27 - 11 - 2020 | 9:34
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home
Tag:luật biển

Công ước Luật biển 1982 là hiến pháp của biển, là cơ sở pháp lý chung cho việc giải quyết các tranh chấp biển, trong đó có phân định vùng biển và thềm lục địa chồng lấn giữa các nước xung quanh Biển Đông. Bài viết nhân kỷ niệm 30 năm ngày ký kết và nhân ngày Viêt Nam thông qua Luật biển.

 

Sau hơn 4 năm chuẩn bị  và 9 năm đàm phán, ngày 10/12/1982, Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (gọi tắt là Công ước Luật biển 1982), tên tiếng Anh là United Nations Convention on the Law of the Sea, hay thường được gọi tắt là UNCLOS 1982, được 107 quốc gia, trong đó có Việt Nam, ký tại Montego Bay, Jamaica (tính đến nay, số quốc gia ký là 157), đánh dấu thành công của Hội nghị LHQ về Luật biển lần thứ 3, với sự tham gia của trên 150 quốc gia và nhiều tổ chức quốc tế, kể cả các tổ chức quốc tế phi chính phủ, cùng xây dựng nên một Công ước mới về Luật biển, được nhiều quốc gia, kể cả những quốc gia không có biển, cùng chấp nhận.

Sau Hiến chương LHQ, Công ước Luật biển 1982 được đánh giá là văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng nhất kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, được nhiều quốc gia ký kết và tham gia. Công ước Luật biển 1982 có hiệu lực từ ngày 16/11/1994 (12 tháng kể từ ngày Guyana, nước thứ 60 phê chuẩn Công ước ngày 16/11/1993). Là một văn kiện pháp lý đa phương đồ sộ, bao gồm 320 điều khoản và 9 Phụ lục, với hơn 1000 quy phạm pháp luật, Công ước Luật biển 1982 đã đáp ứng nguyện vọng và mong đợi của cộng đồng quốc tế về một trật tự pháp lý quốc tế mới đối với tất cả các vấn đề về biển và đại dương, bao gồm cả đáy biển và lòng đất dưới đáy biển.

Công ước Luật biển 1982 thực sự là một bản hiến pháp về biển của cộng đồng quốc tế bởi Công ước không chỉ bao gồm các điều khoản mang tính điều ước mà còn là văn bản pháp điển hoá các quy định mang tính tập quán. Công ước Luật biển 1982 thể hiện sự thoả hiệp mang tính toàn cầu, có tính đến lợi ích của tất cả các nước trên thế giới, dù là nước công nghiệp phát triển hay là nước đang phát triển… Công ước không chấp nhận bảo lưu mà đòi hỏi các quốc gia phải tham gia cả gói (package deal), có nghĩa là việc phê chuẩn hoặc tham gia Công ước đòi hỏi quốc gia phải có trách nhiệm thực hiện toàn bộ các điều khoản của Công ước.

Công ước Luật biển 1982 đã trù định toàn bộ các quy định liên quan đến các vùng biển mà một quốc gia ven biển có quyền được hưởng, cũng như những quy định liên quan đến việc sử dụng, khai thác biển và đại dương, cụ thể là: Quy chế pháp lý của tất cả các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia; Chế độ pháp lý đối với biển cả và Vùng - di sản chung của loài người; các quy định hàng hải và hàng không; việc sử dụng và quản lý tài nguyên biển bao gồm tài nguyên sinh vật và không sinh vật; Vấn đề bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học biển, an ninh trật tự trên biển; việc giải quyết tranh chấp và hợp tác quốc tế về biển; Quy chế hoạt động của cơ quan quyền lực quốc tế về đáy đại dương, Uỷ ban ranh giới ngoài thềm lục địa, toà án Luật biển quốc tế, hội nghị các quốc gia thành viên Công ước …

Tính đến ngày 3/6/2011, đã có 162 nước phê chuẩn và tham gia Công ước Luật biển 1982 (Thái lan là quốc gia thứ 162 gia nhập ngày 15/5/2011).

Một số nội dung quan trọng đã được quy định trong Công ước Luật biển 1982 như dưới đây:

1. Quốc gia ven biển thực hiện chủ quyền đầy đủ đối với vùng lãnh hải mà họ có quyền thiết lập với chiều rộng không quá 12 hải lý. Tuy vậy, chủ quyền  này không phải là tuyệt đối vì tầu thuyền nước ngoài được phép “đi qua vô hại” trong vùng lãnh hải. Tầu thuyền và máy bay được phép “đi quá cảnh” qua các dải hẹp, eo biển được sử dụng cho hàng hải quốc tế.

2. Ranh giới lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế (ĐQKT) và thềm lục địa được xác định dựa trên các quy tắc áp dụng cho lãnh thổ đất liền, nhưng đối với đá không thể có con người sinh sống hoặc không có đời sống kinh tế sẽ không có vùng ĐQKT hoặc thềm lục địa. Quốc gia có biên giới với eo biển có thể điều tiết lưu thông hàng hải và các khía cạnh khác liên quan đến đi lại, lưu thông..

3. Quốc gia quần đảo, được tạo thành bởi nhóm hoặc các nhóm đảo liên quan gần gũi và những vùng nước tiếp liền, sẽ có chủ quyền đối với vùng biển nằm trong các đường thẳng được vẽ bởi các điểm xa nhất của các đảo, vùng nước bên trong các đảo được gọi là vùng nước quần đảo, và các quốc gia này có thể thiết lập các đường đi lại cho tầu thuyền và hàng không, trong đó các quốc gia khác có thể được hưởng quyền qua lại các quần đảo bằng các tuyến đường biển đã định.

4. Quốc gia ven biển có quyền chủ quyền đối với vùng ĐQKT rộng tối đa 200 hải lý, đối với tài nguyên thiên nhiên và một số hoạt động kinh tế, và thực hiện quyền tài phán đối với các hoạt động nghiên cứu khoa học và bảo vệ môi trường. Các quốc gia khác có quyền tự do hàng hải và tự do hàng không và tự do đặt dây cáp ngầm và đường ống.

 5. Quốc gia không có biển hoặc bất lợi về địa lý có quyền tham gia trên cơ sở công bằng trong việc khai thác một phần thích hợp trong số phần dư dôi của các tài nguyên sống trong vùng ĐQKT của quốc gia ven biển trong cùng khu vực hoặc tiểu khu vực; các loài di cư như cá hoặc sinh vật biển được bảo vệ đặc biệt.

 6. Quốc gia ven biển có quyền chủ quyền đối với thềm lục địa (khu vực đáy biển của quốc gia) trong việc việc thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên của thềm lục địa. Thềm lục địa có thể kéo dài ít nhất là 200 hải lý từ bờ biển, và có thể  kéo dài không quá 350 hải lý trong những điều kiện cụ thể. Quốc gia ven biển chia sẻ với cộng đồng quốc tế phần lợi tức thu được do khai thác tài nguyên từ bất cứ khu vực nào trong thềm lục địa của quốc gia đó khi nó kéo dài quá 200 hải lý. Uỷ ban Ranh giới thềm lục địa (được thành lập theo Phụ lục II trong Công ước Luật biển 1982) sẽ có ý kiến đối với quốc gia liên quan về ranh giới ngoài của thềm lục địa khi nó kéo dài quá 200 hải lý.

 7. Tất cả các quốc gia đều có quyền tự do truyền thống về hàng hải, bay qua, nghiên cứu khoa học và đánh cá trên vùng biển quốc tế. Các quốc gia có trách nhiệm hợp tác với nhau trong việc thông qua các biện pháp để quản lý và bảo tồn các tài nguyên sống trên biển.

  8. Các quốc gia có chung biên giới với biển kín hoặc nửa kín cần hợp tác với nhau trong việc quản lý tài nguyên sống, có chính sách và hoạt động về môi trường cũng như nghiên cứu khoa học. Các quốc gia không có biển có quyền tiếp cận với biển và được tự do quá cảnh thông qua nước quá cảnh để ra biển. Các quốc gia phải ngăn chặn và kiểm soát ô nhiểm môi trường biển và phải chịu trách nhiệm đối với những thiệt hại gây ra do sự vi phạm nghĩa vụ quốc tế của mình để kiềm chế những sự ô nhiễm đó.

 9. Tất cả các nghiên cứu khoa học trong vùng ĐQKT và thềm lục địa phải có sự đồng ý của quốc gia ven biển. Tuy vậy, hầu như trong tất cả mọi trường hợp, quốc gia ven biển có trách nhiệm đồng ý với đề nghị của các quốc gia khác khi việc nghiên cứu được tiến hành vì mục đích hoà bình và đã thực hiện một số yêu cầu chi tiết. Các quốc gia cam kết tăng cường phát triển và chuyển giao kỹ thuật biển trong những điều kiện “ công bằng và hợp lý” có tính đến đầy đủ những lợi ích hợp pháp.

10. Các quốc gia thành viên phải giải quyết bằng biện pháp hoà bình các tranh chấp liên quan đến việc hiểu và áp dụng Công ước. Các tranh chấp cần được trình lên Toà án quốc tế về luật biển ( được thành lập theo Công ước), trình lên Toà án công lý quốc tế hoặc trọng tài. Toà án có quyền tài phán riêng biệt đối với những tranh chấp liên quan đến khai thác ở đáy biển.

Sau khi Công ước Luật biển 1982 ra đời và có hiệu lực, các quốc gia ven biển đã ra các tuyên bố để khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của mình đối với những vùng biển được mở rộng theo quy định của Công ước. Quy chế pháp lý đối với lãnh hải đã trở thành biện pháp giải toả cho các yêu sách xung đột giữa các quốc gia với nhau. Lưu thông hàng hải qua vùng lãnh hải và các dải hẹp giờ đây dựa trên các nguyên tắc pháp lý. Các quốc gia ven biển đã tận dụng các điều khoản lợi thế cho phép mở rộng vùng ĐQKT ra tới 200 hải lý dọc theo bờ biển. Các quốc gia không có biển được quyền tiếp xúc với biển hoặc từ biển cũng được quy định một cách rõ ràng. Quyền được tiến hành các nghiên cứu khoa học biển giờ đây được dựa trên các nguyên tắc mà không thể vì lý do gì để từ chối. Cơ quan quyền lực quốc tế về đáy đại dương đã được thành lập năm 1994, đang thực hiện chức năng tổ chức và kiểm soát các hoạt động dưới biển sâu ngoài vùng thuộc quyền tài phán quốc gia, nhằm điều hành việc khai thác và bảo tồn các nguồn tài nguyên của biển.Toà án Luật biển quốc tế cũng đã được thành lập năm 1996 và có quyền lực để giải quyết các tranh chấp liên quan đến biển phát sinh từ việc áp dụng hay hiểu biết về Công ước.

Tuy nhiên, cần phải nói thêm rằng, phần XI của Công ước Luật biển 1982 liên quan đến quy chế pháp lý đối với đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm ngoài giới hạn quyền tài phán quốc gia (Công ước gọi chung là “Vùng”), đặc biệt là việc khai thác các quặng nằm sâu dưới đáy đại dương, đã làm dấy lên nhiều lo ngại từ các nước công nghiệp phát triển, đặc biệt là Mỹ. Để đạt được sự tham gia rộng rãi hơn của các nước đối với Công ước, Tổng thư ký LHQ đã chủ động tiến hành một loạt các cuộc tham vấn không chính thức giữa các quốc gia để giải quyết các lo ngại này. Sự tham vấn đã kết thúc bằng việc các nước đạt được thoả thuận vào tháng 7/1994, gọi là “ Thoả thuận liên quan đến việc thực hiện phần XI của Công ước Luật biển 1982”. Thoả thuận này được coi là một bộ phận của Công ước và đã mở đường cho tất cả các nước tham gia ký hoặc phê chuẩn để trở thành thành viên của Công ước.

Sau khi Công ước Luật biển 1982 được thông qua ngày 30/4/1982, Việt Nam là một trong 107 quốc gia tham gia ký Công ước tại Montego Bay. Ngày 23/6/1994, Quốc hội nước ta đã ra Nghị quyết  về việc phê chuẩn văn kiện pháp lý quan trọng này. Điểm 1 trong Nghị quyết nêu rõ: “ Bằng việc phê chuẩn Công ước của LHQ về Luật biển 1982, nước CH XHCN Việt Nam biểu thị quyết tâm cùng cộng đồng quốc tế xây dựng một trật tự pháp lý công bằng, khuyến khích sự phát triển và hợp tác trên biển”. Quốc hội khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với các vùng nội thủy, lãnh hải. Quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng ĐQKT và thềm lục địa Việt Nam trên cơ sở các quy định của Công ước và các nguyên tắc của pháp luật quốc tế, yêu cầu các nước khác tôn trọng các quyền nói trên của Việt Nam. Quốc hội một lần nữa khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đồng thời cũng tuyên bố rõ lập trường của Nhà nước ta là giải quyết hòa bình các bất đồng liên quan đến Biển Ðông trên tinh thần bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng pháp luật quốc tế, đặc biệt là Công ước Luật Biển năm 1982, tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của các nước ven biển Ðông đối với vùng ĐQKT và thềm lục địa; Trong khi nỗ lực thúc đẩy đàm phán để tìm giải pháp cơ bản lâu dài, các bên liên quan cần duy trì hòa bình, ổn định trên cơ sở giữ nguyên hiện trạng, không có hành động làm phức tạp thêm tình hình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực.

Tham gia Công ước Luật biển 1982, Việt Nam, quốc gia ven biển, được thừa nhận có vùng lãnh hải rộng 12 hải lý, vùng ĐQKT rộng 200 hải lý, thềm lục địa rộng ít nhất 200 hải lý và có thể mở rộng tới 350 hải lý tính từ đường cơ sở. Diện tích các vùng biển và thềm lục địa mà nước ta được hưởng theo quy định của Công ước, khoảng gần một triệu Km2, rộng gấp ba lần diện tích lãnh thổ đất liền.

 Công ước Luật biển 1982 đã trở thành cơ sở pháp lý quốc tế vững chắc, quan trọng, được thừa nhận và luôn được viện dẫn trong cuộc đấu tranh cam go, phức tạp để bảo vệ các vùng biển và thềm lục địa và các quyền và lợi ích chính đáng của nước ta trên biển. Trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, bên cạnh những những chứng cứ lịch sử, pháp lý chứng minh chủ quyền của Việt Nam đã được xác lập liên tục, hoà bình từ lâu đời đối với hai quần đảo, Công ước là công cụ pháp lý để phản bác những yêu sách phi lý, ngang ngược của Trung Quốc đối với cái gọi là “đường lưỡi bò” chiếm đến 80% diện tích Biển Đông, vốn là vùng biển nửa kín được bao bọc bởi 9 quốc gia, trong đó có Việt Nam.

