22 - 9 - 2020 | 16:22
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home
Tag:vùng đặc quyền kinh tế

Ngoài vấn đề tự do hàng hải, giới phân tích cho rằng vị trí chiến lược của Biển Đông còn ẩn chứa đằng sau nó những toan tính khác của các cường quốc.

 

  

Tranh chấp lãnh hải trên Biển Đông đang gia tăng đến mức giống như một điểm va chạm chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc sau một cuộc tranh cãi khó chịu giữa chính phủ hai nước này. Bộ Ngoại giao Mỹ chỉ trích kế hoạch của Trung Quốc đặt một đơn vị quân đội đồn trú trên quần đảo Hoàng Sa, nhấn mạnh rằng hành động này sẽ làm gia tăng căng thẳng quốc tế. Bắc Kinh đã đáp trả rằng Mỹ nên để ý đến việc của chính mình hơn là “chõ mũi vào chuyện của nước khác.”

Nhiều nhà quan sát đặt câu hỏi tại sao Oasinhtơn và Bắc Kinh lại đang cho phép một sự kích động mới bùng nổ trong mối quan hệ quan trọng đến mức không thể tính toán hết được giữa Mỹ và Trung Quốc. Điều không may là có sự hiểu lầm đang lan rộng về lý do cơ bản của Mỹ đối với sự can thiệp ngoại giao của Oasinhtơn vào một cuộc tranh chấp lãnh hải mà Mỹ không phải là bên tham gia tranh chấp. Mặc dù các quan chức Mỹ đã nêu ra một vài quan ngại cụ thể của Mỹ về các chính sách và hoạt động của Trung Quốc ở Biển Đông, nhưng điều mà Mỹ lo ngại nhiều nhất được hiểu một cách rộng rãi và được lặp đi lặp lại là mối đe dọa tiềm tàng đối với “tự do hàng hải:” Nước CHND Trung Hoa có thể tiến tới áp đặt các hạn chế đối với các tàu nước ngoài đi qua Biển Đông. Tuy nhiên, điều này không phải là vấn đề thực sự, mà vấn đề thực chất là sự hăm dọa, ỷ mạnh hiếp yếu.

Chắc chắn Mỹ là nước đưa ra đề xuất mạnh mẽ về tự do hàng hải ở các vùng biển quốc tế. Lập trường này không chỉ phản ánh cam kết của Mỹ đối với nguyên tắc tự do nói chung, mà còn phản ánh những lợi ích của một quốc gia thương mại với lực lượng hải quân giàu năng lực nhất thế giới. Khả năng nếu như tự do hàng hải ở Biển Đông lâm vào tình cảnh nguy hiểm, Mỹ sẽ xuất hiện để bảo vệ là điều không còn nghi ngờ. Tuy nhiên, hiện nay tự do hàng hải không phải là vấn đề ở Biển Đông.

Người Trung Quốc nói rằng họ không can thiệp vào hàng hải quốc tế ở Biển Đông và cũng không có ý định làm như vậy trong tương lai. Lập trường của họ có một số lý lẽ. Trung Quốc đặc biệt hay phàn nàn về sự giám sát của các tàu và máy bay Mỹ ở khu vực gần bờ biển Trung Quốc. Điều này đã dẫn đến một số vụ quấy nhiễu của Trung Quốc mà một số vụ đã được báo chí đăng tải. Công ước LHQ về Luật biển cho phép do thám hạn chế ở khu vực giữa các vùng nước trong lãnh hải của một nước – 12 hải lý – và giới hạn vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của nước đó (thường là 200 hải lý).

Người Trung Quốc tranh cãi rằng do thám không phải là “đi ngang qua một cách vô hại” và không nên cho phép thực hiện hành động đó ở trong EEZ. Đó không phải là một tranh cãi vô lý. Vì thế tình huống này đã dẫn đến một số vụ can thiệp của hải quân Mỹ vào “tự do hàng hải,” nhưng tình trạng này rất hạn chế và chỉ trong trường hợp đặc biệt. Tình huống khác, trong đó các tàu thuyền Trung Quốc can thiệp vào các tàu không phải của Trung Quốc là khi các con tàu đó tham gia các hoạt động liên quan đến việc khai thác các nguồn tài nguyên biển – như đánh bắt tôm cá hoặc chuẩn bị khoan lấy dầu mỏ, hoặc khi người nước ngoài đang nỗ lực bắt giữ các ngư dân Trung Quốc. Đây cũng là các trường hợp đặc biệt. Mặc khác, người Trung Quốc không can thiệp vào việc đi lại của các tàu chở hàng mang cờ Mỹ hay tàu của hải quân Mỹ đi qua Biển Đông. Do đó, người Trung Quốc khẳng định rằng tranh cãi về tự do hàng hải là điều không có thật – một lời khẳng định thuyết phục được nhiều nhà quan sát trung lập. Từ lập luận này, người Trung Quốc cáo buộc rằng người Mỹ đang sử dụng tự do hàng hải làm cái cớ để mở rộng chiến lược ngăn chặn sang Đông Nam Á, hạn chế ảnh hưởng của Trung Quốc và tuyển mộ thêm các đồng minh mới tham gia vòng vây quân sự mà Mỹ đang siết quanh Trung Quốc.

Như vậy, tranh luận về tự do hàng hải cơ bản sẽ tiếp tục tồn tại. Đúng hơn, điều mà Chính phủ Mỹ sẽ nói rằng do hàng hải làm cho thế giới an toàn và tránh khỏi sự áp bức là trái với luật pháp quốc tế. Điều mỉa mai là Trung Quốc đã bắt đầu thực hiện điều mà các nhà ngoại giao nước này đã lên án trong nhiều thập kỷ là “chủ nghĩa bá quyền” hay “chính trị cường quyền” – hành động của các nước mạnh ép buộc các nước nhỏ hơn phải ưu tiên các quyền lợi riêng của các nước mạnh. 6 chính phủ tuyên bố là chủ sở hữu một số vùng ở Biển Đông. Trung Quốc không phải là nước duy nhất tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông đã đơn phương tăng cường sự kiểm soát của họ đối với các vùng lãnh hải và nguồn tài nguyên ở Biển Đông trong những năm gần đây. Tuy nhiên, Trung Quốc đã tách biệt bản thân họ theo hai cách quan trọng và tiêu cực.
Đầu tiên, những tuyên bố của Trung Quốc đều là sự mở rộng bất thường và mơ hồ một cách có chủ đích. Bắc Kinh đã ngang ngược từ chối xác định những tuyên bố của họ dựa trên những quy định trong Công ước LHQ về Luật biển, trong đó Trung Quốc là một nước đã ký công ước. Đây là một phần trong chiến lược nhập nhằng mơ hồ mà Trung Quốc đang áp dụng để cố gắng giảm thiểu những lo ngại của thế giới và để tránh bị kiềm chế bởi Công ước LHQ về Luật biển trong khi vẫn thực hiện các hành động nhằm đe dọa các đối thủ tuyên bố chủ quyền khác ở Biển Đông.

Thứ hai, các hành động mà Trung Quốc đã thực hiện nhằm khẳng định chủ quyền đối với Biển Đông và “các hòn đảo” nhỏ của họ là mạnh mẽ hơn những hành động của các bên cũng tuyên bố chủ quyền khác. Những hành động này gồm có đe dọa và phá hoại các tàu nước ngoài, áp đặt lệnh cấm đánh bắt cá trong một khoảng thời gian trong năm trên một nửa Biển Đông và bắt giữ các ngư dân nước ngoài không tuân thủ lệnh cấm này. Gần đây, cũng có tuyên bố về việc tăng cường quân sự hóa của Trung Quốc trong khu vực – không chỉ là đơn vị đồn trú mới thành lập ở Tây Sa, mà còn là thông báo của người phát ngôn quân đội Cảnh Nhạn Sinh hồi tháng 6 rằng Trung Quốc đã bắt đầu tiến hành “các hoạt động tuần tra thông thường và tuần tra sẵn sàng chiến đấu” ở Biển Đông. Các hành động của Trung Quốc đang là mối đe dọa bởi vì Trung Quốc là nước lớn. Không có quốc gia nào ở Đông Nam Á có thể đối chọi được với sức mạnh quân sự của Trung Quốc trên Biển Đông. Tỷ trọng kinh tế lớn, tỷ lệ tăng trưởng nhanh và cam kết tăng cường các lực lượng quân sự của Trung Quốc đảm bảo rằng khoảng cách sức mạnh giữa Trung Quốc và các nước Đông Nam Á sẽ chỉ gia tăng nhiều hơn trong tương lai. Để làm cho cuộc tranh chấp nghiêng hơn hẳn về một bên, Chính phủ Trung Quốc gần đây đã công bố các kế hoạch tăng cường mạnh mẽ số lượng tàu tuần tra gần như là tàu quân sự - do lực lượng bảo vệ bờ biển và các cơ quan khác điều hành – mà Trung Quốc sẽ triển khai tới Biển Đông.

Hậu quả là chiến lược trên của Trung Quốc trở thành ảo tưởng giữa hai cường quốc về trật tự quốc tế ở châu Á. Ảo tưởng của Mỹ bao gồm một hệ thống các quy tắc và luật pháp quốc tế mà theo đó đảm bảo rằng trong số nhiều vấn đề, các nước nhỏ được bảo vệ trước các nước lớn hơn và các thủ tục giải quyết tranh chấp sẽ công bằng. Ở phía bên kia, Trung Quốc có vẻ như muốn khôi phục một phạm vi ảnh hưởng của người Trung Quốc ở Đông Á và Đông Nam Á như nước này đã từng có được thời xưa. Theo sự dàn xếp này, các nguyên tắc về ảnh hưởng quốc tế sẽ phản ánh các lợi ích cơ bản của Trung Quốc. Bắc Kinh sẽ mong đợi các chính phủ trong khu vực không thực hiện các quyết định lớn đi ngược lại mong muốn của Trung Quốc. Sự thiếu thiện chí của Trung Quốc hiện nay trong việc đặt nền móng cho các tuyên bố của Bắc Kinh theo Công ước LHQ về Luật Biển có lẽ phản ánh ý nghĩ là bộ luật gần như hoàn toàn do phương Tây viết ra này sẽ không cần thiết khi Trung Quốc khôi phục được vị trí thống trị khu vực trong lịch sử. Một số nhà quan sát coi cuộc cạnh tranh Trung-Mỹ ở Biển Đông đơn giản là một cuộc khẩu chiến giữa hai cường quốc mà cả hai đều đang tìm cách thống trị khu vực, với mỗi nước đều hành động vì lợi ích bá chủ riêng của mình hơn là bảo vệ một số nguyên tắc cao hơn. Tuy nhiên, trong trường hợp này, sự can thiệp của Mỹ rõ ràng cùng chiến tuyến với những lợi ích của các quốc gia Đông Nam Á, những nước tìm cách tránh sự thống trị của Trung Quốc hoặc bất kỳ cường quốc nào khác. Trung Quốc hiện đang tìm cách thực hiện một trật tự theo mong muốn của nước này, trong khi Mỹ thì đang tìm cách đảm bảo rằng các quốc gia nhỏ hơn không bị nghiền nát bởi Trung Quốc. Đây là một vấn đề thực tế và các quan chức Mỹ cần làm rõ điều này./.

Theo "Asia sentinel" (ngày 5/9)

Vũ Hiền (gt)

 

 

Trong bối cảnh tình hình Biển Đông căng thẳng, bài nghiên cứu của GS. Peter Dutton, Viện nghiên cứu Biển Trung Quốc, Học viện Hải quân Mỹ, đánh giá vai trò của các khuôn khổ và cơ chế an ninh biển hiện tại như Công ước luật biển 1982 hay Tuyên bố ứng xử 2002 trong việc duy trì hoà bình và thúc đẩy phát triển ở khu vực. Bài viết cũng đưa ra một số kiến nghị nhằm xây dựng lòng tin và đề ra tiến trình hướng tới sự ổn định lâu dài.

 

Như đã thấy trong năm 2011, Trung Quốc, Việt Nam và Philippines đều đang khẩn trương tiến hành các cuộc thăm dò và kế hoạch khoan nhằm chiếm giữ những nguồn tài nguyên hydrocarbon dưới đáy biển Đông nơi có vô số những yêu sách quốc gia chồng lấn nhau. Kết quả là, đôi khi sự va chạm trở nên nghiêm trọng và mỗi nước đều tăng cường những lập luận hùng hồn về quyền tài phán duy nhất của mình đối với việc khoan dầu trong những khu vực xác định. Mỗi nước cũng gia tăng những hoạt động hải quân trên biển Đông theo hai cách, hoặc là đưa ra những tín hiệu về quyết tâm bảo vệ quyền lợi của mình đối với các nguồn tài nguyên hoặc chí ít thì cũng được cho là như vậy.

Một số nhà quan sát cho rằng, các quan hệ kinh tế khu vực và mong muốn chung cho một môi trường bên ngoài ổn định để thúc đẩy sự phát triển kinh tế từ bên trong sẽ làm cho các cuộc cạnh tranh năng lượng và tranh chấp chủ quyền không dẫn đến xung đột[1],. Một số ý kiến lại cho rằng căng thẳng có thể kiểm soát được vì thực tế đã cho thấy rằng cho đến nay những tuyên bố hàng hải của Trung Quốc trên biển Hoa Đông và biển Đông “thường được thực thi  bởi các tàu tuần tra không trang bị vũ trang, điều này gửi đến một thông điệp rõ ràng rằng Bắc Kinh không tìm kiếm sự leo thang dẫn đến một cuộc khủng hoảng lớn vì những vấn đề này."[2] Một số khác thì lại khẳng định rằng những quan điểm trên là hão huyền.[3] Bài viết này xem xét rằng giữa những tình huống xấu đi như thế thì liệu các khuôn khổ và cơ chế an ninh hàng hải hiện tại - đặc biệt là hai trường hợp Công ước về Luật biển của Liên Hợp Quốc, và Tuyên bố ứng xử của các bên trên biển Đông - có đủ để duy trì hoà bình khu vực và thúc đẩy phát triển kinh tế khu vực hay không. Với kết luận chúng không đủ, bài viết sẽ đưa ra một số kiến nghị nhằm xây dựng lòng tin và đề ra tiến trình hướng tới sự ổn định lâu dài.

Tranh chấp chủ quyền và sự thất bại của luật quốc tế

Những tranh chấp ở biển Đông có thể được đặt trong ba phạm trù khác nhau - chủ quyền, quyền tài phán và quyền kiểm soát.[4] Phạm trù đầu tiên liên quan đến các tranh chấp của các bên về vấn đề chủ quyền trên các hòn đảo, bãi đá nổi và bãi đá chìm ở biển Đông. Hiện tại không có một khuôn khổ hay cơ chế khu vực và quốc tế tích cực nào trực tiếp giải quyết vấn đề chủ quyên. Điều này một phần vì thực tế Trung Quốc khăng khăng giữ quan điểm rằng họ sẽ chỉ giải quyết mọi tranh chấp trên biển Đông bằng đám phán và chỉ trên cơ sở đàm phán song phương mà thôi. Điều này đã loại bỏ cơ hội cho các bên tận dụng các cơ chế pháp lý và trọng tài hay các khuôn khổ khu vực và quốc tế khác nhằm hỗ trợ cho việc giải quyết hòa bình các tranh chấp.

Công bằng mà nói, liên quan đến vấn đề chủ quyền, dường như bất kỳ nước tranh chấp nào đều dường như không mấy quan tâm đến vấn đề đàm phán, phân xử hay giải quyết bằng tòa án. Những tuyên bố “chủ quyền không thể chối cãi” dựa trên những mối liên hệ lịch sử và kiểm soát chính quyền thường đến từ Việt Nam và Trung Quốc - mỗi nước đều khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.[5] Trong khi ít hùng hồn hơn, chính phủ Philippine đồng thời cũng khẳng định rằng nước này có “chủ quyền và quyền tài phán đối với các điểm địa lý” của quần đảo Kalayaans.[6] Những hồ sơ công khai phản ánh rằng Philippines căn cứ trên tuyên bố của họ dựa trên thuyết những vùng liền kề hoặc tiếp giáp với nhóm đảo Kalayaan với quần đảo chính của nó, mặc dù cơ sở của những tuyên bố này thì có độ chắc chắn ít hơn so với những tuyên bố của Việt Nam và Trung Quốc bởi vì Philippine cũng hoặc theo một cách khác, khẳng định trên những cở sở an ninh và kinh tế, rằng các đảo đã bị bỏ rơi bởi những nước khác sau Chiến tranh thế giới thứ 2, và sau đó Philippine đã thiết lập chủ quyền bằng cách tự khám phá hoặc ban hành sắc lệnh. Giống như Malaysia và Brunei, Philippine cũng khẳng định quyền kiểm soát trên Kalayaans như một sự mở rộng quyền lợi ở thềm lục địa của chính mình.[7] Trong khi một loạt các quan điểm như thế có thể phục vụ khéo léo cho các tranh cãi pháp lý, nó không thúc đẩy một môi trường thuận lợi cho đàm phán do các bên đối lập gặp khó khăn tìm kiếm một cơ sở chung để tiếp tục.

Chắc chắn rằng có những lựa chọn để phát triển một cơ chế hay khuôn khổ để giải quyết vấn đề chủ quyền. Nếu đàm phán đa phương không được chấp thuận và đàm phán song phương vẫn không đạt được kết quả, trong trường hợp đó, hiển nhiên các bên có thể phải đưa tình huống này ra Toà án Tư pháp quốc tế hoặc Toà án trọng tài thường trực. Tuy nhiên, vì một số lí do, điều này khó có khả năng xảy ra.

Về mặt chính trị, chính phủ các nước trong khu vực phải đấu tranh với chủ nghĩa dân tộc trong nước, điều đó hạn chế sự lựa chọn chính sách. Về mặt kinh tế, dường như có một nhận thức ngày càng tăng - đặc biệt là ở Trung Quốc và cũng ngày càng tăng ở Việt Nam - rằng mà những nguồn thực phẩm và năng lượng ở biển Đông ngày càng trở nên thiết yếu với sự thịnh vượng của quốc gia trong thế kỉ 21. Lo lắng này phủ bóng đen lên lập luận về chủ quyền đối với các đảo và các quyền pháp lý kèm theo nó. Thái độ thực dụng về những nguồn năng lượng trên biển Đông đặc biệt đang trở thành quy tắc tiêu chuẩn. Đây là một xu hướng đáng lo ngại vì nó cho thấy các bên trong tương lai có thể không sẵn sàng tin tưởng vào sự tiếp cận các nguồn tài nguyên dựa vào thị trường – vốn là nền tảng cho hệ thống toàn cầu. Cuối cùng, về mặt quân sự, Trung Quốc, Việt Nam và Philippine đều xem việc kiểm soát đối với các đảo là điều tối quan trọng cho an ninh quốc gia. Do đó, có nhiều cử tri trong mỗi quốc gia kiềm chế chính phủ của họ không được theo đuổi các thoả hiệp về chủ quyền. Điều này là một trong những lý do chính giải thích tại sao các chính phủ vẫn kiên quyết tránh những toà án quốc tế hay các ủy ban trọng tài nhằm giải quyết những vấn đề này. Đơn giản là có quá nhiều rủi ro.

Một lý do khác khiến các chính phủ tránh sự trợ giúp pháp lý quốc tế, đó là cơ chế luật pháp quốc tế điều chỉnh việc giải quyết các tranh chấp về chủ quyền còn chưa rõ ràng. Vì vậy, bản thân luật pháp là một nhân tố khác khiến các thoả hiệp trở nên khó khăn hơn -  thực sự nó làm trầm trọng thêm xu thế dẫn đến sự va chạm. Cụ thể, luật quốc tế khuyến khích khả năng của một quốc gia chứng tỏ một tuyên bố chủ quyền vượt trội bằng cách khẳng định sự chiếm đóng, quản trị hiệu quả và kiểm soát độc quyền. Tất cả các quốc gia biển Đông ngoại trừ Brunei có lực lượng đóng quân trên đảo, trạm theo dõi thời tiết, cơ sở vật chất để bảo vệ bờ biển, nghiên cứu khoa học, một số thậm chí đã được báo cáo là phát triển hoặc có kế hoạch phát triển hạ tầng du lịch. Tiếp theo mạch phát triển này, người Trung Quốc đã thiết lập một chính quyền thành phố trên quần đảo Trường Sa, thiết lập mạng lưới điện thoại di động, và hỗ trợ các hoạt động đánh bắt cá địa phương từ các hòn đảo. Người Malaysia thì lập ra một khu du lịch lặn trên một trong những đảo họ chiếm đóng được. Mỗi hoạt động này là một tuyên bố công khai về sự chiếm đóng và quản lý hiệu quả của một quốc gia đối với một đảo nào đó đang tranh chấp. Quả thực, để củng cố sự chiếm đóng và quản lý hiệu quả của mình, chính phủ Trung Quốc rõ ràng gần đây đã đi quá xa trong việc đặt cột mốc đánh dấu quyền chủ quyền của họ trên ba đảo nhỏ của quần đảo Trường Sa, bao gồm bãi đá ngầm Boxall (TQ: Niuchelun- nd) và bãi Amy Douglas gần Palawan. Để không mất đi yêu sách của mình trong việc quản lý và kiểm soát hiệu quả trên cùng những phần lãnh thổ đó, chính phủ Philippine đã tuyên bố rằng hải quân của họ đã tháo bỏ những cột mốc này và phái những đội tàu của họ đến để ngăn cản Trung Quốc khôi phục lại chúng. Philippine cũng gỡ bỏ một cái phao do Trung Quốc đặt ra khỏi mặt nước.[8]

Tóm lại, luật quốc tế liên quan đến chủ quyền tự nó đã tạo ra một cuộc cạnh tranh leo thang giữa các bên tranh chấp để chứng minh sự chiếm giữ và kiểm soát độc quyền trên các đảo. Bởi vì chủ quyền là một cuộc chiến một mất một còn, không bên nào có thể rút lui trong cuộc cạnh tranh và duy trì những đòi hỏi của mình. Khi những bên tham dự tăng lên, khả năng xảy ra sự cố nghiêm trọng hơn bao giờ hết. Như vậy, khuôn khổ luật quốc tế để giải quyết các tranh chấp chủ quyền hiện hành là một cơ chế không đủ để khuyến khích và tăng cường ổn định khu vực. Luật quốc tế cũng đưa ra các giải pháp đôi bên cùng có lợi khác dựa trên chia sẻ chủ quyền hay chủ quyền với những quyền quốc tế bất khả xâm phạm. Các bên sẽ thực hiện tốt việc thăm dò những lựa chọn kiểu đôi bên cùng có lợi này như là con đường đi dến những giải pháp tạm thời hoặc thậm chí là lâu dài cho vấn đề chủ quyền trên quần đảo Trường Sa.

Khuôn khổ tài phán biển của UNCLOS 

Dạng tranh chấp thứ hai liên quan tới thẩm quyền trong không gian biển và các nguồn tài nguyên trên biển, trong biển và dưới đáy biển. Có lẽ điều quan trọng nhất trong khuôn khổ an ninh hàng hải đối với biển Đông là Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS). UNCLOS đã được đàm phán trong suốt những năm 1970 và đầu những năm 1980 để đáp ứng một số xu hướng gây bất ổn trong lĩnh vực hàng hải, tất cả đều vẫn còn hiện diện trong khu vực biển Đông ngày nay bất chấp việc các nước ven biển Đông đã tham gia vào Công ước toàn cầu này.

Một xu hướng như thế là khả năng ngày càng tăng của các quốc gia trong suốt thế kỉ 20 để khai thác các nguồn tài nguyên sinh vật và phi sinh vật của một phần ngày càng mở rộng của những vùng duyên hải. Hoa Kỳ đã tiến hành hoạt động đầu tiên của một quốc gia trong kỷ nguyên hiện đại để thực hiện các quyền tài phán mở rộng trên biển với tuyên bố của Truman năm 1945, tuyên bố mà đã có kết quả ngoài ý muốn trong các thập kỉ tiếp theo trong việc dấy lên một cuộc chạy đua toàn cầu nhằm kiểm soát các nguồn tài nguyên biển thông qua một loạt các cơ chế cạnh tranh, bao gồm những tuyên bố của một số nước về chủ quyền quốc gia đầy đủ trong 200 hải lý tính từ bờ biển của họ. Vì nhiều lý do, nhiều nước khác mà đơn cử là không ít các cường quốc hàng hải không chấp nhận điều này do mất đi các quyền hàng hải quốc tế. Khi nhà nước có chủ quyền hoàn toàn đối với hơn 1/3 đại dương trên thế giới ngụ ý rằng một cơ chế chủ quyền hàng hải hoàn toàn sẽ được thiết lập.

Các tuyên bố của Truman cũng đã tạo ra các khu bảo tồn thuỷ sản ở biển sâu dưới quyền tài phán độc quyền của Hoa Kỳ với mục đích quản lý và bảo vệ những đàn cá vì lợi ích của người dân Mỹ. Như những gì đã xảy ra sau tuyên bố thềm lục địa, những điều kế tiếp là một mớ những yêu sách quốc gia về độc quyền nguồn tài nguyên mà cũng làm gia tăng các cuộc va chạm trên biển vì ở một số nơi, chẳng hạn như biển Đông, một chế độ pháp lý có thể không phải là giải pháp tốt nhất để mang lại một trật tự trong khu vực mà đã từng được xác nước ven biển xem là một khu vực hàng hải chung.

Trong một nỗ lực để mang lại trật tự và giảm thiểu va chạm, các cuộc đàm phán dưới sự bảo trợ của Liên Hợp Quốc được bắt đầu vào những năm 1950, đã mang lại một bộ công ước về luật biển sơ bộ nhưng rõ ràng là chưa đầy đủ tại Geneva vào năm 1958. Các cuộc đàm phán kéo dài vẫn tiếp tục, kết quả là vào năm 1982 trong một loạt các cuộc thương lượng lớn đã hình thành khuôn khổ UNCLOS cho việc ổn định các xu hướng nguy hiểm do tuyên bố Truman gây ra và vẫn tồn tại ở khu vực biển Đông ngày nay. Bốn khía cạnh trong công ước này đã được thiết lập để mang lại trật tự hợp lý trong việc “chiếm đất” trên biển và cân bằng các lợi ích hợp pháp của các quốc gia ven biển với những lợi ích hợp pháp tương tự của các cường quốc hàng hải.

Đường cơ sở.  Khía cạnh đầu tiên là pháp điển hoá các quy tắc liên quan đến đường cơ sở, các ranh giới tại hoặc gần bờ biển giữa lãnh thổ thuộc hoàn toàn chủ quyền của nước ven biển và các vùng biển mở rộng ra ngoài khơi của họ. Mục đích của một hệ thống các đường cơ sở thống nhất là hạn chế việc mở rộng thẩm quyền của quốc gia ven biển đối với các đại dương. UNCLOS điều 5 và 7 xác định rằng các đường cơ sở thường có đường nước thấp dọc theo bờ biển. Điều 7 cung cấp một tập hợp các tình huống rất hạn chế cho phép các quốc gia ven biển đi chệnh khỏi quy định thông thường, chủ yếu là nơi có tồn tại các vịnh nhỏ ven biển thụt sâu vào - như vịnh hẹp ở NaUy, hoặc các hải đảo chạy dọc theo khu vực lân cận của bờ biển - chẳng hạn như những đảo chạy dọc theo phía bờ biển tây nam của bán đảo Triều Tiên. Điều 47 cho phép các quốc gia gồm toàn bộ là các hòn đảo mà không có lãnh thổ đất liền - được gọi là các quốc gia quần đảo - được vẽ đường cơ sở xung quanh rìa ngoài xa nhất cho các đảo của họ và yêu sách một vị thế đặc biệt để đạt được và thực thi một mức độ quyền chủ quyền cao hơn đối với những vùng nước kèm theo. Mặc dù về cơ bản trên toàn cầu các nước có đủ tiêu chuẩn này là tương đối it, có hai nước giáp biển Đông đủ tiêu chuẩn này: Philippine và Indonesia. Tất nhiên, Malaysia không đủ tiêu chuẩn vì một phần lãnh thổ nước này là lục địa. Một điểm then chốt về cơ chế các đường cơ sở là chúng được vẽ dựa hoàn toàn vào địa lý của các quốc gia ven biển. Cơ chế dựa trên địa lý này được thiết lập nhằm đảm bảo trật tự trong quá trình thiết lập các yêu sách biển bằng cách thể hiện chúng từ một tập hợp đồng bộ các đặc điểm mở và không thể phủ nhận. Như vậy, không có ngoại lệ phi địa lý đối với việc vẽ các đường cơ sở mà được UNCLOS hoặc luật quốc tế nói chung công nhận. 

Các đường cơ sở của Trung Quốc. Mặc dù các đường cơ sở của Trung Hoa đại lục đều được thể hiện theo hình thù địa lý ven biển của nước này (đường hình chữ U trong biển Đông sẽ được bàn riêng), ở một vài nơi ngoài khơi, các đường cơ sở của Trung Quốc vượt quá mức cho phép của UNCLOS và luật án lệ quốc tế, thâu tóm một cách không chính đáng từ những vùng hoàn toàn thuộc quyền sử dụng quốc tế hơn 2500 hải lý vuông của không gian đại dương chủ yếu ở biển Hoa Đông. Điều quan trọng với vùng Biển Đông là Trung Quốc đã vẽ các đường cơ sở thẳng xung quanh quần đảo Hoàng Sa trong một hành vi vi phạm rõ ràng các quy tắc của UNCLOS rằng chỉ các quốc gia quần đảo mới có thể đưa ra một tuyên bố như vậy. Như vậy, mặc dù tiêu chuẩn quốc tế được thể hiện trong UNCLOS đã có một số tác động vào cách thức Trung Quốc vẽ đường cơ sở của họ như thế nào dọc theo đường bờ biển, chúng đã không ngăn chặn được Trung Quốc đưa ra những đòi hỏi quá mức hoặc rõ ràng không phù hợp trong một số trường hợp khác.

Các đường cơ sở của Việt Nam. Trong khi từ phía bắc bờ biển đến phía nam, Việt Nam vẽ các đường cơ sở mở rộng từ các hải đảo, chứ không phải là các đường thuỷ triều thấp thuộc bờ biển của họ, tính chất quá mức của những tuyên bố này ở phía nam và tây nam phần bờ biển của nước này thực sự là khác thường. Việt Nam dường như có ý bao gồm hơn 27.000 hải lý vuông mà lẽ ra cần được mở cho quốc tế sử dụng. Trong khi Việt Nam sử dụng các đặc điểm địa lý để mô tả các đường cơ sở của mình, nước này làm như vậy theo một cách thức mở rộng quá mức theo những quy định của UNCLOS như đã được làm rõ trong luật án lệ quốc tế. Như vậy, cũng giống như trong trường hợp của Trung Quốc, quy chế các đường cơ sở do UNCLOS xác lập đã không đóng vai trò kiềm chế với Việt Nam.

Các đường cơ sở của Indonesia và Philippine. Là hai quốc gia quần đảo trong khu vực, Indonesia và Philippine được quyền gộp phần lớn vùng nước vào các đường cơ sở của họ và khẳng định quyền chủ quyền trên đó. Mặc dù khi được vẽ lần đầu vào năm 1960, hệ thống các đường cơ sở thẳng của Indonesia không hề phù hợp với luật quốc tế, trong suốt các cuộc đàm phán UNCLOS vào những năm 1970 Indonesia đã vận động thành công để hệ thống của họ được chấp nhận cho tất cả các quốc gia bao gồm hoàn toàn các đảo. Ngày nay, các đường cơ sở của Indonesia đã được chấp nhận như một quy chuẩn. Tuy nhiên, Philippine từ lâu đã duy trì đường cơ sở mở rộng kế thừa từ thời thuộc địa của Tây Ban Nha và không đặt các đường cơ sở của họ phù hợp với UNCLOS cho đến tận tháng 3/2009 như một phần nỗ lực của họ nhằm đáp ứng hạn nộp hồ sơ cho Ủy ban thềm lục địa UNCLOS. Nói cách khác, để xác định thềm lục địa của mình, Philippine đầu tiên phải xác định các đường cơ sở để từ đó mới có thể vẽ ranh giới thềm lục địa.

Trong thời gian dẫn đến tuyên bố các đường cơ sở của Philippine, Trung Quốc được cho là đã gây áp lực đáng kể với các thành viên của Quốc hội Philippine. Áp lực này nhằm thuyết phục Quốc hội Philippine thông qua một dự luật đường cơ sở không bao gồm quần đảo Trường Sa bên trong các đường cơ sở của quần đảo Philippine. Điều Trung Quốc muốn hơn là Philippine vẽ các đường cơ sở xung quanh các đảo “chính” và xem Trường Sa mà Philippine yêu sách như một “quy chế đảo riêng biệt” bên ngoài quần đảo chính và do vậy bên ngoài cả các đường cơ sở quần đảo. Có lẽ, Trung Quốc đã tìm cách để tránh một tình huống mà trong đó Philippine tuyên bố quần đảo Trường Sa có chủ quyền lãnh thổ không thể tách rời khỏi Philippine khi vẽ các đường cơ sở bao gồm cả các đảo chính của Philippine và cả nhóm đảo Kalayaan (Trường Sa). Vì những lí do rõ ràng, Trung Quốc nhạy cảm với những khó khăn chính trị ngày càng gia tăng mà chính phủ Philippines sẽ phải đối mặt trong việc đàm phán về quyền lãnh thổ, việc mà luật pháp Philippine cho rằng “cốt lõi” hay không thể tách rời khỏi lãnh thổ của họ.

Cho dù vì áp lực của Trung Quốc hay một số lí do khác, sau một thời kì khó khăn chính trị, Quốc hội Philippine thực sự đã ban hành một dự luật các đường cơ sở trong đó loại yêu sách Kalayaan của họ trong quần đảo Trường Sa khỏi yêu sách quần đảo của họ và coi nhóm đảo đó như một tập hợp đảo riêng biệt. Điều này đã làm cho một số người ở Philippine tức giận rằng chính phủ của họ đã không chống lại nổi áp lực của Trung Quốc, sự oán giận mà đã đổ thêm dầu vào nỗi thất vọng mang tính chủ nghĩa dân tộc với sự can thiệp lúc đó của Trung Quốc trong những nỗ lực của Philippine nhằm thực hiện các cuộc điều tra về Bãi cỏ rong (A: Reed Bank, TQ: Liyue Tan, Lile Tan -nd).

Tóm lại, hệ thống các đường cơ sở được thiết lập theo UNCLOS đã không đủ để ngăn chặn ít nhất là hai nước mấu chốt ở biển Đông - Việt Nam và Trung Quốc - khỏi đưa ra những yêu sách biển quá mức, bất hợp pháp và đã không đủ để loại bỏ va chạm giữa các quốc gia. Tuy nhiên, Việt Nam, như sẽ chứng minh dưới đây, nhìn chung đã tuân thủ tốt hơn các quy tắc về phân định biên giới biển theo UNCLOS hơn là Trung Quốc.

Vùng đặc quyền kinh tế. Chuyển sang các nguồn tài nguyên ở biển Đông, có lẽ khuôn khổ UNCLOS quan trọng nhất được thiết lập nhằm đạt tới an ninh và ổn định hàng hải là quy chế của vùng đặc quyền kinh tế (EEZ). Vùng EEZ được thiết lập để giảm thiểu các tranh chấp đối với nguồn tài nguyên ở những dòng nước và đối với nguồn tài nguyên dưới đáy biển ra đến 200 hải lý tính từ đường cơ sở của quốc gia ven biển. UNCLOS cung cấp cho các quốc gia ven biển quy định quyền pháp lý để quản lý, bảo vệ và bảo tồn các nguồn tài nguyên sinh vật và phi sinh vật trong khu vực này. Việc quy chế EEZ thay thế quy chế thềm lục địa để quản lý đáy biển ra đến 200 hải lý là một thực tế thường bị xem nhẹ. Vì vậy, những điều khoản thềm lục địa UNCLOS chỉ có tầm quan trọng thực tiễn trong các trường hợp mà theo đó một quốc gia có thể đòi hỏi các quyền thềm lục địa vượt ngoài 200 hải lý - được biết như là thềm lục địa mở rộng.

UNCLOS khá rõ ràng rằng một tuyên bố quyền tài phán quốc gia đối với các nguồn tài nguyên phải được dựa trên địa lý của quốc gia ven biển. Biểu hiện của Trung Quốc về tuyên bố quyền tài phán hàng hải của họ trong biển Đông theo đường chữ U táo bạo mà không có bất cứ sự xem xét dù là trực tiếp hay thậm chí là gián tiếp nào về đặc điểm của hình thù địa lý duyên hải hay thậm chí là cả đường cơ sở của họ vì vậy là một sự vi phạm các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế và các qui chuẩn về cách hành xử được kỳ vọng của các quốc gia như đã nói rõ trong quy chế đường biên giới biển do UNCLOS lập ra. Tuyên bố hình chữ U của Trung Quốc do vậy là một trong hai nguồn chính của các vụ tranh chấp và va chạm giữa các quốc gia trên biển Đông - còn lại là các tranh chấp khác đang diễn ra về chủ quyền đối với các đảo biển đã được nói ở trên.

Ý nghĩa cụ thể của tuyên bố đường hình chữ U của Trung Quốc lảng tránh sự xác định rõ ràng, dường như đây là một phần chính sách nhà nước mà Trung Quốc lựa chọn liên quan đến yêu sách này.  Bốn sự giải thích thay thế khác hay có lẽ là trùng hợp nhau đã thể hiện ý nghĩa quyền tài phán của đường này: đối với một số người nó thể hiện chủ quyền hay quyền chủ quyền của Trung Quốc, đối với một số khác nó thể hiện một vùng với các quyền mang tính lịch sử quản lý khu vực, đối với một số khác nữa nó là một sự thể hiện các lợi ích về an ninh, và cuối cùng đối với một số người nó là một vùng mà trong đó Trung Quốc sở hữu tất cả các đảo và bất kỳ quyền về không gian vùng nước nào mà các đảo này có thể yêu sách. Chỉ có lời giải thích cuối cùng có giá trị theo UNCLOS, và thậm chí điều đó còn bị suy yếu bởi tuyên bố của Trung Quốc trong luật trong nước của Trung Quốc rằng họ có thêm các quyền lịch sử lâu đời đối với các vùng nước mà vượt ra ngoài những gì mà luật pháp quốc tế hiện nay công nhận. Thêm vào đó, Trung Quốc tuyên bố trong một bức thư gửi cho Uỷ ban Liên Hợp Quốc về Giới hạn của thềm lục địa rằng quần đảo Trường Sa “hoàn toàn có quyền có lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa.”[9] Tuyên bố về các quyền đối với EEZ và thềm lục địa đối với Trường Sa cũng đã vi phạm luật quốc tế ở chỗ có rất ít các đảo nhỏ, bãi ngầm và bãi cát nào mà tạo nên quần đảo Trường Sa có quyền hưởng các vùng đó do chúng không thể hỗ trợ việc sinh sống của người dân bản địa hoặc duy trì hoạt động kinh tế của chính mình.

Tuyên bố hình chữ U của Trung Quốc - một trong hai nguồn chính của các vụ tranh chấp và va chạm giữa các quốc gia trên biển Đông

Mặt khác, tận dụng quá trình mà theo đó các quốc gia có thể tạo ra những tuyên bố thềm lục địa vượt quá 200 hải lý, Việt Nam và Malaysia đã tuyên bố công khai vùng đặc quyền kinh tế của họ trên biển Đông cộng thêm việc mở rộng các quyền thềm lục địa mà hoàn toàn tuân thủ các điều khoản của UNCLOS, tất nhiên ngoại trừ việc vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam bắt đầu quá xa ra biển do các đường cơ sở không phù hợp của nước này. Philippine và Indonesia mỗi bên cũng duy trì một tuyên bố vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý thích hợp xung quanh các đường cơ sở quần đảo của họ, được xác định theo địa lý. Không giống như Trung Quốc, bốn nước yêu sách chủ quyền này đối với một số hoặc tất cả các đảo Trường Sa đã hoàn toàn kiềm chế không tuyên bố vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa mở rộng mà các điểm đảo này không được quyền hưởng.

Vì vậy, rõ ràng là ngoài cuộc đấu tranh chủ quyền trên các đảo, va chạm liên quan đến các quyền đánh bắt cá và cạnh tranh đối với nguồn tài nguyên hydrocarbon cần bổ sung thêm một cuộc đấu tranh về khuôn khổ qui phạm pháp luật mà theo đó các tranh chấp sẽ được giải quyết. Liệu UNCLOS, với tư cách là một quy chế quốc tế được chấp nhận rộng rãi và được phát triển để gìn giữ sự ổn định hàng hải trong cuộc cạnh tranh các nguồn tài nguyên biển có nên điều phối việc giải quyết các tranh chấp hay không? Hay cơ sở giải quyết tranh chấp nên là quan điểm của Trung Quốc về những quyền lợi lịch sử và sức mạnh đang ngày càng gia tăng của họ để thực thi chúng? Tuy nhiên tại thời điểm này, các điều khoản phân bổ nguồn tài nguyên của UNCLOS như một quy chế đảm bảo an ninh hàng hải và sự ổn định đã không thành công ở biển Đông.

Các quyền hàng hải. Quy chế thứ ba của UNCLOS mang bình luận ngắn gọn, vì nó liên quan đến phạm trù của các cuộc tranh chấp bao hàm việc kiểm soát đối với các vùng nước ở biển Đông. Trong suốt quá trình các cuộc đàm phán dẫn đến bản Công ước cuối cùng, đã có bất đồng giữa các quyền lợi hợp pháp của các quốc gia ven biển trong việc bảo vệ và phát triển bền vững các nguồn tài nguyên sinh vật và phi sinh vật ngoài khơi và quyền tự do hàng hải ở những vùng biển sâu khác mà cho phép các nước thực hiện tự do thương mại và để bảo vệ lợi ích an ninh của họ. Chế độ vùng đặc quyền kinh tế đã được soạn thảo như một thoả hiệp được cân bằng một cách thận trọng giữa hai lợi ích hợp pháp. Nó bảo vệ các quyền đối với các nguồn tài nguyên bằng cách cho phép các quốc gia có chủ quyền đặc quyền và quyền tài phán đủ để họ quản lý nhưng không phải là chủ quyền hoàn toàn, nghĩa là cho phép các quốc gia ven biển can thiệp vào quyền tự do hàng hải của các nước khác khi họ dùng sức mạnh hải quân để theo đuổi các lợi ích an ninh của mình. Bởi vậy, sự tự do hàng hải, tự do hàng không và một số hoạt động hợp pháp lâu đời khác trên vùng biển quốc tế, bao gồm cả tự do quân sự, đã được duy trì một cách cụ thể bởi tất cả các quốc gia trong khuôn khổ quyền tài phán của UNCLOS tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Việc Mỹ và Trung Quốc đấu tranh về sự cân bằng này là sự phản ánh thất bại của UNCLOS trong việc đáp ứng đầy đủ tiềm năng của nó như một cơ chế ổn định hàng hải liên quan đến việc cân bằng quyền lợi của các quốc gia ven biển và tự do quốc tế trong vùng đặc quyền kinh tế.

Từ những phân tích trên đây có thể thấy rõ rằng chưa có được sự tuân thủ ở cấp độ toàn cầu về bộ quy tắc của UNCLOS trong việc vẽ các đường biên giới phân định biển mà phân bổ các quyền lợi tài nguyên cũng như tự do hàng hải cho mục đích quân sự. Việc ký kết các hiệp định và công ước không đồng nghĩa với việc tuân thủ các quy định và các chuẩn mực mà chúng đề ra. Cần phải có những nỗ lực kiên trì để tăng cường quy chế UNCLOS và khuyến khích việc áp dụng nó trên toàn cầu.

Tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên biển Đông

Bởi vì khuôn khổ qui chuẩn do UNCLOS đưa ra không đủ để xây dựng sự ổn định hàng hải trong các mối quan hệ ở biển Đông, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã có những bước cố gắng đưa ra một khuôn khổ chính trị cho sự ổn định. Trong suốt những năm cuối thập kỷ 1990 và những năm bắt đầu thiên niên kỷ mới, ASEAN đã tìm cách để giảm thiểu căng thẳng và thúc đẩy một số nguyên tắc thành lập thông qua một sáng kiến của Indonesia. Cụ thể, ASEAN đã tìm cách “thúc đẩy hoà bình và ổn định khu vực thông qua tuân thủ công lý và quy định của pháp luật trong các mối quan hệ giữa các quốc gia trong khu vực này... và đẩy nhanh sự tăng trưởng kinh tế của khu vực.”[10] Nhu cầu về một quá trình như vậy là rõ ràng sau hai thập kỉ va chạm và thậm chí xung đột trên biển Đông, đáng chú ý nhất là cuộc chiến giữa Trung Quốc và Việt Nam Cộng hoà ở quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974, sự kiện bãi đá ngầm Chữ Thập (A: Fiery Cross Reef, TQ: Yungshu Jiao -nd) giữa Trung Quốc và Việt Nam năm 1988 và cuối cùng là sự kiện Đá Vành Khăn (A: Mischief, TQ: Meiji Jiao -nd) giữa Trung Quốc và Philippine năm 1995. Cũng vào năm 1995 này, Việt Nam đã ký Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác và sau đó trở thành một thành viên của ASEAN, do đó khối Đông Nam Á thống nhất về mặt chính trị đối lập với những gì được nhận thức rộng rãi ở Đông Nam Á như là cách cư xử mang tính phá hoại đầy nguy hiểm của Trung Quốc. Trung Quốc thoái lui vào năm 1995 và 1996 sau khi nhận thấy bản thân mình không giành được cái nhìn thiện cảm của một nhóm đoàn kết hiện tại của các quốc gia Đông Nam Á và sau khi Trung Quốc đã quá thất vọng về giải pháp cho cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan với Mỹ. Hoàn cảnh đã chín muồi cho tất cả các bên tìm đến một cơ chế mang lại sự ổn định cho biển Đông.

Phải mất đến gần 7 năm, nhưng trong năm 2002 các chính phủ của các nước thành viên ASEAN và Trung Quốc đã tham gia vào Tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên biển Đông (DOC). Thoả thuận này có năm tuyên bố cơ bản:

Tuyên bố khẳng định lại cam kết của các bên đối với luật quốc tế, bao gồm cả UNCLOS; cam kết các bên sẽ tìm cách nhằm xây dựng sự tin cậy và lòng tin giữa họ, dựa trên sự bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau; cam kết các bên sẽ tôn trọng quyền tự do hàng hải và hàng không trên biển Đông; cam kết các bên sẽ giải quyết các tranh chấp lãnh thổ và quyền tài phán mà không đe doạ hay sử dụng vũ lực; và cam kết các bên sẽ kiềm chế không đưa người ra sinh sống trên những đảo hiện không có người cư trú.

Mỗi tuyên bố sẽ được xem xét để quyết định xem khuôn khổ chính trị này có đủ để mang lại sự ổn định ở mức độ nào.

UNCLOS. Như đã chứng minh ở trên, việc cam kết tuân thủ các điều khoản và quy phạm pháp luật trong UNCLOS đã minh chứng một sự thất bại ở cả khía cạnh pháp lý lẫn chính trị vì tuyên bố của Trung Quốc vê quyền tài phán ở biển Đông dựa trên khái niệm của các quyền lợi mang tính lịch sử hơn là dựa trên khuôn khổ địa lý được đưa ra bởi Công ước. ASEAN đã không thực hiện được bất cứ tiến trình thêm nào thông qua những phương cách chính trị để thay đổi cách cư xử của Trung Quốc về điểm này so với Mỹ trong việc khuyến khích tuân thủ quy chế thẩm quyền trên biển.

Nói cách khác, cần lưu ý rằng mỗi hành động quốc gia của một nước ASEAN về lĩnh vực hàng hải trong thập kỷ qua nhìn chung là phù hợp với các điều khoản của UNCLOS. Philippine đặc biệt đã từ bỏ các tuyên bố lịch sử của mình về vấn đề vùng nước quần đảo của họ để ủng hộ hệ thống dựa trên địa lý mà UNCLOS quy định. Điều này có thể ít nhất là một phần do mong muốn liên kết các nguyên tắc và quy chuẩn trong ASEAN để mang lại lợi ích từ một sự thống nhất chính trị mà một sự liên kết như thế có thể thúc đẩy. Như vậy, ít nhất liên quan đến các quyết định của Philippine, bản DOC đã thành công trong việc thúc đẩy các quy phạm pháp luật của UNCLOS như một cơ sở để tạo nên các tuyên bố có thẩm quyền, hơn là những tuyên bố chỉ mang tính lịch sử.

Tự do hàng hải. Về cam kết của DOC nhằm nêu cao các quyền tự do hàng hải quốc tế trên biển Đông có một động lực ngầm khá thú vị ở khu vực Đông Nam Á. Ngay cả khi Philippine, Việt Nam, Singapore và các nước khác tìm cách để thu hút sức mạnh hải quân Mỹ gần hơn đến khu vực này, có một xu hướng đáng chú ý nhằm tính toán lại sự cân bằng về quyền và lợi ích của các quốc gia ven biển trong khu vực đặc quyền kinh tế theo các cách thức mà đòi hỏi phải có sự cho phép của các quốc gia ven biển trước khi một thế lực bên ngoài nào có có thể tiến hành việc tập trận hay các hoạt động khác trong vùng biển thẩm quyền tài phán của họ. Trong khi điều này là mối quan ngại đáng kể tới Mỹ - vì nó làm suy yếu nguồn cội chính của sức mạnh khu vực của Mỹ - điều này dường như nhìn chung không gây quan ngại lắm ở nhiều nước Đông Nam Á. Có thể thấy điều này qua tuyên bố về cách hiểu đi kèm với thông báo gia nhập UNCLOS của Thái Lan, trong đó nêu:

Chính phủ vương quốc Thái Lan hiểu rằng, trong vùng đặc quyền kinh tế, việc hưởng tự do hàng hải theo các quy định có liên quan đến Công ước không bao gồm bất cứ sự sử dụng không hoà bình nào mà không có sự đồng ý của quốc gia ven biển, cụ thể là những hoạt động tập trận quân sự hay những hoạt động khác mà có thể ảnh hưởng đến quyền lợi hoặc lợi ích của quốc gia trên biển....[11]

Chỉ có Thái Lan cùng với Malaysia và Trung Quốc là các quốc gia khu vực có tuyên bố công khai như vậy, nhưng các cuộc đối thoại riêng tư chỉ ra có thể có thậm chí nhiều hơn sự đồng thuận chung giữa các nước Đông Nam Á về vấn đề này. Điều rõ ràng từ các cuộc đối thoại và từ cách cư xử của các quốc gia Đông Nam Á là đối tượng của mối quan tâm hiện tại không phải là sức mạnh hải quân của Mỹ, mà là khả năng quân sự đang lớn mạnh của Trung Quốc. Nói theo cách khác, nếu xu hướng hiện nay dẫn đến khu vực ngày càng hạn chế các hoạt động hải quân trong khi Mỹ tiếp tục thực hiện tự do hàng hải trên toàn biển Đông vì tất cả những mục tiêu quân sự - trừ trường hợp gặp xích mích với Trung Quốc - trong các vùng biển tranh chấp trên biển Đông thì Trung Quốc có thể bắt đầu phải nếm cách xử sự tương tự từ các láng giềng của mình theo cách mà nước này đã đối xử với Hải quân Hoa Kỳ.

Các biện pháp xây dựng lòng tin. Cam kết trong DOC nhằm thực hiện các biện pháp xây dựng lòng tin có thể được ghi nhận một trong những thành công của nó đó là Hiệp định phân định lãnh thổ trên biển, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ [Hiệp định Vịnh Bắc bộ] giữa Việt Nam và Trung Quốc mà có hiệu lực vào tháng 6 năm 2004. Hiệp định này phân định biên giới trên biển giữa Trung Quốc và Việt Nam trong Vịnh Bắc Bộ mà cho đến nay là biên giới duy nhất trên biển được phân định của Trung Quốc và thiết lập một khu đánh bắt cá chung theo một thoả thuận đi kèm. Khu đánh bắt cá chung này bao gồm hầu hết các khu đánh bắt đang hoạt động trong vùng và kéo dài đến tận năm 2019, và sau đó sử phần lớn không gian này sẽ quay về dưới sự kiếm soát của Việt Nam.[12] Hiệp định đã quy định các đội tuần tra đánh bắt cá chung, đôi khi được thực hiện, nhưng có lẽ không có sự nhiệt tình mấy từ cả hai bên.

Sự đệ trình chung lên Uỷ ban ranh giới thềm lục địa về các đường biên giới biển dự kiến của Việt Nam và Malaysia trên biển Đông cũng cần được ghi nhận như là một dấu hiệu của việc xây dựng lòng tin song phương giữa hai quốc gia này. Việc Philippine và Brunei không thể tham gia với hai nước này có thể phản ánh mức độ phát triển của luật biển của họ. Một khi tiến trình bổ sung hoàn tất quy trình làm luật trong nước, hợp tác quốc tế bổ sung giữa bốn quốc gia ASEAN này trong đệ trình quốc tế của họ có thể trở nên rõ ràng. Đương nhiên điều này sẽ phản ánh cách thức đồng thuận mà ASEAN ưa thích.  Điều đó cũng có thể mang lại sức nặng trong đàm phán với Trung Quốc vì Trung Quốc rõ ràng sẽ trở thành nước duy nhất còn lại dựa vào các tuyên bố của mình trên cơ sở khác với khuôn khổ quy định đã được thống nhất của UNCLOS. Như vậy, sáng kiến về tiến trình xây dựng lòng tin đa phương mà đã đem đến một hiệp định ranh giới chung giữa các bên tranh chấp trong ASEAN trên cơ sở của các điều khoản trong UNCLOS cần được khuyến khích như một cơ chế để khích lệ Trung Quốc tiến hành tương tự như vậy.

Tất nhiên, Trung Quốc khăng khăng đòi các cuộc đàm phán song phương giữa họ và các quốc gia tranh chấp khác. Có lẽ phương án ưa thích này của Trung Quốc có thể được tôn trọng nếu các cuộc đàm phán song phương được tiến hành sau khi hoàn thành một tiến trình đàm phán đa phương do các nước tranh chấp còn lại tiến hành là Việt Nam, Malaysia, Philippine, Brunei và có lẽ cả Indonesia để đối phó với khu vực phía đông bắc đảo Natuna - nhằm đi đến một sự hiểu biết chung về ranh giới biển Đông giữa họ với nhau. Một trong những sự phức tạp hiện làm các cuộc đàm phán song phương trở nên quá khó khăn đó là thoả thuận của một bên tranh chấp với Trung Quốc ảnh hưởng đến khả năng đàm phán của nước này với tất cả các bên tranh chấp khác. Một tiến trình hai bước dựa trên thoả thuận cấp cao giữa các nước ASEAN, theo sau đó là các cuộc đàm phán song phương với Trung Quốc có thể dẫn đến việc sẽ đạt được một khuôn khổ khu vực mở rộng.

Ngăn chặn việc kiểm soát các đảo và kiềm chế vũ lực. Một trong những khía cạnh hiệu quả nhất của DOC là ngăn chặn sự thay đổi hiện trạng chiếm giữ trong suốt 16 năm, kể từ vụ đảo Vành Khăn (A: Mischief Reef, TQ: Meiji Jiao- nd)  thúc giục các bên phải nhanh chóng thay đổi tiến trình. Các cột mốc được Trung Quốc cắm trên Dải Amy Douglas và bãi đá ngầm Boxall (TQ: Niuchelun- nd) quá gây tranh cãi vì nó báo hiệu một sự đổ vỡ rõ ràng đối với chuẩn mực hành vi mang tính ổn định và cũng là quan trọng nhất này. Các bên cũng hành động với sự kiềm chế quân sự vì thoả thuận không đe doạ hoặc sử dụng vũ lực dường như đã bao hàm một sự hiểu biết rằng khu vực này sẽ không bị quân sự hoá. Tuy nhiên, ngay cả thoả thuận đó, dường như đang bị phá vỡ trong bối cảnh căng thẳng hiện tại. Mặc dù hầu hết người Trung Quốc nhìn nhận đất nước họ như nước duy nhất hành động kiềm chế trong khi các bên tranh chấp khác đoạt mất các nguồn tài nguyên nhưng sự thật có nhiều sắc thái khác. Trung Quốc có thể không quân sự hoá các tranh chấp ở biển Đông, nhưng chắc chắn họ sẽ tận dụng những tiềm lực hàng hải quốc gia to lớn khác để gây ảnh hưởng ở khu vực, bao gồm các tàu của Bộ chỉ huy thực thi luật đánh cá và Dịch vụ thăm dò biển của họ.

Kết luận.

Như đã từng thực hiện trong những năm 1995 và 1996, Indonesia với tư cách Chủ tịch ASEAN trong năm 2011 đã tích cực tìm kiếm để mang lại cho cách tiếp cận hoà bình hơn trong vấn đề giải quyết tranh chấp, bao gồm việc tài trợ cho các cuộc thảo luận và đối thoại. Mỹ đã kêu gọi một cách công khai các bên cần đạt được tiến triển về một thoả thuận mang tính thực thi cho DOC hay cho một Bộ ứng xử COC đầy đủ, chính thức. Philippine đề xuất một vùng tự do và hợp tác. Không thiếu những nguyện vọng tốt nhưng dường như có một sự thiếu vắng ý chí chính trị nhằm tìm kiếm những thoả hiệp và tất cả các bên đều đang sử dụng sức mạnh hải quân đã gửi đi các tín hiệu về sự quyết tâm của họ. Nếu các bên muốn ngăn chặn xung đột, câu trả lời không nằm trong các kiến nghị một mất - một còn về chủ quyền và quyền tài phán mà nằm ở việc kiếm tìm những câu trả lời trong một số ví dụ của các khuôn khổ các bên cùng có lợi mà sẽ khu vực hoá lãnh thổ và vùng nước trên biển Đông, cho phép phát triển chung các nguồn tài nguyên sinh vật và phi sinh vật, và tạo điều kiện cho việc thực thi chung các điều luật. Nếu không tình hình sẽ lại giống như từ trước đến nay – kẻ mạnh sẽ làm những điều mà họ có thể và kẻ yếu sẽ làm những điều mà họ phải làm.

GS. Peter A.Dutton

Hồng Nhung (dịch)

Đõ Thủy (hiệu đính)

Bài tham luận trình bày tại Hội thảo “Biển Đông: Hướng tới một khu vực Hòa bình, Hợp tác và Tiến bộ - The South China Sea: Toward a Region of Peace, Cooperation, and Progress” tổ chức tại Manila, Philippines, 5 – 6 tháng 7 năm 2011.

Bản gốc tiếng Anh “An Assessment of the Effectiveness of Current Maritime Security Frameworks and Mechanisms in the South China Sea



[1]Xem ,v.d., Joseph Y.S.Cheng, “Sino-Vietnamese Relations in the early twenty-first century,” Asian Survey, Vol.51, No.2, March/April 2011, tr.379-405

[2] Xem,v.d., Lyle J.Goldstein, “Resetting the US-China Security Relationship,” Survival, Vol.53, No.2, April-May 2011, tr.89-116

[3] Robert Kagan, The Perils of Wishful Thinking, The American Interest On-line, Junuary-February 2010, có tại http://www.the-american-interest.com/article.cfm?piece=759

[4] Peter Dutton, “Three Disputes and Three Objectives: China and the South China Sea,” Naval War College Review, Autumn 2011 (sắp xuất bản)

[5] “Vietnam Reassearts Sovereignty Over Archipelagoes,” Thanh Nien News, May 7, 2011; “China Reassearts Sovergnty Over Spratly Islands,” Jakarta Globe, March 8, 2011. Gần đây hầu như không có sự tham gia của Đài Loan vào tiến trình trên biển Đông, mặc dù những tuyên bố của họ khá trùng hợp với các tuyên bố của đại lục.

[6] Thư gửi từ Phái đoàn đại diện thường trực của nước Cộng hoà Philippine đến Tổng thư kí Liên Hợp Quốc, 11-00494, No.000228, May 7,2011; “PH Protests China’s 9-Dash Line Claim Over Spratlys,” VERA Files, April 13,2011.

[7] “Manila’s Claim in Spratlys Within West Philippine Sea,” Inquirer News, June 6, 2011.

[8]“Phl Removes Foreign Markers in Spratlys,” Philippine Star, June 16, 2011

[9] Thư từ Phái đoàn đại diện thường trực nước Cộng hoà nhân dân Trung Quốc tới Tổng thư kí Liên Hợp Quốc, 14 April 2011

[10]  Tuyên bố cách ứng xử của các bên trên biển Đông, có tại http://www.aseansec.org/13163.htm

[11] Tuyên bố của Vương quốc Thái Lan khi phê chuẩn cCông ước Liên Hợp Quốc về Luật biển, 25/05/2011

[12] Zou Keyuan, “The Sino-Vietnamese Agreement on Maritime Boundary Delimitation in the Gulf of  Tonkin,” Ocean Development and International Law, Vol 36 (2005), tr. 13-24 2005

 

Bài nghiên cứu của hai học giả Trung tâm Tài nguyên và An ninh Đại dương Quốc gia Úc, Đại học  New South Wales, Úc phân tích ba lĩnh vực trong vấn đề Biển Đông: địa chính trị, phát triển hải quân và chiến lược.  Trong đó nghiên cứu cụ thể  về việc Trung Quốc phản đối các hoạt động quân sự ở vùng đặc quyền kinh tế nhằm thể hiện quyết tâm tăng cường vị thế chiến lược tại Biển Đông.

 

An ninh hàng hải ở Biển Đông đang phải đối mặt với một loạt các thách thức, từ các mối đe dọa ở mức độ thấp mang tính phi truyền thống đến các tính toán mang tính chiến lược chính trị truyền thống, bao gồm tiềm năng xung đột giữa các quốc gia trong khu vực đối với các vùng lãnh thổ hoặc tài nguyên biển và khả năng xung đột giữa các cường quốc. Bài viết này tập trung vào các tuyến giao thông chính trên biển ở Biển Đông, sự phát triển hải quân trong khu vực, và một nghiên cứu tình huống về việc Trung Quốc phản đối các hoạt động quân sự ở vùng đặc quyền kinh tế ở Biển Đông. Bài viết đưa ra lập luận rằng Bắc Kinh đang lại một lần nữa thể hiện một thái độ quyết tâm để tăng cường vị thế chiến lược của mình ở Biển Đông trong khi các quốc gia khác trong khu vực cũng đang khẳng định yêu sách và phát triển khả năng hải quân của họ.

Giới thiệu

Nền trật tự và an ninh tốt ở Biển Đông đang phải đối mặt với một loạt các thách thức, từ các mối đe dọa ở mức độ thấp mang tính phi truyền thống đối với môi trường và sự thịnh vượng kinh tế của các cộng đồng nhỏ ven biển vốn phụ thuộc vào biển; đến các mối lo ngại mang tính truyền thống hơn về cướp biển và các loại hình tội phạm khác trên biển; cho đến các tính toán chính trị, bao gồm tiềm năng xung đột giữa các quốc gia trong khu vực đối với các vùng lãnh thổ đang tranh chấp, quyền tài phán trên biển, và các tài nguyên biển có liên quan.Ở mức cao nhất của các mối đe dọa, khả năng xung đột giữa các cường quốc cũng vẫn luôn hiện hữu ở vùng biển quan trọng như vậy mà liên quan đến những tuyến liên giao thông trên biển tấp nập và quan trọng nhất thế giới.

Có rất nhiều lí do, ít nhất là trên lí thuyết, giải thích tại sao các nỗ lực nhằm giải quyết và cải thiện các thách thức đối với trật tự, an ninh, và phúc lợi ở một vùng biển nửa kín, mà đa số các thách thức đó lại mang tính truyền thống, cần phải được chia sẻ một cách hợp tác giữa các quốc gia ven biển. Tuy nhiên, các vấn đề nhạy cảm chính trị có liên quan ở khu vực Đông Nam Á, mà tại đó các lợi ích quốc gia thường xung đột với nhau, hoặc ít nhất là khác biệt nhau cũng nhiều như được chia sẻ, đã khiến cho việc đạt đến một “thể chế hàng hải ổn định” như Michael Leifer đã mô tả vào năm 1991 trở nên vô cùng khó trở thành hiện thực.[1] Biển Đông là một trường hợp khó khăn chủ yếu là do địa lý phức tạp và hệ quả của những bế tắc về quyền tài phán. Hơn nữa, các quan điểm và cách giải thích không thống nhất về luật biển của cả các quốc gia ven biển và quốc gia sử dụng đã khiến cho Công ước LHQ về Luật Biển (UNLOS)[2] trở thành một cơ sở không vững chắc cho việc thành lập nên một thể chế hàng hải ổn định như của Leifer.[3]

Thêm vào đó, khu vực này đang ngày càng trở nên bất ổn do tình trạng không chắc chắn và vận động về chiến lược, với sự trỗi dậy của Trung Quốc và tính cương quyết ngày càng tăng của nước này đã tác động mạnh mẽ tới các tranh chấp lãnh thổ lâu năm và các mối thù địch truyền thống. Để giải quyết các khía cạnh chiến lược và hải quân của an ninh Biển Đông, bài viết này đã chọn ra ba trong số rất nhiều lĩnh vực để phân tích chi tiết: địa lý chiến lược, phát triển hải quân và chiến lược, và các tình hình tranh cãi gần đây về các hoạt động quân sự ở vùng đặc quyền kinh tế (EEZ).

Địa lý Chiến lược

Biển Đông là một không gian lớn nối liền khu vực nam Trung Quốc và Đài Loan với khu vực Đông Nam Á bán đảo và quần đảo. Biển Đông cũng cấu thành một khu vực thiết yếu của tuyến thương mại trên biển: cả Châu Âu và Trung Đông tới Bắc Á; Đông Nam Á tới Bắc Á; và phần lớn của Đông Nam Á tới Thái Bình Dương và Bắc Mỹ.[4] Địa lý của khu vực Biển Đông là một yếu tố quan trọng trong việc phân tích chiến lược. Vị trí trung tâm của nó ở Đông Á khiến nó có tầm quan trọng đối với giao thông thương mại và chiến lược. Sự phức tạp của nó mang lại mối hiểm nguy thực tế đối với an toàn hàng hải và hiểm nguy chính trị với vai trò là một tranh chấp quốc tế. Trên thực tế, các đặc tính chính trị, văn hóa, dân tộc, lịch sử và chiến lược khác nhau của các quốc gia ven biển đã mang lại các tiềm năng về các tranh chấp hoặc xung đột không thường trực.

Biển Đông được bao quan bởi tám chính thể ven biển: Brunei, Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Philippine, Singapore, Đài Loan và Việt Nam cũng như Campuchia và Thái Lan trong vùng Vịnh Thái Lan. Các giới hạn địa lý của Biển Đông được xác lập một cách không rõ ràng và ở một mức độ nào đó còn bị tranh cãi. Ví dụ, Tổ chức Thủy văn học Quốc tế (IHO), đã cố gắng chỉnh sửa ấn phẩm về giới hạn của Biển Đông được phát hành năm 1953 trong hơn 20 năm qua.[5] Ấn phẩm tái bản năm 2002 của tổ chức này về Các giới hạn của Đại dương và Biển vẫn chỉ đang ở dạng dự thảo.[6]  Phiên bản dự thảo năm 2002 đã loại trừ các khu vực quan trọng được nêu trong phiên bản năm 1953: biển Natuna ở phía Nam (bản sửa đổi này dường như đã ước tính các đường cơ sở của Indonesia); Vịnh Bắc Bộ ở phía tây (bên cạnh Vịnh Thái Lan vốn đã bị loại trừ từ trước); và Eo biển Đài Loan ở phía bắc.[7] Bài viết này không đưa ra quan điểm về giới hạn của Biển Đông, mà chỉ lưu ý tính chất chưa rõ ràng của việc xác định nó.[8] Tuy nhiên, cho dù giới hạn chính xác có được vẽ ở đâu, thì biển Đông cũng là một vùng biển rộng lớn và bao trùm một diện tích ước lượng khảng 2,7 đến 3 triệu kilomet vuông.

Những nút thắt cổ chai

Địa hình phức tạp của Biển Đông, chủ yếu do tính chất quần đảo của các rìa đông và nam của nó, đồng nghĩa với việc hầu hết các điểm vào và ra chủ yếu cho hoạt động hàng hải đều hẹp và là “các nút thắt cổ chai” theo ngôn ngữ của an ninh hàng hải. Một số tuyến đường rất hẹp và nguy hiểm, trong khi số khác thì không. Nổi bật nhất trong số các nút thắt này bao gồm:[9]

Eo biển Singapore và Malacca – tuyến đường ngắn nhất nối Biển Đông với Ấn Độ Dương, thông qua Biển Andaman;

Eo biển Karimata – nối với Biển Java và sau đó là các Eo biểm Sunda và Lombok;

- Eo biển Balabac – nối với phần phía nam của Biển Sulu (phía nam Palawan) và sau đó với Thái Bình Dương qua Eo biển Surigao và Biển Philippin;

Eo biển Mindoro – nối qua Eo biển Apo Đông và Cuyo Đông với khu vực phía bắc của Biển Sulu;

- Lộ tuyến Đảo Verde – tuyến đường nối tới Biển Sulu thông qua Eo Biển Cuyo Đông và tới Biển Philippin và Thái Bình Dương thông qua Eo biển San Bernadino;

Kênh Bashi và Kênh Balingtang – nối với Biển Philippin và Thái Bình Dương giữa Đài Loan và Luzon; và

Eo biển Đài Loan.

Các Tuyến Giao thông trên Biển(SLOCs)

Như đã nêu ở trên, Biển Đông là một trong những tuyến đường nhộn nhịp và quan trọng nhất thế giới. Rất khó để có được dữ liệu chất lượng về thông thương qua khu vực này. Tuy nhiên, một vài chỉ số thường được trích dẫn bao gồm việc thương mại dọc Biển Đông liên quan đến gần một nửa trọng tải các đội tàu thương mại toàn cầu. Đặc biệt, nó là tuyến đường quan trọng cho nguồn cung cấp năng lượng từ biển đến từ Trung Đông, Châu Phi, Châu Úc, và Đông Nam Á tới các nền kinh tế phụ thuộc vào nhập khẩu ở Đông Bắc Á. Dầu khí đặc biệt là một mặt hàng thiết yếu và mang tính chiến lược, khiến cho Biển Đông trở nên quan trọng đối với cả an ninh hàng hải và an ninh năng lượng. Một lượng đáng kể của khối lượng dầu và khí được vận tải thường niên đi qua Biển Đông: ước tính Nhật, Hàn Quốc, và Đài Loan mỗi nước nhập khẩu hơn 80% lượng dầu thô qua đường Biển Đông;  và, với Trung Quốc, hiện đang nhập khẩu hơn 50% tổng lượng dầu tiêu thụ, khoảng từ 80% đến 90% của lượng nhập khẩu đó là đi qua đường Biển Đông.[10] Định lượng dầu, khí và các nguồn năng lượng khác được nhập khẩu qua những SLOC này dự kiến sẽ tăng một cách đáng kể trong vài thập kỷ tới.

Như đã nêu ở trên, không hề có một tuyến đường duy nhất, mà có rất nhiều, tùy thuộc vào xuất xứ và nơi đến của các chuyến hàng, hướng đi, và thời điểm trong năm cũng như tình trạng thời tiết. Tuyến đường quan trọng nhất trên biển là tuyến vào và ra khỏi Biển Đông qua các Eo biển Malacca và Singapore, hai eo biển này sẽ còn đón nhận thêm nhiều chuyến hàng hơn nữa trong thời gian tới, bất kể các tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Chẳng hạn, trong thời gian gần đây, số lượng các tàu buôn quốc tế đi qua Eo biển Malacca đã tăng từ khoảng 44.000 trong năm 1999 lên đến hơn 70.000 vào năm 2007.[11]

Tuy nhiên, tuyến đường tiếp theo sau khi một con tàu đã đi qua Eo biển Malacca và Singapore (hoặc đi theo lộ tuyến đến các eo biển này), có thể sẽ khác nhau tùy thuộc vào các yếu tố được nêu ở trên. Thông thường các tàu rời khỏi Eo biển Singapore, và đi về hướng đông bắc, qua phía tây Đảo Anambas của Indonesia, giữa Rạng Charlotte và Prince Consort (hay bãi Tây Vệ trong tiếng Trung Quốc) của quần đảo Trường Sa, giữa Bãi Đá ngầm Bombay (hay Lãng Hoa tiêu trong tiếng Trung Quốc) của Quần đảo Hoàng Sa và Rạng Macclesfield (hay Quần đảo Trung Sa trong tiếng Trung Quốc) và sau đó tới Hồng Công hoặc đi qua Eo biển Đài Loan; hoặc tới phía đông của Rạng Macclesfield và sau đó đi qua Kênh Bashi hoặc Balingtang đến Nhật Bản hay các nước Đông Bắc Á khác. Các tuyến đường khác nối Singapore với Thái Bình Dương, bao gồm tuyến đường đi qua Rạng Prince Consort và sau đó đi qua Bãi Đá ngầm Bắc Danger (hay Quần đảo Song Tử theo tiếng Trung Quốc) của Quần đảo Trường Sa tới Eo biển Đảo Verde của Philippin và sau đó tới Eo biển San Bernadino của Philippin; tuyến đường đi qua gần bờ tây Borneo và sau đó qua Lộ tuyến Palawan (giữa Palawan và quần đảo Trường Sa) tới Lộ tuyến Đảo Verde; hay tuyến đường một lần nữa đi qua gần bờ tây Borneo, thông qua Eo biển Balabac, Biển Sulu, và Eo biển Surigao (hay Eo biển Basilan và Biển Celebes).[12] Trong khi SLOC chính đi theo hướng bắc-nam, nhưng cũng có các tuyến quan trong theo hướng đông-tây kết nối Đông Nam Á với Bắc Mỹ và Kênh Panama. Một số tuyến đường nối Hồng Công và các cảng khác ở phía nam Trung Quốc với các cảng của California và Kênh Panama cũng đi qua khu vực phía bắc của Biển Đông, nối với Thái Bình Dương thông qua Kênh Balintang.[13]

Các Eo biển Lombok và Sunda cũng là các nhánh dẫn vào Biển Đông. Eo biển Lombok là một tuyến đường quan trọng cho các tàu có trọng tải lớn với tầm nước quá sâu để có thể đi qua đường Eo biển Malacca. Do đó, việc vận chuyển tàu thuyền có thể đi qua Biển Java và Eo biển Karimata để đi vào Biển Đông qua một trong hai eo biển trên. Tuy nhiên, không phải tàu thuyền nào đi qua Eo biển Lombok cũng đều đi qua Biển Đông, do có nhiều tàu thuyền đi qua Eo biển Makassar và Biển Celebes để đi đến Thái Bình Dương. Tuy nhiên, tuyến đường Lombok-Makassar-Celebes lại được sử dụng, chẳng hạn, bởi tàu chạy khí hóa lỏng của Úc để đến Tỉnh Quảng Đông ở miền nam Trung Quốc, sau đó đi qua Tuyến Sibutu và Biển Sulu và thông qua Eo biển Mindoro tới Biển Đông. Tuyến đường Biển Đông – Eo biển Mindoro cũng được sử dụng bởi tàu thuyền đi về phía nam từ Thượng Hải đi tới Eo biển Torres.[14]

Mặc dù các quần đảo tranh chấp ở Biển Đông chắn ngang tuyến SLOC chính, nhưng tàu thuyền đi về hướng Đông bắc Á hầu hết lại chạy qua phía tây của Trường Sa – một khu vực cần phải tránh vì lí do rủi ro hàng hải – đi qua giữa Hoàng Sa và Bãi cạn Scarborough (hay Hoàng Nham đảo trong tiếng Trung Quốc) và gần Đảo Pratas (hay Quần đảo Đông Sa trong tiếng Trung Quốc) về phía bắc, đi tiếp qua Eo biển Đài Loan hoặc các Kênh Bashi hoặc Balintang. Tuyến Palawan nằm dọc theo Trường Sa về phía đông của quần đảo này.

