19 - 9 - 2020 | 2:21
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI Leszek Buszynski, An ninh Biển Đông và giải pháp thực tế - Trang 2

Leszek Buszynski, An ninh Biển Đông và giải pháp thực tế - Trang 2

Email In PDF.
Chỉ mục bài viết
Leszek Buszynski, An ninh Biển Đông và giải pháp thực tế
Page 2
Tất cả các trang


VAI TRÒ CỦA HỘI THẢO TRONG VIỆC THÁO GỠ BẾ TẮC 


Hội thảo đề cập đến vấn đề giải quyết tranh chấp thường được coi là giải quyết các vấn đề tác động lẫn nhau, có thể được sử dụng khi các biện pháp ngoại giao chính thức lâm vào thế bế tắc và khi các bên tìm kiếm lối thoát khỏi tình huống đó. Hội thảo có thể được sử dụng như các biện pháp thúc đẩy các đề xuất giải quyết tranh chấp và phép thử không chính thức bởi khả năng không vướng phải các trở ngại liên quan tiến trình ngoại giao chính thức. Người đầu tiên đưa ra quan điểm này là ông John Burton, người thành lập Trung tâm phân tích xung đột thuộc Đại học Luân Đôn năm 1966, sau này chuyển tới Đại học Kent tại Canterbury. Quan điểm này cũng được Herbert Kelman thuộc Trường đại học Harvard và Leonard Doob thuộc Trường đại học Yale đưa ra trong một loạt cuộc hội thảo về xung đột tại Síp, Inđônêxia và Malaixia. Ông Kelman đã tổ chức hàng loạt cuộc hội thảo về xung đột giữa các nước Arập và Ixraen bắt đầu từ năm 1971 và tiếp tục cho tới sau hiệp định Ôxlô năm 1993. Ý tưởng này là đưa những người có liên quan cho tới lãnh đạo các bên xung đột tham dự hội thảo và tạo cho họ cơ hội xác định đường hướng và các biện pháp giải quyết cuộc xung đột. Các kết luận tại các cuộc hội thảo sẽ được chuyển tới các cuộc thương lượng ngoại giao hoặc là bởi những người tham dự hoặc những người tổ chức hội thảo, những người có các kênh thông tin riêng với chính phủ của mỗi bên trong cuộc xung đột. Đại sứ Hasjim Djalal đã áp dụng ý tưởng tiến hành các cuộc tương tự hội thảo về Biển Đông, được Bộ Ngoại giao Inđônêxia bảo trợ và Cơ quan phát triển quốc tế Cađana (CIDA) tài trợ cho tới năm 2001. Các cuộc hội thảo này mang chủ đề: “Quản lý các cuộc xung đột tiềm tàng ở Biển Đông” và được tiến hành hàng năm bắt đầu tại
Bali tháng 1/1990. Tham gia hội thảo có các quan chức chính phủ, chuyên gia kỹ thuật về hợp tác phát triển các nguồn tài nguyên biển từ 11 nước, 6 nước ASEAN, Đài Loan, Campuchia, Lào và Việt Nam; Trung Quốc và Đài Loan tham gia trong năm 1991. Sau khi CIDA ngừng tài trợ, các cuộc hội thảo như vậy tiếp tục được tổ chức với nguồn tài chính cung cấp từ các bên tham gia. 


