30 - 11 - 2020 | 5:08
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home
Tag:mỹ

Sau những chính sách và hành động của Trung Quốc đối với Biển Đông kể từ 2007, vấn đề Biển Đông càng được thu hút bởi dư luận thế giới đặc biệt là Mỹ. Do đó sự căng thẳng của vấn đề Biển Đông cần được xem xét trong tổng thể lợi ích và các mối quan tâm của các nước có liên quan, trước hết là các nước trong khu vực, Trung Quốc và Mỹ.

 Phần III

 

Tại Hội thảo Quốc tế về Biển Đông lần thứ hai ở thành phố Hồ Chí Minh (tháng 11/2010), nhiều ý kiến cho rằng chính sự hung hăng của Trung Quốc đã làm cho tranh chấp Biển Đông được quốc tế hóa và dẫn đến sự can dự của Mỹ ở khu vực Đông Nam Á.1] Trong vài thập kỷ qua, những lời chỉ trích Mỹ xem nhẹ Đông Nam Á khá phổ biến. Ngoại trừ các cường quốc chủ chốt như Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc, Washington rất ít quan tâm đến phần còn lại của toàn vùng. Việc Trung Quốc gia tăng nhanh chóng sức mạnh chính trị và kinh tế đã thuyết phục chính quyền Obama chuyển hướng và tung thêm nguồn lực và nhân sự, dù còn hạn chế, vào phần đất này của thế giới. Nhiều học giả bày tỏ lo ngại rằng cạnh tranh chiến lược Trung-Mỹ sẽ là một nhân tố quyết định cục diện chiến lược ở khu vực trong tương lai và xu hướng phát triển của tranh chấp.2]

Thái độ mới đây của Hoa Kỳ sẵn sàng chấp nhận các quy định và cách xử sự hiện hành trong khu vực được thể hiện vào lúc Trung Quốc đã mở rộng ảnh hưởng của họ khắp bốn phương trời. Từ lâu trước khi đạt đến tư thế hiện nay, uy tín và giá trị ngoại giao của Trung Quốc đã dựa trên đường lối chung sống hòa bình và trợ giúp Đông Nam Á. Đối với Trung Quốc, bất kỳ một tranh chấp, dù là một vụ cãi cọ nhỏ với khu vực vào khi ấy đều có thể làm hoen ố hình ảnh của Bắc Kinh trong tư cách người bạn của thế giới đang phát triển.3]Theo đuổi những gì mà Trung Quốc đã làm cũng với tâm niệm lấy ASEAN làm trọng tâm, từ khi Tổng thống Barack Obama lên cầm quyền, Mỹ đã cải thiện được chỗ đứng của mình trong khối vốn lâu nay vẫn nghi ngờ ý định của Washington. Việc Hoa Kỳ tham gia Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (TAC) 2009 và cử đại sứ đến ASEAN đã thay đổi lề lối can dự của Mỹ và mở ra cho nước này một con đường mới.

Mỹ ngày càng quan tâm đến Biển Đông và coi đây là một cơ hội để khôi phục ảnh hưởng và giành lại vai trò chủ đạo ở Đông Á. Ngày 15/7/2009, Tiểu ban về Đông Á và Quan hệ Thái Bình Dương của Ủy ban về Ngoại giao của Thượng viện Mỹ đã tổ chức cuộc điều trần về “các vấn đề lãnh hải và tranh chấp chủ quyền ở Đông Á”. Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton tham dự Hội nghị ARF 17 tại Hà Nội tuyên bố rằng Mỹ có “lợi ích chiến lược” trong việc chứng kiến các tranh chấp lãnh thổ được giải quyết thông qua “tiến trình ngoại giao hợp tác của tất cả các bên tuyên bố chủ quyền”. Trước đó, tại Đối thoại Shangri-la, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gate đã bày tỏ quan điểm ủng hộ giải quyết tranh chấp ở Biển Đông thông qua các nỗ lực đa phương, hòa bình và phù hợp với luật quốc tế.4] Sự hung hăng của Trung Quốc đã góp phần đẩy Mỹ và Đông Nam Á xích lại gần nhau hơn. Mỹ và Việt Nam đã tổ chức đối thoại về chính sách quốc phòng tại Hà Nội ngày 19/8/2010 và được đánh giá là một bước ngoặt trong các mối quan hệ giữa hai cựu thù. Giáo sư Carlyle A. Thayer thuộc Học viện Quốc phòng Ô-xtrây-li-a nhận định: “Sự hiếu chiến về quân sự của Trung Quốc tại Tây Thái Bình Dương và Biển Đông tạo ra một động lực để tăng cường hợp tác quân sự Mỹ-Việt. Cả hai nước có lợi ích chung trong việc ngăn chặn Trung Quốc hay bất kỳ nước nào thống trị các tuyến đường biển thương mại cũng như thực thi tuyên bố chủ quyền bằng áp lực. Việt Nam coi sự hiện diện của Mỹ như hàng rào chống lại sức mạnh quân sự ngày càng gia tăng của Trung Quốc”.5]

Nhật Bản cũng nhìn Trung Quốc bằng con mắt nghi ngại hơn nhiều. Bản báo cáo của Bộ Quốc phòng Nhật Bản ngày 10/9/2010 nhắc đến những vụ trực thăng của Trung Quốc bay quá gần các chiến hạm Nhật, vụ các tàu ngầm và khu trục hạm Trung Quốc được nhìn thấy gần đảo Okinotori vào tháng 4/2010. Đó là chưa kể vụ một tàu ngầm hạt nhân của Trung Quốc xâm nhập hải phận Nhật Bản vào tháng 11/2004. Bản báo cáo này trách Bắc Kinh là đã không nói rõ về những dự án hiện đại hóa quân đội Trung Quốc. Vào tháng 3/2010, Trung Quốc cho biết sẽ tăng ngân sách quân sự năm 2010 thêm 7,5% lên thành 77,9 tỷ đôla, nhưng theo Bộ Quốc phòng Mỹ, tổng chi phí quân sự của Bắc Kinh đã vượt quá 150 tỷ đôla từ năm 2009, nếu tính cả các khoản chi tiêu không được ghi trong ngân sách chính thức.6]Theo Bộ Quốc phòng Nhật, sự thiếu minh bạch trong chính sách quốc phòng của Trung Quốc và những hoạt động quân sự của nước này là vấn đề đang gây quan ngại cho khu vực và cộng đồng quốc tế, kể cả Nhật Bản.[7]

Chính sách mập mờ, những hành động đơn phương và mạnh bạo của Trung Quốc ở Biển Đông đã làm các nước trong khu vực thêm nghi ngờ chiến lược “phát triển hòa bình” và “ngoại giao hài hòa” của Bắc Kinh.8] Nhiều nước ASEAN nhìn nhận an ninh Đông Nam Á và an ninh quốc gia của họ bị đe dọa trước quá trình hiện đại quân sự nhanh chóng một cách thiếu minh bạch của Trung Quốc.9] Tình huống tiến thoái lưỡng nan về an ninh xảy ra ở khu vực và kết quả là chi tiêu quân sự ở Đông Nam Á tăng vọt. Theo Viện nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockholm: “Việc chuyên chở vũ khí đến Đông Nam Á trong giai đoạn 2005-2009 gần như tăng gấp đôi so với giai đoạn 2000-2004. Số lượng vũ khí mà Ma-lai-xi-a mua trong giai đoạn 2005-2009 tăng 722% so với giai đoạn 2000-2004, Xing-ga-po tăng 146% và In-đô-nê-xi-a 84%.10] Điều đáng nói là các nước ASEAN đều không muốn phải lựa chọn giữa Trung Quốc và Mỹ, không muốn các nước bên ngoài khu vực can thiệp vào vấn đề tranh chấp chủ quyền giữa họ và Trung Quốc. Cái mà họ cần là một Trung Quốc thực sự phát triển hòa bình, có thái độ hợp tác và có trách nhiệm. Trong bối cảnh đó, ASEAN đã chủ động giảm thiểu rủi ro bằng cách tìm kiếm sự bảo đảm của các cường quốc bên ngoài khu vực.

Phản ứng với thái độ và hành động của Trung Quốc cũng thể hiện trên các diễn đàn ngoại giao. Kể từ tháng 7/2010, tình hình khu vực Biển Đông chuyển sang một giai đoạn phát triển mới với những đặc trưng mới của một trong những điểm nóng trong quan hệ chính trị và an ninh quốc tế. Những yếu tố tạo nên sự thay đổi đã manh nha từ năm 2009, nhưng chính Diễn đàn An ninh khu vực ARF 17 tại Hà Nội đã là điểm mốc đánh dấu bước ngoặt này với việc Mỹ khẳng định trở lại khu vực Đông Nam Á và có lợi ích quốc gia trong các vấn đề liên quan đến hàng hải và an ninh ở Đông Á. Có thể nói ARF 17 hé mở khuynh hướng khu vực hóa, quốc tế hóa hồ sơ Biển Đông, hoặc ít nhất thì tranh chấp Biển Đông cũng đã bắt đầu trở thành một trong những chủ đề thời sự nóng, thu hút sự quan tâm đặc biệt của dư luận. Lần đầu tiên, an ninh ở khu vực Biển Đông đã được công khai tranh luận tại một diễn đàn đa phương với sự tham dự của 27 quốc gia.11]Tiếp đó, ngày 8/7/2010, Phái đoàn thường trực của In-đô-nê-xi-a tại Liên Hợp Quốc đã có công hàm phản đối công hàm ngày 7/5/2009 của Phái đoàn thường trực Trung Quốc tại Liên Hợp Quốc về cái gọi là bản đồ yêu sách hình chữ U (hay đường đứt khúc 9 đoạn) trong Biển Đông “đối với chủ quyền không thể tranh cãi của Trung Quốc trên các đảo trong Biển Nam Trung Hoa và các vùng nước kế cận, cũng như các quyền chủ quyền và tài phán đối với các vùng nước, vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của chúng”.[12]

Sau ARF 17, rõ ràng an ninh ở Biển Đông là một hệ thống đa tầng nấc và đa vấn đề với đa đối tượng. Ở đây, có các vấn đề tranh chấp chủ quyền, lãnh thổ xảy ra giữa hai nước trong khu vực, ví dụ như tranh chấp quần đảo Hoàng Sa và các vùng nước liên quan. Bên cạnh đó, cũng có các vấn đề quốc tế liên quan đến các quốc gia bên ngoài khu vực như vấn đề an toàn và an ninh hàng hải qua các vùng biển quốc tế. Cùng với các tranh chấp về chủ quyền, còn có các vấn đề phát triển nghề cá và bảo vệ tài nguyên biển, chống các nguy cơ an ninh phi truyền thống, nghiên cứu khoa học biển, cứu hộ và cứu nạn… liên quan đến các nước ven biển, Trung Quốc và các nước ASEAN. Mặc dù giữa ASEAN và Trung Quốc đã ký Tuyên bố chung về Ứng xử của các bên ở Biển Đông song tuyên bố này đã không được thực thi trong suốt thời gian qua. Hiện tại, quan chức của các nước đang bàn thảo vấn đề thực thi Tuyên bố và đàm phán khả năng ký kết một Bộ luật ứng xử (COC) ở Biển Đông có tính ràng buộc cao hơn.

Ngày càng nhiều nước trên thế giới quan tâm hợp tác và mong muốn hiện diện trong khu vực này, tạo ra các lợi ích đan xen và cạnh tranh ở Biển Đông. Đây chính là hệ quả trào lưu thế giới ngày càng trở nên phẳng và phải đối đầu với nhiều thách thức toàn cầu như khủng hoảng kinh tế, biến đổi khí hậu, cấm sử dụng và phổ biến vũ khí hạt nhân, chạy đua vũ trang, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, quyền con người và chống khủng bố, chống cướp biển. Tất cả các quốc gia càng ngày càng phụ thuộc vào nhau. Hội nhập và sự phát triển hòa bình của mỗi quốc gia phụ thuộc vào an ninh khu vực và thế giới và ngược lại, không quốc gia nào có thể tách khỏi luật chơi chung.[13]

Tóm lại, sự căng thẳng của vấn đề Biển Đông cần được xem xét trong tổng thể lợi ích và các mối quan tâm của các nước có liên quan, trước hết là các nước trong khu vực, Trung Quốc và Mỹ. Những mối quan tâm đặc biệt hơn cả gồm: sự quan ngại về tham vọng của Trung Quốc; những nguy cơ về an ninh, tranh chấp trên biển; những bất đồng xung quanh căng thẳng giữa Hàn Quốc và CHDCND Triều Tiên về vụ chìm tàu Cheonan và về vấn đề hạt nhân của CHDCND Triều Tiên; việc Mỹ bán vũ khí cho Đài Loan; và các bất đồng về kinh tế - thương mại khác v.v… Ở một góc độ nào đó, Trung Quốc cũng phải cân nhắc trước khả năng bị cô lập và chịu sức ép của cộng đồng quốc tế trong vấn đề Biển Đông. Có không ít ý kiến cho rằng Trung Quốc nên tỏ ra bớt độc đoán và ngạo mạn, có thái độ hòa giải hơn. Thời báo Hoàn cầu ngày 27/7 có đoạn: “Trung Quốc phải tránh mở rộng vô tận những lợi ích sống còn của mình. Một cường quốc cũng có thể nhượng bộ về lãnh thổ, mà như vậy không có nghĩa là phải chịu hy sinh”. Thế giới đang hướng về Biển Đông để kiểm nghiệm xem, liệu Trung Quốc có thực sự “phát triển hòa bình”?./.

Đỗ Thanh Hải & Nguyễn Thùy Linh, Chương trình Nghiên cứu Biển Đông


[1] Ý kiến của các học giả tại Hội thảo Quốc tế về Biển Đông lần thứ hai tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh tháng 11/2010.

 

[2] Mark Valencia, Tham luận tại Hội thảo Quốc tế “Biển Đông: Hợp tác vì an ninh và phát triển trong khu vực” tại thành phố Hồ Chí Minh, tháng 11/2010.

[3]http://www.viet.rfi.fr/tong-hop/20100826-my-sat-canh-voi-asean-buoc-trung-quoc-thay-doi-luat-choi

 

[4] Robert Gate, Remark at the 9th IISS Asia Security Summit, The Shangri-La Dialogue, June 2010, http://www.iiss.org/conferences/the-shangri-la-dialogue/shangri-la-dialogue-2010/plenary-session-speeches/first-plenary-session/robert-gates/

[5] Mark Tran, “Vietnam, unlikely US ally”, The Guardian, 31/8/2010, xem tại: http://www.guardian.co.uk/commentisfree/cifamerica/2010/aug/31/vietnam-us-military-china, ngày 13/12/2010.

[6] Nhật lo ngại về sự phát triển quân sự của Trung Quốc, RFI, 10/9/2010, xem tại:

http://www.viet.rfi.fr/chau-a/20100910-nhat-lo-ngai-ve-phat-trien-quan-su-cua-trung-quoc?quicktabs_2=0, ngày 10/12/2010.

[7] http://www.viet.rfi.fr/chau-a/20100910-nhat-lo-ngai-ve-phat-trien-quan-su-cua-trung-quoc

[8] Evam A.Feigenbaum, “China’s rise and the Contested Commons”, CRF, August 13, 2010, xem tại: http://blogs.cfr.org/asia/2010/08/13/chinas-rise-and-the-contested-commons/

[9] Daljit Singh, “South China Sea tensions hurt Southeast Asian Security”, Strait Times, 16 August 2010, xem tại: http://www.viet-studies.info/kinhte/south_china_sea_tensions_hurt_security.htm

[10] Carlyle A.Thayer, “ Southeast Asia: Pattern of Security Cooperation”, tlđd, tr. 8-10.

[11] “South China Sea: First test for regional body”, The Straits Times (Singapore), August 10, 2010 Tuesday, xem tại: http://www.viet-studies.info/kinhte/south_china_sea_StraitsTimes_editorial.htm and “ASEAN shows sudden revole against Beijing”, South China Morning Post, August 6, 2010, xem tại: http://www.viet-studies.info/kinhte/asean_shows_sudden_resolve.htm

[12] http://vietnamnet.vn/chinhtri/201007/Indonesia-phan-doi-duong-luoi-bo-cua-Trung-Quoc-924999/

[13] Việt Long, “Biển Đông: Sao phải quc tế hóa một vấn đề quốc tế”, Tuan Vietnamnet, ngày 08/09/2010.

 

Một ngày sau khi có tin Phi-líp-pin gửi thư lên Liên Hiệp Quốc để phản đối yêu sách đường chín đoạn của Trung Quốc, Bắc Kinh lên tiếng nói điều này “không thể chấp nhận được”. Đáp lại công hàm của Phi-líp-pin, Trung Quốc cũng lập tức gửi công hàm ngoại giao lên Liên Hiệp Quốc khẳng định chủ quyền 'không thể chối cãi' ở Biển Đông. Về nội dung công hàm này, các chuyên gia có khá  nhiều ý kiến bình luận xung quanh cách giải thích, ngôn từ cũng như  ý đồ của Trung Quốc.

 (Phần 1; Phần 2)

 

III. Công hàm của Trung Quốc

NCS. Vũ Hải Đăng

Tiếp tục liên quan đến vấn đề này, Trung Quốc vừa gửi công hàm  trả lời Phi-líp-pin. Sau khi đọc xong, tôi mấy suy nghĩ sơ bộ sau:

1) Tôi thấy khá khó hiểu với lập trường của Trung Quốc về địa vị của Trường Sa. Ở đoạn "kể tội" Phi-líp-pin, họ có nói Phi-líp-pin đã chiếm một vài đảo, đá (some islands and reefs) của Trường Sa. Nhưng sau đó, công hàm lại có đoạn viết là Trường Sa có đầy đủ các vùng lãnh hải, Đặc quyền kinh tế và Thềm lục địa (is fully entitled to Territorial Sea, Exclusive Economic Zone and Continental Shelf). Bãi đá (Reefs) thì làm sao có vùng Đặc quyền kinh tế và Thềm lục địa được?  Phải chăng đây là một cách khẳng định gián tiếp rằng Trung Quốc định áp dụng quy chế quần đảo cho Trường Sa ?

2) Khi tuyên bố các quốc gia ven biển vùng Đặc quyền kinh tế và Thềm lục địa yêu sách không xâm phạm đến chủ quyền lãnh thổ của các nước (coastal states' EEZ and continental shelf claims shall not infringe upon the territorial sovereignty of other states) phải chăng Trung Quốc viện dẫn nguyên tắc không xâm phạm lẫn nhau (no-encroachment principle) ? Điều này làm tôi nhớ tới lý lẽ của Hy Lạp trong vụ Thổ Nhĩ Kỳ - Hy Lạp năm 1978. Chỉ khác là trong vụ này, Hy Lạp viện dẫn rõ ràng điều 121 của Công Ước Luật Biển.

ThS. Nguyễn Thị Thanh Hà

Liên quan đến nội dung công hàm của Trung Quốc phản bác công hàm của Phi-líp-pin, mọi người có nhận thấy là bây giờ đã hình thành rõ 2 trường phái quan điểm: (i) các nước ASEAN cho rằng cách xác định vùng biển liên quan đến quần đảo Trường Sa là phải đưa trên cụ thể các hình thái địa chất (geological features) của quần đảo; (ii) Trung Quốc thì nói rằng toàn bộ quần đảo có lãnh hải, vùng Đặc quyền kinh tế và Thềm lục địa riêng.

Việt Nam chưa nói một cách chính thức quan điểm của mình về cách xác định vùng biển ở quần đảo Trường Sa mặc dù một số học giả Việt Nam đã phản đối việc coi quần đảo Trường Sa giống như một quốc gia quần đảo. Bây giờ chính là lúc Việt Nam phải lên tiếng. Liệu Việt Nam sẽ công khai đứng về bên nào? Điều này sẽ ảnh hưởng đến khả năng hợp tác với ASEAN để giải quyết các vấn đề Biển Đông. Không biết mọi người có nghĩ như vậy không?

NCS. Nguyễn Đăng Thắng

Cám ơn anh Đăng đã chia sẻ thông tin và suy nghĩ về Công hàm của Trung Quốc.

Về câu hỏi thứ nhất của anh Đăng, tôi nghĩ đúng là Trung Quốc coi Trường Sa là có quy chế quần đảo. Thực chất là Trung Quốc đã áp dụng đường cơ sở quần đảo đối với quần đảo Hoàng Sa. Nhưng ngay cả nếu Trung Quốc coi Trung Quốc là quy chế quần đảo cũng có điểm tốt đó là Trung Quốc coi như bỏ yêu sách về vùng nước lịch sử mà giờ đây lại coi đường 9 đoạn  là ranh giới vùng biển/thềm lục địa tính từ các đảo (việc này sẽ là rất có lợi cho ta và có thể thay đổi phần nào cách thức và diễn đàn để đấu tranh).  

Về câu hỏi thứ hai, tôi nghĩ có thể hiểu là theo nguyên tắc “không xâm phạm lẫn nhau” (non-encroachment) cũng được. Tôi chưa đọc vụ Hy Lạp/ Thổ Nhĩ Kỳ nhưng theo tôi hiểu, nguyên tắc này hoàn toàn có thể áp dụng được vì nó chỉ là một phần của học thuyết đất thống trị biển. Trong tranh luận lần trước tôi có nói là Phi-líp-pin áp dụng học thuyết đất thống trị biển không hoàn toàn chính xác và hạn chế theo hướng có lợi cho mình: một đảo nếu đáp ứng 121 thì hoàn toàn có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng (chính vì thế vùng biển ngoài KIG như Phi-líp-pin nói có thể sẽ nằm trong vùng biển tính từ Trường Sa chứ không phải là của quốc gia ven biển khác nếu Trường Sa – đảo lớn thứ hai ở quần đảo này - được coi là đáp ứng 121).

Ngoài ra, cũng như anh Đăng nói là Trung Quốc "kể tội" Phi-líp-pin là đã chiếm đóng các đảo này. Cái này theo cảm giác của tôi là thể hiện việc Trung Quốc hơi bị bất ngờ về công hàm của Phi-líp-pin, cần có câu trả lời sớm trước khi Tổng thống Phi-líp-pin sang Trung Quốc. Chính vì thế đoạn này trong công hàm dường như là không cần thiết. Trung Quốc còn viện dẫn nguyên tắc “các hành vị bất công không tạo nên luật pháp” (ex injurita jus non oritur), một nguyên tắc thường được viện dẫn trong trường hợp xâm chiếm có sử dụng vũ lực. Hình như TQ quên mất sự kiến năm 1988? 

Điểm cuối cùng bên trên đưa đến câu hỏi cuối cùng và cực kỳ quan trọng mà chị Hà nêu ra đó là lập trường của Việt Nam thế nào? Có nhiều quan điểm của học giả cho rằng việc Việt Nam đệ trình ranh giới ngoài tính từ bờ biển, bỏ qua các đảo là sự thừa nhận các đảo ở Trường Sa không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng. Cá nhân tôi thì cho rằng theo nguyên tắc không được giải thích hạn chế chủ quyền (limitation on sovereignty cannot be presumed) thì việc Việt Nam và Malaixia đệ trình từ bờ biển không nhất thiết có nghĩa là Việt Nam và Malaixia cho rằng các đảo trong quần đảo Trường Sa không đáp ứng 121.

Cuối cùng, có một điểm nữa đó là cả công hàm tiếng Anh của cả Phi-líp-pin và Trung Quốc đều sử dụng các thuật ngữ tiếng la-tinh và tiếng Pháp. Mọi người có bình luận gì không?

NCS. Trần Văn Thùy

Về bài viết của anh Thao, nó thực sự sẽ rất hữu ích nếu như anh làm sáng tỏ hơn trong kết luận của anh  đoạn: “Nó cũng thể hiện tình đoàn kết giữa các nước ASEAN hình thành một lập trường chung: Mọi tranh chấp tại Biển Đông đều cần phải giải quyết trên cơ sở Công ước Luật biển 1982 của Liên hợp quốc." Khi đọc đến điểm này, băn khoăn của tôi là UNCLOS có thể đáp ứng việc giải quyết tất cả các tranh chấp ở Biển Đông đến đâu và đến mức độ nào, nhất là vấn đề về chủ quyền.

Về phát biểu của Phái đoàn Thường trực của Trung Quốc, như anh Thắng đã đề cập, tôi nghĩ đây có thể là thời điểm để Việt Nam triệt để khai thác lập luận của Trung Quốc thể hiên trong công hàm của họ, đặc biệt là học thuyết pháp lý “ex injuria jus non oritur” để củng cố và tăng cường yêu sách lâu dài của Việt Nam đối với Trường Sa và Hoàng Sa. Theo tôi, động thái của Phi-líp-pin và Trung Quốc đòi hỏi phản ứng của Việt Nam và Việt Nan cần cân nhắc kỹ thời điểm phản ứng.

TS. Trần Trường Thủy

Tiếp theo ý kiến của mọi người, tôi thấy có một số vấn đề nữa cần đề cập hay làm rõ hơn:

1) Bên cạnh khía cạnh pháp lý, thì đây là trò chơi chính trị (political game), nhất là trong bối cảnh Phi-líp-pin  thay đổi lãnh đạo, cứng lên với Trung Quốc, thân với Mỹ. Cái hay là bây giờ các nước (kể cả Trung Quốc) trong khi theo đuổi các lợi ích chính trị và an ninh (political và security interests) đều phải "trong khuôn khổ luật pháp quốc tế hiện đại", do đó việc đẩy tiếp COC lại rất cần thiết.

2) Ý thứ hai là hệ quả của ý thứ nhất, về Công hàm mới nhất của Trung Quốc, có thể thấy là Trung Quốc đã làm sáng tỏ yêu sách theo UNCLOS, nhất là Trường Sa nằm hoàn toàn trong Lãnh hải, vùng Đặc quyền kinh tế và Thềm lục địa (is fully entitled to Territorial Sea, Exclusive Economic Zone and Continental Shelf). Do đó bây giờ "cuộc chiến pháp lý" lại quay trở lại với: (i) Tranh luận về chủ quyền đối với các hình thái địa chất của Hoàng Sa, Trường Sa; (ii) Đất thống trị được bao nhiêu biển? các hình thái địa chất này có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa hay không?.

3) Về phản đối Đường lưỡi bò của các nước ASEAN, đến nay Việt Nam, Indonesia và bây giờ là Philippin đã chính thức phản đối, Malaysia chỉ gián tiếp phản đối bằng báo cáo chung về ranh giới ngoài với Việt Nam, Bnunei thì giữ "low profile". Do đó rõ ràng là câu chuyện còn chưa kết thúc.

4) Việt Nam còn nhiều việc cần làm ngay (ngoài việc như anh Thùy nêu về phản ứng sau câu chuyện Công hàm của Phi-líp-pin và Trung Quốc và việc chị Hà nêu về làm sáng tỏ lập trường về "quy chế đảo" - mặc dù nhiều học giả quốc tế cho rằng Việt Nam đã minh bạch qua các báo cáo ranh giới ngoài vừa rồi).

NCS. Vũ Hải Đăng
Tôi xin phép có 2 ý kiến ngắn liên quan đến việc lập trường liên quan đến địa vị của Trường Sa và  viện dẫn "ex injurita jus non oritur" của Trung Quốc:

1.   Về quy chế của Trường Sa, theo tôi thì cho tới thời điểm này có thể khẳng định quan điểm chung của Việt Nam, Malayxia và Philippines là không coi Trường Sa có quy chế quần đảo. Có việc lên tiếng khẳng định thực thể nào là đảo, thực thể nào không tôi nghĩ là chưa cần thiết và cũng chưa thực sự thích hợp.

2.    Tôi nghĩ không phải là Trung Quốc quên các sự kiện 1974 và 1988 đâu. Nếu cần thiết, họ sẽ lập luận rằng đấy là hành động tự vệ (self defence), được luật pháp quốc tế cho phép trong khi đó việc yêu sách Trường Sa của Phi-líp-pin  rõ ràng là muộn hơn nhiều so với Trung Quốc và Việt Nam.

