20 - 10 - 2020 | 10:38
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home NGHIÊN CỨU ASEAN Lời cảnh tỉnh từ COVID-19 cho các nước ASEAN

Lời cảnh tỉnh từ COVID-19 cho các nước ASEAN

Email In PDF.

Dịch COVID-19 có lẽ là cơ hội để các nước Đông Nam Á hạn chế sự phụ thuộc quá mức vào thị trường Trung Quốc và đa dạng hóa, tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu nhằm đạt được vị thế tốt hơn.

Sau khi cuộc chiến chống COVID-19 kết thúc, mỗi nước thành viên ASEAN cần tăng cường khả năng sẵn sàng cho các tình huống khẩn cấp và nâng cao khả năng phục hồi quốc gia khi đối phó với các đại dịch tương tự. Tuy nhiên, nếu gạt các mối quan ngại về sức khỏe sang một bên, dịch bệnh bùng phát cũng nêu bật sự phụ thuộc cao độ về kinh tế và thương mại của khu vực vào Trung Quốc. Khi các chuỗi cung ứng toàn cầu tổ chức lại sau cuộc khủng hoảng, các nước Đông Nam Á nên tiến hành những cải cách táo bạo trong nước và phát triển mạnh mẽ lĩnh vực sản xuất để có được vị thế tốt nhất nhằm gặt hái lợi ích.

Hiện nay, trong bối cảnh COVID-19 lây lan khắp nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, một Đông Nam Á vốn mở cửa và liên kết sâu rộng phải đối mặt với nguy cơ lớn là các ca bệnh COVID-19 nhập khẩu. Cuộc chiến chống đại dịch đang trở nên khốc liệt khi tình hình trong khu vực nhanh chóng xấu đi. Malaysia đã trở thành quốc gia chịu thiệt hại nặng nề nhất ở Đông Nam Á, với số ca được xác định mắc COVID-19 gia tăng nhanh chóng. Tính đến trưa 26/3/2020, tổng số ca được xác nhận ở 10 quốc gia ASEAN đã vượt qua con số 5.200 ca và đang tiếp tục gia tăng.

Do những khác biệt lớn trong hệ thống y tế công cộng cũng như các cơ sở và nguồn lực y tế giữa các quốc gia Đông Nam Á, mức độ sẵn sàng và năng lực triển khai nguồn lực của các nước này đối với những đợt bùng phát bệnh lây nhiễm trên diện rộng cũng có sự khác biệt. Theo Báo cáo cạnh tranh toàn cầu năm 2019 về 141 nền kinh tế của Diễn đàn kinh tế thế giới, các quốc gia ASEAN có sự chênh lệch rất lớn về năng lực y tế. Singapore đứng đầu thế giới về y tế và sở hữu hệ thống y tế tầm cỡ thế giới. Tuy nhiên, Lào (đứng thứ 109), Campuchia (đứng thứ 105) và Philippines (đứng thứ 102) lại tụt hậu rất xa. Nếu tình hình bùng phát dịch COVID-19 trở nên tồi tệ hơn trong ASEAN, dẫn tới sự gia tăng nhanh chóng và đột ngột số ca mắc giống như ở Trung Quốc và Hàn Quốc, thì dịch bệnh sẽ nhanh chóng nhấn chìm các quốc gia có hệ thống y tế công cộng yếu kém và tiêu chuẩn y tế thấp, nhất là Lào, Campuchia, Philippines và Indonesia.

Đối mặt với sự tấn công của COVID-19, các nước Đông Nam Á cần có ngay những biện pháp mạnh nhằm xét nghiệm cho tất cả các ca nghi nhiễm, cách ly và điều trị các bệnh nhân được xác định nhiễm bệnh nhằm giảm tỷ lệ tử vong, tiến hành điều tra truy tìm những người từng tiếp xúc với bệnh nhân và ngăn chặn sự lây nhiễm trong cộng đồng trên diện rộng. Ngày 17/3/2020, Giám đốc Tổ chức y tế thế giới khu vực Đông Nam Á đã hối thúc các quốc gia trong khu vực hành động khẩn trương và quyết liệt chống lại đại dịch nhằm ngăn chặn sự lây lan hơn nữa của COVID-19.

