2 - 7 - 2020 | 19:47
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home
Tag:kinh tế

Những điều chỉnh trong chiến lược của Trung Quốc đối với Biển Đông đã có những thay đổi rõ rệt. Điều này dựa trên mối liên hệ giữa chính sách Biển Đông của Trung Quốc với những diễn biến mới trong bối cảnh quốc tế, chính trị nội bộ của Trung Quốc, đặc biệt là gắn nó với chiến lược an ninh - đối ngoại của Bắc Kinh hiện nay. Do đó chiến lược giấu mình chờ thời hay “ ngoại giao hài hòanhường chỗ cho chiến lược an ninh và đối ngoại mang tính khẳng định hơn, chủ động và hiếu chiến hơn nhằm gây sức ép với các nước tranh chấp trong khu vực.

(Phần II)

 

 


Để hiểu được động cơ đằng sau những thay đổi trong cách hành xử của Trung Quốc ở Biển Đông, cần phải đặt chính sách Biển Đông của Trung Quốc trong mối liên hệ với những diễn biến mới trong bối cảnh quốc tế, chính trị nội bộ của Trung Quốc, đặc biệt là gắn nó với chiến lược an ninh - đối ngoại của Bắc Kinh hiện nayCó thể nhận định, điều chỉnh chính sách của Trung Quốc  Biển Đông nằm trong thay đổi chiến lược an ninh và đối ngoại của Bắc Kinh trong bối cảnh quốc tế và trong nước có nhiều nhân tố mới.

Thay đổi cơ bản nhất trong môi trường chiến lược quốc tế là việc sức mạnh tổng hợp của Trung Quốc tăng mạnh làm cho khoảng cách kinh tế, quân sự, và quốc phòng giữa Mỹ và Trung Quốc ngày càng thu hẹp, cho cán cân quyền lực kinh tế và quân sự chuyển dịch theo hướng có lợi cho Trung Quốc. Trung Quốc vươn lên mạnh mẽ vượt Đức và Nhật, trở thành nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới trong lúc Mỹ suy yếu tương đối sau cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế, gặp khó khăn cả bên trong và bên ngoài. Một phần nguồn lực kinh tế được đầu tư để hiện đại hóa quốc phòng, đặc biệt là hải quân. Đô đốc Mike Mullen, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Mỹ, nhận định rằng ý đồ chiến lược đằng sau sự phát triển các khả năng quân sự mới của Trung Quốc dường như tập trung vào lực lượng hải quân Mỹ và căn cứ quân sự của Mỹ ở khu vực này của thế giới[1].

Thực lực kinh tế hùng mạnh, đặc biệt là kho dự trữ ngoại hối to lớn và vị thế hàng đầu trong nền thương mại quốc tế cho phép Trung Quốc có khả năng tác động mạnh đến kinh tế thế giới, không những thoát khỏi thế phụ thuộc vào Mỹ để phát triển mà còn đưa siêu cường này vào một tình thế “phụ thuộc sống còn về kinh tế” [mutually economic destruction][2]. Đó là lý do tại sao, Trung Quốc ngày càng tỏ ra tự tin, ngạo mạn, không còn “giấu mình chờ thời”, mà chủ động phô diễn sức mạnh về quân sự và sẵn sàng nói không với Mỹ trên nhiều vấn đề. Trung Quốc tận dụng mọi cơ hội để thay đổi luật chơi, gạt bỏ vai trò chủ đạo của Mỹ. Hiện nay, Trung Quốc là một đầu tàu kinh tế, là một bên chủ yếu nắm giữ chìa khóa đối với nhiều vấn đề chính trị tại khu vực và đang muốn chứng tỏ vai trò là cường quốc quân sự châu Á duy nhất tại Đông Á, thách thức vai trò siêu cường của Mỹ ở khu vực.

Lợi dụng việc Mỹ sa lầy trong cuộc chiến ở Áp-ga-ni-xtan và I-rắc, bối rối trong cách ứng phó với CHDCND Triều Tiên và I-ran, bận rộn xử lý vấn đề I-xra-en và Pa-le-xtin, Trung Quốc tìm cách từng bước lấn lướt Mỹ ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Từ 2002 đến 2007, Trung Quốc phát huy ảnh hưởng đối với các nước Đông Nam Á qua các cơ chế ASEAN+1, ASEAN+3, Cấp cao Đông Á, Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO)… để đối trọng với hệ thống an ninh “trục và nan hoa” của Mỹ. Tháng 3/2003, Trung Quốc tham gia Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác (TAC) và cùng với ASEAN thông qua Tuyên bố chung về Đối tác chiến lược ASEAN-Trung Quốc. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng đẩy mạnh ảnh hưởng ở khu vực Đông Nam Á thông qua các kênh song phương. Tháng 4/2005, Trung Quốc và In-đô-nê-xi-a ký tuyên bố chung về xây dựng quan hệ đối tác chiến lược. Tháng 4/2006, Trung Quốc và Cam-pu-chia thông qua Chương trình Đối tác Hợp tác Toàn diện. Tháng 5/2007, Trung Quốc và Thái Lan ký Chương trình Hành động cho Hợp tác Chiến lược. Ngoài ra, còn có một loạt các thỏa thuận hợp tác an ninh song phương giữa Trung Quốc với Ma-lai-xi-a, Việt Nam, Bru-nây, Xinh-ga-po, Phi-lip-pin và Lào. Từ 2002 đến 2008, Trung Quốc và 10 nước ASEAN trao đổi 124 đoàn quan chức quốc phòng cao cấp cùng với các hoạt động tham vấn thường xuyên với 10 nước này[3]. Bằng cách đó, Trung Quốc đã nâng cao vai trò và vị thế của mình ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương một cách tương đối so với vai trò và vị thế của Mỹ và Nhật Bản.

Ở trong nước, chính quyền Bắc Kinh ngày càng phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc thực hiện hai mục tiêu cơ bản xuyên suốt của mình là (i) duy trì ổn định chính trị và phát triển kinh tế, cơ sở cho tính chính đáng của Đảng Cộng sản, và (ii) ngăn chặn các làn sóng bạo loạn, ly khai trong các cộng đồng sắc tộc thiểu số ở các vùng biên cương. Quá trình đổi mới kinh tế mà không đổi mới chính trị buộc các nhà lãnh đạo thực dụng của Trung Quốc phải tìm kiếm các cơ sở chính đáng mới ở chủ nghĩa dân tộc. Thứ nhất, Đảng Cộng sản Trung Quốc thể hiện họ lãnh đạo dân tộc để bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc, từ Tây Tạng, Tân Cương đến Đài Loan và Biển Đông. Bên cạnh đó, con bài chủ nghĩa dân tộc đã được sử dụng tương đối thành công khi Trung Quốc phải đối mặt với các thế lực thù địch từ bên ngoài, ví dụ như trong việc Bắc Kinh phản đối Mỹ và Phương Tây trong các vấn đề dân chủ, nhân quyền, can thiệp vào các vấn đề Tây Tạng, Tân Cương và Đài Loan, bảo vệ hình ảnh của Trung Quốc trong Thế vận hội Olympic 2008, và gần đây nhất là bảo vệ tàu và ngư dân Trung Quốc bị Nhật Bản bắt[4]. Đáng chú ý, một học giả Mỹ phát hiện ra một thực tế rằng các phương tiện thông tin đại chúng của Trung Quốc đưa tin nhanh và tuyên truyền rộng rãi, mạnh mẽ về vấn đề tranh chấp biển đảo, trong khi đưa tin mờ nhạt về các tranh chấp biên giới trên bộ, và nhận định đó có thể là một sách lược để nuôi dưỡng tinh thần dân tộc và lấy đó là cơ sở để duy trì tính chính đáng của chính quyền cộng sản. Thứ hai, tính chính đáng của Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng dựa trên việc trợ giúp các doanh nghiệp của Trung Quốc tiếp cận các nguồn tài nguyên chiến lược. Từ đầu thế kỷ 21 đến nay, để thỏa mãn một đại công xưởng tăng trưởng mạnh mẽ và không ngừng, Trung Quốc cần một lượng tài nguyên khổng lồ. Chính quyền cộng sản sử dụng triệt để các công cụ chính trị và kinh tế để hỗ trợ cho các doanh nghiệp của Trung Quốc vươn ra mạnh mẽ để giành quyền tiếp cận các nguồn tài nguyên chiến lược, từ Mỹ La-tinh đến châu Phi, Trung Đông và các khu vực xung quanh Trung Quốc. Chính vì thế, Trung Quốc gạt Mỹ và phương Tây ra khỏi Xu-đăng và nhiều nước châu Phi và Mỹ La-tinh khác để giành được các hợp đồng khai thác tài nguyên thô. Trong bối cảnh đó, nguồn tài nguyên ở Biển Đông, cả dầu mỏ và nguồn cá (đã được báo chí Trung Quốc thổi phồng) là một “miếng mồi” không thể bỏ qua. Thứ ba, chính sách đối ngoại của Bắc Kinh cũng chịu sự ảnh hưởng của cạnh tranh giữa các lực lượng, phe phái chính trị trong nội bộ Trung Quốc.

Chính sách đối với Biển Đông của Trung Quốc cần được xem xét trong tổng thể chiến lược an ninh và phát triển của nước này nhằm vươn lên thành một cường quốc toàn cầu. Chứng kiến sự vươn ra mạnh mẽ của Trung Quốc, một học giả nhận xét rằng “sự bành trướng của Trung Quốc trên Biển Đông chỉ là một phần của kế hoạch bành trướng tổng thể, bao gồm “bành trướng cứng” như bành trướng trên biển, trên đất liền, và bành trướng mềm như tăng cường hiện diện ở tất cả các nơi có tiềm năng lợi ích về tài nguyên, dầu mỏ, địa chính trị, v.v... cho Trung Quốc”[5].

Mong muốn trở thành cường quốc toàn cầu của Trung Quốc đã bộc lộ từ thời Mao Trạch Đông, khi Bắc Kinh tự coi mình là lãnh tụ của các nước thế giới thứ ba trong cuộc đấu tranh với hai siêu cường và các nước công nghiệp phát triển. Định hướng chiến lược này, tuy nâng Trung Quốc lên hàng một cường quốc trung gian giữa Mỹ và Liên Xô, nhưng lại không thể giúp Trung Quốc có được nguồn vốn và công nghệ cần thiết để phát triển kinh tế. Dưới thời Đặng Tiểu Bình, Trung Quốc chuyển sang mục tiêu chiến lược “bốn hiện đại hóa”, đồng thời áp dụng phương châm “giấu mình chờ thời”. Ước vọng toàn cầu được giấu đi, kìm nén, không được cụ thể hóa, chỉ nói chung chung là phấn đấu cho một trật tự thế giới công bằng, dân chủ và “đa cực hóa”. Sau một phần tư thế kỷ “cải cách khai phóng”, Trung Quốc đã từ một nước nghèo nàn lạc hậu vươn lên thành một nước công nghiệp hóa mới, trở thành một đầu tàu tăng trưởng của thế giới, với tổng sản phẩm xã hội đứng thứ 4 thế giới (2006) và một viễn cảnh sẽ vươn lên dẫn đầu thế giới sau nửa thế kỷ tiếp theo. Những điều này một mặt khiến nhiều nước, nhất là Mỹ, lo ngại Trung Quốc là đối thủ tiềm tàng của họ, mặt khác cũng khiến bản thân Trung Quốc khó lòng kiềm chế trong việc bày tỏ tham vọng. Một biểu hiện của việc thiếu kiềm chế là Trung Quốc cố sức tự đưa người vào vũ trụ trong khi thu nhập quốc dân đầu người vẫn còn ở mức nghèo (hơn 1000 đôla), một việc làm mà nhiều nước phát triển cao có khả năng cũng không đầu tư vì nặng tính khoa trương nhiều hơn là hiệu quả kinh tế. Cũng trong giai đoạn này, Trung Quốc đưa ra thuyết “trỗi dậy hòa bình” nhằm biện minh cho sự vươn lên vị thế một cường quốc thế giới. Khái niệm này sau một thời gian thử nghiệm đã được thay thế bằng cụm từ nhẹ nhàng hơn là “phát triển hòa bình”. Dù Trung Quốc đã hết sức cẩn trọng trong ngôn từ, người ta vẫn nhận thấy, dù không dễ dàng, tham vọng toàn cầu của Trung Quốc[6].

Từ năm 2007 đến nay, chiến lược “giấu mình chờ thời” hay “ngoại giao hài hòa” nhường chỗ cho chiến lược an ninh và đối ngoại mang tính khẳng định hơn, chủ động và quyết liệt hơn. Về an ninh, nội dung cốt lõi của chiến lược này là xây dựng lực lượng hải quân hùng mạnh, tăng cường quyền kiểm soát của Trung Quốc ở các vùng biển trọng yếu, đảm bảo an ninh cho các hoạt động giao thương của Trung Quốc. Có nhận định cho rằng Trung Quốc đang xây dựng vành đai an ninh “chuỗi ngọc trai” kết nối các đảo mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông, Biển Đông Trung Hoa (Trung Quốc gọi tắt là Đông Hải) và Biển Nhật Bản cùng với các đảo và những cơ sở cầu cảng khác của Trung Quốc trải rộng từ Hải Nam tới Trung Đông, chuỗi ngọc trai sẽ giống như như một vành đai bao quanh rất nhiều đất liền châu Á. Những khu vực này chính là lợi ích an ninh quốc gia mà Trung Quốc tin là sống còn với cả sứ mệnh bảo vệ vùng biển cũng như chi phối châu Á - Thái Bình Dương[7].

Bên cạnh đó, Trung Quốc xây dựng chiến lược “hải dương xanh” và chuyển từ “phòng ngự biển gần”, sang phát triển theo hướng “hải quân viễn dương”. Trung Quốc đang lên kế hoạch đóng tàu sân bay để tăng cường phạm vi hoạt động, phát triển các loại tên lửa tấn công loại tàu này. Cùng lúc đó, hải quân Trung Quốc vươn ra xa hơn. Tháng 12/2008, hải quân Trung Quốc điều động ba chiến hạm tới vùng biển Xô-ma-li, tham gia hoạt động hộ tống tàu thuyền qua lại vùng biển này. Tiếp đó, hai tàu thăm dò hải dương của Trung Quốc đã phá vỡ sự phong tỏa của Nhật Bản, tiến sâu vào vùng biển phụ cận đảo Điếu Ngư, thực hiện khảo sát, khiến Nhật Bản bị bất ngờ. Trung Quốc còn biểu dương sức mạnh hải quân vào tháng 4/2009.

Về kinh tế, Trung Quốc cần chạy đua để giành giật các nguồn tài nguyên chiến lược. Trung Quốc đã vươn ảnh hưởng đến châu Phi, châu Đại dương và Mỹ La-tinh để tìm các nguồn cung cấp nguyên nhiên liệu nhằm duy trì nền kinh tế tăng trưởng nhanh chóng. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng cần đa dạng hóa các nguồn cung dầu lửa. Có lẽ vì lý do đó mà Bắc Kinh ngày càng quyết liệt và mạnh bạo hơn trong hoạt động thăm dò dầu khí ở Biển Đông, kiểm soát và ngăn chặn hoạt động của các quốc gia khác ở vùng biển này.