Cảm ơn anh Thắng đã trả lời các câu hỏi của tôi. Tôi xin phép nêu ý kiến của tôi về thắc mắc của anh  việc sử dụng "tràn lan" các thuật ngữ la tinh và tiếng Pháp trong 2 Công hàm. Lúc đầu, tôi cũng hơi thắc mắc tại sao Phi-líp-pin lại sử dụng thuật ngữ latin trong Công hàm. Về sau tôi nghĩ chắc mục đích quan trọng nhất của Phi-líp-pin là muốn phản đối việc coi Trường Sa là quần đảo và có vùng Đặc quyền kinh tế và Thềm lục địa nên muốn nhấn mạnh nguyên tắc "đất thống trị biển" và còn nêu bật về sau “quốc gia đảo và quốc gia ven biển phù hợp” (the appropriate coastal and archipelagic state). Còn mục đích của Trung Quốc khi sử dụng các thuật ngữ latin có lẽ là muốn "gậy ông đập lưng ông", "lấy mỡ nó rán nó", dùng chính phong cách và khái niệm Phi-líp-pin sử dụng để bác quan điểm của Phi-líp-pin

Cuối cùng tôi xin phép thêm một thắc mắc nhỏ: theo cao kiến của các anh, chị thì liệu Bru-nây có lên tiếng không đây ? Sau Việt Nam và Phi-líp-pin thì Brunei là nước bị ảnh hưởng nhiều nhất do đường yêu sách lưỡi bò. Bên cạnh đó, 3 nước bị ảnh hưởng đều đã lên tiếng cả rồi.

NCS. Nguyễn Đăng Thắng

Một câu hỏi hay. Tôi nghĩ Bru-nây từ trước đến giờ vẫn giữ quan điểm “giấu mình chờ thời” (low profile) nên ít có khả năng họ cũng tham gia cùng các nước ASEAN khác phản đối Trung Quốc, trừ phi có đòn bẩy khác.

Về vấn đề quyền tự vệ (self-defence), có nhiều cách giải thích. Tôi nghĩ lập luận về việc sử dụng vũ lực để "lấy lại" lãnh thổ hiện đang nằm trong sự kiểm soát của quốc gia khác là không thuyết phục. Cá nhân tôi nghiên về hướng lập luận của Higgins, nguyên Chánh án Tòa án quốc tế, một trong những luật gia xuất sắc nhất giai đoạn hiện nay cho rằng quyền tự vệ phải căn cứ trên chiếm hữu thực tế. Tôi thấy cách giải thích này là hợp lý nhất và phù hợp với nguyên tắc giải quyết hòa bình tranh chấp. Nếu không thì quan hệ quốc tế sẽ rất bất ổn định.

PGS. TS. Nguyễn Hồng Thao

Về công hàm của Trung Quốc, anh Đăng thấy có sự lộn xộn, lẫn lộn nhưng theo tôi Trung Quốc không thể có một sai lầm vội vàng mà không tính các bước đi trước. Dù Phi-líp-pin nói rõ về Đường lưỡi bò nhưng công hàm của Trung Quốc không nhắc lại mà chỉ nêu Trung Quốc có chủ quyền không tranh cãi trên các đảo, vùng nước tiếp giáp...vùng nước liên quan...Cái ngầm nhắc đến Đường lưỡi bò là từ xa xưa trong lịch sử. Trung Quốc không bao giờ bỏ Đường lưỡi bò nhưng cố tình mập mờ để tận dụng có lợi. Cách các học giả hiểu thường là Trung Quốc yêu sách cả các đảo cũng như vùng nước trong phạm vi Đường lưỡi bò. Gần đây do phản ứng quốc tế, học giả Trung Quốc tìm cách thăm dò Đường lưỡi bò  chỉ là yêu sách các đảo chứ không phải vùng nước. Cách phản biện lần này của Trung Quốc không khác với công hàm  phản đối VN 7/5/2009 và cũng tìm cách cho phù hợp với các Luật Lãnh hải  và Luật Đặc quyền kinh tế. Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với các đảo ở Biển Đông và vùng nước liền kề và có chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng nước liên quan cũng như là đáy biển và vùng đất dưới đáy biển (China has indisputable sovereignty over the islands in the SCS and the adjacent waters, and enjoys sovereign rights and jurisdiction over the relevant waters as well as the seabeds and subsoils thereof ). Câu này chỉ dùng từ “island” có nghĩa là Trung Quốc coi tất cả các đảo trong Biển Đông có Đặc quyền kinh tế và Thềm lục địa chứ không phải là đảo đá theo điều 121.3.

Tiếp đó, từ “relevant waters” có thể hiểu là các vùng nước liên quan Đặc quyền kinh tế và Thềm lục địa của từng đảo trong quần đảo Trường Sa. Điều này phù hợp với các Luật Lãnh hải, Luật Đặc quyền kinh tế mà Trung Quốc kể dưới. Nghĩa là có một cách giải thích mới: Đường lưỡi bò là yêu sách tất cả các đảo trong đó và các vùng nước của chúng phát sinh từ UNCLOS cũng nằm trong đó hoàn toàn hay một phần thì vẫn là  vùng nước liên quan (relevant waters). Qua đó có thể giải thích, Trung Quốc vừa có tính lịch sử, vừa theo đúng luật UNCLOS.

Từ đó, Trung Quốc lật lại với Phi-líp-pin các Quốc gia ven biển và Quốc gia quần đảo có quyền mở rộng các vùng biển từ đường cơ sở của mình  nhưng nếu có đảo đá thuộc chủ quyền của Trung Quốc trong đó thì việc xác định Vùng Đặc quyền kinh tế và Thềm lục địa của những quốc gia ven biển không được xâm phạm đến quyền chủ quyền của các nước khác (title over the EEZ and CS of the coastal States can not infringe upon the territorial sovereignty of other states). Trung Quốc đã viết đúng như vậy “coastal states' EEZ and continental shelf claims shall not infringe upon the territorial sovereignty of other states".

Còn sử dụng các từ Latin thì đúng như anh Thắng và anh Đăng đã phân tích, sử dụng gậy ông đập lưng ông. Phi-líp-pin dùng thì Trung Quốc cũng không kém. Kinh nghiệm cho thấy, Trung Quốc luôn có tính làm mập mờ, lúc nào dùng Luật Quốc tế, lúc dùng Luật biển đều có tính toán cả.

Một ý liên tưởng nữa là Phi-líp-pin đưa ra đất thống trị biển nội dung tương tự như  Hilary Clinton tại ARF 17 năm 2010, có chăng chỉ khác cách thể hiện. Liệu công hàm của Phi-líp-pin có sự tác động của Mỹ?

Về ý kiến của anh Thủy hiện có Việt Nam, Phi-líp-pin và In-đô-nê-xi-a phản đối, còn Ma-lai-xi-a chỉ gián tiếp thì nên xem xét trong bối cảnh chung. Việt Nam và Ma-lai-xi-a gửi công hàm phản đối công hàm ngày 7/5/2009 của Trung Quốc ngay ngày hôm sau, vì vậy có thể hiểu Ma-lai-xi-a cũng đã phản đối. Còn nếu đòi họ phản đối rõ từng chữ như Phi-líp-pin thì chắc sẽ khó.  Lần này mọi người hy vọng Việt Nam nên có ý kiến chính thức sau khi Phi-líp-pin và Trung Quốc đã có công hàm.

NCS. Nguyễn Đăng Thắng

Đúng là phần trên (đoạn thứ 2), Trung Quốc tiếp tục sử dụng những khái niệm như vùng nước lân cận, chủ quyền và các quyền "liên quan" (related rights - khác với quyền chủ quyền) dựa trên các bằng chứng lịch sử và pháp lý. Cái này cho thấy âm hưởng tiếp khái niệm vùng nước lịch sử theo đường 9 đoạn.

Mặt khác, đoạn thứ 4, Trung Quốc lại chỉ hạn chế lại còn lãnh hải, vùng Đặc quyền kinh tế và Thềm lục địa thôi theo Công ước Luật biển, Luật Lãnh hải và Luật về vùng Đặc quyền kinh tế và Thềm lục địa. Đặt trong bối cảnh của nó (đoạn 4 đi sau đoạn 3 phản đối Phi-líp-pin) thì đoạn 4 trong công hàm của Trung Quốc là để 'tranh luận' với PLP về đường 9 đoạn. Như vậy, có thể giải thích là Trung Quốc phần nào đã làm sáng tỏ ý nghĩa của đường 9 đoạn - đó là thể hiện phạm vi địa lý của quần đảo Trường Sa. Tuy nhiên, cách giải thích này lại có điểm không phù hợp với lịch sử vì theo tôi hiểu Trung Quốc lần đầu tiên công bố đường 9 đoạn (đúng ra là 11 đoạn) vào năm 1947. 

Những năm 1930s, Trung Quốc chỉ công bố bản đồ "các đảo của Trung Quốc" trên Biển Đông nhưng không dùng đường 9 hay 11 đoạn để vẽ. Nói cách khác, đoạn 4 chỉ là để khẳng định chủ quyền đối với Trường Sa và quy chế của quần đảo này, không đả động gì đến đường 9 đoạn. Chính vì thế tôi cho rằng công hàm của TQ chưa chắc đã đem lại sự giải thích rõ ràng  (greater clarity) mà có khi còn tạo ra 'sự mơ hồ hơn (deeper confusion).

Trong hoàn cảnh nào, tôi nghĩ Trung Quốc cũng đã tính toán kỹ khi đưa cơ sở pháp lý cho việc yêu sách vùng biển và Thềm lục địa của quần đảo Trường Sa là Công ước Luật biển, Luật Lãnh hải và Luật về vùng Đặc quyền kinh tế và Thềm lục địa. Đáng chú ý, luật cuối cùng có quy định là "các quyền lợi biển của Trung Quốc không bị ảnh hưởng". Quy định này có thể sẽ được Trung Quốc sử dụng sau này để "tái khẳng định" các quyền lịch sử theo đường 9 đoạn ở Biển Đông.

Có một điểm nữa, hôm qua tôi chưa nêu ra khi ủng hộ quan điểm của anh Đăng về việc cho rằng Trung Quốc "đang" yêu sách vùng nước quần đảo ở Trường Sa đó là việc Trung Quốc sử dụng cụm từ  Quần đảo Nam Sa (Nansha Islands) ở số ít. Tôi sẽ kiểm tra lại bản tiếng Trung của công hàm này.

PGS. TS. Nguyễn Hồng Thao

Có thể nói, Trung Quốc luôn giữ Đường lưỡi bò là vũ khí cho vấn đề Biển Đông. Bên cạnh đó, để phù hợp với các vùng biển khác nữa, Trung Quốc cũng phải dựa vào Luật biển Quốc tế. Nếu đối phương không mạnh thì sẽ ép Đường lưỡi bò theo đúng cách hiểu truyền thống bao gồm tất cả các địa vật và vùng nước, đáy biển bên trong. Nếu bị phản đối thì tìm cách giải thích xoa dịu sao cho vẫn vận dụng được Luật biển Quốc tế. Cách tốt nhất là làm sao dung hoà được hai lập trường này. Chính vì vậy, họ đã dùng thuật ngữ “relevant waters” chăng?

Nếu bị phê không phù hợp với Luật biển thì họ sẽ giơ ra các luật Đặc quyền kinh tế, luật Lãnh hải và các vùng nước này là vùng nước liên quan và vùng nước liền kề (adjacent and relevant waters) cả. Cho dù 200 hải lý thì chúng cũng nằm trong phạm vi đường lưỡi bò. Mặt khác các quyền lịch sử vẫn được giữ nguyên. Đến đây, rất đồng ý với anh Thắng đường lưỡi bò là phạm vi địa lý yêu sách quần đảo Trường Sa nhưng không loại trừ nếu Trung Quốc mạnh thì họ sẽ nói tiếp vùng nước liền kề (adjacent waters)  tính từ đường lưỡi bò chứ không chỉ bên trong tính từ các đảo. Lúc đó là sự kết hợp yêu sách cao nhất về đường lưỡi bò và luật biển.

Đó là trường hợp của bãi Tư Chính. Nếu chúng ta "mềm" với họ ở bãi Tư Chính, họ sẽ cho là vùng đó sẽ đương nhiên là vùng tranh chấp cần phân định. Phi-líp-pin có ưu điểm xuất phát từ “đất thống trị biển” nên lo-gic là các đường nhân tạo không phù hợp yêu cầu luật pháp và kinh tế sẽ không có giá trị. Và các vùng biển sẽ thuộc Quốc gia ven biển và Quốc gia quần đảo, tức đường lưỡi bò không đóng vai trò trong phân định.

Điểm 3 của Trung Quốc chính là bác bỏ, sử dụng luôn nguyên tắc “đất thống trị biển” mà Phi-líp-pin đã nêu dù các anh có mở rộng từ bờ biển hay Quốc gia quần đảo thì điều đó không ảnh hưởng đến các đảo "của TQ" theo nguyên tắc “đất thống trị biển”, chúng cũng có vùng biển tương tự và phải phân chia giữa đường lưỡi bò với phạm vi từ bờ biển hay Quốc gia quần đảo. Theo logic như tôi đã nhận định: đoạn 3 nói  về quyền lịch sử đường lưỡi bò, đoạn 4 nói về luật biển hiện đại. Vì đoạn 3 trước đoạn 4 nên ko phải đoạn 4 bác bỏ đường lưỡi bò mà nó phải tuân thủ đường lưỡi bò, đồng thời tuân thủ Luật biển. Do đó, tôi mới nghĩ Trung Quốc tính toán nhiều đường như vậy. Tôi cũng băn khoăn như vậy là không phù hợp với 11 đoạn lúc đầu. Song nếu tôi không nhầm thì CHND Trung Hoa nói đường lưỡi bò 9 đoạn chứ không nói đường lưỡi bò 11 đoạn. Cái đó từ thời Trung Hoa Dân quốc và còn vào lúc lẫn lộn giữa con đường của tư nhân vẽ và đường xuất bản chính thức.

Về ý kiến của anh Đăng, TQ áp dụng đường cơ sở quần đảo cho Trường Sa như Hoàng Sa. Về lý thuyết, tôi nghĩ  có khả năng đó nhưng cũng nên tính đến những yếu tố sau đây: Trung Quốc vẽ đường cơ sơ quần đảo cho Hoàng Sa vì đã chiếm hoàn toàn quần đảo còn Trường Sa thì chưa; khi vẽ vì Trường Sa rộng hơn Hoàng Sa 10 lần nên mức độ ảnh hưởng quyền quá cảnh của các nước lớn, Trung Quốc phải tính đến phản ứng của cộng đồng quốc tê; duy  trì đường lưỡi bò vẫn đảm bảo quyền lợi các vùng biển còn hơn là vẽ đường cơ sở quần đảo.

NCS. Nguyễn Đăng Thắng

Nhận xét của anh Thao làm tôi vỡ ra nhiều điều. Đúng là Trung Quốc dường như cảm nhận được rằng đường 9 đoạn của họ đang làm cho các nước trong khu vực 'vò đầu, bứt tai'. Vấn đề bây giờ là làm sao bớt vò đầu bứt tai? Một trong những lý do gây vò đầu bứt tai đó là Trung Quốc vẫn lập lờ trong quan điểm của mình làm cho các nước lo. Như anh Thao đã nói, Trung Quốc luôn có mấy phương án bỏ túi và sẽ được sử dụng trong những thời điểm khác nhau. Mỗi lần có sự kiện Trung Quốc lại hé lộ quan điểm một chút dù vẫn lập lờ. Cái khó bây giờ là làm sao làm cho Trung Quốc tiếp tục đưa ra một phương án cụ thể và sau đó 'cột' TQ với phương án đó. Có như thế thì mới tận dụng được sự ủng hộ của các bên khác.

Về vấn đề vùng nước quần đảo cho Trường Sa, đúng như Thao nói, là khả năng đó chỉ xảy ra trên lý thuyết. Trung Quốc cũng chẳng dại gì tự dưng đi tuyên bố vùng nước quần đảo trong khi thực tế chẳng quản lý được và hơn nữa lại gây xung đột với các nước lớn khác (không chỉ riêng Mỹ) có nhu cầu sử dụng Biển Đông cho mục đích hàng hải. Dù gì, cái Trung Quốc quan tâm đó là tài nguyên nằm trên vùng biển và Thềm lục địa của các nước ven biển khác và cứ 'con mèo nào bắt được nhiều chuột hơn' là Trung Quốc dùng, không cần biết mèo đó có được từ UNCLOS hay là 'có từ lịch sử'.  

Về Đoạn 4 trong công hàm của Trung Quốc - điểm liên quan đến đường 9/11 đoạn thì chắc tôi nói chưa rõ hoặc có thể tôi đã hiểu sai lịch sử. Theo tài liệu tôi đọc được thì những năm 1930s, Trung Quốc dưới Chính quyền Tưởng Giới Thạch chỉ mới công bố địa danh các đảo Trung Quốc yêu sách ở Biển Đông, bao gồm cả Trường Sa. Đường 9/11 đoạn lần đầu tiên được đưa ra là vào năm 1947 (nếu tôi không nhầm). Nếu như vậy, Đoạn 4 trong công hàm của Trung Quốc vẫn chỉ là tiếp tục khẳng định chủ quyền của Trung Quốc đối với Trường Sa và chẳng nói gì đến đường 9 đoạn. Trung Quốc hoặc là thấy chẳng cần, hoặc là không muốn nói cụ thể về giá trị của đường 9 đoạn. Đoán mò của tôi thì nếu Trung Quốc được hỏi thì sẽ trả lời là công hàm của Phi-líp-pin  sai ngay từ đoạn chủ quyền của Phi-líp-pin đối với KIG rồi nên cần gì phải xem xét đến lập luận liên quan đến đường 9 đoạn nữa.

Nói tóm lại, tưởng là công hàm của TQ làm cho vấn đề sáng tỏ hơn nhưng hóa ra lại thành mơ hồ hơn, rối rắm hơn.

Rõ ràng cuộc chiến pháp lý tại Biển Đông vẫn chưa kết thúc, NCBĐ xin tạm dừng cuộc tọa đàm bàn tròn lần này, chân thành cám ơn các chuyên gia đã tham gia tranh luận và hẹn gặp lại trên chủ đề khác lần sau./.

BBT NCBĐ

Đề nghị chỉ được dẫn đường link mọi thông tin, bài viết  trên www.nghiencuubiendong.vn, không đăng lại khi chưa có sự đồng ý của Ban Biên tập NCBĐ.

 

Trả lời câu hỏi tại sao Phi-líp-pin lại lên tiếng vào thời điểm này và với công hàm này, tiến trình giải quyết hòa bình các tranh chấp tại Biển Đông liệu sẽ được thúc đẩy hay không, PGS. Nguyễn Hồng Thao đã có bài bình luận toàn diện và chi tiết.

 

(Phần 1)

 

II. Phân tích Công hàm của Phi-líp-pin

PGS. TS. Nguyễn Hồng Thao

Tại sao Philippin lại lên tiếng vào thời điểm này và Công hàm của Philippin có những đóng góp gì mới cho tiến trình giải quyết hòa bình các tranh chấp ở Biển Đông. Đối với 2 câu hỏi này, tôi có đã sơ bộ tìm hiểu như sau:

1.  Vì sao Philipin lên tiếng?

So với Việt Nam và Trung Quốc, Philippin nhảy vào tranh chấp quần đảo Trường Sa muộn và yêu sách đưa ra được dựa trên những cơ sở pháp lý không đủ mạnh. Philippin cũng không phải là quốc gia có tiềm lực về quốc phòng và thường phải dựa trên cái ô của Mỹ. Năm 1951, Philippin mới bắt đầu nghĩ đến việc mở rộng ảnh hưởng ra quần đảo Trường Sa. Năm 1995, Philippin là nước thứ hai trong khu vực phải nếm trải sức mạnh quân sự của người khổng lồ phương Bắc. Philippin đã tích cực đưa ra nhiều đề xuất giải quyết hòa bình các xung đột từ đưa tranh chấp ra trước Tòa án quốc tế đến sáng kiến ký Bộ Luật ứng xử Philippin-Trung Quốc tháng 8/1995, rồi đồng tác giả với Việt Nam dự thảo Bộ luật ứng xử ASEAN-Trung Quốc 1999-2002, ký két Tuyên bố ASEAN-Trung Quốc về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông 2002, chương trình hợp tác nghiên cứu khoa học Việt Nam-Philippin JOMRSE...

Các động thái của Philippin phần nào cho thấy sự e ngại và phụ thuộc vào người khổng lồ phương Bắc. Thế nhưng sự nhún nhường hay đi đơn lẻ của Manila không ngăn nổi các hoạt động ngày càng cứng rắn của Trung Quốc trước Chính phủ mới của TT Benigno Aquino, thay thế TT Arroyo, người được đánh giá thân Bắc Kinh. Sau vụ hai tàu hải quân Trung Quốc xua đuổi một tàu thăm dò dầu khí cho Philippines ở vùng Bãi Cỏ Rong tháng 3/2011 mà Manila xác định là thuộc chủ quyền của mình đến 30/3/2011 là án tử hình Bắc Kinh giành cho  ba công dân Philíppin vì tội buôn lậu ma túy. Một tháng trước cuộc thăm chính thức của TT Philippin tới Bắc Kinh ngày 23-25/5/2011 là dịp để Philippin khẳng định quan điểm độc lập của mình trước sức ép của Trung Quốc, tạo thế chủ động trong hội đàm? Đồng thời sự “cứng lên” của Philippin cũng nhằm giải quyết phần nào những bất đồng nội bộ trong nhìn nhận một số vấn đề quốc tế như việc gộp hay không KIG vào đường cơ sở quần đảo. Philippin đang cần năng lượng trong đó dầu khí ở Bãi Cỏ Rong được coi là niềm hy vọng. Philippin thấy rằng quyền lợi của mình chỉ có thể được bảo đảm trong tình đoàn kết với các nước ASEAN. Hơn nữa quan hệ Manila và Washington ngày càng chặt chẽ trở lại, đặc biệt là trong lãnh vực quân sự. Nguyên tắc “Đất thống trị biển” được nhắc đến trong Công hàm ngày 5/4/2011 của Philippin và Ngoại trưởng Mỹ Hilary Clinton tại ARF 17, Hà Nội  2010 là cùng nội dung với cách thể hiện khác nhau.

Sau Công hàm của Việt Nam, Malaysia ngày 8/5/2009, của In-đô-nê-xi-a ngày 8/7/2010, Philippin đã hòa chung tiếng nói của các nước ASEAN trong việc bác bỏ đường lưỡi bò vô lý trong Biển Đông. Đây cũng là dịp Philippin điều chỉnh lập luận của mình cho phù hợp với luật quốc tế và tránh những sai lầm chiến lược trong quá khứ. Nếu đến hạn ngày 13/5/2009, Philippin cùng tham gia trình hồ sơ ranh giới ngoài thềm lục địa với Malayssia và Việt Nam hay trình hồ sơ riêng thì vị thế của Philippin đã khác. Philippin cũng nhìn nhận thấy rằng chỉ có Công ước Luật biển của Liên hợp quốc năm 1982 mới là công cụ hợp pháp và duy nhất để giải quyết các vấn đề trên Biển Đông, bảo đảm lợi ích công bằng cho các nước trong đó có Philippin. 

2.  Phân tích Công hàm ngày 5/4/2011

Công hàm có mục tiêu rõ ràng là bình luận về tấm bản đồ đính kèm Công hàm số CML/17/2009 và CML/18/2009 ngày 7/5/2009 của Phái đoàn thường trực CHND Trung Hoa. Công hàm Philippin đưa ra ba điểm: (i) Nhóm đảo KIG là một phần không tách rời của Philippines, rằng nước này có chủ quyền và quyền tài phán với các đặc trưng địa chất trong Nhóm đảo Kalayaan KIG đó; (ii) Philippin, theo nguyên tắc đất thống trị biển, thực hiện chủ quyền và quyền tài phán một cách cần thiết trên vùng nước xung quanh hoặc kế cận đối với mỗi đặc trưng địa chất liên quan trong Nhóm đảo Kalayaan KIG theo quy định của Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS). Phạm vi của các vùng nước kế cận các đặc trưng địa chất có liên quan được định nghĩa và xác định theo UNCLOS, đặc biệt điều 121 Chế độ các đảo; (iii) Chính vì các vùng nước kế cận các đặc trưng địa chất có liên quan được định nghĩa và là đối tượng của các tiêu chuẩn pháp lý và kỹ thuật nên yêu sách của CHND Trung Hoa tại hai Công hàm số CML/17/2009 và CML/18/2009 ngày 7/5/2009

Phân tích ba điểm đã nêu trong Công hàm ngày 5/4/2011 của Philippin có thể đi đến những nhận xét sơ bộ sau:

1.  Philippin tái khẳng định chủ quyền và quyền tài phán của mình đối với các đặc trưng địa chất trong Nhóm đảo Kalayaan KIG  được coi là một phần không tách rời của Philippines. Tuy nhiên tuyên bố lần này có những khác biệt với các văn bản trước. Thứ nhất, trong Sắc lệnh năm 1978, Philippin yêu sách: “ nhóm đảo KIG... bao gồm tất cả đáy biển, lòng đất dưới đáy biển, rìa lục địa và vùng trời sẽ thuộc và là đối tượng của chủ quyền của Philippin. Khu vực này tạo thành một quận riêng và tách rời của thủ phủ của tỉnh Palawan và được biết với tên gọi Kalayaan”, nghĩa là toàn bộ các đảo và các vùng nước nằm trong ranh giới KIG tự vạch với đầy đủ các tọa độ. Công hàm ngày 5/4/2011 chỉ yêu sách chủ quyền của các đảo đá như một phần không tách rời của Phillipin, Vấn đề vùng nước được tách rời ra và theo logic của những điểm tiếp theo, sẽ chỉ có một phần vùng nước trong ranh giới cũ của KIG chứ không phải toàn bộ vùng nước trong đó được yêu sách. Điều này được bổ sung bằng điểm 2 của Công hàm giúp phân biệt hai vấn đề: chủ quyền và quyền tài phán đối với các đặc trưng địa lý và chủ quyền, quyền tài phán và quyền chủ quyền đối với các vùng biển. Nó sẽ giúp cộng đồng thế giới hiểu rõ hơn về hai dạng tranh chấp đảo và biển ở Biển Đông mà Philippin là một bên yêu sách. Thứ hai, thuật ngữ “đảo” trong Sắc lệnh 1978 đã được thay bằng “đặc trưng địa chất” có thể hiểu bao gồm đảo, đá, bãi cạn nửa nổi nửa chìm để phù hợp với giải thích quy chế đảo trong điều 121 của UNCLOS. Thứ ba, quốc gia quần đảo này không nhắc đến các lý do về tính tiếp giáp hay an ninh quốc phòng làm cơ sở cho yêu sách của mình đối với các vùng nước  như trong Sắc lệnh 1978. Thứ tư, ranh giới của KIG cũng không được nhắc lại. Điều này sẽ liên quan đến phân tích trong điểm 2 tiếp theo.