Đã có một số nỗ lực nhằm chuyển các cuộc hội thảo lần thứ hai thành cuộc hội thảo ngoại giao đầu tiên theo cách thích hợp đối với Biển Đông. Bộ trưởng Ngoại giao Inđônêxia Ali Alatas năm 1992 tuyên bố rằng sau 3 hội thảo, Trung Quốc đã đồng ý gác lại tuyên bố chủ quyền của mình và tìm kiếm sự hợp tác cùng có lợi với ASEAN. Ông khẳng định rằng “các điều kiện là có ích cho các nước ASEAN” để xây dựng một số dạng hợp tác nào đó ở khu vực Trường Sa, song ông bị các đại biểu phản đối. Cuộc hội thảo trong năm 1994 có thể được nâng tầm để đưa vào chương trình nghị sự cả “các cuộc thảo luận liên chính phủ chính thức và hợp tác”. Thoạt đầu, ông Ali Alatas hy vọng mời đại sứ các nước tuyên bố chủ quyền tham gia nhằm trực tiếp chuyển hội thảo của các học giả thành hội thảo của các nhà ngoại giao. Khi bị Trung Quốc phản đối, ông Ali Alatas bèn đề xuất cách tiếp cận gián tiếp dựa trên cơ sở giả định chức năng. Nếu các quan chức chính phủ và các cơ quan trực thuộc được mời tham gia các nghiên cứu về các vấn đề chức năng như tình trạng ô nhiễm biển, đa dạng sinh học, an toàn hàng hải v.v… quan hệ hợp tác có thể được tạo dựng và có thể được mở rộng tới các vấn đề lớn hơn về tuyên bố chủ quyền bởi hiệu ứng “nước tràn”. Hàng loạt cuộc hội thảo tiếp tục các nghiên cứu và nhiều ủy ban đã được thành lập cho mục đích đó. Giả định chức năng về hiệu ứng “nước tràn”, tuy nhiên, tỏ ra không thực chất bởi sự hợp tác về các vấn đề chức năng có thể tiếp tục mà không cần tới bất kỳ một sự tác động rõ ràng nào lên ý nguyện của các đoàn đại biểu để thảo luận các vấn đề rộng lớn hơn. Ông Ali Alatas cũng đề xuất mời đại diện từ các nước bên ngoài như Mỹ và Nhật Bản tham gia các cuộc hội thảo này, song bị Trung Quốc phản đối.


Các cuộc hội thảo như trên đạt được mục tiêu gì? Những người ủng hộ cho rằng chúng giúp các đoàn đại biểu biết rõ về nhau và các lập trường của nhau hơn, rằng Trung Quốc đã biết nhiều hơn về lập trường của các nước khác cùng tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông. Người ta nói rằng Tuyên bố năm 1992 về Biển Đông trước đó đã được thảo luận tại một hội thảo trước khi văn kiện này được ký kết. Tuy vậy, dù đánh giá theo tiêu chuẩn nào thì cuộc hội thảo này cũng đã thất bại khi không đạt được muc tiêu chủ yếu của mình khiến dư luận đặt câu hỏi về hiệu quả của cách tiếp cận này. Chỉ trích chủ yếu nhằm vào cách tiếp cận của các cuộc hội thảo về Biển Đông là các đại biểu tham gia ít có ảnh hưởng tới các chính phủ của họ. Một khi các hội thảo thu hút được các đại diện cấp cao có mối quan hệ chặt chẽ với các nhà lãnh đạo cấp cao nước họ, tham gia như trong hội thảo tại Đại học Harvard về vấn đề Arập-Ixraen, rõ ràng sẽ thu được các kết quả tốt hơn. Chính phủ các nước tuyên bố nhận chủ quyền, đặc biệt là Chính phủ Trung Quốc tỏ ra không quan tâm nhiều tới các cuộc hội thảo và việc thảo luận kéo dài không có kết thúc. Bất luận thế nào thì sự tham gia của các đại diện cấp cao trong hội thảo không nhất thiết dẫn tới kết thúc như các cuộc hội thảo tại Đại học Harvard về cuộc xung đột Arập –Ixraen đã cho thấy. Trong các cuộc hội thảo này, các đại diện cấp cao có thể thể hiện lý trí và sự hiểu biết nhiều hơn vì họ biết họ đang nói trong bối cảnh không chính thức. Ngay sau khi trở lại với cương vị tương ứng trong chính phủ, lập tức họ trở lại với lập trường của mình trước khi thương lượng. Từ hy vọng quá mức ban đầu đặt lên nó, cách tiếp cận của hội thảo không thể tiến triển thật xa một khi chính phủ các nước tuyên bố chủ quyền vẫn lưỡng lự chưa quyết định. 


CÁCH TIẾP CẬN GIẢI PHÁP TỔNG THỂ 


Không thể dựa vào các cách tiếp cận đã nêu trên để giải quyết tranh chấp ở Biển Đông. Trong khi tình trạng pháp lý có thể buộc các nước ASEAN bám giữ đòi hỏi chủ quyền của họ và hy vọng về điều tốt nhất có thể đến, song điều đó ít hứa hẹn về triển vọng giải quyết tình hình. Càng chậm có giải pháp chừng nào thì nguy cơ bùng nổ xung đột và căng thẳng leo thang càng dễ xảy ra chừng ấy vì các nước tuyên bố chủ quyền tìm cách khai thác các nguồn năng lượng ở các khu vực tuyên bố chủ quyền tương ứng của họ. Kết quả trực tiếp từ tình trạng bế tắc hiện nay là việc thăm dò các nguồn năng lượng sẽ bị trì hoãn và việc khai thác thực sự sẽ bị ngăn chặn. Các công ty năng lượng quốc tế cần có môi trường ổn định và không có xung đột để hoạt động và họ sẽ do dự trong việc tham gia các dự án một khi môi trường an ninh không được bảo đảm. Lối thoát khỏi tình trạng này có thể là sử dụng việc hợp tác về năng lượng làm phương tiện để khởi xướng tiến trình cộng tác rộng lớn hơn như một bước tiến đầu tiên tới việc xây dựng quy chế biển. Nếu ASEAN có thể thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực năng lượng ở Biển Đông trên cơ sở thương mại thuần tuý, tổ chức này có thể giúp các bên phối hợp với nhau. Việt
Nam , Malaixia và Phipíppin đã mờì các công ty dầu mỏ quốc tế thăm dò, khoan và khai thác ở khu vực này. Sẽ là một bước tiến nếu các công ty dầu mỏ quốc gia của các nước chủ yếu tuyên bố chủ quyền tham gia các hoạt động chung trên cơ sở thương mại và không động chạm tới các tuyên bố chủ quyền. Khi cho các công ty năng lượng Trung Quốc tiếp cận các nguồn năng lượng ở khu vực này trên cơ sở thương mại, điều đó sẽ khiến cho Trung Quốc đặt cược vào sự ổn định ở Biển Đông và có thể tạo ra các cơ hội cho việc thăm dò các nguồn năng lượng tại đây. Nếu các công ty năng lượng Trung Quốc như Tập đoàn xăng dầu quốc gia (NPC), Tập đoàn hoá dầu Trung Quốc (CPC) và Tập đoàn quốc gia thăm dò và khai thác dầu ngoài khơi (CNOOC) tham gia việc thăm dò cùng các công ty Petro Vietnam, Petronas của Malaixia và Tập đoàn dầu mỏ quốc gia Philíppin (PNOC), thì Trung Quốc sẽ có động cơ trong việc tránh để xảy ra tình trạng làm ngưng trệ các hoạt động gây tổn hại tới lợi ích của họ. Không nghi ngờ gì rằng, nhiều khó khăn sẽ nảy sinh trong việc phân chia nguồn năng lượng một khi các hoạt động liên doanh đi vào khai thác bởi các nước tuyên bố chủ quyền sẽ đòi hỏi phần lợi nhuận đặc biệt cho việc công nhận tuyên bố chủ quyền của họ, song đó không phải là điều không thể vượt qua được. 


Đã từng có tiền lệ về liên doanh nghiên cứu địa chấn biển (JMSU), một hiệp định ba bên về hợp tác thăm dò chủ yếu ở khu vực Philíppin tuyên bố chủ quyền, được ký năm 2004. Thoạt đầu, PNOC và CNOOC được mời tham gia dự án này, sau đó do có sự phản đối của Việt
Nam , Petro Vietnam cũng được mời tham gia vào tháng 3 năm 2005. Hiệp định này bị chỉ trích dữ dội cả từ trong nước cùng như từ bên ngoài Philíppin vì những nguyên nhân khác nhau. Lý do chính khiến hiệp định này bị phản đối là vì nó vi phạm điều 12 (2) trong Hiến pháp Philíppin năm 1987. Điều khoản này quy định rõ các hiệp định hợp tác sản xuất hoặc liên doanh phải dành 60% cổ phần cho công dân Philíppin, và Tổng thống có trách nhiệm thông báo một cách thích hợp cho Quốc hội. JMSU đã được Chính quyền Manila giữ bí mật và các điều kiện trong hiệp định chỉ được công bố sau đó 3 năm. Các nhà chỉ trích trong nước Philíppin lên án Chủ tịch Quốc hội Jose De Venecia thương lượng về hiệp định này để đổi lấy những khoản vay đáng ngờ từ Trung Quốc, hàm ý có dấu hiệu tham nhũng. Các nhà chỉ trích tuyên bố rằng bằng việc cho phép Trung Quốc và Việt Nam hoạt động trong khu vực đặc quyền kinh tế của mình, tuyên bố chủ quyền của Philíppin đối với khu vực này bị yếu đi, và sự đoàn kết của ASEAN trong vấn đề Biển Đông bị phá vỡ. Cũng có những chỉ trích khác rằng Philíppin không được lợi từ hiệp định này khi Trung Quốc và Việt Nam nắm các số liệu địa chấn của khu vực. JSMU đúng là còn khiếm khuyết, nhưng dù sao nó cũng chỉ ra khả năng có thể tiến hành các hoạt động thăm dò trong tương lai, song phải trên cơ sở đa phương hoặc được sự ủng hộ của ASEAN. Một hiệp định về khoan thăm dò liên quan các công ty dầu mỏ quốc gia của các nước tuyên bố chủ quyền sẽ là nỗ lực thực hiện ý tưởng phát triển chung trong ngữ cảnh của một quy chế biển rộng lớn hơn. Nó sẽ buộc phải tránh những trở ngại không lường trước của JMSU do Philíppin bảo trợ và cần phải bao gồm tất cả các khu vực có chồng lấn chủ quyền, và không được đặt ở riêng bất kỳ một khu vực nào. Chắc chắn sẽ có một loạt vấn đề phải giải quyết liên quan đến quyền nắm các dữ liệu địa chấn trong trường hợp khai thác. Theo thông lệ, hệ thống luật pháp của nước tuyên bố chủ quyền sẽ quyết định các quy chế cho dự án thương mại như vậy và việc nhường quyền này cho đơn vị hợp tác sẽ có ý nghĩa như sự vi phạm chủ quyền và sẽ bị chống đối. Nếu dự án kinh doanh được ASEAN khuyến khích và nhận được sự ủng hộ tập thể của khối này, người ta có thể xây dựng được một khung đa phương hiệu quả khả dĩ có thể giải quyết các vấn đề này. 


KẾT LUẬN 

 


Đề xuất được nhấn mạnh nói trên trong bài viết này là vừa phải và thực tế trong bối cảnh bế tắc hiện nay tại Biển Đông. Các đề nghị đầy tham vọng ủng hộ việc tìm kiếm những hiệp định sâu rộng về cơ sở pháp lý hoặc chính trị không thể tiến triển trong cuộc tranh chấp này khi các bên khăng khăng giữ tuyên bố chủ quyền của mình. Tình trạng bế tắc có thể thích hợp với những chính phủ quan tâm tới việc thể hiện sự chiếm giữ tích cực các hòn đảo để hỗ trợ cho tuyên bố chủ quyền của họ, song điều đó không cho phép họ thăm dò các nguồn tài nguyên mà không gây ra kích động căng thẳng và xung đột. Động cơ tích cực khuyến khích hợp tác năng lượng biển và tất cả các lợi ích do hợp tác mang lại đòi hỏi phải vượt qua tình trạng bế tắc. Điều đó có nghĩa là xây dựng trên các nỗ lực hiện có nhằm thăm dò các nguồn tài nguyên ở khu vực hiện đang được các nước thực hiện riêng rẽ và trong các khu vực họ tuyên bố chủ quyền. Mở rộng các nỗ lực này trong một khuôn khổ đa phương do ASEAN điều phối là không thể thực hiện được bởi nó đòi hỏi một sự thay đổi lớn trong lập trường của ASEAN đối với vấn đề này. Sự thụ động của ASEAN đối với hàng loạt vấn đề hiện khối này đang phải đương đầu là trở ngại đối với tương lai phát triển của khối, và do vậy ASEAN phải chủ động đưa ra sáng kiến giải quyết vấn đề có tầm quan trọng sống còn đối với tương lai của nó. ASEAN có vị thế đưa ra đề xuất này và bằng cách đó khối này sẽ tăng cường được vai trò của mình ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương./. 

 

TTXVN

 

 




Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

Đánh giá chiến lược của Trung Quốc tại Biển Đông

Đánh giá chiến lược của Trung Quốc tại Biển Đông

Chống tiếp cận/ngăn chặn xâm nhập (A2/AD) là chiến lược biển được xây dựng nhằm ngăn không cho lực lượng hải quân đối phương tự do di chuyển trong một không gian chiến đấu. Bài viết sẽ phân tích những thuận lợi và khó khăn khi Trung Quốc thực hiện A2/AD tại Biển Đông.

Đọc tiếp...

Khả năng Trung Quốc thiết lập một ADIZ ở Biển Đông

Khả năng Trung Quốc thiết lập một ADIZ ở Biển Đông


Trung Quốc sẽ được gì và mất gì khi thiết lập một ADIZ ở Biển Đông? Những dự báo của giới quan sát về khả năng thành công của một ADIZ trong khu vực này.

 

Đọc tiếp...

Thấy gì từ “sứ mệnh West Capella” của Mỹ ở Biển Đông?

Thấy gì từ “sứ mệnh West Capella” của Mỹ ở Biển Đông?

Một số nhà quan sát cho rằng hành động đáp trả của Mỹ mang tính tự phát, không đủ mạnh và còn khiến Bắc Kinh bạo trợn hơn. Trong thời gian vài tuần đầu, những cáo buộc như vậy bị cho là quá vội vàng, song cũng bộc lộ sự yếu kém cố hữu trong cách tiếp cận của Mỹ đối với vấn đề an ninh biển ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Đọc tiếp...

Lợi dụng đại dịch Covid 19, Trung Quốc hành động cứng rắn ở Biển Đông

Lợi dụng đại dịch Covid 19, Trung Quốc hành động cứng rắn ở Biển Đông

Trong khi thế giới chiến đấu với COVID-19, Trung Quốc đang tiến gần hơn tới việc thiết lập sự thống trị trong khu vực.

Đọc tiếp...

Đằng sau chiến lược chiếm Biển Đông của Trung Quốc

Đằng sau chiến lược chiếm Biển Đông của Trung Quốc

 

Bắc Kinh đang từng bước tiến đến mục tiêu buộc cộng quốc tế chấp thuận các tuyên bố chủ quyền của nước này đối với Biển Đông. Cứ mỗi thập kỷ trôi qua, Bắc Kinh lại đạt được một bước tiến mới trong nghị trình của mình.

Đọc tiếp...

Báo cáo khoa học: Bằng chứng về những thay đổi môi trường gây ra bởi hành vi bồi đắp đảo của Trung Quốc

Báo cáo khoa học: Bằng chứng về những thay đổi môi trường gây ra bởi hành vi bồi đắp đảo của Trung Quốc

Bài báo cáo định lượng những ảnh hưởng đến môi trường từ các hành vi bồi đắp đảo trên Biển Đông, kết quả từ việc nạo vét và có thể tác động tiêu cực đến hệ động vật, thực vật biển và hệ sinh thái biển. Mức độ thiệt hại gây ra bởi việc xây dựng đảo được cho là trầm trọng vì các rạn san hô ở Biển Đông tập trung đa dạng sinh học biển lớn nhất trên Trái Đất.

Đọc tiếp...

Biển Đông và quá trình bị biến thành lãnh thổ “lịch sử” của Trung Quốc năm 1975

Biển Đông và quá trình bị biến thành lãnh thổ “lịch sử” của Trung Quốc năm 1975

Để chứng minh cho cái gọi là chủ quyền “mang tính lịch sử”, giới học giả Trung Quốc đã nỗ lực lập luận, đưa ra những bằng chứng lịch sử. Tuy nhiên, các bằng chứng mà họ đưa ra rất mập mờ, không có bất cứ tham chiếu nào về vị trí trích dẫn chính xác, thậm chí còn cố tình sửa đổi ngôn từ gốc.

Đọc tiếp...

[Ngô Sĩ Tồn] Triển vọng tình hình Biển Đông năm 2020: Những biến động khó lường

[Ngô Sĩ Tồn] Triển vọng tình hình Biển Đông năm 2020: Những biến động khó lường

Bằng lập luận xuyên tác, vô căn cứ, Trung Quốc đã, đang và sẽ thực hiện hình thức “tuyên truyền đen” để bôi nhọ những hoạt động phù hợp với luật pháp quốc tế của các quốc gia yêu sách khác ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Chính sách của Malaysia đối với tranh chấp trên Biển Đông

Chính sách của Malaysia đối với tranh chấp trên Biển Đông

Kể từ cuối những năm 1980, khi Biển Đông nổi lên là một vấn đề an ninh nghiêm trọng, Malaysia đã nhất quán tuân theo một chính sách và chỉ có những điều chỉnh nhỏ nhằm bảo vệ chủ quyền và các quyền chủ quyền của quốc gia này, duy trì luật pháp quốc tế cùng với thúc đẩy hòa bình và ổn định trên Biển Đông.

Đọc tiếp...

Đánh giá các căn cứ của Trung Quốc ở Biển Đông

Đánh giá các căn cứ của Trung Quốc ở Biển Đông

Tương tự như các căn cứ quân sự ở Đại lục, các tiền đồn của Trung Quốc tại Biển Đông được tích hợp vào một hệ thống các hệ thống lực lượng chung lớn hơn nhằm hỗ trợ các chiến lược đang hình thành của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA).

Đọc tiếp...

Trung Quốc chọc giận Indonesia tại Biển Đông

Trung Quốc chọc giận Indonesia tại Biển Đông

Vụ xâm nhập tháng 12/2019 đánh dấu các diễn biến mới trong vấn đề quần đảo Natuna. Bắc Kinh đã thay đổi lập trường và hiện tuyên bố quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển liên quan gần quần đảo Trường Sa. Đây không còn là vấn đề “ngư trường truyền thống”.

Đọc tiếp...

Chiến lược cạnh tranh và thách thức của Trung Quốc ở Biển Đông

Chiến lược cạnh tranh và thách thức của Trung Quốc ở Biển Đông

Hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông và tham vọng tại Đông Nam Á tiếp tục được xem xét kỹ lưỡng giữa các xu hướng rộng lớn hơn, bao gồm việc cạnh tranh Mỹ-Trung ngày càng gay gắt, các cuộc thảo luận ngày một tăng về kiến trúc khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương và nỗ lực không ngừng của các quốc gia Đông Nam Á và Bắc Kinh nhằm hướng tới một bộ quy tắc ứng xử ràng buộc ở Biển Đông.

Đọc tiếp...

Báo cáo chưa đầy đủ về hoạt động quân sự của Mỹ tại Biển Đông năm 2018

Báo cáo chưa đầy đủ về hoạt động quân sự của Mỹ tại Biển Đông năm 2018

Chừng nào sức mạnh của Trung Quốc vẫn đang phát triển, ngay cả khi nước này tiếp tục hạn chế sử dụng sức mạnh, quân đội Mỹ vẫn sẽ tiếp tục tăng cường bố trí lực lượng và hiện diện quân sự, tăng cường hoạt động “tự do hàng hải” khiến Biển Đông trở thành “chiến trường”. Trong tương lai, lực lượng quân đội Mỹ sẽ không ngừng tập trung ở Biển Đông, gia tăng cường độ hành động hơn nữa.

Đọc tiếp...

Trung Quốc-Philippines: Triển vọng khai thác dầu khí

Trung Quốc-Philippines: Triển vọng khai thác dầu khí

Bầu không khí của chuyến thăm thứ 5 của Duterte đến Trung Quốc đã trở nên u ám sau các hành động của Trung Quốc như phái hàng trăm tàu cá đến đảo Thị Tứ và đâm chìm một tàu cá Philippines gần bãi Cỏ Rong trong nửa đầu năm 2019.

Đọc tiếp...

Trung Quốc khẳng định sức mạnh bằng "họng súng" và "vỏ bọc hòa bình"

Trung Quốc khẳng định sức mạnh bằng

"Người dân Trung Quốc đã học được giá trị của hòa bình"..."Trung Quốc chưa bao giờ tiến hành bất kỳ cuộc chiến tranh hay xung đột nào" hay "Trung Quốc luôn đi đầu trong việc hướng tới hòa bình và ổn định khu vực"... Đây là những "Khẩu hiệu" mà Trung Quốc thường rêu rao để đánh bóng hình ảnh của mình. Tuy nhiên, những gì Trung Quốc làm hoàn toàn trái ngược với điều đó.

Đọc tiếp...

"Hàng xóm bắt nạt": Hành động của Trung Quốc ở Biển Đông sẽ phản tác dụng

Mọi hành động đều có phản ứng khác nhau; các quốc gia ở Đông Nam Á cũng như các quốc gia có lợi ích ở khu vực này chắc chắn sẽ không khoanh tay đứng nhìn. Trên thực tế, Bắc Kinh đang “mời gọi" các nước chống lại họ, và điều này không mang lại lợi ích cho Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Chiến tranh pháp lý của Trung Quốc, tranh chấp tài nguyên và luật biển

Chiến tranh pháp lý của Trung Quốc, tranh chấp tài nguyên và luật biển

Học thuyết “Tam chiến” của Trung Quốc vạch ra bộ ba phương pháp tấn công: chiến tranh thông tin, chiến tranh tâm lý và chiến tranh pháp lý. Trong số này, chức năng của chiến tranh pháp lý là nhằm “thúc đẩy tính hiệu quả của các cơ chế và quy trình pháp lý hiện hành để hạn chế hành vi đối địch, đối phó trong các hoàn cảnh bất lợi, đảo ngược các án lệ, và tối đa hóa lợi thế trong các tình huống liên quan đến các lợi ích cốt lõi của Trung Quốc”.

Đọc tiếp...

Câu chuyện về chủ quyền và vai trò cá nhân lãnh đạo trong xác lập vị thế của Trung Quốc

Câu chuyện về chủ quyền và vai trò cá nhân lãnh đạo trong xác lập vị thế của Trung Quốc

Hành vi và khát vọng bá quyền trên biển của Trung Quốc đang khiến cả châu Á giận dữ. Qua nghiên cứu so sánh tư tưởng và ngoại giao, bài phân tích sẽ giúp hiểu được viễn cảnh hình thành khát vọng bá quyền trên biển của Trung Quốc và ảnh hưởng của các chính sách hải quân của nước này đến các quốc gia khác trong việc sửa đổi hoặc hình thành các chiến lược biển mới.

Đọc tiếp...

Cách thức ngăn chặn Trung Quốc trên Biển Đông

Cách thức ngăn chặn Trung Quốc trên Biển Đông

Mỹ và đồng minh phải sử dụng sức mạnh của họ trên mọi lĩnh vực quân sự và phi quân sự. Theo đó, các hoạt động hộ tống bảo vệ hàng hải sẽ đi kèm với các nỗ lực đồng thời nhằm giúp các chính phủ và nền kinh tế ở Đông Nam Á vững vàng hơn trước ảnh hưởng xấu của Trung Quốc, cũng như việc phát triển và triển khai các lực lượng chiến đấu tinh nhuệ với nhiệm vụ ngăn chặn hành vi gây hấn quy mô lớn của Trung Quốc

Đọc tiếp...

Tôn trọng và tuân thủ luật pháp - Ưu tiên hàng đầu cho vấn đề hóc búa ở Biển Đông

Tôn trọng và tuân thủ luật pháp - Ưu tiên hàng đầu cho vấn đề hóc búa ở Biển Đông

Những diễn biến gần đây ở Biển Đông, một trong những tuyến đường biển sầm uất nhất trên thế giới, không chỉ đáng báo động mà còn nhiều khả năng biến thành một cuộc chiến tranh thực sự. Nếu điều đó xảy ra, hòa bình và ổn định ở Đông Nam Á sẽ tiêu tan.

Đọc tiếp...

Đối đầu ở Bãi Tư Chính: Giông tố mới ở Biển Đông

Đối đầu ở Bãi Tư Chính: Giông tố mới ở Biển Đông

Vụ việc ở Bãi Tư Chính là một phần trong những nỗ lực của Trung Quốc nhằm ngăn cản hoạt động khai thác tài nguyên hợp pháp ở Biển Đông của các quốc gia ven biển và hợp tác giữa họ với các nước ngoài khu vực. Những hành động này có thể mang lại lợi ích trước mắt cho Trung Quốc, nhưng về lâu dài sẽ dẫn đến bất lợi cho quốc gia này.

Đọc tiếp...

Philippines: Làm thế nào để đứng vững giữa cuộc cạnh tranh Trung-Mỹ?

Philippines: Làm thế nào để đứng vững giữa cuộc cạnh tranh Trung-Mỹ?

Philippines đã đúng khi mong muốn có mối quan hệ thân thiện với Trung Quốc, đặc biệt là khi nước này mong muốn mở cửa để phát triển kinh tế hơn nữa. Manila cũng phải nhớ rằng hòa bình và thịnh vượng lâu dài phụ thuộc vào quyền tự do và sự tôn trọng lẫn nhau giữa các nước có chủ quyền, cũng như trật tự quốc tế dựa trên nguyên tắc. Trong lời nói và hành động, Philippines cần phải giữ vững lập trường để bảo vệ những nguyên tắc quan trọng này.

 

Đọc tiếp...

Đỉnh điểm của việc Trung Quốc quân sự hóa biển Đông

Đỉnh điểm của việc Trung Quốc quân sự hóa biển Đông

Tính tới giờ, việc Trung Quốc tiến hành quân sự hóa một số đảo nhân tạo trên Biển Đông được cho là động thái ở mức cao nhất của nước này đối với các vấn đề ở khu vực. Thực chất hành động cũng như mục đích đằng sau của Trung Quốc đe dọa tới không chỉ các nước trong khu vực mà còn tới cả nước lớn như Mỹ.

Đọc tiếp...

Thực chất tình hình tại biển Đông

Thực chất tình hình tại biển Đông

Các vấn đề tại Biển Đông vốn đã xảy ra trong một khoảng thời gian dài, đặc biệt là giữa các bên có yêu sách ở khu vực này. Gần đây, những vấn đề trên trở nên phức tạp hơn do những tính toán chiến lược không chỉ của các bên có tranh chấp, mà còn của cả các nước lớn bên ngoài khu vực.

Đọc tiếp...

Gót chân Asin của ASEAN trong vấn đề Biển Đông

Gót chân Asin của ASEAN trong vấn đề Biển Đông

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), từ lâu được mô tả là mô hình thành công nhất của sự hội nhập khu vực trong thế giới hậu thực dân, đã ngày càng trở nên bất lực trong việc kiềm chế Trung Quốc làm xói mòn trật tự dựa trên quy tắc của khu vực vốn được định hướng bằng nguyên tắc không gây hấn, tránh xung đột và chủ nghĩa đa phương tự do.

Đọc tiếp...

Các vấn đề trong liên minh Mỹ-Philippines

Các vấn đề trong liên minh Mỹ-Philippines

Hiện nay, không có thông tin công khai về việc Chính phủ Philippines chính thức yêu cầu Mỹ có một đánh giá hiệp ước chính thức. Người ta cho rằng một đánh giá chính thức sẽ vấp phải những khó khăn, trước hết là trong việc đạt được sự nhất trí về những sửa đổi đối với một hiệp ước có từ 7 thập kỷ trước và sau đó là trong việc phê chuẩn một hiệp ước đã sửa đổi ở cả 2 nước.

Đọc tiếp...

Suy nghĩ về các hành động của Trung Quốc tại Bãi Tư Chính

Suy nghĩ về các hành động của Trung Quốc tại Bãi Tư Chính

Nếu không có một phản ứng cứng rắn từ phía cộng đồng quốc tế đối với các hành động của Trung Quốc tại Bãi Tư Chính, các vụ việc tương tự sẽ còn lặp lại trong những năm tới, lý do đơn giản là Bắc Kinh rất hào hứng nhận ra rằng các hành động cưỡng ép của họ đã mang lại hiệu quả.

Đọc tiếp...

Vai trò ngày càng tăng của EU ở Biển Đông

Vai trò ngày càng tăng của EU ở Biển Đông

Yêu cầu của EU đòi phải được thừa nhận là một bên tham gia về chính trị và an ninh ở châu Á không phải là mới. Tham vọng của họ có một ghế tại EAS và gần đây hơn là địa vị quan sát viên tại Nhóm chuyên gia ADMM+ là chủ đề của nhiều cuộc thảo luận, xoay quanh đòi hỏi chính là thừa nhận giá trị thực tế của EU đối với an ninh khu vực. Bởi vậy, việc xem xét kỹ lưỡng các chính sách và hành động của EU ở Biển Đông là điều hợp lôgích.

Đọc tiếp...

Hệ lụy từ hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông

Hệ lụy từ hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông

Việc kiểm soát Biển Đông có nghĩa là Trung Quốc có khả năng bác bỏ hệ thống trật tự thế giới dựa trên các quy tắc, từ chối tuân thủ các chuẩn mực, kỳ vọng, và UNCLOS; đẩy người bảo vệ trật tự thế giới (Mỹ) khỏi Tây Thái Bình Dương, làm suy yếu hoặc phá hủy các đồng minh ở Tây Thái Bình Dương, khiến uy tín của Mỹ bị nghi ngờ ở phạm vi khu vực cũng như quốc tế và phá hủy cơ sở hạ tầng an ninh ở Đông Nam Á.

Đọc tiếp...

Nhận diện chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông

Nhận diện chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông

Để giành kiểm soát trên Biển Đông, đầu tiên, Trung Quốc cần phải cô lập khu vực. Trong nỗ lực cô lập khu vực, Trung Quốc sử dụng chiến lược hai hướng “cây gậy và củ cà rốt”, vừa lôi kéo các nước láng giềng khi thuận tiện trong khi đe dọa các nước chống đối mình.

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 4415 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin