2 - 7 - 2020 | 20:14
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home
Tag:hợp tác

Bài viết của NCS. Vũ Hải Đăng và TS. Nguyễn Chu Hồi đánh giá về việc xây dựng thể chế liên quan đến những cơ chế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường biển tại Biển Đông. Phân tích cho thấy kết quả khá thất vọng trong quá trình xây dựng thể chế bảo vệ môi trường biển tại Biển Đông và khu vực vẫn còn một quãng đường dài trong vấn đề này. 

 

Xin chân thành cảm ơn sự đóng góp của các Giáo sư David VanderZwaag và Aldo Chircop của trường Đại học Dalhousie giúp hoàn thành bài viết[1].

Thể chế quốc tế (international regime) thường được định nghĩa là “một tập hợp những nguyên tắc, tiêu chuẩn, điều khoản và thủ tục ra quyết định, công khai hoặc không công khai, liên quan đến một lĩnh vực của quan hệ quốc tế mà thông qua chúng ý chí các chủ thể tham gia quan hệ có thể đồng nhất”.[2] Thể chế được hiểu như một thỏa thuận (arrangement) nhưng không phải là dạng thỏa thuận mang tính tạm thời có thể dễ dàng bị thay đổi mỗi khi có biến chuyển về lợi ích hay cân bằng quyền lực giữa các chủ thể.[3] Chức năng quan trọng nhất của thể chế quốc tế là tạo điều kiện phát triển quan hệ hợp tác có lợi giữa các chính phủ và ngăn chặn tình trạng chiến tranh hoặc tình trạng vô tổ chức (anarchy) trong quan hệ quốc tế.[4]

Mỗi thể chế có ba yếu tố cấu thành cơ bản. Thứ nhất và trước hết là yếu tố nội dung, bao gồm một tập hợp những quy định liên quan đến quyền và nghĩa vụ mà các chủ thể tham gia phải tuân theo. Thứ hai là yếu tố thủ tục, bao gồm những quy định liên quan đến việc ra quyết định tập thể như bỏ phiếu, giải quyết tranh chấp. Cuối cùng là một hệ thống chế tài nhằm đảm bảo các chủ thể tham gia sẽ tôn trọng các quy định và các quyết định đưa ra theo đúng thủ tục của thế chế.[5]

Thể chế quốc tế hết sức đa dạng về lĩnh vực áp dụng, phạm vi lãnh thổ có hiệu lực và thành phần tham gia.  Trong bài này, các tác giả sẽ tập trung phân tích vào việc xây dựng thể chế (hay còn gọi là hình thành thể chế) liên quan tới lĩnh vực bảo vệ môi trường biển tại khu vực Biển Đông (hay còn gọi là Biển Nam Trung Hoa: South China Sea). “Biển Đông”  ở đây  được hiểu là vùng biển nửa kín nằm trong khu vực Thái Bình Dương, trải dài từ Xinh-ga-po đến Vịnh Đài Loan. Vùng biển này có diện tích vào khoảng bốn triệu km2,   và đươc bao quanh bởi 10 nước và vùng lãnh thổ bao quanh: Trung Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), Phi-lip-pin, Ma-lai-xi-a, Bru-nây, In-đô-nê-xi-a, Xing-ga-po, Thái Lan, Cam-pu-chia và Việt Nam.[6]

Qua phân tích liệu những cơ chế, thỏa thuận quan trọng nhất đang tồn tại có liên quan, bài viết sẽ xác định xem việc bảo vệ môi trường biển tại Biển Đông đã hình thành một thể chế hay chưa. Những cơ chế, thỏa thuận  sẽ được phân tích gồm Hội thảo về Quản lý xung đột tiềm tàng trên Biển Đông của In-đô-nê-xia, Tuyên bố về Cách ứng xử của các Bên trên Biển Đông và Dự án “Ngăn chặn xu hướng xuống cấp của môi trường tại Biển Đông và Vịnh Thái Lan”. Ngoài ra, các tác giả cũng sẽ nghiên cứu việc xây dựng thể chế trong hai cơ chế thuộc khu vực các vùng biển Đông Á[7] là Cơ quan Điều phối biển Đông Á và Tổ chức đối tác quản lý môi trường biển Đông Á.

Đọc toàn bộ bài viết tại đây

 Vũ Hải Đăng, Nghiên cứu sinh Tiến sỹ, Đại học Dalhousie

Tiến sỹ Nguyễn Chu Hồi, Phó Tổng Cục trưởng, Tổng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam.



[1] Bài viết thể hiện quan điểm cá nhân của các tác giả.

[2] Stephen D. Krasner (ed.), International Regimes (Ithaca: Cornell University Press, 1983) tr. 1.

[3] Như trên.

[4] Mark Valencia, A Maritime Regime for North-East Asia (New York: Oxford University Press, 1996) tr.17.

[5] Oran Young, “International Regimes: Problems of Concept Formation” (1980) 32 World Politics 331 tr. 332.

[6] Lan Anh Thi Nguyen, “The South China Sea Dispute: A Reappraisal in the Light of International Law” (PhD Thesis, University of Bristol, School of Law, 2005) [unpublished] tr.25.

[7] Bao gồm các vùng biển An-đa-man, Ôt-xtrây-li-a, Eo Ma-la-ca, Eo Sing-ga-po, Biển Đông, Gia-va, Phlo-rét, Ban-đa, A-ra-phu-ra, Ti-mo, Xe-le-bét, Su-lu và Phi-lip-pin.

 

Bài viết của TS. Dư Văn Toán, Viện Nghiên cứu Quản lý biển và hải đảo, giới thiệu tổng quan các mô hình hợp tác quốc tế (HTQT) về các khu bảo tồn biển đa quốc gia trên thế giới. Từ việc phân tích những lợi ích của mô hình này, bài viết đề xuất phân chia khu vực biển Việt Nam thành bốn vùng: vịnh Bắc Bộ, vịnh Thái Lan, Hoàng Sa, Trường Sa và mô hình HTQT phù hợp qua đó đề xuất xây dựng khu vực Trường Sa thành Công viên biển hòa bình quốc tế.


Tóm tắt

 

Bài viết giới thiệu tổng quan các mô hình hợp tác quốc tế (HTQT) về các khu bảo tồn biển đa quốc gia (transboundary marine protected areas - TBMPA) trên thế giới. TBMPA là vùng biển nằm trên khu vực biển, đại dương có hai hoặc nhiều đường biên giới giữa các quốc gia, có vai trò giữ gìn đa dạng sinh học, các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bản sắc văn hóa địa phương, được hợp tác quản lý thông qua luật pháp hoặc các chính sách khác trên qui mô song phương hay đa phương. Lợi ích của TBMPA nhằm cải thiện trong quan hệ và công tác bảo tồn quốc tế, thực thi các công ước và điều ước quốc tế về biển. Có một số mô hình TBMPA thành công ở các vùng biển tranh chấp của nhiều quốc gia được gọi là Công viên biển hòa bình (MPP), mô hình xây dựng vùng biển đặc biệt nhậy cảm (PSSA IMO)… Biển Việt Nam có nhiều vùng biển có ranh giới với nhiều quốc gia như Trung Quốc, Phi-líp-pin, Cam-pu-chia, In-đô-nê-xi-a, là vùng biển có rất nhiều khu biển có giá trị sinh thái, lịch sử, văn hóa đã được bảo tồn cấp quốc gia và của một số tổ chức quốc tế như Cô Tô, Cát Bà, Vịnh Hạ Long, Trường Sa, Hoàng Sa, Phú Quốc. Bài báo đề xuất phân chia khu vực biển cận biên Việt Nam thành bốn vùng: vịnh Bắc Bộ, vịnh Thái Lan, Hoàng Sa, Trường Sa và mô hình HTQT phù hợp qua đó đề xuất xây dựng khu vực Trường Sa thành Công viên biển hòa bình quốc tế.

Theo định nghĩa của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN), Khu bảo tồn biển liên quốc gia (Transboundary Marine Proctected Area - TBMPA) là: “Vùng biển nằm trên khu vực biển, đại dương có hai hoặc nhiều đường biên giới giữa các quốc gia, các đơn vị lãnh thổ như tỉnh, vùng, vùng tự trị hoặc các vùng nằm ngoài giới hạn chủ quyền và phạm vi quốc gia, có vai trò giữ gìn đa dạng sinh học, các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bản sắc văn hóa, được hợp tác quản lý thông qua luật pháp hoặc các biện pháp khác”.

Thành lập khu bảo tồn biển liên quốc gia nhằm cải thiện quan hệ và thúc đẩy bảo tồn tài nguyên môi trường quốc tế. Các hệ sinh thái và động vật hoang dã không có ranh giới chính trị, đặc biệt trên biển và đại dương, do vậy, quản lý tài nguyên môi trường biển phải được coi là nhiệm vụ quốc tế của khu vực và của các quốc gia láng giềng.

Có một số cách tiếp cận hay mô hình HTQT trong việc thiết lập các khu bảo vệ - bảo tồn biển như các khu bảo tồn xuyên biên giới (hay liên quốc gia) có thể được gọi là TBMPA - khu bảo tồn xuyên biên giới, MPP - công viên biển hòa bình, hay PSSA - vùng biển đặc biệt nhậy cảm với nỗ lực chung là đạt được sự bảo tồn liên quốc gia dựa trên phương thức quản lý hệ sinh thái phục vụ phát triển biển bền vững.

Hiện trạng mô hình và các phương pháp tiếp cận TBMPA trên thế giới

Các tổ chức quốc tế đang tích cực thúc đẩy các mô hình TBMPA là IUCN, WWF, IMO và đã thực hiện được gần 30 năm với mục tiêu bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học biển xuyên quốc gia phục vụ phát triển bền vững biển và đại dương.

Khu bảo tồn biển xuyên biên giới là những vùng mà các quốc gia láng giềng đã có ranh giới chủ quyền được phân định rõ ràng.

Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) đã kiểm kê số lượng các khu vực bảo vệ phức hợp xuyên biên giới hiện đang tồn tại, cả trên cạn và dưới biển. Theo UNEP, hiện trên thế giới có 227 khu vực này.

Một số khu biển TBMPA hiện có trên thế giới:

1. Khu vực bảo vệ quốc tế Biển Wadden - bao gồm nhiều khu bảo tồn biển và bảo vệ khác nhau tại các quốc gia Đan Mạch, Đức, và Hà Lan - là một ví dụ hàng đầu về Mô hình quản lý bảo tồn và hợp tác quốc tế dựa vào hệ sinh thái. Từ năm 1982, chính phủ ba quốc gia này đã ký Hiệp ước hợp tác về bảo tồn biển. Đến nay khu này đã là di sản thiên nhiên thế giới UNESCO, PSSA.

2. Khu các dải san hô Trung Mỹ bao gồm 80 khu bảo vệ giữa các quốc gia Bê-li-xê, Goa-tê-ma-la và Mê-hi-cô.

3. Khu Pelagos có diện tích 100.000 km2 cho cá voi ở biển Liguria - hợp tác giữa các nước Pháp, I-ta-li-a và Mô-na-cô.

4. Vùng Đông Thái Bình Dương có Khu TBMPA gồm các đặc khu kinh tế của Cô-lôm-bi-a, Cô-xta-ri-ca, Ê-cu-a-đo Pa-na-ma.

5. Vùng Nam Đại Dương, được quản lý như một khu vực được bảo vệ rất lớn bởi Ủy ban bảo tồn tài nguyên sinh vật biển của Nam Cực.

6. Khu bảo tồn biển giữa Nam Phi và Mô-dăm-bích.

7. Đảo Rùa nằm trên đường biên giới của Ma-lai-xi-a và Phi-líp-pin là một ví dụ về khu bảo tồn biển liên quốc gia ở khu vực Đông Nam Á, được biết đến là nơi bảo tồn loài Rùa Xanh (Chelonia mydas). Đảo này hiện nay đã được công nhận là “Khu bảo tồn Di sản Đảo Rùa” được ký kết giữa Phi-líp-pin và Ma-lai-xi-a từ năm 1996.

Công viên biển hòa bình

Theo IUCN định nghĩa, Công viên biển hòa bình (MPP) là: Khu bảo vệ liên quốc gia được chính thức dành riêng cho việc bảo vệ và duy trì đa dạng sinh học, tài nguyên thiên nhiên và văn hóa có liên quan để thúc đẩy hòa bình và hợp tác quốc tế trên biển, hải đảo tại những nơi còn có xung đột, mâu thuẫn.

Công viên biển hòa bình có những lợi ích sau đây:

- Là biểu tượng của sự hợp tác đang diễn ra giữa các quốc gia với mục đích hòa bình;

- Là điểm nhấn cho các cuộc thảo luận giữa các nước láng giềng mặc dù các quốc gia có thể đang có chia rẽ sâu sắc về kinh tế, xã hội, môi trường, hoặc lợi ích khác;

- Tăng cường an ninh và kiểm soát các nguồn tài nguyên trong khu vực biên giới biển để các chủ sở hữu hợp pháp có thể có lợi hơn từ chúng;

- Phát triển cơ hội cho du lịch sinh thái biển và phát triển bền vững liên doanh quốc tế trên một khu vực qui mô rộng hơn;

- Một địa điểm phong phú và linh hoạt của các mối quan hệ đối với các nhà quản lý bảo tồn biển từ các quốc gia tham gia, các cơ quan chính phủ, địa phương và phi chính phủ quốc tế, và cộng đồng các nhà tài trợ.

Hiện  trạng Công viên biển Hòa bình - MPP

1. "Công viên biển hòa bình Hồng Hải" - một mô hình MPP điểm về hợp tác quốc tế - áp dụng theo đúng nghĩa đen với những gì I-xra-en Gioóc-đa-ni đã được công nhận trong phía Bắc Vịnh Aqaba, một vùng biển nửa kín được chia sẻ bởi các quốc gia này. Đây là một phần của hiệp ước hòa bình mà hai nước đã ký kết năm 1994 để bình thường hóa quan hệ. Hai quốc gia I-xra-en Gioóc-đa-ni đã phát triển MPP Hồng Hải thể hiện qua hai Khu bảo tồn biển: Aqaba của Gioóc-đa-ni khu Eilat của I-xra-en. Việc thành lập MPP Hồng Hải kêu gọi các quốc gia đối tác có những nỗ lực nghiên cứu về san hô và sinh vật biển, thực hiện các chính sách quy định phối hợp để bảo vệ các rạn san hô và tài nguyên sinh vật biển.

2. Công viên biển hòa bình Triều Tiên

Những bài học từ các MPP Hồng hải cũng như từ nhiều công viên hòa bình trên mặt đất đang được áp dụng trong các nỗ lực thành lập một công viên hòa bình biển trên bán đảo Triều Tiên. Năm 2005, chính phủ Hàn Quốc đã có kế hoạch bắt đầu xây dựng MPP với CHDCND Triều Tiên trong vùng biển phía tây bán đảo Triều Tiên -  nhằm mục đích giúp đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững và hòa bình trong khu vực, là biểu tượng của "3 chữ P": bảo vệ sinh thái toàn vẹn, hòa bình và thịnh vượng kinh tế.

Ngoài ra, các nhà nghiên cứu từ I-xra-en, Gioóc-đa-ni, Mỹ đề xuất một số MPP tiềm năng trên toàn Đại dương thế giới chủ yếu tại các vùng còn có các xung đột, khủng hoảng:

3. Phía Đông đảo quốc Ca-ri-bê;

4. Vùng biển Địa Trung Hải (Gaza/Gioóc-đa-ni/I-xra-en);

5. Vùng ven biển Pa-ki-xtan Ấn Độ (vùng ven đồng bằng sông Indus);

6. Vùng biển Adriatic (thuộc các nước cộng hòa Nam Tư cũ);

7. Vùng biển ở Cyprus (Hy Lạp Thổ Nhĩ Kỳ);

8. Các vùng biển đảo tranh chấp khu vực Biển Đông như Trường Sa, Hoàng Sa.

Khu biển đặc biệt nhậy cảm - PSSA

PSSA là một khu vực cần bảo vệ đặc biệt thông qua các hành động của tổ chức Hàng hải quốc tế (IMO). Đây là vùng biển có giá trị cao về sinh thái, kinh tế - xã hội, khoa học và có thể dễ bị tổn thương hoặc thiệt hại do các hoạt động hàng hải quốc tế.

PSSA được xem như là một công cụ chính trong chiến lược phát triển bền vững biển của IMO, phối hợp nhiều công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển và là một công cụ bảo vệ khu vực biển rộng có nhiều giá trị về tài nguyên môi trường khỏi các mối đe dọa hàng hải cụ thể. Nó cũng là sự lựa chọn của nhiều quốc gia, khu vực và toàn thế giới. Đã có 12 PSSA chính thức trên thế giới đã được công nhận từ năm 1990 và chứng minh được lợi ích của công cụ này trong quản lý môi trường biển - hàng hải quốc tế. Vùng thứ 13 - Bonifacio (Pháp - I-ta-li-a) đã được công nhận về nguyên tắc.