Sức ảnh hưởng của toàn cầu hóa và các tổ chức đa phương quốc tế bị giới hạn trong bối cảnh đại dịch bùng phát dữ dội. Do đó, sự chuẩn bị cho tình huống khẩn cấp và khả năng phục hồi của mỗi quốc gia có ý nghĩa trọng yếu, và một lần nữa sẽ trở nên quan trọng trong việc xác định tính cạnh tranh nói chung của mỗi quốc gia. Khả năng phục hồi của quốc gia bao gồm phản ứng trước các tình huống khẩn cấp, chỉ huy và phối hợp các cơ quan điều hành, hệ thống y tế và năng lực triển khai nguồn lực, năng lực phát triển công nghệ và sự cố kết xã hội và công cộng.

Chẳng hạn, chỉ sau chưa đầy một tháng, Hàn Quốc đã bước đầu kiểm soát được đại dịch sau khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn sự bùng phát của COVID-19 vào giữa tháng 2/2020. Để ngăn chặn dịch bệnh lây lan trên toàn quốc, Hàn Quốc về cơ bản đã giới hạn sự bùng phát trong phạm vi thành phố Daegu và tỉnh Bắc Gyeongsang. Điều đáng khen ngợi là Hàn Quốc đã không áp dụng những biện pháp cực đoan như phong tỏa thành phố hay đình chỉ giao thông, qua đó giảm thiểu sự bất tiện đối với người dân. Điểm nổi bật trong mô hình hiệu quả này của Hàn Quốc là sự sẵn sàng cho các tình huống khẩn cấp và khả năng phục hồi của nước này.

Là tâm chấn ban đầu của bệnh dịch và cũng là nguồn du khách quan trọng, trung tâm của chuỗi công nghiệp toàn cầu, đối tác thương mại và bên cấp vốn quan trọng, Trung Quốc có ý nghĩa trọng yếu đối với tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia Đông Nam Á. Do đó, đại dịch cũng tác động tới nền kinh tế khu vực thông qua du lịch, chuỗi công nghiệp và hoạt động đầu tư, đặc biệt là ở Việt Nam, Thái Lan và Singapore. Mức độ tác động kinh tế của đại dịch ở Đông Nam Á sẽ phụ thuộc vào tốc độ vượt qua đại dịch của Trung Quốc và Đông Nam Á.

Ngày 20/2/2020, bộ trưởng ngoại giao 10 nước ASEAN và Trung Quốc đã tổ chức cuộc họp đặc biệt các bộ trưởng ngoại giao ASEAN-Trung Quốc về COVID-19 tại Viêng Chăn, thủ đô Lào. Đây là cuộc họp đa phương đầu tiên giữa Trung Quốc và các quốc gia khác về COVID-19 và các vấn đề y tế công cộng kể từ khi dịch bệnh bùng phát. Với tư cách các đối tác chiến lược, Trung Quốc và ASEAN đã đưa ra tuyên bố chung sau cuộc họp về cam kết của họ trong việc tăng cường hợp tác chống COVID-19 bùng phát, thúc đẩy hợp tác khu vực trong lĩnh vực y tế công cộng, thiết lập các kênh chia sẻ thông tin về đại dịch, trao đổi kinh nghiệm giữa các chuyên gia y tế, với tầm nhìn nâng cao năng lực chuẩn bị và phản ứng trước các tình huống khẩn cấp.

Những liên kết thương mại giữa Trung Quốc và ASEAN

Với tư cách láng giềng, Đông Nam Á có những liên kết thương mại gần gũi và tích cực nhất với Trung Quốc. Trung Quốc là quốc gia thương mại lớn nhất thế giới và là đối tác thương mại lớn nhất của hầu hết các nước thành viên ASEAN. Tỷ trọng của ASEAN trong xuất khẩu của Trung Quốc đang gia tăng. Đồng thời, tỷ trọng của ASEAN trong tổng lượng hàng nhập khẩu của Trung Quốc cũng đang trên đà tăng. Những dấu hiệu này chỉ ra mối quan hệ thương mại chặt chẽ giữa ASEAN và Trung Quốc, trung tâm của chuỗi công nghiệp toàn cầu. Năm 2019, tổng kim ngạch ngoại thương của ASEAN lên tới 2.799,2 tỷ USD, trong đó 18% là với Trung Quốc. Con số này cao hơn nhiều so với EU (10%) và Nhật Bản (8,1%).