2.   Philippin đã có bước chuyển khi nhấn mạnh nguyên tắc “Đất thống trị biển” để yêu sách các vùng biển. Nguyên tắc này đã được khẳng định bởi Tòa án quốc tế trong Vụ thềm lục địa Biển Bắc  năm 1969 và thực tiễn tài phán cũng như thực tiễn quốc tế. Nó cũng được thể hiện rõ trong tinh thần của điều 2, 55, 76 của UNCLOS. Chủ quyền của quốc gia ven biển được mở rộng ra vùng biển tiếp liền mà phạm vi vùng biển đó do UNCLOS quy định với sự thừa nhận chung của cộng đồng quốc tế. Có nghĩa chỉ khi quốc gia xác lập được chủ quyền trên đất thì chủ quyền đó mới mang lại các quyền được mở rộng ra trên biển mà không phải ngược lại: vẽ một đường yêu sách trên biển và cho rằng tất cả những gì trong đó là thuộc chủ quyền của mình. Các vùng biển xung quanh hoặc kế cận với các đặc trưng địa chất trong quần đảo Trường Sa là lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa sẽ phụ thuộc vào thỏa thuận của các Bên tranh chấp khi xác định quy chế của từng đảo đá theo điều 121 của UNCLOS. Ngay trong phần mở đầu của Điểm 2 Công hàm, Philippin nói về vùng nước tiếp giáp của các đảo và các đặc trưng địa chất (ở đây là cách ám chỉ các đá theo điều 121.3 của UNCLOS và các bãi cạn nửa nổi nửa chìm ?). Tiếp đó việc sử dụng các từ “vùng nước xung quanh” và “vùng nước tiếp giáp”. Từ  thực tế quần đảo Trường Sa, nếu đảo đá muốn có vùng nước xung quanh trọn vẹn thì đó chỉ có thể là lãnh hải 12 hải lý. Khái niệm “vùng nước tiếp giáp” ở đây có thể được hiểu là lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế tiếp giáp với các đảo tùy theo từng trường hợp và không phải là vùng nước xung quanh. Như vậy ngay trong ranh giới cũ của KIG mà Manila yêu sách chủ quyền sẽ có khả năng giữa các đảo đá có tồn tại các vùng biển thuộc chủ quyền (lãnh hải), quyền chủ quyền hoặc quyền tài phán (đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục địa) của một (hay nhiều) quốc gia ven biển khác. Một cách đơn giản, Công hàm Philippin thể hiện quan điểm tách biệt hai dạng tranh chấp: tranh chấp chủ quyền và tranh chấp vùng biển. Trong tranh chấp vùng biển, tùy thuộc vào quy chế đảo mà các bên có thể chấp nhận sẽ tồn tại ba khả năng: 1) các đảo đá của KIG chỉ có lãnh hải 12 hải lý; 2) các đảo đá này có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng; 3) một số đảo đá chỉ có lãnh hải và một số đảo đá khác có thể có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Từ đó, các đảo ở KIG có thể được gộp vào đường cơ sở quần đảo mở rộng của Philippin hoặc chúng được tách riêng và quản lý theo quy chế đảo hoặc đá theo Luật đường cơ sở ngày 10/3/2009 tùy thuộc từng đặc trưng địa chất này có được chỉ lãnh hải 12 hải lý hay có vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý hoặc thềm lục địa riêng. Là  quốc gia quần đảo duy nhất trong tranh chấp và lại ở gần các vị trí đảo tranh chấp nhất. Philippin có lý do để tận dụng vị thế đó nhằm kéo các đặc trưng địa chất KIG vào đường cơ sở quần đảo. Thê nhưng nếu theo đúng các quy định pháp lý và kỹ thuật của UNCLOS tỷ lệ nước trên đất của KIG sẽ lớn hơn 9:1. Thể hiện theo điểm  2 sẽ giúp Philippin trang trải được những cuộc tranh cãi nội bộ,mâu thuẫn giữa tình cảm chủ nghĩa dân tộc và lý trí cần tuân thủ UNCLOS. Chấp nhận nguyên tắc đất thống trị biển có nghĩa là Philippin phủ nhận tất cả các đường yêu sách không dựa trên các quy định pháp lý và kỹ thuật của UNCLOS  Điều này đúng với đường yêu sách lưỡi bò của Trung Quốc cũng như đường yêu sách của Malaysia và chính đường ranh giới KIG của Philippin. Các đường này là không có cơ sở pháp lý rõ ràng. Đến đây có thể hiểu tại sao Philippin không nhắc lại ranh giới KIG mà chỉ là các địa trưng địa chất trong KIG. Tuy nhiên, sẽ có sự mâu thuẫn trong điểm 1 và 2 của Philippin. Đưa ra ranh giới là một biện pháp kỹ thuật để nêu yêu sách các đặc trưng địa chất trong phạm vi đó mà không cần phải liệt kê tên từng đảo đá và quy chế của chúng. Bác bỏ ranh giới thì đặc trưng địa chất nào Manila yêu sách vẫn sẽ là câu hỏi. Khác với Việt Nam và Malaysia gián tiếp thể hiện các đặc trưng địa chất của quần đảo Trường Sa nên có lãnh hải 12 hải lý, Manila vẫn duy trì một sự không rõ ràng nhằm trù tính cho những bước đi chưa hình dung được trong tương lai. Song việc tuân thủ nguyên tắc “đất thống trị biển” đã có thể coi là một bước tiến rất gần với nguyên tắc xác lập chủ quyền bằng chiếm hữu thực tế và tinh thần duy trì status quo trong Tuyên bố DOC 2002 giữa ASEAN – Trung Quốc vì ổn định, hòa bình, và hợp tác phát triển ở Biển Đông.     

3.  Trong Điểm 3 của Công hàm, Philippin dẫn ra kết luận logic mà chúng ta có thể suy ra được ngay từ Điểm 2. Nếu theo đúng luật quốc tế và UNCLOS thì đường đứt khúc 9 đoạn và mọi đường yêu sách khác không đáp ứng các tiêu chuẩn pháp lý và kỹ thuật của UNCLOS đều không có cơ sở pháp lý để tồn tại. Công hàm nhắc đến hiệu quả của kết luận này đối với các vùng biển liên quan cũng như đáy biển và thềm lục địa của chúng" bên ngoài  các đặc trưng địa chất nói trên trong Nhóm các đảo Kalayaan KIG và các vùng nước kế cận của chúng” Điều này không có nghĩa là Philippin chỉ phản đối một phần đường lưỡi bò liên quan trực tiếp đến Nhóm đảo KIG mà toàn bộ đường lưỡi bò trong Biển Đông. Do chưa thể xác định được tên cụ thể của các đặc trưng địa chất trong ranh giới cũ của Nhóm đảo KIG cũng như quy chế của các đặc trưng địa chất này (chỉ có lãnh hải, hay có lãnh hải, đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng) nên vấn đề phân định biển giữa các quốc gia ở Biển Đông cũng chưa thể được giải quyết. Công hàm Philippin không nói đến hiệu lực của các đặc trưng địa chất “nằm ngoài KIG” như đảo Trường Sa. Tuy nhiên trong logic của nguyên tắc “Đất thống trị biển” và các yêu cầu pháp lý và kỹ thuật của UNCLOS mà Philippin thừa nhận trong điểm 1 và 2 thì đảo Trường Sa cũng là một đặc trưng địa chất giống như các đặc trưng địa chất khác của quần đảo và phải được xem xét theo quy chế của điều 121.3  Trong trường hợp tối thiểu các đảo đá ở quần đảo Trường Sa chỉ có lãnh hải 12 hải lý thì các quốc gia ven biển và quốc gia quần đảo trong khu vực này sẽ phải bàn nhau về việc xác định hay phân chia ranh giới ngoài thềm lục địa có khả năng mở rộng tới 350 hải lý tính từ đường cơ sở của quốc gia ven biển hay quốc gia quần đảo hoặc 100 hải lý tính từ đường đẳng sâu 2500m. Trong trường hợp này, Philippin sẽ hơi bị yếu thế do sự hiện diện của máng sâu Palawan ở phía Tây. Trong trường hợp tối đa, một số đảo có thể có vùng đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục địa thì việc phân định biển sẽ phải tính đến khoảng cách từ điểm đó đến bờ biển của quốc gia ven biển hay quốc gia quần đảo tùy thuộc đảo đó được xác định chủ quyền thuộc bên nào. Các vùng biển này có bản chất pháp lý từ nguyên tắc “Đất thống trị biển” phù hợp với các điều 3,4 (Lãnh hải), 55, 57 (đặc quyền kinh tế) và 76 (thềm lục địa). Việc phân định không thể được tiến hành từ những đường yêu sách không có cơ sở pháp lý từ nguyên tắc “Đất thống trị biển” như đường lưỡi bò. Vì vậy Philippin khẳng định các vùng biển này “nhất thiết quy thuộc hoặc thuộc quốc gia ven biển thích hợp hoặc quốc gia quần đảo Philippin – các vùng nước cũng như đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của chúng thuộc về quốc gia đó hoặc theo bản chất pháp lý của Lãnh hải, hoặc của vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý, hoặc của thềm lục địa phù hợp với các điều 3,4, 55,57 và 76 của UNCLOS ". Cách thể hiện ở điểm 3 cũng cho thấy Philippin hoàn toàn để ngỏ khả năng có thể tham gia hay tự đệ trình hồ sơ ranh giới thềm lục địa ở Biển Đông và đàm phán phân định biển với các nước trên cơ sở thỏa thuận duy trì nguyên trạng.

Tóm lại, Công hàm ngày 5/4/2011 của Philippin dù có cách trình bày phức tạp, với nhiều thuật ngữ pháp lý khó hiểu cũng làm sáng tỏ thêm một số khía cạnh trong lập trường của Philippin về vấn đề Biển Đông:

-     Mọi biện pháp giải quyết tranh chấp ở Biển Đông phải tuân thủ dựa trên cơ sở của Công ước Luật biển năm 1982 (UNCLOS).

-     Mọi đường yêu sách không từ nguyên tắc “Đất thống trị biển”, không đáp ứng các yêu cầu pháp lý và kỹ thuật của UNCLOS đều vô giá trị, đặc biệt là đường lưỡi bò trong Biển Đông.

-     Có hai dạng tranh chấp ở Biển Đông: tranh chấp chủ quyền trên các đăc trưng địa lý và tranh chấp vùng biển được xác định căn cứ vào quy chế của từng đặc trưng địa lý theo điều 121.3 của UNCLOS. Xu thế đa phần nếu không phải là tất cả các đảo đá trong quần đảo Trường Sa chỉ có lãnh hải 12 hải lý.

-     Việc xác định các vùng biển của các đảo đá theo quy chế điều 121.3 của UNCLOS sẽ quyết định vấn đề phân định biển giữa các quốc gia ven biển và quốc gia quần đảo quanh quần đảo Trường Sa. Đồng thời nó cũng gợi mở khả năng các nước quanh quần đảo Trường Sa phải ngồi với nhau để thỏa thuận về ranh giới ngoài thềm lục địa kéo dài tự nhiên từ bờ biển lục địa và quốc gia quần đảo nếu các đảo đá chỉ có lãnh hải 12 hải lý.

Đóng góp lớn nhất của Công hàm ngày 5/4/2011 là nó đã bác bỏ mọi đường yêu sách quá đáng không trên cơ sở UNCLOS. Nó cũng thể hiện tình đoàn kết giữa các nước ASEAN hình thành một lập trường chung: Mọi tranh chấp tại Biển Đông đều cần phải giải quyết trên cơ sở luật quốc tế, đặc biệt Công ước Luật biển 1982 của Liên hợp quốc. Công hàm đã góp phần thúc đẩy các Bên nỗ lực tìm tiếng nói chung, trước tiên là thúc đẩy việc thực hiện Tuyên bố DOC, tiến đến một Bộ Quy tắc ứng xử của các Bên trên Biển Đông, tạo khung pháp lý để trao đổi một cách khách quan và thành thật về quy chế các đảo đá của các quần đảo ở Biển Đông, một trong những chìa khóa then chốt để giải quyết hòa bình các tranh chấp Biển Đông.

NCS. Nguyễn Đăng Thắng

 Cám ơn anh  Thao đã chia sẻ bài viết rất kịp thời. Bài viết của anh rất nhiều thông tin và phần nào giải quyết được thắc mắc của tôi là tại sao Phi-líp-pin lại dùng là cấu trúc địa chất chứ không phải cấu trúc địa lý như người ta vẫn thường dùng Nhưng tôi vẫn còn một chút băn khoăn là không phải việc Phi-líp-pin viện dẫn vấn đề địa chất có hàm ý gì liên quan đến quy chế quần đảo của Phi-líp-pin hay quy chế quần đảo riêng cho KIG không? Quy định của Luật pháp Quốc tế về vấn đề này không rõ ràng nhưng trong tranh tụng, các bên tranh chấp vẫn đề cập đến vấn đề địa chất khi nói về một nhóm các đảo có phải là một quần đảo hay không (Vụ Nicaragua/Colombia - Preliminary Objections).

Về phần phân tích thì tôi thấy rất sâu sắc rồi, khó mà góp ý gì được thêm. Chỉ riêng có câu : "Điều này không có nghĩa là Philippin chỉ phản đối một phần đường lưỡi bò liên quan trực tiếp đến Nhóm đảo KIG mà toàn bộ đường lưỡi bò trong Biển Đông.", tôi nghĩ nếu anh nên giải thích thêm một chút để người đọc hiểu rõ hơn.

Ngoài ra, về việc Phi-líp-pin dùng thuật ngữ "vùng nước xung quanh" và "vùng nước tiếp giáp" của "từng cấu trúc địa chất", tôi có thêm một cách hiểu khác đó là do những cấu trúc này có thể gần nhau nên có trường hợp vùng nước của cấu trúc này chồng lấn lên vùng nước của cấu trúc kia, nên có thể khái niệm "vùng nước tiếp giáp" được hiểu trong trường hợp này.

Đọc phần tiếp theo về tranh luận liên quan đến "Công hàm của Trung Quốc "

Nghiên cứu Biển Đông

Đề nghị chỉ được dẫn đường link mọi thông tin, bài viết  trên www.nghiencuubiendong.vn, không đăng lại khi chưa có sự đồng ý của Ban Biên tập NCBĐ.

 

 

Ở phần này bài viết sẽ đi vào phân tích đánh giá những tác nhân đằng sau những thay đổi trong các tiếp cận của Trung Quốc đối với Biển Đông kể từ năm 2007 đến nay. Bài viết đánh giá việc Trung Quốc duy trì chính sách mập mờ về “lợi ích cốt lõi” của mình đối với Biển Đông là để nhằm tránh việc đa phương hóa vấn đề tranh chấp Biển Đông nhằm hạn chế sự can thiệp của quốc tế đặc biệt là Mỹ, và hơn nữa là nhằm tạo điều kiện có lợi cho mình trong việc sử dụng “sức mạnh mềm” trong giải quyết tranh chấp với các nước trong khu vực này.

 

(Phần 1)

Dễ nhìn thấy rằng tuyên bố và hành động của Trung Quốc đối với Biển Đông trong thời gian từ năm 2007 trở lại đây có yếu tố tiếp biến chính sách giai đoạn trước. Sự tiếp biến thể hiện dưới hình thức sử dụng tuyên bố của người phát ngôn Bộ Ngoại giao khẳng định chủ quyền của Trung Quốc trong phạm vi đường lưỡi bò, triển khai các hoạt động thăm dò, chủ trương giải quyết tranh chấp thông qua đàm phán song phương, phản đối quốc tế hóa, trong khi đó chủ động khai thác dầu khí ở Biển Đông, nhưng lại phản đối hành động thăm dò và khai thác của các quốc gia khác trong phạm vi đường đứt khúc chín đoạn, đơn phương áp đặt lệnh cấm bắt cá, ngăn cản và bắt giữ tàu thuyền và ngư dân của các quốc gia khác hoạt động tại vùng biển, tiến hành các hoạt động nhằm củng cố các công trình dân sự và quân sự của Trung Quốc tại các đảo đã chiếm đóng… Các quan chức và học giả Trung Quốc tiếp tục cổ súy, vận động các quốc gia tranh chấp khác ủng hộ chủ trương “gác tranh chấp, cùng khai thác” ở những vùng biển nằm trong phạm vi thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của các bên tranh chấp khác.

Theo Joshua Kurlantzick, trong những năm đầu của thập kỷ vừa qua, Trung Quốc đã ít đả động đến yêu sách về chủ quyền ở Biển Đông, trong khi đẩy mạnh thực hiện cuộc tấn công quyến rũ bằng “sức mạnh mềm”, phát triển mối quan hệ kinh tế, ngoại giao và kể cả an ninh gần gũi với các quốc gia Đông Nam Á. Thế nhưng gần đây, cách tiếp cận “mềm mỏng” đó dường như đã bị bỏ qua.[1] Bên cạnh việc vừa tiếp tục các tranh cãi về chủ quyền, vừa chủ động đàm phán song phương, Bắc Kinh đồng thời đẩy mạnh xây dựng lực lượng hải quân tác chiến, tranh thủ mọi cơ hội biểu dương sức mạnh, phớt lờ việc thực hiện DOC và đẩy mạnh triển khai các biện pháp nhằm kiểm soát thực tế trên các vùng biển mà Trung Quốc yếu sách chủ quyền theo hướng chính thức, khẳng định và thách thức hơn. Hành động của Trung Quốc mang tính chủ động, tự tin hơn, một mặt khoanh vùng và phát huy ảnh hưởng ở Biển Đông, ngăn chặn ảnh hưởng, sự can dự của các nước lớn khác, mặt khác sử dụng “nắm đấm thép bọc nhung” để hăm dọa các bên khác trong tranh chấp. Trung Quốc đã cho cải hoán các tàu quân sự thành tàu tuần tra dân sự, điều một số tàu này đến hoạt động ở Biển Đông.[2] Việc Trung Quốc tăng cường hiện diện trên Biển Đông đồng nghĩa với việc các ngư dân và tàu khảo sát của các nước khác trong khu vực hoạt động ở Biển Đông sẽ đụng độ nhiều hơn với các tàu Trung Quốc lớn hơn và được trang bị tốt hơn, trong đó có tàu Ngư Chính 311 (Yuzheng 311).[3] Thực tế cho thấy, các tàu tuần ngư khổng lồ của Trung Quốc không ngại đụng độ trên biển. Bên cạnh đó, các hoạt động mạnh mẽ và quy mô chưa từng thấy của các lực lượng Hải quân Trung Quốc tại Biển Đông cho thấy Hải quân Trung Quốc luôn sẵn sàng chiến đấu, khiến các quốc gia khác không khỏi e dè.[4]

Điều đáng chú ý là từ năm 2007 đến nay, các bên tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông khác cũng tiếp tục có các động thái củng cố cơ sở hạ tầng, tuyên truyền về yêu sách chủ quyền, đẩy mạnh tuần tra, trinh sát trên biển... Có thể kể đến việc Đài Loan đã hoàn thành công trình đường băng trên đảo Ba Bình, cựu lãnh đạo Đài Loan Trần Thủy Biển ra thăm đảo và nêu “Đề xướng Nam Sa”. Trong năm 2008, Phi-lip-pin từng bước hoàn tất các thủ tục nội bộ để thông qua Dự luật về đường cơ sở mới, và ngày 10/3/2009, Tổng thống nước này ký ban hành Luật đường cơ sở mới của Phi-lip-pin (RA9522) trong đó quy thuộc các đảo thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam vào lãnh thổ Phi-lip-pin. Ma-lai-xi-a khẳng định yêu sách chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa bằng chuyến thăm của Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Quốc phòng (ngày 12/8/2008) và của Thủ tướng nước này (ngày 05/03/2009) đến đảo đá Hoa Lau.

Thực trạng đó đặt ra câu hỏi: Thái độ cứng rắn, hành động tự tin và quyết liệt của Trung Quốc tại Biển Đông từ năm 2007 đến nay là kết quả của (i) việc điều chỉnh chủ động trong chiến lược biển và chính sách của Trung Quốc với tranh chấp tại Biển Đông hay không, hay đó chỉ là (ii) những phản ứng của Trung Quốc đối với động thái của các quốc gia khác trong tranh chấp, hay là (iii) “động thái ném đá dò đường”, phép thử đối với phản ứng của các quốc gia khác, hay chỉ là (iv) hành động vượt quá thẩm quyền, có tính nhất thời của các lực lượng hải quân hoặc tuần duyên của Trung Quốc? Đáng chú ý, trong các cuộc trao đổi gần đây với học giả Việt Nam, học giả Trung Quốc khẳng định chính sách của Trung Quốc đối với các nước láng giềng nói chung và với các tranh chấp ở Biển Đông không hề thay đổi, rằng có sự hiểu nhầm do báo chí phương Tây.

Diễn biến ủng hộ cho lập luận thứ hai là việc Trung Quốc công khai “đường lưỡi bò” để phản đối báo cáo về ranh giới ngoài của thềm lục địa của Việt Nam và Ma-lai-xi-a (2009). Tuy nhiên, khó có thể tìm thấy mối liên hệ nhân quả giữa các hành động khác của các quốc gia khác và sự hung hăng bất thường của Trung Quốc từ cuối năm 2007 đến nay. Khả năng thứ tư vẫn còn để ngỏ bởi Trung Quốc chưa bao giờ công khai quy trình hoạch định chính sách và chính trị nội bộ của họ. Trong phát biểu của mình tại Hội thảo quốc tế lần thứ hai về Biển Đông, học giả Leszek Buszynski bày tỏ lo ngại về sự không minh bạch trong quá trình ra quyết sách trong chính trị nội bộ của Trung Quốc, thế áp đảo của phe quân sự trong nền chính trị ở Bắc Kinh, và ảnh hưởng của chủ nghĩa dân tộc cực đoan.[5] Khả năng thứ ba có thể được loại bỏ vì hành động của Trung Quốc có vẻ ngày càng mạnh mẽ và quyết liệt hơn bất chấp sự phản đối, nghi ngại của cộng đồng quốc tế và các nước trong khu vực.

Xem xét kỹ những hoạt động của Trung Quốc ở Biển Đông từ năm 2007 đến nay cho thấy khả năng thứ nhất (i) hợp lý hơn cả. Lý do đơn giản là các biện pháp mà Trung Quốc triển khai có cường độ mạnh và thái độ quyết liệt “bất bình thường”, có sự phối hợp đồng bộ chặt chẽ của nhiều ngành, nhiều lực lượng, và được đưa tin, phổ biến rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng. Nhiều dấu hiệu cho thấy với sức mạnh kinh tế và quân sự tăng lên nhanh chóng, Trung Quốc đang phấn đấu vươn lên trở thành một cường quốc toàn cầu, trong đó coi Biển Đông vừa là mắt xích quan trọng trong tuyến phòng thủ hải quân chiến lược và nằm trong phạm vi ảnh hưởng sống còn của Trung Quốc, vừa là cửa ngõ chiến lược để đi ra thế giới. Thêm nữa, sự mạnh bạo của Trung Quốc ở Biển Đông diễn ra đồng thời với thái độ và hành động hung hăng của Trung Quốc ở Biển Hoa Đông, mở rộng hoạt động của hải quân Trung Quốc ở biển E-den…

Bằng chứng rõ rệt nhất là giới tinh hoa chính trị của Trung Quốc “đánh tiếng” nâng cấp Biển Đông trở thành khu vực “lợi ích cốt lõi”[6] (hạch tâm quyền lợi) của Trung Quốc.[7] Theo tin tức báo chí quốc tế, Trung Quốc lần đầu tiên coi vấn đề Biển Đông thuộc “lợi ích cốt lõi” trong chuyến thăm Trung Quốc của Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ Steinberge vào tháng 3/2010. Tuy từ đó đến nay, chưa thấy lãnh đạo Trung Quốc có phát biểu công khai nói Biển Đông là “lợi ích cốt lõi” và học giả Trung Quốc tham dự Hội thảo Quốc tế về Biển Đông lần hai cũng khẳng định điều này,[8] nhưng khi báo chí trong và ngoài Trung Quốc rầm rộ đưa tin,[9] các kênh nhà nước của Trung Quốc cũng không có phản đối hay đính chính chính thức. Liệu điều đó có hàm ý rằng giới lãnh đạo và tinh hoa chính trị của Trung Quốc ngầm ủng hộ một quan niệm như vậy?  

Ngụ ý của việc quan chức Trung Quốc mập mờ phổ biến khái niệm lợi ích quốc gia cốt lõi đối với Biển Đông là Bắc Kinh sẽ không cho phép thảo luận hay đặt vấn đề đối với những chính sách của họ và có lẽ sẽ đẩy lùi sự hiện diện của quân đội của các cường quốc khác ở ngoài khơi mạnh hơn bao giờ hết. Trong những năm gần đây, Bắc Kinh cũng đã cảnh báo những công ty dầu lửa của Hoa Kỳ không được tham gia các thỏa thuận thăm dò hỗn hợp ở Biển Đông với Việt Nam. Và cũng có tin là họ đã nói với các quốc gia Đông Nam Á không thảo luận những vấn đề liên quan đến biển Đông với nhau.[10]

Việc Trung Quốc có ý duy trì khái niệm mơ hồ về lợi ích cốt lõi có thể khiến các nước trong tranh chấp lo sợ rằng: (i) có phải Bắc Kinh vừa tạo không gian để áp dụng tiêu chuẩn kép, một mặt đòi các cường quốc khác tuân thủ cái gốc là vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý, mặt khác lại duy trì đòi hỏi phi lý về đường lưỡi bò đối với các nước trong tranh chấp trực tiếp?; (ii) liệu có phải Bắc Kinh tạo tâm lý răn đe dùng vũ lực, ép các nước liên quan chấp nhận giải pháp “gác tranh chấp, cùng khai thác” có lợi cho Trung Quốc.

Không thể phủ nhận Trung Quốc có những lợi ích hữu hình quan trọng ở Biển Đông như: (i) đường biển quan trọng vận chuyển hàng hóa phục vụ phát triển kinh tế: số lượng dầu nhập khẩu chiếm 50% nhu cầu trong nước, trong đó 70% số dầu nhập khẩu này phải vận chuyển qua Biển Đông; (ii) các nguồn tài nguyên biển, trong đó quan trọng nhất là dầu khí và hải sản để phục vụ cho phát triển kinh tế. Tuy nhiên, thái độ và hành động của Trung Quốc ở Biển Đông từ năm 2007 đến nay cho thấy giới chính trị - quân sự Bắc Kinh nhìn nhận Biển Đông chủ yếu ở góc độ địa chính trị và địa chiến lược. Theo đó, Biển Đông là không gian lợi ích sống còn, là cửa ngõ để tiến xuống khu vực Đông Nam Á, và vươn xa hơn trở thành cường quốc đại dương. Một loạt hành động như trên trong thời gian gần đây có thể được hiểu là nỗ lực của Bắc Kinh nhằm đặt toàn bộ Biển Ðông dưới quyền kiểm soát của Trung Quốc, không chỉ để bảo vệ quyền lợi về dầu lửa và tài nguyên biển của họ, mà còn vì lý do chiến lược và quân sự, chẳng hạn như để ngăn chặn bất kỳ hành động can thiệp nào của lực lượng Mỹ trong trường hợp khẩn cấp liên quan đến Đài Loan.[11]

Mong muốn kiểm soát Biển Đông, biến khu vực này trở thành “ao nhà” ngày càng trở nên rõ ràng qua nhiều tuyên bố, biện pháp và hành động mạnh bạo có tính áp đặt và mạnh bạo nhằm khẳng định chủ quyền pháp lý cùng khả năng kiểm soát biển trên thực tế. Tuy nhiên, Biển Đông còn có ý nghĩa là khu vực ảnh hưởng sống còn, và là cửa ngõ chiến lược đầu tiên để Trung Quốc đi ra thế giới. Việc các lực lượng quân sự của Trung Quốc mạnh dạn chặn các tàu của Mỹ, thử phản ứng của Mỹ với đề nghị chia khu vực ảnh hưởng ở Thái Bình Dương, đe dọa và bắt bớ các tàu thuyền của các nước tranh chấp, xây dựng căn cứ tàu ngầm chiến lược ở Tam Á là những minh chứng rõ ràng về quan niệm của giới chính trị và quân sự Bắc Kinh về tầm quan trọng của Biển Đông và tương lai của vùng biển này trong chiến lược cường quốc của Trung Quốc.