 Phần IV: Phản ứng của các nước và cục diện anh ninh mới ở Biển Đông

Đỗ Thanh Hải & Nguyễn Thùy Linh, Chương trình Nghiên cứu Biển Đông




[1] Đô đốc Admiral Michael Mullen, “Remarks and Q&A at the Navy League Sea-Air-Space Exposition”, Gaylor National Resort and ConferenceCenter, National Harbour, Maryland, May 4, 2009.

[2] Ian Bremmer, “China vs American: Fight for the Century”, Prospect, March 22, 2010, xem tại: http://www.prospectmagazine.co.uk/2010/03/china-vs-america-fight-of-the-century/

[3] Xem thêm: Carlyle A.Thayer, “Southeast Asia : Pattern of Security Cooperation”,Australian Strategic Policy Institute – ASPI, September 2010, tr. 49-51.

[4] Xem thêm: Suishen Zhao, “Chinese Nationalism and Approaches toward East Asian Regional Cooperation”, International Institutions and Global Governance Program, Japan Studies Program, Paper at Council on Foreign Relations, December 2009.

[5] Giáp Văn Dương, “Việt Nam 2008: Mười hai bài toán lớn”, Bài viết cho Hội thảo Nhìn lại Việt Nam năm 2008, tr. 13, xem tại: http://hoithao.viet-studies.info/2009_GVDuong.pdf

[6] Vũ Hồng Lâm, “Thế giới đa cực: Cấu hình quyền lực thế giới đương đại”, Tham luận tại Hội thảo Dân chủ và Phát triển, Berkeley, California, Mỹ, 28-29/7/2006.


 
 

Ở phần này bài viết sẽ đi vào phân tích đánh giá những tác nhân đằng sau những thay đổi trong các tiếp cận của Trung Quốc đối với Biển Đông kể từ năm 2007 đến nay. Bài viết đánh giá việc Trung Quốc duy trì chính sách mập mờ về “lợi ích cốt lõi” của mình đối với Biển Đông là để nhằm tránh việc đa phương hóa vấn đề tranh chấp Biển Đông nhằm hạn chế sự can thiệp của quốc tế đặc biệt là Mỹ, và hơn nữa là nhằm tạo điều kiện có lợi cho mình trong việc sử dụng “sức mạnh mềm” trong giải quyết tranh chấp với các nước trong khu vực này.

 

(Phần 1)

Dễ nhìn thấy rằng tuyên bố và hành động của Trung Quốc đối với Biển Đông trong thời gian từ năm 2007 trở lại đây có yếu tố tiếp biến chính sách giai đoạn trước. Sự tiếp biến thể hiện dưới hình thức sử dụng tuyên bố của người phát ngôn Bộ Ngoại giao khẳng định chủ quyền của Trung Quốc trong phạm vi đường lưỡi bò, triển khai các hoạt động thăm dò, chủ trương giải quyết tranh chấp thông qua đàm phán song phương, phản đối quốc tế hóa, trong khi đó chủ động khai thác dầu khí ở Biển Đông, nhưng lại phản đối hành động thăm dò và khai thác của các quốc gia khác trong phạm vi đường đứt khúc chín đoạn, đơn phương áp đặt lệnh cấm bắt cá, ngăn cản và bắt giữ tàu thuyền và ngư dân của các quốc gia khác hoạt động tại vùng biển, tiến hành các hoạt động nhằm củng cố các công trình dân sự và quân sự của Trung Quốc tại các đảo đã chiếm đóng… Các quan chức và học giả Trung Quốc tiếp tục cổ súy, vận động các quốc gia tranh chấp khác ủng hộ chủ trương “gác tranh chấp, cùng khai thác” ở những vùng biển nằm trong phạm vi thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của các bên tranh chấp khác.

Theo Joshua Kurlantzick, trong những năm đầu của thập kỷ vừa qua, Trung Quốc đã ít đả động đến yêu sách về chủ quyền ở Biển Đông, trong khi đẩy mạnh thực hiện cuộc tấn công quyến rũ bằng “sức mạnh mềm”, phát triển mối quan hệ kinh tế, ngoại giao và kể cả an ninh gần gũi với các quốc gia Đông Nam Á. Thế nhưng gần đây, cách tiếp cận “mềm mỏng” đó dường như đã bị bỏ qua.[1] Bên cạnh việc vừa tiếp tục các tranh cãi về chủ quyền, vừa chủ động đàm phán song phương, Bắc Kinh đồng thời đẩy mạnh xây dựng lực lượng hải quân tác chiến, tranh thủ mọi cơ hội biểu dương sức mạnh, phớt lờ việc thực hiện DOC và đẩy mạnh triển khai các biện pháp nhằm kiểm soát thực tế trên các vùng biển mà Trung Quốc yếu sách chủ quyền theo hướng chính thức, khẳng định và thách thức hơn. Hành động của Trung Quốc mang tính chủ động, tự tin hơn, một mặt khoanh vùng và phát huy ảnh hưởng ở Biển Đông, ngăn chặn ảnh hưởng, sự can dự của các nước lớn khác, mặt khác sử dụng “nắm đấm thép bọc nhung” để hăm dọa các bên khác trong tranh chấp. Trung Quốc đã cho cải hoán các tàu quân sự thành tàu tuần tra dân sự, điều một số tàu này đến hoạt động ở Biển Đông.[2] Việc Trung Quốc tăng cường hiện diện trên Biển Đông đồng nghĩa với việc các ngư dân và tàu khảo sát của các nước khác trong khu vực hoạt động ở Biển Đông sẽ đụng độ nhiều hơn với các tàu Trung Quốc lớn hơn và được trang bị tốt hơn, trong đó có tàu Ngư Chính 311 (Yuzheng 311).[3] Thực tế cho thấy, các tàu tuần ngư khổng lồ của Trung Quốc không ngại đụng độ trên biển. Bên cạnh đó, các hoạt động mạnh mẽ và quy mô chưa từng thấy của các lực lượng Hải quân Trung Quốc tại Biển Đông cho thấy Hải quân Trung Quốc luôn sẵn sàng chiến đấu, khiến các quốc gia khác không khỏi e dè.[4]

Điều đáng chú ý là từ năm 2007 đến nay, các bên tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông khác cũng tiếp tục có các động thái củng cố cơ sở hạ tầng, tuyên truyền về yêu sách chủ quyền, đẩy mạnh tuần tra, trinh sát trên biển... Có thể kể đến việc Đài Loan đã hoàn thành công trình đường băng trên đảo Ba Bình, cựu lãnh đạo Đài Loan Trần Thủy Biển ra thăm đảo và nêu “Đề xướng Nam Sa”. Trong năm 2008, Phi-lip-pin từng bước hoàn tất các thủ tục nội bộ để thông qua Dự luật về đường cơ sở mới, và ngày 10/3/2009, Tổng thống nước này ký ban hành Luật đường cơ sở mới của Phi-lip-pin (RA9522) trong đó quy thuộc các đảo thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam vào lãnh thổ Phi-lip-pin. Ma-lai-xi-a khẳng định yêu sách chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa bằng chuyến thăm của Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Quốc phòng (ngày 12/8/2008) và của Thủ tướng nước này (ngày 05/03/2009) đến đảo đá Hoa Lau.

Thực trạng đó đặt ra câu hỏi: Thái độ cứng rắn, hành động tự tin và quyết liệt của Trung Quốc tại Biển Đông từ năm 2007 đến nay là kết quả của (i) việc điều chỉnh chủ động trong chiến lược biển và chính sách của Trung Quốc với tranh chấp tại Biển Đông hay không, hay đó chỉ là (ii) những phản ứng của Trung Quốc đối với động thái của các quốc gia khác trong tranh chấp, hay là (iii) “động thái ném đá dò đường”, phép thử đối với phản ứng của các quốc gia khác, hay chỉ là (iv) hành động vượt quá thẩm quyền, có tính nhất thời của các lực lượng hải quân hoặc tuần duyên của Trung Quốc? Đáng chú ý, trong các cuộc trao đổi gần đây với học giả Việt Nam, học giả Trung Quốc khẳng định chính sách của Trung Quốc đối với các nước láng giềng nói chung và với các tranh chấp ở Biển Đông không hề thay đổi, rằng có sự hiểu nhầm do báo chí phương Tây.

Diễn biến ủng hộ cho lập luận thứ hai là việc Trung Quốc công khai “đường lưỡi bò” để phản đối báo cáo về ranh giới ngoài của thềm lục địa của Việt Nam và Ma-lai-xi-a (2009). Tuy nhiên, khó có thể tìm thấy mối liên hệ nhân quả giữa các hành động khác của các quốc gia khác và sự hung hăng bất thường của Trung Quốc từ cuối năm 2007 đến nay. Khả năng thứ tư vẫn còn để ngỏ bởi Trung Quốc chưa bao giờ công khai quy trình hoạch định chính sách và chính trị nội bộ của họ. Trong phát biểu của mình tại Hội thảo quốc tế lần thứ hai về Biển Đông, học giả Leszek Buszynski bày tỏ lo ngại về sự không minh bạch trong quá trình ra quyết sách trong chính trị nội bộ của Trung Quốc, thế áp đảo của phe quân sự trong nền chính trị ở Bắc Kinh, và ảnh hưởng của chủ nghĩa dân tộc cực đoan.[5] Khả năng thứ ba có thể được loại bỏ vì hành động của Trung Quốc có vẻ ngày càng mạnh mẽ và quyết liệt hơn bất chấp sự phản đối, nghi ngại của cộng đồng quốc tế và các nước trong khu vực.

Xem xét kỹ những hoạt động của Trung Quốc ở Biển Đông từ năm 2007 đến nay cho thấy khả năng thứ nhất (i) hợp lý hơn cả. Lý do đơn giản là các biện pháp mà Trung Quốc triển khai có cường độ mạnh và thái độ quyết liệt “bất bình thường”, có sự phối hợp đồng bộ chặt chẽ của nhiều ngành, nhiều lực lượng, và được đưa tin, phổ biến rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng. Nhiều dấu hiệu cho thấy với sức mạnh kinh tế và quân sự tăng lên nhanh chóng, Trung Quốc đang phấn đấu vươn lên trở thành một cường quốc toàn cầu, trong đó coi Biển Đông vừa là mắt xích quan trọng trong tuyến phòng thủ hải quân chiến lược và nằm trong phạm vi ảnh hưởng sống còn của Trung Quốc, vừa là cửa ngõ chiến lược để đi ra thế giới. Thêm nữa, sự mạnh bạo của Trung Quốc ở Biển Đông diễn ra đồng thời với thái độ và hành động hung hăng của Trung Quốc ở Biển Hoa Đông, mở rộng hoạt động của hải quân Trung Quốc ở biển E-den…

Bằng chứng rõ rệt nhất là giới tinh hoa chính trị của Trung Quốc “đánh tiếng” nâng cấp Biển Đông trở thành khu vực “lợi ích cốt lõi”[6] (hạch tâm quyền lợi) của Trung Quốc.[7] Theo tin tức báo chí quốc tế, Trung Quốc lần đầu tiên coi vấn đề Biển Đông thuộc “lợi ích cốt lõi” trong chuyến thăm Trung Quốc của Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ Steinberge vào tháng 3/2010. Tuy từ đó đến nay, chưa thấy lãnh đạo Trung Quốc có phát biểu công khai nói Biển Đông là “lợi ích cốt lõi” và học giả Trung Quốc tham dự Hội thảo Quốc tế về Biển Đông lần hai cũng khẳng định điều này,[8] nhưng khi báo chí trong và ngoài Trung Quốc rầm rộ đưa tin,[9] các kênh nhà nước của Trung Quốc cũng không có phản đối hay đính chính chính thức. Liệu điều đó có hàm ý rằng giới lãnh đạo và tinh hoa chính trị của Trung Quốc ngầm ủng hộ một quan niệm như vậy?  

Ngụ ý của việc quan chức Trung Quốc mập mờ phổ biến khái niệm lợi ích quốc gia cốt lõi đối với Biển Đông là Bắc Kinh sẽ không cho phép thảo luận hay đặt vấn đề đối với những chính sách của họ và có lẽ sẽ đẩy lùi sự hiện diện của quân đội của các cường quốc khác ở ngoài khơi mạnh hơn bao giờ hết. Trong những năm gần đây, Bắc Kinh cũng đã cảnh báo những công ty dầu lửa của Hoa Kỳ không được tham gia các thỏa thuận thăm dò hỗn hợp ở Biển Đông với Việt Nam. Và cũng có tin là họ đã nói với các quốc gia Đông Nam Á không thảo luận những vấn đề liên quan đến biển Đông với nhau.[10]

Việc Trung Quốc có ý duy trì khái niệm mơ hồ về lợi ích cốt lõi có thể khiến các nước trong tranh chấp lo sợ rằng: (i) có phải Bắc Kinh vừa tạo không gian để áp dụng tiêu chuẩn kép, một mặt đòi các cường quốc khác tuân thủ cái gốc là vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý, mặt khác lại duy trì đòi hỏi phi lý về đường lưỡi bò đối với các nước trong tranh chấp trực tiếp?; (ii) liệu có phải Bắc Kinh tạo tâm lý răn đe dùng vũ lực, ép các nước liên quan chấp nhận giải pháp “gác tranh chấp, cùng khai thác” có lợi cho Trung Quốc.

Không thể phủ nhận Trung Quốc có những lợi ích hữu hình quan trọng ở Biển Đông như: (i) đường biển quan trọng vận chuyển hàng hóa phục vụ phát triển kinh tế: số lượng dầu nhập khẩu chiếm 50% nhu cầu trong nước, trong đó 70% số dầu nhập khẩu này phải vận chuyển qua Biển Đông; (ii) các nguồn tài nguyên biển, trong đó quan trọng nhất là dầu khí và hải sản để phục vụ cho phát triển kinh tế. Tuy nhiên, thái độ và hành động của Trung Quốc ở Biển Đông từ năm 2007 đến nay cho thấy giới chính trị - quân sự Bắc Kinh nhìn nhận Biển Đông chủ yếu ở góc độ địa chính trị và địa chiến lược. Theo đó, Biển Đông là không gian lợi ích sống còn, là cửa ngõ để tiến xuống khu vực Đông Nam Á, và vươn xa hơn trở thành cường quốc đại dương. Một loạt hành động như trên trong thời gian gần đây có thể được hiểu là nỗ lực của Bắc Kinh nhằm đặt toàn bộ Biển Ðông dưới quyền kiểm soát của Trung Quốc, không chỉ để bảo vệ quyền lợi về dầu lửa và tài nguyên biển của họ, mà còn vì lý do chiến lược và quân sự, chẳng hạn như để ngăn chặn bất kỳ hành động can thiệp nào của lực lượng Mỹ trong trường hợp khẩn cấp liên quan đến Đài Loan.[11]

Mong muốn kiểm soát Biển Đông, biến khu vực này trở thành “ao nhà” ngày càng trở nên rõ ràng qua nhiều tuyên bố, biện pháp và hành động mạnh bạo có tính áp đặt và mạnh bạo nhằm khẳng định chủ quyền pháp lý cùng khả năng kiểm soát biển trên thực tế. Tuy nhiên, Biển Đông còn có ý nghĩa là khu vực ảnh hưởng sống còn, và là cửa ngõ chiến lược đầu tiên để Trung Quốc đi ra thế giới. Việc các lực lượng quân sự của Trung Quốc mạnh dạn chặn các tàu của Mỹ, thử phản ứng của Mỹ với đề nghị chia khu vực ảnh hưởng ở Thái Bình Dương, đe dọa và bắt bớ các tàu thuyền của các nước tranh chấp, xây dựng căn cứ tàu ngầm chiến lược ở Tam Á là những minh chứng rõ ràng về quan niệm của giới chính trị và quân sự Bắc Kinh về tầm quan trọng của Biển Đông và tương lai của vùng biển này trong chiến lược cường quốc của Trung Quốc.

