27 - 11 - 2020 | 10:24
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home
Tag:hải quân

Mỹ đang phải đối mặt với những trở ngại tại Biển Đông. Washington cần tiến hành các hoạt động hợp tác biển song phương và với các nhóm nước đặc biệt nhằm xây dựng những mạng lưới liên minh khu vực đủ mạnh để giải quyết các vấn đề an ninh và đảm bảo lợi ích của Mỹ.

 

 


Tất cả các quốc gia tiến hành trao đổi và buôn bán hàng hóa bằng đường biển đều chia sẻ một lợi ích chung trong việc đảm bảo tự do hải tại khu vực Biển Đông. Khoảng một phần ba tàu thuyền thương mại của thế giới đi qua tuyến đường biển này, vận chuyển tài nguyên thiên nhiên và các hàng hóa thành phẩm đến người mua trong khắp khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Các nhà xuất nhập khẩu thương mại sẽ phải chịu chi phí nhiên liệu và bảo trì cao hơn nếu bị buộc phải đi đường vòng qua nút giao điểm hàng hải quan trọng này.

Tuy nhiên, bất chấp việc có những lợi ích chung này, Mỹ vẫn phải đối mặt với những trở ngại thực sự trong việc xây dựng một liên minh hàng hải quốc tế tại khu vực. Thách thức được đặt ra ở đây là Mỹ phải đoàn kết các quốc gia tham gia hoạt động trên biển để chống lại các mối đe dọa mà khó có thể được giải quyết một cách triệt để được.[1] Không giống như các mối đe dọa từ  Nhật Bản, Đức và Liên Xô, các thành viên trong liên minh này không phải đối mặt với cái mà học thuyết Tôn Tử gọi là “tử địa” (death ground), trong đó những lợi ích quan trọng hay thậm chí là lợi ích sống còn bị đe dọa. Ngoài ra, Hoa Kỳ cần phải xây dựng một liên minh như vậy trong tình hình kinh tế khó khăn với sự thắt chặt tài chính hơn bao giờ hết. Tình huống này có thể mang lại những hậu quả nhất định. Vị trí lãnh đạo trong các đồng minh cũng như các liên minh gần như thuộc về nước nào có đóng góp nhân lực và vật lực nhiều nhất. Ví dụ, trong Khối Đồng Minh thời chiến tranh thế giới thứ hai, quyền lực được chuyển dịch từ Anh sang Mỹ bởi ngành công nghiệp Mỹ lúc bấy giờ đã bắt đầu sản xuất các nguyên liệu chiến tranh trên số lượng lớn.[2] Sự chuyển giao quyền lực này cũng đúng trong thời đại ngày nay. Washington đang cố gắng để dẫn dắt và lãnh đạo các khối liên minh tại chính thời điểm mà khả năng để làm điều đó của nước này đang suy giảm.

Ngày nay, hợp tác trên biển là cụm từ được lặp lại liên tục trong chính sách của Mỹ đối với các vùng biển có lưu thông hàng hải trên thế giới. Do những cơ quan trên biển - Hải quân Mỹ, Thủy quân lục chiến (USMC) và Cảnh sát biển(USCG) – thấy rõ được rằng việc giảm ngân sách, chi phí đóng tàu tăng cao và tinh giảm cơ cấu lực lượng đang hạn chế các lựa chọn của họ,[3] họ phải tìm kiếm sự giúp đỡ từ các đối tác địa phương để quét sạch các mối đe dọa như khủng bố, cướp biển, phổ biến vũ khí và các hình thức buôn bán bất hợp pháp ra khỏi các tuyến đường biển. Các hạm đội của Mỹ, cho dù vẫn duy trì được sức mạnh lớn nhất trên thế giới, nhưng đang ngày càng trở nên quá nhỏ bé và quá hạn chế để có thể bảo vệ toàn thể cộng đồng hàng hải – “chuỗi liên kết của hệ thống quốc tế”, như đã được miêu tả trong một tuyên bố chính thức –  – chống lại những mối đe dọa tới các tuyến đường biển quan trọng.[4] Biển Đông, nằm ở giao điểm giữa hai đại dương và cho phép các lực lượng quân đội Mỹ dễ dàng di chuyển, phải trở thành tâm điểm trong hợp tác hàng hải quốc tế.

Việc duy trì những lực lượng này ở trong tình trạng tốt là một trong những mục tiêu hàng đầu của các nỗ lực hỗ trợ hàng hải của Mỹ. Chiến lược năm 2007 của Hải quân, Thủy quân lục chiến và Cảnh sát biển của Mỹ có tiêu đề “Chiến lược hợp tác cho Sức mạnh trên biển ở thế kỷ 21” (CS-21) và vẫn còn hiệu lực cho đến thời điểm này. Chiến lược sức mạnh trên biển này nâng cao nhiệm vụ giám hộ đối với hệ thống buôn bán và thương mại trên biển, vấn đề mà Mỹ đã chịu trách nhiệm từ năm 1945, tới mức độ là một nhiệm vụ “cốt lõi” của các đơn vị trên biển. CS-21 xác định Tây Thái Bình Dương và khu vực Ấn Độ Dương/Vịnh Ba Tư là các mối đe dọa trung tâm cho sức mạnh trên biển của Mỹ, bao gồm cả chức năng cảnh sát cũng như chức năng quân sự. Lời mở đầu của CS-21 tuyên bố rằng Hoa Kì sẽ “tham gia với các quốc gia có cùng chí hướng khác bảo vệ và duy trì hệ thống có tính toàn cầu và kết nối lẫn nhau này để nhờ đó các bên có thể phát triển sự thịnh vượng”.[5]

Mục tiêu này của Mỹ gặp phải sự phản đối gay gắt từ phía Trung Quốc, nước đang ngày càng gia tăng sức mạnh chính trị, kinh tế và quân sự. Bắc Kinh coi sự tham gia của Mỹ tại các vùng biển lân cận như là một cái cớ để kiềm chế những tham vọng chính đáng của Trung Quốc. Khả năng ngăn cản các hành động của Mỹ mà Trung Quốc coi là thù địch với các lợi ích của mình đang ngày càng gia tăng cùng với sự ảnh hưởng về ngoại giao. Sự phụ thuộc kinh tế giữa hai cường quốc Thái Bình Dương cho phép Bắc Kinh ràng buộc các hoạt động của Mỹ tại Biển Đông với các mối quan hệ kinh tế tốt đẹp. Trong thực tế, Trung Quốc có thể giữ các mối quan hệ kinh tế xuyên Thái Bình Dương như là con tin để bắt Mỹ phải có thái độ “tốt” tại khu vực Đông Nam Á. Kết quả là, những nhà cầm quyền Mỹ gần đây tỏ ra khiên cưỡng trong việc bác bỏ các ý muốn của Trung Quốc trong những vấn đề mà phía Trung Quốc xem là quan trọng đối với lợi ích quốc gia của họ.

Tuy nhiên, Hoa Kỳ không thể từ bỏ các lợi ích của họ tại Biển Đông. Mặc dù những phản đối của Trung Quốc có thể ngăn cản Mỹ xây dựng một liên minh khu vực đủ mạnh để giải quyết các vấn đề an ninh, thì phía Mỹ vẫn nên tiến hành các hoạt động hỗ trợ hàng hải song phương, thậm chí là hợp tác với các nhóm có mục đích đặc biệt được thành lập bởi những nước có quan tâm. Những hoạt động này sẽ giúp thúc đẩy các lợi ích của Mỹ và đồng thời cũng đặt nền tảng cho hợp tác hàng hải một cách sâu rộng hơn trong thời điểm mà môi trường an ninh trong khu vực đang thay đổi một cách đáng kể.

Chiến lược biển của Mỹ

Duy trì tự do hàng hải không phải chỉ là câu chuyện của lực lượng hải quân. “Hàng hải” (maritime) bao hàm ý nghĩa rộng hơn so với “hải quân” (naval). Giáo sư Geofrey Till của trường Đại học King ở Luân Đôn lý giải điều này một cách rất hợp lí bằng cách kết hợp các nhiệm vụ “giữ trật tự trên biển” trong thời bình với các chức năng chiến đấu truyền thống. Từ đó ông mở rộng và đa dạng hóa các khái niệm về sức mạnh trên biển. Các lực lượng hải quân đóng vai trò nhất định trong cách nhìn của Till, tuy nhiên các lực lượng phi quân sự khác như Cảnh sát Biển, Bộ ngoại giao, các cơ quan thực thi pháp luật, các cơ quan tình báo, hải quan và biên phòng cũng có những vai trò riêng. Ngay cả những công ty tư nhân ví dụ như các công ty vận hành các ga chứa hàng công-ten-nơ cũng đều có những vai trò nhất định.[6] Trên tinh thần này, CS-21 tuyên bố “Trước đây, chưa bao giờ các lực lượng trên biển của Mỹ - Lực lượng Hải quân, Thủy quân lục chiến, và Cảnh sát biển – lại cùng nhau để tạo nên một chiến lược biển thống nhất”.[7] Để rõ ràng hơn, chúng ta nên biết rằng, chiến lược hiện thời – chiến lược của những năm 1980 - chỉ đơn thuần là một chiến lược dành cho lực lượng hải quân với mục đích là để đánh bại Hải quân Liên Xô trong thời kì chiến tranh.[8]

Chiến lược an ninh biển quốc gia (NSMS) năm 2005, văn kiện đến ngày nay vẫn còn hiệu lực, thừa nhận sự cấp bách về việc mở rộng tầm nhìn của chiến lược quốc gia vượt ra ngoài các mục tiêu hàng hải đơn thuần. Bộ Quốc Phòng và Cục An ninh nội địa Mỹ cũng ban hành các chiến lược phối hợp hành động, tái khẳng định rằng an ninh biển liên quan đến nhiều vấn đề hơn so với sức mạnh hải quân. Cảnh sát biển Mỹ hiện nay là cơ quan của Bộ An ninh nội địa, đóng vai trò như cục hải quan và biên phòng Mỹ để từ đó cũng góp phần bảo vệ các vùng biển. Chiến lược an ninh biển quốc gia, do đó có một cái nhìn về các thách thức rộng hơn so với CS-21. Chiến lược này tuyên bố:

An ninh biển có được kết quả tốt nhất khi kết hợp các hoạt động gìn giữ an ninh biển của cộng đồng và cá nhân trên quy mô toàn cầu để từ đó hình thành nên một nỗ lực chung nhằm giải quyết các mối đe dọa hàng hải. Chiến lược an ninh biển quốc gia mới này sắp xếp tất cả các chương trình an ninh biển của các chính phủ liên bang và các sáng kiến thành một nỗ lực quốc gia toàn diện và gắn kết liên quan đến các bang, các tiểu bang, các địa phương, và các khu vực tư nhân có liên quan.[9]

Văn kiện này đưa ra ba nguyên tắc để quản lý những hoạt động trên biển của Mỹ: bảo toàn tự do trên biển, đảm bảo sự liên tục cho vận chuyển hàng hóa và tạo điều kiện thuận lợi cho sự di chuyển hàng hóa và con người qua biên giới của Mỹ đồng thời cũng loại bỏ các cá nhân hoặc các trang thiết bị có thể gây nguy hiểm. Từ những nguyên tắc này, các tác giả  rút ra được bốn mục tiêu chiến lược, trong đó hai mục tiêu đặc biệt phù hợp cho bài viết này: i) ngăn chặn các cuộc tấn công khủng bố đường biển và “tội phạm cũng như các hành động thù địch”; ii) “bảo vệ đại dương và nguồn tài nguyên đại dương”.[10] Quan điểm này phù hợp với cách nhìn về trật tự hợp lí trên biển của Till.

Cả NSMS và CS-21 đều không thừa nhận bất kì ranh giới địa lý nào. Các lợi ích sống còn của Mỹ có thể được hình dung là đang bị đe dọa tại bất kì tuyến lưu thông đường biển nào trên thế giới. Theo nhà lý luận về sức mạnh biển Afred Thayer Mahan, nhà trí thức có công lớn trong việc xây dựng Lực lượng Hải quân Mỹ hiện đại, thì NSMS mô tả các vùng biển và đại dương như một vùng rộng lớn riêng biệt và không thể phân chia.[11]

Nước mặn chiếm hơn hai phần ba diện tích bề mặt của Trái Đất. Các vùng nước này là những vùng đơn lẻ, là các đại đương lớn, và là một vùng hàng hải rộng lớn ảnh hưởng tới cuộc sống ở khắp mọi nơi. Mặc dù các đại dương trên thế giới được phân chia theo địa lý thành 4 khu vực – Đại Tây Dương, Bắc Băng Dương, Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương – có tên gọi khác nhau, thì đây là vẫn những vùng địa lý được xác định lớn nhất trên Trái Đất.[12]

Theo đó, khi xem xét đến khủng bố đường biển, NSMS quy định rằng các lực lượng cần được “đào tạo, trang bị, chuẩn bị để phát hiện, răn đe, ngăn chặn và tiêu diệt các phần tử khủng bố trong phạm vi hàng hải”.[13] Đây được coi như một hướng dẫn về việc tăng cường hoạt động dựa trên địa lý. Tài liệu này, tuy nhiên, thẳng thắn thừa nhận rằng không một quốc gia nào sở hữu đủ nguồn lực cần thiết để có thể một mình giám sát toàn bộ cộng đồng. Cộng đồng chung là quá lớn, những đòi hỏi của cộng đồng là quá nhiều còn nguồn lực để thực hiện những đòi hỏi này thì lại quá ít. Chiến lược cũng cam kết “tăng cường hợp tác quốc tế để đảm bảo việc thực thi đúng pháp luật và kịp thời các hành động để chống lại các mối đe dọa hàng hải”.[14]

Các vùng biển hẹp đặt ra những mối lo ngại đặc biệt. NSMS quan sát thấy rằng “khoảng 1/3 thương mại của thế giới và 1/2 lượng dầu của thế giới được chuyên chở qua eo biển Malacca và Singapore”.[15] Cũng cần lưu ý rằng cánh cổng giao thương giữa Biển Đông và Ấn Độ Dương này là vùng  địa lý duy nhất được đề cập một cách cụ thể ở trong tài liệu. Những tuyến đường giao thông này có thể bị đóng lại bởi các tai nạn hoặc những hành động có chủ ý, như việc phong tỏa quân sự, cướp biển hay tấn công khủng bố. Để loại bỏ những mối đe dọa tới vận chuyển hàng hóa trong những vùng biển quan trọng, tài liệu này cho rằng Bộ Ngoại giao Mỹ nên phối hợp các sáng kiến mà “xây dựng dựa trên các kết quả hiện có, như là Sáng kiến an ninh công-ten-nơ (CSI), Sáng kiến an ninh phòng ngừa vũ khí hủy diệt (PSI), Chương trình hợp tác hải quan – thương mại chống khủng bố” với các hiệp ước, điều ước phù hợp.[16]

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây

James R. Holmes

Quang Tiệp (dịch)

Quang Hưng (hiệu đính)

Bản dịch chương VI: Rough Waters for Coalition Building trong báo cáo: Cooperation from Strenth: The United States, China and the South China Sea của Trung tâm An ninh mới (CNAS) của Mỹ.



[1] Điều này có nghĩa các nước tham gia vào cuộc chiến này sẽ phải cố gắng hết sức mình bởi vì họ không có sự lựa chọn nào khác. Sun Tzu, The Illustrated Art of War, trans. Samuel B. Griffith (Oxford: Oxford University Press, 2005), 209-212.

[2]  Maurice Matloff, “Allied Strategy in Europe, 1939-1945,” in Makers of Modern Strategy, ed. Peter Paret (Princeton: Princeton University Press, 1986), 687- 692

[3]  Sam Fellman, “CNO Warns Deep Cuts Will Hollow Fleet,” Navy Times, November 2, 2011, http://www.navytimes.com/news/2011/11/navy-cno-warns-that-deep-cuts-will-hollow-fleet-110211/.

[4]  U.S. Department of Defense, Quadrennial Defense Review Report (February 2010), 8, http://www.defense.gov/qdr/images/QDR_as_of_12Feb10_1000.pdf.

[5]  U.S. Navy, Marine Corps, and Coast Guard, A Cooperative Strategy for 21st Century Seapower (October 2007), http://www.navy.mil/maritime/Maritimestrategy.pdf.

[6]  Geoffrey Till, Seapower (London: Frank Cass, 2004), 310-350

[7]  U.S. Navy, Marine Corps and Coast Guard, A Cooperative Strategy for 21st Century Seapower.

[8]  Norman Friedman, The U.S. Maritime Strategy (London: Jane’s Information Group, 1988).

[9] White House, The National Strategy for Maritime Security (September 2005), ii, http://www.dhs.gov/xlibrary/assets/HSPD13_MaritimeSecurityStrategy.pdf.

[10] White House, The National Strategy for Maritime Security, iii, 7-8. Hai mục tiêu khác là “bảo vệ các khu dân cư hoặc các cơ sở hạ tầng tại những khu vực có liên quan đến hàng hải” và “giảm thiểu thiệt hại và xúc tiến công cuộc phục hồi”.

[11] Rolf Hobson, Imperialism at Sea: Naval Strategic Thought, the Ideology of Sea Power, and the Tirpitz Plan, 1875-1914 (Boston: Brill, 2002), 173

[12] White House, The National Strategy for Maritime Security, 1. Emphasis added.

[13] Sđd., 9. Đã thêm phần nhấn mạnh.

[14] Sđd., 14-15.

[15] Sđd., 14-15.

[16] Sđd., 14-15.

 

 

Trung Quốc đang đòi hỏi lợi ích của mình theo những cách thức có thể đe dọa đến những nguyên tắc nền tảng đang điều phối quan hệ quốc tế. Xu hướng này được minh chứng rõ nét nhất tại Biển Đông. Mỹ cần can dự để Trung Quốc tuân thủ luật pháp quốc tế hiện hành.

 

Trung Quốc đang đòi hỏi lợi ích của mình theo những cách thức mà có thể đe dọa đến những quy tắc nền tảng đang kiểm soát những lợi ích hàng hải chung toàn cầu. Xu hướng này được minh chứng rõ nét nhất tại Biển Đông, nơi những chính sách và hành động của Trung Quốc đang thách thức đến an ninh và sự ổn định tại đây.

Trung Quốc đang thách thức những quy tắc này theo hai cách. Thứ nhất, nước này đang thách thức đến những điều khoản đã được thiết lập của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS), cho phép các quốc gia tuyên bố Vùng Đặc quyền Kinh tế (EEZ) và thềm lục địa. Thay vào đó, Trung Quốc xác định các quyền tài phán trên biển của mình dựa vào một “đường chín đoạn” mang tính lịch sử, thay vì dựa vào EEZ và thềm lục địa,[1] Quan điểm này liên quan đến cách mà các quốc gia có thể yêu sách một cách hợp pháp các quyền tài nguyên trên biển một cách hợp pháp ngày càng tăng, gây ra xung đột với các nước láng giềng tại Biển Đông.

Thứ hai, Trung Quốc đang thách thức các quyền của hải quân các nước khác trong việc tiến hành các hoạt động, tập trận và thu thập tình báo trong những vùng EEZ của các nước khác. Mặc dù Trung Quốc có lợi ích căn bản đối với trật tự hiện tại, nhưng quan điểm của Bắc Kinh đối với một số quy tắc chính về kiểm soát những hoạt động quân sự trên hệ thống toàn cầu lại có sự khác biệt đối với những quan điểm của Mỹ và các quốc gia khác có quan điểm giống Mỹ. Những hoạt động như vậy của Trung Quốc vừa tạo ra sự bất ổn tại Biển Đông, vừa làm xói mòn những quy tắc luật pháp quốc tế được tạo ra nhằm ngăn chặn sự bất ổn quốc tế và xung đột vũ trang.

Thách thức mà Trung Quốc tạo ra đối với những quy tắc hàng hải hiện tại đang gây ra những rạn nứt đối với hệ thống trật tự toàn cầu mà các nước đã thiết lập sau hai cuộc chiến tranh thế giới nhằm thúc đẩy hòa bình và thịnh vượng. Trong hàng thập kỷ qua, trật tự đó cho phép việc tiếp cận đến những thị trường hàng hóa, nguồn tài nguyên và thương mại, cũng như những cơ chế giải quyết tranh chấp một cách hòa bình. Châu Á, đặc biệt là Đông Á, đã có được những lợi ích vô cùng to lớn từ hệ thống trật tự này. Cụ thể là về kinh tế, Trung Quốc xếp thứ hai, Nhật Bản thứ ba, Hàn Quốc thứ 12, Indonesia thứ 15 và Đài Loan thứ 19 trên thế giới.[2] Mặc dù những rạn nứt trong trật tự hiện tại cho đến giờ vẫn chỉ là những rạn nứt nhỏ ban đầu, nhưng vẫn cần thiết phải có sự lãnh đạo hiệu quả và liên tục của Mỹ để kiềm chế những thách thức mà Trung Quốc tạo ra và củng cố vững chắc đối với nền tảng của trật tự toàn cầu hiện nay.

Ba Trụ cột của Toàn cầu hóa Hiện đại

Quyền tiếp cận các nguồn tài nguyên và thương mại tự do và dựa vào thị trường là một trong những trụ cột của toàn cầu hóa hiện đại. Đó là sự khác biệt chính so với toàn cầu hóa cách đây một thế kỷ và là một yếu tố duy trì ổn định và cho phép tất cả các quốc gia dựa vào đó để tiếp cận những phương thức cho tăng trưởng và phát triển. Đặc biệt, hệ thống này là nhân tố quan trọng nhất tạo ra sự tăng trưởng cho nền kinh tế Trung Quốc. Không giống như Nhật Bản, Đức, là các quốc gia vào thời kỳ đầu thế kỷ trước đã gặp phải sự cô lập từ những cường quốc thực dân – những nước không chịu nhượng bộ đối với những nguồn tài nguyên mà hai quốc gia này cần cho sự phát triển sức mạnh và sự giàu có, Trung Quốc có thể cạnh tranh tìm kiếm nguồn tài nguyên ở một vị thế bình đẳng hợp lý với các cường quốc hiện tại. Trung Quốc được hưởng lợi lớn từ thực tế là nước này không cần phải phá vỡ hệ thống này khi tham gia vào đó. Trong một chừng mực nào đó, có thể nói thế kỉ 20 có sự kết thúc cũng gần tương tự như cái cách mà nó bắt đầu. Theo Alan Taylor, năm 1911, “thị trường vốn toàn cầu có ấn tượng ở mực độ hội nhập…giống như ngày nay”.[3] Đầu tư nước ngoài tính theo tỷ lệ phần trăm tổng sản phẩm quốc nội toàn cầu (GDP) tăng trưởng ổn định từ 1870 đến 1914, giảm mạnh từ 1914 đến những năm 1980 do hai cuộc chiến tranh thế giới và Chiến tranh lạnh ngay sau đó, và sau đó lại tăng trưởng nhanh trong hai thập kỷ cuối thế kỷ 20.[4] Tương tự, thương mại thế giới tính theo tỷ lệ phần trăm GDP toàn cầu là 10% năm 1870, tăng 21% vào năm 1914, giảm xuống còn  9% vào năm 1938 và tăng lên 27 % vào năm 1992.[5]

Tuy nhiên, có những khác biệt chính mang tính cấu trúc giữa toàn cầu hóa của năm 1991 và toàn cầu hóa ngày nay. Năm 1991, những đế quốc rộng lớn đã thống trị trên toàn cầu, đặc biệt là lục địa Á – Âu và châu Phi và các vùng ngoại biên những đế quốc này. Đế quốc Anh và những thuộc địa của nước này bao gồm Vương quốc Liên hiệp Anh; Canada; Úc; New Zealand; Nam Phi; tiểu lục địa Ấn Độ; những phần lớn phía đông, tây và nam châu Phi; Malaysia; những phần phía Nam Mỹ; Trung Mỹ và quần đảo Caribe; Hồng Công và những nhượng địa khác của Trung Quốc; và rất nhiều hòn đảo nằm phân tán rộng khắp toàn cầu. Tổng cộng, Đế quốc Anh đã kiểm soát xấp xỉ 25% lãnh thổ và dân số thế giới, và do đó cũng kiểm soát luôn phần thị trường và nguồn tài nguyên chính của thế giới. Tương tự, Pháp kiểm soát Đông Dương, Madagasca và những hòn đảo khác tại Ấn Độ Dương và xấp xỉ 1/3 châu Phi. Nga kiểm soát trung tâm Âu – Á với xấp xỉ 20% lãnh thổ thế giới, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Đức và Italia tất cả đều trực tiếp kiểm soát những vùng lãnh thổ bên ngoài và nguồn tài nguyên và thị trường của họ.

Năm 1911, chi có 45 quốc gia hoàn toàn độc lập, trong đó 21 quốc gia tại Bắc và Nam Mỹ, chiếm tổng số gần 47%.[6]  Do đó, chỉ với 24 quốc gia còn lại nhưng đã nắm quyền kiểm soát toàn bộ châu Âu, châu Phi, nhiều phần của châu Á, những quần đảo ở châu Á, Úc và châu Đại Dương, cũng như dân số và nguồn tài nguyên của vùng lãnh thổ rộng lớn này. Trung Quốc, mặc dù trên danh nghĩa độc lập nhưng thực tế thì không phải vậy. Cuối năm 1911, một trong những tàn dư cuối cùng của triều đại nhà Thanh một thời hùng mạnh đã sụp đổ, và một nước cộng hòa yếu ớt chỉ mới bắt đầu hình thành từ đống tro tàn. Tại nhiều khu vực, đặc biệt là dọc theo bờ biển, sự ổn định được duy trì không chỉ bởi các chính quyền bản địa mà còn nhờ bởi tám quốc gia bên ngoài tại những phần đất nhượng của Trung Quốc.[7] Trái lại, vào 2011, có 197 quốc gia độc lập trên toàn thế giới.[8]

Do vậy, sự khác biệt chính giữa 1911 và 2011 là sự phân tán rộng lớn hơn về quyền lực chính trị cho phép dân cư bản địa có được nhiều sự tiếp cận thị trường hàng hóa và nguồn tài nguyên hơn. Mặc dù những điều kiện chính trị cục bộ chắc chắn sẽ tạo ra nhiều cách tiếp cận thị trường cho  người bản địa, và cả quyền kiểm soát của họ đối với lợi ích từ những nguồn tài nguyên địa phương hơn, tuy nhiên số lượng quốc gia tham gia vào hệ thống thương mại toàn cầu tăng lên cũng góp phần khuyến khích những nguyên tắc thị trường và cạnh tranh nói chung.

Trụ cột thứ hai của toàn cầu hóa hiện đại là sự phát triển của những thể chế quốc tế khuyến khích sự ổn định về chính trị, kinh tế và quân đội, cho phép các quốc gia tiếp cận một cách chủ động  các nguồn tài nguyên và thị trường. Năm 1911, Công ước Hague (Lahay – ND) – một bộ các  hiệp định rất hạn chế tập trung vào việc tiến hành chiến tranh –  là những hiệp định quốc tế duy nhất lúc đó để ngỏ cho tất cả quốc gia. Tại thời điểm đó, các hiệp định này mới tồn tại được khoảng một thập kỷ, và một số còn chưa bao giờ được chấp nhận rộng rãi. Các văn kiện này thiết lập nên một định chế thường trực quốc tế duy nhất trên thế giới, tòa Trọng tài Thường trực, và tòa này chỉ mới bắt đầu hoạt động khi Chiến tranh thế giới I xảy ra khiến cho các phong trào hợp tác quốc tế bị đình trệ. Mục đích dự định của tòa án là giúp đỡ các quốc gia trong việc phân xử  những tranh chấp, nhưng mục đích đó đã không được thừa nhận rộng rãi trong những năm đầu và ít được biết đến. Một phần là vì có rất ít các quy chuẩn cũng như các luật lệ quốc tế được chấp nhận rộng rãi vào năm 1911 để cho cơ quan này có thể áp dụng. Do đó, sự tích lũy sức mạnh quốc gia, đặc biệt là sức mạnh quân sự là cách cơ bản để các nước đạt được sự thịnh vượng. Vì một lượng nhỏ quốc gia kiểm soát những thị trường, nguồn tài nguyên và lãnh thổ giàu có trong hệ thống thuộc địa, do vậy những lãnh đạo của những quốc gia này ở vào vị thế rất thuận lợi để phát triển sức mạnh quân sự và có thể ngăn chặn một cách hiệu quả những quốc gia đang trỗi dậy để đạt được sức mạnh tương tự. Do vậy, để phát triển, những cường quốc đang trỗi dậy thường không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc phá vỡ hệ thống hiện hành bằng quân sự. Do đó, những quy tắc và luật pháp về việc cấm sử dụng vũ lực được hình thành một cách chậm chạp.

Ngay cả khi những quy tắc này bắt đầu thống nhất, đặc biệt là sau Chiến tranh thế giới I, những cường quốc trỗi dậy ở giai đoạn sau cũng không chấp nhận những quy tắc này. Họ nhìn nhận những quy tắc phát triển đó là sự kiềm chế do những cường quốc lúc đó - như Anh và Pháp - đưa ra, để duy trì sự cai trị thế giới của mình. Và do đó các nước này ngăn cản những cường quốc trỗi dậy, như Đức và Nhật Bản, nhằm duy trì được sức mạnh, quyền lực và sự ảnh hưởng của mình. Những thể chế, luật lệ và quy tắc ngày nay được hình thành sau Chiến tranh thế giới II nhằm kiểm soát những thay đổi về sức mạnh kinh tế mà không cần phải sử dụng tới chiến tranh. Những cấu trúc thể chế quốc tế rộng rãi và luật quốc tế tiến bộ ngày nay đưa ra một cấu trúc mang tính quy chuẩn mạnh mẽ nhằm hỗ trợ cho việc tiếp cận của các nền kinh tế thị trường tới các nguồn tài nguyên, độc lập của các quốc gia lãnh thổ, bảo vệ những quốc gia này trước sự xâm lược và sự tự do thương mại hàng hóa toàn cầu.

Trụ cột thứ ba của toàn cầu hóa là sự ổn định về những lợi ích chung toàn cầu (khía cạnh này sẽ được tập trung phân tích trong phần còn lại của chương này). Nền tảng sự ổn định của những lợi ích chung toàn cầu bao gồm hai nhân tố chính. Thứ nhất là sự tự do tiếp cận đối với sức mạnh biển nhằm đảm bảo thương mại và bảo vệ chủ quyền của các quốc gia. Cần lưu ý rằng, sức mạnh biển bao gồm cả cường quốc hải quân và những lực lượng thực thi pháp luật trên biển của các quốc gia duyên hải, như lực lượng phòng vệ biển. Thứ hai, khuôn khổ tài phán tài nguyên quy định những quyền chủ quyền đối với tài nguyên biển tại những khu vực địa lý được quy định rõ của biển trong khi vẫn duy trì được tự do tiếp cận theo luật quốc tế và sử dụng đối với hầu hết các hoạt động phi kinh tế liên quan khác.

Kiểm soát những lợi ích hàng hải chung.

