20 - 5 - 2013 | 14:32
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home
Tag:Xung đột

Bộ phận dự báo, phân tích và tư vấn rủi ro (EIU) thuộc Tạp chí Nhà Kinh tế (Anh) ngày 16/5 đưa ra nhận định của cơ quan nghiên cứu uy tín này về khả năng bùng phát xung đột tại Biển Đông sau những đụng độ mới đây giữa Trung Quốc và Philíppin, đồng thời đánh giá về khả năng hợp tác cùng khai thác giữa Philíppin và Trung Quốc.

 

Những căng thẳng giữa Trung Quốc và Philíppin về vùng lãnh thổ tranh chấp tại Biển Đông một lần nữa lại nổi lên trong những tuần gần đây. Thảo luận về khu vực phát triển chung (JDA) và các lệnh cấm đánh cá chồng lấn có thể sẽ giúp xóa bỏ một phần sự mất tin cậy lẫn nhau. Thêm vào đó, những khó khăn chính trị mà ông Chu Vĩnh Khang, người đứng đầu ngành an ninh theo đường lối cứng rắn của Trung Quốc, đang phải đối mặt có thể sẽ mang lại một tia sáng le lói về khả năng của một cách tiếp cận bớt đối đầu hơn đối với cuộc xung đột. Tuy nhiên, khi những lợi ích của việc kiểm soát Biển Đông vốn quan trọng cả về chiến lược và kinh tế gia tăng, nguy cơ về các cuộc va chạm nhỏ dẫn tới một cuộc xung đột toàn diện vẫn còn đáng kể.

Những cuộc tranh cãi giữa các bên tuyên bố chủ quyền vùng lãnh thổ tranh chấp tại Biển Đông - trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, bãi đá ngầm Scarborough - đã nổ ra thường xuyên trong những năm gần đây. Cuộc tranh cãi mới nhất, bắt đầu từ ngày 8/4, nổi lên khi tàu chiến Philíppin phát hiện các tàu đánh cá Trung Quốc hoạt động bất hợp pháp tại khu vực bãi đá ngầm (Trung Quốc gọi là đảo Hoàng Nham), cách đảo Luzon của Philíppin 220 km về phía Tây, và cả hai nước đều tuyên bố chủ quyền. Tàu hải giám Trung Quốc đã được điều động tới để ngăn cản Hải quân Philíppin bắt giữ các ngư dân Trung Quốc, tạo ra một sự bế tắc. Sau sự náo động ban đầu của những sự phản đối lẫn nhau, Bắc Kinh và Manila bắt đầu các cuộc đàm phán, dẫn tới việc Philíppin rút tàu chiến và thay thế bằng tàu bảo vệ bờ biển dân sự. Các tàu đánh cá Trung Quốc sau đó rút đi mà không bị cản trở. Các tàu tuần tra dân sự của Trung Quốc và Philíppin sau đó tiếp tục "gằm ghè" nhau dọc bãi đá ngầm trong khi các ngư dân hai nước vẫn miệt mài làm ăn ở vùng nước xung quanh.

Phản ứng của Trung Quốc đối với sự cố này đã và đang trở nên phức tạp bởi môi trường chính trị chưa ổn định tại Bắc Kinh trong bối cảnh chính phủ chuyển giao quyền lực cho thế hệ lãnh đạo mới - một tình huống có thể tạo ra nhiều không gian hơn cho một loạt các cơ quan của Trung Quốc có liên quan khích bác chống lại nhau. Tuy nhiên, phản ứng cơ bản của Trung Quốc đối với sự cố này, như thường lệ, được tô điểm bằng quan điểm dân tộc chủ nghĩa, cứng rắn của chính phủ phản đối bất kỳ hành động nào thách thức những tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc. Những ngày gần đây, Trung Quốc đã dừng các chuyến du lịch sang Philíppin và khám xét nghiêm ngặt hơn các hoa quả nhập từ Philíppin, chẳng hạn như chuối, sản phẩm mà Trung Quốc là khách hàng lớn nhất. Bắc Kinh cũng đã cảnh báo Manila rằng nước này đã sẵn sàng phản ứng với "bất kỳ một sự leo thang" nào của tình hình.

Đặt cược lớn

Đối với cả Trung Quốc và Philíppin, triển vọng về việc vùng biển tranh chấp có trữ lượng tài nguyên thiên nhiên đáng kể đồng nghĩa với việc hai nước đều đặt cược lớn vào canh bạc này. Ủy ban Thông tin Năng lượng Mỹ ước tính trữ lượng dầu khí được chứng minh và chưa khai thác tại khu vực này lên tới 213 tỷ thùng. Ngày 9/5, Tập đoàn dầu khí ngoài khơi quốc gia Trung Quốc (CNOOC) tuyên bố rằng đã sẵn sàng bắt đầu khai thác dầu sử dụng giàn khoan dầu nước sâu đầu tiên của mình tại Biển Đông. Mặc dù giàn khoan này không đặt bên trong vùng tranh chấp nhưng CNOOC mô tả nó không chỉ là phương tiện để gia tăng sản xuất khí đốt và dầu mỏ quốc gia mà còn là "công cụ chiến lược" để thúc đẩy các lợi ích lớn hơn của Trung Quốc ở tại khu vực này.

Cách tiếp cận của Philíppin đối với tranh chấp cũng phản ánh sự mong muốn đạt được các lợi ích kinh tế từ nguồn tài nguyên thiên nhiên dưới đáy Biển Đông. Cuối tháng 4, Forum Enerny, một bộ phận đặt trụ sở tại Anh của Tập đoàn Philex Mining do Philíppin sở hữu, tuyên bố rằng nguồn khí đốt tự nhiên đã phát hiện năm 2006 tại một khu vực tranh chấp lớn hơn so với ước tính trước đây. Trữ lượng này nằm tại mỏ khí đốt Sampaguita ở Bãi Cỏ Rong. Tuy nhiên, tranh chấp lãnh thổ giữa hai nước tới nay vẫn cản trở việc khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên của khu vực. Philex Mining nói rằng các xung đột lãnh thổ đã làm trì hoãn các kế hoạch khai thác khí tại Bãi Cỏ Rong, nơi các tàu Trung Quốc đã quấy nhiễu một trong những tàu khảo sát của Forum Energy trong năm 2011.

Những triển vọng hợp tác cùng khai thác

Các khu vực phát triển chung (JDA) trong một số bối cảnh khác đã được sử dụng để cho phép các quốc gia cùng thu lợi ích từ những nguồn lực kinh tế chung trong khi gạt ra một bên các vấn đề về chủ quyền gây tranh cãi. Những tiền lệ bao gồm việc phát triển các nguồn tài nguyên thiên nhiên ở một số khu vực khác của châu Á, chẳng hạn giữa Malaixia và Việt Nam, và giữa Malaixia với Thái Lan. Trung Quốc bấy lâu nay vẫn muốn thực hiện các JDA song phương, nhưng Philíppin vẫn cẩn trọng hơn. Năm ngoái, Chính phủ Philíppin lặp lại rằng nước này sẽ mở cửa cho nước ngoài tham gia khai thác tại Bãi Cỏ Rong, nhưng việc khai thác đó phải tuân thủ luật pháp của Philíppin (Philíppin nhiệt tình hơn đối với việc cùng khai thác tại các vùng tranh chấp ở Biển Đông nằm ngoài EEZ của nước này). Ngày 4/5, Tổng thống Philíppin Benigno Aquino nói rằng ông để ngỏ khả năng các công ty cùng tham gia khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên tại các khu vực tranh chấp ở Biển Đông, cùng với các chính phủ có liên quan giải quyết tranh chấp lãnh thổ riêng rẽ của họ. Ngay sau đó, Philex Mining nói rằng tập đoàn này đã thảo thuận về khả năng thiết lập đối tác với CNOOC để khai thác khí đốt tự nhiên tại Bãi Cỏ Rong.

Trong khi tăng cường phát triển các thực lực quân sự của mình, cả Trung Quốc và Philíppin đều tiếp tục lên tiếng ủng hộ một giải pháp hòa bình đối với các tranh chấp giữa hai bên tại Biển Đông. Tuy nhiên, hai nước lại ưu tiên các con đường khác nhau hướng tới một giải pháp hòa bình. Philíppin, giống như các nước có tuyên bố chủ quyền khác ở Đông Nam Á, muốn cách tiếp cận đa phương dựa trên Công ước LHQ về Luật Biển (UNCLOS). Chính phủ Philíppin đã đưa tranh chấp với Trung Quốc tại bãi đá ngầm Scarborough ra Tòa án Quốc tế về Luật Biển (ITLOS) để phân xử, mặc dù thể chế này không có quyền áp đặt các giải pháp. Mặc dù Trung Quốc phản đối đề nghị này, song các nhà chức trách Philíppin đã tỏ dấu hiệu cho thấy họ có ý định đơn phương đệ trình vấn đề này lên ITLOS. Trung Quốc kiên định muốn giải quyết tranh chấp trên biển theo con đường song phương theo cách thức "đóng cửa bảo nhau", theo đó sẽ mang lại cho nước này ưu thế hơn khi đương đầu với các nước láng giềng có tranh chấp.

Một giải pháp hòa bình đối với tranh chấp Biển Đông chắc chắn sẽ nằm trong lợi ích của cả hai nước, và có những lý do đúng đắn để tránh những căng thẳng leo thang. Đối với Trung Quốc, khả năng can dự quân sự của Mỹ là một nguy cơ rất lớn. Đối với Philíppin, hiện vẫn còn tồn tại một sự không rõ ràng về quan điểm của Mỹ đối với tranh chấp, và vì thế nước này không thể chắc chắn về mức độ hỗ trợ của Mỹ trong trường hợp căng thẳng leo thang với Trung Quốc.

Mặc dù vậy, một giải pháp hòa bình khó có thể sớm đạt được. Việc thiết lập vùng khai thác chung có thể giúp giảm căng thẳng, nhưng tranh chấp Biển Đông không chỉ đơn thuần là về nguồn tài nguyên thiên nhiên như dầu mỏ và trữ lượng cá, mà còn liên quan tới các vấn đề chủ quyền cơ bản, việc kiểm soát các tuyến đường biển chiến lược và nỗ lực của Philíppin củng cố an ninh chống lại nền tảng quyền lực ngày càng gia tăng của Trung Quốc. Các vấn đề này sẽ khó có thể mất đi một cách nhanh chóng, và khi những sự đối đầu trở nên thường xuyên hơn thì nguy cơ các đụng độ quy mô nhỏ phát triển thành xung đột toàn diện vẫn tồn tại.