Trong số đó có các vùng:

- Wadden Sea (ba nước Đan Mạch, Hà Lan, Đức) năm 2002;

-  Biển Ban-tích (tám nước Lát-vi-a, Thụy điển, Ét-xtô-ni-a, Lít-va, Phần Lan, Đan Mạch, Đức, Ba Lan) năm 2005;

- Vùng ven các nước Tây Âu (bốn nước Bỉ, Pháp, Ai-len, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Anh) năm 2004;

- Eo Bonifacio (hai nước Pháp - I-ta-li-a) năm 2010;

- Eo biển Torres  (hai nước Ô-xtrây-li-a và Pa-pua Niu Ghi-nê) năm 2005.

Đánh giá hiện trạng, phân vùng và đề xuất mô hình HTQT các vùng cận biên của biển Việt Nam

Hiện nay vùng biển Việt Nam có một di sản thế giới, một khu RAMSAR, sáu khu dự trữ sinh quyển thế giới UNESCO, 16 khu bảo tồn biển MPA quốc gia (hình 1).

Việt Nam đã và đang tích cực hội nhập quốc tế toàn diện nên việc thiết lập các TBMPA là những bước đi đúng đắn trong công tác bảo vệ môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học. Khu Bảo tồn biển xuyên biên giới đầu tiên (TPA) đang được tiến hành trên đất liền - khu bảo tồn xuyên biên giới (Chư Mom Ray-Virachay - Dong Am Phan) - (Việt Nam - Lào - Cam-pu-chia) - bảo vệ thiên nhiên dãy Trường Sơn.

Các vùng biển cận biên của Việt Nam dựa theo các quyết định, chính sách về bảo tồn biển, đa dạng sinh học biển có thể được phân chia ra bốn khu vực cận biên:

Khu vực vịnh Bắc Bộ

Hiện có bốn khu bảo tồn biển quốc gia đã được thành lập gồm: Khu bảo tồn biển Đảo Trần (Quảng Ninh), Khu bảo tồn biển Cô Tô (Quảng Ninh), Khu bảo tồn Bạch Long Vỹ (Hải Phòng),  Khu bảo tồn biển Cồn Cỏ (Quảng Trị).

Các vùng biển cận biên tại vịnh Bắc Bộ hiện không còn tranh chấp về biên giới - lãnh thổ với Trung Quốc, bởi vậy ta có thể đề xuất với Trung Quốc một số hình thức hợp tác sau:

- Xây dựng một số TBMPA hoặc PSSA thí điểm phía Bắc vịnh;

Xây dựng TBMPA hay PSSA thuộc dải ven biển Việt Nam và Trung Quốc;

- Xây dựng toàn vịnh Bắc Bộ thành một TBMPA hay PSSA.

Khu vực biển quần đảo Hoàng Sa

Vùng này có tính đa dạng sinh học cao, tuy còn vấn đề tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc, nhưng Việt Nam có thể đề xuất xây dựng MPP tại khu vực này.


Các khu bảo tồn biển của Việt Nam


Khu vực quần đảo Trường Sa

Khu vực này gồm có: Khu bảo tồn biển Nam Yết, quần đảo Trường Sa (Khánh Hòa) và đang đề xuất thêm khu bảo tồn biển Đảo Thuyền Chài.

Vùng biển đảo Trường Sa đang có sự tham gia và chiếm giữ các đảo của nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ như Trung Quốc; Việt Nam, Phi-líp-pin, Ma-lai-xi-a, Bru-nây và Đài Loan. Các quốc gia ASEAN và Trung Quốc đã ký kết Tuyên bố ứng xử của các bên liên quan tại Biển Đông (DOC), tuy nhiên các xung đột, va chạm vẫn thường xuyên xảy ra và rất khó sớm có giải pháp chính trị để phân chia lãnh thổ biển rõ ràng. Trong bối cảnh đó, Việt Nam có thể đưa ra một đề xuất để các bên liên quan sớm xem xét: lồng ghép mô hình hợp tác MPP Trường Sa cho tiểu vùng hay toàn vùng biển quần đảo Trường Sa như là một bước tiến trong công tác bảo tồn thiên nhiên.

Khu vực vịnh Thái Lan

Gồm: Khu bảo tồn đảo Phú Quốc (Kiên Giang).

Vùng cận biên này có thể đề xuất với tất cả hay riêng rẽ từng quốc gia Cam-pu-chia, Ma-lai-xi-a, Thái Lan để xây dựng TBMPA hay PSSA.

Thảo luận và kiến nghị

Việt Nam chưa có kế hoạch xây dựng TBMPA, MPP, PSSA với các quốc gia láng giềng. Lợi ích của TBMPA là bảo vệ môi trường biển, đa dạng sinh học biển và hợp tác quốc tế vì hòa bình - hữu nghị, đặc biệt đối với các vùng biển cận biên. Công tác bảo tồn và bảo vệ tài nguyên biển của Việt Nam tại các vùng biển cận biên còn chưa có tính liên thông quốc tế. Môi trường biển lại không có biên giới như trên đất liền mà liên kết chặt chẽ với các vùng biển quốc gia lân cận. Vì vậy, để thúc đẩy HTQT, việc lựa chọn mô hình hợp tác phù hợp là rất quan trọng cho các vùng biển cận biên nhằm tuân thủ các công ước, điều ước quốc tế về biển, về môi trường và đa dạng sinh học. Từ đây, có thể xem xét một số gợi ý sau:

Một là, trên cơ sở chính sách chung, Việt Nam cần có sự cụ thể hóa chính sách sao cho phù hợp riêng với từng vùng: vịnh Bắc Bộ, Hoàng Sa, Trường Sa, vịnh Thái Lan nhằm định hướng cho công tác bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và khai thác tài nguyên biển hợp lý ở mỗi vùng này;

Hai là, nghiên cứu, cập nhật kinh nghiệm về hoạch định và triển khai chính sách cho các vùng biển cận biên trên thế giới làm cơ sở khoa học cho đàm phán ngoại giao song phương và đa phương về các vấn đề liên quan tới vùng lãnh hải của Việt Nam;

Ba là, các cơ quan quản lý về biển như Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và các bộ ngành liên quan thiết lập cơ chế HTQT để phục vụ nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc thiết lập các vùng TBMPA với các nước lân cận, lựa chọn và phát triển các mô hình, công cụ HTQT phù hợp trong bảo vệ chủ quyền và tài nguyên, môi trường biển. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.  Sandwith, T. and ext., Transboundary marine protected areas for Peace and Cooperation. IUCN, Cambridge, UK., 2001, www.iucn.org.

2.  WWF, Towards a framework for Transboundary marine protected areas, 2006, pp. 33.

3. IMO, PSSA guidelines, 2007.

4. Quyết định số 742/QĐ-TTg của Chính phủ ngày 26/5/2010 về việc Phê duyệt Quy hoạch hệ thống khu bảo tồn biển Việt Nam đến năm 2020. 

TS. Dư Văn Toán

Bài viết đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, Học viện Ngoại giao, số 3 (86), tháng 9/2011

 

 

Căng thẳng tại Biển Đông ngày càng gia tăng, ảnh hưởng đến hợp tác khu vực là nhận định của đa số học giả quốc tế tại Hội thảo quốc tế do Học viện Ngoại giao Việt Nam phối hợp với Trung tâm nghiên cứu Châu Á của Mỹ (NBR) tổ chức tại TP. Hồ Chí Minh hồi tháng 8 vừa qua. Hơn 50 học giả quốc tế và khu vực tập trung đánh giá về các nguồn năng lượng tại các vùng biển tranh chấp Châu Á, bao gồm Biển Đông, Vịnh Thái Lan và Biển Hoa Đông.

 

Chung mối quan tâm với An ninh năng lượng

 

Câu chuyện an ninh năng lượng là chủ đề quan trọng của Hội thảo. Một chuyên gia về năng lượng người Anh[1] nhận định rằng khi sản xuất dầu khí toàn cầu đạt đỉnh vào năm 2015 nhiều khả năng ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh năng lượng của các nước xung quanh Biển Đông. Nguồn cung dầu khí càng ngày càng giảm, giá càng ngày càng cao. Lúc này, ngoại trừ Brunei, tất cả các nước xung quanh Biển Đông còn lại đều phải nhập khẩu dầu khí. Tại các nước trong khu vực, giá trị của trữ lượng dầu khí tại các vùng biển tranh chấp tại Biển Đông đang được đánh giá ngày càng quan trọng.

 

Tuy nhiên theo ông này, nguồn năng lượng tại Biển Đông đang được đánh giá quá cao, trên thực tế nó chỉ chiếm phần nhỏ lượng cung trong bối cảnh cầu nhập khẩu tăng mạnh trong tương lai, và không giúp giải quyết vấn đề an ninh năng lượng của các nước xung quanh mà chỉ giúp kéo dài thời kỳ "quá độ".

 

Tham luận của nhóm học giả Trung Quốc thì cho rằng để xử lý vấn đề an ninh năng lượng, Trung Quốc và các nước Đông Nam Á cần tìm cách đa dạng hóa các nguồn cung. Trung Quốc tập trung mạnh vào việc khai thác càng nhiều càng tốt dầu mỏ và khí đốt, càng gần càng tốt (để giảm phí vận chuyển và dễ bảo vệ). Do đó, Biển Đông là một trong những hướng trọng tâm chính trong phát triển năng lượng của Trung Quốc.

 

"Rào cản" cho hợp tác: Đường lưỡi bò và Quy chế pháp lý Hoàng Sa, Trường Sa

 

 

Để xử lý phần nào vấn đề an ninh năng lượng, nhiều học giả cho rằng cần tính đến hình thức hợp tác cùng phát triển dầu khí tại các vùng biển tranh chấp. Bên cạnh đó, hợp tác cùng phát triển còn giúp xây dựng lòng tin, giảm nhẹ căng thẳng tại các vùng biển tranh chấp và là một bước tiến tới giải pháp lâu dài cho các tranh chấp. Tuy nhiên vấn đề nan giải nhất là khu vực hợp tác.

 

Một số học giả Phương Tây và ASEAN cho rằng tại Biển Đông tồn tại hai "rào cản" ảnh hưởng đến việc xác định khu vực hợp tác. Thứ nhất là "Đường lưỡi bò" của Trung Quốc, do lấn sâu vào các vùng biển của các quốc gia khác, không xác định rõ tọa độ và quy chế pháp lý. Thứ hai là các tranh luận về quy chế pháp lý của các vị trí tại Hoàng Sa, Trường Sa, Scaborough trong việc xác định phạm vi vùng biển xung quanh.

 

Liên quan đến vấn đề này, một số tham luận và phát biểu phân tích về ảnh hưởng của các Báo cáo ranh giới ngoài thềm lục địa. Đa số học giả cho rằng các báo cáo ranh giới ngoài thềm lục địa nói chung và ở Biển Đông nói riêng đã góp phần làm rõ yêu sách của các bên liên quan đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

 

Hơn nữa, tại Biển Đông, các nước ASEAN xung quanh như Việt Nam, Malaysia, Philippines, Brunei và mới đây là Indonesia đã "đồng thuận" coi các vị trí tại Hoàng Sa, Trường Sa không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, mà chỉ có lãnh hải 12 hải lý. Trung Quốc hiện đang bị "cô lập" trong vấn đề này. Nhiều học giả kêu gọi Trung Quốc cần phải công khai rõ yêu sách của mình tại Biển Đông, đặc biệt là cần giải thích rõ về đường lưỡi bò.

 

Cũng liên quan đến phạm vi ảnh hưởng của đảo, tham luận của một vị tiến sỹ đến từ Đài Loan và tham luận của 1 học giả Úc phân tích về các phán quyết gần đây của Tòa án Công lý quốc tế, bao gồm phán quyết về phân định biển giữa Rumani và Ucraina có liên quan đến Đảo Rắn. Một số ý chính được rút ra: thứ nhất, phương án sử dụng Tòa án để giải quyết tranh chấp đang được nhiều nước lựa chọn; thứ hai, vấn đề phân định biển chỉ có thể được giải quyết dứt điểm sau khi giải quyết xong vấn đề chủ quyền đối với các đảo; thứ ba, các đảo không có hiệu lực đáng kể trong phân định biển so với đất liền.

 

Đáng chú ý bài viết của học giả Trung Quốc đề cập tranh chấp tại Biển Hoa Đông giữa Trung Quốc và Nhật Bản liên quan đến đảo Điếu Ngư (Senkaku) do Nhật đang nắm giữ và phân định biển tại đây, cho rằng giải pháp hợp lý là hai bên tách biệt vấn đề tranh chấp chủ quyền và phân định biển bằng cách không lấy đảo Điếu Ngư làm cơ sở cho việc đòi hỏi vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Bà này còn cho rằng nếu Trung và Nhật không thể đạt được thỏa thuận về chủ quyền thì phương án tốt nhất là nhờ đến sự phân xử của Tòa án quốc tế.

 

Khi bị chất vấn về lập trường trái ngược nhau của Trung Quốc tại Biển Hoa Đông và Biển Đông, các học giả Trung Quốc cho rằng mỗi khu vực có một đặc trưng khác nhau, do đó cần giải quyết bằng thỏa thuận song phương giữa các bên liên quan, dựa trên hoàn cảnh lịch sử của từng vấn đề.

 

 

Nhìn chung bức tranh Biển Đông thời gian qua không thuận lợi cho hợp tác. Tuyên bố ứng xử các bên tại Biển Đông năm 2002 không ngăn cản được các va chạm, căng thẳng và tranh chấp tại đây. Các hoạt động hợp tác hầu như chưa được triển khai do khác biệt về cách tiếp cận giữa Trung Quốc và ASEAN.

 

Đa số học giả cho rằng Diễn đàn an ninh khu vực ARF 17 vừa qua tại Hà Nội đánh dấu một "thắng lợi ngoại giao" của Việt Nam với việc 14 nước nêu vấn đề Biển Đông, trong đó có phát biểu của Ngoại trưởng Mỹ Clinton thể hiện mạnh mẽ quan điểm của Mỹ. Qua ARF vừa qua, đa số học giả đều coi vấn đề Biển Đông đã bước sang giai đoạn mới, đã được đa phương hóa và quốc tế hóa với sự dính líu thực sự của Mỹ. Các học giả nhắc lại các bài học trong gần hai mươi năm Hội thảo kiềm chế xung đột tiềm tàng tại Biển Đông là các bên tranh chấp cần tính đến lợi ích của các nước khác quan tâm đến việc giải quyết hòa bình các tranh chấp.

 

Một số đại biểu cho rằng Trung Quốc cần chú ý đến chiến lược nước lớn của mình để điều chỉnh chính sách tại Biển Đông theo hướng trách nhiệm hơn, nhằm làm yên tâm các nước ASEAN, qua đó tăng cường sức mạnh mềm, củng cố hình ảnh quốc gia.

 

Một số kiến nghị tăng cường minh bạch và hợp tác

 

- Trung Quốc cần hợp tác với các nước xung quanh trong việc cùng quản lý nguồn cá tại Biển Đông, qua đó không cần ban bố các lệnh cấm đánh bắt cá đơn phương gây căng thẳng khu vực.

- DOC cung cấp khuôn khổ cho việc thúc đẩy xây dựng lòng tin và tăng cường hợp tác tại Biển Đông, do đó cần thúc đẩy:

+ Tăng cường đối thoại giữa ASEAN và Trung Quốc tại các trao đổi thường niên về an ninh và quốc phòng.

+ Thông báo trước các cuộc tập trận và tuần tra tại Biển Đông.

+ Thiết lập mạng lưới các đường dây nóng để sử dụng trong các trường hợp khẩn cấp.

+ Đàm phán về các hiệp định tránh đụng độ nhằm tránh các va chạm trên biển giữa lực lượng hải quân các nước.

+ Trao đổi để đi đến thỏa thuận về phạm vi ảnh hưởng của các vị trí tại Hoàng Sa, Trường Sa đối với các vùng biển xung quanh.

- Tăng cường trao đổi xây dựng lòng tin, ngoại giao phòng ngừa trong vấn đề Biển Đông tại các diễn đàn khu vực, bao gồm cả ADMM+ và các cơ chế an ninh khác.

- Biện pháp giúp tăng cường độ tin cậy và xây dựng lòng tin là các bên cần tăng cường minh bạch các chương trình hiện đại hóa quân đội của mình.