Trong những lợi ích hàng hải chung, lực lượng hải quân tạo ra sự ổn định trên biển cho phép sự vận hành thích hợp trong hệ thống toàn cầu và đưa đến lợi ích kinh tế cho các quốc gia. Lực lượng hải quân dựa vào những quyền tổng quát sự về tiếp cận những đại dương trên thế giới nhằm đảm bảo an ninh toàn cầu trước những xung đột giữa các quốc gia; những sự tiếp cận như vậy cho phép các quốc gia răn đe và ngăn chặn những quốc gia khác theo đuổi chính sách hung hăng. Hiến chương Liên Hợp Quốc đã rất coi trọng những khái niệm này ngay trong lời mở đầu, tuyên bố rằng Liên Hợp Quốc đã được thiết lập “…để liên kết sức mạnh nhằm duy trì an ninh và hòa bình thế giới, và để đảm bảo rằng - bằng việc chấp nhận những nguyên tắc và việc thiết lập những biện pháp - lực lượng được vũ trang sẽ không được sử dụng, gìn giữ lợi ích chung.”[9]

Ngoài việc gìn giữ hòa bình giữa các quốc gia, lực lượng hải quân cũng thực hiện vai trò giống như lực lượng cảnh sát. Trong một vài tình huống cụ thể, lực lượng hải quân có thể thực hiện quyền tài phán nhằm ngăn chặn những hoạt động tội phạm trên biển, ví dụ như cướp biển hay buôn người. Vai trò cảnh sát của hải quân cũng có thể hỗ trợ những lực lượng thực thi luật pháp hợp pháp quốc gia đối với những tàu thuộc quốc gia mình và với trường hợp các nước ven biển thì đó là quyền trong vùng biển của họ bằng việc thực hiện quyền tài phán thay mặt khi được yêu cầu. Theo đó, lực lượng hải quân thực hiện một cách có hiệu quả hoạt động ngăn chặn buôn ma túy bất hợp pháp; khủng bố xuyên quốc gia; sự gia tăng vũ khí thông thường và phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, những mầm mống, các thành tố và hệ thống vận chuyển của sự gia tăng này. Điều này một phần đáp ứng lời kêu gọi của Hiến chương Liên Hợp Quốc “thực hiện khoan dung và chung sống hòa bình với quốc gia khác như những láng giềng tốt, và …sử dụng thể chế quốc tế cho việc thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội cho tất cả mọi người.”[10]

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây

Peter Dutton

Nguyễn Việt (dịch)

Quang Hưng (hiệu đính)

 

Bản dịch chương IV: Cracks in the Global Foundation: International Law and Instability in the South China Sea trong báo cáo: Cooperation from Strenth: The United States, China and the South China Sea của Trung tâm An ninh mới (CNAS) của Mỹ.



[1] Về thảo luận chi tiết về Đường chín đoạn, xem Chương của Patrick M. Cronin và Robert D. Kaplan trong cuốn sách này

[2] Xếp hạng này dựa trên dữ liệu Sức mua tương đương (Purchase Power Parity) vào tháng 9 năm 2010 và báo cáo của IMF tại www.imf.org/external/pubs/ft/weo/2010/02/weodata/weorept.aspx.

[3] Alan M. Taylor, “Globalizing and New Comparative Economic History,” NBER Reporter Research Summary (Winter 2006, cambridgeforecast.wordpress.com/2007/05/07/globalization-1870-1914-versus-globalization-today.

[4] Sđd

[5] Sđd

[6] 45 quốc gia lúc đó là Afghanistan, Argentina, Austro-Hungary, Belgium, Bolivia, Brazil, Chile, Trung Quốc, Colombia, Costa Rica, Cuba, Đan Mạch, Cộng hòa Dominican, Ecuador, El Salvador, Ethiopia, Pháp, Đức, Hy Lạp, Guatemala, Haiti, Honduras, Italy, Nhật Bản, Liberia, Luxembourg, Mexico, Nicaragua, Hà Lan, Na Uy, Ottoman Empire, Panama, Paraguay, Persia, Peru, Portugal, Nga, Siam, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Anh, Mỹ, Uruguay và Venezuela.

[7] Tám quốc gia có đất nhượng tại Trung Quốc vào năm 1911 là Áo – Hung, Bỉ, Pháp, Đức, Italia, Nhật Bản, Nga và Anh. . Ngoài ra, Bồ Đa Nha sở hữu Macau, Nhật Bản sở hữu Đài Loan và Anh sở hữu Hồng Công.

[8] Bao gồm 196 quốc gia thành viên của Liên Hợp Quốc, cộng với Vatican.

[9] Lời tựa, Hiến chương Liên Hợp Quốc,  www.un.org/en/documents/charter/preamble.shtml.

[10] Sđd

 

Năng lực hải quân Trung Quốc đang ngày càng phát triển, tuy nhiên tương quan giữa năng lực tác chiến gần bờ và xa bờ của Trung Quốc lại tồn tại khoảng cách khác biệt rất lớn, và sẽ còn một khoảng cách rất dài để theo kịp Mỹ. Giải quyết và hiểu thực sự bản chất của vấn đề này sẽ góp phần tránh xung đột đối đầu quân sự Mỹ - Trung cũng như sự xuất hiện của chủ nghĩa bá quyền.

 

Theo chuyên gia nghiên cứu hải quân Mỹ Andrew Erickson và Gabe Collins (bài nghiên cứu được dịch và đăng trên báo Trung Quốc ngày 15/03/2012) đã nhấn mạnh, sức mạnh lực lượng hải quân Trung Quốc trong những năm gần đây đã đạt được sự phát triển nhanh chóng, tuy nhiên tương quan giữa năng lực tác chiến gần bờ và xa bờ của Trung Quốc lại tồn tại khoảng cách khác biệt rất lớn. "Hải quân xa bờ" được thiết kế với mục đích tác chiến xa bờ phải mất rất nhiều năm nữa mới đủ để có thể trở thành mối đe dọa thực sự đối với Mỹ. Ông nhấn mạnh, nếu có thể giải quyết tốt vấn đề này một cách khôn ngoan, sẽ có khả năng góp phần giảm tránh những cuộc đối đầu về quân sự cũng như sự xuất hiện của chủ nghĩa bá quyền; còn nếu ngược lại, ắt sẽ khiến cho cục diện căng thẳng lại ngày một leo thang.

Trong bài viết của mình ông nhấn mạnh, thế kỷ 21, cùng với sự tồn tại đan xen trong quá trình triển khai giữa cạnh tranh và hợp tác về các lĩnh vực xuất phát từ năng lực sức mạnh quốc gia của hai cường quốc Trung - Mỹ tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, quan hệ giữa hai nước Mỹ - Trung càng trở nên vô cùng quan trọng trong hệ thống quan hệ quốc tế. Mặc dù giữa hai nước có vô số các lợi ích chung quan trọng, đồng thời ngày càng ảnh hưởng tác động qua lại lẫn nhau (đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế), tuy nhiên trong vấn đề an ninh mang tính chất quan trọng giữa hai nước lại tồn tại những khác biệt vô cùng lớn. Mặc dù song phương đã cố gắng nỗ lực cũng như có những sự nhẫn nại kiềm chế hết sức có thể, có khả năng bài trừ được những khoảng cách khác biệt này, thế nhưng giữa hai nước Mỹ - Trung vẫn tồn tại những khả năng về những nguy cơ đe dọa đôi khi có thể phát sinh (tương tự như sự kiện máy bay trinh thám EP-3 xảy ra vào năm 2001), đồng thời không có biện pháp nào có thể hoàn toàn bài trừ khả năng xảy ra xung đột. Nếu muốn tránh những xung đột này, phương pháp tốt nhất chính là tìm hiểu bản chất và cái giá phải trả cho những mầm mống xung đột đó.

Cần thiết phải chỉ ra rằng, năng lực sức mạnh, nền chính trị và lối hành xử của Mỹ đều là những bộ phận chủ đạo đại diện cho các bước đi chiến lược của nước này. Cách lý giải và những lo lắng đối với bộ phận chủ đạo này của chính phủ Bắc Kinh sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lối hành xử của toàn Trung Quốc, tuy nhiên nó lại ảnh hưởng ngược lại đến chính quyết sách của Mỹ.

Gần bờ: Từ chiến lược Trung - Mỹ đến động thái quân sự

Xuất phát từ góc độ về những tiềm năng tiến bộ đạt được trong các lĩnh vực khác của hai nước Trung - Mỹ, trong một tương lai có thể tiên đoán được, đối với các vấn đề liên quan đến khu vực gần bờ (bao gồm Hoàng Hải, Biển Hoa Đông, Biển Đông) hay các chuẩn mực được đặt ra đối với nhiều vấn đề thì Trung Quốc và Mỹ không thể có khả năng đạt được sự thông cảm tương hỗ cho nhau. Những đối tượng liên quan đến đại bộ phận lãnh thổ mà Trung Quốc tuyên bố cũng như những tuyên bố chủ quyền liên quan đến các khu vực xảy ra tranh chấp đều thuộc phạm vi các khu vực lãnh hải gần bờ. Ở nơi đó, chính phủ Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền đối với các quần đảo bao gồm đảo Đài Loan, đảo Điếu Ngư của biển Hoa Đông hay quần đảo Trường Sa của Biển Đông cũng như các loại đảo và bãi đá khác thuộc quần đảo Hoàng Sa. Trung Quốc đã dẫn chứng quy định từ "Công ước Luật Biển của Liên Hợp Quốc" (UNCLOS) năm 1982, tuyên bố khu vực lãnh hải 200 hải lý nằm bao quanh các loại đảo này gọi là các vùng đặc quyền kinh tế (EEZ). Trong thời điểm hiện tại, các bên tham gia ký kết ủng hộ công ước này đã lên tới 161 nước, tuy nhiên trong số các nước này lại không bao gồm Mỹ. Chính điều này đã hạn chế đến mức nghiêm trọng tầm ảnh hưởng cũng như năng lực lãnh đạo của Mỹ đối với lĩnh vực mang tính chất quan trọng về các luật biển quốc tế.

Các tuyên bố đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc luôn luôn hoặc là tồn tại những tranh chấp, hoặc là xuất hiện một cách trùng lặp chồng chất lên nhau cùng với những tuyên bố chủ quyền của các nước láng giềng khác. Điều này càng dẫn đến việc tăng thêm những mâu thuẫn của các bên xung quanh các vấn đề liên quan đến sự lý giải và cách giải thích đối với những lối hành xử như thế nào trong việc triển khai phạm vi các vùng đặc quyền kinh tế dưới sự cho phép của pháp luật. Ví dụ, 23 tập đoàn do 23 quốc gia tổ hợp thành trong 192 nước thành viên của Liên Hợp Quốc đều cùng nằm dưới bàn tay lãnh đạo dẫn dắt của Trung Quốc, các nước thuộc quần thể thiểu số này muốn tiến hành lý giải về "Công ước Luật biển của Liên Hợp Quốc", để từ đó hạn chế các lực lượng quân sự nước ngoài xâm nhập vào Trung Quốc và tuyên bố phạm vi địa phận vùng đặc quyền kinh tế cũng như khu vực biên giới trên không. Nếu như biện pháp đưa ra này được thực thi, thì Trung Quốc sẽ có khả năng ngăn cấm được các lực lượng quân sự nước ngoài tiến hành triển khai các hoạt động quân sự trong các khu vực hải phận chủ yếu của toàn bộ Biển Đông. Từ đó, sẽ tạo ra sự uy hiếp đe dọa đối với một số quá trình tự do vận chuyển hàng hải của các nguồn tài nguyên năng lượng cũng như sự lưu thông các phương tiện tàu thuyền mang tính chất quan trọng nhất trên toàn thế giới. Nếu tiếp nhận quan điểm về quyền sử dụng các vùng đặc quyền kinh tế của bộ phận thiểu số đưa ra này, sẽ có khả năng xuất hiện những tiền lệ mới, khiến cho 38 % toàn bộ vùng biển và đại dương sẽ đều được gọi thành vùng đặc quyền kinh tế, từ đó kéo theo việc xuất hiện những mặt hạn chế kìm hãm tương tự như vậy.

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây

Andrew Erickson, Chuyên gia nghiên cứu Hải quân Mỹ

Người dịch: Đinh Thị Thu

Bản gốc tiếng Anh “Near Seas ‘Anti-Navy’ Capabilities, not Nascent Blue Water Fleet, Constitute China’s Core Challenge to U.S. and Regional Militaries

Bản dịch tiếng Trung: “中国近海远海战力差距巨大 蓝水尚远

 

 

Tranh chấp Biển Đông hiện nay có thể dẫn đến sự bất ổn khu vực, thậm chí là xung đột vũ trang, tuy nhiên những cơ hội hợp tác để giảm sự gia tăng căng thẳng vẫn tồn tại. Và về chiến lược lâu dài, Mỹ cần phải có các nỗ lực can dự cân bằng để duy trì ổn định ở Biển Đông.

 

Từ năm 2009, cuộc tranh giành các quyền trên biển ở Biển Đông trở thành một vấn đề an ninh quan trọng nhất ở Đông Á. Thậm chí trên thực tế, một nhà phân tích gần đây đã tuyên bố rằng Biển Đông là “sân khấu mới của xung đột” trên thế giới.[1]

Tuy nhiên, dù tranh giành liên tục, song xung đột vũ trang ở Biển Đông rất khó xảy ra vì vài lý do như sau. Các quốc gia khu vực đang cạnh tranh nhau ở khía cạnh các quyền trên biển hơn là các vấn đề an ninh khác, đặc biệt là yêu sách chủ quyền lãnh thổ đối với các đảo và bãi đá. Cuộc tranh giành các quyền trên biển ở Biển Đông chưa bị quân sự hóa, hoặc là chưa đạt tới mức độ bất ổn như cảnh tượng khu vực đã chứng kiến những năm 1988 và 1995. Thỏa thuận tháng 7 năm 2011 giữa Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Trung Quốc về hướng dẫn thực hiện Tuyên bố ứng xử của các bên trên Biển Đông đã tạo ra không gian thở để có thể khai thác nhằm giảm căng thẳng. Các sáng kiến hợp tác có thể giúp giảm bớt sự cạnh tranh trong tương lai về các quyền trên biển song lại đòi hỏi quyết tâm chính trị và sự sáng tạo ngoại giao để tiếp tục được thực hiện.

Thêm nữa, dù Trung Quốc ngày càng tăng cường bảo vệ các yêu sách của mình ở Biển Đông, phạm vi và nội dung của các yêu sách này vẫn không thay đổi. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc nhận thức rằng các quốc gia khác đang thách thức các yêu sách mà Trung Quốc đã theo đuổi lâu nay, và Trung Quốc đang phản ứng lại với năng lực thực thi các quyền dân sự trên biển đã lớn mạnh hơn trước. Trung Quốc cũng tránh các biện pháp khiêu khích, như sử dụng các lực lượng hải quân, để thực thi các yêu sách của mình.

Để phân tích và đánh giá nguy cơ xung đột vũ trang ở Biển Đông, chương này sẽ nhìn nhận lại các xu hướng trong an ninh biển ở khu vực trong những năm vừa qua, bao gồm cả chủ quyền lãnh thổ ở các nhóm đảo, quyền khai thác các tài nguyên trên biển ở vùng nước và đáy biển, và tự do hàng hải. Cuộc cạnh tranh trên từng vấn đề trên có thể tăng thêm sự bất ổn cho khu vực, hoặc thậm chí dẫn đến xung đột vũ trang. Tuy nhiên, cơ hội tăng cường hợp tác về các vấn đề an ninh vẫn tồn tại. Nhìn về phía trước, Mỹ phải có các nỗ lực cân bằng đề duy trì ổn định ở Biển Đông với các hành động dù có thể tình cờ gia tăng bất ổn, như tham gia hơn vào các nỗ lực giải quyết tranh chấp – một hành động mà rất nhiều quốc gia khu vực sẽ diễn giải như là một sự thay đổi chính sách truyền thống của Mỹ là trung lập trong các tranh chấp lãnh thổ.

Các lợi ích an ninh biển ở Biển Đông

Rất nhiều quốc gia, trong khu vực và trên thế giới, có lợi ích an ninh biển ở khu vực Biển Đông. Những lợi ích này bao gồm các yêu sách chủ quyền lãnh thổ đối với các đảo và các bãi đá san hô, yêu sách đối với những đặc quyền phát triển các tài nguyên biển, tự do hàng hải trên biển cả và hậu quả của các hoạt động hiện đại hóa quân sự đang diễn ra ở khu vực.[2] Cuộc cạnh tranh đối với bất kỳ hoặc tất cả các lợi ích trên có thể ảnh hưởng sự ổn định của khu vực. Tuy nhiên, từ khoảng năm 2006, vấn đề an ninh biển quan trọng ở Biển Đông là sự cạnh tranh đối với các yêu sách, áp dụng và thực thi các quyền trên biển đối với các vùng nước này.

CÁC YÊU SÁCH CHỦ QUYỀN VỚI CÁC ĐẢO VÀ BÃI ĐÁ SAN HÔ

Lĩnh vực đầu tiên mà an ninh biển bao gồm đó là các yêu sách chủ quyền đối với các đảo và các bãi đá ngầm như các rạn san hô. Ở Biển Đông, có hai tranh chấp khác nhau liên quan đến chủ quyền lãnh thổ. Đầu tiên là tranh chấp song phương giữa Trung Quốc và Việt Nam về chủ quyền của quần đảo Hoàng Sa, nơi Trung Quốc đã kiểm soát hoàn toàn từ năm 1974.[3] Tranh chấp thứ hai là tranh chấp đa phương về quần đảo Trường Sa, nơi bao gồm khoảng 230 đảo và bãi đá, chủ yếu là các đảo nhỏ, các hòn đảo rất nhỏ và các bãi đá san hô. Việt Nam, Trung Quốc và Đài Loan đều yêu sách “chủ quyền không thể tranh cãi” ở trên những đảo trên. Philippines yêu sách chủ quyền của 53 đảo, trong khi Malaysia yêu sách 12 đảo.[4] Việt Nam hiện nay chiếm giữ 27 đảo, nhiều nhất trong số các bên yêu sách. Philippines chiếm 8 đảo, Trung Quốc 7, Malaysia 5, Đài Loan 1. Đảo đầu tiên được phía Đài Loan chiếm năm 1956 khi quân Quốc dân đảng từ Đài Loan đồn trú vĩnh viễn đảo Ba Bình (Itu Aba), đảo lớn nhất trong số các đảo tranh chấp. Các quốc gia yêu sách khác mãi đến đầu những năm 1970 mới bắt đầu hiện diện liên tục ở các đảo này. Trung Quốc bắt đầu thiết lập sự hiện diện cơ học vào tháng 1 năm 1988 khi giết 74 thủy thủ của Việt Nam. Đảo đất gần đây nhất được Malaysia và Việt Nam nắm giữ năm 1998 và 1999. Trung Quốc không chiếm một đảo tranh chấp nào từ cuối năm 1994 khi nước này chiếm được đảo Vành Khăn.[5]

CÁC YÊU SÁCH ĐỐI VỚI QUYỀN VÀ QUYỀN TÀI PHÁN TRÊN BIỂN

 

Lợi ích an ninh biển thứ hai liên quan đến các yêu sách đối với các quyền trên biển, đặc biệt là các yêu sách đối với vùng đặc quyền kinh tế (EEZs) và thềm lục địa. Các quyền trên biển bao gồm các vấn đề không về chủ quyền mà về quyền tài phán – liệu là các quốc gia có quyền khai thác bất kể tài nguyên nào (đặc biệt là dầu khí cũng như nguồn lợi thủy sản và các khoáng sản khác) không. Các quyền trên biển chỉ bị tranh chấp trên một phần của Biển Đông, một vùng biển trải rộng từ cửa sông Chân Trâu (Pearl River) ở Trung Quốc đến đỉnh của đảo Natuna của Indonesia. Nói chung, vùng đặc quyền kinh tế mà Trung Quốc yêu sách từ bờ biển của nước này, bao gồm tỉnh Quảng Đông và đảo Hải Nam, hầu hết là không bị tranh chấp.[6] Tuy nhiên, phần phía nam của biển này thì gây ra tranh cãi lớn giữa các nước có yêu sách đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cũng như Indonesia.

Các quốc gia khác nhau biện minh yêu sách đối với quyền trên biển của mình theo các cách khác nhau. Việt Nam, Philippines, Malaysia, và Brunei khẳng định quyền trên biển của mình từ bờ biển của họ. Indonesia yêu sách quyền trên biển của mình dựa trên đảo Natuna. Tuy nhiên, Trung Quốc, dựa trên quyền trên biển của mình đối với các yêu sách chủ quyền đối với nhóm đảo còn đang tranh chấp, như Trường Sa, thêm vào bờ biển của đại lục Trung Quốc. Tuy nhiên, hầu hết (chứ không phải tất cả) các đảo ở quần đảo Trường Sa sẽ không được coi là đảo theo Điều 121(3) của Công ước Liên hiệp quốc về Luật biển (UNCLOS) và do đó không thể coi như là căn cứ để một quốc gia yêu sách đòi vùng đặc quyền kinh tế hoặc là thềm lục địa mở rộng. Theo đó, các nhà quan sát coi yêu sách vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc như là sự bành trướng, bởi nó bao gồm một phần rộng lớn hơn về quyền trên biển so với các quốc gia ven biển khác và cũng coi yêu sách đó là không hợp pháp vì phần yêu sách dường như dựa trên các hình thái đất không đủ tiêu chuẩn được coi là đảo theo Điều 121(3).[7] Thêm vào đó, yêu sách “đường 9 đoạn” xuất hiện trên bản đồ khu vực của Trung Quốc còn tạo ra sự mập mờ lớn hơn, như Ian Storey đã chỉ ra trong tập báo cáo này, rằng chính phủ Trung Quốc cũng chưa bao giờ xác định đường này đại diện cho điều gì.

TỰ DO HÀNG HẢI

 

Khía cạnh thứ ba của an ninh biển bao gồm tự do hàng hải, gồm có an ninh của các tuyến đường vận tải biển chạy qua những vùng nước này. Một vài các tuyến đường tấp nập nhất trên thế giới chạy qua Biển Đông. Tự do hàng hải ảnh hưởng đến lợi ích của không chỉ các quốc gia yêu sách chủ quyền hoặc quyền trên biển như nói ở trên mà của tất các các quốc gia tham gia quá trình vận tải biển, bao gồm cả Mỹ. Các cuộc đối đầu bao gồm các chủ thể thương mại và các cơ quan thực thi pháp luật biển dân sự Trung Quốc từ năm 2009 đến 2011 gây ra các quan ngại về tự do hàng hải ở các vùng biển này. Thêm nữa, Trung Quốc (cùng với các cường quốc đang lên về hàng hải như Brazil và Ấn Độ) tiếp tục duy trì quan điểm rằng quyền bờ biển có thể hạn chế các hoạt động quân sự của nước ngoài trong vùng đặc quyền kinh tế, mặc dù hầu hết các quốc gia khác không đồng tình với điều này.[8] Mặc dù từ trước tới nay Trung Quốc đã không cố gắng áp dụng sự viện dẫn này trong cuộc tranh giành quyền trên biển ở Biển Đông, nhưng nước này có thể làm như vậy trong tương lai. Đến nay, các nỗ lực của Trung Quốc nhằm thực hiện các sự hạn chế về tự do hàng hải đã xuất hiện ở trong vùng đặc quyền kinh tế ngoài khơi nước này. Ví dụ, vụ đối đầu tháng 5 năm 2009 liên quan đến tàu Impeccable USNS xuất hiện cách đảo Hải Nam khoảng 75 dặm về phía đông nam.[9]

HIỆN ĐẠI HÓA HẢI QUÂN

 

Lợi ích thứ tư về an ninh biển liên quan đến hậu quả của quá trình hiện đại hóa hải quân của các quốc gia đang phát triển trong khu vực. Các tranh chấp ở Biển Đông tạo ra động lực để các quốc gia này thúc đẩy năng lực và sự hiện diện hải quân của nước mình, điều đó quay trở lại có thể tăng khả năng xung đột vũ trang có thể xảy ra. Thêm vào đó, khi các quốc gia duyên hải tăng cường phụ thuộc vào thương mại trên biển và các nguồn tài nguyên biển, lợi ích biển của họ cũng tăng lên. Ví dụ, Việt Nam có ý định tăng cường tỉ lệ mà kinh tế biển có thể đóng góp cho tổng sản phẩm quốc nội (GDP) từ 48% năm 2005 đến 55% năm 2020.[10] Giống như vậy, phần lớn thương mại của Trung Quốc, đặc biệt là ngành cung cấp năng lượng, được thực hiện trên biển. Để bảo vệ các lợi ích mới này, cũng như bảo vệ các yêu sách chủ quyền và các yêu sách khác, các quốc gia duyên hải rất tích cực hiện đại hóa hải quân và các lực lượng vũ trang khác. Những sự thay đổi kéo theo trong cán cân cân bằng lực lượng – và trong sự phát triển của các khẩu đại bác với tầm bắn xa hơn và sức chịu đựng dẻo dai hơn – có thể trở nên ngày càng cạnh tranh và gây bất ổn hơn.

Cạnh tranh các lợi ích biển khác nhau có thể tăng tính bất ổn của khu vực. Trong bốn khía cạnh trên, tranh chấp quyền chủ quyền lãnh thổ và quyền trên biển có thể dễ leo thang thành việc sử dụng quân sự nhất. Hai vụ va chạm hải quân quan trọng xảy ra giữa Việt Nam và Trung Quốc, một diễn ra vào năm 1974 đối với nhóm đảo Crescent ở Hoàng Sa và một vào năm 1988 đối với Bãi đá Johnson ở quần đảo Trường Sa. Khi cuộc cạnh tranh quyền trên biển tăng lên, các cuộc va chạm vũ trang giữa các lực lượng hải quân của các quốc gia yêu sách cũng tăng lên; các cuộc va chạm như vậy sẽ tăng tính bấn ổn và đặt ra nhiều vấn đề về tự do hàng hải ở các vùng biển này đối với tất cả các quốc gia tham gia giao thông trên biển.

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây

M. Taylor Fravel

Hằng Ngân (dịch)

Quang Hưng (hiệu đính)

Bản dịch chương II: Maritime Security in the South China Sea and the Competition over Maritime Rights trong báo cáo: Cooperation from Strenth: The United States, China and the South China Sea của Trung tâm An ninh mới (CNAS) của Mỹ.



[1] Robert D. Kaplan, “The South China Sea Is the Future of Conflict,” Foreign Policy (September/October 2011).

[2] Để kiểm tra chi tiết các loại lợi ích khác nhau, xem Peter Dutton, “Three Disputes and Three Objectives: China and the South China Sea,” Naval War College Review, 64 no. 4 (2011), 42-67.

[3] Trước trận đụng độ tháng 1 năm 1974 giữa Trung Quốc và Nam Việt Nam, Trung Quốc chỉ kiểm soát vài hòn đảo trong nhóm Amphitrite ở phía đông của quần đảo Hoàng Sa. Sau trận giao tranh năm 1974, Trung Quốc nắm được quyền kiểm soát ở nhóm Crescent. Xem thêm M. Taylor Fravel, Strong Borders, Secure Nation: Cooperation and Conflict in China’s Territorial Disputes (Princeton, NJ: Princeton University Press, 2008), 272-287.

[4] Greg Austin, China’s Ocean Frontier: International Law, Military Force, and National Development (Canberra, Australia: Allen & Unwin, 1998), 153-154.

[5] Một tóm tắt gần đây về những sự phát triển này, xem Fravel, Strong Borders, Secure Nation, 267-299.

[6] Xem thêm thảo luận chi tiết về yêu sách của Trung Quốc ở M. Taylor Fravel, “China’s Strategy in the South China Sea,” Contemporary Southeast Asia, 33 no. 3 (December 2011)

[7] Bằng việc nộp yêu sách quyền thềm lục địa mở rộng cho Liên hiệp quốc năm 2009, Việt Nam và Malaysia chỉ ra rằng hai nước này sẽ yêu sách quyền hàng hải ở các đảo đang tranh chấp, dù họ vẫn chưa nói điều này rõ ràng. Trong một công hàm sau đó, Philippines chỉ ra rằng quần đảo Trường Sa không đạt được tiêu chí theo như Điều 121(3) và do đó không thể được sử dụng để yêu cầu quyền hàng hải. Một nhân tố khác của yêu sách Trung Quốc là sự quả quyết rằng luật về vùng đặc quyền kinh tế năm 1998 của nước này sẽ không ảnh hưởng đến “quyền lịch sử” của Trung Quốc. Tuy nhiên, nội dung và phạm vi địa lý của những quyền lịch sử này vẫn chưa được xác định trong luật này.

[8] Ren Xiaofeng and Cheng Xizhong, “A Chinese Perspective,” Marine Policy, 29 no. 2 (March 2005), 139-146.

[9] Raul Pedrozo, “Close Encounters at Sea: The USNS Impeccable Incident,” Naval War College Review, 62 no. 3 (Summer 2009), 101-111.

[10]  “Vietnam Aims to Become Strong Maritime Nation,” Vietnam Seaports Association, May 26, 2010, http://www.vpa.org.vn/detail_temp.jsp?id=1652

 

Lợi ích của Mỹ đang bị đe dọa trước sự trỗi dậy của Trung Quốc. Những luật chơi mà Mỹ đã thiết lập đang có nguy cơ “bị xem xét lại”, điển hình lại tại Biển Đông. Mỹ cần làm gì? Các khuyến nghị đầy đủ của think-tank hàng đầu của Mỹ CNAS.

 

I.              KHÁI QUÁT CHUNG

Lợi ích của Hoa Kỳ tại Biển Đông ngày càng bị đe dọa bởi sự tăng trưởng kinh tế và quân sự của Trung Quốc và những lo ngại về thiện chí thực hiện các quy chuẩn pháp luật hiện hữu của nước này. Mỹ và các nước trong khu vực có lợi ích sâu sắc và vĩnh cửu đối với các tuyến đường biển, mở cho tất cả nước cả về thương mại cũng như các hoạt động quân sự hòa bình như can thiệp nhân đạo hay bảo vệ bờ biển. Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn tiếp tục thách thức sự tự do này bằng cách đặt nghi ngờ đối với các quy phạm hàng hải truyền thống và phát triển tiềm lực quân sự nhằm cho phép nước này đe dọa sự tiếp cận của các nước với khu vực biển này.

Ý nghĩa địa chiến lược của Biển Đông thật khó để phóng đại. Biển Đông có chức năng như cổ họng của Tây Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương - phần lớn mạng lưới liên kết kinh tế nơi mà các tuyến đường biển toàn cầu hợp nhất, chiếm 1,2 tỷ USD thương mại Mỹ hàng năm. Vùng biển này là trung tâm của nền kinh tế thế giới thế kỉ 21, nơi mà 1,5 tỷ người Trung Quốc, gần 600 triệu người Đông Nam Á và 1,3 tỷ cư dân của tiểu lục địa Ấn Độ vận chuyển các tài nguyên thiết yếu và trao đổi hàng hóa trong khu vực và trên toàn cầu. Biển Đông là một khu vực có hơn nửa tá các nước chồng lấn yêu sách lãnh thổ đối với một khu vực đáy biển có trữ lượng dầu đã được xác định là ít nhất 7 tỷ thùng và 900 nghìn tỷ feet khối khí tự nhiên.