Một động thái có thể mang lại một chút hy vọng cho một bước chuyển trong những hướng đi của các sự kiện hiện nay là khả năng mất quyền lực của "Sa hoàng an ninh" Trung Quốc Chu Vĩnh Khang sau vụ bê bối của Bạc Hy Lai. Ông Chu Vĩnh Khang hiện vẫn tại vị, nhưng tin tức trên tờ "Thời báo Tài chính" của Anh và một số phương tiện truyền thông Trung Quốc cho thấy ông có thể sẽ phải từ bỏ phần lớn quyền lực của mình. Với việc ông Chu Vĩnh Khang được coi là một nhà bảo thủ theo đường lối cứng rắn và là một trong những động lực chính phía sau cách tiếp cận hiếu chiến của Trung Quốc đối với các vấn đề như Biển Đông, nhiều khả năng các nhân vật khác có thể sẽ áp đặt thực hiện một đường lối ít đối đầu hơn. Bản chất liên kết ứng phó của nền chính trị Trung Quốc - và thực tế là người kế nhiệm ông Chu Vĩnh Khang cũng có thể xuất thân từ phe bảo thủ trong Đảng Cộng sản Trung Quốc - khiến việc chuyển đổi mạnh trong chính sách là điều khó có thể xảy ra. Lập trường của Trung Quốc phản ánh những quan điểm ý thức hệ và chiến lược lâu đời và vượt ra ngoài khả năng của một cá nhân nhất định. Mặc dù vậy, trong tranh chấp này thì chỉ cần một thay đổi nhỏ về quan điểm cũng có thể mở ra con đường cho một cách tiếp cận triển vọng hơn.

Theo The Economist

Trần Quang (gt)

 

Các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa có diện tích bề mặt chưa quá 15 km² là mục tiêu theo đuổi của những yêu sách và xung đột gia tăng kể từ những năm 1970. Những lợi ích từ yêu sách hai quần đảo này đối với các quốc gia là gì?

 

 

Dưới đây là một số nội dung chính trong bài phân tích Les îles Spratley et Paracels của tác giả Laurent Garnier đăng trên website Bộ Quốc Phòng Pháp.

Những thách thức

1- M rng vùng đc quyn kinh tế (EEZ):

Như chúng ta đã biết, theo luật quốc tế, việc một Nhà nước sở hữu một lãnh thổ trên biển sẽ cho phép có những đặc quyền đối với một phạm vi lãnh hải và EEZ. Việc các Nhà nước xung quanh Biển Đông tranh giành quyền sở hữu các đảo nhỏ và đảo san hô không có người ở và không thể sinh sống được tại Trường Sa và Hoàng Sa trước hết không phải nhằm giành chủ quyền các hòn đảo này mà là nhằm mở rộng EEZ. Chính vì lý do này, Trung Quốc, nước có EEZ rộng 880.000 km2 (Mỹ có EEZ rộng 12 triệu km2, Nhật 4,4 triệu km2, Pháp 11 triệu km2) đang dòm ngó 3,5 triệu km2 Biển Đông.

2- Các nguồn tài nguyên thiên nhiên và hải sản:

Hai quần đảo trên dồi dào các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Trữ lượng cá ước tính nhiều triệu tấn, các nguồn hải sản phong phú (các loài hải sản có giá trị cao như tôm hùm, rùa, đồi mồi, bào ngư quý hiếm…). Ngoài sự hiện diện của nguồn phốt phát trên các hòn đảo còn tiềm ẩn trữ lượng lớn các mỏ kim loại dưới đáy biển. 10% trữ lượng cá của thế giới nằm tại Biển Đông.

3- Kiểm soát các tuyến hàng hải thương mại quốc tế:

Biển Đông bao quát nhiều eo biển: Eo biển Malắcca nằm giữa bán đảo Malaixia và đảo Sumatra của Inđônêxia, nối biển Andaman ven Ấn Độ Dương với Biển Đông tại phía Nam; eo biển Sonde chia cắt các đảo Java của Inđônêxia với đảo Sumatra; eo biển Lombok nối biển Java và Ấn Độ Dương, chia cắt các đảo Bali và Lombok của Inđônêxia; eo biển Macassar chia cách phía Tây đảo Borneo và phía Đông đảo Sulawesi. Với chiều rộng trung bình 15 km và dài khoảng 800 km, eo biển này cho phép thông thương giữa biển Celebes và biển Java; eo biển Balabac nối biển Sulu với Biển Đông. Eo biển này chia cách đảo Balabac (thuộc tỉnh Palawan của Philíppin) với các đảo nằm ở phía Bắc của Borneo, thuộc bang Sabah của Malaixia, rộng 55 km; eo biển Luzon nằm giữa các đảo Luzon và Đài Loan; eo biển Đài loan, giao giữa quần đảo này với Trung Quốc đại lục.

Biển Đông là một ngã tư thông thương của các tuyến hàng hải thương mại quan trọng bởi đây là tuyến ngắn nhất nối giữa Bắc Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Trước tiên liên quan đến tuyến vận chuyển năng lượng, eo biển Malắcca vận chuyển nhiều dầu mỏ gấp 6 lần kênh đào Xuyê và nhiều hơn 17 lần kênh đào Panama. Biển Đông là nơi vận chuyển 2/3 nguồn năng lượng của Hàn Quốc, 60% nguồn năng lượng của Nhật Bản và Đài Loan, 80% nhập khẩu dầu thô của Trung Quốc, tức hơn một nửa nhập khẩu năng lượng của khu vực Đông Nam Á. Trong bối cảnh đó, việc nắm quyền kiểm soát hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa sẽ giúp kiểm soát hầu như một phần lớn EEZ và tuyến thương mại quan trọng hàng đầu thế giới.

4- Các nguồn tài nguyên dầu khí:

Theo tác giả Robert D. Kaplan, Biển Đông có trữ lượng dầu thô đạt 7 tỷ thùng (so với 1.383 tỷ thùng trên đất liền toàn thế giới theo tính toán của tập đoàn BP năm 2010, chiếm 0,5% trữ lượng dầu của thế giới) và có trữ lượng khí đốt đạt 25.000 tỷ m3 khí (so với 187.100 tỷ m3 khí trên đất liền toàn thế giới, chiếm 13,4% trữ lượng khí đốt toàn cầu).

5- Phạm vi triển khai một hạm đội tàu ngầm:

Biển Đông là tuyến hàng hải thương mại ưu tiên, thậm chí cốt yếu giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Không chỉ có tầm quan trọng về thương mại, Biển Đông còn chiếm một vị trí quan trọng trong chiến lược quân sự, đặc biệt đối với Trung Quốc. Chúng ta phải thừa nhận là Trung Quốc đang tăng cường khả năng của các đội tàu ngầm trong khu vực, đặc biệt là việc nước này xây dựng căn cứ tàu ngầm tại cảng hải quân Tam Á ở phía Nam đảo Hải Nam. Theo tướng Schaeffer, dường như tham vọng của Trung Quốc tại các quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa hay các quần đảo khác cũng như các vùng nước sâu tại Biển Đông không nhằm mục đích nào khác ngoài bảo đảm cho nước này một khu vực triển khai an toàn đội tàu ngầm tấn công. Dù bất kể thế nào Biển Đông vẫn là vùng biển xung quanh Trung Quốc có vùng nước sâu cho phép tàu ngầm nước này dễ dàng tiến ra Thái Bình Dương.

Tình trạng tranh chấp

1- Thiếu vng gii pháp đo đc?

Tính chất nghiêm trọng của cuộc xung đột này là thiếu một giải pháp đạo đức. Nếu cuộc Chiến tranh Thế giới thứ II là cuộc chiến không khoan nhượng chống chế độ cực quyền thì không một nước chủ chốt nào liên quan đến những căng thẳng tại Biển Đông có thể bị coi là hiện thân của sự xấu xa hoàn toàn. Do đó, cuộc chiến của cái tốt chống cái xấu đang dần thay thế bằng cuộc đối đầu giữa các chủ nghĩa dân tộc duy lý mà chúng ta có thể chứng kiến tại Biển Đông với câu nói: “Kẻ mạnh có thể làm điều mình muốn và kẻ yếu phải chịu điều cần phải chịu”. Nếu có khả năng xảy ra một cuộc tranh chấp thì cũng chỉ hạn chế ở một số cuộc đụng độ lẻ tẻ và không dẫn tới một cuộc chiến tranh quy mô lớn. Cũng cần phải thấy các cuộc đụng độ đó sẽ không gây ra nhiều lo ngại song chất lượng vũ khí sẽ quyết định cuộc đối đầu. Tình hình mong muốn nhất là duy trì quy chế nguyên trạng do sự cân bằng sức mạnh, nhất là giữa Mỹ và Trung Quốc, cũng như những gì Ôxtrâylia kêu gọi.

2- Một giải pháp pháp lý?

Mặc dù thiếu vắng giải pháp đạo đức song vẫn tồn tại một luật pháp quốc tế, đặc biệt như những gì Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982 ký ở Montego Bay mô tả. Công ước này không thể giải quyết toàn bộ mọi cuộc xung đột và đối đầu, xong đề ra một khung cảnh luật hợp pháp, trong đó mọi tranh chấp trên có thể được giải quyết theo các quy tắc lãnh hải và EEZ mà không phải cần tới đối đầu vũ trang. Công ước cũng là một tư liệu gốc về các luật lệ quy định các hoạt động ngoài khơi. Các nước có thể yêu cầu mở rộng EEZ trên thềm lục địa của mình. Đó là điều mà Malaixia và Việt Nam đã làm năm 2009. Nhưng do luật pháp quốc tế không đủ nên hành động phối hợp giữa Malaixia và Việt Nam đã làm Trung Quốc không hài lòng. Trung Quốc sau đó đã gửi một công hàm lên Tổng thư ký Liên hợp quốc nhằm chính thức hóa lập trường của nước này đối với yêu sách “đường lưỡi bò” trên Biển Đông, một quan điểm từ trước đến nay chưa được công nhận chính thức. Tướng Schaeffer xác nhận hành động của Trung Quốc đi ngược lại với điều 89 của UNCLOS, theo đó “không một Nhà nước nào có thể đòi hỏi một khu vực bất kỳ ngoài biển khơi làm chủ quyền riêng”. Cũng cần phải nhấn mạnh vai trò của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Tuy nhiên, các điều luật trong công ước của LHQ hay rộng hơn là hành động của cộng đồng quốc tế không đủ đề ngăn chặn mọi hành động hiếu chiến từ các đối tượng trong khu vực, ngay cả những nỗ lực của ASEAN. Chúng ta có thể nhắc đến Tòa án tư pháp quốc tế, song dù cố gắng cũng không thể triệu tập hết các nước liên quan đến tranh chấp. Tuy nhiên, dường như giải pháp của các nước liên quan Biển Đông sẽ mang tính chính trị hơn là tư pháp và có thể cả quân sự.