Mặc dù đầu tư của Trung Quốc vào ASEAN vẫn thấp hơn vào Mỹ, EU và Nhật Bản, nhưng đầu tư của các công ty Trung Quốc vào Đông Nam Á đã có sự tăng trưởng đáng kể trong những năm gần đây. Năm 2019, đầu tư của Trung Quốc vào khu vực đã đạt 15,5 tỷ USD, chiếm hơn 13% đầu tư nước ngoài của Trung Quốc. Các doanh nghiệp Trung Quốc hoạt động rất tích cực ở Đông Nam Á và tham gia nhiều dự án cơ sở hạ tầng lớn trong khu vực, bao gồm đường sắt Trung-Lào từ tỉnh Vân Nam tới Viêng Chăn, các dự án thủy điện ở Lào, nhà máy điện ở Campuchia, nhà máy nhiệt điện than và đường sắt cao tốc Jakarta-Bandung ở Indonesia, các nhà máy sắt thép ở Malaysia và các dự án vận tải cao tốc ở Singapore. Ngoài ra, các nước Đông Nam Á cũng tiêu thụ đáng kể các sản phẩm sản xuất tại Trung Quốc trong thị trường trong nước, từ hàng hóa tiêu dùng, thực phẩm và đồ gia dụng đến hàng hóa cao cấp như động cơ xe, điện thoại thông minh và thiết bị truyền thông.

Tác động tiêu cực của đại dịch COVID-19 đối với nền kinh tế ASEAN

Ngày nay, mối quan hệ kinh tế Trung Quốc-ASEAN đang mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Trung Quốc và các nước thành viên ASEAN đã thiết lập quan hệ kinh tế và các mối liên kết thương mại chặt chẽ thông qua các chuỗi cung ứng toàn cầu. Trung Quốc hiện là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, chiếm 16% nền kinh tế toàn cầu và ảnh hưởng trực tiếp tới nền kinh tế của ASEAN theo hai hướng.

Thứ nhất, khách du lịch Trung Quốc đóng vai trò quan trọng đối với tăng trưởng du lịch ở ASEAN. Trung Quốc đã trở thành nguồn khách du lịch ngoài nước lớn nhất thế giới, với tổng cộng 150 triệu lượt khách năm 2018, tương đương hơn 12% lượng du khách ngoài nước trên toàn cầu. Do tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng văn hóa, những điểm tham quan tự nhiên độc đáo và khoảng cách địa lý gần với Trung Quốc, ASEAN rất được các du khách Trung Quốc ưa chuộng.

Năm 2018, hơn 30 triệu du khách Trung Quốc đã tới ASEAN, chiếm phần rất lớn trong tổng số du khách nước ngoài, nhất là đối với Thái Lan, Việt Nam và Campuchia. Thu nhập của ASEAN từ du lịch đã trở nên phụ thuộc vào tiêu dùng của người Trung Quốc khi có thể thấy hàng đoàn du khách Trung Quốc tụ tập tại nhiều điểm đến du lịch khác nhau, các khu nghỉ mát ven biển, trung tâm mua sắm và nhà hàng. Theo dữ liệu được công bố trong Báo cáo về Trung Quốc và thế giới của Viện nghiên cứu toàn cầu McKinsey tháng 7/2019, mức chi tiêu của du khách Trung Quốc tương đương 7% tiêu dùng cá nhân trong nước ở Singapore và 9% ở Thái Lan.