 Bảo vệ lợi ích của Mỹ và thúc đẩy việc giữ nguyên trạng (status quo) không cần và không nên dẫn đến xung đột với Trung Quốc. Cả Mỹ và Trung Quốc sẽ tiếp tục hưởng lợi từ hợp tác và thực tế là, không một quốc gia châu Á nào hưởng lợi từ trật tự quốc tế do Mỹ dẫn đầu nhiều hơn Trung Quốc. Tuy nhiên, quản lý căng thẳng và thúc đẩy hợp tác ở Biển Đông đòi hỏi một sự quan tâm lớn bền bỉ và thận trọng từ Washington.

Trong những thập niên tới, thách thức cho Hoa Kỳ sẽ là làm thế nào để duy trì những quy tắc truyền thống về tự do hàng hải, trong khi thích ứng với sức mạnh các hoạt động ngày càng tăng của các nước trong khu vực, bao gồm cả Trung Quốc. Mục tiêu là hợp tác, nhưng hợp tác có thể được thúc đẩy một cách tốt nhất từ vị trí sức mạnh. Điều này đòi hỏi Mỹ phải duy trì sức mạnh và mở rộng hợp tác khu vực, một quan niệm có thể được gọi là "ưu tiên hợp tác”.

Để bảo vệ quyền lợi của Mỹ và các đồng minh ở Biển Đông và duy trì những quy tắc pháp lý đã tồn tại từ lâu, các nhà hoạch định chính sách Mỹ nên thực hiện năm bước sau:

Đầu tiên, Mỹ cần tăng cường sự hiện diện của hải quân trong dài hạn bằng cách xây dựng một hạm đội gồm 346 tàu thay vì giảm xuống 250 tàu do cắt giảm ngân sách và thu hồi các tàu chiến cũ trong thập kỷ tới. Quan hệ ngoại giao và kinh tế với Trung Quốc và các nước khác sẽ đạt hiệu quả hơn khi nó được hỗ trợ bởi một vị thế quân sự có thể tin tưởng. Tuy nhiên, phát triển Hải quân phải dựa trên tăng trưởng kinh tế lành mạnh trong tương lai – đây là ưu tiên chiến lược của Mỹ.

Thứ hai, Mỹ nên thúc đẩy một mạng lưới đối tác an ninh. Mô hình liên minh “trục bánh xe và nan hoa” giữa Mỹ và các đối tác Đông Á đang bị lấn át bởi một mạng lưới các quan hệ rộng hơn, phức tạp hơn và có sức lan tỏa hơn, trong đó các nước Châu Á là những nhân tố thúc đẩy chính. Xây dựng một mạng lưới các đối tác và đồng minh mạnh hơn trong khu vực Đông Nam Á phải là một mục tiêu dài hạn và quan trọng của Mỹ.

Thứ ba, Mỹ cần phải đảm bảo rằng hòa bình và an ninh ở Biển Đông phải được đặt lên hàng đầu trong chương trình nghị sự ngoại giao và an ninh của nước này. Tự do hàng hải là một mối quan tâm phổ quát, hợp tác hàng hải và các cơ chế giải quyết tranh chấp một cách hòa bình nên tiếp tục được thảo luận trong các diễn đàn khu vực. Mỹ cũng cần xây dựng các thể chế đa phương về lâu dài nhưng cũng thừa nhận rằng trong thực tế Mỹ có thể cần phải tập trung vào các cách tiếp cận song phương hoặc tiểu đa phương để tránh khiêu khích Trung Quốc.

Thứ tư, Mỹ cần thúc đẩy hơn nữa hội nhập kinh tế trong khu vực cũng như giữa Mỹ với khu vực, với sự tập trung đặc biệt về thương mại. Thương mại chính là đồng tiền ở khu vực Châu Á và có thể giúp kết nối các đầu tư chiến lược của Mỹ với khu vực năng động nhất trên thế giới này.

Thứ năm và cuối cùng, Mỹ cần có chính sách đúng với Trung Quốc. Điều này đòi hỏi quan hệ ngoại giao và kinh tế năng động phải được hỗ trợ bởi một vị thế quân sự mạnh mẽ và một nền kinh tế phát triển. Một chính sách thực tế bắt đầu bằng việc củng cố sức mạnh của Mỹ sau đó tích cực ủng hộ hợp tác dựa trên luật pháp; chính sách này tránh xung đột vũ trang nhưng không tránh đối đầu ngoại giao.

II.            GIỚI THIỆU

Lợi ích của Mỹ tại Biển Đông ngày càng bị đe dọa. Bảo vệ những lợi ích này không cần - và không nên - dẫn đến xung đột với Trung Quốc. Tuy nhiên, quản lý căng thăng và thúc đẩy hợp tác ở Biển Đông đòi hỏi một sự quan tâm lớn bền bỉ và thận trọng từ Washington.

Tầm quan trọng của Biển Đông vẫn còn bị định giá thấp, được thảo luận chủ yếu giữa các chuyên gia về khu vực chứ không phải là một bộ phận tiêu biểu rộng lớn của cộng đồng an ninh quốc gia. Nhưng Biển Đông xứng đáng nhận được sự ưu tiên quan tâm. Khi mà hệ thống dựa trên luật pháp đã tồn tại hàng thế kỷ do Mỹ thúc đẩy bị thách thức bởi một Trung Quốc đang trỗi dậy thì Biển Đông sẽ là chỉ dấu chiến lược để xác định tương lai khả năng lãnh đạo của Mỹ trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Vấn đề liệu Tây Thái Bình Dương có duy trì là một khu vực hàng hải mở cửa, ổn định và thịnh vượng hay đang dần trở thành lò lửa của sự tranh cãi phân cực như thời Chiến tranh lạnh hay không có thể sẽ được giải quyết tại khu vực biển quan trọng này. Biển Đông là nơi mà các nước như Việt Nam, Malaysia và Philippines phải đối mặt với hiện tượng “Phần Lan hóa” của Trung Quốc nếu sức mạnh hải quân và không quân của Mỹ suy giảm. Tóm lại, Biển Đông là nơi mà toàn cầu hoá xung đột với địa chính trị.

Nếu kinh tế thế giới có một trung tâm địa lý, thì đó là Biển Đông. Khoảng 90% hàng hoá thương mại vận chuyển từ lục địa này qua lục địa khác đều bằng đường biển, khoảng một nửa số hàng hóa này về mặt tổng chi phí vận chuyển (một phần ba về giá trị tiền) đi qua Biển Đông[1]. Biển Đông có chức năng như cổ họng của Tây Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương - phần lớn mạng lưới liên kết kinh tế nơi mà các tuyến đường biển toàn cầu hợp nhất, chiếm 1,2 tỷ USD thương mại Mỹ hàng năm.[2] Sự phụ thuộc quá mức của Trung Quốc và ở một mức độ nào đó, của tất cả các nước công nghiệp, vào một eo biển Malacca an toàn được gọi là “tình thế tiến thoái lưỡng nan ở Malacca”.[3] Ở các mức độ khác nhau, tất cả các quốc gia đều phụ thuộc vào eo biển hẹp kết nối Ấn Độ Dương với Tây Thái Bình Dương - Vịnh Bengal với Biển Đông - qua đó dầu và khí tự nhiên từ Trung Đông có thể được vận chuyển một cách an toàn qua biển tới tầng lớp trung lưu mới nổi ở Đông Á, bộ phận rất quan trọng đối với nền kinh tế thế giới.

Địa chính trị là thế lực đối kháng lại toàn cầu hóa, phân chia thế giới thay vì hợp nhất nó. Biển Đông là nơi mà một Trung Quốc đang trỗi dậy về quân sự  ngày càng thách thức tính ưu việt của hải quân Mỹ - một xu hướng mà nếu cứ để đi theo quỹ đạo hiện tại, có thể phá vỡ sự cân bằng quyền lực đã tồn tại từ cuối Chiến tranh thế giới thứ II và đe dọa các tuyến đường biển (SLOCs). Là người bảo lãnh chủ yếu của tự do hàng hải toàn cầu, Hoa Kỳ có lợi ích sâu sắc và vĩnh cửu trong việc bảo đảm rằng SLOCs vẫn mở cửa với tất cả các nước, không chỉ về thương mại mà cả các hoạt động quân sự hòa bình như can thiệp nhân đạo và bảo vệ bờ biển.

Mỹ có thể bảo vệ một trật tự khu vực hoà bình và thịnh vượng tốt nhất bằng cách bảo toàn quyền tiếp cận các SLOCs quan trọng. Sự bất lực của Mỹ trong việc triển khai đủ sức mạnh cần thiết vào Biển Đông sẽ làm thay đổi những tính toán an ninh của tất cả các nước trong khu vực. Nếu  Mỹ không những mất khả năng làm phức tạp kế hoạch của kẻ thù mà còn ngày càng trở nên dễ bị tấn công trước một Trung Quốc liên tục hiện đại hóa quân sự thì các nước khác trong khu vực có thể sẽ ngả về một Trung Quốc hùng mạnh.

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây

Patrick M. Cronin, Robert D. Kaplan

Quách Huyền (dịch)

Quang Hưng (hiệu đính)

Bản dịch chương I: Cooperation from Strength: U.S. Strategy and the South China Sea trong báo cáo: Cooperation from Strenth: The United States, China and the South China Sea của Trung tâm An ninh mới (CNAS) của Mỹ.



[1]U.S. Energy Information Administration, South China Sea: Oil & Natural Gas (March 2008); và  Robert D. Kaplan, “China’s Caribbean,”  Tờ The Washington Post, ngày  26 tháng  9, 2010.

[2] Số liệu này được các quan chức  Mỹ tại Hội nghị Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương at the Asia-Pacific vào tháng 11 năm 2011. Xem David Nakamura, “Global Security Trumps Economics at APEC,” Tờ The Washington Post, 14 tháng 11, 2011, 10.

[3] Juli A. MacDonald, Amy Donahue and Bethany Danyluk, “Energy Futures in Asia: Final Report,” (Booz Allen Hamilton, November 2004). Đoạn trích dẫn được lần đầu được tuyên bố bởi chuyên gia Mỹ Trung Quốc Ross Munro.

 

 Báo cáo của Trung tâm An ninh Mới của Mỹ (CNAS) cho rằng các lợi ích của Mỹ đang ngày càng bị đe dọa trước sự lớn mạnh của Trung Quốc, nhất là trước việc nước này sẵn sàng “xem xét lại” các luật chơi đã được thiết lập. Mỹ cần không ngừng quan tâm đến Biển Đông và tăng cường hợp tác. Hợp tác chỉ có thể đạt hiệu quả dựa trên sức mạnh răn đe quân sự của Mỹ.

obama.jpg


Báo cáo dài 115 trang, gồm 6 chương do các học giả hàng đầu của CNAS, Viện Công nghệ Massachuset (MIT), Học viện Hải chiến Hoa Kỳ và Viện Nghiên cứu Đông Nam Á của Singapore thực hiện.

Nhận định chính của báo cáo cho rằng các lợi ích của Mỹ đang ngày càng bị đe dọa trước sự lớn mạnh về quân sự và kinh tế của Trung Quốc, nhất là trước việc nước này sẵn sàng “xem xét lại” các luật lệ đã được thiết lập. Mỹ và các nước khác có lợi ích quan trọng về tự do hàng hải, bao gồm cả tự do thương mại và hoạt động quân sự; trong khi Trung Quốc đang tìm mọi cách để hạn chế tự do này, bao gồm cả việc đòi xem xét lại các luật lệ trên biển từ trước đến nay và phát triển sức mạnh quân sự nhằm ngăn chặn “tiếp cận” (access) đến khu vực. Do đó, Chính quyền Mỹ cần tích cực và không ngừng quan tâm đến vấn đề Biển Đông. Mỹ cần phải tăng cường hợp tác nhưng hợp tác chỉ có thể đạt hiệu quả dựa trên sức mạnh răn đe quân sự của Mỹ

 

 

1) Lợi ích của Mỹ tại Biển Đông 

Báo cáo đánh giá tầm quan trọng của Biển Đông ở các khía cạnh: i) Biển Đông là trung tâm dân số của thế giới trong thế kỷ 21 thông qua giao thương hàng hóa, tài nguyên của 1,5 tỷ người Trung Quốc, 600 triệu người Đông Nam Á và 1,3 tỷ người tiểu lục địa Ấn Độ; ii) Các tuyến đường vận tải qua Biển Đông là giao thoa của toàn cầu hóa và địa chính trị; iii) Biển Đông là “Vịnh Péc-xích thứ hai về dầu mỏ” với trữ lượng hơn 130 tỷ thùng (nếu dựa vào đánh giá của phía Trung Quốc), và nếu Trung Quốc kiểm soát được nguồn năng lượng này thì nước này sẽ ít phụ thuộc vào nguồn cung từ Trung Đông và vận tải qua eo Malacca, qua đó có thể “độc lập” hơn, ít bị “tổn thương” so với vận tải qua các tuyến đường hiện nay do Hải quân Mỹ đảm bảo an ninh; iv) Ở khía cạnh nào đó, Biển Đông là “trận chiến chính” của việc chuyển giao quyền lực thế giới, là thuốc thử về cán cân quyền lực mới giữa Trung Quốc đang lên và Mỹ đang đi xuống. 

Báo cáo cho rằng tranh chấp Biển Đông có từ lâu và sẽ không thể giải quyết được một sớm một chiều. Tình hình gần đây tái diễn căng thẳng nhưng sẽ không dẫn đến đụng độ giữa các nước trong thời gian ngắn trước mắt. Tuy nhiên, Biển Đông đã trở thành trung tâm của cạnh tranh địa-chính trị lâu dài, trong đó sự lớn mạnh của Trung Quốc sẽ thúc đẩy cạnh tranh quyền lực và chủ nghĩa dân tộc.  Trong bối cảnh đó, việc Trung Quốc nêu tham vọng yêu sách và nhất là sẵn sàng sử dụng sức mạnh quân sự để củng cố yêu sách sẽ đe dọa đến “độ tin cậy” của sức mạnh quân sự, và sự thống trị của Mỹ tại Châu Á-Thái Bình Dương.

Trong các thập kỷ tới, thách thức lớn nhất đối với Mỹ là làm thế nào để duy trì các luật chơi trên biển đã được thiết lập, nhất là tự do hàng hải, nhưng lại phải thích nghi với sự trỗi dậy của các cường quốc khu vực, đặc biệt là Trung Quốc. Báo cáo cho rằng Mỹ cần duy trì mục tiêu là bảo vệ lợi ích của mình nhằm duy trì nguyên trạng nhưng không nhất thiết phải dẫn đến “đụng độ” với Trung Quốc; Mỹ cần cùng các nước khu vực thúc đẩy các khuôn khổ đa phương, “ràng buộc” Trung Quốc vào các tiêu chuẩn luật pháp quốc tế, qua đó điều chỉnh hành vi của Trung Quốc.

2) Đánh giá về chiến lược Biển Đông của Trung Quốc  

- Biển Đông gắn bó với Trung Quốc dưới nhiều góc độ: địa lý, lịch sử, tài nguyên và nhất là việc đảm bảo các tuyến đường vận tải biển. Trung Quốc có tham vọng và nhu cầu kiểm soát các tuyến đường biển huyết mạch mang tính sống còn đối với kinh tế nước này qua Biển Đông và eo Malacca. Nếu đường biển này bị phong tỏa dù chỉ một ngày, nguồn cung năng lượng cho Trung Quốc bị gián đoạn, thì có thể dẫn đến bất ổn xã hội. `

- Trung Quốc có nhu cầu chính đáng trong việc phát triển hải quân nhằm đảm bảo các tuyến đường biển. Tuy nhiên, hiện Trung Quốc đã lớn mạnh, có lực lượng hải quân hùng mạnh, lại tạo ra các thách thức cho trật tự khu vực Đông Á.  Lực lượng tàu ngầm của Trung Quốc chủ yếu là tàu diesel (trong khi của Mỹ là tàu hạt nhân), nhưng tàu ngầm diesel chạy êm, thích hợp hơn trong triển khai tại các vùng biển đông đúc ở Đông Á. Báo cáo đánh giá xu hướng đáng lo ngại là Trung Quốc hiện có 60 tàu ngầm và sẽ có 75 chiếc trong vòng vài năm tới, nhiều hơn Mỹ (trong khi Mỹ chỉ triển khai 55% lực lượng tàu ngầm ở Thái Bình Dương). Tỷ lệ tăng trưởng mới tàu ngầm giữa Trung Quốc và Mỹ từ năm 2000 là 4/1; và từ năm 2005 là 8/1.

- Báo cáo nhận định rằng sức mạnh của Trung Quốc không chỉ trong vấn đề tàu ngầm hay quân sự, mà còn ở quy mô dân số, khả năng kinh tế và vị trí địa lý trung tâm. Trung Quốc sẽ tích cực sử dụng các đòn bẩy sức mạnh trong vấn đề Biển Đông để đạt sự thừa nhận vai trò thống lĩnh và nhân nhượng từ các nước khác. Đa số các nước trong khu vực có quan hệ kinh tế, thương mại chặt chẽ với Trung Quốc, nhưng đều rất thận trọng và đề phòng Trung Quốc. Các nước này một mặt tăng cường quan hệ, nhưng lại lo ngại Trung Quốc, muốn duy trì sự hiện diện quân sự của Mỹ. Tuy vậy, các nước khu vực lại không muốn Mỹ gây căng thẳng với Trung Quốc do lo ngại bị lâm vào thế “kẹt” trong cuộc chơi giữa hai cường quốc. Chính sách của Trung Quốc là khai thác tối đa hạn chế này bằng cách kết hợp cân bằng giữa quyết đoán trên thực địa và thu phục bằng ngoại giao, nhằm ngăn chặn các mầm mống của liên minh kiềm chế Trung Quốc ở Đông Nam Á.    

- Tuy Trung Quốc ngày càng dân chủ hóa, nhưng lợi ích địa chiến lược của Trung Quốc không phụ thuộc vào hình thức của thể chế hay ý thức hệ. Đối với Đảng Cộng sản Trung Quốc hiện nay, tính chính danh được duy trì và củng cố bởi tăng trưởng kinh tế cao. Do đó, sự ổn định của Trung Quốc phụ thuộc vào nguồn cung tài nguyên và tự do giao thương trên biển. Theo đó, Chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông sẽ không hướng tới “đụng độ”, mà trọng tâm chính là tìm cách đạt được mục tiêu mà không cần dùng đến sức mạnh, tức “thắng không cần đánh”.  Nếu có thể dịch chuyển được cán cân lực lượng nghiêng theo phía mình, thì Trung Quốc có thể đẩy Mỹ ra khỏi khu vực Biển Đông và ngoài chuỗi đảo thứ nhất ở Tây Thái Bình Dương, thiết lập ảnh hưởng lên các nước khác trong khu vực, khiến các nước này bị “Phần Lan hóa” – không thể thực thi chính sách đối ngoại độc lập, nhất là không dám đi với Mỹ để đối phó với Trung Quốc.

- Cách thức triển khai chính sách của Trung Quốc là kết hợp giữa “đe dọa”  và “hợp tác” (coercion and cooperation) – vừa thu phục vừa gia tăng ảnh hưởng lên các nước Đông Nam Á;  hay “đàm và chiếm” (talk and take).  Trung Quốc sẽ kiên trì chống quốc tế hóa, chống đưa Biển Đông ra bàn thảo tại các diễn đàn đa phương. Theo đánh giá của nhóm tác giả: song phương sẽ giúp Trung Quốc “chia để trị”; đa phương sẽ đẩy Trung Quốc vào thế yếu. Các phát triển liên quan đến Biển Đông nửa sau năm 2011 thể hiện rõ việc quốc tế hóa và việc nêu cao quan ngại của cộng đồng thế giới đối với các hành động của Trung Quốc đã buộc nước này phải điều chỉnh chính sách, ngoại giao mềm dẻo hơn. Trung Quốc chấp nhận ký Văn bản hướng dẫn thực thi DOC và chịu đàm phán về COC sau khi vấn đề Biển Đông được quốc tế hóa trong năm 2010, 2011. Trung Quốc cũng điều chỉnh, có các bước đi nhằm củng cố quan hệ song phương với hai nước chủ chốt khác ở Biển Đông là Việt Nam và Philippines.

- Tuy vậy, theo nhóm tác giả, hiện vẫn không rõ hiện Trung Quốc có một chiến lược kiên định, rõ ràng với Biển Đông hay chưa, hay các nhóm lợi ích khác nhau triển khai hành động riêng rẽ, không có sự phối hợp tầm quốc gia. Đơn cử trong lĩnh vực luật, có nhiều cơ quan khác nhau thực thi pháp luật trên Biển Đông nhưng chính sách và phát biểu của họ nhiều khi không có sự phối hợp. Lãnh đạo Trung Quốc nhận ra tình trạng này và đang cố gắng thiết lập các cơ chế liên Bộ ngành để hoạch định và thực thi chính sách đối với vấn đề Biển Đông.

3) Kiến nghị chính sách đối với chính quyền Mỹ

Trên cơ sở phân tích trên, Bản báo cáo của CNAS khuyến nghị các nhà hoạch định chính sách cần thực hiện 5 bước tổng quát để bảo vệ lợi ích của Hoa Kỳ và đồng minh trên Biển Đông. Các bước này bao gồm:

i) Tăng cường sự hiện diện hải quân: Mỹ cần tiếp tục đi đầu trong lĩnh vực ngoại giao và kinh tế, tuy nhiên điều này cần phải có sự hậu thuẫn từ sức mạnh quân sự. Biển Đông trước tiên là sân chơi về sức mạnh hải quân hiện đại. Sức mạnh hải quân ngày càng gia tăng của Trung Quốc đang đe dọa đến các lực lượng hải quân và các căn cứ quân sự của Mỹ, đe dọa tự do thông thương trên biển và vai trò kiểm soát đường biển từ trước đến nay của Mỹ. Do đó, Mỹ cần đảm bảo sức mạnh hải quân nhằm: i) duy trì cân bằng quyền lực để kiểm soát và bảo vệ tự do hàng hải trên Biển Đông; ii) răn đe không để xảy ra xung đột hoặc ít nhất cho thấy kẻ hiếu chiến sẽ không dễ dàng thắng, qua đó giúp duy trì hòa bình và thịnh vượng trong khu vực. 

 ii) Củng cố mạng lưới an ninh trong khu vực: Mỹ cần thúc đẩy một mạng lưới các đối tác an ninh, bổ sung cho hệ thống liên minh “trục và nan hoa” hiện nay giữa Mỹ và các nước đồng minh như Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, Thái Lan, Phi-líp-pin.  Mỹ cần xây dựng một mạng lưới các nước đối tác trong khu vực làm đối trọng với sức mạnh hải quân của Trung Quốc trong khu vực. Việt Nam, Philippines là các nhân tố chính. Nếu Việt Nam không dám đương đầu với Trung Quốc thì các nước yếu hơn như Philippines sẽ không thể nào dám đương đầu với Trung Quốc. Nếu sức mạnh của Mỹ suy giảm, Việt Nam không có lựa chọn nào khác là phải sống chung với Trung Quốc. 

Do Mỹ vẫn cần phải hợp tác với Trung Quốc và một số nước (như Việt Nam) không muốn thể hiện công khai đối phó Trung Quốc. Do đó, hình thức quan hệ đối tác chiến lược dựa trên lợi ích chung (có thể hiểu như các liên minh ngầm) sẽ giúp tránh gây tâm lý thù địch từ phía Trung Quốc. Các liên minh ngầm này thậm chí còn có thể mạnh hơn cả những liên minh chính thức.

Mỹ cũng cần có chính sách nhất quán về sự hiện diện quân sự qua khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) thông qua các căn cứ truyền thống ở Nhật Bản, Hàn Quốc, các địa điểm tiếp cận mới trong khu vực với cách làm mới. Ví dụ như năm 2011 Mỹ có quyết định cho hai tầu chiến dừng tại Singapore mà không xác định là dừng thường xuyên hay không.  Mô hình mới này mang tính linh động, không cố định, tránh các nước đối tác bị Trung Quốc gây sức ép. Mô hình này có thể áp dụng cho cho các nước ASEAN khác như Philippines và Việt Nam.

iii) Củng cố các nguyên tắc và thể chế đa phương: Mỹ cần tiếp tục thúc đẩy bàn thảo vấn đề  trong các chương trình an ninh và ngoại giao của mình, bao gồm việc tham dự các hội thảo ở kênh 2 như cuộc hội thảo Biển Đông hàng năm do Việt Nam tổ chức tại Hà Nội, cho đến các cuộc họp chính thức liên quan như ASEAN, ARF, ADMM+ và EAS.

iv) Đầu tư vào thương mại mở khu vực. Mỹ cần tăng cường thúc đẩy hơn nữa liên kết kinh tế giữa các nước trong khu vực cũng như giữa Mỹ với các nước trong khu vực. Việc tăng cường liên kết kinh tế giúp Mỹ tăng đầu tư chiến lược vào khu vực năng động nhất trên thế giới. Tiềm năng phát triển của Quan hệ Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) một ngày sẽ trở thành thể chế thương mại ưu đãi bao trùm. Nếu Mỹ và các nước không thúc đẩy liên kết kinh tế trong khu vực như vậy, một hệ thống thương mại như vậy do Trung Quốc lãnh đạo sẽ hình thành và điều này là bất lợi cho Mỹ.

v) Định hình mối quan hệ thực tế với Trung Quốc. Mỹ cần có chính sách đúng đắn với Trung Quốc – không quá ảo hưởng về “hợp tác toàn cầu” cũng như không quá bi quan về “sự đối đầu không tránh khỏi” với Trung Quốc. Mỹ cần tích cức can dự ngoại giao và kinh tế, hậu thuẫn hiệu quả bởi sức mạnh quân sự áp đảo và nền kinh tế tăng trưởng tốt của Mỹ. Mục đích chính là duy trì quan hệ hợp tác tổng thể, nhưng không để mất thế thượng phong về sức mạnh quân sự, đảm bảo Trung Quốc không thể trở thành bá quyền khu vực.     

Thái Giang (TTBĐ)

 

    

 

Đặt giả thuyết rằng Trung Quốc thực sự coi Biển Đông là “lợi ích cốt lõi”, bài viết của Toshi Yoshihara James R. Holmes, Đại học Hải chiến Mỹ, phân tích khả năng thành công của Trung Quốc trong việc bảo vệ “lợi ích cốt lõi” của mình tại Biển Đông. Khía cạnh mà tác giả tập trung phân tích chủ yếu nhằm vào năng lực quốc phòng của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA).

 

Có cảm giác quanh các báo cáo rằng Trung Quốc đã tuyên bố Biển Đông là “lợi ích cốt lõi” của quốc gia. Các quan chức cao cấp của Trung Quốc được cho là đã đưa ra khái niệm này trong một cuộc gặp kín vào tháng 3 năm 2010 với hai chức sắc của Mỹ, Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ James B. Steinberg và ông Jeffrey Bader, Giám đốc phụ trách khu vực Châu Á thuộc Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ.[1] Tiếp đó, trong bài phỏng vấn với Tạp chí “The Australian”, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã tiết lộ rằng đoàn đại biểu Trung Quốc đã tái khẳng định tuyên bố của Bắc Kinh trong Đối Thoại Chiến Lược và Kinh Tế Mỹ-Trung lần thứ 2 được tổ chức tại Bắc Kinh vào tháng 5 năm 2010.[2] Từ đó xuất hiện rất nhiều các tranh cãi về của ngữ cảnh cũng như nội dung chính xác của các phát biểu tại các cuộc họp đó.[3] Từ đó, các quan chức Trung Quốc đã kiềm chế công khai mô tả Biển Đông theo thuật ngữ chính thức và cứng nhắc đó.

Sự mơ hồ và tranh cãi xung quanh vấn đề này gợi nhớ đến một sự kiện tương tự cách đó 15 năm, khi khủng hoảng tại Eo biển Đài Loan lên tới đỉnh điểm. Vào thời điểm đó, một vị tướng của Trung Quốc đã nói với cựu đại sứ Hoa Kỳ, Chas Freeman rằng lãnh đạo Hoa Kì “nên lo cho Los Angeles hơn lo Đài Loan”. Phát biểu đó được cho là sự úp mở về một mối đe dọa hạt nhân.[4] Sự phủ nhận sau này của Trung Quốc về điều này đã tạo nên sự mập mờ về bản chất của cuộc đối thoại không chính thức này. Tuy nhiên, những sự kiện này cho thấy rằng Bắc Kinh thường khoanh đỏ những vấn đề mà họ coi là tối quan trọng đối với lợi ích của mình. Chúng cũng cảnh báo về việc xem các phát ngôn của Trung Quốc như thật.

Đặt giả thiết cho cuộc tranh luận rằng Trung Quốc coi vấn đề Biển Đông là “lợi ích cốt lõi” của quốc gia. Việc khẳng định lợi ích đó đã đặt tầm quan trọng của vùng nước đó lên mức dành cho các vùng lãnh thổ như Tây Tạng, Đài Loan và Tân Cương mà Trung Quốc xem như một phần lãnh thổ quốc gia không thể tách rời của họ và sẽ bảo vệ bằng mọi giá. Điều này cho thấy một mục tiêu chính trị với phạm vi đáng ngạc nhiên. Để bảo vệ “lợi ích cốt lõi” của mình, Trung Quốc có thể tăng cường các nỗ lực ngoại giao và quân sự ở mức cao nhất. Nhưng liệu Quân đội giải phóng nhân dân (PLA) có thể thực hiện điều đó và bằng cách nào?

Liệu Bắc Kinh có các phương tiện quân sự, chiến lược và tinh thần chiến đấu quả cảm để bảo vệ được lợi ích quan trọng này của quốc gia? Đánh giá khả năng hiện tại và những khả năng tiềm ẩn của Trung Quốc sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách và các nhà phân tích xác định liệu mục đích của Bắc Kinh tại Biển Đông có nằm trong khả năng các phương tiện quân sự của họ hay không. Nếu không, cần xác định thời gian và nguồn lực mà Trung Quốc phải đầu từ để có thể bảo vệ được lợi ích cốt lõi của mình. Đánh giá được điều này sẽ gợi ý các nước liên quan chủ yếu trong khu vực có thể đối phó như thế nào với chính sách ngày càng tham vọng của Trung Quốc mà không khiêu khích một sự phản ứng thái quá từ Bắc Kinh.

Phạm vi các mục tiêu chiến lược

Trước tiên cần xác định Bắc Kinh hàm ý gì trong cụm từ “lợi ích cốt lõi” và chỉ đạo chiến lược nào xuất phát từ lợi ích đó? Nếu lãnh đạo Đảng cộng sản Trung Quốc thực sự xử lí vấn đề Biển Đông như đã từng làm với Đài Loan thì có thể thấy rõ một số ngụ ý chiến lược sau:

Chủ quyền lãnh thổ là không thể chia cắt. Nếu lãnh đạo Trung Quốc coi chủ quyền trên biển không thể tách khỏi chủ quyển trên đất liền thì không thể để các tranh chấp về lãnh thổ không được giải quyết vô thời hạn.[5] Mặc dù Bắc Kinh đã có ý định gác lại các tuyên bố chủ quyền gây tranh cãi sang một bên vì mục đích khai thác chung nguồn tài nguyên thiên nhiên nhưng quan điểm của Trung Quốc về sự toàn vẹn lãnh thổ là bất khả xâm phạm. Vì thế dù thế nào thì Trung Quốc phải tìm được cách giải quyết cho vấn đề này.