3- Các sự kiện mới đây cho thấy thái độ hiếu chiến gia tăng của Trung Quốc

Những cuộc xâm lược trên thực địa

Chúng ta thấy từ năm 2009 một sự gia tăng xâm lược của Trung Quốc trên Biển Đông. Không chỉ có vậy, Lực lượng hải quân của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLAN) không ngừng gia tăng các hành động hăm dọa, các hành động nhằm duy trì sự hiện diện tại Biển Đông. Cùng với đó là các đơn vị dân sự như lực lượng hải giám (CMS), được trang bị vũ khí từ PLAN, không ngừng quấy rối các tàu thăm dò dầu khí. Mọi hành động của Trung Quốc đều núp dưới vỏ bọc dân sự và được hải quân Trung Quốc hiện diện gần đó bảo vệ. Bên cạnh sự hiện diện hải quân, Trung Quốc còn thực hiện các vụ tấn công mạng. Đã có hơn 200 trang mạng của Việt Nam bị tin tặc tấn công vào tháng 6 năm 2011.

Những hành động hung hăng chống Mỹ

Những va chạm không chỉ diễn ra giữa Trung Quốc với các Nhà nước khu vực. Từ năm 2001 đã xảy ra 3 vụ va chạm giữa Mỹ và Trung Quốc: Tháng 4/2001, một máy bay trinh sát của Mỹ (EP3-Orion) đã va chạm với một báy bay quân sự Trung Quốc. Mặc dù vụ này xảy ra ngoài EEZ của Trung Quốc song người Trung Quốc lại quả quyết rằng người Mỹ đã vi phạm không phận nước mình. Người Trung Quốc cho rằng họ có quyền trên vùng không phận của EEZ. Điều này hoàn toàn đi ngược lại với luật pháp quốc tế.

Tháng 3/2009, 5 tàu của Trung Quốc đã ngăn cản tàu thăm dò đại dương USNS Impeccable của Mỹ. Tàu Impeccable khi đó đang thực hiện thăm dò tại khu vực gần căn cứ tàu ngầm Tam Á, song ở ngoài khơi (ngoài 12 dặm). Sự kiện này một lần nữa cho thấy tầm quan trọng chiến lược của khu vực đối với các tàu ngầm Trung Quốc và thể hiện sự bành trướng chủ quyền của Trung Quốc đối với EEZ.

Tháng 6/2009, một tàu ngầm Trung Quốc đã mắc vào đường cáp định vị sóng âm của tàu chiến Mỹ USS John McCain tại Scarborough Reef, một khu vực chiến lược mà các tàu ngầm Trung Quốc qua lại. Trung Quốc đã lợi dụng cơ hội này để gia tăng sức ép ngoại giao ngăn cản hải quân Mỹ hiện diện tại Biển Đông.

Một quan điểm ngoại giao mập mờ của Trung Quốc

Không hài lòng với việc chiếm biển, Trung Quốc cũng đang chiếm cả không gian ngoại giao. Không ngại mâu thuẫn với chính mình, Trung Quốc đang nuôi tham vọng đôi khi duy trì ý định hòa giải và hòa bình hơn trong khi vẫn khẳng định chủ quyền trên Biển Đông. Trong ý đồ chính thức hóa “đường lưỡi bò”, Bộ Ngoại giao Trung Quốc năm 2011 đã nói đến “chủ quyền không thể tranh cãi” của Trung Quốc tại Biển Đông. Đại sứ Trung Quốc tại Philíppin Lưu Kiến Siêu đã “khuyên các nước đòi hỏi chủ quyền tại Biển Đông” không tiếp tục khai thác dầu khí tại các “vùng lãnh hải của Trung Quốc” khi chưa được phép của Bắc Kinh.

Mặt khác, Trung Quốc lại thể hiện bộ mặt hòa bình. Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt ngày 5/6/2011 tại Hội nghị Shangri-La ở Xinhgapo đã tuyên bố: “Trung Quốc không có ý định đe dọa bất kỳ nước nào”. Qua quan điểm ngoại giao hai mặt này của Trung Quốc, rất thú vị khi theo dõi những tuyên bố của Trung Quốc khi mua tàu sân bay Varyag nhằm mục đích huấn luyện. Được đặt tên lại là Thi Lang, tàu này đã thực hiện các vụ thử nghiệm trên biển vào tháng 8/2011 và hải quân Trung Quốc đang xây dựng tàu sân bay thứ hai. Chúng ta thừa nhận rằng với việc đổi hướng luật pháp quốc tế một cách tranh cãi để có lợi cho mình, Trung Quốc đang tự cho mình quyền sở hữu phạm vi lãnh hải trong “đường lưỡi bò”.

4- Những lựa chọn của các Nhà nước Đông Nam Á trước sự bành trướng của Trung Quốc

Cần tới Oasinhtơn

Do hạn chế về phương tiện quốc phòng, ý định lớn của các “anh chàng David” Đông Nam Á là hướng về phía Mỹ trước “gã khổng lồ Goliah” Trung Quốc. Philíppin dựa vào Hiệp định phòng thủ chung năm 1951, theo đó Oasinhtơn cam kết cung cấp cho Philíppin thiết bị quân sự. Hải quân Mỹ cũng phối hợp với hải quân Philíppin tổ chức các cuộc tập trận chung hàng năm. Đối với Hà Nội thật không đơn giản. Do không thể công khai hướng tới Oasinhtơn, chiến lược của Việt Nam là công khai nhất có thể liên quan đến những hành động quấy rối mà mình là nạn nhân từ phía Trung Quốc để nhận được sự ủng hộ từ cộng đồng quốc tế. Ngày 9/6/2011, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố trước công chúng rằng chủ quyền của Việt Nam đối với các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa là không thể tranh cãi và “sẽ bảo vệ bằng các lực lượng vũ trang”. Những cuộc trao đổi giữa hải quân Mỹ và Việt Nam ngày càng gia tăng. Mỹ cũng hỗ trợ Xinhgapo, Thái Lan và ngày càng tăng cường quan hệ với Inđônêxia và Malaixia. Mỹ cũng đã quay trở lại Ôxtrâylia. Dường như Mỹ luôn có khả năng là đối trọng với hành động của Trung Quốc ngay cả khi Mỹ đang bước vào giai đoạn bị hạn chế ngân sách quốc phòng.

Hướng tới một cuộc chạy đua vũ trang

Trong bối cảnh này, các nước Đông Nam Á đang tìm cách tăng cường khả năng cho hải quân quốc gia. Từ năm 2000, nhập khẩu vũ khí của Inđônêxia đã tăng 84%, Xinhgapo tăng 146% và nước này đang tìm cách hiện đại hóa hạm đội tàu ngầm, Malaixia tăng 722% và vừa mới thiết lập một căn cứ tàu ngầm tại Borneo để hướng ra Biển Đông. Căn cứ này dành cho 2 tàu ngầm Scorpène mua của Pháp. Malaixia tháng 12/2011 đã mua của Pháp 6 tàu hộ tống Gowind. Việt Nam đã mua 6 tàu ngầm lớp Kilo trị giá 1,4 tỷ euro và các máy bay tiêm kích trị giá 700 triệu euro của Nga.

5- Thái độ của cộng đồng quốc tế

Quan điểm của Pháp

Đối với Pháp, mọi tranh chấp đều phải dựa vào luật pháp quốc tế. Pháp bày tỏ ủng hộ bộ quy tắc ứng xử do ASEAN đề xuất. Hơn nữa, trong nỗ lực giảm thiểu căng thẳng, Pháp đã đề xuất tổ chức hội thảo bao gồm cả Liên minh châu Âu và ASEAN dưới dạng các diễn đàn trao đổi kinh nghiệm quản lý các khu vực hàng hải chung.

Bước ngoặt cuối cùng là quan điểm của Mỹ

Ngoài những vụ va chạm của các tàu USNS Impeccable, USS John McCain, việc tháng 3/2010 Bắc Kinh coi Biển Đông là “lợi ích cốt lõi quốc gia”, ngang với Đài Loan và Tây Tạng đã làm gia tăng mâu thuẫn giữa Mỹ và Trung Quốc. Điều này đã đẩy người Mỹ chính thức cam kết sâu hơn vào khu vực với tuyên bố của Ngoại trưởng Hillary Clinton tại Hội nghị diễn đàn khu vực ASEAN ngày 23/7/2010 khi xác định: “Mỹ có lợi ích quốc gia trong tự do lưu thông hàng hải, tự do tiếp cận các hải phận chung tại châu Á, và tôn trọng luật pháp quốc tế tại Biển Đông”. Quan điểm của Mỹ là chính thức không tham gia những yêu sách lãnh hải song bày tỏ quan tâm đến nguy cơ dẫn đến các bên đối đầu làm ảnh hưởng tới tự do lưu thông hàng hải.

Kết luận

Trung Quốc tỏ thái độ phức tạp giữa lập trường xoa dịu và hành động gây hấn tại Biển Đông. Luật biển theo kiểu Trung Quốc và cách thể hiện của Bắc Kinh là những thách thức chiến lược. Trung Quốc đã hiểu rõ và đang sử dụng mưu đồ để mở rộng luật này phục vụ lợi ích riêng. Cách tiếp cận tư pháp liên quan các vấn đề Biển Đông phải được hoàn thiện từ cách đặt vấn đề ngoại giao và hàng hải. Trung Quốc có tham vọng giải quyết với các bên liên quan ở Biển Đông một cách song phương chứ không phải đa phương như phần lớn các đối tác và cộng đồng quốc tế mong muốn. Do đó, việc Mỹ quay trở lại khu vực đánh dấu một bước ngoặt trong các sự kiện. Cuộc chơi sẽ thận trọng hơn.

Bài gốc: Les îles Spratley et Paracels

Theo Cesm.marine.defense.gouv.fr

Viết Tuấn (gt)

 

 

Tham vọng của Trung Quốc tại Biển Đông đang kích thích sự can dự của Mỹ. Những yêu sách chủ quyền, nhu cầu tài nguyên đang khiến cho căng thẳng tại Biển Đông gia tăng và cánh cửa giải quyết triệt để vấn đề trở nên hẹp hơn.

 

 

 

Rủi ro do xung đột leo thang từ những sự kiện nhỏ nhặt có liên quan đang tăng lên tại Biển Đông từ 2 năm qua với những tranh chấp mà giờ đây có ít cơ hội cho việc đàm phán hay giải quyết. Ban đầu, những tranh chấp xảy ra sau Chiến tranh lạnh khi các quốc gia duyên hải – Trung Quốc và 3 quốc gia của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), gồm Indonesia, Malaysia, Philipin cũng như Việt Nam, quốc gia gia nhập ASEAN sau này – đã cạnh tranh để chiếm đóng những hòn đảo tại đây. Thực sự lúc đó khi vấn đề chỉ hoàn toàn ở mức tranh chấp lãnh thổ, thì nó đã có thể được giải quyết thông qua những nỗ lực của Trung Quốc bắt tay với ASEAN và tiến đến thắt chặt mối quan hệ với khu vực này.

