Bài viết của TS. Đặng Xuân Thanh*, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á, phân tích cấu trúc tình huống chiến lược tại Biển Đông, từ đó đưa ra dự báo ngắn hạn và triển vọng dài hạn cho cục diện tình hình ở vùng biển phức tạp này.
Tóm tắt
Cục diện an ninh Biển Đông biến động bất thường do tranh chấp chủ quyền gần đây đã bị đẩy lên một cấp độ nghiêm trọng mới. Ranh giới pháp lý trên biển bị phủ nhận, các cơ chế duy trì an ninh tỏ ra kém hiệu quả, cán cân quyền lực tại vùng biển này trở nên bấp bênh, đe dọa xói mòn các cân bằng chiến lược then chốt khác trên toàn vành đai Tây Thái Bình Dương. Bài viết này không trình bày lại diễn biến tình hình, mà chủ yếu tập trung phân tích cấu trúc tình huống chiến lược tại Biển Đông, từ đó đưa ra dự báo ngắn hạn và triển vọng dài hạn cho cục diện tình hình ở vùng biển phức tạp này.
Cục diện thế giới trong những năm 2000 được đặc trưng bởi hai bước ngoặt và một xu hướng lớn.[1] Một là cao trào mở rộng địa chiến lược do Mỹ phát động với cuộc chiến chống khủng bố và phổ biến dân chủ trên phạm vi toàn cầu, mở rộng NATO về phía Đông, đơn phương xây dựng hệ thống phòng thủ tên lửa (NMD), bành trướng trật tự đơn cực hình thành sau Chiến tranh lạnh ra quy mô chưa từng có. Hai là đợt thoái trào với sự suy yếu tương đối của toàn bộ khu vực trung tâm của trật tự hiện hành bao gồm Mỹ, EU và Nhật Bản, được đánh dấu bởi cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế “trăm năm một lần”. Xuyên suốt hai bước ngoặt đó là xu hướng đa cực hóa với sự trỗi dậy của một số cường quốc mới nổi mà biểu hiện tập trung nhất là sự tăng tốc vượt bậc về kinh tế của Trung Quốc: rút ngắn tương đối nhanh chênh lệch sức mạnh tổng hợp quốc gia so với Mỹ và ngày càng quyết đoán trong quan hệ quốc tế.
Tại Đông Á, sự trỗi dậy của Trung Quốc làm thay đổi trật tự khu vực. Về kinh tế, sự trỗi dậy này đã tạo lực hút, lôi cuốn hầu hết các nền kinh tế tại đây vào mạng sản xuất lấy Trung Quốc làm trung tâm, gia tăng sự phụ thuộc vào thị trường Hoa Lục, đồng thời định hướng lại tiến trình hội nhập kinh tế Đông Á với ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc. Về chính trị, sự trỗi dậy này làm chuyển dịch mạnh cán cân quyền lực khu vực về phía Trung Quốc, nhưng đồng thời lại gây tình trạng thiếu hụt về an ninh do sản sinh ra hàng loạt những bất ổn mới như mất cân đối kinh tế vĩ mô, ô nhiễm môi trường, chạy đua vũ trang, mâu thuẫn quốc tế… Kết quả là, trong lúc Bắc Kinh cố gắng “tấn công mê hoặc” (charm offensive)[2] nhằm lôi kéo các nước trong khu vực về phía mình, thì họ lại “xuất khẩu” nỗi lo ngại, làm trầm trọng thêm “thuyết về mối đe dọa Trung Quốc”, đẩy nhiều nước vào tình thế buộc phải tăng cường khả năng phòng vệ[3], cũng như tìm kiếm các nguồn cung an ninh khác.
Để duy trì địa vị nhà cung cấp độc quyền thứ “hàng hóa công cộng” thiết yếu là an ninh toàn cầu, Mỹ phải vật lộn để thoát ra khỏi hai nhân tố kìm hãm và tiêu hao sức mạnh của họ là vũng lầy I-rắc, Áp-ga-ni-xtan[4] và cuộc khủng hoảng tài chính kéo theo suy thoái kinh tế. Để làm điều này, Washington thực hiện hai “tái cân bằng”: (i) Tái cân bằng về kinh tế với trọng tâm là cấu trúc lại nền kinh tế trong nước và hệ thống các định chế quản trị kinh tế toàn cầu; (ii) Tái cân bằng về chiến lược với trọng tâm “trở lại châu Á” nhằm kiểm soát sự trỗi dậy của khu vực, đặc biệt là Trung Quốc.
Sự trở lại của Mỹ và sự quyết đoán gia tăng của Trung Quốc đã gây ra những áp lực trái chiều lên toàn bộ khu vực Đông Á. Cạnh tranh giữa các nước lớn ngày càng quyết liệt. ASEAN từ vị thế cận biên về chiến lược trong một giai đoạn khá dài trở lại vai trò trung tâm kết nối hội nhập khu vực. Tranh chấp chủ quyền biển đảo tăng lên trên hầu suốt vành đai từ Biển Nhật Bản đến Biển Đông. Cả bốn điểm nóng tiềm tàng tại Tây Thái Bình Dương là tranh chấp Nga - Nhật về bốn đảo Nam Kuril (Nhật Bản gọi là lãnh thổ phía Bắc), bán đảo Triều Tiên, eo biển Đài Loan và Biển Đông đều có động thái đảo chiều.[5]
Tại Biển Đông, từ cuối thập niên 1990 tình hình được cải thiện theo hướng hòa dịu, nhất là sau khi Trung Quốc ký Hiệp định phân định ranh giới trong Vịnh Bắc Bộ với Việt Nam vào năm 2000 và Tuyên bố về cách ứng xử của các bên tại Biển Đông (DOC) với ASEAN vào năm 2002. Tuy nhiên, bên dưới bề mặt có vẻ yên ổn này cán cân quyền lực vẫn không ngừng chuyển dịch. Trung Quốc, một mặt, tăng cường hiện đại hóa hải quân và các lực lượng chấp pháp biển, hoàn thiện chiến lược biển, hệ thống pháp luật, thể chế quản lý và bảo vệ biển, mặt khác, nhất quyết thực hiện “hai không” - không quốc tế hóa, không đa phương hóa tranh chấp, chỉ đàm phán song phương nhằm khoét sâu vào sự khác biệt về lợi ích giữa các thành viên ASEAN, tìm cách áp đặt “gác lại tranh chấp, cùng nhau khai thác”. Trong điều kiện nhiều qui định của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển (UNCLOS) không được tôn trọng thì đây không phải là trò chơi “cùng thắng” được quảng bá rầm rộ, mà là kiểu cờ vây, trong đó đối phương do mất dần thế cân bằng chiến lược nên bị dồn vào chỗ phải “gác lại tranh chấp”, tức là đánh đổi quyền tài phán để lấy hòa bình, rồi sau đó phải chấp nhận “cùng nhau khai thác”, tức là đánh đổi nốt quyền chủ quyền[6] nếu muốn khai thác tài nguyên biển để phát triển. Hậu quả là trong gần một thập niên kể từ năm 2002, tiến trình đàm phán ASEAN - Trung Quốc về việc nâng cấp DOC thành bộ quy tắc ứng xử (COC) hầu như dẫm chân tại chỗ, khuôn khổ an ninh Biển Đông ngày càng trở nên lỗi thời, tụt hậu, không phù hợp với tương quan quyền lực mới.
Nguy cơ mất cân bằng chiến lược và sự giảm sút lòng tin buộc các nước còn lại phải gia tăng tiềm lực quốc phòng, đẩy mạnh thực thi chủ quyền trên biển, thực hiện ngoại giao phòng ngừa, tìm kiếm các quan hệ đối trọng. Một vòng xoáy “tiến thoái lưỡng nan về an ninh” (security dilemma) mới lại hình thành tại Biển Đông. Điều nguy hiểm là vùng áp thấp này có xu hướng mạnh lên thành bão.
Cấu trúc tình huống chiến lược
Cục diện đa biên tại Biển Đông không hoàn toàn là cuộc đấu quyền lực mạnh được, yếu thua, cũng không hoàn toàn là tranh tụng pháp lý nơi có quan tòa phân xử ai đúng, ai sai. Về mặt cấu trúc, đây là kiểu trò chơi xung đột phức tạp giữa nhiều bên không có sự thống nhất tuyệt đối, cũng như đối nghịch tuyệt đối về lợi ích, trong đó nước đi chiến lược của mỗi bên có thể chứa đựng cả yếu tố hợp tác lẫn bất hợp tác.[7] Mặc dù các bên can dự tại Biển Đông có lợi ích, động cơ và tính toán chiến lược riêng, nhưng các nước đi của họ có thể chia thành hai nhóm: các nước đi phù hợp với UNCLOS, góp phần bảo toàn nguyên trạng và các nước đi không tuân thủ UNCLOS, làm thay đổi nguyên trạng.
Nước đi thứ nhất
Trong bối cảnh Mỹ và các đồng minh sa lầy trong cuộc chiến chống khủng bố và suy thoái kinh tế, Trung Quốc tích cực sử dụng sức mạnh vượt trội của mình để mở rộng ảnh hưởng trên toàn cầu. Tại Biển Đông, nước này trở lại lối hành xử đơn phương, cứng rắn, không phù hợp với UNCLOS và khuôn khổ an ninh khu vực.
1. Từ nửa cuối năm 2007, Trung Quốc tăng cường các hoạt động chấp pháp tại khu vực tranh chấp, gây sức ép, buộc một số công ty đa quốc gia phải ngừng hợp tác thăm dò và khai thác dầu khí với các nước tại Biển Đông, tăng cường tuần tra, bắt giữ ngư dân các nước láng giềng, tập trận quy mô lớn, thực thi lệnh cấm đánh bắt cá hàng năm, v.v…
2. Năm 2009, Trung Quốc phản đối hồ sơ đệ trình lên Ủy ban LHQ về Ranh giới thềm lục địa (CLCS) của các quốc gia khác ở Biển Đông. Ngày 7/5/2010 nước này lần đầu tiên chính thức gửi CLCS bản đồ về “đường chữ U” hoàn toàn đi ngược lại nguyên tắc cơ bản của UNCLOS.
Nước đi này của Trung Quốc, một mặt, đã làm đảo chiều cục diện Biển Đông, khiến tần suất và cường độ tranh cãi ngoại giao, cũng như va chạm trên biển tăng vọt một cách nguy hiểm.[8] Mặt khác, tuyên bố về “đường chữ U” đã đẩy tranh chấp vào chỗ hoàn toàn bế tắc về pháp lý.
Nước đi thứ hai
1. Năm 2010, trên cương vị chủ tịch ASEAN, Việt Nam thực hiện điều chỉnh chính sách Biển Đông theo hướng kết hợp song phương với đa phương trên cơ sở UNCLOS với ba bước đi quan trọng theo hướng: (i) Thúc đẩy quan hệ Việt - Mỹ; (ii) Thống nhất lập trường các nước ASEAN về Biển Đông; (iii) Đẩy mạnh liên kết ASEAN - Mỹ.[9] Mặt khác, Việt Nam tăng cường khả năng phòng thủ đường biển, tuyên bố sử dụng Cam Ranh làm trung tâm dịch vụ hải quân quốc tế.
2. Từ giữa năm 2010, ban lãnh đạo mới của Phi-líp-pin thực hiện “nhất biên đảo” về phía Mỹ, thay đổi quan điểm trước đây về Biển Đông[10], dựa hẳn vào UNCLOS để đẩy mạnh tuyên bố và thực thi chủ quyền ở vùng biển được họ đổi tên thành biển Tây Phi-líp-pin. Ngày 5/4/2011 Phi-líp-pin gửi công hàm lên LHQ chính thức phản đối tuyên bố “đường chữ U” của Trung Quốc.
3. Trong năm 2010, Mỹ củng cố các quan hệ chiến lược ở Đông Bắc Á (với các đồng minh Hàn Quốc, Nhật Bản, Ô-xtrây-li-a, nâng cấp quan hệ với Niu Di-lân, nối lại hợp đồng bán vũ khí cho Đài Loan), tích cực “trở lại” Đông Nam Á (cải thiện quan hệ với các nước ASEAN, ký Hiệp định Thân thiện và Hợp tác Đông Nam Á (TAC), tham gia ARF, tổ chức hội nghị thượng đỉnh Mỹ-ASEAN, đưa ra sang kiến Hạ Mê Công, gia nhập EAS, …).
Mặc dù xuất phát từ những tính toán lợi ích khác nhau, nhưng những nước đi của các nước kể trên cùng có tác dụng duy trì nguyên trạng tại Biển Đông trong khuôn khổ UNCLOS. Sự đồng bộ của các nước đi này đã tạo ra lực cộng hưởng nhằm đúng vào hai điểm yếu mà Trung Quốc luôn che chắn bằng chiến thuật “hai không”, đó là sự đồng thuận của ASEAN trong vấn đề Biển Đông và sự can dự trở lại Đông Nam Á của Mỹ. Trung Quốc rơi vào thế bị động, lúng túng, tham vọng “đường chữ U” dường như đang bị “vòng vây chữ C” ngăn cản.[11]
Nước đi thứ ba
Trung Quốc đáp trả bằng cách phá vỡ nguyên trạng ở Biển Đông, cố tình đẩy căng thẳng lên một cấp độ mới bằng việc thực hiện hai mũi giáp công được tính toán kỹ lưỡng:
1. Lãnh đạo cấp cao Trung Quốc tiến hành hàng loạt cuộc tiếp xúc quốc tế quan trọng.[12]
2. Thực hiện các vụ đột kích gây va chạm nghiêm trọng bằng nhiều tàu cá, ngư chính và hải giám vào sâu trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý (EEZ) của Phi-líp-pin và Việt Nam.
Mũi thứ nhất nhằm tạo sự hòa dịu, lôi kéo, phân hóa, chia rẽ các bên có liên quan, ngăn cản xu hướng hình thành quan điểm thống nhất về Biển Đông, đồng thời “viễn giao, cận công” - dàn dựng bối cảnh quốc tế thuận lợi cho mũi thứ hai. Mũi thứ hai nhằm tạo sự răn đe, gây sức ép lên các bên có liên quan. Thời điểm được Trung Quốc lựa chọn cho chiến dịch đột kích là sau Hội nghị thượng đỉnh ASEAN 18 (tháng 5/2011), nhưng trước khá xa các hội nghị lớn của khu vực như hội nghị ngoại trưởng ASEAN 44, ARF, thượng đỉnh ASEAN 19, EAS, v.v… cho phép Trung Quốc vừa kiểm tra được phản ứng của các bên, vừa đủ thời gian để Trung Quốc kịp xử lý các diễn biến bất trắc có thể xảy ra.
Bằng chiến dịch trả đũa, Trung Quốc đã: (i) “Biến không thành có”[13] - thực thi “đường chữ U” trên thực địa; (ii) Làm giảm tác dụng của các cơ chế an ninh khu vực như DOC, Đối thoại Shangri-La; (iii) Đe dọa Việt Nam và gây sức ép phân hóa ASEAN; (iv) Thử thách chiến lược “trở lại châu Á” và quan hệ với các đồng minh khu vực của Mỹ.
Trong những năm qua, quy định của UNCLOS về vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của các quốc gia ven biển đã vạch ra ranh giới pháp lý góp phần quan trọng vào duy trì cân bằng lực lượng tại Biển Đông. Việc phá vỡ ranh giới này, đơn phương áp đặt một đường ranh giới mới đe dọa làm đảo lộn cán cân lực lượng tại đây. Để đánh giá mức độ đe dọa cần phân tích sâu hơn nước đi của Trung Quốc.
Thứ nhất, loạt hành động đe dọa của Trung Quốc tuy mạnh, nhưng có giới hạn: (i) Về phương tiện - chỉ sử dụng một số ít tàu chấp pháp chứ chưa phải tàu quân sự; (ii) Về thời gian - chỉ gây hấn trong thời gian ngắn; (iii) Về cường độ - chỉ gây va chạm gián tiếp (cắt cáp) chứ không va chạm trực tiếp bằng tàu (như tại Điếu ngư/Senkaku với tàu của Nhật Bản) vào tháng 9/2010; (iv) Về không gian - chưa có động thái điều động lực lượng nhằm mở rộng quy mô xung đột. Điều này hàm ý rằng, Trung Quốc hiện chỉ muốn phát đi thông điệp răn đe đối với những nước có liên quan đừng đi quá xa trong việc quốc tế hóa vấn đề Biển Đông. Thứ hai, Trung Quốc lặp lại nhiều lần việc xâm nhập dân sự là để ngầm cho các bên hiểu rằng, sự đe dọa của họ là hoàn toàn có chủ đích, được hoạch định kỹ lưỡng, không phải là các va chạm ngẫu nhiên. Thứ ba, việc Trung Quốc sử dụng chiến thuật xâm nhập chớp nhoáng vào sâu vùng EEZ của Việt Nam và Phi-líp-pin rồi rút lui nhanh chóng cho thấy họ vẫn muốn tránh rủi ro đụng độ với lực lượng vũ trang của các nước này, chưa có ý định khiêu khích quân sự và chủ động đẩy tình hình đến mức xung đột lớn. Thứ tư, Trung Quốc chỉ hạn chế việc gây căng thẳng trên biển và trên các phương tiện truyền thông, chưa có biểu hiện mở rộng sang lĩnh vực khác. Điều này cho thấy, họ chỉ muốn kiểm tra mức độ phản ứng của Việt Nam và Phi-líp-pin, mà chưa muốn thách thức quan hệ với Việt Nam và Phi-líp-pin nói chung. Thứ năm, Trung Quốc chỉ gây căng thẳng với hai nước gần nhất tại Biển Đông là Việt Nam và Phi-líp-pin, trong khi không động chạm tới các nước ở xa hơn như Bru-nây, Ma-lai-xi-a và In-đô-nê-xi-a. Đây vẫn là chiến thuật “chia để trị” quen thuộc nhằm khai thác tối đa “nan đề tù nhân” (prisoner’s dilemma) của các nước ASEAN[14]. Thứ sáu, Trung Quốc chỉ cảnh báo Mỹ không được can dự vào vấn đề Biển Đông bằng lời ở cấp thấp (người phát ngôn Bộ Ngoại giao), mà không đi kèm bất cứ hành động trả đũa nào trên thực tế, đồng thời tái cam kết tôn trọng tự do hàng hải tại vùng nước này, cố gắng tách vấn đề tự do hàng hải mà Mỹ tuyên bố có lợi ích quốc gia ra khỏi vấn đề tranh chấp chủ quyền. Điều này chứng tỏ, Trung Quốc chỉ muốn “đả thảo kinh xà” hay “rung cây dọa khỉ”, chưa muốn va chạm trực tiếp với Mỹ. Trên thực tế, việc Mỹ tuyên bố có lợi ích quốc gia đối với hòa bình, ổn định và tôn trọng luật pháp quốc tế tại Biển Đông, nhưng không cam kết cụ thể sẽ làm gì khi điều này bị vi phạm, đồng thời cũng nhắc đi nhắc lại rằng không can dự vào tranh chấp chủ quyền giữa các bên đã tạo cho Trung Quốc sự tự tin nhất định.
Như vậy có thể thấy, vào thời điểm hiện tại, áp đặt “đường chữ U” bằng bất cứ giá nào chưa phải là mục tiêu sống còn của Trung Quốc. Chia nhỏ một đe dọa lớn thành nhiều bước đi gây đe dọa nhỏ được Trung Quốc áp dụng là kiểu chiến thuật răn đe điển hình, chưa nhằm kích động xung đột lớn.[15] Vấn đề mấu chốt là ở chỗ, bằng hành động của mình, Trung Quốc đã “qua sông đốt cầu” - phủ nhận việc áp dụng quy định của UNCLOS về vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của các bên ở Biển Đông, phủ nhận DOC và các cơ chế an ninh liên quan, khiến cho tình hình không thể trở về trạng thái trước đó.
Điểm yếu căn bản trong nước đi của Trung Quốc là đã phát đi một đe dọa quá lớn. Một khi ranh giới pháp lý ở Biển Đông bị chọc thủng, thì nguy cơ “vỡ đê” an ninh trên toàn tuyến Biển Đông lập tức đặt các nước có liên quan vào tình trạng báo động khẩn cấp. Nghiêm trọng hơn, do cân bằng chiến lược tại Biển Đông liên hệ chặt chẽ với các cân bằng chiến lược then chốt khác ở châu Á - Thái Bình Dương, nên phá vỡ nguyên trạng tại Biển Đông đồng thời cũng đe dọa an ninh trên toàn khu vực. Đến lượt nó, đe dọa này lại khiến cho vấn đề Biển Đông được quốc tế hóa mạnh, hình ảnh “phát triển hòa bình” và lòng tin của cộng đồng quốc tế đối với Trung Quốc như một nước lớn có trách nhiệm bị tổn hại.
Nước đi thứ tư
1. Việt Nam liên tiếp phản đối hành vi của phía Trung Quốc, đưa vấn đề Biển Đông ra Hội nghị ngoại trưởng ASEM lần thứ 10 (tháng 6/2011 tại Godollo, Hungary), tập trận bắn đạn thật gần bờ, tổ chức Đối thoại chính trị - an ninh - quốc phòng Việt-Mỹ lần bốn tại Washington với tuyên bố chung “tái khẳng định cam kết tăng cường quan hệ song phương trên cơ sở hữu nghị, tôn trọng lẫn nhau, và các cam kết chung về đảm bảo một khu vực châu Á - Thái Bình Dương hoà bình, ổn định, phồn vinh và an ninh”, “thảo luận việc nâng tầm quan hệ song phương hướng tới quan hệ đối tác chiến lược”. Mặt khác, Việt Nam vẫn thực hiện tuần tra hải quân định kỳ với Trung Quốc tại Vịnh Bắc Bộ, tiến hành thăm viếng quốc phòng và đặc biệt là cử phái viên của lãnh đạo cấp cao đến Bắc Kinh.
2. Phi-líp-pin cũng phản đối mạnh mẽ đường chữ U và hành vi gây hấn của Trung Quốc và gửi kháng nghị thư lên LHQ, tăng cường sức mạnh hải quân và không quân, cử ngoại trưởng thăm Mỹ, tập trận hải quân với Mỹ, tuyên bố dự định đưa tranh chấp với Trung Quốc ra tòa án quốc tế. Đồng thời nước này cũng đưa ra sáng kiến thiết lập Khu vực hòa bình, tự do, hữu nghị và hợp tác tại Biển Đông (ZoPFF/C),[16] phái ngoại trưởng Del Rosario tới Bắc Kinh để đàm phán.
3. Mỹ tái khẳng định thực hiện Hiệp ước phòng thủ chung và tập trận hải quân với Phi-líp-pin, diễn tập phi tác chiến với hải quân Việt Nam, tập trận hải quân ba bên Mỹ - Nhật - Ô-xtrây-li-a ngoài khơi Bru-nây, ra các nghị quyết của Thượng viện và Hạ viện về tình hình Biển Đông kêu gọi thiết lập cơ chế an ninh đa phương. Mặt khác, Mỹ cũng tích cực đối thoại với Trung Quốc, đặc biệt là chuyến thăm Trung Quốc của Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân M. Mullen.
Phản ứng của Việt Nam, Phi-líp-pin và Mỹ là thích đáng, nhưng rõ ràng mang tính kiềm chế và xây dựng. Thứ nhất, các bên đều ra các tuyên bố mạnh mẽ đi kèm với hành động đáp trả có mức độ răn đe vừa đủ. Thứ hai, các nước này đều chủ động đối thoại song phương với Trung Quốc - cử đại diện cấp cao sang Bắc Kinh nhằm tháo ngòi nổ xung đột. Thứ ba, quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ, Phi-líp-pin - Hoa Kỳ nói riêng, và quan hệ ASEAN - Hoa Kỳ nói chung được củng cố và tăng cường hơn.
Tuy nhiên, sự thống nhất của ASEAN trong vấn đề Biển Đông rõ ràng đã suy giảm. Những phản ứng rời rạc tại Đối thoại Shangri-La (3-5/6/2011) và tuyên bố của Tổng thư ký ASEAN Surin Pitsuwan rằng, “ASEAN không can thiệp vào vấn đề tranh chấp giữa Việt Nam, Ma-lai-xi-a, Bru-nây, Phi-líp-pin, Đài Loan và Trung Quốc, nhưng sẽ mở diễn đàn thảo luận công khai và thẳng thắn về các vấn đề Biển Đông” cho thấy sự lúng túng của tổ chức này. Đây chính là những biểu hiện của tình trạng né tránh trách nhiệm hay “đùn đẩy chiến lược” (buck-passing), cái mà Michael Richardson gọi là “nan đề ASEAN” (ASEAN’s dilemma).[17] Mặt khác, rõ ràng là Mỹ có lợi ích hạn chế trong việc giải quyết triệt để tranh chấp tại Biển Đông. Mục đích chính của Washington là quản trị rủi ro, khống chế tình trạng nhùng nhằng để không bùng phát thành xung đột thông qua các cơ chế đa phương. Trên thực tế, hiệu quả khiêm tốn của các cơ chế như vậy có thể thấy qua hàng loạt ví dụ như cơ chế đàm phán sáu bên về vấn đề hạt nhân Triều Tiên hay nhóm P5+1 về vấn đề hạt nhân I-ran.
Bốn nước đi được phân tích ở trên cho thấy, tranh chấp ở Biển Đông đã mang sắc thái “ăn miếng, trả miếng” nguy hiểm, nhưng chưa đến mức “một mất, một còn” của trò chơi có tổng bằng 0. Hòa bình, ổn định và phát triển vẫn là các lợi ích to lớn được tất cả các bên tính tới và cân nhắc.
Một vài dự báo
Kiểu nước đi và phản ứng tiếp theo của các bên là gì? Căn cứ vào ba chiều cạnh là phương tiện (ngoại giao, pháp lý, dân sự, quân sự), không gian (bên ngoài hay bên trong vùng đặc quyền kinh tế của các nước láng giềng) và thời gian (đột kích chớp nhoáng hay đồn trú lâu dài), có thể thấy Trung Quốc có 7 nhóm đối sách chính, được sắp xếp theo thứ tự mức độ nghiêm trọng tăng dần (Bảng 1), trong đó nhóm đối sách sau không loại trừ, mà bao gồm các nhóm đối sách đứng trước.
Việc Trung Quốc lựa chọn nước đi nào tùy thuộc vào tình hình chính trị bên trong, cũng như phản ứng từ bên ngoài. Do khuôn khổ bài viết có hạn, nghiên cứu này giả định rằng, sẽ không có những thay đổi nào trong nội bộ Trung Quốc làm đảo lộn đường hướng chiến lược của họ tại Biển Đông,[18] cũng như Hoa Kỳ vẫn tiếp tục theo đuổi mục tiêu can dự vào vùng biển này.[19] Trong trường hợp đó, có thể xem xét quỹ đạo chuyển dịch tình huống chiến lược Biển Đông thông qua sự thay đổi trong cặp đối sách Việt - Trung.