Trung Quốc cần sức mạnh vũ trang để chiếm giữ các vùng lãnh thổ mà Trung Quốc đang có tranh chấp. Theo đó, nếu Biển Đông là lợi ích cốt lỗi cần được đảm bảo trong bất cứ hoàn cảnh nào thì Trung Quốc phải chuẩn bị những điều cần thiết nhằm đánh bại nỗ lực từ các nước bên ngoài để có thể biến nguyên trạng hiện tại thành một thực tế chính trị lâu dài. Bắc Kinh cần có đủ khả năng để chiếm giữ toàn bộ và nguyên vẹn tất cả vùng lãnh thổ đang có tranh chấp đồng thời ngăn cản ý định đảo ngược các lợi ích của Trung Quốc từ kẻ thù.

Trung Quốc phải áp đặt một trật tự mới trong khu vực. Để củng cố sự thống nhất quốc gia và bảo vệ tất cả các lợi ích cốt lõi của mình, Trung Quốc phải thiết lập một trật tự mới trong khu vực bất chấp những thách thức từ những nước láng giềng và các cường quốc bên ngoài. Nước này có thể thiết lập trật tự khu vực đó bằng sự đồng thuận hoặc ngoại giao cưỡng bức, tùy thuộc vào hoàn cảnh. Tuy nhiên để ngăn chặn các mối đe dọa đến trật tự mà Trung Quốc thiết lập, việc xây dựng một lực lương hải quân thống trị ở khu vực là điều khôn ngoan.

Những gợi ý này sẽ thúc giục các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc hướng tới quan điểm tối đa hóa lợi ích cốt lõi của quốc gia. Nếu Bắc Kinh hành động dựa trên các gợi ý này thì Biển Đông sẽ trở thành một cái hồ của Trung Quốc trong đó PLA chặn mọi đường vào của hải quân nước ngoài.

 

Một sự diễn giải khiêm tốn hơn căn cứ vào lịch sử Hoa Kỳ cũng có khả năng xảy ra. Một số người ở Trung Quốc xem Biển Đông, Hoa Đông và Hoàng Hải mà những người dân thường Trung Quốc gọi một cách đơn giản là ''Tam Hải” (ba vùng biển) hoặc ''Cận Hải'' (các vùng biển gần) theo cách tương tự mà những người Mỹ thế kỷ 19 xem biển Caribbean và Vịnh Mexico là hai khu vực mà Hoa Kỳ phải chiếm hữu để hiện thực hóa tiềm năng chính trị và thương mại của nước này.[6] Ngoại trừ một số ít các đảo chiếm từ Tây Ban Nha năm 1898, Washington không có tuyên bố lãnh thổ nào ở Caribbe hay vùng Vịnh và cũng không ngăn cản các tàu chiến của châu Âu tại khu vực này. Chính quyền Mỹ chủ yếu muốn ngăn chặn những nỗ lực của Châu Âu để có được các căn cứ Hải quân xuyên qua các làn đường biển dẫn đến eo đất Trung Mỹ, vị trí tương lai của một kênh đào xuyên đại dương.

Đó là chính xác là mục đích mà tổng thống Theodore Roosevelt muốn nói đến trong “Hệ luận” năm 1904 của ông đối với học thuyết Monroe. Roosevelt tuyên bố quyền hạn chế để can thiệp vào công việc của các quốc gia Caribe kém phát triển không có khả năng trả các khoản vay cho các ngân hàng Châu Âu. Các chính phủ Châu Âu thường gửi tàu chiến để chiếm các phòng thuế hải quan ở những quốc gia này để trả nợ cho những chủ nợ của họ. Để có thể làm như vậy, họ đã chiếm hữu lãnh thổ ven biển thuộc châu Mỹ nơi mà họ có thể biến thành căn cứ Hải quân dọc theo các làn đường biển Caribe. [7] Một viễn cảnh như thế là điềm xấu đối với các nhà chiến lược hàng hải Hoa Kì.

Tại sao việc chặn trước sự xâm nhập châu Âu quan trọng như vậy? Đối với nhà tư tưởng về sức mạnh biển Alfred Thayer Mahan, Eo đất (Isthmus) tạo nên một “cổng vào” Thái Bình Dương cho Hoa Kỳ ''.[8] Đào một kênh ngang qua Nicaragua hoặc Panama và bảo vệ các cửa ngõ hướng đến kênh đào đó là mối quan tâm lớn nhất của Mahan. Ông tiên đoán rằng '' các quốc gia thương mại táo bạo '' như nước Đức dưới thời Kaiser sẽ đấu tranh giành các thuộc địa có vị trí địa chính trị, như các đế quốc Tây Ban Nha và Anh đã làm trong nhiều thế kỷ.[9] Mahan cho rằng Hoa Kỳ bây giờ đặt lợi ích vượt trội lên eo đất này, do cả lợi ích thương mại đang phát triển ở vùng Viễn Đông và vì vị trí địa lý đặc biệt của nó mà đã cản trở '' sự liên lạc nhanh chóng và an toàn giữa hai vùng bờ biển của chúng ta''.[10] Đối với ông, sự lưu thông tự do vận tải quân sự và thương mại giữa bờ Đông và bờ Tây, và giữa Bắc Mỹ và Châu Á, tạo thành lợi ích cốt lõi của Mỹ tại Vùng vịnh và biển Carribe.

Để giữ vững lợi ích cốt lõi này, Mahan đòi hỏi lực lượng Hải quân Mỹ cần có 20 tàu chiến để có thể “chiến đấu, với những cơ hội chiến thắng hợp lý, lực lượng lớn nhất có thể được đem đến để chống lại nước này” ở các vùng biển phía Nam. [11] Một đội tàu “có khả năng tạo ra những cú đánh mạnh” và có thể giành lấy “quyền làm chủ trên biển” từ các đạo quân châu Âu được phái đến châu Mỹ.[12]

Biển Đông là câu trả lời của Trung Quốc cho Biển Carribe và Vùng Vịnh. Với vai trò là con đường biển quan trọng đến Ấn Độ Dương và eo Malacca, Biển Đông cũng khá giống với các biển nửa kín của Mỹ. Bán đảo Malay và quần đảo Sumatra nổi lên là một không gian địa lý, tạo nên một eo đất lớn, mà dưới con mắt của người Trung Quốc giống như eo đất đã từng ám ảnh Mahan. Và Biển Đông cũng giống như biển Carribe của Mahan, là một vùng biển mà chỉ có một quốc gia biển lớn là Trung Quốc bao quanh nó. Hai biển kín là Baltic và biển Đen, mà tiếp giáp với một cường quốc lục địa nổi bật là Nga, cũng đặt ra một tình huống tương tự. Liên Xô đã xây dựng một lực lượng hải quân mạnh để biến những biển trên thành của mình. Dường như các tình huống tương tự tạo ra các chiến lược tương tự.

NẾU TẬP TRUNG VÀO BIỂN ĐÔNG, TRUNG QUỐC CÓ THỂ XAO NHÃNG CÁC LỢI ÍCH Ở BIỂN HOÀNG HẢI VÀ BIỂN HOA ĐÔNG

Nhưng mà nước Mỹ cuối thế kỷ vẫn nằm rất xa khỏi các mối đe dọa từ các cường quốc chính khác. Nước này có khả năng để ngỏ bờ biển Thái Bình Dương hoặc Đại Tây Dương của mình ít nhiều không cần phòng thủ để tập trung năng lượng của mình vào một sự mở rộng kín đáo. Trung Quốc thì lại không có lợi thế này. Nếu nước này chỉ tập trung hải quân vào việc xử lý các tranh chấp ở Biển Đông thì sẽ có thể mất những lợi ích quan trọng ở biển Hoàng Hải và Hoa Đông. Bắc Triều Tiên vẫn tiếp tục gây phiền nhiễu ở ngay cửa ngõ biển của Trung Quốc. Đối thủ kình địch là Nhật Bản thì đang khoe mình với một đội tàu đẳng cấp thế giới và một vị trí chiến lược trên các con đường giao thông vận tải (sea lines of communication SLOCs) của Trung Quốc. Tình thế bế tắc trên eo biển Đài Loan vẫn bị kéo dài, lần lữa, đòi hỏi sự quan tâm chính sách của Trung Quốc. Cùng lúc đó, lợi ích biển ngày càng lớn kêu gọi sự chú ý của Trung Quốc đến các vùng biển bên ngoài Đông Á và đến các nhiệm vụ như chống cướp biển. Bắc Kinh không thể thờ ơ trước những vấn đề như vậy, những vấn đề có thể vắt kiệt các nguồn lực của các đội quân Đông Nam Á.

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây


Toshi Yoshihara, James R. Holmes 

PGS. về chiến lược trường ĐH Hải chiến Hoa Kỳ 

Quách Huyền (dịch) 

Đỗ Thủy (hiệu đính)

Bài viết đăng trên The Washington Quarterly, mùa xuân năm 2011 với nhan đề “ Can China Defend a “Core Interest” in the South China Sea? 


[1] Edward Wong “Chinese Military Seeks to Extend Its Naval Power,” New York Times April 23, 2010, http://www.nytimes.com/2010/04/24/world/asia/24navy.html.


[2] U.S. State Department, “Remarks by Secretary Clinton: Interview with Greg Sheridan of The Austraslian,” Melbourne, Australia, 8/11/2010 http:///www.state.gov/secretary/rm/2010/11/15067/htm.

[3] Để xem một số lý giải hợp lý về những vấn đề này, xem Carlyle A. Thayer, “Recent Developments in the Soouth China Sea: Grounds for Cautious Optimism?” RSIS Working Paper, số 220 (14/12/2010) trang 2-6, http://www.rsis.edu.sg/publications/WorkingPapers/WP220.pdf, và Michale D. Swaine, “China’s Assertive Behavior, Phần I: On ‘Core Interests’, “China Leadership Monitor số34 (Fall2010), trang 8-11, http://www.carnegieendowmenr.org/files/Swaine_CLM_34_1114101.pdf.

[4] John W. Garver, Face Off: China, the United States, and Taiwan’s Democratization (Seattle: University of Washington Press, 1997), trang 129.

[5] Trong khi bản chất thật sự của các yêu sách biến của Bắc Kinh vẫn đang được tranh luận thì thậm chí trong số các nhà phân tích Trung Quốc, một nhóm học giả xem Biển Đông là lãnh thổ có chủ quyền. Xem Peter A. Dutton, “Through a Chinese Lens,” Naval Institute Proceedings 126, số 4 (4/2010): trang 24-39. Ngoài ra, xét về quan điểm lịch sử, xem Andrew R. Wilson, “The Maritime Transformations of Ming China,” trong China Goes to Sea: Maritime Transformation in Comparative Historical Perspective, eds. Andrew S. Erickson, Lyle J. Goldstein, and Carnes Lord (Annapolis: Naval Institute Press, 2009), trang 235-287.

[6] Fareed Zakaria, From Wealth to Power. The Unusual Origins of America’s World Role (Princeton: Princeton University Press, 1998), trang 128-180.

[7] Dexter Perkins, A History of the Monroe Doctrine (Boston: Little, Brown, 1955), trang 228-275.

[8] Alfred Thayer Mahan, Naval Strategy, Compared and Contrasted with the Principles and Practice of Military Operations on Land (Boston: Little Brown, 1911), trang 111.

[9] Alfred Thayer Mahan, The Interest of America in Sea Power, Present and Future (1897; tái bản, Freeport: Books Libraries Press, 1970), trang 65-68.

[10] Nt, trang 78-83.

[11] Nt, trang 198.

[12] Alfred Thayer Mahan, The Influence of Sea Power upon History, 1660- 1783 (1890; tái bản, New York: Dover, 1987), trang 138; Mahan, Interest of America in Sea Power, trang 198; Margaret Tuttle Sprout, “Mahan: Evangelist of Sea Power,” trong Makers of Modern Strategy: Military Thought from Machiavelli to Hitler, ed. Edward Mead Earle (Princeton: Princeton University Press, 1943), trang 433.


 

Trang Foreignpolicy gần đây đăng bài viết “The South China Sea Is the Future of Conflict” của học giả Robert D. Kaplan, chuyên gia cao cấp của Trung tâm An ninh Mỹ mới. Theo đó nhận định các vùng biển thuộc Biển Đông có thể tạo thành tuyến đầu về quân sự trong những thập kỷ tới. Trong khi Trung Quốc đang xây dựng quân đội của mình một cách đáng kể thì các nước Đông Nam Á cũng vậy, ngân sách quốc phòng của họ tăng lên khoảng 1/3 trong thập kỷ qua

 

Chiến trường đang xác định của thế kỷ 21 sẽ là ở trên biển 

Châu Âu là một bức họa về đất liền, Đông Á là một bức họa về biển. Sự khác biệt mang tính quyết định giữa thế kỷ 20 và thế kỷ 21 là ở chỗ đó. Các khu vực bị tranh giành nhiều nhất của trái đất này trong thế kỷ qua nằm trên vùng đất liền ở châu Âu, đặc biệt là ở dải đất bằng phẳng mà đã hình thành các đường biên giới giả tạo ngăn cách phía Đông và Tây của nước Đức và phơi ra trước bước tiến không thể ngăn cản nổi của các quân đội. Nhưng trong một khoảng thời gian hàng thập kỷ, trục nhân khẩu học và kinh tế của địa cầu đã thay đổi đáng kể chuyển đến đầu bên kia của đại lục Âu-Á, nơi các khoảng không gian giữa các trung tâm dân số lớn chủ yếu là đại dương. 

Do cách thức mà địa lý học làm sáng tỏ và đặt ra các ưu tiên, các đường nét tự nhiên này của Đông Á báo trước một thế kỷ của hải quân – hải quân được xác định ở đây theo nghĩa rộng bao gồm cả các đội hình chiến đấu trên biển lẫn trên không hiện nay khi mà chúng đã trở nên ngày càng không thể tách rời. Tại sao vậy? Trung Quốc đặc biệt lúc này khi mà các đường biên giới trên đất liền của họ an toàn hơn so với bất cứ thời điểm nào kể từ đỉnh cao của triều đại nhà Thanh vào cuối thế kỷ 18, đang tham gia vào việc bành trướng hải quân không thể chối cãi. Chính là thông qua sức mạnh trên biển mà Trung Quốc sẽ xóa bỏ về mặt tâm lý hai thế kỷ diễn ra các tội ác của nước ngoài trên lãnh thổ của mình – buộc mỗi nước xung quanh mình phải phản ứng lại. 

Các cuộc giao chiến quân sự trên đất liền và trên biển là rất khác nhau, với những tác động lớn đối với các chiến lược lớn cần thiết để giành chiến thắng – hoặc để né tránh – chúng. Các cuộc giao chiến trên đất liền làm dân thường vướng vào đó, trên thực tế khiến cho các quyền con người trở thành một yếu tố dấu hiệu trong các nghiên cứu về chiến tranh. Các cuộc giao tranh trên biển tiếp cận xung đột như một vấn đề mang tính khách quan và kỹ trị, trên thực tế rút gọn chiến tranh thành dạng toán học, ngược lại rõ rệt với các cuộc chiến trí tuệ đã giúp xác định các cuộc xung đột trước đây. 

Chiến tranh Thế giới thứ Hai là một cuộc chiến đạo đức chống lại chủ nghĩa phát xít, hệ tư tưởng chịu trách nhiệm về cái chết của hàng chục triệu người không tham chiến. Chiến tranh Lạnh là một cuộc chiến đạo đức chống lại chủ nghĩa cộng sản, một hệ tư tưởng mang tính áp bức tương tự mà các vùng lãnh thổ rộng lớn bị Hồng quân Liên Xô chiếm đoạt đã được cai trị bằng hệ tư tưởng đó. Giai đoạn ngay sau Chiến tranh Lạnh đã trở thành một cuộc chiến đạo đức chống lại nạn diệt chủng ở Bancăng và Trung Phi, hai nơi mà ở đó cuộc chiến tranh trên đất liền và các tội ác chống lại nhân loại không thể bị tách rời. Gần đây hơn là cuộc chiến đạo đức chống lại Hồi giáo cực đoan đã lôi kéo Mỹ vào sâu bên trong các biên giới địa hình đồi núi của Ápganixtan, nơi việc cư xử nhân đạo với hàng triệu dân thường là đặc biệt quan trọng đối với sự thành công trong cuộc chiến tranh này. Trong tất cả những nỗ lực này, chiến tranh và chính sách đối ngoại trở thành các chủ đề không chỉ đối với các binh lính và các nhà ngoại giao mà còn đối với các nhà nhân văn và các trí thức. Quả thực, việc chống nổi loạn thể hiện đỉnh cao của các kiểu kết hợp giữa các quân nhân và các chuyên gia về nhân quyền. Đây là kết quả cuối cùng của chiến tranh mặt đất tiến triển thành cuộc chiến tranh tổng lực trong thời hiện đại. 

Đông Á, hay chính xác hơn là Tây Thái Bình Dương, đang nhanh chóng trở thành trung tâm hoạt động hải quân mới của thế giới, báo trước một động lực khác về cơ bản. Khu vực này sẽ có thể tạo ra tương đối ít tình thế tiến thoái lưỡng nan về đạo đức theo kiểu mà chúng ta đã từng gặp trong thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, với khả năng xa vời là xảy ra cuộc chiến trên đất liền trên bán đảo Triều Tiên như một ngoại lệ đáng chú ý. Tây Thái Bình Dương sẽ đưa các vấn đề quân sự trở lại lĩnh vực hạn hẹp của các chuyên gia quốc phòng. Đây không chỉ đơn thuần bởi vì chúng ta đang đề cập đến lĩnh vực hải quân, trong đó không có các dân thường. Đó còn bởi vì bản chất của các nhà nước ở Đông Á, mà giống như Trung Quốc, có thể là rất độc tài, nhưng trong phần lớn các trường hợp không phải là chuyên chế hay quá vô nhân đạo. 

Cuộc đấu tranh giành địa vị đứng đầu ở Tây Thái Bình Dương sẽ không nhất thiết phải liên quan đến chiến sự; phần lớn những gì xảy ra sẽ diễn biến lặng lẽ và trên đường chân trời trong không gian đại dương trống vắng, với nhịp độ rất từ từ phù hợp với sự thích nghi chậm rãi và dần dần với sức mạnh vượt trội về kinh tế và quân sự mà các nước đã tạo ra trong suốt chiều dài lịch sử. Chiến tranh còn lâu mới là không thể tránh khỏi cho dù sự cạnh tranh là một xu hướng đã định. Và nếu Trung Quốc và Mỹ giải quyết thành công sự chuyển giao sắp diễn ra, thì châu Á và thế giới sẽ là một nơi an toàn và thịnh vượng hơn. Còn điều gì có thể mang tính đạo đức hơn thế? Hãy nhớ rằng: chính chủ nghĩa hiện thực phục vụ cho lợi ích quốc gia – có mục tiêu là tránh chiến tranh – đã cứu sống nhiều sinh mạng hơn trong chiều dài lịch sử so với chủ nghĩa can thiệp mang tính nhân đạo. 

Đông Á là một khu vực rộng lớn trải rộng gần như từ Bắc Cực đến Nam Cực – từ quần đảo Kuril hướng về phía Nam đến Niu Dilân – và có đặc trưng là một chuỗi đứt đoạn các bờ biển cô lập và các quần đảo trải dài. Ngay cả tính đến việc công nghệ đã thu hẹp khoảng cách đáng kể ra sao, thì biển vẫn đóng vai trò là một hàng rào ngăn chặn sự tấn công, ít nhất ở một mức độ mà đất liền không có được. Biển, không giống như đất liền, tạo ra các đường biên giới được xác định rõ ràng, đem lại cho nó khả năng giảm thiểu xung đột. Rồi cần phải cân nhắc đến tốc độ. Ngay cả các tàu chiến có tốc độ nhanh nhất cũng di chuyển tương đối chậm, chẳng hạn 35 hải lý, làm giảm khả năng xảy ra những tính toán sai lầm và cho các nhà ngoại giao có nhiều giờ hơn – thậm chí là nhiều ngày hơn – để cân nhắc lại các quyết định. Các lực lượng hải quân và không quân đơn giản là không chiếm đóng lãnh thổ bằng phương cách như lục quân. Chính nhờ các vùng biển xung quanh Đông Á – trung tâm sản xuất toàn cầu cũng như gia tăng mua sắm quân sự toàn cầu – mà thế kỷ 21 có cơ hội tốt hơn thế kỷ 20 để tránh được những cuộc đối đầu lớn về quân sự. 

Dĩ nhiên là Đông Á đã chứng kiến các cuộc đối đầu quân sự lớn trong thế kỷ 20, mà các vùng biển không ngăn cản nổi: cuộc chiến tranh Nga-Nhật Bản; gần nửa thế kỷ diễn ra nội chiến ở Trung Quốc đã đi kèm với sự sụp đổ từ từ của triều đại nhà Thanh; các cuộc chinh phục khác nhau của đế quốc Nhật, tiếp theo sau là Chiến tranh thế giới thứ Hai ở Thái Bình Dương; chiến tranh Triều Tiên; các cuộc chiến tranh ở Campuchia và Lào; và hai cuộc chiến tranh ở Việt Nam liên quan đến Pháp và Mỹ. Thực tế là việc địa lý của Đông Á chủ yếu là biển có rất ít ảnh hưởng đến những cuộc chiến tranh như thế, mà cốt lõi của chúng là các cuộc xung đột nhằm củng cố hoặc giải phóng quốc gia. Nhưng kỷ nguyên đó phần lớn nằm ở phía sau chúng ta. Quân đội các nước Đông Á, thay vì tập trung vào bên trong với các quân đội công nghệ thấp, đang tập trung hướng ra bên ngoài với các lực lượng hải quân và không quân công nghệ cao. 

Về việc so sánh giữa Trung Quốc ngày nay và Đức trong thời gian trước khi xảy ra Chiến tranh thế giới thứ Nhất mà nhiều người từng làm, đó là một sự sai lầm: Trong khi Đức, do vị trí địa lý của châu Âu, chủ yếu là một cường quốc trên đất liền, thì Trung Quốc, do vị trí địa lý của Đông Á, sẽ chủ yếu là một cường quốc hải quân. Đông Á có thể được chia thành hai khu vực chính: Đông Bắc Á, bị chi phối bởi bán đảo Triều Tiên, và Đông Nam Á, bị chi phối bởi Biển Đông. Đông Bắc Á xoay quanh số phận của Bắc Triều Tiên, một nhà nước độc tài bị cô lập với tương lai mờ nhạt trong một thế giới bị chi phối bởi chủ nghĩa tư bản và truyền thông điện tử. Nếu Bắc Triều Tiên nổ tung bên trong, thì các lực lượng mặt đất của Trung Quốc, Mỹ và Hàn Quốc có thể gặp nhau trên nửa phía Bắc của bán đảo này lấy cớ là tất cả những sự can thiệp nhân đạo, ngay cả khi họ tạo ra những phạm vi ảnh hưởng cho chính họ. Các vấn đề hải quân sẽ là vấn đề thứ yếu. Nhưng một sự thống nhất cuối cùng của Triều Tiên sẽ sớm làm cho các vấn đề hải quân trở nên nổi bật, với một Triều Tiên lớn hơn, Trung Quốc và Nhật Bản trong sự cân bằng mong manh, bị chia cắt bởi Biển Nhật Bản, Hoàng Hà và Bột Hải. Tuy nhiên bởi vì Bắc Triều Tiên vẫn tồn tại, giai đoạn Chiến tranh Lạnh của lịch sử Đông Bắc Á chưa hoàn toàn chấm dứt, và sức mạnh trên đất liền có thể chi phối truyền thông trước khi sức mạnh trên biển sẽ làm điều đó. 

Ngược lại, Đông Nam Á đã tiến sâu vào giai đoạn hậu Chiến tranh Lạnh trong lịch sử. Việt Nam, chi phối bờ biển phía Tây của Biển Đông, bất chấp hệ thống chính trị của mình, là một sức mạnh tư bản chủ nghĩa ghê gớm, tìm kiếm các mối quan hệ quân sự chặt chẽ hơn với Mỹ. Trung Quốc, được Mao Trạch Đông củng cố vững chắc như một nhà nước vương triều sau các thập kỷ hỗn loạn và biến thành nền kinh tế năng động nhất của thế giới nhờ chính sách tự do hóa của Đặng Tiểu Bình, hối hả vươn ra bên ngoài bằng hải quân của mình đến cái mà họ gọi là “chuỗi đảo đầu tiên” ở Tây Thái Bình Dương. Nước Hồi giáo khổng lồ, Inđônêxia, sau khi trải qua và cuối cùng kết thúc những thập kỷ của chế độ cai trị quân sự, đang sẵn sàng nổi lên thành một Ấn Độ thứ hai: một chế độ dân chủ sôi động và ổn định có khả năng triển khai sức mạnh bằng nền kinh tế đang phát triển của mình. Xinhgapo và Malaixia cũng đang tăng tiến về kinh tế, trung thành với mô hình vừa là nhà nước thành phố vừa là nhà nước kinh doanh thông qua những sự pha trộn đa dạng chế độ dân chủ và chủ nghĩa độc tài. Bức tranh ghép là về một nhóm các nước, với các vấn đề về tính hợp pháp trong nước và việc xây dựng nhà nước ở đằng sau họ, sẵn sàng thúc đẩy các quyền lãnh thổ đã được nhận biết vượt ra bên ngoài các bờ biển của họ. Sự thúc đẩy chung hướng ra bên ngoài này nằm trong buồng lái nhân khẩu học toàn cầu, bởi vì đó là ở Đông Nam Á, với 615 triệu dân, nơi 1,3 tỷ dân của Trung Quốc hội tụ với 1,5 tỷ dân ở tiểu lục địa Ấn Độ. Và nơi gặp gỡ về mặt địa lý của các nước này, và quân đội của họ là biển: Biển Đông. 

Biển Đông nối liền các nước Đông Nam Á với Tây Thái Bình Dương, có chức năng như một cái cổ họng của các tuyến đường biển toàn cầu. Đây là trung tâm của Âu-Á trên biển, bị ngắt quãng bởi các eo biển Malắcca, Sunda, Lombok và Makassar. Hơn một nửa số tàu chở hàng hóa mỗi năm của thế giới và 1/3 toàn bộ giao thông tuyến đường biển đi qua các điểm thắt này. Dầu lửa được chuyển qua eo biển Malắcca từ Ấn Độ Dương, trên đường đến Đông Á thông qua Biển Đông, gấp 6 lần số lượng đi qua Kênh đào Xuyê và gấp 17 lần số lượng đi qua Kênh đào Panama. Xấp xỉ 2/3 nguồn cung năng lượng của Hàn Quốc, gần 60 % nguồn cung năng lượng của Nhật Bản và Đài Loan, và khoảng 80% lượng dầu thô nhập khẩu của Trung Quốc đi qua Biển Đông. Còn nữa, Biển Đông mang lại trữ lượng dầu lửa 7 tỷ thùng và ước tính 900 nghìn tỷ phút khối khí tự nhiên, một món quà tiềm năng to lớn. 

Không chỉ vị trí và nguồn dự trữ năng lượng hứa hẹn mang lại cho Biển Đông tầm quan trọng địa-chiến lược thiết yếu, mà còn các tranh chấp lãnh thổ tàn nhẫn từ lâu đã lẩn quất xung quanh các vùng biển này. Một vài tranh chấp liên quan đến quần đảo Trường Sa, một quần đảo nhỏ ở phía Đông Nam Biển Đông. Việt Nam , Đài Loan và Trung Quốc mỗi bên đều tuyên bố chủ quyền toàn bộ hay phần lớn Biển Đông, cũng như toàn bộ các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Đặc biệt là Bắc Kinh khẳng định một đường lịch sử: họ tuyên bố chủ quyền đến tận trung tâm Biển Đông trong một vòng cung rộng lớn (được biết đến rộng rãi là “đường lưỡi bò”) từ Đảo Hải Nam của Trung Quốc ở cực Bắc Biển Đông suốt 1.200 dặm về phía Nam đến gần Xinhgapo và Malaixia. 

Kết quả là tất cả 9 nước tiếp xúc với Biển Đông ít nhiều đã dàn trận chống lại Trung Quốc và do đó dựa vào Mỹ để được hỗ trợ về ngoại giao và quân sự. Các tuyên bố chủ quyền gây xung đột này có thể trở nên gay gắt hơn do nhu cầu năng lượng leo thang của châu Á – tiêu thụ năng lượng dự kiến sẽ tăng gấp đôi vào năm 2030, với Trung Quốc chiếm ½ trong con số tăng trưởng đó – khiến Biển Đông trở thành một nơi đảm bảo thậm chí còn mang tính trung tâm hơn cho sức mạnh kinh tế của khu vực này. Biển Đông đã ngày càng trở thành một doanh trại vũ trang, khi các bên tuyên bố chủ quyền tăng cường và hiện đại hóa lực lượng hải quân của họ, ngay cả khi sự tranh giành các quần đảo và các bãi đá ngầm trong những thập kỷ gần đây hầu như đã kết thúc. Cho đến nay, Trung Quốc đã chiếm 12 điểm địa lý, Đài Loan chiếm 1, Việt Nam chiếm 25, Philíppin chiếm 8 và Malaixia chiếm 5. 

Chính địa lý của Trung Quốc định hướng nước này theo hướng Biển Đông. Trung Quốc nhìn về phía Nam hướng tới một vùng biển được hình thành, theo chiều kim đồng hồ, bởi Đài Loan, Philíppin, đảo Borneo chia cắt giữa Malaixia và Inđônêxia (cũng như Brunây nhỏ bé), Bán đảo Malaixia chia tách giữa Malaixia và Thái Lan, và bờ biển kéo dài hình rắn lượn của Việt Nam: tất cả đều là những nước yếu so với Trung Quốc. Giống biển Caribê, có đặc trưng là các quốc đảo nhỏ và được bao quanh bởi nước Mỹ quy mô lục địa, Biển Đông là một vũ đài hiển nhiên cho việc triển khai sức mạnh của Trung Quốc. 

Thật vậy, vị trí của Trung Quốc theo nhiều cách giống với vị trí của Mỹ đối với Caribê có quy mô tương tự vào thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Mỹ đã công nhận sự hiện diện và các tuyên bố chủ quyền của các cường quốc châu Âu ở Caribê, nhưng tuy thế vẫn tìm cách để thống trị khu vực này. Chính là cuộc chiến Tây Ban Nha-Mỹ vào năm 1898 và việc đào Kênh Panama từ năm 1904 đến năm 1914 đã báo hiệu sự xuất hiện của Mỹ với tư cách là một cường quốc thế giới. Hơn nữa, việc thống trị Vịnh Caribê rộng lớn hơn đã đem lại cho Mỹ sự kiểm soát có hiệu quả bán cầu Tây, điều đã cho phép nước này gây ảnh hưởng đến cán cân quyền lực ở bán cầu Đông. Và ngày nay Trung Quốc tìm thấy chính mình trong một tình huống tương tự ở Biển Đông, tiền sảnh của Ấn Độ Dương, nơi Trung Quốc cũng mong muốn có sự hiện diện của hải quân để bảo vệ các nguồn cung năng lượng từ Trung Đông của mình. 