Sự điều chỉnh cách tiếp cận của Trung Quốc là nguyên nhân cơ bản khiến quan hệ giữa Trung Quốc và các nước tranh chấp khác trở nên căng thẳng. Sau năm năm ra đời, Tuyên bố về Ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) giữa Trung Quốc và các nước ASEAN không đủ để ngăn tranh chấp Biển Đông ngày càng nóng và trở thành nguy cơ hiện hữu đối với hòa bình, ổn định ở khu vực và tình hữu nghị giữa các quốc gia trong khu vực. Tuy nhiên, rõ ràng là Trung Quốc vẫn chưa đủ sức mạnh chính trị và quân sự để kiểm soát toàn bộ Biển Đông và không muốn căng thẳng biến thành bất ổn, xung đột quân sự. Do đó, lãnh đạo Trung Quốc luôn trấn an các nước trong khu vực và kêu gọi cần phải có hòa bình, ổn định, và hợp tác. Tại buổi họp báo sáng ngày 6/01/2010 ở Hà Nội, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Trung Quốc tại Việt Nam Tôn Quốc Tường nói rằng “chúng ta đã thiết lập cơ chế đàm phán về vấn đề trên biển, thực hiện nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước, thúc đẩy tiến trình đàm phán. Để giải quyết tranh chấp, hai bên cần xuất phát từ đại cục, toàn cục và lợi ích căn bản của nhân dân hai nước, tạm gác lại tranh chấp, không làm ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường, thuận lợi của quan hệ hai nước. Tôi nghĩ đây là cách làm phù hợp nhất”.[12] Thông điệp “giữ đại cục” này cũng được nhắc đi nhắc lại trong nhiều cuộc trao đổi giữa học giả Trung Quốc và Việt Nam, với lập luận Trung Quốc còn phải đối phó với nhiều khó khăn trong nội bộ của nước này, đặc biệt là các vấn đề phát triển và xã hội.

Nghịch lý là, Trung Quốc trước hết sử dụng luận điểm “giữ đại cục” để trấn an các nước vừa và nhỏ trong khu vực, trong khi tiếp tục duy trì sự mập mờ trong chính sách an ninh biển và sử dụng nhiều chiến thuật khác nhau để giành thế chủ động và quyền kiểm soát thực tế ở Biển Đông. Giáo sư Carlyle A. Thayer cho rằng Trung Quốc đang cố tình theo đuổi một chính sách mập mờ có tính toán trong vấn đề này và sẽ trì hoãn việc giải quyết các tuyên bố chủ quyền trái ngược nhau cho đến thời điểm mà Bắc Kinh cảm thấy thích hợp.[13] Thứ hai, đó là chiến thuật “salami”, thực hiện chính sách “lấn dần từng bước”, đảm bảo đạt được sự kiểm soát tình hình, mà không làm cho các bên yêu sách cùng dư luận quốc tế phản ứng thái quá. Bắc Kinh luôn kết hợp cứng và mềm, sẵn sàng đàm phán khi cần thiết, nhưng cũng sẵn sàng vứt bỏ “cam kết” khi cần. Thứ ba, Trung Quốc kiên trì đàm phán song phương, phản đối đa phương hóa và quốc tế hóa. Theo cách đó, Trung Quốc có thể “chia để trị” và luôn duy trì được thế áp đảo đối với đối phương. Ít có khả năng Trung Quốc tham gia các cơ chế an ninh hợp tác, nơi đó Trung Quốc phải chấp nhận vị thế và lợi ích ngang bằng với các quốc gia khác. và yếu hơn mình, tránh được sự nhòm ngó của quốc tế.[14]

Đọc phần tiếp theo “Những điều chỉnh trong chiến lược của Trung Quốc đối với Biển Đông

Đỗ Thanh Hải & Nguyễn Thùy Linh, Chương trình Nghiên cứu Biển Đông

Đề nghị chỉ được dẫn đường link mọi thông tin, bài viết  trên www.nghiencuubiendong.vn, không đăng lại khi chưa có sự đồng ý của Ban Biên tập NCBĐ.



[1] Joshua Kurlantzick, “Avoiding a Tempest in the South China Sea”, Expert Brief, Council on Foreign Relations, September 2, 2010, xem tại: http://www.cfr.org/china/avoiding-tempest-south-china-sea/p22858.

[2] Yuzheng 311, 303 start escort in South China Sea, Sina English, 26 November 2009, xem tại: http://english.sina.com/china/p/2009/1126/288553.html,

[3] Peter Brown, Calculated ambiguity in the South China Sea, Asia Times, 8 December 2009, xem tại: http://www.atimes.com/atimes/Southeast_Asia/KL08Ae01.html

[4] xem thêm: Bước phát triển mới của Hải quân Trung Quốc, BBC Vietnamese, ngày 12/5/2010, xem tại: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2010/05/100512_china_navy_strategy.shtml

[5] Leszek Buszynski, “Rising Tensions in the South China and Implications for Regional Security”, Tham luận tại Hội thảo quốc tế: “Biển Đông: Hợp tác vì An ninh và Phát triển ở khu vực”, tổ chức tháng 11/2010 tại thành phố Hồ Chí Minh.

[6] Một thuật ngữ mà nước này thường dùng trong quá khứ để đề cập đến vấn đề Đài Loan, Tây Tạng, và Tân Cương.

[7] Cary Huang, “A bolder China asserts 'core' interests - but will it act?”, South China Morning Post, August 12, 2010, xem tại: http://www.viet-studies.info/kinhte/china_asserts_core_interest.htm,

[8] GS. Tô Hạo khẳng định tại Hội thảo Quốc tế về Biển Đông tại thành phố Hồ Chí Minh (11/2010): Trung Quốc chưa bao giờ sử dụng thuật ngữ “lợi ích cốt lõi” trong các tài liệu chính thức.

[9] Các báo China Daily, Global Times, và một số tạp chí của Trung Quốc đều có tin bài của học giả Trung Quốc nêu nội dung này. Báo China Daily ngày 30/7/2010 đăng bài của Ai Yang nhấn mạnh “Nam Hải là một trong những lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc. Tạp chí Thế giới Tri thức (thuộc Bộ Ngoại giao Trung Quốc) số ngày 16/8 đăng bài của học giả Trung Quốc khẳng định vào tháng 3 năm 2010, Trung Quốc đã nêu rõ với phía Mỹ rằng Nam Hải liên quan đến “lợi ích cốt lõi” về chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc.

[10] Joshua Kurlandtzick, “Avoiding a Tempeset in the South China Sea”, Expert Brief on Council on Foreign Relations Website, September 2, 2010, retrieved on October 10, 2010 at http://www.cfr.org/publication/22858/avoiding_a_tempest_in_the_south_china_sea.html

[11] Trọng Nghĩa, “Nhìn từ Nhật Bản: Phải buộc Trung Quốc đàm phán đa phương về Biển Đông”, RFI, ngày 11/10/2010, xem tại: http://www.viet.rfi.fr/tong-hop/20100827-nhin-tu-nhat-ban-phai-buoc-trung-quoc-dam-phan-da-phuong-ve-bien-dong.

[12] “Chờ điều kiện chín muồi để giải quyết tranh chấp Biển Đông”, VNN phỏng vấn Đại sứ Trung Quốc Tôn Quốc Tường, xem tại http://www.vietnamnet.vn/chinhtri/201001/Cho-dieu-kien-chin-muoi-giai-quyet-tranh-chap-bien-Dong-888092/ ngày 11/9/2010.

[14] “Trung Quốc chống quốc tế hóa tranh chấp Biển Đông”, RFI, ngày 25/7/2010, xem tại: http://www.viet.rfi.fr/chau-a/20100725-trung-quoc-chong-viec-quoc-te-hoa-tranh-chap-bien-dong, ngày 19/9/2010.

 

Nhu cầu về tài nguyên thiên nhiên gia tăng trong bối cảnh nguồn cung suy giảm đang đặt ra những thách thức đối với các nước xung quanh Biển Đông. Điều này sẽ tác động thế nào đến cách ứng xử của họ đối với bên ngoài: gia tăng cạnh tranh hay thúc đẩy hợp tác?.


Các xu hướng liên quan đến tài nguyên thiên nhiên, cả ở châu Á và trên thế giới, đang khiến quan hệ giữa các quốc gia ở Biển Đông trở nên phức tạp. Các cuộc đối thoại công khai hiện nay tập trung nhiều vào việc liệu các xu hướng đó có góp phần tạo nên xung đột hay không. Tuy nhiên, thực tế thì tình hình phức tạp hơn nhận định trên. Hàng loạt các xu hướng thay đổi liên quan đến năng lượng, kinh tế, tài nguyên và dân số như : nhu cầu năng lượng của thế giới đang gia tăng; sự phát triển của tầng lớp trung lưu tại khu vực Đông Nam Á ; quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp và dịch vụ ; việc dịch chuyển và phát triển ngành công nghiệp dầu mỏ ra ngoài khơi và tình trạng ngày càng khan hiếm nguồn tài nguyên thiên nhiên gần bờ sẽ tác động tới cách ứng xử của các quốc gia trong khu vực. Nếu các nhà lãnh đạo trong khu vực không hiểu được cách thức các xu hướng đó tương tác và ảnh hưởng tới hành vi của các quốc gia, thì họ sẽ có thể hiểu sai hành động của các quốc gia láng giềng, từ đó nguy cơ bất ổn định càng lớn hơn. Từ đó họ cũng có thể sẽ coi nhẹ các cơ hội hợp tác và củng cố an ninh, điều sẽ mang lại lợi ích cho tất cả các nước trong khu vực.

Nếu các chương khác của tập báo cáo này khẳng định rằng tài nguyên luôn luôn là nguồn gốc của cạnh tranh giữa các quốc gia tại Biển Đông, thì chương này sẽ xem xét nhiều hơn về cách thức tài nguyên thiên nhiên tác động tới cách cư xử của quốc gia tại khu vực. Chương này sẽ cung cấp tổng quan về các tác động chính trị và kinh tế mà các quốc gia phải đối mặt khi giải quyết các thách thức đặc thù liên quan đến vấn đề tài nguyên. Tiếp đó, chương này sẽ xem xét những xu hướng tài nguyên và môi trường quan trọng nhất tại khu vực – trong đó có năng lượng, thủy sản, khoáng sản và thay đổi khí hậu. Ngoài ra, chương này giải thích cách thức các xu hướng tác động tới nguồn tài nguyên trên đất liền, chẳng hạn như các đường ống dẫn năng lượng trên đất liền, từ đó định hình cách thức mà các quốc gia sẽ ứng xử với các vấn đề liên quan đến nguồn tài nguyên biển. Cuối cùng, chương này sẽ đưa ra kết luận thông qua việc xem xét việc Mỹ và các quốc gia khác có thể củng cố ổn định khu vực như thế nào nhờ vào những chính sách liên quan tới các xu hướng tài nguyên.

Những mối quan tâm về nguồn tài nguyên trong khu vực

Các xu hướng tài nguyên và môi trường tác động tới các quốc gia tại Biển Đông theo những cách thức khác nhau. Tất cả các quốc gia buộc phải quản lý xu hướng năng lượng, các hoạt động khai thác mỏ, trồng rừng, sản xuất nghề cá, các nguồn cung nước sạch và việc sử dụng đất trồng trọt. Tuy nhiên, mỗi một quốc gia đều đối mặt với những bài toán chính trị và kinh tế đặc thù khi quản lý các nguồn lực đó.

Đối với Trung Quốc, tài nguyên thiên nhiên và môi trường là vấn đề cơ bản đối với đại chiến lược của nước này. Đảng Cộng sản Trung Quốc coi tăng trưởng kinh tế là nền tảng của tính hợp pháp chính trị, và tăng trưởng nhanh đòi hỏi nhu cầu tiêu thụ năng lượng, khoáng sản, nước và các tài nguyên khác ngày càng nhiều. Ngoài ra, giới lãnh đạo Trung Quốc cũng nhận thức rằng sự suy thoái về môi trường nảy sinh do tình trạng quản lý kém trong việc tiêu thụ năng lượng có thể gây ra bất ổn định xã hội và giảm tăng trưởng GDP[1].

Đối với các quốc gia láng giềng của Trung Quốc tại Biển Đông, việc quản lý tài nguyên và môi trường có thể đóng vai trò ít quan trọng hơn về mặt chiến lược, tuy nhiên, những vấn đề này vẫn đặt ra nhiều thách thức lớn. Chẳng hạn như Indonesia phải tìm cách cân bằng giữa nhu cầu về tài nguyên đang ngày càng cấp bách với các tình trạnh đáng lo ngại như thiếu đất, hiện tượng nước biển dâng và dân số tăng. Giới lãnh đạo của Indonesia đã và đang ủng hộ chính sách tăng trưởng xuất khẩu dựa trên việc sản xuất dư thừa thực phẩm, nhiên liệu sạch và khoáng sản để xuất ra bên ngoài. Quốc gia này cũng cam kết bảo tồn số rừng nhiệt đới còn tồn tại và tăng cường nỗ lực tái phủ xanh rừng.  Các nhà tài trợ quốc tế đã cam kết hơn 3 tỷ đô-la cho hoạt động này. Với diện tích đất đai hạn chế dành cho phát triển – cùng hàng loạt các nhân tố nội bộ làm giảm sự kiểm soát của chính phủ trung ương[2] - câu hỏi về cách thức đầu tư như thế nào cho phát triển đang đặt ra nhiều thách thức chính trị mang tính hệ trọng. Chẳng hạn như, chính phủ Indonesia hiện nay đang bàn thảo về việc liệu có nên chuyển mục đích sử dụng các khu vực canh tác đặc thù của sản xuất lương thực cũng như trồng trọt trong nước sang sản xuất nhiên liệu sạch cho thị trường tiêu thụ quốc tế hoặc để tái trồng rừng hay không. Mỗi một mục đích sản xuất nêu trên đều liên quan đến việc đánh đổi giữa lợi ích của thị trường trong nước và nước ngoài[3]. Nhu cầu toàn cầu cũng tác động tới những lựa chọn đó. Trong những năm vừa qua, Liên minh châu Âu (EU) đã từng hạn chế nhập khẩu dầu cọ có xuất xứ nước ngoài được sản xuất thông qua việc sản xuất không bền vững với môi trường. Điều này đã từng gây ra những căng thẳng ngoại giao với các quốc gia xuất khẩu như Indonesia và Malaysia. Cả hai quốc gia này đều đã từng đệ trình đơn kiện lên Tổ chức thương mại thế giới (WTO) để nhằm thúc đẩy việc xuất khẩu dầu cọ[4].