Vào những năm 90, việc tiếp cận những nguồn trữ lượng dầu khí cũng như nguồn tài nguyên biển, đánh bắt cá đã bắt đầu làm phức tạp những yêu sách. Khi nhu cầu năng lượng toàn cầu tăng, các bên yêu sách đã đặt ra kế hoạch để khai thác những trữ lượng hydrocarbon của biển với những tranh chấp liên tiếp sau đó không còn gây sửng sốt, đặc biệt là giữa Trung Quốc và Việt Nam. Tuy nhiên, những tranh chấp năng lượng không cần thiết gây ra xung đột, vì tranh chấp đã, đang và có thể tiếp tục được kiểm soát thông qua những cơ chế phát triển đa phương hay phát triển chung, đối với những cơ chế này có nhiều tiền lệ cho dù chúng không phức tạp như Biển Đông.

Tuy nhiên, giờ đây vấn đề đã vượt ra khỏi những yêu sách lãnh thổ và việc tiếp cận tài nguyên năng lượng, khi Biển Đông trở thành tâm điểm cho cuộc cạnh tranh Mỹ - Trung tại Tây Thái Bình Dương. Từ khoảng năm 2010, Biển Đông bắt đầu được liên kết với những chiến lược rộng lớn hơn liên quan đến chiến lược hải quân của Trung Quốc và sự hiện diện tới đây của Mỹ tại khu vực này. Điều này khiến cho tranh chấp trở nên nguy hiểm và có lý do để quan ngại, đặc biệt là kh Mỹ tái khẳng định lợi ích của mình tại Châu Á – Thái Bình Dương và thắt chặt những mối quan hệ an ninh với các quốc gia yêu sách trong ASEAN có tranh chấp.

NHỮNG CĂN NGUYÊN THUỘC TRANH CHẤP LÃNH THỔ

Trung Quốc và Việt Nam yêu sách toàn bộ khu vực Biển Đông và những hòn đảo trong đó, trong khi Malaysia, Philipin, Indonesia và Brunei yêu sách đối với những khu vực tiếp giáp. Có hai nguyên tắc chi phối những yêu sách, và cả hai đều chống lại yêu sách của Trung Quốc đối với khu vực này. Thứ nhất là nguyên tắc “chiếm hữu hiệu quả”, một tiền lệ được hình thành bởi Tòa trọng tài Thường trực trong án lệ đảo Palmas vào tháng 4 năm 1928.[1] Chiếm hữu hiệu quả thừa hưởng thẩm quyền và mục đích để thực hiện quyền quyền tài phán liên tục và kế tiếp, điều này khác hẳn với xâm chiếm. Mặc dù Trung Quốc chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa – quần đảo với khoảng 30 hòn đảo cách đều từ bờ biển Trung Quốc và Việt Nam – thuyết về chiếm hữu hiệu quả cũng chống lại sự chiếm đóng của Trung Quốc tại quần đảo Trường Sa - quần đảo nằm ngoài bờ biển của Philipin và Malaysia – ngoài 9 hòn đảo Trung Quốc chiếm giữ từ 1988 – 1992, còn lại do các quốc gia yêu sách trong ASEAN chiếm giữ.

Nguyên tắc thứ hai là Công ước Luật biển Liên hợp Quốc (UNCLOS), Công ước đưa ra những nguyên tắc quyết định đến yêu sách đối với nguồn tài nguyên dựa trên vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa tiếp giáp (vùng đặc quyền kinh tế là khu vực biển kéo dài 320 km từ bờ biển, khu vực cho phép quốc gia ven biển yêu sách đối với những nguồn tài nguyên tại đây). UNCLOS không ủng hộ bất kỳ một bên nào được yêu sách vượt quá khu vực EEZ hay khu vực thềm lục địa tiếp giáp được tuyên bố. Nhưng yêu sách của Trung Quốc lại vượt quá vùng EEZ và chống lấn lên những yêu sách chủ quyền hợp pháp (theo quy định của UNCLOS cho phép – ND) của các quốc gia ASEAN có yêu sách.

Yêu sách của Trung Quốc dựa trên lịch sử, nhưng những yêu sách kiểu như vậy không hề thuyết phục trong luật quốc tế, theo quan điểm của Trung Quốc thì luật quốc tế hạ thấp di sản tổ tiên và là nguồn cơn oán giận của Trung Quốc. Quan điểm của Trung Quốc là yêu sách của nước này có trước UNCLOS (Công ước được công nhận vào năm 1982 và có hiệu lực 1994 sau khi quốc gia thứ 60 phê chuẩn) và rằng Công ước nên được điều chính lại cho phù hợp với những quyền lịch sử. Để khẳng định cho những yêu sách trong tình huống tồn tại sự phức tạp của luật quốc tế có thể không ủng hộ những yêu sách, Trung Quốc đã liên tiếp dùng đến những áp lực ngoại giao đối với việc xem xét lại luật quốc tế và đạt được một ngoại lệ đặt biệt đối với Biển Đông, nơi mà những yêu sách tổ tiên của Trung Quốc được tất cả công nhận.

DẦU, NĂNG LƯỢNG VÀ NGƯ NGHIỆP

Do tranh chấp lãnh thổ, vấn đề Biển Đông có thể sẽ còn tiếp tục bế tắc mà không có bất kỳ nhu cầu cấp bách nào để giải quyết vấn đề.Tuy nhiên sự tồn tại của nguồn dự trữ năng lượng tại Biển Đông lại ngăn cản một giải pháp như vậy. Với việc nhu cầu năng lượng toàn cầu đang tăng, những quốc gia tiêu thụ năng lượng chủ yếu như Trung Quốc đang tìm kiếm những nguồn năng lượng mới nhằm đáp ứng cho nền kinh tế đang phát triển của mình. Vào năm 2009, Trung Quốc trở thành nước tiêu thụ dầu đứng thứ hai sau Mỹ, và nhu cầu tiêu thụ của nước này dường như sẽ tăng gấp đôi vào năm 2030, điều khiến cho nước này trở thành quốc gia tiêu thụ dầu lớn nhất thế giới. Năm 2010, Trung Quốc nhập khẩu 52% lượng dầu từ Trung Đông, Ả Rập Xê Út và nhập 66% từ Angola. Trung Quốc đang đa dạng hóa nguồn cung nhằm giảm sự phụ thuộc vào việc nhập khẩu dầu theo đuổi việc gia tăng nguồn sản xuất ngoài khơi lưu vực Sông Ngọc (Pearl River) và Biển Đông.[2]

Những yêu sách chủ quyền cạnh tranh về năng lượng

Việt Nam là quốc gia sản xuất dầu lớn trong khu vực, với việc công ty dầu quốc doanh PetroVietnam sản xuất 24,4 triệu tấn, chiếm 26% tổng lượng sản xuất dầu của Việt Nam từ 3 mỏ dầu tại Biển Đông[3]. Với sản xuất tại những mỏ đã được khai thác giảm, PetroVietnam đã ký kết 60 hợp đồng khai thác và sản xuất dầu khí với nhiều công ty nước ngoài khác nhau trong nỗ lực khai thác những mỏ dầu mới. Tuy nhiên những mỏ dầu mới này không mang lại kỳ vọng bù đắp nguồn dầu bị giảm.[4] Khi Việt Nam nỗ lực khai thác những mỏ dầu mới, có khả năng sẽ làm tái bùng lên những xung đột với Trung Quốc, quốc gia kiên quyết phản đối nỗ lực của Việt Nam ký kết hợp đồng khai thác dầu với các công ty dầu quốc tế tại Biển Đông.

Trung Quốc phàn nàn rằng các quốc gia yêu sách chủ quyền trong ASEAN đang xâm phạm vùng biển của Trung Quốc và nó nằm trong khu vực mà Trung Quốc có quyền thực thi yêu sách của mình đối với các bên. Ví dụ, vào 26 tháng 5, 2011, 2 chiếc tàu hải giám của Trung Quốc đã cắt cáp khai thác của một tàu khảo sát Việt Nam đang tìm kiếm những mỏ dầu, khí trong vùng EEZ của Việt Nam, cách khoảng 120 km từ bờ biển phía nam Việt Nam. Bộ Ngoại giao Việt Nam đã công bố những đoạn video về việc tàu Trung Quốc đã thực sự phá cáp tàu Bình Minh của Việt Nam.[5] Người phát ngôn Bộ ngoại giao Trung Quốc, Khương Du (Jiang Yu) đã tuyên bố rằng tàu Trung Quốc đã thưc hiện “những hoạt động giám sát và thực thi luật hàng hải hoàn toàn bình thường trong khu vực thuộc quyền tài phán của Trung Quốc”[6] Vào ngày 9 tháng 6, một tàu cá Trung Quốc thực hiện hành động tương tự khi cắt cáp khảo sát của một tàu khảo sát khác của Việt Nam.

Philipin cũng gặp vấn đề tương tự với Trung Quốc. Manila đang nỗ lực nâng cao khả năng tự sản xuất dầu của mình, và đặt ra mục tiêu đạt 60% năm 2011, là điều có vẻ không thể thực hiện. Nước này dự tính ký kết 15 hợp đồng khai thác trong một vài năm tới tại khu vực khai thác ngoài khơi đảo Palawan, trong khu vực Trung Quốc có yêu sách. [7] Vào năm 2011, Philipin đã công bố 7 vụ việc liên quan đến sự quấy rối của Trung Quốc. Trong trường hợp vào ngày 2 tháng 3, hai chiếc tàu tuần tra Trung Quốc đã quấy rối một chiếc tàu khai thác dầu trong khu vực yêu sách của Philipin, cách 250 km phía tây Palawan. Hai chiếc tàu này đã rời đi ngày sau khi Không quân Philipin có mặt. Vào ngày 5 tháng 4, Manila trao công hàm phản đối chính thức lên Liên Hiệp Quốc và tìm kiếm sự ủng hộ của ASEAN trong việc tiến tới một quan điểm chung đối với vấn đề.[8] Trung Quốc đã đáp lại vài ngày sau đó bằng việc chính thức cáo buộc Philipin đã “xâm lược” các vùng nước của Trung Quốc.[9] Sau khi hạ thủy tàu Hải Giám 31 (Haixun-31) 3000 tấn, cùng với máy bay lên thẳng tại Biển Đông, vào tháng 6 Philipin cũng đưa loại tàu chiến cũ từ thế chiến thứ hai, tàu Rajah Humabon, ra khu vực yêu sách của mình.[10] Con tàu này đã phá bỏ những cột mốc của Trung Quốc đặt trên nhiều bãi đá trong khu vực yêu sách của Philipin.[11] Cũng vào tháng 6, tuyên bố chính thức của tổng thống Philipin nước này đang đổi tên biển từ Biển Đông thành “biển Tây Philipin” và tuyên bố chương trình mở rộng hải quân, chương trình nhằm cải thiện những giới hạn về sự hiện diện của Philipin tại Biển Đông.[12]