Sự điều chỉnh cách tiếp cận của Trung Quốc là nguyên nhân cơ bản khiến quan hệ giữa Trung Quốc và các nước tranh chấp khác trở nên căng thẳng. Sau năm năm ra đời, Tuyên bố về Ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) giữa Trung Quốc và các nước ASEAN không đủ để ngăn tranh chấp Biển Đông ngày càng nóng và trở thành nguy cơ hiện hữu đối với hòa bình, ổn định ở khu vực và tình hữu nghị giữa các quốc gia trong khu vực. Tuy nhiên, rõ ràng là Trung Quốc vẫn chưa đủ sức mạnh chính trị và quân sự để kiểm soát toàn bộ Biển Đông và không muốn căng thẳng biến thành bất ổn, xung đột quân sự. Do đó, lãnh đạo Trung Quốc luôn trấn an các nước trong khu vực và kêu gọi cần phải có hòa bình, ổn định, và hợp tác. Tại buổi họp báo sáng ngày 6/01/2010 ở Hà Nội, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Trung Quốc tại Việt Nam Tôn Quốc Tường nói rằng “chúng ta đã thiết lập cơ chế đàm phán về vấn đề trên biển, thực hiện nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước, thúc đẩy tiến trình đàm phán. Để giải quyết tranh chấp, hai bên cần xuất phát từ đại cục, toàn cục và lợi ích căn bản của nhân dân hai nước, tạm gác lại tranh chấp, không làm ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường, thuận lợi của quan hệ hai nước. Tôi nghĩ đây là cách làm phù hợp nhất”.[12] Thông điệp “giữ đại cục” này cũng được nhắc đi nhắc lại trong nhiều cuộc trao đổi giữa học giả Trung Quốc và Việt Nam, với lập luận Trung Quốc còn phải đối phó với nhiều khó khăn trong nội bộ của nước này, đặc biệt là các vấn đề phát triển và xã hội.

Nghịch lý là, Trung Quốc trước hết sử dụng luận điểm “giữ đại cục” để trấn an các nước vừa và nhỏ trong khu vực, trong khi tiếp tục duy trì sự mập mờ trong chính sách an ninh biển và sử dụng nhiều chiến thuật khác nhau để giành thế chủ động và quyền kiểm soát thực tế ở Biển Đông. Giáo sư Carlyle A. Thayer cho rằng Trung Quốc đang cố tình theo đuổi một chính sách mập mờ có tính toán trong vấn đề này và sẽ trì hoãn việc giải quyết các tuyên bố chủ quyền trái ngược nhau cho đến thời điểm mà Bắc Kinh cảm thấy thích hợp.[13] Thứ hai, đó là chiến thuật “salami”, thực hiện chính sách “lấn dần từng bước”, đảm bảo đạt được sự kiểm soát tình hình, mà không làm cho các bên yêu sách cùng dư luận quốc tế phản ứng thái quá. Bắc Kinh luôn kết hợp cứng và mềm, sẵn sàng đàm phán khi cần thiết, nhưng cũng sẵn sàng vứt bỏ “cam kết” khi cần. Thứ ba, Trung Quốc kiên trì đàm phán song phương, phản đối đa phương hóa và quốc tế hóa. Theo cách đó, Trung Quốc có thể “chia để trị” và luôn duy trì được thế áp đảo đối với đối phương. Ít có khả năng Trung Quốc tham gia các cơ chế an ninh hợp tác, nơi đó Trung Quốc phải chấp nhận vị thế và lợi ích ngang bằng với các quốc gia khác. và yếu hơn mình, tránh được sự nhòm ngó của quốc tế.[14]

Đọc phần tiếp theo “Những điều chỉnh trong chiến lược của Trung Quốc đối với Biển Đông

Đỗ Thanh Hải & Nguyễn Thùy Linh, Chương trình Nghiên cứu Biển Đông

Đề nghị chỉ được dẫn đường link mọi thông tin, bài viết  trên www.nghiencuubiendong.vn, không đăng lại khi chưa có sự đồng ý của Ban Biên tập NCBĐ.



[1] Joshua Kurlantzick, “Avoiding a Tempest in the South China Sea”, Expert Brief, Council on Foreign Relations, September 2, 2010, xem tại: http://www.cfr.org/china/avoiding-tempest-south-china-sea/p22858.

[2] Yuzheng 311, 303 start escort in South China Sea, Sina English, 26 November 2009, xem tại: http://english.sina.com/china/p/2009/1126/288553.html,

[3] Peter Brown, Calculated ambiguity in the South China Sea, Asia Times, 8 December 2009, xem tại: http://www.atimes.com/atimes/Southeast_Asia/KL08Ae01.html

[4] xem thêm: Bước phát triển mới của Hải quân Trung Quốc, BBC Vietnamese, ngày 12/5/2010, xem tại: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2010/05/100512_china_navy_strategy.shtml

[5] Leszek Buszynski, “Rising Tensions in the South China and Implications for Regional Security”, Tham luận tại Hội thảo quốc tế: “Biển Đông: Hợp tác vì An ninh và Phát triển ở khu vực”, tổ chức tháng 11/2010 tại thành phố Hồ Chí Minh.

[6] Một thuật ngữ mà nước này thường dùng trong quá khứ để đề cập đến vấn đề Đài Loan, Tây Tạng, và Tân Cương.

[7] Cary Huang, “A bolder China asserts 'core' interests - but will it act?”, South China Morning Post, August 12, 2010, xem tại: http://www.viet-studies.info/kinhte/china_asserts_core_interest.htm,

[8] GS. Tô Hạo khẳng định tại Hội thảo Quốc tế về Biển Đông tại thành phố Hồ Chí Minh (11/2010): Trung Quốc chưa bao giờ sử dụng thuật ngữ “lợi ích cốt lõi” trong các tài liệu chính thức.

[9] Các báo China Daily, Global Times, và một số tạp chí của Trung Quốc đều có tin bài của học giả Trung Quốc nêu nội dung này. Báo China Daily ngày 30/7/2010 đăng bài của Ai Yang nhấn mạnh “Nam Hải là một trong những lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc. Tạp chí Thế giới Tri thức (thuộc Bộ Ngoại giao Trung Quốc) số ngày 16/8 đăng bài của học giả Trung Quốc khẳng định vào tháng 3 năm 2010, Trung Quốc đã nêu rõ với phía Mỹ rằng Nam Hải liên quan đến “lợi ích cốt lõi” về chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc.

[10] Joshua Kurlandtzick, “Avoiding a Tempeset in the South China Sea”, Expert Brief on Council on Foreign Relations Website, September 2, 2010, retrieved on October 10, 2010 at http://www.cfr.org/publication/22858/avoiding_a_tempest_in_the_south_china_sea.html

[11] Trọng Nghĩa, “Nhìn từ Nhật Bản: Phải buộc Trung Quốc đàm phán đa phương về Biển Đông”, RFI, ngày 11/10/2010, xem tại: http://www.viet.rfi.fr/tong-hop/20100827-nhin-tu-nhat-ban-phai-buoc-trung-quoc-dam-phan-da-phuong-ve-bien-dong.

[12] “Chờ điều kiện chín muồi để giải quyết tranh chấp Biển Đông”, VNN phỏng vấn Đại sứ Trung Quốc Tôn Quốc Tường, xem tại http://www.vietnamnet.vn/chinhtri/201001/Cho-dieu-kien-chin-muoi-giai-quyet-tranh-chap-bien-Dong-888092/ ngày 11/9/2010.

[14] “Trung Quốc chống quốc tế hóa tranh chấp Biển Đông”, RFI, ngày 25/7/2010, xem tại: http://www.viet.rfi.fr/chau-a/20100725-trung-quoc-chong-viec-quoc-te-hoa-tranh-chap-bien-dong, ngày 19/9/2010.

 

 

Cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ lan khắp thế giới đã dấy lên những nghi ngờ mới về thực lực của Mỹ, sự ảnh hưởng của “chủ nghĩa dân tộc trong nghiên cứu học thuật”  dường như đã tăng thêm những luận cứ mới nhất cho “thuyết nước Mỹ suy yếu”. Thuyết trên ra đời có căn nguyên nhất định, nhưng bản chất của nó là Mỹ đã sử dụng quá mức quyền lực trong phạm vi thế giới làm dấy lên mối lo ngại về bá quyền của Mỹ.

I- Những quan điểm chủ yếu về “thuyết nước Mỹ suy yếu”


Trên thực tế, “thuyết nước Mỹ suy yếu” đã sớm ra đời từ cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Những năm 60 thế kỷ 20, Toynbee đã chỉ rõ Mỹ sẽ giẫm lên vết xe đổ của đế quốc Rôma và đế quốc Anh, đi vào con đường suy thoái. Năm 1986, Giáo sư sử học nổi tiếng trường Đại học Yale Mỹ, Paul Kennedy đã viết bài “Mỹ tương đối suy yếu”, cho rằng thế kỷ xưng Mỹ bá thế giới đã chấm hết. Sau đó, ông lại viết cuốn “Sự hưng thịnh và suy yếu của cường quốc” gây ảnh hưởng trên thế giới, từ tầm cao chiến lược nêu rõ hơn tình trạng bế tắc chiến lược của Mỹ. Từ những năm 90 thế kỷ 20 tới nay, Đông Âu biến động, Liên Xô tan rã, tình hình quốc tế đã có những thay đổi căn bản, đối thủ của Mỹ trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh đột nhiên biến mất, cục diện “nhất siêu đa cường” dần hình thành. Mỹ ra sức sử dụng thậm chí sử dụng quá mức thực lực, đặc biệt là thực lực quân sự, cuối cùng khiến thực lực cứng-mềm đều tổn thất, khiến những cuộc tranh luận về thực lực của Mỹ suy yếu do đó cũng diễn ra ngày càng sôi nổi. Nói tóm lại, “thuyết nước Mỹ suy yếu” chủ yếu có mấy quan điểm sau:


- “Thuyết kinh tế suy yếu”. Quan điểm này chủ yếu thông qua liệt kê hàng loạt số liệu và thực tế kinh tế để chứng minh thực lực kinh tế của Mỹ suy yếu, từ đó chứng minh thực lực của Mỹ đã yếu đi, rất nhiều học giả bao gồm các nhà kinh tế học, sử học, những người Mácxít, đại diện của thuyết lệ thuộc đều ủng hộ quan điểm này. Họ chủ yếu chứng minh từ hai phương diện. Một là, từ góc độ lịch sử, so sánh số liệu kinh tế của Mỹ trong các thời kỳ lịch sử, đặc biệt là những thay đổi tỉ trọng chỉ tiêu kinh tế chủ yếu trên thế giới; hai là, tình hình kinh tế trong các thời kỳ hoặc giai đoạn lịch sử đặc biệt. Ví dụ, thời gian đầu sau khi Thế chiến II kết thúc, Mỹ từng đạt 50% tổng lượng kinh tế thế giới, nhưng năm 2007 chỉ bằng khoảng 30%. Năm 1950, 60% sản xuất của ngành chế tạo thế giới đến từ nước Mỹ, đến năm 1999 giảm xuống còn 25%. Dịch vụ và thương mại là hai ngành phát triển nhanh nhất trong sự phát triển của nền kinh tế thế giới. Năm 2001, Mỹ chiếm 24% dịch vụ và thương mại thế giới, Liên minh châu Âu (EU) 23%, và nếu tính cả xuất khẩu trong nội bộ EU thì lên tới 40%. Nhà sử học Mỹ Donald W.White từng chỉ rõ, “việc mất đi địa vị thống trị kinh tế khiến Mỹ không có đủ của cải đáp ứng được nhu cầu trong nước, trong khi phải đáp ứng những cam kết đối ngoại vô hạn.” Có người cho rằng ưu thế kinh tế trở thành cường quốc thế giới của Mỹ đang suy giảm nhanh, khiến thực lực tổng thể của Mỹ giảm sút, đặc biệt là cơn bão tài chính năm 2007 đã chứng minh cho quan điểm này.


- “Thuyết tình thế khó khăn chiến lược”. Quan điểm này chủ yếu nhấn mạnh trong quá trình Mỹ bảo vệ bá quyền toàn cầu, giá thành đã vượt xa lợi ích thu được. Đại diện điển hình cho quan điểm này là Paul Kennedy. Ông cho rằng Mỹ đứng trước nhiều tình thế khó khăn chiến lược khó có thể khắc phục trong quá trình trở thành bá quyền thế giới và bảo vệ bá quyền, những mặt hàng Mỹ cung cấp cho thế giới vượt xa lợi ích thu được từ trong đó, thế lực của Mỹ đang dần dần yếu đi, cuối cùng đi tới suy yếu. “Rất giống với lịch sử thịnh suy của các nước lớn trước đây, Mỹ cũng đang đứng trước nguy cơ có thể gọi là ‘chiến tuyến đế quốc quá dài’, cũng có nghĩa là, các nhà quyết sách của Oasinhtơn buộc phải nhìn thẳng vào hiện thực hóc búa lâu dài này: lợi ích trên toàn cầu và tổng nghĩa vụ Mỹ phải gánh vác đã vượt xa khả năng nước này có thể cùng lúc bảo vệ.”


- “Thuyết thực lực mềm bị tổn thất”. Đại diện điển hình cho quan điểm này là Joseph Nye. Ông cho rằng một quốc gia không những phải có “thực lực cứng” là kinh tế, quân sự, còn cần có “thực lực mềm” chủ yếu gồm khả năng thuyết phục người khác, quan niệm giá trị, truyền thống văn hóa …. Mỹ có “thực lực cứng” hùng mạnh nhất không thể tranh cãi trên thế giới, nhưng “thực lực mềm” cũng đang bị tổn thất thậm chí bắt đầu suy yếu, “thực lực mềm” suy yếu ngược lại đã kiềm chế “thực lực cứng” phát huy vai trò. Trong bài “Quyền lực mềm của Mỹ suy yếu”, Joseph Nye viết “Xu thế chống Mỹ có phần tăng lên trong mấy năm gần đây, trong khi quyền lực mềm của Mỹ, tức khả năng thông qua tính hợp lý trong chính sách và quan niệm giá trị được coi là nền tảng của Mỹ để thu hút các nước khác, đang xuống dốc … làm giảm khả năng Mỹ không cần dùng chính sách gây sức ép cao hoặc dùng tiền mua chuộc mà vẫn đạt được mục đích. Thất bại lớn nhất của Mỹ là ít suy tính và đầu tư rất ít vào việc phát triển quyền lực mềm.”


- “Thuyết chu kỳ bá quyền”, còn được gọi là thuyết chu kỳ chính trị quốc tế, là một loại lý luận dùng phân tích và phán đoán quy luật phát triển chính trị quốc tế. Thuyết này xuất hiện ngay từ những năm 70 thế kỷ 20 và được phát triển hơn nữa vào đầu những năm 80, “thuyết bá quyền ổn định” của Robert Gilpin và “thuyết chu kỳ dài lãnh đạo” của George Modelski đều tương đối có ảnh hưởng. Quan điểm chủ chốt của thuyết chu kỳ bá quyền là: Xung đột giữa nước bá quyền và nước mới vươn lên, sự thịnh suy của bá quyền là kết quả tất yếu trong diễn biến của hệ thống chính trị quốc tế, cũng là động lực nội tại khi hệ thống chính trị quốc tế biến động. Khi nước thông qua chiến tranh giành được địa vị bá chủ vừa mới xuất hiện, hệ thống chính trị quốc tế ở vào thời kỳ ổn định. Cùng với thực lực quốc gia lúc tăng lúc giảm, các nước thách thức dần lớn mạnh, ngày càng không hài lòng với hiện trạng, trong khi nước bá quyền lại đang xuống dốc. Chiến tranh khu vực nhằm tranh giành lợi ích giữa nước gây thách thức và nước bá quyền bắt đầu nổ ra, thời kỳ ổn định của nền chính trị quốc tế liền chấm dứt, hệ thống quốc tế bước vào thời kỳ rối ren mới. Tiếp đó, chiến tranh thế giới tranh giành bá quyền cũng không tránh khỏi, nền chính trị quốc tế lại trở lại cục diện mất trật tự và rối ren. Sau khi cuộc chiến tranh kéo dài kết thúc, các nước gây chiến trở thành bá chủ mới, nền chính trị quốc tế lại khôi phục trạng thái ổn định. Sự thịnh suy của bá quyền là quy luật khách quan không dịch chuyển theo ý chí con người. Modelski cho rằng mỗi một chu kỳ bá quyền đều có “người lãnh đạo”, đó là Bồ Đào Nha thế kỷ 16, Hà Lan thế kỷ 17, nước Anh thế kỷ 18, 19 và nước Mỹ thế kỷ 20. Các chu kỳ đều có 4 giai đoạn: (1) trỗi dậy trong cuộc chiến tranh bá trên toàn cầu; (2) địa vị nước lãnh đạo thế giới được thừa nhận; (3) khả năng chỉ đạo phi hợp pháp hóa; (4) phân tán kết cấu quyền lực, phân tán hóa dẫn tới những cuộc giành giật mới, lại bước vào vòng tuần hoàn tiếp theo.


- “Thuyết hệ thống thế giới phát triển theo vòng tuần hoàn mang tính chu kỳ”. Quan điểm này có mối liên quan chặt chẽ với “thuyết chu kỳ bá quyền”, đại diện điển hình là Immanuel Wallerstein. Thông qua phân tích lịch sử phát triển của chủ nghĩa tư bản từ thế kỷ 16 đến nay, Wallerstein đã đưa ra quy luật phát triển tổng thể của hệ thống thế giới: nhịp độ-quy luật mang tính chu kỳ và xu thế mang tính lâu dài. Nhịp độ-quy luật mang tính chu kỳ là chu kỳ tuần hoàn mở rộng – thu hẹp trong hệ thống thế giới tư bản chủ nghĩa do những mâu thuẫn nội tại giữa tổng nhu cầu và tổng cung cấp của nền kinh tế thế giới gây ra. Trên cơ sở lý luận bước sóng dài của Krondratiev, Immanuel Wallerstein chỉ rõ bước sóng dài của hệ thống thế giới cứ 40-50 năm lặp lại một lần, thời kỳ đình trệ của mỗi chu kỳ đều tạo cơ hội và động lực cho việc tổ chức lại sản xuất trong hệ thống thế giới và chuẩn bị cho việc mở rộng chu kỳ tiếp theo. Nhịp độ-quy luật mang tính chu kỳ không những làm cho bên trong hệ thống kinh tế thế giới có những biến động tương đối về vị trí, mà còn tạo động lực cơ bản cho xu thế phát triển lâu dài của hệ thống thế giới. Trong bài bình luận “Suy thoái: triển vọng thời gian dài” ngày 15/10/2008, Wallersterin nêu rõ: “Nói tới chu kỳ bá quyền, Mỹ chính là người tranh bá đã trỗi dậy năm 1873, tới năm 1945 giành được địa vị chi phối bá quyền toàn diện, và cứ suy yếu dần sau thập niên 1970. George W. Bush ngu xuẩn đã biến sự suy yếu chậm chạp thành suy yếu nhanh chóng. Cho tới nay, bá quyền Mỹ đã là hoa cúc vàng của ngày hôm qua… Thế giới đã bước ra khỏi giai đoạn B của Krondratiev lần cuối cùng năm 1945, sau đó lại xuất hiện thời kỳ leo thang giai đoạn A hùng mạnh nhất trong lịch sử của hệ thống thế giới hiện đại. Nó đạt tới đỉnh cao vào khoảng năm 1967-1973, sau đó rơi vào giai đoạn trượt dốc.” Từ đó chúng ta có thể thấy Wallerstein cho rằng thực lực kinh tế Mỹ bắt đầu suy yếu ngay sau khi xác lập địa vị bá quyền, đặc biệt là cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay càng chứng tỏ Mỹ đã suy yếu thời gian dài.


Tuy nhiên, tất cả những giải thích lý luận này đều có tính hạn chế nhất định, không thể chứng minh đầy đủ Mỹ đã suy yếu. Một mặt, một số lý luận mang tính phiến diện nhất định, tức là nhấn mạnh một cách phiến diện thực lực ở một mặt nào đó suy yếu khiến thực lực tổng thể của Mỹ suy yếu, ví dụ “thuyết kinh tế suy yếu”, “thuyết thực lực mềm bị tổn thất”… Suy thoái kinh tế quả thực đã khiến thực lực của Mỹ sụt giảm, nhưng không đe dọa địa vị kinh tế và địa vị bá quyền căn bản của nước này. Những lý luận này quá quan tâm tới thực lực tương đối của Mỹ sụt giảm mà xem nhẹ hiện thực thực lực tuyệt đối chưa có những thay đổi quá lớn. Thực lực mềm chủ yếu là một khả năng vận dụng quyền lực tổng hợp, có mối liên quan lớn tới nhận thức và sự tu dưỡng chính trị của nhà lãnh đạo, hơn nữa có thể bù đắp phần thực lực mềm bị tổn thất bằng sức mạnh kinh tế, văn hóa thậm chí quân sự. Trên thực tế, Tổng thống Obama đã nhận thức được tính nghiêm trọng của vấn đề này và đã tích cực tạo dựng lại địa vị lãnh đạo để khôi phục thực lực mềm cho đất nước.


Mặt khác, một số lý luận có tính giới hạn lịch sử nhất định, ví dụ “lý luận chu kỳ bá quyền”, “thuyết hệ thống thế giới phát triển theo vòng tuần hoàn mang tính chu kỳ”. Những lý luận này bắt đầu từ những kinh nghiệm phát triển của lịch sử, hoặc phân tích tiến trình phát triển của hệ thống thế giới, hoặc phân tích sự thay đổi thịnh suy của các nước bá quyền…. Chúng ta không thể phủ nhận ý nghĩa tấm gương của lịch sử, nhưng liệu lịch sử có lặp lại hay không, còn phải đợi thực tiễn kiểm nghiệm. Môi trường trong nước và quốc tế mà các nước bá quyền trước Mỹ đối mặt có những khác biệt về bản chất so với nước Mỹ ngày nay. Các nước bá quyền trước Mỹ không có ảnh hưởng mang tính toàn cầu, ngay cả đế quốc Anh cũng vậy, toàn cầu hóa ngày nay đã khiến Mỹ và các nước trên thế giới gắn bó chặt chẽ với nhau. Môi trường trong và ngoài nước khác nhau khiến ý nghĩa của việc so sánh sự suy thoái của các nước bá quyền chỉ là tương đối. Cuộc khủng hoảng kinh tế-tài chính trên phạm vi toàn cầu hiện nay đã cho thế giới thấy, chẳng quốc gia hoặc tổ chức quốc tế nào có thể chịu đựng nổi hậu quả do Mỹ suy yếu nhanh và lớn như vậy tạo ra. Đúng như lời Fareed Zakaria “đặc trưng then chốt trong sự suy yếu của nước Anh không thích hợp với Mỹ”. Lý luận chu kỳ bá quyền vấp phải nhiều sự nghi ngờ, “thuyết nước Mỹ suy yếu” hình thành trên cơ sở này càng gây tranh cãi. Mưu toan thông qua những ví dụ đơn lẻ để kiểm nghiệm những lý luận mang tính phổ biến hiển nhiên là có vấn đề. Còn về “thuyết tình thế khó khăn chiến lược”, hiện nay xem ra Mỹ quả thực đang đứng trước một loạt tính thế khó khăn chiến lược, chẳng hạn khủng hoảng kinh tế, vấn đề Irắc, Ápganixtan, an ninh lãnh thổ và an ninh ở nước ngoài…, về căn bản và lâu dài, Mỹ có lẽ chẳng có cách nào khắc phục được một số tình cảnh khó khăn chiến lược, nhưng về ngắn hạn, hoặc trong tương lai gần, Mỹ sẽ không rơi vào suy thoái nghiêm trọng do đứng trước tình cảnh khó khăn chiến lược.


II- Thực lực cơ bản của Mỹ chưa suy yếu


Sức mạnh quốc gia là một trong những khởi điểm lôgich quan trọng của nhiều lý luận về quan hệ quốc tế. Bậc thầy của chủ nghĩa hiện thực Hans Morgenthau đã phân tích sâu và cho rằng thực lực quốc gia được tạo thành từ 9 phương diện: địa lý, nguồn tài nguyên tự nhiên, năng lực công nghiệp, khả năng chuẩn bị cho chiến tranh, dân số, tính cách dân tộc, tinh thần quốc dân, tố chất ngoại giao và tố chất của chính phủ.


Dưới sự phối hợp của sức mạnh quân sự hùng hậu, ưu thế địa-chính trị thiên nhiên ưu đãi của Mỹ được phát triển nhanh, ưu thế địa lý đã vượt xa biên giới quốc gia Mỹ. Mỹ là một trong những nước có nguồn tài nguyên phong phú nhất thế giới và đang kiểm soát các nơi sản xuất và tuyến đường vận chuyển tài nguyên quan trọng như dầu mỏ, khí đốt thế giới. Dân số Mỹ mặc dù có xu thế lão hóa, nhưng do dân số tăng liên tục và sự du nhập của dân di cư, trình độ giáo dục của người dân không ngừng nâng cao, khiến chất lượng dân số chẳng những không đe dọa thực lực của Mỹ, mà ngược lại trở thành một trong những nguồn lâu dài của sức mạnh quốc gia.


Về thực lực kinh tế: Mặc dù xảy ra khủng hoảng kinh tế, nhưng thực lực kinh tế của Mỹ vẫn đứng đầu thế giới, nền kinh tế Mỹ chưa đến mức quá gay go. Chuyên mục khái quát tình hình thế giới trên trang web của Cục tình báo trung ương Mỹ (CIA) đã công bố những số liệu GDP mới nhất của các nước năm 2008, Mỹ 14,33 nghìn tỷ USD, tiếp tục đứng đầu thế giới. Tuy nhiều chỉ tiêu kinh tế cho thấy nền kinh tế Mỹ đã rơi vào suy thoái, nhưng do tổng lượng GDP vẫn còn dư hơn 1.400 tỷ USD so với tổng GDP của 3 nước Nhật Bản (đứng thứ 2), Trung Quốc (thứ 3), Đức (thứ 4), cho thấy ưu thế dẫn đầu của Mỹ không thể dao động trong 20, 30 năm tới. Báo cáo của Học viện phát triển quản lý quốc tế Thụy Sĩ (IMD) cho biết, mặc dù kinh tế Mỹ đã rơi vào suy thoái nhưng vẫn có sức cạnh tranh nhất toàn cầu. Trong bảng “Niên giám sức cạnh tranh toàn cầu” của IMD, kinh tế Mỹ liên tục đứng đầu 15 năm. Danh sách này có được thông qua đánh giá biểu hiện kinh tế, hiệu quả của chính phủ, hiệu suất của doanh nghiệp và cơ sở hạ tầng. Trong bài đăng trên tạp chí “Ngoại giao” Mỹ, Fareed Zakaria viết khủng hoảng kinh tế không ảnh hưởng đến mặt cơ bản của nền kinh tế Mỹ … Mỹ vẫn có khả năng và sức sống tạo dựng thế giới.


Về thực lực quân sự: Cho đến nay, Mỹ là nước duy nhất có khả năng thực thi chuyển quân quy mô lớn trên toàn cầu và phát động chiến tranh cục bộ ở bất cứ nơi nào trên thế giới cách xa đất nước mình. Mỹ có kho vũ khí hạt nhân lớn nhất, chi phí quân sự và công nghiệp quốc phòng lớn nhất thế giới, đồng thời cũng có trang bị quân sự tiên tiến nhất. Dân số Mỹ chưa tới ¼ dân số Trung Quốc, về địa lý hai mặt Đông-Tây có hai đại dương lớn hiểm yếu, phía Nam và phía Bắc không có tranh chấp trên đất liền, quy mô lực lượng quân sự vượt xa nhu cầu phòng thủ đất nước. Trang bị chiến đấu chủ yếu cho lực lượng thường trực trên chiến trường thường đi trước đối thủ một thế hệ, đồng thời hình thành hệ thống tác chiến hỗn hợp hải, lục, không quân, trên không gian vũ trụ, điện tử. Ngay khi đã chiếm ưu thế tuyệt đối, quân đội Mỹ vẫn không ngừng đẩy mạnh đầu tư quân sự, phát triển vũ khí kiểu mới nhằm luôn duy trì ưu thế dẫn đầu về quân sự. Nhiều năm qua, ngân sách quốc phòng Mỹ luôn đứng đầu thế giới. Theo thống kê của Trung tâm nghiên cứu hòa bình quốc tế Stockhom Thụy Điển, chi phí quốc phòng của Mỹ năm 2007 là 546,8 tỷ USD, chiếm trên 40% chi phí quốc phòng toàn cầu. Đồng thời Mỹ vẫn đứng đầu thế giới về kim ngạch xuất khẩu vũ khí trong nhiều năm.


Về khả năng đổi mới khoa học công nghệ và giáo dục đào tạo. Mỹ đứng đầu thế giới trong lĩnh vực công nghệ nano, số “trung tâm nano” chuyên dụng nhiều hơn cả 3 nước đứng sau là Đức, Anh, Trung Quốc gộp lại, và số bản quyền phát minh sáng chế được công bố còn nhiều hơn tổng số của các nước khác trên thế giới. Công nghệ sinh học cũng đang bị Mỹ thống trị. Năm 2005, thu nhập từ công nghệ sinh học đạt gần 50 tỷ USD, gấp 5 lần tổng lượng của châu Âu, chiếm 76% thu nhập công nghệ sinh học toàn cầu. Theo báo cáo năm 2006 của Trung tâm cải cách Luân Đôn, Mỹ đã đầu tư 2,6% GDP vào giáo dục đại học, trong khi châu Âu và Nhật Bản lần lượt là 1,2% và 1,1%. Dân số Mỹ chỉ chiếm 5% thế giới, nhưng có tới 7, 8 trong top 10 trường đại học nổi tiếng thế giới, chiếm 48% thậm chí có người cho rằng lên tới 68% trong top 50 trường đại học đứng đầu thế giới. Tình hình nghiên cứu khoa học càng đặc biệt gây chú ý. Tại Ấn Độ, mỗi năm chỉ có 35-50 tiến sỹ tốt nghiệp chuyên ngành máy tính; con số này ở Mỹ lên tới 1.000. Đến nay Mỹ vẫn là nơi có sức thu hút các học sinh nhất, tiếp nhận 30% tổng số học sinh nước ngoài trên toàn cầu, và sự hợp tác giữa thương mại và giáo dục cũng không nước nào sánh bằng. Học giả Trung Quốc Tư Trung Quân nêu rõ: Dòng chảy nhân tài đang quyết định thực lực của một nước, Mỹ sẽ không suy yếu chừng nào những nhân tài ưu tú nhất thế giới vẫn đổ nước này. Theo “Báo cáo sức cạnh tranh toàn cầu (2008-2009)” được Diễn đàn kinh tế thế giới công bố mới nhất, sức cạnh tranh của Mỹ vẫn vượt trên các nước khác rất xa.


Về thực lực mềm: Ưu thế thực lực mềm của Mỹ càng nổi trội hơn thực lực cứng. Nhân tài chính là cội nguồn cốt lõi của thực lực mềm, như phần trên đã nêu rõ, dòng chảy nhân tài chủ yếu trên thế giới vẫn đổ về Mỹ. Trong khi giữ ưu thế về nhân tài, khoa học công nghệ và sáng tạo, ưu thế về thông tin đại chúng, phim ảnh và các chương trình vui chơi giải trí của Mỹ cũng khó có thể lung lay. Thực lực mềm thông qua sự truyền bá của mạng lưới phát triển làm cho ảnh hưởng của thực lực cứng tăng lên gấp bội, và Mỹ đều đã thực hiện chuyên môn hóa và thương mại hóa thực lực mềm, quy mô lợi nhuận các mặt thậm chí đã vượt qua ngành chế tạo và ngành dịch vụ. Coca Cola, Mc Donald’s… đại diện cho văn hóa Mỹ là những vũ khí sắc bén công phá tuyến phòng thủ tâm lý của các nước. Nhà bình luận nổi tiếng của Mỹ Robert Kagan nói ông tin rằng thế giới đơn cực do Mỹ thống trị vẫn sẽ tiếp tục tồn tại; hiện vẫn chưa có một nước hoặc tập đoàn nào muốn tranh bá thế giới với Mỹ. Ông nhấn mạnh, nước lớn siêu cường có thể bại trận nhưng vẫn không mất đi địa vị siêu cường, điều kiện là: “Công dân Mỹ vẫn ủng hộ Mỹ nắm quyền chủ đạo, các nước láng giềng – mối thách thức tiềm ẩn của Mỹ cảm thấy lo sợ chứ không phải sự đồng tình.” Đương nhiên, thực lực mềm của Mỹ quả thực đã bị tổn hại quá nhiều, nhưng trên mức độ rất lớn việc khôi phục là quá trình mở rộng đầu tư tân trang hình ảnh, chỉ cần chính phủ mới có nguồn lực kinh tế lớn thì thực lực mềm sẽ được nâng lên rất nhanh, huống hồ đến nay văn hóa điện ảnh truyền hình của Mỹ vẫn phổ biến khắp thế giới, “giấc mộng nước Mỹ” vẫn thu hút các tinh hoa của rất nhiều nước. Do vậy thực lực của Mỹ vẫn chưa bị tổn thương.


Nói tóm lại, sức mạnh tổng hợp của Mỹ chưa suy yếu, sức cạnh tranh chủ chốt khi trỗi dậy là nước lớn thế giới chưa vấp phải những tác động căn bản: chẳng hạn ưu thế địa-chính trị vô cùng có lợi, ưu thế về quy mô, các chủ doanh nghiệp có tinh thần sáng tạo, ý thức về sứ mệnh cứu thế, thực hành dân chủ… Ưu thế tuyệt đối của Mỹ như chế độ chính trị, sức sống kinh tế, khả năng đổi mới xã hội vẫn chưa được phát huy. “Bất kể là nước Mỹ trong tưởng tượng của mọi người hay một nước cụ thể, việc chúng ta dán mác “suy yếu” cho Mỹ là võ đoán quá mức, cũng không được dựa trên những căn cứ chân thực, bất kể cuộc thảo luận nào về thuyết nước Mỹ tương đối suy yếu đều chẳng có tác dụng gì trước nước Mỹ hùng cường.”
Vậy tại sao lại nảy sinh “thuyết nước Mỹ suy yếu”?

III- Căn nguyên ra đời “thuyết nước Mỹ suy yếu”


Thứ nhất, thực lực của Mỹ ở một số mặt nào đó quả thực có tổn thất trên mức độ nhất định. Xét về điểm này, “thuyết nước Mỹ suy yếu” không phải không có căn cứ. Do thực lực kinh tế, khả năng chính trị, thực lực quân sự và thực lực mềm của Mỹ đều đã suy yếu hoặc tổn thất ở những mức độ khác nhau, vai trò chung của quan niệm giá trị, tâm lý xã hội với kinh nghiệm quan hệ quốc tế, những sai lầm về lý luận khiến nhiều học giả khi phán đoán phương hướng phát triển của Mỹ trong tương lai đã đưa ra “thuyết nước Mỹ suy yếu” – một kết luận dường như hợp lý nhưng không phù hợp thực tế.


Thứ hai, từ khi nước Mỹ thành lập đến nay, ý thức nguy cơ và ý thức hoạn nạn liên tục được nhắc đến. Chính ý thức hoạn nạn này đã thúc đẩy sự ra đời của siêu cường thế giới. Cho đến nay, Mỹ đã sản sinh ý thức nguy cơ “chỗ cao cũng không tránh được gió đông”. Trên tờ “Thời báo Niu Yoóc” các ngày 26/5/2005 và 29/6/2008, Thomas Friedman đã liên tục nhắc nhở người dân Mỹ phải có ý thức nguy cơ. Điều khiến chúng ta nhận thấy được ý thức hoạn nạn của Mỹ chính ở trong bài diễn văn nhậm chức của Tổng thống Barack Obama: “Hiện nay chúng ta đều hiểu rõ, chúng ta đang ở trong cuộc khủng hoảng. Đất nước chúng ta đang chiến đấu, đối thủ là bạo lực và hận thù có ảnh hưởng sâu xa; nền kinh tế đất nước cũng suy yếu nghiêm trọng, nguyên nhân là sự tham lam và vô trách nhiệm của một số người, nhưng điều quan trọng hơn là chúng ta đã mắc những sai lầm quyết sách trong một số vấn đề lớn, đồng thời cũng chưa thể làm tốt công tác chuẩn bị đối phó với thời đại mới.” Những chính sách đối ngoại trình bày trên tạp chí “Ngoại giao” Mỹ trong thời kỳ Obama tranh cử cũng khiến chúng ta thấy được nhận thức tỉnh táo của ông ta đối với những mối đe dọa nước Mỹ phải đối mặt. Ý thức hoạn nạn của dân chúng Mỹ còn thường xuyên được thể hiện trong các tác phẩm điện ảnh, văn học, ví dụ thường xuyên nói tới ngày tận thế trong các bộ phim như “Sụp đổ”, “Để lại phía sau”, “Những năm tháng cuối cùng của nước Mỹ”, “Ngày tận thế”, “24 giờ chống khủng bố”… Thậm chí có người còn dự đoán Đại chiến thế giới III sắp xảy ra.


Không một học giả nào có thể tách rời môi trường đặc biệt họ sinh sống để nghiên cứu các vấn đề xã hội. Khi nghiên cứu thực lực của Mỹ, các học giả Mỹ cũng không thể tách khỏi truyền thống văn hóa xã hội Mỹ, tức là ý thức hoạn nạn và ý thức nguy cơ. Các tác phẩm như “Sự thịnh suy của cường quốc” của Paul Kennedy, “Nước Mỹ tan rã” của Arthur Schlesinger, hai tác phẩm nổi tiếng của Huntington “Xung đột văn minh và tái thiết lại trật tự thế giới” và “Chúng ta là ai? – Thách thức đặc tính quốc gia Mỹ phải đối mặt”, “thuyết nước Mỹ suy yếu” của Immanuel Wallerstein … đều chịu ảnh hưởng sâu sắc của quan niệm giá trị và tâm lý xã hội này, kỳ thực đây cũng là một trong những sự theo đuổi giá trị của những người tri thức, thể hiện tinh thần yêu nước. Những trình bày và phân tích của các học giả nổi tiếng này không hẳn cho rằng không thể đảo ngược hoặc làm dịu xu thế trên, mà là muốn nhắc nhở người dân Mỹ và các nhà hoạch định chính sách nếu không thay đổi cách sử dụng quyền lực sai lầm sẽ dẫn tới nước Mỹ suy yếu.


Thứ ba, kinh nghiệm trong quan hệ quốc tế và định hướng sai lầm về lý luận. Từ khi nhà nước ra đời đến nay, luôn có những nghiên cứu lý luận về sự thịnh suy của đất nước, đặc biệt từ khi bước vào thời kỳ cận-hiện đại, giới học thuật càng hứng thú với việc này. Khi nghiên cứu quy luật thịnh suy của đất nước, mặc dù các học giả này đã đưa ra một loạt quan điểm lý luận rất có kiến giải, nhưng trên mức độ rất lớn, đây là sự tổng kết hiện tượng lịch sử, hoặc dựa vào một trường hợp đặc biệt để đại diện cho xu thế phát triển của thế giới. Ví dụ, lý luận chu kỳ bá quyền, thuyết về sự ổn định của bá quyền, lý luận chuyển dịch quyền lực, lý luận hệ thống thế giới… đều đưa ra một số kết luận mang tính quy luật quan trọng về sự thịnh suy của đất nước, nhưng đều là nghiên cứu thảo luận từ một hoặc một số mặt nào đó trong nội bộ đất nước hoặc môi trường quốc tế, mà chưa tổng kết những quy luật phản ánh toàn diện sự thịnh suy của đất nước. Tuy nhiên các học giả phương Tây lại đang dùng những quy luật này để nghiên cứu thực lực nước Mỹ đi xuống, đưa ra kết luận Mỹ đã bắt đầu suy yếu.


Ngoài ra, ảnh hưởng của chủ nghĩa dân tộc ở các nước đang phát triển cũng là một nguyên nhân khiến “thuyết nước Mỹ suy yếu” lưu hành ở mức độ nhất định. Không học giả nào có thể nghiên cứu tách khỏi môi trường xã hội mình sinh sống, học giả ở các nước đang phát triển cũng không ngoại lệ, thậm chí phản ánh càng mạnh mẽ hơn trong bối cảnh toàn cầu hóa. Kiểu bài xích và tẩy chay bá quyền văn hóa phương Tây đứng đầu là Mỹ trở thành thiên hướng giá trị nội tại của nhiều học giả ở các nước đang phát triển, tức là “chủ nghĩa dân tộc trong nghiên cứu học thuật”.


Học giả ở các nước đang phát triển phần nhiều đưa ra “thuyết nước Mỹ suy yếu” từ xu thế phát triển quốc tế như toàn cầu hóa, đa cực hóa . Ví dụ có học giả cho rằng “sự phát triển của toàn cầu hóa trong tương lai cần được các cơ chế quốc tế phát huy vai trò chủ yếu, và yêu cầu Mỹ chấp nhận hiện thực bá quyền suy yếu, trở thành một thành viên quan trọng trong hợp tác quốc tế ổn định”. Lại có học giả cho rằng: “Rốt cuộc không thể ngăn chặn toàn cầu hóa. Cùng với châu Âu liên kết, châu Á trỗi dậy, nước Nga phục hưng, các nước lớn khu vực xuất hiện, Mỹ không thể tiếp tục một mình thống trị thế giới, mà buộc phải cùng một số nước lớn thiết lập ‘quan hệ đối tác lãnh đạo’ tương đối bình đẳng.” Có học giả còn đưa ra một loạt quan điểm, như “mưu toan thiết lập bá quyền đơn cực tất sẽ vấp phải sức ngăn cản đạo nghĩa khó có thể vượt qua”; “sự bành trướng của bá quyền Mỹ vừa khiến chính mình phải đảm nhận gánh nặng chồng chất, mà còn tạo thêm “người đào mồ” mới cho mình;… “đất nước hoàn toàn thống nhất sẽ khiến Trung Quốc trở thành nước lớn thế giới thật sự”. Có học giả còn cho rằng “xuất phát từ góc độ trung, dài hạn của nền chính trị khu vực chứ không phải toàn cầu, so sánh lực lượng căn bản rất có khả năng trong tương lai và triển vọng một cục diện có ảnh hưởng quốc tế ở khu vực Đông Á thì đó chính là xu hướng ‘chuyển dịch quyền thế’ giữa Mỹ và Trung Quốc.”


Nhưng chúng ta nhận thấy là toàn cầu hóa không chỉ hạn chế mà ngược lại càng tăng cường thực lực của Mỹ, giữa Mỹ và thế giới đã hình thành cục diện cùng phát triển, cùng tổn thất, khủng hoảng kinh tế chính là biểu hiện điển hình. Đa cực hóa là một xu thế phát triển của thế giới, nhưng cho đến nay nhiều học giả vẫn nghi ngờ liệu thế giới có phát triển thành đa cực hóa hay không, một học giả Mỹ đã nêu ra xu thế cục diện thế giới phát triển “vô cực hóa”. Thuyết Trung Quốc trỗi dậy cũng cần được lịch sử khảo sát, mặc dù đã giành được những thành tựu to lớn qua 30 năm cải cách mở cửa, nhưng Trung Quốc đang đứng trước nhiều thách thức ở trong và ngoài nước, liệu có thể trỗi dậy không, trỗi dậy bằng phương thức nào và khi nào trỗi dậy đều còn là ẩn số. Tuy nhiên hàng loạt quan điểm này lại được nhiều người ở Trung Quốc và các nước đang phát triển ủng hộ, nguyên nhân vì sao? Vì họ chịu ảnh hưởng trên mức độ nào đó của chủ nghĩa dân tộc, dẫn đến những lệch lạc trong nhận thức về thực tế thực lực của Mỹ và xu thế phát triển trong tương lai.

IV- Kết luận


Không thể phủ nhận các nước bá quyền là sản phẩm của thời kỳ lịch sử đặc biệt, tất sẽ ra đời, phát triển và suy vong cùng với sự phát triển của lịch sử xã hội, nhưng trong tương lai gần Mỹ sẽ không mất địa vị bá quyền, trừ phi bên trong nước Mỹ xảy ra những sai lầm chiến lược lớn hoặc môi trường quốc tế đột nhiên thay đổi, nhưng xác suất rất thấp, do đó ưu thế cạnh tranh chủ chốt mà Mỹ hiện có sẽ không mất đi trong tương lai gần. Nghiên cứu thảo luận những tranh luận về “thuyết nước Mỹ suy yếu” từ gốc rễ sẽ có thể nhận thấy khá rõ thực chất của thuyết này. Đây chính là mối lo ngại của tầng lớp tinh hoa Mỹ đối với địa vị bá quyền do Mỹ sử dụng quá mức quyền lực trong phạm vi toàn cầu, trên thực tế đây cũng là hành động bảo vệ địa vị bá quyền của Mỹ.


Chúng ta phải có nhận thức tỉnh táo đối với “thuyết nước Mỹ suy yếu”. Một mặt, phải hiểu rõ thực lực của Mỹ chưa suy yếu, dựa vào đó vạch ra chính sách và chiến lược ngoại giao đối với Mỹ, phải nhớ rõ là không thể áp dụng chính sách hoặc chiến lược ngoại giao phi lý trí đối với Mỹ, ví dụ “mô hình G-2”, “Trung-Mỹ cùng quản lý”. Đồng thời, xác định chính xác địa vị quốc gia, tức Trung Quốc là một nước lớn khu vực có ảnh hưởng trên thế giới chứ không phải là nước lớn trên toàn cầu, Trung Quốc có thể vạch kế hoạch chiến lược và tầm nhìn chiến lược toàn cầu, nhưng không thể hành động mù quáng. Mặt khác, vì Mỹ quả thực đã tổn thất thực lực ở một số mặt nào đó, Trung Quốc có thể lợi dụng một số thời cơ có lợi, triển khai chính sách đối ngoại có lợi, nâng cao hơn nữa địa vị quốc tế của mình. Trong khi vận dụng quyền lực với bên ngoài, Trung Quốc cũng cần phối hợp sử dụng các quyền lực, đề phòng chính sách đối ngoại không hợp lý làm tổn hại thực lực đất nước. Là một nước lớn đang trỗi dậy, kế hoạch chiến lược Trung Quốc cần có là dốc sức thiết lập một cục diện quốc tế nước bá quyền và nước phi bá quyền cùng thắng lợi, đồng thời vạch kế hoạch một khi nước Mỹ suy yếu, Trung Quốc cần có chiến lược đối ngoại ra sao?./.

 

Bài đăng trên Tạp chí “Quan hệ quốc tế hiện đại”, Trung Quốc, số 8/2009

 

 

"...Tuy sức mạnh theo nghĩa tuyệt đối của Mỹ gia tăng và Mỹ vẫn là siêu cường duy nhất có vai trò rất quan trọng trong hệ thống quan hệ quốc tế nhưng sức mạnh theo nghĩa tương đối đang suy giảm, các trung tâm quyền lực khác và các chủ thể phi nhà nước đang nổi lên thách thức, cán cân quyền lực quốc tế đang chuyển dịch và bộ mặt thế giới sẽ biến đổi căn bản trong những thập niên đầu của thế kỷ 21..."

 _____________________________________________________________________________________

Có 4 công trình nghiên cứu quan trọng xuất hiện trong nửa đầu năm 2008 đã và đang gây rất nhiều chú ý của dư luận trên toàn thế giới về đánh giá sức mạnh tuyệt đối và tương đối của Mỹ hay những dịch chuyển, thay đổi quan trọng trong cán cân quyền lực thế giới trong những thập niên đầu thế kỷ 21. Đó là: tác phẩm Á bán cầu mới: Sự dịch chuyển quyền lực toàn cầu tất yếu sang phía Đông của Kishore Mahbubani, một trong những chính khách và học giả nổi tiếng nhất của Xinh-ga-po; Thế giới hậu Mỹ của Fareed Zakaria, một trong những nhà báo về chính trị quốc tế nổi tiếng nhất của Tạp chí Newsweek (Mỹ); Sự trở lại của lịch sử và hồi kết của những giấc mơ của Robert Kagan, cây bút của báo The Washington Post và là cố vấn đối ngoại của ứng cử viên Tổng thống Đảng Cộng hòa John McCain; và Kỷ nguyên vô cực: Tiếp theo sau bá quyền của Mỹ sẽ là gì của Richard Haass, Chủ tịch Hội đồng Đối ngoại Mỹ.[1]

Cách lập luận và phương pháp tiếp cận của 4 công trình nghiên cứu này có khác nhau nhưng kết luận về cơ bản là khá tương đồng: tuy sức mạnh theo nghĩa tuyệt đối của Mỹ gia tăng và Mỹ vẫn là siêu cường duy nhất có vai trò rất quan trọng trong hệ thống quan hệ quốc tế nhưng sức mạnh theo nghĩa tương đối đang suy giảm, các trung tâm quyền lực khác và các chủ thể phi nhà nước đang nổi lên thách thức, cán cân quyền lực quốc tế đang chuyển dịch và bộ mặt thế giới sẽ biến đổi căn bản trong những thập niên đầu của thế kỷ 21.

Cả 4 công trình này đều tập trung trả lời 4 câu hỏi cụ thể:

- Có phải các trung tâm quyền lực khác và các chủ thể phi nhà nước đang nổi lên?

- Có phải sức mạnh và vị thế của Mỹ đang suy giảm?

- Liệu sự chuyển dịch quyền lực này là tất yếu và không thể đảo ngược được?

- Hệ lụy của sự dịch chuyển cán cân quyền lực này đối với hệ thống quan hệ quốc tế là gì?

Có phải các trung tâm quyền lực khác và các chủ thể phi nhà nước đang nổi lên thách thức vai trò của Mỹ?

Trong khi Zakaria và Mahbubani đi vào đánh giá sự nổi lên của các trung tâm quyền lực mới (đặc biệt ở châu Á) thì Richard Haass và Robert Kagan vượt ra khỏi khuôn khổ phân tích truyền thống của Chủ nghĩa hiện thực (tập trung vào quan hệ giữa các quốc gia) để làm nổi bật vai trò của các chủ thể phi nhà nước và của ý thức hệ (dân chủ và phi dân chủ) đối với một trật tự thế giới mới đang định hình.

Là đại diện của châu Á và tuy khu vực gần đây còn có nhiều bất ổn, Mahbubani đã khái quát những nguyên nhân và giá trị làm nên “sự thần kỳ” của châu Á từ sau Chiến tranh lạnh đến nay và coi hiện tượng này là biểu hiện của sự dịch chuyển cán cân quyền lực từ phương Tây sang Á bán cầu. Các câu chuyện thành công xoay quanh hai nền kinh tế phát triển là Đài Loan và Xinh-ga-po, và dĩ nhiên là cả hai gã khổng lồ đang vươn vai là Trung Quốc và Ấn Độ. Theo dung lượng của cuốn sách, sự nổi lên của Á bán cầu mới chính là sự nổi lên của Trung Quốc và Ấn Độ. Zakaria tuy không chỉ đích danh “sự nổi lên của châu Á” và chỉ gọi tên chung chung “sự nổi lên của phần còn lại” hay “của tất cả những nước khác”, nhưng rốt cuộc phần lớn bố cục cuốn sách lại tập trung vào Trung Quốc - đối thủ đang nổi lên thách thức Mỹ, và Ấn Độ - đồng minh đang nổi lên của Mỹ.

Robert Kagan tuy không đánh giá quá cao sự thách thức từ các cường quốc khác hoặc sự liên kết giữa các cường quốc này với nhau đối với địa vị độc tôn của Mỹ trong một trật tự thế giới “đơn cực” hay chí ít là “nhất siêu, đa cường” nhưng vẫn dành phần lớn cuốn sách để phân tích sức mạnh và vị thế đang lên của Nga, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ và I-ran (và thế giới Hồi giáo). Xét về sức mạnh tổng thể, các cường quốc này đều có khiếm khuyết và có quy mô kém xa Mỹ. Những nỗ lực hợp tác, liên minh chống lại Mỹ (ví dụ như Trung Quốc và Nga) cho đến nay chưa phát huy tác dụng vì bản thân giữa các cường quốc mới nổi lên cũng có nhiều bất đồng, tranh chấp và bản thân từng nước đều có lợi ích và cần duy trì quan hệ với Mỹ. Thế giới Hồi giáo cũng không đoàn kết và nhất trí trong cách đánh giá và quan hệ với Mỹ, đặc biệt trong bối cảnh của cuộc chiến toàn cầu chống khủng bố do Mỹ khởi xướng. Theo tác giả, trật tự thế giới xây dựng dựa trên cân bằng lực lượng và các nhân tố địa chính trị trở nên không ổn định và bền vững. Thay vào đó, cuộc đấu tranh về ý thức hệ tuy không còn diễn ra giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản nhưng tiếp tục diễn ra giữa lực lượng các nền dân chủ tự do phương Tây (đứng đầu là Mỹ) và lực lượng các chế độ độc tài, chuyên chế phương Đông (chủ yếu là Trung Quốc và Nga). (Lập luận này gợi nhớ lại một công trình nổi tiếng của Francis Fukuyama vào đầu những năm 1990[2]. Tác giả này phân tích sự thắng thế của mô hình chủ nghĩa tư bản tự do trước chủ nghĩa cộng sản và nhận định thắng lợi này đánh dấu đích đến cuối cùng của lịch sử tư tưởng và mô hình phát triển của nhân loại).   

Khác với 3 tác giả trên, Richard Haass có một cái nhìn mang tính hệ thống hơn khi đi sâu vào phân tích vai trò nổi lên của các chủ thể phi nhà nước thách thức địa vị của Mỹ và dần làm xói mòn trật tự đơn cực sau Chiến tranh lạnh. Vì phải tập trung nhấn mạnh lập luận chủ yếu này nên tác giả đề cập rất sơ sài đến sự nổi lên của 5 cường quốc là Trung Quốc, EU, Ấn Độ, Nhật Bản, và Nga. Ngoài ra còn có hàng loạt các cường quốc khu vực nổi lên từ châu Mỹ La-tinh, châu Phi, Trung Đông, Nam Á, Đông Á, và châu Đại dương. Tuy nhiên, sự dịch chuyển quyền lực quan trọng không diễn ra giữa các quốc gia mà là giữa các chủ thể quốc gia-dân tộc nói chung và các chủ thể phi nhà nước. Các quốc gia-dân tộc đã thực sự mất độc quyền về quyền lực khi bị thách thức bởi các tổ chức toàn cầu và khu vực, các nhóm phiến quân và tổ chức khủng bố, các tổ chức phi chính phủ, các tập đoàn kinh tế và các quỹ đầu tư quốc gia. Tuy Mỹ vẫn là siêu cường mạnh nhất thế giới hiện nay và trong tương lai gần nhưng trật tự đơn cực đã chấm dứt và thay vào đó là chủ nghĩa đa phương hoặc nói một cách khác là trật tự vô cực.  

Có phải sức mạnh và vị thế của Mỹ đang suy giảm?

Theo các tác giả, thế kỷ 20 khởi đầu bằng một trật tự thế giới đa cực, tiếp đến là gần 50 năm tồn tại trật tự hai cực và 15-20 năm của trật tự đơn cực do siêu cường Mỹ thống trị. Trong những năm gần đây, sức mạnh của Mỹ có sự suy giảm tương đối vì bị căng sức về mặt quân sự, sa sút, khủng hoảng về kinh tế, và mất uy tín chính trị quốc tế. Ngoài ra, trật tự này hiện đang bị thách thức dữ dội bởi các cường quốc đang nổi lên và các chủ thể phi nhà nước trong bối cảnh toàn cầu hóa. Gần hai thập kỷ tồn tại của một trật tự đơn cực là quá ngắn ngủi và đúng như cách gọi của Charles Krauthammer, giai đoạn đó chỉ là "khoảnh khắc đơn cực" của Mỹ.

Tác giả Richard Haass và Mahbubani có quan điểm bi quan nhất về sức mạnh và vai trò siêu cường của Mỹ hiện tại và trong tương lai. Trong bài viết “Kỷ nguyên vô cực” của mình, Richard Haass lập luận rằng Mỹ đang và sẽ tiếp tục có sức mạnh tổng thể lớn nhất trên thế giới, nhiều nước trên thế giới cần Mỹ và có lợi ích lớn trong quan hệ với Mỹ, và tuy trào lưu bài Mỹ đang lan rộng trên thế giới nhưng chưa có một cường quốc hay một nhóm cường quốc nào tập hợp lực lượng công khai thách thức Mỹ. Tuy vậy, tác giả khẳng định trật tự đơn cực đã chấm dứt vì 4 yếu tố: sự nổi lên của các chủ thể phi nhà nước hùng mạnh, sai lầm trong chính sách kinh tế, cuộc chiến tranh I-rắc và quá trình toàn cầu hóa. 

Trong so sánh giữa phương Đông đang trỗi dậy (chủ yếu là Trung Quốc và Ấn Độ) và phương Tây đang mất dần vai trò (chủ yếu là Mỹ), Mahbubani chỉ ra ba nguyên nhân khiến Mỹ mất dần uy tín chính trị quốc tế cũng như vai trò của mình. Đó là sự bất lực (incompetence), sự thiếu hiểu biết về thế giới bên ngoài (ignorance), và lối hành xử đạo đức giả (hypocrisy). Những cụm từ này có thể hơi quá mạnh nhưng cho thấy thực tế là Mỹ bị tác động rất lớn từ nhận thức của thế giới cho rằng Mỹ không thể giải quyết hiệu quả các vấn đề trong nước và quốc tế, Mỹ không hiểu biết và nhận thức đúng đắn, đầy đủ về thế giới bên ngoài một phần do yếu tố ý thức hệ (trong bối cảnh cuộc chiến chống khủng bố), và lối hành xử theo chủ nghĩa đơn phương của Mỹ đi ngược lại những khuôn khổ ràng buộc về thể chế và quy tắc mà Mỹ muốn các nước khác phải tuân thủ.

Zakaria có cùng quan điểm với Mahbubani về nguyên nhân sụt giảm uy tín quốc tế của Mỹ. Tuy nhiên, tác giả của “Thế giới hậu Mỹ” nhấn mạnh đến sự suy giảm sức mạnh của Mỹ theo nghĩa tương đối hơn là tuyệt đối và diễn ra rất chậm. Đối với Zakaria, những nước có nguy cơ suy giảm sức mạnh lớn nhất là EU và Nhật Bản, chủ yếu là vì lý do dân số.

Robert Kagan cũng chỉ ra những nguyên nhân trên nhưng lập luận đó chỉ là những sơ suất, sai lầm của từng chính quyền và có thể khắc phục được. Điều quan trọng là Mỹ vẫn giữ được vị trí áp đảo “siêu cường kiểu cũ” của mình vì đơn giản là thế giới này vẫn cần có Mỹ, bất chấp tương quan so sánh lực lượng thay đổi bất lợi cho Mỹ và bất chấp những sai lầm trên. Các tập hợp lực lượng chống Mỹ chưa thành công, và Mỹ đóng vai trò xương sống, trụ cột ở nhiều khu vực trên thế giới. Cấu trúc của hệ thống thế giới hiện nay vẫn là “nhất siêu đa cường” như các học giả Trung Quốc đã thừa nhận. Tác giả kết luận con đường để Mỹ duy trì được sức mạnh và ảnh hưởng của mình là giương cao ngọn cờ ý thức hệ (dân chủ, nhân quyền, tự do), thắt chặt mối quan hệ giữa các nền dân chủ tự do trong một mặt trận chống lại các nước theo chế độ độc tài, chuyên chế.

Liệu sự chuyển dịch quyền lực này là tất yếu và không thể đảo ngược được?

Nhận định chung của các tác giả là sức mạnh tương đối và vị thế quốc tế của Mỹ đang có chiều hướng đi xuống ở các mức độ khác nhau nhưng câu trả lời về khả năng liệu sự chuyển dịch quyền lực này có thể đảo ngược được không thì không đồng nhất.

Mahbubani và Haass cùng cho rằng chiều hướng này là khó tránh khỏi. Theo Mahbubani, sự dịch chuyển quyền lực toàn cầu về phương Đông là không thể đảo ngược được và Mỹ rất khó có thể điều chỉnh, thích nghi để xoay chuyển cục diện. Trong mạch lập luận về thuyết “vô cực” của mình, Haass khẳng định trật tự đơn cực đã chấm dứt mặc dù Mỹ vẫn có sức mạnh lớn hơn bất kỳ quốc gia nào khác để chi phối hệ thống quốc tế. Tác giả tỏ ý hoài nghi về “năng lực siêu cường” của Mỹ khi nước này đang phải đối mặt với hàng loạt vấn đề nan giải như năng lượng, khủng bố, vũ khí hủy diệt hàng loạt, sức mạnh quân sự, thương mại, đầu tư... Những vấn đề mà theo tác giả chỉ có chủ nghĩa đa phương mới giải quyết được. Chủ nghĩa đa phương là công cụ hiệu quả nhất để điều chỉnh thế giới vô cực, và trật tự vô cực đó còn có thể gọi là “vô cực hòa hợp”.

Trái lại, Zakaria tin rằng quá trình suy giảm quyền lực của Mỹ diễn ra rất chậm và có thể đảo ngược được. Theo tác giả, “Mỹ sẽ vẫn là một nền kinh tế năng động và rất quan trọng, đi tiên phong trong các cuộc cách mạng tiếp theo về khoa học, công nghệ và công nghiệp” nếu Mỹ từ bỏ chính sách “hung hăng, bất cẩn, và lười biếng” để điều chỉnh và đương đầu với những thách thức hiện nay. Tương tự như vậy, Kagan cho rằng kể cả siêu cường cũng không thể hoàn hảo được và sức mạnh cũng như uy tín của Mỹ có thể duy trì được là do thế giới vẫn rất cần có Mỹ và Mỹ phải giương cao ngọn cờ ý thức hệ trong cuộc đấu tranh giữa thế giới dân chủ, tự do và lực lượng độc tài, chuyên chế để tập hợp lực lượng và khắc phục những khiếm khuyết của trật tự thế giới kiểu cũ xây dựng trên cân bằng lực lượng và các yếu tố địa chính trị cổ điển. Làm được như vậy, Mỹ sẽ vẫn là trung tâm của nền kinh tế thế giới, là cường quốc quân sự hàng đầu, là trung tâm quyền lực chính trị quốc tế.

Hệ lụy của sự dịch chuyển cán cân quyền lực này đối với hệ thống quan hệ quốc tế là gì?

Dù cho cán cân quyền lực quốc tế có chuyển dịch như thế nào đi nữa thì thế giới rõ ràng đang đổi thay do sự tùy thuộc lẫn nhau về kinh tế và hội nhập chính trị dưới tác động của tiến trình toàn cầu hóa. Theo như cách gọi của các tác giả, thế giới đó có thể là “thế kỷ mới của Châu Á”, “thế giới hậu Mỹ”, “kỷ nguyên vô cực”, hay “hòa hợp các nền dân chủ”. Tuy nhiên, kết luận chung khá thú vị là sự đề cao vai trò chủ nghĩa đa phương, của các thể chế, quy tắc, luật lệ và định chế quốc tế trong việc duy trì, bảo vệ một thế giới ổn định, hòa bình, thịnh vượng, mang lại nhiều lợi ích nhất cho nước Mỹ. Zakaria và Mahbubani đi đến kết luận rằng một loạt các thể chế quốc tế được thành lập sau Chiến tranh thế giới thứ hai (như G8, Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, Ngân hàng thế giới, Quỹ tiền tệ quốc tế) đang được cải tổ, điều chỉnh để thích nghi với những xu thế mới. Các quy tắc, luật lệ và định chế quốc tế cũng đã được đề ra và các tổ chức phi chính phủ, các diễn đàn đang phát triển nhanh chóng để giải quyết các vấn đề toàn cầu như phổ biến vũ khí, can thiệp nhân đạo, các mô hình phát triển kinh tế, đầu tư và thương mại quốc tế, an ninh năng lượng, an ninh lương thực và biến đổi khí hậu. Những thách thức này tuy rất khó giải quyết nhưng cho thấy những đổi thay mang tính quy luật chứ không phải mang tính cách mạng của hệ thống quốc tế. Haass cho rằng chủ nghĩa đa phương hợp tác (với một số quốc gia làm nòng cốt, trong đó có Mỹ) sẽ là xu thế chủ đạo của thế giới để giải quyết các bất cập của trật tự vô cực và duy trì hệ thống quốc tế. Đến một thời điểm nào đó, “vô cực” sẽ trở thành “vô cực hòa hợp” (concerted nonpolarity). Đối với Kagan, chủ nghĩa đa phương và chia sẻ trách nhiệm đóng vai trò rất quan trọng (tuy không phải là quan trọng nhất) đối với sự hợp tác giữa các nền dân chủ tự do trong một mặt trận chung chống lại sự thách thức từ bên kia chiến tuyến ý thức hệ mới./.

 

TS. Vũ Lê Thái Hoàng, Vụ Chính sách đối ngoại, Bộ ngoại giao

 

Bài đăng trên tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số 2 (73) tháng 6-2008, Học viện Ngoại giao




[1] Kishore Mahbubani, The New Asian Hemisphere: The Irresistable Shift of Global Power to the East (New York: Public Affairs, 2008); Fareed Zakaria, The Post-American World (New York: W.W.Norton, 2008); Robert Kagan, The Return of History and the End of Dreams (New York: Alfred A.Knopf, 2008); Richard Haass, The Age of Nonpolarity: What Will Follow US Dominance, Foreign Affairs, May/June 2008.

[2] Francis Fukuyama, The end of History and the last man (New York, 1992).

 

 

 

Bài viết đề cập đến 3 đặc điểm chính về nghiên cứu hiện tại của cộng đồng nghiên cứu chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông. Từ đó nêu bật nhiệm vụ của 4 cơ quan và viện nghiên cứu hàng đầu của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông.

 

 

Những căng thẳng tại Biển Đông gia tăng vào năm 2011, khu vực mang ý nghĩa quan trọng về chiến lược và giàu tài nguyên dầu mỏ đang dấy lên những quan ngại thực sự về mối nguy xung đột quân sự giữa Trung Quốc và các quốc gia yêu sách. Không chỉ sự hiện diện đang gia tăng của Trung Quốc tại quần đảo Trường Sa dẫn đến những va chạm trong năm tháng đầu năm nay trong vùng biển mà Philippin yêu sách,[1] mà ngoài ra hai sự kiện về việc tàu Trung Quốc cắt cáp đã làm gia tăng đối đầu giữa Trung Quốc và Việt Nam, dẫn tới cuộc tập trận bắt đạn thật của Việt Nam và 6 cuộc tập trận do Hạm đội Nam hải thực hiện vào tháng 6.[2] Thêm vào đó là sự gia tăng sức mạnh của hải quân Trung Quốc tại Biển Đông đang thay đổi nhanh chóng cấu trúc quyền lực vốn đã không cân bằng tại đây. Từ quan điểm của Bắc Kinh, sự can dự của Mỹ tại Biển Đông đang làm tăng thêm căng thẳng khu vực.

Biển Đông hàm chứa 4 trụ cột cơ bản trong chiến lược chính sách ngoại giao của Trung Quốc: quan hệ với cường quốc lớn (Mỹ); quan hệ với các quốc gia láng giềng (các quốc gia thành viên ASEAN, Nhật Bản,Ấn Độ và các quốc gia khác); mối quan hệ với các quốc gia đang phát triển (gồm các quốc gia thành viên ASEAN và Ấn Độ); ngoại giao đa phương (tại ASEAN và Diễn đàn Khu vực ASEAN ARF).[3] Do đó, căng thẳng leo thang đặt ra cho giới nghiên cứu chính sách đối ngoại Trung Quốc áp lực nghiên cứu đưa ra những khuyến nghị chính sách và phân tích hiệu quả, kịp thời [cho chính phủ Trung Quốc].

Thực ra, đa số các viện nghiên cứu chính sách ngoại giao Trung Quốc được giao nhiệm vụ phân tích những tác động của Biển Đông và đưa ra những khuyến nghị chính sách làm thế nào giải quyết vấn đề với cả Mỹ và các chủ thể trong khu vực.[4] Vào cuối năm 2010, giáo sư Phó Côn Thành (Fu Kuncheng), chuyên gia luật quốc tế, thành viên của hai trường luật, Đại học Giao thông Thượng hải và Đại học Hạ Môn, được Quỹ Khoa học Xã hội Quốc gia trao một “Công trinh Quan trọng” có tên “Những chiến lược bảo vệ Lợi ích Quốc gia Cốt lõi của Trung Quốc tại khu vực Biển Đông”.[5] Vào năm 2011, Viện Nghiên cứu Quốc tế Trung Quốc (CIIS), liên kết với Bộ Ngoại giao, được trao dự án nghiên cứu với tiêu đề “Những nhân tố Mỹ trong Tranh chấp Hàng hải của Trung Quốc”[6]

Bài luận này đề cập đến 3 đặc điểm chính về nghiên cứu hiện tại của cộng đồng nghiên cứu chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông. Từ đó nêu bật nhiệm vụ của 4 cơ quan và viện nghiên cứu hàng đầu của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông. Cuối cùng, bài luận đưa ra những nguồn trực tuyến từ truyền thông, học giả và các tổ chức của Trung Quốc.

Nghiên cứu Biển Đông tại Trung Quốc

Nghiên cứu về vấn đề Biển Đông của các viện nghiên cứu Trung Quốc có 3 đặc điểm khác biệt. Thứ nhất, nghiên cứu chủ yếu được chia làm hai loại: nghiên cứu pháp lý về luật biển quốc tế và áp dụng đối với Biển Đông; và nghiên cứu các quốc gia về chính sách của các bên và những ảnh hưởng đối với Trung Quốc. Ví dụ, Viện Các Vấn đề Hàng hải Trung Quốc (CIMA), liên kết với Cục Hải dương Quốc gia, chủ yếu tập trung vào những khía cạnh pháp lý và đưa ra lời khuyên đối với chính phủ trong vấn đề lập luận pháp lý về quyền và chủ quyền lịch sử của Trung Quốc tại Biển Đông. Mặt khác, Viện Quan hệ Quốc tế Đương đại Trung Quốc (CICIR), think tank hàng đầu Trung Quốc liên kết với Bộ An ninh Quốc gia, nghiên cứu về Biển Đông thông qua những phân tích về chính sách đối ngoại và tư duy chiến lược của các quốc gia liên quan.

Thứ hai, trong cộng đồng nghiên cứu chính sách, có sự thừa nhận rộng rãi nhưng không công khai về bản chất mơ hồ trong chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông, chẳng hạn như sự nhập  nhằng chiến lược của Trung Quốc đối với các yêu sách, tình trạng của “đường 9 đoạn” (luôn được các chuyên gia đề cập nhưng không bao giờ được chính phủ thừa nhận hoặc bị chối bỏ), tính khả thi của đàm phán song phương trong tranh chấp đa phương, cũng như sự áp dụng UNCLOS. Tuy nhiên, sự công nhận đó đều không được công khai. Theo một nhà phân tích của chính phủ, vấn đề Biển Đông là “vấn đề chính trị” và việc tuân thủ hoàn toàn UNCLOS sẽ buộc Trung Quốc phải từ bỏ đường 9 đoạn và “chủ quyền lịch sử” tại các vùng biển tranh chấp.[7] Hơn nữa, đàm phán đa phương đối với các đảo, đá, đá ngầm đang tranh chấp “hầu như sẽ dẫn đến kết quả là Trung Quốc mất ít nhất là một phần những quyền về biển và lãnh thổ mà họ yêu sách.[8] Bắc Kinh không thể cho phép viễn cảnh mất đi lãnh thổ cho ngoại bang. Do đó, giữa thính giả nước ngoài và dư luận trong nước, Bắc Kinh đã chọn bám víu vào những yêu sách và sự quyết đoán hiện tại, kể cả khi phải trả giá cao về chính sách ngoại giao.

Thứ 3, các nhà phân tích chính sách ở Trung Quốc đã đồng loạt đổ lỗi cho Mỹ đã làm gia tăng căng thẳng tại Biển Đông. Trong quan điểm của họ, Mỹ đã lợi dụng vấn để Biển Đông để phá hoại tình hữu nghị của Trung Quốc với các quốc gia láng giềng, thắt chặt mối liên minh của sự của Mỹ với Philippin, phát triển đối tác chiến lược với Việt Nam nhằm kìm hãm sự ảnh hưởng đang gia tăng của Trung Quốc và duy trì vị thế siêu cường của Mỹ tại khu vực.[9] Các nhà phân tích Trung Quốc đều không tin rằng các quốc gia nhỏ dám thách thức Trung Quốc tại Biển Đông mà không có sự can thiệp của Mỹ. Theo Viên Bằng (Yuan Peng), Giám đốc Viện nghiên cứu Mỹ của CICIR, sự ủng hộ của Washington đã hình thành nên sự phán đoán về chiến lược và những quyết định của các quốc gia khu vực, thúc đẩy các quốc gia này tăng cường sự quyết đoán chống lại Trung Quốc.[10]

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây.

Yun Sun là Nghiên cứu sinh tại Trung tâm Nghiên cứu Đông Bắc Á, Viện Brookings, nguyên là nhà phân tích Trung Quốc của Dự án Đông Bắc Á, Nhóm Khủng hoảng Quốc tế, trụ sở tại Bắc Kinh.

Theo CNAS

Văn Hùng (dịch)

Bản gốc tiếng Anh Studying the South China Sea: The Chinese Perspective, đăng trên Center for a New American Security, ngày 9/01/2012.



[1] Carlyle A. Thayer, “China’s New Wave of Aggressive Assertiveness in the South China Sea,” Tham luận tại Hội thảo An ninh biển tại Biển Đông, do Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế và Chiến lược (CSIS) tổ chức, Washington, ngày 20-21 tháng 6 năm 2011: 5

[2] Tanie Branigan, “Vietnam holds live-fire exercises as territorial disputes with China escalates,” The Guardian, 14, tháng 6 năm 2011 và Họp báo của Bộ Quốc phòng Trung Quốc, 29 tháng 6 năm 2011. Mặc dù người phát ngôn bác bỏ sự liên quan giữa 6 cuộc tập trận và sự gia tăng căng thẳng, nhưng các nhà phân tích chính sách đối ngoại trong các cuộc trao đổi riêng đều cho rằng những cuộc tập trận gửi đi một thông điệp cảnh báo đến Việt Nam rất rõ ràng.

[3] Bốn nhân tố chính trong chiến lược chính sách đối ngoại Trung Quốc lần đầu tiên được đưa ra và khẳng định tại Hội thảo Ambassadorial Working Conference lần thứu 10 năm 2004: “For China’s foreign policy, major power relations are the key; relations with neighboring countries are primary; relations with developing countries are the foundation, and multilateral diplomacy is the important platform.” Zhang Hong, “China Marches towards ‘Grand Diplomacy,’” People’s Daily, 8 tháng 2 năm 2011, http://theory.people.com.cn/GB/13871972.html.

[4] Tranh luận với các nhà phân tích Trung Quốc, Bắc Kinh, 2011

[5] “Public Notice on the Result of Bidding for Significant Projects under National Social Sciences Fund, 2010,” GuangMing Daily, 28 tháng 4, 2011, http://cpc.people.com.cn/GB/219457/219543/14655331.html.

[6] Theo dự án, CIIS đã tổ chức đưa đoàn đại biểu về vấn đề biển tới New York và Washington vào tháng 11 năm 2011. Đoàn do Đại sứ Wang Xiaodu, Cố vấn đặc biệt của Vụ Biển và Biên giới, Bộ Ngoại giao.

[7] Trao đổi riêng, Washington, tháng 6 năm 2011.

[8] Như trên

[9]  Wang Liang, “Liu Xuecheng: Diplomatic Negotiation Remains the Top Solution to the Rising Tensions in South China Sea,” Liaoning Daily, 24 tháng 6, 2011, http://news.qq.com/a/20110624/000203.htm

[10] Guo Fang, “Experts say the U.S. will not Fight China over other Countries’ Maritime Disputes,” Global Times, 16 tháng 6 , 2011, http://world.huanqiu.com/roll/2011-06/1761673.html.

 

 

Tranh giành quyền lực, ngân sách, xung đột thẩm quyền và phối hợp lỏng lẻo giữa các Bộ ngành của Trung Quốc là nguyên nhân dẫn đến những căng thẳng gần đây tại Biển Đông - Báo cáo tổng thể của Nhóm nghiên cứu khủng hoảng quốc tế (ICG)

 

 

KHUẤY ĐỘNG BIỂN ĐÔNG (I)

I. GIỚI THIỆU

Là một điểm nóng lớn trong xung đột tiềm tàng giữa Trung Quốc với các nước Đông Nam Á và Mỹ, Biển Đông có tầm quan trọng to lớn đối với hòa bình, ổn định và thịnh vượng của Châu Á – Thái Bình Dương. Trung Quốc (cả Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Trung Hoa Dân quốc), Việt Nam, Philippin và các quốc gia khác đều có yêu sách đối với một phần của Biển Đông. Trong khi những khu vực dọc theo bờ biển của các quốc gia này không phải là trọng tâm của tranh chấp, thì có rất nhiều các yêu sách chồng lấn đối với khu vực ngoài ngoài khơi xa như quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, và với một số bãi đá ngầm san hô và khu vực biển.[1] Ngoài khát vọng bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ, có rất nhiều sự quan tâm đối với Biển Đông bắt nguồn từ những nguồn tài nguyên phong phú và vị trí chiến lược của khu vực này.[2]

Với ước tính chiếm khoảng 10% lượng đánh bắt cá hàng năm trên toàn thế giới, Biển Đông trở nên cực kỳ quan trọng đối với ngành đánh bắt cá của các quốc gia ven biển.[3] Khu vực này cũng rất giàu có về cả dầu và khí ga tự nhiên, và do đó dẫn đến suy đoán rằng khu vực tranh chấp lãnh thổ có thể chứa những nguồn năng lượng tiềm năng rất quan trọng.[4]  Tuy nhiên, do những căng thẳng, phần lớn lượng hydrocarbon ước tính trong khu vực như quần đảo Trường Sa vẫn chưa được kiểm chứng.

Biển Đông giữ một vị trí địa chiến lược quan trọng vận tải hàng hải quốc tế. Phần lớn vận chuyển năng lượng và nguyên liệu thô qua eo biển Malacca đều qua Biển Đông tới Trung Quốc và Nhật Bản. Hải quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLAN) đã nhận ra tầm quan trọng chiến lược của Biển Đông, và từng bước củng cố năng lực hải quân của mình trong khu vực. Mỹ cũng có những lợi ích trong việc bảo vệ những tuyến đường biển đi qua khu vực này, vì nước này xem những lợi ích hàng hải ổn định và không bị cản trở là điều thiết yếu đối với sự thịnh vượng và thương mại quốc tế.[5]

Trung Quốc, Việt Nam và Philippin đưa ra những yêu sách chủ quyền mạnh mẽ và đáng chú ý nhất đối với Biển Đông. Yêu sách của Trung Quốc đối với quần đảo Trường Sa có thể có những ảnh hưởng sâu rộng nếu nước này có ý định yêu sách toàn bộ những vùng đặc quyền kinh tế (sau đây sẽ gọi là EEZs) xung quanh những hòn đảo, dẫn tới chồng lấn đáng kể với vùng EEZs mà Philippin, Brunei, Malasysia và Việt Nam yêu sách. Trong khi Bắc Kinh có thể theo đuổi mục tiêu này thì họ cũng có thể cân nhắc về việc đòi hỏi “những quyền lịch sử” tại những vùng biển khác trong Đường Chín đoạn.[6] Điểm mập mờ là không rõ những yêu sách pháp lý của Trung Quốc là gì, và những nỗ lực mà Trung Quốc thể hiện nhằm thực thi chủ quyền trong khu vực ở quá xa bờ biển và không thuộc khu vực thuộc EEZ đã đặt Trung Quốc vào thế xung đột với các quốc gia yêu sách khác khi những khu vực này rất gần với bờ biển của họ.

Để củng cố những yêu sách của mình, các quốc gia trong khu vực đã tranh nhau chiếm đóng càng nhiều thực thể trên biển càng tốt. Điều này đã khiến Trung Quốc xung đột với Nam Việt Nam vào năm 1974 và với Việt Nam thống nhất vào năm 1988, trong khi lực lượng của một vài quốc gia thường quấy nhiễu và bắt giữ những tàu cá nước ngoài.[7] Hiện tại, Bắc Kinh kiểm soát toàn bộ Hoàng Sa và 15 bãi san hô và đá ngầm trong quần đảo Trường Sa.[8] Tất cả các thực thể khác đều do các bên yêu sách khác kiểm soát. Những quan ngại của khu vực đã dẫn tới việc ký kết Tuyên bố về Quy tắc Ứng xử của Các bên liên quan tại Biển Đông (DOC) giữa Trung Quốc và 10 quốc gia ASEAN vào năm 2002. Trong khi đây được coi là một bước tích cực hướng tới sự ổn định, thì mãi đến năm 2011 bản Hướng dẫn Thực hiện DOC kèm theo mới được thông qua.

Tuy nhiên xung đột cơ bản vẫn tồn tại vì một phần do bản tuyên bố không có ràng buộc pháp lý và không đáp ứng được những tiến triển hứa hẹn giải quyết tranh chấp. Trong những năm qua, số lượng những vụ va chạm giữa các lực lượng biển gia tăng một cách đột ngột, bao gồm cả những bế tắc căng thẳng giữa Trung Quốc và Philippin tại Bãi Hoàng Nham (Scarborough Reef) vào tháng 4 năm 2012. Điều này làm dấy lên quan ngại rằng Trung Quốc, Việt Nam và Philippin đang ngày càng quyết đoán trong vấn đề tranh chấp, gây nguy hại đến sự ổn định khu vực.

Bản báo cáo này dựa trên những cuộc phỏng vấn được tiến hành tại Bắc Kinh, Quảng Tây, Hải Nam, Hạ Môn, Hà Nội, Jakarta, Kuala Lumpur, Manila, Xinh-ga-po, Đài Bắc, Tokyo và Washington DC. Nhóm Nghiên cứu Khủng hoảng (Crisis Group) đã nói chuyện với rất nhiều người, bao gồm các quan chức, học giả, nhà ngoại giao, nhà báo và cả những người thuộc các ngành như nghề cá, du lịch và dầu khí. Hầu hết những người được hỏi đều được yêu cầu dấu tên do bản chất nhạy cảm của vấn đề. Bản báo cáo này tập trung vào những cơ quan, lực lượng (Players) chủ chốt ở Trung Quốc và những lợi ích của họ. Mặc dù những chuyển biến của khu vực là nhân tố quan trọng trong chính sách của Trung Quốc tại Biển Đông, nhưng bản báo cáo này không thảo luận về những vấn đề này vì chúng thuộc chủ đề của một nghiên cứu khác.

II. VÙNG BIỂN ĐỘNG: NHỮNG CĂNG THẲNG TỪ NĂM 2009

A. ĐƯỜNG CHÍN ĐOẠN

Các yêu sách lãnh thổ mơ hồ của Trung Quốc và việc nước này từ chối công khai làm rõ yêu sách đã làm gia tăng quan ngại trong khu vực về việc  Trung Quốc đang thể hiện một thái độ quyết đoán hơn tại Biển Đông, đặc biệt khi kết hợp với việc phát triển lực lượng hải quân của Trung Quốc và những hành động hiếu chiến của các cơ quan hải giám nước này.[9] Vào tháng 5 năm 2009, Việt Nam và Malasysia đã đệ trình lên Ủy ban Liên Hợp Quốc về Ranh giới ngoài của Thềm Lục địa (CLCS), nhằm mở rộng thềm lục địa của 2 quốc gia này tại Biển Đông vượt quá 200 hải lý thông thường.[10] Đáp lại, Trung Quốc đã đệ trình Công hàm lên CLCS tuyên bố rằng yêu cầu này vi phạm nghiêm trọng đến những quyền của Trung Quốc. Cùng với công hàm này, Trung Quốc đã đính kèm bản đồ đường 9 đoạn bao phủ phần lớn Biển Đông, bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.[11]

Trung Quốc đưa ra yêu sách lịch sử đối với các đảo và thực thể tại Biển Đông dựa trên các cuộc thám hiểm, hoạt động đánh bắt cá và các cuộc tuần tra hải quân.[12] Những người vẽ bản đồ hiện đại của Trung Quốc đã thể hiện khu vực đánh dấu bằng đường 9 đoạn vào bản đồ lãnh thổ của Trung Quốc vào đầu năm 1914.[13] Trung Hoa Dân quốc (ROC) dưới thời chính phủ Tưởng Giới Thạch đưa khu vực này vào bản đồ chính thức vẽ năm 1947 và đường 9 đoạn tiếp tục được thể hiện trong các bản đồ chính thức do Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (PRC) xuất bản. Trong khi Trung Quốc có một vài biện minh về những yêu sách lịch sử của mình, thì nước này đã phê chuẩn Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển (UNCLOS) vào năm 1996, Công ước này buộc các quốc gia phải từ bỏ phần lớn những yêu sách biển mang tính lịch sử của mình để phù hợp với những vùng biển mà Công ước đã đưa ra.  Những yêu sách đối với các đảo và thực thể khác không bị ảnh hưởng bởi Công ước, nhưng bất kỳ yêu sách chủ quyền nào đối với những vùng biển phải là vùng lãnh hải hoặc EEZs được tạo ra từ các đảo và những hình thái địa chất khác phù hợp với UNCLOS.

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây


International Crisis Group

Trần Quang (dịch)

Thái Giang (hiệu đính)

 

Trích trong bản gốc tiếng Anh Stirring Up the South China Sea của International Crisis Group, Asia Report số 223,  ngày 23 tháng 4 năm 2012



[1] Cả Trung Quốc và Philippin đều yêu sách Bãi cạn Scarborough. Tất cả các quốc gia này, kể cả Indonesia,  yêu sách những phần của thềm lục địa cũng như lãnh hải 12 hải lý và EEZs 200 hải lý từ đường cơ sở được các quốc gia xác định xung quanh các đảo và bờ biển mà họ tuyên bố chủ quyền

[2] Về bản báo cáo trước của Crisis Group về những vấn đề tương tự, xem Asia Report N°108, North East Asia’s Undercurrents of Conflict, 15 tháng 12 năm 2005. Về các báo cáo trước đây về chính sách đối ngoại của Trung Quốc, xem  Asia Report N°200, China and Inter-Korea Clashes in the Yellow Sea, 27 tháng 1 năm 2011; Asia Briefings N°112, China’s Myanmar Strategy: Elections, Ethnic Politics and Economics, 21 tháng 9 năm 2010; N°100, The Iran Nuclear Issue: the View from Beijing, 17 tháng 2 năm 2010; Asia Reports N°179, Shades of Red: China’s Debate over North Korea, 2 tháng 11 năm 2009; N°177, China’s Myanmar Dilemma, 14 tháng 9 năm 2009; N°166, China’s Growing Role in UN Peace-keeping, 17 tháng 4 năm 2009; N°153, China’s Thirst for Oil, 9 tháng 6 năm 2008.

[3] “Prospectus, Regional Workshop/Expert Consultation on the Identification of Critical Fishing Grounds and on Regional Habitat Rehabilitation and Management Approach”, Bangkok, 11-13 tháng 10 năm 2011.

[4] Một khảo sát địa chính trị của Mỹ năm 1993-1994 đưa ra con số là 28 tỷ thùng dầu trên toàn bộ Biển Đông, trong khi đó những ước tính của Trung Quốc lại tuyên bố tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có khoảng 105 tỷ thùng, tuy nhiên cả hai con số thống kê này vẫn chưa được chứng minh do thiếu việc khoan thăm dò. Dự trữ dự tính có thể sẽ thay đổi khi việc thăm dò trong tương lai tiếp tục. Khí ga tự nhiên có thể phong phú hơn hiều. Có rất nhiều con số dự đoán nhưng nguồn dự trữ được kiểm chứng thì hoàn toàn vẫn chưa có. Vào năm 2006, Công ty Năng lượng Canada là Husky Energy hợp tác với Tập đoàn dầu khí Ngoài khơi Trung Quốc (CNOOC) đã tuyên bố việc tìm thấy những nguồn khí ga tự nhiên có từ 4 dến 6 tỷ feet khối. Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ, “South China Sea”, www.eia.gov.

[5] Chiến lược Biển của Mỹ xuất bản năm 2007 tuyên bố rằng “lĩnh vực hàng hải huyết mạnh của hệ thống toàn cầu kết nối mỗi quốc gia trên trái đất”. Bản Chiến lược cũng tuyên bố rằng Mỹ “sẽ không cho phép xảy ra bất kỳ hoàn cảnh nào mà lực lượng biển của Mỹ bị cản trở tự do tập trận và tự do tiếp cận…và không cho phép bất kỳ ai làm gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu bằng việc mưu toan phong tỏa những tuyến đường biển giao thông và thương mại thiết yếu”. U.S. Navy, “A cooperative strategy for 21st century seapower”, tháng 10 năm 2007

[6] Đường 9 đoạn mô tả những yêu sách của Trung Quốc tại Biển Đông. Xem Phần II.A “Đường 9 đoạn” ở dưới.

[7] Năm 1974, cuộc chiến nổ ra giữa hải quân Trung Quốc và Nam Việt Nam khi Trung Quốc xâm lược phía tây quần đảo Hoàng Sa. Lực lượng của Việt Nam đã giao chiến với 4 tàu hộ tống nhỏ của PLAN và 2 tiểu đoàn của PLA trong trong cuộc đọ súng ác liệt khiến một tàu khu trục nhỏ của Việt Nam bị đánh chìm, 3 chiếc còn lại bị phá hủy, 53 lính Việt Nam bị chết. Thương vong phía Trung Quốc chưa bao giờ được xác định. Khi lực lượng của Việt Nam rời đi, Trung Quốc đã thiết lập sự kiểm soát toàn bộ lên quần đảo Hoàng Sa. Vào năm 1998, PLAN đã đụng độ với Việt Nam tại Đá Gạc Ma (Johnson South Reef) tại quần đảo Trường Sa khiến hải quân cả hai bên chịu đựng những thương vong nặng nề. Sự việc gần đây nhất giữa hải quân Trung Quốc với tàu của các quốc gia yêu sách khác, đã bắn và giết 9 ngư dân Việt Nam, làm bị thương 9 người khác tại Vịnh Bắc bộ vào ngày 8 tháng 1 năm 2005. Wu Shicun, Origin and development of Spratly disputes (China Economic Publishing House, 2009), tr. 88-89; Raul Pedrozo, “Beijing’s coastal real estate: a history of Chinese naval aggression”, Foreign Policy, 15 tháng 11 năm 2011; Stein Tønnesson, “Sino-Vietnamese rapprochement and the South China Sea irritant”, Security Dialogue, vol. 34, no. 1 (tháng 3 năm 2003).

[8] “中国移动完成南海海域七礁八点 信号全覆盖” [“Công ty truyền thông di động Trung Quốc lập các trạm phát sóng trên 7 đảo đá ngầm và 8 bãi tại Biển Đông”], Techweb, 16 tháng 3 năm 2012.

[9] Hiểu thêm về những yêu sách của Trung Quốc theo UNCLOS, xem Phần IV.A.5 “Thiếu sự minh bạch pháp lý”

[10] Bản đệ trình chung Việt Nam – Malasysia có hiệu lực phần phía nam của Biển Đông giữa hai quốc gia, đây cũng là khu vực Philippin yêu sách một phần và Trung Quốc yêu sách phần lớn. “Ma-lai-xi-a-Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam nộp đơn chung lên Ủy ban về giới hạn thềm lục địa”, tháng 5 năm 2009

[11] Công hàm tuyên bố rằng “Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với các hòn đảo tại Biển Đông và các vùng biển liền kề, và được hưởng quyền chủ quyền và tài phán đối với các vùng biển liên quan cũng như đáy biển và lòng đất dưới đáy biển”, và kèm theo đó là bản đồ đường 9 đoạn. Công hàm của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa gửi đến Tổng thư ký Liên Hợp Quốc liên quan đến đơn nộp chung của Việt Nam và Ma-lai-xi-a xin mở rộng giới hạn rìa ngoài thềm lục địa”, CML/17/2009, 7 tháng 5 năm 2009.

[12] Shen Jiangming, “Chủ quyền của Trung Quốc đối với các đảo tại Biển Nam Trung Hoa: quan điểm nhìn từ góc độ lịch sử”, Chinese Journal of International Law, vol.1, issue 1 2002, tr. 94-157.

[13] Zou Keyuan, “đường biên giới đánh bắt cá truyền thống trên biển của Trung Quốc tại Biển Đông và các tác động về mặt pháp lý đến giải pháp tranh chấp lãnh thổ tại quần đảo Trường Sa”, International Journal of Marine Coastal Law, vol. 14, issue 1 (1999), tr. 52. Những bản đồ gốc biểu hiện một đường gồm 11 đoạn. Hai đoạn trong Vịnh Bắc bộ đã bị xóa vào những năm 1950.


 

 

Các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa có diện tích bề mặt chưa quá 15 km² là mục tiêu theo đuổi của những yêu sách và xung đột gia tăng kể từ những năm 1970. Những lợi ích từ yêu sách hai quần đảo này đối với các quốc gia là gì?

 

 

Dưới đây là một số nội dung chính trong bài phân tích Les îles Spratley et Paracels của tác giả Laurent Garnier đăng trên website Bộ Quốc Phòng Pháp.

Những thách thức

1- M rng vùng đc quyn kinh tế (EEZ):

Như chúng ta đã biết, theo luật quốc tế, việc một Nhà nước sở hữu một lãnh thổ trên biển sẽ cho phép có những đặc quyền đối với một phạm vi lãnh hải và EEZ. Việc các Nhà nước xung quanh Biển Đông tranh giành quyền sở hữu các đảo nhỏ và đảo san hô không có người ở và không thể sinh sống được tại Trường Sa và Hoàng Sa trước hết không phải nhằm giành chủ quyền các hòn đảo này mà là nhằm mở rộng EEZ. Chính vì lý do này, Trung Quốc, nước có EEZ rộng 880.000 km2 (Mỹ có EEZ rộng 12 triệu km2, Nhật 4,4 triệu km2, Pháp 11 triệu km2) đang dòm ngó 3,5 triệu km2 Biển Đông.

2- Các nguồn tài nguyên thiên nhiên và hải sản:

Hai quần đảo trên dồi dào các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Trữ lượng cá ước tính nhiều triệu tấn, các nguồn hải sản phong phú (các loài hải sản có giá trị cao như tôm hùm, rùa, đồi mồi, bào ngư quý hiếm…). Ngoài sự hiện diện của nguồn phốt phát trên các hòn đảo còn tiềm ẩn trữ lượng lớn các mỏ kim loại dưới đáy biển. 10% trữ lượng cá của thế giới nằm tại Biển Đông.

3- Kiểm soát các tuyến hàng hải thương mại quốc tế:

Biển Đông bao quát nhiều eo biển: Eo biển Malắcca nằm giữa bán đảo Malaixia và đảo Sumatra của Inđônêxia, nối biển Andaman ven Ấn Độ Dương với Biển Đông tại phía Nam; eo biển Sonde chia cắt các đảo Java của Inđônêxia với đảo Sumatra; eo biển Lombok nối biển Java và Ấn Độ Dương, chia cắt các đảo Bali và Lombok của Inđônêxia; eo biển Macassar chia cách phía Tây đảo Borneo và phía Đông đảo Sulawesi. Với chiều rộng trung bình 15 km và dài khoảng 800 km, eo biển này cho phép thông thương giữa biển Celebes và biển Java; eo biển Balabac nối biển Sulu với Biển Đông. Eo biển này chia cách đảo Balabac (thuộc tỉnh Palawan của Philíppin) với các đảo nằm ở phía Bắc của Borneo, thuộc bang Sabah của Malaixia, rộng 55 km; eo biển Luzon nằm giữa các đảo Luzon và Đài Loan; eo biển Đài loan, giao giữa quần đảo này với Trung Quốc đại lục.

Biển Đông là một ngã tư thông thương của các tuyến hàng hải thương mại quan trọng bởi đây là tuyến ngắn nhất nối giữa Bắc Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Trước tiên liên quan đến tuyến vận chuyển năng lượng, eo biển Malắcca vận chuyển nhiều dầu mỏ gấp 6 lần kênh đào Xuyê và nhiều hơn 17 lần kênh đào Panama. Biển Đông là nơi vận chuyển 2/3 nguồn năng lượng của Hàn Quốc, 60% nguồn năng lượng của Nhật Bản và Đài Loan, 80% nhập khẩu dầu thô của Trung Quốc, tức hơn một nửa nhập khẩu năng lượng của khu vực Đông Nam Á. Trong bối cảnh đó, việc nắm quyền kiểm soát hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa sẽ giúp kiểm soát hầu như một phần lớn EEZ và tuyến thương mại quan trọng hàng đầu thế giới.

4- Các nguồn tài nguyên dầu khí:

Theo tác giả Robert D. Kaplan, Biển Đông có trữ lượng dầu thô đạt 7 tỷ thùng (so với 1.383 tỷ thùng trên đất liền toàn thế giới theo tính toán của tập đoàn BP năm 2010, chiếm 0,5% trữ lượng dầu của thế giới) và có trữ lượng khí đốt đạt 25.000 tỷ m3 khí (so với 187.100 tỷ m3 khí trên đất liền toàn thế giới, chiếm 13,4% trữ lượng khí đốt toàn cầu).

5- Phạm vi triển khai một hạm đội tàu ngầm:

Biển Đông là tuyến hàng hải thương mại ưu tiên, thậm chí cốt yếu giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Không chỉ có tầm quan trọng về thương mại, Biển Đông còn chiếm một vị trí quan trọng trong chiến lược quân sự, đặc biệt đối với Trung Quốc. Chúng ta phải thừa nhận là Trung Quốc đang tăng cường khả năng của các đội tàu ngầm trong khu vực, đặc biệt là việc nước này xây dựng căn cứ tàu ngầm tại cảng hải quân Tam Á ở phía Nam đảo Hải Nam. Theo tướng Schaeffer, dường như tham vọng của Trung Quốc tại các quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa hay các quần đảo khác cũng như các vùng nước sâu tại Biển Đông không nhằm mục đích nào khác ngoài bảo đảm cho nước này một khu vực triển khai an toàn đội tàu ngầm tấn công. Dù bất kể thế nào Biển Đông vẫn là vùng biển xung quanh Trung Quốc có vùng nước sâu cho phép tàu ngầm nước này dễ dàng tiến ra Thái Bình Dương.

Tình trạng tranh chấp

1- Thiếu vng gii pháp đo đc?

Tính chất nghiêm trọng của cuộc xung đột này là thiếu một giải pháp đạo đức. Nếu cuộc Chiến tranh Thế giới thứ II là cuộc chiến không khoan nhượng chống chế độ cực quyền thì không một nước chủ chốt nào liên quan đến những căng thẳng tại Biển Đông có thể bị coi là hiện thân của sự xấu xa hoàn toàn. Do đó, cuộc chiến của cái tốt chống cái xấu đang dần thay thế bằng cuộc đối đầu giữa các chủ nghĩa dân tộc duy lý mà chúng ta có thể chứng kiến tại Biển Đông với câu nói: “Kẻ mạnh có thể làm điều mình muốn và kẻ yếu phải chịu điều cần phải chịu”. Nếu có khả năng xảy ra một cuộc tranh chấp thì cũng chỉ hạn chế ở một số cuộc đụng độ lẻ tẻ và không dẫn tới một cuộc chiến tranh quy mô lớn. Cũng cần phải thấy các cuộc đụng độ đó sẽ không gây ra nhiều lo ngại song chất lượng vũ khí sẽ quyết định cuộc đối đầu. Tình hình mong muốn nhất là duy trì quy chế nguyên trạng do sự cân bằng sức mạnh, nhất là giữa Mỹ và Trung Quốc, cũng như những gì Ôxtrâylia kêu gọi.

2- Một giải pháp pháp lý?

Mặc dù thiếu vắng giải pháp đạo đức song vẫn tồn tại một luật pháp quốc tế, đặc biệt như những gì Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982 ký ở Montego Bay mô tả. Công ước này không thể giải quyết toàn bộ mọi cuộc xung đột và đối đầu, xong đề ra một khung cảnh luật hợp pháp, trong đó mọi tranh chấp trên có thể được giải quyết theo các quy tắc lãnh hải và EEZ mà không phải cần tới đối đầu vũ trang. Công ước cũng là một tư liệu gốc về các luật lệ quy định các hoạt động ngoài khơi. Các nước có thể yêu cầu mở rộng EEZ trên thềm lục địa của mình. Đó là điều mà Malaixia và Việt Nam đã làm năm 2009. Nhưng do luật pháp quốc tế không đủ nên hành động phối hợp giữa Malaixia và Việt Nam đã làm Trung Quốc không hài lòng. Trung Quốc sau đó đã gửi một công hàm lên Tổng thư ký Liên hợp quốc nhằm chính thức hóa lập trường của nước này đối với yêu sách “đường lưỡi bò” trên Biển Đông, một quan điểm từ trước đến nay chưa được công nhận chính thức. Tướng Schaeffer xác nhận hành động của Trung Quốc đi ngược lại với điều 89 của UNCLOS, theo đó “không một Nhà nước nào có thể đòi hỏi một khu vực bất kỳ ngoài biển khơi làm chủ quyền riêng”. Cũng cần phải nhấn mạnh vai trò của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Tuy nhiên, các điều luật trong công ước của LHQ hay rộng hơn là hành động của cộng đồng quốc tế không đủ đề ngăn chặn mọi hành động hiếu chiến từ các đối tượng trong khu vực, ngay cả những nỗ lực của ASEAN. Chúng ta có thể nhắc đến Tòa án tư pháp quốc tế, song dù cố gắng cũng không thể triệu tập hết các nước liên quan đến tranh chấp. Tuy nhiên, dường như giải pháp của các nước liên quan Biển Đông sẽ mang tính chính trị hơn là tư pháp và có thể cả quân sự.

3- Các sự kiện mới đây cho thấy thái độ hiếu chiến gia tăng của Trung Quốc

Những cuộc xâm lược trên thực địa

Chúng ta thấy từ năm 2009 một sự gia tăng xâm lược của Trung Quốc trên Biển Đông. Không chỉ có vậy, Lực lượng hải quân của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLAN) không ngừng gia tăng các hành động hăm dọa, các hành động nhằm duy trì sự hiện diện tại Biển Đông. Cùng với đó là các đơn vị dân sự như lực lượng hải giám (CMS), được trang bị vũ khí từ PLAN, không ngừng quấy rối các tàu thăm dò dầu khí. Mọi hành động của Trung Quốc đều núp dưới vỏ bọc dân sự và được hải quân Trung Quốc hiện diện gần đó bảo vệ. Bên cạnh sự hiện diện hải quân, Trung Quốc còn thực hiện các vụ tấn công mạng. Đã có hơn 200 trang mạng của Việt Nam bị tin tặc tấn công vào tháng 6 năm 2011.

Những hành động hung hăng chống Mỹ

Những va chạm không chỉ diễn ra giữa Trung Quốc với các Nhà nước khu vực. Từ năm 2001 đã xảy ra 3 vụ va chạm giữa Mỹ và Trung Quốc: Tháng 4/2001, một máy bay trinh sát của Mỹ (EP3-Orion) đã va chạm với một báy bay quân sự Trung Quốc. Mặc dù vụ này xảy ra ngoài EEZ của Trung Quốc song người Trung Quốc lại quả quyết rằng người Mỹ đã vi phạm không phận nước mình. Người Trung Quốc cho rằng họ có quyền trên vùng không phận của EEZ. Điều này hoàn toàn đi ngược lại với luật pháp quốc tế.

Tháng 3/2009, 5 tàu của Trung Quốc đã ngăn cản tàu thăm dò đại dương USNS Impeccable của Mỹ. Tàu Impeccable khi đó đang thực hiện thăm dò tại khu vực gần căn cứ tàu ngầm Tam Á, song ở ngoài khơi (ngoài 12 dặm). Sự kiện này một lần nữa cho thấy tầm quan trọng chiến lược của khu vực đối với các tàu ngầm Trung Quốc và thể hiện sự bành trướng chủ quyền của Trung Quốc đối với EEZ.

Tháng 6/2009, một tàu ngầm Trung Quốc đã mắc vào đường cáp định vị sóng âm của tàu chiến Mỹ USS John McCain tại Scarborough Reef, một khu vực chiến lược mà các tàu ngầm Trung Quốc qua lại. Trung Quốc đã lợi dụng cơ hội này để gia tăng sức ép ngoại giao ngăn cản hải quân Mỹ hiện diện tại Biển Đông.

Một quan điểm ngoại giao mập mờ của Trung Quốc

Không hài lòng với việc chiếm biển, Trung Quốc cũng đang chiếm cả không gian ngoại giao. Không ngại mâu thuẫn với chính mình, Trung Quốc đang nuôi tham vọng đôi khi duy trì ý định hòa giải và hòa bình hơn trong khi vẫn khẳng định chủ quyền trên Biển Đông. Trong ý đồ chính thức hóa “đường lưỡi bò”, Bộ Ngoại giao Trung Quốc năm 2011 đã nói đến “chủ quyền không thể tranh cãi” của Trung Quốc tại Biển Đông. Đại sứ Trung Quốc tại Philíppin Lưu Kiến Siêu đã “khuyên các nước đòi hỏi chủ quyền tại Biển Đông” không tiếp tục khai thác dầu khí tại các “vùng lãnh hải của Trung Quốc” khi chưa được phép của Bắc Kinh.

Mặt khác, Trung Quốc lại thể hiện bộ mặt hòa bình. Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt ngày 5/6/2011 tại Hội nghị Shangri-La ở Xinhgapo đã tuyên bố: “Trung Quốc không có ý định đe dọa bất kỳ nước nào”. Qua quan điểm ngoại giao hai mặt này của Trung Quốc, rất thú vị khi theo dõi những tuyên bố của Trung Quốc khi mua tàu sân bay Varyag nhằm mục đích huấn luyện. Được đặt tên lại là Thi Lang, tàu này đã thực hiện các vụ thử nghiệm trên biển vào tháng 8/2011 và hải quân Trung Quốc đang xây dựng tàu sân bay thứ hai. Chúng ta thừa nhận rằng với việc đổi hướng luật pháp quốc tế một cách tranh cãi để có lợi cho mình, Trung Quốc đang tự cho mình quyền sở hữu phạm vi lãnh hải trong “đường lưỡi bò”.

4- Những lựa chọn của các Nhà nước Đông Nam Á trước sự bành trướng của Trung Quốc

Cần tới Oasinhtơn

Do hạn chế về phương tiện quốc phòng, ý định lớn của các “anh chàng David” Đông Nam Á là hướng về phía Mỹ trước “gã khổng lồ Goliah” Trung Quốc. Philíppin dựa vào Hiệp định phòng thủ chung năm 1951, theo đó Oasinhtơn cam kết cung cấp cho Philíppin thiết bị quân sự. Hải quân Mỹ cũng phối hợp với hải quân Philíppin tổ chức các cuộc tập trận chung hàng năm. Đối với Hà Nội thật không đơn giản. Do không thể công khai hướng tới Oasinhtơn, chiến lược của Việt Nam là công khai nhất có thể liên quan đến những hành động quấy rối mà mình là nạn nhân từ phía Trung Quốc để nhận được sự ủng hộ từ cộng đồng quốc tế. Ngày 9/6/2011, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố trước công chúng rằng chủ quyền của Việt Nam đối với các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa là không thể tranh cãi và “sẽ bảo vệ bằng các lực lượng vũ trang”. Những cuộc trao đổi giữa hải quân Mỹ và Việt Nam ngày càng gia tăng. Mỹ cũng hỗ trợ Xinhgapo, Thái Lan và ngày càng tăng cường quan hệ với Inđônêxia và Malaixia. Mỹ cũng đã quay trở lại Ôxtrâylia. Dường như Mỹ luôn có khả năng là đối trọng với hành động của Trung Quốc ngay cả khi Mỹ đang bước vào giai đoạn bị hạn chế ngân sách quốc phòng.

Hướng tới một cuộc chạy đua vũ trang

Trong bối cảnh này, các nước Đông Nam Á đang tìm cách tăng cường khả năng cho hải quân quốc gia. Từ năm 2000, nhập khẩu vũ khí của Inđônêxia đã tăng 84%, Xinhgapo tăng 146% và nước này đang tìm cách hiện đại hóa hạm đội tàu ngầm, Malaixia tăng 722% và vừa mới thiết lập một căn cứ tàu ngầm tại Borneo để hướng ra Biển Đông. Căn cứ này dành cho 2 tàu ngầm Scorpène mua của Pháp. Malaixia tháng 12/2011 đã mua của Pháp 6 tàu hộ tống Gowind. Việt Nam đã mua 6 tàu ngầm lớp Kilo trị giá 1,4 tỷ euro và các máy bay tiêm kích trị giá 700 triệu euro của Nga.

5- Thái độ của cộng đồng quốc tế

Quan điểm của Pháp

Đối với Pháp, mọi tranh chấp đều phải dựa vào luật pháp quốc tế. Pháp bày tỏ ủng hộ bộ quy tắc ứng xử do ASEAN đề xuất. Hơn nữa, trong nỗ lực giảm thiểu căng thẳng, Pháp đã đề xuất tổ chức hội thảo bao gồm cả Liên minh châu Âu và ASEAN dưới dạng các diễn đàn trao đổi kinh nghiệm quản lý các khu vực hàng hải chung.

Bước ngoặt cuối cùng là quan điểm của Mỹ

Ngoài những vụ va chạm của các tàu USNS Impeccable, USS John McCain, việc tháng 3/2010 Bắc Kinh coi Biển Đông là “lợi ích cốt lõi quốc gia”, ngang với Đài Loan và Tây Tạng đã làm gia tăng mâu thuẫn giữa Mỹ và Trung Quốc. Điều này đã đẩy người Mỹ chính thức cam kết sâu hơn vào khu vực với tuyên bố của Ngoại trưởng Hillary Clinton tại Hội nghị diễn đàn khu vực ASEAN ngày 23/7/2010 khi xác định: “Mỹ có lợi ích quốc gia trong tự do lưu thông hàng hải, tự do tiếp cận các hải phận chung tại châu Á, và tôn trọng luật pháp quốc tế tại Biển Đông”. Quan điểm của Mỹ là chính thức không tham gia những yêu sách lãnh hải song bày tỏ quan tâm đến nguy cơ dẫn đến các bên đối đầu làm ảnh hưởng tới tự do lưu thông hàng hải.

Kết luận

Trung Quốc tỏ thái độ phức tạp giữa lập trường xoa dịu và hành động gây hấn tại Biển Đông. Luật biển theo kiểu Trung Quốc và cách thể hiện của Bắc Kinh là những thách thức chiến lược. Trung Quốc đã hiểu rõ và đang sử dụng mưu đồ để mở rộng luật này phục vụ lợi ích riêng. Cách tiếp cận tư pháp liên quan các vấn đề Biển Đông phải được hoàn thiện từ cách đặt vấn đề ngoại giao và hàng hải. Trung Quốc có tham vọng giải quyết với các bên liên quan ở Biển Đông một cách song phương chứ không phải đa phương như phần lớn các đối tác và cộng đồng quốc tế mong muốn. Do đó, việc Mỹ quay trở lại khu vực đánh dấu một bước ngoặt trong các sự kiện. Cuộc chơi sẽ thận trọng hơn.

Bài gốc: Les îles Spratley et Paracels

Theo Cesm.marine.defense.gouv.fr

Viết Tuấn (gt)

 

 

Tham vọng của Trung Quốc tại Biển Đông đang kích thích sự can dự của Mỹ. Những yêu sách chủ quyền, nhu cầu tài nguyên đang khiến cho căng thẳng tại Biển Đông gia tăng và cánh cửa giải quyết triệt để vấn đề trở nên hẹp hơn.

 

 

 

Rủi ro do xung đột leo thang từ những sự kiện nhỏ nhặt có liên quan đang tăng lên tại Biển Đông từ 2 năm qua với những tranh chấp mà giờ đây có ít cơ hội cho việc đàm phán hay giải quyết. Ban đầu, những tranh chấp xảy ra sau Chiến tranh lạnh khi các quốc gia duyên hải – Trung Quốc và 3 quốc gia của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), gồm Indonesia, Malaysia, Philipin cũng như Việt Nam, quốc gia gia nhập ASEAN sau này – đã cạnh tranh để chiếm đóng những hòn đảo tại đây. Thực sự lúc đó khi vấn đề chỉ hoàn toàn ở mức tranh chấp lãnh thổ, thì nó đã có thể được giải quyết thông qua những nỗ lực của Trung Quốc bắt tay với ASEAN và tiến đến thắt chặt mối quan hệ với khu vực này.

Vào những năm 90, việc tiếp cận những nguồn trữ lượng dầu khí cũng như nguồn tài nguyên biển, đánh bắt cá đã bắt đầu làm phức tạp những yêu sách. Khi nhu cầu năng lượng toàn cầu tăng, các bên yêu sách đã đặt ra kế hoạch để khai thác những trữ lượng hydrocarbon của biển với những tranh chấp liên tiếp sau đó không còn gây sửng sốt, đặc biệt là giữa Trung Quốc và Việt Nam. Tuy nhiên, những tranh chấp năng lượng không cần thiết gây ra xung đột, vì tranh chấp đã, đang và có thể tiếp tục được kiểm soát thông qua những cơ chế phát triển đa phương hay phát triển chung, đối với những cơ chế này có nhiều tiền lệ cho dù chúng không phức tạp như Biển Đông.

Tuy nhiên, giờ đây vấn đề đã vượt ra khỏi những yêu sách lãnh thổ và việc tiếp cận tài nguyên năng lượng, khi Biển Đông trở thành tâm điểm cho cuộc cạnh tranh Mỹ - Trung tại Tây Thái Bình Dương. Từ khoảng năm 2010, Biển Đông bắt đầu được liên kết với những chiến lược rộng lớn hơn liên quan đến chiến lược hải quân của Trung Quốc và sự hiện diện tới đây của Mỹ tại khu vực này. Điều này khiến cho tranh chấp trở nên nguy hiểm và có lý do để quan ngại, đặc biệt là kh Mỹ tái khẳng định lợi ích của mình tại Châu Á – Thái Bình Dương và thắt chặt những mối quan hệ an ninh với các quốc gia yêu sách trong ASEAN có tranh chấp.

NHỮNG CĂN NGUYÊN THUỘC TRANH CHẤP LÃNH THỔ

Trung Quốc và Việt Nam yêu sách toàn bộ khu vực Biển Đông và những hòn đảo trong đó, trong khi Malaysia, Philipin, Indonesia và Brunei yêu sách đối với những khu vực tiếp giáp. Có hai nguyên tắc chi phối những yêu sách, và cả hai đều chống lại yêu sách của Trung Quốc đối với khu vực này. Thứ nhất là nguyên tắc “chiếm hữu hiệu quả”, một tiền lệ được hình thành bởi Tòa trọng tài Thường trực trong án lệ đảo Palmas vào tháng 4 năm 1928.[1] Chiếm hữu hiệu quả thừa hưởng thẩm quyền và mục đích để thực hiện quyền quyền tài phán liên tục và kế tiếp, điều này khác hẳn với xâm chiếm. Mặc dù Trung Quốc chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa – quần đảo với khoảng 30 hòn đảo cách đều từ bờ biển Trung Quốc và Việt Nam – thuyết về chiếm hữu hiệu quả cũng chống lại sự chiếm đóng của Trung Quốc tại quần đảo Trường Sa - quần đảo nằm ngoài bờ biển của Philipin và Malaysia – ngoài 9 hòn đảo Trung Quốc chiếm giữ từ 1988 – 1992, còn lại do các quốc gia yêu sách trong ASEAN chiếm giữ.

Nguyên tắc thứ hai là Công ước Luật biển Liên hợp Quốc (UNCLOS), Công ước đưa ra những nguyên tắc quyết định đến yêu sách đối với nguồn tài nguyên dựa trên vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa tiếp giáp (vùng đặc quyền kinh tế là khu vực biển kéo dài 320 km từ bờ biển, khu vực cho phép quốc gia ven biển yêu sách đối với những nguồn tài nguyên tại đây). UNCLOS không ủng hộ bất kỳ một bên nào được yêu sách vượt quá khu vực EEZ hay khu vực thềm lục địa tiếp giáp được tuyên bố. Nhưng yêu sách của Trung Quốc lại vượt quá vùng EEZ và chống lấn lên những yêu sách chủ quyền hợp pháp (theo quy định của UNCLOS cho phép – ND) của các quốc gia ASEAN có yêu sách.

Yêu sách của Trung Quốc dựa trên lịch sử, nhưng những yêu sách kiểu như vậy không hề thuyết phục trong luật quốc tế, theo quan điểm của Trung Quốc thì luật quốc tế hạ thấp di sản tổ tiên và là nguồn cơn oán giận của Trung Quốc. Quan điểm của Trung Quốc là yêu sách của nước này có trước UNCLOS (Công ước được công nhận vào năm 1982 và có hiệu lực 1994 sau khi quốc gia thứ 60 phê chuẩn) và rằng Công ước nên được điều chính lại cho phù hợp với những quyền lịch sử. Để khẳng định cho những yêu sách trong tình huống tồn tại sự phức tạp của luật quốc tế có thể không ủng hộ những yêu sách, Trung Quốc đã liên tiếp dùng đến những áp lực ngoại giao đối với việc xem xét lại luật quốc tế và đạt được một ngoại lệ đặt biệt đối với Biển Đông, nơi mà những yêu sách tổ tiên của Trung Quốc được tất cả công nhận.

DẦU, NĂNG LƯỢNG VÀ NGƯ NGHIỆP

Do tranh chấp lãnh thổ, vấn đề Biển Đông có thể sẽ còn tiếp tục bế tắc mà không có bất kỳ nhu cầu cấp bách nào để giải quyết vấn đề.Tuy nhiên sự tồn tại của nguồn dự trữ năng lượng tại Biển Đông lại ngăn cản một giải pháp như vậy. Với việc nhu cầu năng lượng toàn cầu đang tăng, những quốc gia tiêu thụ năng lượng chủ yếu như Trung Quốc đang tìm kiếm những nguồn năng lượng mới nhằm đáp ứng cho nền kinh tế đang phát triển của mình. Vào năm 2009, Trung Quốc trở thành nước tiêu thụ dầu đứng thứ hai sau Mỹ, và nhu cầu tiêu thụ của nước này dường như sẽ tăng gấp đôi vào năm 2030, điều khiến cho nước này trở thành quốc gia tiêu thụ dầu lớn nhất thế giới. Năm 2010, Trung Quốc nhập khẩu 52% lượng dầu từ Trung Đông, Ả Rập Xê Út và nhập 66% từ Angola. Trung Quốc đang đa dạng hóa nguồn cung nhằm giảm sự phụ thuộc vào việc nhập khẩu dầu theo đuổi việc gia tăng nguồn sản xuất ngoài khơi lưu vực Sông Ngọc (Pearl River) và Biển Đông.[2]

Những yêu sách chủ quyền cạnh tranh về năng lượng

Việt Nam là quốc gia sản xuất dầu lớn trong khu vực, với việc công ty dầu quốc doanh PetroVietnam sản xuất 24,4 triệu tấn, chiếm 26% tổng lượng sản xuất dầu của Việt Nam từ 3 mỏ dầu tại Biển Đông[3]. Với sản xuất tại những mỏ đã được khai thác giảm, PetroVietnam đã ký kết 60 hợp đồng khai thác và sản xuất dầu khí với nhiều công ty nước ngoài khác nhau trong nỗ lực khai thác những mỏ dầu mới. Tuy nhiên những mỏ dầu mới này không mang lại kỳ vọng bù đắp nguồn dầu bị giảm.[4] Khi Việt Nam nỗ lực khai thác những mỏ dầu mới, có khả năng sẽ làm tái bùng lên những xung đột với Trung Quốc, quốc gia kiên quyết phản đối nỗ lực của Việt Nam ký kết hợp đồng khai thác dầu với các công ty dầu quốc tế tại Biển Đông.

Trung Quốc phàn nàn rằng các quốc gia yêu sách chủ quyền trong ASEAN đang xâm phạm vùng biển của Trung Quốc và nó nằm trong khu vực mà Trung Quốc có quyền thực thi yêu sách của mình đối với các bên. Ví dụ, vào 26 tháng 5, 2011, 2 chiếc tàu hải giám của Trung Quốc đã cắt cáp khai thác của một tàu khảo sát Việt Nam đang tìm kiếm những mỏ dầu, khí trong vùng EEZ của Việt Nam, cách khoảng 120 km từ bờ biển phía nam Việt Nam. Bộ Ngoại giao Việt Nam đã công bố những đoạn video về việc tàu Trung Quốc đã thực sự phá cáp tàu Bình Minh của Việt Nam.[5] Người phát ngôn Bộ ngoại giao Trung Quốc, Khương Du (Jiang Yu) đã tuyên bố rằng tàu Trung Quốc đã thưc hiện “những hoạt động giám sát và thực thi luật hàng hải hoàn toàn bình thường trong khu vực thuộc quyền tài phán của Trung Quốc”[6] Vào ngày 9 tháng 6, một tàu cá Trung Quốc thực hiện hành động tương tự khi cắt cáp khảo sát của một tàu khảo sát khác của Việt Nam.

Philipin cũng gặp vấn đề tương tự với Trung Quốc. Manila đang nỗ lực nâng cao khả năng tự sản xuất dầu của mình, và đặt ra mục tiêu đạt 60% năm 2011, là điều có vẻ không thể thực hiện. Nước này dự tính ký kết 15 hợp đồng khai thác trong một vài năm tới tại khu vực khai thác ngoài khơi đảo Palawan, trong khu vực Trung Quốc có yêu sách. [7] Vào năm 2011, Philipin đã công bố 7 vụ việc liên quan đến sự quấy rối của Trung Quốc. Trong trường hợp vào ngày 2 tháng 3, hai chiếc tàu tuần tra Trung Quốc đã quấy rối một chiếc tàu khai thác dầu trong khu vực yêu sách của Philipin, cách 250 km phía tây Palawan. Hai chiếc tàu này đã rời đi ngày sau khi Không quân Philipin có mặt. Vào ngày 5 tháng 4, Manila trao công hàm phản đối chính thức lên Liên Hiệp Quốc và tìm kiếm sự ủng hộ của ASEAN trong việc tiến tới một quan điểm chung đối với vấn đề.[8] Trung Quốc đã đáp lại vài ngày sau đó bằng việc chính thức cáo buộc Philipin đã “xâm lược” các vùng nước của Trung Quốc.[9] Sau khi hạ thủy tàu Hải Giám 31 (Haixun-31) 3000 tấn, cùng với máy bay lên thẳng tại Biển Đông, vào tháng 6 Philipin cũng đưa loại tàu chiến cũ từ thế chiến thứ hai, tàu Rajah Humabon, ra khu vực yêu sách của mình.[10] Con tàu này đã phá bỏ những cột mốc của Trung Quốc đặt trên nhiều bãi đá trong khu vực yêu sách của Philipin.[11] Cũng vào tháng 6, tuyên bố chính thức của tổng thống Philipin nước này đang đổi tên biển từ Biển Đông thành “biển Tây Philipin” và tuyên bố chương trình mở rộng hải quân, chương trình nhằm cải thiện những giới hạn về sự hiện diện của Philipin tại Biển Đông.[12]

Bất chấp sự phản đối của Trung Quốc, cả Việt Nam và Philipin đều có kế hoạch tiếp tục những dự án khai thác khí ga cùng với các công ty nước ngoài. PetroVietnam sẽ hợp tác với Công ty Talisman Energy và sẽ bắt đầu khoan tại khu vực mà Trung Quốc đã trao quyền cho Crestone Corporation vào năm 1992, dự án giờ đây đang do Harvest Natural Resources tiến hành. ExxonMobil cũng có kế hoạch khoan thăm dò ngoài khơi Việt Nam, trong khi Philipin dự định khoan tại mỏ dầu tại nơi tàu Trung Quốc đã quấy rối tàu khảo sát của nước này vào tháng 3 năm 2011.[13] 

Trong khi đó, Ấn Độ cũng bắt đầu dính líu với tư cách là người ngoài cuộc, điều này làm phức tạp vấn đề. Trung Quốc có thể có những ảnh hưởng đối với các quóc gia yêu sách ASEAN do sự gần gũi về không gian và kích thước của Trung Quốc, nhưng Ấn Độ lại có vị thế và sức mạnh để chống lại Trung Quốc. Hơn nữa, Ấn Độ nuôi dưỡng sự oán giận đối với Trung Quốc vì sự hỗ trợ của nước này đối với Pakistan và những yêu sách dọc theo biên giới chung hai nước điều sẽ gây thêm nhiều khó khăn cho Trung Quốc trong việc kiểm soát. Mối quan hệ của Ấn Độ đối với Việt Nam có từ thời Tổng thống Indira Gandhi, chính phủ Ấn Độ lúc đó đã công nhận chính phủ bảo trợ Việt Nam tại Cambuchia năm 1984.  Nhiều người tại Ấn Độ xem Việt Nam là đồng minh của Ấn Độ trong việc chống lại Trung Quốc.

Tàu hải quân Ấn Độ INS Airavat, trên đường đi vào Nha Trang, phía nam Việt Nam vào ngày 22 tháng 7 năm 2011, đã bị phía Trung Quốc gửi tin nhắn rada cảnh báo rời khỏi khu vực “vùng biển Trung Quốc”. Bộ Ngoại giao Ấn Độ đã đáp trả lại rằng “Ấn Độ ủng hộ tự do hàng hải trong vùng biển quốc tế, bao gồm cả khu vực Biển Đông, và quyền qua lại phù hợp với những nguyên tắc được phép của luật pháp quốc tế”.[14] Trong khi đó, Trung Quốc phản đối những hoạt động thăm dò của công ty dầu khí Ấn Độ Oil and Natural Gas Corp (ONGC) xung quanh quần đảo Hoàng Sa, khu vực mà Trung Quốc đặc biệt nhạy cảm. ONGC đưa ra quan điểm rằng yêu sách của Việt Nam là phù hợp với luật pháp quốc tế, và công ty này sẽ tiếp tục những dự án khai thác tại hai lô gần quần đảo Hoàng Sa. [15]

Tiếp tục sau đó, trong khi Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang thăm New Delhi, một hợp đồng có thời hạn 3 năm về hợp tác khai thác, sản xuất dầu, khí đã được ký kết giữa ONGC và PetroVietnam vào ngày 12 tháng 10 năm 2011 bất chấp sự phản đối của Trung Quốc.[16] Đáng chú ý, hợp đồng này được ký trong khi Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam, Nguyễn Phú Trọng đang trong chuyến thăm Bắc Kinh và bày tỏ tình hữu nghị với Trung Quốc.[17] Việt Nam lúc này đã sử dụng lại cách thức truyền thống trong vấn đề giải quyết với Trung Quốc – nhấn mạnh sự tương đồng và tình hữu nghị, đây là nhiệm vụ của Tổng bí thư, trong khi tìm kiếm một đối trọng hiệu quả tại Ấn Độ. Có thể sẽ có thêm nhiều sự việc xảy ra khi Trung Quốc vạch ra đường lối chống lại đối thủ cường quốc Châu Á này.

Tranh chấp đánh bắt cá

Dường như những tranh chấp năng lượng vẫn chưa đủ, những cuộc cạnh tranh đối với nguồn tài nguyên biển và cá tại Biển Đông cũng góp phần làm gia tăng căng thẳng. Trước đây, những thuyền đánh bắt cá thường xuyên di chuyển ra vào khu vực chồng lấn yêu sách, nhưng tần suất gia tăng của những hoạt động như vậy đã gây nên những mối quan ngại. Việt Nam tuyên bố rằng có 63 tàu đánh bắt cá cùng với 725 thủy thủ đoàn đã bị Trung Quốc bắt giữ tại Biển Đông từ năm 2005;[18] và sau đó họ bị buộc yêu cầu phải trả những khoản tiền cao ngất ngưởng để được thả. Trong một vụ việc đã được công khai rộng rãi tại Việt Nam, một tàu tuần tra Trung Quốc đã bắt giữ một tàu đánh cá cùng 12 thủy thủ đoàn xung quanh quần đảo Hoàng Sa vào tháng 3 năm 2010.[19] Đây không phải là lần đầu tiên Trung Quốc làm điều này, và Bộ ngoại giao Việt Nam đã phản đối mạnh mẽ - đây là trường hợp không nên tái diễn thêm.

Trung Quốc ban hành lệnh cấm đánh bắt cá hàng năm tại Biển Đông, được xem là việc Trung Quốc bảo tồn nguồn cá cho nước này. Lần đầu tiên Bắc Kinh tuyên bố lệnh cấm đánh bắt cá là vào năm 1999, thời gian từ tháng 6 đến tháng 7 hàng năm, và đến năm 2009 lệnh được kéo dài bắt đầu từ ngày 16 tháng 5 đến 1 tháng 8 hàng năm. Quy mô của lệnh cấm rất mơ hồ, mặc dù lệnh cấm bao phủ khu vực xung quanh Hoàng Sa nhưng lại không quá xa về phía nam quần đảo Trường Sa[20]. Việt Nam kiên quyết phản đối vì những tác động của lệnh cấm đối với kế sinh nhai của ngư dân Việt Nam. Để lệnh cấm có hiệu lực và bảo vệ tàu cá của Trung Quốc, nước này đã cử những tàu “ngư chính” mà thực chất được chuyển đổi từ những tàu hải quân. Trung Quốc thông báo kế hoạch tăng cường sức mạnh của lực lượng hải giám của nước này lên tới 16 máy bay và 350 tàu vào năm 2015, lực lượng này sẽ được sử dụng để giám sát hàng hải, thực hiện những nhiệm vụ khảo sát, “bảo vệ an ninh biển,” và kiểm tra tàu nước ngoài hoạt động trong “vùng biển của Trung Quốc”[21]. 

Một vấn đề khác đó là tàu Việt Nam cũng xâm nhập vào khu vực các quốc gia ASEAN khác có yêu sách chủ quyền. Vào tháng 2 năm 2011 hai tàu cá Việt Nam dưới tên của Indonesia đã bị tàu tuần tra Indonesia bắt giữ gần đảo Natuna.[22]  Indonesia đã thông báo rằng vào năm 2009, có khoảng 180 tàu cá (không hoàn toàn là của Việt Nam – một số từ Malaysia) đã bị Indonesia bắt giữ khi đánh bắt cá trái phép tại vùng biển nước này.[23] Do nhu cầu tăng cao và nguồn dự trữ có hạn, những tranh chấp về đánh bắt cá có vẻ sẽ gia tăng tại Biển Đông, đặc biệt là khi các bên tranh chấp nâng cấp lực lượng bờ biển và hải quân của mình.

CẠNH TRANH GIỮA CÁC CƯỜNG QUỐC

Năng lượng và đánh bắt cá không phải là những nhân tố duy nhất trong tranh chấp này. Biển Đông đang trở thành điểm hội tụ cạnh tranh chiến lược của Trung Quốc đối với Mỹ khi Trung Quốc phát triển chiến lược hải quân hiện đại và triển khai những năng lực hải quân mới. ASEAN đã thừa nhận rằng yêu sách rộng lớn của Trung Quốc lên toàn bộ Biển Đông có thể được thương lượng, rằng Trung Quốc sẽ chấp nhận một thỏa thuận khu vực có lợi, trong đó những yêu sách lãnh thổ sẽ được điều chỉnh và những nguồn dữ trữ dầu, khí cũng như cá sẽ được chia sẻ. Trên cơ sở này, ASEAN đã đưa Trung Quốc vào đối thoại chính thức với hy vọng rằng những lãnh đạo của Trung Quốc có thể tin tưởng về giá trị của cơ chế của những quy tắc sẽ quản lý hành vi tại Biển Đông. ASEAN thường cẩn trọng nhằm tránh gây ra bất kỳ hành động khiêu khích Trung Quốc với mong muốn rằng Trung Quốc sẽ đáp lại và phương cách ASEAN trong việc khuyến khích một thỏa thuận thông qua sự đồng thuận sẽ được Bắc Kinh chấp nhận trong tương lai.

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây

Leszek Buszynski

Văn Cường (dịch)

Thái Giang (hiệu đính)

Bản gốc tiếng Anh The South China Sea: Oil, Maritime Claims and U.S. – China Strategic Rivalry, The Washington Quarterly 35(2), 2012



[1] Về tính pháp lý của những yêu sác, xem Mark J. Valencia, Jon M. Van Dyke, and Noel A. Ludwig, Sharing the Resources of the South China Sea (University of Hawaii Press, 1999), tr. 39-59; và R. Haller-Trost, The Spratly Islands: A Study on the Limitations of International Law, Trung tâm Nghiên cứu Đông Nam Á, Đại học Kent, Canterbury, Occasional Paper No. 14, tháng 10, 1990.

[2] U.S. Energy Information Administration, ‘‘China,’’ tháng 5, 2011, http://205.254.135.7/countries/cab.cfm?fips[2]CH; and ‘‘BP Energy Outlook 2030,’’ tháng 1, 2011,

http://www.bp.com/liveassets/bp_internet/globalbp/globalbp_uk_english/reports_and_publications/statistical_energy_review_2011/STAGING/local_assets/pdf/2030_energy_outlook_booklet.pdf.

[3] ‘‘Vietnam: Vietsovpetro finds more oil at Bach Ho field offshore Vietnam,’’Energy-Pedia News, 29,  tháng 6, 2011, http://www.energy-pedia.com/news/vietnam/vietsovpetro-finds-more-oil-at-bach-ho-field-offshore-vietnam

[4] ‘‘Vietnam Market for Oil and Gas Machinery and Services,’’ U.S. CommercialService-Vietnam, tháng 3, 2011, http://export.gov/vietnam/static/BP-Oil%20and%20Gas%20Machinery%20and%20Services_Latest_eg_vn_030123.pdf.

[5] Alex Watts, ‘‘Tensions rise as Vietnam accuses China of sabotage,’’ The Sydney Morning Herald, ngày 2, tháng 6, 2011, http://www.smh.com.au/world/tensions-rise-as-vietnam-accuses-china-of-sabotage-20110601-1fgno.html.

[6] ‘‘China reprimands Vietnam over offshore oil exploration,’’ Reuters, 28, tháng 5, 2011,

http://af.reuters.com/article/energyOilNews/idAFL3E7GS07E20110528.

[7] ‘Philippines to seek more oil in West Philippine Sea,’’ Agence France-Presse,29, tháng 6,  2011, http://globalnation.inquirer.net/5034/philippines-to-seek-more-oil-in-west-philippine-sea

[8] ‘‘Philippines protests China’s Spratly claim at UN,’’ Agence France-Presse, 14, tháng 4, 2011,

http://globalnation.inquirer.net/news/breakingnews/view/20110414-331090/Philippines-protests-Chinas-Spratly-claim-at-UN.

[9] Teresa Cerojano, ‘‘Beijing counters Manila’s UN protest, says Philippines ‘started toinvade’ Spratlys in 1970s,’’ Associated Press,  19, tháng 4,  2011, http://arabnews.com/world/article366262.ece.

[10] TJ Burgonio, ‘‘Navy flagship to patrol PH waters only, says Palace,’’ Philippine Daily Inquirer,  21, tháng 6,  2011, http://newsinfo.inquirer.net/16678/navy-flagship-to-patrol-ph-waters-only-says-palace.

[11] ‘‘Philippines pulls markers from disputed waters,’’ channelnewsasia.com, 15, tháng 6, 2011,

http://www.channelnewsasia.com/stories/afp_asiapacific/view/1135238/1/.html

[12] ‘‘Philippines to boost Spratly patrols,’’ channelnewsasia.com, 15, tháng 4, 2011, http://www.channelnewsasia.com/stories/afp_asiapacific/view/1122961/1/.html.

[13] Daniel Ten Kate, ‘‘South China Sea Oil Rush Risks Clashes as U.S. Emboldens

Vietnam on Claims,’’ Bloomberg, 27, tháng 5, 2011, http://www.bloomberg.com/news/2011-05-26/s-china-sea-oil-rush-risks-clashes-as-u-s-emboldens-vietnam.html.

[14] Indrani Bagchi, ‘‘China harasses Indian naval ship on South China Sea,’’ Times of India,2, tháng 9, 2011, http://articles.timesofindia.indiatimes.com/2011-09-02/india/30105514_1_south-china-sea-spratly-ins-airavat.

[15] Ananth Krishnan, ‘‘South China Sea projects an infringement on sovereignty, says China,’’ The Hindu,  19, tháng 9,  2011, http://www.thehindu.com/news/international/article2468317.ece?css[15]print.

[16] ‘‘India, Vietnam sign oil exploration agreement, ignoring China’s objections,’’Associated Press, 12, tháng 10,  2011, http://maritimesecurity.asia/free-2/south-china-sea-2/india-vietnam-sign-oil-exploration-agreement-ignoring-china%E2%80%99s-objections/.

[17] Sachin Parashar, ‘‘New Delhi tries to snap Beijing’s string of pearls,’’ The Times ofIndia, 20, tháng 10,  2011, http://articles.timesofindia.indiatimes.com/2011-10-20/india/30302032_1_nguyen-phu-trong-thein-sein-naypyidaw.

[18] Seth Mydans, ‘‘U.S. and Vietnam Build Ties With an Eye on China,’’ The New YorkTimes, 12, tháng 10,  2010, http://www.nytimes.com/2010/10/13/world/asia/13vietnam.html.

[19] Will Clem, ‘‘Patrol boats to escort fishing vessels in disputed Spratlys,’’ South China Morning Post,  3, tháng 4,  2010, http://www.viet-studies.info/kinhte/patrol_boats_to_escort_fishing.htm.

[20] ‘‘Unilateral fishing ban likely to fuel tension,’’ South China Morning Post, 17, tháng 5, 2010.

[21] Wang Qian, ‘‘Maritime Forces to be Beefed up Amid Disputes,’’ China Daily, 17, tháng 6, 2011, http://www.chinadaily.com.cn/china/2011-06/17/content_12718632.htm.

[22] ‘‘Navy arrests illegal Vietnamese fishing boats,’’ Antaranews.com, 12, tháng 2,  2011,

http://www.antaranews.com/en/news/67994/navy-arrests-illegal-vietnamese-fishing-boats.

[23] ‘‘Ten Vietnamese fishing boats caught poaching in RI waters,’’ Antaranews.com, 23,  tháng 4, 2010, http://www.antaranews.com/en/news/1272030822/ten-vietnamese-fishing-boats-caught-poaching-in-ri-waters.

 

 

Ngôn ngữ