Việt Nam hiện đang đối diện với nhiều thách thức môi trường có ảnh hưởng trực tiếp đến sự tăng trưởng kinh tế liên tục trong những năm qua. Quốc gia này đang trong tiến trình hoàn thành Các Mục tiêu thiên niên kỷ nằm trong Tuyên bố Thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc năm 2000; những mục tiêu đó bao gồm việc xóa đói giảm nghèo, phòng chống bệnh dịch và đảm bảo tính bền vững của môi trường. Chẳng hạn, Việt Nam đã đạt kết quả giảm đói nghèo từ 58,1% (năm 1993) xuống còn 16% (năm 2006) - đây là một thành tích đáng chú ý[5]. Từ năm 2005, GDP thực tế (tính cả điều chỉnh lạm phát) đã tăng với tốc độ hàng năm từ 5,3-8,5%.[6] Nhờ vào sự phát triển này, đời sống của người dân Việt Nam đang ngày càng được cải thiện. Nhưng đi cùng với đó, sự phát triển này cũng làm gia tăng những căng thẳng về nguồn cung nước sạch tại đây và càng ngày càng khiến vấn đề ô nhiễm môi trường trở nên trầm trọng. Khu vực đồng bằng sông Cửu Long đặc biệt dễ bị ảnh hưởng trước những tác động của biến đổi khí hậu, bao gồm hiện tượng nhiễm mặn và xói mòn. Mặc dù đóng góp của khu vực sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam chiếm tỉ trọng ngày càng ít trong GDP quốc gia, ngành này vẫn tiếp tục mang lại thu nhập về xuất khẩu và củng cố cho sự phát triển kinh tế nông thôn thông qua việc thúc đẩy mở rộng sân bay, các tuyến đại lộ cũng như các cơ sở hạ tầng khác. Tổn thất về môi trường và những tác động của biến đổi khí hậu đang đe dọa nghiêm trọng nỗ lực phát triển của đất nước, trong đó có những kế hoạch xuất khẩu nông sản; nhiều chuyên gia cảnh báo năng suất trong sản xuất nông nghiệp rất dễ bị ảnh hưởng trước bất cứ thay đổi nào dù là nhỏ nhất trong những thay đổi của khí hậu cũng như độ mặn của đất.

Các quốc gia nói trên – cùng với Philippines, Malaysia, Singapore và các quốc gia ven Biển Đông khác – đều có kinh nghiệm đối với những thách thức đặc thù liên quan tới xu hướng tài nguyên thiên nhiên và môi trường. Những thách thức trong nước ảnh hưởng đến cách ứng xử của họ với bên ngoài, đồng thời cũng có thể làm gia tăng cạnh tranh hoặc thúc đẩy hợp tác. Đặc biệt, ba nguồn tài nguyên sẽ có thể ảnh hưởng đến hành vi của các quốc gia ở Biển Đông và đóng vai trò quan trọng trong việc nhận thức rõ viễn cảnh của sự cạnh tranh cũng như hợp tác trong khu vực, đó là: năng lượng, nguồn hải sản và khoáng sản.

Năng lượng

Đối với phần lớn các quốc gia trong khu vực, việc tiếp cận Biển Đông luôn được xem là nhân tố quyết định tới việc thỏa mãn nhu cầu năng lượng cần thiết mà các quốc gia cần để phát triển, đặc biệt là trong bối cảnh  khu vực được đánh giá là có khả năng trở thành " một vịnh Ba Tư mới".[7] Mặc dù những đánh giá về trữ lượng khí đốt tự nhiên và các nhiên liệu khác (theo từ chuyên ngành là chỉ số RRP hoặc R/P, có nghĩa là chỉ số giữa trữ lượng và sản xuất – ND) đang thay đổi một cách nhanh chóng do sự phát triển của công nghệ và những thay đổi về giá cho phép các quốc gia có thể khai thác trữ lượng tài nguyên nhiều hơn dự tính ban đầu, nhưng các quốc gia vẫn đang gia tăng lo ngại về việc liệu trữ lượng tài nguyên này có đáp ứng được nhu cầu năng lượng trong dài hạn của họ hay không. Chẳng hạn, theo hãng BP, chỉ số R/P trữ lượng dầu của Trung Quốc – chỉ số sẽ cho biết việc cung ứng dầu mỏ quốc nội sẽ kéo dài bao lâu với tốc độ sản xuất hiện tại – chỉ ở mức 9,9 năm, và trữ lượng dầu tại Biển Đông có thể gấp đôi trữ lượng dầu mà Trung Quốc hiện có.[8] Các quốc gia trong khu vực có thể tìm kiếm việc tăng sản lượng tại Biển Đông bởi nguồn năng lượng dự trữ toàn cầu hiện nay đang tập trung phần lớn ở các quốc gia bất ổn chính trị, như Iran, Venezuela và Arap Saudi.

Tuy nhiên, các đánh giá về nguồn dự trữ năng lượng tại Biển Đông lại có nhiều khác biệt. Một đánh giá mới đây của Mỹ cho thấy rằng Biển Đông có khoảng 15,6 tỷ thùng dầu, trong đó có khoảng 1,6 tỷ thùng là trữ lượng dầu đã xác minh (trữ lượng xác minh là lượng dầu khí có thể thu hồi thương mại tính được ở thời điểm nhất định với độ tin cậy cao - ND). Ngược lại, những nhà thăm dò Trung Quốc đánh giá trữ lượng dầu có thể dao động từ 105 – 213 tỷ thùng, trong đó có khoảng 10,5 – 21,3 tỷ thùng là trữ lượng dầu đã xác minh, ngoài ra còn có trữ lượng lớn khí đốt tự nhiên.[9] Mặc dù có những khác biệt đó, một số quốc gia – trong đó có Trung Quốc, Việt Nam và Philippines - đang xúc tiến một vài kế hoạch khai thác các nguồn tài nguyên này. Các quốc gia lân cận khu vực biển Đông cũng quan tâm đến vấn đề này. Chẳng hạn như Ấn Độ đã tuyên bố vào tháng 9/2011, Công ty quốc doanh dầu mỏ và khí đốt tự nhiên của nước này sẽ là đối tác với Việt Nam trong việc khai thác dầu mỏ và khí đốt tự nhiên trong những vùng biển tranh chấp mà Việt Nam yêu sách thuộc chủ quyền của họ.[10] Trong khi đó, Trung Quốc tiếp tục đưa ra những cảnh báo đối với các quốc gia bên ngoài đang can dự vào các tranh chấp lãnh thổ trong khu vực. Điều này đã và đang làm gia tăng căng thẳng, theo đó, tất cả các quốc gia trong khu vực lo sợ rằng việc tiếp cận các nguồn tài nguyên này là một đề xuất "tổng bằng không" và họ phải khai thác các nguồn tài nguyên trước khi các quốc gia khác tiếp cận.

Ngoài ra, việc tiếp cận rộng rãi các tuyến lưu thông hàng hải (SLOC) chạy qua Biển Đông và kết nối các quốc gia trong khu vực với nguồn năng lượng từ Trung Đông thì cũng quan trọng như nguồn tài nguyên dầu mỏ ở dưới đáy biển tại khu vực này vậy. Chẳng hạn, hàng năm có 60 nghìn tàu quá cảnh tại eo biển Ma-lắc-ca, trong đó các tàu chở dầu chứa khoảng hơn 13 triệu thùng dầu, chiếm khoảng 40% số dầu được sản xuất trên toàn cầu.[11] Bản thân Trung Quốc cũng nhận ra rằng quốc gia này sẽ chịu nhiều tác động từ việc ngừng cấp năng lượng tại Biển Đông bởi 80% nguồn năng lượng của họ trong quá trính vận chuyển phải quá cảnh tại eo biển Ma-lắc-ca.[12] Điều này phần nào giải thích lý do Trung Quốc yêu sách phần lớn Biển Đông: bởi quốc gia này muốn độc quyền khả năng bảo vệ các tuyến SLOC khỏi nguy cơ tiềm tàng của việc bị cắt đứt nguồn cung dầu.

Sự cạnh tranh các nguồn nhiên liệu hóa thạch tại Biển Đông sẽ không chỉ phụ thuộc vào yêu sách của các quốc gia đối với các mỏ ngoài khơi xa mà còn phụ thuộc vào khả năng phát triển công nghệ nhằm tiếp cận với các mỏ tài nguyên đó. Ngược lại, tốc độ phát triển công nghệ, đặc biệt là công nghệ tiếp cận năng lượng và các nguồn tài nguyên khác (như khoáng sản) ở xa bờ sẽ xác định cách thức các quốc gia này có thể khai thác trữ lượng dầu nhanh ra sao.

Chi phí cũng là một nhân tố. Mặc dù Trung Quốc và các quốc gia khác có thể có công nghệ đủ để để sản xuất dầu mỏ và khí đốt ở phần lớn vùng nước sâu ở Biển Đông,[13] nhưng chi phí để sản xuất dầu khí ở xa bờ thường tốn kém nhiều hơn so với việc sản xuất từ các nguồn năng lượng truyền thống, đặc biệt so với sản xuất tại Iraq, Iran, những quốc gia có trữ lượng dầu mỏ truyền thống dồi dào. Các công ty năng lượng trong khu vực cũng như quốc tế tiến hành khai thác tại đây hiểu rõ được những chi phí và lợi nhuận kinh tế trong vấn đề này. Tuy nhiên, đối với các nhà hoạch định chính sách và các chuyên gia, họ cần nhận thức được thực tế rằng chi phí khai thác dầu từ các mỏ truyền thống tại khu vực Trung Đông hoặc Bắc Mỹ không giống như  chi phí khai thác dầu tại vùng biển sâu ở Biển Đông.

Lợi nhuận khai thác các nguồn tài nguyên dưới đáy biển tại Biển Đông có thể bị giảm nếu như (hoặc khi) các nhiên liệu thay thế có giá bằng với các nguồn tài nguyên hóa thạch truyền thống.[14] Chẳng hạn, đầu tư của Hải quân Mỹ vào nhiên liệu sinh học từ tảo đã làm giảm chi phí một ga-lông nhiên liệu tảo ở Mỹ, khiến giá của nguồn nhiên liệu này gần xuống tới mức giá của dầu mỏ. Đầu năm nay, Hải quân Mỹ đã thông báo một đơn đặt hàng 450.000 ga-lông nhiên liệu sinh học tảo, đây là đơn hàng mua bán lớn nhất từ trước tới nay.[15] Một đơn đặt hàng như vậy cho phép các công ty sản xuất năng lượng có thể tiến hành sản xuất dựa theo quy mô, điều này giúp giảm chi phí đơn vị của sản phẩm. Ngoài ra, những quy định mới – trong đó có quy định về phát thải khí các-bon trong ngành hàng không của EU và sắc lệnh của chính quyền Obama yêu cầu tất cả văn phòng liên bang giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính – có thể làm tăng nhu cầu sử dụng các nhiên liệu thay thế.[16] Việc sản xuất nhiên liệu sinh học toàn cầu tiếp tục phát triển dẫn đến nguồn cung tăng có thể bù đắp được nhu cầu về dầu mỏ được sản xuất thông qua những phương thức sản xuất đắt đỏ - trong đó có hoạt động rút dầu ở xa bờ và vùng biển sâu tại Biển Đông.

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây

Will Rogers

Lan Hương (dịch)

Quang Hưng (hiệu đính)

 

Bản dịch chương V: The Role of Natural Resources in the South China Sea trong báo cáo: Cooperation from Strenth: The United States, China and the South China Sea của Trung tâm An ninh mới (CNAS) của Mỹ.



[1] Theo một báo cáo mới đây của Ngân hàng thế giới, tỉ lệ người chết vì ô nhiễm đã ảnh hưởng xấu tới tăng trưởng GDP của Trung Quốc: «Theo một đánh giá, gánh nặng kinh tế của tỷ lệ chết trẻ và chết vì bệnh tật do ô nhiễm không khí tương đương với 157,3 tỷ nhân dân tệ vào năm 2003, chiếm khoảng 1,16% GDP. Con số này được xác định dựa trên giả định rằng giá trị kinh tế bị thiệt hại do mỗi cá nhân chết trẻ được tính bằng cách sử dụng giá trị GDP tính trên đầu người hiện tại cùng với khoảng thời gian mà lẽ ra còn trong cuộc đời họ. Nếu giá trị kinh tế bị thiệt hại của người chết trẻ được ước lượng thống kê vào khoảng 1 triệu NDT – được xác định dựa theo mức độ sẵn sàng chi trả của người dân trong việc tránh rủi ro tử vong -  thì những tổn thất do ô nhiễm không khí gây ra tương đương với 3,8% GDP». World Bank, “Cost of Pollution in China: Economic Estimates of Physical Damages” (2007), xiii.

[2] Tham khảo Abraham Denmark, Crafting a Strategic Vision: A New Era of U.S.-Indonesia Relations (Washington: Center for a New American Security, 2010), 17-20.

[3] Ví dụ, khi xem xét đến giá trị kinh tế của các nhiên liệu sinh học như dầu cọ (như In-đô-nê-xia có lãi khoảng 12,4 tỷ đô la vào năm 2009), giới hoạch định chính sách tỏ ra thận trọng trước những đánh đổi chính trị liên quan tới việc giảm sản xuất dầu cọ trong nước bởi nếu có thể đạt được tỉ lệ như mức cam kết của họ với những nhà tài trợ quốc tế trong việc bảo vệ những khu rừng còn sót lại thì việc giảm sản xuất này sẽ mang lại nguồn tiền cho các chương trình quốc gia,. Claire Leow và Yoga

Rusmana, “Indonesia to Develop Value-Added Palm Oil Industry, Rajasa Says,” Bloomberg, December 1, 2009, http://www.bloomberg.com/apps/news?pid=newsarchive&sid=a15d6QXkUfwI&refer=commodities.

[4] Ví dụ, đọc Bill Guerin, “European Blowback for Asian Biofuels,” Asia Times Online, February 8, 2007; và Pete Harrison, “Malaysia, Indonesia Warn EU Hampers Palm Oil Trade,” Reuters, 16 tháng 11, 2010.

[5] United Nations MDG Monitor, “Viet Nam,” www.mdgmonitor.org/country_progress.cfm?c=VNM&cd=704; and World Bank, “Vietnam: Country Overview,” (Tháng 6/2008), 1-4.

[6] World Bank, “East Asia and Pacific Economic Update 2010, Vol. I,” (2010), 46.

[7]Energy Information Administration, “South China Sea,” Country Analysis Briefs, Tháng 3/2008, http://www.eia.gov/emeu/cabs/South_China_Sea/OilNaturalGas.html.

[8] BP, Statistical Review of World Energy,” (Tháng 6/2011), 6.

[9] Các chuyên gia chỉ ra chính xác rằng các đánh giá của Trung Quốc chỉ bao gồm tổng thể trữ lượng dầu mỏ và khí đốt mà không tính đến số liệu chuẩn của ngành công nghiệp về tỷ trọng của dầu khí có thể thu hồi được, con số đã được chứng minh là khoảng 10%. Chính vì thế, tuyên bố của Trung Quốc về tiềm năng năng lượng ở Biển Đông là thái quá. Tham khảo thêm, Clive Schofield, Ian Townsend-Gault, Hasjim Djalal, Ian Storey, Meredith Miller and Tim Cook, “From Disputed Waters to Seas of Opportunity,” Special Report No. 30 (National Bureau of Asian Research, Tháng 7/ 2011), 12.

[10] Sachin Parashar, “Undeterred India to Hunt for Oil in South China Sea,” The Times of India, 17 tháng 9, 2011, http://articles.timesofindia.indiatimes.com/2011-09-17/india/30168478_1_respect-and-support-countries-ongcvidesh- pham-binh-minh.

[11]Department of Energy, “World Oil Transit Chokepoints,” February 2011,http://www.eia.gov/cabs/world_oil_transit_chokepoints/Full.html.

[12] Tham khảo phần tham luận trong « Malacca dilemma » ở chương viết của Ian Storey trong tập san này.

[13] Andrew Erickson và Gabriel Collins, “China Aims to More Than Triple Its Oil & Gas Production in the South China Sea over the Next 10 years,” China SignPost, 31 (3/4/2011), http://www.chinasignpost.com/wp-content/uploads/2011/04/China-SignPost_31_China-Deepwater-Energy-Production_201104032.pdf.

[14] Những nhà phân tích về năng lượng đã đánh giá, trong những cuộc trò chuyện cá nhân, rằng nhiên liệu sinh học có thể đạt cân bằng giá với dầu mỏ vào khoảng năm 2020. Các chuyên gia lập luận rằng thời gian cần thiết để tăng quy mô sản xuất của nhiên liệu sinh học nhằm cho ra được sản phẩm có mức giá cạnh tranh phụ thuộc nhiều vào ngành công nghiệp đang dẫn dắt phát triển, ngoài ra còn phụ thuộc vào các điều kiện về đầu tư quan trọng khác : « Nếu tham khảo dựa theo các kiến thức về công nghệ sinh học thì thời gian cần thiết là khoảng từ 5 đến 10 năm. Nếu nhìn từ góc độ của ngành công nghiệp dầu khí truyền thống, với các chu kỳ phát triển lâu dài cùng với sự phức tạp và quy mô của hệ thống phân phối, thời gian đó có thể kéo dài từ 15 đến 20 năm ». Daniel Yergin, The Quest: Energy, Security, and the Remaking of the Modern World (New York: Penguin Press, 2011), 663.

[15] Theo Tư lệnh Hải quân Mỹ, ông Ray Mabus, với nhu cầu khiêm tốn của Hải quân, giá nhiên liệu làm từ tảo đã bị cắt giảm một nửa trong năm qua và sẽ dự báo bị cắt giảm tiếp một nửa trong năm nay. Department of Defense Bloggers Roundtable with Ray Mabus, Secretary of the Navy, August 22, 2011. See also Defense Logistics Agency, “Request for Information: Procurement of Hydro-Renewable Jet and Marine Diesel Fuel,” 23/5/2011, https://www.fbo.gov/?s=opportunity&mode=form&id=173a64498bcfa1e6da5b34df1aab2f91&tab=core&_cview=0.

[16] Ví dụ, đọc European Commission on Climate Action, “Reducing Emissions from the Aviation Sector,” (January 4, 2011), http://ec.europa.eu/clima/policies/transport/aviation/index_en.htm; và President Barack

Obama, “Executive Order 13514,” October 5, 2009, http://www.whitehouse.gov/assets/documents/2009fedleader_eo_rel.pdf.

 

Trung Quốc đang đòi hỏi lợi ích của mình theo những cách thức có thể đe dọa đến những nguyên tắc nền tảng đang điều phối quan hệ quốc tế. Xu hướng này được minh chứng rõ nét nhất tại Biển Đông. Mỹ cần can dự để Trung Quốc tuân thủ luật pháp quốc tế hiện hành.

 

Trung Quốc đang đòi hỏi lợi ích của mình theo những cách thức mà có thể đe dọa đến những quy tắc nền tảng đang kiểm soát những lợi ích hàng hải chung toàn cầu. Xu hướng này được minh chứng rõ nét nhất tại Biển Đông, nơi những chính sách và hành động của Trung Quốc đang thách thức đến an ninh và sự ổn định tại đây.

Trung Quốc đang thách thức những quy tắc này theo hai cách. Thứ nhất, nước này đang thách thức đến những điều khoản đã được thiết lập của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS), cho phép các quốc gia tuyên bố Vùng Đặc quyền Kinh tế (EEZ) và thềm lục địa. Thay vào đó, Trung Quốc xác định các quyền tài phán trên biển của mình dựa vào một “đường chín đoạn” mang tính lịch sử, thay vì dựa vào EEZ và thềm lục địa,[1] Quan điểm này liên quan đến cách mà các quốc gia có thể yêu sách một cách hợp pháp các quyền tài nguyên trên biển một cách hợp pháp ngày càng tăng, gây ra xung đột với các nước láng giềng tại Biển Đông.

Thứ hai, Trung Quốc đang thách thức các quyền của hải quân các nước khác trong việc tiến hành các hoạt động, tập trận và thu thập tình báo trong những vùng EEZ của các nước khác. Mặc dù Trung Quốc có lợi ích căn bản đối với trật tự hiện tại, nhưng quan điểm của Bắc Kinh đối với một số quy tắc chính về kiểm soát những hoạt động quân sự trên hệ thống toàn cầu lại có sự khác biệt đối với những quan điểm của Mỹ và các quốc gia khác có quan điểm giống Mỹ. Những hoạt động như vậy của Trung Quốc vừa tạo ra sự bất ổn tại Biển Đông, vừa làm xói mòn những quy tắc luật pháp quốc tế được tạo ra nhằm ngăn chặn sự bất ổn quốc tế và xung đột vũ trang.

Thách thức mà Trung Quốc tạo ra đối với những quy tắc hàng hải hiện tại đang gây ra những rạn nứt đối với hệ thống trật tự toàn cầu mà các nước đã thiết lập sau hai cuộc chiến tranh thế giới nhằm thúc đẩy hòa bình và thịnh vượng. Trong hàng thập kỷ qua, trật tự đó cho phép việc tiếp cận đến những thị trường hàng hóa, nguồn tài nguyên và thương mại, cũng như những cơ chế giải quyết tranh chấp một cách hòa bình. Châu Á, đặc biệt là Đông Á, đã có được những lợi ích vô cùng to lớn từ hệ thống trật tự này. Cụ thể là về kinh tế, Trung Quốc xếp thứ hai, Nhật Bản thứ ba, Hàn Quốc thứ 12, Indonesia thứ 15 và Đài Loan thứ 19 trên thế giới.[2] Mặc dù những rạn nứt trong trật tự hiện tại cho đến giờ vẫn chỉ là những rạn nứt nhỏ ban đầu, nhưng vẫn cần thiết phải có sự lãnh đạo hiệu quả và liên tục của Mỹ để kiềm chế những thách thức mà Trung Quốc tạo ra và củng cố vững chắc đối với nền tảng của trật tự toàn cầu hiện nay.

Ba Trụ cột của Toàn cầu hóa Hiện đại

Quyền tiếp cận các nguồn tài nguyên và thương mại tự do và dựa vào thị trường là một trong những trụ cột của toàn cầu hóa hiện đại. Đó là sự khác biệt chính so với toàn cầu hóa cách đây một thế kỷ và là một yếu tố duy trì ổn định và cho phép tất cả các quốc gia dựa vào đó để tiếp cận những phương thức cho tăng trưởng và phát triển. Đặc biệt, hệ thống này là nhân tố quan trọng nhất tạo ra sự tăng trưởng cho nền kinh tế Trung Quốc. Không giống như Nhật Bản, Đức, là các quốc gia vào thời kỳ đầu thế kỷ trước đã gặp phải sự cô lập từ những cường quốc thực dân – những nước không chịu nhượng bộ đối với những nguồn tài nguyên mà hai quốc gia này cần cho sự phát triển sức mạnh và sự giàu có, Trung Quốc có thể cạnh tranh tìm kiếm nguồn tài nguyên ở một vị thế bình đẳng hợp lý với các cường quốc hiện tại. Trung Quốc được hưởng lợi lớn từ thực tế là nước này không cần phải phá vỡ hệ thống này khi tham gia vào đó. Trong một chừng mực nào đó, có thể nói thế kỉ 20 có sự kết thúc cũng gần tương tự như cái cách mà nó bắt đầu. Theo Alan Taylor, năm 1911, “thị trường vốn toàn cầu có ấn tượng ở mực độ hội nhập…giống như ngày nay”.[3] Đầu tư nước ngoài tính theo tỷ lệ phần trăm tổng sản phẩm quốc nội toàn cầu (GDP) tăng trưởng ổn định từ 1870 đến 1914, giảm mạnh từ 1914 đến những năm 1980 do hai cuộc chiến tranh thế giới và Chiến tranh lạnh ngay sau đó, và sau đó lại tăng trưởng nhanh trong hai thập kỷ cuối thế kỷ 20.[4] Tương tự, thương mại thế giới tính theo tỷ lệ phần trăm GDP toàn cầu là 10% năm 1870, tăng 21% vào năm 1914, giảm xuống còn  9% vào năm 1938 và tăng lên 27 % vào năm 1992.[5]

Tuy nhiên, có những khác biệt chính mang tính cấu trúc giữa toàn cầu hóa của năm 1991 và toàn cầu hóa ngày nay. Năm 1991, những đế quốc rộng lớn đã thống trị trên toàn cầu, đặc biệt là lục địa Á – Âu và châu Phi và các vùng ngoại biên những đế quốc này. Đế quốc Anh và những thuộc địa của nước này bao gồm Vương quốc Liên hiệp Anh; Canada; Úc; New Zealand; Nam Phi; tiểu lục địa Ấn Độ; những phần lớn phía đông, tây và nam châu Phi; Malaysia; những phần phía Nam Mỹ; Trung Mỹ và quần đảo Caribe; Hồng Công và những nhượng địa khác của Trung Quốc; và rất nhiều hòn đảo nằm phân tán rộng khắp toàn cầu. Tổng cộng, Đế quốc Anh đã kiểm soát xấp xỉ 25% lãnh thổ và dân số thế giới, và do đó cũng kiểm soát luôn phần thị trường và nguồn tài nguyên chính của thế giới. Tương tự, Pháp kiểm soát Đông Dương, Madagasca và những hòn đảo khác tại Ấn Độ Dương và xấp xỉ 1/3 châu Phi. Nga kiểm soát trung tâm Âu – Á với xấp xỉ 20% lãnh thổ thế giới, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Đức và Italia tất cả đều trực tiếp kiểm soát những vùng lãnh thổ bên ngoài và nguồn tài nguyên và thị trường của họ.

Năm 1911, chi có 45 quốc gia hoàn toàn độc lập, trong đó 21 quốc gia tại Bắc và Nam Mỹ, chiếm tổng số gần 47%.[6]  Do đó, chỉ với 24 quốc gia còn lại nhưng đã nắm quyền kiểm soát toàn bộ châu Âu, châu Phi, nhiều phần của châu Á, những quần đảo ở châu Á, Úc và châu Đại Dương, cũng như dân số và nguồn tài nguyên của vùng lãnh thổ rộng lớn này. Trung Quốc, mặc dù trên danh nghĩa độc lập nhưng thực tế thì không phải vậy. Cuối năm 1911, một trong những tàn dư cuối cùng của triều đại nhà Thanh một thời hùng mạnh đã sụp đổ, và một nước cộng hòa yếu ớt chỉ mới bắt đầu hình thành từ đống tro tàn. Tại nhiều khu vực, đặc biệt là dọc theo bờ biển, sự ổn định được duy trì không chỉ bởi các chính quyền bản địa mà còn nhờ bởi tám quốc gia bên ngoài tại những phần đất nhượng của Trung Quốc.[7] Trái lại, vào 2011, có 197 quốc gia độc lập trên toàn thế giới.[8]

Do vậy, sự khác biệt chính giữa 1911 và 2011 là sự phân tán rộng lớn hơn về quyền lực chính trị cho phép dân cư bản địa có được nhiều sự tiếp cận thị trường hàng hóa và nguồn tài nguyên hơn. Mặc dù những điều kiện chính trị cục bộ chắc chắn sẽ tạo ra nhiều cách tiếp cận thị trường cho  người bản địa, và cả quyền kiểm soát của họ đối với lợi ích từ những nguồn tài nguyên địa phương hơn, tuy nhiên số lượng quốc gia tham gia vào hệ thống thương mại toàn cầu tăng lên cũng góp phần khuyến khích những nguyên tắc thị trường và cạnh tranh nói chung.

Trụ cột thứ hai của toàn cầu hóa hiện đại là sự phát triển của những thể chế quốc tế khuyến khích sự ổn định về chính trị, kinh tế và quân đội, cho phép các quốc gia tiếp cận một cách chủ động  các nguồn tài nguyên và thị trường. Năm 1911, Công ước Hague (Lahay – ND) – một bộ các  hiệp định rất hạn chế tập trung vào việc tiến hành chiến tranh –  là những hiệp định quốc tế duy nhất lúc đó để ngỏ cho tất cả quốc gia. Tại thời điểm đó, các hiệp định này mới tồn tại được khoảng một thập kỷ, và một số còn chưa bao giờ được chấp nhận rộng rãi. Các văn kiện này thiết lập nên một định chế thường trực quốc tế duy nhất trên thế giới, tòa Trọng tài Thường trực, và tòa này chỉ mới bắt đầu hoạt động khi Chiến tranh thế giới I xảy ra khiến cho các phong trào hợp tác quốc tế bị đình trệ. Mục đích dự định của tòa án là giúp đỡ các quốc gia trong việc phân xử  những tranh chấp, nhưng mục đích đó đã không được thừa nhận rộng rãi trong những năm đầu và ít được biết đến. Một phần là vì có rất ít các quy chuẩn cũng như các luật lệ quốc tế được chấp nhận rộng rãi vào năm 1911 để cho cơ quan này có thể áp dụng. Do đó, sự tích lũy sức mạnh quốc gia, đặc biệt là sức mạnh quân sự là cách cơ bản để các nước đạt được sự thịnh vượng. Vì một lượng nhỏ quốc gia kiểm soát những thị trường, nguồn tài nguyên và lãnh thổ giàu có trong hệ thống thuộc địa, do vậy những lãnh đạo của những quốc gia này ở vào vị thế rất thuận lợi để phát triển sức mạnh quân sự và có thể ngăn chặn một cách hiệu quả những quốc gia đang trỗi dậy để đạt được sức mạnh tương tự. Do vậy, để phát triển, những cường quốc đang trỗi dậy thường không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc phá vỡ hệ thống hiện hành bằng quân sự. Do đó, những quy tắc và luật pháp về việc cấm sử dụng vũ lực được hình thành một cách chậm chạp.

Ngay cả khi những quy tắc này bắt đầu thống nhất, đặc biệt là sau Chiến tranh thế giới I, những cường quốc trỗi dậy ở giai đoạn sau cũng không chấp nhận những quy tắc này. Họ nhìn nhận những quy tắc phát triển đó là sự kiềm chế do những cường quốc lúc đó - như Anh và Pháp - đưa ra, để duy trì sự cai trị thế giới của mình. Và do đó các nước này ngăn cản những cường quốc trỗi dậy, như Đức và Nhật Bản, nhằm duy trì được sức mạnh, quyền lực và sự ảnh hưởng của mình. Những thể chế, luật lệ và quy tắc ngày nay được hình thành sau Chiến tranh thế giới II nhằm kiểm soát những thay đổi về sức mạnh kinh tế mà không cần phải sử dụng tới chiến tranh. Những cấu trúc thể chế quốc tế rộng rãi và luật quốc tế tiến bộ ngày nay đưa ra một cấu trúc mang tính quy chuẩn mạnh mẽ nhằm hỗ trợ cho việc tiếp cận của các nền kinh tế thị trường tới các nguồn tài nguyên, độc lập của các quốc gia lãnh thổ, bảo vệ những quốc gia này trước sự xâm lược và sự tự do thương mại hàng hóa toàn cầu.

Trụ cột thứ ba của toàn cầu hóa là sự ổn định về những lợi ích chung toàn cầu (khía cạnh này sẽ được tập trung phân tích trong phần còn lại của chương này). Nền tảng sự ổn định của những lợi ích chung toàn cầu bao gồm hai nhân tố chính. Thứ nhất là sự tự do tiếp cận đối với sức mạnh biển nhằm đảm bảo thương mại và bảo vệ chủ quyền của các quốc gia. Cần lưu ý rằng, sức mạnh biển bao gồm cả cường quốc hải quân và những lực lượng thực thi pháp luật trên biển của các quốc gia duyên hải, như lực lượng phòng vệ biển. Thứ hai, khuôn khổ tài phán tài nguyên quy định những quyền chủ quyền đối với tài nguyên biển tại những khu vực địa lý được quy định rõ của biển trong khi vẫn duy trì được tự do tiếp cận theo luật quốc tế và sử dụng đối với hầu hết các hoạt động phi kinh tế liên quan khác.

Kiểm soát những lợi ích hàng hải chung.

Trong những lợi ích hàng hải chung, lực lượng hải quân tạo ra sự ổn định trên biển cho phép sự vận hành thích hợp trong hệ thống toàn cầu và đưa đến lợi ích kinh tế cho các quốc gia. Lực lượng hải quân dựa vào những quyền tổng quát sự về tiếp cận những đại dương trên thế giới nhằm đảm bảo an ninh toàn cầu trước những xung đột giữa các quốc gia; những sự tiếp cận như vậy cho phép các quốc gia răn đe và ngăn chặn những quốc gia khác theo đuổi chính sách hung hăng. Hiến chương Liên Hợp Quốc đã rất coi trọng những khái niệm này ngay trong lời mở đầu, tuyên bố rằng Liên Hợp Quốc đã được thiết lập “…để liên kết sức mạnh nhằm duy trì an ninh và hòa bình thế giới, và để đảm bảo rằng - bằng việc chấp nhận những nguyên tắc và việc thiết lập những biện pháp - lực lượng được vũ trang sẽ không được sử dụng, gìn giữ lợi ích chung.”[9]

Ngoài việc gìn giữ hòa bình giữa các quốc gia, lực lượng hải quân cũng thực hiện vai trò giống như lực lượng cảnh sát. Trong một vài tình huống cụ thể, lực lượng hải quân có thể thực hiện quyền tài phán nhằm ngăn chặn những hoạt động tội phạm trên biển, ví dụ như cướp biển hay buôn người. Vai trò cảnh sát của hải quân cũng có thể hỗ trợ những lực lượng thực thi luật pháp hợp pháp quốc gia đối với những tàu thuộc quốc gia mình và với trường hợp các nước ven biển thì đó là quyền trong vùng biển của họ bằng việc thực hiện quyền tài phán thay mặt khi được yêu cầu. Theo đó, lực lượng hải quân thực hiện một cách có hiệu quả hoạt động ngăn chặn buôn ma túy bất hợp pháp; khủng bố xuyên quốc gia; sự gia tăng vũ khí thông thường và phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, những mầm mống, các thành tố và hệ thống vận chuyển của sự gia tăng này. Điều này một phần đáp ứng lời kêu gọi của Hiến chương Liên Hợp Quốc “thực hiện khoan dung và chung sống hòa bình với quốc gia khác như những láng giềng tốt, và …sử dụng thể chế quốc tế cho việc thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội cho tất cả mọi người.”[10]

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây

Peter Dutton

Nguyễn Việt (dịch)

Quang Hưng (hiệu đính)

 

Bản dịch chương IV: Cracks in the Global Foundation: International Law and Instability in the South China Sea trong báo cáo: Cooperation from Strenth: The United States, China and the South China Sea của Trung tâm An ninh mới (CNAS) của Mỹ.



[1] Về thảo luận chi tiết về Đường chín đoạn, xem Chương của Patrick M. Cronin và Robert D. Kaplan trong cuốn sách này

[2] Xếp hạng này dựa trên dữ liệu Sức mua tương đương (Purchase Power Parity) vào tháng 9 năm 2010 và báo cáo của IMF tại www.imf.org/external/pubs/ft/weo/2010/02/weodata/weorept.aspx.

[3] Alan M. Taylor, “Globalizing and New Comparative Economic History,” NBER Reporter Research Summary (Winter 2006, cambridgeforecast.wordpress.com/2007/05/07/globalization-1870-1914-versus-globalization-today.

[4] Sđd

[5] Sđd

[6] 45 quốc gia lúc đó là Afghanistan, Argentina, Austro-Hungary, Belgium, Bolivia, Brazil, Chile, Trung Quốc, Colombia, Costa Rica, Cuba, Đan Mạch, Cộng hòa Dominican, Ecuador, El Salvador, Ethiopia, Pháp, Đức, Hy Lạp, Guatemala, Haiti, Honduras, Italy, Nhật Bản, Liberia, Luxembourg, Mexico, Nicaragua, Hà Lan, Na Uy, Ottoman Empire, Panama, Paraguay, Persia, Peru, Portugal, Nga, Siam, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Anh, Mỹ, Uruguay và Venezuela.

[7] Tám quốc gia có đất nhượng tại Trung Quốc vào năm 1911 là Áo – Hung, Bỉ, Pháp, Đức, Italia, Nhật Bản, Nga và Anh. . Ngoài ra, Bồ Đa Nha sở hữu Macau, Nhật Bản sở hữu Đài Loan và Anh sở hữu Hồng Công.

[8] Bao gồm 196 quốc gia thành viên của Liên Hợp Quốc, cộng với Vatican.

[9] Lời tựa, Hiến chương Liên Hợp Quốc,  www.un.org/en/documents/charter/preamble.shtml.

[10] Sđd

 

Lợi ích của Mỹ đang bị đe dọa trước sự trỗi dậy của Trung Quốc. Những luật chơi mà Mỹ đã thiết lập đang có nguy cơ “bị xem xét lại”, điển hình lại tại Biển Đông. Mỹ cần làm gì? Các khuyến nghị đầy đủ của think-tank hàng đầu của Mỹ CNAS.

 

I.              KHÁI QUÁT CHUNG

Lợi ích của Hoa Kỳ tại Biển Đông ngày càng bị đe dọa bởi sự tăng trưởng kinh tế và quân sự của Trung Quốc và những lo ngại về thiện chí thực hiện các quy chuẩn pháp luật hiện hữu của nước này. Mỹ và các nước trong khu vực có lợi ích sâu sắc và vĩnh cửu đối với các tuyến đường biển, mở cho tất cả nước cả về thương mại cũng như các hoạt động quân sự hòa bình như can thiệp nhân đạo hay bảo vệ bờ biển. Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn tiếp tục thách thức sự tự do này bằng cách đặt nghi ngờ đối với các quy phạm hàng hải truyền thống và phát triển tiềm lực quân sự nhằm cho phép nước này đe dọa sự tiếp cận của các nước với khu vực biển này.

Ý nghĩa địa chiến lược của Biển Đông thật khó để phóng đại. Biển Đông có chức năng như cổ họng của Tây Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương - phần lớn mạng lưới liên kết kinh tế nơi mà các tuyến đường biển toàn cầu hợp nhất, chiếm 1,2 tỷ USD thương mại Mỹ hàng năm. Vùng biển này là trung tâm của nền kinh tế thế giới thế kỉ 21, nơi mà 1,5 tỷ người Trung Quốc, gần 600 triệu người Đông Nam Á và 1,3 tỷ cư dân của tiểu lục địa Ấn Độ vận chuyển các tài nguyên thiết yếu và trao đổi hàng hóa trong khu vực và trên toàn cầu. Biển Đông là một khu vực có hơn nửa tá các nước chồng lấn yêu sách lãnh thổ đối với một khu vực đáy biển có trữ lượng dầu đã được xác định là ít nhất 7 tỷ thùng và 900 nghìn tỷ feet khối khí tự nhiên.

 Bảo vệ lợi ích của Mỹ và thúc đẩy việc giữ nguyên trạng (status quo) không cần và không nên dẫn đến xung đột với Trung Quốc. Cả Mỹ và Trung Quốc sẽ tiếp tục hưởng lợi từ hợp tác và thực tế là, không một quốc gia châu Á nào hưởng lợi từ trật tự quốc tế do Mỹ dẫn đầu nhiều hơn Trung Quốc. Tuy nhiên, quản lý căng thẳng và thúc đẩy hợp tác ở Biển Đông đòi hỏi một sự quan tâm lớn bền bỉ và thận trọng từ Washington.

Trong những thập niên tới, thách thức cho Hoa Kỳ sẽ là làm thế nào để duy trì những quy tắc truyền thống về tự do hàng hải, trong khi thích ứng với sức mạnh các hoạt động ngày càng tăng của các nước trong khu vực, bao gồm cả Trung Quốc. Mục tiêu là hợp tác, nhưng hợp tác có thể được thúc đẩy một cách tốt nhất từ vị trí sức mạnh. Điều này đòi hỏi Mỹ phải duy trì sức mạnh và mở rộng hợp tác khu vực, một quan niệm có thể được gọi là "ưu tiên hợp tác”.

Để bảo vệ quyền lợi của Mỹ và các đồng minh ở Biển Đông và duy trì những quy tắc pháp lý đã tồn tại từ lâu, các nhà hoạch định chính sách Mỹ nên thực hiện năm bước sau:

Đầu tiên, Mỹ cần tăng cường sự hiện diện của hải quân trong dài hạn bằng cách xây dựng một hạm đội gồm 346 tàu thay vì giảm xuống 250 tàu do cắt giảm ngân sách và thu hồi các tàu chiến cũ trong thập kỷ tới. Quan hệ ngoại giao và kinh tế với Trung Quốc và các nước khác sẽ đạt hiệu quả hơn khi nó được hỗ trợ bởi một vị thế quân sự có thể tin tưởng. Tuy nhiên, phát triển Hải quân phải dựa trên tăng trưởng kinh tế lành mạnh trong tương lai – đây là ưu tiên chiến lược của Mỹ.

Thứ hai, Mỹ nên thúc đẩy một mạng lưới đối tác an ninh. Mô hình liên minh “trục bánh xe và nan hoa” giữa Mỹ và các đối tác Đông Á đang bị lấn át bởi một mạng lưới các quan hệ rộng hơn, phức tạp hơn và có sức lan tỏa hơn, trong đó các nước Châu Á là những nhân tố thúc đẩy chính. Xây dựng một mạng lưới các đối tác và đồng minh mạnh hơn trong khu vực Đông Nam Á phải là một mục tiêu dài hạn và quan trọng của Mỹ.

Thứ ba, Mỹ cần phải đảm bảo rằng hòa bình và an ninh ở Biển Đông phải được đặt lên hàng đầu trong chương trình nghị sự ngoại giao và an ninh của nước này. Tự do hàng hải là một mối quan tâm phổ quát, hợp tác hàng hải và các cơ chế giải quyết tranh chấp một cách hòa bình nên tiếp tục được thảo luận trong các diễn đàn khu vực. Mỹ cũng cần xây dựng các thể chế đa phương về lâu dài nhưng cũng thừa nhận rằng trong thực tế Mỹ có thể cần phải tập trung vào các cách tiếp cận song phương hoặc tiểu đa phương để tránh khiêu khích Trung Quốc.

Thứ tư, Mỹ cần thúc đẩy hơn nữa hội nhập kinh tế trong khu vực cũng như giữa Mỹ với khu vực, với sự tập trung đặc biệt về thương mại. Thương mại chính là đồng tiền ở khu vực Châu Á và có thể giúp kết nối các đầu tư chiến lược của Mỹ với khu vực năng động nhất trên thế giới này.

Thứ năm và cuối cùng, Mỹ cần có chính sách đúng với Trung Quốc. Điều này đòi hỏi quan hệ ngoại giao và kinh tế năng động phải được hỗ trợ bởi một vị thế quân sự mạnh mẽ và một nền kinh tế phát triển. Một chính sách thực tế bắt đầu bằng việc củng cố sức mạnh của Mỹ sau đó tích cực ủng hộ hợp tác dựa trên luật pháp; chính sách này tránh xung đột vũ trang nhưng không tránh đối đầu ngoại giao.

II.            GIỚI THIỆU

Lợi ích của Mỹ tại Biển Đông ngày càng bị đe dọa. Bảo vệ những lợi ích này không cần - và không nên - dẫn đến xung đột với Trung Quốc. Tuy nhiên, quản lý căng thăng và thúc đẩy hợp tác ở Biển Đông đòi hỏi một sự quan tâm lớn bền bỉ và thận trọng từ Washington.

Tầm quan trọng của Biển Đông vẫn còn bị định giá thấp, được thảo luận chủ yếu giữa các chuyên gia về khu vực chứ không phải là một bộ phận tiêu biểu rộng lớn của cộng đồng an ninh quốc gia. Nhưng Biển Đông xứng đáng nhận được sự ưu tiên quan tâm. Khi mà hệ thống dựa trên luật pháp đã tồn tại hàng thế kỷ do Mỹ thúc đẩy bị thách thức bởi một Trung Quốc đang trỗi dậy thì Biển Đông sẽ là chỉ dấu chiến lược để xác định tương lai khả năng lãnh đạo của Mỹ trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Vấn đề liệu Tây Thái Bình Dương có duy trì là một khu vực hàng hải mở cửa, ổn định và thịnh vượng hay đang dần trở thành lò lửa của sự tranh cãi phân cực như thời Chiến tranh lạnh hay không có thể sẽ được giải quyết tại khu vực biển quan trọng này. Biển Đông là nơi mà các nước như Việt Nam, Malaysia và Philippines phải đối mặt với hiện tượng “Phần Lan hóa” của Trung Quốc nếu sức mạnh hải quân và không quân của Mỹ suy giảm. Tóm lại, Biển Đông là nơi mà toàn cầu hoá xung đột với địa chính trị.

Nếu kinh tế thế giới có một trung tâm địa lý, thì đó là Biển Đông. Khoảng 90% hàng hoá thương mại vận chuyển từ lục địa này qua lục địa khác đều bằng đường biển, khoảng một nửa số hàng hóa này về mặt tổng chi phí vận chuyển (một phần ba về giá trị tiền) đi qua Biển Đông[1]. Biển Đông có chức năng như cổ họng của Tây Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương - phần lớn mạng lưới liên kết kinh tế nơi mà các tuyến đường biển toàn cầu hợp nhất, chiếm 1,2 tỷ USD thương mại Mỹ hàng năm.[2] Sự phụ thuộc quá mức của Trung Quốc và ở một mức độ nào đó, của tất cả các nước công nghiệp, vào một eo biển Malacca an toàn được gọi là “tình thế tiến thoái lưỡng nan ở Malacca”.[3] Ở các mức độ khác nhau, tất cả các quốc gia đều phụ thuộc vào eo biển hẹp kết nối Ấn Độ Dương với Tây Thái Bình Dương - Vịnh Bengal với Biển Đông - qua đó dầu và khí tự nhiên từ Trung Đông có thể được vận chuyển một cách an toàn qua biển tới tầng lớp trung lưu mới nổi ở Đông Á, bộ phận rất quan trọng đối với nền kinh tế thế giới.

