21 - 10 - 2020 | 12:30
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home
Tag:an ninh

Ở phần này bài viết sẽ đi vào phân tích đánh giá những tác nhân đằng sau những thay đổi trong các tiếp cận của Trung Quốc đối với Biển Đông kể từ năm 2007 đến nay. Bài viết đánh giá việc Trung Quốc duy trì chính sách mập mờ về “lợi ích cốt lõi” của mình đối với Biển Đông là để nhằm tránh việc đa phương hóa vấn đề tranh chấp Biển Đông nhằm hạn chế sự can thiệp của quốc tế đặc biệt là Mỹ, và hơn nữa là nhằm tạo điều kiện có lợi cho mình trong việc sử dụng “sức mạnh mềm” trong giải quyết tranh chấp với các nước trong khu vực này.

 

(Phần 1)

Dễ nhìn thấy rằng tuyên bố và hành động của Trung Quốc đối với Biển Đông trong thời gian từ năm 2007 trở lại đây có yếu tố tiếp biến chính sách giai đoạn trước. Sự tiếp biến thể hiện dưới hình thức sử dụng tuyên bố của người phát ngôn Bộ Ngoại giao khẳng định chủ quyền của Trung Quốc trong phạm vi đường lưỡi bò, triển khai các hoạt động thăm dò, chủ trương giải quyết tranh chấp thông qua đàm phán song phương, phản đối quốc tế hóa, trong khi đó chủ động khai thác dầu khí ở Biển Đông, nhưng lại phản đối hành động thăm dò và khai thác của các quốc gia khác trong phạm vi đường đứt khúc chín đoạn, đơn phương áp đặt lệnh cấm bắt cá, ngăn cản và bắt giữ tàu thuyền và ngư dân của các quốc gia khác hoạt động tại vùng biển, tiến hành các hoạt động nhằm củng cố các công trình dân sự và quân sự của Trung Quốc tại các đảo đã chiếm đóng… Các quan chức và học giả Trung Quốc tiếp tục cổ súy, vận động các quốc gia tranh chấp khác ủng hộ chủ trương “gác tranh chấp, cùng khai thác” ở những vùng biển nằm trong phạm vi thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của các bên tranh chấp khác.

Theo Joshua Kurlantzick, trong những năm đầu của thập kỷ vừa qua, Trung Quốc đã ít đả động đến yêu sách về chủ quyền ở Biển Đông, trong khi đẩy mạnh thực hiện cuộc tấn công quyến rũ bằng “sức mạnh mềm”, phát triển mối quan hệ kinh tế, ngoại giao và kể cả an ninh gần gũi với các quốc gia Đông Nam Á. Thế nhưng gần đây, cách tiếp cận “mềm mỏng” đó dường như đã bị bỏ qua.[1] Bên cạnh việc vừa tiếp tục các tranh cãi về chủ quyền, vừa chủ động đàm phán song phương, Bắc Kinh đồng thời đẩy mạnh xây dựng lực lượng hải quân tác chiến, tranh thủ mọi cơ hội biểu dương sức mạnh, phớt lờ việc thực hiện DOC và đẩy mạnh triển khai các biện pháp nhằm kiểm soát thực tế trên các vùng biển mà Trung Quốc yếu sách chủ quyền theo hướng chính thức, khẳng định và thách thức hơn. Hành động của Trung Quốc mang tính chủ động, tự tin hơn, một mặt khoanh vùng và phát huy ảnh hưởng ở Biển Đông, ngăn chặn ảnh hưởng, sự can dự của các nước lớn khác, mặt khác sử dụng “nắm đấm thép bọc nhung” để hăm dọa các bên khác trong tranh chấp. Trung Quốc đã cho cải hoán các tàu quân sự thành tàu tuần tra dân sự, điều một số tàu này đến hoạt động ở Biển Đông.[2] Việc Trung Quốc tăng cường hiện diện trên Biển Đông đồng nghĩa với việc các ngư dân và tàu khảo sát của các nước khác trong khu vực hoạt động ở Biển Đông sẽ đụng độ nhiều hơn với các tàu Trung Quốc lớn hơn và được trang bị tốt hơn, trong đó có tàu Ngư Chính 311 (Yuzheng 311).[3] Thực tế cho thấy, các tàu tuần ngư khổng lồ của Trung Quốc không ngại đụng độ trên biển. Bên cạnh đó, các hoạt động mạnh mẽ và quy mô chưa từng thấy của các lực lượng Hải quân Trung Quốc tại Biển Đông cho thấy Hải quân Trung Quốc luôn sẵn sàng chiến đấu, khiến các quốc gia khác không khỏi e dè.[4]

Điều đáng chú ý là từ năm 2007 đến nay, các bên tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông khác cũng tiếp tục có các động thái củng cố cơ sở hạ tầng, tuyên truyền về yêu sách chủ quyền, đẩy mạnh tuần tra, trinh sát trên biển... Có thể kể đến việc Đài Loan đã hoàn thành công trình đường băng trên đảo Ba Bình, cựu lãnh đạo Đài Loan Trần Thủy Biển ra thăm đảo và nêu “Đề xướng Nam Sa”. Trong năm 2008, Phi-lip-pin từng bước hoàn tất các thủ tục nội bộ để thông qua Dự luật về đường cơ sở mới, và ngày 10/3/2009, Tổng thống nước này ký ban hành Luật đường cơ sở mới của Phi-lip-pin (RA9522) trong đó quy thuộc các đảo thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam vào lãnh thổ Phi-lip-pin. Ma-lai-xi-a khẳng định yêu sách chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa bằng chuyến thăm của Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Quốc phòng (ngày 12/8/2008) và của Thủ tướng nước này (ngày 05/03/2009) đến đảo đá Hoa Lau.

Thực trạng đó đặt ra câu hỏi: Thái độ cứng rắn, hành động tự tin và quyết liệt của Trung Quốc tại Biển Đông từ năm 2007 đến nay là kết quả của (i) việc điều chỉnh chủ động trong chiến lược biển và chính sách của Trung Quốc với tranh chấp tại Biển Đông hay không, hay đó chỉ là (ii) những phản ứng của Trung Quốc đối với động thái của các quốc gia khác trong tranh chấp, hay là (iii) “động thái ném đá dò đường”, phép thử đối với phản ứng của các quốc gia khác, hay chỉ là (iv) hành động vượt quá thẩm quyền, có tính nhất thời của các lực lượng hải quân hoặc tuần duyên của Trung Quốc? Đáng chú ý, trong các cuộc trao đổi gần đây với học giả Việt Nam, học giả Trung Quốc khẳng định chính sách của Trung Quốc đối với các nước láng giềng nói chung và với các tranh chấp ở Biển Đông không hề thay đổi, rằng có sự hiểu nhầm do báo chí phương Tây.

Diễn biến ủng hộ cho lập luận thứ hai là việc Trung Quốc công khai “đường lưỡi bò” để phản đối báo cáo về ranh giới ngoài của thềm lục địa của Việt Nam và Ma-lai-xi-a (2009). Tuy nhiên, khó có thể tìm thấy mối liên hệ nhân quả giữa các hành động khác của các quốc gia khác và sự hung hăng bất thường của Trung Quốc từ cuối năm 2007 đến nay. Khả năng thứ tư vẫn còn để ngỏ bởi Trung Quốc chưa bao giờ công khai quy trình hoạch định chính sách và chính trị nội bộ của họ. Trong phát biểu của mình tại Hội thảo quốc tế lần thứ hai về Biển Đông, học giả Leszek Buszynski bày tỏ lo ngại về sự không minh bạch trong quá trình ra quyết sách trong chính trị nội bộ của Trung Quốc, thế áp đảo của phe quân sự trong nền chính trị ở Bắc Kinh, và ảnh hưởng của chủ nghĩa dân tộc cực đoan.[5] Khả năng thứ ba có thể được loại bỏ vì hành động của Trung Quốc có vẻ ngày càng mạnh mẽ và quyết liệt hơn bất chấp sự phản đối, nghi ngại của cộng đồng quốc tế và các nước trong khu vực.

Xem xét kỹ những hoạt động của Trung Quốc ở Biển Đông từ năm 2007 đến nay cho thấy khả năng thứ nhất (i) hợp lý hơn cả. Lý do đơn giản là các biện pháp mà Trung Quốc triển khai có cường độ mạnh và thái độ quyết liệt “bất bình thường”, có sự phối hợp đồng bộ chặt chẽ của nhiều ngành, nhiều lực lượng, và được đưa tin, phổ biến rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng. Nhiều dấu hiệu cho thấy với sức mạnh kinh tế và quân sự tăng lên nhanh chóng, Trung Quốc đang phấn đấu vươn lên trở thành một cường quốc toàn cầu, trong đó coi Biển Đông vừa là mắt xích quan trọng trong tuyến phòng thủ hải quân chiến lược và nằm trong phạm vi ảnh hưởng sống còn của Trung Quốc, vừa là cửa ngõ chiến lược để đi ra thế giới. Thêm nữa, sự mạnh bạo của Trung Quốc ở Biển Đông diễn ra đồng thời với thái độ và hành động hung hăng của Trung Quốc ở Biển Hoa Đông, mở rộng hoạt động của hải quân Trung Quốc ở biển E-den…

Bằng chứng rõ rệt nhất là giới tinh hoa chính trị của Trung Quốc “đánh tiếng” nâng cấp Biển Đông trở thành khu vực “lợi ích cốt lõi”[6] (hạch tâm quyền lợi) của Trung Quốc.[7] Theo tin tức báo chí quốc tế, Trung Quốc lần đầu tiên coi vấn đề Biển Đông thuộc “lợi ích cốt lõi” trong chuyến thăm Trung Quốc của Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ Steinberge vào tháng 3/2010. Tuy từ đó đến nay, chưa thấy lãnh đạo Trung Quốc có phát biểu công khai nói Biển Đông là “lợi ích cốt lõi” và học giả Trung Quốc tham dự Hội thảo Quốc tế về Biển Đông lần hai cũng khẳng định điều này,[8] nhưng khi báo chí trong và ngoài Trung Quốc rầm rộ đưa tin,[9] các kênh nhà nước của Trung Quốc cũng không có phản đối hay đính chính chính thức. Liệu điều đó có hàm ý rằng giới lãnh đạo và tinh hoa chính trị của Trung Quốc ngầm ủng hộ một quan niệm như vậy?  

Ngụ ý của việc quan chức Trung Quốc mập mờ phổ biến khái niệm lợi ích quốc gia cốt lõi đối với Biển Đông là Bắc Kinh sẽ không cho phép thảo luận hay đặt vấn đề đối với những chính sách của họ và có lẽ sẽ đẩy lùi sự hiện diện của quân đội của các cường quốc khác ở ngoài khơi mạnh hơn bao giờ hết. Trong những năm gần đây, Bắc Kinh cũng đã cảnh báo những công ty dầu lửa của Hoa Kỳ không được tham gia các thỏa thuận thăm dò hỗn hợp ở Biển Đông với Việt Nam. Và cũng có tin là họ đã nói với các quốc gia Đông Nam Á không thảo luận những vấn đề liên quan đến biển Đông với nhau.[10]

Việc Trung Quốc có ý duy trì khái niệm mơ hồ về lợi ích cốt lõi có thể khiến các nước trong tranh chấp lo sợ rằng: (i) có phải Bắc Kinh vừa tạo không gian để áp dụng tiêu chuẩn kép, một mặt đòi các cường quốc khác tuân thủ cái gốc là vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý, mặt khác lại duy trì đòi hỏi phi lý về đường lưỡi bò đối với các nước trong tranh chấp trực tiếp?; (ii) liệu có phải Bắc Kinh tạo tâm lý răn đe dùng vũ lực, ép các nước liên quan chấp nhận giải pháp “gác tranh chấp, cùng khai thác” có lợi cho Trung Quốc.

Không thể phủ nhận Trung Quốc có những lợi ích hữu hình quan trọng ở Biển Đông như: (i) đường biển quan trọng vận chuyển hàng hóa phục vụ phát triển kinh tế: số lượng dầu nhập khẩu chiếm 50% nhu cầu trong nước, trong đó 70% số dầu nhập khẩu này phải vận chuyển qua Biển Đông; (ii) các nguồn tài nguyên biển, trong đó quan trọng nhất là dầu khí và hải sản để phục vụ cho phát triển kinh tế. Tuy nhiên, thái độ và hành động của Trung Quốc ở Biển Đông từ năm 2007 đến nay cho thấy giới chính trị - quân sự Bắc Kinh nhìn nhận Biển Đông chủ yếu ở góc độ địa chính trị và địa chiến lược. Theo đó, Biển Đông là không gian lợi ích sống còn, là cửa ngõ để tiến xuống khu vực Đông Nam Á, và vươn xa hơn trở thành cường quốc đại dương. Một loạt hành động như trên trong thời gian gần đây có thể được hiểu là nỗ lực của Bắc Kinh nhằm đặt toàn bộ Biển Ðông dưới quyền kiểm soát của Trung Quốc, không chỉ để bảo vệ quyền lợi về dầu lửa và tài nguyên biển của họ, mà còn vì lý do chiến lược và quân sự, chẳng hạn như để ngăn chặn bất kỳ hành động can thiệp nào của lực lượng Mỹ trong trường hợp khẩn cấp liên quan đến Đài Loan.[11]

Mong muốn kiểm soát Biển Đông, biến khu vực này trở thành “ao nhà” ngày càng trở nên rõ ràng qua nhiều tuyên bố, biện pháp và hành động mạnh bạo có tính áp đặt và mạnh bạo nhằm khẳng định chủ quyền pháp lý cùng khả năng kiểm soát biển trên thực tế. Tuy nhiên, Biển Đông còn có ý nghĩa là khu vực ảnh hưởng sống còn, và là cửa ngõ chiến lược đầu tiên để Trung Quốc đi ra thế giới. Việc các lực lượng quân sự của Trung Quốc mạnh dạn chặn các tàu của Mỹ, thử phản ứng của Mỹ với đề nghị chia khu vực ảnh hưởng ở Thái Bình Dương, đe dọa và bắt bớ các tàu thuyền của các nước tranh chấp, xây dựng căn cứ tàu ngầm chiến lược ở Tam Á là những minh chứng rõ ràng về quan niệm của giới chính trị và quân sự Bắc Kinh về tầm quan trọng của Biển Đông và tương lai của vùng biển này trong chiến lược cường quốc của Trung Quốc.

Sự điều chỉnh cách tiếp cận của Trung Quốc là nguyên nhân cơ bản khiến quan hệ giữa Trung Quốc và các nước tranh chấp khác trở nên căng thẳng. Sau năm năm ra đời, Tuyên bố về Ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) giữa Trung Quốc và các nước ASEAN không đủ để ngăn tranh chấp Biển Đông ngày càng nóng và trở thành nguy cơ hiện hữu đối với hòa bình, ổn định ở khu vực và tình hữu nghị giữa các quốc gia trong khu vực. Tuy nhiên, rõ ràng là Trung Quốc vẫn chưa đủ sức mạnh chính trị và quân sự để kiểm soát toàn bộ Biển Đông và không muốn căng thẳng biến thành bất ổn, xung đột quân sự. Do đó, lãnh đạo Trung Quốc luôn trấn an các nước trong khu vực và kêu gọi cần phải có hòa bình, ổn định, và hợp tác. Tại buổi họp báo sáng ngày 6/01/2010 ở Hà Nội, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Trung Quốc tại Việt Nam Tôn Quốc Tường nói rằng “chúng ta đã thiết lập cơ chế đàm phán về vấn đề trên biển, thực hiện nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước, thúc đẩy tiến trình đàm phán. Để giải quyết tranh chấp, hai bên cần xuất phát từ đại cục, toàn cục và lợi ích căn bản của nhân dân hai nước, tạm gác lại tranh chấp, không làm ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường, thuận lợi của quan hệ hai nước. Tôi nghĩ đây là cách làm phù hợp nhất”.[12] Thông điệp “giữ đại cục” này cũng được nhắc đi nhắc lại trong nhiều cuộc trao đổi giữa học giả Trung Quốc và Việt Nam, với lập luận Trung Quốc còn phải đối phó với nhiều khó khăn trong nội bộ của nước này, đặc biệt là các vấn đề phát triển và xã hội.

Nghịch lý là, Trung Quốc trước hết sử dụng luận điểm “giữ đại cục” để trấn an các nước vừa và nhỏ trong khu vực, trong khi tiếp tục duy trì sự mập mờ trong chính sách an ninh biển và sử dụng nhiều chiến thuật khác nhau để giành thế chủ động và quyền kiểm soát thực tế ở Biển Đông. Giáo sư Carlyle A. Thayer cho rằng Trung Quốc đang cố tình theo đuổi một chính sách mập mờ có tính toán trong vấn đề này và sẽ trì hoãn việc giải quyết các tuyên bố chủ quyền trái ngược nhau cho đến thời điểm mà Bắc Kinh cảm thấy thích hợp.[13] Thứ hai, đó là chiến thuật “salami”, thực hiện chính sách “lấn dần từng bước”, đảm bảo đạt được sự kiểm soát tình hình, mà không làm cho các bên yêu sách cùng dư luận quốc tế phản ứng thái quá. Bắc Kinh luôn kết hợp cứng và mềm, sẵn sàng đàm phán khi cần thiết, nhưng cũng sẵn sàng vứt bỏ “cam kết” khi cần. Thứ ba, Trung Quốc kiên trì đàm phán song phương, phản đối đa phương hóa và quốc tế hóa. Theo cách đó, Trung Quốc có thể “chia để trị” và luôn duy trì được thế áp đảo đối với đối phương. Ít có khả năng Trung Quốc tham gia các cơ chế an ninh hợp tác, nơi đó Trung Quốc phải chấp nhận vị thế và lợi ích ngang bằng với các quốc gia khác. và yếu hơn mình, tránh được sự nhòm ngó của quốc tế.[14]

Đọc phần tiếp theo “Những điều chỉnh trong chiến lược của Trung Quốc đối với Biển Đông

Đỗ Thanh Hải & Nguyễn Thùy Linh, Chương trình Nghiên cứu Biển Đông

Đề nghị chỉ được dẫn đường link mọi thông tin, bài viết  trên www.nghiencuubiendong.vn, không đăng lại khi chưa có sự đồng ý của Ban Biên tập NCBĐ.



[1] Joshua Kurlantzick, “Avoiding a Tempest in the South China Sea”, Expert Brief, Council on Foreign Relations, September 2, 2010, xem tại: http://www.cfr.org/china/avoiding-tempest-south-china-sea/p22858.

[2] Yuzheng 311, 303 start escort in South China Sea, Sina English, 26 November 2009, xem tại: http://english.sina.com/china/p/2009/1126/288553.html,

[3] Peter Brown, Calculated ambiguity in the South China Sea, Asia Times, 8 December 2009, xem tại: http://www.atimes.com/atimes/Southeast_Asia/KL08Ae01.html

[4] xem thêm: Bước phát triển mới của Hải quân Trung Quốc, BBC Vietnamese, ngày 12/5/2010, xem tại: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2010/05/100512_china_navy_strategy.shtml

[5] Leszek Buszynski, “Rising Tensions in the South China and Implications for Regional Security”, Tham luận tại Hội thảo quốc tế: “Biển Đông: Hợp tác vì An ninh và Phát triển ở khu vực”, tổ chức tháng 11/2010 tại thành phố Hồ Chí Minh.

[6] Một thuật ngữ mà nước này thường dùng trong quá khứ để đề cập đến vấn đề Đài Loan, Tây Tạng, và Tân Cương.

[7] Cary Huang, “A bolder China asserts 'core' interests - but will it act?”, South China Morning Post, August 12, 2010, xem tại: http://www.viet-studies.info/kinhte/china_asserts_core_interest.htm,

[8] GS. Tô Hạo khẳng định tại Hội thảo Quốc tế về Biển Đông tại thành phố Hồ Chí Minh (11/2010): Trung Quốc chưa bao giờ sử dụng thuật ngữ “lợi ích cốt lõi” trong các tài liệu chính thức.

[9] Các báo China Daily, Global Times, và một số tạp chí của Trung Quốc đều có tin bài của học giả Trung Quốc nêu nội dung này. Báo China Daily ngày 30/7/2010 đăng bài của Ai Yang nhấn mạnh “Nam Hải là một trong những lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc. Tạp chí Thế giới Tri thức (thuộc Bộ Ngoại giao Trung Quốc) số ngày 16/8 đăng bài của học giả Trung Quốc khẳng định vào tháng 3 năm 2010, Trung Quốc đã nêu rõ với phía Mỹ rằng Nam Hải liên quan đến “lợi ích cốt lõi” về chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc.

[10] Joshua Kurlandtzick, “Avoiding a Tempeset in the South China Sea”, Expert Brief on Council on Foreign Relations Website, September 2, 2010, retrieved on October 10, 2010 at http://www.cfr.org/publication/22858/avoiding_a_tempest_in_the_south_china_sea.html

[11] Trọng Nghĩa, “Nhìn từ Nhật Bản: Phải buộc Trung Quốc đàm phán đa phương về Biển Đông”, RFI, ngày 11/10/2010, xem tại: http://www.viet.rfi.fr/tong-hop/20100827-nhin-tu-nhat-ban-phai-buoc-trung-quoc-dam-phan-da-phuong-ve-bien-dong.

[12] “Chờ điều kiện chín muồi để giải quyết tranh chấp Biển Đông”, VNN phỏng vấn Đại sứ Trung Quốc Tôn Quốc Tường, xem tại http://www.vietnamnet.vn/chinhtri/201001/Cho-dieu-kien-chin-muoi-giai-quyet-tranh-chap-bien-Dong-888092/ ngày 11/9/2010.

[14] “Trung Quốc chống quốc tế hóa tranh chấp Biển Đông”, RFI, ngày 25/7/2010, xem tại: http://www.viet.rfi.fr/chau-a/20100725-trung-quoc-chong-viec-quoc-te-hoa-tranh-chap-bien-dong, ngày 19/9/2010.

 

Bài viết của hai tác giả Đỗ Thanh Hải & Nguyễn Thùy Linh*, Chương trình Nghiên cứu Biển Đông  đánh giá những thay đổi về chính sách của Trung Quốc đối với tranh chấp Biển Đông từ năm 2007 đến nay, giải mã những căng thẳng ở khu vực Biển Đông nhìn từ khía cạnh chính sách và động thái của Trung Quốc.

 


Tháng 11/2002, tại Phnôm Pênh, các nước ASEAN và Trung Quốc ký kết Tuyên bố về Ứng xử của các bên ở Biển Đông, mở ra hy vọng mới về khả năng quản lý xung đột, thúc đẩy hợp tác, và sự hình thành cơ sở chính trị pháp lý mới nhằm đảm bảo hòa bình và ổn định ở Biển Đông nói riêng và khu vực Đông Nam Á nói chung. Tuyên bố này về cơ bản giúp xoa dịu căng thẳng giữa các quốc gia liên quan sau tranh chấp Vành Khăn, góp phần ổn định tình hình Biển Đông trong suốt bốn năm sau đó. Tuy nhiên, kể từ giữa năm 2007 đến nay, tranh chấp ở Biển Đông trở nên căng thẳng và nóng bỏng hơn với một số va chạm xảy ra liên quan đến xác lập và bảo vệ chủ quyền, khai thác và bảo tồn tài nguyên biển cùng những tranh cãi gay gắt trên các diễn đàn ngoại giao khu vực. Đỉnh cao là việc vấn đề Biển Đông được đưa ra tại Hội nghị ARF 17 (Hà Nội), trong đó 11 trong tổng số 28 nước tham dự hội nghị thể hiện quan ngại về những diễn biến mới ở Biển Đông, đặc biệt là thái độ cứng rắn và hành động quyết liệt từ phía Trung Quốc. Việc tranh chấp Biển Đông được đưa ra thảo luận tại ARF là một sự kiện mang tính lịch sử của Diễn đàn này.

Là quốc gia mạnh nhất trong số các bên tranh chấp, hành vi của Trung Quốc là yếu tố quan trọng nhất, quyết định “nhiệt độ” của tranh chấp này, và từ giai đoạn 2007-2008 các động thái của Trung Quốc trở nên cứng rắn hơn. Vậy Trung Quốc đã có những điều chỉnh gì trong việc giải quyết tranh chấp Biển Đông thời gian vừa qua và liệu đó có phải là nguyên nhân chính tạo ra những căng thẳng ở vùng biển này? Hành động của Trung Quốc bắt nguồn từ những thay đổi trong tư duy chiến lược và chính sách hay chỉ là những phản ứng nhất thời đối với hành động của các quốc gia khác và những chuyển biến trong môi trường chiến lược? Các quốc gia khác nhìn nhận và phản ứng thế nào với hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông trong thời gian vừa qua? Bài viết này sẽ tìm cách giải mã những căng thẳng ở khu vực Biển Đông nhìn từ khía cạnh chính sách và động thái của Trung Quốc.

Nhìn lại hành động của Trung Quốc tại Biển Đông từ năm 2007 đến nay

 

Từ đầu năm 2007 đến giữa năm 2010, Trung Quốc triển khai nhiều biện pháp để củng cố cơ sở pháp lý của các yêu sách và đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền về chủ quyền ở Biển Đông, phê phán hành vi của các quốc gia khác cùng với việc nhấn mạnh thái độ kiềm chế và hành vi tự vệ của Trung Quốc. Tiếp theo Luật Lãnh hải và Vùng tiếp giáp (1992),[1] Luật về Vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa (1998),[2] Trung Quốc đi thêm một bước nhằm thiết lập cơ quan quản lý hành chính đối với các quần đảo tranh chấp. Ngày 3/7/2007, Quốc Vụ Viện Trung Quốc phê chuẩn việc thành lập thành phố hành chính cấp huyện Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam để trực tiếp quản lý ba quần đảo: Hoàng Sa, Trung Sa và Trường Sa (Trung Quốc gọi là Tây Sa, Trung Sa và Nam Sa).[3] Hành động này dẫn đến nhiều cuộc biểu tình phản đối chống Trung Quốc ở Việt Nam. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng thông qua hàng loạt văn bản pháp lý nhằm kiện toàn bộ máy nhà nước quản lý về biển, hải đảo như Cương yếu phát triển hải dương với Tầm nhìn 2020 (tháng 6/2010), Kế hoạch xây dựng khu kinh tế Quảng Tây, Chương trình hỗ trợ công dân sử dụng các đảo không người nhằm vào Trường Sa và Hoàng Sa).

Trên thực địa, trong các nỗ lực nhằm khẳng định chủ quyền và quyền kiểm soát, Trung Quốc liên tục ngăn cản các hoạt động khai thác tài nguyên của các nước khác bất chấp các hoạt động đó nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của họ.

Thứ nhất, Trung Quốc tăng cường sức ép, buộc các công ty nước ngoài rút khỏi các dự án thăm dò và khai thác dầu khí mặc dù các dự án đó nằm trong vùng nước thuộc phạm vi quyền chủ quyền của Việt Nam. Từ giữa năm 2007, Trung Quốc đã nhiều lần phản đối và gây sức ép về dự án xây dựng đường ống khí đốt do tập đoàn BP của Anh thực hiện. Tháng 6/2007, trước áp lực của Trung Quốc, BP đã phải quyết định ngừng một dự án thăm dò dầu khí trong vùng biển có tranh chấp ngoài khơi Việt Nam (lô 5.2 nằm giữa Việt Nam và quần đảo Trường Sa, cách bờ biển Việt Nam khoảng 370 km).[4] Tháng 7/2008, giới ngoại giao Trung Quốc tại Mỹ liên tiếp phản đối Exxon Mobil và công khai đe dọa trả đũa công việc kinh doanh của công ty này ở Trung Quốc đại lục nếu công ty hợp tác với Petro Vietnam trong các dự án thăm dò và khai thác dầu khí ở khu vực ngoài khơi miền Trung và miền Nam Việt Nam.[5] Trong khi đó, ngày 24/11/2008, theo hãng tin Bloomberg, Tập đoàn dầu khí quốc gia Trung Quốc (CNOOC) công bố dự án 30 tỷ USD để khoan tìm dầu khí trong các khu vực nước sâu ở Biển Đông. Từ cuối tháng 5/2010 đến nay, Trung Quốc đã sử dụng tàu khảo sát M/V Western Spirit cùng nhiều tàu bảo vệ tiến hành khảo sát địa chấn tại khu vực đảo Tri Tôn, quần đảo Hoàng Sa và tại các lô dầu khí 141, 142 và 143 trên thềm lục địa Việt Nam, cách đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi khoảng 90-116 hải lý. Trung Quốc còn tiến hành san lấp, mở rộng đảo Tri Tôn với mục đích xây dựng công trình trên đảo này.[6]

Thứ hai, Trung Quốc tiếp tục đơn phương áp đặt các lệnh cấm đánh bắt cá ở Biển Đông vào mùa đánh bắt cao điểm. Trong năm 2009 và 2010, Trung Quốc công bố lệnh cấm đánh bắt trong ba tháng, từ giữa tháng Năm đến giữa tháng Tám, mùa đánh bắt cao điểm của ngư dân Việt Nam. Trong một sự vụ nghiêm trọng, tàu hải quân Trung Quốc ngày 9/7/2007 đã nã súng vào một số thuyền đánh cá của ngư dân Việt Nam trong vùng biển gần Trường Sa, cách Thành phố Hồ Chí Minh 350km. Trong nhiều trường hợp, tàu ngư chính và tuần duyên của Trung Quốc cố tình va chạm trực tiếp làm chìm các tàu cá của ngư dân Việt Nam, bắt giữ và đòi tiền chuộc nhiều tàu cá của Việt Nam.[7] Trong một số sự vụ khác, các lực lượng của Trung Quốc đã bắt giữ các tàu cá và ngư dân vào tránh bão trong quần đảo Hoàng Sa, bắt họ ký vào các biên bản thừa nhận vi phạm chủ quyền của Trung Quốc và buộc gia đình họ phải nộp tiền phạt.[8] Ngư dân Phi-lip-pin và Ma-lai-xi-a cũng chịu chung các tình cảnh tương tự.[9]

Mặc dù lệnh cấm đánh bắt cá được Trung Quốc đơn phương áp đặt từ năm 1999, nhưng từ năm 2007 đến nay hành động của Trung Quốc mang tính hăm dọa quyết liệt hơn với thời gian cấm biển ngày một dài hơn,các hoạt động tuần tra, bắt giữ và cản phá ngư dân của các nước liên quan với quy mô lớn hơn, thường xuyên hơn và mạnh bạo hơn. Gary Li, một chuyên gia về Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Hoa (PLA) cho rằng lệnh cấm đánh bắt cá của Trung Quốc thực sự nhằm tạo ra quyền cai quản trên thực tế [de facto jurisdiction], và tiền lệ lịch sử nhằm khẳng định chủ quyền.[10]

Quan chức Trung Quốc tuyên bố mục đích của lệnh cấm đánh bắt cá là nhằm bảo vệ nguồn cá, ngăn chặn đánh bắt cá trái phép và bảo vệ ngư dân Trung Quốc. Tuy nhiên, có ba điểm đáng chú ý trong lệnh cấm đánh bắt hàng năm của Trung Quốc. Một là, lệnh cấm của Trung Quốc có hiệu lực trong phạm vi một vùng biển lớn nằm trong đường đứt khúc chín đoạn mà các nước khác bác bỏ, bao gồm cả những ngư trường truyền thống của ngư dân Việt Nam và các nước khác. Hai là, thời gian của các lệnh cấm đánh bắt cá ngày càng được kéo dài một cách tùy tiện và vô lý, không tham khảo ý kiến và không có được sự đồng thuận từ các quốc gia khác. Ba là, Trung Quốc sử dụng các loại chiến hạm cải tiến thành các tàu tuần ngư quy mô lớn, không ngại va chạm để xua đuổi, hăm dọa ngư dân các nước. Lyle Goldstein, một nhà nghiên cứu của Trường Chiến tranh Hải quân Hoa Kỳ, chỉ ra đó là cách Trung Quốc sử dụng các tàu dân sự để phát huy sức mạnh mềm, nhưng cũng nhằm củng cố các yêu sách về lãnh thổ biển rộng lớn của Trung Quốc. Giáo sư Carlyle A. Thayer thì cho rằng “việc sử dụng các tàu tuần ngư là một chiến thuật tuyệt vời bởi chúng không phải là tàu chiến, chúng được sơn với màu trắng chứ không phải màu xám, nhưng chắc chắn, chúng được trang bị tận răng”.[11] Vấn đề ở đây là những hành động như vậy hoàn toàn đi ngược lại những cam kết của Trung Quốc được ghi trong Tuyên bố về Ứng xử ở Biển Đông năm 2002.