Công ước Luật biển 1982 cũng là cơ sở pháp lý chung cho việc phân định vùng biển và thềm lục địa chồng lấn giữa nước ta với các nước xung quanh Biển Đông như Cămpuchia, Thái lan, Trung Quốc, Indonesia, Malaysia…góp phần tạo dựng sự hiểu biết, tin cậy lẫn nhau, tạo môi trường ổn định, hoà bình, hợp tác và phát triển trong Biển Đông.

Sau 30 năm kể từ khi ra đời, không thể phủ nhận tầm quan trọng và vị trí pháp lý của Công ước Luật biển 1982 trong đời sống luật pháp quốc tế. Tại Hội nghị lần thứ 22 các quốc gia thành viên của Công ước, tổ chức tại NewYork  tháng 6/2012, một lần nữa Công ước được khẳng định là thành tựu của nhân loại bởi những quy định của nó là kết quả của sự hợp tác - đấu tranh - xây dựng nhiều năm giữa các quốc gia trên thế giới với các chế độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế, quan điểm luật pháp… khác nhau; là sự thoả hiệp giữa các quốc gia vì một nhận thức chung đối với tầm quan trọng sống còn của biển và đại dương đối với sự phát triển của nhân loại.Khi trở thành thành viên của Công ước, các quốc gia có trách nhiệm tuân thủ đầy đủ các quy định trong Công ước, không có ngoại lệ, và không có bảo lưu. Do đó, không thể có quốc gia nào, khi tham gia sân chơi luật pháp chung này, lại chỉ viện dẫn và áp dụng những quy định trong Công ước có lợi cho quốc gia mình, hoặc không tuân thủ, thậm chí phủ nhận, những quy định không có lợi cho quốc gia mình./.

MINH TRUNG

 

Tạp chí “Tri thức thế giới” số 4 có bài viết của tác giả Trương Hải Văn, cho rằng Trung Quốc tuyệt đối không được tự rơi vào trong chiếc bẫy, theo đó cứ mỗi khi bàn đến “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” hoặc bàn đến luật quốc tế là cho rằng Trung Quốc đuối lý nên phải né tránh.

 

Theo tác giả bài viết thì từ lâu nay, Trung Quốc vẫn áp dụng chính sách kiềm chế, không làm cho vấn đề Biển Đông nóng lên, không muốn nói đến, thậm chí là né tránh nhưng thực tế Trung Quốc tuyệt đối không phải vì không có căn cứ pháp luật. Ngày 27-1-2012 Ngoại trưởng Philíppin Rosario đã đưa ra tuyên bố xác nhận tin từ một số báo chí trước đó về việc Philíppin cho phép Mỹ mở rộng đóng quân tại nước này. Trong tuyên bố của Rosario còn nói đến việc Philíppin sẽ cùng với Mỹ tổ chức diễn tập quân sự hỗn hợp nhiều hơn. Ngoài ra, Bộ trưởng Quốc phòng Philíppin Voltaire T.Gazmin cùng ngày cũng cho biết Chính phủ Philíppin đang xem xét chấp nhận đề nghị của Mỹ để cho quân đội Mỹ bố trí tàu chiến và tàu trinh sát mới hơn. Ông Voltaire T.Gazmin nói “nếu thiếu sức mạnh răn đe này thì lãnh thổ của chúng tôi sẽ bị xâm lược. Hôm nay đã có người láng giềng tốt đó (nước Mỹ), chúng tôi sẽ không thể tiếp tục bị lừa gạt nữa”. Trước biểu hiện trên của Philíppin, các chuyên gia bình luận rằng điều này có thể sẽ có hiệu ứng kiểu mẫu nào đó trong số các nước hữu quan ở Biển Đông, khiến cho tình hình khu vực này phức tạp hơn. Trước đó ngày 14/1 tại Bắc Kinh, Trung Quốc và các nước ASEAN đã tổ chức Hội nghị quan chức cấp cao lần thứ tư về việc thực hiện “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông”, các bên đã nhất trí cho rằng cần nắm vững thời cơ có lợi nhân kỷ niệm 10 năm ký kết, thúc đẩy thực hiện toàn diện “Tuyên bố” nói trên. “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông” đã tồn tại được 10 năm nhằm mục đích “tăng cường sự tin cậy lẫn nhau, đẩy mạnh hợp tác, cùng bảo vệ hòa bình ổn định Biển Đông” nhưng vẫn cần phải được “thúc đẩy” và tiếp tục “đẩy mạnh” hơn nữa. Để đẩy mạnh hợp tác thực chất, tại hội nghị các nhà lãnh đạo Trung Quốc và ASEAN lần thứ 14 tháng 10 năm ngoái, một trong những đề xướng của Thủ tướng Ôn Gia Bảo về việc làm sâu sắc thêm hợp tác thực chất giữa Trung Quốc và ASEAN là mở rộng hợp tác thực chất trên biển, Trung Quốc sẽ thành lập Quỹ hợp tác trên biển Trung Quốc-ASEAN, đẩy mạnh hợp tác trong các lĩnh vực nghiên cứu khoa học và bảo vệ môi trường biển, liên hệ thông suốt với nhau, an ninh hàng hải và cứu hộ trên biển, tấn công tội phạm xuyên quốc gia. Trung Quốc đã đầu tư 3 tỉ nhân dân tệ cho quỹ này. 

I- Tình hình Biển Đông hiện nay rốt cuộc là thế nào? 

1/ Nhìn nhận vấn đề Biển Đông từ những góc độ khác nhau 

Tác giả bài viết cho rằng nếu nhìn từ góc độ chính trị quốc tế và quan hệ giữa các quốc gia thì tình hình Biển Đông vẫn ổn định. Nói như vậy cũng có nghĩa là quan hệ giữa các nước khu vực Biển Đông cùng nước ngoài khu vực như Mỹ... với Trung Quốc, vẫn đang duy trì quan hệ chính trị, ngoại giao bình thường, khả năng xảy ra xung đột quân sự ở Biển Đông không lớn. Nhưng nếu nhìn từ góc độ khác thì vấn đề sẽ rất nhiều. Ví dụ, xét từ góc độ kiểm soát và sử dụng quyền phát ngôn thì hai năm trở lại đây, vấn đề Biển Đông bị nhào nặn trở thành một trong những vấn đề nóng ở khu vực. Trước năm 2010 chỉ cần Trung Quốc phản đối mạnh thì dù các nước xung quanh Biển Đông hay ngoài Biển Đông cũng đều không thể công khai bàn vấn đề tranh chấp Biển Đông tại các cơ chế hay hội nghị mang tính khu vực như Diễn đàn Khu vực ASEAN. Một số nước ASEAN như Việt Nam ... cùng với Mỹ, Nhật Bản... (là các nước ngoài khu vực), có thể tìm ra những tình huống và cơ hội để ngang nhiên bày đặt vấn đề Biển Đông, thậm chí chỉ trích Trung Quốc, Trung Quốc về cơ bản đều bị động và đáp lại một cách giản đơn, chưa bao giờ chủ động gây chuyện. Tại Diễn đàn khu vực ASEAN năm 2010, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc cũng là không kìm nén được mới phản bác lại cái gọi là ngôn luận về “bảo vệ tự do hàng hải ở Biển Đông” của Ngoại trưởng Mỹ H. Clinton. Nói tóm lại, quyền phát ngôn của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông hiện nay là bị động, đương nhiên đó chủ yếu bắt nguồn từ chính sách tự kiềm chế và chừng mực của chúng ta. Xét từ góc độ khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên thì vài năm gần đây, theo con số thống kê chưa hoàn toàn đầy đủ, mỗi năm các nước ven Biển Đông đã khai thác một khối lượng đến trên 5 triệu tấn dầu khí ở vùng biển tranh chấp thuộc Biển Đông, trong khi Trung Quốc đến nay còn chưa có lấy một giếng dầu ở vùng biển tranh chấp này. Vấn đề vẫn không chỉ có thế mà một thời kỳ rất lâu trước đó, các nước như Philíppin và Việt Nam khi muốn lôi kéo công ty dầu khí của nước phương Tây vào khai thác, thăm dò, thường còn kiêng dè đến phản ứng của Trung Quốc, nếu Trung Quốc phản ứng mạnh sẽ có phần thu hẹp khai thác hoặc dịu giọng, còn nay thì mạnh bạo rõ rệt, ngang ngược bày đặt. Ví dụ, hồi tháng 5 tháng 6 năm 2011, cái gọi là vấn đề Biển Đông nóng lên, chính là do Việt Nam bày trò “giặc kêu bắt giặc” mà thành chuyện. Hiện nay Philíppin và Việt Nam liên tục lợi dụng việc Trung Quốc băn khoăn không muốn dư luận quốc tế làm ầm ĩ vấn đề Biển Đông, mỗi khi muốn hợp tác với công ty dầu khí phương Tây thăm dò, khai thác ở vùng biển tranh chấp thuộc Biển Đông, các nước này lại tạo dư luận trước, để khi Trung Quốc đưa tàu hải giám đến làm nhiệm vụ ngăn chặn, sẽ tuyên bố Trung Quốc đã gây rắc rối cho việc thăm dò khai thác trên biển của họ. Nói như vậy cũng có nghĩa là trước đây Việt Nam và Philíppin chỉ vụng trộm khai thác, thăm dò nguồn dầu khí ở vùng biển tranh chấp thuộc Biển Đông, hiện nay không chỉ trắng trợn khai thác mà còn phản công trả đũa, đổ vấy trách nhiệm cho Trung Quốc gây căng thẳng cho tình hình Biển Đông. Đối với hành động nghiêm trọng tương tự như vậy của một số nước xung quanh, Trung Quốc hiện nay chủ yếu vẫn áp dụng phương thức kháng nghị ngoại giao, đồng thời cũng thực thi một số hành động chấp pháp bảo vệ chủ quyền.

Tuy nhiên nếu nhìn từ hiệu quả thực tế thì những biện pháp này không đủ để ngăn chặn hoặc làm thay đổi tình hình mà các nước xung quanh cướp đoạt nguồn tài nguyên dầu khí ở vùng biển tranh chấp đang ngày càng mạnh lên. Xét từ phương diện đánh bắt ngư nghiệp, hiện nay thuyền đánh bắt cá của ngư dân Trung Quốc thường xuyên bị bắt giữ ở Biển Đông và Đông Hải (Biển Hoa Đông). Khi bị nước xung quanh bắt giữ, ngư dân Trung Quốc sẽ bị phạt và tịch thu tàu, bị phạt tiền nặng và phải ngồi tù, đứng trước rủi ro khuynh gia bại sản. Năm 2011 Nhật Bản và Hàn Quốc mở rộng bắt bớ, thậm chí sẵn sàng áp dụng phương thức bạo lực đối xử với ngư dân Trung Quốc, cuối cùng dẫn đến hậu quả là hai bên đều có người thương vong nghiêm trọng. Trong khi đó, Trung Quốc trước sau vẫn kiềm chế, chưa bao giờ xử phạt nghiêm khắc đối với những ngư dân và tàu cá của một số nước cạnh Biển Đông đánh bắt trái phép. Xét từ góc độ so sánh lực lượng và xây dựng quan hệ chiến lược, từ năm 2010 đến nay, so sánh lực lượng ở khu vực Biển Đông đã có thay đổi to lớn, quan hệ chiến lược giữa các nước ngoài Biển Đông có bước phát triển mới. Nhìn trên tổng thể, về cơ bản đã hình thành mối quan hệ so sánh lực lượng trong đó một bên do Trung Quốc đứng đầu, bên kia là Mỹ và một số nước quanh Biển Đông như Việt Nam. Mối quan hệ đó được biểu hiện cụ thể qua hai phương diện sau: Một là, quan hệ giữa thế lực ngoài khu vực và các nước thuộc vùng biển xung quanh Biển Đông ngày càng chặt chẽ hơn. Từ năm 2010 đến nay Mỹ không ngừng gia tăng sự hiện diện quân sự ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Ngoài việc không ngừng che giấu củng cố quan hệ đồng minh quân sự với Hàn Quốc, Nhật Bản và Philíppin, đồng thời nhiều lần diễn tập quân sự chung, cuối năm 2011 Mỹ lại tuyên bố ký thỏa thuận với Ôxtrâylia thành lập căn cứ hải quân tại nước này và đưa lính tác chiến đến đóng ở đó. Một số nước cạnh Biển Đông cũng vậy, quan hệ quân sự Việt-Mỹ hiện nay là thời kỳ tốt nhất kể từ chiến tranh Việt Nam đến nay; Việt Nam cũng đã xây dựng và tăng cường quan hệ hợp tác quân sự với Ấn Độ và Nhật Bản, các nước này đều cam kết rõ cần phải giúp Việt Nam nâng cao khả năng quân sự trên biển. Philíppin, Inđônêxia cũng lần lượt nâng cấp quan hệ với Nhật Bản, và đã nâng quan hệ lên đến tầm cao đối tác chiến lược, tuyên bố phải bảo vệ “lợi ích chung” ở Biển Đông. Điều đặc biệt phải chú ý quan tâm là các mối quan hệ đối tác chiến lược này không còn là lời nói ngoại giao, mà đã được đưa vào trong hiệp định ký kết chính thức. Hai là, xét từ tình hình phát triển quan hệ giữa các nước tranh chấp Biển Đông, Việt Nam không ngừng điều chỉnh chiến lược Biển Đông, bao gồm phương châm và sách lược mà Việt Nam đối phó trong tranh chấp Biển Đông, bắt đầu gác lại tranh chấp với các nước khác ở Biển Đông như Philíppin, tích cực lôi kéo Philíppin và Malaixia nhằm mục đích cùng đối phó với Trung Quốc. 

2/ Vì sao vấn đề Biển Đông gần đây nóng lên? Xu thế phát triển như thế nào? 