Địa chính trị là thế lực đối kháng lại toàn cầu hóa, phân chia thế giới thay vì hợp nhất nó. Biển Đông là nơi mà một Trung Quốc đang trỗi dậy về quân sự  ngày càng thách thức tính ưu việt của hải quân Mỹ - một xu hướng mà nếu cứ để đi theo quỹ đạo hiện tại, có thể phá vỡ sự cân bằng quyền lực đã tồn tại từ cuối Chiến tranh thế giới thứ II và đe dọa các tuyến đường biển (SLOCs). Là người bảo lãnh chủ yếu của tự do hàng hải toàn cầu, Hoa Kỳ có lợi ích sâu sắc và vĩnh cửu trong việc bảo đảm rằng SLOCs vẫn mở cửa với tất cả các nước, không chỉ về thương mại mà cả các hoạt động quân sự hòa bình như can thiệp nhân đạo và bảo vệ bờ biển.

Mỹ có thể bảo vệ một trật tự khu vực hoà bình và thịnh vượng tốt nhất bằng cách bảo toàn quyền tiếp cận các SLOCs quan trọng. Sự bất lực của Mỹ trong việc triển khai đủ sức mạnh cần thiết vào Biển Đông sẽ làm thay đổi những tính toán an ninh của tất cả các nước trong khu vực. Nếu  Mỹ không những mất khả năng làm phức tạp kế hoạch của kẻ thù mà còn ngày càng trở nên dễ bị tấn công trước một Trung Quốc liên tục hiện đại hóa quân sự thì các nước khác trong khu vực có thể sẽ ngả về một Trung Quốc hùng mạnh.

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây

Patrick M. Cronin, Robert D. Kaplan

Quách Huyền (dịch)

Quang Hưng (hiệu đính)

Bản dịch chương I: Cooperation from Strength: U.S. Strategy and the South China Sea trong báo cáo: Cooperation from Strenth: The United States, China and the South China Sea của Trung tâm An ninh mới (CNAS) của Mỹ.



[1]U.S. Energy Information Administration, South China Sea: Oil & Natural Gas (March 2008); và  Robert D. Kaplan, “China’s Caribbean,”  Tờ The Washington Post, ngày  26 tháng  9, 2010.

[2] Số liệu này được các quan chức  Mỹ tại Hội nghị Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương at the Asia-Pacific vào tháng 11 năm 2011. Xem David Nakamura, “Global Security Trumps Economics at APEC,” Tờ The Washington Post, 14 tháng 11, 2011, 10.

[3] Juli A. MacDonald, Amy Donahue and Bethany Danyluk, “Energy Futures in Asia: Final Report,” (Booz Allen Hamilton, November 2004). Đoạn trích dẫn được lần đầu được tuyên bố bởi chuyên gia Mỹ Trung Quốc Ross Munro.

 

Bài viết của Chuẩn Đô Đốc (đã nghỉ hưu) Rosihan Arsyad, Hải quân Indonesia[1] phân tích tầm quan trọng về chiến lược, kinh tế của Biển Đông đối với các cường quốc:Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ…và đối với cộng đồng quốc tế. Trong bối cảnh tình tranh chấp phức tạp và kéo dài, tác giả đưa ra một số biện pháp hợp tác trên cơ sở cần bằng lợi ích giữa các bên nhằm tạo ra môi trường hòa bình, ổn định và an ninh tại Biển Đông

GIỚI THIỆU

Học giả về sức mạnh biển người Mỹ Afred Thayer Mahan rất chính xác khi nhận định rằng: “Từ góc độ chính trị xã hội, điều đầu tiên và rõ ràng nhất mà biển thể hiện chính là con đường rộng lớn hay có lẽ đúng hơn là một khu vực chung rộng lớn mà con người có thể qua lại từ mọi hướng”.[2] Từ nhận định này, đã xuất hiện một sự thừa nhận rộng rãi rằng đại dương là “di sản chung của nhân loại” và điều này chính là khởi nguồn quan trọng cho việc xây dựng Công ước luật biển.

Trong khi biển cả vẫn duy trì chức năng chính như một kênh giao thông quan trọng, hiện có kỳ vọng lớn hơn về những nguồn tài nguyên dồi dào mà nó mang lại.[3] Sự quan tâm ngày càng tăng đối với các nguồn tài nguyên biển là một xu hướng tự nhiên vì chúng ta có thể nhận ra rằng nguồn tài nguyên trên đất liền sẽ không đủ để thỏa mãn nhu cầu ngày một lớn hơn của con người. Với nguồn tài nguyên và năng lưọng phong phú, biển được coi là nơi cuối cùng trên trái đất để thăm dò và khai thác nguồn tài nguyên nhằm phục vụ cho nhu cầu ngày càng gia tăng của con người.[4]

Tài nguyên biển ngày càng có ý nghĩa kinh tế quan trọng đối với sự gia tăng dân số trên thế giới. Nhưng theo thời gian, việc khai thác quá mức nguồn tài nguyên thiên nhiên biển và việc vận chuyển các loại hàng hóa đặc biệt là dầu khí và các chất độc hại khác đã gây ra những tác động tiêu cực tới môi trường biển, phá hủy hệ sinh thái biển và cân bằng sinh thái. Chính vì lí do này, con người đang dần nâng cao nhận thức đối với việc bảo vệ môi trường, ngăn ngừa ô nhiễm và kiểm soát tài nguyên nhằm ngăn chặn nguồn tài nguyên biển khỏi cạn kiệt và mất đi.

Vì những vấn đề trên, quan ngại của chúng ta đối với biển cả hầu hết là về các vấn đề: an toàn và an ninh giao thông biển, buôn lậu, kiểm soát ô nhiễm, giám sát tài nguyên biển, đánh bắt trái phép và các mối nguy hại khác đối với an toàn hàng hải đặc biệt là nạn hải tặc và khủng bố trên biển. Nạn hải tặc đã trở thành một vấn đề lớn tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương đặc biệt là tại Biển Đông và nạn cướp biển có vũ trang là một vấn nạn thường xuyên xảy ra taị eo biển Malacca và Singapo. Các phần tử khủng bổ có thể sử dụng thủy lôi và các chất gây nổ nhằm làm gián đoạn tự do hàng hải qua các tuyến đường biển. Một mối lo ngại khác là việc vận chuyện trái phép vũ khí hủy diệt hàng loạt xuất hiện sau vụ khủng bố 11/9 trên đất Mỹ. Các yêu sách và tranh chấp lãnh thổ cũng là vấn đề chủ đạo tại biển Đông. Cũng giống như nhiều yêu sách và tranh chấp khác, tranh chấp tại biển Đông vẫn chưa được các quốc gia có liên quan giải quyết.

Sự lo ngại trên có thể khuyến khích hợp tác quốc tế nhưng nó cũng có thể là nguồn gốc cho đỏi hỏi quyền tài phán và sự cạnh tranh dần dần, đặc biệt khi khu vực này có vị trí chiến lược quan trọng, giàu tài nguyên thiên nhiên như Biển Đông. Công ước Luật biển (UNLOS) ra đời năm 1982 đã xác định một cách rõ ràng cơ sở để xác định ranh giới các vùng nước của một quốc gia. Tuy nhiên khái niệm mới “vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa làm cho việc xác định một cách chính xác ranh giới của EEZ và thềm lục địa rất khó khăn và mập mờ, vì thế có rất nhiều đường ranh giới đối với EEZ và thềm lục địa của mỗi quốc gia. Kết quả là vì mỗi quốc gia xác định ranh giới EEZ và thềm lục địa theo cách giải thích riêng của mình và do sự phức tạp của biển Đông như là một biển nửa kín với rất nhiều các quốc gia ven biểt đã không khỏi dẫn tới xung đột và tranh giành.

TẦM QUAN TRỌNG CHIẾN LƯỢC CỦA BIỂN ĐÔNG

Có ít nhất hai vấn đề chính tại Biển Đông khiến nó trở thành điểm nóng thứ 3 tại khu vực sau vấn đề hạt nhân Triều Tiên và eo biển Đài Loan, đó là vị trí chiến lược của Biển Đông thúc đẩy sự cạnh tranh giữa các cường quốc, tranh chấp lãnh thổ và các yêu sách chồng lấn của các quốc gia trong khu vực.

Biển Đông là một trong những đường thủy chiến lược nhất trên thế giới. Là tuyến đường biển nhộn nhịp thứ hai trên thế giới, Biển Đông là cầu nối quan trọng giữa phương Đông và phương Tây. Hầu hết dầu khí mà Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc nhập khẩu từ Châu Mĩ và Trung Đông đều được vận chuyển qua Biển Đông. Eo biển Malacca và Singapo là cửa ngõ cho các tuyến đường biển thông thương và đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế của tất cả các quốc gia trong khu vực cũng như các quốc gia có sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế. Sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế bắt buộc các quốc gia phải duy trì việc vận chuyển qua đường biển một cách an toàn và suôn sẻ, nhân tố chính của các hoạt động thương mại. Bên cạnh tầm quan trọng về kinh tế, biển Đông còn ẩn chứa một ý nghĩa quan trọng đối với an ninh.

Mỹ cho rằng Biển Đông có vị trí rất chiến lược vì khu vực này là tuyến đường biển quan trọng đối với các lực lượng quân đội của nước này tại Châu Á - Thái Bình Dươn và kiiểm soát Biển Đông là quan tâm hàng đầu của Mỹ trong việc bảo vệ lợi ích quốc gia cũng như các đồng minh của Mỹ. Năm 2001 Mỹ đưa ra Sáng kiến an ninh Hàng hóa (CSI) và năm 2003 là Sáng kiến an ninh chống phổ biến vũ khí hạt nhân (PSI) liên quan đến việc ngăn chặn việc vận chuyển  vũ khí hủy diệt hàng loạt và bảo vệ các vùng biển quốc tế tại eo biển Malacca, Biển Đông và Ấn Độ Dương. Thêm vào đó, Mỹ đã đưa ra Sáng kiến an ninh hàng hải khu vực (RMSI)  hồi tháng 4/2004 kêu gọi các quốc gia ven biển cho phép lực lượng hải quân Mỹ ngăn chặn nạn hải tặc và khủng bố. Tuy nhiên, RMSI, sáng kiến liên quan trực tiếp đến các tuyến đường vận chuyển nhỏ hẹp, chưa bao giờ được cho là cơ chế mở cho sự tham gia của Trung Quốc và Nhật Bản, [5] và do đó nó có thể  bị các quốc gia sử dụng sáng kiến này xem là thách thức. Các quốc gia ven biển không ủng hộ sáng kiến này của Mỹ vì lo sợ nó sẽ chỉ làm phức tạp thêm tình hình xung quanh các tuyến đường biển quan trọng này vì sáng kiến này sẽ chỉ kích thích thêm sự cạnh tranh.

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây

Rosihan Arsyad, Chuẩn Đô Đốc (đã nghỉ hưu)

Quách Huyền (dịch)

Đỗ Thủy (hiệu đính)

Tham luận của Chuẩn Đô Đốc (đã nghỉ hưu) Rosihan Arsyad tại Hội thảo Quốc tế “Triển vọng Hợp tác trong các vấn đề ở Biển Đông - "Prospects of Cooperation and Convergence of the Issues and Dynamics in South China Sea” ngày 31 tháng 5 năm 2011, tại Jakarta, Indonesia do Trung tâm Nghiên cứu chiến lược Châu Á, Jakarta tổ chức.

Bản gốc tiếng AnhCooperation among Regional States in Preventive Diplomacy and Implementation of Code of Conduct to Ensure Peace, Prosperity and Stability in the South China Sea



[1] Bài báo này được trích dẫn, cập nhật và sửa đổi từ bài báo được trình bày bởi Thiếu tướng Hải quân Indonesia Rosihan Arsyad tại cuộc đối thoại về Hợp tác an ninh hàng hải. “Dàn xếp an ninh biển của Indonesia” và “Triển vọng hợp tác an ninh tại Châu Á Thái Bình Dương” và tại Hội thảo an ninh Châu Á. Trường Đại học bang Missippi, Jason, Mỹ, ngày 1-2 tháng 11 năm 2007 với chủ đề “Hợp tác giữa các nước ven biển và hải quân các nước nhằm đảm bảo an toàn cho việc vận chuyện qua eo biển Malacca”.

[2] A.T. Mahan, The Influence of Sea Power Upon History [Ảnh hưởng của quyền lực biển cả đối với lịch sử, 1660-1783, Chương I, trang 68, Discussion of the Elements of Sea Power [Bàn về các yếu tố cấu thành nên quyền lực biển].

[3] Thiếu tướng Hải quân  Pakistan  Saeed  M  Khan, “Key  Note  Address  in International Seminar on Indian Ocean - Indian Ocean, Security and Stability in the Post-cold War Era” [Diễn văn tại Hội thảo quốc tế về Ấn Độ Dương- Ấn Độ Dương, An ninh và ổn định thời kì hậu Chiến tranh lạnh], trang 5

[4] Tlđd

[5] Zhang  Xuegang, “South  Asia  and  Energy,  Gateway  to  Stability” [Nam Á và năng lưọng, cửa ngõ của sự ổn định], An ninh Trung Quốc , Tập 3 Số 2, trang 20.

 

 

Bài viết của tác giả Trang Ngọc Hoa, đăng trên trang trang mạng “Viện Nghiên cứu các Vấn đề Quốc tế Trung Quốc – China Institute of International studies” đã nêu ra một số đánh giá và phân tích của phía Trung Quốc về lợi ích, vai trò và chính sách của Nhật Bản trong vấn đề Biển Đông.

Năm 2010, sau khi Hoa Kỳ bày tỏ sự “quan tâm” xoay quanh vấn đề Biển Đông đối với Trung Quốc, Nhật Bản cũng bắt đầu tích cực có hoạt động can thiệp vào, đồng thời, còn làm khó Trung Quốc trên vấn đề biển Đông hải. Hàng loạt những hành động trên tất nhiên không phải do tình cờ, điều này vốn có quan hệ mật thiết với chính sách hải dương của Nhật Bản bấy lâu nay vẫn nhắm vào Trung Quốc. Trên vấn đề Biển Đông, chính sách tổng thể của Nhật Bản có thể chia ra làm bốn thời kỳ. Thời kỳ đầu sau khi chiến tranh kết thúc, đối với chủ quyền, Nhật bản không có những phản đối khác, tới những năm của thập niên 80 thì bắt đầu đặt quan tâm, sau Chiến tranh lạnh bắt đầu lập kế hoạch để can thiệp, và hiện nay, Nhật Bản đang tích cực can thiệp vào vấn đề. Trọng tâm chiến lược hải dương của Nhật Bản trong tương lai tại Đông hải và Thái Bình Dương sẽ là tiếp tục mở rộng, nhưng cũng sẽ dựa trên nhiều yếu tố quan trọng khác như, an toàn hàng hải của bản thân Nhật bản, kiềm chế thế lực của Trung quốc, ngăn chặn Trung Quốc mở rộng ảnh hưởng, đòi hỏi về hải quyền, và đàm phán với Trung Quốc về chủ quyền tại Đông Hải. Nhật Bản cũng sẽ tiếp tục thực hiện liên minh với Hoa Kỳ, lôi kéo Việt Nam, và còn diễn vai trò của kẻ khoắng nước để dụng hỏa đả công.

I-Vị thế của Biển Đông thay đổi trong chiến lược đối ngoại của Nhật Bản

 

1-Từ thập niên 80 của thế kỷ 20, Nhật Bản bắt đầu quan tâm chú tới vấn đề Biển Đông.