Thứ ba, không chỉ hăm dọa, xua đuổi và bắt bớ tàu bè của các quốc gia khác, Trung Quốc còn công khai xác định phạm vi ảnh hưởng. Đô đốc Timothy Keating, chỉ huy trưởng Hải quân Mỹ tại Thái Bình Dương, trong cuộc họp báo ngày 18/12/2008 tại Washington, đã đề cập đến ý định của Trung Quốc chia Thái Bình Dương làm hai, theo đó, Hải quân Hoa Kỳ sẽ giới hạn sự hiện diện của mình về phía Đông Hawaii và Hải quân Trung Quốc sẽ kiểm soát từ phía Tây đảo Haiwaii.[12] Tháng 3/2009, một số tàu của Trung Quốc đã đụng độ với tàu khảo sát Impeccable của Hải quân Mỹ tại vùng biển cách đảo Hải Nam 75 dặm. Trong tháng 6/2009, một tàu ngầm của Trung Quốc đã va chạm với thiết bị định vị kéo theo sau tàu khu trục Hải quân Mỹ. Phản ứng của Mỹ tỏ ra khá ôn hòa khi tuyên bố vụ va chạm là do vô ý. Nhưng phía Trung Quốc lại phản ứng mạnh mẽ. Phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao Trung Quốc tuyên bố sau sự kiện tàu Impeccable rằng các tàu Mỹ cần phải xin phép trước khi đi vào Vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc.

Ngày 26/8/2010, ngay sau chuyến thăm Trung Quốc của Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam, chính quyền Trung Quốc thông báo họ đã sử dụng tàu lặn nhỏ có người lái cắm cờ tại đáy Biển Đông ở độ sâu 3.759m.[13] Dù phía Trung Quốc không nói rõ vị trí cắm cờ của tàu ở đâu và nó có vào vùng biển tranh chấp hay không, hành động mập mờ đó của Trung Quốc dường như ngụ ý biểu dương sự tiến bộ của Hải quân Trung Quốc, đồng thời khẳng định chủ quyền của Trung Quốc ở vùng biển. Các nước liên quan không thể không nghi ngại của về động thái đó của Trung Quốc.

Thứ tư, để hỗ trợ các hoạt động kiểm soát trên thực tế và tạo dựng tiền đề cho việc khống chế Biển Đông trong tương lai, Trung Quốc ra sức hiện đại hóa lực lượng hải quân và không quân, củng cố và phát triển các căn cứ, cơ sở quân sự và dân sự ở vùng duyên hải và ở nhiều vị trí trong quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Năm 2008, một vệ tinh thương mại phát hiện Trung Quốc xây dựng một căn cứ hải quân ở Tam Á trên đảo Hải Nam. Trong số ra ngày 15/04/2008, tạp chí Jane's Intelligence Review của Anh đã phân tích các tấm ảnh vệ tinh nói trên trong bài viết mang tựa đề “Tiết lộ bí mật về Tam Á, căn cứ hải quân nguyên tử mới của Trung Quốc”. Theo chuyên gia phân tích Richard D. Fisher Junior, tác giả bài báo, thì Tam Á là một căn cứ quan trọng có thể dùng cho loại tàu ngầm nguyên tử 094 thuộc thế hệ mới của Trung Quốc, có khả năng mang tên lửa đạn đạo có đầu đạn hạt nhân. Tháng 12/2007, Hải quân Trung Quốc đã đưa chiếc tàu ngầm nguyên tử 094 đầu tiên của họ về căn cứ này. Hàng không mẫu hạm hay các loại tàu khác có khả năng tung lực lượng tác chiến đi xa cũng có thể đặt bản doanh tại Tam Á.[14]

Theo giáo sư Carlyle A. Thayer, tương quan lực lượng quân sự ở vùng Biển Đông và Thái Bình Dương có khả năng thay đổi một khi công trình được Bắc Kinh hoàn tất. Với căn cứ này, Trung Quốc tăng cường sức mạnh để thực thi các tuyên bố chủ quyền của họ ở Biển Đông, bảo vệ các tuyến hàng hải trọng yếu qua eo biển Ma-lắc-ca và phát triển các khả năng hậu cần cho lực lượng hải quân triển khai ở Biển Đông. Cùng lúc đó, Trung Quốc cũng mở rộng sân bay ở đảo Phú Lâm trong quần đảo Hoàng Sa, củng cố căn cứ quân sự ở Bãi Chữ Thập trong quần đảo Trường Sa với hệ thống ra-đa cảnh báo sớm, duy trì sự hiện diện liên tục tại Bãi đá ngầm Vành Khăn ngoài khơi bờ biển phía Tây của Phi-lip-pin.[15] Cũng cần phải nói thêm, không chỉ có Trung Quốc, các quốc gia khác trong tranh chấp cũng có các hành động củng cố sự chiếm giữ của họ.

Điều đáng nói hơn, khi căn cứ hải quân Tam Á hoàn tất, cục diện chiến lược sẽ có những chuyển biến quan trọng vì cơ sở này sẽ cho phép quân đội Trung Quốc vươn xuống Biển Đông và vươn ra Thái Bình Dương. Một phần căn cứ xây ngầm dưới lòng đất gây khó khăn cho việc theo dõi. Tàu ngầm nguyên tử Trung Quốc sẽ có điều kiện tuần tra và tấn công từ những vị trí khó phát hiện sâu dưới lòng biển ngoài khơi Hải Nam nếu Bắc Kinh phát triển được năng lực tác chiến cần thiết. Hiện thời, người ta chưa rõ là bao nhiêu trong số năm chiếc tàu ngầm nguyên tử của Trung Quốc sẽ đặt bản doanh tại Tam Á. Các hoạt động xây dựng hiện nay chứng tỏ rằng Tam Á sẽ trở thành một căn cứ quân sự trọng yếu với nhiều tác động trên cán cân lực lượng trong khu vực. Trung Quốc có thể lưu trữ tại đấy một phần đáng kể các loại tên lửa răn đe hạt nhân phóng đi từ tàu ngầm.[16]

Cùng với căn cứ tàu ngầm ở Tam Á, Trung Quốc cũng thiết lập một căn cứ tên lửa ở Quảng Đông, nơi đơn vị 96166 thuộc Lực lượng Hỏa tiễn thứ hai của Quân đội Giải phóng nhân dân Trung Hoa (PLA) đóng quân. Các chuyên gia quân sự cho rằng căn cứ này sẽ được trang bị tên lửa đạn đạo DF-21C hoặc tên lửa tầm xa CJ-10. Cả hai loại này đều có khả năng tấn công chính xác các mục tiêu trong phạm vi 2000 km, bao trùm cả khu vực Đài Loan cũng như quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.[17]

Trên mặt trận ngoại giao, Trung Quốc tiếp tục phản đối yêu sách của các quốc gia khác cùng với các nỗ lực nhằm đa phương hóa và quốc tế hóa tranh chấp. Ủy ban Ranh giới thềm lục địa của Liên Hợp Quốc (UNCLOS) quy định ngày 13/5/2009 là hạn chót để các nước đăng ký đường ranh giới ngoài của thềm lục địa. Ngày 6/5/2009, Ma-lai-xi-a và Việt Nam nộp bản đề xuất chung và ngay ngày hôm sau, Việt Nam nộp một tuyên bố riêng.[18] Ngay lập tức, Trung Quốc phản đối nhưng không nộp văn bản công khai. Theo quy định của Ủy ban Ranh giới thì những yêu cầu bị phản đối sẽ không thể được xem xét. Trung Quốc đã tư liệu hóa những yêu sách biển của mình bằng việc đính kèm một bản đồ vẽ “đường đứt khúc chín đoạn” (hay đường lưỡi bò) tạo thành một chữ U bao vây toàn bộ Biển Đông. Đây là lần đầu tiên Trung Quốc công khai yêu sách này và điều đáng nói là không có một bản đồ nào được đính kèm với những tuyên bố quan trọng như Tuyên bố về Lãnh hải (1958), Tuyên bố về Lãnh hải và tiếp giáp lãnh hải (1992), Tuyên bố về Đường cơ sở để xác định lãnh hải, và Luật về Vùng đặc quyền kinh tế và Thềm lục địa (1998) của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.[19]

Trung Quốc tiếp tục kiên định lập trường giải quyết tranh chấp với từng nước ASEAN và không muốn các nước chia sẻ thông tin về các cuộc đàm phán liên quan tới Biển Đông giữa từng nước với Trung Quốc.[20] Trung Quốc đã sử dụng khái niệm “quyền lợi cốt lõi” liên quan đến chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ của họ khi đề cập đến Đài Loan và Tây Tạng. Trong cuộc đối thoại chiến lược giữa hai nước, quan chức Bắc Kinh tuyên bố với quan chức Mỹ rằng họ coi Biển Đông thuộc phạm vi “lợi ích cốt lõi” của họ, một động thái càng làm tăng những mối lo ngại về động cơ của Trung Quốc sau những diễn biến gần đây nhất.

Tại Hội nghị ARF Hà Nội tháng 7/2010, dường như bất ngờ trước việc Ngoại trưởng Mỹ Clinton tuyên bố Mỹ có lợi ích thiết thực ở Biển Đông,[21] Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì đã có những lời lẽ mạnh mẽ nhằm phản đối sự can dự của các cường quốc bên ngoài và cho rằng đối thoại song phương là phương thức hiệu quả duy nhất để giải quyết tranh chấp. Sau diễn đàn ARF 17 tại Hà Nội, trong một thông cáo đăng trên mạng của Bộ Ngoại giao Trung Quốc ngày 26/7, Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì nói: “Nếu Biển Đông trở thành một vấn đề quốc tế hoặc đa phương, sẽ chỉ khiến cho vấn đề này trở nên tồi tệ hơn và giải pháp sẽ khó khăn hơn... Thực tiễn quốc tế cho thấy cách tốt nhất để giải quyết các bất đồng, tranh chấp đó là các bên liên quan đàm phán song phương trực tiếp”. Bên cạnh đó, báo chí Trung Quốc có một chiến dịch phê phán mạnh mẽ Việt Nam và Mỹ “thông đồng” với mục tiêu quốc tế hóa tranh chấp Biển Đông. Thậm chí, nhiều tờ báo còn cho rằng Việt Nam tìm cách liên minh với Mỹ để hạn chế ảnh hưởng của Trung Quốc.[22] Theo giới phân tích, thái độ sẵn sàng can dự của Hoa Kỳ, kèm theo với chủ trương quốc tế hóa và đa phương hóa hồ sơ Biển Đông đã đi ngược lại với chủ trương muốn giải quyết vấn đề trên cơ sở song phương của Trung Quốc nhằm dễ bề gây sức ép lên các nước nhỏ và yếu hơn mình, tránh được sự nhòm ngó của quốc tế.[23]

Đọc phần tiếp theoĐằng sau những thay đổi trong cách tiếp cận của Trung Quốc đối với Biển Đông

 

 

Đỗ Thanh Hải & Nguyễn Thùy Linh,  Chương trình Nghiên cứu Biển Đông

 

Đề nghị chỉ được dẫn đường link mọi thông tin, bài viết  trên www.nghiencuubiendong.vn, không đăng lại khi chưa có sự đồng ý của Ban Biên tập NCBĐ.

 



* Mọi quan điểm nêu trong bài viết là của riêng các tác giả.

[1] Luật này quy định lãnh hải rộng 12 hải lý, áp dụng cho cả bốn quần đảo ở Biển Đông trong đó có quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa).

[2] Luật này một lần nữa chính thức thể hiện quan điểm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đều có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng mà họ thường gọi là “vùng nước phụ cận”.

[3] “Việt Nam lên tiếng về Trường Sa”, BBC Tiếng Việt, ngày 07/12/2007, tại địa chỉ http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2007/12/071203_viet_china_spratlys.shtml

[4] “BP ngừng thăm dò ở Trường Sa”, BBC Tiếng Việt, ngày 14/06/2007, tại địa chỉ http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2007/06/070614_bp_china.shtml

[5] Greg Torode, “Tussle for Oil in the South China Sea”, South China Morning Post, 20 July 2008.

[6] “Yêu cầu Trung Quốc chấm dứt khảo sát đảo Tri Tôn”, Báo Công an Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 05/08/2010, xem tại:  http://www.congan.com.vn/?mod=detnews&catid=681&id=127115.

[7] “Hanoi protests China fishing ban”, BBC, June 8, 2009, xem tại: http://news.bbc.co.uk/2/hi/asia-pacific/8089654.stm; “Controversial Chinese Ban affects more Vietnamese Fishing Vessels”, Thanh Nien News 5/6/2009, “Fishmen Intimidated and Harrassed by Chinese Patrol Boats”, Thanh Nien News, 8/6/2009.

[8] Xem: “Phản đối Trung Quốc bắt giữ ngư dân Việt Nam”, Tuổi trẻ, 15/12/2009, tại http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/353329/Phan-doi-Trung-Quoc-bat-giu-ngu-dan-VN.html, “Trung Quốc lại bắt giữ ngư dân Việt Nam”, BBC Việt ngữ, ngày 28/3/2010, xem tại: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2010/03/100328_viet_fishermen.shtml, và “Ngư dân Việt Nam lại bị Trung Quốc bắt giữ”, Vnexpress, ngày 7/5/2010, xem tại:

http://vnexpress.net/GL/Xa-hoi/2010/05/3BA1B97A/

[9] Greg Torode, “China ban on fishing as tension runs high”, South China Morning Post, 16/5/2010, xem tại: http://www.viet-studies.info/kinhte/china_ban_on_fishing_SCMP.htm

[10] Greg Torode, tlđd.

[11] Greg Torode, tlđd.

[12] Linh Huơng, “Hải quân Trung Quốc và dự tính chia đôi Thái Bình Dương”, Tuần Vietnamnet, ngày 28/2/2009, xem tại:

http://www.tuanvietnam.net/hai-quan-trung-quoc-va-du-tinh-chia-doi-thai-binh-duong.

[13] “Trung Quốc cắm cờ ở dưới đáy Biển Đông”, Thanh Niên, ngày 28/8/2010, xem tại:

http://www.thanhnien.com.vn/News/Pages/201035/20100828003929.aspx, ngày 11/10/2010.

[14] “Căn cứ hải quân Tam Á: Chủ bài trong chiến lược khống chế biển Đông”, RFI, ngày 15/09/2008, xem tại: http://www.rfi.fr/actuvi/articles/101/article_34.asp, xem ngày 1/9/2010.

[15] Carlyle A. Thayer, “The United States and Chinese Assertiveness in the South China Sea”, Security Challenge, Vol. 6, No. 2, 2010, tr. 73.

[16] “Căn cứ hải quân Tam Á: Chủ bài trong chiến lược khống chế biển Đông”, RFI, 15/09/2008, xem tại:  http://www.rfi.fr/actuvi/articles/101/article_34.asp, xem ngày 1/9/2010.

[17] Minnie Chan and Greg Torode, “PLA opens Guangdong missile base; South China Sea in range”, South China Morning Post, August 7, 2010 Saturday, xem tại: http://www.viet-studies.info/kinhte/pla_opens_guangdong_missile_base.htm.

[19] Carlyle A.Thayer, “Những diễn biến gần đây ở Biển Đông : Hệ lụy đối với hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực” trong Đặng Đình Quý (Chủ biên), Biển Đông : Hợp tác vì An ninh và Phát triển trong Khu vực, Nxb. Thế Giới, Hà Nội, 2010, tr. 160.

[20] “Foreign Minister warns South China Sea issue”,

http://www.chinadaily.com.cn/china/2010-07/26/content_11046544.htm, xem ngày 10/9/2010.

[21] Ngày 23/7/2010, tại Diễn đàn An ninh Khu vực ARF tại Hà Nội, Ngoại trưởng Mỹ H. Clinton đã tuyên bố rằng “Lợi ích quốc gia của Mỹ bao hàm quyền tự do hàng hải, quyền tiếp cận các vùng biển chung của châu Á, và sự tôn trọng luật lệ quốc tế tại khu vực Biển Đông”.  Lo ngại về tác hại của các tranh chấp chủ quyền lãnh thổ giữa 6 quốc gia và vùng lãnh thổ trong khu vực là Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan, Brunei, Ma-lai-xi-a và Phi-lip-pin, Ngoại trưởng Mỹ xác định việc giải quyết tranh chấp Biển Đông là một “ưu tiên ngoại giao hàng đầu của Hoa Kỳ”.

[22] “Giới phân tích Bắc Kinh coi tập trận Mỹ-Việt là chống lại Trung Quốc”, RFI, ngày 12/8/2010, xem tại: http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20100812-gioi-phan-tich-bac-kinh-coi-tap-tran-my-viet-la-chong-lai-trung-quoc, ngày 19/9/2010.

[23] “Trung Quốc chống quốc tế hóa tranh chấp Biển Đông”, RFI, ngày 25/7/2010, xem tại: http://www.viet.rfi.fr/chau-a/20100725-trung-quoc-chong-viec-quoc-te-hoa-tranh-chap-bien-dong, ngày 19/9/2010.


 

Bài viết tổng hợp phân tích về các nhóm lợi ích và ảnh hưởng của các nhóm này đối với  quá trình hoặc định chính sách đối  ngoại của Trung Quốc. Qua đó, tác giả rút ra các hệ lụy đối với chính sách của Trung Quốc đối với vấn đề Biển Đông.



Tác giả: Nguyễn Minh Ngọc[1], Chương trình Nghiên cứu Biển Đông,Học viện Ngoại giao. 

 

Trong những năm vừa qua, Trung Quốc không ngừng lớn mạnh về mọi mặt: kinh tế, chính trị, quân sự và ảnh hưởng địa chính trị. Một điều không thể phủ nhận là Trung Quốc đã vươn lên thành một cường quốc khu vực (regional power) và là một nước đóng vai trò chủ chốt (major power) trong hệ thống quốc tế. Tuy nhiên, cùng với nguồn sức mạnh mới này, Trung Quốc đang phải đương đầu với một thực tế khó khăn: đó là ngày càng nhiều các nhóm lợi ích muốn tham gia vào quá trình hoạch định chính sách của Trung Quốc, khiến nước này đôi khi không còn là một thực thể có tiếng nói đối ngoại đồng nhất. Dù nội bộ Trung Quốc hiện nay vẫn đạt được đồng thuận trên bề mặt nhưng thực tiễn cho thấy sự đấu tranh giữa các nhóm chủ thể với lợi ích riêng biệt đã dẫn đến những hành xử mâu thuẫn, đôi khi trái ngược nhau của Bắc Kinh. Năm 2009-2010, Trung Quốc có một loạt điều chỉnh chính sách theo hướng cứng rắn, khiến các nhà quan sát đặt ra câu hỏi liệu đây chỉ là xu hướng tạm thời hay là điều chỉnh chiến lược lâu dài thể hiện sự thay đổi về chất trong sức mạnh của Trung Quốc? Và những lực lượng nào có vai trò chi phối đằng sau sự điều chỉnh này?

Gần đây, một số công trình nghiên cứu đáng chú ý đã đi vào phân tích những nhóm chủ thể và khuynh hướng mới trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc, đó là:  “Những chủ thể đối ngoại mới ở Trung Quốc” – báo cáo của Viện Nghiên cứu Hòa Bình quốc tế Stockholm – SIPRI tháng 9/2010; “Ứng xử với một Trung Quốc mâu thuẫn” – bài viết của Giáo sư David Shambaugh (Đại học George Washington) đăng trên Tạp chí Washington Quarterly năm 2011; và “Trung Quốc tìm kiếm một ‘đại chiến lược’” – bài viết của Giáo sư  Tập Tư (Đại học Bắc Kinh) đăng trên Tạp chí Foreign Affairs số tháng 3-4/2011. Nội dung của các công trình nghiên cứu trên tập trung vào ba điểm: thứ nhất, nhận diện các nhóm chủ thể (cũ và mới) trong quá trình hoạch định chính sách đối ngoại; thứ hai, xác định những trường phái tư duy đối ngoại chính ở Trung Quốc hiện nay; và thứ ba, đưa ra những gợi ý cho một “chiến lược tổng thể” (grand strategy) mới của Trung Quốc trong bối cảnh xã hội phân hóa sâu sắc và đòi hỏi ngày càng cao của cộng đồng quốc tế đối với một Trung Quốc “có trách nhiệm”. Việc tổng hợp, nghiên cứu tác động của các nhóm lợi ích đối với quá trình hoạch định chính sách của Trung Quốc sẽ rất hữu ích cho công tác dự báo điều chỉnh chiến lược của nước này ở Biển Đông, nhất là khi Trung Quốc chuẩn bị có những thay đổi nhân sự lãnh đạo lớn lao vào năm 2012. 


1.            Những chủ thể trong quá trình hoạch định chính sách đối ngoại của Trung Quốc:

Báo cáo của Viện SIPRI (Thụy Điển)[2] tháng 9/2010 đã chỉ ra các nhóm chủ thể mới có tác động đến chính sách đối ngoại Trung Quốc bên cạnh các chủ thể truyền thống như Đảng Cộng sản, chính phủ và quân đội.

1.1.         Các chủ thể chính thức:

-             Đảng Cộng sản Trung Quốc:

Trong Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc thì Ban Thường vụ Bộ Chính trị (PSC - gồm 9 thành viên) vẫn là cơ quan quyền lực tối cao đưa ra các quyết sách ở Trung Quốc. Tuy nhiên, trên thực tế, Ban thường vụ phần lớn chỉ thông qua cuối cùng về mặt thủ tục đối với những khuyến nghị do các cơ quan chuyên trách đưa lên. Mọi quyết định trong Ban thường vụ được thông qua bằng cơ chế đồng thuận nhưng vai trò cá nhân của Chủ tịch PSC rất lớn. Trong thời kỳ đương nhiệm của Tổng bí thư Hồ Cẩm Đào, các vấn đề muốn được thông qua phải có được sự hậu thuẫn của ông.

Thường thì các Ủy viên Ban thường vụ không nắm rõ chi tiết của từng vấn đề đối ngoại cụ thể nên phải tham vấn ý kiến của các chuyên gia trong Nhóm công tác đối ngoại (FALSG). Các vấn đề trước khi trình lên Ban thường vụ đều được bàn thảo kỹ trong nhóm công tác này. Điều này khiến cho Đới Bỉnh Quốc, với tư cách là giám đốc văn phòng Nhóm công tác đối ngoại, được xem là nhân vật có ảnh hưởng nhất ngoài PSC vì là người định hình chương trình làm việc của FALSG và chịu trách nhiệm xử lý hàng ngày về đối ngoại của Trung Quốc.

-                      Chính phủ:

Vai trò của Bộ Ngoại giao (MFA) trong công tác hoạch định chính sách hiện nay đã suy giảm đáng kể; thay vào đó, trách nhiệm chính của MFA thuộc về lĩnh vực thực thi chính sách. Các vị lãnh đạo Đảng Cộng sản sẽ chịu trách nhiệm về quan hệ của Trung Quốc với các nước lớn và các đối tác quan trọng trong khu vực. Với những nước kém quan trọng hơn, MFA vẫn là cơ quan đầu mối, bảo đảm cho việc hoạch định chính sách đi đúng với đường hướng đối ngoại chung của Trung Quốc.

Hiện nay trong nội bộ chính phủ Trung Quốc đang diễn ra sự cạnh tranh ảnh hưởng giữa các cơ quan đối với quá trình hoạch định chính sách đối ngoại. Bộ Thương mại (MOFCOM), với chức năng quản lý hoạt động thương mại và mối liên hệ chặt chẽ đối với giới doanh nghiệp, là tiếng nói mạnh mẽ ủng hộ việc duy trì chế độ tỉ giá hối đoái có kiểm soát. Tầm quan trọng của Trung Quốc đối với nền kinh tế toàn cầu khiến Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBC) trở thành một chủ thể quan trọng vì là cơ quan quyết định chính sách tiền tệ trong nước. Ủy ban Phát triển và Cải cách quốc gia (NDRC) tác động đến chính sách đối ngoại của Trung Quốc trong những lĩnh vực liên quan đến phát triển kinh tế như năng lượng, tài nguyên... Bộ An ninh nội địa (MSS) là một chủ thể chính trị trong nước nhưng có tầm ảnh hưởng đối ngoại ngày càng lớn, nhất là sau sự kiện Olympic Bắc Kinh 2008 và các cuộc bạo động ở Tây Tạng và Tân Cương 2009.

-           Quân đội:

Quân đội từ trước đến nay vẫn là một chủ thể trong quá trình hoạch định chính sách đối ngoại của Trung Quốc, dù một số ý kiến cho rằng vai trò của nó đã suy giảm do những cải cách thể chế, sự chuyên môn hóa của lực lượng quân đội, và quá trình tách những nhà lãnh đạo quân sự khỏi quá trình hoạch định chính sách dân sự. (Một minh chứng khá rõ là kể từ khi Thống đốc Hải quân Lưu Hoa Thanh nghỉ hưu năm 1997 cho đến nay quân đội không có đại diện nào được bầu vào Ban thường vụ Bộ Chính trị).

Tuy vậy, quân đội vẫn phát huy ảnh hưởng đối ngoại của mình trong các lĩnh vực liên quan đến quốc phòng như buôn bán vũ khí, tranh chấp lãnh thổ và an ninh quốc gia với các đối tác quan trọng như Ấn Độ, Nhật Bản, Triều Tiên, Pakistan, Nga và Mỹ. Đặc biệt, quân đội là lực lượng bảo vệ quan điểm cứng rắn đối với vấn đề Đài Loan và sự can thiệp của Mỹ trong quan hệ hai bờ.

Hội đồng Quân ủy Trung ương (CMC) là một kênh quan trọng để quân đội phát huy vai trò của mình với đối ngoại. Quân đội cũng tích cực tăng cường ảnh hưởng, định hình quan điểm dư luận trong các vấn đề an ninh quốc gia thông qua các kênh phi chính thức như tham gia nghiên cứu, viết báo hoặc bình luận trên truyền hình.

1.2.        Các chủ thể mới:

-             Khu vực doanh nghiệp:

Hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước (SOEs) ngày nay đã trở thành một mối quan tâm trong hoạch định chính sách đối ngoại của Trung Quốc. Tuy đây chỉ là những chủ thể “bên lề” (on the margin) nhưng với lợi ích kinh tế mà các tập đoàn này mang lại, nhà nước có nhiệm vụ bảo vệ và tạo điều kiện cho hoạt động của các doanh nghiệp này, nhất là từ khi chính phủ ban hành chính sách khuyến khích doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư ngoài nước (“go-out strategy” - 1999).

Về lý thuyết thì các quyết định đầu tư ngoài nước của SOEs phải được sự ủng hộ của lãnh đạo cấp cao, tuy nhiên một số thương vụ lớn lại có tác động trở ngược lại chính sách, giúp Trung Quốc đẩy mạnh quan hệ với các nước đối tác. Ví dụ như hợp đồng khai thác mỏ đồng Aynak ở Afghanistan của Tập đoàn luyện kim Trung Quốc và dự án hợp tác xây dựng đường ống dẫn khí đốt giữa Trung Quốc và Turkmenistan đã giúp nước này nâng cao quan hệ song phương và mở rộng ảnh hưởng của tại khu vực Trung Á.

Ngoài ra còn phải kể đến vai trò của các công ty năng lượng, khoáng sản vì họ là một phần không thể thiếu trong chính sách “ngoại giao năng lượng” của Trung Quốc. Từ tháng 1/2005 đến tháng 7/2010, hơn một nửa các chuyến thăm cấp cao của Chủ tịch Hồ Cẩm Đào là đến các quốc gia nơi các tập đoàn năng lượng lớn của Trung Quốc có dự án đầu tư về dầu lửa, khí đốt (Nga: 6 lần; Kazakhstan: 4 lần; Canada: 3 lần; Nhật, Ả-rập Xê-út và Việt Nam: 2 lần). Rõ ràng năng lượng, tài nguyên đã trở thành một tiêu chí quan trọng đối với Bắc Kinh khi lựa chọn quốc gia viếng thăm.

-                      Các viện nghiên cứu:

Giới học giả, nghiên cứu có ảnh hưởng ngày càng lớn hơn đối với chính sách đối ngoại. Trước kia mọi phân tích chính sách đều được thực hiện trong nội bộ chính phủ, trong Đảng. Ngày nay, với tốc độ phát triển của thông tin và hoạt động đối ngoại, lãnh đạo Trung Quốc khi đưa ra quyết sách thường có cơ chế tham vấn các nhà nghiên cứu. Ảnh hưởng của nhóm này thể hiện qua vai trò “cầu nối” giữa những luồng quan điểm trong và ngoài nước, vừa là kênh khuyến nghị cho các cấp lãnh đạo vừa chịu trách nhiệm định hình dư luận.

