19 - 5 - 2013 | 4:17
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home
Tag:quyền tài phán

Trì hoãn là chiến lược mà Trung Quốc đã sử dụng đối với Biển Đông từ giữa những năm 90 đến nay. Bài viết sẽ đi sâu phân tích vì sao Trung Quốc lại sử dụng chiến lược này và một số kết quả mà Trung Quốc đạt được cũng như tác động như thế nào đối với khu vực

 

Bài viết phân tích cách ứng xử của Trung Quốc trong tranh chấp Biển Đông thông qua lăng kính chiến lược của Trung Quốc quản lý các tuyên bố chủ quyền. Từ giữa những năm 1990, Trung Quốc đã theo đuổi chính sách trì hoãn giải pháp cho tranh chấp. Mục tiêu của chiến lược này là củng cố các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc, đặc biệt là các tuyên bố về chủ quyền các vùng biển hay quyền tài phán đối với các vùng nước này, và răn đe các nước khác củng cố tuyên bố chủ quyền của họ mà gây tổn hại đến lợi ích của Trung Quốc, bao gồm các dự án phát triển nguồn tài nguyên mà Trung Quốc không được tham gia. Kể từ giữa những năm 2000, mức độ các nỗ lực của Trung Quốc nhằm củng cố các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc và răn đe các bên tuyên bố chủ quyền khác đã tăng lên thông qua các biện pháp về ngoại giao, hành chính và quân sự. Mặc dù chiến lược của Trung Quốc là tìm cách củng cố các tuyên bố chủ quyền của mình, nhưng Trung Quốc cũng đe dọa các quốc gia yếu hơn trong tranh chấp và theo đó Trung Quốc đang làm bất ổn định khu vực. Kết quả là, chiến lược trì hoãn bao gồm các nỗ lực ngăn cản leo thang căng thẳng tuy nhiên trong khi đó Trung Quốc vẫn tiếp tục tìm cách củng cố chủ quyền của mình.

Trong những năm gần đây, không một tranh chấp vùng biển nào gây ra sự chú ý nhiều hơn tranh chấp về đảo, đá ngầm và các vùng nước tại Biển Đông. Tranh chấp bao gồm các tuyên bố chồng chéo của sáu chính phủ đối với chủ quyền lãnh thổ và các quyền chủ quyền các vùng biển, bao gồm các tuyến đường biển chính kết nối từ Đông Nam Á với Đông Bắc Á, bao gồm các khu vực đánh bắt cá rộng lớn và có thể chứa đựng lượng dự trữ dầu và khí ga lớn. Trong tranh chấp Biển Đông không một quốc gia nào gây ra sự chú ý nhiều hơn nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (PRC) do tuyên bố chủ quyền một vùng rộng lớn, trong quá khứ đã sử dụng vũ lực để đánh chiếm các đảo và vùng nước và năng lực hải quân ngày càng mạnh lên.

Bài viết này phân tích cách ứng xử của Trung Quốc trong tranh chấp tại Biển Đông thông qua lăng kính chiến lược của Trung Quốc quản lý các tuyên bố chủ quyền. Từ giữa những năm 1990, Trung Quốc đã theo đuổi chính sách trì hoãn giải pháp cho tranh chấp. Mục tiêu của chiến lược này là củng cố các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc, đặc biệt là các tuyên bố về chủ quyền các vùng biển hay quyền tài phán đối với các vùng biển này, và răn đe các nước khác củng cố tuyên bố chủ quyền của họ gây tổn hại đến lợi ích của Trung Quốc, bao gồm các dự án phát triển nguồn tài nguyên mà Trung Quốc không được tham gia. Kể từ giữa những năm 2000, mức độ các nỗ lực của Trung Quốc nhằm củng cố các tuyên bố chủ quyền và răn đe các nước khác đã tăng nhanh thông qua các biện pháp ngoại giao, hành chính và quân sự. Mặc dù chiến lược của Trung Quốc là nhằm củng cố các tuyên bố chủ quyền của mình nhưng Trung Quốc cũng tìm cách đe dọa các nước yếu hơn trong tranh chấp và như vậy đã đang tạo ra sự bất ổn tại khu vực. Đây à kết quả là chiến lược trì hoãn bao gồm các nỗ lực ngăn chặn leo thang căng thẳng giữa các bên tuyên bố chủ quyền.

Bài viết được trình bày như sau. Các tuyên bố chủ quyền và lợi ích của Trung Quốc tại Biển Đông, mà xác định các mục tiêu và bối cảnh cho chiến lược của Trung Quốc, được phân tích trong phần tiếp theo. Tiếp theo, bài viết miêu tả việc sử dụng chiến lược trì hoãn từ những năm 1949 và hai giai đoạn Trung Quốc sử dụng vũ lực là vào năm 1974 tại Nhóm đảo Lưỡi liềm (Cresent Group) tại quần đảo Hoàng Sa và vào năm 1988 đối với dải đá ngầm Johnson (Johnson Reef) tại quần đảo Trường Sa. Hai phần tiếp theo này phân tích các hợp phần quân sự, hành chính và ngoại giao trong chiến lược trì hoãn của Trung Quốc và các nỗ lực quản lý căng thẳng kể từ mùa hè năm 2011. Cuối cùng, bài viết phân tích các tác động đối với hợp tác và xung đột trong tranh chấp.

Các tuyên bố chủ quyền và Lợi ích tại Biển Đông của Trung Quốc

Đối với Biển Đông, Trung Quốc tuyên bố chủ quyền lãnh thổ đối với hai nhóm đảo và các quyền chủ quyền các vùng biển đối với các vùng nước liên quan. Cơ sở hiện nay cho tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc là bài phát biểu của Thủ tướng Chu Ân Lai vào tháng 8 năm 1951 trong các cuộc đàm phán ký hòa ước của Đồng minh với Nhật Bản. Trong bài phát biểu này, Chu Ân Lai đã tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa[1]. Tháng 9 năm 1958, Trung Quốc tái khẳng định tuyên bố chủ quyền đối với các đảo này khi Trung Quốc khẳng định quyền chủ quyền đối với các vùng nước trong thời gian khủng hoản Kim Môn. Tuyên bố năm 1958 đánh dấu lần đầu tiên Trung Quốc gắn tuyên bố chủ quyền lãnh thổ với đòi hỏi quyền chủ quyền các vùng biển, trong trường hợp này, quyền chủ quyền với các vùng lãnh hải. Từ giữa những năm 1970 cho đến nay, các phát biểu chính thức của chính phủ đã được sử dụng chủ yếu là cùng một ngôn ngữ để thể hiện tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc. Tuyên bố thường được diễn đạt: “Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với quần đảo Trường Sa (hay là các đảo ở Biển Đông) và các vùng nước liền kề.”