Bất chấp sự phản đối của Trung Quốc, cả Việt Nam và Philipin đều có kế hoạch tiếp tục những dự án khai thác khí ga cùng với các công ty nước ngoài. PetroVietnam sẽ hợp tác với Công ty Talisman Energy và sẽ bắt đầu khoan tại khu vực mà Trung Quốc đã trao quyền cho Crestone Corporation vào năm 1992, dự án giờ đây đang do Harvest Natural Resources tiến hành. ExxonMobil cũng có kế hoạch khoan thăm dò ngoài khơi Việt Nam, trong khi Philipin dự định khoan tại mỏ dầu tại nơi tàu Trung Quốc đã quấy rối tàu khảo sát của nước này vào tháng 3 năm 2011.[13] 

Trong khi đó, Ấn Độ cũng bắt đầu dính líu với tư cách là người ngoài cuộc, điều này làm phức tạp vấn đề. Trung Quốc có thể có những ảnh hưởng đối với các quóc gia yêu sách ASEAN do sự gần gũi về không gian và kích thước của Trung Quốc, nhưng Ấn Độ lại có vị thế và sức mạnh để chống lại Trung Quốc. Hơn nữa, Ấn Độ nuôi dưỡng sự oán giận đối với Trung Quốc vì sự hỗ trợ của nước này đối với Pakistan và những yêu sách dọc theo biên giới chung hai nước điều sẽ gây thêm nhiều khó khăn cho Trung Quốc trong việc kiểm soát. Mối quan hệ của Ấn Độ đối với Việt Nam có từ thời Tổng thống Indira Gandhi, chính phủ Ấn Độ lúc đó đã công nhận chính phủ bảo trợ Việt Nam tại Cambuchia năm 1984.  Nhiều người tại Ấn Độ xem Việt Nam là đồng minh của Ấn Độ trong việc chống lại Trung Quốc.

Tàu hải quân Ấn Độ INS Airavat, trên đường đi vào Nha Trang, phía nam Việt Nam vào ngày 22 tháng 7 năm 2011, đã bị phía Trung Quốc gửi tin nhắn rada cảnh báo rời khỏi khu vực “vùng biển Trung Quốc”. Bộ Ngoại giao Ấn Độ đã đáp trả lại rằng “Ấn Độ ủng hộ tự do hàng hải trong vùng biển quốc tế, bao gồm cả khu vực Biển Đông, và quyền qua lại phù hợp với những nguyên tắc được phép của luật pháp quốc tế”.[14] Trong khi đó, Trung Quốc phản đối những hoạt động thăm dò của công ty dầu khí Ấn Độ Oil and Natural Gas Corp (ONGC) xung quanh quần đảo Hoàng Sa, khu vực mà Trung Quốc đặc biệt nhạy cảm. ONGC đưa ra quan điểm rằng yêu sách của Việt Nam là phù hợp với luật pháp quốc tế, và công ty này sẽ tiếp tục những dự án khai thác tại hai lô gần quần đảo Hoàng Sa. [15]

Tiếp tục sau đó, trong khi Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang thăm New Delhi, một hợp đồng có thời hạn 3 năm về hợp tác khai thác, sản xuất dầu, khí đã được ký kết giữa ONGC và PetroVietnam vào ngày 12 tháng 10 năm 2011 bất chấp sự phản đối của Trung Quốc.[16] Đáng chú ý, hợp đồng này được ký trong khi Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam, Nguyễn Phú Trọng đang trong chuyến thăm Bắc Kinh và bày tỏ tình hữu nghị với Trung Quốc.[17] Việt Nam lúc này đã sử dụng lại cách thức truyền thống trong vấn đề giải quyết với Trung Quốc – nhấn mạnh sự tương đồng và tình hữu nghị, đây là nhiệm vụ của Tổng bí thư, trong khi tìm kiếm một đối trọng hiệu quả tại Ấn Độ. Có thể sẽ có thêm nhiều sự việc xảy ra khi Trung Quốc vạch ra đường lối chống lại đối thủ cường quốc Châu Á này.

Tranh chấp đánh bắt cá

Dường như những tranh chấp năng lượng vẫn chưa đủ, những cuộc cạnh tranh đối với nguồn tài nguyên biển và cá tại Biển Đông cũng góp phần làm gia tăng căng thẳng. Trước đây, những thuyền đánh bắt cá thường xuyên di chuyển ra vào khu vực chồng lấn yêu sách, nhưng tần suất gia tăng của những hoạt động như vậy đã gây nên những mối quan ngại. Việt Nam tuyên bố rằng có 63 tàu đánh bắt cá cùng với 725 thủy thủ đoàn đã bị Trung Quốc bắt giữ tại Biển Đông từ năm 2005;[18] và sau đó họ bị buộc yêu cầu phải trả những khoản tiền cao ngất ngưởng để được thả. Trong một vụ việc đã được công khai rộng rãi tại Việt Nam, một tàu tuần tra Trung Quốc đã bắt giữ một tàu đánh cá cùng 12 thủy thủ đoàn xung quanh quần đảo Hoàng Sa vào tháng 3 năm 2010.[19] Đây không phải là lần đầu tiên Trung Quốc làm điều này, và Bộ ngoại giao Việt Nam đã phản đối mạnh mẽ - đây là trường hợp không nên tái diễn thêm.

Trung Quốc ban hành lệnh cấm đánh bắt cá hàng năm tại Biển Đông, được xem là việc Trung Quốc bảo tồn nguồn cá cho nước này. Lần đầu tiên Bắc Kinh tuyên bố lệnh cấm đánh bắt cá là vào năm 1999, thời gian từ tháng 6 đến tháng 7 hàng năm, và đến năm 2009 lệnh được kéo dài bắt đầu từ ngày 16 tháng 5 đến 1 tháng 8 hàng năm. Quy mô của lệnh cấm rất mơ hồ, mặc dù lệnh cấm bao phủ khu vực xung quanh Hoàng Sa nhưng lại không quá xa về phía nam quần đảo Trường Sa[20]. Việt Nam kiên quyết phản đối vì những tác động của lệnh cấm đối với kế sinh nhai của ngư dân Việt Nam. Để lệnh cấm có hiệu lực và bảo vệ tàu cá của Trung Quốc, nước này đã cử những tàu “ngư chính” mà thực chất được chuyển đổi từ những tàu hải quân. Trung Quốc thông báo kế hoạch tăng cường sức mạnh của lực lượng hải giám của nước này lên tới 16 máy bay và 350 tàu vào năm 2015, lực lượng này sẽ được sử dụng để giám sát hàng hải, thực hiện những nhiệm vụ khảo sát, “bảo vệ an ninh biển,” và kiểm tra tàu nước ngoài hoạt động trong “vùng biển của Trung Quốc”[21]. 

Một vấn đề khác đó là tàu Việt Nam cũng xâm nhập vào khu vực các quốc gia ASEAN khác có yêu sách chủ quyền. Vào tháng 2 năm 2011 hai tàu cá Việt Nam dưới tên của Indonesia đã bị tàu tuần tra Indonesia bắt giữ gần đảo Natuna.[22]  Indonesia đã thông báo rằng vào năm 2009, có khoảng 180 tàu cá (không hoàn toàn là của Việt Nam – một số từ Malaysia) đã bị Indonesia bắt giữ khi đánh bắt cá trái phép tại vùng biển nước này.[23] Do nhu cầu tăng cao và nguồn dự trữ có hạn, những tranh chấp về đánh bắt cá có vẻ sẽ gia tăng tại Biển Đông, đặc biệt là khi các bên tranh chấp nâng cấp lực lượng bờ biển và hải quân của mình.

CẠNH TRANH GIỮA CÁC CƯỜNG QUỐC

Năng lượng và đánh bắt cá không phải là những nhân tố duy nhất trong tranh chấp này. Biển Đông đang trở thành điểm hội tụ cạnh tranh chiến lược của Trung Quốc đối với Mỹ khi Trung Quốc phát triển chiến lược hải quân hiện đại và triển khai những năng lực hải quân mới. ASEAN đã thừa nhận rằng yêu sách rộng lớn của Trung Quốc lên toàn bộ Biển Đông có thể được thương lượng, rằng Trung Quốc sẽ chấp nhận một thỏa thuận khu vực có lợi, trong đó những yêu sách lãnh thổ sẽ được điều chỉnh và những nguồn dữ trữ dầu, khí cũng như cá sẽ được chia sẻ. Trên cơ sở này, ASEAN đã đưa Trung Quốc vào đối thoại chính thức với hy vọng rằng những lãnh đạo của Trung Quốc có thể tin tưởng về giá trị của cơ chế của những quy tắc sẽ quản lý hành vi tại Biển Đông. ASEAN thường cẩn trọng nhằm tránh gây ra bất kỳ hành động khiêu khích Trung Quốc với mong muốn rằng Trung Quốc sẽ đáp lại và phương cách ASEAN trong việc khuyến khích một thỏa thuận thông qua sự đồng thuận sẽ được Bắc Kinh chấp nhận trong tương lai.

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây

Leszek Buszynski

Văn Cường (dịch)

Thái Giang (hiệu đính)

Bản gốc tiếng Anh The South China Sea: Oil, Maritime Claims and U.S. – China Strategic Rivalry, The Washington Quarterly 35(2), 2012



[1] Về tính pháp lý của những yêu sác, xem Mark J. Valencia, Jon M. Van Dyke, and Noel A. Ludwig, Sharing the Resources of the South China Sea (University of Hawaii Press, 1999), tr. 39-59; và R. Haller-Trost, The Spratly Islands: A Study on the Limitations of International Law, Trung tâm Nghiên cứu Đông Nam Á, Đại học Kent, Canterbury, Occasional Paper No. 14, tháng 10, 1990.

[2] U.S. Energy Information Administration, ‘‘China,’’ tháng 5, 2011, http://205.254.135.7/countries/cab.cfm?fips[2]CH; and ‘‘BP Energy Outlook 2030,’’ tháng 1, 2011,

http://www.bp.com/liveassets/bp_internet/globalbp/globalbp_uk_english/reports_and_publications/statistical_energy_review_2011/STAGING/local_assets/pdf/2030_energy_outlook_booklet.pdf.

[3] ‘‘Vietnam: Vietsovpetro finds more oil at Bach Ho field offshore Vietnam,’’Energy-Pedia News, 29,  tháng 6, 2011, http://www.energy-pedia.com/news/vietnam/vietsovpetro-finds-more-oil-at-bach-ho-field-offshore-vietnam

[4] ‘‘Vietnam Market for Oil and Gas Machinery and Services,’’ U.S. CommercialService-Vietnam, tháng 3, 2011, http://export.gov/vietnam/static/BP-Oil%20and%20Gas%20Machinery%20and%20Services_Latest_eg_vn_030123.pdf.

[5] Alex Watts, ‘‘Tensions rise as Vietnam accuses China of sabotage,’’ The Sydney Morning Herald, ngày 2, tháng 6, 2011, http://www.smh.com.au/world/tensions-rise-as-vietnam-accuses-china-of-sabotage-20110601-1fgno.html.

[6] ‘‘China reprimands Vietnam over offshore oil exploration,’’ Reuters, 28, tháng 5, 2011,

http://af.reuters.com/article/energyOilNews/idAFL3E7GS07E20110528.

[7] ‘Philippines to seek more oil in West Philippine Sea,’’ Agence France-Presse,29, tháng 6,  2011, http://globalnation.inquirer.net/5034/philippines-to-seek-more-oil-in-west-philippine-sea

[8] ‘‘Philippines protests China’s Spratly claim at UN,’’ Agence France-Presse, 14, tháng 4, 2011,

http://globalnation.inquirer.net/news/breakingnews/view/20110414-331090/Philippines-protests-Chinas-Spratly-claim-at-UN.

[9] Teresa Cerojano, ‘‘Beijing counters Manila’s UN protest, says Philippines ‘started toinvade’ Spratlys in 1970s,’’ Associated Press,  19, tháng 4,  2011, http://arabnews.com/world/article366262.ece.

[10] TJ Burgonio, ‘‘Navy flagship to patrol PH waters only, says Palace,’’ Philippine Daily Inquirer,  21, tháng 6,  2011, http://newsinfo.inquirer.net/16678/navy-flagship-to-patrol-ph-waters-only-says-palace.

[11] ‘‘Philippines pulls markers from disputed waters,’’ channelnewsasia.com, 15, tháng 6, 2011,

http://www.channelnewsasia.com/stories/afp_asiapacific/view/1135238/1/.html

[12] ‘‘Philippines to boost Spratly patrols,’’ channelnewsasia.com, 15, tháng 4, 2011, http://www.channelnewsasia.com/stories/afp_asiapacific/view/1122961/1/.html.

[13] Daniel Ten Kate, ‘‘South China Sea Oil Rush Risks Clashes as U.S. Emboldens

Vietnam on Claims,’’ Bloomberg, 27, tháng 5, 2011, http://www.bloomberg.com/news/2011-05-26/s-china-sea-oil-rush-risks-clashes-as-u-s-emboldens-vietnam.html.

[14] Indrani Bagchi, ‘‘China harasses Indian naval ship on South China Sea,’’ Times of India,2, tháng 9, 2011, http://articles.timesofindia.indiatimes.com/2011-09-02/india/30105514_1_south-china-sea-spratly-ins-airavat.

[15] Ananth Krishnan, ‘‘South China Sea projects an infringement on sovereignty, says China,’’ The Hindu,  19, tháng 9,  2011, http://www.thehindu.com/news/international/article2468317.ece?css[15]print.

[16] ‘‘India, Vietnam sign oil exploration agreement, ignoring China’s objections,’’Associated Press, 12, tháng 10,  2011, http://maritimesecurity.asia/free-2/south-china-sea-2/india-vietnam-sign-oil-exploration-agreement-ignoring-china%E2%80%99s-objections/.

[17] Sachin Parashar, ‘‘New Delhi tries to snap Beijing’s string of pearls,’’ The Times ofIndia, 20, tháng 10,  2011, http://articles.timesofindia.indiatimes.com/2011-10-20/india/30302032_1_nguyen-phu-trong-thein-sein-naypyidaw.

[18] Seth Mydans, ‘‘U.S. and Vietnam Build Ties With an Eye on China,’’ The New YorkTimes, 12, tháng 10,  2010, http://www.nytimes.com/2010/10/13/world/asia/13vietnam.html.

[19] Will Clem, ‘‘Patrol boats to escort fishing vessels in disputed Spratlys,’’ South China Morning Post,  3, tháng 4,  2010, http://www.viet-studies.info/kinhte/patrol_boats_to_escort_fishing.htm.

[20] ‘‘Unilateral fishing ban likely to fuel tension,’’ South China Morning Post, 17, tháng 5, 2010.

[21] Wang Qian, ‘‘Maritime Forces to be Beefed up Amid Disputes,’’ China Daily, 17, tháng 6, 2011, http://www.chinadaily.com.cn/china/2011-06/17/content_12718632.htm.

[22] ‘‘Navy arrests illegal Vietnamese fishing boats,’’ Antaranews.com, 12, tháng 2,  2011,

http://www.antaranews.com/en/news/67994/navy-arrests-illegal-vietnamese-fishing-boats.

[23] ‘‘Ten Vietnamese fishing boats caught poaching in RI waters,’’ Antaranews.com, 23,  tháng 4, 2010, http://www.antaranews.com/en/news/1272030822/ten-vietnamese-fishing-boats-caught-poaching-in-ri-waters.

 

 

Duy trì một trạng thái xung đột ở mức độ thấp mang lại sức nặng cho Trung Quốc trong đàm phán và khẳng định vai trò của quốc gia này. Bài nghiên cứu chủ yếu tập trung vào quan điểm của Nhật Bản về điều kiện an ninh tại Đông Á (Đông Bắc Á và Đông Nam Á ), tình huống chiến lược tại Biển Đông và đánh giá sức mạnh quân sự của Trung Quốc trong bối cảnh của khu vực.

 

1.            Sự ổn định mong manh và tình thế lưỡng nan về an ninh bất đối xứng

Về bản chất, điều kiện an ninh tại Đông Á cơ bản ổn định, cho dù có một số sự kiện rắc rối xảy ra giữa Trung Quốc và các nước láng giềng, bao gồm cả Nhật Bản, thì những nước liên quan sẽ cố gắng thỏa hiệp càng sớm càng tốt thông qua ngoại giao thứ yếu (low-key) (giảm thiểu hết mức ảnh hưởng của báo chí và dư luận công chúng đối với chính sách ngoại giao), trong khi tình huống vẫn nằm trong tầm kiểm soát của các chính phủ. Nhưng điều này không có nghĩa là Đông Á sẽ có sự ổn định tuyệt đối. Căng thẳng tại Đông Á sẽ dao động trong phạm vi giới hạn nào đó. Nói cách khác, an ninh Đông Á về cơ bản là ổn định, nhưng đó là sự ổn định mong manh.

Có một vài lý do mang tính bản địa trong khu vực cho điều này, tại sao điều kiện anh ninh hiện tại Đông Á về cơ bản lại mang tính ổn định, nhưng lại không thực sự chắc chắn. Đầu tiên là sự thúc đẩy hợp tác mang tính khiên cưỡng giữa Nhật Bản, Mỹ và Trung Quốc, các quốc gia có sự ảnh hưởng lớn. Các quốc gia này đều biết rằng không một quốc gia đơn lẻ nào trên thế giới có thể tự mình vượt qua được cuộc khủng hoảng kinh tế trên phạm vi toàn cầu đang xảy ra, vì vậy họ không thể vượt ra cuộc khủng hoảng nếu không đặt ra ưu tiên cao nhất trong việc thúc đẩy hợp tác tiền tệ với các quốc gia khác nhằm cứu vớt con tàu kinh tế Châu Âu đang chìm một cách nhanh chóng. Cả ba quốc gia này đều ở chung trên một con thuyền trước một cơn bão lớn.

Tuy nhiên, đây là tình huống “đồng sàng, dị mộng” (Same bed, different dreams). Trung Quốc có lý do khác để tư duy theo cách này. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc cho rằng Mỹ có sức mạnh quân sự ưu việt tại Đông Á, là điều mà Trung Quốc không thể thách thức tại thời điểm này. Tuy nhiên, tính đến sự cân bằng quyền lực mang tính cục bộ tại khu vực Đông Á thì Trung Quốc lại có khả năng sử dụng sức mạnh hải quân cho những lợi ích chiến lược và chính trị của riêng mình ở ngoại vi phía đông của nước này, vì các quốc gia Đông Á và Đài Loan rất dễ bị tổn thương đối với sức mạnh hải quân đang gia tăng của Trung Quốc hơn là đối với Mỹ.

Nhưng khả năng bùng nổ về một cuộc chiến tranh giữa Trung Quốc và các quốc gia láng giềng phía đông lại  mang tính rủi ro rất lớn đối với Trung Quốc vì cuộc chiến như vậy sẽ lôi kéo sự can thiệp quân sự của Mỹ, là một kịch bản mang tính phá hủy đối với những chiến lược của Trung Quốc. Sau khủng hoảng kinh tế năm 2008, sức mạnh tương đối của Mỹ đang bị suy giảm trong bối cảnh toàn cầu, nhưng lãnh đạo hiện tại của Trung Quốc lại không thích mạo hiểm.

Vì vậy Trung Quốc sẽ không dám thực hiện bất kỳ một hành động quân sự lớn nào nhằm chống lại các quốc gia láng giềng của mình, thậm chí những va chạm thường xuyên về vấn đề lãnh thổ với láng giềng như Việt Nam, Philippin và Nhật Bản, chống lại Trung Quốc, nhưng cho đến hiện tại Trung Quốc chỉ biểu dương sức mạnh quân sự của mình.

Trái với hầu hết điểm bất lợi mang tính tuyệt đối của Trung Quốc về phạm vi quân sự, Trung Quốc lại có ưu điểm mang tính tương đối về phạm vi kinh tế ( như đất hiếm và nguồn nước). Khả năng về việc Trung Quốc mở rộng lợi thế phi quân sự chỉ khi xung đột quân sự ở mức độ đủ thấp đối với các quốc gia có liên quan để gia tăng sự phụ thuộc về kinh tế đối với Trung Quốc.

Chỉ khi căng thẳng ở mức độ thấp, cho dù khá rụt rè, họ sẽ theo đuổi một chính sách, chủ yếu xuất phát từ những lý do trong nước mà đặt ra ưu tiên cao hơn đối với những lợi ích kinh tế cụ thể/đã được xác định trong tương lai gần bằng sự hy sinh về rủi ro chiến lược chưa chắc chắn/còn mơ hồ trong tương lai xa. Tuy nhiên, một cách mỉa mai, nếu tình huống an ninh/chiến lược tại Đông Á  hoàn toàn toàn không mang tính đối đầu thì sức đàm phán của Trung Quốc lại không được cao.

Nếu và chỉ nếu có  mức độ nào đó về sự căng thẳng trong khu vực, thì nền kinh tế và vũ khí phi quân sự khác của Trung Quốc mới phát huy hiệu quả. Đối với Trung Quốc, căng thẳng ở mức độ nào đó lại hữu ích.

Sức mạnh của Trung Quốc hiện tại mang tính điều kiện, vì nước này này cần giữ một nhịp độ thấp để đạt được vị thế chiến lược có lợi hơn, bởi vì ở nhịp độ quá vội vàng sẽ dẫn đến rủi ro đối với Trung Quốc vì điều đó sẽ gây ra các phản ứng dữ dội hay tạo ra liên minh chống Trung Quốc từ các quốc gia Đông Á. Có thể họ sẽ miễn cưỡng quyết định hy sinh lợi ích kinh tế của chính mình khi  họ nhìn thấy một con rồng hung dữ to lớn với bộ nanh vuốt đang lao về phía mình. Nếu nhịp độ đủ thấp, Trung Quốc có thể sử dụng thủ đoạn “chia để trị” đối với các quốc gia Đông Á (và với Mỹ) thông qua đàm phán ngoại giao.