Bảng 1. Các lựa chọn chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông
Giảm mức độ nghiêm trọng
Duy trì
mức độ nghiêm trọng hiện nay
Gia tăng
mức độ nghiêm trọng
Đàm phán
đa phương
Gây sức ép bên ngoài VnEEZ
Gây sức ép
pháp lý
Đột kích
dân sự vào trong VnEEZ
Đồn trú
dân sự
trong VnEEZ
Đột kích
quân sự vào trong VnEEZ
Đồn trú
quân sự
trong VnEEZ
Tùy thuộc vào phương tiện được sử dụng để đấu trang bảo vệ chủ quyền mà Việt Nam có 5 nhóm đối sách chính theo mức độ nghiêm trọng tăng dần là: đàm phán đa phương - đấu tranh dân sự - đấu tranh ngoại giao - đấu tranh pháp lý - đấu tranh vũ trang. Các nhóm đối sách sau không loại trừ, mà bao gồm các nhóm đối sách đứng trước.
Bảng 2. Ma trận lợi ích chiến lược Việt Nam-Trung Quốc ở Biển Đông
Ma trận lợi ích chiến lược (Bảng 2) phản ánh tất cả các cặp đối sách của Việt Nam và Trung Quốc. Lợi ích (hay thiệt hại) của mỗi bên từ việc lựa chọn đối sách được đánh giá theo thang điểm từ -5 đến +5 và được ghi vào ô tương ứng, ở góc dưới bên trái đối với Việt Nam và góc trên bên phải đối với Trung Quốc. Để khách quan, việc cho điểm cần được thực hiện bằng phương pháp chuyên gia, tuy nhiên trong bài viết này chỉ sử dụng đánh giá chủ quan của tác giả.
Cấu trúc chiến lược Biển Đông như đã phân tích ở phần trước có thể thấy rõ qua các bước chuyển trên ma trận. Bước chuyển từ A qua B đến C phản ánh nỗ lực ngoại giao của Trung Quốc nhằm phân hóa, chia rẽ các nước ASEAN trong vấn đề Biển Đông, gia tăng sức mạnh trên biển, tuyên bố chủ quyền bên trong “đường chữ U”. Chuyển dịch từ C qua D đến E là những bước đi chủ động phòng ngừa của Việt Nam từ năm 2007 đến năm 2010. Bước ngoặt từ E sang F là kết quả của nước đi gây căng thẳng vừa qua của Trung Quốc, đe dọa nghiêm trọng an ninh quốc gia của Việt Nam.
Ma trận cho phép dự báo, trong ngắn hạn, từ trạng thái F hiện nay tình hình có thể tiến triển theo một trong sáu kịch bản sau:
1. Trung Quốc đơn phương rút lui tuyên bố về “đường chữ U”, cam kết tôn trọng ranh giới vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của các nước láng giềng ở Biển Đông (chấp nhận lùi từ F trở về E). Sau việc Trung Quốc đã chính thức chuyển cho CLCS bản đồ về “đường chữ U”, kịch bản này rất khó có khả năng xảy ra.
2. Việt Nam từ bỏ chủ trương đa phương hóa vấn đề Biển Đông (lùi từ F về G), quay về đàm phán song phương với Trung Quốc. Đối sách này không những ít có khả năng xoa dịu tình hình, mà còn có thể kích thích Trung Quốc thừa cơ lấn tới, gây thiệt hại lớn hơn cho Việt Nam. Vì vậy, đây là kịch bản mà Việt Nam không thể chấp nhận được.
3. Việt Nam đưa tranh chấp ra tòa án quốc tế (từ F tới H). Đây là phương án được Phi-líp-pin đề xuất, hoàn toàn nằm trong khuôn khổ UNCLOS và DOC. Tuy nhiên, thực tiễn pháp lý quốc tế cho thấy, trong ngắn và trung hạn lựa chọn này ít có tác dụng kịp thời, còn về dài hạn thì khả năng giải quyết tranh chấp rất thấp.
4. Việt Nam sử dụng biện pháp đấu tranh bằng quân sự trước (từ F xuống J). Đây là hành động tự vệ chính đáng khi chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia bị xâm phạm nghiêm trọng. Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, tình hình hiện vẫn chưa đến mức “một mất, một còn” của trò chơi có tổng bằng 0, hòa bình, ổn định, phát triển vẫn là các giá trị được tất cả các bên tính tới. Nói cách khác, cơ hội giải quyết thông qua đối thoại hòa bình vẫn chưa khép lại và do đó, kiềm chế sử dụng vũ lực trước vẫn là ưu tiên hàng đầu.
5. Trung Quốc tiếp tục leo thang căng thẳng, đẩy tình hình lên cấp độ nghiêm trọng mới bằng việc đồn trú dân sự trong vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam (từ F sang I). Trong trường hợp này, bất chấp tình hình có thể xấu đi, Việt Nam không còn lựa chọn nào khác ngoài việc kiên quyết ngăn chặn để bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ (từ I xuống K).
6. Giữ nguyên hiện trạng (dừng ở điểm F). Việc “đóng băng” tình trạng hiện nay có thể được đạt được bằng cam kết của các bên, hoặc song phương giữa Việt Nam - Trung Quốc hoặc đa phương giữa ASEAN - Trung Quốc, về việc không có hành động làm phức tạp thêm tình hình. Cả hai phương án đều phải chấp nhận “lờ đi” hành động gây căng thẳng vừa qua của Trung Quốc để đổi lấy cam kết không làm tình hình xấu hơn.
Trên thực tế, việc Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN+Trung Quốc họp tại Bali (In-đô-nê-xi-a) ngày 21/7/2011 vừa qua đạt được thỏa thuận về bản Hướng dẫn thực thi DOC cho thấy tình hình có chiều hướng tiến triển theo kịch bản thứ sáu. Tin tốt là trong ngắn hạn, kiểu tạm ước như vậy, cho dù nội dung sơ sài đến đâu, vẫn có tác dụng “hoãn binh” kiềm chế nguy cơ bùng phát xung đột tức thời. Trong bối cảnh hiện nay, duy trì nguyên trạng là phương án vừa khả thi nhất, vừa an toàn nhất cho tất cả các bên. Tin xấu là về trung hạn, nếu căn cứ vào các đánh giá trên ma trận (Bảng 2), trạng thái F là một cân bằng Pareto không bền vững,[20] trong đó bên có lợi thế “nắm dao đằng chuôi” - luôn có thể sử dụng hoặc đe dọa sử dụng các nước đi làm xói mòn hay thậm chí phá vỡ nguyên trạng (ví dụ chuyển từ F sang I).
Trong bất cứ trường hợp nào cần chặn đứng xu hướng chuyển dịch ngày càng xa khu vực an toàn (góc trên bên trái ma trận) và ngày càng gần khu vực nguy hiểm (góc dưới bên phải ma trận), hóa giải nguy cơ “tiến thoái lưỡng nan Xi-bê-ri” (Xi-bê-ri dilemma) đang hiện rõ, trong đó các bên chỉ còn hai lựa chọn: xung đột sớm hay xung đột muộn.
Thay lời kết
Về dài hạn, cục diện pháp lý tại Biển Đông ít có triển vọng đạt đến trạng thái phân định rạch ròi như ở biển Ban-tích, Hắc Hải, Cax-pi-a hay Vịnh Mê-hi-cô. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, trong nhiều trường hợp, đặt vấn đề giải quyết triệt để tình trạng chồng lấn chủ quyền trên biển không những là nhiệm vụ bất khả thi, mà cònđẩy tình hình tranh chấp vào chỗ bế tắc hoàn toàn với kết cục xung đột khó tránh khỏi. Tuy nhiên, cục diện pháp lý kém khả quan này không có nghĩa là cục diện an ninh Biển Đông không có lối thoát.
Như đã phân tích, việc bảo đảm an ninh lâu dài ở Biển Đông đòi hỏi phải xây dựng một khuôn khổ an ninh chung dựa trên nền tảng cân bằng quyền lực.[21] Mô hình Liên minh Địa Trung Hải[22] kết hợp được cả hai yếu tố này, vì thế, có thể là một gợi ý không tồi về lối thoát cho cục diện an ninh Biển Đông - vùng biển vốn được nhà địa chính trị Nicolas Spykman gọi là “Địa Trung Hải châu Á”.[23] Thứ nhất, mức độ thể chế hóa an ninh Biển Đông bằng tuyên bố chung DOC hay bộ quy tắc ứng xử COC, thậm chí ngay cả đề xuất của Phi-líp-pin về Khu vực Hòa bình, Tự do, Hữu nghị và Hợp tác ASEAN - Trung Quốc ở Biển Đông là cần, nhưng có thể không đủ để ngăn chặn các hành động đơn phương vi phạm các cam kết, nhất là đối với bên có lợi thế “nắm dao đằng chuôi”. Thứ hai, tương tự như Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác Đông Nam Á đã trở thành nền tảng cho toàn bộ kết cấu hội nhập khu vực lấy ASEAN làm trung tâm, các quy tắc ứng xử cần được thể chế hóa ở mức độ cao hơn, trở thành chuẩn mực bắt buộc cho tất cả các “cổ đông” ở Biển Đông, làm nền tảng cho việc hình thành một Liên minh, Cộng đồng hay Ủy hội Biển Đông. Một tổ chức như vậy sẽ khắc phục được sự lỏng lẻo thiếu hiệu quả của các diễn đàn an ninh hay nhóm đối thoại, nhưng đồng thời lại có lợi thế là không đòi hỏi sự tham gia ngay từ đầu của tất cả các bên như các cam kết về ứng xử, mà từng bước gia tăng sức nặng của mình, cho phép dung hòa được “2 trong 1” phương châm “gác lại tranh chấp, cùng nhau khai thác” và quan điểm đa phương hóa - quốc tế hóa hiện vẫn đối chọi nhau. Thứ ba, đó phải là một cơ chế an ninh tập thể mang tính mở, thu hút được tất cả các nước lớn có lợi ích quốc gia ở vùng biển này nhằm đảm bảo thực hiện “cân bằng quyền lực được thể chế hóa” (institutionalized balancing).[24] Đây sẽ là sự bổ sung thiết yếu cho Cộng đồng an ninh ASEAN nói riêng, cũng như toàn bộ kết cấu an ninh Đông Á lấy ASEAN làm hạt nhân nói chung, góp phần quản trị quyền lực, loại trừ nguy cơ xung đột, tăng cường hòa bình, ổn định và hợp tác phát triển tại khu vực.
Cuối cùng, bài học về sự đảo chiều của cục diện Biển Đông trong thập niên vừa qua cho thấy, để ngăn ngừa tình hình xấu đi, tiến trình kiến tạo khuôn khổ an ninh vững chắc cho vùng biển này không được tụt hậu, mà phải luôn vượt lên trước xu thế xói mòn nguyên trạng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Avinash K. Dixit, Barry J. Nalebuff, Tư duy chiến lược, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2010.
Carlyle A. Thayer, “Security Cooperation in the South China Sea: An Assessment of Recent Trends”, tại địa chỉ http:// www.nghiencuubiendong.vn/
David Shambaugh, “Coping with a Conflicted China”, The Washington Quarterly, Winter 2011, Vol 34, No. 1, pp. 7-27.
Đặng Xuân Thanh, “Bong bóng kép tài chính - bá quyền Mỹ”, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, số 4, 2008.
Roy C. Mabasa, “Spratlys Gambit”, The Manila Bulletin, June 10, 2011.
Thomas C. Schelling, Chiến lược xung đột, Nxb. Trẻ, 2006.
Yang Yi, “Navigating Stormy Waters”, China Security, Vol. 6, No. 3, 2010, pp. 43-50.
SIPRI, “Yearbook 2011: Armaments, Disarmament and International Security”, Sweden, 2011.
TS. Đặng Xuân Thanh
Bài viết đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, Học viện Ngoại giao, số 3 (86), tháng 9/2011
* Ts., Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu Đông Bắc Á.
[1] Đặng Xuân Thanh, “Bong bóng kép tài chính - bá quyền Mỹ”, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, số 4, 2008.
[2] Joshua Kurlantzick, Charm Offensive: How China's Soft Power Is Transforming the World, Yale University Press, 2007.
[3] Theo SIPRI Yearbook 2011, Đông Á trở thành khu vực chi tiêu quốc phòng nhiều thứ ba thế giới sau Bắc Mỹ và Tây Âu, nhưng dẫn đầu về nhập khẩu vũ khí.
[4] Mỹ đã thành công trong việc thay đổi chiến lược chống khủng bố, chuyển hai cuộc chiến tại I-rắc và Áp-ga-ni-xtan từ cường độ cao - chí phí lớn xuống cường độ thấp - chi phí nhỏ.
[5] Tranh chấp Nga - Nhật về bốn đảo thuộc quần đảo Nam Kuril/lãnh thổ phía Bắc từ nguội lại được hâm nóng; tình hình bán đảo Triều Tiên từ hòa hoãn chuyển sang nóng bỏng; tranh chấp tại Biển Đông từ tương đối ôn hòa chuyển sang căng thẳng; riêng quan hệ hai bờ eo biển Đài Loan từ căng thẳng chuyển sang hòa dịu.
[6] Quyền tài phán (jurisdiction) và quyền chủ quyền (sovereign right) là hai trong số các quyền cơ bản của chủ quyền quốc gia (cùng với quyền độc lập, quyền tự quyết, quyền toàn vẹn lãnh thổ và bất khả xâm phạm). Quyền tài phán là quyền xét xử các vi phạm pháp luật trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước có chủ quyền. Quyền chủ quyền là quyền thăm dò, khai thác tài nguyên tại các vùng thuộc chủ quyền của quốc gia.
[7] Thomas Schelling, Chiến lược xung đột, Nxb Trẻ, 2006., tr. 3-6.
[8] Riêng trong năm 2009, Trung Quốc đã có ít nhất ba lần va chạm với Mỹ tại Biển Đông trong vụ tàu hải quân USNS Impeccable, USS John McCain và tàu khảo sát Marcus G. Langseth.
[9] Việt Nam đã tích cực điều phối tổ chức Hội nghị thượng đỉnh Mỹ-ASEAN tại New York tháng 9/2010, Hội nghị các bộ trưởng Mỹ - Mê Công tháng 7/2010, Hội nghị ARF, Hội nghị ADMM +…
[10] Năm 2004, Phi-líp-pin ký kết riêng rẽ với Trung Quốc Hiệp định Nghiên cứu địa chấn hải dương (JMSU). Năm 2009, Phi-líp-pin không đệ trình báo cáo về thềm lục địa lên CLCS, không phản đổi tuyên bố chủ quyền “đường chữ U” của Trung Quốc, không nhận lời mời của Việt Nam và Ma-lai-xi-a tham gia báo cáo chung về thềm lục địa mở rộng, ngược lại còn phản đối báo cáo chung của Việt Nam và Ma-lai-xi-a.
[11] Thuật ngữ “vòng vây hình chữ C” được đại tá không quân Trung Quốc Dai Xu đưa ra trong sách Vòng vây hình chữ C: Đột phá của Trung Quốc dưới tác động của các vấn đề bên trong và sự gân hấn bên ngoài xuất bản năm 2009 để mô tả cái mà tác giả cho là âm mưu của Mỹ lôi kéo một số nước trong khu vực thiết lập vòng vây nhằm ngăn chặn, kiềm chế Trung Quốc (Xem Yang Yi, 2010).
[12] Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào thăm Mỹ (tháng 1/2011), Tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc Trần Bỉnh Đức thăm Mỹ (tháng 5/2011), Thủ tướng Ôn Gia Bảo thăm In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a (tháng 4/2011) và dự Hội nghị thượng đỉnh Trung - Nhật - Hàn lần thứ 4 tại Tokyo (tháng 5/2011), thắt chặt quan hệ với Mi-an-ma với hai chuyến thăm của ông Giả Khánh Lâm tới Mi-an-ma (tháng 4/2011) và Tổng thống Mi-an-ma Thein Sein sang Trung Quốc (tháng 5/2011), Bộ trưởng quốc phòng Lương Quang Liệt thăm ba nước Xinh-ga-po-, In-đô-nê-xi-a và Phi-líp-pin (tháng 5/2011), Chủ tịch Hồ Cẩm Đào thăm Nga và Ca-dắc-xtan (tháng 6/2011).
[15] Thomas Schelling, sđd, tr. 52-64. Chiến thuật “chia nhỏ đe dọa lớn” sẽ được phân tích kỹ hơn ở phần 3.
[16] Roy C. Mabasa, “Spratlys Gambit”, The Manila Bulletin, June 10, 2011.
[17] Michael Richardson, “ASEAN’s dilemma in South China Sea”, Straits Times, July 4, 2011.
[18] Có ba giả thuyết cho rằng chính sách đối ngoại cứng rắn bất thường gần đây của Trung Quốc xuất phát từ tình hình nội bộ của nước này: (i) Giới quân sự muốn dùng vấn đề bên ngoài để gây thanh thế nhằm củng cố vị thế trong nước trước Đại hội 18 Đảng Cộng sản Trung Quốc vào năm 2012; (ii) Đây là hành động “tự phát” của các địa phương; (iii) Lãnh đạo cấp cao muốn hướng dư luận bức xúc trong nước ra các vấn đề nóng bên ngoài. Có ba lý do khiến các giả thuyết trên ít có cơ sở. Thứ nhất, sự phối hợp của nhiều cơ quan, lực lượng vào hoạt động gây căng thẳng ở Biển Đông cho thấy đây là chiến dịch được tổ chức kỹ lưỡng dưới sự chỉ đạo từ trung ương. Thứ hai, thời gian từ nay cho đến Đại hội 18 Đảng Cộng sản Trung Quốc còn tương đối dài, mà căng thẳng ở Biển Đông không thể kéo dài quá lâu chỉ để thu hút sự chú ý của dư luận trong nước. Thứ ba, môi trương quốc tế và khu vực bất ổn và thù địch đối với Trung Quốc là rất bất lợi và nguy hiểm cho một sự kiện trọng đại là Đại hội Đảng.
[19] Chiến lược an ninh quốc gia Hoa Kỳ 2010 và những động thái gần đây nhất của Mỹ như củng cố quan hệ chiến lược với Nhật Bản, Hàn Quốc, Ô-xtrây-li-a, Phi-líp-pin, Ấn Độ, xúc tiến bán vũ khí cho Đài Loan, tăng cường hợp tác với các nước ASEAN, v.v... tiếp tục chứng tỏ xu hướng này.
[20] Trong trò chơi chiến lược, cân bằng Pareto là tình thế không bên nào có thể đơn phương cải thiện lợi ích của mình mà không gây thiệt hại cho các bên còn lại. Tính chất không bền vững phản ánh tình trạng các bên đều có động cơ thay đổi nguyên trạng (Xem Avinash K. Dixit, Barry J. Nalebuff, Tư duy chiến lược, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2010).
[21] Lập luận của Fidel Ramos (2011) rằng, chỉ cần cân bằng lợi ích giữa các bên liên quan là đã có thể bảo đảm được ổn định ở Biển Đông (mà không cần đến cân bằng quyền lực) không giải quyết được vấn đề lợi ích cốt lõi của Trung Quốc ở vùng biển này đang ngày càng mở rộng.
[22] Liên minh Địa Trung Hải là tổ chức bao gồm 27 nước châu Âu và 16 nước Bắc Phi, Trung Đông và Ban-căng được nâng cấp từ tổ chức Đối tác châu Âu - Địa Trung Hải vào năm 2008. Bốn lĩnh vực hợp tác là chính trị - an ninh, kinh tế - thương mại, văn hóa - xã hội và pháp luật. Hội nghị thượng đỉnh hai năm một lần và Ban thư ký là những cơ cấu lãnh đạo chủ yếu.
Thứ tư, 01 Tháng 6 2011 Viết bởi Nguyen Tien Thinh
Những điều chỉnh trong chiến lược của Trung Quốc đối với Biển Đông đã có những thay đổi rõ rệt. Điều này dựa trên mối liên hệ giữa chính sách Biển Đông của Trung Quốc với những diễn biến mới trong bối cảnh quốc tế, chính trị nội bộ của Trung Quốc, đặc biệt là gắn nó với chiến lược an ninh - đối ngoại của Bắc Kinh hiện nay. Do đó chiến lược “giấu mình chờ thời” hay “ ngoại giao hài hòa”nhường chỗ cho chiến lược an ninh và đối ngoại mang tính khẳng định hơn, chủ động và hiếu chiến hơn nhằm gây sức ép với các nước tranh chấp trong khu vực.
Để hiểu được động cơ đằng sau những thay đổi trong cách hành xử của Trung Quốc ở Biển Đông, cần phải đặt chính sách Biển Đông của Trung Quốc trong mối liên hệ với những diễn biến mới trong bối cảnh quốc tế, chính trị nội bộ của Trung Quốc, đặc biệt là gắn nó với chiến lược an ninh - đối ngoại của Bắc Kinh hiện nay. Có thể nhận định, điều chỉnh chính sách của Trung Quốc ở Biển Đông nằm trong thay đổi chiến lược an ninh và đối ngoại của Bắc Kinh trong bối cảnh quốc tế và trong nước có nhiều nhân tố mới.
Thay đổi cơ bản nhất trong môi trường chiến lược quốc tế là việc sức mạnh tổng hợp của Trung Quốc tăng mạnh làm cho khoảng cách kinh tế, quân sự, và quốc phòng giữa Mỹ và Trung Quốc ngày càng thu hẹp, cho cán cân quyền lực kinh tế và quân sự chuyển dịch theo hướng có lợi cho Trung Quốc. Trung Quốc vươn lên mạnh mẽ vượt Đức và Nhật, trở thành nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới trong lúc Mỹ suy yếu tương đối sau cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế, gặp khó khăn cả bên trong và bên ngoài. Một phần nguồn lực kinh tế được đầu tư để hiện đại hóa quốc phòng, đặc biệt là hải quân. Đô đốc Mike Mullen, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Mỹ, nhận định rằng ý đồ chiến lược đằng sau sự phát triển các khả năng quân sự mới của Trung Quốc dường như tập trung vào lực lượng hải quân Mỹ và căn cứ quân sự của Mỹ ở khu vực này của thế giới[1].
Thực lực kinh tế hùng mạnh, đặc biệt là kho dự trữ ngoại hối to lớn và vị thế hàng đầu trong nền thương mại quốc tế cho phép Trung Quốc có khả năng tác động mạnh đến kinh tế thế giới, không những thoát khỏi thế phụ thuộc vào Mỹ để phát triển mà còn đưa siêu cường này vào một tình thế “phụ thuộc sống còn về kinh tế” [mutually economic destruction][2]. Đó là lý do tại sao, Trung Quốc ngày càng tỏ ra tự tin, ngạo mạn, không còn “giấu mình chờ thời”, mà chủ động phô diễn sức mạnh về quân sự và sẵn sàng nói không với Mỹ trên nhiều vấn đề. Trung Quốc tận dụng mọi cơ hội để thay đổi luật chơi, gạt bỏ vai trò chủ đạo của Mỹ. Hiện nay, Trung Quốc là một đầu tàu kinh tế, là một bên chủ yếu nắm giữ chìa khóa đối với nhiều vấn đề chính trị tại khu vực và đang muốn chứng tỏ vai trò là cường quốc quân sự châu Á duy nhất tại Đông Á, thách thức vai trò siêu cường của Mỹ ở khu vực.
Lợi dụng việc Mỹ sa lầy trong cuộc chiến ở Áp-ga-ni-xtan và I-rắc, bối rối trong cách ứng phó với CHDCND Triều Tiên và I-ran, bận rộn xử lý vấn đề I-xra-en và Pa-le-xtin, Trung Quốc tìm cách từng bước lấn lướt Mỹ ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Từ 2002 đến 2007, Trung Quốc phát huy ảnh hưởng đối với các nước Đông Nam Á qua các cơ chế ASEAN+1, ASEAN+3, Cấp cao Đông Á, Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO)… để đối trọng với hệ thống an ninh “trục và nan hoa” của Mỹ. Tháng 3/2003, Trung Quốc tham gia Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác (TAC) và cùng với ASEAN thông qua Tuyên bố chung về Đối tác chiến lược ASEAN-Trung Quốc. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng đẩy mạnh ảnh hưởng ở khu vực Đông Nam Á thông qua các kênh song phương. Tháng 4/2005, Trung Quốc và In-đô-nê-xi-a ký tuyên bố chung về xây dựng quan hệ đối tác chiến lược. Tháng 4/2006, Trung Quốc và Cam-pu-chia thông qua Chương trình Đối tác Hợp tác Toàn diện. Tháng 5/2007, Trung Quốc và Thái Lan ký Chương trình Hành động cho Hợp tác Chiến lược. Ngoài ra, còn có một loạt các thỏa thuận hợp tác an ninh song phương giữa Trung Quốc với Ma-lai-xi-a, Việt Nam, Bru-nây, Xinh-ga-po, Phi-lip-pin và Lào. Từ 2002 đến 2008, Trung Quốc và 10 nước ASEAN trao đổi 124 đoàn quan chức quốc phòng cao cấp cùng với các hoạt động tham vấn thường xuyên với 10 nước này[3]. Bằng cách đó, Trung Quốc đã nâng cao vai trò và vị thế của mình ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương một cách tương đối so với vai trò và vị thế của Mỹ và Nhật Bản.
Ở trong nước, chính quyền Bắc Kinh ngày càng phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc thực hiện hai mục tiêu cơ bản xuyên suốt của mình là (i) duy trì ổn định chính trị và phát triển kinh tế, cơ sở cho tính chính đáng của Đảng Cộng sản, và (ii) ngăn chặn các làn sóng bạo loạn, ly khai trong các cộng đồng sắc tộc thiểu số ở các vùng biên cương. Quá trình đổi mới kinh tế mà không đổi mới chính trị buộc các nhà lãnh đạo thực dụng của Trung Quốc phải tìm kiếm các cơ sở chính đáng mới ở chủ nghĩa dân tộc. Thứ nhất, Đảng Cộng sản Trung Quốc thể hiện họ lãnh đạo dân tộc để bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc, từ Tây Tạng, Tân Cương đến Đài Loan và Biển Đông. Bên cạnh đó, con bài chủ nghĩa dân tộc đã được sử dụng tương đối thành công khi Trung Quốc phải đối mặt với các thế lực thù địch từ bên ngoài, ví dụ như trong việc Bắc Kinh phản đối Mỹ và Phương Tây trong các vấn đề dân chủ, nhân quyền, can thiệp vào các vấn đề Tây Tạng, Tân Cương và Đài Loan, bảo vệ hình ảnh của Trung Quốc trong Thế vận hội Olympic 2008, và gần đây nhất là bảo vệ tàu và ngư dân Trung Quốc bị Nhật Bản bắt[4].Đáng chú ý, một học giả Mỹ phát hiện ra một thực tế rằng các phương tiện thông tin đại chúng của Trung Quốc đưa tin nhanh và tuyên truyền rộng rãi, mạnh mẽ về vấn đề tranh chấp biển đảo, trong khi đưa tin mờ nhạt về các tranh chấp biên giới trên bộ, và nhận định đó có thể là một sách lược để nuôi dưỡng tinh thần dân tộc và lấy đó là cơ sở để duy trì tính chính đáng của chính quyền cộng sản. Thứ hai, tính chính đáng của Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng dựa trên việc trợ giúp các doanh nghiệp của Trung Quốc tiếp cận các nguồn tài nguyên chiến lược. Từ đầu thế kỷ 21 đến nay, để thỏa mãn một đại công xưởng tăng trưởng mạnh mẽ và không ngừng, Trung Quốc cần một lượng tài nguyên khổng lồ. Chính quyền cộng sản sử dụng triệt để các công cụ chính trị và kinh tế để hỗ trợ cho các doanh nghiệp của Trung Quốc vươn ra mạnh mẽ để giành quyền tiếp cận các nguồn tài nguyên chiến lược, từ Mỹ La-tinh đến châu Phi, Trung Đông và các khu vực xung quanh Trung Quốc. Chính vì thế, Trung Quốc gạt Mỹ và phương Tây ra khỏi Xu-đăng và nhiều nước châu Phi và Mỹ La-tinh khác để giành được các hợp đồng khai thác tài nguyên thô. Trong bối cảnh đó, nguồn tài nguyên ở Biển Đông, cả dầu mỏ và nguồn cá (đã được báo chí Trung Quốc thổi phồng) là một “miếng mồi” không thể bỏ qua. Thứ ba, chính sách đối ngoại của Bắc Kinh cũng chịu sự ảnh hưởng của cạnh tranh giữa các lực lượng, phe phái chính trị trong nội bộ Trung Quốc.