Tuy nhiên, khi dịch COVID-19 lây lan nhanh chóng, Trung Quốc đã tạm ngưng các nhóm du lịch ra nước ngoài vào cuối tháng 1/2020. Ngoài ra, do nhiều quốc gia đã thực hiện lệnh cấm du lịch nhằm hạn chế du khách Trung Quốc vào đất nước, nhiều yêu cầu đặt tour đã bị hủy. Trong ngắn hạn, việc số lượng du khách Trung Quốc giảm mạnh sẽ tác động sâu sắc đến ngành du lịch, hàng không, dịch vụ ăn uống và các ngành dịch vụ khác ở ASEAN. Các nước phụ thuộc vào du lịch như Thái Lan và Campuchia sẽ bị ảnh hưởng nặng nề nhất. Chẳng hạn, lượng du khách Trung Quốc đến Thái Lan vào tháng 2/2020 đã giảm hơn 90%. Tổng cục du lịch Thái Lan ước tính dịch COVID-19 sẽ khiến ngành du lịch Thái Lan thiệt hại ít nhất 3 tỷ USD.

Để giảm thiểu các tác động tiêu cực đối với ngành du lịch, các nước thành viên ASEAN hy vọng kích thích ngành du lịch trong nước và khai thác các thị trường nguồn mới. Tuy nhiên, sẽ cần phải có thời gian để các biện pháp này mang lại kết quả do dịch bệnh này tác động đến toàn cầu.

Thứ hai, các nước thành viên ASEAN tham gia chuỗi công nghiệp toàn cầu với Trung Quốc làm trung tâm phụ thuộc vào việc xuất khẩu nguyên liệu thô và sản phẩm trung gian sang Trung Quốc để xử lý và lắp ráp giai đoạn cuối. Trong số này có gỗ và nông sản từ Việt Nam, cao su và dầu cọ từ Malaysia, và các linh kiện điện tử từ Singapore. Viện toàn cầu McKinsey ước tính xuất khẩu sang Trung Quốc chiếm tới 11% sản lượng trong nước của Malaysia và Việt Nam.

Theo số liệu thống kê chính thức của Việt Nam, 16.000 nhà máy tại nước này đã ngừng sản xuất vào tháng 1-2/2020, tăng gần 20% so với cùng kỳ năm 2019. Để trở thành “công xưởng tiếp theo của thế giới”, trong những năm gần đây, Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ ngành sản xuất định hướng xuất khẩu. Tuy nhiên, nhãn mác “Sản xuất tại Việt Nam” hiện vẫn phụ thuộc vào nguyên liệu thô và sản phẩm trung gian từ Trung Quốc. Chẳng hạn, hơn 50% nguyên liệu thô và sản phẩm trung gian cần thiết cho ngành dệt may của Việt Nam được nhập khẩu từ các nhà cung cấp Trung Quốc. Việt Nam và nhiều nước Đông Nam Á khác gần như không thể khắc phục được sự phụ thuộc này.

Các nước thành viên ASEAN có các hệ thống công nghiệp không tương xứng và thiếu các hoạt động đầu nguồn và cuối nguồn trong các chuỗi giá trị. Trừ Singapore, hầu hết các nước thành viên ASEAN đều có thâm hụt thương mại với Trung Quốc, đặc biệt là Việt Nam, Thái Lan, Indonesia và Philippines. Thâm hụt thương mại kéo dài sẽ gây tổn hại cho các nỗ lực công nghiệp hoá của các nước này.

Kể từ khi gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Trung Quốc đã tạo cho mình một lợi thế so sánh trong chuỗi công nghiệp toàn cầu. Lợi thế cạnh tranh của Trung Quốc bắt nguồn từ lực lượng lớn các lao động lành nghề và siêng năng, hệ thống giao thông vận tải hiệu quả, cơ sở hạ tầng điện tử, các chuỗi cung ứng đầu nguồn và cuối nguồn, nền chính trị ổn định trong nước và thị trường tiêu thụ khổng lồ.

Đối với ASEAN, hiện nay việc giảm sự tập trung vào Trung Quốc trong chuỗi công nghiệp toàn cầu là không thực tế và bất khả thi. Báo cáo về Trung Quốc và thế giới của Viện nghiên cứu toàn cầu McKinsey cho thấy thế giới ngày càng phụ thuộc vào nền kinh tế Trung Quốc, trong khi đó sự phụ thuộc của Trung Quốc vào nền kinh tế thế giới đã giảm đi do sự chuyển đổi kinh tế và sự phát triển của thị trường tiêu dùng nội địa.