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây

GS. Ryo ASANO, Đại học Doshisha, Nhật Bản

Trần Quang (dịch)

Thái Giang (hiệu đính)

Bản gốc tiếng Anh  Security Conditions of East Asia - Rising China and Maritime Security in the South China Sea

 

Trong bài viết trên trang Hội đồng Quan hệ Đối ngoại (Mỹ), Bonnie Glaser (CSIS) đánh giá rằng khả năng xảy ra xung đột vũ trang ở Biển Đông là hoàn toàn có thể. Tác giả đề cập đến 3 trường hợp Mỹ có thể bị cuốn vào cuộc xung đột đó đồng thời khuyến nghị một số biện pháp ngoại giao phòng ngừa.

 

- Trường hợp có khả năng xảy ra và nguy hiểm nhất là xung đột phát sinh từ hoạt động quân sự của Mỹ trong khu vực đặc quyền kinh tế của Trung Quốc (EEZ). Mỹ cho rằng UNCLOS cho phép các nước tiến hành các hoạt động quân sự trong vùng EEZ mà không cần phải có sự đồng ý của nước ven biển đó. Còn Trung Quốc cho rằng các hoạt động trinh sát tiến hành không có sự thông báo và chấp thuận của Trung Quốc là vi phạm luật pháp Trung Quốc và luật pháp quốc tế. Trong những năm gần đây, Trung Quốc thường xuyên ngăn chặn máy bay trinh sát của Mỹ trong vùng EEZ như giữa máy bay trinh sát Mỹ và máy bay chiến đấu của Trung Quốc năm 2001, tàu chiến Trung Quốc quấy rối tàu tuần dương của Mỹ năm 2009. Trong bối cảnh ngày càng có nhiều tàu của Trung Quốc hoạt động trong vùng biển Đông, khả năng xảy ra va chạm với Trung Quốc ngày càng tăng cao.

- Trường hợp thứ hai liên quan đến xung đột giữa Trung Quốc và Phi-líp-pin, đặc biệt là tranh chấp liên quan đến bãi Cỏ Rong, 80 dặm từ bờ biển của Phi-líp-pin mà cả hai bên đều nhận có chủ quyền. Phi-líp-pin hiện đang hợp tác với nước ngoài tiến hành các hoạt động thăm dò và khoan dầu khí ở khu vực này và trong trường hợp Trung Quốc quyết định can thiệp sẽ dẫn đến tranh chấp giữa Trung Quốc và Phi-líp-pin. Mỹ có thể bị cuốn vào cuộc tranh chấp này vì Hiệp ước Phòng thủ chung năm 1951. Mặc dù Mỹ không nói rõ khả năng can thiệp của Mỹ trong trường hợp xảy ra xung đột giữa Phi-líp-pin và Trung Quốc, Phi-líp-pin đã nói rằng trong trường hợp xảy ra xung đột vũ trang với Trung Quốc, Phi-líp-pin mong muốn có sự hỗ trợ của Mỹ theo Hiệp định này.

- Trường hợp thứ ba là xung đột giữa Việt Nam và Trung Quốc. Mặc dù khả năng Mỹ bị cuốn vào xung đột giữa Việt Nam và Trung Quốc thấp hơn so với Phi-líp-pin, tuy nhiên trong trường hợp Trung Quốc gây hấn, Mỹ có thể quyết định điều tàu hải quân đến khu vực và Việt Nam có thể đề nghị Mỹ trợ giúp. Nếu Trung Quốc tấn công vào các tàu chở dầu hoặc giàn khoan của các công ty Mỹ đang khai thác dầu ở khu vực biển Đông, khả năng Mỹ tham gia vào xung đột sẽ càng cao hơn.

Các biện pháp ngoại giao phòng ngừa khả năng xảy ra xung đột giữa Mỹ và Trung Quốc, cụ thể là:

- Hỗ trợ xây dựng các biện pháp giảm nguy cơ xung đột giữa Mỹ và Trung Quốc thông qua việc thiết lập các cơ chế thông tin giữa hai bên.

- Hỗ trợ nâng cao năng lực cho các nước trong khu vực để có thể nâng cao khả năng phòng thủ của các nước và qua đó răn đe Trung Quốc không có những hành động quá khích.

- Khuyến khích việc giải quyết các tranh chấp thông qua Tòa án Quốc tế, Tòa án Luật Biển hoặc thông qua bên thứ ba khác.

- Thúc đẩy các biện pháp giảm thiểu nguy cơ xung đột ở cấp độ khu vực như việc tuân thủ DOC, thúc đẩy các cơ chế khu vực về an ninh biển.

- Khuyến khích cùng phát triển/ hợp tác đa phương trong lĩnh vực khai thác dầu khí, tài nguyên biển...

- Làm rõ những cam kết của Mỹ, tránh tạo cơ hội khuyến khích các nước có những hành động đối đầu.

Các khuyến nghị đối với chính quyền Mỹ để ngăn chặn khả năng xung đột và giảm hậu quả nếu xung đột xảy ra:

Một là, Mỹ cần phê chuẩn UNCLOS. Mặc dù Mỹ tự nguyện tuân thủ các nguyên tác của UNCLOS và đã cam kết sẽ phê chuẩn nhưng việc Mỹ chưa phê chuẩn UNCLOS làm cho các nước khác nghi ngờ là Mỹ sẽ chỉ tuân thủ các công ước quốc tế nếu phù hợp với lợi ích quốc gia. Hai là, các nước có lợi ích ở Biển Đông cần sử dụng các biện pháp và quy trình đảm bảo an toàn để giảm thiểu sự bất ổn và tăng cường thông tin liên lạc trong trường hợp có sự cố xảy ra. Các nước có thể thông qua một quy trình chuẩn cần phải tuân thủ để giảm thiểu khả năng xung đột bùng phát. Ba là, Mỹ cần khuyến khích với các biện pháp giảm thiểu nguy cơ và xây dựng lòng tin giữa các nước. Mỹ cần nêu rõ sự ủng hộ của Mỹ đối với việc thực hiện DOC và tiến tới COC. Bốn là, thiết lập cơ chế đối thoại mới trong khu vực như Diễn đàn Biên phòng biển, trung tâm chia sẻ thông tin, ủy ban điều phối hoạt động đánh cá.. để tạo cơ hội cho việc tăng cường thông tin và điều phối chung. Năm là, Mỹ cần xem xét lại các hoạt động trinh sát trong không trung cũng như trên biển ở gần khu vực lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc, giảm tần xuất hoặc tiến hành các hoạt động ở khu vực ngoài khơi cách xa vùng lãnh hải của Trung Quốc hơn. Sáu là, cần tăng cường hiệu quả của Thỏa thuận tham vấn về các vấn đề quân sự trên biển giữa Mỹ và Trung Quốc; Mỹ và Trung Quốc cần thống nhất về những quy tắc an toàn để giảm thiểu khả năng sảy ra xung đột trong tương lai; có thể nghiên cứu xây dựng thỏa thuận về "giải quyết các vụ việc trên biển". Bảy là, Mỹ cần phải nói rõ trong các cuộc đối thoại giữa Phi-líp-pin và Việt Nam về trách nhiệm và cam kết của Mỹ cũng như giới hạn của khả năng can thiệp của Mỹ trong các tranh chấp trong tương lai để tránh việc các nước trong khu vực được khuyến khích đứng lên đối đấu với Trung Quốc./.

Theo Cfr

Viết Tuấn (gt)

 

Theo tờ  "The Nation" của Thái Lan, khi nước này đóng vai trò như một quốc gia điều phối mới cho quan hệ ASEAN-Trung Quốc bắt đầu từ tháng Bảy tới, người ta rất hy vọng rằng nước này, với mối quan hệ gần gũi với Trung Quốc, có thể duy trì hòa bình và ổn định thông qua việc xử lý các tuyên bố gây tranh cãi trên Biển Đông đầy rắc rối.

 

Trong ba năm qua (2009-2012), dưới vai trò điều phối của Philíppin, căng thẳng trong vùng biển giàu khoáng sản này đã làm gia tăng các mối lo ngại thật sự với ASEAN và cộng đồng quốc tế về khả năng xung đột vũ trang. Để chuẩn bị cho sự tham gia trong tương lai của mình trong cả bối cảnh song phương và ASEAN, Thái Lan và Trung Quốc đã nhanh chóng phối hợp và tích cực đáp lại các mục tiêu an ninh của từng bên như thể họ đã làm đồng minh của nhau từ lâu nay.

Chuyến thăm cấp cao của tất cả các quan chức quân sự chóp bu Thái Lan tới Trung Quốc gần đây thể hiện một thông điệp mạnh mẽ gửi tới Mỹ và khu vực, đặc biệt là Campuchia, rằng quan hệ an ninh và quốc phòng Thái Lan-Trung Quốc là cực kỳ chắc chắn, không phải bàn cãi. Trong những tuần và những tháng tới đây, hai nước sẽ phải thể hiện một cách rõ ràng trong việc đưa ra các cam kết của họ và mở rộng hợp tác để duy trì đối tác chiến lược đặc biệt của họ, nếu không nó sẽ chỉ là một cuộc "hôn nhân" vụ lợi. Các chính sách và hành động - trong suy nghĩ hay trên thực tế - từ nay đều có thể ảnh hưởng rộng rãi tới các quan hệ ASEAN-Trung Quốc và trong nội bộ ASEAN.

Trong cuộc gặp trực tiếp tại Bắc Kinh giữa Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc với người đồng cấp Thái Lan Sukhupol Suwannathat, Tư lệnh lục quân Prayuth Chan-ocha cũng tham gia cùng. Chủ đề họ thảo luận là hai vấn đề nhạy cảm tập trung vào Biển Đông và cuộc tranh chấp giữa Thái Lan và Campuchia xung quanh ngôi đền Hindu từ thế kỷ 12, được biết với cái tên Khao Praviharn trong tiếng Thái và Preah Vihear trong tiếng Khơme. Cả hai nước đều khẳng định sẽ ủng hộ nhau trong các vấn đề riêng của mình.

Liên quan tới căng thẳng trên Biển Đông, đặc biệt là sự bế tắc kéo dài ba tuần nay giữa Trung Quốc và Philíppin xung quanh bãi đá ngầm Scarborough hay còn gọi là Hoàng Nham trong tiếng Trung, Bắc Kinh đã cố gắng tách các thành viên ASEAN không có tuyên bố chủ quyền ra khỏi lập trường quyết đoán của Philíppin. Manila đã rất thất vọng vì thiếu sự ủng hộ của ASEAN. Với vai trò điều phối quan hệ ASEAN-Trung Quốc, Thái Lan bỗng nhiên trở thành trọng tâm chính trong sự tấn công ngoại giao của Trung Quốc.