Chính sách đối với Biển Đông của Trung Quốc cần được xem xét trong tổng thể chiến lược an ninh và phát triển của nước này nhằm vươn lên thành một cường quốc toàn cầu. Chứng kiến sự vươn ra mạnh mẽ của Trung Quốc, một học giả nhận xét rằng “sự bành trướng của Trung Quốc trên Biển Đông chỉ là một phần của kế hoạch bành trướng tổng thể, bao gồm “bành trướng cứng” như bành trướng trên biển, trên đất liền, và bành trướng mềm như tăng cường hiện diện ở tất cả các nơi có tiềm năng lợi ích về tài nguyên, dầu mỏ, địa chính trị, v.v... cho Trung Quốc”[5].
Mong muốn trở thành cường quốc toàn cầu của Trung Quốc đã bộc lộ từ thời Mao Trạch Đông, khi Bắc Kinh tự coi mình là lãnh tụ của các nước thế giới thứ ba trong cuộc đấu tranh với hai siêu cường và các nước công nghiệp phát triển. Định hướng chiến lược này, tuy nâng Trung Quốc lên hàng một cường quốc trung gian giữa Mỹ và Liên Xô, nhưng lại không thể giúp Trung Quốc có được nguồn vốn và công nghệ cần thiết để phát triển kinh tế. Dưới thời Đặng Tiểu Bình, Trung Quốc chuyển sang mục tiêu chiến lược “bốn hiện đại hóa”, đồng thời áp dụng phương châm “giấu mình chờ thời”. Ước vọng toàn cầu được giấu đi, kìm nén, không được cụ thể hóa, chỉ nói chung chung là phấn đấu cho một trật tự thế giới công bằng, dân chủ và “đa cực hóa”. Sau một phần tư thế kỷ “cải cách khai phóng”, Trung Quốc đã từ một nước nghèo nàn lạc hậu vươn lên thành một nước công nghiệp hóa mới, trở thành một đầu tàu tăng trưởng của thế giới, với tổng sản phẩm xã hội đứng thứ 4 thế giới (2006) và một viễn cảnh sẽ vươn lên dẫn đầu thế giới sau nửa thế kỷ tiếp theo. Những điều này một mặt khiến nhiều nước, nhất là Mỹ, lo ngại Trung Quốc là đối thủ tiềm tàng của họ, mặt khác cũng khiến bản thân Trung Quốc khó lòng kiềm chế trong việc bày tỏ tham vọng. Một biểu hiện của việc thiếu kiềm chế là Trung Quốc cố sức tự đưa người vào vũ trụ trong khi thu nhập quốc dân đầu người vẫn còn ở mức nghèo (hơn 1000 đôla), một việc làm mà nhiều nước phát triển cao có khả năng cũng không đầu tư vì nặng tính khoa trương nhiều hơn là hiệu quả kinh tế. Cũng trong giai đoạn này, Trung Quốc đưa ra thuyết “trỗi dậy hòa bình” nhằm biện minh cho sự vươn lên vị thế một cường quốc thế giới. Khái niệm này sau một thời gian thử nghiệm đã được thay thế bằng cụm từ nhẹ nhàng hơn là “phát triển hòa bình”. Dù Trung Quốc đã hết sức cẩn trọng trong ngôn từ, người ta vẫn nhận thấy, dù không dễ dàng, tham vọng toàn cầu của Trung Quốc[6].
Từ năm 2007 đến nay, chiến lược “giấu mình chờ thời” hay “ngoại giao hài hòa” nhường chỗ cho chiến lược an ninh và đối ngoại mang tính khẳng định hơn, chủ động và quyết liệt hơn. Về an ninh, nội dung cốt lõi của chiến lược này là xây dựng lực lượng hải quân hùng mạnh, tăng cường quyền kiểm soát của Trung Quốc ở các vùng biển trọng yếu, đảm bảo an ninh cho các hoạt động giao thương của Trung Quốc. Có nhận định cho rằng Trung Quốc đang xây dựng vành đai an ninh “chuỗi ngọc trai” kết nối các đảo mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông, Biển Đông Trung Hoa (Trung Quốc gọi tắt là Đông Hải) và Biển Nhật Bản cùng với các đảo và những cơ sở cầu cảng khác của Trung Quốc trải rộng từ Hải Nam tới Trung Đông, chuỗi ngọc trai sẽ giống như như một vành đai bao quanh rất nhiều đất liền châu Á. Những khu vực này chính là lợi ích an ninh quốc gia mà Trung Quốc tin là sống còn với cả sứ mệnh bảo vệ vùng biển cũng như chi phối châu Á - Thái Bình Dương[7].
Bên cạnh đó, Trung Quốc xây dựng chiến lược “hải dương xanh” và chuyển từ “phòng ngự biển gần”, sang phát triển theo hướng “hải quân viễn dương”. Trung Quốc đang lên kế hoạch đóng tàu sân bay để tăng cường phạm vi hoạt động, phát triển các loại tên lửa tấn công loại tàu này. Cùng lúc đó, hải quân Trung Quốc vươn ra xa hơn. Tháng 12/2008, hải quân Trung Quốc điều động ba chiến hạm tới vùng biển Xô-ma-li, tham gia hoạt động hộ tống tàu thuyền qua lại vùng biển này. Tiếp đó, hai tàu thăm dò hải dương của Trung Quốc đã phá vỡ sự phong tỏa của Nhật Bản, tiến sâu vào vùng biển phụ cận đảo Điếu Ngư, thực hiện khảo sát, khiến Nhật Bản bị bất ngờ. Trung Quốc còn biểu dương sức mạnh hải quân vào tháng 4/2009.
Về kinh tế, Trung Quốc cần chạy đua để giành giật các nguồn tài nguyên chiến lược. Trung Quốc đã vươn ảnh hưởng đến châu Phi, châu Đại dương và Mỹ La-tinh để tìm các nguồn cung cấp nguyên nhiên liệu nhằm duy trì nền kinh tế tăng trưởng nhanh chóng. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng cần đa dạng hóa các nguồn cung dầu lửa. Có lẽ vì lý do đó mà Bắc Kinh ngày càng quyết liệt và mạnh bạo hơn trong hoạt động thăm dò dầu khí ở Biển Đông, kiểm soát và ngăn chặn hoạt động của các quốc gia khác ở vùng biển này.
Đỗ Thanh Hải & Nguyễn Thùy Linh, Chương trình Nghiên cứu Biển Đông
[1] Đô đốc Admiral Michael Mullen, “Remarks and Q&A at the Navy League Sea-Air-Space Exposition”, Gaylor National Resort and ConferenceCenter, National Harbour, Maryland, May 4, 2009.
[3] Xem thêm: Carlyle A.Thayer, “Southeast Asia : Pattern of Security Cooperation”,Australian Strategic Policy Institute – ASPI, September 2010, tr. 49-51.
[4] Xem thêm: Suishen Zhao, “Chinese Nationalism and Approaches toward East Asian Regional Cooperation”, International Institutions and Global Governance Program, Japan Studies Program, Paper at Council on Foreign Relations, December 2009.
[6] Vũ Hồng Lâm, “Thế giới đa cực: Cấu hình quyền lực thế giới đương đại”, Tham luận tại Hội thảo Dân chủ và Phát triển, Berkeley, California, Mỹ, 28-29/7/2006.
Bài viết đề cập đến 3 đặc điểm chính về nghiên cứu hiện tại của cộng đồng nghiên cứu chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông. Từ đó nêu bật nhiệm vụ của 4 cơ quan và viện nghiên cứu hàng đầu của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông.
Những căng thẳng tại Biển Đông gia tăng vào năm 2011, khu vực mang ý nghĩa quan trọng về chiến lược và giàu tài nguyên dầu mỏ đang dấy lên những quan ngại thực sự về mối nguy xung đột quân sự giữa Trung Quốc và các quốc gia yêu sách. Không chỉ sự hiện diện đang gia tăng của Trung Quốc tại quần đảo Trường Sa dẫn đến những va chạm trong năm tháng đầu năm nay trong vùng biển mà Philippin yêu sách,[1] mà ngoài ra hai sự kiện về việc tàu Trung Quốc cắt cáp đã làm gia tăng đối đầu giữa Trung Quốc và Việt Nam, dẫn tới cuộc tập trận bắt đạn thật của Việt Nam và 6 cuộc tập trận do Hạm đội Nam hải thực hiện vào tháng 6.[2] Thêm vào đó là sự gia tăng sức mạnh của hải quân Trung Quốc tại Biển Đông đang thay đổi nhanh chóng cấu trúc quyền lực vốn đã không cân bằng tại đây. Từ quan điểm của Bắc Kinh, sự can dự của Mỹ tại Biển Đông đang làm tăng thêm căng thẳng khu vực.
Biển Đông hàm chứa 4 trụ cột cơ bản trong chiến lược chính sách ngoại giao của Trung Quốc: quan hệ với cường quốc lớn (Mỹ); quan hệ với các quốc gia láng giềng (các quốc gia thành viên ASEAN, Nhật Bản,Ấn Độ và các quốc gia khác); mối quan hệ với các quốc gia đang phát triển (gồm các quốc gia thành viên ASEAN và Ấn Độ); ngoại giao đa phương (tại ASEAN và Diễn đàn Khu vực ASEAN ARF).[3] Do đó, căng thẳng leo thang đặt ra cho giới nghiên cứu chính sách đối ngoại Trung Quốc áp lực nghiên cứu đưa ra những khuyến nghị chính sách và phân tích hiệu quả, kịp thời [cho chính phủ Trung Quốc].
Thực ra, đa số các viện nghiên cứu chính sách ngoại giao Trung Quốc được giao nhiệm vụ phân tích những tác động của Biển Đông và đưa ra những khuyến nghị chính sách làm thế nào giải quyết vấn đề với cả Mỹ và các chủ thể trong khu vực.[4] Vào cuối năm 2010, giáo sư Phó Côn Thành (Fu Kuncheng), chuyên gia luật quốc tế, thành viên của hai trường luật, Đại học Giao thôngThượng hải và Đại học Hạ Môn, được Quỹ Khoa học Xã hội Quốc gia trao một “Công trinh Quan trọng” có tên“Những chiến lược bảo vệ Lợi ích Quốc gia Cốt lõi của Trung Quốc tại khu vực Biển Đông”.[5] Vào năm 2011, Viện Nghiên cứu Quốc tế Trung Quốc (CIIS), liên kết với Bộ Ngoại giao, được trao dự án nghiên cứu với tiêu đề “Những nhân tố Mỹ trong Tranh chấp Hàng hải của Trung Quốc”[6]
Bài luận này đề cập đến 3 đặc điểm chính về nghiên cứu hiện tại của cộng đồng nghiên cứu chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông. Từ đó nêu bật nhiệm vụ của 4 cơ quan và viện nghiên cứu hàng đầu của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông. Cuối cùng, bài luận đưa ra những nguồn trực tuyến từ truyền thông, học giả và các tổ chức của Trung Quốc.
Nghiên cứu Biển Đông tại Trung Quốc
Nghiên cứu về vấn đề Biển Đông của các viện nghiên cứu Trung Quốc có 3 đặc điểm khác biệt. Thứ nhất, nghiên cứu chủ yếu được chia làm hai loại: nghiên cứu pháp lý về luật biển quốc tế và áp dụng đối với Biển Đông; và nghiên cứu các quốc gia về chính sách của các bên và những ảnh hưởng đối với Trung Quốc. Ví dụ, Viện Các Vấn đề Hàng hải Trung Quốc (CIMA), liên kết với Cục Hải dương Quốc gia, chủ yếu tập trung vào những khía cạnh pháp lý và đưa ra lời khuyên đối với chính phủ trong vấn đề lập luận pháp lý về quyền và chủ quyền lịch sử của Trung Quốc tại Biển Đông. Mặt khác, Viện Quan hệ Quốc tế Đương đại Trung Quốc (CICIR), think tank hàng đầu Trung Quốc liên kết với Bộ An ninh Quốc gia, nghiên cứu về Biển Đông thông qua những phân tích về chính sách đối ngoại và tư duy chiến lược của các quốc gia liên quan.
Thứ hai, trong cộng đồng nghiên cứu chính sách, có sự thừa nhận rộng rãi nhưng không công khai về bản chất mơ hồ trong chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông, chẳng hạn như sự nhậpnhằng chiến lược của Trung Quốc đối với các yêu sách, tình trạng của “đường 9 đoạn” (luôn được các chuyên gia đề cập nhưng không bao giờ được chính phủ thừa nhận hoặc bị chối bỏ), tính khả thi của đàm phán song phương trong tranh chấp đa phương, cũng như sự áp dụng UNCLOS. Tuy nhiên, sự công nhận đó đều không được công khai. Theo một nhà phân tích của chính phủ, vấn đề Biển Đông là “vấn đề chính trị” và việc tuân thủ hoàn toàn UNCLOS sẽ buộc Trung Quốc phải từ bỏ đường 9 đoạn và “chủ quyền lịch sử” tại các vùng biển tranh chấp.[7] Hơn nữa, đàm phán đa phương đối với các đảo, đá, đá ngầm đang tranh chấp “hầu như sẽ dẫn đến kết quả là Trung Quốc mất ít nhất là một phần những quyền về biển và lãnh thổ mà họ yêu sách.[8] Bắc Kinh không thể cho phép viễn cảnh mất đi lãnh thổ cho ngoại bang. Do đó, giữa thính giả nước ngoài và dư luậntrong nước, Bắc Kinh đã chọn bám víu vào những yêu sách và sự quyết đoán hiện tại, kể cả khi phải trả giá cao về chính sách ngoại giao.
Thứ 3, các nhà phân tích chính sách ở Trung Quốc đã đồng loạt đổ lỗi cho Mỹ đã làm gia tăng căng thẳng tại Biển Đông. Trong quan điểm của họ, Mỹ đã lợi dụng vấn để Biển Đông để phá hoại tình hữu nghị của Trung Quốc với các quốc gia láng giềng, thắt chặt mối liên minh của sự của Mỹ với Philippin, phát triển đối tác chiến lược với Việt Nam nhằm kìm hãm sự ảnh hưởng đang gia tăng của Trung Quốc và duy trì vị thế siêu cường của Mỹ tại khu vực.[9] Các nhà phân tích Trung Quốc đều không tin rằng các quốc gia nhỏ dám thách thức Trung Quốc tại Biển Đông mà không có sự can thiệp của Mỹ. Theo Viên Bằng (Yuan Peng), Giám đốc Viện nghiên cứu Mỹ của CICIR, sự ủng hộ của Washington đã hình thành nên sự phán đoán về chiến lược và những quyết định của các quốc gia khu vực, thúc đẩy các quốc gia này tăng cường sự quyết đoán chống lại Trung Quốc.[10]
Yun Sun là Nghiên cứu sinh tại Trung tâm Nghiên cứu Đông Bắc Á, Viện Brookings, nguyên là nhà phân tích Trung Quốc của Dự án Đông Bắc Á, Nhóm Khủng hoảng Quốc tế, trụ sở tại Bắc Kinh.
[1] Carlyle A. Thayer, “China’s New Wave of Aggressive Assertiveness in the South China Sea,” Tham luận tại Hội thảo An ninh biển tại Biển Đông, do Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế và Chiến lược (CSIS) tổ chức, Washington, ngày 20-21 tháng 6 năm 2011: 5
[2] Tanie Branigan, “Vietnam holds live-fire exercises as territorial disputes with China escalates,” The Guardian, 14, tháng 6 năm 2011 và Họp báo của Bộ Quốc phòng Trung Quốc, 29 tháng 6 năm 2011. Mặc dù người phát ngôn bác bỏ sự liên quan giữa 6 cuộc tập trận và sự gia tăng căng thẳng, nhưng các nhà phân tích chính sách đối ngoại trong các cuộc trao đổi riêng đều cho rằng những cuộc tập trận gửi đi một thông điệp cảnh báo đến Việt Nam rất rõ ràng.
[3] Bốn nhân tố chính trong chiến lược chính sách đối ngoại Trung Quốc lần đầu tiên được đưa ra và khẳng định tại Hội thảo Ambassadorial Working Conferencelần thứu 10 năm 2004: “For China’s foreign policy, major power relations are the key; relations with neighboring countries are primary; relations with developing countries are the foundation, and multilateral diplomacy is the important platform.” Zhang Hong, “China Marches towards ‘Grand Diplomacy,’” People’s Daily, 8 tháng 2 năm 2011, http://theory.people.com.cn/GB/13871972.html.
[4] Tranh luận với các nhà phân tích Trung Quốc, Bắc Kinh, 2011
[5] “Public Notice on the Result of Bidding for Significant Projects under National Social Sciences Fund, 2010,” GuangMing Daily, 28 tháng 4, 2011, http://cpc.people.com.cn/GB/219457/219543/14655331.html.
[6] Theo dự án, CIIS đã tổ chức đưa đoàn đại biểu về vấn đề biển tới New York và Washington vào tháng 11 năm 2011. Đoàn do Đại sứ Wang Xiaodu, Cố vấn đặc biệt của Vụ Biển và Biên giới, Bộ Ngoại giao.
[9]Wang Liang, “Liu Xuecheng: Diplomatic Negotiation Remains the Top Solution to the Rising Tensions in South China Sea,” Liaoning Daily, 24 tháng 6, 2011, http://news.qq.com/a/20110624/000203.htm
[10] Guo Fang, “Experts say the U.S. will not Fight China over other Countries’ Maritime Disputes,” Global Times, 16 tháng 6 , 2011, http://world.huanqiu.com/roll/2011-06/1761673.html.
Đề cập đến mối quan hệ nước lớn - nước nhỏ trong quan hệ quốc tế, PGS.TS Nguyên Vũ Tùng cho rằng "Đối với nước nhỏ, quan hệ với nước lớn chung biên giới luôn là một mối quan hệ khó khăn". Bài nghiên cứu nêu lên nguồn gốc của những khó khăn trong mối quan hệ này, từ đó đưa ra một số khuyến nghị về chính sách đối ngoại của các nước nhỏ đối với nước lớn láng giềng.
Đối với nước nhỏ, quan hệ với nước lớn chung biên giới luôn là một mối quan hệ khó khăn. Các khó khăn này có những nguồn gốc từ (i) sự chênh lệch rõ rệt về tầm vóc - vốn là kết quả của cả một quá trình lịch sử phát triển lâu dài liên quan tới các mặt kinh tế, văn hoá, xã hội, quân sự, chính trị, ngoại giao… dẫn đến (ii) quan niệm về bản sắc nước lớn - nước nhỏ và từ đó đưa ra những đặc thù về hành vi nước lớn - nước nhỏ, theo đó nước lớn thường có tâm lý “đại quốc” và do vậy có hành vi coi thường, chèn ép “tiểu quốc”. Trong tất cả các cặp quan hệ nước lớn - nước nhỏ, có hai yếu tố song hành tạo nên sự khó khăn trong quan hệ nước lớn - nước nhỏ: Sự vượt trội về tầm vóc của một nước thường đi cùng với tâm lý và hành vi nước lớn của nước đó so với các nước khác. Nga (cũng như Liên Xô trước kia), Mỹ, Nhật, Trung Quốc luôn thường trực tâm lý mình là nước lớn và từ đó có hành vi nước lớn thể hiện qua cách xác định lợi ích và cách thức đạt tới lợi ích của mình trong mối giao tiếp với các nước khác. Bài viết này tập trung phân tích (i) vai trò của yếu tố địa lý trong mối quan hệ phức tạp này, và (ii) tìm hiểu và đánh giá một số chiến lược ứng phó của nước nhỏ đối với nước lớn láng giềng.
Bài đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số 2 (81, 6/2010: 169-183),Học viện Ngoại giao
Đọc toàn bộ bài nghiên cứu của của tác giả tại đây
Tranh giành quyền lực, ngân sách, xung đột thẩm quyền và phối hợp lỏng lẻo giữa các Bộ ngành của Trung Quốc là nguyên nhân dẫn đến những căng thẳng gần đây tại Biển Đông - Báo cáo tổng thể của Nhóm nghiên cứu khủng hoảng quốc tế (ICG)
KHUẤY ĐỘNG BIỂN ĐÔNG (I)
I. GIỚI THIỆU
Là một điểm nóng lớn trong xung đột tiềm tàng giữa Trung Quốc với các nước Đông Nam Á và Mỹ, Biển Đông có tầm quan trọng to lớn đối với hòa bình, ổn định và thịnh vượng của Châu Á – Thái Bình Dương. Trung Quốc (cả Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Trung Hoa Dân quốc), Việt Nam, Philippin và các quốc gia khác đều có yêu sách đối với một phần của Biển Đông. Trong khi những khu vực dọc theo bờ biển của các quốc gia này không phải là trọng tâm của tranh chấp, thì có rất nhiều các yêu sách chồng lấn đối với khu vực ngoài ngoài khơi xa như quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, và với một số bãi đá ngầm san hô và khu vực biển.[1] Ngoài khát vọng bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ, có rất nhiều sự quan tâm đối với Biển Đông bắt nguồn từ những nguồn tài nguyên phong phú và vị trí chiến lược của khu vực này.[2]
Với ước tính chiếm khoảng 10% lượng đánh bắt cá hàng năm trên toàn thế giới, Biển Đông trở nên cực kỳ quan trọng đối với ngành đánh bắt cá của các quốc gia ven biển.[3] Khu vực này cũng rất giàu có về cả dầu và khí ga tự nhiên, và do đó dẫn đến suy đoán rằng khu vực tranh chấp lãnh thổ có thể chứa những nguồn năng lượng tiềm năng rất quan trọng.[4] Tuy nhiên, do những căng thẳng, phần lớn lượng hydrocarbon ước tính trong khu vực như quần đảo Trường Sa vẫn chưa được kiểm chứng.
Biển Đông giữ một vị trí địa chiến lược quan trọng vận tải hàng hải quốc tế. Phần lớn vận chuyển năng lượng và nguyên liệu thô qua eo biển Malacca đều qua Biển Đông tới Trung Quốc và Nhật Bản. Hải quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLAN) đã nhận ra tầm quan trọng chiến lược của Biển Đông, và từng bước củng cố năng lực hải quân của mình trong khu vực. Mỹ cũng có những lợi ích trong việc bảo vệ những tuyến đường biển đi qua khu vực này, vì nước này xem những lợi ích hàng hải ổn định và không bị cản trở là điều thiết yếu đối với sự thịnh vượng và thương mại quốc tế.[5]
Trung Quốc, Việt Nam và Philippin đưa ra những yêu sách chủ quyền mạnh mẽ và đáng chú ý nhất đối với Biển Đông. Yêu sách của Trung Quốc đối với quần đảo Trường Sa có thể có những ảnh hưởng sâu rộng nếu nước này có ý định yêu sách toàn bộ những vùng đặc quyền kinh tế (sau đây sẽ gọi là EEZs) xung quanh những hòn đảo, dẫn tới chồng lấn đáng kể với vùng EEZs mà Philippin, Brunei, Malasysia và Việt Nam yêu sách. Trong khi Bắc Kinh có thể theo đuổi mục tiêu này thì họ cũng có thể cân nhắc về việc đòi hỏi “những quyền lịch sử” tại những vùng biển khác trong Đường Chín đoạn.[6] Điểm mập mờ là không rõ những yêu sách pháp lý của Trung Quốc là gì, và những nỗ lực mà Trung Quốc thể hiện nhằm thực thi chủ quyền trong khu vực ở quá xa bờ biển và không thuộc khu vực thuộc EEZ đã đặt Trung Quốc vào thế xung đột với các quốc gia yêu sách khác khi những khu vực này rất gần với bờ biển của họ.
Để củng cố những yêu sách của mình, các quốc gia trong khu vực đã tranh nhau chiếm đóng càng nhiều thực thể trên biển càng tốt. Điều này đã khiến Trung Quốc xung đột với Nam Việt Nam vào năm 1974 và với Việt Nam thống nhất vào năm 1988, trong khi lực lượng của một vài quốc gia thường quấy nhiễu và bắt giữ những tàu cá nước ngoài.[7] Hiện tại, Bắc Kinh kiểm soát toàn bộ Hoàng Sa và 15 bãi san hô và đá ngầm trong quần đảo Trường Sa.[8] Tất cả các thực thể khác đều do các bên yêu sách khác kiểm soát. Những quan ngại của khu vực đã dẫn tới việc ký kết Tuyên bố về Quy tắc Ứng xử của Các bên liên quan tại Biển Đông (DOC) giữa Trung Quốc và 10 quốc gia ASEAN vào năm 2002. Trong khi đây được coi là một bước tích cực hướng tới sự ổn định, thì mãi đến năm 2011 bản Hướng dẫn Thực hiện DOC kèm theo mới được thông qua.
Tuy nhiên xung đột cơ bản vẫn tồn tại vì một phần do bản tuyên bố không có ràng buộc pháp lý và không đáp ứng được những tiến triển hứa hẹn giải quyết tranh chấp. Trong những năm qua, số lượng những vụ va chạm giữa các lực lượng biển gia tăng một cách đột ngột, bao gồm cả những bế tắc căng thẳng giữa Trung Quốc và Philippin tại Bãi Hoàng Nham (Scarborough Reef) vào tháng 4 năm 2012. Điều này làm dấy lên quan ngại rằng Trung Quốc, Việt Nam và Philippin đang ngày càng quyết đoán trong vấn đề tranh chấp, gây nguy hại đến sự ổn định khu vực.
Bản báo cáo này dựa trên những cuộc phỏng vấn được tiến hành tại Bắc Kinh, Quảng Tây, Hải Nam, Hạ Môn, Hà Nội, Jakarta, Kuala Lumpur, Manila, Xinh-ga-po, Đài Bắc, Tokyo và Washington DC. Nhóm Nghiên cứu Khủng hoảng (Crisis Group) đã nói chuyện với rất nhiều người, bao gồm các quan chức, học giả, nhà ngoại giao, nhà báo và cả những người thuộc các ngành như nghề cá, du lịch và dầu khí. Hầu hết những người được hỏi đều được yêu cầu dấu tên do bản chất nhạy cảm của vấn đề. Bản báo cáo này tập trung vào những cơ quan, lực lượng (Players) chủ chốt ở Trung Quốc và những lợi ích của họ. Mặc dù những chuyển biến củakhu vực là nhân tố quan trọng trong chính sách của Trung Quốc tại Biển Đông, nhưng bản báo cáo này không thảo luận về những vấn đề này vì chúng thuộc chủ đề của một nghiên cứu khác.
II. VÙNG BIỂN ĐỘNG: NHỮNG CĂNG THẲNG TỪ NĂM 2009
A. ĐƯỜNG CHÍN ĐOẠN
Các yêu sách lãnh thổ mơ hồ của Trung Quốc và việc nước này từ chối công khai làm rõ yêu sách đã làm gia tăng quan ngại trong khu vực về việc Trung Quốc đang thể hiện một thái độ quyết đoán hơn tại Biển Đông, đặc biệt khi kết hợp với việc phát triển lực lượng hải quân của Trung Quốc và những hành động hiếu chiến của các cơ quan hải giám nước này.[9] Vào tháng 5 năm 2009, Việt Nam và Malasysia đã đệ trình lên Ủy ban Liên Hợp Quốc về Ranh giới ngoài của Thềm Lục địa (CLCS), nhằm mở rộng thềm lục địa của 2 quốc gia này tại Biển Đông vượt quá 200 hải lý thông thường.[10] Đáp lại, Trung Quốc đã đệ trình Công hàm lên CLCS tuyên bố rằng yêu cầu này vi phạm nghiêm trọng đến những quyền của Trung Quốc. Cùng với công hàm này, Trung Quốc đã đính kèm bản đồ đường 9 đoạn bao phủ phần lớn Biển Đông, bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.[11]
Trung Quốc đưa ra yêu sách lịch sử đối với các đảo và thực thể tại Biển Đông dựa trên các cuộc thám hiểm, hoạt động đánh bắt cá và các cuộc tuần tra hải quân.[12] Những người vẽ bản đồ hiện đại của Trung Quốc đã thể hiện khu vực đánh dấu bằng đường 9 đoạn vào bản đồ lãnh thổ của Trung Quốc vào đầu năm 1914.[13] Trung Hoa Dân quốc (ROC) dưới thời chính phủ Tưởng Giới Thạch đưa khu vực này vào bản đồ chính thức vẽ năm 1947 và đường 9 đoạn tiếp tục được thể hiện trong các bản đồ chính thức do Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (PRC) xuất bản. Trong khi Trung Quốc có một vài biện minh về những yêu sách lịch sử của mình, thì nước này đã phê chuẩn Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển (UNCLOS) vào năm 1996, Công ước này buộc các quốc gia phải từ bỏ phần lớn những yêu sách biển mang tính lịch sử của mình để phù hợp với những vùng biển mà Công ước đã đưa ra. Những yêu sách đối với các đảo và thực thể khác không bị ảnh hưởng bởi Công ước, nhưng bất kỳ yêu sách chủ quyền nào đối với những vùng biển phải là vùng lãnh hải hoặc EEZs được tạo ra từ các đảo và những hình thái địa chất khác phù hợp với UNCLOS.
Trích trong bản gốc tiếng Anh Stirring Up the South China Sea của International Crisis Group, Asia Report số 223, ngày 23 tháng 4 năm 2012
[1] Cả Trung Quốc và Philippin đều yêu sách Bãi cạn Scarborough. Tất cả các quốc gia này, kể cả Indonesia, yêu sách những phần của thềm lục địa cũng như lãnh hải 12 hải lý và EEZs 200 hải lý từ đường cơ sở được các quốc gia xác định xung quanh các đảo và bờ biển mà họ tuyên bố chủ quyền
[2] Về bản báo cáo trước của Crisis Group về những vấn đề tương tự, xem Asia Report N°108, North East Asia’s Undercurrents of Conflict, 15 tháng 12 năm 2005. Về các báo cáo trước đây về chính sách đối ngoại của Trung Quốc, xem Asia Report N°200, China and Inter-Korea Clashes in the Yellow Sea, 27 tháng 1 năm 2011; Asia Briefings N°112, China’s Myanmar Strategy: Elections, Ethnic Politics and Economics, 21 tháng 9 năm 2010; N°100, The Iran Nuclear Issue: the View from Beijing, 17 tháng 2 năm 2010; Asia Reports N°179, Shades of Red: China’s Debate over North Korea, 2 tháng 11 năm 2009; N°177, China’s Myanmar Dilemma, 14 tháng 9 năm 2009; N°166, China’s Growing Role in UN Peace-keeping, 17 tháng 4 năm 2009; N°153, China’s Thirst for Oil, 9 tháng 6 năm 2008.
[3] “Prospectus, Regional Workshop/Expert Consultation on the Identification of Critical Fishing Grounds and on Regional Habitat Rehabilitation and Management Approach”, Bangkok, 11-13 tháng 10 năm 2011.
[4] Một khảo sát địa chính trị của Mỹ năm 1993-1994 đưa ra con số là 28 tỷ thùng dầu trên toàn bộ Biển Đông, trong khi đó những ước tính của Trung Quốc lại tuyên bố tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có khoảng 105 tỷ thùng, tuy nhiên cả hai con số thống kê này vẫn chưa được chứng minh do thiếu việc khoan thăm dò. Dự trữ dự tính có thể sẽ thay đổi khi việc thăm dò trong tương lai tiếp tục. Khí ga tự nhiên có thể phong phú hơn hiều. Có rất nhiều con số dự đoán nhưng nguồn dự trữ được kiểm chứng thì hoàn toàn vẫn chưa có. Vào năm 2006, Công ty Năng lượng Canada là Husky Energy hợp tác với Tập đoàn dầu khí Ngoài khơi Trung Quốc (CNOOC) đã tuyên bố việc tìm thấy những nguồn khí ga tự nhiên có từ 4 dến 6 tỷ feet khối. Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ, “South China Sea”, www.eia.gov.
[5] Chiến lược Biển của Mỹ xuất bản năm 2007 tuyên bố rằng “lĩnh vực hàng hải …làhuyết mạnh của hệ thống toàn cầu kết nối mỗi quốc gia trên trái đất”. Bản Chiến lược cũng tuyên bố rằng Mỹ “sẽ không cho phép xảy ra bất kỳ hoàn cảnhnào mà lực lượng biển của Mỹbị cản trở tự do tập trận và tự do tiếp cận…và không cho phép bất kỳ ai làm gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu bằng việc mưu toan phong tỏa những tuyến đường biển giao thông và thương mại thiết yếu”. U.S. Navy, “A cooperative strategy for 21st century seapower”, tháng 10 năm 2007
[6] Đường 9 đoạn mô tả những yêu sách của Trung Quốc tại Biển Đông. Xem Phần II.A “Đường 9 đoạn” ở dưới.
[7] Năm 1974, cuộc chiến nổ ra giữa hải quân Trung Quốc và Nam Việt Nam khi Trung Quốc xâm lược phía tây quần đảo Hoàng Sa. Lực lượng của Việt Nam đã giao chiến với 4 tàu hộ tống nhỏ của PLAN và 2 tiểu đoàn của PLA trong trong cuộc đọ súng ác liệt khiến một tàu khu trục nhỏ của Việt Nam bị đánh chìm, 3 chiếc còn lại bị phá hủy, 53 lính Việt Nam bị chết. Thương vong phía Trung Quốc chưa bao giờ được xác định. Khi lực lượng của Việt Nam rời đi, Trung Quốc đã thiết lập sự kiểm soát toàn bộ lên quần đảo Hoàng Sa. Vào năm 1998, PLAN đã đụng độ với Việt Nam tại Đá Gạc Ma (Johnson South Reef) tại quần đảo Trường Sa khiến hải quân cả hai bên chịu đựng những thương vong nặng nề. Sự việc gần đây nhất giữa hải quân Trung Quốc với tàu của các quốc gia yêu sách khác, đã bắn và giết 9 ngư dân Việt Nam, làm bị thương 9 người khác tại Vịnh Bắc bộ vào ngày 8 tháng 1 năm 2005. Wu Shicun, Origin and development of Spratly disputes (China Economic Publishing House, 2009), tr. 88-89; Raul Pedrozo, “Beijing’s coastal real estate: a history of Chinese naval aggression”, Foreign Policy, 15 tháng 11 năm 2011; Stein Tønnesson, “Sino-Vietnamese rapprochement and the South China Sea irritant”, Security Dialogue, vol. 34, no. 1 (tháng 3 năm 2003).
[8] “中国移动完成南海海域七礁八点 信号全覆盖” [“Công ty truyền thông di động Trung Quốc lập các trạm phát sóng trên 7 đảo đá ngầm và 8 bãi tại Biển Đông”], Techweb, 16 tháng 3 năm 2012.
[9] Hiểu thêm về những yêu sách của Trung Quốc theo UNCLOS, xem Phần IV.A.5 “Thiếu sự minh bạch pháp lý”
[10] Bản đệ trình chung Việt Nam – Malasysia có hiệu lựcphần phía nam của Biển Đông giữa hai quốc gia, đây cũng là khu vực Philippin yêu sách một phần và Trung Quốc yêu sách phần lớn. “Ma-lai-xi-a-Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam nộp đơn chung lên Ủy ban về giới hạn thềm lục địa”, tháng 5 năm 2009
[11] Công hàm tuyên bố rằng “Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với các hòn đảo tại Biển Đông và các vùng biển liền kề, và được hưởng quyền chủ quyền và tài phán đối với các vùng biển liên quan cũng như đáy biển và lòng đất dưới đáy biển”, và kèm theo đó là bản đồ đường 9 đoạn. Công hàm của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa gửi đến Tổng thư ký Liên Hợp Quốc liên quan đến đơn nộp chung của Việt Nam và Ma-lai-xi-a xin mở rộng giới hạn rìa ngoài thềm lục địa”, CML/17/2009, 7 tháng 5 năm 2009.
[12] Shen Jiangming, “Chủ quyền của Trung Quốc đối với các đảo tại Biển Nam Trung Hoa: quan điểm nhìn từ góc độ lịch sử”, Chinese Journal of International Law, vol.1, issue 1 2002, tr. 94-157.
[13] Zou Keyuan, “đường biên giới đánh bắt cá truyền thống trên biển của Trung Quốc tại Biển Đông và các tác động về mặt pháp lý đến giải pháp tranh chấp lãnh thổ tại quần đảo Trường Sa”, International Journal of Marine Coastal Law, vol. 14, issue 1 (1999), tr. 52. Những bản đồ gốc biểu hiện một đường gồm 11 đoạn. Hai đoạn trong Vịnh Bắc bộ đã bị xóa vào những năm 1950.
Cụm từ về quốc tế hóa vấn đề Biển Đông đang ngày càng xuất hiện nhiều trên báo chí các nước. Một số báo nước ngoài thậm chí cho rằng Việt Nam lợi dụng vị trí Chủ tịch ASEAN chủ trương quốc tế hóa, ASEAN hóa vấn đề Biển Đông, "đang chơi với lửa, ắt gặp hậu họa". Một số thể hiện lạc quan về một giải pháp quốc tế hóa trong tương lai gần.
Sao phải quốc tế hóa một vấn đề quốc tế?
Hàng loạt các sự kiện trong tháng 8 năm 2010 như diễn tập của Hải quân Trung Quốc ở Biển Đông, tàu sân bay Mỹ đậu ngoài khơi Đà Nẵng, Việt Nam phản đối Trung Quốc tiến hành xây dựng tại đảo Tri Tôn, thuộc quần đảo Hoàng Sa, khảo sát các lô 141-143 vi phạm chủ quyền Việt Nam, gây khó cho việc tìm kiếm cứu nạn ngư dân khi gặp bão... càng làm cho vấn đề Biển Đông thêm nóng bỏng.
Vậy đâu là sự thực của vấn đề?
Về tự nhiên, từ hàng ngàn năm nay Biển Đông bao gồm cả hai vịnh bắc Bộ và vịnh Thái Lan là của chung các nước. Các dân tộc cùng chia sẻ nền văn hóa lúa nước, văn hóa Biển Đông, tự do đánh bắt.
Biển Đông là biển duy nhất trên thế giới nối liền hai đại dương lớn Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, với nhiều tuyến đường hàng hải quan trọng, cung cấp từ 70-80% lượng dầu lửa nhập khẩu từ Trung Đông cho các nước có nền công nghiệp hiện đại Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc. Các tuyến đường này cũng đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm xuất nhập khẩu của khối các nước ASEAN.
Với 550 triệu dân và nền kinh tế trên 1 ức tỷ USD (1 trillion USD), Đông Nam Á đóng vai trò quan trọng trong trao đổi thương mại quốc tế, với 50% thương mại thế giới đi qua đây. Năm 2008, thương mại giữa ASEAN với Mỹ là 181 tỷ, với Nhật là 212 tỷ, với Trung Quốc là 193 tỷ. Các nước này cũng có đầu tư lớn vào ASEAN, trong đó Mỹ có trên 100 tỷ USD.
Từ góc độ kinh tế, đây là biển quan trọng nằm trong chiến lược phát triển kinh tế châu Á - Thái Bình Dương, khu vực phát triển năng động nhất của thế giới. Khủng hoảng kinh tế và sản xuất dầu khí thế giới dự báo đạt đỉnh năm 2015 ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh năng lượng các nước ở Biển Đông. Trừ Brunei, các nước đều phải nhập khẩu dầu khí. Nguồn năng lượng tiềm ẩn trong Biển Đông đều được các nước ven biển và các công ty dầu khí nước ngoài theo dõi chặt chẽ, lên kế hoạch thăm dò khai thác, làm trầm trọng thêm tranh chấp mặc dù thực tế dự báo này được đánh giá quá cao, chỉ chiếm một phần lượng cung cho khu vực.
Từ góc độ địa chính trị, đây là nơi chia sẻ quyền lực giữa các siêu cường. Thời kỳ chiến tranh lạnh, đây là nơi tranh giành quyền lực giữa Mỹ với Nga và Trung Quốc thông qua cuộc chiến Việt Nam. Việc Mỹ quay lại Biển Đông và biển Hoa Đông trước hết là vì quyền lợi chiến lược của Mỹ, củng cố vị thế của mình trước sự trỗi dậy của Trung Quốc.
Tháng 3/2010 trong chuyến thăm của Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ Steinberg phía Trung Quốc lần đầu tiên tuyên bố coi vấn đề Biển Đông là lợi ích cốt lõi của mình, không có nhân nhượng.
Tại ARF 17, Ngoại trưởng Mỹ Hilary Clinton lập tức đáp lại bằng tuyên bố Mỹ có lợi ích thiết thực ở Biển Đông. Vụ tàu Cheonal và tuyên bố lợi ích cốt lõi tạo cơ hội tuyệt vời cho Mỹ trở lại châu Á sau khi rút khỏi Iraq.
Các nước ASEAN ở mức độ nhất định hoan nghênh sự trở lại của Mỹ để kiềm chế những yêu sách quá đáng gây bất ổn nhưng cũng cảnh giác để không làm vật hy sinh cho lợi ích của các cường quốc như đã từng diễn ra trong quá khứ. Hiến chương ASEAN có hiệu lực từ 2009 đánh dấu sự trỗi dậy của một ASEAN liên kết hơn, cạnh tranh hơn.
Ngày càng nhiều nước trên thế giới quan tâm hợp tác và mong muốn hiện diện trong khu vực này, tạo ra các lợi ích đan xen và cạnh tranh ở Biển Đông. Đây chính là hệ quả trào lưu thế giới ngày càng trở nên phẳng và phải đối đầu với nhiều thách thức toàn cầu: khủng hoảng kinh tế, biến đổi khí hậu, cấm sử dụng và phổ biến vũ khí hạt nhân, chạy đua vũ trang, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, quyền con người và chống khủng bố, chống cướp biển. Tất cả các quốc gia càng ngày càng phụ thuộc vào nhau. Hội nhập hóa và sự phát triển hòa bình của mỗi quốc gia phụ thuộc vào an ninh khu vực và thế giới và ngược lại.
Từ góc độ của luật biển, Biển Đông là khu vực đặc thù, chứa đựng tất cả các yếu tố liên quan như quốc gia ven biển, quốc gia quần đảo (Indonesia và Philippin), quốc gia không có biển hay bất lợi về mặt địa lý (Lào), các vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia, vùng đánh cá, phân định biển, vấn đề biển nửa kín, eo biển quốc tế, hợp tác quản lý tài nguyên sinh vật, các đàn cá di cư xa và đàn cá xuyên biên giới, khai thác chung, bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học biển, chống cướp biển, an toàn hàng hải, tìm kiếm, cứu nạn...
Muốn giải quyết các vấn đề này một cách triệt để, các quốc gia phải hợp tác như điều 123 của Công ước của Liên hợp quốc về luật biển năm 1982 quy định.
Biển Đông đã được biết đến như một trung tâm tranh chấp của thế giới về mức độ phức tạp, số lượng các bên tranh chấp và sự quan tâm lợi ích của các cường quốc. Hoàng Sa trên thực tế là tranh chấp ba bên giữa Việt Nam và Trung Quốc. Trường Sa là nơi tranh chấp của Brunei, Malaysia, Philippin, Trung Quốc, Việt Nam và Đài Loan.
Với việc Mỹ rút quân khỏi Iraq, Trung Quốc trỗi dậy, bàn cờ chính trị thế giới đang phân bổ lại, Biển Đông là một trong những điểm nóng có khả năng xảy ra xung đột trên thế giới.
Tranh chấp trên Biển Đông bao gồm tranh chấp chủ quyền đảo và tranh chấp vùng biển. Hai trở ngại lớn nhất cho mọi giải pháp là đường đứt khúc 9 đoạn (đường chữ U, đường lưỡi bò) và quy chế đảo. Nếu các đá thuộc các quần đảo trên Biển Đông không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa thì Biển Đông sẽ có vùng đáy biển di sản chung và vùng biển cả thuộc cộng đồng quốc tế. Ngược lại nếu mở rộng các vùng biển cho chúng thì quyền tự do của các nước khác sẽ bị ảnh hưởng và việc phân chia giữa đảo và lục địa sẽ theo hiệu lực nào.
Giải quyết các câu hỏi trên phải căn cứ vào luật biển và nếu luật biển còn chưa rõ ràng thì các nước phải tiếp tục thỏa thuận. Có những vấn đề tưởng là song phương nhưng không thể chỉ giải quyết song phương. Có những vấn đề tưởng là đơn phương nhưng sẽ gây ra sự chú ý và phản ứng của dư luận cả trong và ngoài khu vực.
Hơn nữa, Biển Đông đã hẹp lại có hai quần đảo ở giữa nên tạo ra những vùng chồng lấn đa phương. Các nước tranh chấp từ chỗ không tiếp xúc với nhau đã dần tự nguyện tham gia vào các cơ chế đa phương.
Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông DOC là thỏa thuận giữa Trung Quốc và ASEAN. Sự tham gia của Trung Quốc, Đài Loan vào Hội thảo kiềm chế các xung đột tiềm tàng ở Biển Đông do Indonesia và Canađa khởi xướng từ 1990, hay Thỏa thuận công ty dầu khí Phi-Trung-Việt khảo sát địa chấn tại khu vực xác định ở Biển Đông năm 2005 đều là các bằng chứng về một sự liên kết đa phương tự nhiên giữa các bên tranh chấp nhằm tìm một giải pháp cơ bản lâu dài cho vấn đề Biển Đông. Các bên đều nhận thức được rằng vấn đề Biển Đông có song phương có đa phương, không thể chỉ đơn thuần trong quan hệ song phương.
Như vậy, từ tất cả các góc độ địa lý tự nhiên, địa chiến lược, kinh tế, luật pháp và văn hóa, bản thân vấn đề Biển Đông đã mang tính quốc tế. Từ 1990-2010 với nỗ lực của các nước liên quan, sự lớn mạnh của ASEAN, cán cân lực lượng đã được giữ ở mức cân bằng. Bất kỳ một hành động hung hăng phá hoại thế cân bằng đó đều gây quan ngại cho các nước, thu hút sự quan tâm của thế giới mà không cần một sự vận động nào, một sự quốc tế hóa hay khu vực hóa nào.
Làm lạnh đi những cái đầu nóng, tập trung xây dựng lòng tin
Sự trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc là một tín hiệu mừng với cộng đồng quốc tế. Trung Quốc đóng góp 28% tăng trưởng thế giới trong khi Mỹ và EU đóng góp 15%. Thâm hụt ngân sách của Mỹ và EU ngày càng tăng còn của Trung Quốc có xu hướng giảm dần. Trung Quốc đang nắm giữ 2500/4000 tỷ USD tổng tài sản có giá của Mỹ mà các nước nắm giữ. Mỹ đang cần Trung Quốc là bên có trách nhiệm hơn với các vấn đề quốc tế. Tháng 8/2010, Trung Quốc vượt Nhật Bản để trở thành nước thứ hai thế giới về GDP nhưng xét GDP trên đầu người thì nước này mới ở mức 47 của thế giới. Chi phí quốc phòng của Trung Quốc là 1,5% GDP tức 70 tỷ USD mỗi năm trong khi Mỹ là 5% GDP tức 700 tỷ gấp 10 lần.
Mỹ và Trung Quốc đều phải tính toán để không có những bước đi phiêu lưu. Xung đột nổ ra thì các nước đều bất lợi. Các tuyến đường hàng hải bị cắt đứt sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế của các nước nhập khẩu dầu lớn, đồng minh của Mỹ như Nhật Bản và Hàn Quốc, đánh mạnh vào buôn bán thương mại giữa ASEAN với Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và Mỹ. Kinh tế Trung Quốc cũng bị ảnh hưởng và nước này mất đi hình ảnh "trỗi dậy hòa bình, lãnh đạo các nước đang phát triển" dày công vun đắp lâu nay, tạo điều kiện cho Mỹ tăng cường hiện diện có lợi.
Các tranh chấp trên biển ở Biển Đông không những chỉ ảnh hưởng đến quan hệ giữa các nước có liên quan, mà còn ảnh hưởng đến lợi ích của các nước khác, đến hoà bình, ổn định và sự hợp tác phát triển của khu vực và thế giới. Nhiệm vụ của các nhà lãnh đạo các nước là cần làm lạnh đi những cái đầu nóng, tập trung xây dựng lòng tin đã có phần bị xói mòn.
Mọi giải pháp cho vấn đề Biển Đông đều được các nước trên thế giới quan tâm. Các hoạt động không tính đến lợi ích của nước khác tất sẽ đưa đến sự chú ý của dư luận và các động thái nhằm tìm kiếm sự cân bằng có lợi cho hòa bình và phát triển trong khu vực. Các cường quốc tự vạch vùng ảnh hưởng bất lợi cho các nước láng giềng nhỏ hơn cuối cùng sẽ phản tác dụng. Các nước cần tôn trọng lẫn nhau và chung sống trong hòa bình. Không nước nào có thể dân tộc hóa hay quốc tế hóa được vấn đề Biển Đông.
Việt Nam không tham gia các liên minh quân sự, không là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào, không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam và không dựa vào nước này để chống nước kia. Với đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, sẵn sàng làm bạn với các nước, Việt Nam đã thể hiện mong muốn các nước hãy nghiêm chỉnh thực hiện Tuyên bố ASEAN - Trung Quốc về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông, xây dựng lòng tin, tiến tới có một Bộ luật ứng xử ở Biển Đông, làm tiền đề cho mọi giải pháp trong tương lai.
Duy trì một trạng thái xung đột ở mức độ thấp mang lại sức nặng cho Trung Quốc trong đàm phán và khẳng định vai trò của quốc gia này. Bài nghiên cứu chủ yếu tập trung vào quan điểm của Nhật Bản về điều kiện an ninh tại Đông Á (Đông Bắc Á và Đông Nam Á ), tình huống chiến lược tại Biển Đông và đánh giá sức mạnh quân sự của Trung Quốc trong bối cảnh của khu vực.
1.Sự ổn định mong manh và tình thế lưỡng nan về an ninh bất đối xứng
Về bản chất, điều kiện an ninh tại Đông Á cơ bản ổn định, cho dù có một số sự kiện rắc rối xảy ra giữa Trung Quốc và các nước láng giềng, bao gồm cả Nhật Bản, thì những nước liên quan sẽ cố gắng thỏa hiệp càng sớm càng tốt thông qua ngoại giao thứ yếu (low-key)(giảm thiểu hết mức ảnh hưởng của báo chí và dư luận công chúng đối với chính sách ngoại giao), trong khi tình huống vẫn nằm trong tầm kiểm soát của các chính phủ. Nhưng điều này không có nghĩa là Đông Á sẽ có sự ổn định tuyệt đối. Căng thẳng tại Đông Á sẽ dao động trong phạm vi giới hạn nào đó. Nói cách khác, an ninh Đông Á về cơ bản là ổn định, nhưng đó là sự ổn định mong manh.
Có một vài lý do mang tính bản địa trong khu vực cho điều này, tại sao điều kiện anh ninh hiện tại Đông Á về cơ bản lại mang tính ổn định, nhưng lại không thực sự chắc chắn. Đầu tiên là sự thúc đẩy hợp tác mang tính khiên cưỡng giữa Nhật Bản, Mỹ và Trung Quốc, các quốc gia có sự ảnh hưởng lớn. Các quốc gia này đều biết rằng không một quốc gia đơn lẻ nào trên thế giới có thể tự mình vượt qua được cuộc khủng hoảng kinh tế trên phạm vi toàn cầu đang xảy ra, vì vậy họ không thể vượt ra cuộc khủng hoảng nếu không đặt ra ưu tiên cao nhất trong việc thúc đẩy hợp tác tiền tệvới các quốc gia khác nhằm cứu vớt con tàu kinh tế Châu Âu đang chìm một cách nhanh chóng. Cả ba quốc gia này đều ở chung trên một con thuyền trước một cơn bão lớn.
Tuy nhiên, đây là tình huống “đồng sàng, dị mộng” (Same bed, different dreams). Trung Quốc có lý do khác để tư duy theo cách này. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc cho rằng Mỹ có sức mạnh quân sự ưu việt tại Đông Á, là điều mà Trung Quốc không thể thách thức tại thời điểm này. Tuy nhiên, tính đến sự cân bằng quyền lực mang tính cục bộ tại khu vực Đông Á thì Trung Quốc lại có khả năng sử dụng sức mạnh hải quân cho những lợi ích chiến lược và chính trị của riêng mình ở ngoại vi phía đông của nước này, vì các quốc gia Đông Á và Đài Loan rất dễ bị tổn thương đối với sức mạnh hải quân đang gia tăng của Trung Quốc hơn là đối với Mỹ.
Nhưng khả năng bùng nổ về một cuộc chiến tranh giữa Trung Quốc và các quốc gia láng giềng phía đông lại mang tính rủi ro rất lớnđối với Trung Quốc vì cuộc chiến như vậy sẽ lôi kéo sự can thiệp quân sự của Mỹ, là một kịch bản mang tính phá hủy đối với những chiến lược của Trung Quốc. Sau khủng hoảng kinh tế năm 2008, sức mạnh tương đối của Mỹ đang bị suy giảm trong bối cảnh toàn cầu, nhưng lãnh đạo hiện tại của Trung Quốc lại không thích mạo hiểm.
Vì vậy Trung Quốc sẽ không dám thực hiện bất kỳ một hành động quân sự lớn nào nhằm chống lại các quốc gia láng giềng của mình, thậm chí những va chạm thường xuyên về vấn đề lãnh thổ với láng giềng như Việt Nam, Philippin và Nhật Bản, chống lại Trung Quốc, nhưng cho đến hiện tại Trung Quốc chỉ biểu dươngsức mạnh quân sự của mình.
Trái với hầu hết điểm bất lợi mang tính tuyệt đốicủa Trung Quốc về phạm vi quân sự, Trung Quốc lại có ưu điểm mang tính tương đối về phạm vi kinh tế ( như đất hiếm và nguồn nước). Khả năng về việc Trung Quốc mở rộng lợi thế phi quân sự chỉ khi xung đột quân sự ở mức độ đủ thấp đối với các quốc gia có liên quan để gia tăng sự phụ thuộc về kinh tế đối với Trung Quốc.
Chỉ khi căng thẳng ở mức độ thấp, cho dù khá rụt rè, họ sẽ theo đuổi một chính sách, chủ yếu xuất phát từ những lý do trong nước mà đặt ra ưu tiên cao hơn đối với những lợi ích kinh tế cụ thể/đã được xác định trong tương lai gần bằng sự hy sinh về rủi ro chiến lược chưa chắc chắn/còn mơ hồ trong tương lai xa. Tuy nhiên, một cách mỉa mai, nếu tình huống an ninh/chiến lược tại Đông Á hoàn toàn toàn không mang tính đối đầu thì sức đàm phán của Trung Quốc lại không được cao.
Nếu và chỉ nếu có mức độ nào đó về sự căng thẳng trong khu vực, thì nền kinh tế và vũ khí phi quân sự khác của Trung Quốc mới phát huy hiệu quả. Đối với Trung Quốc, căng thẳng ở mức độ nào đó lại hữu ích.
Sức mạnh của Trung Quốc hiện tại mang tính điều kiện, vì nước này này cần giữ một nhịp độ thấp để đạt được vị thế chiến lược có lợi hơn, bởi vì ở nhịp độ quá vội vàng sẽ dẫn đến rủi ro đối với Trung Quốc vì điều đó sẽ gây ra các phản ứng dữ dội hay tạo ra liên minh chống Trung Quốc từ các quốc gia Đông Á. Có thể họ sẽ miễn cưỡng quyết định hy sinh lợi ích kinh tế của chính mình khihọ nhìn thấy một con rồng hung dữ to lớn với bộ nanh vuốt đang lao về phía mình. Nếu nhịp độ đủ thấp, Trung Quốc có thể sử dụng thủ đoạn “chia để trị” đối với các quốc gia Đông Á (và với Mỹ) thông qua đàm phán ngoại giao.
Trì hoãn là chiến lược mà Trung Quốc đã sử dụng đối với Biển Đông từ giữa những năm 90 đến nay. Bài viết sẽ đi sâu phân tích vì sao Trung Quốc lại sử dụng chiến lược này và một số kết quả mà Trung Quốc đạt được cũng như tác động như thế nào đối với khu vực
Bài viết phân tích cách ứng xử của Trung Quốc trong tranh chấp Biển Đông thông qua lăng kính chiến lược của Trung Quốc quản lý các tuyên bố chủ quyền. Từ giữa những năm 1990, Trung Quốc đã theo đuổi chính sách trì hoãn giải pháp cho tranh chấp. Mục tiêu của chiến lược này là củng cố các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc, đặc biệt là các tuyên bố về chủ quyền các vùng biển hay quyền tài phán đối với các vùng nước này, và răn đe các nước khác củng cố tuyên bố chủ quyền của họ mà gây tổn hại đến lợi ích của Trung Quốc, bao gồm các dự án phát triển nguồn tài nguyên mà Trung Quốc không được tham gia. Kể từ giữa những năm 2000, mức độ các nỗ lực của Trung Quốc nhằm củng cố các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc và răn đe các bên tuyên bố chủ quyền khác đã tăng lên thông qua các biện pháp về ngoại giao, hành chính và quân sự. Mặc dù chiến lược của Trung Quốc là tìm cách củng cố các tuyên bố chủ quyền của mình, nhưng Trung Quốc cũng đe dọa các quốc gia yếu hơn trong tranh chấp và theo đó Trung Quốc đang làm bất ổn định khu vực. Kết quả là, chiến lược trì hoãn bao gồm các nỗ lực ngăn cản leo thang căng thẳng tuy nhiên trong khi đó Trung Quốc vẫn tiếp tục tìm cách củng cố chủ quyền của mình.
Trong những năm gần đây, không một tranh chấp vùng biển nào gây ra sự chú ý nhiều hơn tranh chấp về đảo, đá ngầm và các vùng nước tại Biển Đông. Tranh chấp bao gồm các tuyên bố chồng chéo của sáu chính phủ đối với chủ quyền lãnh thổ và các quyền chủ quyền các vùng biển, bao gồm các tuyến đường biển chính kết nối từ Đông Nam Á với Đông Bắc Á, bao gồm các khu vực đánh bắt cá rộng lớn và có thể chứa đựng lượng dự trữ dầu và khí ga lớn. Trong tranh chấp Biển Đông không một quốc gia nào gây ra sự chú ý nhiều hơn nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (PRC) do tuyên bố chủ quyền một vùng rộng lớn, trong quá khứ đã sử dụng vũ lực để đánh chiếm các đảo và vùng nước và năng lực hải quân ngày càng mạnh lên.
Bài viết này phân tích cách ứng xử của Trung Quốc trong tranh chấp tại Biển Đông thông qua lăng kính chiến lược của Trung Quốc quản lý các tuyên bố chủ quyền. Từ giữa những năm 1990, Trung Quốc đã theo đuổi chính sách trì hoãn giải pháp cho tranh chấp. Mục tiêu của chiến lược này là củng cố các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc, đặc biệt là các tuyên bố về chủ quyền các vùng biển hay quyền tài phán đối với các vùng biển này, và răn đe các nước khác củng cố tuyên bố chủ quyền của họ gây tổn hại đến lợi ích của Trung Quốc, bao gồm các dự án phát triển nguồn tài nguyên mà Trung Quốc không được tham gia. Kể từ giữa những năm 2000, mức độ các nỗ lực của Trung Quốc nhằm củng cố các tuyên bố chủ quyền và răn đe các nước khác đã tăng nhanh thông qua các biện pháp ngoại giao, hành chính và quân sự. Mặc dù chiến lược của Trung Quốc là nhằm củng cố các tuyên bố chủ quyền của mình nhưng Trung Quốc cũng tìm cách đe dọa các nước yếu hơn trong tranh chấp và như vậy đã đang tạo ra sự bất ổn tại khu vực. Đây à kết quả là chiến lược trì hoãn bao gồm các nỗ lực ngăn chặn leo thang căng thẳng giữa các bên tuyên bố chủ quyền.
Bài viết được trình bày như sau. Các tuyên bố chủ quyền và lợi ích của Trung Quốc tại Biển Đông, mà xác định các mục tiêu và bối cảnh cho chiến lược của Trung Quốc, được phân tích trong phần tiếp theo. Tiếp theo, bài viết miêu tả việc sử dụng chiến lược trì hoãn từ những năm 1949 và hai giai đoạn Trung Quốc sử dụng vũ lực là vào năm 1974 tại Nhóm đảo Lưỡi liềm (Cresent Group) tại quần đảo Hoàng Sa và vào năm 1988 đối với dải đá ngầm Johnson (Johnson Reef) tại quần đảo Trường Sa. Hai phần tiếp theo này phân tích các hợp phần quân sự, hành chính và ngoại giao trong chiến lược trì hoãn của Trung Quốc và các nỗ lực quản lý căng thẳng kể từ mùa hè năm 2011. Cuối cùng, bài viết phân tích các tác động đối với hợp tác và xung đột trong tranh chấp.
Các tuyên bố chủ quyền và Lợi ích tại Biển Đông của Trung Quốc
Đối với Biển Đông, Trung Quốc tuyên bố chủ quyền lãnh thổ đối với hai nhóm đảo và các quyền chủ quyền các vùng biển đối với các vùng nước liên quan. Cơ sở hiện nay cho tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc là bài phát biểu của Thủ tướng Chu Ân Lai vào tháng 8 năm 1951 trong các cuộc đàm phán ký hòa ước của Đồng minh với Nhật Bản. Trong bài phát biểu này, Chu Ân Lai đã tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa[1]. Tháng 9 năm 1958, Trung Quốc tái khẳng định tuyên bố chủ quyền đối với các đảo này khi Trung Quốc khẳng định quyền chủ quyền đối với các vùng nước trong thời gian khủng hoản Kim Môn. Tuyên bố năm 1958 đánh dấu lần đầu tiên Trung Quốc gắn tuyên bố chủ quyền lãnh thổ với đòi hỏi quyền chủ quyền các vùng biển, trong trường hợp này, quyền chủ quyền với các vùng lãnh hải. Từ giữa những năm 1970 cho đến nay, các phát biểu chính thức của chính phủ đã được sử dụng chủ yếu là cùng một ngôn ngữ để thể hiện tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc. Tuyên bố thường được diễn đạt: “Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với quần đảo Trường Sa (hay là các đảo ở Biển Đông) và các vùng nước liền kề.”
Khi thể chế luật pháp quốc tế về vùng biển đã phát triển, Trung Quốc bắt đầu pháp điển hóa các tuyên bố chủ quyền của mình đối với các quyền chủ quyền các vùng biển thông qua việc đưa ra nội luật của mình. Các luật này hòa hợp hệ thống pháp luật của Trung Quốc với các yêu cầu của Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS). Năm 1992, Quốc hội (NPC) thông qua Luật về Lãnh Hải và Vùng Tiếp giáp của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, trong đó tái khẳng định nội dung của tuyên bố 1958 nhưng ngôn ngữ thì cụ thể hơn. Tiếp sau luật này, Trung Quốc thông qua đường cơ sở cho các vùng nước của mình vào năm 1966. Năm 1998, Quốc hội Trung Quốc thông qua luật về Vùng Đặc quyền kinh tế và Thềm lục địa của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, trong đó Trung Quốc tuyên bố thêm quyền các vùng biển nhiều hơn được ghi trong luật năm 1992.[2] Luật vùng đặc quyền kinh tế không đề cập đến quần đảo Hoàng Sa hay Trường Sa, nhưng khi kết hợp với luật lãnh hải năm 1992, nó cung cấp cơ sở cho tuyên bố các quyền chủ quyền các vùng biển tại Biển Đông. Tháng 4 năm 2011, Trung Quốc xác nhận việc diễn dịch luật này trong công hàm gửi đến Ủy ban của Liên Hợp Quốc về Giới hạn thềm lục địa (CLCS) nói rằng các đảo thuộc quần đảo Trường Sa hoàn toàn “có quyền” tạo ra vùng lãnh hải, đặc quyền kinh tế và thềm lục địa[3].
Phạm vi của các tuyên bố của Trung Quốc là các quyền chủ quyền chủ quyền các vùng biển hay quyền tài phán, tuy nhiên, vẫn còn nhiều mập mờ. Trước tiên, nhiều trong số các vùng đất Trung Quốc tuyên bố chủ quyền không đáp ứng được yêu cầu là đảo theo như điều 121(3) của UNCLOS và theo đó không thể tạo ra vùng đặc quyền kinh tế. Trung Quốc có lẽ có thể tuyên bố phần lớn các đảo của Quần đảo Trường Sa cũng như là đảo Phú Lâm của Hoàng Sa và đảo Ba Bình (hiện đang bị Đài Loan chiếm đóng)[4]. Các tuyên bố chủ quyền như vậy, tuy nhiên, chỉ cho thấy thái độ mở rộng tối đa với lãnh thổ, trong khi UNCLOS yêu cầu các quốc gia giải quyết tranh chấp khi các tuyên bố vùng đặc quyền kinh tế chồng lấn.
Điều mập mờ thứ hai liên quan đến câu hỏi chủ quyền lịch sử mà Trung Quốc có thể tuyên bố tại Biển Đông. Điều 14 của luật vùng đặc quyền kinh tế năm 1998 của Trung Quốc quy định “luật biển sẽ không ảnh hưởng đến các quyền lịch sử mà Cộng hòa Nhân đân Trung hoa có”. Mặc dù một số nhà nghiên cứu chính sách đã gợi ý rằng Biển Đông là vùng nước lịch sử, luật năm 1998 không xác định nội dung hay phạm vi của chủ quyền lịch sử này[5]. Hơn thế nữa, không có luật nào của Trung Quốc miêu tả những cái quyền này có thể bao gồm[6].
“Đường chín đoạn” xuất hiện trên các bản đồ chính thức của Trung Quốc trong khu vực tạo ra sự mơ hồ thứ ba. Đường chín đoạn này ban đầu được vẽ vào những năm 1930, bắt đầu xuất hiện trên bản đồ chính thức của Cộng hòa Trung Hoa (ROC) năm 1947 và đã xuất hiện trên các bản đồ của PRC kể từ năm 1949. Cả ROC và PRC đều đã không từng định nghĩa dạng tuyên bố chủ quyền nào đường chín đoạn này thể hiện. Đến ngày nay, đường chín đoạn vẫn không được xác định. Ví dụ, mặc dù Trung Quốc đã bao gồm một bản đồ đường chín đoạn trong công hàm gửi CLCS vào tháng 5 năm 2009, Trung Quốc chưa bao giờ định nghĩa đường này hay tuyên bố các chủ quyền lịch sử mà một số học giả đã thảo luận là đường chín đoạn ám chỉ[7].
Nếu các tuyên bố chính thức và luật của Trung Quốc được xác định giá trị, thì chỉ có một cách giải thích về đường này có thể được: đường miêu tả tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc với các đảo và các vùng khác nằm trong đường này, có thể kể tên như là quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Khi Trung Quốc công bố đường cơ sở vào nằm 1996, Trung Quốc vẽ đường cơ sở xung quanh quần đảo Hoàng Sa nhưng không vẽ tại quần đảo Trường Sa. Đạo luật này cho thấy Trung Quốc có ý định sẽ tiếp tục tuyên bố chủ quyền của mình đối với các quyền các vùng biển (chứ không phải là chủ quyền với các đảo) tại Biển Đông thông qua UNCLOS, theo như cam kết của Qichen năm 1995[8]. Nếu như đường chín đoạn đại diện cho bất cứ điều gì khác với tuyên bố chủ quyền cho các đảo kèm theo từ đó Trung Quốc tuyên bố các quyền vùng biển, sau đó Trung Quốc sẽ không cần thiết phải tuyên bố các vùng lãnh hải vào năm 1958 hay vẽ đường cơ sở xung quanh quần đảo Hoàng Sa đã nằm trong đường chín đoạn. Như Daniel Dzurek đã quan sát, việc phân định đường cơ sở xung quanh Hoàng Sa là “không nhất quán về mặt lô gic” với tuyên bố chủ quyền các vùng nước hay các cách giải thích khác của đường chín đoạn này[9].
Sự không sẵn lòng hay không có khả năng của chính quyền Trung Quốc trong việc định nghĩa đường chín đoạn, tuy nhiên, tạo ra khoảng trống cho nhiều các diễn viên đề xuất các cách diễn dịch cạnh tranh khác nhau về đường này[10]. Cục quản lý Đánh bắt cá Khu vực Biển Đông (SSRFAB), ví dụ, miêu tả các hoạt động của mình là nhằm bảo vệ các ngư dân Trung Quốc khi họ hoạt động trong “đường biên giới truyền thống”[11]. Báo chính thức của Quân đội Giải phóng Nhân dân (PLA), tờ Jiefangjun Bao, đôi khi đề cập đến “đường biên giới lãnh hải truyền thống” tại Biển Đông[12]. Từ những năm 1980, có nhiều chủ thể liên quan đến vùng biển như Hải quân Giải phóng Nhân dân (PLAN) và Lực lượng Hải giám thuộc Cơ quan quản lý Biển, đều cử tầu đến bãi đá Johnson, một vùng đá chìm dưới nước được cho như là vùng đầu phía Nam tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc tại biển Đông. Trên thực tế, các quốc gia theo như UNLCOS không thể tuyên bố chủ quyền đối với các vùng chìm dưới không gắn kết với đất liền. Tuy nhiên, tính biểu tượng của hành động này là nhất quán với cách diễn dịch rộng về “đường chín đoạn”.
Trung Quốc theo đuổi nhiều lợi ích thông qua các tuyên bố đối với chủ quyền lãnh thổ và quyền chủ quyền các vùng biển tại Biển Đông. Như chỉ huy trưởng của PLAN Đô đốc Liu Huaqing (Lưu Hoa Thanh) đã nhận xét, “bất cứ ai kiểm soát quần đảo Trường Sa sẽ thu được lợi ích to lớn về kinh tế và quân sự”[13]. Về mặt kinh tế, tài phán đối với các vùng nước này sẽ cho phép Trung Quốc quyền tiếp cận đối với các nguồn tài nguyên biển trên Biển Đông, đặc biệt là nguồn khí hydrocarbons và cá. Các nguồn số liệu từ Trung Quốc cho biết có khoảng 105 tỉ thùng dự trữ khí hydrocarbon quanh khu vực quần đảo Trường Sa. Trong khi đó Biển Đông đóng góp một số lượng lớn lượng cá đánh bắt hàng năm của Trung Quốc[14]. Phần lớn thương mại của Trung Quốc cũng được đưa qua vùng biển này, bao gồm 80% nhập khẩu dầu của Trung Quốc[15]. Về mặt quân sự, Biển Đông tạo nên vùng biển đệm cho các tỉnh phía Nam Trung Quốc và sẽ là sân chơi quyết định cho các hoạt động trong một cuộc xung đột về vấn đề Đài Loan với Mỹ. Bất cứ nỗ lực nào nhằm phong tỏa Trung Quốc trong thời chiến cũng sẽ xảy ra tại các vùng nước này.
Liệu cách Trung Quốc gọi Biển Đông là “lợi ích cốt lõi” có tương ứng với Tây Tạng hay Đài Loan hay không đã thu hút nhiều sự chú ý vào năm 2010. Tờ New York Times báo cáo vào tháng 4 năm 2010 rằng Trung Quốc đã miêu tả Biển Đông như là “lợi ích cốt lõi”[16] . Mặc dù vấn đề này đã được thảo luận nhiều trong các cuộc họp riêng giữa các quan chức của Mỹ và Trung Quốc, không một nhà lãnh đạo cao cấp nào của Trung Quốc đã từng công khai nói rằng Biển Đông là lợi ích cốt lõi của Trung Quốc, không giống như Tây Tạng hay Đài Loan[17]. Ngoại lệ duy nhất dường như là xuất hiện một bài báo tiếng Anh đăng trên Hãng tin Tân hoa xã vào tháng 8 năm 2011[18]. Bài viết miêu tả chủ quyền của Trung Quốc đối với các đảo tại Biển Đông và các vùng nước lãnh hải như là “một phần lợi ích cốt lõi của Trung Quốc”, nhưng không phải là chỉ riêng bản thân Biển Đông.
Liệu các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc có chỗ cho đàm phán? Theo quan điểm của tác giả thì câu trả lời là có. Khi Trung Quốc công bố các đường cơ sở vào năm 1996, Trung Quốc không vẽ đường cơ sở xung quanh bất cứ đảo nào của quần đảo Trường Sa. Trung Quốc cũng không vẽ đường cơ sở xung quanh các vùng tranh chấp, bao gồm Đảo Điếu Ngư và Đài Loan. Điều này cho thấy sự công nhận tranh chấp và khả năng Trung Quốc có thể thỏa hiệp trong một số bối cảnh trong tương lai. Trung Quốc, do đó, “không trói tay” hay “đốt cầu” bằng cách công bố các đường cơ sở xung quanh các vùng hay khu vực đàm phán có thể cần đàm phán. Nói chung, Trung Quốc cũng đã thỏa hiệp trong các tranh chấp lãnh thổ khác và trong phân định biên giới vùng biển với Việt Nam tại Vịnh Bắc Bộ.
[1] Zhou Enlai Waijiao Wenxuan (Zhou Enlai’s Selected Works on Diplomacy) (Beijing: Zhongyang wenxian chubanshe, 1990), p.40.
[2] Bản sao của các tài liệu này, xem Guojia haiyangju zhengce fagui bangongshi (State Oceanographic Adiministration Office ò Policy, Law, and Regulation), ed., Zhonghua Renmin Gongheguo Haiyang Fagui Xuanbian (Tuyển tập luật biển và các quy định của PRC) (Beijing: Haiyang chubanshe, 2001), pp.1-14.
[3] Công hàm của Trung Quốc gửi Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc, ngày 14/4/2011, (http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submission_files/vnm37_09/chn_2001_re_phl_e.pdf)
[4] These are Taiping (Taiwan), Thitu (Philippines), West York (Philippines), Spratly(Vietnam) and Northeast Cay (Philippines).
[5] For an examination of these Chinese views, see Peter Dutton, “Through aChinese Lens”, Proceedings 136, no. 4 (April 2010): 24–29.
[7] Zou Keyuan, “The Sino-Vietnamese Agreement on Maritime Boundary Delimitation in the Gulf of Tonkin”, Ocean Development and International Law 36, no. 1 (2005): 74.
[8] “Qian Qichen explains China’s ‘clear-cut’ position on Spratlys issue,” Xinhua
News Agency, 1 August 1995.
[9] Daniel Dzurek, “The People’s Republic of China Straight Baseline Claims”, IBRU Boundary and Security Bulletin 4, no. 2 (Summer 1996): 85.
[10] In a recent book, one prominent Chinese analyst describes four different interpretations of the line, including maritime sovereignty, historic waters, historic rights, and sovereignty over land features. See Wu Shicun, Nansha Zhengduan de Qiyuan yu Fazhan [The Origins and Development of the Spratlys Dispute] (Beijing: Zhongguo jingji chubanshe, 2010), pp. 32–39.
[11] “Malaixiya wuli zhuakou wo yi GangAo liudong yuchuan [Malaysia’s unjustifiable seizure of a fishing boat from Hong Kong and Macau]”, Nongyebu Nanhaiqu yuzhengju, 30 August 2006, 1459_2006_08_30_1916.html>.
[12] “Haijun diqipi huhang biandui jiaru zuguo chuantong haijiang xian [The Navy’s Seventh Escort Task Force Enters the Motherland’s Traditional Maritime Boundary]”, Jiefangjun Bao, 3 May 2011, p. 4
[13] Liu Huaqing, Liu Huaqing Huiyilu [Liu Huaqing’s Memoirs] (Beijing: Jiefangjun chubanshe, 2004), p. 538.
[14] Bernard D. Cole, The Great Wall At Sea: China’s Navy in the Twenty-FirstCentury, 2nd ed. (Annapolis: Naval Institute Press, 2010), p. 49.
[15] Michael Lelyveld, “Mideast oil drives China disputes”, Radio Free Asia,18 July 2011.
[16] Edward Wong, “Chinese military seeks to extend its naval power”, New York
Times, 24 April 2010.
[17] Michael D. Swaine, “China’s Assertive Behavior—Part One: On ‘Core Interests’”,China Leadership Monitor, no. 34 (Winter 2011).
[18] “China-Philippines cooperation depends on proper settlement of maritime disputes”, Xinhua News Agency, 31 August 2011.
Loạt bài của các chuyên gia về Biển Đông đăng trên tạp chí “Tri thức thế giới” của Bộ Ngoại giao Trung Quốc: một nửa giang sơn của Trung Quốc là phần bao bọc xung quanh phía Nam nhưng đang ở trong trạng thái của “mùa Đông lạnh giá”? “Trung Quốc cần phải có kế sách đối phó như thế nào?”
Xem xét từ góc độ chính trị quốc tế và quan hệ giữa các quốc gia, tôi cho rằng tình hình Biển Đông vẫn đang ổn định, hay nói cách khác các nước ở khu vực Biển Đông và các nước ngoài khu vực như Mỹ đang duy trì quan hệ chính trị ngoại giao bình thường với Trung Quốc, khả năng xảy ra xung đột quân sự ở Biển Đông không lớn. Tuy nhiên, nếu xem xét từ góc độ khác thì đã có rất nhiều vấn đề tồn tại.Xét từ góc độ quyền phát ngôn thì từ năm 2010 đến 2011, vấn đề Biển Đông đã bị nhào nặn thành một trong những vấn đề nóng của khu vực này. Một số nước Đông Nam Á như Việt Nam và các nước ngoài khu vực như Mỹ, Nhật Bản... đã ngang nhiên tô vẽ vấn đề Biển Đông, trong khi đó Trung Quốc lại dường như im lặng. Tuy nhiên, trước năm 2010, nếu Trung Quốc phản đối mạnh thì dù là nước xung quanh Biển Đông hay nước ngoài khu vực sẽ đều không thể công khai thảo luận vấn đề tranh chấp Biển Đông theo cơ chế mang tính khu vực hoặc tại các hội nghị mang tính khu vực như Diễn đàn khu vực ASEAN. Tại Diễn đàn khu vực ASEAN năm 2010, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc cũng đã phản bác những ngôn luận được gọi là tự do hàng hải ở Biển Đông trong tình hình không thể nhẫn nại hơn nữa. Nói tóm lại, quyền phát ngôn của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông hiện nay là bị động, đương nhiên tình hình này chủ yếu cũng bắt nguồn từ chính sách tự kiềm chế và dịu giọng của Trung Quốc.Xét về góc độ khai thác sử dụng tài nguyên thiên nhiên biển thì các nước xung quanh Biển Đông mỗi năm khai thác đến hàng triệu tấn, thậm chí hàng chục triệu tấn dầu khí từ vùng biển tranh chấp ở Biển Đông, trong khi một sự thực không thể tranh cãi là Trung Quốc lại không có một giếng dầu nào trong vùng biển tranh chấp. Trong thời gian rất dài trước đây, khi muốn lôi kéo công ty dầu khí của các nước phương Tây vào thăm dò, khai thác dầu khí, Philíppin và Việt Nam thường dè dặt, đắn đo trước phản ứng của Trung Quốc nhưng hiện nay tình hình rõ ràng đã khác trước. Ví dụ như Philíppin, khi hợp tác với công ty dầu khí phương Tây khai thác dầu khí ở vùng biển tranh chấp, nước này tạo dư luận ồn ào trước, dùng thủ đoạn “kẻ cướp kêu bắt kẻ cướp”. Như vậy cũng có thể nói trước đây Philíppin khai thác vụng trộm dầu khí ở vùng biển tranh chấp, nay trắng trợn hành động, cho thấy Trung Quốc đang ngày càng mất đi khả năng kiểm soát tình hình trước hành vi xâm phạm chủ quyền nghiêm trọng của các nước xung quanh như vậy. Xét về phương diện đánh bắt cá thì ngư dân Trung Quốc hiện nay đến đâu cũng bị bắt bớ, trong đó bao gồm Biển Đông và Đông Hải (Biển Hoa Đông).Xét về góc độ so sánh lực lượng và xây dựng quan hệ chiến lược, từ năm 2010 đến nay, so sánh lực lượng ở khu vực Biển Đông đã có thay đổi to lớn. Quan hệ chiến lược giữa các nước trong và ngoài khu vực Biển Đông có bước phát triển mới, về tổng thể, cơ bản đã hình thành mối quan hệ so sánh lực lượng trong đó một bên là Trung Quốc, còn bên kia là một số nước khác do Mỹ và Việt Nam đứng đầu. Quan hệ so sánh này biểu hiện cụ thể ở hai phương diện:
Một là, xem xét tình hình quan hệ giữa thế lực bên ngoài khu vực và các nước vùng biển xung quanh, từ năm 2010 đến nay, Mỹ không ngừng gia tăng sự hiện diện quân sự ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Ngoài việc lớn tiếng tăng cường quan hệ liên minh quân sự với các nước Hàn Quốc, Nhật Bản, Philíppin, Mỹ đã nhiều lần tổ chức diễn tập quân sự chung, cuối năm 2011 Mỹ lại tuyên bố đạt được thỏa thuận xây dựng căn cứ hải quân ở Ôxtrâylia. Một số nước xung quanh Biển Đông cũng có động thái quan trọng, ví dụ như quan hệ quân sự hiện nay giữa Việt Nam với Mỹ có thể nói là thời kỳ tốt đẹp nhất kể từ khi kết thúc Chiến tranh Việt Nam; Việt Nam và Ấn Độ, Nhật Bản đều đã thiết lập và tăng cường quan hệ hợp tác quân sự, trong đó cả Ấn Độ và Nhật Bản đều cam kết rõ phải giúp Việt Nam nâng cao khả năng quân sự trên biển. Philíppin, Inđônêxia cũng đều lần lượt nâng cấp quan hệ với Nhật Bản lên thành quan hệ đối tác chiến lược, tuyên bố phải bảo vệ “lợi ích chung” ở Biển Đông.Thứ hai, xem xét tình hình phát triển quan hệ giữa các nước tranh chấp Biển Đông, Việt Nam không ngừng điều chỉnh chiến lược Biển Đông của họ, ra sức phát triển quan hệ với nước tranh chấp Biển Đông khác như Philíppin. Việt Nam đã từng bước thay đổi lập trường đối phó tranh chấp Biển Đông, bắt đầu gác lại tranh chấp với các nước khác như Philíppin, tích cực lôi kéo Philíppin và Malaixia nhằm mục đích cùng đối phó với Trung Quốc.Một vấn đề cần phải xem xét kỹ là, từ những năm 70 của thế kỷ trước đến nay, vấn đề tranh chấp Biển Đông đã tồn tại mấy chục năm nhưng về cơ bản các nước và Trung Quốc đều giữ lập trường giống nhau hoặc tương tự nhau, đó là có tranh chấp nhưng không làm to chuyện. Nhưng từ năm 2010 đến nay, vấn đề Biển Đông đã bị hâm nóng lên, dường như hai năm trở lại đây Biển Đông đã luôn xuất hiện tình trạng tranh chấp mới nào đó! Sự thực cái gọi là vấn đề Biển Đông đang bị khuấy lên hiện nay, trên thực tế là bị người ta cố ý làm cho nóng lên.Tôi cho rằng vấn đề này trước hết là Mỹ và Việt Nam phối hợp với nhau nhằm đạt mục đích giúp Mỹ nhanh chóng can thiệp vấn đề Biển Đông, tranh giành ảnh hưởng ở khu vực Biển Đông, đồng thời giúp Việt Nam củng cố và giành giật lợi ích thực tế ở Biển Đông, hơn nữa xét tình hình hiện nay, rõ ràng họ đã rất thành công. Từ năm 2010 đến nay, Mỹ và Việt Nam đã lợi dụng mặt bằng đối thoại ASEAN ở nhiều cấp độ, triển khai thế tiến công Trung Quốc về mặt dư luận, tạo bầu không khí dư luận để cùng công khai “lên án” Trung Quốc. Xét bầu không khí dư luận hiện nay, dường như vấn đề Biển Đông chính là vấn đề mà một bên là Trung Quốc, bên kia là các nước ASEAN và Mỹ, Nhật Bản, là hình thức xung đột giữa lợi ích của Trung Quốc ở Biển Đông và “lợi ích chung” của tất cả các nước này tại Biển Đông.
Thứ hai là tạo môi trường dư luận để làm méo mó hình ảnh của Trung Quốc, cô lập Trung Quốc, phục vụ cho Mỹ và Việt Nam thành lập liên minh đại chiến lược chống Trung Quốc, bao vây Trung Quốc từ hướng Biển Đông. Hơn nữa, cho đến cuối năm 2011, liên minh nói trên đã rõ hình hài, tiêu chí trực tiếp nhất là quan hệ đối tác các loại mà các nước tranh chấp Biển Đông như đã nói trên là Việt Nam, Philíppin... và các thế lực ngoài khu vực như Mỹ, Nhật Bản và Ấn Độ, đã hình thành và đang tăng cường, củng cố.Tuy nhiên, các nước này cũng có tính hai mặt rất rõ rệt. Một mặt, xét từ góc độ an ninh, họ muốn dựa vào Mỹ để kiềm chế, cân bằng Trung Quốc, không muốn tin vào Trung Quốc; Mặt khác, về phương diện kinh tế lại muốn dựa vào Trung Quốc, có được lợi ích thực tế từ Trung Quốc. Ngoại trưởng Philíppin đi thăm Trung Quốc, có được lợi ích thực tế từ Trung Quốc nhưng sau khi về nước đã lập tức cho công ty dầu khí phương Tây vào thăm dò khai thác dầu khí ở khu vực tranh chấp thuộc Biển Đông. Việt Nam và Nhật Bản rất thành thạo lợi dụng những dịp đi thăm lẫn nhau của các nhà lãnh đạo hai nước, vừa ca tụng bài ca hữu nghị với Trung Quốc, vừa nhân có hội để thăm dò, điều tra trên biển, cố tình chiếm được lợi ích thực tế, vì theo những cách thức quen thuộc, trong khi các nhà lãnh đạo đi thăm, Trung Quốc bao giờ cũng áp dụng lập trường kiềm chế, nói chung không có hành động thực tế ở ngoài biển. Nói tóm lại, một số nước xung quanh có quy hoạch chiến lược, có kế hoạch hành động trong vấn đề tranh chấp Biển Đông, hơn nữa có chiến lược đấu tranh rất lợi hại, hết sức thành thạo trong việc tạo ra và lợi dụng các cơ hội để mưu cầu lợi ích biển tối đa.
Tình hình “xung đột cường độ mạnh” nguy hiểm nhất ở Biển Đông có thể là năm 2010 và 2011. Bởi vai trò của nước Chủ tịch luân phiên ASEAN rất lớn, trong khi đó Việt Nam với tư cách là nước Chủ tịch vào năm 2010 đã làm hết khả năng của mình, lợi dụng sự ủng hộ của Mỹ đưa vấn đề Biển Đông lên bàn hội nghị các nước ASEAN. Năm 2012, Mỹ lần đầu tiên, tham gia Hội nghị cấp cao Đông Á. Từ năm 2012–2014, Chủ tịch luân phiên ASEAN sẽ lần lượt theo thứ tự do Campuchia, Brunây và Mianma đảm nhận, bởi thế tình hình có khả năng sẽ không tiếp tục nghiêm trọng như năm 2011. Mặc dù vậy, tôi cho rằng vấn đề Biển Đông chỉ có thể nói là sóng gió trên mặt biển có thể giảm bớt chứ sóng ngầm sẽ vẫn như cũ.Xét từ trạng thái hiện nay, vấn đề Biển Đông đã trở thành nhân tố vô cùng quan trọng ảnh hưởng đến lợi ích an ninh và lợi ích phát triển của Trung Quốc, đồng thời cũng trở thành vấn đề nóng mới liên quan đến sự ổn định ở khu vực xung quanh Trung Quốc.Quan hệ Trung – Mỹ trước mắt vẫn chủ yếu là cạnh tranh, sở dĩ vấn đề Biển Đông nóng lên, được phóng đại như vậy, có thể nói là do một số nước xung quanh đã phối hợp với chiến lược “trở lại châu Á-Thái Bình Dương” mà Mỹ đã công phu hoạch định. Năm 2010, Mỹ đã lợi dụng sự kiện “tàu Cheonan” ở hướng Bắc Trung Quốc và khuấy động Biển Đông ở phía Nam, khiến Trung Quốc bị tiến công từ hai mặt. Thủ đoạn thành công nhất của Mỹ là đã làm cho mâu thuẫn Trung – Mỹ diễn biến thành vấn đề giữa Trung Quốc và các nước thuộc khu vực xung quanh, bởi vậy thực chất của vấn đề Biển Đông còn là cuộc đấu chiến lược giữa Trung Quốc và Mỹ. Cùng với vấn đề Biển Đông nóng lên, không ít vạch đỏ của Trung Quốc đã bị phá vỡ, hơn nữa còn đang tiếp tục bị đột phá. Ví dụ như Trung Quốc luôn chủ trương vấn đề Biển Đông là công việc của các nước trong khu vực, trong khi xét từ ý nghĩa nào đó, trên thực tế đã bị quốc tế hóa. Ở quần đảo Trường Sa hiện nay có tới 58% các đảo-bãi đã bị Việt Nam chiếm cứ, vậy Trung Quốc cần phải đối xử như thế nào? Có cần phải thu hồi lại, cũng như thu hồi bằng cách nào, những vấn đề này đã trở thành điểm mấu chốt để Trung Quốc phá vỡ thế bế tắc trong việc giải quyết vấn đề Biển Đông. Dưới tiền đề Trung Quốc kiên trì đi theo con đường phát triển hòa bình như hiện nay, không thể dễ dàng sử dụng sức mạnh quân sự để thu phục đất bị mất, vậy chúng ta cần phải làm gì? Đồng thời, trong khi Trung Quốc trỗi dậy, áp lực trong và ngoài nước đối với chính sách ngoại giao của chúng ta cũng đồng thời lớn thêm. Áp lực bên ngoài như “thuyết về mối đe dọa Trung Quốc”, bên trong là sức ép của dân chúng theo tình cảm dân tộc chủ nghĩa, khó khăn đối với cả bên trong và bên ngoài tăng lên, nếu xử lý không thỏa đáng vấn đề Biển Đông thì không những lợi ích quốc gia sẽ bị tổn hại mà còn có thể nguy hại đến sự ổn định trong nước, thậm chí trực tiếp đe dọa địa vị cầm quyền của Đảng Cộng sản Trung Quốc của chúng ta.Về biện pháp đối phó của Trung Quốc, người viết có thể kiến nghị một số điểm sau đây:
Thứ nhất, xây dựng chiến lược Biển Đông ở tầm trung ương. Trước hết, cần thành lập cơ quan lãnh đạo thống nhất. Việt Nam đã sớm thành lập “Ủy ban phối hợp Trường Sa”, Trung Quốc đến nay đều chưa có gì. Sau nữa là xác định rõ lợi ích ở Biển Đông, đồng thời hoạch định con đường giải quyết hữu hiệu vấn đề, không thể chỉ nói mà không làm. Lại nữa, cần sử dụng nguồn lực chiến lược tổng hợp, các ngành nhất định phải phối hợp thống nhất.Thứ hai, thay đổi quan niệm, tích cực có hành động. Từ chỗ không gây nên chuyện, đừng để xảy ra trục trặc, đến chỗ làm việc, trù tính xác lập vị thế, từ đó tạo dựng tình thế có lợi cho Trung Quốc ở Biển Đông, nhanh chóng loại bỏ tình hình bế tắc nói trên.Thứ ba, tạo nguồn lực tổng hợp. Trung Quốc cần sử dụng phương pháp tác chiến toàn diện bao gồm các nguồn lực về chính trị, kinh tế, ngoại giao, pháp luật, quân sự, dư luận... Về mặt ngoại giao, cần dũng cảm thể hiện thái độ, không thể quá bị động. Về phương diện lợi ích quốc gia ở Biển Đông, Trung Quốc có lý, nhất định phải mạnh mẽ, không thể bị người khác áp đảo.Thứ tư, xây dựng các phương án ứng phó khẩn cấp. Cần phản ứng kịp thời, đề phòng sai lầm trong hỗn loạn, lại càng phải đề phòng để mất thời cơ tốt.Thứ năm, tăng cường xây dựng lực lượng, nâng cao khả năng bảo vệ an ninh trên biển của quốc gia, đồng thời thông qua thực hiện chấp pháp hữu hiệu trên biển để thể hiện ý chí của Trung Quốc trong việc bảo vệ lợi ích quốc gia, đặc biệt là nhanh chóng xây dựng lực lượng chấp pháp thống nhất trên biển. Về phương diện quân sự, nhất định phải kín đáo phát triển nhanh, triển khai thích hợp và sử dụng thận trọng.
Chúng ta đều nói Biển Đông ở vào “mùa Thu nhiều chuyện”, vậy dòng khí lạnh của “mùa Đông Biển Đông” đã từ đâu đến? Tôi cho rằng vẫn do Mỹ trở lại châu Á-Thái Bình Dương mang lại. Hiện nay, có hai cách nhìn nhận về việc Mỹ trở lại châu Á – Thái Bình Dương: Một là cho rằng nước Mỹ nhằm tỏ rõ sự hiện diện quân sự của mình ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương chứ hoàn toàn không phải nhắm vào Trung Quốc. Hai là cho rằng Mỹ kiềm chế Trung Quốc để bao vây Trung Quốc. Cá nhân tôi cho rằng thà cứ tin là Mỹ có ý đồ nhắm vào Trung Quốc chứ không thể tin Mỹ không có ý đồ nói trên. Dù có khả năng bao vây Trung Quốc hay không thì Mỹ chắc chắn vẫn có ý đồ.Tôi xin đưa ra cách quy nạp về bố trí chiến lược của Mỹ ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, gọi tắt là “bố cục chiến lược năm ba hai một”, trong đó “năm” là chỉ 5 liên minh quân sự lớn, đó là các liên minh Mỹ - Nhật, Mỹ - Hàn, Mỹ - Philíppin, Mỹ - Thái Lan, Mỹ - Ôxtrâylia, đồng thời còn có 5 căn cứ quân sự lớn, trước hết là một quần thể căn cứ quân sự Đông Bắc Á, chủ yếu kiểm soát ba eo biển La Pérouse, Tsugaru và Tsushima, khóa chặt cửa ngõ phía Bắc của Trung Quốc; Hai là quần thể căn cứ Đông Nam Á, chủ yếu kiểm soát Eo biển Malắcca, phong tỏa cửa ngõ phía Nam Trung Quốc; Ba là quần thể căn cứ đảo Guam, được ví như hai quả đấm thu lại của Mỹ, sẵn sàng xuất kích; Bốn là quần thể căn cứ Ôxtrâylia – Niu Dilân, quần thể căn cứ này mặc dù đóng quân hạn chế nhưng là căn cứ đầu não và là trận địa cảnh báo tiền duyên trong cuộc chiến thông tin của nước Mỹ, địa vị của căn cứ này vẫn rất quan trọng; Năm là quần thể căn cứ Haoai, đó là đầu mối thông tin – giao thông của Mỹ và là trung tâm chỉ huy tác chiến ở Thái Bình Dương của Mỹ.“Ba” là chỉ ba tuyến phong tỏa, đó là ba chuỗi đảo mà mọi người đều biết. Thứ nhất là các đảo chính ở Nhật Bản, Okinawa, Philíppin và khu vực Đài Loan; Thứ hai là đảo Guam và khu vực xung quanh Ôxtrâylia; Còn quần đảo Haoai là chuỗi đảo thứ ba.“Hai” là chỉ “hai chiếc mỏ neo”, chiếc neo phía Bắc là Liên minh quân sự Mỹ - Nhật, phía Nam là Liên minh quân sự Mỹ - Ôxtrâylia.“Một” là chỉ vòng vây hình thành bao quanh Trung Quốc.Bất kể vòng vây này hình dạng thế nào thì quả thực vẫn tồn tại. Những năm gần đây, Mỹ đã có được quyền xây dựng hơn 10 căn cứ quân sự ở các nước như Philíppin, Inđônêxia... Gần đây tình hình Biển Đông nổi sóng gió, Mỹ lập tức đề xuất điều chiến hạm gần bờ của họ đến cảng Changi của Xinhgapo. Một tiêu chí then chốt để có thể biết được Mỹ có trở lại Thái Bình Dương hay không là phải xem quân đội Mỹ có có trở lại cảng Subic, căn cứ quân sự Clack ở Philíppin và cảng Cam Ranh của Việt Nam hay không? Hai điểm này có thể coi là việc làm mang tính tiêu chí để xem xét việc Mỹ hoàn thành mục tiêu “trở lại châu Á – Thái Bình Dương”. Ở Nam Á, Mỹ và Ấn Độ đã kết thành quan hệ đối tác chiến lược. Ở Trung Á, Mỹ có 18 căn cứ quân sự, khoảng cách đến Tân Cương gần nhất là 250 km. Mông Cổ hiện nay lại càng thực hiện “chiến lược nước láng giềng thứ ba”, coi Mỹ là nước láng giềng thứ ba và diễn tập quân sự chung với Mỹ. Ở Đông Bắc Á, Mỹ cũng có các Liên minh quân sự Mỹ - Hàn, Mỹ - Nhật. Mỹ còn bố trí trận địa SONAR ở vùng biển xung quanh Trung Quốc để trinh sát tàu ngầm và tàu mặt nước của Trung Quốc, luôn nhiều lần diễn tập quân sự quy mô lớn với các nước láng giềng xung quanh Trung Quốc. Vì thế có nhận thấy rõ rằng, dù ý đồ của Mỹ thế nào thì vòng vây nói trên đã thực sự tồn tại.
Vậy phải giải quyết vấn đề Biển Đông như thế nào? Tôi cho rằng Trung ương Đảng trước hết cần phải coi sự nghiệp hải dương là trọng tâm của mọi trọng tâm, giống như sự nghiệp vũ trụ. Cần phải thành lập Ủy ban an ninh quốc gia, và dưới đó thành lập Ủy ban quốc gia về an ninh biển và phát triển biển do người lãnh đạo quốc gia nắm giữ.Thứ hai, cần kiên trì nguyên tắc “chủ quyền thuộc về ta” do đồng chí Đặng Tiểu Bình đề xuất. Chỉ có như vậy mới có thể làm cho các nước xung quanh hiểu lập trường cơ bản của chúng ta, nhất là nguyên tắc “chủ quyền thuộc về ta” không thể chỉ dừng lại ở lời nói mà phải được thực hiện bằng hành động. Đó chính là “5 tồn tại” mà tôi đề xuất như dưới đây:Một là tồn tại về mặt hành chính. Trung Quốc cần thành lập Khu hành chính đặc biệt ở Biển Đông, hoạch định các đơn vị hành chính như thành phố, quận, huyện, xã..., đồng thời cắt cử các quan chức quản lý về mặt hành chính. Dù không thể lên được đảo cũng cần phải công bố, căng biển trong đất liền cáo thị tên gọi của khu vực hành chính và các nhân viên quản lý, đồng thời các đại biểu Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc và ủy viên Chính Hiệp cũng cần phải công khai lên đảo tuần tra, tuyên bố chủ quyền.Hai là tồn tại về luật pháp. Nhất định phải đưa các căn cứ pháp lý của Trung Quốc đến diễn đàn quốc tế để tuyên truyền, phân tích, giải thích.Ba là tồn tại về quốc phòng. Trên các đảo ở Biển Đông thì những nơi có thể đóng quân sẽ phải đóng quân, những nơi không thể đóng quân thì phải xây dựng các cơ sở quân sự như cột đèn, thiết bị đo chiều gió, chỉ hướng gió, trạm quan trắc v.v.. Ngoài ra, máy bay chiến đấu và tàu chiến của Trung Quốc phải tuần tra thường kỳ ở khu vực này, đồng thời phải trịnh trọng tuyên bố khu vực nào đó là khu vực diễn tập quân sự hoặc khu bắn thử tên lửa khi ở trong trạng thái nguy cơ.Bốn là tồn tại về kinh tế. Ngư dân Trung Quốc cần thành lập và xây dựng các ngư trường, lồng lưới, tàu chiến có thể tiến hành bảo vệ dưới danh nghĩa hộ tống. Chúng ta cũng cần thành lập các mặt bằng khoan giếng, và còn có thể sử dụng phương pháp phát triển các dự án du lịch bằng tàu du lịch cỡ lớn đến khu vực Biển Đông để thể hiện chủ quyền. Trong quá trình trỗi dậy, biên giới lợi ích của Trung Quốc cũng sẽ đồng thời từng bước mở rộng, khái niệm chủ quyền cũng sẽ thay đổi. Ví dụ như tàu sân bay, mặt bằng thăm dò trên biển của Trung Quốc sẽ trở thành lãnh thổ lưu động.Năm là tồn tại về mặt dư luận. Trong luật quốc tế có một điều khoản quy định, nếu một số đảo nào đó sau khi bị chiếm nhưng không dẫn đến tranh chấp thì sau 50 năm đương nhiên sẽ được tách ra. Vì thế dư luận ở Trung Quốc cần không ngừng chỉ rõ Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với Biển Đông và vùng biển phụ cận Biển Đông. Ngoài ra Trung Quốc có căn cứ trong vấn đề phân định lãnh thổ Biển Đông theo luật quốc tế, vì thế báo chí cần tuyên truyền mạnh về những luật pháp nói trên. Trung Quốc cũng cần công bố “Sách Trắng về Biển Đông” vào thời điểm thích hợp, giải thích rõ căn cứ pháp lý của Trung Quốc.Cuối cùng, cũng cần phải nhấn mạnh một điểm, rằng trong vấn đề Biển Đông Trung Quốc không chỉ nhấn mạnh áp dụng biện pháp hòa bình, mà cần phải thực hiện song song giữa mềm và cứng, giữa ân đức và uy lực, hai tay đều phải cứng, vừa tuyên bố chúng ta có ý nguyện hòa bình tốt đẹp, nhưng cũng cần phải tuyên bố có ý chí kiên định bảo vệ chủ quyền quốc gia bằng biện pháp phi hòa bình. Chỉ có kết hợp giữa “ý nguyện” và “ý chí” mới có thể thực sự ngăn chặn chiến tranh, bảo vệ chủ quyền một cách hữu hiệu.
Trong bối cảnh vấn đề đặt ra cho năm 2012 là Trung Quốc cần phải làm gì, không chỉ có chiến lược ngoại giao mà nguyên tắc ngoại giao có cần phải điều chỉnh hay không? Bài viết của học giả Diêm Học Thông dưới đây phân tích vấn đề điều chỉnh đường lối ngoại giao của Trung Quốc xung quanh vấn đề Biển Đông như sau:Trong quân đội hiện nay đang có câu nói đặc biệt phổ biến, đó là “không đánh mà khuất phục được quân người”. Tuy nhiên, rất nhiều người đã giải thích nhầm câu nói trên thành không sử dụng vũ lực. Khái niệm “không đánh” trong câu của Tôn Tử nói trên nghĩa là không tiến hành trận chiến nóng để công phá thành chứ không phải là chiến tranh lạnh không sử dụng vũ lực. Ví dụ nói, trong quá trình giải phóng Bắc Bình (tên gọi cũ của Bắc Kinh hiện nay) giải phóng quân “vây mà không đánh”; Trong thời kỳ khủng hoảng Béclin, Liên Xô tiến hành phong tỏa giao thông ở Tây Béclin; Trong cuộc khủng hoảng tên lửa Cu Ba, Liên Xô chuẩn bị bố trí tên lửa ở Cu Ba; Trong Chiến tranh Irắc Mỹ thiết lập vùng cấm bay v.v., những cách nói trên đây đều hàm nghĩa “không đánh mà khuất phục được quân người”. Nói cách khác, vấn đề mấu chốt để phân định ý nghĩa “không đánh mà khuất phục được quân người” không phải ở chỗ có sử dụng biện pháp quân sự hay không mà ở chỗ có khai hỏa tiến công hay không. Hay cũng là nói, áp dụng biện pháp quân sự để uy hiếp hoặc phong tỏa cũng thuộc phạm trù “không đánh mà khuất phục được quân người”.Một ý nghĩa cốt lõi khác của câu nói trên là “quân người khuất phục”. Ở đây có ý nói kết quả trận đánh nóng chưa tiến hành là đối phương tự khuất phục chứ không phải mình khuất phục quân đối phương. Hiện nay có rất nhiều người lý giải về câu nói trên là, chỉ cần không sử dụng vũ lực giải quyết vấn đề, dù là tự mình khuất phục đối phương cũng là “thượng sách”. Trong lĩnh vực chính trị quốc tế, chỉ cần một bên khuất phục là có thể đảm bảo “hòa bình”. Nhưng, kết quả giải quyết hòa bình nói trên không thuộc về phạm trù “không đánh mà khuất phục được quân người” của Tôn Tử, mà đó gọi là “không đánh mà quân mình bị khuất phục”. Đó là vấn đề đặc biệt rõ ràng về chiến lược đối ngoại. Nói cách khác, vận dụng tư duy xử sự bằng cách không sử dụng vũ lực để giải quyết vấn đề, lấy “giấu mình chờ thời” làm ý tưởng ngoại giao trung tâm sẽ không thể xây dựng được chiến lược lớn về biển của Trung Quốc, cũng không thể giải quyết được vấn đề Biển Đông. Đặc biệt là nếu lấy bảo vệ thời cơ chiến lược và bảo vệ đại cục ổn định làm nguyên tắc thì Trung Quốc chỉ có thể lùi bước nhượng bộ trong vấn đề Biển Đông. Nếu bảo vệ thời cơ chiến lược được hiểu là lấy xây dựng kinh tế làm trung tâm, bảo vệ đại cục ổn định được hiểu là duy trì quan hệ hữu hảo với Mỹ, hay nói cách khác, nếu lo ngại giải quyết vấn đề Biển Đông sẽ ảnh hưởng đến phát triển kinh tế của Trung Quốc, ảnh hưởng đến quan hệ Trung – Mỹ, thì như vậy sẽ chỉ có thể là hy sinh lợi ích Biển Đông. Muốn giữ được quyền lợi ở Biển Đông thì không thể câu nệ vào “giấu mình chờ thời”, không thể lấy phục vụ xây dựng kinh tế làm nhiệm vụ tối cao trong đường lối ngoại giao.