Tuy nhiên, một điều gì đó sâu sắc và tình cảm hơn là vị trí địa lý đẩy Trung Quốc hướng về Biển Đông và hướng ra bên ngoài tới Thái Bình Dương: đó là sự chia cắt phần nào của chính Trung Quốc bởi các cường quốc phương Tây trong những năm tương đối gần đây, sau khi đã là một nước lớn và nền văn minh thế giới trong hàng thiên nhiên kỷ. 

Vào thế kỷ 19, khi triều đại nhà Thanh trở thành một kẻ bệnh tật của Đông Á, Trung Quốc đã đánh mất nhiều phần lãnh thổ của mình vào tay Anh, Pháp, Nhật Bản và Nga. Thế kỷ 20 đã diễn ra các cuộc tiếp quản đẫm máu của Nhật Bản đối với Bán đảo Sơn Đông và Mãn Châu Lý. Tất cả những điều này là sự sỉ nhục lên đến đỉnh điểm mà Trung Quốc phải chịu bằng các thỏa thuận đặc quyền ngoại giao của thế kỷ 19 và 20, nhờ đó các nước phương Tây cố giành lấy quyền kiểm soát các phần của các thành phố Trung Quốc – cái gọi là “các hải cảng mở theo hiệp ước”. Vào năm 1839, như sử gia Jonathan D.Spence thuộc trường Đại học Yale nói với chúng ta trong cuốn “Tìm kiếm Trung Quốc hiện đại”, do những sự cướp phá này cũng như cuộc nội chiến Trung Quốc, thậm chí còn có mối sợ hãi tiềm ẩn rằng “Trung Quốc sắp bị chia cắt, rằng nước này sẽ không còn tồn tại như một quốc gia nữa, và rằng 4.000 năm lịch sử đã được ghi chép của nó sẽ đi đến một kết thúc chóng vánh”. Sự ham muốn bành trướng của Trung Quốc là một tuyên bố rằng họ không bao giờ có ý định để cho những người nước ngoài lợi dụng mình một lần nữa. 
Giống hệt lãnh thổ Đức đã hình thành tuyến đầu về quân sự của Chiến tranh Lạnh, các vùng biển thuộc Biển Đông có thể tạo thành tuyến đầu về quân sự của những thập kỷ tới. Khi hải quân Trung Quốc trở nên mạnh mẽ hơn và khi tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc về Biển Đông mâu thuẫn với tuyên bố chủ quyền của các nước vùng duyên hải khác, các nhà nước khác này sẽ buộc phải phát triển hơn nữa các khả năng hải quân của họ. Họ cũng sẽ đối trọng với Trung Quốc bằng việc ngày càng dựa vào hải quân Mỹ, mà sức mạnh của nó có thể đạt đến đỉnh cao trong những điều kiện tương đối, ngay cả khi nó phải chuyển hướng các nguồn lực đáng kể sang Trung Đông. Đa cực trên toàn thế giới đã là một đặc trưng của ngoại giao và kinh tế học, nhưng Biển Đông có thể cho chúng ta thấy đa cực theo nghĩa quân sự thực ra sẽ như thế nào. 

Không có gì lãng mạn về mặt trận mới này, không có cái như các cuộc đấu tranh mang tính đạo đức. Trong các cuộc xung đột hải quân, trừ khi có pháo kích trên bờ, tự nó không có các nạn nhân; cũng không có kẻ thù triết học để đối đầu. Không có gì trên quy mô của sự thanh lọc sắc tộc có thể xảy ra trong chiến trường trung tâm xung đột mới này. Trung Quốc, bất chấp những người bất đồng ý kiến đau khổ của nó, đơn giản không phải là như một đối tượng của cơn giận dữ về đạo đức. Chế độ Trung Quốc chỉ chứng tỏ một phiên bản hàm lượng calo thấp của chủ nghĩa độc tài, với nền kinh tế theo kiểu tư bản chủ nghĩa và một hệ tư tưởng quản lý hầu như chẳng có gì để nói đến. Hơn nữa, Trung Quốc có thể trở thành một xã hội cởi mở hơn thay vì đóng kín trong những năm tương lai. Thay cho chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa quân phiệt, Trung Quốc, cùng với các nước khác ở Đông Á, ngày càng được xác định bởi sự kiên định đi theo chủ nghĩa dân tộc theo kiểu cũ: chắc chắn là một ý tưởng nhưng không phải là ý tưởng đã hấp dẫn các trí thức kể từ giữa thế kỷ 19. Và cho dù Trung Quốc trở nên dân chủ hơn, chủ nghĩa dân tộc của nước này có thể chỉ tăng lên, như ngay chính một cuộc khảo sát ngẫu nhiên về quan điểm của các cư dân mạng tương đối tự do cho thấy rõ. 

Chúng ta thường nghĩ về chủ nghĩa dân tộc như một tình cảm phản động, một di tích của thế kỷ 19. Tuy nhiên, chính chủ nghĩa dân tộc truyền thống đang chủ yếu thúc đẩy các hoạt động chính trị ở châu Á, và sẽ tiếp tục như vậy. Chủ nghĩa dân tộc đó không thể chối cãi đang dẫn đến sự phát triển quân đội các nước trong khu vực – đặc biệt là các lực lượng hải quân và không quân – nhằm bảo vệ chủ quyền và khẳng định chủ quyền đối với các nguồn tài nguyên thiên nhiên bị tranh chấp. Không có sự lôi cuốn mang tính triết học ở đây. Đó tất cả là về lôgích lạnh lùng của cán cân sức mạnh. Trong chừng mức mà chủ nghĩa hiện thực không ủy mị, liên kết với chủ nghĩa dân tộc, có một ngôi nhà về mặt địa lý, thì đó là Biển Đông. 

Do đó, bất cứ thảm kịch nào về đạo đức xảy ra ở Đông Á cũng sẽ mang hình thức chính trị quyền lực khắc khổ theo kiểu khiến nhiều trí thức và nhà báo bị tê liệt. Như Thucydides đề cập đến điều đó một cách đáng nhớ trong chuyện kể của ông về cuộc chinh phục đảo Melos của những người Aten cổ đại, “kẻ mạnh làm những gì họ có thể làm và kẻ yếu phải chịu những gì họ phải chịu”. Trong câu chuyện kể lại của thế kỷ 21, với Trung Quốc trong vai trò của người Aten với tư cách là một cường quốc biển khu vực vượt trội, nước yếu sẽ vẫn cam chịu nhưng chỉ thế thôi. Đây sẽ là chiến lược không được tuyên bố của Trung Quốc, và các nước nhỏ hơn thuộc Đông Nam Á có thể sẽ đứng về phía Mỹ để tránh bị giống số phận của người Melos. Tuy nhiên sẽ không có sự tàn sát. 

Biển Đông báo trước một hình thái xung đột khác so với các hình thái mà chúng ta đã quen với. Kể từ đầu thế kỷ 20, chúng ta đã bị tổn thương một mặt bởi các cuộc giao tranh thông thường lớn trên đất liền, và mặt khác bởi các cuộc chiến tranh nhỏ bẩn thỉu, không chính quy. Do cả hai loại chiến tranh đã tạo ra những thương vong lớn cho dân thường, chiến tranh đã là đối tượng cho các nhà nhân văn cũng như các tướng quân đội. Nhưng trong tương lai chúng ta chỉ có thể thấy một hình thái xung đột thuần túy hơn, giới hạn ở lĩnh vực hải quân. Đó là một kịch bản tích cực. Không thể loại bỏ hoàn toàn xung đột khỏi trạng thái sinh tồn của nhân loại. Một chủ đề trong “Các luận bàn về Livy” của Machiavelli là xung đột, được kiểm soát một cách đúng mức, sẽ có khả năng dẫn đến sự tiến bộ của nhân loại hơn là sự ổn định cứng nhắc. Một vùng biển đầy các tàu chiến không mâu thuẫn với thời đại đầy hứa hẹn dành cho châu Á. Sự mất an ninh thường nuôi dưỡng sự năng động. 

Nhưng liệu xung đột ở Biển Đông có thể được kiểm soát một cách đúng đắn hay không? Đến đây lập luận của tôi giả thiết rằng chiến tranh quy mô lớn sẽ không bùng nổ ở khu vực này và rằng thay vào đó các nước sẽ bằng lòng với việc dùng mánh khóe để tranh giành vị trí bằng các tàu chiến của mình trên các vùng biển khơi, trong khi vẫn đưa ra những tuyên bố chủ quyền mang tính cạnh tranh về các nguồn tài nguyên thiên nhiên và thậm chí có thể tán thành với việc phân chia chúng công bằng. Nhưng điều gì xảy ra nếu Trung Quốc, đi ngược lại tất cả những xu thế hiển nhiên này, định xâm lược Đài Loan? Điều gì xảy ra nếu Trung Quốc và Việt Nam, mà sự kình địch mạnh mẽ của họ bắt nguồn từ sâu xa trong lịch sử, đi đến chiến tranh như họ đã tiến hành vào năm 1979, lần này với các vũ khí gây sát thương hơn? Bởi vì không phải chỉ một mình Trung Quốc đang xây dựng quân đội của mình một cách đáng kể; các nước Đông Nam Á cũng vậy. Ngân sách quốc phòng của họ tăng khoảng 1/3 trong thập kỷ qua, ngay cả khi ngân sách quốc phòng của châu Âu giảm xuống. Các vũ khí nhập khẩu vào Inđônêxia, Xinhgapo và Malaixia tăng lên đến lần lượt là 84%, 146%, và 722% kể từ năm 2000. Sự chi tiêu này nhằm vào các phương tiện hải quân và không quân: các chiến hạm trên mặt nước, các tàu ngầm với hệ thống tên lửa tiên tiến và các máy bay chiến đấu tầm xa. Việt Nam gần đây đã chi 2 tỷ USD để mua 6 chiếc tàu ngầm lớp Kilo tối tân và 1 tỷ USD để mua các máy bay chiến đấu của Nga. Malaixia vừa mở một căn cứ tàu ngầm trên đảo Borneo . Trong khi Mỹ bị phân tâm bởi các cuộc chiến tranh trên đất liền ở khu vực Trung Đông rộng lớn hơn, sức mạnh quân sự đã lặng lẽ chuyển từ châu Âu sang châu Á. 

Hiện nay Mỹ đảm bảo nguyên trạng không yên ổn ở Biển Đông, giới hạn sự xâm lược của Trung Quốc chủ yếu ở những tấm bản đồ và giữ vai trò kiềm chế các nhà ngoại giao và hải quân của Trung Quốc (mặc dù điều này không phải để nói rằng Mỹ trong sáng trong các hành động của mình và Trung Quốc đương nhiên là một kẻ ác). Những gì Mỹ mang lại cho các nước thuộc khu vực Biển Đông không hẳn là thực tế về đức hạnh dân chủ của nó mà là thực tế về sức mạnh cơ bắp. Chính sự cân bằng quyền lực giữa Mỹ và Trung Quốc cuối cùng đang giữ cho Việt Nam, Đài Loan, Philíppin, Inđônêxia, Xinhgapo và Malaixia được tự do, có thể làm cho nước lớn này chống lại nước lớn kia để có lợi cho mình. Và bên trong không gian tự do đó, chủ nghĩa khu vực có thể nổi lên như một sức mạnh tự nó, dưới hình thức Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Tuy nhiên, quyền tự do như vậy không thể tự nhiên mà có. Vì tình thế đối đầu căng thẳng đang diễn ra giữa Mỹ và Trung Quốc – mà mở rộng sang một loạt phức tạp các chủ đề từ thương mại đến cải cách tiền tệ đến an ninh mạng đến sự giám sát tình báo – cuối cùng đang đe dọa thay đổi theo hướng có lợi cho Trung Quốc ở Đông Á, phần lớn là do tính chất trung tâm về địa lý của Trung Quốc ở khu vực này. 

Tổng kết toàn diện nhất về cảnh quan địa-chính trị mới của Châu Á không phải đến từ Oasinhtơn hay Bắc Kinh, mà từ Canbơrơ. Trong một bài viết dài 74 trang được xuất bản năm 2010 có tựa đề “Sự chuyển giao quyền lực: tương lai của Ôxtrâylia giữa Oasinhtơn và Bắc Kinh”, Hugh White, giáo sư nghiên cứu chiến lược tại trường Đại học Quốc gia Ôxtrâylia, miêu tả đất nước của ông là một cường quốc “nguyên trạng” tinh túy – một cường quốc hết sức muốn tình hình ở châu Á vẫn duy trì đúng như trên thực tế, với Trung Quốc tiếp tục phát triển để Ôxtrâylia có thể buôn bán ngày càng nhiều với nước này, trong khi Mỹ vẫn là “cường quốc mạnh mẽ nhất ở châu Á”, để là “người bảo vệ cuối cùng” của Ôxtrâylia. Nhưng như White viết, vấn đề là cả hai điều này không thể tiếp tục. Châu Á không thể tiếp tục thay đổi về mặt kinh tế mà không cần phải thay đổi về mặt chính trị và chiến lược; gã khổng lồ kinh tế Trung Quốc đương nhiên sẽ không hài lòng với sự vượt trội về quân sự của Mỹ ở châu Á. 

Trung Quốc muốn gì? White thừa nhận rằng người Trung Quốc có thể mong muốn ở châu Á một loại đế chế theo phong cách mới mà Mỹ đã sắp đặt ở bán cầu Tây một khi Oasinhtơn đã đảm bảo sự thống trị đối với Vịnh Caribê (như Bắc Kinh hy vọng nước này sẽ thống trị đối với Biển Đông). Theo lời của White, đế chế kiểu mới này có nghĩa là các nước láng giềng của Mỹ “ít nhiều được tự do điều hành đất nước của chính họ”, ngay cả khi Oasinhtơn khăng khăng rằng các quan điểm của mình sẽ được “xem xét đầy đủ” và được ưu tiên hơn so với quan điểm của các cường quốc bên ngoài. Vấn đề với mô hình này là Nhật Bản, nước có thể không chấp nhận sự bá quyền của Trung Quốc, dù mềm mỏng thế nào. Điều đó để lại mô hình Sự hòa hợp của châu Âu, trong đó Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản và Mỹ và có thể một hay hai nước khác sẽ cùng ngồi thảo luận về sức mạnh châu Á một cách ngang bằng. Nhưng Mỹ có chấp nhận hay không một vai trò khiêm tốn như vậy, vì nước này đã gắn sự thịnh vượng và sự ổn định của châu Á với địa vị đứng đầu của mình? White cho rằng đứng trước sức mạnh đang nổi lên của Trung Quốc, sự chi phối của Mỹ từ nay trở đi có thể có nghĩa là sự bất ổn cho châu Á. 

Sự chi phối của Mỹ được dự đoán trên quan điểm rằng bởi vì Trung Quốc độc đoán ở trong nước, nước này sẽ hành động “một cách không thể chấp nhận được ở bên ngoài”. Nhưng có thể không phải như vậy. Quan niệm của Trung Quốc về bản thân mình là một cường quốc ôn hòa, không mang tính bá quyền, một cường quốc không can thiệp vào triết lý nội bộ của các nước khác theo cách mà Mỹ vẫn làm – bằng kiểu đạo đức bao biện của mình. Bởi vì Trung Quốc tự xem mình là Vương quốc trung tâm, cơ sở sự thống trị của nước này là tính trung tâm vốn có của họ đối với lịch sử thế giới, chứ không phải bất cứ hệ thống nào mà họ tìm cách xuất khẩu. 

Nói cách khác, Mỹ, chứ không phải Trung Quốc, có thể là một vấn đề trong tương lai. Chúng ta có thể thực sự quan tâm quá nhiều đến bản chất nội tại của chế độ Trung Quốc và tìm cách hạn chế sức mạnh của Trung Quốc ở bên ngoài bởi vì chúng ta không thích các chính sách trong nước của nước này. Thay vào đó, mục đích của Mỹ ở châu Á cần phải là làm cân bằng chứ không phải là thống trị. Đó chính xác là bởi vì quyền lực cứng vẫn là chìa khóa cho các mối quan hệ quốc tế mà chúng ta phải tạo không gian cho Trung Quốc đang trỗi dây. Mỹ không cần phải tăng cường sức mạnh hải quân của mình ở Tây Thái Bình Dương, nhưng nước này cũng không thể giảm đáng kể sức mạnh này. 

Việc mất đi một nhóm tàu sân bay của Mỹ ở Tây Thái Bình Dương do những sự cắt giảm ngân sách hay sự tái triển khai sang Trung Đông có thể gây ra các cuộc thảo luận căng thẳng trong khu vực này về sự sa sút của Mỹ và kết quả là cần phải có những sự sửa đổi và các thỏa thuận phụ với Bắc Kinh. Một tình huống tối ưu là sự hiện diện của hải quân và không quân Mỹ ít nhiều ở mức độ hiện nay, ngay cả khi Mỹ làm tất cả trong quyền lực của mình để hình thành các mối quan hệ thân mật và có thể dự đoán được với Trung Quốc. Theo cách đó qua thời gian Mỹ có thể điều chỉnh cho thích nghi với hải quân biển khơi của Trung Quốc. Trong các vấn đề quốc tế, phía sau tất cả các câu hỏi về đạo đức là các câu hỏi về sức mạnh. Sự can thiệp nhân đạo ở Bancăng chỉ có thể có bởi vì chế độ Xécbi là yếu kém, không giống như chế độ Nga, từng phạm các tội ác quy mô tương tự ở Chesnia trong khi phương Tây chẳng làm gì cả. Ở Tây Thái Bình Dương trong các thập kỷ sắp tới, đạo đức có thể có nghĩa là từ bỏ một số lý tưởng được ưa thích nhất của chúng ta vì lợi ích của sự ổn định. Chúng ta có thể làm gì khác nữa để tạo không gian cho Trung Quốc gần như là độc đoán khi quân đội của họ mở rộng? Bản thân cán cân quyền lực, thậm chí còn hơn cả các giá trị dân chủ của phương Tây, thường là sự bảo vệ tốt nhất cho quyền tự do. Đó cũng sẽ là một bài học về Biển Đông trong thế kỷ 21 – một bài học khác mà những người theo chủ nghĩa lý tưởng không muốn nghe./.

  Theo Foreignpolicy (số 9-10/2011)

 Hương Trà (gt)

 

Bài nghiên cứu của hai học giả Trung tâm Tài nguyên và An ninh Đại dương Quốc gia Úc, Đại học  New South Wales, Úc phân tích ba lĩnh vực trong vấn đề Biển Đông: địa chính trị, phát triển hải quân và chiến lược.  Trong đó nghiên cứu cụ thể  về việc Trung Quốc phản đối các hoạt động quân sự ở vùng đặc quyền kinh tế nhằm thể hiện quyết tâm tăng cường vị thế chiến lược tại Biển Đông.

 

An ninh hàng hải ở Biển Đông đang phải đối mặt với một loạt các thách thức, từ các mối đe dọa ở mức độ thấp mang tính phi truyền thống đến các tính toán mang tính chiến lược chính trị truyền thống, bao gồm tiềm năng xung đột giữa các quốc gia trong khu vực đối với các vùng lãnh thổ hoặc tài nguyên biển và khả năng xung đột giữa các cường quốc. Bài viết này tập trung vào các tuyến giao thông chính trên biển ở Biển Đông, sự phát triển hải quân trong khu vực, và một nghiên cứu tình huống về việc Trung Quốc phản đối các hoạt động quân sự ở vùng đặc quyền kinh tế ở Biển Đông. Bài viết đưa ra lập luận rằng Bắc Kinh đang lại một lần nữa thể hiện một thái độ quyết tâm để tăng cường vị thế chiến lược của mình ở Biển Đông trong khi các quốc gia khác trong khu vực cũng đang khẳng định yêu sách và phát triển khả năng hải quân của họ.

Giới thiệu

Nền trật tự và an ninh tốt ở Biển Đông đang phải đối mặt với một loạt các thách thức, từ các mối đe dọa ở mức độ thấp mang tính phi truyền thống đối với môi trường và sự thịnh vượng kinh tế của các cộng đồng nhỏ ven biển vốn phụ thuộc vào biển; đến các mối lo ngại mang tính truyền thống hơn về cướp biển và các loại hình tội phạm khác trên biển; cho đến các tính toán chính trị, bao gồm tiềm năng xung đột giữa các quốc gia trong khu vực đối với các vùng lãnh thổ đang tranh chấp, quyền tài phán trên biển, và các tài nguyên biển có liên quan.Ở mức cao nhất của các mối đe dọa, khả năng xung đột giữa các cường quốc cũng vẫn luôn hiện hữu ở vùng biển quan trọng như vậy mà liên quan đến những tuyến liên giao thông trên biển tấp nập và quan trọng nhất thế giới.

Có rất nhiều lí do, ít nhất là trên lí thuyết, giải thích tại sao các nỗ lực nhằm giải quyết và cải thiện các thách thức đối với trật tự, an ninh, và phúc lợi ở một vùng biển nửa kín, mà đa số các thách thức đó lại mang tính truyền thống, cần phải được chia sẻ một cách hợp tác giữa các quốc gia ven biển. Tuy nhiên, các vấn đề nhạy cảm chính trị có liên quan ở khu vực Đông Nam Á, mà tại đó các lợi ích quốc gia thường xung đột với nhau, hoặc ít nhất là khác biệt nhau cũng nhiều như được chia sẻ, đã khiến cho việc đạt đến một “thể chế hàng hải ổn định” như Michael Leifer đã mô tả vào năm 1991 trở nên vô cùng khó trở thành hiện thực.[1] Biển Đông là một trường hợp khó khăn chủ yếu là do địa lý phức tạp và hệ quả của những bế tắc về quyền tài phán. Hơn nữa, các quan điểm và cách giải thích không thống nhất về luật biển của cả các quốc gia ven biển và quốc gia sử dụng đã khiến cho Công ước LHQ về Luật Biển (UNLOS)[2] trở thành một cơ sở không vững chắc cho việc thành lập nên một thể chế hàng hải ổn định như của Leifer.[3]

Thêm vào đó, khu vực này đang ngày càng trở nên bất ổn do tình trạng không chắc chắn và vận động về chiến lược, với sự trỗi dậy của Trung Quốc và tính cương quyết ngày càng tăng của nước này đã tác động mạnh mẽ tới các tranh chấp lãnh thổ lâu năm và các mối thù địch truyền thống. Để giải quyết các khía cạnh chiến lược và hải quân của an ninh Biển Đông, bài viết này đã chọn ra ba trong số rất nhiều lĩnh vực để phân tích chi tiết: địa lý chiến lược, phát triển hải quân và chiến lược, và các tình hình tranh cãi gần đây về các hoạt động quân sự ở vùng đặc quyền kinh tế (EEZ).

Địa lý Chiến lược

Biển Đông là một không gian lớn nối liền khu vực nam Trung Quốc và Đài Loan với khu vực Đông Nam Á bán đảo và quần đảo. Biển Đông cũng cấu thành một khu vực thiết yếu của tuyến thương mại trên biển: cả Châu Âu và Trung Đông tới Bắc Á; Đông Nam Á tới Bắc Á; và phần lớn của Đông Nam Á tới Thái Bình Dương và Bắc Mỹ.[4] Địa lý của khu vực Biển Đông là một yếu tố quan trọng trong việc phân tích chiến lược. Vị trí trung tâm của nó ở Đông Á khiến nó có tầm quan trọng đối với giao thông thương mại và chiến lược. Sự phức tạp của nó mang lại mối hiểm nguy thực tế đối với an toàn hàng hải và hiểm nguy chính trị với vai trò là một tranh chấp quốc tế. Trên thực tế, các đặc tính chính trị, văn hóa, dân tộc, lịch sử và chiến lược khác nhau của các quốc gia ven biển đã mang lại các tiềm năng về các tranh chấp hoặc xung đột không thường trực.

Biển Đông được bao quan bởi tám chính thể ven biển: Brunei, Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Philippine, Singapore, Đài Loan và Việt Nam cũng như Campuchia và Thái Lan trong vùng Vịnh Thái Lan. Các giới hạn địa lý của Biển Đông được xác lập một cách không rõ ràng và ở một mức độ nào đó còn bị tranh cãi. Ví dụ, Tổ chức Thủy văn học Quốc tế (IHO), đã cố gắng chỉnh sửa ấn phẩm về giới hạn của Biển Đông được phát hành năm 1953 trong hơn 20 năm qua.[5] Ấn phẩm tái bản năm 2002 của tổ chức này về Các giới hạn của Đại dương và Biển vẫn chỉ đang ở dạng dự thảo.[6]  Phiên bản dự thảo năm 2002 đã loại trừ các khu vực quan trọng được nêu trong phiên bản năm 1953: biển Natuna ở phía Nam (bản sửa đổi này dường như đã ước tính các đường cơ sở của Indonesia); Vịnh Bắc Bộ ở phía tây (bên cạnh Vịnh Thái Lan vốn đã bị loại trừ từ trước); và Eo biển Đài Loan ở phía bắc.[7] Bài viết này không đưa ra quan điểm về giới hạn của Biển Đông, mà chỉ lưu ý tính chất chưa rõ ràng của việc xác định nó.[8] Tuy nhiên, cho dù giới hạn chính xác có được vẽ ở đâu, thì biển Đông cũng là một vùng biển rộng lớn và bao trùm một diện tích ước lượng khảng 2,7 đến 3 triệu kilomet vuông.

Những nút thắt cổ chai

Địa hình phức tạp của Biển Đông, chủ yếu do tính chất quần đảo của các rìa đông và nam của nó, đồng nghĩa với việc hầu hết các điểm vào và ra chủ yếu cho hoạt động hàng hải đều hẹp và là “các nút thắt cổ chai” theo ngôn ngữ của an ninh hàng hải. Một số tuyến đường rất hẹp và nguy hiểm, trong khi số khác thì không. Nổi bật nhất trong số các nút thắt này bao gồm:[9]

Eo biển Singapore và Malacca – tuyến đường ngắn nhất nối Biển Đông với Ấn Độ Dương, thông qua Biển Andaman;

Eo biển Karimata – nối với Biển Java và sau đó là các Eo biểm Sunda và Lombok;

- Eo biển Balabac – nối với phần phía nam của Biển Sulu (phía nam Palawan) và sau đó với Thái Bình Dương qua Eo biển Surigao và Biển Philippin;

Eo biển Mindoro – nối qua Eo biển Apo Đông và Cuyo Đông với khu vực phía bắc của Biển Sulu;

- Lộ tuyến Đảo Verde – tuyến đường nối tới Biển Sulu thông qua Eo Biển Cuyo Đông và tới Biển Philippin và Thái Bình Dương thông qua Eo biển San Bernadino;

Kênh Bashi và Kênh Balingtang – nối với Biển Philippin và Thái Bình Dương giữa Đài Loan và Luzon; và

Eo biển Đài Loan.

Các Tuyến Giao thông trên Biển(SLOCs)

Như đã nêu ở trên, Biển Đông là một trong những tuyến đường nhộn nhịp và quan trọng nhất thế giới. Rất khó để có được dữ liệu chất lượng về thông thương qua khu vực này. Tuy nhiên, một vài chỉ số thường được trích dẫn bao gồm việc thương mại dọc Biển Đông liên quan đến gần một nửa trọng tải các đội tàu thương mại toàn cầu. Đặc biệt, nó là tuyến đường quan trọng cho nguồn cung cấp năng lượng từ biển đến từ Trung Đông, Châu Phi, Châu Úc, và Đông Nam Á tới các nền kinh tế phụ thuộc vào nhập khẩu ở Đông Bắc Á. Dầu khí đặc biệt là một mặt hàng thiết yếu và mang tính chiến lược, khiến cho Biển Đông trở nên quan trọng đối với cả an ninh hàng hải và an ninh năng lượng. Một lượng đáng kể của khối lượng dầu và khí được vận tải thường niên đi qua Biển Đông: ước tính Nhật, Hàn Quốc, và Đài Loan mỗi nước nhập khẩu hơn 80% lượng dầu thô qua đường Biển Đông;  và, với Trung Quốc, hiện đang nhập khẩu hơn 50% tổng lượng dầu tiêu thụ, khoảng từ 80% đến 90% của lượng nhập khẩu đó là đi qua đường Biển Đông.[10] Định lượng dầu, khí và các nguồn năng lượng khác được nhập khẩu qua những SLOC này dự kiến sẽ tăng một cách đáng kể trong vài thập kỷ tới.

Như đã nêu ở trên, không hề có một tuyến đường duy nhất, mà có rất nhiều, tùy thuộc vào xuất xứ và nơi đến của các chuyến hàng, hướng đi, và thời điểm trong năm cũng như tình trạng thời tiết. Tuyến đường quan trọng nhất trên biển là tuyến vào và ra khỏi Biển Đông qua các Eo biển Malacca và Singapore, hai eo biển này sẽ còn đón nhận thêm nhiều chuyến hàng hơn nữa trong thời gian tới, bất kể các tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Chẳng hạn, trong thời gian gần đây, số lượng các tàu buôn quốc tế đi qua Eo biển Malacca đã tăng từ khoảng 44.000 trong năm 1999 lên đến hơn 70.000 vào năm 2007.[11]

Tuy nhiên, tuyến đường tiếp theo sau khi một con tàu đã đi qua Eo biển Malacca và Singapore (hoặc đi theo lộ tuyến đến các eo biển này), có thể sẽ khác nhau tùy thuộc vào các yếu tố được nêu ở trên. Thông thường các tàu rời khỏi Eo biển Singapore, và đi về hướng đông bắc, qua phía tây Đảo Anambas của Indonesia, giữa Rạng Charlotte và Prince Consort (hay bãi Tây Vệ trong tiếng Trung Quốc) của quần đảo Trường Sa, giữa Bãi Đá ngầm Bombay (hay Lãng Hoa tiêu trong tiếng Trung Quốc) của Quần đảo Hoàng Sa và Rạng Macclesfield (hay Quần đảo Trung Sa trong tiếng Trung Quốc) và sau đó tới Hồng Công hoặc đi qua Eo biển Đài Loan; hoặc tới phía đông của Rạng Macclesfield và sau đó đi qua Kênh Bashi hoặc Balingtang đến Nhật Bản hay các nước Đông Bắc Á khác. Các tuyến đường khác nối Singapore với Thái Bình Dương, bao gồm tuyến đường đi qua Rạng Prince Consort và sau đó đi qua Bãi Đá ngầm Bắc Danger (hay Quần đảo Song Tử theo tiếng Trung Quốc) của Quần đảo Trường Sa tới Eo biển Đảo Verde của Philippin và sau đó tới Eo biển San Bernadino của Philippin; tuyến đường đi qua gần bờ tây Borneo và sau đó qua Lộ tuyến Palawan (giữa Palawan và quần đảo Trường Sa) tới Lộ tuyến Đảo Verde; hay tuyến đường một lần nữa đi qua gần bờ tây Borneo, thông qua Eo biển Balabac, Biển Sulu, và Eo biển Surigao (hay Eo biển Basilan và Biển Celebes).[12] Trong khi SLOC chính đi theo hướng bắc-nam, nhưng cũng có các tuyến quan trong theo hướng đông-tây kết nối Đông Nam Á với Bắc Mỹ và Kênh Panama. Một số tuyến đường nối Hồng Công và các cảng khác ở phía nam Trung Quốc với các cảng của California và Kênh Panama cũng đi qua khu vực phía bắc của Biển Đông, nối với Thái Bình Dương thông qua Kênh Balintang.[13]

Các Eo biển Lombok và Sunda cũng là các nhánh dẫn vào Biển Đông. Eo biển Lombok là một tuyến đường quan trọng cho các tàu có trọng tải lớn với tầm nước quá sâu để có thể đi qua đường Eo biển Malacca. Do đó, việc vận chuyển tàu thuyền có thể đi qua Biển Java và Eo biển Karimata để đi vào Biển Đông qua một trong hai eo biển trên. Tuy nhiên, không phải tàu thuyền nào đi qua Eo biển Lombok cũng đều đi qua Biển Đông, do có nhiều tàu thuyền đi qua Eo biển Makassar và Biển Celebes để đi đến Thái Bình Dương. Tuy nhiên, tuyến đường Lombok-Makassar-Celebes lại được sử dụng, chẳng hạn, bởi tàu chạy khí hóa lỏng của Úc để đến Tỉnh Quảng Đông ở miền nam Trung Quốc, sau đó đi qua Tuyến Sibutu và Biển Sulu và thông qua Eo biển Mindoro tới Biển Đông. Tuyến đường Biển Đông – Eo biển Mindoro cũng được sử dụng bởi tàu thuyền đi về phía nam từ Thượng Hải đi tới Eo biển Torres.[14]

Mặc dù các quần đảo tranh chấp ở Biển Đông chắn ngang tuyến SLOC chính, nhưng tàu thuyền đi về hướng Đông bắc Á hầu hết lại chạy qua phía tây của Trường Sa – một khu vực cần phải tránh vì lí do rủi ro hàng hải – đi qua giữa Hoàng Sa và Bãi cạn Scarborough (hay Hoàng Nham đảo trong tiếng Trung Quốc) và gần Đảo Pratas (hay Quần đảo Đông Sa trong tiếng Trung Quốc) về phía bắc, đi tiếp qua Eo biển Đài Loan hoặc các Kênh Bashi hoặc Balintang. Tuyến Palawan nằm dọc theo Trường Sa về phía đông của quần đảo này.

Các SLOC của Biển Đông không chỉ quan trọng đối với thương mại. Chùng còn tạo thành các tuyến đường thiết yếu và ngắn nhất để nối tây Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương cho các hải quân của khu vực. Đặc biệt là Bộ Tư Lệnh Hoa Kỳ ở Thái Bình Dương với các căn cứ hải quân ở Trân Châu Cảng, Guam và Nhật Bản, có trách nhiệm trên khắp Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Chẳng hạn, có thể thấy trong các giai đoạn đầu của Chiến dịch Tự do Lâu dài chống lại Al-Qaeda và Taliban ở Afghanistan vào cuối năm 2001 và 2002, tư trang và quân nhu của hải quân Mỹ đã từ các căn cứ đó được vận chuyển vào Ấn Độ Dương qua Eo biển Malacca. Hải quân của các nước khác trong khu vực cũng sử dụng Biển Đông như một khu vực hoạt động cũng như trung chuyển.

Ít nhất là trên lý thuyết, an ninh của SLOC là mối quan ngại chung của tất cả các quốc gia ven biển, hàng hải và thương mại. Hợp tác ở Châu Á để nâng cao an toàn và an ninh tàu thuyền khỏi cướp biển và các rủi ro hàng hải và thậm chí là mối đe dọa tiềm tàng của khủng bố đang ngày càng tăng, mặc dù chậm. Việc này liên quan đến các biện pháp hợp tác quốc tế, khu vực, tiểu khu vực, và song phương, tuy nhiên không một biện pháp nào trong số đó có thể cải thiện được tình hình căng thẳng chiến lược trong khu vực.[15] Ví dụ như Trung Quốc, mặc dù có lợi ích lớn trong sự an toàn của tàu thuyền qua Biển Đông và các Eo biển có liên quan, đã duy trì một quan điểm khá là truyền thống về an ninh của SLOC, với mối quan ngại chính về khả năng Mỹ phong tỏa tuyến tàu thuyền đi đến Trung Quốc trong trường hợp có xung đột về Đài Loan.

Phát triển Hải quân và Chiến lược

Mặc dù ngân sách quốc phòng của hầu hết các nước Đông Nam Á đều bị ảnh hưởng tiêu cực bởi cuộc khủng hoảng kinh tế Châu Á năm 1997-1998, nhưng trong thời gian gần đây chi tiêu quốc phòng ở khu vực này đang ngày càng tăng. Vẫn chưa thể biết rõ rằng liệu cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay có tác động lâu dài đến ngân sách quốc phòng hay không, nhưng cho đến nay rất nhiều nước vẫn tỏ ra miễn nhiễm với nó. Trong số các cường quốc chính, ngân sách quốc phòng của Trung Quốc và Ấn Độ đặc biệt đã liên tục tăng với tốc độ cao trong thập kỷ vừa qua, với việc Trung Quốc có ngân sách quốc phòng tăng với chỉ số hai con số liên tục trong hai thập kỷ vừa qua.[16]

Động lực Hiện đại hóa Hải quân

Có một số yếu tố thúc đẩy, hoặc ít nhất là ảnh hưởng tới, việc hiện dại hóa hải quân, trong đó bao gồm đơn giản là khả năng trang trải phí tổn cho các năng lực mới. Một yếu tố hàng đầu ở Biển Đông là các tranh chấp liên quan đến các vùng lãnh thổ và, hệ quả của nó, quyền tài phán trên biển tiềm tàng mà các vùng lãnh thổ đó có thể được hưởng, bao gồm các tài nguyên sinh vật và khoáng sản có liên quan. Vẫn tồn tại những khúc mắc về mức độ tài nguyên hydrocarbon ở vùng trung tâm của Biển Đông. Một yếu tố khác thường bị bỏ qua là tầm quan trọng của Biển Đông với vai trò là nơi đánh bắt cá, với giá trị 10% của tổng sản lượng đánh bắt cá toàn cầu,[17] với lượng đánh bắt thường niên rơi vào khoảng 5 triệu tấn và đứng thứ tư trong tổng số 19 khu vực đánh bắt cá chính của thế giới.[18] Hải sản ở đây cung cấp một lượng lớn nhu cầu protein của người dân trong khu  vực và cũng là một nguồn lương thực quan trọng. Ước tính trong khu vực Đông Nam Á có khoảng 10 triệu ngư dân, với khoảng 100 triệu người phụ thuộc vào nghề đánh cá trong khu vực để đáp ứng nhu cầu về kinh tế.[19] Do đó không có gì là lạ khi mà hầu hết các xung đột ở cấp độ thấp ở và xung quanh các quần đảo tranh chấp đều liên quan đến ngành cá.

Một trong những con đường dẫn đến việc các nước yêu sách quân sự hóa các tranh chấp ở quần đảo Trường Sa là việc các binh lính chiếm đóng các đảo nhỏ và việc xây dựng các trạm quân sự. Việt Nam được cho là đã chiếm đóng khoảng 25 đảo nhỏ (bao gồm đảo Trường Sa, hay đảo Nam Uy trong tiếng Trung Quốc), Philippines chiếm 8 đảo (gồm đảo Thị Tứ hay Pagasa theo tiếng Tagalog, đảo Trung Nghiệp trong tiếng Trung), Malaysia 3, và Đài Loan chiếm đóng đảo lớn nhất (Itu Aba, hay Đảo Thái Bình trong tiếng Trung Quốc).[20] Trung Quốc được cho là đang chiếm đóng ít nhất 8 đảo: Bãi đá ngầm Subi (hay Chử Bí Tiêu trong tiếng Trung Quốc), Bãi Gaven (Nam Huân tiêu trong tiếng Trung), Bãi Johnson (Xích Qua tiêu), Bãi Kennan (Tây Môn tiêu), Bãi Fiery Cross (Vĩnh Thử tiêu), Bãi Cuarteron (Hoa Dương tiêu), Bắc Danger (Quần đảo Song Tử) và Bãi Vành Khăn (Mỹ Tế tiêu).[21] Các nguồn khác đã trích dẫn số đảo bị chiếm đóng vào khoảng từ 45 đến 58, mặc dù, như một nhà địa chất chính trị đã chỉ ra, chỉ có 36 trong số các đảo đó là nằm trên mặt nước lúc thủy triều lên.[22]

Các cuộc tranh chấp đảo làm xấu thêm sự chồng chéo vốn đã phức tạp của các yêu sách trên biển ở Biển Đông, mà tại đó rất nhiều các đường biên giới vẫn còn chưa được phân định và quyền tài phán đối với tài nguyên biển vẫn còn đang bị tranh chấp. Một yếu tố gây khó khăn nữa là các yêu sách mới trên biển đòi hỏi kéo dài các khu vực thềm lục địa, đặc biệt là đệ trình chung của Malaysia và Việt Nam lên Ủy bạn Ranh giới Thềm Lục địa của LHQ (CLCS),[23] và đệ trình của Việt Nam về khu vực phía bắc Biển Đông,[24] dẫn đến những phản ứng mạnh mẽ từ phía Trung Quốc.[25] Các quốc gia yêu sách khác nhiều khả năng cũng sẽ đi theo các yêu sách của riêng mình và khiến cho tình hình căng thẳng càng leo thang,[26] và cũng vì thế tác động đến sự phát triển hải quân.

Vai trò trung tâm của Trung Quốc với tư cách là một quốc gia yêu sách, và các mối liên kết giữa lợi ích của nước này ở Biển Đông và sự phát triển sức mạnh biển của Trung Quốc cũng như tổng thể tham vọng bá chủ khu vực của nước này đã khiến cho các tranh chấp trở nên quan trọng hơn là giá trị bề nổi hạn chế của một vài đảo, đảo đá và đá ngầm nhỏ và rải rác – hay thậm chí là tiềm năng tài nguyên năng lượng. Trung Quốc từ lâu đã lo ngại về sự hiện diện chiến lược của các cường quốc ở Đông Nam Á, những nước có thể sẽ khai thác những điểm yếu của Trung Quốc ở trên biển để gây áp lực lên Trung Quốc từ phía ngoại vi đường biển phía nam của Trung Quốc. Do đó những tham vọng chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông bao gồm việc mở rộng phạm vi phòng thủ, ngăn chặn sự hiện diện của các cường quốc khác, chống lại các mối đe doạ đối với những lợi ích về lãnh thổ và hàng hải từ phía các quốc gia yêu sách khác, và cuối cùng là tìm kiếm các biện pháp kiểm soát trên biển ở khu vực để thực hiện tham vọng bá chủ của mình.

Hơn nữa, Trung Quốc cũng có lợi ích trong việc có khả năng kiểm soát các tuyến đường biển ở Đông Á, vừa để bảo đảm nguồn cung dầu và cũng là để đe dọa đường kinh tế huyết mạch của Đài Loan và Nhật Bản nếu cần thiết. Một sự hiện diện chiến lược thường trực ở Biển Đông, đặc biệt là nếu Trung Quốc có thể cưỡng chế thành công các yêu sách lãnh thổ của mình, rất có thể sẽ tạo điều kiện để nước này thực hiện những mục tiêu trên trong tương lai. Sự thành lập của các căn cứ, bắc giàn, và trạm tuần tra dọc các tuyến biển quan trọng đã được gọi là chiến lược “chuỗi hạt trai” trong một báo cáo của Mỹ với tựa đề là Tương lai Năng lượng ở Châu Á, do các cố vấn Booz Allen Hamilton của Văn phòng Bộ Quốc phòng thực hiện.[27] Một dãy các cảng, căn cứ, và trạm nghe kéo dài từ cửa Vịnh Ba Tư vào đến Biển Đông đã cấu thành chuỗi “hạt trai” này. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số hoài nghi về trạng thái và việc sử dụng của một số phương tiện trên.[28]

Mặc dù các tàu thuyền phải tránh chính Quần đảo Trường Sa khi qua lại, nhưng căn cứ ở các đảo của nó có thể được sử dụng để làm gián đoạn thông thương của tàu thuyền, giống như vào thời Chiến tranh Thế giới lần thứ Hai khi Nhật Bản đặt các tàu ngầm ở đảo Ba Bình để phục vụ mục tiêu này.[29] Tuy nhiên, diện tích nhỏ của các hòn đảo, kể cả những hòn đảo lớn nhất, đồng nghĩa với việc chúng sẽ có giá trị chiến lược không đáng kể trong các cuộc xung đột lớn. Thay vào đó, chúng còn rất dễ bị công kích, và thậm chí còn không thể bảo vệ được trước một đợt tấn công tập trung. Giá trị chiến lược của nó chỉ duy trì được chủ yếu vào thời bình, với vai trò là các trạm tuần tra hay bắc giàn, và với vai trò là các dấu hiệu chính trị về ý định đối với các yêu sách lãnh thổ và quyền tài phán trên biển.

Tuy nhiên, khi xem lại khái niệm về chuỗi hạt trai, hai nhà nghiên cứu của Đại học Hải chiến Mỹ đã lập luận rằng các chiến lược gia Trung Quốc xem nước này như một cường quốc thương mại đang đi lên, thậm chí là thế lực lớn nhất ở khu vực Biển Đông nhưng lại phải sống dưới cái bóng của một thế lực hải quân thống trị toàn cầu, một tình huống địa chính trị đòi hỏi phải thành lập “các căn cứ nối liền các tuyến giao thông trên biển” ở Biển Đông.[30] Trong suốt hơn ba thập kỷ Trung Quốc đã từ từ xây dựng các căn cứ quân sự của mình trên khắp Biển Đông, trong đó có quần đảo Trường Sa. Trong những năm gần đây, nước này đã tăng cường đáng kể các căn cứ quân sự, đặc biệt là trên Đảo Hải Nam và quần đảo Hoàng Sa. Cũng có các báo cáo cho thấy rằng Hải quân Quân Giải phóng Nhân dân (PLA) có ý định tăng cường lực lượng trong khu vực, với nhận định của một quan chức cấp cao của PLA rằng tình hình an ninh ở đây đang “rất nghiêm trọng”, đòi hỏi Trung Quốc phải cử thêm tàu tới khu vực tranh cãi và tăng cường quân sự hóa các đảo chiếm đóng ở Trường Sa, trong đó bao gồm việc xây dựng cảng cho tàu thuyền và sân bay ở Đá Vành Khăn, một bãi đá thuộc kiểm soát của Trung Quốc nằm phía trong vùng Đặc quyền Kinh tế mà Philippin yêu sách.[31]

Các chiến lược gia của Trung Quốc cũng lưu ý về tầm quan trọng địa chính trị của việc kiểm soát được Đài Loan và các đảo thuộc kiểm soát của Đài Loan ở Trường Sa nếu Trung Quốc muốn thiết lập một vị trí thống trị tới “cực nam của Biển Đông.”[32] Quan điểm này về Đài Loan, như một “cầu đổ bộ” để qua đó tiến hành thôn tính vùng biển Đông Nam Á, dường như là một phần trong một quan điểm lớn hơn về mặt địa chính trị của Trung Quốc về tầm quan trọng của Đài Loan, mà phần nào lý giải cho các nỗ lực của Trung Quốc kể từ thời kỳ đầu những năm 1990 nhằm phá hủy nền độc lập trên thực tế của Đài Loan và sau đó để nắm quyền kiểm soát quốc đảo này.[33]

Một động lực khác cho việc hiện đại hóa hải quân là khả năng rằng các yếu tố này đã dẫn đến việc các quốc gia ven biển ở Đông Nam Á thực hiện “phòng ngừa rủi ro” (hedging) ở một mức độ nào đó để đối phó với tình trạng không chắc chắn về mặt chính trị hoặc khả năng xảy ra xung đột lớn. Mặc dù rất ít được các quốc gia trong khu vực đề cập đến, nhưng cũng sẽ là hợp lý khi nhận định rằng hầu hết các tình huống có thể ảnh hưởng trực tiếp đến Biển Đông đều có liên quan đến Trung Quốc. Các khả năng này bao gồm một cuộc xung đột đối với Đài Loan, với Nhật Bản hay Mỹ, các động thái của Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa hoặc chống lại Việt Nam, hay các hệ quả bên ngoài của những bất ổn từ bên trong Trung Quốc.

Mặc dù ít có khả năng dẫn đến xung đột vũ trang, nhưng khu vực này cũng tồn tại nhiều quốc gia đối địch từ lâu đời. Một vài cuộc đối địch này mang tính lịch sử, như giữa Singapore với Malaysia; liên quan đến các tranh chấp về lãnh thổ hay vùng biển, hay như giữa Indonesia và Malaysia đối với khu vực phát triển ngoài khơi Ambalat ở bờ đông Borneo; hay cả hai, như yêu sách gần đây của Philippin đối với Sabah hay mối hiềm khích và ngờ vực lâu đời giữa Trung Quốc và Việt Nam. Các yếu tố về tôn giáo và dân tộc có thể cũng có vai trò trong các mối hiềm khích. Mặc dù rất nhiều quốc gia đối đầu thường không bao giờ thừa nhận việc đó, nhưng các mối quan hệ như vậy chính là các yếu tố trong việc hiện đại hóa quân sự. Rất nhiều yếu tố kích động cụ thể không nằm trong bản thân khu vực Biển Đông, nhưng với những tác động tới việc phát triển hải quân, chúng cũng có những mối quan hệ mật thiết với nền an ninh trong khu vực. Mặc dù khái niệm về một cuộc “chạy đua vũ trang” là đầy ẩn  ý và được sử dụng một cách mơ hồ bởi các nhà hoạch định chính sách, nhưng ở một chừng mực nào đó vẫn tồn tại yếu tố cạnh tranh trong quá trình xây dựng quân đội trong khu vực, dù là một vài trong số đó có phản ánh sự “đối đầu hữu nghị” trong cộng đồng Hiệp hội Các nước Đông Nam Á (ASEAN) thay vì tranh đấu chiến lược nguy hại đi chăng nữa.

Sự cần thiết phải giải quyết các vấn đề về cướp biển và cướp vũ trang trên biển, và mối đe dọa tiềm tàng về khủng bố trên biển là những động lực thúc đẩy việc tăng cường lực lượng an ninh ở một số quốc gia, đặc biệt là ba quốc gia ven biển ở Eo biển Malacca và Singapore cũng như Philippin. Tuy nhiên, các loại đe dọa này lại thể hiện rõ ràng nhất ở chính các eo biển trong trường hợp trước, và ở khu vực Biển Sulu-Celebes của vùng phía nam Philippin trong trường hợp sau chứ không phải ở Biển Đông. Dù vậy, gần đây vẫn có một số mối quan ngại rằng các cuộc tấn công của cướp biển đang ngày càng gia tăng ở khu vực  phía nam của Biển Đông, xung quanh quần đảo Riau, nơi mà các tàu thuyền thường thả neo để chờ nhập cảng Singapore, và xung quanh đảo Mangkai và Đảo Anambas.[34] Việc này có thể dẫn đến các nỗ lực lớn hơn để bảo đảm an ninh cho khu vực này, vốn là tuyến đường chính từ Singapore và các eo biển tới Đông Bắc Á.

Sự hiện đại hóa hải quân của các quốc gia trong khu vực Biển Đông không thể gán cho một yếu tố tác động riêng rẽ nào. Trong khi cá thể từng quốc gia có thể có các ưu tiên khác nhau, nhưng tất cả các vấn đề được thảo luận ở trên đều ảnh hưởng tới hầu hết các quốc gia ven biển ở Biển Đông ở các mức độ khác nhau. Tuy nhiên, tình trạng lỏng lẻo của quan hệ các nước lớn và sự trỗi dậy của Trung Quốc cần phải được xem như là những nhân tố đi đầu của các trang thiết bị quân sự tối tân được sản xuất, chẳng hạn như tàu ngầm.

Đặc điểm của Hiện đại hóa Hải quân

Một trong các đặc điểm của hiện đại hóa hải quân trong khu vực là sự phát triển của lực lượng tuần tra trên biển hay các tổ chức bán quân sự và dân sự giống kiểu lực lượng tuần duyên tập trung vào cưỡng chế hàng hải, an toàn, bảo vệ môi trường biển, và các nhiệm vụ phi quân sự khác trên biển. Các quốc gia trong khu vực Biển Đông có những tổ chức như trên bao gồm Brunei, Trung Quốc, Indonesia (có cảnh sát biển, nhưng đang xem xét việc hình thành lực lượng tuần tra trên biển), Malaysia, Philippin, Singapore, Đài Loan, và Việt Nam.[35] Lực lượng tuần tra của các nước khác, đặc biệt là Nhật Bản và Mỹ, cũng thường xuyên được cử xuống khu vực Biển Đông.

Tuy nhiên, một trong số các hệ quả của quá trình phát triển này là các lực lượng hải quân đã có thể tập trung nhiều hơn vào vai trò chiến đấu và các cuộc tranh chấp mà nhiều khả năng sẽ dẫn đến các cuộc xung đột vũ trang. Một số tiềm lực mới đang được bổ sung vào lực lượng của các quốc gia ở Biển Đông, trong đó bao gồm: tàu ngầm; lực lượng chiến đấu trên mặt nước mới hơn và lớn hơn; máy bay chiến đấu có khả năng hoạt động trên biển và máy bay tuần tra trên biển; và tên lửa chống tàu hiện đại. Sự mở rộng của các hạm đội tàu ngầm điện-diesel trong khu vực là đặc biệt đáng kể, với các nước vốn đã sử dụng chúng nay đang hiện đại hóa lực lượng của mình còn các quốc gia khác thì bắt đầu vận hành chúng lần đầu tiên.

Chẳng hạn như Singapore, nước này đã tiến hành sử dụng bốn chiếc tàu ngầm đầu tiên hạng ex-Swedish Challenger trong vòng vài năm gần đây, đồng thời bổ sung thêm hai chiếc hạng ex-Swedish Vastergotland (A-17). Đặc biệt, tàu A-17 sẽ là những chiếu tàu ngầm đầu tiên của khu vực được trang bị hệ thống chuyển động khí độc lập cho phép thực hiện các hoạt động dưới lòng nước mà không cần phải nổi lên trong hơn hai tuần. Chiếc A-17 đầu tiên nhiều khả năng sẽ bắt đầu phục vụ cho Singapore vào cuối năm 2010, và có thể sẽ thay thế một trong các mẫu cũ hơn.[36] Hải quân của Malaysia cũng sẽ lần đầu tiên được trang bị tàu ngầm khi một trong hai chiếc Scorpene Pháp-Tây Ban Nha đi vào hoạt động vào năm 2010.[37] Đặc biệt quan trọng là Việt Nam đã ký kết hợp đồng để mua sáu chiếc thuyền hạng Kilo của Nga,[38] đây sẽ là những chiếc tàu ngầm đúng nghĩa đầu tiên mà Hà Nội vận hành. Quyết định này có thể đã bị ảnh hưởng bởi mối quan ngại của Hà Nội đối với quan điểm ngày càng cứng rắn của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông. Trong khi đó thì Indonesia đang tìm cách để tái đầu tư cho lực lượng tàu ngầm đang bị suy yếu nghiêm trọng trong khi Thái Lan cũng đang tỏ ra quan tâm tới việc trang bị tàu ngầm; mặc dù tham vọng của lực lượng hải quân của cả hai nước này đều bị ảnh hưởng tiêu cực do thiếu vốn.[39] Đài Loan vẫn tiếp tục theo đuổi các lựa chọn để thay thế hạm đội tàu ngầm nhỏ bé và cũ kỹ của mình, bất chấp các cản trở về chính trị đối với nước này trong những năm gần đây.

Cũng cần chỉ ra rằng một vài Quốc gia ở Biển Đông đã đưa vào sử dụng các tàu chiến và tàu chiến trên mặt nước cỡ nhỏ trong những năm gần đây, trong đó có Brunei,[40] Indonesia, Malaysia, và Singapore, trong khi Trung Quốc và Đài Loan đã bổ sung các hạm đội chiến đấu trên mặt nước cho riêng mình. Việc đưa vào sử dụng nhiều hơn các loại tàu này, kể cả của các lực lượng hải quân vốn có ít hoặc không có kinh nghiệm vận hành các đơn vị tàu chiến, đã cho thấy sự tập trung ngày càng cao cho khu vực ngoài khơi trong các ưu tiên quân sự. Cùng với các lực lượng hải quân sử dụng khu vực Biển Đông thường xuyên, một thực tế khó tránh khỏi là giao thông và hoạt động hải quân cũng vì thế mà có nhiều khả năng sẽ gia tăng trong tương lai.

Một vài quốc gia trong khu vực cũng đang phát triển các tàu boong phẳng lội nước, nhiều khả năng sẽ xuất hiện ở Biển Đông, đặc biệt là để phản ứng với các thiên tai và khủng hoảng nhân đạo. Thái Lan từ lâu đã có tàu chở máy bay cỡ nhỏ, mặc dù ít khi hoạt động. Hải quân Mỹ có lực lượng tàu sân bay và tàu lội nước cỡ lớn. Ấn Độ có tàu chở vận hành đường dài. Nhật Bản có tàu chở máy bay trực thăng cỡ nhỏ hạng Osumi và sẽ được bổ sung bởi hạng Hyuga 18.000 tấn. Hàn Quốc đã lắp đặt hai tàu chở trực thăng hạng Tok-do cỡ 19.000 tấn. Úc đang sản xuất hai tàu trạm đáp trực thăng (LHD) cỡ lớn (c. 27.000 tấn) với thiết kết Tây Ban Nha.[41] Trung Quốc được kỳ vọng sẽ xây dựng các tàu kiểu LHD hoặc tàu có khả năng chở máy bay.

Một trong những sự phát triển năng lực đáng chú ý hơn, mà cũng cho thấy những ưu tiên dành cho khu vực ngoài khơi, là việc phổ biến các loại tên lửa hành trình chống tàu hiện đại, dù là được phóng từ đất liền, trên không, hay trên biển (từ các tàu nổi hay tàu ngầm). Tên lửa hành trình tấn công trên mặt đất (LACM) cũng đã bắt đầu xuất hiện trong danh sách của các quốc gia trong khu vực, đáng chú ý nhất là Trung Quốc và Đài Loan. Năng lực tấn công trên mặt đất của một số quốc gia ngoài khu vực cũng có liên quan tới tình hình chiến lược, đặc biệt là của Mỹ với sự phòng ngừa đối với sự hiếu chiến có thể có của Trung Quốc. Những quốc gia khác cũng phát triển những năng lực trên nhằm phục vụ an ninh ở Biển Đông bao gồm Ấn Độ, và gần đây nhất là Úc với công bố trong Sách Trắng Quốc phòng năm 2009 rằng ba chiếc tàu khu trục Aegis mới (sẽ được đưa vào sử dụng trong 5 năm tới) và các tàu chiến, tàu ngầm thế hệ tiếp theo sẽ được trang bị để chở LACM, nhiều khả năng sẽ là loại U.S. Tomahawk.[42]

Ở Trung Quốc, quá trình hiện đại hóa và mở rộng hải quân diễn ra tương đối chậm nhưng chắc chắn, tạo ra những cải tiến thực sự trong sức mạnh hải quân của Trung Quốc.[43] Trung Quốc đã đưa vào sử dụng một số hạng mục tàu nổi và tàu chìm mới trong thập kỷ quả, trong đó có: ba hạng tàu khu trục nội địa và một của Nga; hai hạng tàu ngầm diesel-điện nội địa và một của Nga; và tàu ngằm tấn công hạt nhân (SSN) và tàu chở tên lửa đạn đạo (SSBN). Lực lượng Không Hải quân PLA và Lực lượng Không quân PLA đều đã đưa vào sử dụng máy bay chiến đấu đa chức năng Su-30 của Nga với chức năng chính là thủy chiến cùng với máy bay thủy chiến JH-7 và B-6 của nội địa.[44]

Người ta ước tính rằng có khoảng từ 25-30 đơn vị chiến đấu chính trên mặt nước có căn cứ là Hạm đội Nam Hải của Trung Quốc (trên tổng số khoảng 80 tàu), gồm cả tàu khu trục hạng Loại 052C Luyang II mới và hạng 052B Luyang I được trang bị tên lửa điều khiển của nội địa, và tàu chiến thuộc hạng mục mới mới nhất – Loại 053A Jiangkai II. Đáng chú ý là hầu hết các tàu chiến và tàu vận chuyển lội nước của hải quân PLA đều có căn cứ là Hạm đội Nam Hải, bao gồm 11 trên tổng số 19 tàu đáp hạng nặng 072 II và 072 III. Tàu sân bay (LPD) Loại 071 cỡ lớn duy nhất (khoảng 20.000 tấn) được đưa vào Hạm đội Hải Nam vào cuối năm 2007 được đặt ở căn cứ hải quân Trạm Giang thuộc Tỉnh Quảng Đông.[45] Mô hình quân sự này cho phép Trung Quốc có thể nhanh chóng dàn quân lực lượng thủy quân lục chiến hay các lực lượng lục quân khác vào Biển Đông hay để chống Đài Loan.

Năng lực tấn công và phòng vệ của Trung Quốc có phạm vi rất rộng, kể cả khi không tính đến các trạm hải quân – vốn đã mang tính lưu động.[46]Rõ ràng là kể cả tính từ lục địa Trung Quốc thì toàn bộ Biển Đông giờ đây đã nằm trong phạm vi của lực lượng tên lửa thông thường và không quân của PLA. Với hai căn cứ không quân chính trên Đảo Hải Nam, cũng như các căn cứ trên Đảo Woody (hay Vĩnh Hưng đảo trong tiếng Trung Quốc, nơi dàn quân của máy bay chiến đấu và các loại máy bay khác) và các đảo khác thuộc quần đảo Hoàng Sa, bên cạnh các cơ sở thu thập tình báo và giao thông chính ở Hoàng Sa (và ở một mức độ thấp hơn ở Trường Sa) và trên Đảo Hải Nam,  Trung Quốc đã được trang bị đầy đủ để giám sát toàn bộ khu vực.[47]

Một tiến triển chiến lược quan trọng ở Biển Đông là sự mở rộng của căn cứ hải quân Ngọc Lâm ở Tam Á, điểm cực nam của Đảo Hải Nam. Vốn là căn cứ chính của tàu ngầm thông thường của Hạm Đội Nam Hải, căn cứ này đã được mở rộng đáng kể từ cuối những năm 1990. Giờ đây nó còn là căn cứ hạm đội Đội Tàu Chiến số 9 của Hạm đội Nam Hải, với hai bến tàu dài khoảng 1km, đồng nghĩa với việc nó có thể chứa đựng các tàu có kích cỡ rất lớn, kể cả loại tàu chở máy bay của Trung Quốc trong tương lai. Một tiến triển quan trọng khác là việc xây dựng căn cứ tàu ngầm hạt nhân, hay còn gọi là Căn cứ Tàu ngầm số 2, bao gồm ba bến tàu, một cơ sở tàu ngầm dưới lòng đất, và các cơ sở khử từ tàu ngầm. Lối vào cơ sở ngầm rộng 23m, có khả năng chứa đựng tất cả các loại tàu ngầm của Hải quân PLA. Hiệp hội các Nhà khoa học Mỹ nhận định rằng một trong các tàu ngầm tên lửa đạn đạo hạt nhân hạng Jin 094 của Hải quân PLA đang được đặt tại đó.[48] Vùng biển dẫn đến phía nam Đảo Hải Nam sâu hơn 5.000m và vì thế cho phép tuần tra bằng SSBN ở Biển Đông.[49] Tuy nhiên, nếu Trung Quốc muốn biến Biển Đông thành một pháo đài SSBN để hình thành một môi trường vận hành an ninh cho khả năng phản kích hạt nhân trên biển của mình[50] thì nước này sẽ cần phải có khả năng ngăn chặn các cường quốc kình địch khác vào khu vực, một điều khó có thể xảy ra. Tuy vậy, sự nhạy cảm của Trung Quốc đối với việc thăm dò ngoài khơi của khu vực vận hành SSBN và theo dõi các tàu ngầm của nước này nhiều khả năng có nguyên nhân từ vụ việc Impeccable xảy ra vào tháng 3 năm 2009 – được thảo luận ở phần dưới đây.