Khi thể chế luật pháp quốc tế về vùng biển đã phát triển, Trung Quốc bắt đầu pháp điển hóa các tuyên bố chủ quyền của mình đối với các quyền chủ quyền các vùng biển thông qua việc đưa ra nội luật của mình.  Các luật này hòa hợp hệ thống pháp luật của Trung Quốc với các yêu cầu của Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS). Năm 1992, Quốc hội (NPC) thông qua Luật về Lãnh Hải Vùng Tiếp giáp của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, trong đó tái khẳng định nội dung của tuyên bố 1958 nhưng ngôn ngữ thì cụ thể hơn. Tiếp sau luật này, Trung Quốc thông qua đường cơ sở cho các vùng nước của mình vào năm 1966. Năm 1998, Quốc hội Trung Quốc thông qua luật về Vùng Đặc quyền kinh tế và Thềm lục địa của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, trong đó Trung Quốc tuyên bố thêm quyền các vùng biển nhiều hơn  được ghi trong luật năm 1992.[2] Luật vùng đặc quyền kinh tế không đề cập đến quần đảo Hoàng Sa hay Trường Sa, nhưng khi kết hợp với luật lãnh hải năm 1992, nó cung cấp cơ sở cho tuyên bố các quyền chủ quyền các vùng biển tại Biển Đông. Tháng 4 năm 2011, Trung Quốc  xác nhận việc diễn dịch luật này trong công hàm gửi đến Ủy ban của Liên Hợp Quốc về Giới hạn thềm lục địa (CLCS) nói rằng các đảo thuộc quần đảo Trường Sa hoàn toàn “có quyền” tạo ra vùng lãnh hải, đặc quyền kinh tế và thềm lục địa[3].

Phạm vi của các tuyên bố của Trung Quốc là các quyền chủ quyền chủ quyền các vùng biển hay quyền tài phán, tuy nhiên, vẫn còn nhiều mập mờ. Trước tiên, nhiều trong số các vùng đất Trung Quốc tuyên bố chủ quyền không đáp ứng được yêu cầu là đảo theo như điều 121(3) của UNCLOS và theo đó không thể tạo ra vùng đặc quyền kinh tế. Trung Quốc có lẽ có thể tuyên bố phần lớn các đảo của Quần đảo Trường Sa cũng như là đảo Phú Lâm của Hoàng Sa và đảo Ba Bình (hiện đang bị Đài Loan chiếm đóng)[4]. Các tuyên bố chủ quyền như vậy, tuy nhiên, chỉ cho thấy thái độ mở rộng tối đa với lãnh thổ, trong khi UNCLOS yêu cầu các quốc gia giải quyết tranh chấp khi các tuyên bố vùng đặc quyền kinh tế chồng lấn.

Điều mập mờ thứ hai liên quan đến câu hỏi chủ quyền lịch sử mà Trung Quốc có thể tuyên bố tại Biển Đông. Điều 14 của luật vùng đặc quyền kinh tế năm 1998 của Trung Quốc  quy định “luật biển sẽ không ảnh hưởng đến các quyền lịch sử mà Cộng hòa Nhân đân Trung hoa có”. Mặc dù một số nhà nghiên cứu chính sách đã gợi ý rằng Biển Đông là vùng nước lịch sử, luật năm 1998 không xác định nội dung hay phạm vi của chủ quyền lịch sử này[5]. Hơn thế nữa, không có luật nào của Trung Quốc miêu tả những cái quyền này có thể bao gồm[6].

“Đường chín đoạn” xuất hiện trên các bản đồ chính thức của Trung Quốc trong khu vực tạo ra sự mơ hồ thứ ba. Đường chín đoạn này ban đầu được vẽ vào những năm 1930, bắt đầu xuất hiện trên bản đồ chính thức của Cộng hòa Trung Hoa (ROC) năm 1947 và đã xuất hiện trên các bản đồ của PRC kể từ năm 1949. Cả ROC và PRC đều đã không từng định nghĩa dạng tuyên bố chủ quyền nào đường chín đoạn này thể hiện. Đến ngày nay, đường chín đoạn vẫn không được xác định. Ví dụ, mặc dù Trung Quốc đã bao gồm một bản đồ đường chín đoạn trong công hàm gửi CLCS vào tháng 5 năm 2009, Trung Quốc chưa bao giờ định nghĩa đường này hay tuyên bố các chủ quyền lịch sử mà một số học giả đã thảo luận là đường chín đoạn ám chỉ[7].

Nếu các tuyên bố chính thức và luật của Trung Quốc được xác định giá trị, thì chỉ có một cách giải thích về đường này có thể được: đường miêu tả tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc với các đảo và các vùng khác nằm trong đường này, có thể kể tên như là quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Khi Trung Quốc công bố đường cơ sở vào nằm 1996, Trung Quốc vẽ đường cơ sở xung quanh quần đảo Hoàng Sa nhưng không vẽ tại quần đảo Trường Sa. Đạo luật này cho thấy Trung Quốc có ý định sẽ tiếp tục tuyên bố chủ quyền của mình đối với các quyền các vùng biển (chứ không phải là chủ quyền với các đảo) tại Biển Đông thông qua UNCLOS, theo như cam kết của Qichen năm 1995[8]. Nếu như đường chín đoạn đại diện cho bất cứ điều gì khác với tuyên bố chủ quyền cho các đảo kèm theo từ đó Trung Quốc tuyên bố các quyền vùng biển, sau đó Trung Quốc sẽ không cần thiết phải tuyên bố các vùng lãnh hải vào năm 1958 hay vẽ đường cơ sở xung quanh quần đảo Hoàng Sa đã nằm trong đường chín đoạn. Như Daniel Dzurek đã quan sát, việc phân định đường cơ sở xung quanh Hoàng Sa là “không nhất quán về mặt lô gic” với tuyên bố chủ quyền các vùng nước hay các cách giải thích khác của đường chín đoạn này[9].

Sự không sẵn lòng hay không có khả năng của chính quyền Trung Quốc trong việc định nghĩa đường chín đoạn, tuy nhiên, tạo ra khoảng trống cho nhiều các diễn viên đề xuất các cách diễn dịch cạnh tranh khác nhau về đường này[10]. Cục quản lý Đánh bắt cá Khu vực Biển Đông (SSRFAB), ví dụ, miêu tả các hoạt động của mình là nhằm bảo vệ các ngư dân Trung Quốc khi họ hoạt động trong “đường biên giới truyền thống”[11]. Báo chính thức của Quân đội Giải phóng Nhân dân (PLA), tờ Jiefangjun Bao, đôi khi đề cập đến “đường biên giới lãnh hải truyền thống” tại Biển Đông[12]. Từ những năm 1980, có nhiều chủ thể liên quan đến vùng biển như Hải quân Giải phóng Nhân dân (PLAN) và Lực lượng Hải giám thuộc Cơ quan quản lý Biển, đều cử tầu đến bãi đá Johnson, một vùng đá chìm dưới nước được cho như là vùng đầu phía Nam tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc tại biển Đông. Trên thực tế, các quốc gia theo như UNLCOS không thể tuyên bố chủ quyền đối với các vùng chìm dưới không gắn kết với đất liền. Tuy nhiên, tính biểu tượng của hành động này là nhất quán với cách diễn dịch rộng về “đường chín đoạn”.

Trung Quốc theo đuổi nhiều lợi ích thông qua các tuyên bố đối với chủ quyền lãnh thổ và quyền chủ quyền các vùng biển tại Biển Đông. Như chỉ huy trưởng của PLAN Đô đốc Liu Huaqing (Lưu Hoa Thanh) đã nhận xét, “bất cứ ai kiểm soát quần đảo Trường Sa sẽ thu được lợi ích to lớn về kinh tế và quân sự”[13]. Về mặt kinh tế, tài phán đối với các vùng nước này sẽ cho phép Trung Quốc quyền tiếp cận đối với các nguồn tài nguyên biển trên Biển Đông, đặc biệt là nguồn khí hydrocarbons và cá. Các nguồn số liệu từ Trung Quốc cho biết có khoảng 105 tỉ thùng dự trữ khí hydrocarbon quanh khu vực quần đảo Trường Sa. Trong khi đó Biển Đông đóng góp một số lượng lớn lượng cá đánh bắt hàng năm của Trung Quốc[14].  Phần lớn thương mại của Trung Quốc cũng được đưa qua vùng biển này, bao gồm 80% nhập khẩu dầu của Trung Quốc[15]. Về mặt quân sự, Biển Đông tạo nên vùng biển đệm cho các tỉnh phía Nam Trung Quốc và sẽ là sân chơi quyết định cho các hoạt động trong một cuộc xung đột về vấn đề Đài Loan với Mỹ. Bất cứ nỗ lực nào nhằm phong tỏa Trung Quốc trong thời chiến cũng sẽ xảy ra tại các vùng nước này.

Liệu cách Trung Quốc gọi Biển Đông là “lợi ích cốt lõi” có tương ứng với Tây Tạng hay Đài Loan hay không đã thu hút nhiều sự chú ý vào năm 2010. Tờ New York Times báo cáo vào tháng 4 năm 2010 rằng Trung Quốc đã miêu tả Biển Đông như là “lợi ích cốt lõi”[16] . Mặc dù vấn đề này đã được thảo luận nhiều trong các cuộc họp riêng giữa các quan chức của Mỹ và Trung Quốc, không một nhà lãnh đạo cao cấp nào của Trung Quốc đã từng công khai nói rằng Biển Đông là lợi ích cốt lõi của Trung Quốc, không giống như Tây Tạng hay Đài Loan[17]. Ngoại lệ duy nhất dường như là xuất hiện một bài báo tiếng Anh đăng trên Hãng tin Tân hoa xã vào tháng 8 năm 2011[18]. Bài viết miêu tả chủ quyền của Trung Quốc đối với các đảo tại Biển Đông và các vùng nước lãnh hải như là “một phần lợi ích cốt lõi của Trung Quốc”, nhưng không phải là chỉ riêng bản thân Biển Đông.

Liệu các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc có chỗ cho đàm phán? Theo quan điểm của tác giả thì câu trả lời là có. Khi Trung Quốc công bố các đường cơ sở vào năm 1996, Trung Quốc không vẽ đường cơ sở xung quanh bất cứ đảo nào của quần đảo Trường Sa. Trung Quốc cũng không vẽ đường cơ sở xung quanh các vùng tranh chấp, bao gồm Đảo Điếu Ngư và Đài Loan. Điều này cho thấy sự công nhận tranh chấp và khả năng Trung Quốc có thể thỏa hiệp trong một số bối cảnh trong tương lai. Trung Quốc, do đó, “không trói tay” hay “đốt cầu” bằng cách công bố các đường cơ sở xung quanh các vùng hay khu vực đàm phán có thể cần đàm phán. Nói chung, Trung Quốc cũng đã thỏa hiệp trong các tranh chấp lãnh thổ khác và trong phân định biên giới vùng biển với Việt Nam tại Vịnh Bắc Bộ.

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây

M. Taylor Fravel

Thái Giang (dịch)

Quang Hưng (hiệu đính

Bản gốc tiếng Anh “China’s Strategy in the South China Sea” đăng trên Contemporary Southeast Asia, Vol. 33, No. 3 (2011).



[1] Zhou Enlai Waijiao Wenxuan (Zhou Enlai’s Selected Works on Diplomacy) (Beijing: Zhongyang wenxian chubanshe, 1990), p.40.

[2] Bản sao của các tài liệu này, xem Guojia haiyangju zhengce fagui bangongshi (State Oceanographic Adiministration Office ò Policy, Law, and Regulation), ed., Zhonghua Renmin Gongheguo Haiyang Fagui Xuanbian (Tuyển tập luật biển và các quy định của PRC) (Beijing: Haiyang chubanshe, 2001), pp.1-14.

[3] Công hàm của Trung Quốc gửi Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc, ngày 14/4/2011, (http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submission_files/vnm37_09/chn_2001_re_phl_e.pdf)

[4] These are Taiping (Taiwan), Thitu (Philippines), West  York (Philippines), Spratly (Vietnam) and   Northeast Cay  (Philippines).

[5] For  an  examination  of  these  Chinese  views,  see  Peter  Dutton,  “Through  a Chinese  Lens”,   Proceedings 136,  no.  4  (April 2010):  24–29.


[6] Based   on  a  full-text  search  of  database.


[7] Zou Keyuan, “The  Sino-Vietnamese Agreement on Maritime Boundary Delimitation in  the   Gulf  of  Tonkin”,  Ocean  Development and   International Law  36,  no.  1 (2005):  74.


[8] “Qian  Qichen explains China’s   ‘clear-cut’ position  on  Spratlys  issue,” Xinhua

News   Agency,   1  August 1995.


[9] Daniel Dzurek, “The  People’s Republic of China Straight Baseline Claims”, IBRU Boundary and   Security Bulletin 4,  no.  2  (Summer 1996):  85.


[10] In  a  recent   book,  one   prominent  Chinese analyst  describes  four   different interpretations of the line, including maritime sovereignty, historic waters, historic rights, and  sovereignty over  land features. See  Wu  Shicun, Nansha Zhengduan de  Qiyuan  yu  Fazhan [The  Origins and   Development of  the  Spratlys  Dispute] (Beijing:  Zhongguo jingji  chubanshe, 2010),  pp.   32–39.


[11] “Malaixiya wuli zhuakou wo yi GangAo  liudong yuchuan [Malaysia’s unjustifiable seizure of  a  fishing boat   from   Hong  Kong  and   Macau]”, Nongyebu Nanhaiqu yuzhengju, 30  August  2006,  1459_2006_08_30_1916.html>.


[12] “Haijun diqipi  huhang   biandui  jiaru   zuguo  chuantong  haijiang  xian   [The Navy’s  Seventh Escort  Task  Force  Enters  the  Motherland’s Traditional  Maritime Boundary]”, Jiefangjun  Bao,  3  May  2011,  p.  4


[13] Liu  Huaqing, Liu  Huaqing Huiyilu [Liu  Huaqing’s Memoirs]  (Beijing:  Jiefangjun chubanshe,  2004),  p.  538.


[14] Bernard  D.  Cole,   The   Great  Wall   At   Sea:  China’s  Navy   in  the  Twenty-First Century, 2nd   ed.  (Annapolis: Naval   Institute Press,   2010),  p.  49.


[15] Michael  Lelyveld,  “Mideast  oil  drives  China  disputes”,  Radio  Free   Asia,18  July  2011.


[16] Edward  Wong,   “Chinese military seeks   to  extend its  naval  power”, New   York

Times, 24  April 2010.

[17] Michael D. Swaine, “China’s Assertive Behavior—Part One:  On  ‘Core  Interests’”,China   Leadership  Monitor, no.  34  (Winter 2011).

[18] “China-Philippines  cooperation  depends  on  proper  settlement  of  maritime disputes”,  Xinhua News   Agency,   31  August 2011.


 

Trung Quốc đang đòi hỏi lợi ích của mình theo những cách thức có thể đe dọa đến những nguyên tắc nền tảng đang điều phối quan hệ quốc tế. Xu hướng này được minh chứng rõ nét nhất tại Biển Đông. Mỹ cần can dự để Trung Quốc tuân thủ luật pháp quốc tế hiện hành.

 

Trung Quốc đang đòi hỏi lợi ích của mình theo những cách thức mà có thể đe dọa đến những quy tắc nền tảng đang kiểm soát những lợi ích hàng hải chung toàn cầu. Xu hướng này được minh chứng rõ nét nhất tại Biển Đông, nơi những chính sách và hành động của Trung Quốc đang thách thức đến an ninh và sự ổn định tại đây.

Trung Quốc đang thách thức những quy tắc này theo hai cách. Thứ nhất, nước này đang thách thức đến những điều khoản đã được thiết lập của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS), cho phép các quốc gia tuyên bố Vùng Đặc quyền Kinh tế (EEZ) và thềm lục địa. Thay vào đó, Trung Quốc xác định các quyền tài phán trên biển của mình dựa vào một “đường chín đoạn” mang tính lịch sử, thay vì dựa vào EEZ và thềm lục địa,[1] Quan điểm này liên quan đến cách mà các quốc gia có thể yêu sách một cách hợp pháp các quyền tài nguyên trên biển một cách hợp pháp ngày càng tăng, gây ra xung đột với các nước láng giềng tại Biển Đông.

Thứ hai, Trung Quốc đang thách thức các quyền của hải quân các nước khác trong việc tiến hành các hoạt động, tập trận và thu thập tình báo trong những vùng EEZ của các nước khác. Mặc dù Trung Quốc có lợi ích căn bản đối với trật tự hiện tại, nhưng quan điểm của Bắc Kinh đối với một số quy tắc chính về kiểm soát những hoạt động quân sự trên hệ thống toàn cầu lại có sự khác biệt đối với những quan điểm của Mỹ và các quốc gia khác có quan điểm giống Mỹ. Những hoạt động như vậy của Trung Quốc vừa tạo ra sự bất ổn tại Biển Đông, vừa làm xói mòn những quy tắc luật pháp quốc tế được tạo ra nhằm ngăn chặn sự bất ổn quốc tế và xung đột vũ trang.

Thách thức mà Trung Quốc tạo ra đối với những quy tắc hàng hải hiện tại đang gây ra những rạn nứt đối với hệ thống trật tự toàn cầu mà các nước đã thiết lập sau hai cuộc chiến tranh thế giới nhằm thúc đẩy hòa bình và thịnh vượng. Trong hàng thập kỷ qua, trật tự đó cho phép việc tiếp cận đến những thị trường hàng hóa, nguồn tài nguyên và thương mại, cũng như những cơ chế giải quyết tranh chấp một cách hòa bình. Châu Á, đặc biệt là Đông Á, đã có được những lợi ích vô cùng to lớn từ hệ thống trật tự này. Cụ thể là về kinh tế, Trung Quốc xếp thứ hai, Nhật Bản thứ ba, Hàn Quốc thứ 12, Indonesia thứ 15 và Đài Loan thứ 19 trên thế giới.[2] Mặc dù những rạn nứt trong trật tự hiện tại cho đến giờ vẫn chỉ là những rạn nứt nhỏ ban đầu, nhưng vẫn cần thiết phải có sự lãnh đạo hiệu quả và liên tục của Mỹ để kiềm chế những thách thức mà Trung Quốc tạo ra và củng cố vững chắc đối với nền tảng của trật tự toàn cầu hiện nay.

Ba Trụ cột của Toàn cầu hóa Hiện đại

Quyền tiếp cận các nguồn tài nguyên và thương mại tự do và dựa vào thị trường là một trong những trụ cột của toàn cầu hóa hiện đại. Đó là sự khác biệt chính so với toàn cầu hóa cách đây một thế kỷ và là một yếu tố duy trì ổn định và cho phép tất cả các quốc gia dựa vào đó để tiếp cận những phương thức cho tăng trưởng và phát triển. Đặc biệt, hệ thống này là nhân tố quan trọng nhất tạo ra sự tăng trưởng cho nền kinh tế Trung Quốc. Không giống như Nhật Bản, Đức, là các quốc gia vào thời kỳ đầu thế kỷ trước đã gặp phải sự cô lập từ những cường quốc thực dân – những nước không chịu nhượng bộ đối với những nguồn tài nguyên mà hai quốc gia này cần cho sự phát triển sức mạnh và sự giàu có, Trung Quốc có thể cạnh tranh tìm kiếm nguồn tài nguyên ở một vị thế bình đẳng hợp lý với các cường quốc hiện tại. Trung Quốc được hưởng lợi lớn từ thực tế là nước này không cần phải phá vỡ hệ thống này khi tham gia vào đó. Trong một chừng mực nào đó, có thể nói thế kỉ 20 có sự kết thúc cũng gần tương tự như cái cách mà nó bắt đầu. Theo Alan Taylor, năm 1911, “thị trường vốn toàn cầu có ấn tượng ở mực độ hội nhập…giống như ngày nay”.[3] Đầu tư nước ngoài tính theo tỷ lệ phần trăm tổng sản phẩm quốc nội toàn cầu (GDP) tăng trưởng ổn định từ 1870 đến 1914, giảm mạnh từ 1914 đến những năm 1980 do hai cuộc chiến tranh thế giới và Chiến tranh lạnh ngay sau đó, và sau đó lại tăng trưởng nhanh trong hai thập kỷ cuối thế kỷ 20.[4] Tương tự, thương mại thế giới tính theo tỷ lệ phần trăm GDP toàn cầu là 10% năm 1870, tăng 21% vào năm 1914, giảm xuống còn  9% vào năm 1938 và tăng lên 27 % vào năm 1992.[5]

Tuy nhiên, có những khác biệt chính mang tính cấu trúc giữa toàn cầu hóa của năm 1991 và toàn cầu hóa ngày nay. Năm 1991, những đế quốc rộng lớn đã thống trị trên toàn cầu, đặc biệt là lục địa Á – Âu và châu Phi và các vùng ngoại biên những đế quốc này. Đế quốc Anh và những thuộc địa của nước này bao gồm Vương quốc Liên hiệp Anh; Canada; Úc; New Zealand; Nam Phi; tiểu lục địa Ấn Độ; những phần lớn phía đông, tây và nam châu Phi; Malaysia; những phần phía Nam Mỹ; Trung Mỹ và quần đảo Caribe; Hồng Công và những nhượng địa khác của Trung Quốc; và rất nhiều hòn đảo nằm phân tán rộng khắp toàn cầu. Tổng cộng, Đế quốc Anh đã kiểm soát xấp xỉ 25% lãnh thổ và dân số thế giới, và do đó cũng kiểm soát luôn phần thị trường và nguồn tài nguyên chính của thế giới. Tương tự, Pháp kiểm soát Đông Dương, Madagasca và những hòn đảo khác tại Ấn Độ Dương và xấp xỉ 1/3 châu Phi. Nga kiểm soát trung tâm Âu – Á với xấp xỉ 20% lãnh thổ thế giới, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Đức và Italia tất cả đều trực tiếp kiểm soát những vùng lãnh thổ bên ngoài và nguồn tài nguyên và thị trường của họ.