Lợi ích hàng đầu của Trung Quốc cuối cùng là gì? Tôi cho rằng lợi ích kinh tế đã không còn tiếp tục là vị trí số một tuyệt đối, lợi ích an ninh cần phải được đặt lên trên lợi ích kinh tế, khi hai lợi ích phát sinh xung đột sẽ lấy lợi ích an ninh làm trọng tâm. Quốc gia lớn mạnh không có nghĩa là an ninh tự thân đã được nâng cao, mà sự thực đã chứng minh ngược lại, quốc gia càng lớn mạnh thì vấn đề an ninh sẽ càng trở nên nghiêm trọng vì biên giới lợi ích của quốc gia đã mở rộng ranh giới ra bên ngoài nên càng dễ bị bên ngoài tấn công. Nước Mỹ chính là một ví dụ rõ nhất. Lợi ích mở rộng đòi hỏi phải được bảo vệ bằng quân sự, tốc độ nâng cao khả năng bảo vệ bằng quân sự không theo kịp với tốc độ mở rộng lợi ích khác thì vấn đề an ninh sẽ càng ngày càng nghiêm trọng. Chính là do thực lực kinh tế và địa vị của Trung Quốc được nâng cao đã xuất hiện vấn đề về an ninh quốc gia như trong tranh chấp Biển Đông.Nhận định về tình hình Biển Đông, tôi có một cách nhìn khác. Cho dù năm 2012 biến động về nước chủ tịch luân phiên ASEAN là nhân tố ảnh hưởng quan trọng làm giảm nhẹ mức độ kích hoạt vấn đề Biển Đông, nhưng thực chất vấn đề Biển Đông trên thực tế vẫn được quyết định bởi chiến lược của Mỹ. Tôi xem xét tình hình Biển Đông từ góc độ chiến lược của Mỹ đối với Trung Quốc. Nói cách khác, tình hình Biển Đông chủ yếu sẽ được quyết định bởi việc Obama tranh cử tổng thống có được thuận lợi hay không. Nếu tình hình Obama tranh cử thuận lợi thì ông này sẽ tăng cường chiến lược hiện nay của Mỹ ở Biển Đông. Năm 2009, H. Clinton tham gia Hội nghị cấp cao Đông Á, có tổng cộng 12 nước ủng hộ Mỹ trong vấn đề này. Năm 2011, Obama tham gia Hội nghị cấp cao Đông Á, có 14 nước ủng hộ. Chiến lược Đông Nam Á của Mỹ khiến Mỹ được lợi. Đối với chiến lược đã cho thấy lợi ích thì Obama sẽ không từ bỏ. Bởi thế nếu Obama thắng cử thì năm 2012 ông ta sẽ còn tham gia Hội nghị cấp cao Đông Á, tình hình Biển Đông rất có thể nghiêm trọng hơn hiện nay. Đặc biệt tháng 12 vừa qua, H. Clinton đã đi thăm Mianma, hội kiến với Aung San Suu Kyi, rõ ràng là Mianma bắt đầu thỏa hiệp với Mỹ. Đồng thời xem xét đến viện trợ của Nga những năm gần đây cho Việt Nam sẽ thấy tình hình Biển Đông năm 2012 mà Trung Quốc phải đối mặt rất khó có được chuyển biến tốt. Nếu Obama tranh cử không thuận lợi, ông này sẽ khó tham gia Hội nghị thượng đỉnh Đông Á, tình hình như vậy sẽ có phần tốt hơn.
Hiện nay, mọi người đã và đang tranh luận việc Mỹ trở lại châu Á – Thái Bình Dương là hành động chiến thuật hay chiến lược? Nếu là chiến thuật thì năm 2013 sau khi bầu cử tổng thống, Mỹ có thể sẽ trở lại chính sách đối với Trung Quốc năm 2009, nhưng nếu là hành động chiến lược thì dù ứng viên tổng thống nào trúng cử cũng đều củng cố áp lực đối với Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông, sẽ tăng cường sự hiện diện quân sự và hành động chiến lược ở khu vực này. Tôi cho rằng việc Mỹ điều chỉnh chính sách đối với Trung Quốc lần này là mang tính chiến lược. Như mọi người đều biết, thực lực về vật chất của Mỹ đang giảm xuống một cách tương đối, vậy Mỹ sẽ phải dựa vào ưu thế ngoại giao để bù lại sự bất cập trong quốc lực tổng hợp. Như vậy cũng là nói, nước Mỹ sau khi thực lực vật chất sụt giảm tương đối sẽ tăng cường hiệp đồng tác chiến với đồng minh, như vậy mới có thể tiếp tục duy trì địa vị chủ đạo của nước Mỹ, đồng thời khu vực Biển Đông có từng ấy nước ủng hộ Mỹ thì tại sao Mỹ phải từ bỏ theo một hướng phi lôgích? Ngoài ra, Mỹ rút khỏi Trung Đông, tăng cường sự có mặt ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, so với khu vực Đông Bắc Á thì Biển Đông dễ dàng thâm nhập hơn, vậy tại sao Mỹ lại không kiềm chế Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông?Về biện pháp đối phó của Trung Quốc, tôi kiên trì theo hướng nên từ bỏ chính sách “giấu mình chờ thời” và “không liên kết”. Khiêm tốn thận trọng là khái niệm rất hay của Trung Quốc, nhưng vì sao phải thôi kiên trì “giấu mình chờ thời” để không sử dụng nguyên tắc “khiêm tốn thận trọng”? “Giấu mình chờ thời” có hàm nghĩa báo thù, đó là vấn đề không thể thay đổi. “Không liên kết” nghĩa là không kết giao thành bạn đáng tin cậy nhất. Không có bạn tin cậy, khi gặp khó khăn chúng ta sẽ không có ai để làm chỗ dựa. Chúng ta không có bạn đồng minh, nước khác cũng sẽ không giảm lo sợ đối với nước Trung Quốc trỗi dậy. Chính sách “không liên kết” trở thành chướng ngại để nước ta tranh thủ đa số nước ủng hộ ở khu vực Biển Đông. Mỹ rất lo ngại chúng ta từ bỏ chính sách “không liên kết”, vì chính sách này có lợi cho Mỹ cô lập chúng ta. Nhìn tổng quan bốn khu vực xung quanh Trung Quốc thì khu vực an toàn nhất là phía Tây và Tây Bắc, còn chỗ dựa an ninh ở khu vực này là Tổ chức hợp tác Thượng Hải mang tính chất bán liên minh quân sự.
Nói tóm lại, Trung Quốc hiện nay không những phải đối mặt trước vấn đề điều chỉnh chiến lược ngoại giao, mà vấn đề là có cần điều chỉnh nguyên tắc ngoại giao hay không, nghĩa là có điều chỉnh nguyên tắc “giấu mình chờ thời” và “không liên kết” hay không? Vấn đề Biển Đông hiện nay là hình ảnh thu nhỏ của ngoại giao toàn cầu của Trung Quốc, phản ánh ý tưởng ngoại giao đã lỗi thời. Trong “Kinh thi” có nói, “Chu tuy cựu bang, kỳ mệnh duy mới” nghĩa là triều nhà Chu có thể kéo dài được mấy trăm năm, chỗ dựa chính là không ngừng đổi mới. Người viết bài này cho rằng việc điều chỉnh nguyên tắc “không liên kết” đã vận dụng 30 năm và nguyên tắc “giấu mình chờ thời” đã thực hiện 20 năm, sẽ có lợi cho việc giữ gìn lợi ích Biển Đông và lợi ích quốc gia trên toàn cầu của Trung Quốc./.
Theo Tạp chí “Tri thức thế giới” (Trung Quốc – số 1/2012)
Mạng Tân Hoa gần đây đăng bài viết của tác giả Lăng Đức Quyền về những vấn đề liên quan đến tình hình tranh chấp ở Biển Đông đang được các giới quan tâm rộng rãi như: tranh chấp đã phát sinh thế nào, chính sách, chủ trương của Trung Quốc, triển vọng quan hệ Trung Quốc-ASEAN cũng như quan hệ Trung Quốc-Việt Nam liên quan tình hình Biển Đông trong thời gian sắp tới
I- Tranh chấp Biển Đông và “vấn đề Biển Đông”
Theo định nghĩa của Cục thủy văn quốc tế, Biển Đông là vùng biển chạy dài theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, biên giới phía Nam ở vị trí 3 độ vĩ tuyến Nam, giữa Nam Xumatra và Kalimantan, phía Bắc và Đông Bắc đến Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến, Đài Loan và Eo biển Đài Loan, biên giới phía Đông đến quần đảo Philíppin, phía Tây Nam đến Việt Nam và bán đảo Mã Lai, thông qua Eo biển Bashi, biển Sulu và Eo biển Malắcca nối liền với Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Hầu như cả Biển Đông bị vây quanh bởi đại lục, bán đảo và các đảo, diện tích hơn 3,5 triệu km 2, bằng khoảng ba lần tổng diện tích của Bột Hải, Hoàng Hải và Đông Hải (Biển Hoa Đông). Xung quanh Biển Đông có 9 quốc gia, gồm Trung Quốc (cả Đài Loan), Việt Nam , Campuchia, Thái Lan, Malaixia, Xinhgapo, Inđônêxia, Brunây và Philíppin. Trong vùng biển nói trên có hai vịnh là Vịnh Bắc Bộ và Vịnh Thái Lan. Vịnh Bắc Bộ là vịnh chung giữa Trung Quốc và Việt Nam, không liên quan đến nước khác. Năm 2000 Chính phủ hai nước Trung-Việt đã ký Hiệp định phân định biên giới Vịnh Bắc Bộ. Các nước xung quanh Vịnh Thái Lan có Thái Lan, Campuchia, Việt Nam và Malaixia. Việc giải quyết vấn đề quyền lợi về thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế ở Vịnh Thái Lan đã có rất nhiều tiến triển, giữa Việt Nam và Campuchia, giữa Malaixia và Thái Lan, giữa Malaixia và Việt Nam đã ký các hiệp định song phương nhưng giữa Campuchia và Thái Lan còn chưa ký được hiệp định. Vấn đề Biển Đông như mọi người thường nói không bao gồm Vịnh Bắc Bộ và Vịnh Thái Lan. Tranh chấp Biển Đông tập trung ở vùng biển quần đảo Trường Sa (quốc tế thường gọi là Spratly), liên quan đến Trung Quốc (bao gồm Đài Loan) và 5 nước (Việt Nam, Philíppin, Malaixia, Inđônêxia và Brunây), dân gian thường gọi là “6 nước 7 bên”. Sáu nước Đông Nam Á khác gồm Xinhgapo, Thái Lan, Campuchia, Lào, Mianma và Timo Leste không trực tiếp liên quan đến tranh chấp Biển Đông.
Nói một cách khái quát, tranh chấp Biển Đông chủ yếu liên quan đến hai phương diện: Một là tranh chấp chủ quyền lãnh thổ ở các đảo, hai là phân định vùng đặc quyền kinh tế. Đây là tranh chấp chủ quyền các đảo và lợi ích biển phức tạp nhất trên thế giới, không chỉ liên quan đến nhiều nước ven bờ Biển Đông, mà còn ở vào khu vực đường biển quốc tế quan trọng, liên quan đến lợi ích chiến lược của rất nhiều nước Đông Á và thế giới. Tranh chấp lợi ích lớn phức tạp đan xen lẫn nhau đã làm cho khó khăn trong giải quyết vấn đề tranh chấp Biển Đông tăng lên. Ngoài vùng biển quần đảo Trường Sa, giữa Trung Quốc và Việt Nam vẫn còn bất đồng và tranh chấp trong vấn đề phân định biên giới ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ. Giữa Trung Quốc và Philíppin cũng tồn tại tranh chấp chủ quyền các đảo và lợi ích biển ở khu vực Trung Bộ Trường Sa. Một số năm gần đây, “vấn đề Biển Đông” đã trở thành một từ nóng, không những được đề cập đến trong báo chí các nước trên thế giới, mà còn được đề cập trên các diễn đàn ngoại giao đa phương của khu vực và quốc tế hiện nay. Vậy cuối cùng, “vấn đề Biển Đông” là gì? Dường như cách gọi này đã trở thành một từ đồng nghĩa với tranh chấp chủ quyền các đảo và tranh chấp lợi ích biển giữa Trung Quốc với các nước Việt Nam , Philíppin, Malaixia... Đó thực sự là một cách hiểu nhầm. Trên thực tế, vùng biển rộng hơn 3,5 triệu km 2 nói trên liên quan đến nhiều nước ven biển, vị trí địa lý của vùng biển này nằm trên đường giao thông vận tải biển quan trọng của quốc tế, hơn nữa liên quan đến lợi ích chiến lược và lợi ích kinh tế quan trọng của các nước lớn trên thế giới. Những vấn đề thuộc khu vực Biển Đông thì rất nhiều, đa dạng và gồm nhiều phương diện. Sẽ là phiến diện và thiếu chuẩn xác nếu gọi chung chung tranh chấp giữa các nước xung quanh về chủ quyền và lợi ích biển là “vấn đề Biển Đông”. Trung Quốc phản đối “quốc tế hóa vấn đề Biển Đông” là phản đối việc quốc tế hóa tranh chấp chủ quyền các bãi, đảo và lợi ích biển ở Biển Đông, vì quốc tế hóa không những không giúp ích gì cho việc giải quyết vấn đề, mà sẽ càng làm cho tranh cãi gay gắt hơn, khiến thế lực bên ngoài xen vào, tranh chấp sẽ mở rộng hơn và phức tạp hơn, gây tổn hại đến lợi ích to lớn của mỗi nước liên quan và lợi ích chung của cả khu vực. Nói cho chuẩn xác thì khu vực Biển Đông đứng trước hai vấn đề lớn về an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống.
Trong lĩnh vực an ninh truyền thống, Chiến tranh thế giới thứ Hai và nhiều cuộc chiến tranh cục bộ, trong đó bao gồm cuộc Chiến tranh Việt Nam xảy ra từ mấy chục năm nay, đều trực tiếp hay gián tiếp liên quan nhiều đến Biển Đông, và cũng đều liên quan nhiều đến cục diện chiến lược quân sự, kinh tế của các nước lớn hiện nay và trong tương lai. Trong khu vực Biển Đông hiện nay không hề có sự đe dọa trực tiếp hay hiện thực trong lĩnh vực an ninh truyền thống đối với Trung Quốc, nhiều nhất chỉ có thể nói là có thể có mối đe dọa tiềm tàng. Trên trường quốc tế có người lợi dụng một số va chạm, tranh chấp ở Biển Đông, rắp tâm hướng mâu thuẫn vào Trung Quốc, tô vẽ, thổi phồng “mối đe dọa từ Trung Quốc”. Cách nói vu vơ thiếu căn cứ như trên đã không đánh lừa được ai. Quốc sách và chiến lược của Trung Quốc là không xưng bá, trước sau cùng với các nước láng giềng thi hành chính sách láng giềng thân thiện, cùng có lợi, cùng thắng và cùng phát triển. Bản thân Trung Quốc không mưu cầu bá quyền, cũng không tranh bá với nước khác, hay tìm kiếm một hình thức “bá quyền chung” nào đó với nước khác. Lịch sử và hiện thực chứng minh rằng Trung Quốc không phải là “mối đe dọa” an ninh truyền thống với các nước xung quanh, mà là cơ hội hợp tác cùng có lợi. Trong lĩnh vực an ninh phi truyền thống, Biển Đông và khu vực xung quanh vừa tồn tại lợi ích chung, cũng vừa đứng trước thách thức chung của các nước. “Các nước” ở đây không những bao gồm các nước ven biển, mà bao gồm cả các nước khác ngoài khu vực. Có thể nói, hầu như tất cả mọi vấn đề trong lĩnh vực an ninh phi truyền thống của thế giới, ở mức độ nào đó cũng đều liên quan tới Biển Đông. Vấn đề thuộc lĩnh vực an ninh phi truyền thống của khu vực quả thực là vấn đề mang tính chất quốc tế. Vấn đề phức tạp như vậy đương nhiên đòi hỏi các nước trong khu vực và tất cả các nước có lợi ích liên quan trên thế giới cùng bàn bạc đối phó giải quyết căn cứ theo các vấn đề và tình huống cụ thể, trên cơ sở của phương châm tăng cường lòng tin, mở rộng điểm đồng và lợi ích chung, thu hẹp và giải quyết ổn thỏa mâu thuẫn, bất đồng. Những lợi ích chung mà các nước trong khu vực Biển Đông và cộng đồng quốc tế quan tâm đòi hỏi các nước khu vực và cộng đồng quốc tế hợp tác cùng bảo vệ, giữ gìn.
II- Nguồn gốc và bối cảnh quốc tế của tranh chấp Biển Đông
Nguồn gốc tranh chấp chủ quyền các đảo ở Biển Đông có thể truy ngược lại thời gian giữa các thể chế của triều đình Mãn Thanh và Trung Hoa dân quốc. Trong thời gian đó Chính phủ Trung Quốc đã bắt đầu có xích mích ngoại giao về quyền quản lý một số đảo ở Biển Đông với nhà cầm quyền Pháp. Trước khi Chiến tranh thế giới thứ Hai kết thúc, ba nước Mỹ, Anh, Trung Quốc đã ra các văn kiện mang tính pháp lý quốc tế như “Tuyên ngôn Cairô” và “Thông cáo chung Pốtxđam”, tuyên bố tước đoạt những phần lãnh thổ do Chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản xâm chiếm. Trong bối cảnh Chiến tranh thế giới thứ Hai kết thúc, cuộc kháng chiến chống Nhật thắng lợi, địa vị quốc tế của Trung Quốc được nâng cao chưa từng có. Năm 1946 Chính phủ Quốc Dân đảng lúc đó đã đưa tàu chiến tuần tra các đảo ở Biển Đông, đồng thời tiếp quản đảo Thái Bình là đảo lớn nhất trong quần đảo Trường Sa. Năm 1947, Vụ Phương vực thuộc Bộ Nội chính của Chính phủ Quốc Dân đảng đã vẽ một “đường đứt đoạn” hình chữ U trên “Bản đồ các đảo Trường Sa”, đồng thời đã công khai phát hành tấm bản đồ này. Tranh chấp chủ quyền các đảo ở Biển Đông lần đầu tiên xuất hiện tại Hội nghị hòa bình kết thúc chiến tranh với Nhật Bản tại San Francisco năm 1951 gồm 51 nước tham gia. Mỹ và Anh tẩy chay các phái đoàn của Chính phủ Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa vừa mới thành lập không lâu và Chính phủ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tới tham gia hội nghị, quay lưng lại với bản dự thảo “Hòa ước với Nhật Bản” do Liên Xô và Trung Quốc khởi thảo. Hòa ước với Nhật Bản được Hội nghị hòa bình kết thúc chiến tranh ở San Francisco thông qua đã bóp méo, xuyên tạc tinh thần của các văn kiện pháp lý quốc tế như “Tuyên ngôn Cairô” tháng 11 năm 1943 và “Thông cáo chung Pốtxđam” tháng 7 năm 1945, đề xuất “Nhật Bản từ bỏ tất cả mọi quyền lợi và đòi hỏi đối với dãy đảo Đài Loan, Bành Hồ, các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa” nhưng không có chữ nào nói đến vấn đề quy thuộc chủ quyền đối với các vùng lãnh thổ nói trên. Trong “Tuyên bố về dự thảo Hòa ước của Mỹ-Anh với Nhật Bản và về Hội nghị San Francisco” do Ngoại trưởng Chu Ân Lai thay mặt Chính phủ nước Trung Quốc mới trình bày ngày 15 tháng 8 năm 1951 chỉ rõ, các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, Trung Sa và Đông Sa “từ xưa đến nay là lãnh thổ của Trung Quốc, trong thời gian Đế quốc Nhật phát động chiến tranh xâm lược tuy một thời bị thất thủ nhưng sau khi Nhật Bản đầu hàng đã được Chính phủ Trung Quốc lúc đó tiếp nhận”. Chủ quyền của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa đối với quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa, “dù dự thảo hòa ước đối với Nhật Bản do Mỹ-Anh soạn thảo có quy định hay không quy định, hoặc quy định như thế nào, cũng đều không bị ảnh hưởng”.
Cần phải chỉ rõ rằng quyền và lợi ích mà Chính phủ Trung Quốc chủ trương và bảo vệ ở Biển Đông là quyền-lợi ích trong phạm vi “đường đứt đoạn”. Những cách nói như “Biển Đông là nội hải của Trung Quốc”, “Biển Đông thuộc về Trung Quốc” v.v. trên thực tế là cách nói rất sai trái, hết sức tai hại. Rơi vào vòng nhầm lẫn này sẽ dẫn đến hiểu lầm và phán đoán nhầm rất nhiều vấn đề, dẫn đến rất nhiều rắc rối và phiền phức. Cần phải nhìn lại lịch sử về đoạn đánh dấu này, đọc kỹ bản tuyên bố đầu tiên của Chính phủ nước Trung Quốc mới về chủ quyền hai quần đảo ở Biển Đông mới có thể hiểu rõ được lý do thực sự và bối cảnh chiến lược quốc tế liên quan đến tranh chấp Biển Đông. Hội nghị hòa bình San Francisco đã gieo mầm họa về “hai nước Trung Quốc” và tranh chấp Biển Đông, đồng thời cũng khơi mào cho việc “quốc tế hóa” tranh chấp các đảo ở Biển Đông sau này. Lịch sử chứng minh rằng kẻ gây ra mầm họa thực sự cho tranh chấp Biển Đông là các nước lớn phương Tây như Mỹ, Anh, Pháp. Xét từ góc độ lịch sử thì thời gian, bối cảnh và tính chất nảy sinh vấn đề Đài Loan và tranh chấp chủ quyền các bãi, đảo ở Biển Đông là dường như giống nhau. Có thể nói, vấn đề này chính là di sản từ giai đoạn khởi đầu của Chiến tranh Lạnh. “Chiến tranh Lạnh” đã kết thúc hơn 20 năm. Thời đại ngày nay đòi hỏi các nước và cộng đồng quốc tế từ bỏ tư duy Chiến tranh Lạnh và đối đầu liên minh, thông qua hợp tác đa phương để giữ gìn an ninh chung, hiệp lực ngăn chặn xung đột và chiến tranh. Chiến tranh và đối đầu sẽ chỉ dẫn đến vòng tuần hoàn ác tính lấy bạo lực thay thế bạo lực, đối thoại và đàm phán là con đường hữu hiệu và đáng tin cậy duy nhất để giải quyết tranh chấp. Phải lấy hợp tác để mưu cầu hòa bình, đảm bảo an ninh, thúc đẩy hài hòa, phản đối tùy tiện sử dụng vũ lực hoặc đe dọa nhau bằng vũ lực. Đó là quan điểm an ninh mà Chính phủ Trung Quốc chủ trương và thực hiện, cũng là nguyên tắc cơ bản để xử lý tranh chấp Biển Đông.
III- Hàng hải và vị trí chiến lược của đường giao thông trên biển ở Biển Đông
Vị trí chiến lược của Eo biển Malắcca thế nào mọi người đều đã biết. Tuyến đường giao thông trên biển ở Biển Đông là phần kéo dài trọng yếu của đường vận tải Eo biển Malắcca, trong đó vị trí chiến lược của tuyến đường vận tải này cũng quan trọng như vậy. Biển Đông và Eo biển Malắcca là một thể gắn liền, không thể tách rời nhau. Tất cả các loại tàu thuyền đi qua Eo biển Malắcca, bao gồm tàu thương mại và tàu quân sự hầu như đều phải đi qua Biển Đông. Vì thế, từ góc nhìn địa chiến lược có tên gọi là “đường giao thông Biển Đông– Eo biển Malắcca” dường như sẽ đúng hơn. Eo biển Malắcca và đường vận tải quốc tế ở Biển Đông có thể ví như “yết hầu - thực quản”. Tuyến đường giao thông Biển Đông– Eo biển Malắcca là tuyến xung yếu chiến lược tiện lợi nhất từ Tây Thái Bình Dương đi vào Nam Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, là một trong các tuyến vận tải biển quan trọng nhộn nhịp nhất thế giới, nối liền giữa Đông Nam Á với Nam Á, giữa châu Đại Dương, Trung Đông, châu Phi và châu Âu. Về địa lý, đường giao thông quốc tế trên biển ở Biển Đôngcó vị trí chiến lược quan trọng. Chiến lược toàn cầu của Mỹ là phải kiểm soát 16 vị trí yết hầu trên biển. Mục tiêu chiến lược và lợi ích to lớn của nước Mỹ là gây ảnh hưởng và kiểm soát các tuyến vận tải trên biển nói trên, đảm bảo ưu thế của Mỹ trong các cuộc cạnh tranh quốc tế và xung đột quốc tế tiềm tàng. Với tư cách là mắt xích trung tâm nối liền hai khu vực chiến lược quan trọng là Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, Eo biển Malắcca được Mỹ xác định là một trong 16 yết hầu trên biển như vậy. Biển Đông– Eo biển Malắcca là hướng đi tất yếu để các nước Đông Á đi đến Ấn Độ Dương và Nam Thái Bình Dương. Trong bối cảnh thời đại kinh tế toàn cầu hóa và kinh tế các nước Đông Á phát triển mạnh như Trung Quốc, vị trí của tuyến đường vận tải biển Biển Đông– Eo biển Malắcca trong vận tải đường biển toàn cầu lại càng nổi bật hơn. Dù là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc hay các nước ASEAN, hoặc là Ôxtrâylia, Ấn Độ, Trung Đông, châu Phi, thậm chí là châu Âu, nước Mỹ đi nữa thì tuyến đường vận tải biển quốc tế này có thể được gọi là “tuyến đường sinh mệnh huyết mạch”.
Nói tóm lại, tuyến đường vận tải biển Biển Đông– Eo biển Malắcca có giá trị chiến lược lớn về kinh tế và quân sự đối với cả Trung Quốc, các nước trong khu vực và nước lớn trên thế giới. Cùng với địa vị kinh tế của Trung Quốc và châu Á trong nền kinh tế toàn cầu không ngừng được nâng lên, mức độ liên quan lẫn nhau giữa Tây Thái Bình Dương – Biển Đông– Eo biển Malắcca, Ấn Độ Dương và Nam Thái Bình Dương sẽ ngày càng chặt chẽ hơn. Xét từ tình hình hiện thực thì tầm quan trọng của Eo biển Malắcca đã vượt qua Kênh đào Xuyê, vai trò quan trọng của tuyến vận tải biển Biển Đôngđã vượt qua Vùng Vịnh Pécxích. Trước khi khai thông tuyến vận tải biển ở Bắc Cực, địa vị chiến lược về kinh tế và quân sự của tuyến đường vận tải biển Biển Đông– Eo biển Malắcca trong tương lai sẽ chỉ tăng lên chứ không giảm đi. Chính vì thế, tình hình Biển Đông hòa bình ổn định, giao thông quốc tế tự do và vận tải biển an toàn khiến cho các nước trong khu vực và các nước lớn trên thế giới hết sức quan tâm. Chính sách Biển Đông và hành động của nước lớn ngoài khu vực đương nhiên cũng khiến các nước khu vực vô cùng quan tâm. Tự do hàng hải ở Biển Đông vốn đã là một trong những chính sách liên quan tới Biển Đông mà Chính phủ Trung Quốc đã tuyên bố từ lâu. Chính phủ Trung Quốc căn cứ theo luật quốc tế trước sau nỗ lực nhằm đảm bảo tự do và an ninh hàng hải ở Biển Đông. Trên diễn đàn quốc tế, có một số người ngang nhiên nhào nặn đề tài về “tự do hàng hải, an ninh hàng hải”, như vậy là có dụng ý xấu. Tại Hội nghị cấp cao Đông Á mới đây, Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã nói: “Kinh tế Đông Á và Đông Nam Á phát triển đã cho thấy tự do và an ninh hàng hải ở Biển Đông không vì tranh chấp Biển Đông mà có bất cứ ảnh hưởng nào. Tự do hàng hải mà các nước được hưởng ở Biển Đông theo luật quốc tế đã được đảm bảo triệt để. Biển Đông là đường vận tải biển quan trọng của Trung Quốc, của các nước khác trong khu vực và các nước trên thế giới. Chính phủ Trung Quốc đã có những đóng góp tích cực để bảo vệ an ninh hàng hải ở Biển Đông”. Đảm bảo tự do hàng hải vừa là lợi ích to lớn của Trung Quốc, cũng vừa là lợi ích to lớn của các nước trong khu vực, nước lớn thế giới và của cộng đồng quốc tế. Nhận thức rõ điểm này không những có thể điều chỉnh lại những hiểu lầm, phán đoán nhầm của các nước hữu quan, loại bỏ cái gọi là “mối lo lắng” trên thế giới, mà còn có thể trở thành sân chơi quan trọng để Trung Quốc và các nước xung quanh Biển Đông, thậm chí là cộng đồng quốc tế bắt tay hợp tác, bảo vệ lợi ích chung, có thể loại bỏ lý do để một số nước ngoài khu vực gây nên chuyện, phá tan mưu đồ của một số thế lực chính trị muốn lấy đó để gieo rắc, ly gián quan hệ giữa Trung Quốc với các nước láng giềng ASEAN.
IV- Biến biển tranh chấp thành biển hợp tác hòa bình, hữu nghị
Hòa bình và phát triển là hai chủ đề lớn của thời đại ngày nay. Hòa bình, phát triển, hợp tác là xu thế không thể ngăn cản trên thế giới. Hiện nay thế giới đa cực hóa, kinh tế toàn cầu hóa đang phát triển theo chiều sâu, cộng đồng quốc tế đang đứng trước ngày càng nhiều vấn đề lịch sử mới. Cùng vận dụng tốt cơ hội phát triển, cùng đối phó với các loại rủi ro đã trở thành nguyện vọng của nhân dân các nước. Dân tộc Trung Hoa yêu chuộng hòa bình. Nhân dân Trung Quốc trải qua giai đoạn đau buồn do chiến loạn và bần cùng từ sau thời kỳ cận đại đã cảm nhận được sâu sắc giá trị quý báu của hòa bình và mong muốn cháy bỏng phát triển. Nhân dân Trung Quốc tin tưởng sâu sắc rằng chỉ có hòa bình mới thực hiện được ước nguyện an cư lạc nghiệp của nhân dân, chỉ có phát triển mới thực hiện được mục tiêu người dân được ăn no mặc ấm. Tạo môi trường quốc tế hòa bình ổn định để phát triển đất nước, đó là nhiệm vụ trung tâm trong công tác đối ngoại của Trung Quốc. Đồng thời Trung Quốc tích cực đóng góp xứng đáng cho hòa bình và phát triển của thế giới, tuyệt đối không bành trướng chiến lược, không bao giờ tranh bá, không xưng bá, Trung Quốc trước sau vẫn là lực lượng kiên định bảo vệ hòa bình, ổn định thế giới và khu vực. Bảo vệ hòa bình thế giới, thúc đẩy cùng nhau phát triển, đó là tôn chỉ trong chính sách ngoại giao của Trung Quốc. Trung Quốc đề xướng và ra sức cùng với các nước trên thế giới đẩy mạnh xây dựng thế giới hài hòa trong môi trường hòa bình lâu dài, cùng phồn vinh. Đó vừa là mục tiêu lâu dài, cũng vừa là nhiệm vụ thực tế. Trung Quốc đề xướng quan điểm an ninh mới tin cậy lẫn nhau, hợp tác, bình đẳng, cùng có lợi, tìm kiếm biện pháp thực hiện an ninh tổng hợp, an ninh chung, an ninh hợp tác. Trung Quốc kiên trì sử dụng phương thức hòa bình chứ không phải chiến tranh để giải quyết tranh chấp quốc tế, cùng bảo vệ thế giới hòa bình ổn định; Chủ trương thông qua hiệp thương đối thoại để tăng cường lòng tin, giảm thiểu bất đồng, loại bỏ tranh chấp, tránh sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực lẫn nhau.
Trung Quốc tích cực mở rộng hợp tác láng giềng hữu nghị với các nước xung quanh, cùng đẩy mạnh xây dựng châu Á hài hòa. Trung Quốc chủ trương các nước trong khu vực tôn trọng lẫn nhau, tăng cường sự tin cậy lẫn nhau, tìm kiếm điểm đồng gác lại bất đồng, thông qua đàm phán đối thoại và hiệp thương hữu nghị để giải quyết các mâu thuẫn và các vấn đề, bao gồm tranh chấp lãnh thổ và lợi ích biển, cùng bảo vệ khu vực hòa bình ổn định. Trung Quốc phát triển phồn vinh và thịnh trị lâu bền là cơ hội chứ không phải là mối đe dọa đối với các nước láng giềng xung quanh. Trung Quốc luôn tuân thủ “tinh thần châu Á” về tự lực tự cường, mở hướng tiến thủ, cởi mở, bao dung, đồng tâm hiệp lực, mãi là láng giềng tốt, người bạn tốt và đối tác tốt của các nước châu Á khác. Có thể nói một cách mạnh dạn thẳng thắn rằng giữa Trung Quốc và nước láng giềng xung quanh vẫn có tồn tại vấn đề do lịch sử để lại về phân định biên giới, chủ quyền các đảo và lợi ích biển. Vấn đề biên giới của Trung Quốc với tuyệt đại đa số các nước láng giềng trên bộ đã được giải quyết. Tranh chấp trên biển vẫn còn đợi thông qua đàm phán đối thoại và hiệp thương hữu nghị để tìm ra biện pháp giải quyết mà hai bên đều có thể chấp nhận được. Tranh chấp chủ quyền các đảo và lợi ích biển không chỉ tồn tại giữa Trung Quốc và các nước xung quanh Biển Đông, mà cả giữa các quốc gia liên quan khác. Vấn đề phân định biên giới Vịnh Bắc Bộ liên quan đến hai nước Trung Quốc – Việt Nam đã được giải quyết ổn thỏa. Vấn đề phân định biên giới ở Vịnh Thái Lan liên quan đến bốn nước là Malaixia, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam, đã được giải quyết về cơ bản nhưng chưa hoàn toàn. Ở phần phía Nam Biển Đông thậm chí là Eo biển Malắcca, giữa các nước hữu quan đều tồn tại nhiều tranh chấp nhưng chưa được giải quyết hoàn toàn mỹ mãn. Trên thế giới ngày nay tồn tại rất nhiều tranh chấp chủ quyền các đảo và tranh chấp quyền lợi biển, theo con số thống kê tổng cộng có đến hàng trăm vụ. Ngoài Biển Đông, loại tranh chấp này cũng tương đối rõ ở khu vực Đông Bắc Á. Giữa Nhật Bản và Nga, giữa Hàn Quốc và Trung Quốc đều có tranh chấp như vậy. Giữa Hàn Quốc và Nhật Bản, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên cũng có. Lập trường và chủ trương cơ bản của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông là nhất quán, rõ ràng, luôn cố gắng giữ gìn hòa bình ổn định, thông qua đàm phán đối thoại và hiệp thương hữu nghị, giải quyết thỏa đáng tranh chấp và vướng mắc. Mọi người hy vọng các bên đều xuất phát từ đại cục bảo vệ hòa bình ổn định khu vực, làm nhiều việc hơn để tăng thêm sự tin cậy lẫn nhau, thúc đẩy hợp tác, cố gắng làm cho Biển Đôn gtrở thành biển của hòa bình, hữu nghị, hợp tác.
V- Làm sâu sắc hơn lòng tin chính trị, phát triển hợp tác toàn diện
Trung Quốc kiên trì thực hiện chính sách láng giềng hữu nghị, làm sâu sắc hơn lòng tin chính trị, giải quyết ổn thỏa bất đồng và mâu thuẫn từ tầm cao chiến lược và toàn cục, ra sức phát triển hợp tác toàn diện với các nước xung quanh, mưu cầu cùng thắng lợi, cùng có lợi và cùng phồn vinh. Giữa Trung Quốc với các nước ASEAN núi liền núi, sông liền sông, Trung Quốc trước sau luôn coi các nước ASEAN là anh em tốt, láng giềng tốt, bạn bè tốt và đối tác tốt có thể tin cậy được, thành tâm thành ý phát triển quan hệ láng giềng hữu nghị. Trung Quốc và các nước ASEAN nối vòng tay đồng hành, trải qua khó khăn, cùng chung hoạn nạn, hiểu biết lẫn nhau, ủng hộ giúp đỡ lẫn nhau, đã lần lượt vượt qua từng thách thức, thu được nhiều thành quả huy hoàng. Trong 20 năm qua, quan hệ Trung Quốc – ASEAN đã có được bước phát triển toàn diện chưa từng có. Năm 1991 Trung Quốc đã cùng với ASEAN thiết lập quan hệ đối thoại, thể hiện hai bên đi theo xu hướng thời đại, tìm kiếm tầm nhìn xa chiến lược và dũng khí hợp tác khu vực, đã mở đầu tiến trình lịch sử về quan hệ giữa Trung Quốc và ASEAN, có ý nghĩa như một dấu mốc. Trung Quốc là nước lớn ngoài khu vực đầu tiên tham gia “Hiệp ước thân thiện và hợp tác ASEAN”, thiết lập quan hệ đối tác chiến lược hướng tới hòa bình và phồn vinh với ASEAN. Trung Quốc kiên trì ủng hộ ASEAN phát huy vai trò chủ đạo trong hợp tác Đông Á, ủng hộ “Hiệp ước về khu vực Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân”. Trung Quốc và ASEAN đã cùng thành lập Khu thương mại tự do lớn nhất giữa các nước đang phát triển. Trung Quốc và ASEAN nghiêm túc tuân thủ nguyên tắc tôn trọng lẫn nhau, không can thiệp công việc nội bộ của nhau, không ngừng tăng cường lòng tin chính trị lẫn nhau. Các nước ASEAN thi hành chính sách một nước Trung Quốc, ủng hộ Trung Quốc thống nhất hòa bình, quan tâm đến những mối lo ngại của Trung Quốc trong những vấn đề lớn có tính nguyên tắc liên quan đến chủ quyền của Trung Quốc. Trung Quốc tôn trọng con đường phát triển và quan niệm giá trị mà các nước ASEAN lựa chọn một cách tự chủ, ủng hộ ASEAN xử lý tranh chấp theo phương thức của mình, phản đối thế lực bên ngoài can thiệp công việc nội bộ của ASEAN.
Trong hợp tác, Trung Quốc và ASEAN đề xướng cùng hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau, học hỏi lẫn nhau cùng có lợi, thúc đẩy cùng phát triển. Năm 2011 kim ngạch thương mại hai chiều Trung Quốc – ASEAN đã vượt 350 tỉ USD, gấp hơn 40 lần so với năm 1991. Trung Quốc trở thành đối tác thương mại lớn nhất của ASEAN, ASEAN trở thành đối tác thương mại lớn thứ ba của Trung Quốc. Trung Quốc đã thành tâm viện trợ và giúp đỡ các nước thành viên ASEAN phát triển kinh tế và cải thiện dân sinh. Các nước thành viên ASEAN cũng tích cực ủng hộ Trung Quốc. Hai bên đã trao đổi kinh nghiệm, lấy mạnh bổ trợ yếu trong phương diện lãnh đạo và quản lý đất nước. Đứng trước khó khăn Trung Quốc và ASEAN cùng chung vai sát cánh, nỗ lực biến thách thức thành cơ hội. Hai bên đã cùng kiểm soát cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 ở châu Á, thúc đẩy thành lập cơ chế hợp tác ASEAN-Trung Quốc-Nhật Bản-Hàn Quốc; Cùng đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính quốc tế hiếm gặp, thành lập Khu thương mại tự do Trung Quốc-ASEAN đúng kỳ hạn một cách toàn diện; Trong đối phó với các vụ thiên tai, dịch bệnh lớn, hai bên giúp đỡ lẫn nhau, tìm kiếm thành lập cơ chế cảnh báo, phòng ngừa, kiểm soát và cứu trợ một cách hữu hiệu. Trung Quốc và ASEAN cố gắng chung sống hòa bình, láng giềng hữu nghị, tích cực xây dựng môi trường khu vực an ninh, hài hòa; Thông qua đối thoại và hiệp thương giải quyết tranh chấp và xử lý vấn đề do lịch sử để lại; Ra sức xây dựng khu vực Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân; Coi trọng tình hữu nghị truyền thống, truyền bá ý tưởng hữu nghị từ đời này sang đời khác. Quan hệ Trung Quốc – ASEAN là thực tế nhất, rộng rãi nhất và có nhiều thành quả nhất. Trung Quốc và các nước Đông Nam Á đều là nước đang phát triển, luôn xác định phát triển kinh tế, cải thiện dân sinh là nhiệm vụ bức thiết nhất và quan trọng nhất, đặt khả năng có đem lại lợi ích thực chất cho nhân dân bản quốc và khu vực bản địa được hay không lên vị trí hàng đầu. Trung Quốc và các nước Đông Nam Á gần gũi nhau về địa lý, văn hóa, lịch sử, liên hệ và giao lưu mật thiết trên các phương diện, có điều kiện thuận lợi trời phú để mở rộng hợp trong rất nhiều lĩnh vực. Ngày nay Trung Quốc và ASEAN là đối tác chiến lược ra sức cố gắng cho hòa bình và phồn vinh, mở rộng giao lưu hợp tác rộng rãi trong các lĩnh vực và ở mức độ cao chưa từng có từ trước đến nay, trở thành cộng đồng có vận mệnh chung, vui buồn vinh nhục có nhau, cùng có được thành tựu huy hoàng, có những đóng góp nổi bật trong sự nghiệp cao cả là đem lại hạnh phúc nhiều hơn cho nhân dân khu vực, thúc đẩy hòa bình và phát triển, tạo ra ảnh hưởng tích cực sâu xa cho sự tiến bộ ở châu Á và cả thế giới.
VI- Giải quyết ổn thỏa bất đồng, thúc đẩy cùng nhau phát triển
Tìm kiếm điểm đồng lớn, gác lại bất đồng nhỏ, xử lý ổn thỏa bất đồng lớn, hợp tác loại bỏ tranh chấp, là một chủ trương quan trọng của Trung Quốc. Lợi ích chung giữa Trung Quốc và ASEAN lớn hơn bất đồng rất nhiều. Phương hướng và mục tiêu đúng đắn cần phải là: Không ngừng làm to thêm chiếc bánh gatô về lợi ích chung, để cho bất đồng ngày càng thu hẹp. Ngay từ những năm 80 của thế kỷ 20, Tổng công trình sư cải cách mở cửa của Trung Quốc Đặng Tiểu Bình đã nói: “ ‘Một quốc gia, hai chế độ’ và biện pháp cùng khai thác giải quyết tranh chấp, đều là phương thức vì hòa bình chứ không dùng chiến tranh, đều gọi là chung sống hòa bình”. “Hiện nay rất nhiều bản đồ trên thế giới đều có thể chứng minh quần đảo Trường Sa là thuộc về Trung Quốc. Chúng ta thiên về vấn đề này, gác lại tranh chấp trước, không giải quyết vội. Làm như vậy là không để cho vấn đề này gây trở ngại cho quan hệ hữu nghị giữa Trung Quốc với nước hữu quan phát triển tốt đẹp. Sau một số năm chúng ta ngồi lại, bình tĩnh thảo luận, thương lượng một phương thức mà các bên đều chấp nhận được. Liệu có thể xem xét áp dụng biện pháp cùng phát triển đối với những tranh chấp hữu quan? Mục tiêu của chúng ta là cùng phát triển, chúng ta có đầy đủ điều kiện để trở thành bạn thật tốt”. “Trong vấn đề về quần đảo Trường Sa, hoàn toàn không phải không tìm được một biện pháp giải quyết thiết thực khả thi, nhưng vấn đề này cuối cùng là một vấn đề phiền phức, cần thông qua hiệp thương để tìm ra được biện pháp có lợi cho hòa bình và hợp tác hữu nghị”. Dưới sự chỉ dẫn của phương châm nói trên, quan hệ giữa Trung Quốc với các nước ASEAN đã trải qua đủ mọi khảo nghiệm khó khăn trắc trở. Hợp tác giữa Trung Quốc và ASEAN đã đem lại hạnh phúc cho nhân dân ở cả hai phía. Tháng 11 năm 2011, tại Hội nghị các nhà lãnh đạo ASEAN-Trung Quốc lần thứ 14, Thủ tướng Ôn Gia Bảo tuyên bố: “Trung Quốc không bao giờ mưu cầu bá quyền, phản đối bất cứ hành vi bá quyền nào, sẽ luôn thi hành chính sách ngoại giao ‘thân thiện với láng giềng, làm bạn với láng giềng’, tuân thủ nghiêm khắc ‘Hiệp ước thân thiện và hợp tác Đông Nam Á’. Tranh chấp tồn tại ở Biển Đông giữa các nước hữu quan trong khu vực là vấn đề tích tụ từ nhiều năm nay, cần phải do nước có chủ quyền liên quan trực tiếp giải quyết thông qua hiệp thương hữu nghị và đàm phán. Thế lực bên ngoài không nên mượn bất cứ lý do nào để can thiệp. Năm 2002 Trung Quốc và các nước ASEAN đã ký bản ‘Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông’, xác định sẽ đẩy mạnh hợp tác thiết thực, cố gắng để cuối cùng đạt được ‘Bộ quy tắc về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông’. Đó là ý nguyện chung của các nước Đông Nam Á và Trung Quốc. Phía Trung Quốc nguyện sẵn sàng cùng với các nước ASEAN tích cực thúc đẩy toàn diện việc thực hiện ‘Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông’, tăng cường hợp tác thực chất, đi vào thảo luận việc hoạch định ‘Bộ quy tắc về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông’”.
Ôn Gia Bảo còn tuyên bố, để mở rộng hợp tác thực tế trên biển, Trung Quốc sẽ thành lập Quỹ hợp tác trên biển Trung Quốc – ASEAN với số tiền 3 tỉ nhân dân tệ, bắt đầu từ các lĩnh vực nghiên cứu khoa học biển và bảo vệ môi trường biển, thông tin liên lạc, an ninh và cứu hộ hàng hải, chống tội phạm xuyên quốc gia, từng bước mở rộng hợp tác sang các lĩnh vực khác, tạo nên cục diện hợp tác trên biển đa tầng nấc, toàn diện giữa Trung Quốc và ASEAN. Trung Quốc đề nghị hai bên thành lập cơ chế tương ứng để nghiên cứu về vấn đề này và soạn thảo Quy hoạch hợp tác cụ thể. Trung Quốc - Việt Nam là hai nước láng giềng hữu nghị núi sông liền một dải, nhưng lại là hai bên tranh chấp chủ yếu ở Biển Đông. Tháng 10 năm 2011 Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng dẫn đầu đoàn đại biểu cấp cao sang thăm chính thức Trung Quốc, hội đàm và hội kiến với Tổng Bí thư Đảng Cộng sản, Chủ tịch nước Trung Quốc Hồ Cẩm Đào. Hai bên đã ký một loạt văn kiện hợp tác quan trọng và ra “Thông cáo chung”. Nhà lãnh đạo Trung Quốc nhấn mạnh: Quan hệ hai đảng, hai nước Trung – Việt phát triển lành mạnh ổn định, phù hợp với lợi ích căn bản của nhân dân hai nước, có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy xây dựng hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa thuận lợi ở hai nước, cũng quan trọng đối với hòa bình và phát triển ở châu Á và cả thế giới. Đảng và Chính phủ Trung Quốc luôn xuất phát từ tầm cao chiến lược và tầm nhìn lâu dài để nhìn nhận quan hệ Trung – Việt, nguyện cùng với Việt Nam bảo vệ tốt và phát triển tốt quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Trung – Việt theo Phương châm 16 chữ và Tinh thần 4 tốt. Nhà lãnh đạo Việt Nam nhấn mạnh: Đảng và Chính phủ Việt Nam hết sức coi trọng việc phát triển quan hệ với Trung Quốc, đặt quan hệ Việt-Trung ở vị trí ưu tiên trong quan hệ đối ngoại của Việt Nam . Việt Nam kiên trì theo Phương châm 16 chữ và Tinh thần 4 tốt làm cho các chuyến thăm cấp cao lẫn nhau mật thiết hơn, tăng cường lòng tin chính trị, đưa hợp tác cùng có lợi trong các lĩnh vực đi vào chiều sâu, làm phong phú thêm hình thức giao lưu nhân văn, tăng cường phối hợp trong các vấn đề quốc tế và khu vực, nâng quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt – Trung lên một tầm cao mới. Từ khi bình thường hóa quan hệ 20 năm qua, hai nước đã lần lượt giải quyết thành công hai vấn đề khó khăn do lịch sử để lại là phân định biên giới trên bộ và phân định biên giới Vịnh Bắc Bộ theo tinh thần dễ trước khó sau, thông cảm nhân nhượng lẫn nhau. Đặc biệt là việc phân định biên giới Vịnh Bắc Bộ đã mở ra hướng đi mới cho Trung Quốc giải quyết những vấn đề tương tự trên biển với các nước xung quanh. Những năm gần đây, bởi những nguyên nhân phức tạp, cũng do thế lực bên ngoài xen vào và do thế lực thù địch gây chia rẽ, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ và lợi ích biển ở Biển Đông bị khuấy nóng lên. Một trong những thủ đoạn triển khai “ngoại giao thông minh” của một số thế lực bên ngoài là tô vẽ cái gọi là “tình hình căng thẳng ở Biển Đông” Hợp tác hữu nghị là mạch chính trong quan hệ Trung – Việt, không nên để bất đồng và tranh chấp ảnh hưởng đến đại cục phát triển quan hệ.
Làm thế nào để xử lý và giải quyết ổn thỏa vấn đề trên biển giữa Trung Quốc và Việt Nam , đó quả thực là vấn đề được nhân dân hai nước hết sức quan tâm. Điều đáng phấn khởi là trong hội đàm cấp cao Trung – Việt, nhà lãnh đạo hai bên đã trao đổi ý kiến thẳng thắn và chân thành, và đã đạt được nhận thức chung. Một trong 6 văn kiện mà hai bên ký kết là “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Trung Quốc và Việt Nam ”. Nhà lãnh đạo hai nước đánh giá tích cực bản thỏa thuận này, cho rằng thỏa thuận có ý nghĩa chỉ đạo quan trọng để xử lý và giải quyết ổn thỏa vấn đề trên biển. Căn cứ những điểm nhận thức chung đạt được thì trên cơ sở thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ Trung – Việt năm 1993, hai bên đã đạt được 6 nguyên tắc cơ bản phải tuân thủ để giải quyết vấn đề trên biển, đặt cơ sở cho việc giải quyết thỏa đáng vấn đề này. Điều 4 trong Thỏa thuận nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề trên biển Trung – Việt quy đinh: “Trong tiến trình tìm kiếm biện pháp cơ bản và lâu dài giải quyết vấn đề trên biển, trên cơ sở tinh thần tôn trọng lẫn nhau, đối xử với nhau bình đẳng, cùng thắng lợi và cùng có lợi, theo nguyên tắc được đề cập trong điều 2 của Thỏa thuận này sẽ tích cực thảo luận, tìm kiếm biện pháp giải quyết mang tính chất quá độ, tạm thời, không ảnh hưởng đến lập trường và chủ trương của hai bên, trong đó bao gồm tích cực nghiên cứu và thương lượng, đàm phán vấn đề khai thác chung”. Điều 5 quy định: “Giải quyết vấn đề trên biển dựa theo tinh thần tiệm tiến tuần tự, dễ trước khó sau. Thúc đẩy đàm phán phân định biên giới vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc bộ một cách chắc chắn, đồng thời tích cực thương lượng đàm phán vấn đề khai thác chung ở vùng biển nói trên. Tích cực thúc đẩy hợp tác trên biển trong các lĩnh vực ít nhạy cảm, bao gồm bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học biển, cứu hộ trên biển, phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai. Nỗ lực tăng cường lòng tin lẫn nhau, tạo điều kiện giải quyết những vấn đề khó khăn hơn”. Một loạt nhận thức chung đạt được giữa nhà lãnh đạo hai đảng hai nước phù hợp với lòng dân ở hai nước, thuận theo xu hướng của thời đại, đã chỉ rõ phương hướng đúng đắn để mở rộng tương lai quan hệ Trung – Việt tốt đẹp hơn. Giữa Trung Quốc và Việt Nam cùng các nước ASEAN khác tồn tại vấn đề trong đó có tranh chấp chủ quyền các đảo và lợi ích biển, khi giải quyết đòi hỏi phải có sự nhẫn nại, thời gian và trí tuệ. Trước khi giải quyết vấn đề, bằng mọi cách không làm cho vấn đề phức tạp thêm, không để mâu thuẫn leo thang, ảnh hưởng đến cục diện lớn của hợp tác song phương. Cho dù thế hệ chúng ta hiện nay chưa giải quyết được về căn bản thì thế hệ con cháu sau này cũng nhất định có trí tuệ và khả năng để tìm ra biện pháp giải quyết thỏa đáng. Ý nguyện Biển Đông trở thành biển hòa bình, hữu nghị và hợp tác sẽ có ngày trở thành hiện thực. Quan hệ hợp tác hữu nghị giữa Trung Quốc và các nước Đông Nam Á sẽ tiến cùng thời đại, không ngừng được nâng lên trình độ mới cao hơn./.
Lăng Đức Quyền, nguyên Trưởng phân xã Tân Hoa xã tại Hà Nội, hiện là nghiên cứu viên thuộc Trung tâm nghiên cứu vấn đề quốc tế của Tân Hoa xã