Quan điểm của Trung Quốc về tàu sân bay đã thay đổi đáng kể trong thời gian gần đây. Trong khi trước đây ý niệm về tàu sân bay cho hải quân PLA đã bị gạt bỏ, thì quan điểm giờ đây của Trung Quốc không chỉ là có thể  mà thậm chí còn là điều tất yếu. Tuyên bố của một số quan chức cấp cao của Hải quân PLA dường như đã xác nhận rằng một chương trình về tàu sân bay sẽ sớm được công bố.[51] Chẳng hạn, Thiếu tướng Giáo sư Trương Triệu Trung đã nêu trong tờ Global Times vào tháng 4 năm 2009 rằng “phát triển tàu sân bay sẽ là ưu tiên hàng đầu của chúng tôi.”[52] Hạm đội Nam Hải – có thể là Ngọc Lâm – nhiều khả năng sẽ là căn cứ điểm cho các tàu sân bay do có vị trí gần với các điểm tranh chấp mà tại đó năng lực triển khai sức mạnh là quan trọng, và cũng như gần các SLOC chính, cả vì lí do phòng vệ và ngăn chặn.

Hoạt động Quân sự ở vùng EEZ

Hoạt động quân sự của các nước ngoại lai trong các vùng biển thuộc quyền tài phán mà các quốc gia ven biển yêu sách là một vấn đề gây tranh cãi ở Châu Á, nơi mà sự nhạy cảm về chủ quyền và quyền chủ quyền trên biển được cảm nhận một cách rõ ràng.[53] Một vùng biển gây tranh cãi nhiều nhất về hoạt động quân sự của nước ngoài là vùng EEZ. Một cách giải thích Công ước LOS được một số quốc gia ở Biển Đông ưa chuộng[54] là vùng EEZ cấu thành một vùng nước ven biển đặc biệt mà tại đó quốc gia ven biển có quyền tài phán để ban hành và cưỡng chế luật pháp và quy định của mình về một số hoạt động nhất định.[55]

Một số quốc gia ở Biển Đông yêu sách về các vùng an ninh trên biển nhằm hạn chế hoạt động của các tàu chiến nước ngoài hay các hoạt động quân sự khác, hoặc không thì để khẳng định các quyền mà có thể gây ảnh hưởng đến các hoạt động đó. Những quốc gia này gồm có Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Philippin, và Việt Nam .[56] Sự nhạy cảm của một số quốc gia ven biển, đáng chú ý nhất là Trung Quốc, đã dẫn đến các nỗ lực pháp lý, chính trị, và hải quân để áp đặt quan điểm của mình về việc hạn chế quyền tự do hàng hải. Các nỗ lực của hải quân hoặc “cưỡng chế” của Trung Quốc trong vấn đề này mà đã dẫn đến các vụ việc rất quan trọng về mặt ngoại giao và sẽ được thảo luận ở phần dưới đây.

Việc phổ biến năng lực hải quân và các hoạt động trên địa hình biển khó khăn hoặc nguy hiểm đã dẫn đến kết luận rằng các vụ việc và tai nạn trên biển xảy ra khá thường xuyên, và vì thế tạo ra tiềm năng cho các xung đột. Cụ thể, những tai nạn hoặc đụng độ không chủ đích trên biển là những hậu quả có thể xảy ra của việc tăng cường hoạt động của tàu ngầm do điều kiện vận hành khó khăn ở Biển Đông và đôi khi do địa hình eo hẹp hoặc phức tạp dưới lòng nước và điều kiện âm thanh không thuận lợi.  Những khó khăn đó là minh chứng rằng nhiều khả năng sẽ có thêm nhiều hoạt động thăm dò thủy văn và thu thập dữ liệu âm thanh trên khắp khu vực của quân sự, những hoạt động mà vốn bản thân nó đã tạo ra căng thẳng, đặc biệt là khi chúng diễn ra ở các vùng EEZ của một số quốc gia ven biển. Các vùng biên giới trên biển chưa được hoạch định hoặc đang tranh chấp sẽ làm vấn đề trở nên phức tạp hơn. Tuy nhiên, nếu không có các hoạt động thăm dò đó thì những tai nạn liên quan đến tàu ngầm sẽ có nguy cơ xảy ra nhiều hơn.[57]

Hơn nữa, thực tế là rất nhiều nước vận hành tàu ngầm đều thiếu kinh nghiệm – và thậm chí một vài nước còn không có năng lực – và khiến cho tình hình trở nên nguy hiểm hơn. Dù vậy, không chỉ có những nước thiếu kinh nghiệm hay không có năng lực mới gặp phải những khó khăn liên quan đến việc vận hành tàu ngầm. Trong khi đã có những mối nghi ngờ nảy sinh, chẳng hạn như về năng lực và việc huấn luyện thủy thủ tàu ngầm của Trung Quốc do các vụ tai nạn trước đây, nhưng những nước vận hành dày dặn kinh  nghiệm như Mỹ, Úc, Anh, Pháp và Nga cũng đều đã gặp phải các vụ việc nghiêm trọng trong những năm ngần đây. Trong trường hợp của Nga và Trung Quốc thì kết cục rất thảm khốc. Do đó ý tưởng về việc sẽ có thêm nhiều tàu ngầm hoạt động ở Biển Đông, đặc biệt ở các vùng ven biển, đã tạo ra những vấn đề thực sự đối với an toàn vận hành. Tuy nhiên, khó có thể minh bạch hơn về các hoạt động của tàu ngầm do sự minh bạch sẽ hủy hoại lợi thế mưu lược và tính chất vận hành của tàu ngầm – đó là sự tàng hình.

Phản ứng của Trung Quốc đối với các Hoạt động Quân sự của Mỹ

Trung Quốc là quốc gia cương quyết nhất trong khu vực trong các phương kế nhằm hạn chế hay thậm chí là ngăn chặn các hoạt động quân sự trong và trên các vùng mà quốc gia này coi là EEZ của mình. Đã có một số vụ việc xảy ra giữa lực lượng hải quân của Trung Quốc và Mỹ, trong đó có một số ở vùng Biển Đông. Vụ việc lớn nhất tính đến nay xảy ra vào ngày 1 tháng 4 năm 2001 khi máy bay thu thập tình báo điện tử EP-3E của Hải quân Mỹ đâm vào máy bay chiến đấu F-8 của PLA ở vị trí cách Đảo Hải Nam 70 hải lý về phía nam. Vụ việc này là đỉnh điểm của thái độ hung hãn ngày càng tăng của các phi công máy bay đánh chặn Trung Quốc đối với các máy tuần tra tương tự của Mỹ trong hai tháng trước đó.  Chiếc EP-3E bị hư hại đã kịp hạ cánh trên Đảo Hải Nam nhưng phi công của Trung Quốc thì lại bị mất tích. Rõ ràng là cách điều khiển máy bay ẩu của phi công Trung Quốc chính là nguyên nhân dẫn đến vụ việc. Đô đốc Dennis Blair, chỉ huy Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ vào thời điểm đó, đã phát biểu rằng:

Những chiếc máy bay lớn như [chiếc EP-3E] bay thẳng và cân bằng trên đường đi, với các máy bay nhỏ bay xung quanh. Theo nguyên tắc hàng không quốc tế, máy bay có khả năng bay nhanh và điều khiển linh hoạt hơn có nghĩa vụ phải tránh đường cho máy bay chậm hơn. Việc ai đâm vào ai ở đây khá là rõ ràng.[58]

Tuy vậy Trung Quốc vẫn tịch thu máy bay của Mỹ (và tạm giam phi hành đoàn), gỡ bỏ các hệ thống đáng giá trước khi cho phép máy bay được rời đi.[59]

Mặc dù vụ va chạm xảy ra trên không phận quốc tế, nhưng Trung Quốc vẫn thực thi quyền khống chế các máy bay tuần tra và tàu chiến của nước ngoài ra khỏi vùng EEZ rộng 200 hải lý của mình. Trong vùng EEZ, quốc gia ven biển có quyền chủ quyền đối với tài nguyên biển và quyền tài phán đối với việc nghiên cứu khoa học biển và việc bảo vệ, bảo tồn môi trường biển.[60] Những quy định trên tạo ra sự mập mờ, thường là một cách có chủ định, và đã dẫn đến những tranh chấp liên quan đến các hoạt động quân sự. Các lập luận của Trung Quốc tập trung vào các vấn đề về quyền an ninh và quyền của các quốc gia ven biển theo Điều 58 của Công ước LOS, tại đó liệt kê quyền và nghĩa vụ của “Quốc gia khác” trong vùng EEZ. Điều 58 cho phép tất cả các quốc gia có quyền tự do trên biển cả được nhắc đến trong Điều 87 về hàng hải, hàng không và lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm, bao gồm các loại gắn liền với việc vận hành tàu và máy bay, và phù hợp với các điều khoản khác của Công ước LOS. Các quốc gia khi thực hiện các quyền này phải “tôn trọng hợp lý” quyền và nghĩa vụ của quốc gia ven biển và tuân thủ luật pháp và quy định của quốc gia ven biển về quyền chủ quyền của mình.[61] Cũng cần phải lưu ý rằng điều khoản về nghĩa vụ “tôn trọng hợp lý” là mang tính có đi có lại khi xét đến nội dung của Điều 56(2).

Công ước LOS không chỉ định cụ thể các quyền của hải quân trong vùng EEZ. Một vài quốc gia đưa ra lập luận rằng việc nước ngoài sử dụng vùng EEZ vào mục đích quân sự là bị cấm theo Điều 58 bởi việc đó đi trái lại với nghĩa vụ gìn giữ biển cả cho các mục đích hòa bình (không được xác định) (Công ước LOS Điều 88), hoặc không phải là “sử dụng hợp pháp” vùng biển.[62] Tuy nhiên, quyền tự do trên biển bị giảm trong vùng EEZ cho các mục đích phi hàng hải bởi vì các quốc gia ven biển có quyền tài phán độc quyền đối với việc xây dựng đảo nhân tạo, các thiết bị và cấu trúc chỉ liên quan đến tài nguyên, nghiên cứu khoa học biển, hay môi trường. Tuy nhiên, điều này không hẳn là nghiêm cấm việc xây dựng hoặc lắp đặt các trang thiết bị quân sự không liên quan đến môi trường, tài nguyên, hay nghiên cứu biển.[63]

Trái với các lập luận của Trung Quốc, các vùng biển của EEZ có thể được hiểu một cách đúng nhất là các vùng biển cả và quốc gia ven biển có quyền chủ quyền được ban hành luật pháp và quy định về việc sử dụng tài nguyên và quản lý đối với một số hoạt động nhất định. Do đó các quốc gia khác vẫn giữ được mọi quyền tự do trên biển cả, bao gồm cả quyền thực hiện các hoạt động quân sự mà vẫn lưu ý đến nghĩa vụ phải “tôn trọng hợp lý” – vốn không được định nghĩa. Còn về vấn đề hàng không, như trong vụ EP-3E, cả Công ước LOS và Công ước về Hàng không Dân dụng[64] đều không cho quốc gia ven biển quyền được kiểm soát khoảng trời trên vùng EEZ. Vùng trời không phải là một phần của EEZ, và tất cả các máy bay đều có quyền tự do hàng không và quyền được thực hiện các hoạt động quân sự. Do đó, việc ban hành luật hay chính sách cho vùng EEZ mà không liên quan đến việc sử dụng tài nguyên; xây dựng đảo nhân tạo,  thiết bị, hay cấu trúc; thực hiện nghiên cứu trên biển; hay bảo vệ môi trường biển sẽ là không phù hợp với Công ước LOS. Việc Trung Quốc phản đối hoạt động quân sự của Mỹ trong vụ EP-3E là không liên quan đến các vấn đề nêu trên.

Một vụ việc nổi bật khác xảy ra ở Biển Đông là vào ngày 8 tháng 3 năm 2009, ở vị trí cách Đảo Hải Nam 75 hải lý về phía nam, trong vùng EEZ của Trung Quốc. Chiếc quân hạm do thám đại dương không trang bị vũ trang và mang tính chất dân sự của Mỹ, USNS Impeccable, là một phần của Chương trình Tàu Nhiệm vụ Đặc biệt của Ban chỉ huy Vận tải Hải quân Mỹ và được sử dụng để vẽ bản đồ đáy biển bằng cách sử dụng hệ thống định vị thủy âm tần suất thấp và thực hiện thu thập dữ liệu âm thanh, đã bị quấy rối bởi năm con tàu của Trung Quốc. Một chiếc là tàu tình báo của Hải quân PLA, một chiếc khác là tàu tuần tra của Bộ Thủy sản, chiếc thứ ba của Cục Đại dương Quốc gia cùng hai tàu đánh cá. Chiếc Impeccable vào lúc đó được mô tả là đang thực hiện công việc vẽ bản đồ đáy biển một cách định kỳ, còn nguồn khác thì nói rằng nó đang sử dụng Tổ hợp giám sát sự triển khai lực lượng trên mặt biển có phương tiện kéo (SURTASS) để nghe ngóng và theo dõi tàu ngầm. Các thủy thủ Trung Quốc đã sử dụng móc sắt dài để móc cáp kéo hệ thống định vị thủy âm và hai con thuyền gần lại tới khoảng cách 15m với chiếc Impeccable và yêu cầu chiếc tàu này rời khỏi khu vực. Tàu Impeccable phản ứng bằng cách chĩa vòi rồng cứu hoả vào phía các thủy thủ Trung Quốc, những người này sau đó đã cởi hết quần áo và chỉ còn mặc đồ lót! Tiếp đó hai con thuyền của Trung Quốc đã tiến gần đến 8m và di chuyển đến thẳng trước mặt tàu Impeccable, vừa đi vừa thả những mảnh gỗ trên đường đi của nó khiến cho chiếc Impeccable phải dừng khẩn cấp để tránh bị va chạm.[65]

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã phát biểu rằng tàu Impeccable đã “thực hiện các hoạt động ở vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc ở Biển Đông mà không được phép của Trung Quốc” và yêu cầu Mỹ phải “ngừng ngay lập tức các hoạt động tương tự và đưa ra các biện pháp hiệu quả để ngăn ngừa các hành vi tương tự khỏi xảy ra,” và nói thêm rằng các yêu sách về hành vi quấy rối là “hoàn toàn trái với thực tế và ... Trung Quốc không thể nào chấp nhận được.”[66] Hơn nữa, một chính ủy Hải quân PLA còn nói thêm rằng “Quyền qua lại vô hại của tàu thuyền hải quân đến từ các nước khác trong lãnh hải [hoặc] vùng kinh tế đặc biệt là chấp nhận được, nhưng các hoạt động ngoài phạm vi đó thì không.”[67] Một phát ngôn viên khác của Bộ Quốc phòng Trung Quốc đã phát biểu một vài ngày sau đó rằng:

Việc phía Trung Quốc thực hiện các biện pháp cưỡng chế và bảo vệ định kỳ trong vùng đặc quyền kinh tế của mình là hoàn toàn phù hợp và hợp pháp. ... Chúng tôi yêu cầu Mỹ tôn trọng các lợi ích pháp lý của mối quan ngại an ninh của mình, và có những biện pháp hiệu quả để ngăn ngừa việc tái diễn những sự vụ tương tự.[68]

Những lời phát biểu trên rõ ràng là đã lẫn lỗn giữa quy chế của vùng EEZ với quy chế của lãnh hải và dường như đã áp đặt quyền lãnh hải vào trong vùng EEZ. Các phát biểu này phản ánh luật pháp của Trung Quốc mà theo đó các tàu chiến phải được cấp phép trước khi đi vào vùng lãnh hải của Trung Quốc và yêu cầu các quyền an ninh lớn hơn ở vùng tiếp giáp.[69] Theo Công ước LOS, các hoạt động quân sự chỉ được kiểm soát trong giới hạn của quyền qua lại vô hại, quá cảnh, đi qua tuyến đường biển đi qua quần đảo, và không có sự kiểm soát nào như trên áp dụng cho vùng EEZ.[70]

Một lập luận khác mà giới phân tích Trung Quốc đưa ra là các hoạt động của tàu Impeccable đã đi trái lại với điều khoản về việc “sử dụng biển vào mục đích hòa bình” của Công ước LOS, [71] và cho rằng các hoạt động của nó đã rõ ràng nhằm mục đích thu thập thông tin quân sự và không vì mục đích hòa bình. Họ đã công khai xâm phạm an ninh quốc phòng và trật tự hòa bình của Trung Quốc và cấu thành một mối đe dọa vũ lực chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ và nền độc lập chính trị của Trung Quốc.[72]

Điều 301 của Công ước LOS nghiêm cấm “dựa vào việc đe dọa hay sử dụng vũ lực để xâm phạm toàn vẹn lãnh thổ hay độc lập chính trị của mọi Quốc gia” và, cùng với Điều 88 về gìn giữ biển cả cho “mục đích hòa bình,” được xem như là sự tái khẳng định của tập quán quốc tế về việc nghiêm cấm sử dụng vũ lực được nêu trong Điều 2(4) của Hiến chương LHQ.[73] Sẽ chẳng có lập luận nào vững chắc có thể được đưa ra dựa trên Công ước LOS hay bất kỳ văn bản pháp lý quốc tế nào, rằng các hoạt động thăm dò thời bình ở vùng EEZ lại đe dọa tới sự toàn vẹn lãnh thổ hay độc lập chính trị của bất kỳ quốc gia ven biển nào. Cũng như các lập luận của quan chức Trung Quốc, những lập luận này một lần nữa có hàm ý áp dụng chủ quyền quốc gia ven biển trên vùng EEZ và đi ngược lại với Công ước LOS. Hơn nữa nó cũng có hàm ý rằng các hoạt động quân sự và việc thu thập thông tin bản thân chúng đã mang tính chất không hòa bình. Đây là một lập luận vô nghĩa mà về mặt logic có thể áp dụng cho mọi hoạt động và lực lượng quân sự.

Nếu các luận điểm của Trung Quốc về chủ quyền ở vùng EEZ là không có cơ sở, thì việc giải thích Công ước LOS về việc liệu các cuộc thăm dò quân sự ở vùng EEZ có đồng nghĩa với nghiên cứu khoa học trên biển hay không lại càng mập mờ. Các quốc gia ven biển có quyền được quy định về nghiên cứu khoa học biển ở vùng EEZ.[74] Tuy nhiên, Công ước này lại không đưa ra định nghĩa về nghiên cứu khoa học biển. Có thể lập luân rằng quy chế của Công ước LOS không bao gồm các hoạt động tình báo quân sự và các cuộc thăm dò thủy văn của hải quân. Hơn nữa, những hoạt động đó cũng không động chạm đến việc sử dụng tài nguyên trong vùng EEZ hay ảnh hưởng tới môi trường biển của vùng này. Do vậy, có thể nói rằng những hoạt động này cần phải được coi là những hoạt động không bị hạn chế bởi các điều khoản của Công ước LOS.[75] Như Sam Bateman đã bình luận về vụ việc:

Có những cơ sở vững chắc để Mỹ cảm thấy được biện minh khi yêu sách về quyền được hoạt động ở Biển Đông của tàu Impeccable. Hoạt động đó không phải nghiên cứu khoa học biển trong quyền tài phán của quốc gia ven biển và đòi hỏi phải được quốc gia đó cấp phép trước. Thay vào đó nó là một phần của các quyền tự do hàng hải trên biển cả mà Công ước UNCLOS đã mở rộng đến vùng EEZ ... nhiệm vụ của tàu Impeccable ... rõ ràng có bản chất là quân sự. Việc sử dụng biển cả vào mục đích quân sự là quyền được thừa nhận trong luật quốc tế, và Trung Quốc sẽ khó mà có thể duy trì được lập luận rằng các hoạt động của những con tàu này tạo ra một mối đe dọa trực tiếp tới an ninh quốc phòng của mình.[76]

Vụ việc tàu Impeccable đại diện cho mô hình vụ việc nguy hiểm nhất từng xảy ra giữa Trung Quốc và Mỹ trên biển trong khoảng thời gian 2 tuần. Một chiếc thuyền tuần tra của Bộ Thủy sản Trung Quốc vào ngày 4 tháng 3 năm 2009 đã không một lời cảnh báo sử dụng đèn chiếu cường độ cao để chiếu vào một chiếc tàu tương tự tàu Impeccable, chiếc USNS Victorious, cách bờ biển Trung Quốc 125 hải lý ở Hoàng Hải. Một ngày sau đó, chiếc máy bay tuần tra biển Y-12 đã có 12 lượt bay tầm thấp qua con tàu. Thêm vào đó, ngày 5 tháng 3 tàu Impeccable đã được tiếp cận bởi một tàu chiến Trung Quốc ở tầm gần với hai lần đi qua mũi tàu, trong đó có một lần chỉ ở khoảng cách 100 yard (khoảng hơn 90m – ND), và một chiếc Y-12 với 11 lượt bay tầm thấp qua tàu. Vào ngày 7 tháng 3, một con tàu tình báo của Trung Quốc (nhiều khả năng đây cũng là con tàu liên quan trong vụ việc ngày 8 tháng 3) đã khẳng định qua đài rằng tàu Impeccable đã thực hiện các hoạt động bất hợp pháp và cần phải rời khỏi khu vực, nếu không sẽ phải “gánh chịu hậu quả”.[77] Một loạt các sự kiện xảy ra dường như đã thể hiện thái độ ngày càng hung hãn của Trung Quốc trên biển. Như Giám đốc Tình báo Quốc gia của Mỹ đã xác nhận trước Ủy ban Các vấn đề vũ trang của Thượng viện rằng: “Trong vài năm trở lại đây, họ đã trở nên hung hãn hơn với việc áp đặt các yêu sách của mình.”[78] Thái độ ngày càng cứng rắn của Trung Quốc được phản ánh qua bài báo ngày 19 tháng 2 của tờ Đảng Cộng sản ở Nội Mông, trong đó có nói rằng: “Nếu tàu gián điệp của Mỹ còn đi vào khu vực này thì Trung Quốc sẽ đánh chìm nó.”[79]

Mỹ phản ứng với vụ việc Impeccable bằng cách điều tàu chiến USS Chung-Hoon để hộ tống tàu Impeccable để tàu này tiếp tục công việc thăm dò của mình.[80] Đáp lại, Trung Quốc tuyên bố rằng sẽ tăng cường tuần tra ở khu vực Biển Đông và xây dựng thêm tàu tuần tra.[81] Một quan chức Quốc phòng Mỹ đã nói rõ khi làm chứng trước Thượng viện rằng Mỹ sẽ không lùi bước trước cương vị chiến lược là quốc gia bảo đảm ổn định khu vực và quan điểm về việc thực thi quyền tự do hàng hải của mình.

Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương của Mỹ sẽ tiếp tục thực thi các quyền tự do hàng hải trong khu vực. Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương sẽ tiếp tục thực hiện các hoạt động ở Biển Đông một cách tuân thủ tuyệt đối luật tập quán quốc tế được phản ánh trong Công ước LHQ về Luật Biển. Hoạt động của Mỹ sẽ được điều chỉnh bởi lợi ích của chúng ta trong khu vực, và mong muốn của chúng ta về việc bảo tồn an ninh và ổn định trên khắp khu vực tây Thái Bình Dương.[82]

Một vụ việc khác đã xảy ra vào tháng 6 năm 2009 khi một tàu ngầm của Trung Quốc va chạm với hệ thống định vị thủy âm đang được kéo bởi tàu chiến của Mỹ, chiếc USS John S. McCain, trên khu vực Biển Đông gần bờ biển Philippin, trong lúc đang diễn ra cuộc tập trận chung thường niên của Hải quân Mỹ và lực lượng của Philippin. Cả hai bên đều đã coi nhẹ vụ việc này, với tuyên bố của Mỹ rằng vụ việc này là một “sự va chạm không chủ ý”[83] và Trung Quốc đã đồng ý. Tuy nhiên, một nhà nghiên cứu cấp cao của PLA tại Viện Khoa học Quân sự đã bổ sung rằng: “Cách tốt nhất để tránh các vụ va chạm như thế này là Lầu Năm góc chấm dứt các động thái không hữu nghị đối với Trung Quốc trong khu vực,”[84] bất chấp thực tế là vụ việc này đã xảy ra ở vị trí cách xa các vùng biển thuộc quyền tài phán của Trung Quốc.

Hiệp định Tham vấn Quân sự Biển năm 1998[85] giữa Washington và Bắc Kinh đã tỏ ra là không hiệu quả trong việc ngăn ngừa các vụ việc trên biển như trên hay quản lý tốt hơn các vụ việc hoặc khủng hoảng khi chúng xảy ra. Mỹ đã kêu gọi ký kết một hiệp định chính thức theo đúng kiểu vụ việc trên biển hơn, tương tự như hiệp định ký kết với Liên Xô cũ trong thời kỳ chiến tranh lạnh,[86] nhưng cho đến nay lời kêu gọi này đã không bị phản đối mà cũng không bị phớt lờ. Tuy vậy, sự mở rộng của hải quân Trung Quốc và quan điểm ngày càng cứng rắn của Trung Quốc trên biển – cũng như sự phát triển nói chung của hải quân và cưỡng chế trên biển trong khu vực – cho thấy rằng các vụ việc trên biển nhiều khả năng sẽ trở nên phổ biến hơn là giảm đi.

Những vụ việc này là minh chứng cho thấy rằng thực tiễn của Trung Quốc là không phù hợp với Công ước LOS. Trung Quốc dường như đang yêu sách một thứ quyền tài phán nào đó đối với toàn bộ Biển Đông (cụ thể là toàn bộ vùng biển bên trong yêu sách đường lưỡi bò), với tuyên bố vào tháng 5 năm 2009 rằng:

 Trung Quốc có chủ quyền không thể chối cãi đối với các đảo trong Biển Đông và các vùng biển liền kề, và hưởng quyền chủ quyền và quyền tài phán trên các vùng biển có liên quan cũng như đáy biển và tầng đất cái của chúng.[87]

Bất kỳ hành động nào nhằm áp đặt quan điểm mở rộng vùng EEZ đều có thể thể hiện ý định nhằm loại trừ máy bay và tàu chiến quân sự nước ngoài ra khỏi toàn bộ khu vực. Mặc dù trên thực tiễn quan điểm như vậy không mang tính cưỡng chế, nhưng nó phản ánh ý định của Trung Quốc muốn biến Biển Đông thành cái hồ của Trung Quốc.

Thực tế là cách giải thích gây tranh cãi về quy chế vùng EEZ còn trở nên nặng nề hơn ở các biển kín hoặc nửa kín như Biển Đông, do nó có thể bao trùm toàn bộ không gian biển nếu tất cả các quốc gia ven biển yêu sách tối đa vùng EEZ mà họ có thể được hưởng và nếu các vùng EEZ có thể được yêu sách đối với các đảo nhỏ của quần đảo Trường Sa. Ở Biển Đông, chỉ có các vùng biển bao quanh một số phần của của Quần Đảo Trường Sa cho đến nay là chưa được yêu sách là các vùng EEZ, mặc dù những yêu sách đó có thể sẽ được đưa ra trong tương lai. Nếu các vùng EEZ có thể được yêu sách từ các đảo nhỏ của Trường Sa, thì sẽ không có vùng nào được coi là biển cả; hoặc không thì sẽ có một vùng biển cả nằm lọt giữa trung tâm của Biển Đông. Tuy nhiên, như đã lập luận ở trên, việc này sẽ không thể áp dụng được đối với quyền của các quốc gia khác được thực hiện các hoạt động quân sự ở những khu vực đó.

Kết luận: Trung Quốc, Cạnh tranh Địa Chính trị, và Biển Đông

Trong vài năm trở lại đây, có vẻ như Trung Quốc đã kiếm chế sự cương quyết của mình ở Biển Đông, mà thay vào đó lựa chọn cách tiếp cận hòa giải (hay còn gọi là “chiến dịch quyến rũ”) về hội nhập ngoại giao và kinh tế với các nước láng giềng Đông Nam Á. Tuy nhiên, Bắc Kinh đã quay trở lại với kiểu cách cũ và thể hiện một đường lối cương quyết – và thậm chí là hung hãn hơn. Trung Quốc đang ngày càng gia tăng áp lực với các quốc gia yêu sách khác ở Biển Đông và “không nghênh đón” các lực lượng nước ngoài như Mỹ một cách có hệ thống. Áp lực này, cho đến lúc đó chủ yếu vẫn là trên phương diệnchính trị và kinh tế, đang ngày càng trở nên quân sự hóa. Dường như đang có những nỗ lực phối hợp nhằm tăng cường vị thế chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông, quay trở lại xu hướng của những năm 1970, nhưng đã được bổ sung bởi các nguồn lực và tiềm lực quân sự lớn hơn.

Các quốc gia khác trong khu vực Biển Đông cũng đang khẳng định các yêu sách của riêng mình và phát triển hải quân của mình, mặc dù ở mức độ thấp hơn Trung Quốc. Kết hợp với các tác nhân hiện đại hóa quân sự khác như đã được thảo luận ở trên, hiện đang tồn tại xu hướng phát triển hải quân trong khu vực. Trừ khi cuộc khủng hoảng tài chính thế giới trở nên tồi tệ hơn, thì xu hướng đó có khả năng sẽ vẫn tiếp tục. Những thứ dường như là lợi ích chung của khu vực trong vấn đề an ninh SLOC như bảo vệ môi trường biển và bảo tồn cá, an ninh năng lượng, chống tội phạm xuyên quốc gia, và thậm chí là giảm thiểu tác động tiêu cực của sự nóng lên toàn cầu đều đòi hỏi phải có sự hợp tác nếu muốn giải quyết một cách thỏa đáng. Tuy nhiên, khu vực này vẫn đang thiếu các cơ chế hữu hiệu để đạt được sự hợp tác có tính thực tiễn, và thực tế của cuộc sống chính trị trong khu vực đồng nghĩa với việc những thách thức đó có khả năng sẽ chia rẽ các quốc gia hơn là gắn kết họ.

Nền tảng của những thách thức này là cuộc cạnh tranh chiến lược ngày càng gia tăng tập trung vào sự trỗi dậy của Trung Quốc, vốn đã được khởi động với việc một vài quốc gia đã thúc đẩy các chiến lựoc cân bằng (balancing) hay phòng ngừa rủi ro (hedging), trong đó có một số nước trong khu vực Biển Đông. Sự cạnh tranh của các cường quốc trong khu vực – đặc biệt tập trung xung quanh việc kiềm chế Trung Quốc – rõ ràng sẽ mang một yếu tố Biển Đông. Hải quân Mỹ đóng vai trò thường xuyên trong khu vực kể từ trước Chiến tranh Thế giới Lần thứ II. Nhật Bản, và đặc biệt là Lực lượng tuần duyên Nhật Bản, và thậm chí là Ấn Độ, đã cử quân đến Biển Đông. Sự hiện diện của các lực lượng trên biển của các nước này và các nước “bên ngoài” khác nhiều khả năng sẽ còn gia tăng và, cộng với các lực lượng hải quân của chính các quốc gia ven Biển Đông, sẽ tạo nên một môi trường hoạt động phức tạp hơn và thậm chí là nguy hiểm hơn trong tương lai. Bất kỳ ý nghĩ nào về việc Biển Đông có thể trở thành một vùng hòa bình và hợp tác có lẽ sẽ phải gác lại trong một thời gian.

                                                                            TS. CHRIS RAHMAN, GS. MARTIN TSAMENYI

Trung tâm Tài nguyên và An ninh Đại dương Quốc gia Úc, Đại học  New South Wales, Úc

Phạm Bá Việt (dịch)

Đỗ Thị Thủy (hiệu đính)

Bản gốc tiếng Anh “A Strategic Perspective on Security and Naval Issues in the South China Sea”, Ocean Development & International Law, 41: 4, 315 — 333

Đề nghị chỉ được dẫn đường link mọi thông tin, bài viết  trên www.nghiencuubiendong.vn, không đăng lại khi chưa có sự đồng ý của Ban Biên tập NCBĐ.



[1]MichaelLeifer,“TheMaritimeRegimeandRegionalSecurityinEastAsia,”PacificReview 4 (1991): 126–136.Xem thêm Sam Bateman, “Building Good Order at Sea in Southeast Asia: The Promise of International Regimes” in Maritime Security in Southeast Asia, eds. Kwa Chong Guan and John K. Skogan (London: Routledge, 2007), 97–116.

[2]Công ước LHQ về Luật Biển, 1833, U.N.T.S. 397.

[3]Sam Bateman, “UNCLOS and Its Limitations as the Foundation for a Regional Maritime Security Regime,” IDSS Working Paper No. 111 (Singapore: Institute for Defence and Strategic Studies, April 2006), 2.

[4]John H.Noer, with David Gregory, Chokepoints: Maritime Economic Concerns in Southeast Asia (Washington, DC: NDU Press, 1996), Figures 17–20, 63–66.

[5]International Hydrographic Organization, Limits of Oceans and Seas, Special Publication No. 23, 3rd ed. (Monte Carlo: IHO, 1953), 30–31.

[6]InternationalHydrographicOrganization,LimitsofOceansandSeas,IHOPublicationS-23, draft 4th ed. (IHO, 2002).

[7]Nt., tại 6-6-6-8

[8] Để biết về phạm vi địa chất của Biển Đông, xem Nien- Tsu Alfred Hu, “Semi-enclosed Troubled Water: A New Thinking on the Application of the 1982 UNCLOS Article 123 to the South China Sea,” Ocean Development & International Law 41(3), 2010, pp. 281–314, tại 299–301.

[9]Xem (UK) Admiralty, Ocean Passages for the World, 5th ed., NP 136 (Taunton: United Kingdom Hydrographic Office, 2004), Ch. 7.

[10] Dữ liệu được tính trung bình và tổng hợp từ các nguồn khác nhau của chính phủ Mỹ, bao gồm Bộ Quốc phòng, Cục Quản lý Thông tin Năng lượng, và Văn phòng Tình báo Hải quân.

[11]Dữ liệu từ PortKlangVesselTrafficService.

[12]OceanPassagesfortheWorld, ghi chú số 9, tại 166–172.

[13]Nt., tại 240-243.

[14]Nt., tại 203-204.

[15] Xem Chris Rahman, “The International Politics of Combating Piracy in Southeast Asia,” inViolence at Sea: Piracy in the Age of Global Terrorism, ed. Peter Lehr (New York: Routledge, 2007), tr. 183–198.

[16]United States, Office of the Secretary of Defense, Military Power of the People’s Republic of China 2009, Annual Report to Congress (Washington, DC: Department of Defense, 2009), 31.

[17]Clive Schofield, “Dangerous Ground: A Geopolitical Overview of the South China Sea” in Security and International Politics in the South China Sea: Towards a Cooperative Management Regime, eds. Sam Bateman and Ralf Emmers (London: Routledge, 2009), 14–18.

[18]United Nations Environment Programme(UNEP), Globa lInternational Waters Assessment. South China Sea: Regional Assessment 54 (Kalmar, Sweden: University of Kalmar, 2005), 40–41.

[19]Meryl J. Williams, Enmeshed: Australia and Southeast Asia’s Fisheries, Lowy Institute Paper 20 (Sydney, Australia: Lowy Institute for International Policy, 2007), 27.

[20] Xem Clive Schofield, “A Code of Conduct for the South China Sea?” Jane’s Intelligence Review, November 2000, 37. Đảo Ba Bình nay đang được kiểm soát bởi Cục Biên phòng Đài Loan.

[21]Greg Austin, China’s Ocean Frontier: International Law, Military Force and National Development (St Leonards, New South Wales, Australia: Allen & Unwin, 1998), 132 và 380–381.

[22]Schofield,“DangerousGround,” ghi chú số 17, tại 11 và 22,n.24.

[23] Đệ trình chung của Malaysia và Việt Nam lên Uỷ ban Ranh giới thềm lục địa Liên hợp quốc theo đoạn 8, điều 76 của Công ước LHQ về Luật biển về phần phía Nam của biển Đông, Bản tóm tắt, tháng 5/2009, có tại trang web của Uỷ ban Ranh giới thềm lục địa LHQ:  www.un.org/Depts/los/clcs new/clcs home.htm.          

[24] Đệ trình chung của Việt Nam lên Uỷ ban Ranh giới thềm lục địa Liên hợp quốc theo đoạn 8, điều 76 của Công ước LHQ về Luật biển năm 1982 về thềm lục địa mở rộng của Việt Nam: vùng phía Bắc, Bản tóm tắt, tháng 4/2009, có tại trang web của Uỷ ban Ranh giới thềm lục địa LHQ, như chú thích  23.

[25] Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, Thư gửi Tổng thư ký Liên Hợp Quốc, , Doc. CML/17/2009, New York, 7/5/2009; và Thư gửi Tổng thư ký Liên Hợp Quốc, Doc. CML/18/2009, New York, 7/5/2009, có tại trang web của Uỷ ban Ranh giới thềm lục địa LHQ, như chú thích  23.

[26] Xem Sam Bateman and Clive Schofield, “Outer Shelf Claims in the South China Sea: New Dimension to Old Disputes,” RSIS Commentaries, 1 July 2009 (Singapore: S. Rajaratnam School of International Studies, Nanyang Technological University).

[27]Bản báo cáo đầu tiên được công bố bởi “China Builds Up Strategic Sea Lanes,” Washington Times, 18 January 2005.

[28] Ví dụ, xem Andrew Selth, “Burma, China and the Myth of Military Bases,” Asian Security 3 (September 2007): 279–307.

[29] Xem Geoffrey Till, “The South China Sea Dispute: An International History,” in Bateman and Emmers, supra note 17, at 36.

[30]James R. Holmes and Toshi Yoshihara, Chinese Naval Strategy in the 21st Century: The Turn to Mahan (London: Routledge, 2008), 53.

[31]L. C. Russell Hsiao, “In a Fortnight: PLA General Advises Building Bases in the South China Sea,” Jamestown Foundation, China Brief , 24 June 2009, 1–2.

[32]Holmes and Yoshihara, ghi chú số 30, tại 53.

[33] Xem Alan M. Wachman, Why Taiwan? Geostrategic Rationales for China’s Territorial Integrity (Stanford, CA: Stanford University Press, 2007).

[34]EricFre ́con,“PiracyintheSouthChinaSea:MaritimeAmbushesofftheMangkaiPassage,” RSIS Commentaries, 20 February 2009.

[35]Sam Bateman, “Coast Guards: New Forces for Regional Order and Security,” AsiaPacific Issues, No. 65, January 2003, 5.

[36]Tim Fish, “Submarine Programmes Top SE Asian Wish Lists,” Jane’s Navy International, April 2010, 27.

[37]Nt., tại 26.

[38]Nt., tại 27.

[39]Nt., tại 27.

[40]Tuy nhiên Brunei giờ đang cố gắng bán các con tàu mới của mình, có thể là vì chúng quá lớn và quá phức tạp so với nhu cầu của Brunei cũng như năng lực vận hành của nước này.

[41] Xem Eric Grove, “Carrier Waves: Programmes Speak of an Enduring Appeal,” Jane’s NavyInternational, November 2007, 31–32.

[42]CommonwealthofAustralia,DefendingAustraliaintheAsiaPacificCentury:Force2030,(Canberra: Department of Defence, May 2009), 81. For an analysis, see Jack McCaffrie and Chris Rahman, “Australia’s 2009 Defense White Paper: A Maritime Focus for Uncertain Times,” Naval War College Review 63 (Winter 2010): 69.

[43] Xem ChrisRahman,“TheRiseofChinaasaRegionalMaritimePower:Strategic Implications for a New Century,” PhD dissertation, University of Wollongong, 2003.

[44] Để biết thêm chi tiết về các lực lượng hải quân của PLA, xem trang web SinoDefense.com, tại www.sinodefence.com/navy/default.asp.       

[45]Nt.

[46] Xem bản đồ Military Power of the People’s Republic of China 2009, ghi chú số 16, tại 23.

[47] Bruce A. Elleman, “Maritime Territorial Disputes and Their Impact on Maritime Strategy: A Historical Perspective,” in Bateman and Emmers, supra note 17, at 46–48.

[48]Xem trang SinoDefenc , ghi chú số 44; và Richard D. Fisher, “Satellite Imagery

Confirms Nuclear Sub Base in China,” Jane’s Defence Weekly, 16 April 2008, 4.

[49]Nt.

[50] Khái niệm pháo đài SSBN được bảo vệ bằng các lớp khả năng phòng thủ theo vòng tròn đồng tâm do Liên Xô phát triển trong chiến tranh lạnh. Xem phân tích trong Bryan Ranft và Geoffrey Till, The Sea in Soviet Strategy, 2nd ed. (Annapolis, MD: Naval Institute Press, 1989), 193–197.

[51]Xem “Naval Chief Details Chinese Wishlist,” Jane’s Navy International, May 2009, 5; và “Speculation Mounts over PRC’s Aircraft Carrier Plan,” Taipei Times, 7 March 2009.

[52]Kang Jua, “China Doesn’t Need Super Navy: Military Analysts,” Global Times, 21 April 2009.

[53] Xem hai số đặc biệt của tạp chí Marine Policy bàn về chủ đề này: Sốl. 28 01/2004) và số 29 (03/2005).

[54] Để tìm hiểu kỹ hơn về tranh luận này ở Đông Á, xem, ví dụ như EEZ Group 21, Guidelines for Navigation and Overflight in the Exclusive Economic Zone: A Commentary (Tokyo: Ocean Policy Research Foundation, 2006).

[55] Để biết thêm về lập luận mạnh mẽ nhưng không thuyết phục của Malaysia về vấn đề này, xem B. A. Hamzah, “EEZs: U.S. Must Unclench Its Fist First,” RSIS Commentaries, 9 April 2009.

[56]Xem Stuart Kaye, Freedom of Navigation in the Indo-Pacific Region, Papers in Australian Maritime Affairs No. 22 (Canberra: Sea Power Centre–Australia, 2008), 8–12 and 31–35.

[57]Xem Sam Bateman, “Perils of the Deep: The Dangers of Submarine Operations in Asia,” RSIS Commentaries, 21 February 2007 (Singapore: S. Rajaratnam School of International Studies, Nanyang Technological University).

[58] Trích trong “Trapped Behind the Lines,” The Australian, 3/4/2001, 1.

[59] “‘Spyplane’ Loss a Big Blow for U.S. Intelligence,” Jane’s Navy International,

May 2001, 8.

[60] Công ước Luật biển, chú thích 2, điều. 56(1).

[61] Xem phân tích trong Martin Tsamenyi và Barry Snushall, “The Legal Dimension of Maritime Military Operations,” in Positioning Navies for the Future: Challenge and Response, ed. Jack McCaffrie (Sydney: Sea Power Centre—Australia and Halstead Press, 2006), 111–132.

[62]Nt., tại 122.

[63]Nt., tại 116.

[64]Nt., tại 116.

[65] Xem “U.S. Angered by Chinese NavalManoeuvres,” The Australian, 10March 2009; “USNPLA South China Sea Incident,” Associated Press, 10 March 2009; “China Says U.S. Provoked Naval Incident,” International Herald Tribune, 10 March 2009; và“Surveillance Ship ‘Did Not Violate Law,’ Says DoD,” Jane’s Navy International, April 2009, 6.

[66] Trích trong “FM: U.S. Naval Ship Violates Int’l, Chinese Law,” China Daily, 10 March 2009.

[67] Được trích trong “Violation of China’s Sovereignty Never Allowed,” China Daily, 10 March 2009.

[68] Được trích trong “Obama–Yang Discuss U.S.-China Sea Dispute on the Sidelines of Improved Cooperation,” Associated Press, 15 March 2009.

[69] Xem Kaye, chú thích 56, tr.31.

[70] Tsamenyi và Snushall, chú thích 61, tr. 113–121.

[71] Công ước Luật biển, chú thích 2, điều 301.

[72] Ji Guoxing, “The Legality of the ‘Impeccable Incident,”’ China Security 5 (Spring 2009): 18–19.

[73] Tsamenyi và Snushall, chú thích 61, tr. 122.

[74] Công ước Luật biển, chú thích 2, điều. 56, 87, 238–241.

[75] Tsamenyi và Snushall, chú thích 61, tr. 128.

[76] Sam Bateman, “Clashes at Sea: When Chinese Vessels Harass U.S. Ships,” RSIS Commentaries, 13 March 2009, 2 (Singapore: S. Rajaratnam School of International Studies, Nanyang Technological University). Để giải thích về lập trường của Mỹ, xem  Patrick J. Neher, Raul A.Pedrozo, and J. Ashley Roach, “In Defence of High Seas Freedoms,” RSIS Commentaries, 24 March 2009 (Singapore: S. Rajaratnam School of International Studies, Nanyang Technological University); và Thuyền trưởng Raul Pedrozo, JAGC, USN, “Close Encounters at Sea: The USNS Impeccable Incident,”

Naval War College Review 62 (Summer 2009): 106–107.

[77] “USN-PLA South China Sea Incident,” Associated Press, 10 March 2009.

[78] Trích trong “Blair: China Gets ‘More Aggressive’ Against U.S. Ships,” Washington Times, 11 March 2009.

[79] Trích trong Nt.

[80] “Destroyer to Protect Ship Near China,” Washington Post, 13 March 2009.

[81] “Beijing to Deploy More Ships to the South China Sea,” Times (UK), 19 March 2009.

[82] Bài điều trần của Phó Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Robert Scher trước Ủy ban Đối ngoại Thượng viện, Quốc hội Mỹ ngày 15/7/2009, tr.5 về “Các vấn đề hàng hải và Tranh chấp chủ quyền ở Đông Á”, Các vấn đề an ninh Châu Á-Thái Bình Dương, Văn phòng Bộ trưởng Quốc phòng.

[83] “Chinese Sub Smashes U.S. Destroyer’s Sonar,” The Australian, 13 June 2009.

[84] Trích trong “Sub, Sonar Collision ‘Inadvertent,”’ Global Times, 15 June 2009.

[85] Thỏa thuận giữa Bộ quốc phòng Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và Bộ Quốc phòng Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về việc thiết lập một cơ chế tham vấn nhằm tăng cường an toàn hàng hải quân sự, Bắc Kinh, 19/01/1998. 

[86] Thỏa thuận giữa Chính phủ Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và Chính phủ Liên bang Xô Viết về việc phòng ngừa các sự việc xảy ra trên biển, Mát-xco-va, 25/05/1972, được bổ sung bằng Nghị định thư năm 1973 và một trao đổi công hàm năm 1998. Nghị định thư được Liên bang Nga, nước thừa kế Liên bang Xô Viết về các quyền và nghĩa vụ liên quan đến Hiệp định này thông qua.

[87] Xem các công hàm của CHND Trung Hoa, chú thích 25.

 

 

Một thời gian dài trong Chiến tranh Lạnh, hải quân Trung Quốc không là gì nhiều hơn một lực lượng tuần duyên tỉ mỉ. Ngày này, sự phân chia rõ ràng hơn đang diễn ra vì hải quân Trung Quốc nhấn mạnh chiến tranh tập trung vào công nghệ.

 

( Phần 1; Phần 2; Phần 3; Phần 4; Phần 5)

 

 

nh 15: Tàu tiếp nhiên liệu cứu hộ của MSA hoạt động gần với hai tàu Hải quân PLA. Duy trì hỗ trợ cho việc qua lại của tàu thuyền dọc những bờ biển sầm uất của Trung Quốc là nhiệm vụ chính của MSA. (Diễn đàn Quốc phòng Trung Quốc)

Trong số những thực thể giống như lực lượng tuần duyên, việc xem xét vai trò và nhiệm vụ, không tính đến nguồn lực, giữa một bên là lực lượng tuần duyên và một bên là hải quân như thế nào là điều tự nhiên và thích đáng. Nhà lý luận sức mạnh biển Geoffrey Till giải thích rằng mặc dù sự chồng lấn là không thể tránh khỏi và hợp lý, vẫn có số mô hình lực lượng tuần duyên có những mối quan hệ khác biệt với hải quân quốc gia. Till thấy rằng “Với sự mở rộng quan điểm về an ninh, có lẽ bị thúc giục bởi các sự kiện ngày 11/09, phạm vi chồng lấn tiềm tàng đang tăng lên theo nhiều hướng làm nảy sinh những vấn đề liên quan đến câu hỏi ai phải chịu trách nhiệm cho cái gì.” Ông giải thích thêm, một số quốc gia có hải quân và lực lượng tuần duyên với những nhiệm vụ riêng biệt đáng kể, trong khi ở những nước khác (thường là những nước nhỏ hoặc kém phát triển hơn) chính hải quân về cơ bản thực hiện chức năng như lực lượng tuần duyên, chủ yếu năng động trong các hoạt động tuần tra, quản lý bờ biển và các nhiệm vụ nghiên cứu và cứu hộ[108].

Các nhà phân tích của Trung Quốc đã ghi nhận đúng lúc rằng một số lực lượng tuần duyên, bao gồm USCG, đã can thiệp trầm trọng vào an ninh quốc gia. Ví dụ, một nhà phân tích hàng hải Trung Quốc ghi chú rằng lực lượng tuần duyên hùng mạnh của Nhật bản đảm nhiệm chức năng như một lực lượng dự phòng quan trọng cho hải quân Nhật bản[109]. Các tác giả của nghiên cứu của Viện Ning Ba quan sát thấy rằng Hoa Kỳ rõ ràng đã xem Lực lượng Tuần duyên của mình là một trong năm dịch vụ có trang bị vũ trang, nhiều lần sử dụng đơn vị này với nhiệm vụ chiến đấu.”[110] Những nhà phân tích này khá thẳng thắn khi tiên đoán vai trò quan trọng của các thực thể tuần duyên của Trung Quốc trong bất kỳ xung đột vũ trang nào trong tương lai: “Trong thời chiến, theo sự chỉ huy của hải quân, [các bộ phận tuần duyên của Trung Quốc] sẽ tháp tùng giao thông hàng hải, hỗ trợ kiểm soát giao thông hàng hải và cùng với các tàu đổ bộ, thực hiện nhiệm vụ chống tàu ngầm, bảo vệ hải cảng, cung cấp thủy thủ cho một số bộ phận trong hạm đội của hải quân và hỗ trợ trong quá trình hoàn thành công cuộc huy động quốc gia.”[111]

Một nhà phân tích chuyên môn từ trường Đại học Quốc phòng của Trung Quốc tranh cãi trong tháng 06/2009 rằng các tàu tuần duyên lớn của Trung Quốc có thể dễ dàng bị chuyển sang sử dụng trong chiến đấu viễn dương, trong khi các tàu tuần duyên nhỏ và trung bình có thể hỗ trợ bảo vệ bờ biển, đảm nhiệm những nhiệm vụ chẳng hạn như đặt bãi mìn[112]. Thuyền trưởng Moreland tương tự cho rằng “Cả lực lượng tuần duyên Trung Quốc và lực lượng tuần duyên Hoa Kỳ đều là các lực lượng hàng hải được trang bị vũ trang không thuộc các đơn vị của bộ quốc phòng của nước mình nhưng lại sẵn sàng hỗ trợ các cơ quan này tiến hành chiến tranh.”[113]Do đó, không có gì đáng ngạc nhiên khi thấy các đơn vị của Cộng đồng tuần duyên biển của Trung Quốc có quan điểm cứng rắn về các vấn đề chủ quyền và yêu sách biển: “Đài Loan trong nhiều khía cạnh nhất vẫn bị chi phối bởi các lực lượng bên ngoài… Từ khía cạnh này, đảo Đài Loan tạo thành một điểm trung tâm chiến lược quyết định vận mệnh tương lai của Trung Quốc… Trên biển cả, có nhiều quốc gia láng giềng có tranh chấp đảo và lãnh thổ đại dương với Trung Quốc. Những mâu thuẫn này tương đối lớn, và điều này có ảnh hưởng lớn đến không gian vận động ảnh hưởng trong nền chính trị, chính sách đối ngoại và các vấn đề quân đội của Trung Quốc.”[114]

Tuy nhiên, sẽ là một sai lầm khi xem các thực thể tuần duyên đang phát triển của Trung Quốc như những phụ tá đơn thuần cho Hải quân PLA. Một quan điểm thế giới chủ nghĩa hiển hiện rõ ràng trong nghiên cứu của Viện NinhBa: “Khởi xướng xung đột vũ trang [,] hoặc thậm chí chiến tranh hạn chế, cũng sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến toàn bộ khu vực và hệ thống thế giới, và không có lợi cho bối cảnh phát triển của đất nước.”[115] Hơn nữa, Viện Ninh Ba thuộc BCD, là một trong số ít các đơn vị được trang bị vũ trang trong số các thực thể tuần duyên của Trung Quốc; người ta có thể đoán chừng một cách logic rằng các đơn vị không được trang bị vũ trang (ví dụ như MSA hùng mạnh) ít có xu hướng tham gia các hoạt động bán quân sự. Một chiều hướng cũng hiển hiện trong nghiên cứu của Viện Ning Ba là các thực thể tuần duyên thực tế có thể cạnh tranh với hải quân của Trung Quốc để được cung cấp dự phòng. Ví dụ, các học giả này thất vọng thấy rằng “trong nước, nhiều học giả tin rằng sức mạnh biển là sức mạnh quân sự biển, và sức mạnh quân sự biển là hải quân.”[116]

Vấn đề cốt yếu đặt ra là khuynh hướng của hải quân Trung Quốc, mà rộng hơn là PLA, sẽ là gì để nâng cao khả năng tuần duyên trên biển. Dẫn chứng ban đầu, với hình thức là một bài báo trong số tháng 6/2008 của cơ quan Khoa học Quân sự Trung Quốc chính thức và đầy uy tín (中国军事科学) cho rằng PLA sẽ ủng hộ nỗ lực này; tác giả bài báo, đến từ trường Đại học Quốc phòng Trung Quốc, có niềm tin sâu sắc là năng lực giám sát trên biển mạnh hơn là một yếu tố trọng yếu trong một chiến lược biển mới của Trung Quốc.[117] Tháng 7/2009, một hoạt động nghiên cứu và cứu hộ quan trọng đã được tiến hành trong vùng lân cận của Vùng Châu thổ sông Châu Giang. Các nhà đồng tổ chức là Hạm đội Biển Nam của Hải quân PLA và chính quyền tỉnh Quảng Đông. Mười ba cơ quan, hai lăm tàu, và hai trực thăng đã tham gia vào hoạt động này với tên gọi là hoạt động Ba Chiều (“立体警民”) – nghĩa là quân đội, lược lương tuần duyên và nhân dân). Một ấn phẩm của Hải quân mô tả hoạt động này ghi lại rằng Trung Quốc đã thiết lập một hệ thống nghiên cứu và cứu hộ mới và mạnh nhưng than vãn rằng các vùng quân sự lại không được hợp nhất tốt thành một thể - vấn đề này thể hiện sự cần thiết phải tiến hành nhiều hơn các hoạt động như vậy.[118]

Ảnh 16: Tháng 7/2009, hoạt động nghiên cứu và cứu hộ quan trọng chưa từng diễn ra bao giờ với sự tham gia của các đơn vị hải quân và các thực thể hàng hải dân sự  (hai mươi lăm tàu và mười ba cơ quan) theo như đưa tin đã diễn ra tại Vùng Châu thổ Sông Châu Giang phía Nam Trung Quốc. (Hải Quân Hiện đại).

Xem xét lại hai mô hình thay thế của Till – phân chia rộng hay chồng lấn lớn – điều đáng lưu ý là Trung Quốc rõ ràng nổi lên từ truyền thống sau (chồng lấn). Một thời gian dài trong Chiến tranh Lạnh, hải quân Trung Quốc không là gì nhiều hơn một lực lượng tuần duyên tỉ mỉ. Ngày này, sự phân chia rõ ràng hơn đang diễn ra vì hải quân Trung Quốc nhấn mạnh chiến tranh tập trung vào công nghệ. Tuy nhiên, PLA cũng dần quan tâm hơn đến các vấn đề thường gây lo lắng cho các lực lượng tuần duyên, bao gồm nghiên cứu và cứu hộ, bảo vệ môi trường, và cướp biển, điều này nói lên rằng một sự phân chia rạch ròi về vai trò hoàn toàn không khả thi đối với Trung Quốc trong thời gian gần hay tương đối ngắn.[119]

Phần tiếp theo “Lý giải yếu điểm của năng lực giám sát trên biển của Trung Quốc" 

 

  Lyle J. Goldstein, Trường Cao đẳng Hải chiến Hoa Kỳ 

 

  Hiếu Minh, Ngọc Trang, Hà Tuyên (dịch)    

 Đỗ Thị Thủy (hiệu đính) 

 

 

Bản  gốc tiếng Anh "Five Dragons Stirring Up the Sea - Challenge and Opportunity in China's Improving Marritime Enforcement Capabilities ", Tạp chí Nghiên cứu biển Trung Quốc, số 5, tháng 4/2010, Trường Cao đẳng Hải chiến, Newport, Rhode Island, Hoa Kỳ

 

Đề nghị chỉ được dẫn đường link mọi thông tin, bài viết  trên www.nghiencuubiendong.vn, không đăng lại khi chưa có sự đồng ý của Ban Biên tập NCBĐ.

 

CHÚ THÍCH:

 


[108] Till, Sức mạnh về biển, trang 343–46.

[109] Bạch Tuấn Phong-Bai Junfeng, “Conception Regarding the Building of China’s Maritime Police,” trang 35.

[110] He Zhonglong cùng các cộng sự, Nghiên cứu về việc Phát triển Cảnh sát Biển của Trung Quốc, trang  4

[111] Như trên, trang 221. Bai Junfeng cũng khẳng định rằng cảnh sát biển của Trung Quốc trong tương lai cũng sẽ hỗ trợ Hải quân Trung Quốc trong thời chiến. Phân tích của ông liệt kê các sứ mệnh thời chiến có thể có như “hỗ trợ và tham gia cùng với hải quân khi triển khai chiến trận, hộ tống thông thương trên biển, bảo vệ cảng, bảo đảm an toàn cho các bến tàu, và hỗ trợ toàn bộ việc vận động dân cư.” Bai Junfeng, “Conception Regarding the Building of China’s Maritime Police,” trang 38.

[112]田承基 [Điền Thừa Cơ - Tian Chengji], “专家呼唤中国海岸警卫队保海洋权益” [Các chuyên gia kêu gọi thành lập “Cảnh sát biển của Trung Quốc” để bảo vệ quyền và lợi ích biển], 人民网 [Nhân dân nhật báo Internet], 21, tháng 6, 2009.

[113] Moreland, “U.S.-China Civil Maritime Engagement,” trang 4.

[114] Hà Trung Long - He Zhonglong  cùng các cộng sự, Nghiên cứu về việc Phát triển Cảnh sát Biển của Trung Quốc, trang 9.

[115] Như trên, trang 14. Một ý tưởng tương tự được nêu rõ trong Bai Junfeng, “Conception Regarding the Building of China’s Maritime Police,” trang 38.

[116] Hà Trung Long - He Zhonglong  cùng các cộng sự, Nghiên cứu về việc Phát triển Cảnh sát Biển của Trung Quốc, trang 213.

[117]孙景平 [Tôn Cảnh Bình - Sun Jingping], “新世纪新阶段海上安全战略断想” [Các chú ý trong Chiến lược An ninh Biển trong Giai đoạn mới của Thế kỷ mới], 中国军事科学 [Khoa học Quân sự Trung Quốc] (tháng 6, 2008), trang 77–78.

[118]菖学军 [Xương Học Quân - Chang Xuejun], “黄金水道: 上演立体大搜救” [Đường biển vàng: Giới thiệu tìm kiếm và cứu hộ đa phương diện], 当代海军 [Hải quân hiện đại] (tháng 8, 2009), trang 8–14.

[119] Xem, ví dụ, 于文献 [Vu Văn Hiến - Yu Wenxian], “怒海救援: 107 10级风浪中搜寻受困渔民记” [Cứu hộ từ một Biển nổi sóng: Báo cáo về việc tìm kiếm tàu đánh cá bị hủy hoại (distressed) của 107 tàu (Hải quân) trong bão mạnh cấp 10], 现代舰船 [Các tàu hiện đại] (tháng 4, 2007), trang 2–3. Xem thêm ảnh của cuộc tập ứng phó có cả quân-dân sự và được thực hiện bởi 章汉亭 [Trang Hán Đình - Zhang Hanting]trong 当代海军 [Hải quân hiện đại] (tháng 11, 2007), trang  44. Liên quan tới các thiên tai ở biển, xem bản của các tác giả từ Học viện Khoa học và Công Nghệ của PLA Nam Ninh, 郑晶晶, 徐迎, 金丰年[Trịnh Tinh Tinh - Zheng Jingjing, Từ Nghênh - Xu Ying, and Kim Phong Niên - Jin Fengnian], “‘卡特里哪飓风对防灾预案的启示” [Bài học rút ra từ việc phòng chống thảm họa trước “bão Katrina”], 自然灾害学报 [Tập san về Thiên tai] 16, số 1 (tháng 1,  2007), trang 12–16. Cũng cần phải chú ý rằng Hải quân PLA tiếp tục quan tâm đến các tàu khu trục và ca nô:谭正平 [Đàm Chính Bình - Tan Zhengping], “近海护卫舰正受各国海军青睐” [Các đội quân phòng vệ ven biển nhận được sự coi trọng của hải quân các nước - Inshore Frigates Are in the Good Graces of Every Navy], 当代海军 [Modern Navy] (April 2007), pp. 49–52.

 

 

Ngôn ngữ