 

Nhật Bản là quốc gia thiếu thốn tài nguyên, có tới 95% lượng năng lượng tiêu thụ phải dựa vào nhập khẩu[1], nguồn năng lượng quan trọng nhất là dầu mỏ chủ yếu đi qua tuyến đường vận chuyển trên Biển Đông để tới được Nhật Bản. Ngoài ra, có tới 99% lượng hàng hóa Nhật Bản xuất khẩu đi các nơi cũng dựa vào tuyến đường biển, những sản phẩm hàng hóa xuất khẩu được vận chuyển tới thị trường Âu châu, những hàng mậu dịch xuất nhập khẩu vào Đông Nam Á và Châu Đại Dương cũng chủ yếu dựa vào tuyến đường qua Biển Đông. Nếu để tầu thuyền chở hàng di chuyển qua Philippine theo tuyến hải trình phía đông, nó sẽ làm cho giá thành hàng hóa thành phẩm của Nhật Bản tăng lên từ 2 đến 5%. Do đó, tuyến đường hàng hải trên Biển Đông được Nhật Bản nhìn nhận đánh giá là “tuyến đường sinh tử” trên biển. Theo đà thực lực kinh tế phát triển nhanh chóng, Nhật Bản ngày càng mở rộng thái độ quan tâm đối với an ninh hàng hải trên tuyến đường Biển Đông.

Đồng thời, thực lực quân sự ngày càng được tăng cường cũng làm cho Nhật Bản chú ý xem xét hơn tới việc bảo vệ an ninh trên tuyến đường biển. Trong thời kỳ đầu lực lượng phòng vệ Nhật Bản mới được thành lập, phạm vi phòng vệ được xác định lấy lãnh thổ làm trung tâm và trải rộng ra trong vòng 200 hải lý, cho tới các vùng eo biển Tsugaru và Tsushima. Những năm của thập niên 80, Hoa kỳ dần thực hiện chiến lược rút gọn trên toàn cầu, đồng thời yêu cầu Nhật Bản đẩy mạnh mở rộng trang bị quân sự, đảm trách nhiều nhiệm vụ tác chiến hơn. Năm 1981, Thủ tướng Nhật Bản Zenko Suzuki viếng thăm Hoa Kỳ, chính thức tiếp nhận yêu cầu của phía chính phủ Mỹ, và cam kết để lực lượng phòng vệ trên biển của Nhật Bản đảm bảo nhiệm vụ bảo vệ cho tuyến đường 1000 hải lý trên biển. Từ đó đến nay, Nhật Bản chịu trách nhiệm bảo vệ an toàn cho “tuyến đường biển tây nam” từ vịnh Osaka tới eo biển bashi, còn tuyến đường biển từ eo biển Bashi xuống phía nam do quân đội Hoa Kỳ đảm trách[2]. Trong “ Sách trắng Quốc phòng Nhật Bản năm 1983” đã lần đầu tiên đưa ra nguyên tắc: “Hàng trăm hải lý xung quanh Nhật Bản, và khoảng 1000 hải lý trên tuyến đường biển trong khu vực là thuộc phạm vi phòng thủ địa lý của Nhật Bản”[3].  

2-Sau Chiến tranh lạnh, Nhật Bản điều chỉnh mục tiêu chiến lược quốc gia, trên mặt chiến lược, từng bước can thiệp vào khu vực Biển Đông.

Sau chiến tranh lạnh, tình hình quốc tế phát sinh nhiều thay đổi sâu sắc. Thực lực kinh tế và quân sự Nhật Bản nhanh chóng được tăng cường, tranh chấp trở thành chính trị, cường quốc về quân sự được khẳng định là mục tiêu chiến lược quốc gia. Đồng thời, từ phía Nhật Bản nhìn lại, sự phát triển nhanh chóng của Trung quốc đã đưa tới cho Nhật Bản một tương lai chịu những áp lực và thách thức, mâu thuẫn Trung - Nhật càng gia tăng. Dưới hoàn cảnh đó, Nhật Bản đã để mắt tới những tranh chấp trên Biển Đông, đồng thời xây dựng luật pháp để thò tay can thiệp vào những vấn đề an ninh liên quan, không ngừng tăng cường mở rộng sức ảnh hưởng tại khu vực này.

Sau khi bùng phát tranh chấp giữa Trung - Phi - Mỹ xung quanh dải đá ngầm Mischief Reef (dải Vành Khăn của VN) năm 1995, Nhật Bản bắt đầu có thái độ khai thác can thiệp trính trị. Trong khi hội đàm giữa những nhà lãnh đạo Nhật Bản và lãnh đạo Trung Quốc, phía Nhật Bản đã liên tiếp bày tỏ ý kiến quan tâm tới quần đảo Trường Sa. Khi tham gia hội nghị Diễn đàn Đông Nam Á lần 2, Ngoại trưởng Nhật Yohey Kono đã đưa ra ý kiến về việc có thể đem vấn đề Biển Đông ra thảo luận trong khuôn khổ của “Diễn đàn khu vực Đông Nam Á”. Nhật Bản kỳ vọng sẽ học hỏi được kinh nghiệm xử lý đối phó với Trung Quốc từ những tranh chấp trên Biển Đông, đồng thời còn muốn dùng những tranh chấp này để khống chế Trung Quốc.

Đọc toàn bộ bản dịch bài viết tại đây

Nguồn 日本在中国南海问题上扮演的角色

Theo Tạp chí “Nghiên cứu các vấn đề quốc tế”, kỳ số 3, năm 2011)

Người dịch: Đăng Dương– Trung tâm Nghiên cứu Biển Đông



[1] Điều tra thống kê tài nguyên của Cục Chính sách Công nghiệp và Kinh tế, thuộc Bộ Kinh tế và Công nghiệp Nhật Bản.

[2] Báo cáo của Tiểu ban Hợp tác và Phòng vệ trực thuộc Uỷ ban Hiệp định  An ninh và Phòng thủ chung Mỹ Nhật. Bản “Báo cáo Triệu Hòa, ngày 27 tháng 11 năm 1953”.http://www.clearing.mod.go.jp/hakusho_data/1981/w1981_9134.html.

[3] Xem “ Sách trắng Quốc phòng Nhật Bản ”. Bản in năm Triệu Hòa thứ 58 http://www.clearing.mod.go.jp/hakusho_data/1983/w1983_03.html

 

 

Trung Quốc và Philíppin vẫn đang đối đầu tại bãi cạn Scarboroug. Mỹ và Philíppin đang tiến hành diễn tập quân sự chung "Vai kề vai", nhưng Trung Quốc cho rằng Mỹ sẽ không bị cuốn vào một cuộc xung đột có thể xảy ra giữa Trung Quốc và Philíppin.

 

  

Trung Quốc và Philíppin vẫn đang đối đầu tại bãi cạn Scarboroug (Trung Quốc gọi là đảo Hoàng Nham), không ai hoài nghi việc Mỹ đứng đằng sau Philíppin, cũng không ai khẳng định Mỹ sẽ vì Philíppin mà tham chiến với Trung Quốc. Tác giả Cổ Lữ tin rằng Mỹ chắc chắn sẽ đứng ngoài khi chiến tranh bùng nổ, giống như năm xưa khi Trung Quốc pháo kích đảo Kim Môn, chiến hạm của Mỹ lập tức rút ra ngoài phạm vi hỏa lực của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Có ba lý do: Thứ nhất, việc Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với đảo Hoàng Nham, tới nay Mỹ vẫn không có ý kiến khác về mặt công khai. Nếu can thiệp, Mỹ không có đầy đủ lý do. Thứ hai, từ sau Chiến tranh Triều Tiên của thế kỷ trước, điều lệnh của quân đội Mỹ đã quy định: Không được xung đột quân sự trực tiếp với Trung Quốc, càng không được khai chiến với Trung Quốc. Tới thế kỷ này, quân lực của Trung Quốc phát triển mạnh, Mỹ tuyệt đối không nắm chắc phần thắng trong chiến tranh với Trung Quốc, lẽ nào lại có thể vì một nước Philíppin nhỏ bé mà gây chiến với Trung Quốc? Thứ ba, đó là sự phát triển mới trong quan hệ Mỹ-Trung. Mỹ được lợi ích rất lớn từ thị trường Trung Quốc, vì thế càng không thể vì Philíppin mà gây chiến với Trung Quốc. Con số thống kê cho thấy mỗi một thập niên, quan hệ kinh tế thương mại Mỹ-Trung lại có những bước tiến vượt bậc. Báo cáo Thường niên của Ủy ban Thương mại Mỹ-Trung công bố mới đây cho biết trong năm 2011, xuất khẩu mậu dịch của Mỹ sang Trung Quốc lần đầu tiên vượt ngưỡng 100 tỷ USD, đạt 103,9 tỷ USD. Trung Quốc trở thành thị trường xuất khẩu lớn thứ 3 thế giới của Mỹ, chỉ sau hai nước đã ký Hiệp định Thương mại Tự do với Mỹ là Canađa và Mêhicô. Báo cáo cũng chỉ rõ: xuất khẩu sang Trung Quốc đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển lành mạnh của kinh tế Mỹ cũng như việc tạo việc làm cho công nhân Mỹ. Rõ ràng, Trung Quốc là thị trường rất quan trọng đối với sức sống của nhiều công ty Mỹ. Ngoài ra, theo báo cáo, trong giai đoạn 2000-2011, lượng hàng hóa xuất khẩu của Mỹ sang Trung Quốc đã tăng gấp 5,42 lần, vượt trội so với lượng hàng hóa của Mỹ sang các thị trường khác trong cùng thời kỳ. Trong vòng 10 năm, giá trị tăng trưởng tuyệt đối về hàng hóa của Mỹ xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc đạt 80,8 tỷ USD, chỉ đứng sau Canađa. Từ năm 2000 đến nay, trong số 50 bang của Mỹ, có 48 bang có mức tăng trưởng xuất khẩu sang Trung Quốc gấp 2 lần trở lên, trong đó 10 bang tăng gấp đôi giá trị xuất khẩu sang Trung Quốc chỉ trong 2 năm. Đối với Mỹ, Trung Quốc rõ ràng là thị trường có tiềm lực rất lớn. Theo tác giả, chỉ cần Mỹ không tự đặt ra rào cản cho chính mình, chỉ không đến vài năm, Trung Quốc có thể vượt lên trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của Mỹ. Dù tăng trưởng xuất khẩu của Mỹ sang Trung Quốc là nhanh nhất, nhưng đối với một nước lớn với dân số gần 1,4 tỷ người như Trung Quốc, số hàng xuất khẩu trị giá hơn 100 tỷ USD mỗi năm của Mỹ vẫn quá nhỏ. Số liệu của phía Trung Quốc cho thấy Mỹ chỉ đứng thứ 5 trong số thị trường nhập khẩu của Trung Quốc với 122,2 tỷ USD, không bằng Hàn Quốc và Đài Loan. Chỉ cần Mỹ có thể căn cứ vào chương trình tăng gấp đôi xuất khẩu trong 5 năm mà Tổng thống Obama đưa ra, xuất khẩu của Mỹ sang Trung Quốc có thể dễ dàng vượt qua mốc 200 tỷ USD.

Theo Tờ "Thái Dương" (Hồng Công) ngày 23/4

Lê Sơn (gt)

 

Trong một bài viết mới đây được trang tin “Đa chiều” phiên bản tiếng Trung của Mỹ trích dẫn, Giáo sư kinh tế Patrick Chovanec cho rằng dù Đảng Dân chủ tiếp tục nắm quyền hay Đảng Cộng hòa đổi ngôi thành công đều phải thận trọng đối với nhiều vấn đề liên quan tới Trung Quốc.

 

 

Năm 2012 này là năm đại bầu cử ở Mỹ. Tương tự như bất cứ năm đại bầu cử nào ở Mỹ, vấn đề Trung Quốc luôn được các đảng phái sử dụng để giành thêm phiếu bầu. Trong bài viết của mình, vị Giáo sư quốc tịch Mỹ ở Đại học Thanh Hoa (Trung Quốc) này cảnh báo các ứng cử viên tổng thống Mỹ rằng trong vài tháng tới và trong vòng một năm sau khi lên cầm quyền, họ nên chú ý tới ba vấn đề sau liên quan tới Trung Quốc: 

Thứ nhất, kinh tế Trung Quốc không chỉ giảm tốc độ tăng trưởng, hơn thế còn đang trải qua thời kỳ cải tạo sâu sắc. Theo Giáo sư Chovanec, hiện nay, bong bóng đầu tư thúc đẩy phát triển kinh tế tốc độ cao của Trung Quốc đã vỡ và trước mắt sẽ không có biện pháp kích thích nào được chuẩn bị sẵn. Vào cuối năm 2012, tại Trung Quốc sẽ xuất hiện khủng hoảng tài chính ở một hình thức nào đó. Khả năng này rất hiện thực. 

Thứ hai, Trung Quốc đang trong giai đoạn chuyển giao quyền lực và trong tiến trình đó đã xuất hiện một số trắc trở. Dẫu vậy, cuối cùng việc chuyển giao quyền lực vẫn được thực hiện, nhưng những “khúc nhạc đệm” xen vào tiến trình chuyển giao quyền lực sẽ khiến nhà lãnh đạo Trung Quốc không thể dành toàn lực để ứng phó với các vấn đề kinh tế ngày một rõ ràng. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc tin rằng họ vẫn còn nhiều thời gian, nhưng dường như họ không biết rõ tính nghiêm trọng và tính khẩn cấp của tình hình, hơn nữa, những biện pháp vốn phát huy tác dụng nay đã mất đi sự linh nghiệm. 

Thứ ba là những phiền phức mà các vấn đề kinh tế của Trung Quốc gây ra cho Mỹ. Trước tiên là việc Trung Quốc thông qua chính sách đồng nhân dân tệ yếu để thúc đẩy xuất khẩu sẽ xung đột trực tiếp với cam kết của ứng cử viên Đảng Cộng hòa Mitt Romney (theo tạp chí “Nhà Kinh tế”, ông Romney cam kết sẽ tuyên bố Trung Quốc là nước “thao túng tiền tệ” ngay trong ngày đầu tiên bước vào Nhà Trắng). Bên cạnh đó phải thấy rằng Trung Quốc đã bắt đầu bán phá giá một số sản phẩm sản xuất dư thừa như sắt thép ra thị trường thế giới. Việc này tiếp tục làm gia tăng căng thẳng trong quan hệ thương mại quốc tế cũng như làm trầm trọng hơn sự mất cân bằng trong thương mại quốc tế. 

Cuối cùng là cục diện tồi tệ nhất: Trung Quốc có thể bất chấp rủi ro châm ngòi xung đột tại Biển Đông nhằm chuyển hướng quan tâm chú ý của người dân sang "kẻ thù" của nước này. Giáo sư Chovanec nhấn mạnh những phân tích nêu trên của ông không tồn tại cách nhìn phiến diện mang tính đảng phái, và thích hợp với cả ứng cử viên tổng thống của Đảng Cộng hòa lẫn ứng cử viên tổng thống của Đảng Dân chủ. Giáo sư Chovanec cũng cho biết ông không có ác ý nhằm làm dấy lên sự đả kích của người Trung Quốc, chỉ vạch ra một cách khách quan sức phá hoại cực lớn mà Trung Quốc có thể gây ra. Nếu Trung Quốc “lắc lư” khi bước trên con đường tương lai và không biết đi về đâu, đây mới là điều Mỹ đáng phải lo lắng. 

Lê Sơn (gt)

 

Ngôn ngữ