

Trung Quốc và ASEAN trên Biển Đông: Những cơ hội và nguy hiểm

Quan hệ giữa Trung Quốc và ASEAN về vấn đề Biển Đông dường như đang được cải thiện. Trong khu vực, người ta nói đến hợp tác kinh tế và khoa học, khai thác chung tài nguyên biển, bộ quy tắc ứng xử. Nhưng thực tế hoàn toàn khác và chúng ta không thể quên một điều cốt yếu: Sự mất cân xứng về công nghệ và quân sự, những cơ hội và nguy hiểm của việc khai thác chung... có lợi cho Bắc Kinh!

Đọc tiếp...

Cách thức đúng đắn để Mỹ đẩy lùi Trung Quốc ở Biển Đông

Cách thức đúng đắn để Mỹ đẩy lùi Trung Quốc ở Biển Đông

Một liên minh hiệu quả ở Biển Đông sẽ là thứ giúp bảo vệ các quyền lợi mà các nước Đông Nam Á được hưởng trong vùng biển của chính họ, đồng thời khiến Bắc Kinh phải đưa ra những nhượng bộ dài hạn hoặc phải trả một cái giá cắt cổ về ngoại giao và kinh tế. Nhưng để làm được điều đó, Washington cần đưa chính sự sáng tạo và tham vọng mà họ đã thể hiện ở biển Hoa Đông đến Biển Đông.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 5313 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin