Mỹ, Nhật Bản và Nga có dự tính gì ở Triều Tiên?

Thứ hai, 04 Tháng 12 2017 09:58
In

Dù khủng hoảng hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên có được giải quyết hay không, thì trong trung và dài hạn, Mỹ, Nhật và Nga đều được hưởng lợi. Nước gặp nhiều vấn đề cần giải quyết chính là Trung Quốc. Do đó, nếu vị thế quốc gia hạt nhân của Bắc Triều Tiên được thừa nhận, đây chính là cuộc khủng hoảng quốc tế lớn nhất mà Trung Quốc chắc chắn sẽ phải đối mặt.

Cuộc khủng hoảng hạt nhân Triều Tiên hết sức phức tạp, ngoài Trung Quốc còn liên quan đến các nước lớn như Mỹ, Nhật Bản, Nga… Mặc dù bề ngoài mục tiêu chung của tất cả các quốc gia là phi hạt nhân hóa trên bán đảo Triều Tiên, nhưng trên thực tế các nước đều có toan tính lợi ích quốc gia của mình trong vấn đề này. 

Đối với Trung Quốc, nếu muốn đưa ra chính sách giải quyết một cách hiệu quả vấn đề bán đảo Triều Tiên thì phải hiểu rõ sự khác biệt về lợi ích quốc gia cũng như thái độ và chính sách của các nước. 

Lợi ích của Mỹ trên bán đảo Triều Tiên 

Nhiều người cho rằng nguyên nhân cuộc khủng hoảng trên bán đảo Triều Tiên kéo dài là do Mỹ và Triều Tiên không thể thỏa hiệp với nhau. Từ khi lên cầm quyền tới nay, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã nhiều lần cho biết sẽ cân nhắc đơn phương giải quyết vấn đề Triều Tiên. Gần đây, cùng với cuộc khủng hoảng leo thang, Trump cũng đưa ra những lời cảnh cáo gay gắt hơn. Liệu nước Mỹ của ngày hôm nay có phát động chiến tranh Triều Tiên để giải quyết cuộc khủng hoảng hạt nhân? Trong cuộc sống thực, chiến tranh không phải là trò đùa, nó phải được sự hậu thuẫn bởi một sức mạnh kinh tế vững chắc. 

Trong 2 nhiệm kỳ tổng thống của mình, Obama đã tiêu xài rất hoang phí, khoản nợ của Mỹ trong nhiệm kỳ của Obama hơn tổng nợ của tất cả các tổng thống kể từ khi nước Mỹ được thành lập. Chính quyền Trump đã tiếp quản một núi nợ nần. Hiện nay, ở trong nước Trump đang tập trung vào việc thu hút vốn đầu tư, vực dậy ngành sản xuất, về đối ngoại, nôn nóng muốn thực hiện cam kết tiêu diệt Nhà nước Hồi giáo (IS), nếu phát động chiến tranh Triều Tiên vào thời điểm này, dự kiến chi tiêu quân sự hàng năm của Mỹ ở bán đảo này sẽ vượt trên 100 tỷ USD vốn từng chi trong Chiến tranh Iraq (2003-2011). 

Vì vậy, mọi người cho rằng việc sẽ phải tiêu tốn số tiền lớn như vậy là điều Mỹ không thể chấp nhận được do bị mắc kẹt bởi trần nợ. Nói cách khác, Mỹ không có khả năng phát động chiến tranh với Triều Tiên. Tuy nhiên, Mỹ có phát động chiến tranh hay không lại không hoàn toàn phụ thuộc vào những cân nhắc về kinh tế. 

1. Về xác suất xảy ra chiến tranh, ngay cả khi ban đầu hai bên không có động cơ trực tiếp gây chiến, nhưng xu thế diễn biến của cuộc khủng hoảng trên bán đảo vẫn ngày càng gần tiến tới chiến tranh. Đây chính là mô hình tiến thoái lưỡng nan về an ninh điển hình, có nghĩa là hai bên hoặc các bên tiếp tục răn đe đọ sức với nhau, dẫn đến mức độ rủi ro của cuộc khủng hoảng tiếp tục tăng, hai bên siết cò súng ngày càng chặt, cho đến khi nổ súng. 

2. Từ diễn biến tình hình có khả năng xảy ra, mặc dù Triều Tiên có những phát ngôn hung hăng, nhiều lần đe dọa sẽ tấn công phủ đầu đối với Mỹ, nhưng thực tế mục tiêu thực sự của Triều Tiên không phải là tấn công Mỹ, mà là tự vệ, ít nhất là ở giai đoạn này. Mỹ vẫn ở thế chủ động trong cuộc khủng hoảng hạt nhân hiện nay, và họ có thể phát động chiến tranh hay không còn phụ thuộc vào những đánh giá của nước này đối với Triều Tiên. 

Tuy nhiên, sẽ là sai lầm nếu chỉ đánh giá liệu Mỹ có phát động chiến tranh với Triều Tiên từ tình hình tài chính của nước này. Cuộc chiến ở Trung Đông đã khiến Mỹ tiêu tốn rất nhiều tiền vì không có nước nào chi trả giúp Mỹ. Đông Á thì khác, nếu Mỹ phát động chiến tranh, các nước khác, nhất là các đồng minh sẽ chi trả giúp Mỹ. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy chiến tranh cũng là một biện pháp và công cụ hữu hiệu nhất góp phần phục hồi và tăng trưởng kinh tế của một đất nước. 

Mặc dù không ai muốn xảy ra chiến tranh, nhưng xét từ góc độ kinh tế, điều này đúng là như vậy. Đây cũng là một phần hữu cơ của bi kịch lịch sử. Hiện nay, các học giả và nhà nghiên cứu chính sách đều thừa nhận rằng Chiến tranh thế giới thứ hai thực sự đã góp phần đưa nước Mỹ ra khỏi cuộc đại suy thoái năm 1930; hoặc nói Chiến tranh thế giới thứ hai đã khiến nền kinh tế Mỹ phục hồi thực sự và đi tới hùng mạnh hơn. 

3. Nếu Mỹ phát động chiến tranh đối với Triều Tiên thì có khả năng xuất hiện cơ hội mới, khiến vấn đề được giải quyết. Nhưng một khả năng khác là do mâu thuẫn giữa các nước lớn, Triều Tiên sẽ một lần nữa vượt qua cuộc khủng hoảng với phương thức hòa bình, trở thành quốc gia hạt nhân. Nếu điều đó xảy ra, những thiệt hại gây ra cho Trung Quốc còn lớn hơn cả đối với Mỹ. 

Sự lựa chọn của Mỹ là rất dễ hiểu. Do vũ khí hạt nhân của Triều Tiên, việc Mỹ triển khai Hệ thống phòng thủ tên lửa tầm cao giai đoạn cuối (THAAD) và tổ hợp radar X-band tại Nhật Bản và Hàn Quốc là những việc thu lợi gấp bội, trong đó có cả các cuộc tập trận quy mô lớn đang được nâng cấp. Chỉ xét riêng việc giải quyết vấn đề hạt nhân của Triều Tiên thì sự hiện diện quân sự của Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc ở Đông Bắc Á rõ ràng là dư thừa sức mạnh chiến đấu, và phần dư thừa đó là một phần trong chiến lược bao vây Trung Quốc của Mỹ. 

Trên thực tế, kể từ sau Chiến tranh Lạnh, về tổng thể Mỹ luôn vừa tìm cách hợp tác vừa không từ bỏ việc kiềm chế Trung Quốc. Sự bổ sung lẫn nhau của hai chiến lược này về cơ bản đều nhằm củng cố và mở rộng địa vị bá chủ của Mỹ trên toàn cầu. Cách xử lý của Mỹ đối với cuộc khủng hoảng hạt nhân Triều Tiên chính là sự thể hiện thực tế của những toan tính chiến lược này. Lịch sử chiến lược của Mỹ ở Đông Á sau Chiến tranh Lạnh cho thấy Mỹ không những được hưởng lợi từ việc giải quyết cuộc khủng hoảng trên bán đảo Triều Tiên, mà còn có thể được hưởng lợi từ sự chậm trễ giải quyết cuộc khủng hoảng này. 

Điểm đầu tiên là không khó lý giải, giải quyết được cuộc khủng hoảng này có nghĩa là Mỹ đã loại bỏ được kẻ thù, củng cố vai trò lãnh đạo trong cơ chế không phổ biến vũ khí hạt nhân, đó sẽ là một chiến thắng kép cả về ý thức hệ và an ninh quốc gia. Điểm thứ hai là việc trì hoãn giải quyết cuộc khủng hoảng không những tạo ra những lý do không thể bàn cãi cho việc Mỹ tăng cường sự hiện diện ở Tây Thái Bình Dương, còn mà tạo thuận lợi với chi phí thấp để Mỹ kiềm chế Trung Quốc; sau tất cả, ngay cả khi Triều Tiên trở thành quốc gia sở hữu hạt nhân thực sự như Ấn Độ và Pakistan, thì nước này cũng chưa thể trở thành mối đe dọa thực sự đối với Mỹ, mặc dù khoảng cách này quả thực đang thu hẹp lại. 

Mỹ không những có lực lượng đánh đòn phủ đầu hạt nhân mạnh nhất thế giới mà năng lực đánh chặn tên lửa mang đầu đạn hạt nhân của Triều Tiên đang tăng lên, hơn nữa số lượng đầu đạn hạt nhân của Triều Tiên rất hạn chế, độ tin cậy của tên lửa đạn đạo liên lục địa (ICBM) và khả năng đột phá của nó cũng không cao. 

Đối với cuộc khủng hoảng trên bán đảo Triều Tiên, mục tiêu cao nhất của Mỹ là đối trọng với Trung Quốc. Đối với Mỹ, tầm quan trọng của việc triển khai THAAD ở Hàn Quốc được ưu tiên hơn việc giải quyết vấn đề Triều Tiên, cuộc khủng hoảng hạt nhân Triều Tiên không những tạm thời chưa làm suy yếu mà còn tăng cường quyền bá chủ của Mỹ. Điều cần nhấn mạnh là không gian để Mỹ ngồi hưởng lợi là do nước này đã dốc sức nắm quyền chủ động chiến lược. 

Vì vậy, nếu Trung Quốc không giành được quyền chủ động, hoặc nhượng quyền chủ động cho Mỹ, việc giải quyết hay chậm trễ giải quyết cuộc khủng hoảng trên bán đảo Triều Tiên đều gây ra những thiệt hại lớn nhất đối với lợi ích địa chính trị của Trung Quốc. Cụ thể, một khi cuộc khủng hoảng được giải quyết dưới sự chủ đạo của Mỹ, tức là việc Mỹ và Triều Tiên hòa giải hoặc Triều Tiên và Hàn Quốc đi tới thống nhất sẽ được tiến hành theo hướng có lợi cho Mỹ; cuộc khủng hoảng dưới sự chủ đạo của Mỹ nếu cứ dai dẳng, không gian hoạt động của Trung Quốc trong việc giải quyết cuộc khủng hoảng trên bán đảo Triều Tiên sẽ ngày càng thu hẹp, không những quan hệ Trung-Triều chỉ tồn tại trên danh nghĩa mà Mỹ-Hàn, Mỹ-Nhật cũng sẽ có thỏa thuận ngầm với nhau. Điều này sẽ tăng cường cục diện chủ động của Mỹ và bị động của Trung Quốc. 

Lợi ích của Nhật Bản trong cuộc khủng hoảng hạt nhân Triều Tiên 

Nhật Bản là láng giềng của Triều Tiên và là một trong những quốc gia quan trọng ở Đông Bắc Á. Việc Triều Tiên phát triển vũ khí hạt nhân đã tạo thành mối đe dọa lớn đối với Nhật Bản. Nếu nói Mỹ có thể hưởng lợi đủ đường thì Nhật Bản ở vị trí nào trong cuộc khủng hoảng hạt nhân Triều Tiên? Liệu Nhật Bản có tích cực hơn trong việc tìm kiếm giải pháp vì an ninh của chính họ? 

Bề ngoài, mặc dù Nhật Bản cũng là bên bị hại, nhưng thực chất Nhật Bản cũng là bên được hưởng lợi. Trong thời gian ngắn vừa qua, Nhật Bản có thể nắm bắt cơ hội để củng cố mối quan hệ đồng minh với Mỹ, làm giảm áp lực và mối đe dọa đến từ Trung Quốc. Sau mỗi vụ thử hạt nhân của Triều Tiên, người đứng đầu nước Mỹ và Nhật Bản đều tăng cường trao đổi với nhau cũng như tăng cường sự liên kết của hệ thống quân sự. 

Trong trung và dài hạn, Nhật Bản cũng được hưởng lợi từ quá trình cuộc khủng hoảng hạt nhân Triều Tiên leo thang. Các nhà lãnh đạo Nhật Bản đều đang cố gắng khôi phục quyền tự chủ của Nhật Bản về quân sự. Và cuộc khủng hoảng hạt nhân Triều Tiên đã trở thành cái cớ để nước này tăng cường sức mạnh quân sự; lợi dụng vấn đề hạt nhân để tăng cường ảnh hưởng chính trị, nắm lấy cơ hội trở thành “quốc gia bình thường”. Nếu không có cuộc khủng hoảng hạt nhân Triều Tiên tạo thành mối đe dọa trực tiếp đối với Nhật Bản, chính phủ nước này rất khó thuyết phục người dân luôn tin vào “chủ nghĩa hòa bình” chấp nhận quan niệm an ninh quốc gia mới. 

Ở chừng mực rất lớn, những trở ngại trong nước của Chính phủ Nhật Bản trong việc theo đuổi “bình thường hóa quốc gia” đều lần lượt được các nhân tố bên ngoài, nhất là nhân tố Triều Tiên, xóa bỏ. Sau vụ thử hạt nhân thứ 6 của Triều Tiên, Nhật Bản đã tích cực hợp tác với Mỹ, ngoài tăng cường quan hệ quân sự, cũng tiến hành di tản người dân ở Triều Tiên để chuẩn bị cho chiến tranh có thể xảy ra. Nhưng trên thực tế, đây chỉ là các động thái chính trị của Chính quyền Shinzo Abe. Mặc dù việc Abe tái cử là nhờ sự hỗ trợ của các yếu tố trong nước, nhưng môi trường quốc tế ngày càng xấu đi của Nhật Bản cũng làm cho người dân nước này trung thành hơn với nhà lãnh đạo theo đường lối cứng rắn này. 

Điều không kém phần quan trọng là, Nhật Bản từ lâu đã là “quốc gia hạt nhân” trên thực tế, và là một “quốc gia hạt nhân” có hàm lượng công nghệ cao. Một khi Triều Tiên trở thành một quốc gia hạt nhân, Nhật Bản sớm hay muộn sẽ tuyên bố địa vị “quốc gia hạt nhân” của mình. Có thể dự đoán rằng việc Nhật Bản trở thành quốc gia hạt nhân sẽ trở thành nền tảng quan trọng cho việc nước này tìm kiếm chính sách đối ngoại độc lập hơn. Vì vậy, trong thái độ và đối sách của Nhật Bản trong vấn đề hạt nhân Triều Tiên, tác động tích cực thì ít, tiêu cực lại nhiều hơn. 

Thái độ của Nga 

Nhìn chung, Nga dường như luôn đứng về phía Trung Quốc và có sự phối hợp chính sách trong vấn đề vũ khí hạt nhân của Triều Tiên. Nga nhiều lần cùng Trung Quốc ra tuyên bố chung về vấn đề hạt nhân Triều Tiên. Tổng thống Nga Vladimir Putin là một nhà lãnh đạo dám hành động, rất nhiều người Trung Quốc hy vọng rằng Trung Quốc và Nga sẽ cùng nhau giải quyết vấn đề hạt nhân Triều Tiên. 

Tuy nhiên, trên thực tế, ngay cả khi Trung Quốc có thể bắt tay với Nga giải quyết vấn đề Triều Tiên thì cũng khó có thể thực hiện. Lợi ích của Nga và Trung Quốc trong vấn đề Triều Tiên rất khác nhau. Mọi người có lẽ đã có bài học lịch sử trong Chiến tranh Triều Tiên vào những năm 1950. Sẽ là ảo tưởng nếu một số cho rằng “đại đế” Putin sẽ đóng vai trò chủ đạo trong vấn đề này. 

Một khi Triều Tiên trở thành quốc gia hạt nhân thì họ cũng rất khó tạo ra mối đe dọa trực tiếp đối với Nga, trong khi mối đe dọa an ninh đặt ra trước cửa nhà Trung Quốc là đáng kể. Về mặt địa chính trị, giống như Mỹ, Nga cũng có thể lợi dụng Triều Tiên để kiềm chế Trung Quốc. Kể từ khi Liên Xô tan rã tới nay, do những áp lực địa chính trị mạnh mẽ của phương Tây nên Nga luôn giữ quan hệ thân thiết, nhưng cũng luôn dè chừng trước sự trỗi dậy của Trung Quốc. 

Do đó, ở một mức độ rất lớn Nga cũng giống như Mỹ, có thể được lợi từ việc trì hoãn giải quyết vấn đề hạt nhân Triều Tiên. Lấy ví dụ về Ấn Độ, Trung Quốc và Nga đều thừa nhận Ấn Độ có vũ khí hạt nhân, lâu nay luôn có bất đồng nhưng ngầm không nói ra bởi vì Nga nhận thấy một Ấn Độ có vũ khí hạt nhân không thể đe dọa an ninh nước mình, thậm chí sự hiện đại hóa hạt nhân của Ấn Độ vẫn cần sự hỗ trợ của Nga. Trên thực tế, trong những năm gần đây, Nga và Ấn Độ đã có những hợp tác chưa từng có như trong việc xây dựng lò phản ứng hạt nhân, các nước bên ngoài cho rằng điều này liên quan chặt chẽ với lòng tin giữa hai nước về mặt quân sự. 

Tuy nhiên, Nga vẫn có thể đóng vai trò hỗ trợ trong việc giải quyết vấn đề Triều Tiên, nhưng với tiền đề là Trung Quốc giữ thế chủ động. Để giải quyết vấn đề Triều Tiên, hiện chưa có chính sách nào hiệu quả ngoài chính sách “cây gậy và củ cà rốt” thông hành trên chính trường quốc tế. Tuy nhiên hiện nay “cây gậy lớn” của Trung Quốc chưa thật cứng rắn, vừa không chấm dứt sự hỗ trợ kinh tế cho Triều Tiên, vừa không muốn thừa nhận cách làm của Mỹ (và Hàn Quốc). Xét về năng lực, nếu Trung Quốc và Nga hợp tác thì có thể cung cấp chiếc ô hạt nhân cho Triều Tiên, giống như Mỹ cung cấp ô hạt nhân cho Hàn Quốc và Nhật Bản. 

Nói tóm lại trong cuộc khủng hoảng hạt nhân Triều Tiên, nếu Trung Quốc thiếu sự chủ động, cuộc khủng hoảng sẽ còn tiếp diễn cho đến khi cộng đồng quốc tế thừa nhận vị thế vũ khí hạt nhân của Triều Tiên. Đây chính là cuộc khủng hoảng quốc tế lớn nhất mà Trung Quốc chắc chắn sẽ phải đối mặt.

Theo IPP (tiếng Trung)

Hoàng Lan (gt)


Tin mới hơn:
Tin cũ hơn: