Thứ sáu, 13 Tháng 4 2012
Viết bởi nguyen viet
Nhu cầu về tài nguyên thiên nhiên gia tăng trong bối cảnh nguồn cung suy giảm đang đặt ra những thách thức đối với các nước xung quanh Biển Đông. Điều này sẽ tác động thế nào đến cách ứng xử của họ đối với bên ngoài: gia tăng cạnh tranh hay thúc đẩy hợp tác?.

Các xu hướng liên quan đến tài nguyên thiên nhiên, cả ở châu Á và trên thế giới, đang khiến quan hệ giữa các quốc gia ở Biển Đông trở nên phức tạp. Các cuộc đối thoại công khai hiện nay tập trung nhiều vào việc liệu các xu hướng đó có góp phần tạo nên xung đột hay không. Tuy nhiên, thực tế thì tình hình phức tạp hơn nhận định trên. Hàng loạt các xu hướng thay đổi liên quan đến năng lượng, kinh tế, tài nguyên và dân số như : nhu cầu năng lượng của thế giới đang gia tăng; sự phát triển của tầng lớp trung lưu tại khu vực Đông Nam Á ; quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp và dịch vụ ; việc dịch chuyển và phát triển ngành công nghiệp dầu mỏ ra ngoài khơi và tình trạng ngày càng khan hiếm nguồn tài nguyên thiên nhiên gần bờ sẽ tác động tới cách ứng xử của các quốc gia trong khu vực. Nếu các nhà lãnh đạo trong khu vực không hiểu được cách thức các xu hướng đó tương tác và ảnh hưởng tới hành vi của các quốc gia, thì họ sẽ có thể hiểu sai hành động của các quốc gia láng giềng, từ đó nguy cơ bất ổn định càng lớn hơn. Từ đó họ cũng có thể sẽ coi nhẹ các cơ hội hợp tác và củng cố an ninh, điều sẽ mang lại lợi ích cho tất cả các nước trong khu vực.
Nếu các chương khác của tập báo cáo này khẳng định rằng tài nguyên luôn luôn là nguồn gốc của cạnh tranh giữa các quốc gia tại Biển Đông, thì chương này sẽ xem xét nhiều hơn về cách thức tài nguyên thiên nhiên tác động tới cách cư xử của quốc gia tại khu vực. Chương này sẽ cung cấp tổng quan về các tác động chính trị và kinh tế mà các quốc gia phải đối mặt khi giải quyết các thách thức đặc thù liên quan đến vấn đề tài nguyên. Tiếp đó, chương này sẽ xem xét những xu hướng tài nguyên và môi trường quan trọng nhất tại khu vực – trong đó có năng lượng, thủy sản, khoáng sản và thay đổi khí hậu. Ngoài ra, chương này giải thích cách thức các xu hướng tác động tới nguồn tài nguyên trên đất liền, chẳng hạn như các đường ống dẫn năng lượng trên đất liền, từ đó định hình cách thức mà các quốc gia sẽ ứng xử với các vấn đề liên quan đến nguồn tài nguyên biển. Cuối cùng, chương này sẽ đưa ra kết luận thông qua việc xem xét việc Mỹ và các quốc gia khác có thể củng cố ổn định khu vực như thế nào nhờ vào những chính sách liên quan tới các xu hướng tài nguyên.
Những mối quan tâm về nguồn tài nguyên trong khu vực
Các xu hướng tài nguyên và môi trường tác động tới các quốc gia tại Biển Đông theo những cách thức khác nhau. Tất cả các quốc gia buộc phải quản lý xu hướng năng lượng, các hoạt động khai thác mỏ, trồng rừng, sản xuất nghề cá, các nguồn cung nước sạch và việc sử dụng đất trồng trọt. Tuy nhiên, mỗi một quốc gia đều đối mặt với những bài toán chính trị và kinh tế đặc thù khi quản lý các nguồn lực đó.
Đối với Trung Quốc, tài nguyên thiên nhiên và môi trường là vấn đề cơ bản đối với đại chiến lược của nước này. Đảng Cộng sản Trung Quốc coi tăng trưởng kinh tế là nền tảng của tính hợp pháp chính trị, và tăng trưởng nhanh đòi hỏi nhu cầu tiêu thụ năng lượng, khoáng sản, nước và các tài nguyên khác ngày càng nhiều. Ngoài ra, giới lãnh đạo Trung Quốc cũng nhận thức rằng sự suy thoái về môi trường nảy sinh do tình trạng quản lý kém trong việc tiêu thụ năng lượng có thể gây ra bất ổn định xã hội và giảm tăng trưởng GDP.
Đối với các quốc gia láng giềng của Trung Quốc tại Biển Đông, việc quản lý tài nguyên và môi trường có thể đóng vai trò ít quan trọng hơn về mặt chiến lược, tuy nhiên, những vấn đề này vẫn đặt ra nhiều thách thức lớn. Chẳng hạn như Indonesia phải tìm cách cân bằng giữa nhu cầu về tài nguyên đang ngày càng cấp bách với các tình trạnh đáng lo ngại như thiếu đất, hiện tượng nước biển dâng và dân số tăng. Giới lãnh đạo của Indonesia đã và đang ủng hộ chính sách tăng trưởng xuất khẩu dựa trên việc sản xuất dư thừa thực phẩm, nhiên liệu sạch và khoáng sản để xuất ra bên ngoài. Quốc gia này cũng cam kết bảo tồn số rừng nhiệt đới còn tồn tại và tăng cường nỗ lực tái phủ xanh rừng. Các nhà tài trợ quốc tế đã cam kết hơn 3 tỷ đô-la cho hoạt động này. Với diện tích đất đai hạn chế dành cho phát triển – cùng hàng loạt các nhân tố nội bộ làm giảm sự kiểm soát của chính phủ trung ương - câu hỏi về cách thức đầu tư như thế nào cho phát triển đang đặt ra nhiều thách thức chính trị mang tính hệ trọng. Chẳng hạn như, chính phủ Indonesia hiện nay đang bàn thảo về việc liệu có nên chuyển mục đích sử dụng các khu vực canh tác đặc thù của sản xuất lương thực cũng như trồng trọt trong nước sang sản xuất nhiên liệu sạch cho thị trường tiêu thụ quốc tế hoặc để tái trồng rừng hay không. Mỗi một mục đích sản xuất nêu trên đều liên quan đến việc đánh đổi giữa lợi ích của thị trường trong nước và nước ngoài. Nhu cầu toàn cầu cũng tác động tới những lựa chọn đó. Trong những năm vừa qua, Liên minh châu Âu (EU) đã từng hạn chế nhập khẩu dầu cọ có xuất xứ nước ngoài được sản xuất thông qua việc sản xuất không bền vững với môi trường. Điều này đã từng gây ra những căng thẳng ngoại giao với các quốc gia xuất khẩu như Indonesia và Malaysia. Cả hai quốc gia này đều đã từng đệ trình đơn kiện lên Tổ chức thương mại thế giới (WTO) để nhằm thúc đẩy việc xuất khẩu dầu cọ.
Việt Nam hiện đang đối diện với nhiều thách thức môi trường có ảnh hưởng trực tiếp đến sự tăng trưởng kinh tế liên tục trong những năm qua. Quốc gia này đang trong tiến trình hoàn thành Các Mục tiêu thiên niên kỷ nằm trong Tuyên bố Thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc năm 2000; những mục tiêu đó bao gồm việc xóa đói giảm nghèo, phòng chống bệnh dịch và đảm bảo tính bền vững của môi trường. Chẳng hạn, Việt Nam đã đạt kết quả giảm đói nghèo từ 58,1% (năm 1993) xuống còn 16% (năm 2006) - đây là một thành tích đáng chú ý. Từ năm 2005, GDP thực tế (tính cả điều chỉnh lạm phát) đã tăng với tốc độ hàng năm từ 5,3-8,5%. Nhờ vào sự phát triển này, đời sống của người dân Việt Nam đang ngày càng được cải thiện. Nhưng đi cùng với đó, sự phát triển này cũng làm gia tăng những căng thẳng về nguồn cung nước sạch tại đây và càng ngày càng khiến vấn đề ô nhiễm môi trường trở nên trầm trọng. Khu vực đồng bằng sông Cửu Long đặc biệt dễ bị ảnh hưởng trước những tác động của biến đổi khí hậu, bao gồm hiện tượng nhiễm mặn và xói mòn. Mặc dù đóng góp của khu vực sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam chiếm tỉ trọng ngày càng ít trong GDP quốc gia, ngành này vẫn tiếp tục mang lại thu nhập về xuất khẩu và củng cố cho sự phát triển kinh tế nông thôn thông qua việc thúc đẩy mở rộng sân bay, các tuyến đại lộ cũng như các cơ sở hạ tầng khác. Tổn thất về môi trường và những tác động của biến đổi khí hậu đang đe dọa nghiêm trọng nỗ lực phát triển của đất nước, trong đó có những kế hoạch xuất khẩu nông sản; nhiều chuyên gia cảnh báo năng suất trong sản xuất nông nghiệp rất dễ bị ảnh hưởng trước bất cứ thay đổi nào dù là nhỏ nhất trong những thay đổi của khí hậu cũng như độ mặn của đất.
Các quốc gia nói trên – cùng với Philippines, Malaysia, Singapore và các quốc gia ven Biển Đông khác – đều có kinh nghiệm đối với những thách thức đặc thù liên quan tới xu hướng tài nguyên thiên nhiên và môi trường. Những thách thức trong nước ảnh hưởng đến cách ứng xử của họ với bên ngoài, đồng thời cũng có thể làm gia tăng cạnh tranh hoặc thúc đẩy hợp tác. Đặc biệt, ba nguồn tài nguyên sẽ có thể ảnh hưởng đến hành vi của các quốc gia ở Biển Đông và đóng vai trò quan trọng trong việc nhận thức rõ viễn cảnh của sự cạnh tranh cũng như hợp tác trong khu vực, đó là: năng lượng, nguồn hải sản và khoáng sản.
Năng lượng
Đối với phần lớn các quốc gia trong khu vực, việc tiếp cận Biển Đông luôn được xem là nhân tố quyết định tới việc thỏa mãn nhu cầu năng lượng cần thiết mà các quốc gia cần để phát triển, đặc biệt là trong bối cảnh khu vực được đánh giá là có khả năng trở thành " một vịnh Ba Tư mới". Mặc dù những đánh giá về trữ lượng khí đốt tự nhiên và các nhiên liệu khác (theo từ chuyên ngành là chỉ số RRP hoặc R/P, có nghĩa là chỉ số giữa trữ lượng và sản xuất – ND) đang thay đổi một cách nhanh chóng do sự phát triển của công nghệ và những thay đổi về giá cho phép các quốc gia có thể khai thác trữ lượng tài nguyên nhiều hơn dự tính ban đầu, nhưng các quốc gia vẫn đang gia tăng lo ngại về việc liệu trữ lượng tài nguyên này có đáp ứng được nhu cầu năng lượng trong dài hạn của họ hay không. Chẳng hạn, theo hãng BP, chỉ số R/P trữ lượng dầu của Trung Quốc – chỉ số sẽ cho biết việc cung ứng dầu mỏ quốc nội sẽ kéo dài bao lâu với tốc độ sản xuất hiện tại – chỉ ở mức 9,9 năm, và trữ lượng dầu tại Biển Đông có thể gấp đôi trữ lượng dầu mà Trung Quốc hiện có. Các quốc gia trong khu vực có thể tìm kiếm việc tăng sản lượng tại Biển Đông bởi nguồn năng lượng dự trữ toàn cầu hiện nay đang tập trung phần lớn ở các quốc gia bất ổn chính trị, như Iran, Venezuela và Arap Saudi.
Tuy nhiên, các đánh giá về nguồn dự trữ năng lượng tại Biển Đông lại có nhiều khác biệt. Một đánh giá mới đây của Mỹ cho thấy rằng Biển Đông có khoảng 15,6 tỷ thùng dầu, trong đó có khoảng 1,6 tỷ thùng là trữ lượng dầu đã xác minh (trữ lượng xác minh là lượng dầu khí có thể thu hồi thương mại tính được ở thời điểm nhất định với độ tin cậy cao - ND). Ngược lại, những nhà thăm dò Trung Quốc đánh giá trữ lượng dầu có thể dao động từ 105 – 213 tỷ thùng, trong đó có khoảng 10,5 – 21,3 tỷ thùng là trữ lượng dầu đã xác minh, ngoài ra còn có trữ lượng lớn khí đốt tự nhiên. Mặc dù có những khác biệt đó, một số quốc gia – trong đó có Trung Quốc, Việt Nam và Philippines - đang xúc tiến một vài kế hoạch khai thác các nguồn tài nguyên này. Các quốc gia lân cận khu vực biển Đông cũng quan tâm đến vấn đề này. Chẳng hạn như Ấn Độ đã tuyên bố vào tháng 9/2011, Công ty quốc doanh dầu mỏ và khí đốt tự nhiên của nước này sẽ là đối tác với Việt Nam trong việc khai thác dầu mỏ và khí đốt tự nhiên trong những vùng biển tranh chấp mà Việt Nam yêu sách thuộc chủ quyền của họ. Trong khi đó, Trung Quốc tiếp tục đưa ra những cảnh báo đối với các quốc gia bên ngoài đang can dự vào các tranh chấp lãnh thổ trong khu vực. Điều này đã và đang làm gia tăng căng thẳng, theo đó, tất cả các quốc gia trong khu vực lo sợ rằng việc tiếp cận các nguồn tài nguyên này là một đề xuất "tổng bằng không" và họ phải khai thác các nguồn tài nguyên trước khi các quốc gia khác tiếp cận.
Ngoài ra, việc tiếp cận rộng rãi các tuyến lưu thông hàng hải (SLOC) chạy qua Biển Đông và kết nối các quốc gia trong khu vực với nguồn năng lượng từ Trung Đông thì cũng quan trọng như nguồn tài nguyên dầu mỏ ở dưới đáy biển tại khu vực này vậy. Chẳng hạn, hàng năm có 60 nghìn tàu quá cảnh tại eo biển Ma-lắc-ca, trong đó các tàu chở dầu chứa khoảng hơn 13 triệu thùng dầu, chiếm khoảng 40% số dầu được sản xuất trên toàn cầu. Bản thân Trung Quốc cũng nhận ra rằng quốc gia này sẽ chịu nhiều tác động từ việc ngừng cấp năng lượng tại Biển Đông bởi 80% nguồn năng lượng của họ trong quá trính vận chuyển phải quá cảnh tại eo biển Ma-lắc-ca. Điều này phần nào giải thích lý do Trung Quốc yêu sách phần lớn Biển Đông: bởi quốc gia này muốn độc quyền khả năng bảo vệ các tuyến SLOC khỏi nguy cơ tiềm tàng của việc bị cắt đứt nguồn cung dầu.
Sự cạnh tranh các nguồn nhiên liệu hóa thạch tại Biển Đông sẽ không chỉ phụ thuộc vào yêu sách của các quốc gia đối với các mỏ ngoài khơi xa mà còn phụ thuộc vào khả năng phát triển công nghệ nhằm tiếp cận với các mỏ tài nguyên đó. Ngược lại, tốc độ phát triển công nghệ, đặc biệt là công nghệ tiếp cận năng lượng và các nguồn tài nguyên khác (như khoáng sản) ở xa bờ sẽ xác định cách thức các quốc gia này có thể khai thác trữ lượng dầu nhanh ra sao.
Chi phí cũng là một nhân tố. Mặc dù Trung Quốc và các quốc gia khác có thể có công nghệ đủ để để sản xuất dầu mỏ và khí đốt ở phần lớn vùng nước sâu ở Biển Đông, nhưng chi phí để sản xuất dầu khí ở xa bờ thường tốn kém nhiều hơn so với việc sản xuất từ các nguồn năng lượng truyền thống, đặc biệt so với sản xuất tại Iraq, Iran, những quốc gia có trữ lượng dầu mỏ truyền thống dồi dào. Các công ty năng lượng trong khu vực cũng như quốc tế tiến hành khai thác tại đây hiểu rõ được những chi phí và lợi nhuận kinh tế trong vấn đề này. Tuy nhiên, đối với các nhà hoạch định chính sách và các chuyên gia, họ cần nhận thức được thực tế rằng chi phí khai thác dầu từ các mỏ truyền thống tại khu vực Trung Đông hoặc Bắc Mỹ không giống như chi phí khai thác dầu tại vùng biển sâu ở Biển Đông.
Lợi nhuận khai thác các nguồn tài nguyên dưới đáy biển tại Biển Đông có thể bị giảm nếu như (hoặc khi) các nhiên liệu thay thế có giá bằng với các nguồn tài nguyên hóa thạch truyền thống. Chẳng hạn, đầu tư của Hải quân Mỹ vào nhiên liệu sinh học từ tảo đã làm giảm chi phí một ga-lông nhiên liệu tảo ở Mỹ, khiến giá của nguồn nhiên liệu này gần xuống tới mức giá của dầu mỏ. Đầu năm nay, Hải quân Mỹ đã thông báo một đơn đặt hàng 450.000 ga-lông nhiên liệu sinh học tảo, đây là đơn hàng mua bán lớn nhất từ trước tới nay. Một đơn đặt hàng như vậy cho phép các công ty sản xuất năng lượng có thể tiến hành sản xuất dựa theo quy mô, điều này giúp giảm chi phí đơn vị của sản phẩm. Ngoài ra, những quy định mới – trong đó có quy định về phát thải khí các-bon trong ngành hàng không của EU và sắc lệnh của chính quyền Obama yêu cầu tất cả văn phòng liên bang giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính – có thể làm tăng nhu cầu sử dụng các nhiên liệu thay thế. Việc sản xuất nhiên liệu sinh học toàn cầu tiếp tục phát triển dẫn đến nguồn cung tăng có thể bù đắp được nhu cầu về dầu mỏ được sản xuất thông qua những phương thức sản xuất đắt đỏ - trong đó có hoạt động rút dầu ở xa bờ và vùng biển sâu tại Biển Đông.
Đọc toàn bộ bản dịch tại đây
Will Rogers
Lan Hương (dịch)
Quang Hưng (hiệu đính)
Bản dịch chương V: The Role of Natural Resources in the South China Sea trong báo cáo: Cooperation from Strenth: The United States, China and the South China Sea của Trung tâm An ninh mới (CNAS) của Mỹ.
Theo một báo cáo mới đây của Ngân hàng thế giới, tỉ lệ người chết vì ô nhiễm đã ảnh hưởng xấu tới tăng trưởng GDP của Trung Quốc: «Theo một đánh giá, gánh nặng kinh tế của tỷ lệ chết trẻ và chết vì bệnh tật do ô nhiễm không khí tương đương với 157,3 tỷ nhân dân tệ vào năm 2003, chiếm khoảng 1,16% GDP. Con số này được xác định dựa trên giả định rằng giá trị kinh tế bị thiệt hại do mỗi cá nhân chết trẻ được tính bằng cách sử dụng giá trị GDP tính trên đầu người hiện tại cùng với khoảng thời gian mà lẽ ra còn trong cuộc đời họ. Nếu giá trị kinh tế bị thiệt hại của người chết trẻ được ước lượng thống kê vào khoảng 1 triệu NDT – được xác định dựa theo mức độ sẵn sàng chi trả của người dân trong việc tránh rủi ro tử vong - thì những tổn thất do ô nhiễm không khí gây ra tương đương với 3,8% GDP». World Bank, “Cost of Pollution in China: Economic Estimates of Physical Damages” (2007), xiii.
Ví dụ, khi xem xét đến giá trị kinh tế của các nhiên liệu sinh học như dầu cọ (như In-đô-nê-xia có lãi khoảng 12,4 tỷ đô la vào năm 2009), giới hoạch định chính sách tỏ ra thận trọng trước những đánh đổi chính trị liên quan tới việc giảm sản xuất dầu cọ trong nước bởi nếu có thể đạt được tỉ lệ như mức cam kết của họ với những nhà tài trợ quốc tế trong việc bảo vệ những khu rừng còn sót lại thì việc giảm sản xuất này sẽ mang lại nguồn tiền cho các chương trình quốc gia,. Claire Leow và Yoga
Rusmana, “Indonesia to Develop Value-Added Palm Oil Industry, Rajasa Says,” Bloomberg, December 1, 2009, http://www.bloomberg.com/apps/news?pid=newsarchive&sid=a15d6QXkUfwI&refer=commodities.
Ví dụ, đọc Bill Guerin, “European Blowback for Asian Biofuels,” Asia Times Online, February 8, 2007; và Pete Harrison, “Malaysia, Indonesia Warn EU Hampers Palm Oil Trade,” Reuters, 16 tháng 11, 2010.
United Nations MDG Monitor, “Viet Nam,” www.mdgmonitor.org/country_progress.cfm?c=VNM&cd=704; and World Bank, “Vietnam: Country Overview,” (Tháng 6/2008), 1-4.
World Bank, “East Asia and Pacific Economic Update 2010, Vol. I,” (2010), 46.
Energy Information Administration, “South China Sea,” Country Analysis Briefs, Tháng 3/2008, http://www.eia.gov/emeu/cabs/South_China_Sea/OilNaturalGas.html.
Các chuyên gia chỉ ra chính xác rằng các đánh giá của Trung Quốc chỉ bao gồm tổng thể trữ lượng dầu mỏ và khí đốt mà không tính đến số liệu chuẩn của ngành công nghiệp về tỷ trọng của dầu khí có thể thu hồi được, con số đã được chứng minh là khoảng 10%. Chính vì thế, tuyên bố của Trung Quốc về tiềm năng năng lượng ở Biển Đông là thái quá. Tham khảo thêm, Clive Schofield, Ian Townsend-Gault, Hasjim Djalal, Ian Storey, Meredith Miller and Tim Cook, “From Disputed Waters to Seas of Opportunity,” Special Report No. 30 (National Bureau of Asian Research, Tháng 7/ 2011), 12.
Sachin Parashar, “Undeterred India to Hunt for Oil in South China Sea,” The Times of India, 17 tháng 9, 2011, http://articles.timesofindia.indiatimes.com/2011-09-17/india/30168478_1_respect-and-support-countries-ongcvidesh- pham-binh-minh.
Department of Energy, “World Oil Transit Chokepoints,” February 2011,http://www.eia.gov/cabs/world_oil_transit_chokepoints/Full.html.
Những nhà phân tích về năng lượng đã đánh giá, trong những cuộc trò chuyện cá nhân, rằng nhiên liệu sinh học có thể đạt cân bằng giá với dầu mỏ vào khoảng năm 2020. Các chuyên gia lập luận rằng thời gian cần thiết để tăng quy mô sản xuất của nhiên liệu sinh học nhằm cho ra được sản phẩm có mức giá cạnh tranh phụ thuộc nhiều vào ngành công nghiệp đang dẫn dắt phát triển, ngoài ra còn phụ thuộc vào các điều kiện về đầu tư quan trọng khác : « Nếu tham khảo dựa theo các kiến thức về công nghệ sinh học thì thời gian cần thiết là khoảng từ 5 đến 10 năm. Nếu nhìn từ góc độ của ngành công nghiệp dầu khí truyền thống, với các chu kỳ phát triển lâu dài cùng với sự phức tạp và quy mô của hệ thống phân phối, thời gian đó có thể kéo dài từ 15 đến 20 năm ». Daniel Yergin, The Quest: Energy, Security, and the Remaking of the Modern World (New York: Penguin Press, 2011), 663.
Theo Tư lệnh Hải quân Mỹ, ông Ray Mabus, với nhu cầu khiêm tốn của Hải quân, giá nhiên liệu làm từ tảo đã bị cắt giảm một nửa trong năm qua và sẽ dự báo bị cắt giảm tiếp một nửa trong năm nay. Department of Defense Bloggers Roundtable with Ray Mabus, Secretary of the Navy, August 22, 2011. See also Defense Logistics Agency, “Request for Information: Procurement of Hydro-Renewable Jet and Marine Diesel Fuel,” 23/5/2011, https://www.fbo.gov/?s=opportunity&mode=form&id=173a64498bcfa1e6da5b34df1aab2f91&tab=core&_cview=0.
Thứ năm, 19 Tháng 5 2011
Viết bởi nguyen viet
Trong thập niên vừa qua, Trung Quốc đã có những thái độ mạnh mẽ hơn đối với các vấn đề tranh chấp trong vấn đề Biển Đông nhằm bảo vệ lợi ích của mình. Mặc dù vậy, tâm lý phổ biến trong các nhà hoạch định chính sách và thành phần trí thức ở Trung Quốc là vẫn ủng hộ cách tiếp cận hợp tác đối với tranh chấp. Đây là 2 xu hướng đang diễn ra tại quốc gia này.
(Phần 1)

Chính sách “Ôn hòa có Tính toán” của Trung Quốc ở Biển Đông
Trong suốt những năm 1990, Trung Quốc đã có những nỗ lực lớn để bình thường hóa và cải thiện quan hệ với các quốc gia Đông Nam Á, một phần là để phòng ngừa một chính sách ngăn chặn/kiềm chế do Mỹ cầm đầu chống lại Trung Quốc. Thoát ra dần cách tiếp cận ban đầu là coi trọng quan hệ song phương, Trung Quốc đã tham gia nhiều hơn vào các thể chế đa phương và khu vực, đặc biệt là các thể chế cho phép Trung Quốc tăng cường đối thoại với ASEAN. Khi nguyên chủ tịch Giang Trạch Dân và các lãnh đạo ASEAN tổ chức hội nghị cấp cao ASEAN + Trung Quốc lần đầu tiên vào tháng 12 năm 1997, họ đã ra một tuyên bố chung thiết lập mối quan hệ láng giềng tốt, tin tưởng lẫn nhau trong thế kỷ hai mươi mốt. Kết quả là quan hệ kinh tế và chính trị giữa ASEAN và Trung Quốc phát triển nhanh chóng, nhưng quan hệ an ninh vẫn rất mờ nhạt vì những tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông. Tuy nhiên vào thời điểm chuyển giao của thế kỷ, căng thẳng đã bắt đầu giảm dần nhờ một loạt các thỏa thuận: Trung Quốc và Việt Nam ký Hiệp định Biên giới trên Bộ tháng 12 năm 1999, tiếp theo là Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ năm 2000, và tháng 11 năm 2002, Trung Quốc và ASEAN đã ký Tuyên bố về Cách Ứng xử của các Bên ở Biển Đông (DOC). Trước đó, tại Hội nghị Cấp cao ASEAN-Trung Quốc tháng 11 năm 2001, các lãnh đạo ASEAN đã chấp nhận đề xuất của Trung Quốc thành lập Khu vực Mậu dịch Tự do Trung Quốc-ASEAN (CAFTA) bao gồm Trung Quốc, Bru-nây, Ma-lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a, Phi-lip-pin, Xin-ga-po và Thái Lan vào năm 2010, tiếp theo là Cam-pu-chia, Lào, Mi-an-ma và Việt Nam vào năm 2015.
Nói chung, cách tiếp cận vấn đề Biển Đông của Trung Quốc trong thập niên qua phản ánh sự định hướng lại toàn bộ chính sách ngoại giao Trung Quốc đối với các nước Đông Nam Á, điều mà nhiều chuyên gia đã mô tả như là “cuộc tấn quyến rũ” hay “quyền lực mềm”. Trung Quốc chủ yếu nỗ lực tìm kiếm một sự cân bằng trong việc theo đuổi lợi ích về chủ quyền, kinh tế, và chiến lược của nước này trong cuộc tranh chấp. Vì tầm quan trọng chính trị, kinh tế, và chiến lược của Biển Đông đối với Trung Quốc, nhiều người Trung Quốc có thể ủng hộ việc sử dụng các biện pháp cương quyết để theo đuổi lợi ích của nước này trong khu vực đó. Tuy nhiên, trong thập niên qua, không có xung đột quân sự lớn nào giữa Trung Quốc và các bên tranh chấp khác. Những dự báo rằng các nước ASEAN sẽ không thể ép Trung Quốc vào đàm phán đa phương sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997, hóa ra lại không đúng. Trung Quốc một mặt giữ thái độ cương quyết đối với yêu sách chủ quyền của nước này ở tất cả các sự kiện ngoại giao, tiến hành từng hành động để củng cố sự hiện diện của nước này ở Biển Đông, và đáp lại bằng những lời cảnh báo cứng rắn mỗi khi các bên tranh chấp khác hành động ngược lại với lợi ích của Trung Quốc. Nhưng mặt khác, Bắc Kinh nhận thấy họ phải tập trung vào những mục tiêu quan trọng hơn trong chính sách đối ngoại với Đông Nam Á, điều này đã dẫn đến khá nhiều thay đổi quan trọng trong cách cư xử của Trung Quốc hiện tại.
Ví dụ, Trung Quốc đã thay đổi thái độ cương quyết trước đây về đàm phán song phương, và nay đang dần dần chấp nhận cách tiếp cận đa phương. Nước này đã ký DOC, dù không phải là một hiệp định có ý nghĩa pháp lý nhưng có tác dụng rằng buộc về mặt đạo đức đối với các bên liên quan. Nó cho thấy trong một chừng mực nào đó Trung Quốc chấp nhận những chuẩn mực để điều hòa các vấn đề có liên quan đến Biển Đông dù chuẩn mực đó còn sơ khai và không chính thức. Cùng với đề xuất “cùng khai thác”, DOC đã cho thấy rõ hơn thiện ý thỏa hiệp yêu sách chủ quyền của Trung Quốc. Cũng bằng cách tham gia Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ASEAN (TAC), Trung Quốc đã cam kết về mặt pháp lý là không sử dụng vũ lực chống lại các thành viên ASEAN. Một sự thay đổi nữa trong chính sách của Bắc Kinh là ý định ngày càng đẩy mạnh các chương trình cụ thể trong thỏa thuận phát triển chung của Trung Quốc, trong khi trước đây, Bắc Kinh đã bị chỉ trích vì chủ trương “gác tranh chấp, cùng khai thác” mà không có đề xuất thiết thực nào.
Tại sao Trung Quốc lại chấp nhận những chính sách tương đối ôn hòa hơn này? Đây là một câu hỏi lớn, không chỉ để hiểu lịch sử thập niên vừa qua mà còn có cả manh mối về diễn biến trong tương lai. Một nhân tố mà hầu hết các nhà quan sát có thể đồng tình là Hải Quân Quân đội Giải phóng Nhân dân (PLAN) không đủ khả năng, nhưng một mình nhân tố này chưa cho chúng ta lời giải thích thỏa đáng. Rốt cuộc, Bắc Kinh đã sử dụng những hành động vũ lực vào các năm 1974, 1988 và 1995 ngay cả khi hải quân của họ vẫn còn yếu kém hơn hiện nay. Thực tế, có ba nhân tố đồng thời có vai trò quyết định trong việc hình thành cách tiếp cận mới của Trung Quốc: nhu cầu cần có một vùng láng giềng hòa bình để thúc đẩy sự phát triển kinh tế trong nước, tầm quan trọng của ASEAN, và sức ép chiến lược từ những cường quốc bên ngoài.
Đặc biệt nhất là, Bắc Kinh tỏ ra nhiệt tình hơn trước trong việc tạo ra hình ảnh bản thân như một cường quốc có trách nhiệm để làm dịu đi “thuyết mối đe dọa Trung Quốc” và thể hiện mình là người ủng hộ các biện pháp đối thoại, xây dựng lòng tin, và quan hệ hợp tác thay vì thái độ hiếu chiến và đe họa, điều có thể gây tổn hại hơn đến lợi ích của bản thân nước này. Cách tiếp cận mới này không có nghĩa là Trung Quốc và các nước tranh chấp có thể dễ dàng vượt qua tranh chấp, nhưng điều đó có nghĩa là Trung Quốc sẵn sàng chú ý đến những lợi ích chính trị và chiến lược dài hạn của nước này ở Biển Đông và thực hiện giải pháp cùng có lợi. Các nhà phân tích cho rằng giải quyết tranh chấp Biển Đông trong khuôn khổ đối tác chiến lược sẽ tốt cho lợi ích cốt lõi của Trung Quốc, bao gồm cả những nỗ lực của Trung Quốc ngăn chặn Đài Loan độc lập.
Tục ngữ có câu, nhảy tăng-gô cần có hai người. Không có phản ứng tích cực và nhân nhượng lẫn nhau từ các bên tranh chấp khác, Biển Đông không thể có được trạng thái ổn định hiện nay. Chia sẻ các mối quan tâm tương tự Trung Quốc, các nước khác trong khu vực cũng sẵn sàng chấp nhận một quan điểm hòa giải hơn bởi vì tất cả các nước đều cần có môi trường bên ngoài hòa bình và ổn định để phát triển kinh tế nước họ. Nhiều trong số các nước này đã nhận ra rằng đối đầu với Trung Quốc ở Biển Đông sẽ có hại cho sự ổn định của mối quan hệ ASEAN – Trung Quốc. Các cường quốc bên ngoài khác như Hoa Kỳ và Nhật Bản cũng không muốn có xung đột ở Biển Đông vì sợ làm gián đoạn vận tải biển và phá vỡ hòa bình khu vực. Sự hiện diện quân sự chiếm ưu thế của Mỹ ở Đông Á và quan hệ an ninh rộng khắp với các nước Đông Nam Á của nước này là những nhân tố mà các nhà hoạch định chính sách của Trung Quốc phải tính đến. Bắc Kinh hiểu rằng cách tiếp cận nặng tay của Trung Quốc sẽ chỉ đẩy các nước tranh chấp khác đến gần hơn với Oa-sing-tơn trên vũ đài an ninh.
Xuất hiện thái độ cương quyết của Trung Quốc
Bất chấp tất cả những diến biến tích cực đã đề cập trên, có nhiều dấu hiệu cho thấy Trung Quốc có thể trở nên cương quyết hơn trong tranh chấp Biển Đông thời gian tới. Cùng lúc, tâm lý phổ biến trong các nhà hoạch định chính sách và thành phần trí thức ở Trung Quốc là vẫn ủng hộ cách tiếp cận hợp tác đối với tranh chấp. Hai xu hướng này sẽ diễn ra như thế nào? Sự đan xen giữa hai cách tiếp cận có làm cho tranh chấp trở nên tồi tệ và phức tạp hơn không? Hay liệu thái độ ngày càng cương quyết của Trung Quốc cùng với nỗ lực đẩy mạnh các chương trình và những thỏa thuận cùng có lợi sẽ dẫn đến hợp tác nhiều hơn ở Biển Đông?
Những bất bình của Trung Quốc
Sự thay đổi thái độ của Trung Quốc theo chiều hướng cương quyết phản ánh sự bất bình của nước này đối với những hành động của các nước khác trong khu vực, mong muốn có được lợi ích kinh tế ở Biển Đông cùng với sự lớn mạnh về tiềm lực và sức mạnh của nước này. Trước hết, Trung Quốc rất giận giữ về những hành động vũ lực của các nước khu vực đối với ngư dân Trung Quốc ở vùng Trường Sa (A: Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd). Một bản báo cáo của Trung Quốc chỉ ra rằng cộng đồng nghề cá nước này đang ngày càng giảm hoạt động ở vùng Trường Sa (A: Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd), địa bàn đánh cá truyền thống của Trung Quốc ở Biển Đông. Diện tích đánh bắt thường xuyên của Trung Quốc ở Trường Sa (A: Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd) giờ đây đã bị giảm xuống 7800 ki-lô-mét vuông so với 83000 ki-lô-mét vuông vào năm 1989. Truyền thông Trung Quốc thống kê rằng kể từ năm 1989 đã có trên 300 trường hợp tàu cá Trung Quốc bị bắt giữ, xua đuổi, thậm chí là bị bắn ở khu vực Trường Sa (A: Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd), trên tám mươi thuyền cá và hơn 1800 ngư dân Trung Quốc đã bị bắt giữ.
Trong khi phần lớn các nhà phân tích đồng ý với chính phủ rằng “gác tranh chấp, cùng khai thác” vẫn nên là lập trường chính thức của Trung Quốc, một số nhà quan sát Trung Quốc ngày càng chỉ trích chính sách này. Họ cho rằng chính sách này thật ra đi ngược lại lợi ích Trung Quốc vì cho phép các nước yêu sách khác đơn phương khai thác tài nguyên ở Biển Đông. Bắc Kinh cũng không hài lòng trước nỗ lực của các nước tập hợp dưới lá cờ ASEAN để gây sức ép với Trung Quốc. Các nhà phân tích Trung Quốc tin rằng đã có sự thống nhất trong một số thành viên ASEAN về vấn đề Biển Đông để chống lại Trung Quốc. Ví dụ, Liu cho rằng ASEAN đã có vai trò chủ động trong việc phối hợp quan điểm của các quốc gia thành viên khối này, đưa ra tuyên bố chung bày tỏ những mối quan tâm chung của ASEAN, lôi kéo Trung Quốc để thảo luận các tranh chấp, và sử dụng Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) thảo luận vấn đề Biển Đông để gây sức ép với Trung Quốc.
Một phàn nàn đáng chú ý nữa của Trung Quốc là sự dính líu của các cường quốc lớn khác, đặc biệt là Hoa Kỳ. Theo cách hiểu của các học giả Trung Quốc, Oa-sing-tơn đang theo đuổi chính sách “trung lập chủ động” ở Biển Đông. Nhiều cuộc diễn tập hải quân do Mỹ cầm đầu ở Biển Đông đã củng cố cái nhìn tiêu cực của các nhà phân tích Trung Quốc về vai trò của Oa-sing-tơn trong tranh chấp. Họ nhận thấy rằng các cuộc diễn tập CARAT (Hợp tác Sẵn sàng Chiến đấu và Tập huấn Trên biển) giữa Mỹ và sáu quốc gia Đông Nam Á (Phi-lip-pin, Thái Lan, Xin-ga-po, Ma-lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a và Bru-nây) năm 2009 cho thấy Hoa Kỳ đang trở nên chủ động hơn trong tranh chấp Biển Đông, và chủ yếu để chống Trung Quốc. Bắc Kinh cũng quan ngại về sự cải thiện quan hệ quân sự giữa Oa-sing-tơn và Hà Nội. Các học giả Trung Quốc cho rằng ảnh hưởng có tính chiến lược và xu hướng Mỹ nghiêng về ủng hộ các nước tranh chấp khác sẽ cổ vũ các nước này củng cố hơn nữa những yêu sách chủ quyền, đẩy mạnh hơn sự chiếm đóng trên thực tế của họ, và đơn phương khai thác các nguồn năng lượng. Cuối cùng, nhiều nhà phân tích Trung Quốc kết luận rằng Hoa Kỳ tiếp tục theo đuổi chính sách giành ưu thế quân sự ở khu vực Biển Đông và sẽ trở nên chủ động hơn trong tranh chấp để thực hiện chiến lược bao vây và kiềm chế sự phát triển của Trung Quốc.
Trung Quốc Ngày Càng Cương Quyết
Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã bắt đầu chú ý nhiều hơn đến Biển Đông, với hy vọng sẽ thu lợi từ những nguồn năng lượng trong khu vực này. Bất chấp những nghi ngờ về báo cáo trữ lượng dầu khí ở Biển Đông của nhiều chuyên gia quốc tế, Trung Quốc dường như hoàn toàn chắc chắn về triển vọng của các nguồn năng lượng trong khu vực. Jian Fengjiu, một kỹ sư lâu năm của Tập đoàn Dầu khí Xa bờ Quốc gia Trung Quốc (CNOOC), báo cáo rằng cho đến năm 2007, Trung Quốc đã phát hiện 323,5 tỉ mét khối khí ga thiên nhiên ở Biển Đông. Ông cũng cho biết Trung Quốc đang khai thác 6 tỉ mét khối khí ga thiên nhiên ở Biển Đông mỗi năm, chiếm 88 % lượng khí ga sản xuất từ biển của Trung Quốc. Năm 2005 Bộ Đất đai và Tài nguyên Trung Quốc (Chinese Ministry of Land and Reresources) đã coi Biển Đông là một trong 10 vùng tài nguyên chiến lược và đã lập những kế hoạch đẩy mạnh nỗ lực khai thác dầu khí ở vùng nước sâu trong khu vực. CNOOC và một vài viện nghiên cứu khoa học ở Trung Quốc đã đẩy mạnh việc nghiên cứu sâu hơn về trữ lượng dầu khí trong vùng nước sâu của Biển Đông.
Nhiều viện nghiên cứu ở Trung Quốc đã bắt đầu nghiên cứu toàn diện về khí mê-tan và hy-đrat (còn gọi là băng cháy) ở Biển Đông. Tháng 8 năm 2006, Trung Quốc tuyên bố nước này đã có kế hoạch đầu tư 800 triệu Nhân dân tệ cho việc nghiên cứu khai thác băng cháy ở Biển Đông và dự định sẽ khai thác thử nghiệm vào trước năm 2015. Ước tính, chỉ riêng trữ lượng băng cháy ở phần phía bắc Biển Đông đã tương đương với 50 % toàn bộ trữ lượng dầu ở lục địa Trung Quốc. CNOOC có kế hoạch đầu tư 200 tỉ Nhân dân tệ (29 tỉ Đô la Mỹ) trước năm 2020 để lắp đặt 800 giàn dầu ở những vùng nước sâu. Tập đoàn này có kế hoạch sản xuất tương đương 250 triệu tấn dầu thô trong những vùng nước sâu đến năm 2015 và 500 triệu tấn vào năm 2020. Hiện tại, CNOOC đang nỗ lực phát triển công nghệ, trang thiết bị và nguồn nhân lực cần thiết để đạt được những mục tiêu đó.
Hơn một thập niên qua, Trung Quốc đã có nhiều nỗ lực để nâng cao khả năng thực thi luật hàng hải, bao gồm cả việc phát triển “khả năng chưa từng có”, sử dụng vệ tinh để giám sát và kiểm soát những hoạt động trong phạm vi vùng biển tranh chấp của nước này. Trung Quốc ngày càng gia tăng việc áp dụng những khả năng thực thi luật pháp của mình để bảo vệ lợi ích của nước này ở Biển Đông. Vào tháng Ba (năm 2000), có tin là các quan chức Trung Quốc đã thông báo với những người động nhiệm Mỹ rằng Trung Quốc sẽ không tha thứ cho bất cứ sự can thiệp từ bên ngoài vào Biển Đông, một trong những “lợi ích quốc gia cốt lõi” của Trung Quốc. Đây là lần đầu tiên Trung Quốc đưa vấn đề Biển Đông vào lợi ích quốc gia cốt lõi ngang bằng với các vấn đề Đài Loan và Tây Tạng.
Tư tưởng bất mãn phổ biến ở Trung Quốc (đặt biệt là trong công chúng), lợi ích kinh tế ngày càng tăng trong khu vực, và những tiềm lực được tăng cường đang tiếp nhiên liệu cho quan điểm cứng rắn của quốc gia này. Có những dấu hiệu không thể nhầm lẫn rằng Trung Quốc đang nỗ lực đòi quyền lợi ở khu vực Biển Đông, mặc dù các hành động cứng rắn này có thể còn nhằm mục đích khác, không liên quan đến tranh chấp Biển Đông. Đầu năm 2009, lực lượng không quân Quân Khu Quảng Châu đã tiến hành diễn tập quy mô lớn tại khu vực phía nam Biển Đông. Nhiều nhà phân tích Trung Quốc đã xem cuộc diễn tập này, đặc biệt có sự tham gia của loại máy bay chiến đấu phản lực J – 10 tiếp nhiên liệu trên không của Trung Quốc, như một tín hiệu răn đe đối với các nước tranh chấp khác ở Biển Đông. Cuộc diễn tập cho thấy Trung Quốc “đang từng bước áp dụng chiến lược cứng rắn hơn” đối với tranh chấp Biển Đông thay vì chỉ đơn giản là đưa ra các phản đối ngoại giao như nước này đã từng làm trong quá khứ. Tháng 3 năm 2009, Trung Quốc đã đưa tàu Ngư Chính 311, tàu tuần tra ngư nghiệp lớn nhất được sửa lại từ một tàu chiến cũ, đến Hoàng Sa [A: Paracel Islands, TQ: Xisha/Tây Sa – nd] để tuần tra. Trong tháng 5, một đội tàu Ngư Chính khác lại tuần tra khu vực Hoàng Sa [A: Paracel Islands, TQ: Xisha/Tây Sa – nd]. Ngày 01 tháng Tư năm 2010, hai tàu Ngư Chính Trung Quốc bắt đầu lên đường đến Trường Sa (A: Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd) để bảo vệ các hoạt động đánh cá của ngư dân Trung Quốc. Không giống những lần tuần tra trong quá khứ, lần này chính quyền Trung Quốc đã quyết định sử dụng đội tàu này để bắt đầu tuần tra thường xuyên ở khu vực Trường Sa (A: Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd). Trong lễ xuống thuyền, Lui Tianrong, một quan chức cấp cao của Ngư Chính Khu vực “Nam Hải” (Biển Đông) nói rằng thủy thủ hai tàu kiên quyết chống cướp biển, ngăn chặn các nước khác bắt giữ các tàu cá Trung Quốc, phản đối những hành động của nước khác xua đuổi tàu cá Trung Quốc và thể hiện chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông. Từ cuối tháng Ba đến đầu tháng Tư, một đội tàu nhỏ của Hạm đội Bắc Hải thuộc Hải quân Quân đội Giải phóng Nhân dân PLAN đã có chuyến tuần tra dài ngày và đã tiến hành tập trận ở Biển Đông.
Thái độ Cứng rắn và những Thiện ý của Trung Quốc
Mặc dù đang xuất hiện những tín hiệu về thái độ ngày càng cứng rắn của Trung Quốc, đã có những sức ép đáng kể có thể hạn chế sự hiếu chiến của quốc gia này. Trung Quốc phải đối mặt với một số tình thế tiến thoái lưỡng nan trong tranh chấp Biển Đông. Thứ nhất là sự khó khăn trong việc giữ cân bằng giữa việc bảo vệ chủ quyền và các quyền lợi khác của nước này ở Biển Đông và đồng thời duy trì quan hệ hòa bình, ổn định với các nước Đông Nam Á . Đông Nam Á vẫn thường được gọi là sân sau chiến lược của Trung Quốc. Bắc Kinh cần phải duy trì quan hệ tốt với các nước láng giềng Đông Nam Á để xua tan đi học thuyết về “Mối đe dọa Trung Quốc”, xây dựng hình ảnh tích cực về Trung Quốc trên trường quốc tế, và thúc đẩy hình thành hệ thống đa cực trong nền chính trị thế giới. Một cách tiếp cận nặng tay của Trung Quốc có thể dễ dàng đẩy các nước tranh chấp khác sang chiếc ô bảo trợ về an ninh của Mỹ và các cường quốc bên ngoài khác như Nhật Bản và Ấn Độ. Thứ hai, Bắc Kinh thường xuyên phải đối mặt với những tranh chấp biển đảo khó khăn với Nhật Bản ở Biển Hoa Đông. Thách thức ở Biển Hoa Đông cũng không kém phần phức tạp hơn tranh chấp Biển Đông. Thật ra trong những năm gần đây, giữa Trung Quốc và Nhật Bản đã xuất hiện nhiều tình huống khủng hoảng. Nhật Bản là một đối thủ mạnh hơn nhiều, cả về sức mạnh kinh tế và quân sự lẫn trong lĩnh vực hàng hải so với Trung Quốc. Thách thức đối với Trung Quốc là làm thế nào để tránh xảy ra leo thang xung đột trên biển cùng một lúc cả ở phía Đông và phía Nam. Điều này có nghĩa là Trung Quốc phải ứng xử cẩn thận ở Biển Đông để tránh một cuộc đối đầu từ hai phía trên biển. Thứ ba và có lẽ quan trọng nhất là lãnh đạo cấp cao Trung Quốc đang có một thái độ tỉnh táo, coi sự phát triển kinh tế xã hội trong nước là nhiệm vụ trung tâm trong những thập kỷ tới. Giới lãnh đạo Trung Quốc tin chắc rằng, môi trường hòa bình ổn định đặc biệt là trong các nước láng giềng Đông Á là không thể thiếu cho sự phát triển kinh tế bền vững từ đó giữ vững tính chính danh của giới cầm quyền hiện nay ở Trung Quốc.
Trong bối cảnh chiến lược rộng lớn hơn này, Bắc Kinh đã theo đuổi, và có thể sẽ tiếp tục theo đuổi chính sách an ninh khá ôn hòa ở Biển Đông. Nhu cầu phát triển kinh tế xã hội trong nước, tầm quan trọng của Đông Nam Á trong tổng thể chiến lược quốc tế, và chính sách khu vực của Trung Quốc cùng với sức ép chiến lược từ các cường quốc lớn - đặc biệt là Hoa Kỳ- đã tạo thành “một chính sách ôn hòa có tính toán” của Trung Quốc ở Biển Đông như đã bàn ở trên. Nhiều khả năng, những nhân tố đã khiến Trung Quốc áp dụng xu hướng hợp tác sẽ tiếp tục tồn tại và phát huy tác dụng. Không có dấu hiệu cho thấy Trung Quốc sẽ mạo hiểm hy sinh sự tăng trưởng kinh tế trong nước để tiến hành cách tiếp cận vũ lực đối với tranh chấp Biển Đông. Thậm chí, nhận thức về môi trường chiến lược của Trung Quốc gần đây về cơ bản chưa có gì thay đổi. Sách Xanh Châu Á – Thái Bình Dương 2010 do Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc xuất bản hồi tháng Tư kết luận rằng tình hình an ninh của Trung Quốc ở khu vực các nước láng giềng chưa được cải thiện chút nào. Sách cho rằng việc các cường quốc ở Đông Á tăng cường nỗ lực kiềm chế Trung Quốc và sự lo ngại Trung Quốc của các quốc gia nhỏ hơn trong khu vực đang ngày càng tăng do “nhận thức sai lệch của họ về sự trỗi dậy của Trung Quốc”. Cuốn sách đề nghị Bắc Kinh nên đối phó với môi trường an ninh này bằng cách áp dụng những chính sách sau: tăng cường sức mạnh của Trung Quốc, ổn định quan hệ Trung – Mỹ, theo đuổi chính sách láng giềng tốt để mở rộng ảnh hưởng của Trung Quốc trong khu vực láng giềng, và xây dựng quyền lực mềm để cải thiện hình ảnh của Trung Quốc trong khu vực. Việc các tàu tuần tra của Trung Quốc không sử dụng vũ lực đối với tàu cá của các nước khác trong cuộc tuần tra tháng Tư đã cho thấy Trung Quốc vẫn rất thận trọng trong những tham vọng mở rộng những lợi ích của mình. Mặc dù các hoạt động tuần tra ở khu vực Trường Sa (A: Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd) nay đã trở thành thường xuyên, Bắc Kinh vẫn có những biện pháp phòng tránh các cuộc đụng độ và những xích mích nhỏ có thể leo thang dẫn đến xung đột.
Mặc dù còn ở quy mô hạn chế, thái độ ngày càng cương quyết của Trung Quốc có thể gây sức ép khiến các nước tranh chấp khác phải xem xét nghiêm túc hơn các cơ chế hợp tác, như hợp tác chức năng hay “cùng phát triển”. Sáng kiến về các kế hoạch cùng có lợi của Trung Quốc chắc chắn sẽ giúp thúc đẩy sự hợp lâu dài giữa các bên tranh chấp. Một ví dụ rõ ràng về thiện ý của Trung Quốc là việc phân định Vịnh Bắc Bộ giữa Trung Quốc và Việt Nam. Theo hiệp định Trung Quốc và Việt Nam lần lượt được 46,77 và 53,23 % diện tích Vịnh. Hai nước đã đồng ý thiết lập vùng đánh cá chung và cùng thăm dò các nguồn năng lượng dọc đường ranh giới. Ngày 16 tháng 11 năm 2006, CNOOC và PetroVietnam đã ký thỏa thuận cùng thăm dò trữ lượng năng lượng ở khu vực hai bên đã thống nhất trong Vịnh Bắc Bộ. Việc phân định thành công Vịnh Bắc Bộ có thể là một ví dụ tốt cho việc Trung Quốc đang thúc đẩy những mục tiêu có thiện ý hơn ở Biển Đông.
Để thúc đẩy những thỏa thuận cùng có lợi, có một bước mà Trung Quốc cần cam kết là làm rõ hơn quan điểm về các yêu sách của nước này ở Biển Đông. Nhiều năm qua, Bắc Kinh đã đẩy mạnh chương trình “cùng phát triển” ở Biển Đông. Nhưng đồng thời, thỉnh thoảng Trung Quốc lại đòi hỏi rằng các quốc gia tranh chấp khác phải công nhận chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông như một điều kiện tiên quyết. Như ta có thể hình dung, các quốc gia khu vực thẳng thừng từ chối chấp nhận điều kiện tiên quyết của Trung Quốc. Thật ra, điều kiện đòi phải thừa nhận “chủ quyền của tôi” của Trung Quốc là một chướng ngại lớn cho bất cứ chương trình “cùng khai thác” nào. Với sự đồng thuận đang xuất hiện giữa các học giả Trung Quốc về xác định đường chữ U cùng với những thực tiễn song phương và đa phương ở Biển Đông, Trung Quốc có thể xác định rõ hơn những hệ lụy của đường chữ U và bắt đầu triển khai một cách linh hoạt điều kiện “lãnh thổ của tôi”của nước này .
Nhiều nhà phần tích cho rằng tốt hơn, Bắc Kinh nên đưa ra lời giải thích rõ ràng về đường chữ U càng sớm càng tốt trong bối cảnh các nước yêu sách khác đã tuyên bố EEZ (vùng đặc quyền kinh tế) và thềm lục địa của họ ở Biển Đông và tích cực khai thác các nguồn dầu và khí thiên nhiên trong vùng biển này. Các cuộc đàm phán đang diễn ra với Việt Nam về phân định vùng biển và khai thác tài nguyên ở nam Vịnh Bắc Bộ đã làm tăng thêm tính cấp bách của việc giải thích rõ ràng quan điểm về đường chữ U của Trung Quốc. Các nhà phân tích Trung Quốc nhận thức được tầm quan trọng của việc thực thi quyền tài phán liên tục trên thực tế trong các cuộc phân xử quốc tế về phân chia quyền sở hữu các đảo. Họ cho rằng những cuộc tuần tra có tính chính thức năm 2009 phù hợp với mục tiêu củng cố quyền tài phán trên các đảo và vùng nước ở Biển Đông. Tuy nhiên họ cũng cảnh báo rằng Trung Quốc sẽ phải công bố đường cơ sở trên biển ở quần đảo Trường Sa (A: Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd) cùng với EEZ (vùng đặc quyền kinh tế) và thềm lục địa của nước này. Tất cả các biện pháp này đều cấp bách vì những cuộc tuần tra của Trung Quốc giờ đây đã trở nên thường xuyên, và sẽ phải dựa trên nền tảng pháp lý vững chắc. Không có những cơ sở pháp lý này, các đội tuần tra Trung Quốc khó có thể xác định được giới hạn tuần tra của họ để có những hành động phù hợp bảo vệ quyền lợi trên biển của Trung Quốc ở khu vực Trường Sa (A:Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd).
Thay vì yêu sách toàn bộ khu vực Biển Đông, phần lớn các học giả Trung Quốc cho rằng Trung Quốc được hưởng “những quyền lịch sử” ở Biển Đông. Tranh luận nhiều năm giữa các học giả Trung Quốc đã đưa đến một cách hiểu rõ ràng hơn về nội dung “những quyền lịch sử” này. Trước hết, nhiều nhà phân tích Trung Quốc cho rằng Trung Quốc có ít cơ sở pháp lý để tuyên bố chủ quyền trên toàn bộ khu vực Biển Đông. Nói cách khác, “những quyền lịch sử” không có nghĩa là chủ quyền chính thức trên toàn bộ Biển Đông. Một nhóm các nhà nghiên cứu tại Vụ “Nam Hải” (Biển Đông – nd) của Cục Quản lý Nhà nước về Tài nguyên Biển (Trung Quốc) cho rằng đường chữ U nên chỉ biểu thị Trung Quốc sở hữu các đảo ở Biển Đông bởi vì đó là ý định ban đầu của chính quyền Trung Quốc năm 1947- 48 khi vẽ đường này. Họ tin rằng chỉ có quan điểm này mới phù hợp với những tuyên bố của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (PRC) và luật biển quốc tế hiện nay. Họ lập luận thêm rằng những lợi ích của Trung Quốc sẽ không bị thỏa hiệp quá nhiều vì nếu những hòn đảo này thuộc quyền sở hữu của Trung Quốc, chúng sẽ có lãnh hải, EEZ (vùng đặc quyền kinh tế), và thềm lục địa. Li Linghua, một nhà nghiên cứu thuộc Trung tâm Thông tin Biển Nhà nước (State Ocean Information Center), cho rằng đường cơ sở của Trung Quốc ở Hoàng Sa (A: Paracel Islands, TQ: Xisha/Tây Sa – nd) không phù hợp với UNCLOS và Trung Quốc nên nghiêm chỉnh tuân theo những nguyên tắc của UNCLOS khi công bố đường cơ sở của quốc gia này ở Trường Sa (A:Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd). Theo cách hiểu này, Trung Quốc sẽ yêu sách toàn bộ lãnh thổ trên các đảo và bãi đất khác, chấp nhận những điều khoản của UNCLOS cho vùng nước xung quanh các đảo và có “những quyền lịch sử” đối với các nguồn tài nguyên ngoài EEZ (vùng đặc quyền kinh tế) nhưng trong đường chữ U. Tuy nhiên vẫn chưa rõ các nhà phân tích Trung Quốc sẽ giải thích “những quyền lịch sử” ở Biển Đông như thế nào.
Chính phủ Trung Quốc đã nhiều lần tuyên bố rằng nước này yêu sách chủ quyền trên khắp các đảo và quyền chủ quyền trên khắp vùng nước bao quanh chúng ở Biển Đông. Chưa rõ Trung Quốc sẽ xác định giới hạn của “vùng nước bao quanh” như thế nào. Trung Quốc cũng đệ trình bản đồ Biển Đông với đường chữ U lên Uỷ ban Ranh giới thềm lục địa của Liên Hợp Quốc năm 2009 mà không giải thích cơ sở pháp lý và những hàm ý của đường này. Điều này làm tăng thêm mối quan ngại rằng Trung Quốc sẽ áp dụng sự mập mờ có tính toán trong những yêu sách của nước này ỏ Biển Đông. Nếu Trung Quốc có thể tuyên bố rõ ràng hơn rằng nước này không đòi chủ quyền đối với toàn bộ Biển Đông, nước này có thể bỏ đi điều kiện “chủ quyền của tôi” để tiến tới “cùng khai thác”. Trên thực tế, Trung Quốc đã thể hiện sự linh hoạt đáng kể trong điều kiện “chủ quyền của tôi” của nước này. Các tuyên bố và hành động của Trung Quốc đã làm yếu đi đáng kể nền tảng mà dựa trên đó Trung Quốc có thể tuyên bố vùng Biển Đông nằm trong đường chữ U là một phần lãnh thổ truyền thống hay vùng nước lịch sử của Trung Quốc. Trong nhiều tuyên bố chính thức, Bắc Kinh chỉ yêu sách “chủ quyền và quyền chủ quyền trên khắp các đảo và vùng nước bao quanh” ở Biển Đông. Trung Quốc đã công khai tuyên bố rằng nước này sẽ cho phép tự do liên lạc quốc tế ở Biển Đông, bao gồm giao thông hàng hải, các chuyến bay trên vùng trời Biển Đông, và lắp đặt cáp quang và đường ống dẫn dưới đáy biển. Chương trình nghiên cứu địa chấn chung giữa Trung Quốc - Phi-líp-pin - Việt Nam, về cơ bản là một phần của sáng kiến “cùng phát triển”, không đòi hỏi công nhận chủ quyền của Trung Quốc trong khu vực đang nghiên cứu. Trung Quốc đã chấp nhận “cùng khai thác” trong EEZ (vùng đặc quyền kinh tế), thềm lục địa của nước này ở Biển Hoa Đông với Nhật Bản và trong Vịnh Bắc Bộ với Việt Nam; trong cả hai trường hợp, Trung Quốc không yêu cầu bên khác thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc như một điều kiện tiên quyết. Trung Quốc cũng dứt khoát bác bỏ đề xuất của Việt Nam coi Vịnh Bắc Bộ là vùng nước lịch sử trong khi đàm phán phân định ranh giới. Trung Quốc hiện đang đàm phán với Việt Nam về chương trình “cùng phát triển” trong khu vực phía nam của Vịnh Bắc Bộ, một bộ phận của Biển Đông.
Nếu Trung Quốc quả thực giải thích yêu sách lịch sử ở Biển Đông như các nhà phân tích đề xuất, nước này không cần phải nhấn mạnh việc thừa nhận “lãnh thổ của tôi” như một điều kiện tiên quyết để “cùng phát triển”. Việc nhấn mạnh “lãnh thổ của tôi” trái với quan điểm “gác tranh chấp”. Thật ra tất cả các bên tranh chấp khác cũng có thể bỏ đi quan điểm của họ về chủ quyền trong các đề xuất khai thác chung vì UNLOS quy định không nước nào có chủ quyền ngoài giới hạn 12 hải lý lãnh hải. Suy cho cùng kế hoạch “cùng phát triển” không liên quan đến các đảo. Nếu Trung Quốc đi tiên phong trong việc giảm yêu sách chủ quyền ở các vùng nước trên Biển Đông, nước này sẽ xóa bỏ đáng kể rào cản của kế hoạch “cùng phát triển”.
Quan điểm rõ ràng hơn của Trung Quốc về yêu sách ở Biển Đông và thiện chí thúc đẩy những mục tiêu có thiện ý của nước này, ví dụ trạng thái cùng có lợi thực sự, sẽ tạo điểu kiện thuận lợi cho các đàm phán nghiêm túc những đề xuất lớn đã được nêu ra. Xue Li, nhà phân tích chiến lược cấp cao của Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc, đề xuất một Tổ chức Phát triển Năng lượng Trường Sa gồm cả bảy bên tranh chấp cùng thăm dò và khai thác các nguồn năng lượng ở khu vực Trường Sa (A:Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd). Một số học giả Trung Quốc cũng tin rằng thiết lập Vòng cung kinh tế Biển Đông sẽ là một ý tưởng hay. Việc giảm hơn nữa vấn đề chủ quyền ở Biển Đông sẽ giúp đẩy nhanh tiến bộ trong việc hình thành Vùng Kinh tế Vịnh Bắc Bộ (Pan-Beibu), kế hoạch mà chính quyền Trung Quốc muốn đẩy mạnh. Cùng phát triển và hội nhập kinh tế chặt chẽ hơn ở Biển Đông có thể giúp tăng cường hiểu biết, dần xây dựng sự đồng thuận thông qua hợp tác để một ngày trong tương lai, các bên có thể tìm ra những biện pháp thiết thực hơn để giải quyết dứt điểm một lần tất cả các vấn đề. Thậm chí các bên còn có thể đưa những tranh chấp lên trọng tài quốc tế trong tương lai.
Kết luận
Tranh chấp Biển Đông là vấn đề cực kỳ phức tạp. Rõ ràng, trông đợi một giải pháp cuối cùng trong tương lai gần là không thực tế. Trong những năm qua, tranh cãi giữa các bên yêu sách chưa bao giờ dừng lại. Bất cứ bước đi nào của một bên, dù chỉ là hành động tượng trưng để thể hiện quyền tài phán trên thực tế hay khai thác các đảo hoặc các vùng nước cho mục đích kinh tế, đều dẫn đến những phản ứng ngoại giao mạnh mẽ từ các bên khác. Tuy nhiên, những xích mích thường xuyên không làm lu mờ sự thực là các nước liên quan đã kiểm soát khá tốt tranh chấp trong thập niên qua. Không xảy ra xung đột quân sự lớn nào, và thực tế đã có một số tiến triển tích cực trong khu vực. Rõ ràng là các bên liên quan vẫn muốn tìm kiếm những cơ chế hợp tác để cải thiện tình trạng an ninh căng thẳng trong khu vực. Điều này tạo môi trường khu vực thuận lợi để Trung Quốc đẩy mạnh hơn nữa các kế hoạch hợp tác ở Biển Đông.
Điều chắc chắn là, không bên nào sẽ dễ dàng từ bỏ yêu sách của mình ở Biển Đông. May thay, lãnh đạo các nước đã nhận ra nguy cơ xung đột leo thang và đã quyết định tìm các biện pháp để duy trì ổn định chung của khu vực. Cuối cùng thì những người ra quyết định chính trị sẽ phải nhận ra rằng không quốc gia nào có yêu sách hoàn hảo ở Biển Đông. Việc tất cả các nước yêu sách đều đồng ý rằng có tồn tại tranh chấp ở Biển Đông thể hiện rằng những yêu sách này là không hoàn toàn vô căn cứ. Điều này nên là nền tảng cho hợp tác lâu dài.
Trung Quốc chắc chắn sẽ đóng vai trò cốt yếu trong việc quyết định sẽ có chiến tranh hay hợp tác ở Biển Đông. Khi sức mạnh hải quân, khả năng thực thi luật pháp và lợi ích kinh tế biển của nước này tăng lên, Trung Quốc có thể trở nên cứng rắn hơn trong những năm tới. Những cuộc tuần tra của PLAN (Hải Quân Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc) trong Vịnh Ê-đen dường như đã góp phần làm tăng sự tự tin của Trung Quốc trong việc thực hiện chính sách cứng rắn hơn ở Biển Đông. Nhưng cùng lúc Bắc Kinh sẽ nhận ra rằng nước này còn có những lợi ích chiến lược và chính trị thậm chí quan trọng hơn cần tính đến. Hiện tại, chưa rõ Trung Quốc sẽ đòi hỏi quyền lợi ở Biển Đông như thế nào, nhưng rất có thể, giới lãnh đạo Trung Quôc sẽ thường xuyên thử phản ứng từ các bên để tiếp tục hành động một cách phù hợp. Sự biểu hiện cũng như sự gia tăng thái độ cương quyết của Trung Quốc có vẻ sẽ khiêm tốn và có giới hạn.
Cùng lúc, tâm lý bao trùm ở Trung Quốc là ủng hộ hợp tác để ổn định Biển Đông. Trung Quốc đang tăng cường khả năng để đối phó với những vấn đề an ninh phi truyền thống trong vùng biển. Nước này có thể đóng vai trò tích cực hơn trong tất cả các thách thức an ninh phi truyền thống ở Biển Đông. Trung Quốc có thể nỗ lực hành động đơn phương trong vấn đề này nếu các nước khác ngần ngại tham gia. Thật ra, Trung Quốc thậm chí có thể cố lấy lý do ngăn chặn các mối đe dọa an ninh phi truyền thống để thúc đẩy lợi ích của nước này ở Biển Đông. Sự chủ động của Trung Quốc ở Biển Đông có thể tạo ra tình thế tiến thoái lưỡng nan cho các nước khác. Các nước này có thể chống lại những những động thái cứng rắn của Trung Quốc, đơn phương hay đa phương hoặc thậm chí với sự hỗ trợ của một số cường quốc bên ngoài. Hậu quả của việc này sẽ làm trầm trọng thêm tình hình an ninh ở Biển Đông và ảnh hưởng xấu đến quan hệ giữa Trung Quốc và Đông Nam Á. Các nước này cũng có thể chọn tham gia với Trung Quốc để cùng giải quyết những thách thức khác nhau trên biển và thậm chí có thể đồng ý khai thác chung các nguồn năng lượng và tài nguyên thiên nhiên khác ở Biển Đông.
Trong cả hai trường hợp, những động lực mới có thể xuất hiện ở Biển Đông. Trên phạm vi rộng, tình trạng an ninh cuối cùng ở Biển Đông sẽ được hình thành bởi những hành động của Trung Quốc. Sau một thập niên thực hiện chính sách an ninh ôn hòa ở Biển Đông, xây dựng sự đồng thuận về tính chất và phạm vi tuyên bố của mình, và xúc tiến những thỏa thuận cùng có lợi với những quốc gia láng giềng ven biển của nước này, giờ đây Trung Quốc đã có thêm khả năng và sự linh hoạt để đưa ra những chương trình có thiện ý hơn và thúc đẩy lợi ích chung ở Biển Đông. Nếu quan điểm hợp tác trội hơn ở Trung Quốc, và các quốc gia khu vực thấy có lợi hơn khi hưởng ứng tích cực những đề xuất hợp tác, chúng ta có thể hy vọng rằng hòa bình và ổn định ở Biển Đông sẽ được duy trì ít nhất là trong thập kỷ tới.
Li Mingjiang là phó giáo sư của Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam, Đại học Công Nghệ Nanyang, Xin-ga-po. Lĩnh vực nghiên cứu chính của ông gồm sự trỗi dậy của Trung Quốc trong bối cảnh quan hệ khu vực Đông Á và Quan hệ Trung - Mỹ, lịch sử ngoại giao Trung Quốc, các nhân tố nội bộ trong việc hình thành các chiến lược quốc tế của Trung Quốc. Ông nhận bằng Tiến sĩ Khoa học Chính trị tại Đại học Boston. Ông đã từng học tại Đại học Ngoại Giao (Bắc Kinh) và Trung Tâm Hopkins-Nanjing. Ông cũng đã từng là phóng viên ngoại giao cho Tân Hoa Xã từ năm 1999 đến 2001. isjli@ntu.edu.sg
Li Ming jiang, phó giáo sư của Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam, Đại học Công Nghệ Nanyang, Xin-ga-po.
Người dịch: Nguyễn Văn Bình
Hiệu đính: Hoàng Thị Tuấn Oanh
Bản gốc tiếng Anh "China’s South China Sea delimma- Balancing sovereignty, development and security"
Bài viết trích trong " Security and International Politics In the South China Sea ", Chủ biên: Sam Bateman, Ralf Emmers, năm 2009.
Đề nghị chỉ được dẫn đường link mọi thông tin, bài viết trên www.nghiencuubiendong.vn, không đăng lại khi chưa có sự đồng ý của Ban Biên tập NCBĐ.
Thứ năm, 19 Tháng 5 2011
Viết bởi nguyen viet
Bài viết của PGS. Li Ming Jiang, Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam, Đại học Công Nghệ Nanyang, Xin-ga-po, nêu lên quan điểm của Trung Quốc đối với tầm quan trọng của Biển Đông. Sau đó, bài viết đánh giá những thay đổi trong chính sách của Trung Quốc đối với vấn đề Biển Đông trong thập niên vừa qua

Trung Quốc đáng được xem là bên quan trọng nhất trong tranh chấp Biển Đông. Tính chất và phạm vi yêu sách của Trung Quốc, tình hình an ninh, các hoạt động quân sự và kinh tế của nước này trong khu vực luôn tác động sâu sắc đến diễn biến tranh chấp trong những thập niên qua. Bài viết này thảo luận về cuộc tranh cãi xung quanh chính sách của Trung Quốc đối với vấn đề Biển Đông. Nghiên cứu cho thấy sự cân bằng giữa thái độ ngày càng cương quyết và mong muốn hợp tác của Trung Quốc sẽ trở thành một thách thức trong việc hoạch định chính sách [đối với Trung Quốc và các bên tranh chấp khác].
Trung Quốc đáng được xem là bên quan trọng nhất trong tranh chấp Biển Đông. Tính chất và phạm vi yêu sách của Trung Quốc, tình hình an ninh, các hoạt động quân sự và kinh tế của nước này trong khu vực luôn tác động sâu sắc đến diễn biến tranh chấp trong những thập niên vừa qua. Dĩ nhiên, Trung Quốc sẽ vẫn tiếp tục là nhân tố chủ yếu của bất cứ diễn biến lớn nào ở Biển Đông trong tương lai gần. Do đó, việc hiểu những động thái có thể của Bắc Kinh trong tranh chấp là một yêu cầu chính đáng và rất quan trọng.
Bài viết này mô tả và phân tích những quan điểm và xu hướng mới đang xuất hiện ở Trung Quốc liên quan đến vấn đề Biển Đông, đặc biệt là sự tương tác giữa thái độ ngày càng cương quyết và những nỗ lực thúc đẩy các biện pháp hợp tác. Trước tiên, bài viết điểm qua quan điểm của Trung Quốc đối với tầm quan trọng của Biển Đông. Sau đó, bài viết đánh giá những thay đổi trong chính sách của Trung Quốc đối với vấn đề Biển Đông trong thập niên vừa qua. Căn cứ vào thực tế rằng Trung Quốc ngày càng tỏ rõ sự khao khát các nguồn năng lượng ở Biển Đông và nước này đang phát triển nhanh chóng tiềm lực hải quân, trong những năm tới có vẻ Bắc Kinh sẽ trở nên cương quyết hơn ở Biển Đông (ví dụ tuần tra thường xuyên và với mật độ dày hơn ở khu vực Trường Sa (A: Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd) và có các biện pháp mạnh hơn để bảo vệ quyền lợi của Trung Quốc trong khu vực). Nói chung, những biện pháp này được quân đội và các cơ quan thực thi pháp luật ủng hộ. Những hành động cứng rắn như thế của Trung Quốc chắc chắn sẽ gây ra những mối quan ngại mới trong các nước Đông Nam Á và dẫn đến các biện pháp đáp trả trong một bộ phận các quốc gia khu vực, có lẽ cùng với những hỗ trợ ngấm ngầm hoặc công khai từ các cường quốc bên ngoài. Tuy nhiên, trong bối cảnh những mối quan tâm chiến lược của Trung Quốc chủ yếu là Đông Á và các lãnh đạo nước này đang quan tâm nhất tới việc phát triển kinh tế quốc nội, nhiều khả năng Trung Quốc sẽ giới hạn hành vi của mình trong một chừng mực có thể để tránh leo thang tranh chấp.
Trong khi đó, quan điểm chiếm ưu thế, được phe dân sự trong cộng đồng hoạch định chính sách đối ngoại ở Trung Quốc, gồm phần lớn các học giả ủng hộ, là giữ nguyên hiện trạng hoặc đẩy mạnh hợp tác hơn ở Biển Đông. Thật vậy, ngày càng có nhiều lời kêu gọi Trung Quốc đóng một vai trò tích cực hơn trong những chương trình hợp tác ở Biển Đông, như hợp tác đa phương về những vấn đề an ninh phi truyền thống và cùng khai thác các nguồn tài nguyên. Để đưa được các bên đang tranh chấp vào các chương trình hợp tác, Bắc Kinh sẽ phải thể hiện rõ hơn quan điểm của nước này trong tranh chấp và sẵn sàng chủ động thúc đẩy những đề xuất các bên cùng có lợi. Tôi nhận định trong bài này rằng Trung Quốc đã chuẩn bị tiến hành cả hai việc chủ yếu bởi vì đang xuất hiện sự đồng thuận trong cuộc tranh luận nội bộ về bản chất và phạm vi yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông cũng như những hệ quả pháp lý và chính sách từ chính những hành động mà Trung Quốc đã thực hiện đối với tranh chấp trong những thập niên qua.
Nhiều năm qua, Trung Quốc vẫn luôn than vãn rằng các bên tranh chấp khác đã không tích cực hưởng ứng đề xuất cùng phát triển của nước này ở Biển Đông. Có nhiều lý do dẫn đến sự thất bại này. Một phần là do thỉnh thoảng Trung Quốc lại đòi các bên khác phải công nhận điều kiện tiên quyết về “chủ quyền của chúng tôi”. Một phần khác là vì lý do kỹ thuật, ví dụ việc xác định các chương trình hợp tác cụ thể hay khả năng của các bên trong việc tiến hành hợp tác. Ngoài ra, tình hình chính trị nội bộ của nhiều bên cũng có tác động tiêu cực đối với việc thúc đẩy hợp tác đa phương ở Biển Đông. Liệu thái độ ngày càng cương quyết của Trung Quốc cùng với những nỗ lực trong việc thúc đẩy các chương trình hợp tác của nước này có tạo ra những động lực mới trong vấn đề tranh chấp Biển Đông phức tạp này không? Liệu các nước khu vực có cảm thấy sức ép từ Trung Quốc và hưởng ứng cách tiếp cận đang thay đổi của nước này bằng cách đánh giá nghiêm túc hơn các chương trình hợp tác hay họ sẽ đáp lại bằng các biện pháp chống trả quyết liệt hơn? Sẽ là mạo hiểm nếu đưa ra bất cứ câu trả lời rõ ràng nào cho những câu hỏi này bởi vì có quá nhiều điều bất định trong tranh chấp. Căn cứ vào diễn biến tranh chấp trong thập niên qua, tôi kết luận có hai xu hướng - sự cương quyết ngày càng tăng của Trung Quốc, chủ yếu gần như chỉ mang tính biểu tượng, và lợi ích ngày càng tăng trong việc thúc đẩy hợp tác – có khả năng tạo ra động lực mới trong tranh chấp Biển Đông. Trong những năm tới, Trung Quốc sẽ gặp phải thách thức trong việc làm thế nào để điều hòa giữa khuynh hướng thể hiện một lập trường ngày càng cương quyết hơn và thiện chí chính trị hợp tác hiện nay của nước này. Đây cũng sẽ là thách thức cho các nước Đông Nam Á có yêu sách trong việc đối phó với cách tiếp cận tranh chấp đang thay đổi của Trung Quốc.
Biển Đông trong Hoạch định Chiến lược của Trung Quốc
Cũng như đối với các bên tranh chấp khác, các nguồn năng lượng ở Biển Đông có lẽ là điều hấp dẫn lớn nhất đối với Trung Quốc. Tuy nhiên, có lẽ khác với các các nước tranh chấp khác, Trung Quốc coi tầm quan trọng chiến lược của khu vực là dầu khí: các nhà phân tích Trung Quốc xem tài nguyên thiên nhiên ở Biển Đông như nhu cầu có tính quyết định đối với tương lai của nền kinh tế Trung Quốc. Kể từ khi trở thành một nước nhập khẩu ròng dầu lửa năm 1993, nhu cầu năng lượng của Trung Quốc luôn tăng. Tại cuộc họp của chính quyền trung ương về các vấn đề kinh tế ngày 29 tháng 11 năm 2003, chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào đã nhấn mạnh vấn đề an ninh dầu lửa của nước này. Ông kêu gọi các cộng sự của mình xem xét vấn đề năng lượng từ một tầm cao chiến lược mới, đưa ra một chiến lược phát triển dầu lửa mới và tiến hành các biện pháp hữu hiệu để đảm bảo an ninh năng lượng của Trung Quốc. Biển Đông, thường được gán cho cái tên “Vịnh Ba Tư thứ hai” trong các báo cáo của Trung Quốc, được xem như một trong 10 nguồn cung dầu khí chiến lược quan trọng nhất của nước này.
Trong tình hình này, không có gì ngạc nhiên khi Trung Quốc tỏ ra khá khó chịu trước việc các nước tranh chấp khác khai thác tài nguyên năng lượng ở Biển Đông. Trung Quốc cho rằng bắt đầu từ những năm 1980 các nước tranh chấp khác đã lợi dụng tình trạng yếu kém về công nghệ và thiếu nguồn tài chính của Trung Quốc để đẩy mạnh nỗ lực khoan tìm các nguồn năng lượng trong khu vực. Các nhà quan sát Trung Quốc thường xuyên phàn nàn rằng các quốc gia tranh chấp khác đã xây dựng hơn một nghìn giếng dầu ở Biển Đông, và số lượng dầu khí các nước này sản xuất từ cá dự án này gấp vài lần sản lượng dầu khí ngoài khơi của Trung Quốc. Các nhà phân tích Trung Quốc than vãn rằng thậm chí Bắc Kinh chưa xây dựng được một giàn khoan và sản xuất lấy được một thùng dầu nào ở khu vực Quần đảo Trường Sa (A: Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd). Họ thấy rằng thật trớ trêu khi trên thực tế Trung Quốc phải nhập khẩu một khối lượng dầu lớn của các nước đang bơm dầu lên từ Biển Đông.
Còn một cân nhắc quan trọng nữa mà đối với Trung Quốc cũng là vấn đề chiến lược. Biển Đông kết nối Eo biển Ma-lắc-ca ở phía tây nam với Kênh đào Balintang, Kênh đào Bashi và Eo biển Đài Loan ở phía đông bắc, được coi như là “con đường huyết mạch” giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Các nhà phân tích Trung Quốc cho rằng Biển Đông có tầm quan trọng đặc biệt với Trung Quốc. Thứ nhất, Biển Đông được xem như tấm lá chắn tự nhiên đối với an ninh Trung Quốc ở phía nam. Các vùng miền nam Trung Quốc có đông dân và tương đối phát triển. Thứ hai, có một chỗ đứng vững chắc ở Biển Đông sẽ tạo cho vùng nội địa Trung Quốc một tuyến phòng thủ chiến lược hơn 1000 km, ý nghĩa an ninh của nó là không thể kể hết được.
Uy thế về an ninh của Trung Quốc ở Biển Đông sẽ có tác dụng như một nhân tố kiểm chế đối với Hạm đội Bảy của Mỹ đang tích cực hoạt động ở Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Thứ ba, về mặt địa lý, Trung Quốc bị bao quanh bởi chuỗi đảo phía đông. Trong bối cảnh Mỹ luôn có ý định duy trì sự hiện diện quân sự hùng mạnh ở Tây Thái Bình Dương, Bắc Kinh thấy rằng một chỗ đứng vững chắc ở Biển Đông ít nhất sẽ cho Trung Quốc thêm nhiều không gian di chuyển chiến lược hơn. Thứ tư, các nhà chiến lược Trung Quốc tin rằng, về địa chiến lược, Trung Quốc có thể bị tấn công từ cả đất liền và biển. Tính dễ bị tổn thương từ hai phía đã được cải thiện tới một mức độ nhất định sau khi Trung Quốc đã giải quyết các tranh chấp biên giới trên đất liền với tất cả các nước láng giềng của nước này, ngoại trừ Ấn Độ và Bu-tan. Họ cho rằng những thách thức đối với chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc trong tương lai sẽ chủ yếu đến từ biển, bao gồm Biển Đông.
Kinh tế biển cũng là một nhân tố quan trọng trong các tính toán của Bắc Kinh. Nghành đánh bắt hải sản đã trở thành một phần quan trọng trong đời sống kinh tế người dân một số tỉnh duyên hải Trung Quốc tiếp giáp với Biển Đông, ví dụ Quảng Đông, Hải Nam, và Quảng Tây. Bắc Kinh đã bắt đầu chú ý nhiều hơn đến phát triển kinh tế biển. Một nhà nghiên cứu cấp cao của Cục Quản lý Nhà nước về Tài Nguyên Biển [State Ocean Administration] chỉ ra rằng biển đã trở thành một khu vực quan trọng trong cuộc đua về sức mạnh quốc gia và lợi thế chiến lược dài hạn. Trung Quốc đã nhận thấy rằng kinh tế biển của nước này chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong nền kinh tế tổng thể của nước này. Theo một nguồn thông tin của Trung Quốc, kinh tế biển chiếm 3,4 % tổng thu nhập quốc dân của Trung Quốc (GDP) năm 2002, thấp hơn nhiều các cường quốc biển phương Tây.
Giống như các nước tranh chấp khác, Biển Đông cũng quan trọng với Trung Quốc vì có nhiều tuyến đường hàng không và các tuyến liên lạc hàng hải. Biển Đông là cửa ngõ giao thông quan trọng ra eo biển Ma-lắc-ca, có vị trí rất quan trọng đối với an ninh năng lượng của Trung Quốc. Các nhà phân tích Trung Quốc thường đề cập đến một thực tế là khoảng bốn phần năm số lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc phải đi qua eo biển Ma-lắc-ca rồi sau đó đi qua Biển Đông.
Những Yêu sách Lịch sử của Trung Quốc ở Biển Đông
Như đã được biết đến rộng rãi trong cộng đồng học thuật, yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông chủ yếu chủ yếu dựa trên những nền tảng lịch sử. Các nhà phân tích Trung Quốc chủ yếu biện luận rằng Trung Quốc là nước đầu tiên khám phá và sử dụng những hòn đảo và tài nguyên ở Biển Đông. Họ cho rằng tổ tiên của người Trung Quốc đã phát hiện ra những hòn đảo ở Biển Đông vào thời nhà Hán ở Trung Quốc, thế kỷ thứ hai trước Công nguyên. Vào thời Tam Quốc thế kỷ thứ ba, một đoàn sứ thần Trung Quốc đến Cam-pu-chia (lúc bấy giờ theo tiếng Trung Quốc gọi là Fu Nan - Phù Nam) đã có những mô tả vắn tắt về Hoàng Sa (A: Paracel Islands, TQ: Xisha/Tây Sa – nd) và Trường Sa (A: Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd) trong một cuốn sách bằng tiếng Trung Quốc. Dưới thời Tống và Nguyên (thế kỷ 10 - 14), nhiều tài liệu chính thức và không chính thức của Trung Quốc dường như chỉ ra rằng khu vực Biển Đông nằm trong đường biên giới quốc gia Trung Quốc. Trong thời Minh và Thanh, nhiều bản đồ chính thức tính cả Trường Sa (A: Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd) vào lãnh thổ Trung Quốc. Chính quyền nhà Thanh đã có hành động thể hiện quyền tài phán đối với Hoàng Sa (A: Paracel Islands, TQ: Xisha/Tây Sa – nd) trong những năm đầu thế kỷ 20.
Người Trung Quốc cũng thường tuyên bố rằng ngư dân Trung Quốc đã khai thác tài nguyên hải sản ở Biển Đông nhiều thế kỷ và giữ những bản ghi chép tỉ mỉ về các tuyến hàng hải và tên các hòn đảo, đảo nhỏ và các bãi ngầm ở Biển Đông. Nhiều ngư dân Trung Quốc đã sống và được chôn cất trên một số hòn đảo ở Trường Sa (A: Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd). Khi các nhà thám hiểm Nhật Bản bắt đầu đến Trường Sa (A: Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd) vào cuối những năm 1910 và kế tiếp là người Pháp vào đầu những năm 1930, họ đã bắt gặp một số ngư dân Trung Quốc ở Trường Sa (A: Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd) và rất nhiều bằng chứng cho thấy những ngư dân Trung Quốc này đã dùng những đảo này làm nơi cư trú thường xuyên. Các học giả Trung Quốc khẳng định rằng ngư dân Trung Quốc đã chống lại những nỗ lực chiếm đóng các đảo ở Trường Sa của người Pháp trong những năm 1930. Hành động của nười Pháp ở Biển Đông đã gây ra một phong trào dân tộc chủ nghĩa mạnh mẽ ở Trung Quốc. Chính quyền Trung Quốc đã lên tiếng phản đối Pháp trong những năm 1930. Và vào đầu những năm 1930, để đáp trả những hành động của người Pháp ở Biển Đông, chính quyền Trung Quốc đã bắt đầu tăng cường nỗ lực để quy định chính thức việc xuất bản các bản đồ Trung Quốc liên quan đến Biển Đông. Việc này cuối cùng dẫn tới một bản đồ chính thức về các đảo và bãi ở Biển Đông được xuất bản vào tháng 4 năm 1935. Người Nhật Bản kiểm soát Trường Sa (A: Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd) trong Chiến tranh Thế giới Thứ hai, nhưng Trung Quốc đã thu hồi lại Quần đảo Trường Sa (A: Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd)vào cuối năm 1946.
Tháng 12 năm 1947 chính quyền Cộng hòa Trung Hoa xuất bản một bản đồ không chỉ định vị các quần đảo chính, các đảo và những những thực thể nổi trên mặt nước khác ở Biển Đông mà còn có đường mười một đoạn (còn được gọi là đường hình chữ U) bao quanh phần lớn Biển Đông. Đây là lần đầu tiên đường mười một đoạn xuất hiện trong một bản đồ chính thức của Trung Quốc. Tháng 2 năm 1948 chính quyền Trung Quốc xuất bản một bản đồ hành chính minh họa những yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông. Các học giả Trung Quốc khẳng định rằng khi đường đứt đoạn được công bố lần đầu tiên, không nước nào phản đối về mặt ngoại giao. Họ nói thêm rằng sau đó nhiều nước thậm chí đã xuất bản các bản đồ công nhận đường 11 đoạn của Trung Quốc. Sau năm 1949, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (PRC) đã thừa hưởng đường 11 đoạn. Năm 1953, cố thủ tướng Chu Ân Lai đã quyết định bỏ đi hai đoạn trong vịnh Bắc Bộ và bản đồ Trung Quốc được xuất bản từ đó chỉ có đường chín đoạn ở khu vực Biển Đông.
Chính phủ Trung Quốc chưa bao giờ chính thức giải thích những ý nghĩa pháp lý của đường chữ U, cũng không làm rõ phạm vi tuyên bố của mình ở Biển Đông. Nhưng có một điều rõ ràng là: Bắc Kinh coi đường chữ U như một trong những chứng cứ quan trọng nhất cho yêu sách lịch sử của Trung Quốc. Trên thực tế, các học giả Trung Quốc tranh luận khá mạnh cho quyền chủ quyền của Trung Quốc đối với những hòn đảo và các thực thể nổi trên mặt nước khác ở Biển Đông bằng cách đề cập đến đường chữ U. Về vấn đề mâu thuẫn có thể có giữa đường chữ U và Công ước Liên hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS), các nhà phân tích Trung Quốc vẫn giữ quan điểm rằng đường chữ U của Trung Quốc đã được công khai từ lâu trước khi xuất hiện luật biển quốc tế hiện nay (bao gồm UNCLOS), và cơ chế pháp lý luật biển quốc tế mới không nên phủ nhận những quyền trước đây của Trung Quốc ở Biển Đông. Họ cho rằng Trung Quốc nên được hưởng cả quyền pháp lý được quy định trong UNCLOS, ví dụ, EEZ (vùng đặc quyền kinh tế) và thềm lục địa, cũng như những quyền lịch sử đối với khu vực nằm trong đường chữ U. Họ biện luận rằng các bên yêu sách khác không nên đòi hỏi EEZ và thềm lục địa hay những hòn đảo và các thực thể nổi trên mặt nước khác trong đường chữ U của Trung Quốc. Họ cho rằng UNCLOS chỉ giải quyết việc phân định các vùng biển, nó không cung cấp bất cứ cơ sở pháp lý nào về những yêu sách trên đảo và những loại bãi khác trên biển. Họ lập luận rằng ý nghĩa lịch sử và pháp lý của đường chữ U chỉ ra rằng những hòn đảo trong Biển Đông đã là lãnh thổ Trung Quốc rồi và như vậy các quốc gia tranh chấp khác không có quyền sử dụng yêu sách EEZ (vùng đặc quyền kinh tế) hay thềm lục địa của họ theo các điều khoản UNCLOS để đưa ra bất cứ đòi hỏi nào về những hòn đảo trong đường chữ U.
Đọc phần tiếp theo
Li Ming Jiang, Phó giáo sư Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam, Đại học Công Nghệ Nanyang, Xin-ga-po
Người dịch: Nguyễn Văn Bình
Hiệu đính: Hoàng Thị Tuấn Oanh
Bản gốc tiếng Anh "China’s South China Sea delimma- Balancing sovereignty, development and security"
Bài viết trích trong " Security and International Politics In the South China Sea ", Chủ biên: Sam Bateman, Ralf Emmers, năm 2009.
Đề nghị chỉ được dẫn đường link mọi thông tin, bài viết trên www.nghiencuubiendong.vn, không đăng lại khi chưa có sự đồng ý của Ban Biên tập NCBĐ.
Các đoạn sau đưa ra một bản báo cáo tóm tắt một số điểm quan trọng trong bằng chứng lịch sử mà các tài liệu chính thức và các bài viết học thuật Trung Quốc thường sử dụng. Để xem xét lại một cách toàn diện tất cả những yêu sách xung đột, xem Marwyn S. Samuels, Contest for the South China Sea (Niu-ooc và Luân đôn; 1982); Mark J. Valencia, China and The South China Sea Disputes: Conflicting claims and potential solutions in the South China Sea, Adelphi Paper, số. 298 (Luân đôn: International Institute for Strategic Studies, 1995); Liselotte Odgaard, Marine Security between China and Southeast Asia (Burlington, VT: Ashgate, 2002).
|