- Đối với vấn đề an ninh năng lượng, điều cơ bản nhất không phải là đa dạng hóa nguồn cung mà là tăng cường tính hiệu quả của việc sử dụng năng lượng.

 



[1] Hội thảo theo nguyên tắc của Chatham House, mọi ý kiến đều có thể được trích dẫn nhưng không dẫn tên người phát biểu.

 

 

Bộ phận dự báo, phân tích và tư vấn rủi ro (EIU) thuộc Tạp chí Nhà Kinh tế (Anh) ngày 16/5 đưa ra nhận định của cơ quan nghiên cứu uy tín này về khả năng bùng phát xung đột tại Biển Đông sau những đụng độ mới đây giữa Trung Quốc và Philíppin, đồng thời đánh giá về khả năng hợp tác cùng khai thác giữa Philíppin và Trung Quốc.

 

Những căng thẳng giữa Trung Quốc và Philíppin về vùng lãnh thổ tranh chấp tại Biển Đông một lần nữa lại nổi lên trong những tuần gần đây. Thảo luận về khu vực phát triển chung (JDA) và các lệnh cấm đánh cá chồng lấn có thể sẽ giúp xóa bỏ một phần sự mất tin cậy lẫn nhau. Thêm vào đó, những khó khăn chính trị mà ông Chu Vĩnh Khang, người đứng đầu ngành an ninh theo đường lối cứng rắn của Trung Quốc, đang phải đối mặt có thể sẽ mang lại một tia sáng le lói về khả năng của một cách tiếp cận bớt đối đầu hơn đối với cuộc xung đột. Tuy nhiên, khi những lợi ích của việc kiểm soát Biển Đông vốn quan trọng cả về chiến lược và kinh tế gia tăng, nguy cơ về các cuộc va chạm nhỏ dẫn tới một cuộc xung đột toàn diện vẫn còn đáng kể.

Những cuộc tranh cãi giữa các bên tuyên bố chủ quyền vùng lãnh thổ tranh chấp tại Biển Đông - trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, bãi đá ngầm Scarborough - đã nổ ra thường xuyên trong những năm gần đây. Cuộc tranh cãi mới nhất, bắt đầu từ ngày 8/4, nổi lên khi tàu chiến Philíppin phát hiện các tàu đánh cá Trung Quốc hoạt động bất hợp pháp tại khu vực bãi đá ngầm (Trung Quốc gọi là đảo Hoàng Nham), cách đảo Luzon của Philíppin 220 km về phía Tây, và cả hai nước đều tuyên bố chủ quyền. Tàu hải giám Trung Quốc đã được điều động tới để ngăn cản Hải quân Philíppin bắt giữ các ngư dân Trung Quốc, tạo ra một sự bế tắc. Sau sự náo động ban đầu của những sự phản đối lẫn nhau, Bắc Kinh và Manila bắt đầu các cuộc đàm phán, dẫn tới việc Philíppin rút tàu chiến và thay thế bằng tàu bảo vệ bờ biển dân sự. Các tàu đánh cá Trung Quốc sau đó rút đi mà không bị cản trở. Các tàu tuần tra dân sự của Trung Quốc và Philíppin sau đó tiếp tục "gằm ghè" nhau dọc bãi đá ngầm trong khi các ngư dân hai nước vẫn miệt mài làm ăn ở vùng nước xung quanh.

Phản ứng của Trung Quốc đối với sự cố này đã và đang trở nên phức tạp bởi môi trường chính trị chưa ổn định tại Bắc Kinh trong bối cảnh chính phủ chuyển giao quyền lực cho thế hệ lãnh đạo mới - một tình huống có thể tạo ra nhiều không gian hơn cho một loạt các cơ quan của Trung Quốc có liên quan khích bác chống lại nhau. Tuy nhiên, phản ứng cơ bản của Trung Quốc đối với sự cố này, như thường lệ, được tô điểm bằng quan điểm dân tộc chủ nghĩa, cứng rắn của chính phủ phản đối bất kỳ hành động nào thách thức những tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc. Những ngày gần đây, Trung Quốc đã dừng các chuyến du lịch sang Philíppin và khám xét nghiêm ngặt hơn các hoa quả nhập từ Philíppin, chẳng hạn như chuối, sản phẩm mà Trung Quốc là khách hàng lớn nhất. Bắc Kinh cũng đã cảnh báo Manila rằng nước này đã sẵn sàng phản ứng với "bất kỳ một sự leo thang" nào của tình hình.

Đặt cược lớn

Đối với cả Trung Quốc và Philíppin, triển vọng về việc vùng biển tranh chấp có trữ lượng tài nguyên thiên nhiên đáng kể đồng nghĩa với việc hai nước đều đặt cược lớn vào canh bạc này. Ủy ban Thông tin Năng lượng Mỹ ước tính trữ lượng dầu khí được chứng minh và chưa khai thác tại khu vực này lên tới 213 tỷ thùng. Ngày 9/5, Tập đoàn dầu khí ngoài khơi quốc gia Trung Quốc (CNOOC) tuyên bố rằng đã sẵn sàng bắt đầu khai thác dầu sử dụng giàn khoan dầu nước sâu đầu tiên của mình tại Biển Đông. Mặc dù giàn khoan này không đặt bên trong vùng tranh chấp nhưng CNOOC mô tả nó không chỉ là phương tiện để gia tăng sản xuất khí đốt và dầu mỏ quốc gia mà còn là "công cụ chiến lược" để thúc đẩy các lợi ích lớn hơn của Trung Quốc ở tại khu vực này.

Cách tiếp cận của Philíppin đối với tranh chấp cũng phản ánh sự mong muốn đạt được các lợi ích kinh tế từ nguồn tài nguyên thiên nhiên dưới đáy Biển Đông. Cuối tháng 4, Forum Enerny, một bộ phận đặt trụ sở tại Anh của Tập đoàn Philex Mining do Philíppin sở hữu, tuyên bố rằng nguồn khí đốt tự nhiên đã phát hiện năm 2006 tại một khu vực tranh chấp lớn hơn so với ước tính trước đây. Trữ lượng này nằm tại mỏ khí đốt Sampaguita ở Bãi Cỏ Rong. Tuy nhiên, tranh chấp lãnh thổ giữa hai nước tới nay vẫn cản trở việc khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên của khu vực. Philex Mining nói rằng các xung đột lãnh thổ đã làm trì hoãn các kế hoạch khai thác khí tại Bãi Cỏ Rong, nơi các tàu Trung Quốc đã quấy nhiễu một trong những tàu khảo sát của Forum Energy trong năm 2011.

Những triển vọng hợp tác cùng khai thác

Các khu vực phát triển chung (JDA) trong một số bối cảnh khác đã được sử dụng để cho phép các quốc gia cùng thu lợi ích từ những nguồn lực kinh tế chung trong khi gạt ra một bên các vấn đề về chủ quyền gây tranh cãi. Những tiền lệ bao gồm việc phát triển các nguồn tài nguyên thiên nhiên ở một số khu vực khác của châu Á, chẳng hạn giữa Malaixia và Việt Nam, và giữa Malaixia với Thái Lan. Trung Quốc bấy lâu nay vẫn muốn thực hiện các JDA song phương, nhưng Philíppin vẫn cẩn trọng hơn. Năm ngoái, Chính phủ Philíppin lặp lại rằng nước này sẽ mở cửa cho nước ngoài tham gia khai thác tại Bãi Cỏ Rong, nhưng việc khai thác đó phải tuân thủ luật pháp của Philíppin (Philíppin nhiệt tình hơn đối với việc cùng khai thác tại các vùng tranh chấp ở Biển Đông nằm ngoài EEZ của nước này). Ngày 4/5, Tổng thống Philíppin Benigno Aquino nói rằng ông để ngỏ khả năng các công ty cùng tham gia khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên tại các khu vực tranh chấp ở Biển Đông, cùng với các chính phủ có liên quan giải quyết tranh chấp lãnh thổ riêng rẽ của họ. Ngay sau đó, Philex Mining nói rằng tập đoàn này đã thảo thuận về khả năng thiết lập đối tác với CNOOC để khai thác khí đốt tự nhiên tại Bãi Cỏ Rong.

Trong khi tăng cường phát triển các thực lực quân sự của mình, cả Trung Quốc và Philíppin đều tiếp tục lên tiếng ủng hộ một giải pháp hòa bình đối với các tranh chấp giữa hai bên tại Biển Đông. Tuy nhiên, hai nước lại ưu tiên các con đường khác nhau hướng tới một giải pháp hòa bình. Philíppin, giống như các nước có tuyên bố chủ quyền khác ở Đông Nam Á, muốn cách tiếp cận đa phương dựa trên Công ước LHQ về Luật Biển (UNCLOS). Chính phủ Philíppin đã đưa tranh chấp với Trung Quốc tại bãi đá ngầm Scarborough ra Tòa án Quốc tế về Luật Biển (ITLOS) để phân xử, mặc dù thể chế này không có quyền áp đặt các giải pháp. Mặc dù Trung Quốc phản đối đề nghị này, song các nhà chức trách Philíppin đã tỏ dấu hiệu cho thấy họ có ý định đơn phương đệ trình vấn đề này lên ITLOS. Trung Quốc kiên định muốn giải quyết tranh chấp trên biển theo con đường song phương theo cách thức "đóng cửa bảo nhau", theo đó sẽ mang lại cho nước này ưu thế hơn khi đương đầu với các nước láng giềng có tranh chấp.

Một giải pháp hòa bình đối với tranh chấp Biển Đông chắc chắn sẽ nằm trong lợi ích của cả hai nước, và có những lý do đúng đắn để tránh những căng thẳng leo thang. Đối với Trung Quốc, khả năng can dự quân sự của Mỹ là một nguy cơ rất lớn. Đối với Philíppin, hiện vẫn còn tồn tại một sự không rõ ràng về quan điểm của Mỹ đối với tranh chấp, và vì thế nước này không thể chắc chắn về mức độ hỗ trợ của Mỹ trong trường hợp căng thẳng leo thang với Trung Quốc.

Mặc dù vậy, một giải pháp hòa bình khó có thể sớm đạt được. Việc thiết lập vùng khai thác chung có thể giúp giảm căng thẳng, nhưng tranh chấp Biển Đông không chỉ đơn thuần là về nguồn tài nguyên thiên nhiên như dầu mỏ và trữ lượng cá, mà còn liên quan tới các vấn đề chủ quyền cơ bản, việc kiểm soát các tuyến đường biển chiến lược và nỗ lực của Philíppin củng cố an ninh chống lại nền tảng quyền lực ngày càng gia tăng của Trung Quốc. Các vấn đề này sẽ khó có thể mất đi một cách nhanh chóng, và khi những sự đối đầu trở nên thường xuyên hơn thì nguy cơ các đụng độ quy mô nhỏ phát triển thành xung đột toàn diện vẫn tồn tại.

Một động thái có thể mang lại một chút hy vọng cho một bước chuyển trong những hướng đi của các sự kiện hiện nay là khả năng mất quyền lực của "Sa hoàng an ninh" Trung Quốc Chu Vĩnh Khang sau vụ bê bối của Bạc Hy Lai. Ông Chu Vĩnh Khang hiện vẫn tại vị, nhưng tin tức trên tờ "Thời báo Tài chính" của Anh và một số phương tiện truyền thông Trung Quốc cho thấy ông có thể sẽ phải từ bỏ phần lớn quyền lực của mình. Với việc ông Chu Vĩnh Khang được coi là một nhà bảo thủ theo đường lối cứng rắn và là một trong những động lực chính phía sau cách tiếp cận hiếu chiến của Trung Quốc đối với các vấn đề như Biển Đông, nhiều khả năng các nhân vật khác có thể sẽ áp đặt thực hiện một đường lối ít đối đầu hơn. Bản chất liên kết ứng phó của nền chính trị Trung Quốc - và thực tế là người kế nhiệm ông Chu Vĩnh Khang cũng có thể xuất thân từ phe bảo thủ trong Đảng Cộng sản Trung Quốc - khiến việc chuyển đổi mạnh trong chính sách là điều khó có thể xảy ra. Lập trường của Trung Quốc phản ánh những quan điểm ý thức hệ và chiến lược lâu đời và vượt ra ngoài khả năng của một cá nhân nhất định. Mặc dù vậy, trong tranh chấp này thì chỉ cần một thay đổi nhỏ về quan điểm cũng có thể mở ra con đường cho một cách tiếp cận triển vọng hơn.

Theo The Economist

Trần Quang (gt)

 

Mạng Tân Hoa gần đây đăng bài viết của tác giả Lăng Đức Quyền về những vấn đề liên quan đến tình hình tranh chấp ở Biển Đông đang được các giới quan tâm rộng rãi như: tranh chấp đã phát sinh thế nào, chính sách, chủ trương của Trung Quốc, triển vọng quan hệ Trung Quốc-ASEAN cũng như quan hệ Trung Quốc-Việt Nam liên quan tình hình Biển Đông trong thời gian sắp tới

I- Tranh chp Biển Đông và “vn đ Biển Đông”

Theo định nghĩa của Cục thủy văn quốc tế, Biển Đông là vùng biển chạy dài theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, biên giới phía Nam ở vị trí 3 độ vĩ tuyến Nam, giữa Nam Xumatra và Kalimantan, phía Bắc và Đông Bắc đến Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến, Đài Loan và Eo biển Đài Loan, biên giới phía Đông đến quần đảo Philíppin, phía Tây Nam đến Việt Nam và bán đảo Mã Lai, thông qua Eo biển Bashi, biển Sulu và Eo biển Malắcca nối liền với Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Hầu như cả Biển Đông bị vây quanh bởi đại lục, bán đảo và các đảo, diện tích hơn 3,5 triệu km 2, bằng khoảng ba lần tổng diện tích của Bột Hải, Hoàng Hải và Đông Hải (Biển Hoa Đông). Xung quanh Biển Đông có 9 quốc gia, gồm Trung Quốc (cả Đài Loan), Việt Nam , Campuchia, Thái Lan, Malaixia, Xinhgapo, Inđônêxia, Brunây và Philíppin. Trong vùng biển nói trên có hai vịnh là Vịnh Bắc Bộ và Vịnh Thái Lan. Vịnh Bắc Bộ là vịnh chung giữa Trung Quốc và Việt Nam, không liên quan đến nước khác. Năm 2000 Chính phủ hai nước Trung-Việt đã ký Hiệp định phân định biên giới Vịnh Bắc Bộ. Các nước xung quanh Vịnh Thái Lan có Thái Lan, Campuchia, Việt Nam và Malaixia. Việc giải quyết vấn đề quyền lợi về thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế ở Vịnh Thái Lan đã có rất nhiều tiến triển, giữa Việt Nam và Campuchia, giữa Malaixia và Thái Lan, giữa Malaixia và Việt Nam đã ký các hiệp định song phương nhưng giữa Campuchia và Thái Lan còn chưa ký được hiệp định. Vấn đề Biển Đông như mọi người thường nói không bao gồm Vịnh Bắc Bộ và Vịnh Thái Lan. Tranh chấp Biển Đông tập trung ở vùng biển quần đảo Trường Sa (quốc tế thường gọi là Spratly), liên quan đến Trung Quốc (bao gồm Đài Loan) và 5 nước (Việt Nam, Philíppin, Malaixia, Inđônêxia và Brunây), dân gian thường gọi là “6 nước 7 bên”. Sáu nước Đông Nam Á khác gồm Xinhgapo, Thái Lan, Campuchia, Lào, Mianma và Timo Leste không trực tiếp liên quan đến tranh chấp Biển Đông.

Nói một cách khái quát, tranh chấp Biển Đông chủ yếu liên quan đến hai phương diện: Một là tranh chấp chủ quyền lãnh thổ ở các đảo, hai là phân định vùng đặc quyền kinh tế. Đây là tranh chấp chủ quyền các đảo và lợi ích biển phức tạp nhất trên thế giới, không chỉ liên quan đến nhiều nước ven bờ Biển Đông, mà còn ở vào khu vực đường biển quốc tế quan trọng, liên quan đến lợi ích chiến lược của rất nhiều nước Đông Á và thế giới. Tranh chấp lợi ích lớn phức tạp đan xen lẫn nhau đã làm cho khó khăn trong giải quyết vấn đề tranh chấp Biển Đông tăng lên. Ngoài vùng biển quần đảo Trường Sa, giữa Trung Quốc và Việt Nam vẫn còn bất đồng và tranh chấp trong vấn đề phân định biên giới ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ. Giữa Trung Quốc và Philíppin cũng tồn tại tranh chấp chủ quyền các đảo và lợi ích biển ở khu vực Trung Bộ Trường Sa. Một số năm gần đây, “vấn đề Biển Đông” đã trở thành một từ nóng, không những được đề cập đến trong báo chí các nước trên thế giới, mà còn được đề cập trên các diễn đàn ngoại giao đa phương của khu vực và quốc tế hiện nay. Vậy cuối cùng, “vấn đề Biển Đông” là gì? Dường như cách gọi này đã trở thành một từ đồng nghĩa với tranh chấp chủ quyền các đảo và tranh chấp lợi ích biển giữa Trung Quốc với các nước Việt Nam , Philíppin, Malaixia... Đó thực sự là một cách hiểu nhầm. Trên thực tế, vùng biển rộng hơn 3,5 triệu km 2 nói trên liên quan đến nhiều nước ven biển, vị trí địa lý của vùng biển này nằm trên đường giao thông vận tải biển quan trọng của quốc tế, hơn nữa liên quan đến lợi ích chiến lược và lợi ích kinh tế quan trọng của các nước lớn trên thế giới. Những vấn đề thuộc khu vực Biển Đông thì rất nhiều, đa dạng và gồm nhiều phương diện. Sẽ là phiến diện và thiếu chuẩn xác nếu gọi chung chung tranh chấp giữa các nước xung quanh về chủ quyền và lợi ích biển là “vấn đề Biển Đông”. Trung Quốc phản đối “quốc tế hóa vấn đề Biển Đông” là phản đối việc quốc tế hóa tranh chấp chủ quyền các bãi, đảo và lợi ích biển ở Biển Đông, vì quốc tế hóa không những không giúp ích gì cho việc giải quyết vấn đề, mà sẽ càng làm cho tranh cãi gay gắt hơn, khiến thế lực bên ngoài xen vào, tranh chấp sẽ mở rộng hơn và phức tạp hơn, gây tổn hại đến lợi ích to lớn của mỗi nước liên quan và lợi ích chung của cả khu vực. Nói cho chuẩn xác thì khu vực Biển Đông đứng trước hai vấn đề lớn về an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống.

Trong lĩnh vực an ninh truyền thống, Chiến tranh thế giới thứ Hai và nhiều cuộc chiến tranh cục bộ, trong đó bao gồm cuộc Chiến tranh Việt Nam xảy ra từ mấy chục năm nay, đều trực tiếp hay gián tiếp liên quan nhiều đến Biển Đông, và cũng đều liên quan nhiều đến cục diện chiến lược quân sự, kinh tế của các nước lớn hiện nay và trong tương lai. Trong khu vực Biển Đông hiện nay không hề có sự đe dọa trực tiếp hay hiện thực trong lĩnh vực an ninh truyền thống đối với Trung Quốc, nhiều nhất chỉ có thể nói là có thể có mối đe dọa tiềm tàng. Trên trường quốc tế có người lợi dụng một số va chạm, tranh chấp ở Biển Đông, rắp tâm hướng mâu thuẫn vào Trung Quốc, tô vẽ, thổi phồng “mối đe dọa từ Trung Quốc”. Cách nói vu vơ thiếu căn cứ như trên đã không đánh lừa được ai. Quốc sách và chiến lược của Trung Quốc là không xưng bá, trước sau cùng với các nước láng giềng thi hành chính sách láng giềng thân thiện, cùng có lợi, cùng thắng và cùng phát triển. Bản thân Trung Quốc không mưu cầu bá quyền, cũng không tranh bá với nước khác, hay tìm kiếm một hình thức “bá quyền chung” nào đó với nước khác. Lịch sử và hiện thực chứng minh rằng Trung Quốc không phải là “mối đe dọa” an ninh truyền thống với các nước xung quanh, mà là cơ hội hợp tác cùng có lợi. Trong lĩnh vực an ninh phi truyền thống, Biển Đông và khu vực xung quanh vừa tồn tại lợi ích chung, cũng vừa đứng trước thách thức chung của các nước. “Các nước” ở đây không những bao gồm các nước ven biển, mà bao gồm cả các nước khác ngoài khu vực. Có thể nói, hầu như tất cả mọi vấn đề trong lĩnh vực an ninh phi truyền thống của thế giới, ở mức độ nào đó cũng đều liên quan tới Biển Đông. Vấn đề thuộc lĩnh vực an ninh phi truyền thống của khu vực quả thực là vấn đề mang tính chất quốc tế. Vấn đề phức tạp như vậy đương nhiên đòi hỏi các nước trong khu vực và tất cả các nước có lợi ích liên quan trên thế giới cùng bàn bạc đối phó giải quyết căn cứ theo các vấn đề và tình huống cụ thể, trên cơ sở của phương châm tăng cường lòng tin, mở rộng điểm đồng và lợi ích chung, thu hẹp và giải quyết ổn thỏa mâu thuẫn, bất đồng. Những lợi ích chung mà các nước trong khu vực Biển Đông và cộng đồng quốc tế quan tâm đòi hỏi các nước khu vực và cộng đồng quốc tế hợp tác cùng bảo vệ, giữ gìn.

II- Nguồn gốc và bối cảnh quốc tế của tranh chấp Biển Đông

Nguồn gốc tranh chấp chủ quyền các đảo ở Biển Đông có thể truy ngược lại thời gian giữa các thể chế của triều đình Mãn Thanh và Trung Hoa dân quốc. Trong thời gian đó Chính phủ Trung Quốc đã bắt đầu có xích mích ngoại giao về quyền quản lý một số đảo ở Biển Đông với nhà cầm quyền Pháp. Trước khi Chiến tranh thế giới thứ Hai kết thúc, ba nước Mỹ, Anh, Trung Quốc đã ra các văn kiện mang tính pháp lý quốc tế như “Tuyên ngôn Cairô” và “Thông cáo chung Pốtxđam”, tuyên bố tước đoạt những phần lãnh thổ do Chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản xâm chiếm. Trong bối cảnh Chiến tranh thế giới thứ Hai kết thúc, cuộc kháng chiến chống Nhật thắng lợi, địa vị quốc tế của Trung Quốc được nâng cao chưa từng có. Năm 1946 Chính phủ Quốc Dân đảng lúc đó đã đưa tàu chiến tuần tra các đảo ở Biển Đông, đồng thời tiếp quản đảo Thái Bình là đảo lớn nhất trong quần đảo Trường Sa. Năm 1947, Vụ Phương vực thuộc Bộ Nội chính của Chính phủ Quốc Dân đảng đã vẽ một “đường đứt đoạn” hình chữ U trên “Bản đồ các đảo Trường Sa”, đồng thời đã công khai phát hành tấm bản đồ này. Tranh chấp chủ quyền các đảo ở Biển Đông lần đầu tiên xuất hiện tại Hội nghị hòa bình kết thúc chiến tranh với Nhật Bản tại San Francisco năm 1951 gồm 51 nước tham gia. Mỹ và Anh tẩy chay các phái đoàn của Chính phủ Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa vừa mới thành lập không lâu và Chính phủ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tới tham gia hội nghị, quay lưng lại với bản dự thảo “Hòa ước với Nhật Bản” do Liên Xô và Trung Quốc khởi thảo. Hòa ước với Nhật Bản được Hội nghị hòa bình kết thúc chiến tranh ở San Francisco thông qua đã bóp méo, xuyên tạc tinh thần của các văn kiện pháp lý quốc tế như “Tuyên ngôn Cairô” tháng 11 năm 1943 và “Thông cáo chung Pốtxđam” tháng 7 năm 1945, đề xuất “Nhật Bản từ bỏ tất cả mọi quyền lợi và đòi hỏi đối với dãy đảo Đài Loan, Bành Hồ, các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa” nhưng không có chữ nào nói đến vấn đề quy thuộc chủ quyền đối với các vùng lãnh thổ nói trên. Trong “Tuyên bố về dự thảo Hòa ước của Mỹ-Anh với Nhật Bản và về Hội nghị San Francisco” do Ngoại trưởng Chu Ân Lai thay mặt Chính phủ nước Trung Quốc mới trình bày ngày 15 tháng 8 năm 1951 chỉ rõ, các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, Trung Sa và Đông Sa “từ xưa đến nay là lãnh thổ của Trung Quốc, trong thời gian Đế quốc Nhật phát động chiến tranh xâm lược tuy một thời bị thất thủ nhưng sau khi Nhật Bản đầu hàng đã được Chính phủ Trung Quốc lúc đó tiếp nhận”. Chủ quyền của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa đối với quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa, “dù dự thảo hòa ước đối với Nhật Bản do Mỹ-Anh soạn thảo có quy định hay không quy định, hoặc quy định như thế nào, cũng đều không bị ảnh hưởng”.

Cần phải chỉ rõ rằng quyền và lợi ích mà Chính phủ Trung Quốc chủ trương và bảo vệ ở Biển Đông là quyền-lợi ích trong phạm vi “đường đứt đoạn”. Những cách nói như “Biển Đông là nội hải của Trung Quốc”, “Biển Đông thuộc về Trung Quốc” v.v. trên thực tế là cách nói rất sai trái, hết sức tai hại. Rơi vào vòng nhầm lẫn này sẽ dẫn đến hiểu lầm và phán đoán nhầm rất nhiều vấn đề, dẫn đến rất nhiều rắc rối và phiền phức. Cần phải nhìn lại lịch sử về đoạn đánh dấu này, đọc kỹ bản tuyên bố đầu tiên của Chính phủ nước Trung Quốc mới về chủ quyền hai quần đảo ở Biển Đông mới có thể hiểu rõ được lý do thực sự và bối cảnh chiến lược quốc tế liên quan đến tranh chấp Biển Đông. Hội nghị hòa bình San Francisco đã gieo mầm họa về “hai nước Trung Quốc” và tranh chấp Biển Đông, đồng thời cũng khơi mào cho việc “quốc tế hóa” tranh chấp các đảo ở Biển Đông sau này. Lịch sử chứng minh rằng kẻ gây ra mầm họa thực sự cho tranh chấp Biển Đông là các nước lớn phương Tây như Mỹ, Anh, Pháp. Xét từ góc độ lịch sử thì thời gian, bối cảnh và tính chất nảy sinh vấn đề Đài Loan và tranh chấp chủ quyền các bãi, đảo ở Biển Đông là dường như giống nhau. Có thể nói, vấn đề này chính là di sản từ giai đoạn khởi đầu của Chiến tranh Lạnh. “Chiến tranh Lạnh” đã kết thúc hơn 20 năm. Thời đại ngày nay đòi hỏi các nước và cộng đồng quốc tế từ bỏ tư duy Chiến tranh Lạnh và đối đầu liên minh, thông qua hợp tác đa phương để giữ gìn an ninh chung, hiệp lực ngăn chặn xung đột và chiến tranh. Chiến tranh và đối đầu sẽ chỉ dẫn đến vòng tuần hoàn ác tính lấy bạo lực thay thế bạo lực, đối thoại và đàm phán là con đường hữu hiệu và đáng tin cậy duy nhất để giải quyết tranh chấp. Phải lấy hợp tác để mưu cầu hòa bình, đảm bảo an ninh, thúc đẩy hài hòa, phản đối tùy tiện sử dụng vũ lực hoặc đe dọa nhau bằng vũ lực. Đó là quan điểm an ninh mà Chính phủ Trung Quốc chủ trương và thực hiện, cũng là nguyên tắc cơ bản để xử lý tranh chấp Biển Đông.

III- Hàng hải và vị trí chiến lược của đường giao thông trên biển ở Biển Đông

Vị trí chiến lược của Eo biển Malắcca thế nào mọi người đều đã biết. Tuyến đường giao thông trên biển ở Biển Đông là phần kéo dài trọng yếu của đường vận tải Eo biển Malắcca, trong đó vị trí chiến lược của tuyến đường vận tải này cũng quan trọng như vậy. Biển Đông và Eo biển Malắcca là một thể gắn liền, không thể tách rời nhau. Tất cả các loại tàu thuyền đi qua Eo biển Malắcca, bao gồm tàu thương mại và tàu quân sự hầu như đều phải đi qua Biển Đông. Vì thế, từ góc nhìn địa chiến lược có tên gọi là “đường giao thông Biển Đông– Eo biển Malắcca” dường như sẽ đúng hơn. Eo biển Malắcca và đường vận tải quốc tế ở Biển Đông có thể ví như “yết hầu - thực quản”. Tuyến đường giao thông Biển Đông– Eo biển Malắcca là tuyến xung yếu chiến lược tiện lợi nhất từ Tây Thái Bình Dương đi vào Nam Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, là một trong các tuyến vận tải biển quan trọng nhộn nhịp nhất thế giới, nối liền giữa Đông Nam Á với Nam Á, giữa châu Đại Dương, Trung Đông, châu Phi và châu Âu. Về địa lý, đường giao thông quốc tế trên biển ở Biển Đôngcó vị trí chiến lược quan trọng. Chiến lược toàn cầu của Mỹ là phải kiểm soát 16 vị trí yết hầu trên biển. Mục tiêu chiến lược và lợi ích to lớn của nước Mỹ là gây ảnh hưởng và kiểm soát các tuyến vận tải trên biển nói trên, đảm bảo ưu thế của Mỹ trong các cuộc cạnh tranh quốc tế và xung đột quốc tế tiềm tàng. Với tư cách là mắt xích trung tâm nối liền hai khu vực chiến lược quan trọng là Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, Eo biển Malắcca được Mỹ xác định là một trong 16 yết hầu trên biển như vậy. Biển Đông– Eo biển Malắcca là hướng đi tất yếu để các nước Đông Á đi đến Ấn Độ Dương và Nam Thái Bình Dương. Trong bối cảnh thời đại kinh tế toàn cầu hóa và kinh tế các nước Đông Á phát triển mạnh như Trung Quốc, vị trí của tuyến đường vận tải biển Biển Đông– Eo biển Malắcca trong vận tải đường biển toàn cầu lại càng nổi bật hơn. Dù là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc hay các nước ASEAN, hoặc là Ôxtrâylia, Ấn Độ, Trung Đông, châu Phi, thậm chí là châu Âu, nước Mỹ đi nữa thì tuyến đường vận tải biển quốc tế này có thể được gọi là “tuyến đường sinh mệnh huyết mạch”.

Nói tóm lại, tuyến đường vận tải biển Biển Đông– Eo biển Malắcca có giá trị chiến lược lớn về kinh tế và quân sự đối với cả Trung Quốc, các nước trong khu vực và nước lớn trên thế giới. Cùng với địa vị kinh tế của Trung Quốc và châu Á trong nền kinh tế toàn cầu không ngừng được nâng lên, mức độ liên quan lẫn nhau giữa Tây Thái Bình Dương – Biển Đông– Eo biển Malắcca, Ấn Độ Dương và Nam Thái Bình Dương sẽ ngày càng chặt chẽ hơn. Xét từ tình hình hiện thực thì tầm quan trọng của Eo biển Malắcca đã vượt qua Kênh đào Xuyê, vai trò quan trọng của tuyến vận tải biển Biển Đôngđã vượt qua Vùng Vịnh Pécxích. Trước khi khai thông tuyến vận tải biển ở Bắc Cực, địa vị chiến lược về kinh tế và quân sự của tuyến đường vận tải biển Biển Đông– Eo biển Malắcca trong tương lai sẽ chỉ tăng lên chứ không giảm đi. Chính vì thế, tình hình Biển Đông hòa bình ổn định, giao thông quốc tế tự do và vận tải biển an toàn khiến cho các nước trong khu vực và các nước lớn trên thế giới hết sức quan tâm. Chính sách Biển Đông và hành động của nước lớn ngoài khu vực đương nhiên cũng khiến các nước khu vực vô cùng quan tâm. Tự do hàng hải ở Biển Đông vốn đã là một trong những chính sách liên quan tới Biển Đông mà Chính phủ Trung Quốc đã tuyên bố từ lâu. Chính phủ Trung Quốc căn cứ theo luật quốc tế trước sau nỗ lực nhằm đảm bảo tự do và an ninh hàng hải ở Biển Đông. Trên diễn đàn quốc tế, có một số người ngang nhiên nhào nặn đề tài về “tự do hàng hải, an ninh hàng hải”, như vậy là có dụng ý xấu. Tại Hội nghị cấp cao Đông Á mới đây, Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã nói: “Kinh tế Đông Á và Đông Nam Á phát triển đã cho thấy tự do và an ninh hàng hải ở Biển Đông không vì tranh chấp Biển Đông mà có bất cứ ảnh hưởng nào. Tự do hàng hải mà các nước được hưởng ở Biển Đông theo luật quốc tế đã được đảm bảo triệt để. Biển Đông là đường vận tải biển quan trọng của Trung Quốc, của các nước khác trong khu vực và các nước trên thế giới. Chính phủ Trung Quốc đã có những đóng góp tích cực để bảo vệ an ninh hàng hải ở Biển Đông”. Đảm bảo tự do hàng hải vừa là lợi ích to lớn của Trung Quốc, cũng vừa là lợi ích to lớn của các nước trong khu vực, nước lớn thế giới và của cộng đồng quốc tế. Nhận thức rõ điểm này không những có thể điều chỉnh lại những hiểu lầm, phán đoán nhầm của các nước hữu quan, loại bỏ cái gọi là “mối lo lắng” trên thế giới, mà còn có thể trở thành sân chơi quan trọng để Trung Quốc và các nước xung quanh Biển Đông, thậm chí là cộng đồng quốc tế bắt tay hợp tác, bảo vệ lợi ích chung, có thể loại bỏ lý do để một số nước ngoài khu vực gây nên chuyện, phá tan mưu đồ của một số thế lực chính trị muốn lấy đó để gieo rắc, ly gián quan hệ giữa Trung Quốc với các nước láng giềng ASEAN.

IV- Biến biển tranh chấp thành biển hợp tác hòa bình, hữu nghị

Hòa bình và phát triển là hai chủ đề lớn của thời đại ngày nay. Hòa bình, phát triển, hợp tác là xu thế không thể ngăn cản trên thế giới. Hiện nay thế giới đa cực hóa, kinh tế toàn cầu hóa đang phát triển theo chiều sâu, cộng đồng quốc tế đang đứng trước ngày càng nhiều vấn đề lịch sử mới. Cùng vận dụng tốt cơ hội phát triển, cùng đối phó với các loại rủi ro đã trở thành nguyện vọng của nhân dân các nước. Dân tộc Trung Hoa yêu chuộng hòa bình. Nhân dân Trung Quốc trải qua giai đoạn đau buồn do chiến loạn và bần cùng từ sau thời kỳ cận đại đã cảm nhận được sâu sắc giá trị quý báu của hòa bình và mong muốn cháy bỏng phát triển. Nhân dân Trung Quốc tin tưởng sâu sắc rằng chỉ có hòa bình mới thực hiện được ước nguyện an cư lạc nghiệp của nhân dân, chỉ có phát triển mới thực hiện được mục tiêu người dân được ăn no mặc ấm. Tạo môi trường quốc tế hòa bình ổn định để phát triển đất nước, đó là nhiệm vụ trung tâm trong công tác đối ngoại của Trung Quốc. Đồng thời Trung Quốc tích cực đóng góp xứng đáng cho hòa bình và phát triển của thế giới, tuyệt đối không bành trướng chiến lược, không bao giờ tranh bá, không xưng bá, Trung Quốc trước sau vẫn là lực lượng kiên định bảo vệ hòa bình, ổn định thế giới và khu vực. Bảo vệ hòa bình thế giới, thúc đẩy cùng nhau phát triển, đó là tôn chỉ trong chính sách ngoại giao của Trung Quốc. Trung Quốc đề xướng và ra sức cùng với các nước trên thế giới đẩy mạnh xây dựng thế giới hài hòa trong môi trường hòa bình lâu dài, cùng phồn vinh. Đó vừa là mục tiêu lâu dài, cũng vừa là nhiệm vụ thực tế. Trung Quốc đề xướng quan điểm an ninh mới tin cậy lẫn nhau, hợp tác, bình đẳng, cùng có lợi, tìm kiếm biện pháp thực hiện an ninh tổng hợp, an ninh chung, an ninh hợp tác. Trung Quốc kiên trì sử dụng phương thức hòa bình chứ không phải chiến tranh để giải quyết tranh chấp quốc tế, cùng bảo vệ thế giới hòa bình ổn định; Chủ trương thông qua hiệp thương đối thoại để tăng cường lòng tin, giảm thiểu bất đồng, loại bỏ tranh chấp, tránh sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực lẫn nhau.

Trung Quốc tích cực mở rộng hợp tác láng giềng hữu nghị với các nước xung quanh, cùng đẩy mạnh xây dựng châu Á hài hòa. Trung Quốc chủ trương các nước trong khu vực tôn trọng lẫn nhau, tăng cường sự tin cậy lẫn nhau, tìm kiếm điểm đồng gác lại bất đồng, thông qua đàm phán đối thoại và hiệp thương hữu nghị để giải quyết các mâu thuẫn và các vấn đề, bao gồm tranh chấp lãnh thổ và lợi ích biển, cùng bảo vệ khu vực hòa bình ổn định. Trung Quốc phát triển phồn vinh và thịnh trị lâu bền là cơ hội chứ không phải là mối đe dọa đối với các nước láng giềng xung quanh. Trung Quốc luôn tuân thủ “tinh thần châu Á” về tự lực tự cường, mở hướng tiến thủ, cởi mở, bao dung, đồng tâm hiệp lực, mãi là láng giềng tốt, người bạn tốt và đối tác tốt của các nước châu Á khác. Có thể nói một cách mạnh dạn thẳng thắn rằng giữa Trung Quốc và nước láng giềng xung quanh vẫn có tồn tại vấn đề do lịch sử để lại về phân định biên giới, chủ quyền các đảo và lợi ích biển. Vấn đề biên giới của Trung Quốc với tuyệt đại đa số các nước láng giềng trên bộ đã được giải quyết. Tranh chấp trên biển vẫn còn đợi thông qua đàm phán đối thoại và hiệp thương hữu nghị để tìm ra biện pháp giải quyết mà hai bên đều có thể chấp nhận được. Tranh chấp chủ quyền các đảo và lợi ích biển không chỉ tồn tại giữa Trung Quốc và các nước xung quanh Biển Đông, mà cả giữa các quốc gia liên quan khác. Vấn đề phân định biên giới Vịnh Bắc Bộ liên quan đến hai nước Trung Quốc – Việt Nam đã được giải quyết ổn thỏa. Vấn đề phân định biên giới ở Vịnh Thái Lan liên quan đến bốn nước là Malaixia, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam, đã được giải quyết về cơ bản nhưng chưa hoàn toàn. Ở phần phía Nam Biển Đông thậm chí là Eo biển Malắcca, giữa các nước hữu quan đều tồn tại nhiều tranh chấp nhưng chưa được giải quyết hoàn toàn mỹ mãn. Trên thế giới ngày nay tồn tại rất nhiều tranh chấp chủ quyền các đảo và tranh chấp quyền lợi biển, theo con số thống kê tổng cộng có đến hàng trăm vụ. Ngoài Biển Đông, loại tranh chấp này cũng tương đối rõ ở khu vực Đông Bắc Á. Giữa Nhật Bản và Nga, giữa Hàn Quốc và Trung Quốc đều có tranh chấp như vậy. Giữa Hàn Quốc và Nhật Bản, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên cũng có. Lập trường và chủ trương cơ bản của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông là nhất quán, rõ ràng, luôn cố gắng giữ gìn hòa bình ổn định, thông qua đàm phán đối thoại và hiệp thương hữu nghị, giải quyết thỏa đáng tranh chấp và vướng mắc. Mọi người hy vọng các bên đều xuất phát từ đại cục bảo vệ hòa bình ổn định khu vực, làm nhiều việc hơn để tăng thêm sự tin cậy lẫn nhau, thúc đẩy hợp tác, cố gắng làm cho Biển Đôn gtrở thành biển của hòa bình, hữu nghị, hợp tác.

V- Làm sâu sắc hơn lòng tin chính trị, phát triển hợp tác toàn diện

Trung Quốc kiên trì thực hiện chính sách láng giềng hữu nghị, làm sâu sắc hơn lòng tin chính trị, giải quyết ổn thỏa bất đồng và mâu thuẫn từ tầm cao chiến lược và toàn cục, ra sức phát triển hợp tác toàn diện với các nước xung quanh, mưu cầu cùng thắng lợi, cùng có lợi và cùng phồn vinh. Giữa Trung Quốc với các nước ASEAN núi liền núi, sông liền sông, Trung Quốc trước sau luôn coi các nước ASEAN là anh em tốt, láng giềng tốt, bạn bè tốt và đối tác tốt có thể tin cậy được, thành tâm thành ý phát triển quan hệ láng giềng hữu nghị. Trung Quốc và các nước ASEAN nối vòng tay đồng hành, trải qua khó khăn, cùng chung hoạn nạn, hiểu biết lẫn nhau, ủng hộ giúp đỡ lẫn nhau, đã lần lượt vượt qua từng thách thức, thu được nhiều thành quả huy hoàng. Trong 20 năm qua, quan hệ Trung Quốc – ASEAN đã có được bước phát triển toàn diện chưa từng có. Năm 1991 Trung Quốc đã cùng với ASEAN thiết lập quan hệ đối thoại, thể hiện hai bên đi theo xu hướng thời đại, tìm kiếm tầm nhìn xa chiến lược và dũng khí hợp tác khu vực, đã mở đầu tiến trình lịch sử về quan hệ giữa Trung Quốc và ASEAN, có ý nghĩa như một dấu mốc. Trung Quốc là nước lớn ngoài khu vực đầu tiên tham gia “Hiệp ước thân thiện và hợp tác ASEAN”, thiết lập quan hệ đối tác chiến lược hướng tới hòa bình và phồn vinh với ASEAN. Trung Quốc kiên trì ủng hộ ASEAN phát huy vai trò chủ đạo trong hợp tác Đông Á, ủng hộ “Hiệp ước về khu vực Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân”. Trung Quốc và ASEAN đã cùng thành lập Khu thương mại tự do lớn nhất giữa các nước đang phát triển. Trung Quốc và ASEAN nghiêm túc tuân thủ nguyên tắc tôn trọng lẫn nhau, không can thiệp công việc nội bộ của nhau, không ngừng tăng cường lòng tin chính trị lẫn nhau. Các nước ASEAN thi hành chính sách một nước Trung Quốc, ủng hộ Trung Quốc thống nhất hòa bình, quan tâm đến những mối lo ngại của Trung Quốc trong những vấn đề lớn có tính nguyên tắc liên quan đến chủ quyền của Trung Quốc. Trung Quốc tôn trọng con đường phát triển và quan niệm giá trị mà các nước ASEAN lựa chọn một cách tự chủ, ủng hộ ASEAN xử lý tranh chấp theo phương thức của mình, phản đối thế lực bên ngoài can thiệp công việc nội bộ của ASEAN.

Trong hợp tác, Trung Quốc và ASEAN đề xướng cùng hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau, học hỏi lẫn nhau cùng có lợi, thúc đẩy cùng phát triển. Năm 2011 kim ngạch thương mại hai chiều Trung Quốc – ASEAN đã vượt 350 tỉ USD, gấp hơn 40 lần so với năm 1991. Trung Quốc trở thành đối tác thương mại lớn nhất của ASEAN, ASEAN trở thành đối tác thương mại lớn thứ ba của Trung Quốc. Trung Quốc đã thành tâm viện trợ và giúp đỡ các nước thành viên ASEAN phát triển kinh tế và cải thiện dân sinh. Các nước thành viên ASEAN cũng tích cực ủng hộ Trung Quốc. Hai bên đã trao đổi kinh nghiệm, lấy mạnh bổ trợ yếu trong phương diện lãnh đạo và quản lý đất nước. Đứng trước khó khăn Trung Quốc và ASEAN cùng chung vai sát cánh, nỗ lực biến thách thức thành cơ hội. Hai bên đã cùng kiểm soát cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 ở châu Á, thúc đẩy thành lập cơ chế hợp tác ASEAN-Trung Quốc-Nhật Bản-Hàn Quốc; Cùng đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính quốc tế hiếm gặp, thành lập Khu thương mại tự do Trung Quốc-ASEAN đúng kỳ hạn một cách toàn diện; Trong đối phó với các vụ thiên tai, dịch bệnh lớn, hai bên giúp đỡ lẫn nhau, tìm kiếm thành lập cơ chế cảnh báo, phòng ngừa, kiểm soát và cứu trợ một cách hữu hiệu. Trung Quốc và ASEAN cố gắng chung sống hòa bình, láng giềng hữu nghị, tích cực xây dựng môi trường khu vực an ninh, hài hòa; Thông qua đối thoại và hiệp thương giải quyết tranh chấp và xử lý vấn đề do lịch sử để lại; Ra sức xây dựng khu vực Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân; Coi trọng tình hữu nghị truyền thống, truyền bá ý tưởng hữu nghị từ đời này sang đời khác. Quan hệ Trung Quốc – ASEAN là thực tế nhất, rộng rãi nhất và có nhiều thành quả nhất. Trung Quốc và các nước Đông Nam Á đều là nước đang phát triển, luôn xác định phát triển kinh tế, cải thiện dân sinh là nhiệm vụ bức thiết nhất và quan trọng nhất, đặt khả năng có đem lại lợi ích thực chất cho nhân dân bản quốc và khu vực bản địa được hay không lên vị trí hàng đầu. Trung Quốc và các nước Đông Nam Á gần gũi nhau về địa lý, văn hóa, lịch sử, liên hệ và giao lưu mật thiết trên các phương diện, có điều kiện thuận lợi trời phú để mở rộng hợp trong rất nhiều lĩnh vực. Ngày nay Trung Quốc và ASEAN là đối tác chiến lược ra sức cố gắng cho hòa bình và phồn vinh, mở rộng giao lưu hợp tác rộng rãi trong các lĩnh vực và ở mức độ cao chưa từng có từ trước đến nay, trở thành cộng đồng có vận mệnh chung, vui buồn vinh nhục có nhau, cùng có được thành tựu huy hoàng, có những đóng góp nổi bật trong sự nghiệp cao cả là đem lại hạnh phúc nhiều hơn cho nhân dân khu vực, thúc đẩy hòa bình và phát triển, tạo ra ảnh hưởng tích cực sâu xa cho sự tiến bộ ở châu Á và cả thế giới.

VI- Giải quyết ổn thỏa bất đồng, thúc đẩy cùng nhau phát triển

Tìm kiếm điểm đồng lớn, gác lại bất đồng nhỏ, xử lý ổn thỏa bất đồng lớn, hợp tác loại bỏ tranh chấp, là một chủ trương quan trọng của Trung Quốc. Lợi ích chung giữa Trung Quốc và ASEAN lớn hơn bất đồng rất nhiều. Phương hướng và mục tiêu đúng đắn cần phải là: Không ngừng làm to thêm chiếc bánh gatô về lợi ích chung, để cho bất đồng ngày càng thu hẹp. Ngay từ những năm 80 của thế kỷ 20, Tổng công trình sư cải cách mở cửa của Trung Quốc Đặng Tiểu Bình đã nói: “ ‘Một quốc gia, hai chế độ’ và biện pháp cùng khai thác giải quyết tranh chấp, đều là phương thức vì hòa bình chứ không dùng chiến tranh, đều gọi là chung sống hòa bình”. “Hiện nay rất nhiều bản đồ trên thế giới đều có thể chứng minh quần đảo Trường Sa là thuộc về Trung Quốc. Chúng ta thiên về vấn đề này, gác lại tranh chấp trước, không giải quyết vội. Làm như vậy là không để cho vấn đề này gây trở ngại cho quan hệ hữu nghị giữa Trung Quốc với nước hữu quan phát triển tốt đẹp. Sau một số năm chúng ta ngồi lại, bình tĩnh thảo luận, thương lượng một phương thức mà các bên đều chấp nhận được. Liệu có thể xem xét áp dụng biện pháp cùng phát triển đối với những tranh chấp hữu quan? Mục tiêu của chúng ta là cùng phát triển, chúng ta có đầy đủ điều kiện để trở thành bạn thật tốt”. “Trong vấn đề về quần đảo Trường Sa, hoàn toàn không phải không tìm được một biện pháp giải quyết thiết thực khả thi, nhưng vấn đề này cuối cùng là một vấn đề phiền phức, cần thông qua hiệp thương để tìm ra được biện pháp có lợi cho hòa bình và hợp tác hữu nghị”. Dưới sự chỉ dẫn của phương châm nói trên, quan hệ giữa Trung Quốc với các nước ASEAN đã trải qua đủ mọi khảo nghiệm khó khăn trắc trở. Hợp tác giữa Trung Quốc và ASEAN đã đem lại hạnh phúc cho nhân dân ở cả hai phía. Tháng 11 năm 2011, tại Hội nghị các nhà lãnh đạo ASEAN-Trung Quốc lần thứ 14, Thủ tướng Ôn Gia Bảo tuyên bố: “Trung Quốc không bao giờ mưu cầu bá quyền, phản đối bất cứ hành vi bá quyền nào, sẽ luôn thi hành chính sách ngoại giao ‘thân thiện với láng giềng, làm bạn với láng giềng’, tuân thủ nghiêm khắc ‘Hiệp ước thân thiện và hợp tác Đông Nam Á’. Tranh chấp tồn tại ở Biển Đông giữa các nước hữu quan trong khu vực là vấn đề tích tụ từ nhiều năm nay, cần phải do nước có chủ quyền liên quan trực tiếp giải quyết thông qua hiệp thương hữu nghị và đàm phán. Thế lực bên ngoài không nên mượn bất cứ lý do nào để can thiệp. Năm 2002 Trung Quốc và các nước ASEAN đã ký bản ‘Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông’, xác định sẽ đẩy mạnh hợp tác thiết thực, cố gắng để cuối cùng đạt được ‘Bộ quy tắc về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông’. Đó là ý nguyện chung của các nước Đông Nam Á và Trung Quốc. Phía Trung Quốc nguyện sẵn sàng cùng với các nước ASEAN tích cực thúc đẩy toàn diện việc thực hiện ‘Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông’, tăng cường hợp tác thực chất, đi vào thảo luận việc hoạch định ‘Bộ quy tắc về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông’”.

Ôn Gia Bảo còn tuyên bố, để mở rộng hợp tác thực tế trên biển, Trung Quốc sẽ thành lập Quỹ hợp tác trên biển Trung Quốc – ASEAN với số tiền 3 tỉ nhân dân tệ, bắt đầu từ các lĩnh vực nghiên cứu khoa học biển và bảo vệ môi trường biển, thông tin liên lạc, an ninh và cứu hộ hàng hải, chống tội phạm xuyên quốc gia, từng bước mở rộng hợp tác sang các lĩnh vực khác, tạo nên cục diện hợp tác trên biển đa tầng nấc, toàn diện giữa Trung Quốc và ASEAN. Trung Quốc đề nghị hai bên thành lập cơ chế tương ứng để nghiên cứu về vấn đề này và soạn thảo Quy hoạch hợp tác cụ thể. Trung Quốc - Việt Nam là hai nước láng giềng hữu nghị núi sông liền một dải, nhưng lại là hai bên tranh chấp chủ yếu ở Biển Đông. Tháng 10 năm 2011 Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng dẫn đầu đoàn đại biểu cấp cao sang thăm chính thức Trung Quốc, hội đàm và hội kiến với Tổng Bí thư Đảng Cộng sản, Chủ tịch nước Trung Quốc Hồ Cẩm Đào. Hai bên đã ký một loạt văn kiện hợp tác quan trọng và ra “Thông cáo chung”. Nhà lãnh đạo Trung Quốc nhấn mạnh: Quan hệ hai đảng, hai nước Trung – Việt phát triển lành mạnh ổn định, phù hợp với lợi ích căn bản của nhân dân hai nước, có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy xây dựng hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa thuận lợi ở hai nước, cũng quan trọng đối với hòa bình và phát triển ở châu Á và cả thế giới. Đảng và Chính phủ Trung Quốc luôn xuất phát từ tầm cao chiến lược và tầm nhìn lâu dài để nhìn nhận quan hệ Trung – Việt, nguyện cùng với Việt Nam bảo vệ tốt và phát triển tốt quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Trung – Việt theo Phương châm 16 chữ và Tinh thần 4 tốt. Nhà lãnh đạo Việt Nam nhấn mạnh: Đảng và Chính phủ Việt Nam hết sức coi trọng việc phát triển quan hệ với Trung Quốc, đặt quan hệ Việt-Trung ở vị trí ưu tiên trong quan hệ đối ngoại của Việt Nam . Việt Nam kiên trì theo Phương châm 16 chữ và Tinh thần 4 tốt làm cho các chuyến thăm cấp cao lẫn nhau mật thiết hơn, tăng cường lòng tin chính trị, đưa hợp tác cùng có lợi trong các lĩnh vực đi vào chiều sâu, làm phong phú thêm hình thức giao lưu nhân văn, tăng cường phối hợp trong các vấn đề quốc tế và khu vực, nâng quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt – Trung lên một tầm cao mới. Từ khi bình thường hóa quan hệ 20 năm qua, hai nước đã lần lượt giải quyết thành công hai vấn đề khó khăn do lịch sử để lại là phân định biên giới trên bộ và phân định biên giới Vịnh Bắc Bộ theo tinh thần dễ trước khó sau, thông cảm nhân nhượng lẫn nhau. Đặc biệt là việc phân định biên giới Vịnh Bắc Bộ đã mở ra hướng đi mới cho Trung Quốc giải quyết những vấn đề tương tự trên biển với các nước xung quanh. Những năm gần đây, bởi những nguyên nhân phức tạp, cũng do thế lực bên ngoài xen vào và do thế lực thù địch gây chia rẽ, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ và lợi ích biển ở Biển Đông bị khuấy nóng lên. Một trong những thủ đoạn triển khai “ngoại giao thông minh” của một số thế lực bên ngoài là tô vẽ cái gọi là “tình hình căng thẳng ở Biển Đông” Hợp tác hữu nghị là mạch chính trong quan hệ Trung – Việt, không nên để bất đồng và tranh chấp ảnh hưởng đến đại cục phát triển quan hệ.

Làm thế nào để xử lý và giải quyết ổn thỏa vấn đề trên biển giữa Trung Quốc và Việt Nam , đó quả thực là vấn đề được nhân dân hai nước hết sức quan tâm. Điều đáng phấn khởi là trong hội đàm cấp cao Trung – Việt, nhà lãnh đạo hai bên đã trao đổi ý kiến thẳng thắn và chân thành, và đã đạt được nhận thức chung. Một trong 6 văn kiện mà hai bên ký kết là “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Trung Quốc và Việt Nam ”. Nhà lãnh đạo hai nước đánh giá tích cực bản thỏa thuận này, cho rằng thỏa thuận có ý nghĩa chỉ đạo quan trọng để xử lý và giải quyết ổn thỏa vấn đề trên biển. Căn cứ những điểm nhận thức chung đạt được thì trên cơ sở thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ Trung – Việt năm 1993, hai bên đã đạt được 6 nguyên tắc cơ bản phải tuân thủ để giải quyết vấn đề trên biển, đặt cơ sở cho việc giải quyết thỏa đáng vấn đề này. Điều 4 trong Thỏa thuận nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề trên biển Trung – Việt quy đinh: “Trong tiến trình tìm kiếm biện pháp cơ bản và lâu dài giải quyết vấn đề trên biển, trên cơ sở tinh thần tôn trọng lẫn nhau, đối xử với nhau bình đẳng, cùng thắng lợi và cùng có lợi, theo nguyên tắc được đề cập trong điều 2 của Thỏa thuận này sẽ tích cực thảo luận, tìm kiếm biện pháp giải quyết mang tính chất quá độ, tạm thời, không ảnh hưởng đến lập trường và chủ trương của hai bên, trong đó bao gồm tích cực nghiên cứu và thương lượng, đàm phán vấn đề khai thác chung”. Điều 5 quy định: “Giải quyết vấn đề trên biển dựa theo tinh thần tiệm tiến tuần tự, dễ trước khó sau. Thúc đẩy đàm phán phân định biên giới vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc bộ một cách chắc chắn, đồng thời tích cực thương lượng đàm phán vấn đề khai thác chung ở vùng biển nói trên. Tích cực thúc đẩy hợp tác trên biển trong các lĩnh vực ít nhạy cảm, bao gồm bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học biển, cứu hộ trên biển, phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai. Nỗ lực tăng cường lòng tin lẫn nhau, tạo điều kiện giải quyết những vấn đề khó khăn hơn”. Một loạt nhận thức chung đạt được giữa nhà lãnh đạo hai đảng hai nước phù hợp với lòng dân ở hai nước, thuận theo xu hướng của thời đại, đã chỉ rõ phương hướng đúng đắn để mở rộng tương lai quan hệ Trung – Việt tốt đẹp hơn. Giữa Trung Quốc và Việt Nam cùng các nước ASEAN khác tồn tại vấn đề trong đó có tranh chấp chủ quyền các đảo và lợi ích biển, khi giải quyết đòi hỏi phải có sự nhẫn nại, thời gian và trí tuệ. Trước khi giải quyết vấn đề, bằng mọi cách không làm cho vấn đề phức tạp thêm, không để mâu thuẫn leo thang, ảnh hưởng đến cục diện lớn của hợp tác song phương. Cho dù thế hệ chúng ta hiện nay chưa giải quyết được về căn bản thì thế hệ con cháu sau này cũng nhất định có trí tuệ và khả năng để tìm ra biện pháp giải quyết thỏa đáng. Ý nguyện Biển Đông trở thành biển hòa bình, hữu nghị và hợp tác sẽ có ngày trở thành hiện thực. Quan hệ hợp tác hữu nghị giữa Trung Quốc và các nước Đông Nam Á sẽ tiến cùng thời đại, không ngừng được nâng lên trình độ mới cao hơn./.

Lăng Đức Quyền, nguyên Trưởng phân xã Tân Hoa xã tại Hà Nội, hiện là nghiên cứu viên thuộc Trung tâm nghiên cứu vấn đề quốc tế của Tân Hoa xã

Theo Mạng Tân Hoa (23/2)

Lê Sơn (gt)

 

 

Theo GS. La Quốc Cường thuộc Viện Luật Quốc tế, Đại học Vũ Hán (Trung Quốc), Trung Quốc cần thừa nhận thực tế rằng cùng khai thác có mức độ ứng dụng thấp, định vị cùng khai thác chỉ là biện pháp hỗ trợ giải quyết tranh chấp Biển Đông chứ không phải là lựa chọn ưu tiên.

Tình hình Biển Đông phát triển từ chỗ ban đầu chỉ là biến “Tuyên bố về cách ứng xử các bên tại Biển Đông” (DOC) thành văn kiện vô giá trị, tới chỗ các bên đơn phương khai thác Biển Đông, tiếp đó là sự kiện đối đầu giữa các tàu và phe quân đội lớn tiếng. Tất cả cho thấy chủ trương “gác tranh chấp, cùng khai thác” mà Trung Quốc nhất quán 30 năm nay dường như không được màng đến trong phạm vi Biển Đông. Vậy mức độ ứng dụng của chủ trương “cùng khai thác” của Trung Quốc tại Biển Đông ra sao?

Tính hạn chế của “cùng khai thác”

“Cùng khai thác” thông thường chỉ các bên tranh chấp biển tạm thời gác tranh chấp biển liên quan, căn cứ vào những nguyên tắc thiết thực, có thái độ hợp tác, cùng nhau hoặc các bên tự khai thác kinh tế tại khu vực tranh chấp. Gác lại tranh chấp chủ quyền, né tránh tranh cãi chính trị, nỗ lực khai thác kinh tế, tìm kiếm hợp tác sơ khởi nhất hoặc chí ít là không gây trở ngại cho nhau vẫn là những đặc trưng rõ nét của chính sách “cùng khai thác”. Tuy nhiên, nếu xem xét một cách căn bản, “cùng khai thác” không phải là phương thức giải quyết tranh chấp thực sự, chỉ là kế sách tạm thời, thỏa mãn nhu cầu hiện thực. Trên thế giới từng đạt được 25 hạng mục cùng khai thác, qua phân tích các hạng mục này có thể rút ra 4 kết luận sau:

Thứ nhất, cùng khai thác chỉ được sử dụng trong phạm vi song phương, chưa từng sử dụng trong phạm vi đa phương. Điều này cho thấy phạm vi sử dụng của chính sách “cùng khai thác” trên thực tế rất hạn chế. Cho dù về lý thuyết, việc đạt được thỏa thuận cùng khai thác ở phạm vi đa phương là có thể, nhưng trong thực tiễn, các nước không có nhiều hứng thú với nó, nên khó có thể đạt được thỏa thuận. Chính vì thế, từ trước tới nay, thỏa thuận “cùng khai thác” đã trở thành biện pháp song phương thuần túy.

Thứ hai, phàm là cùng khai thác đảo tranh chấp, nếu không quá độ bằng cơ chế giải quyết tranh chấp thực sự như thỏa thuận phân giới hoặc tài phán tư pháp, cùng khai thác cuối cùng sẽ khó tránh được việc rơi vào tình trạng không có kết quả. Bốn hồ sơ cùng khai thác đảo tranh chấp tới nay đều cho thấy xu thế đó, gồm: Hiệp định phân giới khu trung lập giữa Côoét và Arập Xêút năm 1965, Biên bản ghi nhớ giữa Iran và Sharjah (một thành viên thuộc Các Tiểu Vương quốc Arập Thống nhất) năm 1971, Tuyên bố chung về việc tiến hành hợp tác bờ biển gần khu vực Tây Nam Đại Tây Dương giữa Anh và Áchentina năm 1995, Biên bản ghi nhớ về việc cùng khai thác tài nguyên đảo Mbaine giữa Ghinê Xích đạo và Gabông năm 2004.

Thứ ba, chính sách “cùng khai thác” có tính chất tạm thời và quá độ tương đối mạnh, thiếu sự bảo đảm hữu hiệu về mặt pháp luật. Cho dù cùng khai thác thể hiện ý nguyện hợp tác nhất định của nước đương sự và có thể tạm thời làm tranh chấp trở nên hòa hoãn, nhưng điều đó không có nghĩa là mức độ nhạy cảm của tranh chấp liên quan giảm xuống và giúp tăng khả năng giải quyết tranh chấp. Trong thực tế, một số nước đương sự không hề có hứng thú đối với cách làm này và cho dù đã lựa chọn cách làm này, nước đương sự thường không yêu thích nó. Ngược lại, rất nhiều nước đương sự thích cách làm và hành vi có ảnh hưởng pháp luật, thể hiện sở hữu biển hơn như kiểm soát thực tế đối với đảo tranh chấp, tuyên bố chủ quyền biển…

Thứ tư, xem xét thực tiễn quốc tế hiện nay sẽ thấy hiệu quả của chính sách “cùng khai thác” không được như mong đợi. Hiện nay trên thế giới có khoảng 260 khu vực biên giới tồn tại tranh chấp hoặc đợi phân định, trong đó chỉ có 25 khu vực thực hiện cùng khai thác, nhưng trong số khu vực đã đạt được thỏa thuận cùng khai thác chỉ có khoảng 50% là được thực thi, còn lại hoặc là chưa thực thi, hay vô hiệu, hoặc là đã chấm dứt, hay được thay thế bằng hình thức khác và có thỏa thuận về cơ bản không thể thực thi.

Cùng khai thác không thích ứng với tranh chấp Biển Đông

Tại Biển Đông, Trung Quốc ra sức cổ súy cùng khai thác và việc này từng đạt được tiến triển nào đó: Năm 2002, Trung Quốc và ASEAN ký “DOC”; năm 2004, Công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc ký hiệp định thăm dò chung với Công ty Dầu khí Philíppin; năm 2005, công ty dầu khí của Trung Quốc, Philíppin và Việt Nam ký kết “Hiệp định Công tác địa chất hải dương chung ba bên tại khu vực Biển Đông”. Trên thực tế, hiệp định giữa các công ty dầu khí chỉ là hợp đồng kinh tế có nhân tố bên ngoài, không thể nào so sánh được với hiệp định “cùng khai thác” giữa các nước. Bên cạnh đó, hành vi của các nước ASEAN sau khi ký DOC khác xa với những gì đã cam kết. Có thể nói, cùng khai thác tại Biển Đông chưa từng đạt được mức độ thực thi thực sự và cụ thể, tới nay gần như phá sản.

Một nguyên nhân quan trọng dẫn đến cục diện trên chính là mức độ ứng dụng của chính sách cùng khai thác ở Biển Đông rất thấp.

Trước tiên, đương sự liên quan tới tranh chấp Biển Đông tương đối nhiều. Trong khi đó, như đã nói ở trên, tới nay trong thực tiễn quốc tế, thỏa thuận “cùng khai thác” chỉ được sử dụng trong phạm vi song phương. Vì vậy, mức độ khó khăn trong việc đạt được thỏa thuận “cùng khai thác” mang tính đa phương ở Biển Đông là tương đối lớn. Cho dù đã đạt được thỏa thuận song phương thì cũng có thể bị bên đương sự liên quan khác phản đối, thậm chí là ngăn cản, khiến hiệu quả thực thi thỏa thuận song phương này bị giảm mạnh, cuối cùng có thể sẽ ảnh hưởng tới việc bàn thảo và đạt được thỏa thuận đa phương về phân định biên giới trên biển trong tương lai. Kế đó, các đảo liên quan tới tranh chấp ở Biển Đông rất nhiều. Giống như những gì đã nói ở trên, phàm là cùng khai thác liên quan tới đảo tranh chấp nếu không quá độ bằng cơ chế giải quyết tranh chấp thực sự như thỏa thuận phân giới hoặc tài phán tư pháp, cùng khai thác cuối cùng sẽ khó tránh được việc rơi vào tình trạng không có kết quả. Cho nên, điều dễ thấy là số lượng đảo tranh chấp lớn sẽ gây trở ngại lớn tới việc đạt được và thực thi thỏa thuận “cùng khai thác”. Việc tồn tại một lượng lớn đảo tranh chấp không chỉ khiến các bên đương sự hoài nghi về việc đạt được thỏa thuận “cùng khai thác”, mà cho dù có thể đạt được thỏa thuận thì nó cũng ảnh hưởng rất lớn tới tính tích cực của các bên đương sự trong việc thực thi. Cuối cùng, tiêu điểm của tranh chấp Biển Đông ở một mức độ rất lớn không nằm ở vấn đề khai thác kinh tế mà nằm ở sự tranh giành chủ quyền đảo và địa vị chiến lược. Cùng khai thác về tổng thể mà nói không thể nào thỏa mãn nhu cầu chủ yếu của các bên tranh chấp và các nước đương sự sẽ không vì việc phân chia dầu mỏ mà từ bỏ tranh cãi. Chính vì các lý do trên, tác giả khuyến nghị Trung Quốc cần phải vận dụng tốt hơn chính sách “cùng khai thác”, cần xác định rõ mức độ ứng dụng của chính sách này đối với các khu vực biển tranh chấp khác nhau. Bên cạnh đó, Trung Quốc cần thừa nhận thực tế rằng cùng khai thác có mức độ ứng dụng thấp tại Biển Đông, định vị cùng khai thác chỉ là biện pháp hỗ trợ giải quyết tranh chấp Biển Đông chứ không phải là lựa chọn ưu tiên./.

Theo Báo Liên hợp Buổi sáng (ngày 17/4)

Lê Sơn (gt)

 

Báo Trung Quốc: Việc Nga tham gia khai thác nguồn dầu khí tại khu vực biển Đông với Việt Nam không phải là tin mới nhưng trong bối cảnh tranh chấp tại khu vực biển này ngày càng tăng tính phức tạp thì ý đồ chiến lược và các hoạt động khai thác của Nga cần được chú ý.

 

Trung Quốc phải làm rõ ý đồ chiến lược của Nga tại biển Đông. Thực tế trong nhiều thập kỷ qua, Nga chưa bao giờ từ bỏ chú ý khỏi khu vực này và luôn khai thác để đạt được lợi ích tại khu vực. Việt Nam đã từng là đồng minh của Liên bang Xô Viết trước đây. Những lợi ích của Nga tại khu vực biển Đông hầu như đều liên quan tới Việt Nam. Khi nhà lãnh đạo Nga Vladimir Putin gặp Thủ Tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng cuối năm 2009 đã nhấn mạnh quan hệ song phương Nga – Việt có tầm quan trọng chiến lược đặc biệt. Cảng Cam Ranh đã từng là một trong những căn cứ trước đây của Liên Bang Xô Viết thời kỳ chiến tranh Lạnh và đã có trên 10.000 binh lính cùng các thành viên gia đình họ đồn trú tại Cảng Cam Ranh trong thời kỳ quan hệ giữa hai nước Nga - Việt thân thiết nhất. Việc mở rộng quân sự sẽ đi kèm theo các lợi ích kinh tế. Đầu những năm 1980, Vietsovpetro, công ty liên doanh của Liên Bang Xô Viết cũ và Việt Nam, đã bắt đầu khai thác dầu khí tại thềm lục địa Việt Nam. Trong chừng mực nào đó, ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam đã phát triển do sự ủng hộ của Liên Bang Xô Viết cũ. Năm 2010, ông Bùi Đình Dĩnh, Đại Sứ Việt Nam tại Nga đã ca ngợi sự khai thác dầu giữa Nga và Việt Nam là lĩnh vực hợp tác hiệu quả và hứa hẹn nhất. Kể từ khi Việt Nam thu hút nhiều đầu tư nước ngoài hơn vào ngành dầu khí, ngày càng có nhiều doanh nghiệp Nga tham gia khai thác dầu khí với Việt Nam. Bên cạnh việc hợp tác dầu khí, chính phủ Nga đã cung cấp khoản vay 8 tỷ USD cho việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên tại Việt Nam. Trong khi đó, Nga cũng là một trong những nhà xuất khẩu vũ khí lớn nhất cho Việt Nam. Trong những năm gần đây, Việt Nam đã mua nhiều vũ khí tiên tiến từ Nga và Việt Nam đã thay thế Trung Quốc trở thành nhà nhập khẩu vũ khí lớn thứ 2 đối với Nga.

Tuy nhiên, thương mại hai chiều giữa hai nước chỉ đạt 2,45 tỷ USD trong năm 2011. Tất cả các hợp tác cho dù là khai thác dầu hay xây dựng nhà máy điện hạt nhân hoặc nhập khẩu vũ khí đều vượt xa các lợi ích kinh tế và chủ yếu liên quan tới những quan ngại về an ninh và chính trị. Và đó cũng chính là những cân nhắc quan trọng của Nga khi phát triển quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam. Tầm quan trọng của biển Đông phụ thuộc không chỉ vào sự dồi dào nguồn tài nguyên mà còn bởi tầm quan trọng chiến lược của vùng biển này nơi mà Nga có tầm nhìn xa chiến lược tại khu vực. Với sự phục hồi về kinh tế và cải cách quân sự ngày càng tiến bộ, Nga bắt đầu hướng về phía Đông và chắc chắn Nga không bỏ qua khu vực phía Nam. Việt Nam chắc chắn nằm trong vành đai đó. Trợ lý TTh Nga Sergei Prikhodko đã từng nói Nga không nhất thiết phải khôi phục căn cứ quân sự tại Cảng cam Ranh nhưng sẽ là lô-gic khi sử dụng cơ sở hạ tầng và trang thiết bị tại khu vực này. Thực chất, Nga đang đứng sau Việt Nam cũng không khác gì Mỹ đang muốn tận dụng Biển Đông khi đứng đằng sau Philippines. Tuy nhiên, Nga chưa có đủ sức mạnh quân sự triển khai quốc tế như trước và đang có nhiều lợi ích chung với Trung Quốc do đó Nga không thể quá nóng vội trong vấn đề biển Đông. Nga có thể tự tin tuyên bố rằng việc khai thác dầu với Việt Nam không liên quan tới khu vực tranh chấp giữa Trung Quốc và Việt Nam nhưng khi lợi ích của Nga tại biển Đông càng lớn với nhiều chương trình hợp tác chung với Việt Nam thì nguy cơ các hoạt động có thể gây tổn hại đến lợi ích của Trung Quốc càng cao. Đây không chỉ đơn thuần là chính trị quốc tế vì lợi ích mà buộc các nước mâu thuẫn nhau. Trung Quốc phải tăng cường sức mạnh và tìm kiếm lợi ích chung càng nhiều càng tốt với Nga. Sức mạnh quốc gia là nền tảng và là sự bảo đảm quan hệ tôn trọng lẫn nhau cũng như sự kiềm chế vì lợi ích chung, do đó Nga cần cẩn trọng trong các quyết định liên quan tới Trung Quốc./.

Theo Thời báo Hoàn cầu (ngày 12/4)

Trần Sáng

 

Theo Robert Beckman: Việc Bắc Kinh phản đối kế hoạch thăm dò dầu khí tại một số lô ngoài khơi đảo Palawan (thuộc chủ quyền Philíppin) mà Manila mới loan báo có thể được coi là một hành động hợp pháp nhằm bảo vệ quyền lợi của Trung Quốc. 

 

Giữa lúc các cuộc tranh cãi pháp lý và tranh chấp trên thực tế giữa các bên liên quan trên Biển Đông tiếp tục có những diễn biến phức tạp, tác giả Robert Beckman đã nêu một số phân tích, nhận định đáng xem xét về một số qui định trong Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS), tình hình thực tế, và viện dẫn một số nội dung để cho rằng Trung Quốc có lý khi khẳng định quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với việc thăm dò và khai thác các nguồn tài nguyên dầu khí trong vùng biển xung quanh một số đảo của quần đảo Trường Sa. Trong bài viết này, tác giả cũng nêu ý kiến liên quan đến “đường lưỡi bò” của Trung Quốc, lập trường còn nhiều khác biệt của Trung Quốc và Philíppin về việc xác định tính chất cấu trúc đảo, đá trên biển, phạm vi vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa của các cấu trúc đó, cũng như cỗ vũ cho chủ trương “gác tranh chấp cùng khai thác”. Sau một vài tháng khá yên lắng vừa qua, tranh chấp giữa Trung Quốc và Philíppin trên Biển Đông đã lại bùng phát. Va chạm mới nhất giữa Philíppin và Trung Quốc được kích hoạt bởi một thông báo của Manila rằng nước này sẽ thiết lập các lô mới ngoài khơi đảo Palawan để khai thác các nguồn tài nguyên dầu khí. Trung Quốc đã phản đối với lập luận một số lô nói trên nằm trong những vùng biển mà Bắc Kinh tuyên bố có quyền chủ quyền và quyền tài phán. Câu hỏi quan trọng là liệu Trung Quốc có một tuyên bố hợp pháp theo quy định của luật pháp quốc tế về quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với những khu vực bao trùm những lô thăm dò đó hay không. Và nếu như vậy, thì có nghĩa là các lô thuộc diện tranh cãi nằm trong một "khu vực tranh chấp", và sự phản đối của Trung Quốc trước hành động đơn phương của Philíppin là hợp lệ. 

Đường đứt quãng chín đoạn “đầy tai tiếng” thể hiện trên bản đồ của Trung Quốc về Biển Đông gợi ý các nhà phê bình miêu tả tuyên bố của Trung Quốc như là một tuyên bố về "chủ quyền lãnh hải”; họ cho rằng hoặc là Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đối với tất cả các vùng nước trong đường chín đoạn hoặc là đối với 80% diện tích Biển Đông. Tuy nhiên, Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã nhắc lại rằng Trung Quốc không tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ Biển Đông. Mặc dù Trung Quốc đã không hoàn toàn làm rõ đường đứt quãng chín đoạn, song trong một công hàm ngoại giao chính thức gửi Liên hợp quốc, Bắc Kinh đã tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa và các vùng biển liền kề. Có một nhất trí chung là khi nói đến “các vùng biển liền kề", người ta hiểu đó là những vùng biển nằm trong phạm vi 12 hải lý tính từ bất cứ lãnh thổ đất liền nào, kể cả các đảo. Hơn nữa, Trung Quốc cũng đã tuyên bố trong công hàm ngoại giao chính thức rằng quần đảo Trường Sa được hưởng một EEZ và thềm lục địa theo quy định của pháp luật Trung Quốc và theo UNCLOS năm 1982. Một quốc gia không có chủ quyền trong EEZ hoặc trên thềm lục địa, nhưng lại có "quyền chủ quyền” và quyền tài phán với mục đích thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên dưới đáy biển, trong lòng đất thuộc EEZ, cũng như trên vùng thềm lục địa của mình. Philíppin tuyên bố có quyền chủ quyền để thăm dò và khai thác các nguồn tài nguyên dầu khí tại các lô thuộc Bãi Cỏ Rong, vì Manila đã tuyên bố phạm vi vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý tính từ đường cơ sở kết nối các điểm ngoài cùng của hầu hết các hòn đảo ngoài cùng của quần đảo Philíppin. 

Philíppin không tuyên bố EEZ hay thềm lục địa tính liền từ các đảo tranh chấp ở quần đảo Trường Sa. Thay vào đó, quan điểm của Philíppin có thể là thậm chí một số cấu trúc gần Bãi Cỏ Rong là những hòn đảo bởi vì chúng được hình thành tự nhiên như là những vùng đất đá nổi lên khỏi mặt nước khi thủy triều xuống, các đảo đó chỉ nên được hưởng phạm vi lãnh hải 12 hải lý, mà không phải là một vùng đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục địa. Lập trường của Philíppin dựa trên sự phân biệt được qui định trong UNCLOS 1982 giữa "đảo" và "bãi đá". Mặc dù trên nguyên tắc đảo được hưởng một vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, còn "bãi đá", nơi không thể duy trì hoạt động cư trú hay kinh tế của con người, chỉ được hưởng một vùng lãnh hải 12 hải lý. Hiệu quả thực tế từ các quan điểm của Philíppin là nhằm giảm các "khu vực tranh chấp" tại quần đảo Trường Sa và trong phạm vi 12 hải lý tiếp giáp. Do các lô tại khu vực Bãi Cỏ Rong nằm cách xa các đảo tranh chấp hơn 12 hải lý, nên chúng không nằm trong các khu vực có tranh chấp, mà hoàn toàn thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Philíppin tính từ chính quần đảo này. Trung Quốc duy trì lập trường cho rằng một số cấu trúc thuộc quần đảo Trường Sa nằm gần với Bãi Cỏ Rong, chẳng hạn như Nanshan Island (đảo Vĩnh Viễn – tên Việt Nam), chính là những "hòn đảo" theo UNCLOS, vì nó được hình thành tự nhiên như là các khu vực đất đá nổi lên trên mặt nước khi thủy triều xuống. Hơn nữa, Trung Quốc có thể duy trì lập luận một số các đảo này được hưởng vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa vì chúng có khả năng duy trì sự cư trú hay đời sống kinh tế của con người. 

Nếu Trung Quốc tuyên bố rằng một số trong những hòn đảo nằm gần Bãi Cỏ Rong được hưởng một vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, thì Bắc Kinh có thể duy trì lập luận nước này có quyền chủ quyền và quyền tài phán theo UNCLOS để thăm dò và khai thác các nguồn tài nguyên dầu khí ở các khu vực đó. Bởi vậy, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa tính từ các đảo tranh chấp sẽ chồng chéo với các vùng đặc quyền kinh tế của Philíppin tính từ quần đảo Philíppin. Nếu các lô đang tranh cãi gần Bãi Cỏ Rong nằm trong khu vực tranh chấp, điều này sẽ có ý nghĩa đối với các hoạt động có thể được tiến hành hợp pháp bởi Philíppin và Trung Quốc. Các phán quyết của trọng tài quốc tế gần đây cho thấy các hoạt động đơn phương thăm dò và khai thác trong khu vực tranh chấp là “trái với UNCLOS”, đặc biệt nếu chúng liên quan đến hoạt động khoan đáy biển. Giờ đây, có thể nói rằng Trung Quốc có cơ sở theo UNCLOS và luật pháp quốc tế để khẳng định quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với việc thăm dò và khai thác các nguồn tài nguyên dầu khí trong vùng biển xung quanh một số đảo của quần đảo Trường Sa. Theo đó, việc Trung Quốc phản đối Philíppin có thể được coi là một hành động hợp pháp nhằm bảo vệ quyền lợi của Trung Quốc. Cách tốt nhất trước mắt có thể là hai nước gác sang một bên các tranh chấp về chủ quyền và tranh chấp về đảo hay bãi đá, tiến hành đàm phán để xác định các khu vực tranh chấp có thể là nơi triển khai thoả thuận hợp tác phát triển. Cùng lúc, hai nước cần kiềm chế và không có bất kỳ hoạt động đơn phương nào làm trầm trọng thêm các tranh chấp vốn đã phức tạp./.

Tác giả Robert Beckman là Giám đốc Trung tâm Luật Quốc tế và là Phó Giáo sư tại Khoa Luật – Đại học Quốc gia Xinhgapo

Theo Rsis (ngày 9/3)

Vũ Hiền (gt)

 

Heritage (US): Bảo vệ tự do hàng hải ở Biển Đông rõ ràng là nằm trong lợi ích của Mỹ và cũng cực kỳ quan trọng đối với Philíppin. Tăng cường các liên minh truyền thống và tìm kiếm các đối tác mới là công cụ hiệu quả nhất của Mỹ để duy trì sự ổn định ở Biển Đông.

 

 

Năm ngoái, Mỹ và Philíppin đã tăng cường mối quan hệ an ninh với việc Mỹ trang bị cho Hải quân Philíppin một tàu tuần duyên cao tốc và một chiếc nữa sẽ được chuyển giao trong năm 2012 này. Mỹ cũng đã gia tăng giúp đỡ kỹ thuật cho các lực lượng vũ trang Philíppin, cung cấp tình báo và giúp huấn luyện chống khủng bố, đồng thời cũng đã nâng cấp đối thoại chiến lược. Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ phụ trách các vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương Kurt Campbell từng tuyên bố trong một cuộc điều trần tại Quốc hội Mỹ: “Chúng ta đang trên đà phục hưng mối quan hệ giữa Mỹ và Philíppin”. Sự gia tăng quan hệ với đồng minh lâu đời nhất của Mỹ ở châu Á diễn ra trong bối cảnh căng thẳng ngày càng tăng ở Biển Biển Đông, nơi 6 quốc gia, trong đó có Trung Quốc và Philíppin, có những tuyên bố chủ quyền chồng lấn ở vùng biển được cho là giàu tài nguyên này. Trung Quốc, nước có tuyên bố chủ quyền mở rộng vào tận nơi chỉ cách lãnh thổ Philíppin vài dặm, đã nhiều lần hù dọa các tàu của Philípin và cả tàu của Mỹ. Bảo vệ quyền tự do hàng hải ở Biển Đông rõ ràng là nằm trong lợi ích của Mỹ vì có tới 1.200 tỷ USD hàng hóa của Mỹ chuyển qua vùng biển này hàng năm. Nó cũng cực kỳ quan trọng đối với Philíppin, quốc gia mà, theo báo chí, đang hoan nghênh một vai trò lớn hơn của Mỹ trong khu vực. Mới đây, Tổng thống Philíppin Benigno Aquino bày tỏ mong muốn Mỹ và Philíppin gia tăng quan hệ, theo đó sẽ có nhiều chuyến thăm Philíppin hơn của các tàu chiến Mỹ, có nhiều cuộc diễn tập và huấn luyện chung hơn, giống như thỏa thuận hồi tháng 11/2011 giữa Mỹ và Ôxtrâylia. Ngoại trưởng Philíppin Albert del Rosario mới đây cũng bày tỏ nguyện vọng “chúng tôi muốn có nhiều người Mỹ đến thăm thường xuyên hơn bằng việc nói tới việc mở cửa các cơ sở quân sự của Philíppin để sử dụng chung với các lực lượng của Mỹ”. Ông Rosario cho biết trong cuộc hội đàm 2+2 giữa ông và Bộ trưởng Quốc phòng Philíppin với Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton và Bộ trưởng Quốc phòng Leon Panetta vào ngày 30/4 tới, phía Philíppin sẽ đề nghị mua thêm tàu tuần duyên thứ ba và một phi đội máy bay F-16. Đây rõ ràng là những bước đi rất khích lệ và Mỹ cần sẵn sàng cung cấp cho Philíppin những vật liệu và thiết bị quân sự thiết yếu cũng như những chương trình huấn luyện cần thiết.

Hơn nữa, với vị trí địa chiến lược của Philíppin ở Biển Đông, Oasinhtơn và Manila cũng cần đi tới một thỏa thuận về sự hợp tác Mỹ-Philíppin trong việc tiến hành các hoạt động do thám từ các căn cứ không quân của Philíppin. Mỹ cũng nên hỗ trợ xây dựng lực lượng thủy quân lục chiến còn yếu kém của Philíppin để lực lượng này có đủ khả năng thực thi nhiệm vụ. Tuy nhiên, sự cam kết của Mỹ với Philíppin cần mở rộng, chứ không chỉ thuần túy về quân sự. Mở rộng buôn bán, tạo thuận lợi cho Manila tham gia vòng đàm phán về Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) cũng sẽ giúp cho Philíppin có một nền tảng cơ sở rộng rãi để Philíppin không lệ thuộc vào Oasinhtơn và cũng không lệ thuộc vào Trung Quốc. Sự quan tâm ở cấp cao, trong đó có chuyến thăm Mỹ trong mùa Hè này của Tổng thống Aquino, cũng rất quan trọng, nhất là trong bối cảnh nước Mỹ đang bị chia rẽ do năm bầu cử. Hơn nữa, cách tốt nhất để bảo đảm sự ổn định ở Biển Đông là bằng việc duy trì một lực lượng triển khai ở tuyến trước và luôn ở thế sẵn sàng về quân sự khắp vùng biển Tây Thái Bình Dương. Mặc dù ngân sách Lầu Năm Góc bị cắt giảm nhưng nếu không dành một khoản ngân sách để hậu thuẫn cho những cam kết trên đây thì Mỹ có nguy cơ sẽ bị mất niềm tin của khu vực, điều đó sẽ càng dẫn tới một tình trạng không chắc chắn và bất ổn tại Biển Đông. Chuyển giao cho Philíppin một vài con tàu trước mắt là để giúp đồng minh của chúng ta tự vệ, nhưng về lâu dài, hòa bình và ổn định cần được bảo vệ thông qua việc thể chế hóa sự có mặt của Mỹ trong khu vực. Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 20 vừa diễn ra tại Campuchia, nước khá hữu hảo với Trung Quốc và vấn đề Biển Đông đã bị nước chủ nhà đưa ra khỏi chương trình nghị sự, bất chấp sự phản đối mạnh mẽ của Philíppin. Tuy nhiên cũng phải nói thẳng ra rằng ASEAN không thể bảo vệ được các lợi ích an ninh và hàng hải của Mỹ trên các vùng biển. Bởi vậy, Mỹ và Philíppin không có gì phải lo lắng về vấn đề Biển Đông với năm Campuchia làm Chủ tịch ASEAN. Tăng cường các liên minh truyền thống và tìm kiếm các đối tác mới sẽ là công cụ hiệu quả nhất của Mỹ để duy trì sự ổn định ở Biển Đông. 

Liên quan tới sự can dự quân sự của Mỹ trong khu vực, báo “Bưu điện Oasinhtơn” ngày 27/3 đưa tin Mỹ và Ôxtrâylia đang soạn thảo một kế hoạch mở rộng hợp tác quân sự giữa hai nước, trong đó có thể bao gồm việc triển khai lực lượng máy bay do thám tại nhóm đảo san hô và tăng cường quyền tiếp cận của Hải quân Mỹ đối với các hải cảng của Ôxtrâylia. Kế hoạch này là sự mở rộng thỏa thuận đạt được tháng 11/2011 theo đó Ôxtrâylia cho phép Mỹ triển khai 2.500 lính thủy quân lục chiến tại căn cứ Darwin nằm ở bờ biển phía Bắc của nước này. Các cuộc đàm phán về kế hoạch mở rộng hợp tác quân sự với Ôxtrâylia là dấu hiệu mới nhất cho thấy Chính quyền Obama đang rất khẩn trương chuyển hướng trọng điểm chiến lược toàn cầu của Mỹ sang khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Chính phủ Mỹ hiện cũng đang trong giai đoạn hoàn tất thỏa thuận triển khai 4 tàu chiến tại Xinhgapo, đã và đang thương thuyết để gia tăng sự hiện diện quân sự tại Philíppin. Ở tầm mức thấp hơn, Lầu Năm Góc cũng đang tìm cách nâng cấp các mối quan hệ quân sự với Thái Lan, Việt Nam , Malaixia, Inđônêxia và Brunây. Lầu Năm Góc hiện cũng đang xem xét lại quy mô và bố trí lại lực lượng ở khu vực Đông Bắc Á, theo hướng từng bước giảm bớt quy mô tại Nhật Bản và Hàn Quốc để gia tăng sự hiện diện ở khu vực Đông Nam Á, nơi án ngữ các tuyến vận tải đường biển nhộn nhịp nhất của thế giới và cũng là nơi đang có sự giành giật quốc tế ngày quyết liệt đối với nguồn dầu khí và các nguồn tài nguyên khác. Kết quả rà soát mới đây về thế bố trí binh lực của Ôxtrâylia khuyến nghị chính phủ điều chỉnh thế bố trí quân sự, bằng việc cân nhắc các lợi ích an ninh của Mỹ. Một khuyến nghị là mở rộng căn cứ hải quân Stirling ở thành phố Perth nằm ở miền Tây Ôxtrâylia để có thể cho phép Mỹ sử dụng làm nơi triển khai quân và thực thi các hoạt động tác chiến ở khu vực Đông Nam Á và Ấn Độ Dương. Tại Ấn Độ Dương, Mỹ hiện sử dụng chung căn cứ trên đảo Diego Garcia của Anh và hợp đồng thuê sẽ hết hạn vào năm 2016. Lầu Năm Góc đang cùng với Ôxtrâylia khảo sát dãy đảo san hô Cocos Island của Ôxtrâylia ở Ấn Độ Dương vì coi đây là địa điểm lý tưởng để triển khai lực lượng máy bay do thám, rất thuận tiện cho việc thực thi các chuyến bay do thám thường xuyên vào khu vực Biển Đông. Ngoài ra, Lầu Năm Góc cũng đang cân nhắc đề xuất của Ôxtrâylia nâng cấp căn cứ Stirling, thậm chí cả đề nghị xây dựng một căn cứ hải quân mới ở thành phố Brisbane, nằm ở bờ biển phía Đông của Ôxtrâylia./.

Theo Heritage (ngày 30/3)

Mỹ Anh (gt)

 

Xinhgapo đánh giá cao về giá trị của sự hiện diện của Mỹ tại khu vực châu Á. Tuy nhiên, quan hệ quốc phòng gần gũi của Xinhgapo với Mỹ không có nghĩa rằng Xinhgapo sẽ ủng hộ bất kỳ một chiến lược nào của Mỹ trong tương lai nhằm kiềm chế Trung Quốc.

 


Xinhgapo và Mỹ gắn kết với nhau không chỉ bởi các mối quan hệ kinh tế quan trọng và còn bởi một mối quan hệ quốc phòng đang đâm chồi nảy lộc. Gần đây nhất là tuyên bố hồi tháng 6/2012 của Mỹ rằng nước này sẽ triển khai 4 tàu chiến duyên hải tới Xinhgapo. Các mối quan hệ an ninh giữa hai nước bắt nguồn từ cuối những năm 1960, khi Xinhgapo tích cực ủng hộ cuộc chiến của Mỹ tại Việt Nam . Cùng với sự ủng hộ liên tục đó, sự gần gũi và độ sâu của các mối liên hệ quốc phòng ngày nay có thể cho thấy rằng Xinhgapo là một đồng minh của Mỹ nhưng các chính phủ của nhà nước thành phố này luôn tìm cách né tránh tình trạng quan hệ đó, và luôn mong muốn có một sự tự trị chiến lược bắt nguồn từ một mối quan hệ quốc phòng ít chính thức nhưng vẫn mạnh mẽ với Mỹ. Tuy nhiên, mối quan hệ này có thể tạo ra tình thế tiến thoái lưỡng nan cho Xinhgapo. 

Giáo sư Tim Huxley, Giám đốc Điều hành phụ trách về châu Á của Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (Anh), cho rằng rằng trong khi những nhà quan sát nông cạn có thể cho rằng Xinhgapo là đồng minh của Mỹ thì thực tế các chính phủ từ trước tới nay của Xinhgapo lại có vẻ ưa thích tình trạng tự trị và ít chính thức hơn trong quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, mối quan hệ này có thể tạo ra tình thế tiến thoái lưỡng nan cho Xinhgapo.

Sự ủng hộ vai trò an ninh và sự hiện diện quân sự của Mỹ trong khu vực của Xinhgapo bắt nguồn từ sự nhận thức của giới lãnh đạo nước này dưới thời Thủ tướng Lý Quang Diệu, Ngoại trưởng S. Rajaratnam và Bộ trưởng Quốc phòng Goh Keng Swee rằng các lợi ích của đảo quốc nhỏ, bị kẹp giữa các láng giềng lớn hơn và hiếu chiến hơn cũng như bị đe dọa bởi các quốc gia cộng sản, chỉ có thể có được bằng cách ngăn cản sự thống trị khu vực của bất kỳ một cường quốc nào. Như Thủ tướng Lý Quang Diệu đã nói năm 1966 rằng điều sống còn đối với Xinhgapo là phải có một cường quốc vượt trội đứng về phía mình. Xinhgapo khi đó đã xây dựng lực lượng quân đội riêng của mình chủ yếu là để ngăn chặn Inđônêxia và Malaixia thống trị mình, nhưng ở quy mô khu vực rộng hơn thì thực lực quân sự cũng như ảnh hưởng ngoại giao còn khá hạn chế đã buộc nước này phải dựa vào chiến lược cân bằng quyền lực thông qua việc nhờ cậy tới sức mạnh của các cường quốc bên ngoài khu vực, đặc biệt là Mỹ. 

Chiến thắng của phe cộng sản tại Đông Dương năm 1975 và cuộc chinh phục Campuchia của Việt Nam năm 1978 đã tái củng cố quan điểm của Xinhgapo về Mỹ với tư cách là nguồn ảnh hưởng bên ngoài sống còn đối với an ninh Đông Nam Á. Bất chấp những xích mích trong các mối quan hệ thương mại, nhân quyền và việc cung cấp thiết bị quân sự, các nền tảng được thiết lập trong những năm 1980 cho các mối quan hệ an ninh song phương ngày càng gần gũi - mối quan hệ một lần nữa được thúc đẩy khi các lực lượng Mỹ bị hất cẳng khỏi Philíppin được tiếp cận với mức độ lớn hơn tại các căn cứ quân sự của Xinhgapo. 

Tuy nhiên, lịch sử đó không có nghĩa là Xinhgapo sẽ ủng hộ bất kỳ một chiến lược nào trong tương lai của Mỹ nhằm kiềm chế Trung Quốc. Một sự đối đầu chiến lược ngày càng cứng rắn giữa Mỹ và Trung Quốc có thể chia rẽ các quốc gia Đông Á thành các phe đối lập và đặt Xinhgapo vào một tình thế không dễ chịu. Bất chấp quan điểm nghiêng về phương Tây một cách rõ ràng trong nhiều vấn đề quốc tế, các lý do chính trị nội bộ khiến việc Xinhgapo đứng về phía Mỹ trong cuộc xung đột hoặc khủng hoảng trong tương lai với Trung Quốc là điều rất khó có thể xảy ra. Xinhgapo có 78% là người gốc Hoa thiểu số, và có thêm hàng trăm nghìn người nhập cư từ Đại lục những năm gần đây. Đặc biệt là khi động lực lợi ích thay thế cho chủ nghĩa cộng sản trong hệ tư tưởng định hướng của Trung Quốc thì phần lớn các chính trị gia, các quan chức, doanh nghiệp Xinhgapo cảm thấy khó có thể coi Trung Quốc là một mối đe dọa. Đồng thời, Xinhgapo cũng cảm thấy hết sức cần thiết phải thể hiện một mức độ nhạy cảm đối với các nước láng giềng của mình. 

Năm 2003, Xinhgapo đã không chấp nhận lời đề nghị của Mỹ về việc trở thành đồng minh ngoài NATO (lời đề nghị này được Philíppin và Thái Lan chấp nhận). Tuy nhiên, tháng 10/2003, Thủ tướng Xinhgapo Goh Chok Tong và Tổng thống George W.Bush tuyên bố về ý định muốn ký Thỏa thuận Khung Chiến lược về Quan hệ Đối tác Hợp tác Gần gũi hơn về Quốc phòng và An ninh (SFA). Thỏa thuận này mới được ký hồi tháng 7/2005, và nó cho thấy sự phức tạp trong quá trình đàm phán. Chi tiết của SFA tới nay vẫn được giữ bí mật, nhưng thông tin được tiết lộ là nó bao gồm cả Thỏa thuận Hợp tác Quốc phòng (DCA), tạo nền tảng cho sự hợp tác trên các lĩnh vực mới và tái khẳng định tầm quan trọng của hợp tác, chia sẻ kỹ thuật quốc phòng giữa Xinhgapo và Mỹ. SFA cũng mở rộng thỏa thuận trước đó liên quan tới việc tiếp cận của các tàu chiến và máy bay Mỹ đối với các căn cứ quân sự của Xinhgapo. 

Kể từ khi SFA được ký, sự hợp tác quốc phòng song phương đã được tăng cường đáng kể, và các đơn vị quân sự của Xinhgapo đã được triển khai tới chiến trường Ápganixtan tham gia vào lực lượng liên minh do Mỹ dẫn đầu tại đây, cũng như cử các tàu hải quân tới Vịnh Aden tham gia nhiệm vụ chống cướp biển. Các mối quan hệ quốc phòng song phương sẽ mang lại lợi ích an ninh cho Xinhgapo dưới nhiều cách thức khác nhau. Tuy nhiên, đôi khi nó cũng tạo ra thế tiến thoái lưỡng nan cho nhà nước thành phố này. Điều gì xảy ra nếu Mỹ muốn sử dụng căn cứ hải quân Changi trong một cuộc khủng hoảng với Trung Quốc liên quan tới Đài Loan, hay nếu Hải quân Mỹ phái các tàu chiến đấu duyên hải từ Xinhgapo để hỗ trợ cho Philíppin trong cuộc đối đầu mới với Trung Quốc? Các viễn cảnh như vậy sẽ đòi hỏi sự khéo léo vô cùng từ giới lãnh đạo chính trị và các nhà ngoại giao Xinhgapo để có thể bảo đảm rằng đối tác an ninh mở rộng với Mỹ không tạo ra những ràng buộc và mất mát mà chỉ có đồng minh của Mỹ mới thường chịu chấp nhận mà thôi.

Theo The Strategist

Trần Quang (gt)

 

 

Ngôn ngữ