Ở Trung Quốc, các viện nghiên cứu không tồn tại độc lập hoàn toàn theo đúng nghĩa vì họ còn phụ thuộc vào Đảng/ chính phủ về nguồn kinh phí hoạt động. Song điểm đáng chú ý là tuy không thể phát ngôn ra ngoài những giới hạn nhất định, nhiều học giả đã có khuynh hướng tư duy độc lập hơn.

-                      Phương tiện truyền thông và cư dân mạng:

Cuộc cách mạng thông tin và sự phát triển của internet đã giúp người dân Trung Quốc tiếp cận nguồn thông tin rộng rãi hơn trước, và do đó cũng có thể bày tỏ quan điểm của mình về các vấn đề đối ngoại. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là người dân hoàn toàn được hưởng quyền tự do ngôn luận. Trái lại, chính quyền Trung Quốc (đặc biệt là Bộ An ninh nội địa) vẫn kiểm soát chặt chẽ luồng thông tin trên mạng internet, blog và email.

Thực tế các kênh phương tiện truyền thông và mạng internet là một môi trường thuận lợi để kích thích “chủ nghĩa dân tộc” ở Trung Quốc, nhất là trong những vấn đề nhạy cảm như quan hệ Trung Quốc với Nhật Bản. Song từ quan điểm của giới lãnh đạo Trung Quốc, sử dụng “công cụ” chủ nghĩa dân tộc có thể là một con dao hai lưỡi khi các cư dân mạng cực đoan, quá khích có thể từ việc phê phán các thế lực bên ngoài quay sang chỉ trích chính phủ và tổ chức biểu tình gây mất trật tự xã hội.

2.    Những khuynh hướng và chuyển biến chính sách đối ngoại của Trung Quốc trong thời gian qua:

Mỗi nhóm chủ thể kể trên có những ưu tiên và lợi ích riêng nên tác động đến chính sách theo mỗi chiều hướng khác nhau. Trong bài viết “Ứng xử với một Trung Quốc mâu thuẫn”[3], Giáo sư David Shambaugh (Mỹ) đã chỉ ra những xu hướng, trường phái tư duy đối ngoại chính ở Trung Quốc. Các trường phái được liệt kê theo chiều hướng tăng dần và đẩy mạnh những cam kết đối ngoại của Trung Quốc với bên ngoài: Nativism (chủ nghĩa dân tộc), Realism (chủ nghĩa hiện thực), Major Powers (chú trọng quan hệ với các cường quốc), Asia First (ưu tiên quan hệ với châu Á), Global South (đoàn kết các nước đang phát triển Nam bán cầu), Selective Multilateralism (đa phương hóa có chọn lọc) và Globalism (chủ nghĩa toàn cầu). Nổi bật có ba xu thế hiện nay đang ảnh hưởng lớn đến việc hoạch định chính sách của Trung Quốc:

2.1. Xu hướng chủ nghĩa dân tộc (Nativism):

Khuynh hướng này tập trung những người theo chủ nghĩa Mác-xít, với tư tưởng dân tộc cực đoan, luôn đề cao việc giữ gìn độc lập tự chủ và không tin tưởng vào các thể chế quốc tế. Họ cho rằng chính sách “cải cách và mở cửa” của Trung Quốc 30 năm qua đã khiến nước này mất đi khối đoàn kết xã hội, văn hóa bị ảnh hưởng từ tiêu cực bên ngoài và độc lập chủ quyền bị xói mòn, tạo điều kiện thuận lợi cho các âm mưu “diễn biến hòa bình” từ Mỹ và phương Tây đe dọa quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Tuy những quan điểm trên phần nào trái ngược với chiến lược hội nhập khá thành công của Trung Quốc trong thời gian qua nhưng trường phái này vẫn sẽ tiếp tục tác động đến tư duy đối ngoại của Bắc Kinh vì nhiều nguyên nhân. Thứ nhất, những đại diện của trường phái này thường làm ở các viện nghiên cứu uy tín thuộc Ủy ban TW Đảng Cộng sản Trung Quốc, hoặc của chính phủ như Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc, vốn là những cơ quan tham mưu cho lãnh đạo cấp cao. Thứ hai, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2010 và chính sách của Mỹ trong thời kỳ Tổng thống Bush đã làm sống lại những lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về “chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước” và “chủ nghĩa thực dân mới”. Thứ ba, những cuộc cách mạng màu ở Đông Âu và bạo loạn chính trị ở Bắc Phi, Trung Đông gần đây đã gia tăng sức thuyết phục của trường phái này về nguy cơ mất ổn định chính trị, nhất là dưới sự tác động từ các thế lực bên ngoài.

2.2. Xu hướng chủ nghĩa hiện thực (Realism):

Đây là trường phái tư duy có ảnh hưởng lớn nhất đối với việc hoạch định chính sách của Trung Quốc. Những người theo chủ nghĩa hiện thực ở Trung Quốc xem môi trường quốc tế là vô chủ, vì vậy cần tập trung xây dựng một quốc gia-nhà nước vững mạnh. Trường phái này quy tụ các sĩ quan quân đội, và những học giả có quan điểm thực dụng, vốn định nghĩa lợi ích trong phạm vi hạn hẹp và cho rằng những nỗ lực của phương Tây lôi kéo Trung Quốc tham gia nhiều hơn vào các nghĩa vụ quốc tế chỉ là một cái “bẫy” nguy hiểm nhằm ngăn cản sự lớn mạnh của nước này. Khác với khuynh hướng chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa hiện thực không cổ xúy cho chính sách “cô lập” với thế giới mà đòi hỏi việc xác định cụ thể và bảo vệ tốt các lợi ích quốc gia của Trung Quốc.

2.3. Xu hướng đa phương hóa có chọn lọc (Selective Multilateralism):

Những người theo khuynh hướng này cho rằng Trung Quốc nên dần mở rộng các cam kết quốc tế của mình một cách chọn lọc, chỉ ở những lĩnh vực mà an ninh quốc gia của Trung Quốc bị ảnh hưởng trực tiếp. Sự ra đời của trường phái này là kết quả của nguồn sức mạnh và vị thế mới của Trung Quốc, khi cộng đồng quốc tế đòi hỏi Trung Quốc phải gánh vác nhiều hơn các nghĩa vụ quốc tế. Bản thân những người trong nhóm này không muốn Trung Quốc bị nhìn nhận là nước chỉ quen “hưởng khống” các đặc quyền quốc tế, tuy nhiên vẫn tiếp cận khá thận trọng với chính sách đa phương hóa. Vì thế, họ cho rằng, ở tầm chiến lược, Trung Quốc nên tiếp tục đi theo phương châm của Đặng Tiểu Bình, đó là “ẩn mình chờ thời” nhưng ở mức chiến thuật, Trung Quốc đã trở nên chủ động hơn trong quan hệ quốc tế (tham gia vào hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc, cứu nạn, chống cướp biển nhưng tránh các vấn đề nhạy cảm như Iraq hay Afghanistan). Trong những năm 1990, đa phương hóa được Trung Quốc sử dụng như một “công cụ” đắc lực và “chiến thuật” hữu hiệu để tạo ra diễn đàn giải quyết các vấn đề song phương.

Các trường phái tư duy đối ngoại khác ở Trung Quốc lần lượt đặt trọng tâm quan hệ với từng đối tác khác nhau như các nước lớn (Major Powers), châu Á (Asia First) và với các quốc gia đang phát triển khác (Global South). Tuy nhiên, theo nhận định của GS. Shambaugh, khuynh hướng đối ngoại chính tập trung vào trường phái hiện thực, với ảnh hưởng lớn từ khuynh hướng chủ nghĩa dân tộc. Đáng lưu ý, những quan chức phụ trách công tác đối ngoại ở một số cơ quan Đảng và chính phủ tuy có xu hướng thực dụng theo các trường phái đi vào quan hệ với từng đối tác, nhưng họ vẫn phải đáp ứng đòi hỏi của những nhóm người theo chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa hiện thực trong xã hội, trong quân đội và cả trong Đảng. 


3.    Định hướng cho một “chiến lược đối ngoại tổng thể” mới của Trung Quốc:

Sự tham gia của các nhóm chủ thể với lợi ích và xu hướng tư duy đối ngoại đa dạng đã góp phần tạo nên những chuyển biến quan trọng trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc. Trong bài viết đăng trên tạp chí Foreign Affairs[4], GS. Vương Tập Tư (Trung Quốc) đã chỉ ra tổng kết bốn sự thay đổi trong tư duy chiến lược của Trung Quốc:

Thứ nhất, chính phủ Trung Quốc đã áp dụng cách hiểu toàn diện hơn về an ninh, bao gồm cả các vấn đề kinh tế và an ninh phi truyền thống, thay vì chỉ chú trọng đến các lợi ích chính trị, quân sự như trước đây. Trung Quốc phải tăng cường hợp tác với các nước khác để đối phó với những thách xuyên quốc gia và bình ổn thị trường tài chính thế giới vì đó cũng chính là bảo vệ an ninh cho chính Trung Quốc. Điều này có nghĩa là ngày càng khó cho Trung Quốc để tách biệt quan hệ bạn thù, kể cả với những đối thủ cạnh tranh chiến lược như Mỹ, Nhật.

Thứ hai, ngoại giao chuyển biến theo hướng ít tập trung vào các vấn đề quốc gia mà nhấn mạnh vào hoạt động hợp tác chuyên môn trong từng lĩnh vực cụ thể như chống khủng bố, chống phổ biến hạt nhân, bảo vệ môi trường và an ninh năng lượng. Chẳng hạn như Trung Quốc và Ấn Độ xưa nay vẫn diễn ra cạnh tranh địa chiến lược và tranh chấp lãnh thổ nhưng lợi ích chung của hai nước trong việc hợp tác giảm áp lực của phương Tây về vấn đề cắt giảm khí thải các-bon đã kéo hai quốc gia này lại gần với nhau.

Thứ ba, tư duy về phát triển kinh tế của Trung Quốc cũng đã thay đổi: thay vì chỉ chú trọng vào tăng trưởng GDP, Bắc Kinh ngày càng quan tâm đến chất lượng của phát triển như hiệu quả kinh tế, chất lượng sản phẩm, bảo vệ môi trường, an sinh xã hội và tiến bộ kỹ thuật. Trung Quốc nhận ra cốt lõi của vấn đề phát triển không chỉ bao gồm khía cạnh kinh tế mà còn phải xem xét đến các vấn đề xã hội. Chính vì vậy, giới lãnh đạo đã quyết định duy trì tăng trưởng bằng cách hướng vào bên trong, đẩy mạnh tiêu thụ nội địa, giảm sự phụ thuộc của nền kinh tế vào xuất khẩu và đầu tư ngoài nước.

Thứ tư, chính sách của Trung Quốc ngày càng chú trọng đến việc phát huy hệ giá trị và “sức mạnh mềm” của nước này. Sự thành công của Trung Quốc trong khắc phục hậu quả khủng hoảng và duy trì tốc độ tăng trưởng đã khiến “đồng thuận Bắc Kinh” – mô hình chủ nghĩa tư bản có sự kiểm soát của nhà nước theo kiểu Trung Quốc – trở thành một mô hình phát triển hấp dẫn đối với các nước đang phát triển. Tuy nhiên, Bắc Kinh cũng đang đương đầu với nhiều thách thức trong việc thể hiện và thực hiện “sức mạnh mềm” của mình do những quan ngại về chiến lược hiện đại hóa quân đội của Trung Quốc và lòng tin giảm sút của các nước láng giềng trước những điều chỉnh cứng rắn của Trung Quốc trong thời gian gần đây.

Trong tất cả những chuyển biến trên, điểm đáng chú ý theo GS. Vương Tập Tư, đó là nguyên tắc “thao quang dưỡng hối” từ thời Đặng Tiểu Bình sẽ không còn phù hợp làm “kim chỉ nam” cho chính sách đối ngoại của Trung Quốc nữa. Thứ nhất, Trung Quốc đã lớn mạnh hơn trước rất nhiều và đủ khả năng để vươn ra thành một siêu cường trên thế giới. Thứ hai, Trung Quốc đang chịu sức ép từ trào lưu chủ nghĩa dân tộc trong nước, buộc nước này phải thể hiện một đường lối ngoại giao cứng rắn, chủ động hơn. Thứ ba, Trung Quốc có thể tiếp tục “ẩn mình” trong quan hệ với Mỹ, nhưng sẽ không thể áp dụng nguyên tắc đó khi xử lý các thách thức đa chiều như kinh tế và an ninh phi truyền thống, nhất là khi nước này đang đóng vai trò lãnh đạo trong nhóm các nước đang phát triển như BRIC, G77.

Rõ ràng Trung Quốc cần một “chiến lược tổng thể” mới (grand strategy) phản ánh được sức mạnh, nhu cầu phát triển và mục tiêu đối ngoại của mình. Liệu Trung Quốc có một chiến lược tổng thể như thế không và nội dung chiến lược đó như thế nào vẫn còn là câu hỏi. Tuy nhiên, theo GS Vương, nguyên tắc chỉ đạo của “chiến lược tổng thể”, đó là phải bảo vệ được những “lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc, bao gồm “chủ quyền, an ninh và phát triển”. Trọng tâm địa chính trị trong chiến lược này sẽ là châu Á, với xu hướng tập trung hơn về phía Tây. Trung Quốc sẽ đẩy mạnh phát triển quan hệ với các nước Trung Á như Afghanistan, Ấn Độ, Pakistan để phục vụ cho “Chương trình Tổng thể Phát triển vùng phía Tây” bao gồm các khu vực như Tây Tạng và Tân Cương. Hai nhiệm vụ khó khăn trước mắt hiện nay đối với việc xây dựng một “chiến lược tổng thể” đó là sự phối hợp chính sách giữa các cơ quan chính phủ và xử lý các quan điểm, lợi ích đa dạng hiện nay trong giới tinh hoa chính trị Trung Quốc.

4. Một số nhận xét và đánh giá:

Những nghiên cứu trên cho thấy Trung Quốc hiện nay không phải là một thực thể có tiếng nói đối ngoại đồng nhất, thay vào đó là tổng hòa của nhiều nhóm lợi ích và trường phái tư duy đối ngoại khác nhau. Hiểu rõ được sự chồng lấn và cạnh tranh ảnh hưởng giữa các cơ quan hoạch định chính sách, các luồng tư duy sẽ giúp nhận định chính xác hơn về những ưu tiên đối ngoại và chiều hướng chính sách của Trung Quốc.

Thứ nhất, thẩm quyền hoạch định chính sách đối ngoại ở Trung Quốc đã bị phân hóa với sự tham gia của ngày càng nhiều các nhóm chủ thể mới. Khuynh hướng này buộc Bộ Ngoại giao phải chia sẻ quyền lực với các cơ quan khác trong Đảng và chính phủ. Quân đội Trung Quốc cũng trở thành một chủ thể quan trọng và không ngần ngại phô diễn sức mạnh của mình. Việc các sĩ quan quân đội tham gia vào các cuộc tranh luận công khai được xem là một hiện tượng rất mới. Bên cạnh các chủ thể truyền thống, các nhóm chủ thể khác như doanh nghiệp, báo chí và dư luận tuy không có một vai trò chính thức nhưng ảnh hưởng ngày càng lớn đến chính sách đối ngoại. Trong quan hệ với các nước Trung Á, Iran và Sudan, lợi ích kinh tế của các doanh nghiệp đôi khi lại trở thành yếu tố quan trọng nhất.

            Thứ hai, dù ở giai đoạn nào, khuynh hướng chủ nghĩa dân tộc vẫn đóng vai trò chi phối trong tư duy đối ngoại của Trung Quốc. Trường phái này tập trung không chỉ quan điểm của người dân mà cả những quan chức cấp cao. Khi làn sóng này bùng nổ, cộng với những tác động từ bất ổn trong nước, có thể tạo ra những tình thế cực kỳ khó khăn cho việc hoạch định chính sách đối ngoại của Trung Quốc.

            Thứ ba, với sự tham gia của ngày càng nhiều các nhóm lợi ích, phạm vi “biên giới quyền lợi” của Trung Quốc đã mở rộng hơn. Điều này đã được bình luận viên Hoàng Khôn Luân của Nhật báo Quân giải phóng nhắc đến, rằng lợi ích quốc gia của Trung Quốc đã đi ra khỏi vùng lãnh thổ đất đai, biển, trời mà còn gồm cả những vùng như các đại dương mênh mông nơi có tàu dầu Trung Quốc qua lại - cũng như thượng tầng không gian.[5] Chính vì thế, Trung Quốc hiện nay rất quan tâm đến việc bảo vệ các lợi ích an ninh chiến lược tại Biển Đông cũng như những quyền lợi kinh tế, năng lượng, khoáng sản rất quan trọng ở Trung Á, Trung Đông và Châu Phi.

            Thứ tư, ưu tiên của một số nhóm chủ thể và trường phái tư duy đối ngoại có khuynh hướng đẩy chính sách đối ngoại Trung Quốc theo chiều hướng cứng rắn hơn. Họ cho rằng Trung Quốc cần tích cực, chủ động tham gia vào định hình một trật tự thế giới phù hợp với lợi ích phát triển của mình hơn, thay vì tiếp tục “ẩn mình chờ thời”, chấp nhận những luật chơi do Mỹ và phương Tây đặt ra. Gần đây, quân đội Trung Quốc là đại diện tiêu biểu cho luồng quan điểm này, đôi khi còn thể hiện thái độ và hành động cứng rắn hơn so với quan điểm chính thống của giới lãnh đạo. Trong nước, quân đội đã tích cực tuyên truyền quan điểm đối ngoại của mình thông qua việc tham gia vào các kênh nghiên cứu, học giả. Ngoài nước, quân đội có những hành động khiêu khích đơn phương, đôi lúc dường như không thông qua ý kiến của các nhà lãnh đạo dân sự (chẳng hạn như vụ thử máy bay tàng hình của quân đội Trung Quốc ngay trong chuyến thăm Bắc Kinh của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates).

5. Hệ lụy đối với chính sách của Trung Quốc ở Biển Đông:

Trong các chủ thể hiện nay có ảnh hưởng lớn đối với chính sách đối ngoại của Trung Quốc, đáng chú ý phải kể đến vai trò của quân đội (PLA) và các tập đoàn dầu khí nhà nước vì lợi ích của hai nhóm này sẽ có thể tác động trực tiếp đến chiều hướng chính sách của Trung Quốc ở Biển Đông.

Nhiều đánh giá cho rằng tiếng nói của quân đội sẽ ngày càng trở nên quan trọng hơn trong các vấn đề đối nội và đối ngoại của Trung Quốc. Thứ nhất, Hội đồng Quân ủy Trung ương (CMC) luôn duy trì kênh tham vấn trực tiếp với Bộ Chính trị nhưng lãnh đạo dân sự duy nhất trong CMC là Chủ tịch Hồ Cẩm Đào, ngoài ra không có một thành viên dân sự nào khác. Tập Cận Bình được xem là người kế nhiệm vị trí Chủ tịch CMC của Hồ Cẩm Đào nhưng được cho là có ít kinh nghiệm đối ngoại. Một điểm đáng chú ý khác nữa là xu hướng tập quyền trong Bộ Chính trị đang có xu hướng giảm dần. So với thời kỳ của Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình, vai trò quyết định của Chủ tịch Ủy ban thường vụ như Hồ Cẩm Đào (hay ứng cử viên sắp tới là Tập Cận Bình) đã giảm đi khá nhiều. Thay vào đó, mọi quyết định thông qua bằng cơ chế đồng thuận, và sự đấu tranh giữa các phe phái cũng gay gắt hơn. Vì thế, Chủ tịch sắp tới cần phải dựa nhiều hơn vào vai trò của CMC để củng cố sự lãnh đạo của mình.

Thứ hai, mâu thuẫn trong xã hội Trung Quốc đang có chiều hướng gia tăng do nhiều yếu tố: chênh lệch giàu nghèo, áp lực việc làm, bất bình đẳng xã hội, và xung đột sắc tộc. Tầng lớp trung lưu ngày càng phẫn nộ trước sự tham nhũng của các quan chức chính phủ, tình trạng độc quyền của nhà nước và các chính sách động chạm đến lợi ích thiết thân của họ. Với những bài học về bạo động và bất ổn chính trị ở Bắc Phi, Trung Đông, chắc chắn những nhà lãnh đạo Bắc Kinh sẽ cần đến vai trò của quân đội để tránh các cuộc khủng hoảng tương tự xảy ra đến với Trung Quốc.

Thứ ba, trong những năm gần đây, với chính sách tăng cường hiện đại hóa quân đội và tập trung xây dựng lực lượng hải quân hùng mạnh nhằm đảm bảo nguồn cung năng lượng và tài nguyên của Trung Quốc, ảnh hưởng và quyền lực của quân đội với đối ngoại càng rõ rệt hơn. Xu hướng dân tộc chủ nghĩa trong quân đội được xem là đại diện tốt hơn cho quan điểm của quần chúng. Cuốn sách bán chạy nhất năm 2010, “Giấc mộng Trung Hoa” của Đại tá Lưu Minh Phúc, Giám đốc Viện Phát triển Quân sự thuộc Đại học Quốc Phòng đã chỉ ra rằng Trung Quốc cần theo đuổi một chiến lược “trỗi dậy quân sự” mới nhằm tiến đến vị trí lãnh đạo toàn cầu và cạnh tranh với Mỹ. Đáng lưu ý, nhà cầm quyền Trung Quốc không hề cấm xuất bản tác phẩm này như những cuốn sách có hơi hướng cực đoan trước đây của một số sĩ quan quân đội. Trung tướng Lưu Á Châu, Chính ủy của Đại học Quốc phòng Trung Quốc, trợ lý thân cận của cựu Chủ tịch Giang Trạch Dân, đã viết lời đề tựa cho cuốn sách này.

Điều này càng khẳng định cho chiều hướng dân tộc chủ nghĩa và cứng rắn của Trung Quốc trong chính sách ở Biển Đông thời gian tới. Trong các vấn đề biên giới lãnh thổ, quân đội thường có thái độ quả quyết, từng khẳng định Trung Quốc có “lợi ích quốc gia cốt lõi” đối với các đảo tranh chấp ở Biển Đông. Với sự mở rộng vai trò của hải quân (Trung Quốc đang tập trung xây dựng các tàu sân bay), nhiều khả năng Trung Quốc sẽ tiếp tục đầu tư để tăng cường kiểm soát và bành trướng lực lượng để khẳng định chủ quyền ở Biển Đông. Bên cạnh đó, sự chồng chéo thẩm quyền giữa các lực lượng phòng vệ bờ biển cũng thường tạo nên tình trạng mâu thuẫn chính sách giữa các cơ quan chuyên trách, gây khó khăn cho các nước trong tranh chấp như Việt Nam.[6] Trong trao đổi riêng, TS. Li Mingjiang cho biết một trong những nguyên nhân Trung Quốc hoạt động mạnh trên thực địa ở Biển Đông là do vấn đề bắt ngư dân đôi khi là “việc làm ăn” của các lực lượng thực thi pháp luật, họ có lợi ích cục bộ trong việc bắt tàu cá, nhận tiền chuộc. Bộ Ngoại giao hay các tỉnh giáp biển có muốn duy trì quan hệ hữu nghị với các nước láng giềng đôi khi cũng “không làm được gì”.

Các tập đoàn dầu khí nhà nước Trung Quốc (lớn nhất hiện nay có CNPC, Sinopec và CNOOC) cũng đóng vai trò quan trọng trong chính sách của Trung Quốc ở Biển Đông. Không thể phủ nhận một thực tế, việc bảo đảm nguồn cung năng lượng đã trở thành ưu tiên đối với giới cầm quyền Bắc Kinh vì nó yếu tố quyết định sự tăng trưởng ổn định của kinh tế Trung Quốc. Hoạt động của các tập đoàn này đôi khi gắn chặt với lợi ích chiến lược của Trung Quốc. Những hợp đồng khai thác ngoài nước của các tập đoàn dầu khí Trung Quốc có thể cùng lúc phục vụ hai mục tiêu: giúp đa dạng hóa nguồn cung năng lượng và mở rộng ảnh hưởng địa-chính trị của Trung Quốc. Chính vì vậy, lợi ích của các tập đoàn năng lượng rất có sức nặng trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc, chưa kể đến việc người đứng đầu các tập đoàn nhà nước này thường nắm giữ những vị trí trọng yếu trong Đảng/ chính phủ. Trong thời gian tới, các tập đoàn này có thể đẩy chính sách của Trung Quốc ở Biển Đông theo chiều hướng thực dụng – tiếp tục các dự án khai thác chung, phục vụ các lợi ích kinh tế trước mắt – nhưng mặt khác lại góp phần củng cố chính sách “tằm ăn rỗi” của Trung Quốc, khẳng định chủ quyền thông qua các hoạt động khai thác trên thực địa và giành lợi ích của nước lớn (lion’s share) trong các thỏa thuận khai thác chung.

Tóm lại, Trung Quốc sẽ đẩy mạnh chính sách ở Biển Đông theo cả hai hướng: vừa cứng rắn, kiên quyết để bảo vệ các lợi ích liên quan đến chủ quyền lãnh thổ thông qua việc hiện đại hóa quân đội, tăng cường sự hiện diện của lực lượng hải quân để tạo ra không gian phát triển an toàn xung quanh Trung Quốc. Đồng thời, các tập đoàn nhà nước Trung Quốc (chủ yếu ở đây là năng lượng và khoáng sản) sẽ tiếp cận trên quan điểm thực dụng, tranh thủ thời cơ để đẩy mạnh các dự án khai thác chung ở Biển Đông, tối đa hóa các lợi ích kinh tế. Sự phân hóa của các chủ thể khác nhau trong xã hội Trung Quốc cho thấy một bức tranh về quá trình hoạch định chính sách phức tạp hơn, nhưng nhìn chung tất cả đều dựa trên nền tảng nhìn nhận khá hạn hẹp về lợi ích quốc gia của Trung Quốc.

Nguyễn Minh Ngọc

Đề nghị chỉ được dẫn đường link mọi thông tin, bài viết  trên www.nghiencuubiendong.vn, không đăng lại khi chưa có sự đồng ý của Ban Biên tập NCBĐ.


[1]Nội dung bài viết chỉ phản ánh quan điểm cá nhân của tác giả.

[2] Jakobson, Linda; Knox, Dean (2010) “New Foreign Policy Actors in China,” Stockholm International Peace Research Institute Policy Paper No. 26, http://books.sipri.org/product_info?c_product_id=410.

[3] Shambaugh, David (2011) “Coping with a Conflicted China,” The Washington Quarterly, Vol. 34, No. 1, pp. 7-27

[4] Jisi, Wang (2011), “China’s Search for a Grand Strategy”, Foreign Affairs, March/ April 2011.

[5] Hoàng viết: “Nơi nào mà lợi ích quốc gia của chúng ta mở đến, thì đó là nhiệm vụ của lực lượng vũ trang chúng ta. Với nhiệm vụ lịch sử mới mẽ của chúng ta, các lực lượng vũ trang phải không chỉ bảo vệ ‘biên giới lãnh thổ quốc gia’ mà phải cả đến ‘biên giới lợi ích quốc gia’.” Xem thêm Huang Kunlun, “Our army must transcend concepts of [the protection of] territorial integrity so as to safeguard national security,” Liberation Army Daily, April 1, 2009.

[6] Trong bài viết “Năm con rồng khuấy động biển cả” của Lyle J. Goldstein, tác giả đã chỉ ra hiện nay có ít nhất năm lực lượng khác nhau có trách nhiệm liên quan đến việc bảo vệ bờ biển: (i) lực lượng Hải cảnh thuộc Bộ phận Kiểm soát Biên giới của Cảnh sát Vũ trang nhân dân Trung Quốc; (ii) cơ quan An ninh Hàng hải thuộc Bộ Giao thông Vận tải; (iii) lực lượng Ngư chính thuộc Bộ Nông nghiệp; (iv) Tổng cục thuế; và (v) cơ quan Hải gián thuộc Cục Hải dương. Xem thêm Lyle J. Goldstein, “

Five Dragons Stirring Up the Sea: Challenge and Opportunity in China’s Improving Maritime Enforcement Capabilities”, Naval War College, China Maritime Study 5, April 2010.

 

 

Căng thẳng tại Biển Đông ngày càng gia tăng, ảnh hưởng đến hợp tác khu vực là nhận định của đa số học giả quốc tế tại Hội thảo quốc tế do Học viện Ngoại giao Việt Nam phối hợp với Trung tâm nghiên cứu Châu Á của Mỹ (NBR) tổ chức tại TP. Hồ Chí Minh hồi tháng 8 vừa qua. Hơn 50 học giả quốc tế và khu vực tập trung đánh giá về các nguồn năng lượng tại các vùng biển tranh chấp Châu Á, bao gồm Biển Đông, Vịnh Thái Lan và Biển Hoa Đông.

 

Chung mối quan tâm với An ninh năng lượng

 

Câu chuyện an ninh năng lượng là chủ đề quan trọng của Hội thảo. Một chuyên gia về năng lượng người Anh[1] nhận định rằng khi sản xuất dầu khí toàn cầu đạt đỉnh vào năm 2015 nhiều khả năng ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh năng lượng của các nước xung quanh Biển Đông. Nguồn cung dầu khí càng ngày càng giảm, giá càng ngày càng cao. Lúc này, ngoại trừ Brunei, tất cả các nước xung quanh Biển Đông còn lại đều phải nhập khẩu dầu khí. Tại các nước trong khu vực, giá trị của trữ lượng dầu khí tại các vùng biển tranh chấp tại Biển Đông đang được đánh giá ngày càng quan trọng.

 

Tuy nhiên theo ông này, nguồn năng lượng tại Biển Đông đang được đánh giá quá cao, trên thực tế nó chỉ chiếm phần nhỏ lượng cung trong bối cảnh cầu nhập khẩu tăng mạnh trong tương lai, và không giúp giải quyết vấn đề an ninh năng lượng của các nước xung quanh mà chỉ giúp kéo dài thời kỳ "quá độ".

 

Tham luận của nhóm học giả Trung Quốc thì cho rằng để xử lý vấn đề an ninh năng lượng, Trung Quốc và các nước Đông Nam Á cần tìm cách đa dạng hóa các nguồn cung. Trung Quốc tập trung mạnh vào việc khai thác càng nhiều càng tốt dầu mỏ và khí đốt, càng gần càng tốt (để giảm phí vận chuyển và dễ bảo vệ). Do đó, Biển Đông là một trong những hướng trọng tâm chính trong phát triển năng lượng của Trung Quốc.

 

"Rào cản" cho hợp tác: Đường lưỡi bò và Quy chế pháp lý Hoàng Sa, Trường Sa

 

 

Để xử lý phần nào vấn đề an ninh năng lượng, nhiều học giả cho rằng cần tính đến hình thức hợp tác cùng phát triển dầu khí tại các vùng biển tranh chấp. Bên cạnh đó, hợp tác cùng phát triển còn giúp xây dựng lòng tin, giảm nhẹ căng thẳng tại các vùng biển tranh chấp và là một bước tiến tới giải pháp lâu dài cho các tranh chấp. Tuy nhiên vấn đề nan giải nhất là khu vực hợp tác.

 

Một số học giả Phương Tây và ASEAN cho rằng tại Biển Đông tồn tại hai "rào cản" ảnh hưởng đến việc xác định khu vực hợp tác. Thứ nhất là "Đường lưỡi bò" của Trung Quốc, do lấn sâu vào các vùng biển của các quốc gia khác, không xác định rõ tọa độ và quy chế pháp lý. Thứ hai là các tranh luận về quy chế pháp lý của các vị trí tại Hoàng Sa, Trường Sa, Scaborough trong việc xác định phạm vi vùng biển xung quanh.

 

Liên quan đến vấn đề này, một số tham luận và phát biểu phân tích về ảnh hưởng của các Báo cáo ranh giới ngoài thềm lục địa. Đa số học giả cho rằng các báo cáo ranh giới ngoài thềm lục địa nói chung và ở Biển Đông nói riêng đã góp phần làm rõ yêu sách của các bên liên quan đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

 

Hơn nữa, tại Biển Đông, các nước ASEAN xung quanh như Việt Nam, Malaysia, Philippines, Brunei và mới đây là Indonesia đã "đồng thuận" coi các vị trí tại Hoàng Sa, Trường Sa không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, mà chỉ có lãnh hải 12 hải lý. Trung Quốc hiện đang bị "cô lập" trong vấn đề này. Nhiều học giả kêu gọi Trung Quốc cần phải công khai rõ yêu sách của mình tại Biển Đông, đặc biệt là cần giải thích rõ về đường lưỡi bò.

 

Cũng liên quan đến phạm vi ảnh hưởng của đảo, tham luận của một vị tiến sỹ đến từ Đài Loan và tham luận của 1 học giả Úc phân tích về các phán quyết gần đây của Tòa án Công lý quốc tế, bao gồm phán quyết về phân định biển giữa Rumani và Ucraina có liên quan đến Đảo Rắn. Một số ý chính được rút ra: thứ nhất, phương án sử dụng Tòa án để giải quyết tranh chấp đang được nhiều nước lựa chọn; thứ hai, vấn đề phân định biển chỉ có thể được giải quyết dứt điểm sau khi giải quyết xong vấn đề chủ quyền đối với các đảo; thứ ba, các đảo không có hiệu lực đáng kể trong phân định biển so với đất liền.

 

Đáng chú ý bài viết của học giả Trung Quốc đề cập tranh chấp tại Biển Hoa Đông giữa Trung Quốc và Nhật Bản liên quan đến đảo Điếu Ngư (Senkaku) do Nhật đang nắm giữ và phân định biển tại đây, cho rằng giải pháp hợp lý là hai bên tách biệt vấn đề tranh chấp chủ quyền và phân định biển bằng cách không lấy đảo Điếu Ngư làm cơ sở cho việc đòi hỏi vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Bà này còn cho rằng nếu Trung và Nhật không thể đạt được thỏa thuận về chủ quyền thì phương án tốt nhất là nhờ đến sự phân xử của Tòa án quốc tế.

 

Khi bị chất vấn về lập trường trái ngược nhau của Trung Quốc tại Biển Hoa Đông và Biển Đông, các học giả Trung Quốc cho rằng mỗi khu vực có một đặc trưng khác nhau, do đó cần giải quyết bằng thỏa thuận song phương giữa các bên liên quan, dựa trên hoàn cảnh lịch sử của từng vấn đề.

 

 

Nhìn chung bức tranh Biển Đông thời gian qua không thuận lợi cho hợp tác. Tuyên bố ứng xử các bên tại Biển Đông năm 2002 không ngăn cản được các va chạm, căng thẳng và tranh chấp tại đây. Các hoạt động hợp tác hầu như chưa được triển khai do khác biệt về cách tiếp cận giữa Trung Quốc và ASEAN.

 

Đa số học giả cho rằng Diễn đàn an ninh khu vực ARF 17 vừa qua tại Hà Nội đánh dấu một "thắng lợi ngoại giao" của Việt Nam với việc 14 nước nêu vấn đề Biển Đông, trong đó có phát biểu của Ngoại trưởng Mỹ Clinton thể hiện mạnh mẽ quan điểm của Mỹ. Qua ARF vừa qua, đa số học giả đều coi vấn đề Biển Đông đã bước sang giai đoạn mới, đã được đa phương hóa và quốc tế hóa với sự dính líu thực sự của Mỹ. Các học giả nhắc lại các bài học trong gần hai mươi năm Hội thảo kiềm chế xung đột tiềm tàng tại Biển Đông là các bên tranh chấp cần tính đến lợi ích của các nước khác quan tâm đến việc giải quyết hòa bình các tranh chấp.

 

Một số đại biểu cho rằng Trung Quốc cần chú ý đến chiến lược nước lớn của mình để điều chỉnh chính sách tại Biển Đông theo hướng trách nhiệm hơn, nhằm làm yên tâm các nước ASEAN, qua đó tăng cường sức mạnh mềm, củng cố hình ảnh quốc gia.

 

Một số kiến nghị tăng cường minh bạch và hợp tác

 

- Trung Quốc cần hợp tác với các nước xung quanh trong việc cùng quản lý nguồn cá tại Biển Đông, qua đó không cần ban bố các lệnh cấm đánh bắt cá đơn phương gây căng thẳng khu vực.

- DOC cung cấp khuôn khổ cho việc thúc đẩy xây dựng lòng tin và tăng cường hợp tác tại Biển Đông, do đó cần thúc đẩy:

+ Tăng cường đối thoại giữa ASEAN và Trung Quốc tại các trao đổi thường niên về an ninh và quốc phòng.

+ Thông báo trước các cuộc tập trận và tuần tra tại Biển Đông.

+ Thiết lập mạng lưới các đường dây nóng để sử dụng trong các trường hợp khẩn cấp.

+ Đàm phán về các hiệp định tránh đụng độ nhằm tránh các va chạm trên biển giữa lực lượng hải quân các nước.

+ Trao đổi để đi đến thỏa thuận về phạm vi ảnh hưởng của các vị trí tại Hoàng Sa, Trường Sa đối với các vùng biển xung quanh.

- Tăng cường trao đổi xây dựng lòng tin, ngoại giao phòng ngừa trong vấn đề Biển Đông tại các diễn đàn khu vực, bao gồm cả ADMM+ và các cơ chế an ninh khác.

- Biện pháp giúp tăng cường độ tin cậy và xây dựng lòng tin là các bên cần tăng cường minh bạch các chương trình hiện đại hóa quân đội của mình.

- Đối với vấn đề an ninh năng lượng, điều cơ bản nhất không phải là đa dạng hóa nguồn cung mà là tăng cường tính hiệu quả của việc sử dụng năng lượng.

 



[1] Hội thảo theo nguyên tắc của Chatham House, mọi ý kiến đều có thể được trích dẫn nhưng không dẫn tên người phát biểu.

 

 

Duy trì một trạng thái xung đột ở mức độ thấp mang lại sức nặng cho Trung Quốc trong đàm phán và khẳng định vai trò của quốc gia này. Bài nghiên cứu chủ yếu tập trung vào quan điểm của Nhật Bản về điều kiện an ninh tại Đông Á (Đông Bắc Á và Đông Nam Á ), tình huống chiến lược tại Biển Đông và đánh giá sức mạnh quân sự của Trung Quốc trong bối cảnh của khu vực.

 

1.            Sự ổn định mong manh và tình thế lưỡng nan về an ninh bất đối xứng

Về bản chất, điều kiện an ninh tại Đông Á cơ bản ổn định, cho dù có một số sự kiện rắc rối xảy ra giữa Trung Quốc và các nước láng giềng, bao gồm cả Nhật Bản, thì những nước liên quan sẽ cố gắng thỏa hiệp càng sớm càng tốt thông qua ngoại giao thứ yếu (low-key) (giảm thiểu hết mức ảnh hưởng của báo chí và dư luận công chúng đối với chính sách ngoại giao), trong khi tình huống vẫn nằm trong tầm kiểm soát của các chính phủ. Nhưng điều này không có nghĩa là Đông Á sẽ có sự ổn định tuyệt đối. Căng thẳng tại Đông Á sẽ dao động trong phạm vi giới hạn nào đó. Nói cách khác, an ninh Đông Á về cơ bản là ổn định, nhưng đó là sự ổn định mong manh.

Có một vài lý do mang tính bản địa trong khu vực cho điều này, tại sao điều kiện anh ninh hiện tại Đông Á về cơ bản lại mang tính ổn định, nhưng lại không thực sự chắc chắn. Đầu tiên là sự thúc đẩy hợp tác mang tính khiên cưỡng giữa Nhật Bản, Mỹ và Trung Quốc, các quốc gia có sự ảnh hưởng lớn. Các quốc gia này đều biết rằng không một quốc gia đơn lẻ nào trên thế giới có thể tự mình vượt qua được cuộc khủng hoảng kinh tế trên phạm vi toàn cầu đang xảy ra, vì vậy họ không thể vượt ra cuộc khủng hoảng nếu không đặt ra ưu tiên cao nhất trong việc thúc đẩy hợp tác tiền tệ với các quốc gia khác nhằm cứu vớt con tàu kinh tế Châu Âu đang chìm một cách nhanh chóng. Cả ba quốc gia này đều ở chung trên một con thuyền trước một cơn bão lớn.

Tuy nhiên, đây là tình huống “đồng sàng, dị mộng” (Same bed, different dreams). Trung Quốc có lý do khác để tư duy theo cách này. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc cho rằng Mỹ có sức mạnh quân sự ưu việt tại Đông Á, là điều mà Trung Quốc không thể thách thức tại thời điểm này. Tuy nhiên, tính đến sự cân bằng quyền lực mang tính cục bộ tại khu vực Đông Á thì Trung Quốc lại có khả năng sử dụng sức mạnh hải quân cho những lợi ích chiến lược và chính trị của riêng mình ở ngoại vi phía đông của nước này, vì các quốc gia Đông Á và Đài Loan rất dễ bị tổn thương đối với sức mạnh hải quân đang gia tăng của Trung Quốc hơn là đối với Mỹ.

Nhưng khả năng bùng nổ về một cuộc chiến tranh giữa Trung Quốc và các quốc gia láng giềng phía đông lại  mang tính rủi ro rất lớn đối với Trung Quốc vì cuộc chiến như vậy sẽ lôi kéo sự can thiệp quân sự của Mỹ, là một kịch bản mang tính phá hủy đối với những chiến lược của Trung Quốc. Sau khủng hoảng kinh tế năm 2008, sức mạnh tương đối của Mỹ đang bị suy giảm trong bối cảnh toàn cầu, nhưng lãnh đạo hiện tại của Trung Quốc lại không thích mạo hiểm.

Vì vậy Trung Quốc sẽ không dám thực hiện bất kỳ một hành động quân sự lớn nào nhằm chống lại các quốc gia láng giềng của mình, thậm chí những va chạm thường xuyên về vấn đề lãnh thổ với láng giềng như Việt Nam, Philippin và Nhật Bản, chống lại Trung Quốc, nhưng cho đến hiện tại Trung Quốc chỉ biểu dương sức mạnh quân sự của mình.

Trái với hầu hết điểm bất lợi mang tính tuyệt đối của Trung Quốc về phạm vi quân sự, Trung Quốc lại có ưu điểm mang tính tương đối về phạm vi kinh tế ( như đất hiếm và nguồn nước). Khả năng về việc Trung Quốc mở rộng lợi thế phi quân sự chỉ khi xung đột quân sự ở mức độ đủ thấp đối với các quốc gia có liên quan để gia tăng sự phụ thuộc về kinh tế đối với Trung Quốc.

Chỉ khi căng thẳng ở mức độ thấp, cho dù khá rụt rè, họ sẽ theo đuổi một chính sách, chủ yếu xuất phát từ những lý do trong nước mà đặt ra ưu tiên cao hơn đối với những lợi ích kinh tế cụ thể/đã được xác định trong tương lai gần bằng sự hy sinh về rủi ro chiến lược chưa chắc chắn/còn mơ hồ trong tương lai xa. Tuy nhiên, một cách mỉa mai, nếu tình huống an ninh/chiến lược tại Đông Á  hoàn toàn toàn không mang tính đối đầu thì sức đàm phán của Trung Quốc lại không được cao.

Nếu và chỉ nếu có  mức độ nào đó về sự căng thẳng trong khu vực, thì nền kinh tế và vũ khí phi quân sự khác của Trung Quốc mới phát huy hiệu quả. Đối với Trung Quốc, căng thẳng ở mức độ nào đó lại hữu ích.

Sức mạnh của Trung Quốc hiện tại mang tính điều kiện, vì nước này này cần giữ một nhịp độ thấp để đạt được vị thế chiến lược có lợi hơn, bởi vì ở nhịp độ quá vội vàng sẽ dẫn đến rủi ro đối với Trung Quốc vì điều đó sẽ gây ra các phản ứng dữ dội hay tạo ra liên minh chống Trung Quốc từ các quốc gia Đông Á. Có thể họ sẽ miễn cưỡng quyết định hy sinh lợi ích kinh tế của chính mình khi  họ nhìn thấy một con rồng hung dữ to lớn với bộ nanh vuốt đang lao về phía mình. Nếu nhịp độ đủ thấp, Trung Quốc có thể sử dụng thủ đoạn “chia để trị” đối với các quốc gia Đông Á (và với Mỹ) thông qua đàm phán ngoại giao.

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây

GS. Ryo ASANO, Đại học Doshisha, Nhật Bản

Trần Quang (dịch)

Thái Giang (hiệu đính)

Bản gốc tiếng Anh  Security Conditions of East Asia - Rising China and Maritime Security in the South China Sea

 

Mỹ đang phải đối mặt với những trở ngại tại Biển Đông. Washington cần tiến hành các hoạt động hợp tác biển song phương và với các nhóm nước đặc biệt nhằm xây dựng những mạng lưới liên minh khu vực đủ mạnh để giải quyết các vấn đề an ninh và đảm bảo lợi ích của Mỹ.

 

 


Tất cả các quốc gia tiến hành trao đổi và buôn bán hàng hóa bằng đường biển đều chia sẻ một lợi ích chung trong việc đảm bảo tự do hải tại khu vực Biển Đông. Khoảng một phần ba tàu thuyền thương mại của thế giới đi qua tuyến đường biển này, vận chuyển tài nguyên thiên nhiên và các hàng hóa thành phẩm đến người mua trong khắp khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Các nhà xuất nhập khẩu thương mại sẽ phải chịu chi phí nhiên liệu và bảo trì cao hơn nếu bị buộc phải đi đường vòng qua nút giao điểm hàng hải quan trọng này.

Tuy nhiên, bất chấp việc có những lợi ích chung này, Mỹ vẫn phải đối mặt với những trở ngại thực sự trong việc xây dựng một liên minh hàng hải quốc tế tại khu vực. Thách thức được đặt ra ở đây là Mỹ phải đoàn kết các quốc gia tham gia hoạt động trên biển để chống lại các mối đe dọa mà khó có thể được giải quyết một cách triệt để được.[1] Không giống như các mối đe dọa từ  Nhật Bản, Đức và Liên Xô, các thành viên trong liên minh này không phải đối mặt với cái mà học thuyết Tôn Tử gọi là “tử địa” (death ground), trong đó những lợi ích quan trọng hay thậm chí là lợi ích sống còn bị đe dọa. Ngoài ra, Hoa Kỳ cần phải xây dựng một liên minh như vậy trong tình hình kinh tế khó khăn với sự thắt chặt tài chính hơn bao giờ hết. Tình huống này có thể mang lại những hậu quả nhất định. Vị trí lãnh đạo trong các đồng minh cũng như các liên minh gần như thuộc về nước nào có đóng góp nhân lực và vật lực nhiều nhất. Ví dụ, trong Khối Đồng Minh thời chiến tranh thế giới thứ hai, quyền lực được chuyển dịch từ Anh sang Mỹ bởi ngành công nghiệp Mỹ lúc bấy giờ đã bắt đầu sản xuất các nguyên liệu chiến tranh trên số lượng lớn.[2] Sự chuyển giao quyền lực này cũng đúng trong thời đại ngày nay. Washington đang cố gắng để dẫn dắt và lãnh đạo các khối liên minh tại chính thời điểm mà khả năng để làm điều đó của nước này đang suy giảm.

Ngày nay, hợp tác trên biển là cụm từ được lặp lại liên tục trong chính sách của Mỹ đối với các vùng biển có lưu thông hàng hải trên thế giới. Do những cơ quan trên biển - Hải quân Mỹ, Thủy quân lục chiến (USMC) và Cảnh sát biển(USCG) – thấy rõ được rằng việc giảm ngân sách, chi phí đóng tàu tăng cao và tinh giảm cơ cấu lực lượng đang hạn chế các lựa chọn của họ,[3] họ phải tìm kiếm sự giúp đỡ từ các đối tác địa phương để quét sạch các mối đe dọa như khủng bố, cướp biển, phổ biến vũ khí và các hình thức buôn bán bất hợp pháp ra khỏi các tuyến đường biển. Các hạm đội của Mỹ, cho dù vẫn duy trì được sức mạnh lớn nhất trên thế giới, nhưng đang ngày càng trở nên quá nhỏ bé và quá hạn chế để có thể bảo vệ toàn thể cộng đồng hàng hải – “chuỗi liên kết của hệ thống quốc tế”, như đã được miêu tả trong một tuyên bố chính thức –  – chống lại những mối đe dọa tới các tuyến đường biển quan trọng.[4] Biển Đông, nằm ở giao điểm giữa hai đại dương và cho phép các lực lượng quân đội Mỹ dễ dàng di chuyển, phải trở thành tâm điểm trong hợp tác hàng hải quốc tế.

Việc duy trì những lực lượng này ở trong tình trạng tốt là một trong những mục tiêu hàng đầu của các nỗ lực hỗ trợ hàng hải của Mỹ. Chiến lược năm 2007 của Hải quân, Thủy quân lục chiến và Cảnh sát biển của Mỹ có tiêu đề “Chiến lược hợp tác cho Sức mạnh trên biển ở thế kỷ 21” (CS-21) và vẫn còn hiệu lực cho đến thời điểm này. Chiến lược sức mạnh trên biển này nâng cao nhiệm vụ giám hộ đối với hệ thống buôn bán và thương mại trên biển, vấn đề mà Mỹ đã chịu trách nhiệm từ năm 1945, tới mức độ là một nhiệm vụ “cốt lõi” của các đơn vị trên biển. CS-21 xác định Tây Thái Bình Dương và khu vực Ấn Độ Dương/Vịnh Ba Tư là các mối đe dọa trung tâm cho sức mạnh trên biển của Mỹ, bao gồm cả chức năng cảnh sát cũng như chức năng quân sự. Lời mở đầu của CS-21 tuyên bố rằng Hoa Kì sẽ “tham gia với các quốc gia có cùng chí hướng khác bảo vệ và duy trì hệ thống có tính toàn cầu và kết nối lẫn nhau này để nhờ đó các bên có thể phát triển sự thịnh vượng”.[5]

Mục tiêu này của Mỹ gặp phải sự phản đối gay gắt từ phía Trung Quốc, nước đang ngày càng gia tăng sức mạnh chính trị, kinh tế và quân sự. Bắc Kinh coi sự tham gia của Mỹ tại các vùng biển lân cận như là một cái cớ để kiềm chế những tham vọng chính đáng của Trung Quốc. Khả năng ngăn cản các hành động của Mỹ mà Trung Quốc coi là thù địch với các lợi ích của mình đang ngày càng gia tăng cùng với sự ảnh hưởng về ngoại giao. Sự phụ thuộc kinh tế giữa hai cường quốc Thái Bình Dương cho phép Bắc Kinh ràng buộc các hoạt động của Mỹ tại Biển Đông với các mối quan hệ kinh tế tốt đẹp. Trong thực tế, Trung Quốc có thể giữ các mối quan hệ kinh tế xuyên Thái Bình Dương như là con tin để bắt Mỹ phải có thái độ “tốt” tại khu vực Đông Nam Á. Kết quả là, những nhà cầm quyền Mỹ gần đây tỏ ra khiên cưỡng trong việc bác bỏ các ý muốn của Trung Quốc trong những vấn đề mà phía Trung Quốc xem là quan trọng đối với lợi ích quốc gia của họ.

Tuy nhiên, Hoa Kỳ không thể từ bỏ các lợi ích của họ tại Biển Đông. Mặc dù những phản đối của Trung Quốc có thể ngăn cản Mỹ xây dựng một liên minh khu vực đủ mạnh để giải quyết các vấn đề an ninh, thì phía Mỹ vẫn nên tiến hành các hoạt động hỗ trợ hàng hải song phương, thậm chí là hợp tác với các nhóm có mục đích đặc biệt được thành lập bởi những nước có quan tâm. Những hoạt động này sẽ giúp thúc đẩy các lợi ích của Mỹ và đồng thời cũng đặt nền tảng cho hợp tác hàng hải một cách sâu rộng hơn trong thời điểm mà môi trường an ninh trong khu vực đang thay đổi một cách đáng kể.

Chiến lược biển của Mỹ

Duy trì tự do hàng hải không phải chỉ là câu chuyện của lực lượng hải quân. “Hàng hải” (maritime) bao hàm ý nghĩa rộng hơn so với “hải quân” (naval). Giáo sư Geofrey Till của trường Đại học King ở Luân Đôn lý giải điều này một cách rất hợp lí bằng cách kết hợp các nhiệm vụ “giữ trật tự trên biển” trong thời bình với các chức năng chiến đấu truyền thống. Từ đó ông mở rộng và đa dạng hóa các khái niệm về sức mạnh trên biển. Các lực lượng hải quân đóng vai trò nhất định trong cách nhìn của Till, tuy nhiên các lực lượng phi quân sự khác như Cảnh sát Biển, Bộ ngoại giao, các cơ quan thực thi pháp luật, các cơ quan tình báo, hải quan và biên phòng cũng có những vai trò riêng. Ngay cả những công ty tư nhân ví dụ như các công ty vận hành các ga chứa hàng công-ten-nơ cũng đều có những vai trò nhất định.[6] Trên tinh thần này, CS-21 tuyên bố “Trước đây, chưa bao giờ các lực lượng trên biển của Mỹ - Lực lượng Hải quân, Thủy quân lục chiến, và Cảnh sát biển – lại cùng nhau để tạo nên một chiến lược biển thống nhất”.[7] Để rõ ràng hơn, chúng ta nên biết rằng, chiến lược hiện thời – chiến lược của những năm 1980 - chỉ đơn thuần là một chiến lược dành cho lực lượng hải quân với mục đích là để đánh bại Hải quân Liên Xô trong thời kì chiến tranh.[8]

Chiến lược an ninh biển quốc gia (NSMS) năm 2005, văn kiện đến ngày nay vẫn còn hiệu lực, thừa nhận sự cấp bách về việc mở rộng tầm nhìn của chiến lược quốc gia vượt ra ngoài các mục tiêu hàng hải đơn thuần. Bộ Quốc Phòng và Cục An ninh nội địa Mỹ cũng ban hành các chiến lược phối hợp hành động, tái khẳng định rằng an ninh biển liên quan đến nhiều vấn đề hơn so với sức mạnh hải quân. Cảnh sát biển Mỹ hiện nay là cơ quan của Bộ An ninh nội địa, đóng vai trò như cục hải quan và biên phòng Mỹ để từ đó cũng góp phần bảo vệ các vùng biển. Chiến lược an ninh biển quốc gia, do đó có một cái nhìn về các thách thức rộng hơn so với CS-21. Chiến lược này tuyên bố:

An ninh biển có được kết quả tốt nhất khi kết hợp các hoạt động gìn giữ an ninh biển của cộng đồng và cá nhân trên quy mô toàn cầu để từ đó hình thành nên một nỗ lực chung nhằm giải quyết các mối đe dọa hàng hải. Chiến lược an ninh biển quốc gia mới này sắp xếp tất cả các chương trình an ninh biển của các chính phủ liên bang và các sáng kiến thành một nỗ lực quốc gia toàn diện và gắn kết liên quan đến các bang, các tiểu bang, các địa phương, và các khu vực tư nhân có liên quan.[9]

Văn kiện này đưa ra ba nguyên tắc để quản lý những hoạt động trên biển của Mỹ: bảo toàn tự do trên biển, đảm bảo sự liên tục cho vận chuyển hàng hóa và tạo điều kiện thuận lợi cho sự di chuyển hàng hóa và con người qua biên giới của Mỹ đồng thời cũng loại bỏ các cá nhân hoặc các trang thiết bị có thể gây nguy hiểm. Từ những nguyên tắc này, các tác giả  rút ra được bốn mục tiêu chiến lược, trong đó hai mục tiêu đặc biệt phù hợp cho bài viết này: i) ngăn chặn các cuộc tấn công khủng bố đường biển và “tội phạm cũng như các hành động thù địch”; ii) “bảo vệ đại dương và nguồn tài nguyên đại dương”.[10] Quan điểm này phù hợp với cách nhìn về trật tự hợp lí trên biển của Till.

Cả NSMS và CS-21 đều không thừa nhận bất kì ranh giới địa lý nào. Các lợi ích sống còn của Mỹ có thể được hình dung là đang bị đe dọa tại bất kì tuyến lưu thông đường biển nào trên thế giới. Theo nhà lý luận về sức mạnh biển Afred Thayer Mahan, nhà trí thức có công lớn trong việc xây dựng Lực lượng Hải quân Mỹ hiện đại, thì NSMS mô tả các vùng biển và đại dương như một vùng rộng lớn riêng biệt và không thể phân chia.[11]

Nước mặn chiếm hơn hai phần ba diện tích bề mặt của Trái Đất. Các vùng nước này là những vùng đơn lẻ, là các đại đương lớn, và là một vùng hàng hải rộng lớn ảnh hưởng tới cuộc sống ở khắp mọi nơi. Mặc dù các đại dương trên thế giới được phân chia theo địa lý thành 4 khu vực – Đại Tây Dương, Bắc Băng Dương, Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương – có tên gọi khác nhau, thì đây là vẫn những vùng địa lý được xác định lớn nhất trên Trái Đất.[12]

Theo đó, khi xem xét đến khủng bố đường biển, NSMS quy định rằng các lực lượng cần được “đào tạo, trang bị, chuẩn bị để phát hiện, răn đe, ngăn chặn và tiêu diệt các phần tử khủng bố trong phạm vi hàng hải”.[13] Đây được coi như một hướng dẫn về việc tăng cường hoạt động dựa trên địa lý. Tài liệu này, tuy nhiên, thẳng thắn thừa nhận rằng không một quốc gia nào sở hữu đủ nguồn lực cần thiết để có thể một mình giám sát toàn bộ cộng đồng. Cộng đồng chung là quá lớn, những đòi hỏi của cộng đồng là quá nhiều còn nguồn lực để thực hiện những đòi hỏi này thì lại quá ít. Chiến lược cũng cam kết “tăng cường hợp tác quốc tế để đảm bảo việc thực thi đúng pháp luật và kịp thời các hành động để chống lại các mối đe dọa hàng hải”.[14]

Các vùng biển hẹp đặt ra những mối lo ngại đặc biệt. NSMS quan sát thấy rằng “khoảng 1/3 thương mại của thế giới và 1/2 lượng dầu của thế giới được chuyên chở qua eo biển Malacca và Singapore”.[15] Cũng cần lưu ý rằng cánh cổng giao thương giữa Biển Đông và Ấn Độ Dương này là vùng  địa lý duy nhất được đề cập một cách cụ thể ở trong tài liệu. Những tuyến đường giao thông này có thể bị đóng lại bởi các tai nạn hoặc những hành động có chủ ý, như việc phong tỏa quân sự, cướp biển hay tấn công khủng bố. Để loại bỏ những mối đe dọa tới vận chuyển hàng hóa trong những vùng biển quan trọng, tài liệu này cho rằng Bộ Ngoại giao Mỹ nên phối hợp các sáng kiến mà “xây dựng dựa trên các kết quả hiện có, như là Sáng kiến an ninh công-ten-nơ (CSI), Sáng kiến an ninh phòng ngừa vũ khí hủy diệt (PSI), Chương trình hợp tác hải quan – thương mại chống khủng bố” với các hiệp ước, điều ước phù hợp.[16]

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây

James R. Holmes

Quang Tiệp (dịch)

Quang Hưng (hiệu đính)

Bản dịch chương VI: Rough Waters for Coalition Building trong báo cáo: Cooperation from Strenth: The United States, China and the South China Sea của Trung tâm An ninh mới (CNAS) của Mỹ.



[1] Điều này có nghĩa các nước tham gia vào cuộc chiến này sẽ phải cố gắng hết sức mình bởi vì họ không có sự lựa chọn nào khác. Sun Tzu, The Illustrated Art of War, trans. Samuel B. Griffith (Oxford: Oxford University Press, 2005), 209-212.

[2]  Maurice Matloff, “Allied Strategy in Europe, 1939-1945,” in Makers of Modern Strategy, ed. Peter Paret (Princeton: Princeton University Press, 1986), 687- 692

[3]  Sam Fellman, “CNO Warns Deep Cuts Will Hollow Fleet,” Navy Times, November 2, 2011, http://www.navytimes.com/news/2011/11/navy-cno-warns-that-deep-cuts-will-hollow-fleet-110211/.

[4]  U.S. Department of Defense, Quadrennial Defense Review Report (February 2010), 8, http://www.defense.gov/qdr/images/QDR_as_of_12Feb10_1000.pdf.

[5]  U.S. Navy, Marine Corps, and Coast Guard, A Cooperative Strategy for 21st Century Seapower (October 2007), http://www.navy.mil/maritime/Maritimestrategy.pdf.