Trong khi các nhà lãnh đạo quân đội Thái Lan mạnh mẽ ủng hộ Trung Quốc về một loạt vấn đề song phương và khu vực, Bộ Ngoại giao Thái Lan lại không nhìn nhận sự ủng hộ này như là chính sách đối ngoại của đất nước để có thể xem xét một cách toàn diện hay từng trường hợp trước khi quyết định thực hiện. Với Trung Quốc và Biển Đông, vấn đề rất phức tạp và nhiều chiều. Rõ ràng Thái Lan đang trong tình thế khó xử đối với vấn đề tranh chấp bãi đá ngầm giữa Trung Quốc và Philíppin kể cả sau khi đã nghe lời giới thiệu tại Băngcốc của các nhà ngoại giao Trung Quốc vào cuối tháng Tư vừa qua. Trung Quốc đã khẳng định lại chủ quyền của họ đối với khu vực tranh chấp này khi nói họ có cơ sở lịch sử và pháp lý và phù hợp với luật pháp quốc tế. Trong thời gian qua, lập trường của Thái Lan đơn giản hơn: các bên liên quan tới tranh chấp nên giải quyết vấn đề của mình một cách hòa bình, thực hiện theo Tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC) và ASEAN có thể tạo điều kiện đối thoại để đi tới các giải pháp cuối cùng.

Trung Quốc rất muốn sớm đưa Thái Lan về cùng một phe vì hai lý do. Đầu tiên là để khẳng định rằng Trung Quốc vẫn tham gia việc soạn thảo Bộ quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC) với ASEAN. Các quan chức cấp cao ASEAN sẽ lại gặp gỡ trong lần thứ 5 tại Bangdung, Inđônêxia nhằm thảo luận đề xuất của Philíppin thiết lập một khu vực hợp tác chung và các nguyên tắc về cơ chế giải quyết tranh chấp trước khi các Bộ trưởng ASEAN thông qua vào tháng Bảy. Tại cuộc gặp gần đây nhất ở Phnôm Pênh, ASEAN chưa nhất trí về những yếu tố then chốt của COC. Thực ra, một số thành viên ASEAN muốn đưa Trung Quốc, nước mong muốn tham dự từ tháng 11 năm ngoái, vào tham gia để cả ASEAN và Trung Quốc có thể nhất trí và thông qua COC. Cả hai bên đã lãng phí 10 năm trước khi nhất trí về các đường hướng vào năm ngoái để đi tới giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, Philíppin và Việt Nam, hai nước có tuyên bố chủ quyền mạnh mẽ, lại muốn ASEAN giải quyết tất cả "các vấn đề như mong muốn" trước bất kỳ một cuộc gặp nào với các đối tác Trung Quốc.

Thứ hai, Trung Quốc cũng hiểu rõ rằng quân đội Thái Lan ít bị ảnh hưởng trong chỉ đạo đối ngoại, đặc biệt trong bối cảnh ASEAN, ngoại trừ trường hợp họ đang đối mặt với các vấn đề an ninh quốc gia. Ví dụ trong vấn đề Thái Lan-Campuchia hiện nay, các nhà lãnh đạo quân đội không hoàn toàn tuân thủ các quyết định do Bộ Ngoại giao đề xuất. Việc không thể triển khai được Nhóm quan sát viên Inđônêxia dọc biên giới tranh chấp là một ví dụ minh họa điển hình. Một điều biết trước là theo trình tự, mối quan hệ an ninh mạnh mẽ Trung Quốc-Thái Lan có thể gặp khó khăn khi nó được đặt trong bối cảnh cuộc xung đột song phương với Campuchia cùng với vai trò chồng lấn của ASEAN đối với các bên xung đột.

Thái Lan có thể đã quên các quan hệ tốt đẹp hiện nay giữa Trung Quốc và Campuchia sau chính sách lập lại quan hệ hữu nghị của Thủ tướng Hun Sen vào cuối năm 1999. Ông Hun Sen đã một tay tạo dựng mối quan hệ Campuchia-Trung Quốc và đưa Trung Quốc trở thành người bạn số 1 của Campuchia. Điều đầu tiên có thể nhận thấy là sự hỗ trợ to lớn và dài hạn của Trung Quốc, gồm cả dòng đầu tư mới. Từ năm 1994-2011, Trung Quốc đã đầu tư 8,8 tỷ USD vào Campuchia, trở thành nhà đầu tư lớn nhất cũng như là nhà tài trợ lớn nhất với 2,1 tỷ USD kể từ năm 1992. Hiện nay, tại Campuchia cũng đã có sự hiện diện đông đảo của cộng đồng người Trung Quốc nhập cư, chủ yếu là những doanh nhân, gần 1 triệu trong dân số 14 triệu của đất nước này. Hun Sen đã để lại một ấn tượng cá nhân mạnh mẽ trong chương trình nghị sự ASEAN tại Hội nghị thượng đỉnh tháng Tư vừa qua. Khi các nhà lãnh đạo của thế giới, trong đó có lãnh đạo của Mỹ, Trung Quốc, Nga tham dự Hội nghị cấp cao Đông Á lần thứ 7 tại Phnôm Pênh vào tháng 11 tới, nhà lãnh đạo lâu năm nhất của khu vực này sẽ thể hiện sự khéo léo ngoại giao trong việc củng cố hình ảnh của ASEAN.

Nhưng sự thẳng thắn của ông Hun Sen và cuộc xung đột Thái Lan-Campuchia có thể đi sang một hướng, đặc biệt là sau khi Tòa án Quốc tế tại La Hay sẽ có phán quyết vào cuối năm nay và nó có thể ảnh hưởng tới tình hình hiện nay tại biên giới tranh chấp. Phán quyết của tòa án có thể là phép thử cho các quan hệ tay ba Trung Quốc-Thái Lan-Campuchia. Khi hai người bạn ASEAN tốt nhất của Trung Quốc giao chiến và sử dụng vũ khí của Trung Quốc, nó có thể trở thành thảm họa. Tại cuộc gặp gỡ trực tiếp với các lãnh đạo Trung Quốc, Thái Lan đã rất quan tâm tìm hiểu chi tiết về hệ thống bệ phóng tên lửa phức hợp BM-21 do Trung Quốc sản xuất. Thái Lan vẫn dựa vào hệ thống vũ khí hiệu quả do Mỹ sản xuất. Không giống như quan hệ an ninh Thái Lan-Trung Quốc, liên minh Thái Lan-Mỹ không có những lợi ích đồng thời vào một thời điểm kể cả khi gần đây Mỹ tuyên bố chuyển trọng tâm sang châu Á.

Vấn đề được đặt ra hiện nay: Liệu Campuchia với tư cách chủ nhà ASEAN và Thái Lan với tư cách nước điều phối quan hệ ASEAN-Trung Quốc có thể cùng nhau ngăn cản được sự thất bại trong vấn đề Biển Đông? Dường như câu trả lời sẽ phụ thuộc vào phản ứng của Trung Quốc, đặc biệt là khả năng thuyết phục hai người bạn ASEAN không có tuyên bố chủ quyền Biển Đông giải quyết xung đột và cải thiện mối quan hệ nhằm ngăn chặn bất cứ sự ảnh hưởng nào đối với quyền lợi ngày càng lớn của Trung Quốc./.

Theo The Nation

Trần Quang (gt)

 

Bình luận của Nhân dân Nhật báo: Trong tranh chấp tại đảo Hoàng Nham, đâu là giới hạn cuối cùng của Trung Quốc? Chỉ bằng các biện pháp cứng rắn sẽ dạy cho những kẻ xâm phạm quyền chủ quyền Trung Quốc chơi theo luật và khiến Biển Đông thực sự thành vùng biển hòa bình.

 

 

Trong tranh chấp tại đảo Hoàng Nham, đâu là giới hạn cuối cùng của Trung Quốc và điều này trước hết phụ thuộc vào bản chất của tranh chấp? Các học giả đều ghi nhận rằng chủ quyền của Trung Quốc tại đảo Hoàng Nham có cả căn cứ lịch sử và pháp lý vững chắc. Trung Quốc là nước đầu tiên phát hiện, chiếm đóng và thực hiện quyền tài phán đối với hòn đảo này. Chủ quyền của Trung Quốc đối với đảo này đã được công nhận bởi hệ thống Yalta, vốn được thành lập sau Chiến tranh thế giới thứ 2. Ngược lại, tuyên bố chủ quyền của Philippines đối với đảo Hoàng Nham là hoàn toàn không vững chắc. Philippines tuyên bố chủ quyền đối với một số hòn đảo tại Biển Đông chỉ dựa vào một phần trong Công ước Luật Biển Quốc tế của Liên Hiệp Quốc trong đó xác định vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa.

Tuy nhiên, một số học giả đã lưu ý mặc dầu vùng đặc quyền kinh tế EEZ mở rộng trong khoảng cách 200 hải lý so với đường cơ sở biển theo luật biển ngoại lệ nếu luật này diễn ra khi EEZ xâm lấn hoặc chồng lấn vào lãnh thổ nước khác. Hơn nữa, đáng chú ý là luật biển cũng có hiệu lực pháp lý thấp hơn so với quyền lịch sử và nguyên tắc của luật hiện hành. Không giống như việc mở rộng sức mạnh, bảo vệ quyền chủ quyền liên quan tới nguyên tắc và lợi ích sống còn của một quốc gia và điều này hoàn toàn là tự nhiên khi một quốc gia có chủ quyền bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của mình.

Một số chuyên gia lo ngại rằng quan điểm cứng rắn của Trung Quốc trên biển Đông có thể ảnh hưởng tới sự trỗi dậy hòa bình và phá hoại nền hòa bình tại vùng biển này. Những lo lắng như vậy hoàn toàn không cần thiết bởi hòa bình có thể đạt được bất chấp tính phức tạp của tranh chấp. Câu hỏi duy nhất là: chúng ta muốn loại hòa bình nào? Nếu các nước láng giềng không chơi theo luật hoặc không tỏ đủ sự tôn trọng cần thiết đối với quyền chủ quyền của Trung Quốc thì hòa bình đạt được chỉ là sự hy sinh lợi ích đơn phương của Trung Quốc và hòa bình không công bằng như vậy sẽ không tồn tại lâu. Ngạn ngữ cổ có câu “Hàng rào tốt tạo láng giềng tốt”. Chỉ bằng các biện pháp cứng rắn sẽ dạy cho những kẻ xâm chiếm, xâm phạm quyền chủ quyền Trung Quốc chơi theo luật và khiến Biển Đông thực sự thành vùng biển hòa bình.

Theo Peopledaily (ngày 2/5)

Lê Sơn (gt)

 

Ngôn ngữ

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

         

CHUYÊN ĐỀ ĐẶC BIỆT

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

Đăng nhập



Bản đồ - Hình ảnh

TỔNG QUAN VỀ BIỂN ĐÔNG