Tái cơ cấu chuỗi công nghiệp và các cơ hội phát triển ở ASEAN

Trong những năm gần đây, để đối phó với chi phí sản xuất gia tăng ở Trung Quốc, sự chuyển đổi kinh tế và việc tăng thuế xuất khẩu do cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung gây ra, nhiều công ty đa quốc gia đang cân nhắc việc di dời hoặc thực sự di dời một phần năng lực sản xuất và chuỗi cung ứng của họ ra khỏi Trung Quốc như là một biện pháp trong chiến lược đa dạng hoá “Trung Quốc+1”. Chẳng hạn, sau khi đóng cửa các nhà máy sản xuất ở Thâm Quyến và Thiên Tân năm 2018 và tại Huệ Châu, Quảng Đông vào tháng 10/2019, tập đoàn điện tử Samsung của Hàn Quốc đã hoàn thành mục tiêu chuyển các chuỗi cung ứng của họ ra khỏi Trung Quốc. Samsung hiện có 2 nhà máy sản xuất và lắp ráp lớn tai Việt Nam.

Dịch COVID-19 đã nhấn mạnh tính cấp thiết của việc đa dạng hoá và tái cơ cấu các chuỗi cung ứng toàn cầu. Việc tất yếu tái cơ cấu các chuỗi công nghiệp không còn bị nghi ngờ mà nay đã trở thành vấn đề về thời điểm và mức độ. Đại dịch hiện nay sẽ là một bước ngoặt quan trọng trong nỗ lực này. Theo Bộ Thương mại Trung Quốc, mức độ sử dụng thực tế các khoản đầu tư nước ngoài của nước này trong tháng 1-2/2020 đã giảm 8,6% so với cùng kỳ năm ngoái. Tháng 2/2020, con số này đã giảm đáng kể 25,6% so với cùng kỳ năm 2019.

Một báo cáo khảo sát vào tháng 2/2020 do Văn phòng thương mại Mỹ tại Trung Quốc thực hiện đã cho thấy 1/3 các công ty Mỹ sẽ rời khỏi Trung Quốc nếu các nhà máy không thể khôi phục hoạt động. Nhiều công ty được khảo sát phàn nàn rằng luật pháp và quy chế của Trung Quốc không minh bạch và các thủ tục cách ly nhân viên đều cồng kềnh và không nhất quán, dẫn đến nhiều khó khăn trong việc khôi phục sản xuất. Tháng 2/2020, tờ Nikkei Asian Review đưa tin rằng tập đoàn công nghệ Foxconn, một công ty đúc kỹ thuật lớn lắp ráp điện thoại thông minh ở Trung Quốc, chỉ có thể khôi phục 50% công suất. Dựa trên các cuộc khảo sát và phân tích này, có thể dự đoán rằng ít nhất 30% doanh nghiệp có vốn nước ngoài sẽ chuyển một phần năng lực chuỗi cung ứng của họ ra khỏi Trung Quốc.

Việc nắm bắt các cơ hội trong thị trường Trung Quốc cũng như các khoản đầu tư của nước này quả thực là điều quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế của ASEAN. Tuy vậy, đại dịch COVID-19 là một hồi chuông cảnh tỉnh đối với ASEAN. Việc quá phụ thuộc vào Trung Quốc và chuỗi công nghiệp lấy Trung Quốc làm trung tâm nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế khu vực đi kèm với những nguy cơ to lớn. Dịch COVID-19 đã nêu bật nguy cơ “cú sốc Trung Quốc”, một thuật ngữ trước đó được sử dụng để chỉ tác động của lượng hàng hoá nhập khẩu ngày càng nhiều từ Trung Quốc đối với việc làm trong ngành sản xuất ở các nước phương Tây sau khi Trung Quốc gia nhập WTO.

Theo kết quả của báo cáo thăm dò “Thực trạng của Đông Nam Á năm 2020” do Viện nghiên cứu Đông Nam Á Yusof Ishak tại Singapore thực hiện vào tháng 1/2020, thái độ của các nước thành viên ASEAN đối với Trung Quốc đã trở nên ngày càng phức tạp và thận trọng. Hầu hết giới tinh hoa Đông Nam Á được khảo sát đều tin rằng “Trung Quốc là một cường quốc xét lại và có ý đồ biến Đông Nam Á thành phạm vi ảnh hưởng của nước này”. 79% số người được hỏi từ các nước Đông Nam Á đều lo ngại về ảnh hưởng kinh tế ngày càng tăng của Trung Quốc trong khu vực, và chỉ 28,1% số người được hỏi hoan nghênh ảnh hưởng kinh tế như vậy.