[6]  Geoffrey Till, Seapower (London: Frank Cass, 2004), 310-350

[7]  U.S. Navy, Marine Corps and Coast Guard, A Cooperative Strategy for 21st Century Seapower.

[8]  Norman Friedman, The U.S. Maritime Strategy (London: Jane’s Information Group, 1988).

[9] White House, The National Strategy for Maritime Security (September 2005), ii, http://www.dhs.gov/xlibrary/assets/HSPD13_MaritimeSecurityStrategy.pdf.

[10] White House, The National Strategy for Maritime Security, iii, 7-8. Hai mục tiêu khác là “bảo vệ các khu dân cư hoặc các cơ sở hạ tầng tại những khu vực có liên quan đến hàng hải” và “giảm thiểu thiệt hại và xúc tiến công cuộc phục hồi”.

[11] Rolf Hobson, Imperialism at Sea: Naval Strategic Thought, the Ideology of Sea Power, and the Tirpitz Plan, 1875-1914 (Boston: Brill, 2002), 173

[12] White House, The National Strategy for Maritime Security, 1. Emphasis added.

[13] Sđd., 9. Đã thêm phần nhấn mạnh.

[14] Sđd., 14-15.

[15] Sđd., 14-15.

[16] Sđd., 14-15.

 

 

Trong bài viết trên Tạp chí “Tri thức thế giới” của Bộ Ngoại giao Trung Quốc, tác giả Chương Địch Vũ cho rằng theo quy luật thông thường thì nước lớn chi phối nước nhỏ nhưng trong vấn đề Biển Đông, nước nhỏ lại chi phối nước lớn, tích cực chủ động, Việt Nam và Philíppin là các nước “nổ phát súng đầu tiên” trong khi Mỹ “trở lại châu Á-Thái Bình Dương”

I- Tranh giành Biển Đông, nước nhỏ chủ đạo nước lớn? 

Tranh chấp Biển Đông khởi nguồn đã lâu nhưng chưa bao giờ gay gắt như hiện nay. Lịch sử chính trị quốc tế thông thường là lịch sử chính trị nước lớn, nhưng hoàn toàn không phải “nước nhỏ” lúc nào cũng đều im tiếng. Người Trung Quốc phát hiện ra rằng khi Trung Quốc trỗi dậy, áp lực quốc tế đột ngột tăng lên, không chỉ có nước lớn đề phòng hơn, mà những phiền phức từ các nước nhỏ xung quanh cũng ngày càng nhiều thêm, hơn nữa áp lực từ hai phương diện nói trên cũng gặp nhau, trong đó điểm gây áp lực ban đầu chính là Biển Đông. Vấn đề đặc biệt rõ ràng là hoàn toàn không chỉ có nước chủ đạo thế giới hiện nay là Mỹ mới tiến hành kiềm chế Trung Quốc, mà các nước nhỏ xung quanh cũng lo sợ trước thực lực Trung Quốc lớn mạnh nên cũng đề phòng, cảnh giác với Trung Quốc. Trong vấn đề Biển Đông, những người “nổ phát súng đầu tiên” chính là Việt Nam và Philíppin. Việt Nam  năm 2010 với vai trò là Chủ tịch luân phiên ASEAN, đã lôi kéo thành công nước Mỹ vào cuộc. Phó viện trưởng Viện nghiên cứu quan hệ quốc tế và sự vụ công cộng thuộc Đại học Phúc Đán, Giáo sư Ngô Tâm Bá cho biết hành vi của các nước này đã phản ánh một cách tập trung tâm trạng lo lắng và bất an của họ khi sức mạnh của Trung Quốc tăng lên, nhất là lo sợ việc Trung Quốc phát triển hải quân và phương hướng phát triển hải quân của Trung Quốc. Ngày 9/6/2011, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố Việt Nam có “chủ quyền không thể tranh cãi” đối với “quần đảo Hoàng Sa” và “quần đảo Trường Sa”, “chúng ta sẽ tiếp tục kiên trì tuyên bố và cho thấy quyết tâm mạnh mẽ nhất của toàn đảng, toàn dân và toàn quân ta bảo vệ vùng biển và các đảo của quốc gia”. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Phương Nga cũng tuyên bố: “Hải quân Việt Nam sẽ áp dụng mọi biện pháp cần thiết, kiên quyết bảo vệ hòa bình, độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam . Ngày hôm sau, Việt Nam lớn tiếng tuyên bố sẽ tổ chức diễn tập bắn đạn thật trong 6 tiếng đồng hồ ở Biển Đông, đồng thời cảnh báo cho tàu thuyền các nước tránh xa vùng biển này. Hãng tin AP của Mỹ bình luận, việc làm nói trên của Việt Nam rõ ràng là nhằm “đáp lại” Trung Quốc. Trong ngày diễn tập bắn đạn thật thứ hai, ông Nguyễn Tấn Dũng ký sắc lệnh về việc tuyển quân. Có báo chí cho rằng đây là lần đầu tiên sau 32 năm xảy ra cuộc chiến phản kích tự vệ của Trung Quốc đối với Việt Nam  Chính phủ Việt Nam ban bố lệnh tuyển quân. Tuy nhiên, Việt Nam hoàn toàn không dừng lại ở đó. Từ cuối tháng 7 cho đến giữa tháng 8, trong vòng chưa đầy một tháng, Việt Nam đã cùng với Mỹ tổ chức hai lần diễn tập quân sự chung. Mặc dù Việt Nam tuyên bố việc làm đó hoàn toàn không nhắm vào Trung Quốc nhưng chỉ cần nhìn qua sẽ thấy trong chiếc hồ lô của Việt Nam cuối cùng sẽ có thứ thuốc gì để bán. 

Cũng trong tháng 6, một vai chính nữa có tranh chấp Biển Đông với Trung Quốc là Philíppin tuyên bố “các tàu của Trung Quốc ngày càng gia tăng hoạt động ở Biển Đông..., đã gây nguy hại cho ổn định khu vực, xâm phạm chủ quyền và quyền quản lý biển của Philíppin, vi phạm “Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông”. Hai tháng trước đó, Philíppin đã trình Liên hợp quốc “thư phản đối đường 9 đoạn” về biên giới Biển Đông của Trung Quốc. Trong tháng 5 Philíppin lại lớn tiếng nói rằng “người Trung Quốc xâm phạm Trường Sa”. Ngày 13/6, cùng ngày với Việt Nam diễn tập bắn đạn thật, Bộ trưởng Quốc phòng Philíppin tuyên bố diễn tập quân sự của Việt Nam là phù hợp với “quyền lợi chủ quyền của Việt Nam”, trong khi người phát ngôn của Tổng thống Philíppin cho biết Philíppin đã đổi tên gọi Biển Đông là “biển Tây Philíppin”. Tiếp theo đó, vào cuối tháng 6, Philíppin cũng diễn tập quân sự chung với Mỹ. Vào đầu tháng 7, Ngoại trưởng Philíppin đi thăm Trung Quốc, đề nghị Trung Quốc đưa vấn đề tranh chấp Biển Đônggiữa hai nước lên Tòa án luật biển quốc tế để giải quyết. Trong nửa năm sau đó, những va chạm giữa Philíppin và Trung Quốc trong vấn đề Biển Đôngdường như không hề dừng lại. Ngày 18/10, ở khu vực gần bãi Lễ Nhạc, một tàu được trang bị pháo của Philíppin đã đâm vào một tàu cá cỡ lớn kéo theo 25 chiếc xuồng nhỏ của Trung Quốc đang trong hành trình. Sự kiện nói trên lập tức lan ra thành đề tài nóng được báo chí quốc tế quan tâm. Mặc dù phía quân đội và ngoại giao Philíppin đều cho biết đây là sự kiện “va chạm nhỏ ngẫu nhiên”, Philíppin đã thông báo và tỏ ý xin lỗi Trung Quốc nhưng đồng thời Philíppin vẫn tiếp tục diễn tập quân sự chung. 

Nhìn bề ngoài, dù là diễn tập quân sự của Việt Nam hay của Philíppin, dường như không có gì khác so với các lần diễn tập quân sự chung với Mỹ trước đây, nhưng về thực chất, những cuộc diễn tập này lại có sự khác biệt lớn nhất ở chỗ các cuộc diễn tập này không phải do Mỹ chủ đạo, mà do các nước này chủ động tổ chức và mời gọi Mỹ, hay nói cách khác, Mỹ đã từ vai trò của bên chủ đạo trước đây trở thành bên tham gia. Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã nói: Nước Mỹ lần đầu tiên từ chỗ là bên khởi xướng trở thành bên tham gia trong vấn đề Biển Đông, hoàn toàn không phải Mỹ yêu cầu các nước đó kiềm chế Trung Quốc, mà tự họ ban đầu đã có phần kiềm chế nhắm vào Trung Quốc. Rõ ràng, sự chuyển biến của hiện tượng nói trên là do thực lực Trung Quốc tăng lên nhanh chóng. Như vậy, một số vấn đề âm ỉ từ lâu nay đã dễ dàng bộc lộ ra, vì các nước xung quanh ngày càng lo sợ người khổng lồ bên cạnh, cuối cùng, trong hệ thống triều cống ở Đông Á do Trung Quốc chủ đạo từ hàng trăm, hàng nghìn năm nay và các nước xung quanh chỉ biết cúi đầu xưng thần. Giữa quốc gia với quốc gia lại luôn vì không hiểu rõ ý đồ của nhau mà nảy sinh mâu thuẫn, đồng thời khả năng quân sự mà nước lớn có được lại trở thành công cụ để nước lớn đó lợi dụng nhằm bành trướng sức mạnh của mình bất cứ lúc nào, vì thế việc các nước nhỏ phải liên kết lại kiềm chế nước lớn đã trở thành cách lựa chọn của nhiều nước trong lịch sử. Chính các nước như Việt Nam và Philíppin ngày nay đang áp dụng kiểu lý luận như vậy trong việc giải thích thực tiễn, vẫn phỏng theo thông lệ lịch sử chứ không nhìn vào tình hình thực tế đã thay đổi. Tại phiên họp lần thứ nhất quốc hội khóa 13 của Việt Nam khai mạc ngày 21/7, Phó Thủ tướng thường trực Việt Nam Nguyễn Sinh Hùng phát biểu Chính phủ Việt Nam sẽ “áp dụng biện pháp bảo vệ chủ quyền quốc gia, bảo vệ các hoạt động của ngư dân, các hoạt động kinh tế, thương mại cũng như hoạt động khai thác và sử dụng dầu khí trong vùng biển thuộc chủ quyền của mình”.

Trong khi đó các cuộc biểu tình chống Trung Quốc ở Việt Nam cũng đồng thời diễn ra nóng bỏng liên tục. Báo chí phương Tây đã nói: Tại Việt Nam nếu không được nhà nước cho phép, những cuộc biểu tình như vậy về cơ bản là điều không thể tưởng tượng được. Thái độ của chính phủ và biểu tình của dân chúng cũng đủ nói lên rằng trước sự lớn mạnh của Trung Quốc, Việt Nam đã cảm thấy áp lực, đặc biệt lại càng cần có được cảm giác an toàn hơn so với trước đây khi Trung Quốc còn chưa có được thực lực như hiện nay. Vì thế, Việt Nam cần có “bạn” để tăng thêm cảm giác an toàn. Vậy là Việt Nam không chỉ diễn tập quân sự chung với Mỹ mà đồng thời còn mời cả Hải quân Ấn Độ - tàu đổ bộ xe tăng “INS Airavat” của Ấn Độ hồi cuối tháng 7 đã cập cảng Nha Trang thực hiện chuyến thăm Việt Nam. Ngày 12/10 tại Niu Đêli, Thủ tướng Ấn Độ M. Singh đã hội đàm với Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang đang ở thăm Ấn Độ, hai bên đã ký hiệp định về khai thác dầu thô ở Biển Đông. Có dư luận nói rằng Việt Nam thông qua nguồn dầu khí ở 29 đảo bãi đã chiếm được ở Biển Đông nên đã thu được lợi nhuận hơn 20 tỉ USD. Rõ ràng Việt Nam sẽ không khoanh tay nhượng bộ về nguồn lợi nhuận này mà càng tiến thêm một bước nói rằng những lợi ích này cũng lại trở thành một lý do nữa để họ phải kiềm chế Trung Quốc. Việt Nam thậm chí không hề e dè, tránh né khó khăn về mặt thời gian và lịch trình như đã sắp đặt sẵn để thực hiện: Chủ tịch nước Việt Nam đi thăm Ấn Độ đồng thời với Tổng bí thư Việt Nam đi thăm Trung Quốc, ký thỏa thuận giải quyết tranh chấp lãnh thổ trên biển Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc vào ngày 11/10. Việt Nam hợp tác với Ấn Độ, trong khi Philíppin cấu kết với Nhật Bản.

Ngày 9/9, chính phủ hai nước Nhật Bản và Philíppin lần đầu tiên đã tổ chức thảo luận, bàn bạc cấp vụ phó về vấn đề an ninh biển ở khu vực châu Á, trong đó một chủ đề quan trọng là đối phó thế nào với chủ trương của Trung Quốc về chủ quyền ở Đông Hải (Biển Hoa Đông) và Biển Đông. Hai nước quyết định sẽ tổ chức thảo luận định kỳ, phối hợp hành động, thúc đẩy hợp tác và đảm bảo tự do và an ninh hàng hải cho tàu thuyền của Nhật Bản ở Đông Hải và Biển Đông. Nhật Bản còn đồng ý chi tiền huấn luyện cho lực lượng cảnh sát bảo vệ bờ biển của Philíppin. Ngày 26/9, Tổng thống Philíppin Aquino 3 đi thăm Nhật Bản, hai bên đã thảo luận vấn đề tự do và an ninh hàng hải ở Biển Đông. Rõ ràng là do có bất đồng với Trung Quốc trong vấn đề Đông Hải nên Nhật Bản đã ủng hộ Philíppin trong vấn đề Biển Đông. Tuy nhiên, đối với Nhật Bản, dù không có vấn đề về lãnh thổ nhưng đã đề cập đến vấn đề biên giới lợi ích quan trọng của họ. Một quốc gia lớn mạnh lại giàu có, biên giới lợi ích mà họ cần bảo vệ lại càng rộng. Bản thân diện tích lãnh thổ của Nhật Bản quá nhỏ, cần nhiều tài nguyên cũng đòi hỏi phải nhập từ bên ngoài nên an toàn vận chuyển tài nguyên đã trở thành việc cần quan tâm nhất đối với Nhật Bản. Vì thế có thể nói Eo biển Malắcca và tuyến đường vận tải biển ở Biển Đông là liên quan đến lợi ích của Nhật Bản. Đồng thời Nhật Bản luôn có ý thức đấu tranh tế nhị với thực lực và ý đồ của Trung Quốc sau khi trỗi dậy. Xét từ góc độ này thì Nhật Bản sẽ không hề do dự can thiệp tình hình tranh chấp Biển Đông, và đã ủng hộ các nước có tranh chấp với Trung Quốc như Philíppin và Việt Nam . 

II- Vì sao họ đều có tính hai mặt? 

Tranh chấp ở Biển Đông cũng đã chứng kiến rất nhiều hành vi tự mâu thuẫn nhau ở các nước đương sự. Ví dụ, Việt Nam tuy lời nói và việc làm không dè dặt nhưng cũng còn nhiều mặt khác: Ngày 27/6, Việt Nam cho biết sẵn sàng giải quyết hòa bình tranh chấp với Trung Quốc ở Biển Đông. Ngày 3/8, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam cho biết hai nước Trung-Việt sẽ thông qua đàm phán và hiệp thương hữu nghị giải quyết hòa bình tranh chấp trên biển giữa hai nước. Ngày 11/10, hai nước đã ký Thỏa thuận về hiệp thương giải quyết tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông. Những biểu hiện như trên được xem như hành vi mâu thuẫn trong chủ trương chính của họ, điều không hiếm gặp với chỉ riêng nước nào. Mặc dù Trung Quốc và Việt Nam ký kết Thỏa hiệp giải quyết hòa bình vấn đề Biển Đông, nhưng Tổng thống Philíppin Aquino liền kháng nghị, cho biết tranh chấp lãnh thổ ở khu vực này liên quan đến nhiều nước, cần thông qua hiệp thương đa phương để giải quyết trong khuôn khổ ASEAN, Thỏa thuận song phương giữa Trung Quốc và Việt Nam không “giải quyết toàn diện vấn đề tranh chấp”. Tuy nhiên, trong chuyến thăm Trung Quốc hồi cuối tháng 8 chính ông này cũng hoàn toàn nhận lời, cam kết vấn đề Biển Đông liên quan giữa Trung Quốc và Philíppin cần thông qua hiệp thương để giải quyết chứ không thể dùng vũ lực. Tuy vậy trong chuyến thăm Trung Quốc lần này, Aquino 3 còn đem về nhiều hợp đồng thương mại lớn, hy vọng thông qua mở rộng quan hệ kinh tế thương mại để làm gia tăng lợi ích thực tế. Rõ ràng, giữa Việt Nam và Philíppin không chỉ đặt trọng tâm vào việc quốc tế hóa vấn đề Biển Đôngđể tìm kiếm sự bảo hộ lợi ích của mình, mà hai nước này cũng không muốn chọc giận Trung Quốc đến cùng. Năm 1987, Tổng thống Philíppin bà Aquino đi thăm Trung Quốc, khi bàn đến vấn đề Biển Đông với Đặng Tiểu Bình, bà Aquino nói: “Ít nhất về mặt địa lý, các đảo này gần Philíppin hơn”. Đặng Tiểu Bình mỉm cười, đáp: “Về mặt địa lý, Philíppin cũng rất gần Trung Quốc”. Vì thế, sự thực về địa chính trị làm cho Philíppin và Việt Nam không dám hoàn toàn quyết liệt với Trung Quốc, vì như thế không chỉ làm cho họ mất đi lợi ích kinh tế không thể lường trước, mà về khả năng quân sự khoảng cách giữa hai nước này với Trung Quốc cũng cách nhau một trời một vực. Vì vậy, đó vừa là nguyên nhân căn bản khiến hai nước này kiềm chế Trung Quốc, vừa là nguyên nhân thực tế khiến các nước này chỉ có thể là “cáo mượn oai hùm”. 

Trên thực tế, những nước chủ động tỏ ra thân thiện với Trung Quốc không chỉ có Philíppin và Việt Nam. Tại Hội nghị cấp cao Đông Á họp ở Bali của Inđônêxia mới đây, sau khi nghe nói Mỹ và Ôxtrâylia diễn tập quân sự liên hợp, chủ tịch luân phiên ASEAN là Inđônêxia đã tuyên bố hy vọng diễn tập quân sự nói trên sẽ mời Trung Quốc và tất cả các nước Đông Nam Á cùng tham gia. Brunây cũng đã ký thỏa thuận với Trung Quốc về hợp tác dầu khí ngoài khơi. Thậm chí cả Ấn Độ gần đây cũng đề nghị ba nước Trung Quốc-Mỹ-Ấn Độ tổ chức hội nghị hiệp thương giải quyết tranh chấp Biển Đông. Nói cho cùng thì mỗi nước đều có cách tính toán riêng của mình. Các nước Philíppin và Việt Nam vừa muốn được lợi kinh tế từ Trung Quốc, lại vừa hy vọng thông qua liên kết với Mỹ, Ấn Độ và Nhật Bản để kiềm chế Trung Quốc, đề phòng Trung Quốc chủ đạo tình hình Biển Đông, từ đó gia tăng cảm giác an toàn của mình. Nhưng đồng thời cũng sợ đi quá xa, vừa làm cho Trung Quốc tức giận, lại vừa “rước sói vào nhà”, cuối cùng khiến Biển Đông một lần nữa trở thành vũ đài để các nước lớn đấu nhau, còn những nước nhỏ như họ sẽ làm vật hy sinh. Chính mâu thuẫn tâm lý như vậy là nguyên nhân thực sự khiến cho hành vi của họ xem ra mâu thuẫn nhau. Tuy nhiên, không phải cách suy nghĩ của tất cả các nước Đông Nam Á đều chỉ như thế. Inđônêxia là nước Hồi giáo lớn nhất thế giới, cũng coi là nước lớn ở khu vực Đông Nam Á. Sở dĩ Inđônêxia muốn Trung Quốc và các nước Đông Nam Á đều có thể tham gia diễn tập quân sự hỗn hợp Mỹ-Ôxtrâylia vì đó cũng là dịp để nước này thể hiện địa vị của mình, hy vọng có được quyền phát ngôn lớn nhất ở khu vực Đông Nam Á. Về phương diện này Philíppin có biểu hiện hết sức rõ rệt, thông qua hội nghị về vấn đề Biển Đôngdo Philíppin tự tổ chức, hy vọng có thể chủ đạo việc giải quyết tình hình Biển Đông, đồng thời đưa ra dự thảo nghị quyết về vấn đề Biển Đông tại Hội nghị cấp cao ASEAN. Qua đó có thể thấy được tính hai mặt của các nước này. Sự việc bề ngoài xem ra “cần phải” như vậy thì trên thực tế lại luôn chưa ra hàng ra lối, đó là khó khăn trong hành động tập thể. Ý muốn liên kết kiềm chế Trung Quốc sẽ bị ảnh hưởng bởi sự khác nhau về lợi ích giữa các nước. Xây dựng liên minh là bởi có kẻ thù chung, biện pháp an ninh tập thể được cho là có khả năng bảo vệ sự tồn tại của chính mình được tốt hơn, nhưng trên thực tế lợi ích của mỗi quốc gia với quốc gia khác trong cùng liên minh lại chưa bao giờ thống nhất với nhau, kể cả áp lực an ninh mà mỗi nước phải đối mặt cũng không hoàn toàn giống nhau. 

Ví dụ, Việt Nam giáp giới với Trung Quốc, lại có không biết bao nhiêu mối liên hệ khác trong lịch sử, tiếp nữa là cuộc chiến tranh giữa Trung Quốc và Việt Nam, tất cả đều có ảnh hưởng rất lớn đối với Việt Nam. Vì thế áp lực mà Việt Nam cảm nhận trong nội tâm phải lớn hơn các nước khác. Cũng như vậy, do bóng đen của chiến tranh, trong phản ứng của Việt Nam với nước Mỹ cũng tự nhiên có theo bao nhiêu mối lo. Đồng thời trong vấn đề Biển Đông, Việt Nam đã chiếm được 29 đảo bãi, đó vừa là quốc gia được lợi lớn nhất, cũng vừa là quốc gia có bất đồng lớn nhất với Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông. Một thời kỳ gần đây tình hình kinh tế Việt Nam xấu đi nhiều, xét trong ngắn hạn sẽ vẫn còn xấu đi. Trong khi đó dầu thô đã trở thành mặt hàng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam , phát triển dầu khí là trụ cột quan trọng của nền kinh tế Việt Nam. Trong tổng số lượng dầu xuất khẩu hàng năm của Việt Nam có 27% là từ khu vực đang có tranh chấp ở Biển Đông. Đối với Inđônêxia, tranh chấp với Trung Quốc trong lịch sử ít, vị trí cách Trung Quốc cũng xa, liên lụy với Trung Quốc trong vấn đề Biển Đôngcũng không nhiều nên áp lực cảm nhận về thực tế Trung Quốc trỗi dậy và bất đồng với Trung Quốc trong vấn đề Biển Đôngđều nhỏ, hiển nhiên phương thức hành động của Inđônêxia và Việt Nam có phần khác nhau. Sự thực cũng đã kiểm nghiệm cách lập luận này, Việt Nam tích cực liên kết với nước khác kiềm chế cân bằng Trung Quốc, trong khi Inđônêxia chỉ phụ họa đi theo. Giữa các nước không nhất định cứ vì đe dọa lợi ích chung mới hợp tác, hơn nữa không nhất thiết cứ phải hợp tác để tranh thủ lợi ích chung. Trong một thế giới “hỗn mang”, người bạn hôm nay có thể trở thành kẻ thù vào ngày mai, vấn đề mà quốc gia quan tâm hơn là lợi ích tương đối chứ không phải tuyệt đối, nếu một nước cho rằng nước khác có thể có được nhiều lợi ích hơn thì rất có khả năng sẽ từ bỏ hợp tác. Đó chính là nguyên nhân giải thích vì sao chính sách đối ngoại của những nước này lại có tính hai mặt. 

III- Ai có thể kiềm chế, cân bằng Trung Quốc ở Biển Đông? 

Cách nghĩ của các nước Đông Nam Á trong vấn đề Biển Đông kỳ thực là gặp nhau trong việc mở rộng thành viên của ASEAN, đều không muốn bị chính trị nước lớn chôn vùi. Bộ trưởng cao cấp Xinhgapo Lý Quang Diệu đã nói Trung Quốc và Mỹ xảy ra xung đột, đó là việc mà các nước Đông Nam Á lo lắng nhất. Các nước này không muốn gặp cảnh buộc phải lựa chọn hoặc nước này hoặc nước kia. Vì thế, trong khi Việt Nam và Philíppin lôi kéo Mỹ, Nhật Bản và Ấn Độ thì đồng thời, Philíppin gần đây lại cũng lôi kéo Liên minh châu Âu vào vấn đề Biển Đông. Các nước này muốn các nước lớn đó kiềm chế lẫn nhau, lo ngại cục diện chỉ một nước lớn độc chiếm làm chủ tất cả. Nhưng các nước này đã bỏ qua một vấn đề căn bản nhất, đó là nước nhỏ dù có “đục nước béo cò” đến đâu thì việc đảm bảo cơ bản đối với họ vẫn phải dựa vào nước lớn để thực hiện. Nói cách khác, họ tuy có ý đồ “tránh sói” thế nào ở cửa trước cũng không tránh được phải “rước hổ” từ phía cửa sau. Hành động hiện nay của họ rất có thể dẫn đến hậu quả như vậy, cho dù bản thân họ cũng có phần cảnh giác. Xét tình hình trước mắt thì các nước lớn xen vào vấn đề Biển Đông có Nhật Bản, Ấn Độ và Mỹ. Nhật Bản coi Eo biển Malắcca là tuyến đường biển huyết mạch, nhưng Nhật Bản không có đòi hỏi lãnh thổ ở Biển Đông nên bản thân lý do Nhật Bản nhảy vào Biển Đông là rất khiên cưỡng, lộ liễu. Không lâu sau khi Nhật Bản thành lập nội các mới nhiệm kỳ hiện nay, Ngoại trưởng Nhật Koichiro Gemba ngày 11/10 đã bắt đầu thực hiện chuyến thăm Đông Nam Á 5 ngày, trong đó vấn đề quan tâm nhất là thảo luận bàn bạc thống nhất và hiệp thương với Inđônêxia và các nước các nước Đông Nam Á khác về “vấn đề đảm bảo an ninh biển”. Báo chí Nhật Bản đưa tin Chính phủ Nhật Bản đang có kế hoạch cùng với Việt Nam và Philíppin thành lập một cơ quan phối hợp về vấn đề chủ quyền và đảm bảo an ninh hàng hải ở Biển Đông.

Giữa tháng 11, Thủ tướng Nhật Bản Noda đã tham gia loạt hội nghị cấp cao các nhà lãnh đạo Đông Á, đề xuất ý tưởng về một “hành lang kinh tế biển ASEAN”, hy vọng đạt được nhận thức chung cùng thành lập hành lang nói trên với các nước Đông Nam Á. Trên thực tế “Hành lang kinh tế” nói trên là “hành lang kinh tế vòng quanh Biển Đông”, cho thấy rõ lập trường của Nhật Bản can thiệp toàn diện vào vấn đề Biển Đông để đảm bảo chắc chắn quyền và lợi ích của Nhật Bản trong vùng biển Biển Đôngcũng như giao thông hàng hải của Nhật Bản ở vùng biển này. Giáo sư Ngô Tâm Bá cho rằng Nhật Bản can thiệp Biển Đông trước hết là phối hợp với Mỹ. Mỹ khi có ưu thế, nói chung đều tự can thiệp vào khu vực có vấn đề, khi thế của họ yếu đi thì kích động các bên khác kiềm chế. Vì thế trong vấn đề Biển Đông, Mỹ đặc biệt cổ vũ Nhật Bản và Ấn Độ kiềm chế Trung Quốc. Sau nữa, để có được lợi thế trong tranh chấp ở biển Hoa Đông, Nhật Bản rõ ràng kiềm chế Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông, khiến Trung Quốc phải phân tán lực lượng. Cuối cùng, một bộ phận người Nhật Bản cho rằng Trung Quốc về mặt chiến lược ngày càng coi thường Nhật Bản nên biểu hiện của Nhật Bản ở Đông Nam Á cũng đáp lại Trung Quốc bằng cách nhìn nhận như vậy. Tuy nhiên, một số nước như Philíppin tích cực lôi kéo Nhật Bản can thiệp vấn đề Biển Đông nhưng không phải tất cả các nước ASEAN đều tán thành cách làm như vậy. Ngay từ tháng 1, Ngoại trưởng Inđônêxia đã thể hiện sự lo lắng đối với việc Nhật Bản can thiệp Biển Đông. Trong tháng 6 và tháng 11, Inđônêxia lại cho biết vấn đề Biển Đông cần phải do các nước đương sự giải quyết với nhau. Inđônêxia không chỉ xem xét vấn đề từ phương diện lịch sử của Nhật Bản mà cũng không muốn nước lớn khác can thiệp quá nhiều vào vấn đề Biển Đông. Từ đó có thể thấy Nhật Bản dù có ý định can thiệp vấn đề Biển Đôngđể kiềm chế Trung Quốc nhưng “không ở địa vị sẽ khó mưu việc chính sự”.

Nhật Bản có rất nhiều cách nghĩ trong vấn đề Biển Đông nhưng rất khó áp dụng được trong thực tiễn. Đồng thời xét những hạn chế trong hiến pháp Nhật Bản cũng như kinh tế Nhật Bản nhiều năm nay suy yếu, lại gặp nhiều rủi ro không lường trước, cộng thêm điều kiện địa lý làm hạn chế khả năng của bản thân Nhật Bản thì ảnh hưởng của Nhật Bản đối với vấn đề Biển Đông là không nhiều. Ấn Độ là nước hết sức hăng hái trong năm nay, từ báo chí đến chính phủ lúc nào cũng chĩa mũi dùi vào Trung Quốc, thường xuyên tỏ rõ địa vị nước lớn của mình trong các nước láng giềng của Trung Quốc. Tuy nhiên, cuối cùng khu vực lợi ích trung tâm của Ấn Độ không phải nằm ở Biển Đông. Một loạt tài liệu của Ấn Độ đều xác định khu vực lợi ích trung tâm của Ấn Độ là ở vùng biển Ấn Độ Dương. Đối với mục tiêu kiềm chế Trung Quốc, mặc dù Ấn Độ hài lòng với việc mình làm, một mặt có thể hạn chế Trung Quốc mở rộng ảnh hưởng khi tham gia các công việc ở Nam Á, đặc biệt coi đó là biện pháp để đáp lại quan hệ đặc biệt giữa Trung Quốc và Pakixtan, mặt khác có thể có được một số lợi ích kinh tế, ví dụ như hợp tác phát triển dầu khí với Việt Nam ở Biển Đông. Nhưng nếu có hành động trong vấn đề Biển Đông thì Ấn Độ phải xem xét đến giá phải trả về trách nhiệm kiềm chế Trung Quốc trỗi dậy, càng chưa nói đến lĩnh vực này không hề có vai trò quan trọng đối với Ấn Độ. Thêm nữa là đặc tính truyền thống về tôn giáo và văn hóa của Ấn Độ, rất khó nói được rằng Ấn Độ có điều kiện cơ bản để kiềm chế Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông. Vì thế, có thể thấy được rằng trong vấn đề Biển Đông, các nước Đông Nam Á, Ấn Độ và Nhật Bản đều không thể trở thành bên kiềm chế Trung Quốc hữu hiệu, nên lần này Mỹ đã quyết tâm phải tự mình ra tay. Trong khi bà Clinton lại lớn tiếng tuyên bố “trở lại châu Á”, hành động của Mỹ một lần nữa cũng đồng thời nhắm đúng vào khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

IV- Mỹ ra tay, phải để Trung Quốc tin được Mỹ có khả năng sử dụng vũ lực 

“Tay cân bằng xa bờ”, đó là cách miêu tả về vai trò của nước Anh khi đứng trước những đối thủ cạnh tranh có thể xuất hiện ở lục địa châu Âu lúc ban đầu: Dựa vào đặc điểm cách biệt của vùng nước, thúc đẩy các nước châu Âu khác đối kháng với nước trỗi dậy, duy trì thế cân bằng ở châu Âu, đề phòng xuất hiện kẻ thách thức lớn mạnh, còn mình thì thờ ơ như kẻ ngoài cuộc để hưởng lợi. “Tay cân bằng xa bờ” chỉ có một nguyên tắc là tránh cho một khu vực nào đó xuất hiện một nước bá quyền, còn nước chủ đạo hiện hữu đầu tiên là trút bỏ trách nhiệm, sau đó đứng về bên của nước chống lại nước trỗi dậy để loại bỏ mầm họa. Sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai, Mỹ triệt để tiếp nhận chiếc gậy quyền lực của nước Anh, bắt đầu đóng vai trò của “tay cân bằng xa bờ” trong phạm vi thế giới: Thi hành “Kế hoạch Marshall” ở châu Âu, hy vọng châu Âu có thể tự đảm nhận trách nhiệm cân bằng với Liên Xô; Ở châu Á, Mỹ một thời muốn lợi dụng Trung Quốc thời chính phủ Quốc dân đảng để kiềm chế, cân bằng Liên Xô, sau đó Tưởng Giới Thạch bị lật đổ, Mỹ mới bắt đầu coi trọng địa vị của Nhật Bản, đồng thời không tiếc sức đóng quân tại nhiều địa điểm ở châu Á-Thái Bình Dương. Vì nguồn lực chiến lược của Nhật Bản rất có hạn nên Mỹ không thể thoái thác trách nhiệm, đành phải tự mình đứng ra cân bằng. Nước bá quyền và nước trỗi dậy tranh giành thiên hạ đã xuyên suốt lịch sử thế giới. Trong khi thực lực tương đối của Trung Quốc và Mỹ có sự thay đổi nhất định, Mỹ phải kiềm chế Trung Quốc để giữ địa vị chủ đạo của mình. Như đã nói trên, hiện nay ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương chưa có được nước cân bằng thích hợp, Mỹ cần phải tạo nên một “cây cầu lớn” như vậy. Từ lâu nay Mỹ đã duy trì trạng thái đóng quân với số lượng lớn ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Các liên minh quân sự Mỹ-Nhật Bản, Mỹ-Hàn Quốc, Mỹ-Philíppin, Mỹ-Ôxtrâylia đã đe dọa Liên Xô (Nga) và Trung Quốc. Người Mỹ tự cho mình là người bảo vệ hòa bình thế giới, nhưng sự thực là việc Mỹ đóng quân luôn trở thành người bảo vệ cho lợi ích của Mỹ ở khu vực, bất luận biện pháp bảo vệ là đe dọa hay là sử dụng vũ lực.

Lần này Mỹ tuyên bố đóng quân lâu dài ở Ôxtrâylia, số quân sẽ tăng lên đến 2.500 người trong vòng 5 năm, tàu sân bay chạy bằng động cơ hạt nhân của Mỹ cũng sẽ tuần tiễu ở vùng biển thuộc Ôxtrâylia, hơn nữa Mỹ gần đây đã đề xuất chiến lược mới về “nhất thể hóa không quân và hải quân”. Quan chức Bộ Quốc phòng Mỹ khi giới thiệu chiến lược nói trên tuy không nhắc đến tên “Trung Quốc” nhưng có quan chức cao cấp nói: “Xét đến vũ khí mang tính tấn công kiểu mới của Trung Quốc có thể tạo nên mối đe dọa đối với tự do hàng hải ở Biển Đông và Hoàng Hải nên Bộ mới định ra chiến lược nói trên”. Còn có quan chức quân sự cấp cao Mỹ nói: “Chiến lược này đánh dấu một bước chuyển ngoặt lớn của nước Mỹ đối với xu hướng quân sự của Trung Quốc đang chuyển sang phong cách chiến tranh lạnh của phương Đông đối với phương Tây”. Có nhà lý luận cho rằng Mỹ đóng quân ở Ôxtrâylia là chuyển dịch từ Okinawa, theo vị trí đối thẳng với Trung Quốc thì đó là cách xa chứ không phải đến gần, hơn nữa máy bay chiến đấu F16C/D mà Mỹ bán cho Inđônêxia cũng không nhiều, xét về căn bản thì không đáng để Trung Quốc phải ngạc nhiên. Quan điểm này đã lẫn lộn về điều kiện đe dọa. Đe dọa có được thành công phải có hai điều kiện, một là bên đe dọa có thực lực, hai là bên bị đe dọa tin là bên đe dọa có thể sử dụng vũ lực. Thực lực của nước Mỹ không nói ai cũng biết, nhưng trước khi Mỹ bố trí quân sự cụ thể theo cách gọi “trở lại châu Á-Thái Bình Dương” mới đây thì Trung Quốc có thể không cảm nhận được áp lực mạnh như thế. Nói ngắn gọn thì Mỹ đang thỏa mãn điều kiện thứ hai trong hai điều kiện đe dọa, nghĩa là Mỹ phải làm cho Trung Quốc tin chắc rằng Mỹ có thể sử dụng vũ lực. Giáo sư Ngô Tâm Bá cho biết Mỹ trở lại châu Á-Thái Bình Dương, bề ngoài xem như quan tâm sâu sắc hơn đến khu vực Đông Nam Á nhưng thực tế là hành vi kiềm chế Trung Quốc trỗi dậy. 

Ngoài lĩnh vực quân sự, Mỹ còn có hành động trong các lĩnh vực ngoại giao và kinh tế. Từ lâu nay Mianma trên tổng thể luôn ủng hộ Trung Quốc. Gần đây Ngoại trưởng Mỹ H. Clinton đi thăm Mianma, đó là chuyến thăm Mianma đầu tiên của chính khách quan trọng Mỹ từ hơn 50 năm qua. Rất rõ ràng, Mỹ ủng hộ lãnh tụ phe đối lập Aung San Suu Kyi tham gia bầu cử, trên danh nghĩa là thúc đẩy tiến trình dân chủ ở Mianma nhưng trên thực tế còn giành giật đồng minh với Trung Quốc. Điều rõ ràng hơn nữa là phía sau việc Mỹ thúc đẩy tiến trình dân chủ là vực dậy chính quyền thân Mỹ và làm cho chính quyền này có tác dụng đối với Mỹ. Điều đặc biệt quan trọng là Mianma sẽ trở thành nước Chủ tịch luân phiên ASEAN vào năm 2014, ảnh hưởng của Mianma sẽ không ngừng mở rộng, không thể nói Mỹ không có tính toán gì về phương diện này. Ngày 10/11/2011, trước khi diễn ra Hội nghị không chính thức các nhà lãnh đạo của Tổ chức hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương lần thứ 19, H. Clinton tuyên bố khu vực châu Á-Thái Bình Dương sẽ là trọng tâm chiến lược ngoại giao của Mỹ tới đây, thế kỷ 21 sẽ là thế kỷ Thái Bình Dương của nước Mỹ. Tại hội nghị, Obama đã thúc đẩy “Hiệp định quan hệ đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương” (TPP) do Mỹ chủ đạo, trở thành một bộ phận quan trọng về phương diện kinh tế trong chiến lược trở lại châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ. Rõ ràng, Mỹ muốn thông qua hiệp định này để ngăn chặn châu Á hình thành một tập đoàn thương mại thống nhất, đồng thời can thiệp toàn diện vào tiến trình nhất thể hóa khu vực Đông Á, đảm bảo chắc chắn lợi ích địa chính trị, kinh tế và an ninh, cuối cùng là tạo dựng lại và chủ đạo tiến trình củng cố kinh tế khu vực châu Á-Thái Bình Dương, làm tiêu tan ảnh hưởng của Trung Quốc ở khu vực này. 

Có nhà lý luận đã chỉ ra rằng cụm từ Mỹ “trở lại châu Á-Thái Bình Dương” là không chuẩn xác, vì Mỹ từ trước đến nay chưa bao giờ rời khỏi châu Á. Đúng như thế nhưng trọng tâm chiến lược của Mỹ từ khi kết thúc Chiến tranh Lạnh đến nay chưa bao giờ ngả về châu Á-Thái Bình Dương như vậy, lại càng chưa bao giờ coi trọng Biển Đông đến vậy. Sự thực cơ bản ở đây là dù các nước Đông Nam Á có ý đồ kiềm chế, cân bằng Trung Quốc như thế nào cũng đều không có thực lực. Vì thế, dù một số nước có lo ngại và bài trừ việc Mỹ hoàn toàn chủ đạo Biển Đông, các nước này cũng vẫn phải lựa chọn theo cách hợp tác với Mỹ. Thực tế cho thấy diễn tập quân sự của Việt Nam, Philíppin, Ấn Độ, Ôxtrâylia đều không thiếu sự tham gia của Mỹ. Hành vi của các nước Đông Nam Á, ở mức độ rất lớn dù là ý muốn của chính họ nhưng các nước này vẫn cần thực lực của Mỹ để làm cơ sở, cần Mỹ lớn tiếng nói về chính sách “trở lại châu Á-Thái Bình Dương” để làm bối cảnh. Thực chất việc Mỹ trở lại châu Á-Thái Bình Dương chính là thông qua liên kết với nước láng giềng của Trung Quốc để kiềm chế Trung Quốc, làm giảm nhẹ áp lực của bản thân và cuối cùng duy trì địa vị chủ đạo, cũng là chiến lược “tay cân bằng xa bờ” mà Mỹ đang sử dụng. Trương Hạo, Chủ nhiệm Phòng ngoại giao an ninh, Ban châu Á-Thái Bình Dương thuộc Viện khoa học xã hội Trung Quốc cho biết nói đến việc Philíppin và Việt Nam có lập trường cứng rắn trong vấn đề Biển Đông, ngoài yêu cầu chính trị và nhu cầu lợi ích kinh tế ở trong nước thì đó là tâm lý lo sợ do chênh lệch về thực lực của quốc gia so với sức mạnh quốc gia tổng hợp của Trung Quốc đang tăng lên. Do bị hạn chế bởi quy mô và tốc độ phát triển kinh tế trong nước, Việt Nam và Philíppin chỉ dựa vào thực lực bản thân, rõ ràng không thể kiềm chế được Trung Quốc nên hai nước vừa phải tăng cường xây dựng quân bị của mình, lại vừa phải tăng cường hợp tác với Mỹ, trở thành biện pháp hữu hiệu kiềm chế Trung Quốc của họ. Việc Mỹ lớn tiếng trở lại đã được Philíppin và Việt Nam hoan nghênh, hy vọng lợi dụng mâu thuẫn Trung- Mỹ để được lợi. 

Mặt khác, nguyên nhân căn bản của việc Mỹ “trở lại châu Á-Thái Bình Dương” là sự thay đổi thực lực tương đối giữa Trung Quốc và Mỹ. Diêm Học Thông, Giám đốc Học viện Quan hệ quốc tế đương đại thuộc Đại học Thanh Hoa nói hiện nay khoảng cách giữa Mỹ với tất cả các nước ngoài Trung Quốc đều đang giãn rộng ra, khoảng cách giữa Trung Quốc với tất cả các nước ngoài Mỹ cũng đang giãn rộng ra, đồng thời khoảng cách giữa Mỹ và Trung Quốc lại đang thu hẹp lại. Như vậy cũng là nói cục diện thế giới phát triển rất có thể là một xu thế hai cực, vì thế khi thực lực của bản thân nước Mỹ ở mức độ nào đó giảm đi thì hơn lúc nào hết Mỹ phải thể hiện thực lực của mình. Diêm Học Thông cho rằng sở dĩ Mỹ có được địa vị chủ đạo trong thế giới hiện nay vì ngoài thực lực của bản thân, còn có danh tiếng đang phát huy vai trò của Mỹ. Cũng có thể nói khi người khác đều tin tưởng rằng Mỹ có thực lực tương đối mạnh thì, dù thực lực có giảm đi Mỹ vẫn là nước chủ đạo, nhưng khi nước Mỹ thể hiện ra dấu hiệu suy thoái nào đó, dần dần nước khác sẽ nghi ngờ, cuối cùng Mỹ “đi cũng dở, ở không xong”. Đó chính là việc Mỹ đưa tàu sân bay đến khu vực Trung Đông, đối đầu với Xyri và Iran được Nga đứng phía sau, đồng thời tuyên bố tại châu Á thế kỷ 21 sẽ là thế kỷ Thái Bình Dương của Mỹ, chắc chắn đã thể hiện rõ nguyên nhân kiềm chế Trung Quốc trỗi dậy. Tuy nhiên, như Ngô Tâm Bá đã nói, biện pháp để Mỹ giữ địa vị bá quyền ở khu vực Đông Á thậm chí trên thế giới không hoàn toàn là cân bằng xa bờ, vì Mỹ trước sau chưa bao giờ thực sự “xa bờ”, ví dụ như Mỹ đã duy trì đóng đến 100 nghìn quân ở khu vực Đông Á. Theo Ngô Tâm Bá, phải nói là Mỹ “tham gia cân bằng” hoặc “tiếp xúc cân bằng” sẽ đúng hơn. Hơn nữa, Mỹ không chỉ nhằm cân bằng mà còn giữ ưu thế. Ngô Tâm Bá nói Mỹ luôn cố gắng để giữ được ưu thế về sức mạnh tuyệt đối của mình ở bất cứ khu vực quan trọng nào. Trước mắt Trung Quốc phát triển quân sự, Mỹ đã bắt đầu cảm nhận được thách thức ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Mục đích bố trí quân sự ở châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ là để có khả năng can thiệp vào tất cả mọi vấn đề liên quan mà trọng tâm là bán đảo Triều Tiên và eo biển Đài Loan.Hiện nay, sau khi Bắc Triều Tiên có vũ khí hạt nhân, khả năng và ý muốn can thiệp vấn đề Triều Tiên đã giảm mạnh, đồng thời khả năng quân sự của Trung Quốc lớn mạnh cũng làm cho Mỹ cảm thấy cái giá phải trả để can thiệp vấn đề Đài Loan tăng lên, vì thế Mỹ phải có thay đổi. Lần này, Mỹ lớn tiếng tuyên bố “trở lại châu Á-Thái Bình Dương”, một là phát đi tín hiệu với nước đồng minh của mình rằng “Mỹ chưa yếu đi”, tỏ cho thấy họ sẽ tiếp tục đảm bảo an ninh cho các nước này, hơn nữa Mỹ có khả năng như vậy, đồng thời cũng cảnh cáo Trung Quốc rằng nước Mỹ chưa yếu đi, Trung Quốc không được có hành động sai lầm; hai là tập hợp lại, có sự điều chỉnh về bố trí lực lượng, ba là muốn tìm lại khả năng kiểm soát toàn cục. Vì thế tất cả mọi việc làm của Mỹ hoàn toàn không phải là một điểm hoặc một tuyến đơn nhất, mà phải xem xét đến toàn cục ở Đông Á và châu Á-Thái bình Dương, cũng tuyệt đối không chỉ nhằm vào vấn đề Biển Đông. 

V- Áp lực và đối sách để Trung Quốc trỗi dậy 

Phó giáo sư Tôn Học Phong, Học viện quan hệ quốc tế đương đại thuộc Đại học Thanh Hoa cho rằng xét từ kinh nghiệm lịch sử trong quan hệ quốc tế thì khó khăn lớn nhất trong quan hệ đối ngoại của nước lớn trỗi dậy là làm dịu bớt được khó khăn trong quá trình trỗi dậy. Cái gọi là khó khăn trỗi dậy ở đây là cục diện lưỡng nan, theo đó nước lớn trỗi dậy vừa phải duy trì xu hướng tăng trưởng thực lực, chuyển hóa thực lực quốc gia thành ảnh hưởng đối với hệ thống, đồng thời lại phải cố gắng hết khả năng kiểm soát được áp lực an ninh trong hệ thống. Các quốc gia trỗi dậy khác nhau hoặc cùng một quốc gia nhưng trong các giai đoạn trỗi dậy khác nhau thì cường độ khó khăn trỗi dậy của nước đó hoàn toàn không giống nhau. Ngoài nhân tố địa lý và nhân tố kết cấu hệ thống, sự lựa chọn chiến lược của nước trỗi dậy cũng sẽ có ảnh hưởng quan trọng đối với khả năng nước đó có làm dịu được khó khăn trỗi dậy một cách hữu hiệu hay không. Thông thường, trong giai đoạn mà thực lực của nước trỗi dậy còn yếu hơn thực lực của nước chủ đạo hệ thống, nếu hành động chiến lược của nước trỗi dậy xung đột với lợi ích an ninh cốt lõi của nước chủ đạo và nước láng giềng càng nhỏ, thì thành công làm dịu khó khăn của nước trỗi dậy sẽ càng lớn; mức độ ép buộc trong hành động chiến lược của nước trỗi dậy càng thấp thì khả năng thành công của nước trỗi dậy cũng sẽ càng lớn. Ví dụ, sau khi nước Đức thống nhất, trọng tâm chiến lược đối ngoại của Bismarck là thông qua thành lập liên minh để duy trì thế cân bằng ở châu Âu, đem hết khả năng làm yếu đi thách thức của nước Đức đối với lợi ích an ninh trung tâm của nước chủ đạo là nước Anh và các nước lớn châu Âu khác. Đồng thời Đức cố gắng tránh sử dụng vũ lực, nhất là sử dụng vũ lực ở khu vực lợi ích trung tâm của nước chủ đạo. Kết quả là, nước Đức trỗi dậy đã tạo ra môi trường an ninh xung quanh rất tốt, làm dịu tình trạng khó khăn trỗi dậy mà nước Đức đang phải đối mặt ở thời kỳ đầu. 

Năm 2011 là năm mà mức độ phản ứng của Mỹ và các nước khác đối với Trung Quốc trỗi dậy đã mạnh thêm một cấp. Áp lực đối với Trung Quốc trong năm cũng không ngừng tăng lên, kích hoạt cho những vấn đề xung quanh Biển Đông có thể xuất hiện. Trung Quốc đã đặc biệt phải làm tốt công tác hoạch định chiến lược đối ngoại. Tôn Học Phong cho rằng từ những năm 90 của thế kỷ trước đến nay, Trung Quốc luôn cố gắng thử nghiệm chính sách vỗ về triệt để trong ngoại giao láng giềng, nhằm làm dịu bớt khó khăn trỗi dậy của bản thân. Chiến lược này tuy có thể làm dịu mâu thuẫn an ninh giữa Trung Quốc với các nước xung quanh nhưng lại khó có được hiệu quả lâu dài. Nguyên nhân xảy ra hiện tượng nói trên là do trong hệ thống Đông Á đã xuất hiện hệ thống an ninh theo đẳng cấp của nước Mỹ. Theo phương thức bảo vệ sự sống còn của quốc gia thì các nước Đông Á về cơ bản có thể chia thành hai loại, một loại là quốc gia tự lực, như Trung Quốc, Việt Nam, chủ yếu dựa vào lực lượng của bản thân để duy trì an ninh sống còn của mình. Loại quốc gia thứ hai là dựa vào nước khác, ví dụ như Nhật Bản, Philíppin, Hàn Quốc. Các nước này tuy có lực lượng quân sự riêng nhưng an ninh sinh tồn của quốc gia luôn phải nhờ vào viện trợ và giúp đỡ của nước đồng minh bên ngoài như Mỹ để được đảm bảo. Cũng có thể nói giữa các nước này với Mỹ đã hình thành một hệ thống an ninh đẳng cấp, trong đó Mỹ là nước cung cấp an ninh, nước đồng minh ở khu vực là nước tiêu thụ an ninh. Chính yếu tố này đã khiến cho chiến lược vỗ về của Trung Quốc không có được hiệu quả lâu dài. 

Tôn Học Phong còn làm rõ thêm rằng trong khi làm hòa hoãn mâu thuẫn an ninh với Trung Quốc, nước được giúp đỡ và bảo hộ trong hệ thống an ninh của nước Mỹ sẽ dựa vào Mỹ, tiếp tục tỏ rõ sức mạnh với Trung Quốc nhằm có được ưu thế trong cạnh tranh lợi ích an ninh, vì hoà hoãn tạm thời trong tranh chấp cuối cùng không đồng nghĩa với mâu thuẫn an ninh song phương cuối cùng được giải quyết. Còn Mỹ lại có thể đem lại sự bảo hộ an ninh hữu hiệu hơn. Ngoài ra, song song với việc Trung Quốc triển khai chính sách lợi dụng hợp tác kinh tế vỗ về các nước láng giềng Đông Á, quan hệ thương mại giữa các nước nói trên với Trung Quốc phần lớn đều trở nên chặt chẽ hơn, mức độ lệ thuộc vào Trung Quốc từng bước sâu sắc hơn, nhưng lo ngại của các nước này cũng bắt đầu tăng lên. Họ sợ rằng nếu tiếp tục phối hợp theo chính sách vỗ về như vậy của Trung Quốc, sẽ tạo ra ảnh hưởng mặt trái trong việc bảo vệ lợi ích an ninh trung tâm của bản thân, từ đó thúc đẩy các nước này quyết tâm lợi dụng biện pháp tất yếu mà Mỹ áp dụng trong bảo vệ an ninh để đưa đến cục diện có lợi trong cuộc cạnh tranh an ninh với Trung Quốc, cố gắng đến mức tối đa, ngăn ngừa Trung Quốc lợi dụng ưu thế để gây tổn hại đến lợi ích an ninh trung tâm của họ trong tương lai. Rõ ràng, những biện pháp nói trên ở mức độ nào đó đã làm lung lay quyết tâm của Trung Quốc trong việc kiên trì chính sách vỗ về. Trung Quốc không thể làm dịu mâu thuẫn nhưng phải trả giá bằng cách gây tổn hại cho lợi ích trung tâm của mình, cũng không thể đáp ứng nước khác mà hạ thấp mạnh mẽ mức độ ủng hộ ở trong nước đối với chính sách của mình. Vì thế, mặc dù Trung Quốc phải tiếp tục tự kiềm chế nhưng cũng không thể kiên trì mãi chính sách vỗ về. 

Trong khi làm dịu mâu thuẫn an ninh với Trung Quốc, nếu nước tự lực có mâu thuẫn an ninh trực tiếp với Trung Quốc thì họ sẽ lo lắng rằng việc hòa hoãn mâu thuẫn lâu dài với Trung Quốc (đặc biệt là tranh chấp lãnh thổ) cuối cùng sẽ có lợi cho Trung Quốc. Rốt cuộc Trung Quốc sẽ có ưu thế về thực lực và từng bước mở rộng thực lực, trong khi những nước đó lại không thể tìm kiếm được sự bảo hộ an ninh hữu hiệu nên sẽ đem hết khả năng tăng cường thực lực của mình. Tuy nhiên, sự chênh lệch về thực lực với Trung Quốc đã quyết định cho những nước này phải tìm kiếm sự giúp đỡ từ bên ngoài. Điều quan trọng hơn là các nước này sẽ nhờ vào những nước được Mỹ giúp đỡ nói trên để kiềm chế Trung Quốc trong xung đột với Trung Quốc. Đứng trước thách thức an ninh với các nước loại này, Trung Quốc không thể tránh khỏi phải có hành động để không làm tổn thất lợi ích an ninh trung tâm của mình. Kết quả là, mâu thuẫn an ninh song phương sẽ tiếp tục kích hoạt, chính sách vỗ về của Trung Quốc sẽ mất đi tính hữu hiệu. Dù quốc gia tự lực có mâu thuẫn an ninh với Trung Quốc, nhưng nước đó cũng có thể hy vọng nhờ vào sự giúp đỡ của Trung Quốc để loại bỏ mối đe dọa an ninh đến từ hệ thống an ninh của nước Mỹ, đặc biệt là hy vọng Trung Quốc làm theo cách của nước Mỹ, cũng trở thành nước đảm bảo an ninh cho mình một cách hữu hiệu. Nhưng chính sách vỗ về của Trung Quốc thường chỉ có thể đảm bảo cho những đe dọa an ninh của các nước này không xấu đi rõ rệt chứ không thể loại bỏ được những đe dọa lớn từ bên ngoài của loại quốc gia này một cách hữu hiệu, thiết thực. Kết quả tự nhiên là cuối cùng quốc gia này sẽ ngày càng xác định chính sách vỗ về của Trung Quốc làm tổn hại đến lợi ích an ninh trung tâm của họ, từ đó sẽ không sẵn sàng phối hợp lâu dài với chính sách vỗ về của Trung Quốc. 

Đối với việc Trung Quốc trỗi dậy, tư duy của các nước Đông Nam Á và cách nghĩ chủ yếu của phương Tây là nhất trí với nhau, cho rằng nước trỗi dậy nhất định sẽ thông qua thay đổi hiện trạng để có được địa vị chủ đạo, còn ở khu vực Biển Đông là kẻ đi đầu. Nhưng về phương diện khác, vấn đề này cũng giải thích vì sao giữa Trung Quốc và các nước Đông Nam Á lại thiếu lòng tin. Tại Hội nghị các nhà lãnh đạo Trung Quốc - ASEAN lần thứ 14, Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã nói tranh chấp ở Biển Đông là vấn đề tích tụ từ nhiều năm qua, cần phải do nước chủ quyền liên quan trực tiếp thông qua hiệp thương hữu nghị và đàm phán hòa bình để giải quyết, thế lực bên ngoài không nên can thiệp bằng bất cứ giá nào. Kỳ thực, trong vấn đề Biển Đông, Mỹ dù lên tiếng rất mạnh nhưng khó khăn của họ trong việc can dự sâu vào vấn đề Biển Đông là rất lớn. Ngô Tâm Bá cho rằng vấn đề Biển Đông chủ yếu bắt nguồn từ tranh chấp chủ quyền khiến cho Mỹ rất khó tỏ rõ thái độ. Cho dù Mỹ có thể ủng hộ lập trường của nước đồng minh, nhưng bản thân họ rất khó có được thái độ công khai để khẳng định phần lãnh thổ cụ thể nào thuộc về một quốc gia nào. Ngoài ra, Mỹ không có cách nào để trực tiếp tham gia đàm phán với nước hữu quan, vì bản thân họ không phải là bên liên quan trực tiếp, bởi thế Mỹ cùng lắm cũng chỉ gây áp lực, vì vấn đề này vừa không gây tổn hại đến lợi ích của Mỹ, vừa không có mối liên quan gì khác với họ. Trương Khiết cho rằng không nhất thiết phải quá lo lắng việc Mỹ can dự sâu vào vấn đề Biển Đông. Lợi ích chủ yếu của Mỹ ở Biển Đông chẳng qua chỉ có ba điểm là: Chiến hạm của Mỹ tự do đi qua Biển Đông không bị thiệt hại; khi xung đột leo thang mà ảnh hưởng đến lợi ích của đồng minh của Mỹ ở khu vực này, Mỹ sẽ phải có biện pháp đối phó; đảm bảo lợi ích khai thác tài nguyên ở Biển Đông cho các công ty xuyên quốc gia của Mỹ. Rõ ràng là trong lợi ích cụ thể ở Biển Đông, Trung Quốc và Mỹ không có xung đột mang tính căn bản. Còn ý đồ trung tâm của Mỹ là cân bằng ảnh hưởng của Trung Quốc đang ngày một tăng lên. Mỹ cho rằng chỉ có nước Mỹ mới có địa vị và sức mạnh quốc gia để loại bỏ tình trạng mất cân bằng quyền lực rõ ràng ở khu vực này. 

Như vậy, Trung Quốc cần phải đối phó với cục diện phức tạp ở Biển Đông bằng cách nào? Các học giả đã nêu lên một số giả thiết cho vấn đề này. Ngô Tâm Bá cho biết ông đã tham gia Hội nghị an ninh châu Á tổ chức tại Xinhgapo (Đối thoại Shangri La lần thứ 14). Khi đó, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ R. Gates đã nhiều lần nhắc đi nhắc lại thông điệp chủ yếu tại hội nghị rằng Mỹ sẽ không rời khỏi khu vực này. Nhưng sau đó, Giám đốc Học viện chính trị Lý Quang Diệu ở Xinhgapo Mã Khải Thạc vẫn truy vấn, rằng khi chi phí quân sự của Trung Quốc không ngừng tăng lên, còn chi phí quân sự của Mỹ không ngừng giảm đi, ngài Gates sẽ làm thế nào để cho chúng tôi tin được rằng trong 5 năm tới Mỹ sẽ không rời khỏi đây? Rõ ràng trong phương diện này, Mỹ đã phải chịu áp lực, hay nói cách khác là đồng minh của Mỹ đã nghi ngờ Mỹ. Trong chính trường quốc tế, lòng tin phải quan trọng hơn khả năng thực tế. Ngô Tâm Bá cho rằng trong đối sách của Trung Quốc cần phải nắm chắc ba điểm sau: Trước hết, phải nhìn nhận thấu đáo vấn đề, phải thấy được rằng các động thái của Mỹ luôn hư hư thực thực nên không nhất thiết phải quá lo lắng. Hành động mới đây của Mỹ chắc chắn là có ý tạo thanh thế. Việc Mỹ đóng quân tại Ôxtrâylia, tư thế của Mỹ trong các hội nghị, trên thực tế không tạo nên mối đe dọa về bản chất đối với Trung Quốc nhưng đó là một tín hiệu. Thứ hai, trong khi xem xét vấn đề Biển Đông và quan hệ với các nước xung quanh, Trung Quốc nhất định phải có quan niệm toàn cục chứ không thể thấy vấn đề nào thảo luận vấn đề đó, mà phải là có cần có bỏ, có tiến có lui. Thứ ba, Trung Quốc cần phải phát huy triệt để ưu thế của mình. Trước hết là ưu thế địa lý, tức Trung Quốc là một quốc gia hải lục phức hợp; Trung Quốc có nhiều mối quan hệ với các khu vực, có diện tích lãnh thổ rộng, có thể sẵn sàng can dự và xuất quân trong các vấn đề xung quanh. Hai là, Trung Quốc có ưu thế về kinh tế. Những nước này dựa vào nước Mỹ về an ninh nhưng về kinh tế chỉ có thể dựa vào Trung Quốc. Trung Quốc hiện nay là đối tác thương mại lớn nhất của Nhật Bản, Hàn Quốc, Bắc Triều Tiên, Mông Cổ, Ấn Độ, Việt Nam, Inđônêxia. Nước này là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Nhật Bản, Hàn Quốc, Mông Cô, Malaixia, Inđônêxia và Thái Lan; Trung Quốc còn là nước có nguồn lực đầu tư nước ngoài chủ yếu vào ngày càng nhiều nước châu Á. Trong khi đó, Mỹ còn phải xuất khẩu sang khu vực Đông Á để thu lời. Vì thế, các nước Đông Nam Á còn phải dựa vào Trung Quốc về kinh tế. Cuối cùng là ưu thế về ý tưởng của Trung Quốc. Nói một cách tương đối thì ý tưởng của Trung Quốc thời hậu Chiến tranh Lạnh là nghiêng về hòa bình hơn, chú trọng hợp tác an ninh khu vực hơn, có quan điểm an ninh mới “không sử dụng vũ lực, giải quyết tranh chấp bằng phương thức hòa bình”. Trong khi đó, Mỹ yêu cầu người khác phải tuân thủ luật pháp quốc tế, còn bản thân Mỹ đến nay vẫn chưa tham gia “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển”. 

Tôn Học Phong cho rằng cần phải điều chỉnh chiến lược vỗ về của Trung Quốc theo hai phương diện sau đây: Thứ nhất, Trung Quốc cần kết hợp, điều hòa giữa chính sách vỗ về xung quanh và chính sách đối với Mỹ, xem xét toàn diện trong mối liên hệ chứ không tách biệt. Nếu không, ngoại giao Trung Quốc sẽ thường xuyên gặp phải tình trạng quan hệ song phương với Mỹ vẫn được, nhưng quan hệ với các nước Đông Á lại sinh ra cạnh tranh quyết liệt. Phương thức chủ yếu để gắn kết chính sách Đông Á của Trung Quốc với chính sách đối với Mỹ của Trung Quốc lại với nhau là nâng cấp đối thoại an ninh khu vực châu Á-Thái Bình Dương đã được thiết lập giữa Trung Quốc và Mỹ và cố gắng tổ chức thảo luận đạt hiệu quả thực tế như dự kiến để duy trì trạng thái ổn định tổng thể ở khu vực Đông Á. Đồng thời, có thể thử nghiệm thiết lập cơ chế đối thoại song phương không chính thức về an ninh chiến lược Đông Á giữa Trung Quốc và Mỹ, để đảm bảo cho đối thoại chiến lược châu Á-Thái Bình Dương chính thức của chính phủ có được hiệu quả thiết thực. Thứ hai, hoạch định chính sách phù hợp hơn với đặc điểm về sự đe dọa an ninh của nước tự lực trong khu vực Đông Á và nhắm mục tiêu vào các nước đó. Về chính sách an ninh của nước được bảo hộ như Philíppin, điều dễ nhận thấy là những nước này không có nhiều khả năng áp dụng chính sách mang tính đối kháng đặc biệt nghiêm trọng trong điều kiện Trung-Mỹ có thể đạt được nhất trí. Vì thế, chính sách Đông Á của Trung Quốc (bao gồm khu vực Biển Đông) chủ yếu cần quan tâm đến nước tự lực vốn phải dựa vào bản thân để bảo vệ an ninh của chính mình, đồng thời xây dựng chính sách sao cho phù hợp hơn với đặc điểm của nước đó và nhắm vào nước đó. Nếu đe dọa chủ yếu của những nước đó đến từ những nước đồng minh quân sự do Mỹ chủ đạo thì Trung Quốc có thể bảo hộ an ninh cho nước đó một cách thích hợp để làm yếu đi chính sách đối kháng của nước đó nhắm vào Trung Quốc. Nếu đe dọa của những nước đó đến từ Trung Quốc thì Trung Quốc tất yếu phải áp dụng chính sách phối hợp giữa vỗ về và cứng rắn để đạt được hiệu quả tương tự. Cách đây không lâu, 4 nước Trung Quốc, Lào, Mianma và Thái Lan đã đạt được thỏa thuận cùng bảo vệ tuyến giao thông đường thủy trên sông Mê Công. Cùng với việc thực lực quốc gia của Trung Quốc phát triển, Trung Quốc vừa phải thể hiện được ý nghĩa của sự phát triển đối với dân chúng, cũng vừa phải dựa vào thực lực của bản thân để bảo vệ biên giới lợi ích đang ngày một mở rộng của mình. Việc bảo vệ an ninh vận tải đường thủy trên sông Mê Công không chỉ là bảo vệ an ninh khu vực, đảm nhận trách nhiệm nước lớn của Trung Quốc, mà còn phải là vấn đề bảo vệ an ninh cho các công dân của Trung Quốc ở nước ngoài. Hơn nữa, việc mở rộng hoạt động thương mại của Trung Quốc cũng khiến cho mức độ an toàn của khu vực xung quanh liên quan trực tiếp đến lợi ích của Trung Quốc. Vì thế, Trung Quốc cần phải làm được như vậy, nếu không thì nước trỗi dậy sẽ không biết phải bắt đầu bàn bạc từ đâu.

Ngày 2/12/2011, Ngoại trưởng Adam của Xâysen cho biết Xâysen đang đề nghị Trung Quốc xây dựng căn cứ quân sự trong lãnh thổ nước này để nâng cao khả năng đối phó với hải tặc. Đề nghị nói trên của Xâysen một lần nữa tiếp tục cho thấy khi thực lực của Trung Quốc tăng lên, việc họ đóng quân nhằm bảo vệ an ninh khu vực sẽ phù hợp với yêu cầu của rất nhiều quốc gia. Giáo sư Ngô Tâm Bá cho rằng đối với Trung Quốc, tầm quan trọng của việc bảo vệ an ninh đường thủy bằng lực lượng vũ trang trên sông Mê Công chỉ đứng sau cơ chế hợp tác của Tổ chức hợp tác Thượng Hải, sự kiện xảy ra trên sông Mê Công quả đã một lần đem lại cơ hội cho Trung Quốc. Vấn đề mà Trung Quốc và các nước xung quanh phải đối mặt nhiều hơn là an ninh phi truyền thống, vì thế hoàn toàn có thể lấy đó làm thông lệ, thông qua phương thức hợp tác quân sự với các nước láng giềng để cùng bảo vệ an ninh. Trung Quốc gần đây đã bắt đầu tự tổ chức diễn tập quân sự ở Thái Bình Dương. Báo chí đưa tin, từ ngày 22 - 23/11/2011, sáu chiến hạm của Hải quân Trung Quốc đã lần lượt đi qua vùng biển giữa đảo Okinawa và đảo Miyako với tốc độ 25 km/giờ, từ biển Hoa Đông tiến đến Thái Bình Dương. Việc làm nói trên hoàn toàn phù hợp với luật quốc tế. Trung Quốc gần đây liên tục diễn tập quân sự ở vùng biển nói trên. Từ tháng 10/2011 đến nay, Quân Giải phóng Trung Quốc đã tổ chức diễn tập quân sự liên hợp phối hợp giữa lục quân và không quân ở Tây Tạng. Ở Hoàng Hải, họ cũng đã tổ chức huấn luyện chiến đấu liên hợp. Vào cuối tháng 10/2011, tàu chiến hải quân lại tiến đến huấn luyện ở Tây Thái Bình Dương. Cuối tháng 11, tàu sân bay của Trung Quốc ra khơi chạy thử lần thứ hai. Những động thái thể hiện thực lực của Trung Quốc nói trên cũng là hành động đáp trả mạnh mẽ trong vấn đề xung quanh Biển Đông. Trương Khiết cho biết từ cố gắng ngoại giao của Chính phủ Trung Quốc trong năm 2011, có thể nhận định rõ rằng trong tương lai Trung Quốc vẫn sẽ áp dụng chính sách tự kiềm chế để đối phó với tranh chấp Biển Đông. Duy trì môi trường xung quanh ổn định, đảm bảo để Trung Quốc trỗi dậy vẫn là sự lựa chọn chiến lược quan trọng của Trung Quốc hiện nay. Sách lược Trung Quốc trong xử lý tranh chấp Biển Đông, việc Trung Quốc cố gắng phát triển tàu sân bay và một loạt cuộc diễn tập quân sự trên vùng biển gần đều được coi là một chỉnh thể, đã trở thành hàn thử biểu để các nước trong và ngoài khu vực đoán định Trung Quốc lựa chọn phương thức hòa bình hay sử dụng vũ lực để trỗi dậy. Vấn đề Biển Đông đã không chỉ là tranh chấp chủ quyền về lãnh thổ lãnh hải, mà còn là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến môi trường an ninh xung quanh và chiến lược toàn cầu của Trung Quốc.


Theo Tạp chí “Tri thức thế giới”- BNG Trung Quốc ( kỳ 24 năm 2011)

Lê Sơn (gt)

 

Trung Quốc tăng cường nỗ lực ngoại giao vừa trấn an các nước láng giềng, vừa củng cố yêu sách tại  Biển Đông. Mặc dù phương thức song phương là chủ đạo, nhưng tại sao nước này lại đàm phán hai thỏa thuận với ASEAN trong hai thập kỷ qua? Mục tiêu là duy trì nguyên trạng?

Những hành động ngày càng quyết đoán của Trung Quốc ở Biển Đông làm gia tăng mối quan ngại ở khu vực Đông Nam Á và hơn thế nữa bởi chúng là mối đe dọa tiềm tàng đối với quyền tiếp cận các tuyến đường biển vô cùng quan trọng, làm tăng thêm rủi ro về một cuộc xung đột vũ trang hay một cuộc khủng hoảng trên biển, và có thể làm xấu đi mối quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc. Tuy nhiên dù có những căng thẳng đó, Trung Quốc có thể sẽ không cố giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông bằng sức mạnh quân sự, bởi cái giá của việc làm như vậy sẽ quá đắt so với những lợi ích đạt được. Thay vào đó, các quan chức Trung Quốc rất có thể sẽ tiếp tục chính sách mà họ đã theo đuổi trong hơn hai thập kỷ qua: nhấn mạnh sự cam kết đối với hòa bình, ổn định và hợp tác trong khi đồng thời khẳng định những yêu sách về quyền tài phán và mở rộng sự hiện diện thực tế của mình ở Biển Đông.

Chương này phân tích những lợi ích của Trung Quốc ở Biển Đông và những nỗ lực ngoại giao của nước này như thế nào trong việc vừa trấn an các nước láng giềng vừa củng cố những yêu sách đối với những khu vực tranh chấp. Sau đó, đi vào xem xét tại sao Trung Quốc ưa thích ngoại giao song phương hơn là đa phương và tuy vậy, tại sao Trung Quốc đã đàm phán hai thỏa thuận với Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) trong hai thập kỷ qua. Kết thúc chương với lập luận rằng các động lực cơ bản định hình chính sách của Trung Quốc không chắc sẽ thay đổi và do vậy, việc giữ nguyên hiện trạng có thể sẽ được tiếp tục duy trì.

Lợi ích của Trung Quốc ở Biển Đông

Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (CHNDTH) có ba lợi ích then chốt ở Biển Đông, tất cả đều có mối quan hệ với nhau. Thứ nhất, Trung Quốc muốn khẳng định điều mà nước này xem là quyền lịch sử của mình, bao gồm chủ quyền đối với tất cả các hình thái địa lý và thậm chí có lẽ là toàn bộ không gian hàng hải. Thứ hai, nước này muốn giành quyền tiếp cận, dựa trên cơ sở của những quyền lịch sử đó, đối với các nguồn tài nguyên hàng hải, chủ yếu là nguồn cá, dầu, khí và khoáng vật dưới biển. Thứ ba, Trung Quốc muốn đảm bảo tuyến vận tải giao thương trên biển của mình (SLOCs) được an toàn bởi tuyến đường thương mại huyết mạnh này có tính chất sống còn đối với triển vọng kinh tế và khát vọng trở thành siêu cường của Trung Quốc.

CÁC YÊU SÁCH CHỦ QUYỀN CỦA TRUNG QUỐC

Trung Quốc khẳng định “chủ quyền không thể tranh cãi đối với các đảo ở Biển Đông và các vùng biển liền kề.”[1] Nước này căn cứ những yêu sách chủ quyền của mình dựa trên việc phát hiện ra, sử dụng lâu dài trong lịch sử và được kiểm soát hành chính bởi các chính quyền kế tiếp nhau của Trung Quốc kể từ thời Nhà Hán vào thế kỷ thứ hai trước Công Nguyên[2]. Trung Quốc chứng minh những yêu sách của mình bằng bản đồ tham khảo, phát hiện khảo cổ học và những ghi chép lịch sử. Tuy nhiên, không một bằng chứng nào đặc biệt có tính thuyết phục theo luật pháp quốc tế, những bằng chứng ủng hộ yêu sách chủ quyền của các chính quyền đó tốt nhất có thể để chứng minh việc quản lý hiệu quả và liên tục. CHNDTH không thể chứng minh điều này bởi chính quyền trung ương yếu kém vào thời kỳ hỗn loạn trong nước và bị nước ngoài xâm lược vào thế kỷ 19 và 20, do vậy, không thể quản lý một cách hiệu quả những đảo san hô vòng. Điều này giải thích phần nào sự miễn cưỡng của Trung Quốc trong việc đệ trình yêu sách của nước này lên trọng tài pháp lý quốc tế. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, các yêu sách lịch sử của các bên khác cũng khá yếu.

Một trong những tài liệu lịch sử quan trọng nhất mà Trung Quốc dựa vào làm căn cứ cho những yêu sách của mình là một tấm bản đồ được chính quyền Trung Hoa Dân Quốc phát hành năm 1947, trong đó thể hiện một đường đứt đoạn kéo dài xuống bờ biển phía tây của Phi-líp-pin, đi men theo bờ biển của Borneo, sau đó tiếp tục về phía bắc dọc bờ biển phía đông của Việt Nam. Sau khi thành lập vào năm 1949, CHNDTH đã thông qua tấm bản đồ này như một trong những nền tảng cở bản cho những yêu sách của nước này ở Biển Đông. Hiện nay, các bản đồ chính thức của CHNDTH về Đông Nam Á thể hiện 10 đoạn, nhưng các bản đồ về Biển Đông chỉ bao gồm 9 đoạn, đó là lý do tại sao người ta thường gọi là đường chín đoạn[3]. Trung Quốc lần đầu tiên chính thức đệ trình bản đồ này lên một tổ chức quốc tế là vào ngày 7 tháng 5 năm 2009, được gửi kèm với một công hàm phản đối lên Ủy ban Ranh giới Thềm Lục Địa của Liên Hiệp Quốc (CLCS) về bản đệ trình chung của Ma-lai-xi-a và Việt Nam[4]. Mặc dù sự thực là tấm bản đồ đã tồn tại hơn sáu thập kỷ, nhưng Trung Quốc khá miễn cưỡng trong việc giải thích ý nghĩa của đường chín đoạn và nó có thể được lý giải như thế nào dưới góc độ luật pháp quốc tế, đặc biệt theo Công ước Luật biển 1982 của Liên Hiệp Quốc (UNCLOS) mà Trung Quốc đã phê chuẩn năm 1996.

Tấm bản đồ có thể được giải thích theo hai cách. Thứ nhất, đường chín đoạn đánh dấu những khu vực tổng thể xung quanh những đặc điểm địa hình cơ bản mà Trung Quốc yêu sách. Ít nhất, một trong những đặc điểm địa hình đó là một hòn đảo, điều đó sẽ đem lại cho bên yêu sách một vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý (EEZ) theo luật pháp quốc tế. Những đặc điểm địa hình cơ bản khác là các bãi đá ngầm hơn là các đảo, chỉ đem lại vùng lãnh hải rộng 12 hải lý nhưng sẽ không tạo ra một EEZ. Cách giải thích này nhìn chung phù hợp với luật pháp quốc tế được đề ra theo UNCLOS. Nó cũng phù hợp với luật nội địa của CHNDTH thông qua năm 1992, với yêu sách Hoàng Sa, Trường Sa, Bãi đá Pratas, Trung Sa, Bãi cạn Hoàng Nham, Đảo Senkaku/ Điếu Ngư, Penghu và Đảo Đông Sa[5]. Mặc dù, những yêu sách chính xác của Trung Quốc vẫn có phần mập mờ, nhưng cách tiếp cận này nhìn chung phù hợp với luật pháp quốc tế.

Cách giải thích thứ hai là đường chín đoạn phân định ranh giới “vùng nước lịch sử” của Trung Quốc ở Biển Đông – nghĩa là Trung Quốc thực tế đang yêu sách toàn bộ vùng biển bên trong đường đứt đoạn. Đại sứ lưu động của Xinh-ga-po, và nguyên Chủ tịch Hội nghị Liên Hiệp Quốc lần thứ ba về Luật Biển, Tommy Koh đã nhận xét, một yêu sách như vậy là không phù hợp với luật pháp quốc tế hiện hành[6]. Tuy nhiên, thái độ ngày càng quyết đoán của Trung Quốc đối với các bên yêu sách khác – bao gồm gây sức ép với các tập đoàn năng lượng nước ngoài không được tham gia vào việc thăm dò ngoài khơi, ban hành lệnh cấm đánh bắt cá hàng năm và quấy nhiễu hoạt động khảo sát của các công ty dầu khí Đông Nam Á – gợi lên rằng Bắc Kinh đang đi theo cách giải thích thứ hai[7].

Các quan chức Đông Nam Á quan sát những diễn biến này với sự quan ngại. Ngoại trưởng Phi-líp-pin Albert de Rosario đã mô tả tấm bản đồ “thực sự đang trao cho Trung Quốc chủ quyền đối với Biển Đông,” và cựu bộ trưởng cao cấp của Xinh-ga-po và chuyên gia luật Giáo sư S.Jayakumar đã nhận xét tấm bản đồ này “gây rối loạn và làm phức tạp” bởi nó không dựa trên cơ sở của UNCLOS và có thể được “giải thích như một yêu sách đối với tất cả khu vực hàng hải bên trong đường chín đoạn.”[8] Cách giải thích như vậy gây phương hại một số quy tắc của luật pháp quốc tế và đe dọa tới quyền tự do hàng hải.

Trong phạm vi những yêu sách của Trung Quốc, cách hành xử hiếu chiến định kỳ cùng việc từ chối giải thích tấm bản đồ của nước này đã tạo ra mối quan ngại rất lớn ở Đông Nam Á. Việt Nam đã bác bỏ những yêu sách của Trung Quốc, In-đô-nê-xi-a và Phi-líp-pin đã chính thức thách thức đường chín đoạn tại Liên Hiệp Quốc và Xinh-ga-po đã kêu gọi Bắc Kinh làm rõ những yêu sách của mình[9]. Tuy vậy, chính phủ Trung Quốc từ chối làm như vậy, có thể bởi hai lý do. Thứ nhất, Trung Quốc miễn cưỡng trong việc làm rõ ý nghĩa chính xác của tấm bản đồ bởi nó đem lại một vị thế đàm phán nhằm đạt mục tiêu tối đa khi các bên khác từng đồng ý tìm kiếm một giải pháp ngoại giao đối với những yêu sách gây tranh cãi của họ. Thứ hai, tấm bản đồ thực tế đã đặt chính phủ Trung Quốc vào thế khó khăn: khó có thể dung hòa tấm bản đồ với UNCLOS, tuy nhiên loại bỏ nó sẽ gây ra phản ứng dữ dội của những người theo chủ nghĩa dân tộc. Không một chính trị gia Trung Quốc nào sẵn lòng nhận lấy rủi ro này, đặc biệt không có bất kỳ chính trị gia nào lựa chọn làm như vậy trước thời điểm chuyển giao nhân sự lãnh đạo tại Đại hội Đảng Cộng Sản năm 2012, khi mà thế hệ lãnh đạo thứ năm của Trung Quốc sẽ lên nắm quyền.

TÀI NGUYÊN BIỂN

Biển Đông bao gồm một trong những ngư trường quan trọng nhất của thế giới, được đánh giá chiếm một phần mười sản lượng đánh bắt cá toàn cầu.[10] Những nguồn cung cá đang nhanh chóng cạn kiệt này không chỉ vô cùng quan trọng đối với an ninh lương thực của các quốc gia châu Á, mà còn là nguồn sinh lợi đối với thu nhập của ngư dân trong khu vực. Tuy nhiên, quan trọng hơn là Biển Đông cũng chứa đựng những lớp trầm tích của dầu thô và khí đốt tự nhiên. Do hậu quả của những căng thẳng đang diễn ra trong khu vực, các công ty năng lượng quốc tế đã không thực hiện được các khảo sát chi tiết ở Biển Đông, và các ước tính lượng dự trữ tiềm năng hiện tại có sự khác biệt đáng kể. Trung Quốc ước tính rất lạc quan có khoảng 100 tỷ đến 200 tỷ thùng dầu. Trong khi Mỹ và Nga ước tính một cách thực tế hơn vào khoảng 1,6 tỷ đến 1,8 tỷ thùng dầu[11].

Trung Quốc ngày càng thể hiện sự quan tâm đối với nguồn tài nguyên dầu tiềm năng này kể từ đầu thập niên 90, khi giá năng lượng và nhu cầu của toàn cầu đều tăng lên. Những hành động của Trung Quốc một phần được điều khiển bởi nhận thức rằng Biển Đông là biểu tượng của “một Vịnh Ba tư mới.”[12] Khi sự phụ thuộc vào dầu mỏ nhập khẩu của Trung Quốc tăng lên – dầu mỏ nước ngoài chiếm 52% tổng lượng dầu tiêu thụ của Trung Quốc trong năm 2009, ví dụ như, phần đó sẽ tăng lên 55% trong năm 2010[13] – an ninh năng lượng đã trở thành một khía cạnh quan trọng trong tranh chấp Biển Đông. Điều này giúp giải thích thái độ hiếu chiến gần đây của Trung Quốc đối với các tàu khảo sát được thuê bởi các nước Đông Nam Á. Thông qua các bài bình luận trên báo chí của chính phủ, CHNDTH đã cáo buộc một số quốc gia yêu sách ở Đông Nam Á “đang tước đoạt” nguồn tài nguyên hàng hải ở Biển Đông, cho rằng những yêu sách quyền sở hữu của Trung Quốc theo đúng “quyền lịch sử” của quốc gia[14]. Trung Quốc thường khẳng định các hoạt động của những công ty năng lượng nước ngoài ở Biển Đông là vi phạm chủ quyền của Trung Quốc. Trung Quốc kêu gọi các bên yêu sách khác ngừng hoạt động tìm kiếm nguồn tài nguyên tiềm năng ở trong khu vực mà Trung Quốc yêu sách, nhưng cả Việt Nam và Phi-líp-pin đều bác bỏ yêu cầu này với lý do những yêu sách mở rộng của Trung Quốc không biện minh được[15].

AN NINH ĐƯỜNG BIỂN

Sự tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc phụ thuộc vào các tuyến đường biển (SLOC) an toàn, điều này cho phép Trung Quốc xuất khẩu hàng hóa sản xuất tới các thị trường quốc tế và nhập khẩu các mặt hàng, nguyên liệu thô và nguồn năng lượng. Theo một số tính toán, 80% năng lượng nhập khẩu của Trung Quốc đi qua những nút thắt chiến lược của Đông Nam Á – Eo biển Ma-lắc-ca, Xinh-ga-po, Lombok, Makkassar và Sunda – và Biển Đông[16]. Tính dễ bị tổn thương chiến lược của tuyến đường này được biết đến rộng rãi là “Thế tiến thoái lưỡng nan Malacca.”[17] Năng lực của Hải quân Quân Giải phóng Nhân dân (PLAN) đã được chứng minh hơn thập kỷ trước, nhưng Trung Quốc vẫn chưa có năng lực thực hiện việc kiểm soát hiệu quả các SLOCs ở khoảng cách xa, như những tuyến đường đi qua Ấn Độ Dương[18]. Tuy nhiên, Trung Quốc đang tăng cường sử dụng ảnh hưởng lớn hơn đối với SLOCs ở gần, đặc biệt là ở Biển Đông. Các Đảo Trường Sa và Hoàng Sa nằm hai bên SLOCs đó, và đây là lý do chủ yếu giải thích tại sao Trung Quốc cố gắng kiểm soát những quần đảo này.

Chính sách của Trung Quốc ở Biển Đông

Chính sách của Trung Quốc đối với tranh chấp biên giới biển và lãnh thổ ở Biển Đông tương đối nhất quán từ cuối thập niên 70. Trung Quốc đã cố gắng trấn an các bên tranh chấp khác bằng việc nhấn mạnh nhiều lần mục đích hòa bình của mình ở khu vực cũng như thiện chí trong việc quản lý chung các nguồn tài nguyên biển, đồng thời hướng tới những cuộc thương lượng kéo dài đối với vấn đề sao cho nước này có thời gian củng cố những yêu sách của mình ở Biển Đông. Khi năng lực quân sự của Trung Quốc được tăng cường và sự tự tin chính trị tăng lên, nước này sẽ hành xử hiếu chiến hơn ở Biển Đông. Trung Quốc đáp lại những chỉ trích về cách hành xử của mình bằng việc đưa ra những điều chỉnh chiến thuật, nhưng cơ bản chính sách của nước này không hề thay đổi. Một số quan chức Đông Nam Á đã mô tả chính sách hai chiều này là “miệng nói và tay làm.”[19]

TRẤN AN CÁC LÁNG GIỀNG KHU VỰC

Vào cuối những năm 70, khi Trung Quốc tìm kiếm sự ủng hộ từ những thành viên sáng lập ASEAN về việc Việt Nam chiếm đóng Cam-pu-chia,[20] Đặng Tiểu Bình đã đề xuất một kế sách để “giải quyết” tranh chấp: Các bên cần gác lại những yêu sách chủ quyền của mình và cùng khai thác nguồn tài nguyên hàng hải. Tuy nhiên, không rõ liệu Đặng hay những người kế nhiệm của ông ta từng cân nhắc đó như một đề xuất thực tế. Trung Quốc chưa bao giờ thể hiện thiện chí trong việc gác lại những yêu sách lãnh thổ của mình cũng như chưa từng đề xuất một khuôn khổ cho những hoạt động khai thác chung như vậy (như thảo luận dưới đây). Tuy nhiên, ý tưởng đó vẫn như một câu thần chú trong chính sách của CHNDTH, và điều này không chắc sẽ thay đổi.

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây

Ian Storey

Tuấn Anh (dịch)

Quang Hưng (hiệu đính)

 

Bản dịch chương III: China’s Bilateral and Multilateral Diplomacy in the South China Sea trong báo cáo: Cooperation from Strenth: The United States, China and the South China Sea của Trung tâm An ninh mới (CNAS) của Mỹ.



[1] Trung Quốc đưa ra tuyên bố này trong một văn kiện đệ trình lên Liên Hiệp Quốc vào 14 tháng 4 năm 2011, http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/ mysvnm33_09/chn_2011_re_phl_e.pdf.

[2] Xem, ví dụ như, Li Guoqiang, “Formation of China’s Sovereignty over South China Sea Islands,” BBC Monitoring Asia-Pacific, 14 tháng 8, 2011.

[3] Để xem bản đồ trực tuyến, ghé thăm văn phòng bản đồ chính thức của Trung Quốc, http:// tianditu.cn/map/index.jsp.

[4] Công hàm từ Phái đoàn Thường trực của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa gửi cho Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc, CML/17/2009 (7 tháng 5, 2009), http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/

submission_mysvnm_33_2009.htm.

[5] Luật về Lãnh hải và Khu vực Tiếp giáp, 25 tháng 2, 1992.

[6] Tommy Koh, “Mapping Out Rival Claims in the South China Sea,” The Straits Times, 13 tháng 9, 2011. Peter Dutton cũng thảo luận về điểm này ở chương của mình trong báo cáo này.

[7] Carlyle Thayer, “China Rejects UN Treaty by Asserting Sovereignty over the South China Sea,” YaleGlobal Online, 7 tháng 7, 2011.

[8] “Philippines Test South China Sea Agreement with Push for Oil,” Bloomberg, 24 tháng 7, 2011; và Giáo sư S. Jayakumar, Bài nói chính ( Trung tâm Hội thảo Luật Quốc tế về Khai thác chung ở Biển Đông, Singapore, 16 tháng 7, 2011).

[9] Vào tháng 4 năm 2011, trong một lá thư đệ trình lên CLCS, Phi-líp-pin đã khẳng định tấm bản đồ của Trung Quốc “không có cơ sở theo luật pháp quốc tế.” Xem http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/mysvnm33_09/phl_re_chn_2011.pdf.

[10] Clive Schofield, Ian Townsend-Gault, Hasjim Djalal, Ian Storey, Meredith Miller and Tim Cook, “From Disputed Waters to Seas of Opportunity,” Báo cáo Đặc biệt số 10 (National Vụ Nghiên cứu châu Á Quốc gia, tháng 7, 2011), 9. Xem thêm chương của Will Rogers trong bản báo cáo này.

[11] Tlđd, 12.