Một vấn đề đáng phải suy xét sâu xa là từ thập niên 70 của thế kỷ trước đến nay tranh chấp Biển Đông đã diễn ra hàng chục năm nhưng về cơ bản các nước khác và Trung Quốc đều giữ lập trường giống nhau hoặc tương tự nhau, nghĩa là có tranh chấp nhưng không thổi phồng. Nhưng từ năm 2010 đến nay, vấn đề Biển Đông bị khuấy nóng lên, dường như hai năm qua Biển Đông đang không ngừng xuất hiện tranh chấp mới. Sự thực là, cái gọi là vấn đề Biển Đông hiện nay là bị người ta khuấy lên. Nhưng ai khuấy? Vì sao lại phải khuấy lên như vậy? Tác giả bài viết này cho rằng việc khuấy cho vấn đề Biển Đông nóng lên là một thủ đoạn mà Mỹ và một số nước tranh chấp Biển Đông đã phối hợp với nhau để giúp Mỹ nhanh chóng can thiệp vào vấn đề Biển Đông, tranh giành ảnh hưởng ở khu vực Biển Đông, và cũng để giúp các nước như Việt Nam tranh đoạt và củng cố lợi ích thực tế ở Biển Đông. Hơn nữa, nhìn từ tình hình hiện nay thì cách làm của các nước nói trên tỏ ra đã rất thành công. Từ năm 2010 đến nay Mỹ và Việt Nam cũng như nước khác đã lợi dụng mặt bằng đối thoại trên nhiều cấp độ của ASEAN, triển khai thế tiến công dư luận đối với Trung Quốc, đã hình thành môi trường dư luận cùng “lên án” Trung Quốc. Xét từ môi trường dư luận hiện nay thì dường như vấn đề Biển Đông là vấn đề mà một bên là Trung Quốc, bên kia gồm có một số nước Đông Nam Á và một số nước khác như Mỹ, Nhật Bản, là cuộc xung đột giữa lợi ích của Trung Quốc và “lợi ích chung” của cả một số nước nói trên ở Biển Đông. Tình hình như trên tỏ ra không phù hợp với sự thực khách quan. Xu thế về so sánh lực lượng như vậy ở khu vực Biển Đông từ trước đến nay chưa hề có. Vì thế, mục đích làm cho vấn đề Biển Đông nóng lên chính là để bóp méo hình ảnh của Trung Quốc, cô lập Trung Quốc để tạo môi trường dư luận, phục vụ cho Mỹ và Việt Nam cùng các nước tranh chấp Biển Đông khác xây dựng đại liên minh chiến lược chống Trung Quốc, bao vây Trung Quốc ở hướng Biển Đông. Hơn nữa, cho đến cuối năm 2011 liên minh này đã dần có hình hài, tiêu chí trực tiếp nhất là các loại quan hệ đối tác chiến lược đã được kết thành giữa các nước tranh chấp Biển Đông như Việt Nam và Philíppin với thế lực ngoài khu vực như Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ như đã nói trên, đặc biệt là quan hệ hợp tác quân sự không ngừng được tăng cường. Tuy nhiên các nước này cũng có tính hai mặt rất rõ. Một mặt, về phương diện an ninh, các nước này đều hy vọng dựa vào Mỹ để kiềm chế Trung Quốc, nhưng mặt khác về phương diện kinh tế, ở mức độ khác nhau các nước này phải dựa vào Trung Quốc để có được lợi ích kinh tế thực sự. Có hai ví dụ rõ nhất gần đây, một là tháng 10 năm 2011 Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam thăm Trung Quốc, trong khi ký kết thỏa thuận nguyên tắc chỉ đạo giải quyết tranh chấp Biển Đông, Chủ tịch nước Việt Nam cũng đồng thời đi thăm Ấn Độ, ký kết thỏa thuận hợp tác giữa hai nước ở Biển Đông. Hai là vào tháng 7 năm 2011 Ngoại trưởng Philíppin đi thăm Trung Quốc, sau khi tìm kiếm được lợi ích kinh tế từ Trung Quốc trở về lại lập tức tuyên bố đưa công ty dầu mỏ phương Tây vào khai thác ở khu vực tranh chấp thuộc Biển Đông. Việt Nam và Philíppin là các nước cạnh Biển Đông hết sức khéo lợi dụng cơ hội nhà lãnh đạo hai nước đi thăm lẫn nhau, vừa ca ngợi tình cảm hữu nghị với Trung Quốc, lại vừa nhân cơ hội để thực hiện hành động thăm dò, điều tra khai thác trên biển, tranh đoạt lợi ích thực tế.

Nói tóm lại, trong vấn đề đối phó tranh chấp Biển Đông, một số nước xung quanh có quy hoạch chiến lược và kế hoạch hành động, cũng có sách lược đấu tranh, rất giỏi lợi dụng thiện chí và chính sách kiềm chế của Trung Quốc để mưu tìm lợi ích tối đa ở ngoài khơi Biển Đông. Đương nhiên không thể phủ nhận được rằng xét từ phương diện lợi ích chiến lược thì các nước cạnh Biển Đông và thế lực ngoài khu vực như Mỹ đều hy vọng dựa vào vấn đề tranh chấp Biển Đông, triệt để làm to chuyện với Trung Quốc. Ngoài ra, tác giả bài viết cũng cho rằng tính đến cuối năm 2011, tình hình Biển Đông căng thẳng đã diễn biến đến bước ngoặt. Có hai lý do chủ yếu, một là mục đích thổi phồng vấn đề Biển Đông của Mỹ và các nước như Việt Nam cơ bản đã đạt được, tức đã tạo ra được môi trường dư luận hết sức bất lợi cho Trung Quốc, cô lập Trung Quốc, xây dựng được đại liên minh chiến lược cùng chống Trung Quốc và bao vây Trung Quốc ở hướng Biển Đông. Hai là từ tháng 1 năm 2012, Campuchia trở thành nước chủ tịch luân phiên mới của ASEAN, ở mức độ nào đó thực tế này sẽ làm yếu đi mức độ lợi dụng các diễn đàn ASEAN để công kích Trung Quốc của Mỹ và Việt Nam. Tuy nhiên, như mọi người đều biết, việc tranh chấp chủ quyền các đảo, bãi ngoài khơi và hoạch định ranh giới biển là vấn đề khó khăn mang tính toàn cầu. Ví dụ, nước Mỹ cần phải lần lượt đàm phán về khoảng 37 đường biên giới biển với ít nhất 13 nước láng giềng trên biển (là các nước Anh, Hà Lan, Canađa, Cuba, Mêhicô, Panama, Vênêxuêla, Nhật Bản, Inđônêxia, Philíppin, Niu Dilân, quần đảo Tây Samoa và Tônga) ở 5 khu vực (châu Âu, Bắc Mỹ, Nam Mỹ, châu Á và châu Đại Dương), ngoài phân định đường biên giới trên biển ở vịnh Maine với Canađa, phần lớn các đường biên giới còn lại chưa được giải quyết. Nhật Bản cũng tồn tại vấn đề phân định biên giới biển với tất cả các nước láng giềng, và còn có tranh chấp chủ quyền về các đảo với Nga, Bắc Triều Tiên, Hàn Quốc và Trung Quốc, tất cả đều chưa được giải quyết hoàn toàn. Xét từ thực tiễn quốc tế thì công việc hoạch định biên giới biển hoặc giải quyết một tranh chấp nào đó về biển, thông thường đòi hỏi thời gian hàng chục năm, là “cuộc chiến lâu dài đặc biệt”. Hơn nữa, với những kiến thức thông thường và là một nguyên tắc quan trọng như mọi người đều biết thì việc giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia là trách nhiệm chung của các bên tranh chấp, đòi hỏi các bên cùng nỗ lực và có thiện chí, tuyệt đối không phải bất cứ nước đương sự nào đơn phương có thiện chí và kiềm chế mà có thể giải quyết dứt điểm được vấn đề. Vì thế, cũng như rất nhiều vùng biển quốc tế khác, trong thời gian tương đối dài tới đây vấn đề tranh chấp Biển Đông sẽ vẫn là một đề tài quan trọng để các nước hữu quan công kích Trung Quốc, tại vùng biển tranh chấp cục bộ ở Biển Đông khả năng mâu thuẫn bị kích hoạt gay gắt cũng vẫn tiếp tục. 

II- Tính chất hợp pháp trong chủ trương của Trung Quốc về quyền lợi ở Biển Đông 

Hiện nay xuất hiện một luận điệu cho rằng Trung Quốc không chiếm ưu thế pháp lý trong vấn đề Biển Đông. Thậm chí có người còn cho rằng “đường đứt đoạn Biển Đông” của Trung Quốc không có cơ sở luật pháp. Tuy nhiên, sự thực là như thế nào? Những năm gần đây Mỹ, Nhật Bản cùng với các nước Biển Đông như Philíppin, Việt Nam và Malaixia trong những khung cảnh khác nhau đã nhiều lần tuyên bố “phải căn cứ theo luật quốc tế, trong đó có ‘Công ước của Liên hợp quốc về luật biển’ để giải quyết vấn đề tranh chấp Biển Đông”. “Trung Quốc phải tuân thủ quy tắc luật quốc tế”, “đường đứt đoạn theo chủ trương của Trung Quốc không phù hợp với ‘Công ước của Liên hợp quốc về luật biển’”, thậm chí có một số người gọi là học giả còn đề xuất “phải lấy ‘Công ước của Liên hợp quốc về luật biển’ làm căn cứ để giải quyết vấn đề Biển Đông”. Những cách nói như trên thoạt nghe có vẻ khác nhau nhưng trên thực tế dụng ý và mục đích là như nhau, đó là chỉ trích chủ trương của Trung Quốc về vấn đề Biển Đông là không phù hợp với luật quốc tế, yêu cầu Trung Quốc từ bỏ chủ trương về quyền lợi ở Biển Đông. Nhưng có một sự hiểu biết thông thường cơ bản là luật quốc tế phải yêu cầu các nước tuân thủ chứ không thể chỉ yêu cầu Trung Quốc tuân thủ. Bởi dung lượng bài viết có hạn, tác giả bài viết không thể xuất phát từ góc độ chuyên ngành pháp luật quốc tế để trả lời những vấn đề nói trên, mà chỉ dẫn một số ví dụ từ hai phương diện để làm rõ vấn đề, xem Mỹ, Nhật Bản, cùng với Philíppin đã “tôn trọng” và “tuân thủ” luật pháp quốc tế như thế nào. 

1/ Mỹ và Nhật Bản là những ví dụ điển hình về không tôn trọng và không tuân thủ “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển”

Hiện nay cả thế giới đã có hơn 160 nước phê chuẩn “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển”, trong đó ngoài bao gồm tuyệt đại đa số các nước ven biển, còn có rất nhiều nước trong nội địa. Tuy nhiên Mỹ là nước đến đâu cũng chỉ trích nước khác không tuân thủ “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” nhưng đến nay vẫn từ chối phê chuẩn Công ước này. Nguyên nhân căn bản là, nếu phê chuẩn thì hải quân Mỹ sẽ bị hạn chế hoặc bị ảnh hưởng ở mức độ rất lớn chứ không thể được tự do hoạt động trên các vùng biển toàn cầu. Vì thế, có một vấn đề khiến người ta rất nghi hoặc là với tư cách là nước không tôn trọng và không phê chuẩn “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển”, chỉ chọn những điều khoản có lợi chứ không tuân thủ những điều khoản không có lợi cho mình trong công ước này để thi hành, vậy nước Mỹ có tư cách gì để chỉ trích Trung Quốc là nước đã ký kết tham gia công ước? Xem xét tiếp Nhật Bản, nước này đã ngang nhiên vi phạm điều 121 trong “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” quy định rõ về mặt pháp luật các đảo và bãi đảo. Nhật Bản từ lâu đã đầu tư rất nhiều tiền và nhân lực để xây dựng, củng cố nhân tạo đối với bãi san hô Okinotori mà trên thực tế chỉ là bãi đá (tức không thể có được thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế), diện tích chỉ bằng khoảng “chiếc giường đôi”, hòng biến bãi đá này thành “đảo” theo ý nghĩa pháp luật (tức có thể dựa theo luật pháp để chủ trương vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa). Năm 2009 Nhật Bản đã nộp lên Ủy ban ranh giới thềm lục địa Liên hợp quốc hồ sơ hoạch định thềm lục địa ngoài 200 hải lý (hoạch định ranh giới kéo dài tối đa của thềm lục địa tự nhiên của nước mình), không những đã chính thức hoạch định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 200 hải lý cho bãi Okinotori, mà còn hoạch định thềm lục địa ngoài 200 hải lý, diện tích lần lượt là hơn 400 nghìn km 2 và hơn 700 nghìn km 2 , còn lớn hơn nhiều so với cả lãnh thổ của bản thân nước Nhật vốn chỉ khoảng hơn 300 nghìn km 2 . Đối với việc làm vi phạm rõ rệt “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” nói trên của Nhật Bản, Mỹ không chỉ im hơi lặng tiếng, không một lời đả động đến mà còn bằng mọi cách ngăn cản và phản đối việc Trung Quốc đề cập vấn đề này tại hội nghị các nước tham gia công ước. Ngày 16/1/2012, Nhật Bản tuyên bố sẽ đặt tên cho các đảo không người ở trong đó có 4 hòn đảo thuộc quần đảo Điếu Ngư, Trung Quốc đã có bất đồng nghiêm trọng đối với Nhật Bản về vấn đề này, cho biết rõ mọi việc làm đơn phương đối với đảo Điếu Ngư và các đảo phụ thuộc xung quanh đảo Điếu Ngư đều là hành động trái phép và không có hiệu lực pháp lý. Rất dễ để có thể nhận ra ý đồ của Nhật Bản rằng thông qua phương thức đặt tên trước để biểu thị nước này có chủ quyền đối với các bãi, đảo tranh chấp nói trên, tiếp theo sẽ phỏng theo cách làm đối với bãi Okinotori, coi các bãi đảo không người ở như vậy là những điểm cơ bản về lãnh hải, đạt mục đích quản lý vùng biển Hoa Đông và vùng đặc quyền kinh tế cũng như thềm lục địa ở phạm vi lớn hơn nữa mà họ chủ trương. Trong bối cảnh tự mình rõ ràng không tuân thủ như vậy, Nhật Bản cũng có tư cách gì để “chỉ đạo” nước khác phải tuân thủ luật quốc tế? 

2/ Philíppin đã vi phạm những luật quốc tế nào? 