Với dân số hơn 600 triệu người, Đông Nam Á là một trong những khu vực phát triển nhanh nhất thế giới. Tại đây, lực lượng lao động dồi dào và trẻ, tầng lớp trung lưu đang mở rộng và thị trường có tiềm năng khổng lồ. Với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và chi phí sản xuất thấp, ASEAN có các điều kiện tiên quyết để trở thành công xưởng tiếp theo của thế giới và đóng một vai trò quan trọng hơn trong chuỗi công nghiệp toàn cầu. Việc tái cơ cấu chuỗi cung ứng toàn cầu tạo nhiều cơ hội cho các nước Đông Nam Á, đặc biệt là Việt Nam, Indonesia và Campuchia, thúc đẩy sự phát triển của các ngành sản xuất của các nước này và củng cố các ngành phụ trợ. Do đó, các nước Đông Nam Á cần nắm bắt các cơ hội mà việc đa dạng hoá và tái cơ cấu chuỗi công nghiệp toàn cầu đem lại, thực hiện các cải cách táo bạo trong nước và phát triển mạnh mẽ các lĩnh vực sản xuất của mình. Bằng cách thúc đẩy phát triển công nghiệp trong nước, họ sẽ có vị thế tốt hơn để tham gia chuỗi công nghiệp toàn cầu và tăng thị phần.

Yu Hong, nghiên cứu viên cao cấp tại Viện Đông Á, Đại học quốc gia Singapore. Bài viết được đăng trên tạp chí ThinkChina

Minh Anh (gt)

Lời cảnh tỉnh từ COVID-19 cho các nước ASEAN

Lời cảnh tỉnh từ COVID-19 cho các nước ASEAN

Dịch COVID-19 có lẽ là cơ hội để các nước Đông Nam Á hạn chế sự phụ thuộc quá mức vào thị trường Trung Quốc và đa dạng hóa, tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu nhằm đạt được vị thế tốt hơn.

Đọc tiếp...

Bốn nhận thức về ASEAN

Bốn nhận thức về ASEAN

Bốn nhận thức cơ bản: (i) những thách thức chính trị nội bộ tiếp tục chi phối nghị trình của hầu hết các nước thành viên ASEAN; (ii) ASEAN cần thu hẹp khoảng cách giữa sự hợp tác khu vực và cảm nhận của công chúng về tác động của khối; (iii) mong muốn mạnh mẽ giữ gìn trật tự khu vực cởi mở và bao trùm; (iv) củng cố sự thống nhất nội bộ và đa dạng hóa quan hệ bên ngoài nhằm tìm ra hướng đi trong cuộc cạnh tranh nước lớn.

Đọc tiếp...

Tác động của COVID-19 đối với các nền kinh tế ASEAN 3+

Tác động của COVID-19 đối với các nền kinh tế ASEAN 3+

Dịch bệnh Covid-19 bùng phát ở Trung Quốc – nền kinh tế lớn nhất khu vực ASEAN+3 và là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới – khiến tăng trưởng giảm tốc rõ rệt, có khả năng sẽ ảnh hưởng lan rộng khắp khu vực và toàn thế giới.

Đọc tiếp...

AUMX và kỳ vọng của ASEAN

AUMX và kỳ vọng của ASEAN

Cuộc tập trận ASEAN-Mỹ là bước đi quan trọng hướng tới việc thực thi tầm nhìn của ASEAN về cấu trúc an ninh khu vực mở và hòa bình, không bị chi phối bởi Trung Quốc và có sự tham gia của tất cả các nước lớn - bao gồm Mỹ.

Đọc tiếp...

Can dự chiến lược của ASEAN vào Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương khó áp dụng?

Can dự chiến lược của ASEAN vào Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương khó áp dụng?

Điều rõ ràng là ASEAN bị cuốn vào cuộc chiến tranh giành quyền lực đang diễn ra trong khu vực. Vị trí địa lý của ASEAN nằm ở trung tâm tuyến thương mại hàng hải của châu Á đặt ASEAN ở giữa Ấn Độ và Trung Quốc.