Các SLOC của Biển Đông không chỉ quan trọng đối với thương mại. Chùng còn tạo thành các tuyến đường thiết yếu và ngắn nhất để nối tây Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương cho các hải quân của khu vực. Đặc biệt là Bộ Tư Lệnh Hoa Kỳ ở Thái Bình Dương với các căn cứ hải quân ở Trân Châu Cảng, Guam và Nhật Bản, có trách nhiệm trên khắp Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Chẳng hạn, có thể thấy trong các giai đoạn đầu của Chiến dịch Tự do Lâu dài chống lại Al-Qaeda và Taliban ở Afghanistan vào cuối năm 2001 và 2002, tư trang và quân nhu của hải quân Mỹ đã từ các căn cứ đó được vận chuyển vào Ấn Độ Dương qua Eo biển Malacca. Hải quân của các nước khác trong khu vực cũng sử dụng Biển Đông như một khu vực hoạt động cũng như trung chuyển.

Ít nhất là trên lý thuyết, an ninh của SLOC là mối quan ngại chung của tất cả các quốc gia ven biển, hàng hải và thương mại. Hợp tác ở Châu Á để nâng cao an toàn và an ninh tàu thuyền khỏi cướp biển và các rủi ro hàng hải và thậm chí là mối đe dọa tiềm tàng của khủng bố đang ngày càng tăng, mặc dù chậm. Việc này liên quan đến các biện pháp hợp tác quốc tế, khu vực, tiểu khu vực, và song phương, tuy nhiên không một biện pháp nào trong số đó có thể cải thiện được tình hình căng thẳng chiến lược trong khu vực.[15] Ví dụ như Trung Quốc, mặc dù có lợi ích lớn trong sự an toàn của tàu thuyền qua Biển Đông và các Eo biển có liên quan, đã duy trì một quan điểm khá là truyền thống về an ninh của SLOC, với mối quan ngại chính về khả năng Mỹ phong tỏa tuyến tàu thuyền đi đến Trung Quốc trong trường hợp có xung đột về Đài Loan.

Phát triển Hải quân và Chiến lược

Mặc dù ngân sách quốc phòng của hầu hết các nước Đông Nam Á đều bị ảnh hưởng tiêu cực bởi cuộc khủng hoảng kinh tế Châu Á năm 1997-1998, nhưng trong thời gian gần đây chi tiêu quốc phòng ở khu vực này đang ngày càng tăng. Vẫn chưa thể biết rõ rằng liệu cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay có tác động lâu dài đến ngân sách quốc phòng hay không, nhưng cho đến nay rất nhiều nước vẫn tỏ ra miễn nhiễm với nó. Trong số các cường quốc chính, ngân sách quốc phòng của Trung Quốc và Ấn Độ đặc biệt đã liên tục tăng với tốc độ cao trong thập kỷ vừa qua, với việc Trung Quốc có ngân sách quốc phòng tăng với chỉ số hai con số liên tục trong hai thập kỷ vừa qua.[16]

Động lực Hiện đại hóa Hải quân

Có một số yếu tố thúc đẩy, hoặc ít nhất là ảnh hưởng tới, việc hiện dại hóa hải quân, trong đó bao gồm đơn giản là khả năng trang trải phí tổn cho các năng lực mới. Một yếu tố hàng đầu ở Biển Đông là các tranh chấp liên quan đến các vùng lãnh thổ và, hệ quả của nó, quyền tài phán trên biển tiềm tàng mà các vùng lãnh thổ đó có thể được hưởng, bao gồm các tài nguyên sinh vật và khoáng sản có liên quan. Vẫn tồn tại những khúc mắc về mức độ tài nguyên hydrocarbon ở vùng trung tâm của Biển Đông. Một yếu tố khác thường bị bỏ qua là tầm quan trọng của Biển Đông với vai trò là nơi đánh bắt cá, với giá trị 10% của tổng sản lượng đánh bắt cá toàn cầu,[17] với lượng đánh bắt thường niên rơi vào khoảng 5 triệu tấn và đứng thứ tư trong tổng số 19 khu vực đánh bắt cá chính của thế giới.[18] Hải sản ở đây cung cấp một lượng lớn nhu cầu protein của người dân trong khu  vực và cũng là một nguồn lương thực quan trọng. Ước tính trong khu vực Đông Nam Á có khoảng 10 triệu ngư dân, với khoảng 100 triệu người phụ thuộc vào nghề đánh cá trong khu vực để đáp ứng nhu cầu về kinh tế.[19] Do đó không có gì là lạ khi mà hầu hết các xung đột ở cấp độ thấp ở và xung quanh các quần đảo tranh chấp đều liên quan đến ngành cá.

Một trong những con đường dẫn đến việc các nước yêu sách quân sự hóa các tranh chấp ở quần đảo Trường Sa là việc các binh lính chiếm đóng các đảo nhỏ và việc xây dựng các trạm quân sự. Việt Nam được cho là đã chiếm đóng khoảng 25 đảo nhỏ (bao gồm đảo Trường Sa, hay đảo Nam Uy trong tiếng Trung Quốc), Philippines chiếm 8 đảo (gồm đảo Thị Tứ hay Pagasa theo tiếng Tagalog, đảo Trung Nghiệp trong tiếng Trung), Malaysia 3, và Đài Loan chiếm đóng đảo lớn nhất (Itu Aba, hay Đảo Thái Bình trong tiếng Trung Quốc).[20] Trung Quốc được cho là đang chiếm đóng ít nhất 8 đảo: Bãi đá ngầm Subi (hay Chử Bí Tiêu trong tiếng Trung Quốc), Bãi Gaven (Nam Huân tiêu trong tiếng Trung), Bãi Johnson (Xích Qua tiêu), Bãi Kennan (Tây Môn tiêu), Bãi Fiery Cross (Vĩnh Thử tiêu), Bãi Cuarteron (Hoa Dương tiêu), Bắc Danger (Quần đảo Song Tử) và Bãi Vành Khăn (Mỹ Tế tiêu).[21] Các nguồn khác đã trích dẫn số đảo bị chiếm đóng vào khoảng từ 45 đến 58, mặc dù, như một nhà địa chất chính trị đã chỉ ra, chỉ có 36 trong số các đảo đó là nằm trên mặt nước lúc thủy triều lên.[22]

Các cuộc tranh chấp đảo làm xấu thêm sự chồng chéo vốn đã phức tạp của các yêu sách trên biển ở Biển Đông, mà tại đó rất nhiều các đường biên giới vẫn còn chưa được phân định và quyền tài phán đối với tài nguyên biển vẫn còn đang bị tranh chấp. Một yếu tố gây khó khăn nữa là các yêu sách mới trên biển đòi hỏi kéo dài các khu vực thềm lục địa, đặc biệt là đệ trình chung của Malaysia và Việt Nam lên Ủy bạn Ranh giới Thềm Lục địa của LHQ (CLCS),[23] và đệ trình của Việt Nam về khu vực phía bắc Biển Đông,[24] dẫn đến những phản ứng mạnh mẽ từ phía Trung Quốc.[25] Các quốc gia yêu sách khác nhiều khả năng cũng sẽ đi theo các yêu sách của riêng mình và khiến cho tình hình căng thẳng càng leo thang,[26] và cũng vì thế tác động đến sự phát triển hải quân.

Vai trò trung tâm của Trung Quốc với tư cách là một quốc gia yêu sách, và các mối liên kết giữa lợi ích của nước này ở Biển Đông và sự phát triển sức mạnh biển của Trung Quốc cũng như tổng thể tham vọng bá chủ khu vực của nước này đã khiến cho các tranh chấp trở nên quan trọng hơn là giá trị bề nổi hạn chế của một vài đảo, đảo đá và đá ngầm nhỏ và rải rác – hay thậm chí là tiềm năng tài nguyên năng lượng. Trung Quốc từ lâu đã lo ngại về sự hiện diện chiến lược của các cường quốc ở Đông Nam Á, những nước có thể sẽ khai thác những điểm yếu của Trung Quốc ở trên biển để gây áp lực lên Trung Quốc từ phía ngoại vi đường biển phía nam của Trung Quốc. Do đó những tham vọng chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông bao gồm việc mở rộng phạm vi phòng thủ, ngăn chặn sự hiện diện của các cường quốc khác, chống lại các mối đe doạ đối với những lợi ích về lãnh thổ và hàng hải từ phía các quốc gia yêu sách khác, và cuối cùng là tìm kiếm các biện pháp kiểm soát trên biển ở khu vực để thực hiện tham vọng bá chủ của mình.

Hơn nữa, Trung Quốc cũng có lợi ích trong việc có khả năng kiểm soát các tuyến đường biển ở Đông Á, vừa để bảo đảm nguồn cung dầu và cũng là để đe dọa đường kinh tế huyết mạch của Đài Loan và Nhật Bản nếu cần thiết. Một sự hiện diện chiến lược thường trực ở Biển Đông, đặc biệt là nếu Trung Quốc có thể cưỡng chế thành công các yêu sách lãnh thổ của mình, rất có thể sẽ tạo điều kiện để nước này thực hiện những mục tiêu trên trong tương lai. Sự thành lập của các căn cứ, bắc giàn, và trạm tuần tra dọc các tuyến biển quan trọng đã được gọi là chiến lược “chuỗi hạt trai” trong một báo cáo của Mỹ với tựa đề là Tương lai Năng lượng ở Châu Á, do các cố vấn Booz Allen Hamilton của Văn phòng Bộ Quốc phòng thực hiện.[27] Một dãy các cảng, căn cứ, và trạm nghe kéo dài từ cửa Vịnh Ba Tư vào đến Biển Đông đã cấu thành chuỗi “hạt trai” này. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số hoài nghi về trạng thái và việc sử dụng của một số phương tiện trên.[28]

Mặc dù các tàu thuyền phải tránh chính Quần đảo Trường Sa khi qua lại, nhưng căn cứ ở các đảo của nó có thể được sử dụng để làm gián đoạn thông thương của tàu thuyền, giống như vào thời Chiến tranh Thế giới lần thứ Hai khi Nhật Bản đặt các tàu ngầm ở đảo Ba Bình để phục vụ mục tiêu này.[29] Tuy nhiên, diện tích nhỏ của các hòn đảo, kể cả những hòn đảo lớn nhất, đồng nghĩa với việc chúng sẽ có giá trị chiến lược không đáng kể trong các cuộc xung đột lớn. Thay vào đó, chúng còn rất dễ bị công kích, và thậm chí còn không thể bảo vệ được trước một đợt tấn công tập trung. Giá trị chiến lược của nó chỉ duy trì được chủ yếu vào thời bình, với vai trò là các trạm tuần tra hay bắc giàn, và với vai trò là các dấu hiệu chính trị về ý định đối với các yêu sách lãnh thổ và quyền tài phán trên biển.

Tuy nhiên, khi xem lại khái niệm về chuỗi hạt trai, hai nhà nghiên cứu của Đại học Hải chiến Mỹ đã lập luận rằng các chiến lược gia Trung Quốc xem nước này như một cường quốc thương mại đang đi lên, thậm chí là thế lực lớn nhất ở khu vực Biển Đông nhưng lại phải sống dưới cái bóng của một thế lực hải quân thống trị toàn cầu, một tình huống địa chính trị đòi hỏi phải thành lập “các căn cứ nối liền các tuyến giao thông trên biển” ở Biển Đông.[30] Trong suốt hơn ba thập kỷ Trung Quốc đã từ từ xây dựng các căn cứ quân sự của mình trên khắp Biển Đông, trong đó có quần đảo Trường Sa. Trong những năm gần đây, nước này đã tăng cường đáng kể các căn cứ quân sự, đặc biệt là trên Đảo Hải Nam và quần đảo Hoàng Sa. Cũng có các báo cáo cho thấy rằng Hải quân Quân Giải phóng Nhân dân (PLA) có ý định tăng cường lực lượng trong khu vực, với nhận định của một quan chức cấp cao của PLA rằng tình hình an ninh ở đây đang “rất nghiêm trọng”, đòi hỏi Trung Quốc phải cử thêm tàu tới khu vực tranh cãi và tăng cường quân sự hóa các đảo chiếm đóng ở Trường Sa, trong đó bao gồm việc xây dựng cảng cho tàu thuyền và sân bay ở Đá Vành Khăn, một bãi đá thuộc kiểm soát của Trung Quốc nằm phía trong vùng Đặc quyền Kinh tế mà Philippin yêu sách.[31]

Các chiến lược gia của Trung Quốc cũng lưu ý về tầm quan trọng địa chính trị của việc kiểm soát được Đài Loan và các đảo thuộc kiểm soát của Đài Loan ở Trường Sa nếu Trung Quốc muốn thiết lập một vị trí thống trị tới “cực nam của Biển Đông.”[32] Quan điểm này về Đài Loan, như một “cầu đổ bộ” để qua đó tiến hành thôn tính vùng biển Đông Nam Á, dường như là một phần trong một quan điểm lớn hơn về mặt địa chính trị của Trung Quốc về tầm quan trọng của Đài Loan, mà phần nào lý giải cho các nỗ lực của Trung Quốc kể từ thời kỳ đầu những năm 1990 nhằm phá hủy nền độc lập trên thực tế của Đài Loan và sau đó để nắm quyền kiểm soát quốc đảo này.[33]

Một động lực khác cho việc hiện đại hóa hải quân là khả năng rằng các yếu tố này đã dẫn đến việc các quốc gia ven biển ở Đông Nam Á thực hiện “phòng ngừa rủi ro” (hedging) ở một mức độ nào đó để đối phó với tình trạng không chắc chắn về mặt chính trị hoặc khả năng xảy ra xung đột lớn. Mặc dù rất ít được các quốc gia trong khu vực đề cập đến, nhưng cũng sẽ là hợp lý khi nhận định rằng hầu hết các tình huống có thể ảnh hưởng trực tiếp đến Biển Đông đều có liên quan đến Trung Quốc. Các khả năng này bao gồm một cuộc xung đột đối với Đài Loan, với Nhật Bản hay Mỹ, các động thái của Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa hoặc chống lại Việt Nam, hay các hệ quả bên ngoài của những bất ổn từ bên trong Trung Quốc.

Mặc dù ít có khả năng dẫn đến xung đột vũ trang, nhưng khu vực này cũng tồn tại nhiều quốc gia đối địch từ lâu đời. Một vài cuộc đối địch này mang tính lịch sử, như giữa Singapore với Malaysia; liên quan đến các tranh chấp về lãnh thổ hay vùng biển, hay như giữa Indonesia và Malaysia đối với khu vực phát triển ngoài khơi Ambalat ở bờ đông Borneo; hay cả hai, như yêu sách gần đây của Philippin đối với Sabah hay mối hiềm khích và ngờ vực lâu đời giữa Trung Quốc và Việt Nam. Các yếu tố về tôn giáo và dân tộc có thể cũng có vai trò trong các mối hiềm khích. Mặc dù rất nhiều quốc gia đối đầu thường không bao giờ thừa nhận việc đó, nhưng các mối quan hệ như vậy chính là các yếu tố trong việc hiện đại hóa quân sự. Rất nhiều yếu tố kích động cụ thể không nằm trong bản thân khu vực Biển Đông, nhưng với những tác động tới việc phát triển hải quân, chúng cũng có những mối quan hệ mật thiết với nền an ninh trong khu vực. Mặc dù khái niệm về một cuộc “chạy đua vũ trang” là đầy ẩn  ý và được sử dụng một cách mơ hồ bởi các nhà hoạch định chính sách, nhưng ở một chừng mực nào đó vẫn tồn tại yếu tố cạnh tranh trong quá trình xây dựng quân đội trong khu vực, dù là một vài trong số đó có phản ánh sự “đối đầu hữu nghị” trong cộng đồng Hiệp hội Các nước Đông Nam Á (ASEAN) thay vì tranh đấu chiến lược nguy hại đi chăng nữa.

Sự cần thiết phải giải quyết các vấn đề về cướp biển và cướp vũ trang trên biển, và mối đe dọa tiềm tàng về khủng bố trên biển là những động lực thúc đẩy việc tăng cường lực lượng an ninh ở một số quốc gia, đặc biệt là ba quốc gia ven biển ở Eo biển Malacca và Singapore cũng như Philippin. Tuy nhiên, các loại đe dọa này lại thể hiện rõ ràng nhất ở chính các eo biển trong trường hợp trước, và ở khu vực Biển Sulu-Celebes của vùng phía nam Philippin trong trường hợp sau chứ không phải ở Biển Đông. Dù vậy, gần đây vẫn có một số mối quan ngại rằng các cuộc tấn công của cướp biển đang ngày càng gia tăng ở khu vực  phía nam của Biển Đông, xung quanh quần đảo Riau, nơi mà các tàu thuyền thường thả neo để chờ nhập cảng Singapore, và xung quanh đảo Mangkai và Đảo Anambas.[34] Việc này có thể dẫn đến các nỗ lực lớn hơn để bảo đảm an ninh cho khu vực này, vốn là tuyến đường chính từ Singapore và các eo biển tới Đông Bắc Á.

Sự hiện đại hóa hải quân của các quốc gia trong khu vực Biển Đông không thể gán cho một yếu tố tác động riêng rẽ nào. Trong khi cá thể từng quốc gia có thể có các ưu tiên khác nhau, nhưng tất cả các vấn đề được thảo luận ở trên đều ảnh hưởng tới hầu hết các quốc gia ven biển ở Biển Đông ở các mức độ khác nhau. Tuy nhiên, tình trạng lỏng lẻo của quan hệ các nước lớn và sự trỗi dậy của Trung Quốc cần phải được xem như là những nhân tố đi đầu của các trang thiết bị quân sự tối tân được sản xuất, chẳng hạn như tàu ngầm.

Đặc điểm của Hiện đại hóa Hải quân

Một trong các đặc điểm của hiện đại hóa hải quân trong khu vực là sự phát triển của lực lượng tuần tra trên biển hay các tổ chức bán quân sự và dân sự giống kiểu lực lượng tuần duyên tập trung vào cưỡng chế hàng hải, an toàn, bảo vệ môi trường biển, và các nhiệm vụ phi quân sự khác trên biển. Các quốc gia trong khu vực Biển Đông có những tổ chức như trên bao gồm Brunei, Trung Quốc, Indonesia (có cảnh sát biển, nhưng đang xem xét việc hình thành lực lượng tuần tra trên biển), Malaysia, Philippin, Singapore, Đài Loan, và Việt Nam.[35] Lực lượng tuần tra của các nước khác, đặc biệt là Nhật Bản và Mỹ, cũng thường xuyên được cử xuống khu vực Biển Đông.

Tuy nhiên, một trong số các hệ quả của quá trình phát triển này là các lực lượng hải quân đã có thể tập trung nhiều hơn vào vai trò chiến đấu và các cuộc tranh chấp mà nhiều khả năng sẽ dẫn đến các cuộc xung đột vũ trang. Một số tiềm lực mới đang được bổ sung vào lực lượng của các quốc gia ở Biển Đông, trong đó bao gồm: tàu ngầm; lực lượng chiến đấu trên mặt nước mới hơn và lớn hơn; máy bay chiến đấu có khả năng hoạt động trên biển và máy bay tuần tra trên biển; và tên lửa chống tàu hiện đại. Sự mở rộng của các hạm đội tàu ngầm điện-diesel trong khu vực là đặc biệt đáng kể, với các nước vốn đã sử dụng chúng nay đang hiện đại hóa lực lượng của mình còn các quốc gia khác thì bắt đầu vận hành chúng lần đầu tiên.

Chẳng hạn như Singapore, nước này đã tiến hành sử dụng bốn chiếc tàu ngầm đầu tiên hạng ex-Swedish Challenger trong vòng vài năm gần đây, đồng thời bổ sung thêm hai chiếc hạng ex-Swedish Vastergotland (A-17). Đặc biệt, tàu A-17 sẽ là những chiếu tàu ngầm đầu tiên của khu vực được trang bị hệ thống chuyển động khí độc lập cho phép thực hiện các hoạt động dưới lòng nước mà không cần phải nổi lên trong hơn hai tuần. Chiếc A-17 đầu tiên nhiều khả năng sẽ bắt đầu phục vụ cho Singapore vào cuối năm 2010, và có thể sẽ thay thế một trong các mẫu cũ hơn.[36] Hải quân của Malaysia cũng sẽ lần đầu tiên được trang bị tàu ngầm khi một trong hai chiếc Scorpene Pháp-Tây Ban Nha đi vào hoạt động vào năm 2010.[37] Đặc biệt quan trọng là Việt Nam đã ký kết hợp đồng để mua sáu chiếc thuyền hạng Kilo của Nga,[38] đây sẽ là những chiếc tàu ngầm đúng nghĩa đầu tiên mà Hà Nội vận hành. Quyết định này có thể đã bị ảnh hưởng bởi mối quan ngại của Hà Nội đối với quan điểm ngày càng cứng rắn của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông. Trong khi đó thì Indonesia đang tìm cách để tái đầu tư cho lực lượng tàu ngầm đang bị suy yếu nghiêm trọng trong khi Thái Lan cũng đang tỏ ra quan tâm tới việc trang bị tàu ngầm; mặc dù tham vọng của lực lượng hải quân của cả hai nước này đều bị ảnh hưởng tiêu cực do thiếu vốn.[39] Đài Loan vẫn tiếp tục theo đuổi các lựa chọn để thay thế hạm đội tàu ngầm nhỏ bé và cũ kỹ của mình, bất chấp các cản trở về chính trị đối với nước này trong những năm gần đây.

Cũng cần chỉ ra rằng một vài Quốc gia ở Biển Đông đã đưa vào sử dụng các tàu chiến và tàu chiến trên mặt nước cỡ nhỏ trong những năm gần đây, trong đó có Brunei,[40] Indonesia, Malaysia, và Singapore, trong khi Trung Quốc và Đài Loan đã bổ sung các hạm đội chiến đấu trên mặt nước cho riêng mình. Việc đưa vào sử dụng nhiều hơn các loại tàu này, kể cả của các lực lượng hải quân vốn có ít hoặc không có kinh nghiệm vận hành các đơn vị tàu chiến, đã cho thấy sự tập trung ngày càng cao cho khu vực ngoài khơi trong các ưu tiên quân sự. Cùng với các lực lượng hải quân sử dụng khu vực Biển Đông thường xuyên, một thực tế khó tránh khỏi là giao thông và hoạt động hải quân cũng vì thế mà có nhiều khả năng sẽ gia tăng trong tương lai.

Một vài quốc gia trong khu vực cũng đang phát triển các tàu boong phẳng lội nước, nhiều khả năng sẽ xuất hiện ở Biển Đông, đặc biệt là để phản ứng với các thiên tai và khủng hoảng nhân đạo. Thái Lan từ lâu đã có tàu chở máy bay cỡ nhỏ, mặc dù ít khi hoạt động. Hải quân Mỹ có lực lượng tàu sân bay và tàu lội nước cỡ lớn. Ấn Độ có tàu chở vận hành đường dài. Nhật Bản có tàu chở máy bay trực thăng cỡ nhỏ hạng Osumi và sẽ được bổ sung bởi hạng Hyuga 18.000 tấn. Hàn Quốc đã lắp đặt hai tàu chở trực thăng hạng Tok-do cỡ 19.000 tấn. Úc đang sản xuất hai tàu trạm đáp trực thăng (LHD) cỡ lớn (c. 27.000 tấn) với thiết kết Tây Ban Nha.[41] Trung Quốc được kỳ vọng sẽ xây dựng các tàu kiểu LHD hoặc tàu có khả năng chở máy bay.

Một trong những sự phát triển năng lực đáng chú ý hơn, mà cũng cho thấy những ưu tiên dành cho khu vực ngoài khơi, là việc phổ biến các loại tên lửa hành trình chống tàu hiện đại, dù là được phóng từ đất liền, trên không, hay trên biển (từ các tàu nổi hay tàu ngầm). Tên lửa hành trình tấn công trên mặt đất (LACM) cũng đã bắt đầu xuất hiện trong danh sách của các quốc gia trong khu vực, đáng chú ý nhất là Trung Quốc và Đài Loan. Năng lực tấn công trên mặt đất của một số quốc gia ngoài khu vực cũng có liên quan tới tình hình chiến lược, đặc biệt là của Mỹ với sự phòng ngừa đối với sự hiếu chiến có thể có của Trung Quốc. Những quốc gia khác cũng phát triển những năng lực trên nhằm phục vụ an ninh ở Biển Đông bao gồm Ấn Độ, và gần đây nhất là Úc với công bố trong Sách Trắng Quốc phòng năm 2009 rằng ba chiếc tàu khu trục Aegis mới (sẽ được đưa vào sử dụng trong 5 năm tới) và các tàu chiến, tàu ngầm thế hệ tiếp theo sẽ được trang bị để chở LACM, nhiều khả năng sẽ là loại U.S. Tomahawk.[42]

Ở Trung Quốc, quá trình hiện đại hóa và mở rộng hải quân diễn ra tương đối chậm nhưng chắc chắn, tạo ra những cải tiến thực sự trong sức mạnh hải quân của Trung Quốc.[43] Trung Quốc đã đưa vào sử dụng một số hạng mục tàu nổi và tàu chìm mới trong thập kỷ quả, trong đó có: ba hạng tàu khu trục nội địa và một của Nga; hai hạng tàu ngầm diesel-điện nội địa và một của Nga; và tàu ngằm tấn công hạt nhân (SSN) và tàu chở tên lửa đạn đạo (SSBN). Lực lượng Không Hải quân PLA và Lực lượng Không quân PLA đều đã đưa vào sử dụng máy bay chiến đấu đa chức năng Su-30 của Nga với chức năng chính là thủy chiến cùng với máy bay thủy chiến JH-7 và B-6 của nội địa.[44]

Người ta ước tính rằng có khoảng từ 25-30 đơn vị chiến đấu chính trên mặt nước có căn cứ là Hạm đội Nam Hải của Trung Quốc (trên tổng số khoảng 80 tàu), gồm cả tàu khu trục hạng Loại 052C Luyang II mới và hạng 052B Luyang I được trang bị tên lửa điều khiển của nội địa, và tàu chiến thuộc hạng mục mới mới nhất – Loại 053A Jiangkai II. Đáng chú ý là hầu hết các tàu chiến và tàu vận chuyển lội nước của hải quân PLA đều có căn cứ là Hạm đội Nam Hải, bao gồm 11 trên tổng số 19 tàu đáp hạng nặng 072 II và 072 III. Tàu sân bay (LPD) Loại 071 cỡ lớn duy nhất (khoảng 20.000 tấn) được đưa vào Hạm đội Hải Nam vào cuối năm 2007 được đặt ở căn cứ hải quân Trạm Giang thuộc Tỉnh Quảng Đông.[45] Mô hình quân sự này cho phép Trung Quốc có thể nhanh chóng dàn quân lực lượng thủy quân lục chiến hay các lực lượng lục quân khác vào Biển Đông hay để chống Đài Loan.

Năng lực tấn công và phòng vệ của Trung Quốc có phạm vi rất rộng, kể cả khi không tính đến các trạm hải quân – vốn đã mang tính lưu động.[46]Rõ ràng là kể cả tính từ lục địa Trung Quốc thì toàn bộ Biển Đông giờ đây đã nằm trong phạm vi của lực lượng tên lửa thông thường và không quân của PLA. Với hai căn cứ không quân chính trên Đảo Hải Nam, cũng như các căn cứ trên Đảo Woody (hay Vĩnh Hưng đảo trong tiếng Trung Quốc, nơi dàn quân của máy bay chiến đấu và các loại máy bay khác) và các đảo khác thuộc quần đảo Hoàng Sa, bên cạnh các cơ sở thu thập tình báo và giao thông chính ở Hoàng Sa (và ở một mức độ thấp hơn ở Trường Sa) và trên Đảo Hải Nam,  Trung Quốc đã được trang bị đầy đủ để giám sát toàn bộ khu vực.[47]

Một tiến triển chiến lược quan trọng ở Biển Đông là sự mở rộng của căn cứ hải quân Ngọc Lâm ở Tam Á, điểm cực nam của Đảo Hải Nam. Vốn là căn cứ chính của tàu ngầm thông thường của Hạm Đội Nam Hải, căn cứ này đã được mở rộng đáng kể từ cuối những năm 1990. Giờ đây nó còn là căn cứ hạm đội Đội Tàu Chiến số 9 của Hạm đội Nam Hải, với hai bến tàu dài khoảng 1km, đồng nghĩa với việc nó có thể chứa đựng các tàu có kích cỡ rất lớn, kể cả loại tàu chở máy bay của Trung Quốc trong tương lai. Một tiến triển quan trọng khác là việc xây dựng căn cứ tàu ngầm hạt nhân, hay còn gọi là Căn cứ Tàu ngầm số 2, bao gồm ba bến tàu, một cơ sở tàu ngầm dưới lòng đất, và các cơ sở khử từ tàu ngầm. Lối vào cơ sở ngầm rộng 23m, có khả năng chứa đựng tất cả các loại tàu ngầm của Hải quân PLA. Hiệp hội các Nhà khoa học Mỹ nhận định rằng một trong các tàu ngầm tên lửa đạn đạo hạt nhân hạng Jin 094 của Hải quân PLA đang được đặt tại đó.[48] Vùng biển dẫn đến phía nam Đảo Hải Nam sâu hơn 5.000m và vì thế cho phép tuần tra bằng SSBN ở Biển Đông.[49] Tuy nhiên, nếu Trung Quốc muốn biến Biển Đông thành một pháo đài SSBN để hình thành một môi trường vận hành an ninh cho khả năng phản kích hạt nhân trên biển của mình[50] thì nước này sẽ cần phải có khả năng ngăn chặn các cường quốc kình địch khác vào khu vực, một điều khó có thể xảy ra. Tuy vậy, sự nhạy cảm của Trung Quốc đối với việc thăm dò ngoài khơi của khu vực vận hành SSBN và theo dõi các tàu ngầm của nước này nhiều khả năng có nguyên nhân từ vụ việc Impeccable xảy ra vào tháng 3 năm 2009 – được thảo luận ở phần dưới đây.

Quan điểm của Trung Quốc về tàu sân bay đã thay đổi đáng kể trong thời gian gần đây. Trong khi trước đây ý niệm về tàu sân bay cho hải quân PLA đã bị gạt bỏ, thì quan điểm giờ đây của Trung Quốc không chỉ là có thể  mà thậm chí còn là điều tất yếu. Tuyên bố của một số quan chức cấp cao của Hải quân PLA dường như đã xác nhận rằng một chương trình về tàu sân bay sẽ sớm được công bố.[51] Chẳng hạn, Thiếu tướng Giáo sư Trương Triệu Trung đã nêu trong tờ Global Times vào tháng 4 năm 2009 rằng “phát triển tàu sân bay sẽ là ưu tiên hàng đầu của chúng tôi.”[52] Hạm đội Nam Hải – có thể là Ngọc Lâm – nhiều khả năng sẽ là căn cứ điểm cho các tàu sân bay do có vị trí gần với các điểm tranh chấp mà tại đó năng lực triển khai sức mạnh là quan trọng, và cũng như gần các SLOC chính, cả vì lí do phòng vệ và ngăn chặn.

Hoạt động Quân sự ở vùng EEZ

Hoạt động quân sự của các nước ngoại lai trong các vùng biển thuộc quyền tài phán mà các quốc gia ven biển yêu sách là một vấn đề gây tranh cãi ở Châu Á, nơi mà sự nhạy cảm về chủ quyền và quyền chủ quyền trên biển được cảm nhận một cách rõ ràng.[53] Một vùng biển gây tranh cãi nhiều nhất về hoạt động quân sự của nước ngoài là vùng EEZ. Một cách giải thích Công ước LOS được một số quốc gia ở Biển Đông ưa chuộng[54] là vùng EEZ cấu thành một vùng nước ven biển đặc biệt mà tại đó quốc gia ven biển có quyền tài phán để ban hành và cưỡng chế luật pháp và quy định của mình về một số hoạt động nhất định.[55]

Một số quốc gia ở Biển Đông yêu sách về các vùng an ninh trên biển nhằm hạn chế hoạt động của các tàu chiến nước ngoài hay các hoạt động quân sự khác, hoặc không thì để khẳng định các quyền mà có thể gây ảnh hưởng đến các hoạt động đó. Những quốc gia này gồm có Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Philippin, và Việt Nam .[56] Sự nhạy cảm của một số quốc gia ven biển, đáng chú ý nhất là Trung Quốc, đã dẫn đến các nỗ lực pháp lý, chính trị, và hải quân để áp đặt quan điểm của mình về việc hạn chế quyền tự do hàng hải. Các nỗ lực của hải quân hoặc “cưỡng chế” của Trung Quốc trong vấn đề này mà đã dẫn đến các vụ việc rất quan trọng về mặt ngoại giao và sẽ được thảo luận ở phần dưới đây.

Việc phổ biến năng lực hải quân và các hoạt động trên địa hình biển khó khăn hoặc nguy hiểm đã dẫn đến kết luận rằng các vụ việc và tai nạn trên biển xảy ra khá thường xuyên, và vì thế tạo ra tiềm năng cho các xung đột. Cụ thể, những tai nạn hoặc đụng độ không chủ đích trên biển là những hậu quả có thể xảy ra của việc tăng cường hoạt động của tàu ngầm do điều kiện vận hành khó khăn ở Biển Đông và đôi khi do địa hình eo hẹp hoặc phức tạp dưới lòng nước và điều kiện âm thanh không thuận lợi.  Những khó khăn đó là minh chứng rằng nhiều khả năng sẽ có thêm nhiều hoạt động thăm dò thủy văn và thu thập dữ liệu âm thanh trên khắp khu vực của quân sự, những hoạt động mà vốn bản thân nó đã tạo ra căng thẳng, đặc biệt là khi chúng diễn ra ở các vùng EEZ của một số quốc gia ven biển. Các vùng biên giới trên biển chưa được hoạch định hoặc đang tranh chấp sẽ làm vấn đề trở nên phức tạp hơn. Tuy nhiên, nếu không có các hoạt động thăm dò đó thì những tai nạn liên quan đến tàu ngầm sẽ có nguy cơ xảy ra nhiều hơn.[57]

Hơn nữa, thực tế là rất nhiều nước vận hành tàu ngầm đều thiếu kinh nghiệm – và thậm chí một vài nước còn không có năng lực – và khiến cho tình hình trở nên nguy hiểm hơn. Dù vậy, không chỉ có những nước thiếu kinh nghiệm hay không có năng lực mới gặp phải những khó khăn liên quan đến việc vận hành tàu ngầm. Trong khi đã có những mối nghi ngờ nảy sinh, chẳng hạn như về năng lực và việc huấn luyện thủy thủ tàu ngầm của Trung Quốc do các vụ tai nạn trước đây, nhưng những nước vận hành dày dặn kinh  nghiệm như Mỹ, Úc, Anh, Pháp và Nga cũng đều đã gặp phải các vụ việc nghiêm trọng trong những năm ngần đây. Trong trường hợp của Nga và Trung Quốc thì kết cục rất thảm khốc. Do đó ý tưởng về việc sẽ có thêm nhiều tàu ngầm hoạt động ở Biển Đông, đặc biệt ở các vùng ven biển, đã tạo ra những vấn đề thực sự đối với an toàn vận hành. Tuy nhiên, khó có thể minh bạch hơn về các hoạt động của tàu ngầm do sự minh bạch sẽ hủy hoại lợi thế mưu lược và tính chất vận hành của tàu ngầm – đó là sự tàng hình.

Phản ứng của Trung Quốc đối với các Hoạt động Quân sự của Mỹ

Trung Quốc là quốc gia cương quyết nhất trong khu vực trong các phương kế nhằm hạn chế hay thậm chí là ngăn chặn các hoạt động quân sự trong và trên các vùng mà quốc gia này coi là EEZ của mình. Đã có một số vụ việc xảy ra giữa lực lượng hải quân của Trung Quốc và Mỹ, trong đó có một số ở vùng Biển Đông. Vụ việc lớn nhất tính đến nay xảy ra vào ngày 1 tháng 4 năm 2001 khi máy bay thu thập tình báo điện tử EP-3E của Hải quân Mỹ đâm vào máy bay chiến đấu F-8 của PLA ở vị trí cách Đảo Hải Nam 70 hải lý về phía nam. Vụ việc này là đỉnh điểm của thái độ hung hãn ngày càng tăng của các phi công máy bay đánh chặn Trung Quốc đối với các máy tuần tra tương tự của Mỹ trong hai tháng trước đó.  Chiếc EP-3E bị hư hại đã kịp hạ cánh trên Đảo Hải Nam nhưng phi công của Trung Quốc thì lại bị mất tích. Rõ ràng là cách điều khiển máy bay ẩu của phi công Trung Quốc chính là nguyên nhân dẫn đến vụ việc. Đô đốc Dennis Blair, chỉ huy Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ vào thời điểm đó, đã phát biểu rằng:

Những chiếc máy bay lớn như [chiếc EP-3E] bay thẳng và cân bằng trên đường đi, với các máy bay nhỏ bay xung quanh. Theo nguyên tắc hàng không quốc tế, máy bay có khả năng bay nhanh và điều khiển linh hoạt hơn có nghĩa vụ phải tránh đường cho máy bay chậm hơn. Việc ai đâm vào ai ở đây khá là rõ ràng.[58]

Tuy vậy Trung Quốc vẫn tịch thu máy bay của Mỹ (và tạm giam phi hành đoàn), gỡ bỏ các hệ thống đáng giá trước khi cho phép máy bay được rời đi.[59]

Mặc dù vụ va chạm xảy ra trên không phận quốc tế, nhưng Trung Quốc vẫn thực thi quyền khống chế các máy bay tuần tra và tàu chiến của nước ngoài ra khỏi vùng EEZ rộng 200 hải lý của mình. Trong vùng EEZ, quốc gia ven biển có quyền chủ quyền đối với tài nguyên biển và quyền tài phán đối với việc nghiên cứu khoa học biển và việc bảo vệ, bảo tồn môi trường biển.[60] Những quy định trên tạo ra sự mập mờ, thường là một cách có chủ định, và đã dẫn đến những tranh chấp liên quan đến các hoạt động quân sự. Các lập luận của Trung Quốc tập trung vào các vấn đề về quyền an ninh và quyền của các quốc gia ven biển theo Điều 58 của Công ước LOS, tại đó liệt kê quyền và nghĩa vụ của “Quốc gia khác” trong vùng EEZ. Điều 58 cho phép tất cả các quốc gia có quyền tự do trên biển cả được nhắc đến trong Điều 87 về hàng hải, hàng không và lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm, bao gồm các loại gắn liền với việc vận hành tàu và máy bay, và phù hợp với các điều khoản khác của Công ước LOS. Các quốc gia khi thực hiện các quyền này phải “tôn trọng hợp lý” quyền và nghĩa vụ của quốc gia ven biển và tuân thủ luật pháp và quy định của quốc gia ven biển về quyền chủ quyền của mình.[61] Cũng cần phải lưu ý rằng điều khoản về nghĩa vụ “tôn trọng hợp lý” là mang tính có đi có lại khi xét đến nội dung của Điều 56(2).

Công ước LOS không chỉ định cụ thể các quyền của hải quân trong vùng EEZ. Một vài quốc gia đưa ra lập luận rằng việc nước ngoài sử dụng vùng EEZ vào mục đích quân sự là bị cấm theo Điều 58 bởi việc đó đi trái lại với nghĩa vụ gìn giữ biển cả cho các mục đích hòa bình (không được xác định) (Công ước LOS Điều 88), hoặc không phải là “sử dụng hợp pháp” vùng biển.[62] Tuy nhiên, quyền tự do trên biển bị giảm trong vùng EEZ cho các mục đích phi hàng hải bởi vì các quốc gia ven biển có quyền tài phán độc quyền đối với việc xây dựng đảo nhân tạo, các thiết bị và cấu trúc chỉ liên quan đến tài nguyên, nghiên cứu khoa học biển, hay môi trường. Tuy nhiên, điều này không hẳn là nghiêm cấm việc xây dựng hoặc lắp đặt các trang thiết bị quân sự không liên quan đến môi trường, tài nguyên, hay nghiên cứu biển.[63]

Trái với các lập luận của Trung Quốc, các vùng biển của EEZ có thể được hiểu một cách đúng nhất là các vùng biển cả và quốc gia ven biển có quyền chủ quyền được ban hành luật pháp và quy định về việc sử dụng tài nguyên và quản lý đối với một số hoạt động nhất định. Do đó các quốc gia khác vẫn giữ được mọi quyền tự do trên biển cả, bao gồm cả quyền thực hiện các hoạt động quân sự mà vẫn lưu ý đến nghĩa vụ phải “tôn trọng hợp lý” – vốn không được định nghĩa. Còn về vấn đề hàng không, như trong vụ EP-3E, cả Công ước LOS và Công ước về Hàng không Dân dụng[64] đều không cho quốc gia ven biển quyền được kiểm soát khoảng trời trên vùng EEZ. Vùng trời không phải là một phần của EEZ, và tất cả các máy bay đều có quyền tự do hàng không và quyền được thực hiện các hoạt động quân sự. Do đó, việc ban hành luật hay chính sách cho vùng EEZ mà không liên quan đến việc sử dụng tài nguyên; xây dựng đảo nhân tạo,  thiết bị, hay cấu trúc; thực hiện nghiên cứu trên biển; hay bảo vệ môi trường biển sẽ là không phù hợp với Công ước LOS. Việc Trung Quốc phản đối hoạt động quân sự của Mỹ trong vụ EP-3E là không liên quan đến các vấn đề nêu trên.

Một vụ việc nổi bật khác xảy ra ở Biển Đông là vào ngày 8 tháng 3 năm 2009, ở vị trí cách Đảo Hải Nam 75 hải lý về phía nam, trong vùng EEZ của Trung Quốc. Chiếc quân hạm do thám đại dương không trang bị vũ trang và mang tính chất dân sự của Mỹ, USNS Impeccable, là một phần của Chương trình Tàu Nhiệm vụ Đặc biệt của Ban chỉ huy Vận tải Hải quân Mỹ và được sử dụng để vẽ bản đồ đáy biển bằng cách sử dụng hệ thống định vị thủy âm tần suất thấp và thực hiện thu thập dữ liệu âm thanh, đã bị quấy rối bởi năm con tàu của Trung Quốc. Một chiếc là tàu tình báo của Hải quân PLA, một chiếc khác là tàu tuần tra của Bộ Thủy sản, chiếc thứ ba của Cục Đại dương Quốc gia cùng hai tàu đánh cá. Chiếc Impeccable vào lúc đó được mô tả là đang thực hiện công việc vẽ bản đồ đáy biển một cách định kỳ, còn nguồn khác thì nói rằng nó đang sử dụng Tổ hợp giám sát sự triển khai lực lượng trên mặt biển có phương tiện kéo (SURTASS) để nghe ngóng và theo dõi tàu ngầm. Các thủy thủ Trung Quốc đã sử dụng móc sắt dài để móc cáp kéo hệ thống định vị thủy âm và hai con thuyền gần lại tới khoảng cách 15m với chiếc Impeccable và yêu cầu chiếc tàu này rời khỏi khu vực. Tàu Impeccable phản ứng bằng cách chĩa vòi rồng cứu hoả vào phía các thủy thủ Trung Quốc, những người này sau đó đã cởi hết quần áo và chỉ còn mặc đồ lót! Tiếp đó hai con thuyền của Trung Quốc đã tiến gần đến 8m và di chuyển đến thẳng trước mặt tàu Impeccable, vừa đi vừa thả những mảnh gỗ trên đường đi của nó khiến cho chiếc Impeccable phải dừng khẩn cấp để tránh bị va chạm.[65]

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã phát biểu rằng tàu Impeccable đã “thực hiện các hoạt động ở vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc ở Biển Đông mà không được phép của Trung Quốc” và yêu cầu Mỹ phải “ngừng ngay lập tức các hoạt động tương tự và đưa ra các biện pháp hiệu quả để ngăn ngừa các hành vi tương tự khỏi xảy ra,” và nói thêm rằng các yêu sách về hành vi quấy rối là “hoàn toàn trái với thực tế và ... Trung Quốc không thể nào chấp nhận được.”[66] Hơn nữa, một chính ủy Hải quân PLA còn nói thêm rằng “Quyền qua lại vô hại của tàu thuyền hải quân đến từ các nước khác trong lãnh hải [hoặc] vùng kinh tế đặc biệt là chấp nhận được, nhưng các hoạt động ngoài phạm vi đó thì không.”[67] Một phát ngôn viên khác của Bộ Quốc phòng Trung Quốc đã phát biểu một vài ngày sau đó rằng:

Việc phía Trung Quốc thực hiện các biện pháp cưỡng chế và bảo vệ định kỳ trong vùng đặc quyền kinh tế của mình là hoàn toàn phù hợp và hợp pháp. ... Chúng tôi yêu cầu Mỹ tôn trọng các lợi ích pháp lý của mối quan ngại an ninh của mình, và có những biện pháp hiệu quả để ngăn ngừa việc tái diễn những sự vụ tương tự.[68]

Những lời phát biểu trên rõ ràng là đã lẫn lỗn giữa quy chế của vùng EEZ với quy chế của lãnh hải và dường như đã áp đặt quyền lãnh hải vào trong vùng EEZ. Các phát biểu này phản ánh luật pháp của Trung Quốc mà theo đó các tàu chiến phải được cấp phép trước khi đi vào vùng lãnh hải của Trung Quốc và yêu cầu các quyền an ninh lớn hơn ở vùng tiếp giáp.[69] Theo Công ước LOS, các hoạt động quân sự chỉ được kiểm soát trong giới hạn của quyền qua lại vô hại, quá cảnh, đi qua tuyến đường biển đi qua quần đảo, và không có sự kiểm soát nào như trên áp dụng cho vùng EEZ.[70]

Một lập luận khác mà giới phân tích Trung Quốc đưa ra là các hoạt động của tàu Impeccable đã đi trái lại với điều khoản về việc “sử dụng biển vào mục đích hòa bình” của Công ước LOS, [71] và cho rằng các hoạt động của nó đã rõ ràng nhằm mục đích thu thập thông tin quân sự và không vì mục đích hòa bình. Họ đã công khai xâm phạm an ninh quốc phòng và trật tự hòa bình của Trung Quốc và cấu thành một mối đe dọa vũ lực chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ và nền độc lập chính trị của Trung Quốc.[72]

Điều 301 của Công ước LOS nghiêm cấm “dựa vào việc đe dọa hay sử dụng vũ lực để xâm phạm toàn vẹn lãnh thổ hay độc lập chính trị của mọi Quốc gia” và, cùng với Điều 88 về gìn giữ biển cả cho “mục đích hòa bình,” được xem như là sự tái khẳng định của tập quán quốc tế về việc nghiêm cấm sử dụng vũ lực được nêu trong Điều 2(4) của Hiến chương LHQ.[73] Sẽ chẳng có lập luận nào vững chắc có thể được đưa ra dựa trên Công ước LOS hay bất kỳ văn bản pháp lý quốc tế nào, rằng các hoạt động thăm dò thời bình ở vùng EEZ lại đe dọa tới sự toàn vẹn lãnh thổ hay độc lập chính trị của bất kỳ quốc gia ven biển nào. Cũng như các lập luận của quan chức Trung Quốc, những lập luận này một lần nữa có hàm ý áp dụng chủ quyền quốc gia ven biển trên vùng EEZ và đi ngược lại với Công ước LOS. Hơn nữa nó cũng có hàm ý rằng các hoạt động quân sự và việc thu thập thông tin bản thân chúng đã mang tính chất không hòa bình. Đây là một lập luận vô nghĩa mà về mặt logic có thể áp dụng cho mọi hoạt động và lực lượng quân sự.

Nếu các luận điểm của Trung Quốc về chủ quyền ở vùng EEZ là không có cơ sở, thì việc giải thích Công ước LOS về việc liệu các cuộc thăm dò quân sự ở vùng EEZ có đồng nghĩa với nghiên cứu khoa học trên biển hay không lại càng mập mờ. Các quốc gia ven biển có quyền được quy định về nghiên cứu khoa học biển ở vùng EEZ.[74] Tuy nhiên, Công ước này lại không đưa ra định nghĩa về nghiên cứu khoa học biển. Có thể lập luân rằng quy chế của Công ước LOS không bao gồm các hoạt động tình báo quân sự và các cuộc thăm dò thủy văn của hải quân. Hơn nữa, những hoạt động đó cũng không động chạm đến việc sử dụng tài nguyên trong vùng EEZ hay ảnh hưởng tới môi trường biển của vùng này. Do vậy, có thể nói rằng những hoạt động này cần phải được coi là những hoạt động không bị hạn chế bởi các điều khoản của Công ước LOS.[75] Như Sam Bateman đã bình luận về vụ việc:

Có những cơ sở vững chắc để Mỹ cảm thấy được biện minh khi yêu sách về quyền được hoạt động ở Biển Đông của tàu Impeccable. Hoạt động đó không phải nghiên cứu khoa học biển trong quyền tài phán của quốc gia ven biển và đòi hỏi phải được quốc gia đó cấp phép trước. Thay vào đó nó là một phần của các quyền tự do hàng hải trên biển cả mà Công ước UNCLOS đã mở rộng đến vùng EEZ ... nhiệm vụ của tàu Impeccable ... rõ ràng có bản chất là quân sự. Việc sử dụng biển cả vào mục đích quân sự là quyền được thừa nhận trong luật quốc tế, và Trung Quốc sẽ khó mà có thể duy trì được lập luận rằng các hoạt động của những con tàu này tạo ra một mối đe dọa trực tiếp tới an ninh quốc phòng của mình.[76]

Vụ việc tàu Impeccable đại diện cho mô hình vụ việc nguy hiểm nhất từng xảy ra giữa Trung Quốc và Mỹ trên biển trong khoảng thời gian 2 tuần. Một chiếc thuyền tuần tra của Bộ Thủy sản Trung Quốc vào ngày 4 tháng 3 năm 2009 đã không một lời cảnh báo sử dụng đèn chiếu cường độ cao để chiếu vào một chiếc tàu tương tự tàu Impeccable, chiếc USNS Victorious, cách bờ biển Trung Quốc 125 hải lý ở Hoàng Hải. Một ngày sau đó, chiếc máy bay tuần tra biển Y-12 đã có 12 lượt bay tầm thấp qua con tàu. Thêm vào đó, ngày 5 tháng 3 tàu Impeccable đã được tiếp cận bởi một tàu chiến Trung Quốc ở tầm gần với hai lần đi qua mũi tàu, trong đó có một lần chỉ ở khoảng cách 100 yard (khoảng hơn 90m – ND), và một chiếc Y-12 với 11 lượt bay tầm thấp qua tàu. Vào ngày 7 tháng 3, một con tàu tình báo của Trung Quốc (nhiều khả năng đây cũng là con tàu liên quan trong vụ việc ngày 8 tháng 3) đã khẳng định qua đài rằng tàu Impeccable đã thực hiện các hoạt động bất hợp pháp và cần phải rời khỏi khu vực, nếu không sẽ phải “gánh chịu hậu quả”.[77] Một loạt các sự kiện xảy ra dường như đã thể hiện thái độ ngày càng hung hãn của Trung Quốc trên biển. Như Giám đốc Tình báo Quốc gia của Mỹ đã xác nhận trước Ủy ban Các vấn đề vũ trang của Thượng viện rằng: “Trong vài năm trở lại đây, họ đã trở nên hung hãn hơn với việc áp đặt các yêu sách của mình.”[78] Thái độ ngày càng cứng rắn của Trung Quốc được phản ánh qua bài báo ngày 19 tháng 2 của tờ Đảng Cộng sản ở Nội Mông, trong đó có nói rằng: “Nếu tàu gián điệp của Mỹ còn đi vào khu vực này thì Trung Quốc sẽ đánh chìm nó.”[79]

Mỹ phản ứng với vụ việc Impeccable bằng cách điều tàu chiến USS Chung-Hoon để hộ tống tàu Impeccable để tàu này tiếp tục công việc thăm dò của mình.[80] Đáp lại, Trung Quốc tuyên bố rằng sẽ tăng cường tuần tra ở khu vực Biển Đông và xây dựng thêm tàu tuần tra.[81] Một quan chức Quốc phòng Mỹ đã nói rõ khi làm chứng trước Thượng viện rằng Mỹ sẽ không lùi bước trước cương vị chiến lược là quốc gia bảo đảm ổn định khu vực và quan điểm về việc thực thi quyền tự do hàng hải của mình.

Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương của Mỹ sẽ tiếp tục thực thi các quyền tự do hàng hải trong khu vực. Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương sẽ tiếp tục thực hiện các hoạt động ở Biển Đông một cách tuân thủ tuyệt đối luật tập quán quốc tế được phản ánh trong Công ước LHQ về Luật Biển. Hoạt động của Mỹ sẽ được điều chỉnh bởi lợi ích của chúng ta trong khu vực, và mong muốn của chúng ta về việc bảo tồn an ninh và ổn định trên khắp khu vực tây Thái Bình Dương.[82]

Một vụ việc khác đã xảy ra vào tháng 6 năm 2009 khi một tàu ngầm của Trung Quốc va chạm với hệ thống định vị thủy âm đang được kéo bởi tàu chiến của Mỹ, chiếc USS John S. McCain, trên khu vực Biển Đông gần bờ biển Philippin, trong lúc đang diễn ra cuộc tập trận chung thường niên của Hải quân Mỹ và lực lượng của Philippin. Cả hai bên đều đã coi nhẹ vụ việc này, với tuyên bố của Mỹ rằng vụ việc này là một “sự va chạm không chủ ý”[83] và Trung Quốc đã đồng ý. Tuy nhiên, một nhà nghiên cứu cấp cao của PLA tại Viện Khoa học Quân sự đã bổ sung rằng: “Cách tốt nhất để tránh các vụ va chạm như thế này là Lầu Năm góc chấm dứt các động thái không hữu nghị đối với Trung Quốc trong khu vực,”[84] bất chấp thực tế là vụ việc này đã xảy ra ở vị trí cách xa các vùng biển thuộc quyền tài phán của Trung Quốc.

Hiệp định Tham vấn Quân sự Biển năm 1998[85] giữa Washington và Bắc Kinh đã tỏ ra là không hiệu quả trong việc ngăn ngừa các vụ việc trên biển như trên hay quản lý tốt hơn các vụ việc hoặc khủng hoảng khi chúng xảy ra. Mỹ đã kêu gọi ký kết một hiệp định chính thức theo đúng kiểu vụ việc trên biển hơn, tương tự như hiệp định ký kết với Liên Xô cũ trong thời kỳ chiến tranh lạnh,[86] nhưng cho đến nay lời kêu gọi này đã không bị phản đối mà cũng không bị phớt lờ. Tuy vậy, sự mở rộng của hải quân Trung Quốc và quan điểm ngày càng cứng rắn của Trung Quốc trên biển – cũng như sự phát triển nói chung của hải quân và cưỡng chế trên biển trong khu vực – cho thấy rằng các vụ việc trên biển nhiều khả năng sẽ trở nên phổ biến hơn là giảm đi.

Những vụ việc này là minh chứng cho thấy rằng thực tiễn của Trung Quốc là không phù hợp với Công ước LOS. Trung Quốc dường như đang yêu sách một thứ quyền tài phán nào đó đối với toàn bộ Biển Đông (cụ thể là toàn bộ vùng biển bên trong yêu sách đường lưỡi bò), với tuyên bố vào tháng 5 năm 2009 rằng:

 Trung Quốc có chủ quyền không thể chối cãi đối với các đảo trong Biển Đông và các vùng biển liền kề, và hưởng quyền chủ quyền và quyền tài phán trên các vùng biển có liên quan cũng như đáy biển và tầng đất cái của chúng.[87]

Bất kỳ hành động nào nhằm áp đặt quan điểm mở rộng vùng EEZ đều có thể thể hiện ý định nhằm loại trừ máy bay và tàu chiến quân sự nước ngoài ra khỏi toàn bộ khu vực. Mặc dù trên thực tiễn quan điểm như vậy không mang tính cưỡng chế, nhưng nó phản ánh ý định của Trung Quốc muốn biến Biển Đông thành cái hồ của Trung Quốc.

Thực tế là cách giải thích gây tranh cãi về quy chế vùng EEZ còn trở nên nặng nề hơn ở các biển kín hoặc nửa kín như Biển Đông, do nó có thể bao trùm toàn bộ không gian biển nếu tất cả các quốc gia ven biển yêu sách tối đa vùng EEZ mà họ có thể được hưởng và nếu các vùng EEZ có thể được yêu sách đối với các đảo nhỏ của quần đảo Trường Sa. Ở Biển Đông, chỉ có các vùng biển bao quanh một số phần của của Quần Đảo Trường Sa cho đến nay là chưa được yêu sách là các vùng EEZ, mặc dù những yêu sách đó có thể sẽ được đưa ra trong tương lai. Nếu các vùng EEZ có thể được yêu sách từ các đảo nhỏ của Trường Sa, thì sẽ không có vùng nào được coi là biển cả; hoặc không thì sẽ có một vùng biển cả nằm lọt giữa trung tâm của Biển Đông. Tuy nhiên, như đã lập luận ở trên, việc này sẽ không thể áp dụng được đối với quyền của các quốc gia khác được thực hiện các hoạt động quân sự ở những khu vực đó.

Kết luận: Trung Quốc, Cạnh tranh Địa Chính trị, và Biển Đông

Trong vài năm trở lại đây, có vẻ như Trung Quốc đã kiếm chế sự cương quyết của mình ở Biển Đông, mà thay vào đó lựa chọn cách tiếp cận hòa giải (hay còn gọi là “chiến dịch quyến rũ”) về hội nhập ngoại giao và kinh tế với các nước láng giềng Đông Nam Á. Tuy nhiên, Bắc Kinh đã quay trở lại với kiểu cách cũ và thể hiện một đường lối cương quyết – và thậm chí là hung hãn hơn. Trung Quốc đang ngày càng gia tăng áp lực với các quốc gia yêu sách khác ở Biển Đông và “không nghênh đón” các lực lượng nước ngoài như Mỹ một cách có hệ thống. Áp lực này, cho đến lúc đó chủ yếu vẫn là trên phương diệnchính trị và kinh tế, đang ngày càng trở nên quân sự hóa. Dường như đang có những nỗ lực phối hợp nhằm tăng cường vị thế chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông, quay trở lại xu hướng của những năm 1970, nhưng đã được bổ sung bởi các nguồn lực và tiềm lực quân sự lớn hơn.

Các quốc gia khác trong khu vực Biển Đông cũng đang khẳng định các yêu sách của riêng mình và phát triển hải quân của mình, mặc dù ở mức độ thấp hơn Trung Quốc. Kết hợp với các tác nhân hiện đại hóa quân sự khác như đã được thảo luận ở trên, hiện đang tồn tại xu hướng phát triển hải quân trong khu vực. Trừ khi cuộc khủng hoảng tài chính thế giới trở nên tồi tệ hơn, thì xu hướng đó có khả năng sẽ vẫn tiếp tục. Những thứ dường như là lợi ích chung của khu vực trong vấn đề an ninh SLOC như bảo vệ môi trường biển và bảo tồn cá, an ninh năng lượng, chống tội phạm xuyên quốc gia, và thậm chí là giảm thiểu tác động tiêu cực của sự nóng lên toàn cầu đều đòi hỏi phải có sự hợp tác nếu muốn giải quyết một cách thỏa đáng. Tuy nhiên, khu vực này vẫn đang thiếu các cơ chế hữu hiệu để đạt được sự hợp tác có tính thực tiễn, và thực tế của cuộc sống chính trị trong khu vực đồng nghĩa với việc những thách thức đó có khả năng sẽ chia rẽ các quốc gia hơn là gắn kết họ.

Nền tảng của những thách thức này là cuộc cạnh tranh chiến lược ngày càng gia tăng tập trung vào sự trỗi dậy của Trung Quốc, vốn đã được khởi động với việc một vài quốc gia đã thúc đẩy các chiến lựoc cân bằng (balancing) hay phòng ngừa rủi ro (hedging), trong đó có một số nước trong khu vực Biển Đông. Sự cạnh tranh của các cường quốc trong khu vực – đặc biệt tập trung xung quanh việc kiềm chế Trung Quốc – rõ ràng sẽ mang một yếu tố Biển Đông. Hải quân Mỹ đóng vai trò thường xuyên trong khu vực kể từ trước Chiến tranh Thế giới Lần thứ II. Nhật Bản, và đặc biệt là Lực lượng tuần duyên Nhật Bản, và thậm chí là Ấn Độ, đã cử quân đến Biển Đông. Sự hiện diện của các lực lượng trên biển của các nước này và các nước “bên ngoài” khác nhiều khả năng sẽ còn gia tăng và, cộng với các lực lượng hải quân của chính các quốc gia ven Biển Đông, sẽ tạo nên một môi trường hoạt động phức tạp hơn và thậm chí là nguy hiểm hơn trong tương lai. Bất kỳ ý nghĩ nào về việc Biển Đông có thể trở thành một vùng hòa bình và hợp tác có lẽ sẽ phải gác lại trong một thời gian.

                                                                            TS. CHRIS RAHMAN, GS. MARTIN TSAMENYI

Trung tâm Tài nguyên và An ninh Đại dương Quốc gia Úc, Đại học  New South Wales, Úc

Phạm Bá Việt (dịch)

Đỗ Thị Thủy (hiệu đính)

Bản gốc tiếng Anh “A Strategic Perspective on Security and Naval Issues in the South China Sea”, Ocean Development & International Law, 41: 4, 315 — 333

Đề nghị chỉ được dẫn đường link mọi thông tin, bài viết  trên www.nghiencuubiendong.vn, không đăng lại khi chưa có sự đồng ý của Ban Biên tập NCBĐ.



[1]MichaelLeifer,“TheMaritimeRegimeandRegionalSecurityinEastAsia,”PacificReview 4 (1991): 126–136.Xem thêm Sam Bateman, “Building Good Order at Sea in Southeast Asia: The Promise of International Regimes” in Maritime Security in Southeast Asia, eds. Kwa Chong Guan and John K. Skogan (London: Routledge, 2007), 97–116.

[2]Công ước LHQ về Luật Biển, 1833, U.N.T.S. 397.

[3]Sam Bateman, “UNCLOS and Its Limitations as the Foundation for a Regional Maritime Security Regime,” IDSS Working Paper No. 111 (Singapore: Institute for Defence and Strategic Studies, April 2006), 2.

[4]John H.Noer, with David Gregory, Chokepoints: Maritime Economic Concerns in Southeast Asia (Washington, DC: NDU Press, 1996), Figures 17–20, 63–66.

[5]International Hydrographic Organization, Limits of Oceans and Seas, Special Publication No. 23, 3rd ed. (Monte Carlo: IHO, 1953), 30–31.

[6]InternationalHydrographicOrganization,LimitsofOceansandSeas,IHOPublicationS-23, draft 4th ed. (IHO, 2002).

[7]Nt., tại 6-6-6-8

[8] Để biết về phạm vi địa chất của Biển Đông, xem Nien- Tsu Alfred Hu, “Semi-enclosed Troubled Water: A New Thinking on the Application of the 1982 UNCLOS Article 123 to the South China Sea,” Ocean Development & International Law 41(3), 2010, pp. 281–314, tại 299–301.

[9]Xem (UK) Admiralty, Ocean Passages for the World, 5th ed., NP 136 (Taunton: United Kingdom Hydrographic Office, 2004), Ch. 7.

[10] Dữ liệu được tính trung bình và tổng hợp từ các nguồn khác nhau của chính phủ Mỹ, bao gồm Bộ Quốc phòng, Cục Quản lý Thông tin Năng lượng, và Văn phòng Tình báo Hải quân.

[11]Dữ liệu từ PortKlangVesselTrafficService.

[12]OceanPassagesfortheWorld, ghi chú số 9, tại 166–172.

[13]Nt., tại 240-243.

[14]Nt., tại 203-204.

[15] Xem Chris Rahman, “The International Politics of Combating Piracy in Southeast Asia,” inViolence at Sea: Piracy in the Age of Global Terrorism, ed. Peter Lehr (New York: Routledge, 2007), tr. 183–198.

[16]United States, Office of the Secretary of Defense, Military Power of the People’s Republic of China 2009, Annual Report to Congress (Washington, DC: Department of Defense, 2009), 31.

[17]Clive Schofield, “Dangerous Ground: A Geopolitical Overview of the South China Sea” in Security and International Politics in the South China Sea: Towards a Cooperative Management Regime, eds. Sam Bateman and Ralf Emmers (London: Routledge, 2009), 14–18.

[18]United Nations Environment Programme(UNEP), Globa lInternational Waters Assessment. South China Sea: Regional Assessment 54 (Kalmar, Sweden: University of Kalmar, 2005), 40–41.

[19]Meryl J. Williams, Enmeshed: Australia and Southeast Asia’s Fisheries, Lowy Institute Paper 20 (Sydney, Australia: Lowy Institute for International Policy, 2007), 27.

[20] Xem Clive Schofield, “A Code of Conduct for the South China Sea?” Jane’s Intelligence Review, November 2000, 37. Đảo Ba Bình nay đang được kiểm soát bởi Cục Biên phòng Đài Loan.

[21]Greg Austin, China’s Ocean Frontier: International Law, Military Force and National Development (St Leonards, New South Wales, Australia: Allen & Unwin, 1998), 132 và 380–381.

[22]Schofield,“DangerousGround,” ghi chú số 17, tại 11 và 22,n.24.

[23] Đệ trình chung của Malaysia và Việt Nam lên Uỷ ban Ranh giới thềm lục địa Liên hợp quốc theo đoạn 8, điều 76 của Công ước LHQ về Luật biển về phần phía Nam của biển Đông, Bản tóm tắt, tháng 5/2009, có tại trang web của Uỷ ban Ranh giới thềm lục địa LHQ:  www.un.org/Depts/los/clcs new/clcs home.htm.          

[24] Đệ trình chung của Việt Nam lên Uỷ ban Ranh giới thềm lục địa Liên hợp quốc theo đoạn 8, điều 76 của Công ước LHQ về Luật biển năm 1982 về thềm lục địa mở rộng của Việt Nam: vùng phía Bắc, Bản tóm tắt, tháng 4/2009, có tại trang web của Uỷ ban Ranh giới thềm lục địa LHQ, như chú thích  23.

[25] Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, Thư gửi Tổng thư ký Liên Hợp Quốc, , Doc. CML/17/2009, New York, 7/5/2009; và Thư gửi Tổng thư ký Liên Hợp Quốc, Doc. CML/18/2009, New York, 7/5/2009, có tại trang web của Uỷ ban Ranh giới thềm lục địa LHQ, như chú thích  23.

[26] Xem Sam Bateman and Clive Schofield, “Outer Shelf Claims in the South China Sea: New Dimension to Old Disputes,” RSIS Commentaries, 1 July 2009 (Singapore: S. Rajaratnam School of International Studies, Nanyang Technological University).

[27]Bản báo cáo đầu tiên được công bố bởi “China Builds Up Strategic Sea Lanes,” Washington Times, 18 January 2005.

[28] Ví dụ, xem Andrew Selth, “Burma, China and the Myth of Military Bases,” Asian Security 3 (September 2007): 279–307.

[29] Xem Geoffrey Till, “The South China Sea Dispute: An International History,” in Bateman and Emmers, supra note 17, at 36.

[30]James R. Holmes and Toshi Yoshihara, Chinese Naval Strategy in the 21st Century: The Turn to Mahan (London: Routledge, 2008), 53.

[31]L. C. Russell Hsiao, “In a Fortnight: PLA General Advises Building Bases in the South China Sea,” Jamestown Foundation, China Brief , 24 June 2009, 1–2.

[32]Holmes and Yoshihara, ghi chú số 30, tại 53.

[33] Xem Alan M. Wachman, Why Taiwan? Geostrategic Rationales for China’s Territorial Integrity (Stanford, CA: Stanford University Press, 2007).

[34]EricFre ́con,“PiracyintheSouthChinaSea:MaritimeAmbushesofftheMangkaiPassage,” RSIS Commentaries, 20 February 2009.

[35]Sam Bateman, “Coast Guards: New Forces for Regional Order and Security,” AsiaPacific Issues, No. 65, January 2003, 5.

[36]Tim Fish, “Submarine Programmes Top SE Asian Wish Lists,” Jane’s Navy International, April 2010, 27.

[37]Nt., tại 26.

[38]Nt., tại 27.

[39]Nt., tại 27.

[40]Tuy nhiên Brunei giờ đang cố gắng bán các con tàu mới của mình, có thể là vì chúng quá lớn và quá phức tạp so với nhu cầu của Brunei cũng như năng lực vận hành của nước này.

[41] Xem Eric Grove, “Carrier Waves: Programmes Speak of an Enduring Appeal,” Jane’s NavyInternational, November 2007, 31–32.

[42]CommonwealthofAustralia,DefendingAustraliaintheAsiaPacificCentury:Force2030,(Canberra: Department of Defence, May 2009), 81. For an analysis, see Jack McCaffrie and Chris Rahman, “Australia’s 2009 Defense White Paper: A Maritime Focus for Uncertain Times,” Naval War College Review 63 (Winter 2010): 69.

[43] Xem ChrisRahman,“TheRiseofChinaasaRegionalMaritimePower:Strategic Implications for a New Century,” PhD dissertation, University of Wollongong, 2003.

[44] Để biết thêm chi tiết về các lực lượng hải quân của PLA, xem trang web SinoDefense.com, tại www.sinodefence.com/navy/default.asp.       

[45]Nt.

[46] Xem bản đồ Military Power of the People’s Republic of China 2009, ghi chú số 16, tại 23.

[47] Bruce A. Elleman, “Maritime Territorial Disputes and Their Impact on Maritime Strategy: A Historical Perspective,” in Bateman and Emmers, supra note 17, at 46–48.

[48]Xem trang SinoDefenc , ghi chú số 44; và Richard D. Fisher, “Satellite Imagery

Confirms Nuclear Sub Base in China,” Jane’s Defence Weekly, 16 April 2008, 4.

[49]Nt.

[50] Khái niệm pháo đài SSBN được bảo vệ bằng các lớp khả năng phòng thủ theo vòng tròn đồng tâm do Liên Xô phát triển trong chiến tranh lạnh. Xem phân tích trong Bryan Ranft và Geoffrey Till, The Sea in Soviet Strategy, 2nd ed. (Annapolis, MD: Naval Institute Press, 1989), 193–197.

[51]Xem “Naval Chief Details Chinese Wishlist,” Jane’s Navy International, May 2009, 5; và “Speculation Mounts over PRC’s Aircraft Carrier Plan,” Taipei Times, 7 March 2009.

[52]Kang Jua, “China Doesn’t Need Super Navy: Military Analysts,” Global Times, 21 April 2009.

[53] Xem hai số đặc biệt của tạp chí Marine Policy bàn về chủ đề này: Sốl. 28 01/2004) và số 29 (03/2005).

[54] Để tìm hiểu kỹ hơn về tranh luận này ở Đông Á, xem, ví dụ như EEZ Group 21, Guidelines for Navigation and Overflight in the Exclusive Economic Zone: A Commentary (Tokyo: Ocean Policy Research Foundation, 2006).

[55] Để biết thêm về lập luận mạnh mẽ nhưng không thuyết phục của Malaysia về vấn đề này, xem B. A. Hamzah, “EEZs: U.S. Must Unclench Its Fist First,” RSIS Commentaries, 9 April 2009.

[56]Xem Stuart Kaye, Freedom of Navigation in the Indo-Pacific Region, Papers in Australian Maritime Affairs No. 22 (Canberra: Sea Power Centre–Australia, 2008), 8–12 and 31–35.

[57]Xem Sam Bateman, “Perils of the Deep: The Dangers of Submarine Operations in Asia,” RSIS Commentaries, 21 February 2007 (Singapore: S. Rajaratnam School of International Studies, Nanyang Technological University).

[58] Trích trong “Trapped Behind the Lines,” The Australian, 3/4/2001, 1.

[59] “‘Spyplane’ Loss a Big Blow for U.S. Intelligence,” Jane’s Navy International,

May 2001, 8.

[60] Công ước Luật biển, chú thích 2, điều. 56(1).

[61] Xem phân tích trong Martin Tsamenyi và Barry Snushall, “The Legal Dimension of Maritime Military Operations,” in Positioning Navies for the Future: Challenge and Response, ed. Jack McCaffrie (Sydney: Sea Power Centre—Australia and Halstead Press, 2006), 111–132.

[62]Nt., tại 122.

[63]Nt., tại 116.

[64]Nt., tại 116.

[65] Xem “U.S. Angered by Chinese NavalManoeuvres,” The Australian, 10March 2009; “USNPLA South China Sea Incident,” Associated Press, 10 March 2009; “China Says U.S. Provoked Naval Incident,” International Herald Tribune, 10 March 2009; và“Surveillance Ship ‘Did Not Violate Law,’ Says DoD,” Jane’s Navy International, April 2009, 6.

[66] Trích trong “FM: U.S. Naval Ship Violates Int’l, Chinese Law,” China Daily, 10 March 2009.

[67] Được trích trong “Violation of China’s Sovereignty Never Allowed,” China Daily, 10 March 2009.

[68] Được trích trong “Obama–Yang Discuss U.S.-China Sea Dispute on the Sidelines of Improved Cooperation,” Associated Press, 15 March 2009.

[69] Xem Kaye, chú thích 56, tr.31.

[70] Tsamenyi và Snushall, chú thích 61, tr. 113–121.

[71] Công ước Luật biển, chú thích 2, điều 301.

[72] Ji Guoxing, “The Legality of the ‘Impeccable Incident,”’ China Security 5 (Spring 2009): 18–19.

[73] Tsamenyi và Snushall, chú thích 61, tr. 122.

[74] Công ước Luật biển, chú thích 2, điều. 56, 87, 238–241.

[75] Tsamenyi và Snushall, chú thích 61, tr. 128.

[76] Sam Bateman, “Clashes at Sea: When Chinese Vessels Harass U.S. Ships,” RSIS Commentaries, 13 March 2009, 2 (Singapore: S. Rajaratnam School of International Studies, Nanyang Technological University). Để giải thích về lập trường của Mỹ, xem  Patrick J. Neher, Raul A.Pedrozo, and J. Ashley Roach, “In Defence of High Seas Freedoms,” RSIS Commentaries, 24 March 2009 (Singapore: S. Rajaratnam School of International Studies, Nanyang Technological University); và Thuyền trưởng Raul Pedrozo, JAGC, USN, “Close Encounters at Sea: The USNS Impeccable Incident,”

Naval War College Review 62 (Summer 2009): 106–107.

[77] “USN-PLA South China Sea Incident,” Associated Press, 10 March 2009.

[78] Trích trong “Blair: China Gets ‘More Aggressive’ Against U.S. Ships,” Washington Times, 11 March 2009.

[79] Trích trong Nt.

[80] “Destroyer to Protect Ship Near China,” Washington Post, 13 March 2009.

[81] “Beijing to Deploy More Ships to the South China Sea,” Times (UK), 19 March 2009.

[82] Bài điều trần của Phó Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Robert Scher trước Ủy ban Đối ngoại Thượng viện, Quốc hội Mỹ ngày 15/7/2009, tr.5 về “Các vấn đề hàng hải và Tranh chấp chủ quyền ở Đông Á”, Các vấn đề an ninh Châu Á-Thái Bình Dương, Văn phòng Bộ trưởng Quốc phòng.

[83] “Chinese Sub Smashes U.S. Destroyer’s Sonar,” The Australian, 13 June 2009.

[84] Trích trong “Sub, Sonar Collision ‘Inadvertent,”’ Global Times, 15 June 2009.

[85] Thỏa thuận giữa Bộ quốc phòng Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và Bộ Quốc phòng Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về việc thiết lập một cơ chế tham vấn nhằm tăng cường an toàn hàng hải quân sự, Bắc Kinh, 19/01/1998. 

[86] Thỏa thuận giữa Chính phủ Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và Chính phủ Liên bang Xô Viết về việc phòng ngừa các sự việc xảy ra trên biển, Mát-xco-va, 25/05/1972, được bổ sung bằng Nghị định thư năm 1973 và một trao đổi công hàm năm 1998. Nghị định thư được Liên bang Nga, nước thừa kế Liên bang Xô Viết về các quyền và nghĩa vụ liên quan đến Hiệp định này thông qua.

[87] Xem các công hàm của CHND Trung Hoa, chú thích 25.

 

 

Mạng bình luận trường RSIS Singapore đăng bài phân tích “Islands or Rocks? Evolving Dispute in South China Sea” của Robert Beckman, Giám đốc Trung tâm Luật Quốc tế, giáo sư tại Khoa Luật Đại học Quốc gia Singapore. Tác giả cho rằng cuộc tranh cãi về quyền khai thác tài nguyên quanh quần đảo Trường Sa đã biến thành một cuộc tranh cãi về mặt quy chế pháp lý của các đảo, đá.

 

Chủ quyền, toàn bộ hoặc một phần, đối với quần đảo Trường Sa trên biển Đông là đối tượng tranh chấp giữa Trung Quốc, Ma-lai-xia, Philíppin, Việt Nam, Brunây và Đài Loan. Công hàm ngoại giao tháng 4/2011 do Philíppin và Trung Quốc nộp lên Tổng Thư ký Liên hợp quốc đã đặt nền móng cho một vụ tranh chấp giữa một số nước thuộc ASEAN (Malaixia, Philíppin và Việt Nam) và Trung Quốc, liên quan đến chủ quyền pháp lý đối với các bãi đá tạo thành quần đảo Trường Sa.

Vấn đề quan trọng nhất được đưa ra là: Nước nào có quyền thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên trong và dưới các vùng biển xung quanh quần đảo này? Mặc dù đối tượng tranh chấp cuối cùng là tài nguyên thiên nhiên, nhưng cuộc tranh chấp này được dựng lên như một cuộc tranh cãi pháp lý về nhận thức đối với Điều 121 Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS).

Các định nghĩa pháp lý

Điều 121 quy định rằng một hòn đảo – được định nghĩa là "một khu vực đất tự nhiên nhô lên trên mặt nước khi thủy triều lên" - về nguyên tắc có thể tạo ra các vùng lãnh hải giống như đất liền. Chúng bao gồm vùng lãnh hải trong bán kính 12 hải lý, vùng EEZ trong bán kính 200 hải lý và một thềm lục địa. Một số cấu thành của quần đảo Trường Sa do các nước đang chiếm đóng không đáp ứng được định nghĩa của một hòn đảo. Chúng hoặc bị ngập dưới nước khi thủy triều lên, hoặc nhô trên mặt nước khi thủy triều lên là nhờ được cải tạo hoặc do các cấu trúc nhân tạo. Các bãi đá này thậm chí không được hưởng vùng lãnh hải 12 hải lý.

Đoạn 3 của Điều 121 trong UNCLOS đã tạo ra một ngoại lệ cho một số loại đảo bằng cách nói rằng "các bãi đá mà không thể tự nó duy trì sự sinh sống hoặc đời sống kinh tế của con người" sẽ không có vùng EEZ hay thềm lục địa. Nhiều bãi đá trong quần đảo Trường Sa có thể nằm trong nhóm này và do đó chỉ được vùng lãnh hải 12 hải lý. 

Lý lẽ của Ma-lai-xia, Việt Nam và Trung Quốc 

Công hàm của Philíppin gửi lên Tổng Thư ký Liên hợp quốc hôm 5/4/2011 và của Trung Quốc hôm 14/4/2011 là những văn bản mới nhất trong một loạt công hàm liên quan đến Thỏa thuận chung giữa Malaixia và Việt Nam được hai nước trình lên Ủy ban ranh giới Thềm lục địa của Liên hợp quốc vào ngày 6/5/2009. Trong thỏa thuận chung này, Malaixia và Việt Nam tuyên bố chủ quyền đối với một thềm lục địa vượt ra ngoài giới hạn 200 hải lý của vùng EEZ mà họ tuyên bố trên biển Đông.

Ngày 7/5/2009, Trung Quốc phản ứng bằng cách gửi công hàm nói rằng nước này có chủ quyền không thể tranh cãi đối với quần đảo Trường Sa và các vùng biển liền kề. Trung Quốc cũng khẳng định chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng biển “liên quan” trên Biển Đông, kèm theo là bản đồ đường “lưỡi bò” 9 đoạn do nước này đưa ra.

Phản ứng của Philíppin và sự đáp trả của Trung Quốc

Philíppin phản ứng bằng cách gửi công hàm ngoại giao vào ngày 4/4/2011, trong đó nói rằng UNCLOS không cung cấp cơ sở pháp lý cho bất cứ sự đòi hỏi nào về chủ quyền và quyền tài phán trên vùng biển "liên quan" (và các đáy biển và lòng đất) nằm trong đường “9 đoạn” phía ngoài các vùng biển được coi là "liền kề" với các hòn đảo theo định nghĩa tại Điều 121 của UNCLOS. Mặc dù ngôn ngữ thể hiện trong công hàm không rõ ràng, nhưng dường như nó hàm ý Trung Quốc không có cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền và quyền tài phán đối với bất kỳ nguồn tài nguyên nào nằm trong vùng “lưỡi bò” và nằm ngoài vùng biển liền kề với các đảo của nước này.

Ngày 14/4/2011, phản ứng với công hàm của Philíppin, Trung Quốc nhắc lại quan điểm lâu nay là nước này có chủ quyền không thể tranh cãi đối với toàn bộ quần đảo Trường Sa và vùng biển liền kề. Trung Quốc cũng khẳng định chủ quyền và quyền tài phán trên các vùng nước liên quan, cũng như đáy biển và lòng đất phía dưới. Tuy nhiên, nước này không đề cập đến bản đồ “9 đoạn”, và tuyên bố (lần đầu tiên) rằng quần đảo này được hưởng quyền lãnh hải, vùng EEZ và thềm lục địa. Đây có thể là một động thái quan trọng bởi Trung Quốc dường như đã nêu rõ đòi hỏi của mình và dùng UNCLOS để bảo vệ lý lẽ.

Hòn đảo hay bãi đá?

Trong cuộc tranh chấp về các quần đảo và bãi đá, các nước ASEAN sẽ tiếp tục giữ quan điểm rằng họ có chủ quyền và quyền tài phán đối với nguồn tài nguyên thiên nhiên ở trong và dưới các vùng nước thuộc quần đảo Trường Sa. Đòi hỏi của họ dựa trên quyền đối với 200 hải lý vùng EEZ tính từ các đường cơ sở thuộc lãnh thổ đất liền hoặc quần đảo của họ. Họ sẽ không đòi hỏi vùng EEZ từ bất kỳ cấu thành nào của quần đảo Trường Sa, và sẽ nhất quán rằng không một cấu thành nào thuộc diện tranh chấp được coi là “hòn đảo”, và những “hòn đảo” đó trên thực tế chỉ là bãi đá.

Chiến lược này sẽ mang lại cho các quốc gia tranh chấp thuộc ASEAN chủ quyền không thể tranh cãi để thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên ở trong và phía dưới của hầu hết các vùng nước thuộc quần đảo Trường Sa. Họ sẽ chỉ không có chủ quyền và quyền tài phán để khai thác tài nguyên thuộc bán kính 12 hải lý liền kề các đảo, chừng nào cuộc tranh chấp vẫn chưa được phán quyết.

Để bảo vệ lợi ích của mình, Trung Quốc sẽ phải duy trì quan điểm là ít nhất một số bãi đá thuộc Trường Sa được tính là “đảo" để được hưởng vùng EEZ và thềm lục địa. Quan điểm này sẽ tạo ra một vùng chồng lấn đáng kể giữa vùng EEZ của quần đảo Trường Sa mà Trung Quốc đòi chủ quyền với vùng EEZ và/hoặc thềm lục địa mở rộng mà các quốc gia tranh chấp thuộc ASEAN có quyền tính từ đường cơ sở của lãnh thổ hay quần đảo của họ.

Trung Quốc sẽ phải đối mặt với một thách thức là trước đây nước này đã có quan điểm về thế nào là đảo và thế nào là bãi đá. Trong các cuộc tranh luận tại Liên hợp quốc liên quan đến cuộc tranh chấp giữa nước này với Nhật Bản về chủ quyền đảo Okinotorishima, Trung Quốc lập luận rằng các đảo nhỏ, ở xa, không có người ở không được trao vùng EEZ hay thềm lục địa. Các quốc gia ASEAN có thể sẽ nói rằng lập luận này của Trung Quốc cũng nên áp dụng đối với các đảo nhỏ trong quần đảo Trường Sa. 

  Theo Rsis

 Mỹ Anh (gt)

 

Bài viết của GS. Keyuan Zou, Khoa Luật, Đại học Trung tâm Lancashire, Vương quốc Anh, đăng trên Series đặc biệt của tạp chí Harvard Asia Quarterly của Trường Đại học Havard với chủ đề: "Tranh chấp biển- An ninh hàng hải tại Đông Á", (The Disputed Sea – Maritime Security in East Asia), phân tích hành vi của  Trung Quốc trong các tranh cấp biển đảo với các nước láng giềng, từ đó  đánh giá về khả năng tôn trọng luật biển của nước này.

GIỚI THIỆU

Nơi đâu có con người, nơi đó có xung đột và hợp tác. Cùng với sự trỗi dậy của Trung Quốc ở Châu Á, dường như các xung đột trên biển đang xảy ra thường xuyên hơn. Một dấu hiệu của điều này là Hải quân Nhật Bản đang bắt giữ ngư dân Trung Quốc, trong khi Hải quân Trung Quốc, đến lượt mình, lại bắt giữ ngư dân Việt Nam.

Rất nhiều nhân tố châm ngòi cho các xung đột trên biển ở Đông Á, Một nhân tố liên quan đến tranh chấp lãnh thổ nổi lên từ các xung đột trong lịch sử. Các tranh chấp xung quanh Quần đảo Dokdo giữa Nhật Bản và Hàn Quốc và Quần đảo Điếu Ngư giữa Trung Quốc và Nhật Bản có thể được cho là sự kế thừa của chủ nghĩa thực dân Nhật trước Thế chiến thứ hai. Vụ bắt giữ ngư dân Trung Quốc gần đây diễn ra trong vùng nước liền kề quần đảo Điếu Ngư, vẫn đang dưới sự kiểm soát của Nhật Bản.

Một nhân tố khác liên quan đến luật về phân định ranh giới biển trong các hiệp định quốc tế. Sau khi Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển năm 1982 có hiệu lực năm 1994,[1] các tranh chấp biên giới ngày càng gia tăng và gay gắt. Công ước cho phép các quốc gia có đường bờ biển mở rộng vùng biển nằm trong quyền tài phán của mình lên đến 200 hải lý tính từ đường cơ sở nơi lãnh hải được xác định. Quyền tài phán này được chia thành một vùng lãnh hải 12 hải lý và một thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) rộng 200 hải lý. Trong một số trường hợp, thềm lục địa có thể kéo dài lên đến 350 hải lý. Đáng chú ý là thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế là hai vùng biển mới được tạo ra theo Công ước về Luật biển. Nếu những vùng biển này không được thiết lập, sẽ không có tranh chấp biển nào giữa Trung Quốc và Nhật Bản ở Biển Hoa Đông, vì vùng nước này phân cách hai nước này bởi một khoảng cách là 360 hải lý. Trong những trường hợp này, xung đột biển đã bị làm trầm trọng thêm bởi sự tranh giành gay gắt về nguồn năng lượng ở các vùng biển. Trong việc theo đuổi phát triển kinh tế nhanh, các quốc gia ven biển phải đáp ứng nhu cầu năng lượng ngày càng tăng.

Sự mở rộng các vùng biển thông qua các hiệp định quốc tế đã làm phức tạp thêm xung đột trên biển. Công ước về Luật biển bao gồm các điều khoản cụ thể về các vùng đặc quyền kinh tế cho các đảo với các kích thước khác nhau. Theo tính toán, một đảo không thể duy trì sự sống của con người có thể có một vùng lãnh hải rộng 1.550km2, trong khi một đảo lớn mà có thể duy trì đời sống kinh tế hay sự cư trú của con người có thể có một vùng đặc quyền kinh tế rộng khoảng 420.000km2.[2] Đây là một trong số các lý do tại sao có sự gia tăng các yêu sách đối với các đảo nhỏ; thậm chí cả các đá nhỏ cũng gây ra tranh chấp giữa các nước. Các đá đó bản thân nó không quan trọng – nhưng có các nguồn tài nguyên sống còn nằm trong các vùng biển xung quanh chúng.

TRANH CHẤP TRÊN BIỂN

Thông thường, có ba loại tranh chấp trên biển ở Đông Á: tranh chấp chủ quyền đối với các đảo nhỏ; tranh chấp phân định ranh giới biển giữa các nước láng giềng; và tranh chấp xung quanh việc phân chia và sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên biển. Đối với loại tranh chấp đầu tiên, không có viễn cảnh nào cho một giải pháp hợp lý trong tương lai gần, bởi vì các quốc gia tranh chấp đã cương quyết khẳng định chủ quyền của mình đối với các đảo nhỏ và không có dấu hiệu nào cho thấy bất cứ bên nào sẽ nhượng bộ. Điều phức tạp hơn là thực tế, những yêu sách về chủ quyền này có liên hệ rất mật thiết với các phong trào của những người theo chủ nghĩa dân tộc. Điều này có thể thấy từ sự phản đối mạnh mẽ liên tục diễn ra ở Trung Quốc xung quanh quần đảo Điếu Ngư và ở Hàn Quốc đối với quần đảo Dokdo, chống lại Nhật Bản trong cả hai trường hợp. Hơn nữa, vào tháng 12 năm 2007, các cuộc biểu tình lớn diễn ra ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh phản ứng lại các hành động đơn phương của hải quân Trung Quốc ở trong và xung quanh các đảo tranh chấp ở Biển Đông. Do vậy, bất cứ giải pháp nào cho các tranh chấp lãnh thổ trên biển này tiếp tục vẫn ở một tương lai xa vời.

Việc phân định giới hạn biên giới biển như đã đề ra trong Công ước về Luật biển cũng đã là một nguồn gây ra căng thẳng, đặc biệt là giữa Trung Quốc và các nước láng giềng. Trung Quốc đã thừa nhận là họ có những tranh chấp về việc phân định ranh giới chưa giải quyết được với hai nước Triền Tiên, Nhật Bản, Philippines, Brunei, Malaysia, Indonesia, và Việt Nam. Mặc dù Trung Quốc và Việt Nam đã ký Hiệp định về việc phân định biên giới trên biển ở Vịnh Bắc Bộ, nhưng vẫn không có bước tiến nào trong việc thỏa thuận biên giới biển giữa Trung Quốc và một nước láng giềng nào. Một số cuộc đối thoại liên quan vẫn đang diễn ra, như giữa Trung Quốc và Hàn Quốc; thường có báo cáo là đã đạt được thỏa thuận chung chung nào đó giữa hai quốc gia, nhưng chưa từng khi nào đạt được tiến bộ đáng kể nào trong lĩnh vực này.[3] Mặc dù các nước ven biển chỉ được hưởng quyền chủ quyền và quyền tài phán ở thềm lục địa và Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ), hai vùng biển này lại đặc biệt quan trọng vì chúng có rất nhiều tài nguyên thiên nhiên và có thể dần dần được chuyển thành lãnh thổ có chủ quyền. Một sự biến chuyển tương tự đã từng xảy ra trong trường hợp vùng biển truyền thống - hay còn gọi là Lãnh hải - đã được mở rộng thành 12 hải lý chiều rộng 3 hải lý ban đầu.

Cùng với các yêu sách chồng lấn đối với các đảo nhỏ, những lập trường pháp lý khác nhau về việc phân định biên giới cũng là nhân tố cản trở các Hiệp định về biên giới biển. Ở Biển Hoa Đông, Trung Quốc đã tìm cách mở rộng phạm vi thềm lục địa với Nhật Bản, nhưng Nhật Bản kiên trì đường phân định ở giữa. Cho đến nay, chưa thấy dấu hiệu hòa hợp nào về vấn đề này.

May mắn là, nhiều tiến bộ đã đạt được trong việc quản lý các nguồn tài nguyên biển, cùng với việc ký kết Hiệp định về nghề cá giữa Trung Quốc - Nhật Bản năm 1997, Hiệp định về nghề cá giữa Nhật Bản và Hàn Quốc năm 1998, và Hiệp định về nghề cá giữa Trung Quốc và Hàn Quốc năm 2000. Những Hiệp định này được soạn thảo để quản lý các nguồn cá ở Biển Hoa Đông, Hoàng Hải, và Biển Nhật Bản. Theo đó, các khu vực quản lý đánh bắt cá chung đã được xác lập và duy trì. Mặc dù vậy, các nguồn tài nguyên biển vẫn còn là một nguồn của xung đột. Các biện pháp đơn phương của một quốc gia có thể bị một quốc gia khác coi là có ý đồ xấu. Ví dụ, khi Trung Quốc ra Nghị định tuyên bố một mùa cấm đánh cá ở Biển Đông -  trong suốt mùa hè, Việt Nam coi việc này là sự can thiệp vào chủ quyền của mình.

Trong lĩnh vực quản lý và phát triển tài nguyên, đặc biệt là dầu mỏ và khí tự nhiên, tình hình còn phức tạp hơn. Cần nhớ lại rằng, vào năm 1974, một Hiệp định giữa Nhật Bản với Hàn Quốc cùng phát triển dầu mỏ và khí đốt tại Biển Hoa Đông đã gặp phải phản đối quyết liệt từ phía Trung Quốc. Lợi ích của Trung Quốc với tư cách bên thứ ba ở cùng vùng biển này đã làm tê liệt các cuộc đàm phán. Trong những năm gần đây, Trung Quốc và Nhật Bản đã tranh cãi về mỏ dầu khí Chunxiao, cách đường yêu sách trung tuyến đơn phương của Nhật Bản ở Biển Hoa Đông chỉ 5km. Vụ tranh chấp ít ra đã được giải quyết một phần bởi một Hiệp định giữa Trung Quốc và Nhật Bản hồi tháng sáu năm 2008:  thiết lập một vùng phát triển chung ở Biển Hoa Đông liền kề với đường yêu sách trung tuyến của Nhật Bản, và cho phép các Công ty của Nhật phát triển mỏ dầu Chunxiao theo Luật của Trung Quốc.[4] Kết quả của Hiệp định phù hợp với tinh thần và các điều khoản của Công ước về Luật biển, đó là khuyến khích các quốc gia đưa ra những thỏa thuận dự phòng trong khi chờ giải quyết đường biên giới trên. Tuy nhiên, thật không may là, những sự kiện gần đây đã dẫn tới việc chậm trễ thực hiện Hiệp định.

Trung Quốc cũng phản đối mạnh mẽ các yêu sách trên biển của Nhật Bản đối với Okinotorishima, một rặng đá ngầm ở 20025' Bắc và 136005' Đông từ với cực Nam của Nhật Bản. Do bào mòn của nước biển, bề mặt của đá ngầm nhô lên khỏi mặt nước khi thủy triều lên đã dần dần thu hẹp lại. Kết quả là Đảo Bắc (Kitakojima) chỉ nhô lên có 16 centimet và Đảo Đông (Higashikojima) chỉ nhô lên có 6 centimet bên trên mực nước biển khi thủy triều lên.[5] Nếu cứ để yên như vậy, đá ngầm này có thể bị nước biển nhấn chìm. Từ năm 1987,  Nhật Bản bắt đầu đầu tư lớn (khoảng 300 triệu USD) để gia cố, nâng cao đá ngầm này để lấy đó làm cơ sở đòi hỏi thêm các quyền tài phán trên biển. Nếu thành công, Nhật Bản có thể tuyên bố chủ quyền một Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) rộng khoảng 400,000 km2 và một thềm lục địa rộng khoảng 740,000 km2 xung quanh đá ngầm này.[6] Trung Quốc bày tỏ mối quan ngại của mình rằng việc thừa nhận yêu sách của Nhật Bản đối với thềm lục địa từ đảo Okinotorishima "sẽ tạo ra một tiền lệ có thể dẫn tới sự xâm lấn biển ngoài khơi trong Khu vực ở mức độ lớn hơn nữa".[7] Có vẻ như là yêu sách trên biển của Nhật Bản sẽ ảnh hưởng tới lợi ích của Trung Quốc trong việc đánh bắt cá và nghiên cứu khoa học biển tai các vùng biển liền kề quanh đảo đá ngầm.

VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG

Ở Biển Đông, tranh chấp về quần đảo Trường Sa là vấn đề gai góc nhất. Tranh chấp này đã tồn tại từ lâu, bao gồm Trung Quốc, Đài Loan Trung Quốc, Malaysia, Việt Nam, Philippines, và Brunei. Trong lịch sử quan hệ quốc tế, thường không có nhiều nước cùng tuyên bố chủ quyền đối với những hòn đảo nhỏ như vậy.

Là người chơi chính, những nỗ lực và hợp tác của Trung Quốc là không thể thiếu để giải tỏa căng thẳng trong khu vực. Khi đàm phán về bộ quy tắc ứng xử, ban đầu Trung Quốc rất miễn cưỡng tham gia đàm phán ở cấp độ đa phương với ASEAN mặc dù đã đạt được một bộ quy tắc ứng xử song phương với Philippines năm 1995. Tuy nhiên, Trung Quốc đã dần dần thay đổi thái độ và bắt đầu xem xét khả năng và những lợi ích của việc đàm phán một bộ quy tắc ứng xử cấp khu vực. Sự thay đổi này có thể do hai lực đẩy cả từ bên trong lẫn bên ngoài. Từ bên trong Trung Quốc, có sự thúc đẩy hướng tới một chính sách đối ngoại thực dụng "ổn định khu vực láng giềng" (wending zhoubian) được coi  là một trong những ưu tiên hàng đầu. Dựa trên điều này, Trung Quốc phải duy trì một môi trường ổn định ở Biển Đông. Từ bên ngoài, nỗ lực và sức ép của các nước ASEAN đã thuyết phục được Trung Quốc rằng hợp tác với ASEAN là tất yếu nếu Trung Quốc muốn có một môi trường ổn định ở vùng này. Kết quả là năm 1999 Trung Quốc đã đưa ra đề xuất của riêng mình về bộ quy tắc ứng xử như là đáp ứng lại đề xuất của ASEAN.[8] Trung Quốc và các nước ASEAN đã tiến hành nhiều vòng đàm phán để phác thảo ra một Bộ Quy tắcỨng xử Chung cho khu vực Biển Đông.[9]

Ngày 4 tháng Mười một năm 2002, Trung Quốc và tất cả các nước thành viên ASEAN đã ký Tuyên bố về Cách Ứng xử của các bên tại Biển Đông (DOC 2002) ở Phnom Penh, Campuchia,[10] Có lẽ đây là văn kiện đáng kể nhất từng được ký kết giữa Trung Quốc và các quốc gia ASEAN. Tuyên bố được soạn thảo nhằm củng cố và phát triển tình hữu nghị và sự hợp tác giữa Trung Quốc và ASEAN nhằm thúc đẩy hòa bình ở Biển Đông. Nó được xây dựng trên các nguyên tắc và mục tiêu của Tuyên bố chung của Hội nghị Nguyên thủ Quốc gia/Người đứng đầu Chính phủ các quốc gia thành viên ASEAN và Trung Quốc năm 1997.Tuyên bố tái khẳng định cam kết của các bên nhằm sử dụng luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước về Luật biển để xây dựng lòng tin và hợp tác. Các bên bảo đảm tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông. Các bên dự định hợp tác trên các lĩnh vực sau:

·                 Bảo vệ môi trường biển

·                 Nghiên cứu khoa học biển

·                 An toàn hàng hải và giao thông liên lạc trên biển

·                 Các hoạt động tìm kiếm và cứu hộ

·                 Chông tội phạm quốc tế, bao gồm nhưng không chỉ giới hạn trong buôn bán ma túy, cướp biển có vũ trang và buôn lậu vũ khí.

Các quốc gia ký kết cam kết giải quyết các tranh chấp lãnh thổ và tranh chấp quyền tài phán bằng các biện pháp hòa bình, tiếp tục đàm phán về Biển Đông và kiềm chế để tránh các hành động khiêu khích.

DOC 2002 chứa đựng nhiều yếu tố từ đề xuất của Trung Quốc đưa ra trước đó. Việc ký kết của Trung Quốc có thể được coi như một cử chỉ thiện chí. Một dấu hiệu của việc đó là sau khi ký DOC, Trung Quốc và Philippines giảm bớt tầm quan trọng của các cuộc tập trận Hải quân gần vùng biển tranh chấp, tuyên bố rằng các cuộc tập trận đó đó không liên quan đến các tranh chấp lãnh thổ.

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, đã có những bước thụt lùi làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hiệu quả DOC năm 2002. Thứ nhất, có những quốc gia vẫn tiếp tục những hành động đơn phương trái với lời kêu gọi tự kiềm chế đã nêu trong DOC. Các hành động này bao gồm việc đến thăm các đảo tranh chấp, cũng như việc xây dựng và nâng cấp cơ sở vật chất ở các đảo. Thứ hai, chương trình chung ba bên giữa Trung Quốc, Philippines và Việt Nam sau khi hoàn thành phần thứ nhất thì nay đã ngừng các hoạt động, và có lẽ hình như khó có thể thấy chương trình đó sẽ được khôi phục lại trong một tương lai gần.

Thứ ba, gần đây Trung Quốc đã có sự chuyển hướng thái độtừ chủ nghĩa đa phương quay trở lại chủ nghĩa song phương. Như năm 2009, đại sứ Trung Quốc tại ASEAN khi đó đã phát biểu do ASEAN bao gồm cả các nước có yêu sách lẫn các nước không có yêu sách nên tổ chức này không thể là diễn đàn thích hợp cho việc thảo luận vấn đề Biển Đông. Do vậy, chính phủ Trung Quốc muốn giải quyết các tranh chấp lãnh thổ thông qua đàm phán song phương.[11] Sự thay đổi này có chút gì đó gây ngạc nhiên vì Trung Quốc trước đó không lâu vẫn ủng hộ mạnh mẽ DOC, coi như đó là cử chỉ thiện chí phù hợp với cách hành xử đa phương. Trung Quốc thậm chí còn tổ chức một số hội nghị thực thi ở nước mình. Câu hỏi lớn là liệu chủ nghĩa song phương có thực sự hiệu quả để giải quyết vấn đề Biển Đông hay không.

Trung Quốc là nhân tố quan trọng nhất trong an ninh khu vực. Sẽ có một số lo ngại như liệu Trung Quốc có chọn cách tiếp cận cứng rắn cho vấn đề Biển Đông không. Trong một điều trần tại Hạ Viện Hoa Kỳ ngày 13/1/2010, Tư lệnh quân lực Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương đô đốc Robert Willard nói rằng Hải quân Trung Quốc đã tăng cường tuần tra trên Biển Đông và đã "cho thấy sẵn sàng đụng độ với các nước trong khu vực ở biển cả và ở các chuỗi đảo đang tranh chấp"[12] Nếu các kịch bản được mô tả này là đúng, thì các quốc gia Đông Nam Á có lý do để lo lắng. Và điều này sẽ phá hoại tinh thần của DOC.

May mắn là, các nước ASEAN và Trung Quốc mới đây đã thỏa thuận nối lại đối thoại về việc thực thi có hiệu quả DOC.  Họ đang hướng tới một Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC).[13]

HỢP TÁC CHỐNG CƯỚP BIỂN TRONG KHU VỰC

Cướp biển là mối đe dọa thường xuyên đối với an ninh biển của toàn thể thế giới. Số liệu mới nhất cho thấy năm 2009 toàn thế giới có 406 vụ cướp biển, nhiều nhất kể từ năm 2003. Cướp biển ở Biển Đông cũng tăng lên vào năm 2009  -  từ Tháng 1 đến tháng 9 năm 2009,  có  đến mười vụ so với 3 vụ cùng thời kỳ năm 2008.

Trung Quốc đã nhận thấy rằng họ không thể một mình chống lại cướp biển ở các vùng biển liền kề. Hợp tác khu vực là cần thiết thì mới có hiệu quả. Nhằm mục đích này, Trung Quốc đã ký Tuyên bố chung về Hợp tác trong các vẫn đề an ninh phi truyền thống với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) tháng 11 năm 2002. Hiệp định này đòi hỏi hợp tác toàn diện giữa các nước ASEAN và Trung Quốc trong các vấn đề an ninh phi truyền thồng và xác định các kiểu hợp tác ưu tiên. Các ưu tiên đó bao gồm "chống vận chuyển ma túy trái phép, buôn lậu người kể cả phụ nữ và trẻ em, cướp biển, khủng bố, buôn lậu vũ khí, rửa tiền, tội phạm kinh tế quốc tế và tội phạm tin học." Trong cả hợp tác đa phương và song phương, có các mục tiêu sau:

·                 Tăng cường trao đổi thông tin

·                 Tăng cường trao đổi nhân sự, đào tạo và nâng cao việc xây dựng năng lực

·                 Tăng cường hợp tác thực tiễn trong các vấn đề an ninh phi truyền thống

·                 Tăng cường nghiên cứu chung về các vấn đề an ninh phi truyền thống

·                 Khảo sát các lĩnh vực và các mô hình hợp tác khác [14] 

Thêm vào đó, Tuyên bố DOC năm 2002 [15] nhằm mục tiêu ngăn chặn cướp biển và cướp có vũ trang trên biển. Thực ra, dựa vào Tuyên bố này, Trung Quốc đã bảo trợ nhiều hội thảo về các vấn đề an ninh phi truyền thống. Ví dụ Viện Nghiên cứu Hải Nam Trung Quốc đã tiến hành hội thảo đào tạo về an ninh biển ở eo biển Malacca cho các quan chức chính phủ các nước Đông Nam Á vào tháng 12 năm 2007.

Những nỗ lực này ở khu vực lên tới đỉnh điểm trong Hiệp định quan trọng nhất khu vực về chống cướp biển: Hiệp định Hợp tác Khu vực về chống Cướp biển và cướp có vũ trang đối với tàu thuyền tại châu Á (ReCAAP) ký tháng 11/2004.  Hiệp định có hiệu lực từ tháng chín năm 2006, bắt buộc các nước ký kết phải:

·                 Ngăn chặn và tiêu diệt cướp biển và cướp bóc có vũ trang đối với các tàu biển

·                 Bắt giữ cướp biển hoặc những kẻ phạm vào việc cướp bóc có vũ trang đối với các tàu biển

·                 Bắt giữ tàu biển hoặc máy bay dùng vào việc cướp biển hoặc cướp bóc có vũ trang đối với các tàu biển

·                 Cứu hộ những tàu biển nạn nhân và những nạn nhân của cướp biển hoặc cướp bóc có vũ trang đối với các tàu biển[16]. Ngăn chặn cướp biển hoặc cướp bóc có vũ trang đối với các tàu biển tới hết mức có thể phù hợp với luật pháp và quy định quốc gia tương ứng và phù hợp với nguồn lực và năng lực của mình

·                 Hỗ trợ pháp lý lẫn nhau cũng như dẫn độ nhằm tiêu diệt và trừng trị cướp biển.

Ngoài các điều khoản này ra, hiệp định còn thành lập một Trung tâm Chia sẻ Thông tin (ISC). Trung tâm chính thức hoạt động vào tháng 11 năm 2007 tại Singapore.[17]

ReCAAP là hiệp định quốc tế đặc thù đầu tiên nhằm ngăn chặn và tiêu diệt cướp biển. Bởi vì điều này còn mới mẻ nên nó trở thành khuôn mẫu cho các giàn xếp pháp lý khác ở khu vực. Có tin là một Bộ Quy tắc ứng xử tương tự cũng đã được ký kết ở Tây Ấn Độ Dương.

Đặc biệt để xử lý riêng về vấn đề eo biển Malacca, chính phủ  Singapore và IMO đã cùng triệu tập "Hội nghị về Eo biển Malacca và Singapore: Nâng cao An toàn, An ninh và Bảo vệ Môi trường". Tại  Hội nghị này, Cơ chế Hợp tác cho  Eo biển Malacca và Singapore đã được thành lập năm 2007.  Cơ chế bao gồm Diễn đàn Hợp tác, Ủy ban Dự án Hợp tác, và Quỹ Hỗ trợ Hàng hải. Trung Quốc là một trong số các nước ở khu vực bày tỏ sự ủng hộ mạnh mẽ cho sáng kiến này.

PHÂN ĐỊNH BIÊN GIỚI BIỂN

Thỏa thuận chính thức duy nhất liên quan đến việc phân định biên giới biển giữa Trung Quốc và các nước láng giềng là Hiệp định giữa Trung Quốc – Việt Nam về việc phân định biên giới biển ở Vịnh Bắc Bộ. Để hiểu được trường hợp này, cần xem xét  bối cảnh rộng hơn  của quan hệ biên giới Việt-Trung.

Hai nước bình thường hóa quan hệ ngoại giao vào tháng 11 năm 1991, sau một thời gian dài căng thẳng tiếp theo cuộc Chiến tranh Biên giới Trung-Việt năm 1979.  Các vấn đề biên giới tiếp tục là một vấn đề nhạy cảm trong quan hệ song phương; thực tế, cuộc Chiến tranh Biên giới Trung-Việt đã bắt đầu với vô số vụ va chạm có vũ trang dọc theo biên giới. Chính vì vậy mà cả hai bên đều đưa vấn đề biên giới thành ưu tiên số một để giải quyết các tranh chấp sau khi bình thường hóa quan hệ ngoại giao. Tháng 10  năm 1993,  hai bên ký kết một hiệp định đưa ra những nguyên tắc cơ bản để giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ. Theo đó, hai bên cam kết không tiến hành các hoạt động có khả năng làm phức tạp thêm các tranh chấp trong tiến hành các cuộc đàm phán.

Cũng nên nhớ rằng, trong khi Hiệp ước Pháp-Thanh năm 1887 phân định biên giới Trung -Việt áng chừngkhông có sự phân giới chính xác nào diễn ra. Đây chính là một nguồn gốc gây ra căng thẳng và xung đột. Năm 1999, cuối cùng thì hai quốc gia cũng đạt được một thỏa thuận về biên giới trên đất liền. Cuối năm 2008, đường phân giới đã hoàn thành.

Hiệp định Vịnh Bắc Bộ cho thấy hai bên đã có nỗ lực như nhau để phân định đường biên giới trên biển. Hiệp định này được ký kết sau nhiều vòng đàm phán vào năm 2000. Theo Hiệp định này, chiều dài của đường phân định khoảng 500 km. Đường này có 21 mốc địa lý, trong đó từ mốc 1 đến 9 phân định lãnh hải và các điểm từ 9 đến 21 phân định các Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ)  và các thềm lục địa của hai nước ở Vịnh Bắc Bộ.[18] Vì đây là Hiệp định đầu tiên thuộc dạng này mà Trung Quốc đạt được với các nước láng giềng, Hiệp định này có thể là một tấm gương tốt. Với Việt Nam, Hiệp định biên giới biển này cũng được đánh giá là toàn diện mà nước này đạt được. Tuy nhiên, trong trường hợp này, nó lại chỉ là cái thứ hai trong ba hiệp định biên giới Việt Nam đã ký với các quốc gia láng giềng.

 

Trung Quốc và Việt Nam cũng ký đã một hiệp định mới về quản lý nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ.  Hiệp định này quy định sử dụng hợp lý và phát tiển bền vững các nguồn cá và thiết lập Vùng đánh cá chung rộng khoảng 30.000 km2. Theo một khảo sát khoa học, việc đánh bắt cá bền vững ở Vịnh là 600.000 tấn mỗi năm; song trong những năm gần đây, lượng cá đánh bắt của cả hai nước Trung Quốc và Việt Nam đã đạt tới một triệu tấn. Do đó, sự quản lý bền vững song phương các nguồn cá là một biện pháp được đón nhận để ngăn ngừa suy kiệt nguồn tài nguyên cá.

Vịnh Bắc Bộ là một vùng biển chung nhau giữa Trung Quốc và Việt Nam. Bằng cách ký kết các hiệp định nói trên, hai quốc gia đã mở ra một giai đoạn mới cùng hợp tác trên biển trong quan hệ song phương. Nhằm thực hiện hiệu quả các hiệp định, hai bên đã tiến hành tuần tra chung và khảo sát khoa học. Cùng với đó, hai bên cũng đã ký một hiệp định khung về hợp tác thăm dò dầu khí trong tương lai ở Vịnh Bắc Bộ.

QUẢN LÝ CÁC NGUỒN CÁ

Ngoài Việt Nam, Trung Quốc cũng đã kýcác hiệp định về nghề cá với Nhật Bản và Hàn Quốc. Mặc dù các hiệp định này mới nhìn có vẻ không có giá trị lắm, song trên thực tế chúng có đóng góp lớn đề thúc đẩy các quan hệ ngoại giao trên biển.

Đối với Trung Quốc và Nhật Bản, hiệp định về nghề cá là một bước quan trọng tiến tới giải quyết vấn đề biên giới biển. Việc Công ước LHQ về Luật Biển có hiệu lực vào năm 1994 dẫn tới hỗn loạn hoàn toàn. Vì nơi rộng nhất của Biển Hoa Đông cũng chỉ nhỏ hơn 400 hải lý, nên chiều dài của các Vùng đặc quyền kinh tế EEZ được gán cho trong hiệp định  thực tế có nghĩa là các vùng biển của Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc sẽ chồng lấn lên nhau. Tình trạng này không bền vững; các bên cần điều chỉnh nhằm tránh các xung đột về lợi ích trong việc đánh bắt cá.

Sau một số vòng thương lượng, Trung Quốc và Nhật Bản đạt được một Hiệp định về quản lý nghề cá ở Biển Hoa Đông tháng chín năm1997.[19] Hiệp định này có hiệu lực vào tháng sáu năm 2000. Hiệp định có một số điều khoản quan trọng nhằm đáp ứng với tình hình đã thay đổi. Trước hết, hiệp định tái khẳng định nguyên tắc bảo vệ và bảo tồn nguồn cá. Điều này chiểu theo các điều khoản tương ứng trong Công ước LHQ về Luật Biển và những đòi hỏi về môi trường của Agenda 21. Hai bên đồng ý hợp tác để tiến hành nghiên cứu khoa học về nghề cá và bảo tồn các tài nguyên sống ở biển.[20] Khi tham gia vào các hoạt động đánh bắt cá tại EEZ của một nước khác, ngư dân phải tôn trọng các biện pháp bảo tồn và các luật liên quan khác của nước đó. Các quốc gia cần thông tin cho nhau về các luật và quy định tương ứng về bảo tồn nghề cá.[21]

Hai là, Trung Quốc cho ngư dân Nhật Bản quyền được đánh bắt cá trên EEZ của mình và ngược lại. Các nhà chức trách có thẩm quyền của mỗi quốc gia cấp giấy phép đánh bắt cá cho người và tầu đánh cá của nước bên kia và có thể thu một khoản phí thích hợp khi cấp các giấy phép đó. Việc cấp phép cần tuân theo các điều khoản tương ứng của Hiệp định. Tuy nhiên, cần phải cấp bao nhiêu giấy phép và bao nhiêu tấn cá được phép đánh bắt là một vấn đề khó khăn và phức tạp đòi hỏi tiếp tục đàm phán. Hơn nữa, Hiệp định cũng không bao gồm khu vực EEZ nằm ở phía nam 270 Bắc và phía tây của 125030' Đông trong Biển Hoa Đông, là các vùng có Đài Loan và quần đảo Điếu Ngư đang tranh chấp.

Thứ ba là, Hiệp định thành lập một Ủy ban Liên hợp về Nghề cá Trung-Nhật để thực hiện Hiệp định. Ủy ban gồm có bốn thành viên, mỗi bên cử ra hai người. Các quyết định dựa trên sự đồng thuận của các thành viên. Cả hai quốc gia phải tôn trọng các khuyến nghị của Ủy ban đưa ra và tiến hành các biện pháp phù hợp với các quyết định đó. Ủy ban có thể được triệu tập hàng năm hoặc ở Trung Quốc hoặc ở Nhật Bản. Nếu cần, cũng có thể có những cuộc họp bất thường.[22] Những dàn xếp tương tự cũng có trong các hiệp định nghề cá giữa Trung Quốc và Hàn Quốc và giữa Trung Quốc và Việt Nam.

Cuối cùng, Hiệp định về nghề cá cũng tạo ra một số bước tiến trong việc phân định biên giới biển bằng việc thiết lập một khu vực áp dụng các biện pháp tạm thời (Provisional Measures  Zone - PMZ).  PMZ  nằm ở giữa Biển Hoa Đông, cách đường cơ sở của Trung Hoa đại lục và bờ biển của đảo Ryukyu 52 hải lý. Giới hạn phía Bắc của đường này là vĩ tuyến 30040'Bắc và giới hạn phía Nam của đường này là vĩ tuyến 270 Bắc. Hai bên đồng ý bảo vệ các nguồn hải sản sống trong khu vực PMZ, dựa trên các quyết định của Ủy ban Liên hợp về nghề cá. Mỗi quốc gia chịu trách nhiệm đối với người của nước mình đánh bắt cá trong vùng PMZ, nhưng không nên áp đặt các biện pháp đối với người của nước kia đang hoạt động ở đó.

Việc thiết lập một khu vực đánh bắt cá chung là một dạng thức điển hình về hợp tác đánh bắt cá được thấy ở nhiều nơi trên thế giới. Do vậy, khu vực PMZ  Trung-Nhật không có gì mới. Cái mới ở đây là, khu vực PMZ này là khu vực đầu tiên giữa Trung Quốc và Nhật Bản  - nó cho thấy việc hợp tác trên biển giữa hai quốc gia đã đi vào một thời kỳ mới.

KẾT LUẬN

Trong quan hệ quốc tế, xung đột và hợp tác luôn tồn tại cùng với nhau. Trung Quốc và các nước láng giềng không phải là ngoại lệ. Ta chỉ có thể hy vọng rằng xung đột trong khu vực có thể giảm thiểu đến mức tối đa và hợp tác ngày càng được thúc đẩy và làm sâu sắc hơn nữa.

Công ước LHQ về Luật Biển đã thiết lập một chế độ hoạt động theo pháp luật cho các đại dương. Công ước được mô tả như là một bản "hiến pháp” cho các dại dương.[23] Tuân thủ luật pháp quốc tế là một trong những đòi hỏi đối với các quốc gia trong quan hệ quốc tế, Công ước LHQ về Luật Biển làm được nhiều hơn là chỉ đưa ra những điều luật. Một điều khoản đặc biệt yêu cầu các quốc gia thành viên phải phối hợp các hoạt động bảo tồn và nghiên cứu khoa học của mình trong khu vực.[24] Điều khoản này có lẽ ở điểm nào đó cũng được mở rộng sang cả lĩnh vực an ninh biển.

Vì Trung Quốc đang trỗi dậy, nước này chắc chắn đang hướng lợi ích của mình ra biển. Cần nhớ lại rằng năm 2005, Trung Quốc kỷ niệm 600 năm ngày sinh của Zheng He,[25] một nhà hàng hải vĩ đại triều Minh (1368-1644),  người đã lãnh đạo các hạm đội của Trung Quốc qua bảy cuộc viễn du tới Tây Phi đầu thế kỷ thứ 15. Làm lễ kỷ niệm Zheng He biểu hiện ý định của chính phủ Trung Quốc làm sống lại vinh quang hải quân Trung Quốc trong quá khức. Mặt khác, hải quân Trung Quốc hiện nay đang mở rộng hoạt động của mình ra ngoài vùng biển khơi và đang bàn xem liệu có nên trang bị tàu sân bay không. Rõ ràng là Trung Quốc đang quyết tâm trở thành cường quốc biển một lần nữa.

Tuy nhiên, những tham vọng này có thể khiến các nước láng giềng nghi ngờ liệu Trung Quốc có thực sự là thành viên có trách nhiệm trong các vấn đề quốc tế hay không, đặc biệt đối với các vấn đề an ninh biển. Một hình ảnh quá quyết đoán có khả năng phá hoại mục đích của Trung Quốc biến cả Biển Hoa Đông và Biển Đông thành vùng biển của hòa bình, hợp tác và hài hòa. Vì lý do đó mà cần đề xuất một kiểu "quyền lực thông minh" đối với chính sách biển của Trung Quốc. Nếu làm được điều này, Trung Quốc có khả năng tạo thành một tấm gương tốt cho các quốc gia khác ở châu Á noi theo. Nếu các quốc gia trong khu vực cùng hành động thì hòa bình và an ninh trên biển mới có thể được duy trì dài lâu.

GS. Keyuan Zou, Khoa Luật, Đại học Trung tâm Lancashire, Vương quốc Anh

Quang Hưng dịch

Bản gốc tiếng Anh “CAN CHINA RESPECT THE LAW OF THE SEAS?: An Assessment of Maritime Agreements Between China and its NeighborsBài viết được in trong Series đặc biệt của tạp chí Harvard Asia Quarterly với chủ đề "The Disputed Sea - Maritime Security in East Asia" tháng 12/2010.

Đề nghị chỉ được dẫn đường link bài viết này,  không cắt đăng lại khi chưa có sự đồng ý của Ban Biên tập NCBĐ.

 



[1] Toàn văn có tại http://www.un.org/Depts/los/convention_agreements/texts/unclos/closindx.htm, truy cập 4 Tháng 11 năm 2010.

[2] Li Haiqing, "Reflections on Our Strategy for Ocean Development in East Asian Seas," Ocean Development and Management (tiếng Trung) 1 (2005): 10.

[3] Cuộc họp lần thứ 13 giữa Trung Quốc và Hàn Quốc được tổ chức tại Qingdao, Trung Quốc vào ngày 4/7/2008.

[4] Toàn văn Hiệp định, xem: http://www.chinadaily.com.cn/china/2008-06/18/content_6774860.htm,, truy cập ngày 19/6/2008.

[5] Yann-huei Song, "Okinotorishima: “A ‘Rock’ or an ‘Island’? Recent Maritime Boundary Controversy between Japan and Taiwan/China,” Maritime Boundary Disputes, Settlement Processes, and the Law of the Sea, ed. Seoung-Yong Hong and Jon M. Van Dyke (Leiden: Martinus Nijhoff, 2009), 148.

[6] Qin Jize, Li Xiaokun và Cheng Guangjin, "Japan Atoll Expansion ‘Hurt Neighbors’," China Daily, 11/2/2010, truy cập ngày 14/10/2010  http://www.chinadaily.com.cn/world/2010-02/11/content_9461259.htm

[7] "Proposal for the inclusion of a supplementary item  in the agenda of the nineteen Meeting of States Parties: Note verbale Dated 21 May 2009 from the Permanent Mission of China to the United Nations addressed to the Secretary-General”, SPLOS 196, 22/5/2009,  truy cập ngày 14/10/2010, http://daccess-dds-ny.un.org/doc/UNDOC/GEN/N09/346/61/PDF/N0934661.pdf?OpenElement

[8] Hai đề xuất này được in lại trong Selected Foreign and Chinese Articles on the South China Sea(2001), ed. Hainan Research Institute for the South China Sea (Hainan: Haikou, 2002) (in Chinese), 180-183.

[9] Các bản dự thảo Quy tắc ứng xử của cả ASEAN và Trung Quốc được in lại trong Collection of Selected Foreign and Chinese Papers on the South China Sea, 180-183.

[10] Toàn văn có tại http://www.aseansec.org/13163.htm, truy cập ngày 18/10/2010.

[11] “Beijing: South China Sea Territorial Disputes Not on ASEAN Agenda,” VOA News, chỉnh sửa lần cuối ngày 21/10/2009, http://www.voanews.com/english/2009-10-21-voa20.cfm, truy cập ngày 11/11/2009.

[12] "Choppy Waters: East and south, China makes a splash," Economist bản in ngày 21/1/2010, truy cập ngày 15/10/2010 http://www.economist.com/world/asia/displaystory.cfm?story_id=15331153.

[13] Xem "Press Release on the 13th ASEAN – China Summit,”" Hà Nội, ngày 29/10/2010, truy cập ngày 1/11/2010,  http://asean2010.vn/asean_en/news/36/2DA9D9/Press-release-on-the-13th-ASEAN-CHINA-summit

[14] Xem "Joint Declaration of ASEAN and China on Cooperation in the field oì Non-Traditional Security Issues, 6th ASEAN-China Summit," 4/11/2002, truy cập ngày 18/10/2010 http://www.aseansec.org/13185.htm

[15] "Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea", truy cập ngày 18/10/2010, http://www.aseansec.org/13163.htm

[16] Điều 3 ReCAAP. Toàn văn tại "Regional Cooperation Agreement on Combating Piracy and Armed Robbery against Ships in Asia," truy cập 18/10/2010, http://www.recaap.org/about/pdf/ReCAAP%20Agreement.pdf

[17] Thông tin về các hoạt động của trung tâm này có tại http://www.recaap.org/index_home.html

[18] Chi tiết xem Zou Keyaun, “The Sino-Vietnamese Agreement on Maritime Delimitation in the Gulf of Tokin,” Ocean Development and International Law 36 (2005): 13-24.

[19] Hiệp định nghề cá giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Nhật Bản, Tháng 11/1997. Bản dịch Tiếng Anh không chính thức có tại Zou Keyuan, Law of the Sea in East Asia: Issues and Propects (London: Routledge, 2005), 175-180.

[20] Điều 10 Hiệp định Nghề cá Trung – Nhật

[21] Điều 4 Hiệp định Nghề cá Trung – Nhật

[22] Điều 11 Hiệp định Nghề cá Trung – Nhật.

[23] Xem Tommy Koh, "A Constitution for the Oceans", trong The Law of the Sea: United Nations Convention on the Law of the Sea with Index and Final Act of the Third United Nations Conference on the Law of the Sea (New York: United Nations, 1983), xxxiii.

[24] Điều 123 Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển.

[25] Chi tiết, xem "Envoy of Peace: in Commemoration of the 600th Anniversary of Zheng He’s Great Voyages (1405-1433)", truy cập ngày 16/2/2010, http://www.chinaculture.org/gb/en_focus/node_2478.htm. Khi thủ tướng Ôn Gia Bảo phát biểu tại Đại học Cambridge tháng 2/2009, ông đã mô tả Zheng He là "một sứ giả đích thực của tình yêu và hữu nghị", xem: "Premier Wen Says Cooperation Top Priority to Tackle Financial Crisis", sửa đổi lần cuối 3/2/2009, truy cập 16/2/2010, http://au.china-embassy.org/eng/xw/t535003.htm

 

 

Ngôn ngữ