Hiện nay chủ trương lãnh thổ của Philíppin ở các đảo, bãi thuộc Biển Đông gồm hai bộ phận lớn: Thứ nhất, đặt tên cho một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa thành cái gọi là “quần đảo Kalayaan” để chủ trương thuộc về lãnh thổ của Philíppin. Hai là, chủ trương đảo Hoàng Nham của Trung Quốc cũng thuộc về quyền sở hữu của Philíppin. Trên thực tế, xét từ góc độ luật pháp quốc tế để nhận định chủ trương của Philíppin về những phần lãnh thổ nói trên có hợp pháp hay không thì đó là vấn đề rất đơn giản, tức Philíppin hoạch định những đảo, bãi này vào phạm vi lãnh thổ của họ vào lúc nào. Về vấn đề này, tác giả bài viết và một số đồng nghiệp đã tiến hành phân tích, nghiên cứu tất cả những pháp luật và điều ước về việc hoạch định phạm vi lãnh thổ của Philíppin trong lịch sử của nước này. Ví dụ, trong lịch sử, Philíppin đã lần lượt từng là thuộc địa của Tây Ban Nha và Mỹ, còn những hiệp ước hoạch định phạm vi lãnh thổ của Philíppin khi đó có “Hiệp ước Pari” năm 1898, “Hiệp ước Oasinhtơn” năm 1900; sau khi Philíppin độc lập, năm 1951 lại ký hiệp định song phương với Mỹ là “Hiệp ước phòng thủ chung Mỹ-Philíppin”. Những hiệp ước nói trên đã quy định Mỹ có nghĩa vụ bảo vệ cho lãnh thổ Philíppin không bị xâm lược. Vì thế trên thực tế cũng đã phân định phạm vi lãnh thổ của Philipin một cách tương ứng. Tuy nhiên, trong tất cả những hiệp ước nói trên đều không hoạch định cái gọi là “quần đảo Kalayaan” và đảo Hoàng Nham vào trong phạm vi lãnh thổ của Philíppin. Trên thực tế, đến năm 2009, Philíppin mới cho ra đời dự luật số 2699 (gọi là “Dự luật về vấn đề liên quan đến điểm cơ bản về lãnh hải”), lần đầu tiên mới đưa “quần đảo Kalayaan” và đảo Hoàng Nham vào làm lãnh thổ của Philíppin. Như vậy rõ ràng việc làm nói trên của Philíppin là phi pháp. Cho dù không xuất phát từ góc độ chuyên ngành về luật quốc tế để phân tích, mà chỉ cần nói theo sự hiểu biết thông thường, nếu một nước thông qua quá trình lập pháp của nước mình là có thể lấy lãnh thổ của nước khác nhập vào cương vực của nước mình, lấy đó làm của mình thì bản đồ thế giới sẽ phải yêu cầu vẽ lại rất nhiều rồi.

Hơn nữa, luật quốc tế còn có một quy tắc gọi là xác định ngày tháng then chốt, cũng là nói trước hết phải tìm ra được thời điểm xảy ra tranh chấp, phán quyết rõ sự thực lịch sử trước thời điểm đó là gì, đối tượng tranh chấp ở vào trạng thái như thế nào, tức là trước khi xảy ra tranh chấp, lãnh thổ đó thuộc về nước nào. Sau khi xảy ra tranh chấp thực tế như thế nào, nước có quyền lợi từ trước đó có phải đã từ bỏ quyền lợi của mình hay không, nước đương sự tranh chấp khác đã áp dụng hành động gì, có hiệu lực pháp lý quốc tế hay không. Sự thực pháp luật không thể bóp méo là: Sau năm 2009, Philíppin mới chính thức hoạch định cái gọi là “quần đảo Kalayaan” và đảo Hoàng Nham vào lãnh thổ của nước họ về mặt luật pháp. Dù không nói đến lịch sử lâu dài, chỉ cần nói đến tình hình từ khi thành lập nước Trung Quốc mới, ngay từ năm 1958 Trung Quốc đã quy định cả bốn quần đảo ở Biển Đông với các đảo khác vào trong phạm vi lãnh thổ của Trung Quốc rồi. Sau đó, trong “Luật lãnh hải và vùng giáp ranh Nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa” và trong những lần tuyên bố ngoại giao, Trung Quốc luôn nhấn mạnh chủ quyền của mình đối với các đảo Biển Đông, trong đó có quần đảo Trường Savà đảo Hoàng Nham, hơn nữa đến nay vẫn chưa bao giờ từ bỏ. Trên thực tế, năm 2009 Philíppin thông qua dự luật nói trên là hành động “có tật giật mình” của kẻ gian, vì Philíppin thấy mình căn bản không có cơ sở pháp luật để chủ trương “quần đảo Kalayaan” và đảo Hoàng Nham thuộc chủ quyền của mình nên mới phải cho ra đời dự luật mới này để lấp đi chỗ khuyết thiếu nghiêm trọng này. Nhưng nếu chiểu theo luật pháp quốc tế thì cách làm luật nói trên của Philíppin rõ ràng không có được tính hợp pháp, dự luật nói trên cũng tuyệt đối không thể có hiệu lực. Còn nước bảo hộ của Philíppin là nước Mỹ lại không có bất cứ ý kiến bình luận gì đối với việc làm như vậy của Philíppin.

3/ “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” không thể được dùng để chứng minh thuộc chủ quyền lãnh thổ hoặc giải quyết vấn đề tranh chấp chủ quyền lãnh thổ 

Nhận định vấn đề thuộc chủ quyền lãnh thổ hoặc giải quyết tranh chấp chủ quyền lãnh thổ phải căn cứ theo các quy tắc và nguyên tắc trong luật quốc tế ở rất nhiều phương diện chứ tuyệt đối không phải quy định trong một công ước nào đó. Đây là một kiến thức thông thường hết sức rõ ràng trong lý luận và thực tiễn về luật pháp quốc tế. Căn cứ luật pháp quốc tế để giải quyết tranh chấp lãnh thổ ít nhất bao gồm những quy tắc và nguyên tắc theo luật quốc tế như quy tắc có được lãnh thổ, quy tắc xác định thời gian, quy tắc xác định ngày tháng then chốt, quy tắc không truy ngược quá khứ, nguyên tắc cấm phản ngôn và quy tắc quyền lợi mang tính lịch sử. Một điều hết sức cần thiết phải chỉ rõ là những quy tắc nói trên đều không phải là quy định trong “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển”. Xét từ quy định trong bản thân “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” thì trong Lời nói đầu của Công ước đã chỉ rõ là “trong điều kiện tính đến chủ quyền của tất cả các nước, xây dựng một trật tự pháp luật về biển...”. Như vậy có nghĩa là trật tự biển được xây dựng theo yêu cầu của công ước nói trên là xuất phát từ một tiền đề, đó là không thay đổi chủ quyền quốc gia đã có. Một trong những căn cứ của luật quốc tế trong việc phán đoán quy thuộc chủ quyền lãnh thổ là quy tắc có được lãnh thổ, quy tắc này không quy định trong “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển”. Xét từ ý nghĩa lịch sử thì quy tắc có được lãnh thổ đã bao hàm rất nhiều quy tắc liên quan, bao gồm phát hiện, chiếm trước, chiếm lĩnh hữu hiệu và quản lý hữu hiệu v.v., đòi hỏi phải xuất phát từ nhiều góc độ và phương diện để phán đoán một quốc gia có chủ quyền đối với một phần lãnh thổ nào đó có hợp pháp hay không, mọi việc làm của quốc gia đó có hiệu lực theo luật quốc tế hay không. Từ các thời Tống, Nguyên, Thanh đến nay Trung Quốc đã trải qua nhiều thực tiễn qua các thời kỳ xã hội, qua nhiều triều đại, nhất là các đời chính phủ ở thời kỳ cận đại và hiện đại, đặc biệt bao gồm những thực tiễn về việc phát hiện, chiếm trước, quản lý hữu hiệu, đã có được chủ quyền lãnh thổ đối với các đảo ở Biển Đông một cách hữu hiệu. Còn một điều vẫn phải nói rõ rằng tiêu chuẩn và yêu cầu về luật quốc tế qua các thời kỳ lịch sử đối với một quốc gia có một lãnh thổ hợp pháp hay không là không giống nhau. Ví dụ, luật quốc tế thời cổ đại là ai có sức mạnh cưỡng chiếm, người ấy sẽ có được lãnh thổ, luật quốc tế thời cận đại cũng cho phép dùng vũ lực cưỡng đoạt chủ quyền lãnh thổ. Chẳng hạn như sau khi chiếm lĩnh nhiều đảo ở Nam Thái Bình Dương, nước Pháp đã có được chủ quyền ở những đảo đó. Nhưng luật quốc tế ở thời kỳ hiện đại là cấm dùng vũ lực để có được lãnh thổ, ví dụ rõ nhất là Nhật Bản trong thời kỳ Chiến tranh Thế giới thứ Hai đã chiếm các bãi, đảo ở Trường Sa và Đài Loan của Trung Quốc, những việc làm đó đều thuộc về hành vi trái phép. Vì thế, sau khi thất bại, Nhật Bản đã phải trả lại các vùng lãnh thổ chiếm đóng nói trên. Chính phủ Quốc dân ở Trung Quốc lúc đó đã đưa hạm đội với tàu đi tiên phong là tàu “Thái Bình” đến Biển Đông tiếp nhận những bãi, đảo đã bị Nhật Bản chiếm đóng. Đảo Thái Bình chính là được đặt tên theo con tàu đó. Trong nhiều đảo ở Biển Đông hiện nay, có rất nhiều bãi và đảo đều được đặt theo tên các tàu thuyền, thuyền trưởng hoặc nhân vật lịch sử đã đến các đảo ở Biển Đông để tuyên thị và bảo vệ chủ quyền. Ví dụ như bãi cát Đôn Khiêm chính là tên của Thuyền trưởng Lý Đôn Khiêm chỉ huy tàu chiến có tên hiệu là “Trung Nghiệp” mà Chính phủ Trung Quốc năm 1946 đã điều ra tiếp nhận quần đảo Trường Sa. 

Việc nhận định chủ trương quyền lợi của các nước ở Biển Đông hoàn toàn không phải chỉ có “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển”, mà còn phải dựa vào một quy tắc quan trọng khác trong luật quốc tế là quy tắc xác định thời gian, nghĩa là một hành vi nào đó trong lịch sử chỉ cần phù hợp với luật quốc tế ở thời kỳ lúc đó, thì hành vi đó sẽ là hành vi hợp pháp hữu hiệu. Cùng với quá trình phát triển của những quy tắc liên quan trong luật pháp quốc tế, những hành vi liên quan đến những quy tắc này cũng phải đổi mới và phát triển theo. Hàng trăm năm trước đây người Trung Quốc đã thông qua các phương thức phát hiện và chiếm hữu để có được quyền lợi sơ bộ đối với các đảo Biển Đông mà lúc đó chưa thuộc về bất cứ nước nào. Sau đó chính phủ qua các nhiệm kỳ đã thông qua các phương thức đặt tên cho các đảo và công bố bản đồ tương ứng, hoạch định các đảo đó vào khu vực hành chính địa phương, đưa tàu ra tuyên bố chủ quyền và tuần tra, tổ chức và quản lý các hoạt động của xã hội đến Biển Đông đánh bắt cá, đối phó với các hoạt động xâm phạm chủ quyền của nước ngoài, xây dựng luật hiện đại, từng bước có được chủ quyền lãnh thổ đối với các đảo ở Trường Sa. Thực tiễn qua các thời đại ở Trung Quốc không chỉ hoàn toàn phù hợp với quy tắc có được lãnh thổ lúc đó, mà cũng phù hợp với quy tắc có được lãnh thổ theo luật quốc tế cận đại và hiện đại. Vì thế, theo quy tắc về xác định thời gian thì việc Trung Quốc có được chủ quyền lãnh thổ đối với các đảo ở Biển Đông là hợp pháp, hữu hiệu. Trong tất cả các nước tranh chấp ở Biển Đông, chỉ có Trung Quốc là có căn cứ lịch sử dài đến mấy trăm năm. Mọi nhận định của quốc tế liên quan đến tranh chấp lãnh thổ đều cho thấy ý nghĩa phán định của những căn cứ lịch sử đối với chủ quyền lãnh thổ quốc gia là có vai trò to lớn. Vì thế, không thể nói một cách đơn giản rằng đã có “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” mới thì căn cứ lịch sử sẽ không còn hiệu lực. Ví dụ như vụ phân xử của Tòa án quốc tế về đảo Pedra Branca theo cách gọi của Xinhgapo hoặc đảo Pulau Batu Puteh theo cách gọi của Malaixia: Như mọi người đều biết, Xinhgapo là được độc lập từ Malaixia nên Tòa án quốc tế khi xử vụ tranh chấp này đã đưa ra tất cả mọi căn cứ mà hai bên có được, bao gồm cả những chứng cứ lịch sử phong phú để phân tích, thẩm định, cuối cùng xác định đảo trên thuộc về Xinhgapo. Tòa án quốc tế từ xưa đến nay không thể không xem xét đến căn cứ lịch sử để quyết định chủ quyền thuộc về ai trong một vùng lãnh thổ tranh chấp. Đến học giả phương Tây cũng đều thừa nhận, đối với vụ tranh chấp chủ quyền các đảo ở Trường Sa, những tư liệu Trung Quốc có được là phong phú nhất, chứng cứ chắc chắn nhất, các nước khác như Philíppin, Malaixia và Brunây căn bản lại không có. Đó chính là thực tế để cho thấy vì sao Mỹ phụ họa, giúp các nước như Philíppin nhấn mạnh một cách phiến diện và lặp đi lặp lại rằng giải quyết vấn đề Biển Đông cần phải lấy “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” làm căn cứ, ra sức làm mờ nhạt đi, thậm chí xóa bỏ những nhân tố căn bản có vị trí quan trọng trong giải quyết vấn đề tranh chấp Biển Đông. 

Chủ trương chủ quyền của các nước ở Biển Đông còn đề cập đến một nguyên tắc luật pháp quan trọng, đó là nguyên tắc luật pháp không truy ngược quá khứ. Ý nghĩa chính của nguyên tắc này là không thể dùng luật pháp của thế hệ sau để phán xét hành vi trước đây hợp pháp hay không hợp pháp. Chỉ riêng ví dụ về đường đứt đoạn ở Biển Đông, trước năm 1949 Chính phủ Quốc dân của Trung Quốc đã chính thức đặt tên và công bố bản đồ kèm theo đường đứt đoạn cho các bãi đảo ở Biển Đông, còn thông qua nhiều thực tiễn trên các phương diện về khai thác sử dụng tài nguyên như đưa tàu chiến đến Biển Đông tuyên bố chủ quyền, tổ chức và quản lý nghề cá, nhấn mạnh và củng cố chủ trương về quyền lợi ở Biển Đông. Sau năm 1949, Chính phủ Trung Quốc cũng kế thừa chủ trương của Chính phủ Quốc dân, vẫn tiếp tục đánh dấu đường đứt đoạn ở Biển Đông trên bản đồ chính thức của nhà nước, đồng thời cũng thông qua thực tiễn trong nhiều phương diện về lập pháp để nhấn mạnh và củng cố chủ trương về quyền lợi ở Biển Đông. Ai cũng biết là “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” từ năm 1994 mới bắt đầu có hiệu lực. Xem xét từ phương diện tài nguyên hiện hữu, nếu tính từ năm 1914 khi đường đứt đoạn ở Biển Đông bắt đầu xuất hiện thì đường đứt đoạn này đến nay đã được gần 100 năm, sớm hơn “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” 80 năm, hoặc nếu chỉ tính từ khi Chính phủ Trung Quốc chính thức công bố năm 1947 thì đến nay cũng đã được 65 năm, sớm hơn thời gian có hiệu lực của “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” 47 năm! Hơn nữa, đường đứt đoạn ở Biển Đông còn đề cập đến vấn đề về luật quốc tế khác phức tạp như quyền lợi mang tính lịch sử, vượt xa cả những nội dung được quy định trong “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển”. Vì thế tính hợp pháp của đường đứt đoạn ở Biển Đông tuyệt đối không đơn giản sử dụng “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” để phán đoán và phủ nhận. Nói “Đường đứt đoạn ở Biển Đông của Trung Quốc không phù hợp với ‘Công ước của Liên hợp quốc về luật biển’” thì bản thân cách nói đó rõ ràng đã thiếu căn cứ theo luật pháp quốc tế, là hết sức sai lầm. 

4/ “Quyền lợi chủ quyền” tuyệt đối không đồng nghĩa với “chủ quyền ” 

Về bản thân “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển”, có nhà lý luận cho rằng “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” bất lợi đối với Trung Quốc. Tác giả bài viết cho rằng có lợi hay không có lợi là tương đối chứ không tuyệt đối. Nhìn nhận từ điều kiện địa lý tự nhiên của vùng biển xung quanh Trung Quốc, nếu so sánh với những nước ven biển nhìn ra đại dương mênh mông trên thế giới thì Trung Quốc là nước bất lợi về mặt địa lý, vùng biển xung quanh Trung Quốc bị bao vây bởi lãnh thổ của rất nhiều nước lân bang, không thể được hưởng quyền lợi 200 hải lý như “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” dành cho các nước ven biển. Xét từ góc độ này thì việc thực hiện công ước nói trên là bất lợi đối với Trung Quốc, nhưng đồng thời, đối với những nước láng giềng ven biển có bờ biển liền với Trung Quốc và hướng sang Trung Quốc cũng cùng đối mặt với những bất lợi như vậy. Nhìn từ góc độ luật pháp thì đối với tất cả mọi nước ký kết, quyền lợi và nghĩa vụ được quy định trong “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” đều bình đẳng, các nước xung quanh có thể tuyên bố vùng biển quản lý 200 hải lý, Trung Quốc đại lục và các đảo của Trung Quốc cũng có thể tuyên bố có quyền lợi bình đẳng như vậy, nếu có vùng biển chồng lấn sẽ phát sinh vấn đề phân định ranh giới biển. Ngoài ra trong giải quyết vấn đề phân định ranh giới biển, các bên cũng ở cùng địa vị như nhau chứ không có vấn đề về việc chỉ bất lợi đối với Trung Quốc. Đương nhiên, không thể phủ nhận được rằng về khách quan quả có một tình huống đã dẫn đến cách nói sai lầm như trên, nghĩa là Malaixia, Brunây vốn là những nước không có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc, nhưng bởi “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” đã có quy chế về khu đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 200 hải lý đã khiến các nước này chủ trương vùng biển quản lý rộng 200 hải lý, từ đó cũng hoạch định một số đảo trong quần đảo Trường Savào phạm vi 200 hải lý do họ quản lý. Vì thế có người cho rằng “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” bất lợi đối với Trung Quốc. Quan điểm như vậy kỳ thực là hết sức sai lầm, là cách giải thích và lạm dùng quy chế về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa theo quy định trong “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển”. Các phần 5 và 6 trong “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” đã quy định thành quy chế về khu đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, theo đó nước ven biển chỉ có được hai quyền lợi chủ quyền và ba quyền quản lý ở khu đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, chủ yếu bao gồm: Quyền lợi chủ quyền có mục đích thăm dò và khai thác, nuôi trồng bảo vệ và quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên ở thủy vực hải dương, lòng biển và đáy biển (bất kể là tài nguyên sinh vật hay không phải sinh vật); Quyền lợi chủ quyền đối với các hoạt động khai thác và thăm dò mang tính kinh tế về nước biển, hải lưu và sức gió; Quyền quản lý trong việc kiến tạo và sử dụng đảo nhân tạo, trong kiến tạo và sử dụng các công trình thiết bị, và quản lý trong các phương diện nghiên cứu khoa học biển và bảo vệ môi trường biển. 

Một sự thực pháp luật không được phép nhầm lẫn là không chỉ là hai phần trong “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” nói trên mà bất cứ phần nào và điều khoản nào trong công ước cũng đều không quy định nước ven biển nào được dựa vào công ước để quy hoạch lãnh thổ của nước khác vào lãnh thổ của mình. Vì thế, tất cả các nước ký kết đều có thể dựa vào công ước để thực hiện hai quyền lợi chủ quyền và ba quyền quản lý ở khu đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, nhưng tuyệt đối không có quyền dựa vào đó để tranh đoạt chủ quyền của nước khác đã được hoạch định trong đó. “Quyền lợi chủ quyền” tuyệt đối không đồng nghĩa với “chủ quyền”. Mỗi từ ngữ trong luật pháp đều có nội hàm và ý nghĩa pháp luật của bản thân từ đó, tuyệt đối không thể làm lẫn lộn hoặc thay thế một cách giản đơn. Đó đều là kiến thức pháp luật quốc tế thông thường. Vì thế Malaixia đã lấy cớ là quyền lợi được “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” cho phép, chủ trương quy hoạch một số đảo thuộc quần đảo Trường Satrong phạm vi vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của họ thành lãnh thổ của họ. Đòi hỏi về loại chủ quyền lãnh thổ như vậy là cực kỳ hoang đường, cũng là phi pháp. Thử xem xét, nếu cách xác định như vậy là ổn thì thế giới sẽ ra sao? Và cùng cách suy diễn theo lý lẽ như vậy thì Trung Quốc cũng chẳng có thể hoạch định những vùng lãnh thổ của nước khác trong phạm vi 200 hải lý thuộc lãnh thổ Trung Quốc (ít nhất bao gồm các bãi, đảo phía Nam quần đảo Ryukyu và các bãi đảo phía Bắc Philíppin) vào cả trong phạm vi yêu cầu chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc (như đảo Đài Loan hoặc đảo Thái Bình) được hay sao? Còn như vấn đề chồng lấn về phạm vi các khu đặc quyền kinh tế và thềm lục địa đang tồn tại giữa Trung Quốc và các nước khác cùng tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông thì đòi hỏi thông qua đàm phán phân định ranh giới vùng biển để giải quyết. Trên thực tế, đây cũng là vấn đề liên quan đến quan hệ giữa quyền lợi về khu đặc quyền kinh tế và quyền lợi về thềm lục địa với quyền lợi mang tính chất lịch sử. Đường đứt đoạn ở Biển Đông hoàn toàn không phải dựa vào “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” để vạch ra, mà trong quá trình lịch sử gần 100 năm từ khi bắt đầu xuất hiện cho đến hiện nay, đường đứt đoạn đó đã từng bước phát triển từ Bắc xuống Nam đến khoảng 4 độ vĩ Bắc. Chủ quyền mang tính lịch sử là một vấn đề phức tạp về luật quốc tế, “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” không phủ nhận quyền lợi mang tính lịch sử, cũng chưa bao giờ quy định quyền lợi mang tính lịch sử phải được thay thế bằng khu đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Sự thực lịch sử là trong thời gian hàng chục năm sau khi chính thức công bố đường đứt đoạn ở Biển Đông, các nước xung quanh và cộng đồng quốc tế không có phản đối gì. 

Nói tóm lại, một vấn đề cốt lõi và then chốt cần phải làm lắng dịu trong vấn đề Biển Đông hiện đang sôi động là: Chủ trương có quyền lợi ở Biển Đông của tất cả các quốc gia liên quan tranh chấp Biển Đông có phải đều là hợp pháp? Sự thực không được xem thường là: Một số nước như Việt Nam và Philíppin đang đối kháng với chủ trương hợp pháp của Trung Quốc bằng chủ trương trái phép; Trong khi đó Mỹ, nước tự xưng sẵn sàng làm người điều đình tranh chấp Biển Đông, và Nhật Bản là hai nước bề ngoài ra vẻ công bằng nhưng thực chất đang cố tình làm thiên lệch, chỉ trích chủ trương của Trung Quốc về Biển Đông, còn đối với các nước tranh chấp khác ở Biển Đông như Việt Nam, Philíppin và Malaixia thì họ hầu như bỏ qua tính chất phi pháp trong các hành động của các nước này về chủ trương quyền lợi ở Biển Đông. Tác giả bài viết này cho rằng trong khi phán xử về tính hợp pháp trong chủ trương quyền lợi ở Biển Đông của Trung Quốc, cũng đồng thời phải nhận định chủ trương quyền lợi của nước tranh chấp khác có hợp pháp hay không, nếu không mà chỉ phiến diện yêu cầu, thậm chỉ chỉ trích kiểu này kiểu khác đối với Trung Quốc thì đó không phải là công bằng, Trung Quốc cũng không thể chấp nhận. Vì thế, người Trung Quốc tuyệt đối không được rơi vào chiếc bẫy này, tức Trung Quốc không nên chủ động bàn đến “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển”, không bàn đến căn cứ luật pháp quốc tế, nghĩ rằng như vậy là Trung Quốc đã đuối lý phải né tránh. Từ lâu nay Trung Quốc một mặt áp dụng chính sách kiềm chế, không làm nóng vấn đề ở Biển Đông, không muốn nói nhiều, thậm chí là tránh không nói, nhưng mặt khác cho đến nay khi các nước xung quanh như Philíppin chưa chính thức bắt đầu đàm phán ngoại giao giải quyết vấn đề tranh chấp, thì dù là các nước đó hay Trung Quốc cũng đều không có nghĩa vụ đơn phương trình bày toàn diện với cộng đồng quốc tế chủ trương và căn cứ của mình về quyền lợi ở Biển Đông. Kỳ thực, cho đến nay bản thân Philíppin cũng chưa làm rõ được phạm vi quyền lợi ở Biển Đông mà họ chủ trương cuối cùng là ở đâu. Từ cuối năm ngoái đến nay Philíppin đã nhiều lần công khai đề xuất phải cùng với các nước ASEAN “phân định vùng tranh chấp Biển Đông và vùng tranh chấp Philíppin”. Tác giả bài viết cho rằng trong giai đoạn hiện nay Trung Quốc cơ bản chưa cần thiết, cũng chưa có nghĩa vụ phải đơn phương trình bày hết tất cả lá bài cuối cùng của mình, chưa cần thiết công khai toàn diện, phơi bày ra tất cả mọi căn cứ pháp lý của mình, đó cần phải là những nội dung trên bàn đàm phán. Một số nước không ngừng nhào nặn hoặc chỉ trích vấn đề mang tính hợp pháp trong chủ trương về quyền lợi ở Biển Đông của Trung Quốc, kỳ thực là những biểu hiện giật mình vì chột dạ, dụng ý của họ là nhằm đẩy lệch góc nhìn, chuyển dịch tiêu điểm mâu thuẫn, nhưng làm như vậy vừa không thể làm thay đổi được tính chất phi pháp trong chủ trương Biển Đông của họ, cũng vừa không thể phủ nhận được tính hợp pháp trong chủ trương của Trung Quốc. Trong khi đó lập trường không nói và ít nói mà Trung Quốc áp dụng cũng tuyệt đối không có nghĩa là không có cơ sở pháp luật và căn cứ lịch sử.

Tục ngữ Trung Quốc có câu “có lý không phải cứ to tiếng”. Tuy nhiên, để làm cho những người quan tâm một cách khách quan và thực lòng vấn đề Biển Đông có thể hiểu được tình hình chân thực và chuẩn xác, thay đổi và đề phòng tin đồn thất thiệt cứ thổi lên mãi, ngoài người phát ngôn báo chí, Trung Quốc còn phải tích cực chủ động lợi dụng nhiều kênh, áp dụng nhiều phương thức tuyên truyền nhiều hơn nữa trước và sau khi một số vấn đề có thể được nhào nặn trở thành điểm nóng, để làm cho vấn đề được nhìn nhận chân thực hơn. Hiệu quả tuyên truyền tích cực và hướng dẫn dư luận sẽ tốt hơn nhiều so với bị động đối phó trước những chỉ trích theo dụng ý riêng. Nói tóm lại, “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” không phải là “linh đơn thần dược” để giải quyết mọi vấn đề tranh chấp biển, mà chỉ là một phần cấu thành của luật pháp quốc tế, không thể thay thế các quy tắc khác trong luật quốc tế, lại càng không thể giản đơn đánh đồng “luật quốc tế” với “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” theo cách đánh tráo khái niệm. Trong phần mở đầu của “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” cũng có quy định rõ ràng đối với vấn đề này, cụ thể là “các nước ký kết bản Công ước này xác nhận Công ước chưa có quy định cụ thể, cần phải tiếp tục lấy các quy tắc và nguyên tắc trong luật quốc tế nói chung để làm căn cứ chuẩn mực”. “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” không phải là căn cứ duy nhất của luật quốc tế để nhận định hoặc giải quyết vấn đề yêu sách chủ quyền lãnh thổ Trường Sa, cũng như nhận định hoặc phủ nhận tính hợp pháp trong đường đứt đoạn ở Biển Đông của Trung Quốc. Những cách nói “cần lấy ‘Công ước của Liên hợp quốc về luật biển’ làm căn cứ giải quyết vấn đề Biển Đông”, “một số đảo-bãi thuộc quần đảo Trường Sa đều đã được hoạch định vào khu đặc quyền của các nước như Malaixia (hoặc: Đều ở trong phạm vi thềm lục địa của Malaixia), vì thế những đảo-bãi này đã được quy về quyền sở hữu nhà nước của Malaixia”, “Đường đứt đoạn của Trung Quốc ở Biển Đông không phù hợp với ‘Công ước của Liên hợp quốc về luật biển”... là hết sức phiến diện, thậm chí là sai lầm. Nếu không có dụng ý riêng thì ít nhất cũng là sự khiếm khuyết trong kiến thức thông thường về luật quốc tế./.

Tác giả Trương Hải Văn là Tiến sĩ luật học, Nghiên cứu viên, Phó ban nghiên cứu chiến lược phát triển biển, Cục Hải dương quốc gia Trung Quốc.

Lê Sơn (gt)

 

Bài viết của GS. Keyuan Zou, Khoa Luật, Đại học Trung tâm Lancashire, Vương quốc Anh, đăng trên Series đặc biệt của tạp chí Harvard Asia Quarterly của Trường Đại học Havard với chủ đề: "Tranh chấp biển- An ninh hàng hải tại Đông Á", (The Disputed Sea – Maritime Security in East Asia), phân tích hành vi của  Trung Quốc trong các tranh cấp biển đảo với các nước láng giềng, từ đó  đánh giá về khả năng tôn trọng luật biển của nước này.

GIỚI THIỆU

Nơi đâu có con người, nơi đó có xung đột và hợp tác. Cùng với sự trỗi dậy của Trung Quốc ở Châu Á, dường như các xung đột trên biển đang xảy ra thường xuyên hơn. Một dấu hiệu của điều này là Hải quân Nhật Bản đang bắt giữ ngư dân Trung Quốc, trong khi Hải quân Trung Quốc, đến lượt mình, lại bắt giữ ngư dân Việt Nam.

Rất nhiều nhân tố châm ngòi cho các xung đột trên biển ở Đông Á, Một nhân tố liên quan đến tranh chấp lãnh thổ nổi lên từ các xung đột trong lịch sử. Các tranh chấp xung quanh Quần đảo Dokdo giữa Nhật Bản và Hàn Quốc và Quần đảo Điếu Ngư giữa Trung Quốc và Nhật Bản có thể được cho là sự kế thừa của chủ nghĩa thực dân Nhật trước Thế chiến thứ hai. Vụ bắt giữ ngư dân Trung Quốc gần đây diễn ra trong vùng nước liền kề quần đảo Điếu Ngư, vẫn đang dưới sự kiểm soát của Nhật Bản.

Một nhân tố khác liên quan đến luật về phân định ranh giới biển trong các hiệp định quốc tế. Sau khi Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển năm 1982 có hiệu lực năm 1994,[1] các tranh chấp biên giới ngày càng gia tăng và gay gắt. Công ước cho phép các quốc gia có đường bờ biển mở rộng vùng biển nằm trong quyền tài phán của mình lên đến 200 hải lý tính từ đường cơ sở nơi lãnh hải được xác định. Quyền tài phán này được chia thành một vùng lãnh hải 12 hải lý và một thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) rộng 200 hải lý. Trong một số trường hợp, thềm lục địa có thể kéo dài lên đến 350 hải lý. Đáng chú ý là thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế là hai vùng biển mới được tạo ra theo Công ước về Luật biển. Nếu những vùng biển này không được thiết lập, sẽ không có tranh chấp biển nào giữa Trung Quốc và Nhật Bản ở Biển Hoa Đông, vì vùng nước này phân cách hai nước này bởi một khoảng cách là 360 hải lý. Trong những trường hợp này, xung đột biển đã bị làm trầm trọng thêm bởi sự tranh giành gay gắt về nguồn năng lượng ở các vùng biển. Trong việc theo đuổi phát triển kinh tế nhanh, các quốc gia ven biển phải đáp ứng nhu cầu năng lượng ngày càng tăng.

Sự mở rộng các vùng biển thông qua các hiệp định quốc tế đã làm phức tạp thêm xung đột trên biển. Công ước về Luật biển bao gồm các điều khoản cụ thể về các vùng đặc quyền kinh tế cho các đảo với các kích thước khác nhau. Theo tính toán, một đảo không thể duy trì sự sống của con người có thể có một vùng lãnh hải rộng 1.550km2, trong khi một đảo lớn mà có thể duy trì đời sống kinh tế hay sự cư trú của con người có thể có một vùng đặc quyền kinh tế rộng khoảng 420.000km2.[2] Đây là một trong số các lý do tại sao có sự gia tăng các yêu sách đối với các đảo nhỏ; thậm chí cả các đá nhỏ cũng gây ra tranh chấp giữa các nước. Các đá đó bản thân nó không quan trọng – nhưng có các nguồn tài nguyên sống còn nằm trong các vùng biển xung quanh chúng.

TRANH CHẤP TRÊN BIỂN

Thông thường, có ba loại tranh chấp trên biển ở Đông Á: tranh chấp chủ quyền đối với các đảo nhỏ; tranh chấp phân định ranh giới biển giữa các nước láng giềng; và tranh chấp xung quanh việc phân chia và sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên biển. Đối với loại tranh chấp đầu tiên, không có viễn cảnh nào cho một giải pháp hợp lý trong tương lai gần, bởi vì các quốc gia tranh chấp đã cương quyết khẳng định chủ quyền của mình đối với các đảo nhỏ và không có dấu hiệu nào cho thấy bất cứ bên nào sẽ nhượng bộ. Điều phức tạp hơn là thực tế, những yêu sách về chủ quyền này có liên hệ rất mật thiết với các phong trào của những người theo chủ nghĩa dân tộc. Điều này có thể thấy từ sự phản đối mạnh mẽ liên tục diễn ra ở Trung Quốc xung quanh quần đảo Điếu Ngư và ở Hàn Quốc đối với quần đảo Dokdo, chống lại Nhật Bản trong cả hai trường hợp. Hơn nữa, vào tháng 12 năm 2007, các cuộc biểu tình lớn diễn ra ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh phản ứng lại các hành động đơn phương của hải quân Trung Quốc ở trong và xung quanh các đảo tranh chấp ở Biển Đông. Do vậy, bất cứ giải pháp nào cho các tranh chấp lãnh thổ trên biển này tiếp tục vẫn ở một tương lai xa vời.

Việc phân định giới hạn biên giới biển như đã đề ra trong Công ước về Luật biển cũng đã là một nguồn gây ra căng thẳng, đặc biệt là giữa Trung Quốc và các nước láng giềng. Trung Quốc đã thừa nhận là họ có những tranh chấp về việc phân định ranh giới chưa giải quyết được với hai nước Triền Tiên, Nhật Bản, Philippines, Brunei, Malaysia, Indonesia, và Việt Nam. Mặc dù Trung Quốc và Việt Nam đã ký Hiệp định về việc phân định biên giới trên biển ở Vịnh Bắc Bộ, nhưng vẫn không có bước tiến nào trong việc thỏa thuận biên giới biển giữa Trung Quốc và một nước láng giềng nào. Một số cuộc đối thoại liên quan vẫn đang diễn ra, như giữa Trung Quốc và Hàn Quốc; thường có báo cáo là đã đạt được thỏa thuận chung chung nào đó giữa hai quốc gia, nhưng chưa từng khi nào đạt được tiến bộ đáng kể nào trong lĩnh vực này.[3] Mặc dù các nước ven biển chỉ được hưởng quyền chủ quyền và quyền tài phán ở thềm lục địa và Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ), hai vùng biển này lại đặc biệt quan trọng vì chúng có rất nhiều tài nguyên thiên nhiên và có thể dần dần được chuyển thành lãnh thổ có chủ quyền. Một sự biến chuyển tương tự đã từng xảy ra trong trường hợp vùng biển truyền thống - hay còn gọi là Lãnh hải - đã được mở rộng thành 12 hải lý chiều rộng 3 hải lý ban đầu.

Cùng với các yêu sách chồng lấn đối với các đảo nhỏ, những lập trường pháp lý khác nhau về việc phân định biên giới cũng là nhân tố cản trở các Hiệp định về biên giới biển. Ở Biển Hoa Đông, Trung Quốc đã tìm cách mở rộng phạm vi thềm lục địa với Nhật Bản, nhưng Nhật Bản kiên trì đường phân định ở giữa. Cho đến nay, chưa thấy dấu hiệu hòa hợp nào về vấn đề này.

May mắn là, nhiều tiến bộ đã đạt được trong việc quản lý các nguồn tài nguyên biển, cùng với việc ký kết Hiệp định về nghề cá giữa Trung Quốc - Nhật Bản năm 1997, Hiệp định về nghề cá giữa Nhật Bản và Hàn Quốc năm 1998, và Hiệp định về nghề cá giữa Trung Quốc và Hàn Quốc năm 2000. Những Hiệp định này được soạn thảo để quản lý các nguồn cá ở Biển Hoa Đông, Hoàng Hải, và Biển Nhật Bản. Theo đó, các khu vực quản lý đánh bắt cá chung đã được xác lập và duy trì. Mặc dù vậy, các nguồn tài nguyên biển vẫn còn là một nguồn của xung đột. Các biện pháp đơn phương của một quốc gia có thể bị một quốc gia khác coi là có ý đồ xấu. Ví dụ, khi Trung Quốc ra Nghị định tuyên bố một mùa cấm đánh cá ở Biển Đông -  trong suốt mùa hè, Việt Nam coi việc này là sự can thiệp vào chủ quyền của mình.

Trong lĩnh vực quản lý và phát triển tài nguyên, đặc biệt là dầu mỏ và khí tự nhiên, tình hình còn phức tạp hơn. Cần nhớ lại rằng, vào năm 1974, một Hiệp định giữa Nhật Bản với Hàn Quốc cùng phát triển dầu mỏ và khí đốt tại Biển Hoa Đông đã gặp phải phản đối quyết liệt từ phía Trung Quốc. Lợi ích của Trung Quốc với tư cách bên thứ ba ở cùng vùng biển này đã làm tê liệt các cuộc đàm phán. Trong những năm gần đây, Trung Quốc và Nhật Bản đã tranh cãi về mỏ dầu khí Chunxiao, cách đường yêu sách trung tuyến đơn phương của Nhật Bản ở Biển Hoa Đông chỉ 5km. Vụ tranh chấp ít ra đã được giải quyết một phần bởi một Hiệp định giữa Trung Quốc và Nhật Bản hồi tháng sáu năm 2008:  thiết lập một vùng phát triển chung ở Biển Hoa Đông liền kề với đường yêu sách trung tuyến của Nhật Bản, và cho phép các Công ty của Nhật phát triển mỏ dầu Chunxiao theo Luật của Trung Quốc.[4] Kết quả của Hiệp định phù hợp với tinh thần và các điều khoản của Công ước về Luật biển, đó là khuyến khích các quốc gia đưa ra những thỏa thuận dự phòng trong khi chờ giải quyết đường biên giới trên. Tuy nhiên, thật không may là, những sự kiện gần đây đã dẫn tới việc chậm trễ thực hiện Hiệp định.

Trung Quốc cũng phản đối mạnh mẽ các yêu sách trên biển của Nhật Bản đối với Okinotorishima, một rặng đá ngầm ở 20025' Bắc và 136005' Đông từ với cực Nam của Nhật Bản. Do bào mòn của nước biển, bề mặt của đá ngầm nhô lên khỏi mặt nước khi thủy triều lên đã dần dần thu hẹp lại. Kết quả là Đảo Bắc (Kitakojima) chỉ nhô lên có 16 centimet và Đảo Đông (Higashikojima) chỉ nhô lên có 6 centimet bên trên mực nước biển khi thủy triều lên.[5] Nếu cứ để yên như vậy, đá ngầm này có thể bị nước biển nhấn chìm. Từ năm 1987,  Nhật Bản bắt đầu đầu tư lớn (khoảng 300 triệu USD) để gia cố, nâng cao đá ngầm này để lấy đó làm cơ sở đòi hỏi thêm các quyền tài phán trên biển. Nếu thành công, Nhật Bản có thể tuyên bố chủ quyền một Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) rộng khoảng 400,000 km2 và một thềm lục địa rộng khoảng 740,000 km2 xung quanh đá ngầm này.[6] Trung Quốc bày tỏ mối quan ngại của mình rằng việc thừa nhận yêu sách của Nhật Bản đối với thềm lục địa từ đảo Okinotorishima "sẽ tạo ra một tiền lệ có thể dẫn tới sự xâm lấn biển ngoài khơi trong Khu vực ở mức độ lớn hơn nữa".[7] Có vẻ như là yêu sách trên biển của Nhật Bản sẽ ảnh hưởng tới lợi ích của Trung Quốc trong việc đánh bắt cá và nghiên cứu khoa học biển tai các vùng biển liền kề quanh đảo đá ngầm.

VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG

Ở Biển Đông, tranh chấp về quần đảo Trường Sa là vấn đề gai góc nhất. Tranh chấp này đã tồn tại từ lâu, bao gồm Trung Quốc, Đài Loan Trung Quốc, Malaysia, Việt Nam, Philippines, và Brunei. Trong lịch sử quan hệ quốc tế, thường không có nhiều nước cùng tuyên bố chủ quyền đối với những hòn đảo nhỏ như vậy.

Là người chơi chính, những nỗ lực và hợp tác của Trung Quốc là không thể thiếu để giải tỏa căng thẳng trong khu vực. Khi đàm phán về bộ quy tắc ứng xử, ban đầu Trung Quốc rất miễn cưỡng tham gia đàm phán ở cấp độ đa phương với ASEAN mặc dù đã đạt được một bộ quy tắc ứng xử song phương với Philippines năm 1995. Tuy nhiên, Trung Quốc đã dần dần thay đổi thái độ và bắt đầu xem xét khả năng và những lợi ích của việc đàm phán một bộ quy tắc ứng xử cấp khu vực. Sự thay đổi này có thể do hai lực đẩy cả từ bên trong lẫn bên ngoài. Từ bên trong Trung Quốc, có sự thúc đẩy hướng tới một chính sách đối ngoại thực dụng "ổn định khu vực láng giềng" (wending zhoubian) được coi  là một trong những ưu tiên hàng đầu. Dựa trên điều này, Trung Quốc phải duy trì một môi trường ổn định ở Biển Đông. Từ bên ngoài, nỗ lực và sức ép của các nước ASEAN đã thuyết phục được Trung Quốc rằng hợp tác với ASEAN là tất yếu nếu Trung Quốc muốn có một môi trường ổn định ở vùng này. Kết quả là năm 1999 Trung Quốc đã đưa ra đề xuất của riêng mình về bộ quy tắc ứng xử như là đáp ứng lại đề xuất của ASEAN.[8] Trung Quốc và các nước ASEAN đã tiến hành nhiều vòng đàm phán để phác thảo ra một Bộ Quy tắcỨng xử Chung cho khu vực Biển Đông.[9]

Ngày 4 tháng Mười một năm 2002, Trung Quốc và tất cả các nước thành viên ASEAN đã ký Tuyên bố về Cách Ứng xử của các bên tại Biển Đông (DOC 2002) ở Phnom Penh, Campuchia,[10] Có lẽ đây là văn kiện đáng kể nhất từng được ký kết giữa Trung Quốc và các quốc gia ASEAN. Tuyên bố được soạn thảo nhằm củng cố và phát triển tình hữu nghị và sự hợp tác giữa Trung Quốc và ASEAN nhằm thúc đẩy hòa bình ở Biển Đông. Nó được xây dựng trên các nguyên tắc và mục tiêu của Tuyên bố chung của Hội nghị Nguyên thủ Quốc gia/Người đứng đầu Chính phủ các quốc gia thành viên ASEAN và Trung Quốc năm 1997.Tuyên bố tái khẳng định cam kết của các bên nhằm sử dụng luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước về Luật biển để xây dựng lòng tin và hợp tác. Các bên bảo đảm tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông. Các bên dự định hợp tác trên các lĩnh vực sau:

·                 Bảo vệ môi trường biển

·                 Nghiên cứu khoa học biển

·                 An toàn hàng hải và giao thông liên lạc trên biển

·                 Các hoạt động tìm kiếm và cứu hộ

·                 Chông tội phạm quốc tế, bao gồm nhưng không chỉ giới hạn trong buôn bán ma túy, cướp biển có vũ trang và buôn lậu vũ khí.

Các quốc gia ký kết cam kết giải quyết các tranh chấp lãnh thổ và tranh chấp quyền tài phán bằng các biện pháp hòa bình, tiếp tục đàm phán về Biển Đông và kiềm chế để tránh các hành động khiêu khích.

DOC 2002 chứa đựng nhiều yếu tố từ đề xuất của Trung Quốc đưa ra trước đó. Việc ký kết của Trung Quốc có thể được coi như một cử chỉ thiện chí. Một dấu hiệu của việc đó là sau khi ký DOC, Trung Quốc và Philippines giảm bớt tầm quan trọng của các cuộc tập trận Hải quân gần vùng biển tranh chấp, tuyên bố rằng các cuộc tập trận đó đó không liên quan đến các tranh chấp lãnh thổ.

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, đã có những bước thụt lùi làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hiệu quả DOC năm 2002. Thứ nhất, có những quốc gia vẫn tiếp tục những hành động đơn phương trái với lời kêu gọi tự kiềm chế đã nêu trong DOC. Các hành động này bao gồm việc đến thăm các đảo tranh chấp, cũng như việc xây dựng và nâng cấp cơ sở vật chất ở các đảo. Thứ hai, chương trình chung ba bên giữa Trung Quốc, Philippines và Việt Nam sau khi hoàn thành phần thứ nhất thì nay đã ngừng các hoạt động, và có lẽ hình như khó có thể thấy chương trình đó sẽ được khôi phục lại trong một tương lai gần.

Thứ ba, gần đây Trung Quốc đã có sự chuyển hướng thái độtừ chủ nghĩa đa phương quay trở lại chủ nghĩa song phương. Như năm 2009, đại sứ Trung Quốc tại ASEAN khi đó đã phát biểu do ASEAN bao gồm cả các nước có yêu sách lẫn các nước không có yêu sách nên tổ chức này không thể là diễn đàn thích hợp cho việc thảo luận vấn đề Biển Đông. Do vậy, chính phủ Trung Quốc muốn giải quyết các tranh chấp lãnh thổ thông qua đàm phán song phương.[11] Sự thay đổi này có chút gì đó gây ngạc nhiên vì Trung Quốc trước đó không lâu vẫn ủng hộ mạnh mẽ DOC, coi như đó là cử chỉ thiện chí phù hợp với cách hành xử đa phương. Trung Quốc thậm chí còn tổ chức một số hội nghị thực thi ở nước mình. Câu hỏi lớn là liệu chủ nghĩa song phương có thực sự hiệu quả để giải quyết vấn đề Biển Đông hay không.

Trung Quốc là nhân tố quan trọng nhất trong an ninh khu vực. Sẽ có một số lo ngại như liệu Trung Quốc có chọn cách tiếp cận cứng rắn cho vấn đề Biển Đông không. Trong một điều trần tại Hạ Viện Hoa Kỳ ngày 13/1/2010, Tư lệnh quân lực Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương đô đốc Robert Willard nói rằng Hải quân Trung Quốc đã tăng cường tuần tra trên Biển Đông và đã "cho thấy sẵn sàng đụng độ với các nước trong khu vực ở biển cả và ở các chuỗi đảo đang tranh chấp"[12] Nếu các kịch bản được mô tả này là đúng, thì các quốc gia Đông Nam Á có lý do để lo lắng. Và điều này sẽ phá hoại tinh thần của DOC.

May mắn là, các nước ASEAN và Trung Quốc mới đây đã thỏa thuận nối lại đối thoại về việc thực thi có hiệu quả DOC.  Họ đang hướng tới một Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC).[13]

HỢP TÁC CHỐNG CƯỚP BIỂN TRONG KHU VỰC

Cướp biển là mối đe dọa thường xuyên đối với an ninh biển của toàn thể thế giới. Số liệu mới nhất cho thấy năm 2009 toàn thế giới có 406 vụ cướp biển, nhiều nhất kể từ năm 2003. Cướp biển ở Biển Đông cũng tăng lên vào năm 2009  -  từ Tháng 1 đến tháng 9 năm 2009,  có  đến mười vụ so với 3 vụ cùng thời kỳ năm 2008.

Trung Quốc đã nhận thấy rằng họ không thể một mình chống lại cướp biển ở các vùng biển liền kề. Hợp tác khu vực là cần thiết thì mới có hiệu quả. Nhằm mục đích này, Trung Quốc đã ký Tuyên bố chung về Hợp tác trong các vẫn đề an ninh phi truyền thống với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) tháng 11 năm 2002. Hiệp định này đòi hỏi hợp tác toàn diện giữa các nước ASEAN và Trung Quốc trong các vấn đề an ninh phi truyền thồng và xác định các kiểu hợp tác ưu tiên. Các ưu tiên đó bao gồm "chống vận chuyển ma túy trái phép, buôn lậu người kể cả phụ nữ và trẻ em, cướp biển, khủng bố, buôn lậu vũ khí, rửa tiền, tội phạm kinh tế quốc tế và tội phạm tin học." Trong cả hợp tác đa phương và song phương, có các mục tiêu sau:

·                 Tăng cường trao đổi thông tin

·                 Tăng cường trao đổi nhân sự, đào tạo và nâng cao việc xây dựng năng lực

·                 Tăng cường hợp tác thực tiễn trong các vấn đề an ninh phi truyền thống

·                 Tăng cường nghiên cứu chung về các vấn đề an ninh phi truyền thống

·                 Khảo sát các lĩnh vực và các mô hình hợp tác khác [14] 

Thêm vào đó, Tuyên bố DOC năm 2002 [15] nhằm mục tiêu ngăn chặn cướp biển và cướp có vũ trang trên biển. Thực ra, dựa vào Tuyên bố này, Trung Quốc đã bảo trợ nhiều hội thảo về các vấn đề an ninh phi truyền thống. Ví dụ Viện Nghiên cứu Hải Nam Trung Quốc đã tiến hành hội thảo đào tạo về an ninh biển ở eo biển Malacca cho các quan chức chính phủ các nước Đông Nam Á vào tháng 12 năm 2007.

Những nỗ lực này ở khu vực lên tới đỉnh điểm trong Hiệp định quan trọng nhất khu vực về chống cướp biển: Hiệp định Hợp tác Khu vực về chống Cướp biển và cướp có vũ trang đối với tàu thuyền tại châu Á (ReCAAP) ký tháng 11/2004.  Hiệp định có hiệu lực từ tháng chín năm 2006, bắt buộc các nước ký kết phải:

·                 Ngăn chặn và tiêu diệt cướp biển và cướp bóc có vũ trang đối với các tàu biển

·                 Bắt giữ cướp biển hoặc những kẻ phạm vào việc cướp bóc có vũ trang đối với các tàu biển

·                 Bắt giữ tàu biển hoặc máy bay dùng vào việc cướp biển hoặc cướp bóc có vũ trang đối với các tàu biển

·                 Cứu hộ những tàu biển nạn nhân và những nạn nhân của cướp biển hoặc cướp bóc có vũ trang đối với các tàu biển[16]. Ngăn chặn cướp biển hoặc cướp bóc có vũ trang đối với các tàu biển tới hết mức có thể phù hợp với luật pháp và quy định quốc gia tương ứng và phù hợp với nguồn lực và năng lực của mình

·                 Hỗ trợ pháp lý lẫn nhau cũng như dẫn độ nhằm tiêu diệt và trừng trị cướp biển.

Ngoài các điều khoản này ra, hiệp định còn thành lập một Trung tâm Chia sẻ Thông tin (ISC). Trung tâm chính thức hoạt động vào tháng 11 năm 2007 tại Singapore.[17]

ReCAAP là hiệp định quốc tế đặc thù đầu tiên nhằm ngăn chặn và tiêu diệt cướp biển. Bởi vì điều này còn mới mẻ nên nó trở thành khuôn mẫu cho các giàn xếp pháp lý khác ở khu vực. Có tin là một Bộ Quy tắc ứng xử tương tự cũng đã được ký kết ở Tây Ấn Độ Dương.

Đặc biệt để xử lý riêng về vấn đề eo biển Malacca, chính phủ  Singapore và IMO đã cùng triệu tập "Hội nghị về Eo biển Malacca và Singapore: Nâng cao An toàn, An ninh và Bảo vệ Môi trường". Tại  Hội nghị này, Cơ chế Hợp tác cho  Eo biển Malacca và Singapore đã được thành lập năm 2007.  Cơ chế bao gồm Diễn đàn Hợp tác, Ủy ban Dự án Hợp tác, và Quỹ Hỗ trợ Hàng hải. Trung Quốc là một trong số các nước ở khu vực bày tỏ sự ủng hộ mạnh mẽ cho sáng kiến này.

PHÂN ĐỊNH BIÊN GIỚI BIỂN

Thỏa thuận chính thức duy nhất liên quan đến việc phân định biên giới biển giữa Trung Quốc và các nước láng giềng là Hiệp định giữa Trung Quốc – Việt Nam về việc phân định biên giới biển ở Vịnh Bắc Bộ. Để hiểu được trường hợp này, cần xem xét  bối cảnh rộng hơn  của quan hệ biên giới Việt-Trung.

Hai nước bình thường hóa quan hệ ngoại giao vào tháng 11 năm 1991, sau một thời gian dài căng thẳng tiếp theo cuộc Chiến tranh Biên giới Trung-Việt năm 1979.  Các vấn đề biên giới tiếp tục là một vấn đề nhạy cảm trong quan hệ song phương; thực tế, cuộc Chiến tranh Biên giới Trung-Việt đã bắt đầu với vô số vụ va chạm có vũ trang dọc theo biên giới. Chính vì vậy mà cả hai bên đều đưa vấn đề biên giới thành ưu tiên số một để giải quyết các tranh chấp sau khi bình thường hóa quan hệ ngoại giao. Tháng 10  năm 1993,  hai bên ký kết một hiệp định đưa ra những nguyên tắc cơ bản để giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ. Theo đó, hai bên cam kết không tiến hành các hoạt động có khả năng làm phức tạp thêm các tranh chấp trong tiến hành các cuộc đàm phán.

Cũng nên nhớ rằng, trong khi Hiệp ước Pháp-Thanh năm 1887 phân định biên giới Trung -Việt áng chừngkhông có sự phân giới chính xác nào diễn ra. Đây chính là một nguồn gốc gây ra căng thẳng và xung đột. Năm 1999, cuối cùng thì hai quốc gia cũng đạt được một thỏa thuận về biên giới trên đất liền. Cuối năm 2008, đường phân giới đã hoàn thành.

Hiệp định Vịnh Bắc Bộ cho thấy hai bên đã có nỗ lực như nhau để phân định đường biên giới trên biển. Hiệp định này được ký kết sau nhiều vòng đàm phán vào năm 2000. Theo Hiệp định này, chiều dài của đường phân định khoảng 500 km. Đường này có 21 mốc địa lý, trong đó từ mốc 1 đến 9 phân định lãnh hải và các điểm từ 9 đến 21 phân định các Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ)  và các thềm lục địa của hai nước ở Vịnh Bắc Bộ.[18] Vì đây là Hiệp định đầu tiên thuộc dạng này mà Trung Quốc đạt được với các nước láng giềng, Hiệp định này có thể là một tấm gương tốt. Với Việt Nam, Hiệp định biên giới biển này cũng được đánh giá là toàn diện mà nước này đạt được. Tuy nhiên, trong trường hợp này, nó lại chỉ là cái thứ hai trong ba hiệp định biên giới Việt Nam đã ký với các quốc gia láng giềng.

 

Trung Quốc và Việt Nam cũng ký đã một hiệp định mới về quản lý nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ.  Hiệp định này quy định sử dụng hợp lý và phát tiển bền vững các nguồn cá và thiết lập Vùng đánh cá chung rộng khoảng 30.000 km2. Theo một khảo sát khoa học, việc đánh bắt cá bền vững ở Vịnh là 600.000 tấn mỗi năm; song trong những năm gần đây, lượng cá đánh bắt của cả hai nước Trung Quốc và Việt Nam đã đạt tới một triệu tấn. Do đó, sự quản lý bền vững song phương các nguồn cá là một biện pháp được đón nhận để ngăn ngừa suy kiệt nguồn tài nguyên cá.

Vịnh Bắc Bộ là một vùng biển chung nhau giữa Trung Quốc và Việt Nam. Bằng cách ký kết các hiệp định nói trên, hai quốc gia đã mở ra một giai đoạn mới cùng hợp tác trên biển trong quan hệ song phương. Nhằm thực hiện hiệu quả các hiệp định, hai bên đã tiến hành tuần tra chung và khảo sát khoa học. Cùng với đó, hai bên cũng đã ký một hiệp định khung về hợp tác thăm dò dầu khí trong tương lai ở Vịnh Bắc Bộ.

QUẢN LÝ CÁC NGUỒN CÁ

Ngoài Việt Nam, Trung Quốc cũng đã kýcác hiệp định về nghề cá với Nhật Bản và Hàn Quốc. Mặc dù các hiệp định này mới nhìn có vẻ không có giá trị lắm, song trên thực tế chúng có đóng góp lớn đề thúc đẩy các quan hệ ngoại giao trên biển.

Đối với Trung Quốc và Nhật Bản, hiệp định về nghề cá là một bước quan trọng tiến tới giải quyết vấn đề biên giới biển. Việc Công ước LHQ về Luật Biển có hiệu lực vào năm 1994 dẫn tới hỗn loạn hoàn toàn. Vì nơi rộng nhất của Biển Hoa Đông cũng chỉ nhỏ hơn 400 hải lý, nên chiều dài của các Vùng đặc quyền kinh tế EEZ được gán cho trong hiệp định  thực tế có nghĩa là các vùng biển của Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc sẽ chồng lấn lên nhau. Tình trạng này không bền vững; các bên cần điều chỉnh nhằm tránh các xung đột về lợi ích trong việc đánh bắt cá.

Sau một số vòng thương lượng, Trung Quốc và Nhật Bản đạt được một Hiệp định về quản lý nghề cá ở Biển Hoa Đông tháng chín năm1997.[19] Hiệp định này có hiệu lực vào tháng sáu năm 2000. Hiệp định có một số điều khoản quan trọng nhằm đáp ứng với tình hình đã thay đổi. Trước hết, hiệp định tái khẳng định nguyên tắc bảo vệ và bảo tồn nguồn cá. Điều này chiểu theo các điều khoản tương ứng trong Công ước LHQ về Luật Biển và những đòi hỏi về môi trường của Agenda 21. Hai bên đồng ý hợp tác để tiến hành nghiên cứu khoa học về nghề cá và bảo tồn các tài nguyên sống ở biển.[20] Khi tham gia vào các hoạt động đánh bắt cá tại EEZ của một nước khác, ngư dân phải tôn trọng các biện pháp bảo tồn và các luật liên quan khác của nước đó. Các quốc gia cần thông tin cho nhau về các luật và quy định tương ứng về bảo tồn nghề cá.[21]

Hai là, Trung Quốc cho ngư dân Nhật Bản quyền được đánh bắt cá trên EEZ của mình và ngược lại. Các nhà chức trách có thẩm quyền của mỗi quốc gia cấp giấy phép đánh bắt cá cho người và tầu đánh cá của nước bên kia và có thể thu một khoản phí thích hợp khi cấp các giấy phép đó. Việc cấp phép cần tuân theo các điều khoản tương ứng của Hiệp định. Tuy nhiên, cần phải cấp bao nhiêu giấy phép và bao nhiêu tấn cá được phép đánh bắt là một vấn đề khó khăn và phức tạp đòi hỏi tiếp tục đàm phán. Hơn nữa, Hiệp định cũng không bao gồm khu vực EEZ nằm ở phía nam 270 Bắc và phía tây của 125030' Đông trong Biển Hoa Đông, là các vùng có Đài Loan và quần đảo Điếu Ngư đang tranh chấp.

Thứ ba là, Hiệp định thành lập một Ủy ban Liên hợp về Nghề cá Trung-Nhật để thực hiện Hiệp định. Ủy ban gồm có bốn thành viên, mỗi bên cử ra hai người. Các quyết định dựa trên sự đồng thuận của các thành viên. Cả hai quốc gia phải tôn trọng các khuyến nghị của Ủy ban đưa ra và tiến hành các biện pháp phù hợp với các quyết định đó. Ủy ban có thể được triệu tập hàng năm hoặc ở Trung Quốc hoặc ở Nhật Bản. Nếu cần, cũng có thể có những cuộc họp bất thường.[22] Những dàn xếp tương tự cũng có trong các hiệp định nghề cá giữa Trung Quốc và Hàn Quốc và giữa Trung Quốc và Việt Nam.

Cuối cùng, Hiệp định về nghề cá cũng tạo ra một số bước tiến trong việc phân định biên giới biển bằng việc thiết lập một khu vực áp dụng các biện pháp tạm thời (Provisional Measures  Zone - PMZ).  PMZ  nằm ở giữa Biển Hoa Đông, cách đường cơ sở của Trung Hoa đại lục và bờ biển của đảo Ryukyu 52 hải lý. Giới hạn phía Bắc của đường này là vĩ tuyến 30040'Bắc và giới hạn phía Nam của đường này là vĩ tuyến 270 Bắc. Hai bên đồng ý bảo vệ các nguồn hải sản sống trong khu vực PMZ, dựa trên các quyết định của Ủy ban Liên hợp về nghề cá. Mỗi quốc gia chịu trách nhiệm đối với người của nước mình đánh bắt cá trong vùng PMZ, nhưng không nên áp đặt các biện pháp đối với người của nước kia đang hoạt động ở đó.

Việc thiết lập một khu vực đánh bắt cá chung là một dạng thức điển hình về hợp tác đánh bắt cá được thấy ở nhiều nơi trên thế giới. Do vậy, khu vực PMZ  Trung-Nhật không có gì mới. Cái mới ở đây là, khu vực PMZ này là khu vực đầu tiên giữa Trung Quốc và Nhật Bản  - nó cho thấy việc hợp tác trên biển giữa hai quốc gia đã đi vào một thời kỳ mới.

KẾT LUẬN

Trong quan hệ quốc tế, xung đột và hợp tác luôn tồn tại cùng với nhau. Trung Quốc và các nước láng giềng không phải là ngoại lệ. Ta chỉ có thể hy vọng rằng xung đột trong khu vực có thể giảm thiểu đến mức tối đa và hợp tác ngày càng được thúc đẩy và làm sâu sắc hơn nữa.

Công ước LHQ về Luật Biển đã thiết lập một chế độ hoạt động theo pháp luật cho các đại dương. Công ước được mô tả như là một bản "hiến pháp” cho các dại dương.[23] Tuân thủ luật pháp quốc tế là một trong những đòi hỏi đối với các quốc gia trong quan hệ quốc tế, Công ước LHQ về Luật Biển làm được nhiều hơn là chỉ đưa ra những điều luật. Một điều khoản đặc biệt yêu cầu các quốc gia thành viên phải phối hợp các hoạt động bảo tồn và nghiên cứu khoa học của mình trong khu vực.[24] Điều khoản này có lẽ ở điểm nào đó cũng được mở rộng sang cả lĩnh vực an ninh biển.

Vì Trung Quốc đang trỗi dậy, nước này chắc chắn đang hướng lợi ích của mình ra biển. Cần nhớ lại rằng năm 2005, Trung Quốc kỷ niệm 600 năm ngày sinh của Zheng He,[25] một nhà hàng hải vĩ đại triều Minh (1368-1644),  người đã lãnh đạo các hạm đội của Trung Quốc qua bảy cuộc viễn du tới Tây Phi đầu thế kỷ thứ 15. Làm lễ kỷ niệm Zheng He biểu hiện ý định của chính phủ Trung Quốc làm sống lại vinh quang hải quân Trung Quốc trong quá khức. Mặt khác, hải quân Trung Quốc hiện nay đang mở rộng hoạt động của mình ra ngoài vùng biển khơi và đang bàn xem liệu có nên trang bị tàu sân bay không. Rõ ràng là Trung Quốc đang quyết tâm trở thành cường quốc biển một lần nữa.

Tuy nhiên, những tham vọng này có thể khiến các nước láng giềng nghi ngờ liệu Trung Quốc có thực sự là thành viên có trách nhiệm trong các vấn đề quốc tế hay không, đặc biệt đối với các vấn đề an ninh biển. Một hình ảnh quá quyết đoán có khả năng phá hoại mục đích của Trung Quốc biến cả Biển Hoa Đông và Biển Đông thành vùng biển của hòa bình, hợp tác và hài hòa. Vì lý do đó mà cần đề xuất một kiểu "quyền lực thông minh" đối với chính sách biển của Trung Quốc. Nếu làm được điều này, Trung Quốc có khả năng tạo thành một tấm gương tốt cho các quốc gia khác ở châu Á noi theo. Nếu các quốc gia trong khu vực cùng hành động thì hòa bình và an ninh trên biển mới có thể được duy trì dài lâu.

GS. Keyuan Zou, Khoa Luật, Đại học Trung tâm Lancashire, Vương quốc Anh

Quang Hưng dịch

Bản gốc tiếng Anh “CAN CHINA RESPECT THE LAW OF THE SEAS?: An Assessment of Maritime Agreements Between China and its NeighborsBài viết được in trong Series đặc biệt của tạp chí Harvard Asia Quarterly với chủ đề "The Disputed Sea - Maritime Security in East Asia" tháng 12/2010.

Đề nghị chỉ được dẫn đường link bài viết này,  không cắt đăng lại khi chưa có sự đồng ý của Ban Biên tập NCBĐ.

 



[1] Toàn văn có tại http://www.un.org/Depts/los/convention_agreements/texts/unclos/closindx.htm, truy cập 4 Tháng 11 năm 2010.

[2] Li Haiqing, "Reflections on Our Strategy for Ocean Development in East Asian Seas," Ocean Development and Management (tiếng Trung) 1 (2005): 10.

[3] Cuộc họp lần thứ 13 giữa Trung Quốc và Hàn Quốc được tổ chức tại Qingdao, Trung Quốc vào ngày 4/7/2008.

[4] Toàn văn Hiệp định, xem: http://www.chinadaily.com.cn/china/2008-06/18/content_6774860.htm,, truy cập ngày 19/6/2008.

[5] Yann-huei Song, "Okinotorishima: “A ‘Rock’ or an ‘Island’? Recent Maritime Boundary Controversy between Japan and Taiwan/China,” Maritime Boundary Disputes, Settlement Processes, and the Law of the Sea, ed. Seoung-Yong Hong and Jon M. Van Dyke (Leiden: Martinus Nijhoff, 2009), 148.

[6] Qin Jize, Li Xiaokun và Cheng Guangjin, "Japan Atoll Expansion ‘Hurt Neighbors’," China Daily, 11/2/2010, truy cập ngày 14/10/2010  http://www.chinadaily.com.cn/world/2010-02/11/content_9461259.htm

[7] "Proposal for the inclusion of a supplementary item  in the agenda of the nineteen Meeting of States Parties: Note verbale Dated 21 May 2009 from the Permanent Mission of China to the United Nations addressed to the Secretary-General”, SPLOS 196, 22/5/2009,  truy cập ngày 14/10/2010, http://daccess-dds-ny.un.org/doc/UNDOC/GEN/N09/346/61/PDF/N0934661.pdf?OpenElement

[8] Hai đề xuất này được in lại trong Selected Foreign and Chinese Articles on the South China Sea(2001), ed. Hainan Research Institute for the South China Sea (Hainan: Haikou, 2002) (in Chinese), 180-183.

[9] Các bản dự thảo Quy tắc ứng xử của cả ASEAN và Trung Quốc được in lại trong Collection of Selected Foreign and Chinese Papers on the South China Sea, 180-183.

[10] Toàn văn có tại http://www.aseansec.org/13163.htm, truy cập ngày 18/10/2010.

[11] “Beijing: South China Sea Territorial Disputes Not on ASEAN Agenda,” VOA News, chỉnh sửa lần cuối ngày 21/10/2009, http://www.voanews.com/english/2009-10-21-voa20.cfm, truy cập ngày 11/11/2009.

[12] "Choppy Waters: East and south, China makes a splash," Economist bản in ngày 21/1/2010, truy cập ngày 15/10/2010 http://www.economist.com/world/asia/displaystory.cfm?story_id=15331153.

[13] Xem "Press Release on the 13th ASEAN – China Summit,”" Hà Nội, ngày 29/10/2010, truy cập ngày 1/11/2010,  http://asean2010.vn/asean_en/news/36/2DA9D9/Press-release-on-the-13th-ASEAN-CHINA-summit

[14] Xem "Joint Declaration of ASEAN and China on Cooperation in the field oì Non-Traditional Security Issues, 6th ASEAN-China Summit," 4/11/2002, truy cập ngày 18/10/2010 http://www.aseansec.org/13185.htm

[15] "Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea", truy cập ngày 18/10/2010, http://www.aseansec.org/13163.htm

[16] Điều 3 ReCAAP. Toàn văn tại "Regional Cooperation Agreement on Combating Piracy and Armed Robbery against Ships in Asia," truy cập 18/10/2010, http://www.recaap.org/about/pdf/ReCAAP%20Agreement.pdf

[17] Thông tin về các hoạt động của trung tâm này có tại http://www.recaap.org/index_home.html

[18] Chi tiết xem Zou Keyaun, “The Sino-Vietnamese Agreement on Maritime Delimitation in the Gulf of Tokin,” Ocean Development and International Law 36 (2005): 13-24.

[19] Hiệp định nghề cá giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Nhật Bản, Tháng 11/1997. Bản dịch Tiếng Anh không chính thức có tại Zou Keyuan, Law of the Sea in East Asia: Issues and Propects (London: Routledge, 2005), 175-180.

[20] Điều 10 Hiệp định Nghề cá Trung – Nhật

[21] Điều 4 Hiệp định Nghề cá Trung – Nhật

[22] Điều 11 Hiệp định Nghề cá Trung – Nhật.

[23] Xem Tommy Koh, "A Constitution for the Oceans", trong The Law of the Sea: United Nations Convention on the Law of the Sea with Index and Final Act of the Third United Nations Conference on the Law of the Sea (New York: United Nations, 1983), xxxiii.

[24] Điều 123 Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển.

[25] Chi tiết, xem "Envoy of Peace: in Commemoration of the 600th Anniversary of Zheng He’s Great Voyages (1405-1433)", truy cập ngày 16/2/2010, http://www.chinaculture.org/gb/en_focus/node_2478.htm. Khi thủ tướng Ôn Gia Bảo phát biểu tại Đại học Cambridge tháng 2/2009, ông đã mô tả Zheng He là "một sứ giả đích thực của tình yêu và hữu nghị", xem: "Premier Wen Says Cooperation Top Priority to Tackle Financial Crisis", sửa đổi lần cuối 3/2/2009, truy cập 16/2/2010, http://au.china-embassy.org/eng/xw/t535003.htm

 

 

Ngôn ngữ