Đọc tiếp...

Quan điểm của ASEAN về Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương: Bình mới rượu cũ?

Quan điểm của ASEAN về Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương: Bình mới rượu cũ?

Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 34 diễn ra tại Bangkok vào tháng 6/2019 đã thông qua Quan điểm ASEAN về Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (AOIP). Bài viết này xem xét nội dung của AOIP và phân tích ý nghĩa của nó đối với ASEAN và các nước thành viên.

Đọc tiếp...

Vai trò của Nhật Bản trong sự phát triển cân đối ở ASEAN

Vai trò của Nhật Bản trong sự phát triển cân đối ở ASEAN

Nhật Bản không thể cung cấp các khoản hỗ trợ với quy mô như Trung Quốc. Tuy nhiên, chất lượng của các chương trình trợ cấp của Nhật Bản có thể là một nguồn lực kinh tế bổ sung đáng giá đóng góp cho sự phát triển cân đối trong khu vực.

Đọc tiếp...

ASEAN và cạnh tranh Mỹ - Trung

ASEAN và cạnh tranh Mỹ - Trung

Mỹ và Trung Quốc sẽ không nhanh chóng hay dễ dàng đạt được một tạm ước mới; cả hai bên đều không có khả năng đạt được mọi thứ họ muốn ở nhau. Điều này ngụ ý rằng ASEAN sẽ phải tìm cách vượt qua một giai đoạn dài mà khi đó sự lộn xộn và sự không chắc chắn đều ở mức cao hơn bình thường.

Đọc tiếp...

Cách để ASEAN vượt qua "mùa gió chướng" kinh tế

Cách để ASEAN vượt qua

Các nền kinh tế Đông Nam Á có thể phải đối mặt với những cơn gió ngược lớn về kinh tế vào năm 2019 trong bối cảnh căng thẳng thương mại Mỹ-Trung Quốc gia tăng và Cục Dữ trữ liên bang Mỹ (Fed) tăng lãi suất. Để giúp vượt qua những tác động, các thành viên của ASEAN nên dành ưu tiên cho việc đạt được những tiến bộ trong các sáng kiến khu vực.

Đọc tiếp...

Triển vọng của ASEAN 2025

Triển vọng của ASEAN 2025

Tại Hội nghị Cấp cao 27 tại Kuala Lumpur, Malaixia tháng 11/2015, các nhà lãnh đạo Đông Nam Á tuyên bố thành lập Cộng đồng ASEAN và thông qua Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2025, cam kết tiếp tục nỗ lực vì một cộng đồng hội nhập, hoà bình và ổn định ở khu vực. Câu hỏi đặt ra là tiến trình liên kết của ASEAN đang ở mức độ nào và kỳ vọng về một cộng đồng ASEAN gắn kết và bền vững liệu có khả năng trở thành hiện thực?

Đọc tiếp...

Lý do ASEAN là đối tác kinh tế quan trọng của Úc

Lý do ASEAN là đối tác kinh tế quan trọng của Úc

Các thành viên của ASEAN đang phát triển rất nhanh chóng cả về dân số lẫn kinh tế. Lợi thế địa lý gần nhau cũng là một trong những điểm nhấn khiến ASEAN trở thành đối tác thương mại lý tưởng của Úc.

Đọc tiếp...

ASEAN: Quá khứ và tương lai

ASEAN: Quá khứ và tương lai

Chắc chắn, ASEAN là quan trọng. Thiếu vắng ASEAN, các nước ở Đông Nam Á có thể tiếp tục lúng túng bởi những chia rẽ sâu sắc, sự thiếu tin tưởng và những hận thù. Không có ASEAN, có thể các nước ở Đông Nam Á sẽ vẫn là những con tốt và mục tiêu trong các cuộc tranh giành mượn tay kẻ khác của các cường quốc quan trọng ngoài khu vực.

Đọc tiếp...

ADMM Plus có thể thực thi CUES trên Biển Đông?

ADMM Plus có thể thực thi CUES trên Biển Đông?