[12] Cơ quan Thông tin Năng lượng, “Biển Đông,” Bản tóm tắt Phân tích Quốc gia, http://www.eia.gov/emeu/cabs/South_China_Sea/OilNaturalGas.html.

[13] “Oil bonanza in the South China Sea,” Global Times, 19 tháng 4, 2011.

[14] Xem, ví dụ như, Wang Hui, “Neighbors Threaten China’s Peace,” ChinaDaily, 16 tháng 7, 2011.

[15] Bình luận được đưa ra bởi Đại sứ CHNDTH tại Phi-líp-pin, Lưu Kiến Siêu. Jim Gomez, “China to Neighbours: Stop Oil Search in Spratlys,” Liên hiệp Báo chí, 9 tháng 6, 2011.

[16] Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, The Military Power of the People’s Republic of China 2009: Annual Report to Congress (2009), 3.

[17] 17. Ian Storey, “China’s ‘Malacca Dilemma,’” China Brief, 6 no. 8 (12 tháng 4, 2006).

[18] Tlđd, 8.

[19] Cụm từ “miệng nói và tay làm” được Bộ trưởng Quốc phòng Phi-líp-pin Orlando Mercado sử dụng lần đầu tiên vào năm  1998. “Erap Orders Blockade of Mischief Reef,” Philippine Daily Inquirer, 11 tháng 11, 1998.

[20] ASEAN được thành lập vào năm 1967 bởi In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, Phi-líp-pin và Thái Lan. Số thành viên đã tăng lên gồm có Brunei năm 1984, Việt Nam năm 1995, Lào và Mi-an-ma năm 1997 và Cam-pu-chia năm 1999.

 

Tranh chấp Biển Đông hiện nay có thể dẫn đến sự bất ổn khu vực, thậm chí là xung đột vũ trang, tuy nhiên những cơ hội hợp tác để giảm sự gia tăng căng thẳng vẫn tồn tại. Và về chiến lược lâu dài, Mỹ cần phải có các nỗ lực can dự cân bằng để duy trì ổn định ở Biển Đông.

 

Từ năm 2009, cuộc tranh giành các quyền trên biển ở Biển Đông trở thành một vấn đề an ninh quan trọng nhất ở Đông Á. Thậm chí trên thực tế, một nhà phân tích gần đây đã tuyên bố rằng Biển Đông là “sân khấu mới của xung đột” trên thế giới.[1]

Tuy nhiên, dù tranh giành liên tục, song xung đột vũ trang ở Biển Đông rất khó xảy ra vì vài lý do như sau. Các quốc gia khu vực đang cạnh tranh nhau ở khía cạnh các quyền trên biển hơn là các vấn đề an ninh khác, đặc biệt là yêu sách chủ quyền lãnh thổ đối với các đảo và bãi đá. Cuộc tranh giành các quyền trên biển ở Biển Đông chưa bị quân sự hóa, hoặc là chưa đạt tới mức độ bất ổn như cảnh tượng khu vực đã chứng kiến những năm 1988 và 1995. Thỏa thuận tháng 7 năm 2011 giữa Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Trung Quốc về hướng dẫn thực hiện Tuyên bố ứng xử của các bên trên Biển Đông đã tạo ra không gian thở để có thể khai thác nhằm giảm căng thẳng. Các sáng kiến hợp tác có thể giúp giảm bớt sự cạnh tranh trong tương lai về các quyền trên biển song lại đòi hỏi quyết tâm chính trị và sự sáng tạo ngoại giao để tiếp tục được thực hiện.

Thêm nữa, dù Trung Quốc ngày càng tăng cường bảo vệ các yêu sách của mình ở Biển Đông, phạm vi và nội dung của các yêu sách này vẫn không thay đổi. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc nhận thức rằng các quốc gia khác đang thách thức các yêu sách mà Trung Quốc đã theo đuổi lâu nay, và Trung Quốc đang phản ứng lại với năng lực thực thi các quyền dân sự trên biển đã lớn mạnh hơn trước. Trung Quốc cũng tránh các biện pháp khiêu khích, như sử dụng các lực lượng hải quân, để thực thi các yêu sách của mình.

Để phân tích và đánh giá nguy cơ xung đột vũ trang ở Biển Đông, chương này sẽ nhìn nhận lại các xu hướng trong an ninh biển ở khu vực trong những năm vừa qua, bao gồm cả chủ quyền lãnh thổ ở các nhóm đảo, quyền khai thác các tài nguyên trên biển ở vùng nước và đáy biển, và tự do hàng hải. Cuộc cạnh tranh trên từng vấn đề trên có thể tăng thêm sự bất ổn cho khu vực, hoặc thậm chí dẫn đến xung đột vũ trang. Tuy nhiên, cơ hội tăng cường hợp tác về các vấn đề an ninh vẫn tồn tại. Nhìn về phía trước, Mỹ phải có các nỗ lực cân bằng đề duy trì ổn định ở Biển Đông với các hành động dù có thể tình cờ gia tăng bất ổn, như tham gia hơn vào các nỗ lực giải quyết tranh chấp – một hành động mà rất nhiều quốc gia khu vực sẽ diễn giải như là một sự thay đổi chính sách truyền thống của Mỹ là trung lập trong các tranh chấp lãnh thổ.

Các lợi ích an ninh biển ở Biển Đông

Rất nhiều quốc gia, trong khu vực và trên thế giới, có lợi ích an ninh biển ở khu vực Biển Đông. Những lợi ích này bao gồm các yêu sách chủ quyền lãnh thổ đối với các đảo và các bãi đá san hô, yêu sách đối với những đặc quyền phát triển các tài nguyên biển, tự do hàng hải trên biển cả và hậu quả của các hoạt động hiện đại hóa quân sự đang diễn ra ở khu vực.[2] Cuộc cạnh tranh đối với bất kỳ hoặc tất cả các lợi ích trên có thể ảnh hưởng sự ổn định của khu vực. Tuy nhiên, từ khoảng năm 2006, vấn đề an ninh biển quan trọng ở Biển Đông là sự cạnh tranh đối với các yêu sách, áp dụng và thực thi các quyền trên biển đối với các vùng nước này.

CÁC YÊU SÁCH CHỦ QUYỀN VỚI CÁC ĐẢO VÀ BÃI ĐÁ SAN HÔ

Lĩnh vực đầu tiên mà an ninh biển bao gồm đó là các yêu sách chủ quyền đối với các đảo và các bãi đá ngầm như các rạn san hô. Ở Biển Đông, có hai tranh chấp khác nhau liên quan đến chủ quyền lãnh thổ. Đầu tiên là tranh chấp song phương giữa Trung Quốc và Việt Nam về chủ quyền của quần đảo Hoàng Sa, nơi Trung Quốc đã kiểm soát hoàn toàn từ năm 1974.[3] Tranh chấp thứ hai là tranh chấp đa phương về quần đảo Trường Sa, nơi bao gồm khoảng 230 đảo và bãi đá, chủ yếu là các đảo nhỏ, các hòn đảo rất nhỏ và các bãi đá san hô. Việt Nam, Trung Quốc và Đài Loan đều yêu sách “chủ quyền không thể tranh cãi” ở trên những đảo trên. Philippines yêu sách chủ quyền của 53 đảo, trong khi Malaysia yêu sách 12 đảo.[4] Việt Nam hiện nay chiếm giữ 27 đảo, nhiều nhất trong số các bên yêu sách. Philippines chiếm 8 đảo, Trung Quốc 7, Malaysia 5, Đài Loan 1. Đảo đầu tiên được phía Đài Loan chiếm năm 1956 khi quân Quốc dân đảng từ Đài Loan đồn trú vĩnh viễn đảo Ba Bình (Itu Aba), đảo lớn nhất trong số các đảo tranh chấp. Các quốc gia yêu sách khác mãi đến đầu những năm 1970 mới bắt đầu hiện diện liên tục ở các đảo này. Trung Quốc bắt đầu thiết lập sự hiện diện cơ học vào tháng 1 năm 1988 khi giết 74 thủy thủ của Việt Nam. Đảo đất gần đây nhất được Malaysia và Việt Nam nắm giữ năm 1998 và 1999. Trung Quốc không chiếm một đảo tranh chấp nào từ cuối năm 1994 khi nước này chiếm được đảo Vành Khăn.[5]

CÁC YÊU SÁCH ĐỐI VỚI QUYỀN VÀ QUYỀN TÀI PHÁN TRÊN BIỂN

 

Lợi ích an ninh biển thứ hai liên quan đến các yêu sách đối với các quyền trên biển, đặc biệt là các yêu sách đối với vùng đặc quyền kinh tế (EEZs) và thềm lục địa. Các quyền trên biển bao gồm các vấn đề không về chủ quyền mà về quyền tài phán – liệu là các quốc gia có quyền khai thác bất kể tài nguyên nào (đặc biệt là dầu khí cũng như nguồn lợi thủy sản và các khoáng sản khác) không. Các quyền trên biển chỉ bị tranh chấp trên một phần của Biển Đông, một vùng biển trải rộng từ cửa sông Chân Trâu (Pearl River) ở Trung Quốc đến đỉnh của đảo Natuna của Indonesia. Nói chung, vùng đặc quyền kinh tế mà Trung Quốc yêu sách từ bờ biển của nước này, bao gồm tỉnh Quảng Đông và đảo Hải Nam, hầu hết là không bị tranh chấp.[6] Tuy nhiên, phần phía nam của biển này thì gây ra tranh cãi lớn giữa các nước có yêu sách đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cũng như Indonesia.

Các quốc gia khác nhau biện minh yêu sách đối với quyền trên biển của mình theo các cách khác nhau. Việt Nam, Philippines, Malaysia, và Brunei khẳng định quyền trên biển của mình từ bờ biển của họ. Indonesia yêu sách quyền trên biển của mình dựa trên đảo Natuna. Tuy nhiên, Trung Quốc, dựa trên quyền trên biển của mình đối với các yêu sách chủ quyền đối với nhóm đảo còn đang tranh chấp, như Trường Sa, thêm vào bờ biển của đại lục Trung Quốc. Tuy nhiên, hầu hết (chứ không phải tất cả) các đảo ở quần đảo Trường Sa sẽ không được coi là đảo theo Điều 121(3) của Công ước Liên hiệp quốc về Luật biển (UNCLOS) và do đó không thể coi như là căn cứ để một quốc gia yêu sách đòi vùng đặc quyền kinh tế hoặc là thềm lục địa mở rộng. Theo đó, các nhà quan sát coi yêu sách vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc như là sự bành trướng, bởi nó bao gồm một phần rộng lớn hơn về quyền trên biển so với các quốc gia ven biển khác và cũng coi yêu sách đó là không hợp pháp vì phần yêu sách dường như dựa trên các hình thái đất không đủ tiêu chuẩn được coi là đảo theo Điều 121(3).[7] Thêm vào đó, yêu sách “đường 9 đoạn” xuất hiện trên bản đồ khu vực của Trung Quốc còn tạo ra sự mập mờ lớn hơn, như Ian Storey đã chỉ ra trong tập báo cáo này, rằng chính phủ Trung Quốc cũng chưa bao giờ xác định đường này đại diện cho điều gì.

TỰ DO HÀNG HẢI

 

Khía cạnh thứ ba của an ninh biển bao gồm tự do hàng hải, gồm có an ninh của các tuyến đường vận tải biển chạy qua những vùng nước này. Một vài các tuyến đường tấp nập nhất trên thế giới chạy qua Biển Đông. Tự do hàng hải ảnh hưởng đến lợi ích của không chỉ các quốc gia yêu sách chủ quyền hoặc quyền trên biển như nói ở trên mà của tất các các quốc gia tham gia quá trình vận tải biển, bao gồm cả Mỹ. Các cuộc đối đầu bao gồm các chủ thể thương mại và các cơ quan thực thi pháp luật biển dân sự Trung Quốc từ năm 2009 đến 2011 gây ra các quan ngại về tự do hàng hải ở các vùng biển này. Thêm nữa, Trung Quốc (cùng với các cường quốc đang lên về hàng hải như Brazil và Ấn Độ) tiếp tục duy trì quan điểm rằng quyền bờ biển có thể hạn chế các hoạt động quân sự của nước ngoài trong vùng đặc quyền kinh tế, mặc dù hầu hết các quốc gia khác không đồng tình với điều này.[8] Mặc dù từ trước tới nay Trung Quốc đã không cố gắng áp dụng sự viện dẫn này trong cuộc tranh giành quyền trên biển ở Biển Đông, nhưng nước này có thể làm như vậy trong tương lai. Đến nay, các nỗ lực của Trung Quốc nhằm thực hiện các sự hạn chế về tự do hàng hải đã xuất hiện ở trong vùng đặc quyền kinh tế ngoài khơi nước này. Ví dụ, vụ đối đầu tháng 5 năm 2009 liên quan đến tàu Impeccable USNS xuất hiện cách đảo Hải Nam khoảng 75 dặm về phía đông nam.[9]

HIỆN ĐẠI HÓA HẢI QUÂN

 

Lợi ích thứ tư về an ninh biển liên quan đến hậu quả của quá trình hiện đại hóa hải quân của các quốc gia đang phát triển trong khu vực. Các tranh chấp ở Biển Đông tạo ra động lực để các quốc gia này thúc đẩy năng lực và sự hiện diện hải quân của nước mình, điều đó quay trở lại có thể tăng khả năng xung đột vũ trang có thể xảy ra. Thêm vào đó, khi các quốc gia duyên hải tăng cường phụ thuộc vào thương mại trên biển và các nguồn tài nguyên biển, lợi ích biển của họ cũng tăng lên. Ví dụ, Việt Nam có ý định tăng cường tỉ lệ mà kinh tế biển có thể đóng góp cho tổng sản phẩm quốc nội (GDP) từ 48% năm 2005 đến 55% năm 2020.[10] Giống như vậy, phần lớn thương mại của Trung Quốc, đặc biệt là ngành cung cấp năng lượng, được thực hiện trên biển. Để bảo vệ các lợi ích mới này, cũng như bảo vệ các yêu sách chủ quyền và các yêu sách khác, các quốc gia duyên hải rất tích cực hiện đại hóa hải quân và các lực lượng vũ trang khác. Những sự thay đổi kéo theo trong cán cân cân bằng lực lượng – và trong sự phát triển của các khẩu đại bác với tầm bắn xa hơn và sức chịu đựng dẻo dai hơn – có thể trở nên ngày càng cạnh tranh và gây bất ổn hơn.

Cạnh tranh các lợi ích biển khác nhau có thể tăng tính bất ổn của khu vực. Trong bốn khía cạnh trên, tranh chấp quyền chủ quyền lãnh thổ và quyền trên biển có thể dễ leo thang thành việc sử dụng quân sự nhất. Hai vụ va chạm hải quân quan trọng xảy ra giữa Việt Nam và Trung Quốc, một diễn ra vào năm 1974 đối với nhóm đảo Crescent ở Hoàng Sa và một vào năm 1988 đối với Bãi đá Johnson ở quần đảo Trường Sa. Khi cuộc cạnh tranh quyền trên biển tăng lên, các cuộc va chạm vũ trang giữa các lực lượng hải quân của các quốc gia yêu sách cũng tăng lên; các cuộc va chạm như vậy sẽ tăng tính bấn ổn và đặt ra nhiều vấn đề về tự do hàng hải ở các vùng biển này đối với tất cả các quốc gia tham gia giao thông trên biển.

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây

M. Taylor Fravel

Hằng Ngân (dịch)

Quang Hưng (hiệu đính)

Bản dịch chương II: Maritime Security in the South China Sea and the Competition over Maritime Rights trong báo cáo: Cooperation from Strenth: The United States, China and the South China Sea của Trung tâm An ninh mới (CNAS) của Mỹ.



[1] Robert D. Kaplan, “The South China Sea Is the Future of Conflict,” Foreign Policy (September/October 2011).

[2] Để kiểm tra chi tiết các loại lợi ích khác nhau, xem Peter Dutton, “Three Disputes and Three Objectives: China and the South China Sea,” Naval War College Review, 64 no. 4 (2011), 42-67.

[3] Trước trận đụng độ tháng 1 năm 1974 giữa Trung Quốc và Nam Việt Nam, Trung Quốc chỉ kiểm soát vài hòn đảo trong nhóm Amphitrite ở phía đông của quần đảo Hoàng Sa. Sau trận giao tranh năm 1974, Trung Quốc nắm được quyền kiểm soát ở nhóm Crescent. Xem thêm M. Taylor Fravel, Strong Borders, Secure Nation: Cooperation and Conflict in China’s Territorial Disputes (Princeton, NJ: Princeton University Press, 2008), 272-287.

[4] Greg Austin, China’s Ocean Frontier: International Law, Military Force, and National Development (Canberra, Australia: Allen & Unwin, 1998), 153-154.

[5] Một tóm tắt gần đây về những sự phát triển này, xem Fravel, Strong Borders, Secure Nation, 267-299.

[6] Xem thêm thảo luận chi tiết về yêu sách của Trung Quốc ở M. Taylor Fravel, “China’s Strategy in the South China Sea,” Contemporary Southeast Asia, 33 no. 3 (December 2011)

[7] Bằng việc nộp yêu sách quyền thềm lục địa mở rộng cho Liên hiệp quốc năm 2009, Việt Nam và Malaysia chỉ ra rằng hai nước này sẽ yêu sách quyền hàng hải ở các đảo đang tranh chấp, dù họ vẫn chưa nói điều này rõ ràng. Trong một công hàm sau đó, Philippines chỉ ra rằng quần đảo Trường Sa không đạt được tiêu chí theo như Điều 121(3) và do đó không thể được sử dụng để yêu cầu quyền hàng hải. Một nhân tố khác của yêu sách Trung Quốc là sự quả quyết rằng luật về vùng đặc quyền kinh tế năm 1998 của nước này sẽ không ảnh hưởng đến “quyền lịch sử” của Trung Quốc. Tuy nhiên, nội dung và phạm vi địa lý của những quyền lịch sử này vẫn chưa được xác định trong luật này.

[8] Ren Xiaofeng and Cheng Xizhong, “A Chinese Perspective,” Marine Policy, 29 no. 2 (March 2005), 139-146.

[9] Raul Pedrozo, “Close Encounters at Sea: The USNS Impeccable Incident,” Naval War College Review, 62 no. 3 (Summer 2009), 101-111.

[10]  “Vietnam Aims to Become Strong Maritime Nation,” Vietnam Seaports Association, May 26, 2010, http://www.vpa.org.vn/detail_temp.jsp?id=1652

 

Lợi ích của Mỹ đang bị đe dọa trước sự trỗi dậy của Trung Quốc. Những luật chơi mà Mỹ đã thiết lập đang có nguy cơ “bị xem xét lại”, điển hình lại tại Biển Đông. Mỹ cần làm gì? Các khuyến nghị đầy đủ của think-tank hàng đầu của Mỹ CNAS.

 

I.              KHÁI QUÁT CHUNG

Lợi ích của Hoa Kỳ tại Biển Đông ngày càng bị đe dọa bởi sự tăng trưởng kinh tế và quân sự của Trung Quốc và những lo ngại về thiện chí thực hiện các quy chuẩn pháp luật hiện hữu của nước này. Mỹ và các nước trong khu vực có lợi ích sâu sắc và vĩnh cửu đối với các tuyến đường biển, mở cho tất cả nước cả về thương mại cũng như các hoạt động quân sự hòa bình như can thiệp nhân đạo hay bảo vệ bờ biển. Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn tiếp tục thách thức sự tự do này bằng cách đặt nghi ngờ đối với các quy phạm hàng hải truyền thống và phát triển tiềm lực quân sự nhằm cho phép nước này đe dọa sự tiếp cận của các nước với khu vực biển này.

Ý nghĩa địa chiến lược của Biển Đông thật khó để phóng đại. Biển Đông có chức năng như cổ họng của Tây Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương - phần lớn mạng lưới liên kết kinh tế nơi mà các tuyến đường biển toàn cầu hợp nhất, chiếm 1,2 tỷ USD thương mại Mỹ hàng năm. Vùng biển này là trung tâm của nền kinh tế thế giới thế kỉ 21, nơi mà 1,5 tỷ người Trung Quốc, gần 600 triệu người Đông Nam Á và 1,3 tỷ cư dân của tiểu lục địa Ấn Độ vận chuyển các tài nguyên thiết yếu và trao đổi hàng hóa trong khu vực và trên toàn cầu. Biển Đông là một khu vực có hơn nửa tá các nước chồng lấn yêu sách lãnh thổ đối với một khu vực đáy biển có trữ lượng dầu đã được xác định là ít nhất 7 tỷ thùng và 900 nghìn tỷ feet khối khí tự nhiên.

 Bảo vệ lợi ích của Mỹ và thúc đẩy việc giữ nguyên trạng (status quo) không cần và không nên dẫn đến xung đột với Trung Quốc. Cả Mỹ và Trung Quốc sẽ tiếp tục hưởng lợi từ hợp tác và thực tế là, không một quốc gia châu Á nào hưởng lợi từ trật tự quốc tế do Mỹ dẫn đầu nhiều hơn Trung Quốc. Tuy nhiên, quản lý căng thẳng và thúc đẩy hợp tác ở Biển Đông đòi hỏi một sự quan tâm lớn bền bỉ và thận trọng từ Washington.

Trong những thập niên tới, thách thức cho Hoa Kỳ sẽ là làm thế nào để duy trì những quy tắc truyền thống về tự do hàng hải, trong khi thích ứng với sức mạnh các hoạt động ngày càng tăng của các nước trong khu vực, bao gồm cả Trung Quốc. Mục tiêu là hợp tác, nhưng hợp tác có thể được thúc đẩy một cách tốt nhất từ vị trí sức mạnh. Điều này đòi hỏi Mỹ phải duy trì sức mạnh và mở rộng hợp tác khu vực, một quan niệm có thể được gọi là "ưu tiên hợp tác”.

Để bảo vệ quyền lợi của Mỹ và các đồng minh ở Biển Đông và duy trì những quy tắc pháp lý đã tồn tại từ lâu, các nhà hoạch định chính sách Mỹ nên thực hiện năm bước sau:

Đầu tiên, Mỹ cần tăng cường sự hiện diện của hải quân trong dài hạn bằng cách xây dựng một hạm đội gồm 346 tàu thay vì giảm xuống 250 tàu do cắt giảm ngân sách và thu hồi các tàu chiến cũ trong thập kỷ tới. Quan hệ ngoại giao và kinh tế với Trung Quốc và các nước khác sẽ đạt hiệu quả hơn khi nó được hỗ trợ bởi một vị thế quân sự có thể tin tưởng. Tuy nhiên, phát triển Hải quân phải dựa trên tăng trưởng kinh tế lành mạnh trong tương lai – đây là ưu tiên chiến lược của Mỹ.

Thứ hai, Mỹ nên thúc đẩy một mạng lưới đối tác an ninh. Mô hình liên minh “trục bánh xe và nan hoa” giữa Mỹ và các đối tác Đông Á đang bị lấn át bởi một mạng lưới các quan hệ rộng hơn, phức tạp hơn và có sức lan tỏa hơn, trong đó các nước Châu Á là những nhân tố thúc đẩy chính. Xây dựng một mạng lưới các đối tác và đồng minh mạnh hơn trong khu vực Đông Nam Á phải là một mục tiêu dài hạn và quan trọng của Mỹ.

Thứ ba, Mỹ cần phải đảm bảo rằng hòa bình và an ninh ở Biển Đông phải được đặt lên hàng đầu trong chương trình nghị sự ngoại giao và an ninh của nước này. Tự do hàng hải là một mối quan tâm phổ quát, hợp tác hàng hải và các cơ chế giải quyết tranh chấp một cách hòa bình nên tiếp tục được thảo luận trong các diễn đàn khu vực. Mỹ cũng cần xây dựng các thể chế đa phương về lâu dài nhưng cũng thừa nhận rằng trong thực tế Mỹ có thể cần phải tập trung vào các cách tiếp cận song phương hoặc tiểu đa phương để tránh khiêu khích Trung Quốc.

Thứ tư, Mỹ cần thúc đẩy hơn nữa hội nhập kinh tế trong khu vực cũng như giữa Mỹ với khu vực, với sự tập trung đặc biệt về thương mại. Thương mại chính là đồng tiền ở khu vực Châu Á và có thể giúp kết nối các đầu tư chiến lược của Mỹ với khu vực năng động nhất trên thế giới này.

Thứ năm và cuối cùng, Mỹ cần có chính sách đúng với Trung Quốc. Điều này đòi hỏi quan hệ ngoại giao và kinh tế năng động phải được hỗ trợ bởi một vị thế quân sự mạnh mẽ và một nền kinh tế phát triển. Một chính sách thực tế bắt đầu bằng việc củng cố sức mạnh của Mỹ sau đó tích cực ủng hộ hợp tác dựa trên luật pháp; chính sách này tránh xung đột vũ trang nhưng không tránh đối đầu ngoại giao.

II.            GIỚI THIỆU

Lợi ích của Mỹ tại Biển Đông ngày càng bị đe dọa. Bảo vệ những lợi ích này không cần - và không nên - dẫn đến xung đột với Trung Quốc. Tuy nhiên, quản lý căng thăng và thúc đẩy hợp tác ở Biển Đông đòi hỏi một sự quan tâm lớn bền bỉ và thận trọng từ Washington.

Tầm quan trọng của Biển Đông vẫn còn bị định giá thấp, được thảo luận chủ yếu giữa các chuyên gia về khu vực chứ không phải là một bộ phận tiêu biểu rộng lớn của cộng đồng an ninh quốc gia. Nhưng Biển Đông xứng đáng nhận được sự ưu tiên quan tâm. Khi mà hệ thống dựa trên luật pháp đã tồn tại hàng thế kỷ do Mỹ thúc đẩy bị thách thức bởi một Trung Quốc đang trỗi dậy thì Biển Đông sẽ là chỉ dấu chiến lược để xác định tương lai khả năng lãnh đạo của Mỹ trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Vấn đề liệu Tây Thái Bình Dương có duy trì là một khu vực hàng hải mở cửa, ổn định và thịnh vượng hay đang dần trở thành lò lửa của sự tranh cãi phân cực như thời Chiến tranh lạnh hay không có thể sẽ được giải quyết tại khu vực biển quan trọng này. Biển Đông là nơi mà các nước như Việt Nam, Malaysia và Philippines phải đối mặt với hiện tượng “Phần Lan hóa” của Trung Quốc nếu sức mạnh hải quân và không quân của Mỹ suy giảm. Tóm lại, Biển Đông là nơi mà toàn cầu hoá xung đột với địa chính trị.

Nếu kinh tế thế giới có một trung tâm địa lý, thì đó là Biển Đông. Khoảng 90% hàng hoá thương mại vận chuyển từ lục địa này qua lục địa khác đều bằng đường biển, khoảng một nửa số hàng hóa này về mặt tổng chi phí vận chuyển (một phần ba về giá trị tiền) đi qua Biển Đông[1]. Biển Đông có chức năng như cổ họng của Tây Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương - phần lớn mạng lưới liên kết kinh tế nơi mà các tuyến đường biển toàn cầu hợp nhất, chiếm 1,2 tỷ USD thương mại Mỹ hàng năm.[2] Sự phụ thuộc quá mức của Trung Quốc và ở một mức độ nào đó, của tất cả các nước công nghiệp, vào một eo biển Malacca an toàn được gọi là “tình thế tiến thoái lưỡng nan ở Malacca”.[3] Ở các mức độ khác nhau, tất cả các quốc gia đều phụ thuộc vào eo biển hẹp kết nối Ấn Độ Dương với Tây Thái Bình Dương - Vịnh Bengal với Biển Đông - qua đó dầu và khí tự nhiên từ Trung Đông có thể được vận chuyển một cách an toàn qua biển tới tầng lớp trung lưu mới nổi ở Đông Á, bộ phận rất quan trọng đối với nền kinh tế thế giới.

Địa chính trị là thế lực đối kháng lại toàn cầu hóa, phân chia thế giới thay vì hợp nhất nó. Biển Đông là nơi mà một Trung Quốc đang trỗi dậy về quân sự  ngày càng thách thức tính ưu việt của hải quân Mỹ - một xu hướng mà nếu cứ để đi theo quỹ đạo hiện tại, có thể phá vỡ sự cân bằng quyền lực đã tồn tại từ cuối Chiến tranh thế giới thứ II và đe dọa các tuyến đường biển (SLOCs). Là người bảo lãnh chủ yếu của tự do hàng hải toàn cầu, Hoa Kỳ có lợi ích sâu sắc và vĩnh cửu trong việc bảo đảm rằng SLOCs vẫn mở cửa với tất cả các nước, không chỉ về thương mại mà cả các hoạt động quân sự hòa bình như can thiệp nhân đạo và bảo vệ bờ biển.

Mỹ có thể bảo vệ một trật tự khu vực hoà bình và thịnh vượng tốt nhất bằng cách bảo toàn quyền tiếp cận các SLOCs quan trọng. Sự bất lực của Mỹ trong việc triển khai đủ sức mạnh cần thiết vào Biển Đông sẽ làm thay đổi những tính toán an ninh của tất cả các nước trong khu vực. Nếu  Mỹ không những mất khả năng làm phức tạp kế hoạch của kẻ thù mà còn ngày càng trở nên dễ bị tấn công trước một Trung Quốc liên tục hiện đại hóa quân sự thì các nước khác trong khu vực có thể sẽ ngả về một Trung Quốc hùng mạnh.

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây

Patrick M. Cronin, Robert D. Kaplan

Quách Huyền (dịch)

Quang Hưng (hiệu đính)

Bản dịch chương I: Cooperation from Strength: U.S. Strategy and the South China Sea trong báo cáo: Cooperation from Strenth: The United States, China and the South China Sea của Trung tâm An ninh mới (CNAS) của Mỹ.



[1]U.S. Energy Information Administration, South China Sea: Oil & Natural Gas (March 2008); và  Robert D. Kaplan, “China’s Caribbean,”  Tờ The Washington Post, ngày  26 tháng  9, 2010.

[2] Số liệu này được các quan chức  Mỹ tại Hội nghị Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương at the Asia-Pacific vào tháng 11 năm 2011. Xem David Nakamura, “Global Security Trumps Economics at APEC,” Tờ The Washington Post, 14 tháng 11, 2011, 10.

[3] Juli A. MacDonald, Amy Donahue and Bethany Danyluk, “Energy Futures in Asia: Final Report,” (Booz Allen Hamilton, November 2004). Đoạn trích dẫn được lần đầu được tuyên bố bởi chuyên gia Mỹ Trung Quốc Ross Munro.

 

Ngôn ngữ