Năm 1911, chi có 45 quốc gia hoàn toàn độc lập, trong đó 21 quốc gia tại Bắc và Nam Mỹ, chiếm tổng số gần 47%.[6]  Do đó, chỉ với 24 quốc gia còn lại nhưng đã nắm quyền kiểm soát toàn bộ châu Âu, châu Phi, nhiều phần của châu Á, những quần đảo ở châu Á, Úc và châu Đại Dương, cũng như dân số và nguồn tài nguyên của vùng lãnh thổ rộng lớn này. Trung Quốc, mặc dù trên danh nghĩa độc lập nhưng thực tế thì không phải vậy. Cuối năm 1911, một trong những tàn dư cuối cùng của triều đại nhà Thanh một thời hùng mạnh đã sụp đổ, và một nước cộng hòa yếu ớt chỉ mới bắt đầu hình thành từ đống tro tàn. Tại nhiều khu vực, đặc biệt là dọc theo bờ biển, sự ổn định được duy trì không chỉ bởi các chính quyền bản địa mà còn nhờ bởi tám quốc gia bên ngoài tại những phần đất nhượng của Trung Quốc.[7] Trái lại, vào 2011, có 197 quốc gia độc lập trên toàn thế giới.[8]

Do vậy, sự khác biệt chính giữa 1911 và 2011 là sự phân tán rộng lớn hơn về quyền lực chính trị cho phép dân cư bản địa có được nhiều sự tiếp cận thị trường hàng hóa và nguồn tài nguyên hơn. Mặc dù những điều kiện chính trị cục bộ chắc chắn sẽ tạo ra nhiều cách tiếp cận thị trường cho  người bản địa, và cả quyền kiểm soát của họ đối với lợi ích từ những nguồn tài nguyên địa phương hơn, tuy nhiên số lượng quốc gia tham gia vào hệ thống thương mại toàn cầu tăng lên cũng góp phần khuyến khích những nguyên tắc thị trường và cạnh tranh nói chung.

Trụ cột thứ hai của toàn cầu hóa hiện đại là sự phát triển của những thể chế quốc tế khuyến khích sự ổn định về chính trị, kinh tế và quân đội, cho phép các quốc gia tiếp cận một cách chủ động  các nguồn tài nguyên và thị trường. Năm 1911, Công ước Hague (Lahay – ND) – một bộ các  hiệp định rất hạn chế tập trung vào việc tiến hành chiến tranh –  là những hiệp định quốc tế duy nhất lúc đó để ngỏ cho tất cả quốc gia. Tại thời điểm đó, các hiệp định này mới tồn tại được khoảng một thập kỷ, và một số còn chưa bao giờ được chấp nhận rộng rãi. Các văn kiện này thiết lập nên một định chế thường trực quốc tế duy nhất trên thế giới, tòa Trọng tài Thường trực, và tòa này chỉ mới bắt đầu hoạt động khi Chiến tranh thế giới I xảy ra khiến cho các phong trào hợp tác quốc tế bị đình trệ. Mục đích dự định của tòa án là giúp đỡ các quốc gia trong việc phân xử  những tranh chấp, nhưng mục đích đó đã không được thừa nhận rộng rãi trong những năm đầu và ít được biết đến. Một phần là vì có rất ít các quy chuẩn cũng như các luật lệ quốc tế được chấp nhận rộng rãi vào năm 1911 để cho cơ quan này có thể áp dụng. Do đó, sự tích lũy sức mạnh quốc gia, đặc biệt là sức mạnh quân sự là cách cơ bản để các nước đạt được sự thịnh vượng. Vì một lượng nhỏ quốc gia kiểm soát những thị trường, nguồn tài nguyên và lãnh thổ giàu có trong hệ thống thuộc địa, do vậy những lãnh đạo của những quốc gia này ở vào vị thế rất thuận lợi để phát triển sức mạnh quân sự và có thể ngăn chặn một cách hiệu quả những quốc gia đang trỗi dậy để đạt được sức mạnh tương tự. Do vậy, để phát triển, những cường quốc đang trỗi dậy thường không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc phá vỡ hệ thống hiện hành bằng quân sự. Do đó, những quy tắc và luật pháp về việc cấm sử dụng vũ lực được hình thành một cách chậm chạp.

Ngay cả khi những quy tắc này bắt đầu thống nhất, đặc biệt là sau Chiến tranh thế giới I, những cường quốc trỗi dậy ở giai đoạn sau cũng không chấp nhận những quy tắc này. Họ nhìn nhận những quy tắc phát triển đó là sự kiềm chế do những cường quốc lúc đó - như Anh và Pháp - đưa ra, để duy trì sự cai trị thế giới của mình. Và do đó các nước này ngăn cản những cường quốc trỗi dậy, như Đức và Nhật Bản, nhằm duy trì được sức mạnh, quyền lực và sự ảnh hưởng của mình. Những thể chế, luật lệ và quy tắc ngày nay được hình thành sau Chiến tranh thế giới II nhằm kiểm soát những thay đổi về sức mạnh kinh tế mà không cần phải sử dụng tới chiến tranh. Những cấu trúc thể chế quốc tế rộng rãi và luật quốc tế tiến bộ ngày nay đưa ra một cấu trúc mang tính quy chuẩn mạnh mẽ nhằm hỗ trợ cho việc tiếp cận của các nền kinh tế thị trường tới các nguồn tài nguyên, độc lập của các quốc gia lãnh thổ, bảo vệ những quốc gia này trước sự xâm lược và sự tự do thương mại hàng hóa toàn cầu.

Trụ cột thứ ba của toàn cầu hóa là sự ổn định về những lợi ích chung toàn cầu (khía cạnh này sẽ được tập trung phân tích trong phần còn lại của chương này). Nền tảng sự ổn định của những lợi ích chung toàn cầu bao gồm hai nhân tố chính. Thứ nhất là sự tự do tiếp cận đối với sức mạnh biển nhằm đảm bảo thương mại và bảo vệ chủ quyền của các quốc gia. Cần lưu ý rằng, sức mạnh biển bao gồm cả cường quốc hải quân và những lực lượng thực thi pháp luật trên biển của các quốc gia duyên hải, như lực lượng phòng vệ biển. Thứ hai, khuôn khổ tài phán tài nguyên quy định những quyền chủ quyền đối với tài nguyên biển tại những khu vực địa lý được quy định rõ của biển trong khi vẫn duy trì được tự do tiếp cận theo luật quốc tế và sử dụng đối với hầu hết các hoạt động phi kinh tế liên quan khác.

Kiểm soát những lợi ích hàng hải chung.

Trong những lợi ích hàng hải chung, lực lượng hải quân tạo ra sự ổn định trên biển cho phép sự vận hành thích hợp trong hệ thống toàn cầu và đưa đến lợi ích kinh tế cho các quốc gia. Lực lượng hải quân dựa vào những quyền tổng quát sự về tiếp cận những đại dương trên thế giới nhằm đảm bảo an ninh toàn cầu trước những xung đột giữa các quốc gia; những sự tiếp cận như vậy cho phép các quốc gia răn đe và ngăn chặn những quốc gia khác theo đuổi chính sách hung hăng. Hiến chương Liên Hợp Quốc đã rất coi trọng những khái niệm này ngay trong lời mở đầu, tuyên bố rằng Liên Hợp Quốc đã được thiết lập “…để liên kết sức mạnh nhằm duy trì an ninh và hòa bình thế giới, và để đảm bảo rằng - bằng việc chấp nhận những nguyên tắc và việc thiết lập những biện pháp - lực lượng được vũ trang sẽ không được sử dụng, gìn giữ lợi ích chung.”[9]

Ngoài việc gìn giữ hòa bình giữa các quốc gia, lực lượng hải quân cũng thực hiện vai trò giống như lực lượng cảnh sát. Trong một vài tình huống cụ thể, lực lượng hải quân có thể thực hiện quyền tài phán nhằm ngăn chặn những hoạt động tội phạm trên biển, ví dụ như cướp biển hay buôn người. Vai trò cảnh sát của hải quân cũng có thể hỗ trợ những lực lượng thực thi luật pháp hợp pháp quốc gia đối với những tàu thuộc quốc gia mình và với trường hợp các nước ven biển thì đó là quyền trong vùng biển của họ bằng việc thực hiện quyền tài phán thay mặt khi được yêu cầu. Theo đó, lực lượng hải quân thực hiện một cách có hiệu quả hoạt động ngăn chặn buôn ma túy bất hợp pháp; khủng bố xuyên quốc gia; sự gia tăng vũ khí thông thường và phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, những mầm mống, các thành tố và hệ thống vận chuyển của sự gia tăng này. Điều này một phần đáp ứng lời kêu gọi của Hiến chương Liên Hợp Quốc “thực hiện khoan dung và chung sống hòa bình với quốc gia khác như những láng giềng tốt, và …sử dụng thể chế quốc tế cho việc thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội cho tất cả mọi người.”[10]

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây

Peter Dutton

Nguyễn Việt (dịch)

Quang Hưng (hiệu đính)

 

Bản dịch chương IV: Cracks in the Global Foundation: International Law and Instability in the South China Sea trong báo cáo: Cooperation from Strenth: The United States, China and the South China Sea của Trung tâm An ninh mới (CNAS) của Mỹ.



[1] Về thảo luận chi tiết về Đường chín đoạn, xem Chương của Patrick M. Cronin và Robert D. Kaplan trong cuốn sách này

[2] Xếp hạng này dựa trên dữ liệu Sức mua tương đương (Purchase Power Parity) vào tháng 9 năm 2010 và báo cáo của IMF tại www.imf.org/external/pubs/ft/weo/2010/02/weodata/weorept.aspx.

[3] Alan M. Taylor, “Globalizing and New Comparative Economic History,” NBER Reporter Research Summary (Winter 2006, cambridgeforecast.wordpress.com/2007/05/07/globalization-1870-1914-versus-globalization-today.

[4] Sđd

[5] Sđd

[6] 45 quốc gia lúc đó là Afghanistan, Argentina, Austro-Hungary, Belgium, Bolivia, Brazil, Chile, Trung Quốc, Colombia, Costa Rica, Cuba, Đan Mạch, Cộng hòa Dominican, Ecuador, El Salvador, Ethiopia, Pháp, Đức, Hy Lạp, Guatemala, Haiti, Honduras, Italy, Nhật Bản, Liberia, Luxembourg, Mexico, Nicaragua, Hà Lan, Na Uy, Ottoman Empire, Panama, Paraguay, Persia, Peru, Portugal, Nga, Siam, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Anh, Mỹ, Uruguay và Venezuela.

[7] Tám quốc gia có đất nhượng tại Trung Quốc vào năm 1911 là Áo – Hung, Bỉ, Pháp, Đức, Italia, Nhật Bản, Nga và Anh. . Ngoài ra, Bồ Đa Nha sở hữu Macau, Nhật Bản sở hữu Đài Loan và Anh sở hữu Hồng Công.

[8] Bao gồm 196 quốc gia thành viên của Liên Hợp Quốc, cộng với Vatican.

[9] Lời tựa, Hiến chương Liên Hợp Quốc,  www.un.org/en/documents/charter/preamble.shtml.

[10] Sđd

 

Tranh chấp Biển Đông hiện nay có thể dẫn đến sự bất ổn khu vực, thậm chí là xung đột vũ trang, tuy nhiên những cơ hội hợp tác để giảm sự gia tăng căng thẳng vẫn tồn tại. Và về chiến lược lâu dài, Mỹ cần phải có các nỗ lực can dự cân bằng để duy trì ổn định ở Biển Đông.

 

Từ năm 2009, cuộc tranh giành các quyền trên biển ở Biển Đông trở thành một vấn đề an ninh quan trọng nhất ở Đông Á. Thậm chí trên thực tế, một nhà phân tích gần đây đã tuyên bố rằng Biển Đông là “sân khấu mới của xung đột” trên thế giới.[1]

Tuy nhiên, dù tranh giành liên tục, song xung đột vũ trang ở Biển Đông rất khó xảy ra vì vài lý do như sau. Các quốc gia khu vực đang cạnh tranh nhau ở khía cạnh các quyền trên biển hơn là các vấn đề an ninh khác, đặc biệt là yêu sách chủ quyền lãnh thổ đối với các đảo và bãi đá. Cuộc tranh giành các quyền trên biển ở Biển Đông chưa bị quân sự hóa, hoặc là chưa đạt tới mức độ bất ổn như cảnh tượng khu vực đã chứng kiến những năm 1988 và 1995. Thỏa thuận tháng 7 năm 2011 giữa Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Trung Quốc về hướng dẫn thực hiện Tuyên bố ứng xử của các bên trên Biển Đông đã tạo ra không gian thở để có thể khai thác nhằm giảm căng thẳng. Các sáng kiến hợp tác có thể giúp giảm bớt sự cạnh tranh trong tương lai về các quyền trên biển song lại đòi hỏi quyết tâm chính trị và sự sáng tạo ngoại giao để tiếp tục được thực hiện.

Thêm nữa, dù Trung Quốc ngày càng tăng cường bảo vệ các yêu sách của mình ở Biển Đông, phạm vi và nội dung của các yêu sách này vẫn không thay đổi. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc nhận thức rằng các quốc gia khác đang thách thức các yêu sách mà Trung Quốc đã theo đuổi lâu nay, và Trung Quốc đang phản ứng lại với năng lực thực thi các quyền dân sự trên biển đã lớn mạnh hơn trước. Trung Quốc cũng tránh các biện pháp khiêu khích, như sử dụng các lực lượng hải quân, để thực thi các yêu sách của mình.

Để phân tích và đánh giá nguy cơ xung đột vũ trang ở Biển Đông, chương này sẽ nhìn nhận lại các xu hướng trong an ninh biển ở khu vực trong những năm vừa qua, bao gồm cả chủ quyền lãnh thổ ở các nhóm đảo, quyền khai thác các tài nguyên trên biển ở vùng nước và đáy biển, và tự do hàng hải. Cuộc cạnh tranh trên từng vấn đề trên có thể tăng thêm sự bất ổn cho khu vực, hoặc thậm chí dẫn đến xung đột vũ trang. Tuy nhiên, cơ hội tăng cường hợp tác về các vấn đề an ninh vẫn tồn tại. Nhìn về phía trước, Mỹ phải có các nỗ lực cân bằng đề duy trì ổn định ở Biển Đông với các hành động dù có thể tình cờ gia tăng bất ổn, như tham gia hơn vào các nỗ lực giải quyết tranh chấp – một hành động mà rất nhiều quốc gia khu vực sẽ diễn giải như là một sự thay đổi chính sách truyền thống của Mỹ là trung lập trong các tranh chấp lãnh thổ.

Các lợi ích an ninh biển ở Biển Đông

Rất nhiều quốc gia, trong khu vực và trên thế giới, có lợi ích an ninh biển ở khu vực Biển Đông. Những lợi ích này bao gồm các yêu sách chủ quyền lãnh thổ đối với các đảo và các bãi đá san hô, yêu sách đối với những đặc quyền phát triển các tài nguyên biển, tự do hàng hải trên biển cả và hậu quả của các hoạt động hiện đại hóa quân sự đang diễn ra ở khu vực.[2] Cuộc cạnh tranh đối với bất kỳ hoặc tất cả các lợi ích trên có thể ảnh hưởng sự ổn định của khu vực. Tuy nhiên, từ khoảng năm 2006, vấn đề an ninh biển quan trọng ở Biển Đông là sự cạnh tranh đối với các yêu sách, áp dụng và thực thi các quyền trên biển đối với các vùng nước này.

CÁC YÊU SÁCH CHỦ QUYỀN VỚI CÁC ĐẢO VÀ BÃI ĐÁ SAN HÔ

Lĩnh vực đầu tiên mà an ninh biển bao gồm đó là các yêu sách chủ quyền đối với các đảo và các bãi đá ngầm như các rạn san hô. Ở Biển Đông, có hai tranh chấp khác nhau liên quan đến chủ quyền lãnh thổ. Đầu tiên là tranh chấp song phương giữa Trung Quốc và Việt Nam về chủ quyền của quần đảo Hoàng Sa, nơi Trung Quốc đã kiểm soát hoàn toàn từ năm 1974.[3] Tranh chấp thứ hai là tranh chấp đa phương về quần đảo Trường Sa, nơi bao gồm khoảng 230 đảo và bãi đá, chủ yếu là các đảo nhỏ, các hòn đảo rất nhỏ và các bãi đá san hô. Việt Nam, Trung Quốc và Đài Loan đều yêu sách “chủ quyền không thể tranh cãi” ở trên những đảo trên. Philippines yêu sách chủ quyền của 53 đảo, trong khi Malaysia yêu sách 12 đảo.[4] Việt Nam hiện nay chiếm giữ 27 đảo, nhiều nhất trong số các bên yêu sách. Philippines chiếm 8 đảo, Trung Quốc 7, Malaysia 5, Đài Loan 1. Đảo đầu tiên được phía Đài Loan chiếm năm 1956 khi quân Quốc dân đảng từ Đài Loan đồn trú vĩnh viễn đảo Ba Bình (Itu Aba), đảo lớn nhất trong số các đảo tranh chấp. Các quốc gia yêu sách khác mãi đến đầu những năm 1970 mới bắt đầu hiện diện liên tục ở các đảo này. Trung Quốc bắt đầu thiết lập sự hiện diện cơ học vào tháng 1 năm 1988 khi giết 74 thủy thủ của Việt Nam. Đảo đất gần đây nhất được Malaysia và Việt Nam nắm giữ năm 1998 và 1999. Trung Quốc không chiếm một đảo tranh chấp nào từ cuối năm 1994 khi nước này chiếm được đảo Vành Khăn.[5]

CÁC YÊU SÁCH ĐỐI VỚI QUYỀN VÀ QUYỀN TÀI PHÁN TRÊN BIỂN

 

Lợi ích an ninh biển thứ hai liên quan đến các yêu sách đối với các quyền trên biển, đặc biệt là các yêu sách đối với vùng đặc quyền kinh tế (EEZs) và thềm lục địa. Các quyền trên biển bao gồm các vấn đề không về chủ quyền mà về quyền tài phán – liệu là các quốc gia có quyền khai thác bất kể tài nguyên nào (đặc biệt là dầu khí cũng như nguồn lợi thủy sản và các khoáng sản khác) không. Các quyền trên biển chỉ bị tranh chấp trên một phần của Biển Đông, một vùng biển trải rộng từ cửa sông Chân Trâu (Pearl River) ở Trung Quốc đến đỉnh của đảo Natuna của Indonesia. Nói chung, vùng đặc quyền kinh tế mà Trung Quốc yêu sách từ bờ biển của nước này, bao gồm tỉnh Quảng Đông và đảo Hải Nam, hầu hết là không bị tranh chấp.[6] Tuy nhiên, phần phía nam của biển này thì gây ra tranh cãi lớn giữa các nước có yêu sách đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cũng như Indonesia.

Các quốc gia khác nhau biện minh yêu sách đối với quyền trên biển của mình theo các cách khác nhau. Việt Nam, Philippines, Malaysia, và Brunei khẳng định quyền trên biển của mình từ bờ biển của họ. Indonesia yêu sách quyền trên biển của mình dựa trên đảo Natuna. Tuy nhiên, Trung Quốc, dựa trên quyền trên biển của mình đối với các yêu sách chủ quyền đối với nhóm đảo còn đang tranh chấp, như Trường Sa, thêm vào bờ biển của đại lục Trung Quốc. Tuy nhiên, hầu hết (chứ không phải tất cả) các đảo ở quần đảo Trường Sa sẽ không được coi là đảo theo Điều 121(3) của Công ước Liên hiệp quốc về Luật biển (UNCLOS) và do đó không thể coi như là căn cứ để một quốc gia yêu sách đòi vùng đặc quyền kinh tế hoặc là thềm lục địa mở rộng. Theo đó, các nhà quan sát coi yêu sách vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc như là sự bành trướng, bởi nó bao gồm một phần rộng lớn hơn về quyền trên biển so với các quốc gia ven biển khác và cũng coi yêu sách đó là không hợp pháp vì phần yêu sách dường như dựa trên các hình thái đất không đủ tiêu chuẩn được coi là đảo theo Điều 121(3).[7] Thêm vào đó, yêu sách “đường 9 đoạn” xuất hiện trên bản đồ khu vực của Trung Quốc còn tạo ra sự mập mờ lớn hơn, như Ian Storey đã chỉ ra trong tập báo cáo này, rằng chính phủ Trung Quốc cũng chưa bao giờ xác định đường này đại diện cho điều gì.

TỰ DO HÀNG HẢI

 

Khía cạnh thứ ba của an ninh biển bao gồm tự do hàng hải, gồm có an ninh của các tuyến đường vận tải biển chạy qua những vùng nước này. Một vài các tuyến đường tấp nập nhất trên thế giới chạy qua Biển Đông. Tự do hàng hải ảnh hưởng đến lợi ích của không chỉ các quốc gia yêu sách chủ quyền hoặc quyền trên biển như nói ở trên mà của tất các các quốc gia tham gia quá trình vận tải biển, bao gồm cả Mỹ. Các cuộc đối đầu bao gồm các chủ thể thương mại và các cơ quan thực thi pháp luật biển dân sự Trung Quốc từ năm 2009 đến 2011 gây ra các quan ngại về tự do hàng hải ở các vùng biển này. Thêm nữa, Trung Quốc (cùng với các cường quốc đang lên về hàng hải như Brazil và Ấn Độ) tiếp tục duy trì quan điểm rằng quyền bờ biển có thể hạn chế các hoạt động quân sự của nước ngoài trong vùng đặc quyền kinh tế, mặc dù hầu hết các quốc gia khác không đồng tình với điều này.[8] Mặc dù từ trước tới nay Trung Quốc đã không cố gắng áp dụng sự viện dẫn này trong cuộc tranh giành quyền trên biển ở Biển Đông, nhưng nước này có thể làm như vậy trong tương lai. Đến nay, các nỗ lực của Trung Quốc nhằm thực hiện các sự hạn chế về tự do hàng hải đã xuất hiện ở trong vùng đặc quyền kinh tế ngoài khơi nước này. Ví dụ, vụ đối đầu tháng 5 năm 2009 liên quan đến tàu Impeccable USNS xuất hiện cách đảo Hải Nam khoảng 75 dặm về phía đông nam.[9]

HIỆN ĐẠI HÓA HẢI QUÂN

 

Lợi ích thứ tư về an ninh biển liên quan đến hậu quả của quá trình hiện đại hóa hải quân của các quốc gia đang phát triển trong khu vực. Các tranh chấp ở Biển Đông tạo ra động lực để các quốc gia này thúc đẩy năng lực và sự hiện diện hải quân của nước mình, điều đó quay trở lại có thể tăng khả năng xung đột vũ trang có thể xảy ra. Thêm vào đó, khi các quốc gia duyên hải tăng cường phụ thuộc vào thương mại trên biển và các nguồn tài nguyên biển, lợi ích biển của họ cũng tăng lên. Ví dụ, Việt Nam có ý định tăng cường tỉ lệ mà kinh tế biển có thể đóng góp cho tổng sản phẩm quốc nội (GDP) từ 48% năm 2005 đến 55% năm 2020.[10] Giống như vậy, phần lớn thương mại của Trung Quốc, đặc biệt là ngành cung cấp năng lượng, được thực hiện trên biển. Để bảo vệ các lợi ích mới này, cũng như bảo vệ các yêu sách chủ quyền và các yêu sách khác, các quốc gia duyên hải rất tích cực hiện đại hóa hải quân và các lực lượng vũ trang khác. Những sự thay đổi kéo theo trong cán cân cân bằng lực lượng – và trong sự phát triển của các khẩu đại bác với tầm bắn xa hơn và sức chịu đựng dẻo dai hơn – có thể trở nên ngày càng cạnh tranh và gây bất ổn hơn.

Cạnh tranh các lợi ích biển khác nhau có thể tăng tính bất ổn của khu vực. Trong bốn khía cạnh trên, tranh chấp quyền chủ quyền lãnh thổ và quyền trên biển có thể dễ leo thang thành việc sử dụng quân sự nhất. Hai vụ va chạm hải quân quan trọng xảy ra giữa Việt Nam và Trung Quốc, một diễn ra vào năm 1974 đối với nhóm đảo Crescent ở Hoàng Sa và một vào năm 1988 đối với Bãi đá Johnson ở quần đảo Trường Sa. Khi cuộc cạnh tranh quyền trên biển tăng lên, các cuộc va chạm vũ trang giữa các lực lượng hải quân của các quốc gia yêu sách cũng tăng lên; các cuộc va chạm như vậy sẽ tăng tính bấn ổn và đặt ra nhiều vấn đề về tự do hàng hải ở các vùng biển này đối với tất cả các quốc gia tham gia giao thông trên biển.

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây

M. Taylor Fravel

Hằng Ngân (dịch)

Quang Hưng (hiệu đính)

Bản dịch chương II: Maritime Security in the South China Sea and the Competition over Maritime Rights trong báo cáo: Cooperation from Strenth: The United States, China and the South China Sea của Trung tâm An ninh mới (CNAS) của Mỹ.



[1] Robert D. Kaplan, “The South China Sea Is the Future of Conflict,” Foreign Policy (September/October 2011).

[2] Để kiểm tra chi tiết các loại lợi ích khác nhau, xem Peter Dutton, “Three Disputes and Three Objectives: China and the South China Sea,” Naval War College Review, 64 no. 4 (2011), 42-67.

[3] Trước trận đụng độ tháng 1 năm 1974 giữa Trung Quốc và Nam Việt Nam, Trung Quốc chỉ kiểm soát vài hòn đảo trong nhóm Amphitrite ở phía đông của quần đảo Hoàng Sa. Sau trận giao tranh năm 1974, Trung Quốc nắm được quyền kiểm soát ở nhóm Crescent. Xem thêm M. Taylor Fravel, Strong Borders, Secure Nation: Cooperation and Conflict in China’s Territorial Disputes (Princeton, NJ: Princeton University Press, 2008), 272-287.

[4] Greg Austin, China’s Ocean Frontier: International Law, Military Force, and National Development (Canberra, Australia: Allen & Unwin, 1998), 153-154.

[5] Một tóm tắt gần đây về những sự phát triển này, xem Fravel, Strong Borders, Secure Nation, 267-299.

[6] Xem thêm thảo luận chi tiết về yêu sách của Trung Quốc ở M. Taylor Fravel, “China’s Strategy in the South China Sea,” Contemporary Southeast Asia, 33 no. 3 (December 2011)

[7] Bằng việc nộp yêu sách quyền thềm lục địa mở rộng cho Liên hiệp quốc năm 2009, Việt Nam và Malaysia chỉ ra rằng hai nước này sẽ yêu sách quyền hàng hải ở các đảo đang tranh chấp, dù họ vẫn chưa nói điều này rõ ràng. Trong một công hàm sau đó, Philippines chỉ ra rằng quần đảo Trường Sa không đạt được tiêu chí theo như Điều 121(3) và do đó không thể được sử dụng để yêu cầu quyền hàng hải. Một nhân tố khác của yêu sách Trung Quốc là sự quả quyết rằng luật về vùng đặc quyền kinh tế năm 1998 của nước này sẽ không ảnh hưởng đến “quyền lịch sử” của Trung Quốc. Tuy nhiên, nội dung và phạm vi địa lý của những quyền lịch sử này vẫn chưa được xác định trong luật này.

[8] Ren Xiaofeng and Cheng Xizhong, “A Chinese Perspective,” Marine Policy, 29 no. 2 (March 2005), 139-146.

[9] Raul Pedrozo, “Close Encounters at Sea: The USNS Impeccable Incident,” Naval War College Review, 62 no. 3 (Summer 2009), 101-111.

[10]  “Vietnam Aims to Become Strong Maritime Nation,” Vietnam Seaports Association, May 26, 2010, http://www.vpa.org.vn/detail_temp.jsp?id=1652

 

Ngôn ngữ

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

         

CHUYÊN ĐỀ ĐẶC BIỆT

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

Đăng nhập



Bản đồ - Hình ảnh

TỔNG QUAN VỀ BIỂN ĐÔNG