Cơ chế Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM Plus) nên tiến hành một cuộc diễn tập đa phương để thử nghiệm và minh họa Bộ Quy tắc Ứng xử về CUES trên Biển Đông. Thông qua cơ chế ADMM Plus, hợp tác an ninh đa phương đã tiến triển xa hơn bất kỳ lĩnh vực hợp tác nào.

Đọc tiếp...

Khủng hoảng trên bán đảo Triều Tiên: Thời cơ cho ASEAN?

Khủng hoảng trên bán đảo Triều Tiên: Thời cơ cho ASEAN?

ASEAN đã rất khôn khéo trong việc duy trì các kênh liên lạc thiết thực với Triều Tiên, trong khi vẫn tiếp tục làm sâu sắc mối quan hệ chiến lược với Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản. Điều này giúp ASEAN có một vị trí duy nhất để đóng vai trò xây dựng và mang lại kết quả trong việc ngăn chặn cuộc xung đột đang đến gần ở Đông Bắc Á.

Đọc tiếp...

ASEAN qua các vấn đề cốt lõi

ASEAN qua các vấn đề cốt lõi

Mặc dù được coi là một trong những mô hình thành công nhất hiện nay, nhưng ASEAN hiện đang tồn tại những giới hạn nhất định và không thể đáp ứng được những thách thức mà các quốc gia thành viên phải đối mặt. ASEAN cần phải làm mới và thay đổi cho phù hợp với bối cảnh chính trị hiện tại.

Đọc tiếp...

Chặng đường 50 năm ASEAN: Kết thúc hay chỉ mới bắt đầu?

Chặng đường 50 năm ASEAN: Kết thúc hay chỉ mới bắt đầu?

Các nhà phê bình vẫn thường chỉ trích rằng ASEAN đang ngày càng trở nên không thích hợp khi đối mặt với áp lực từ Trung Quốc và các vấn đề ở châu Âu, một số người thậm chí còn dự đoán ASEAN sẽ sụp đổ. Liệu những quan điểm đó có đúng không?

Đọc tiếp...

EU - mô hình cho ASEAN?

EU - mô hình cho ASEAN?

Các quan chức và các nhà hoạch định chính sách của ASEAN muốn coi EU như một tài liệu tham khảo, là sự hỗ trợ hoặc nguồn cảm hứng, chứ không phải là sự hấp dẫn liên quan đến các mô hình.

Đọc tiếp...

ASEAN có khả năng đối phó với sự thay đổi trật tự thế giới?

ASEAN có khả năng đối phó với sự thay đổi trật tự thế giới?

Tương lai của ASEAN và chủ nghĩa đa phương do ASEAN lãnh đạo trong thời đại đa tầng sẽ phức tạp, lộn xộn và không chắc chắn trong kỷ nguyên lưỡng cực, hệ thống đa cực lỗi thời và “khoảnh khắc đơn cực”. Biện pháp tiếp cận chiến lược đối với chủ nghĩa đa phương phải bắt đầu bằng cách nhận dạng những hạn chế của cấu trúc hiện tại do ASEAN lãnh đạo.

Đọc tiếp...

Chặng đường khó khăn phía trước của Cộng đồng ASEAN

Chặng đường khó khăn phía trước của Cộng đồng ASEAN

Đã một năm trôi qua kể từ khi Cộng đồng ASEAN được hiện thực hóa, đến nay những thành tựu của Cộng đồng ASEAN vẫn còn khiêm tốn. Trong khi việc thực hiện các mục tiêu kinh tế của Cộng đồng ASEAN đạt được một số tiến bộ đáng kể thì các mục tiêu an ninh-chính trị và văn hóa-xã hội vẫn còn nhiều việc phải làm.

Đọc tiếp...

ASEAN cần làm gì để lôi kéo Mỹ can dự với khu vực?

ASEAN cần làm gì để lôi kéo Mỹ can dự với khu vực?

Hiệp hội Các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) thực sự đã không được chú ý trong chương trình nghị sự của chính quyền Tổng thống Donald Trump trong 3 tháng đầu tiên ông nắm quyền. Điều này không hẳn là tin xấu, nhưng "xa mặt" có thể dẫn tới "cách lòng".

Đọc tiếp...
More:

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 4425 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin