21 - 10 - 2020 | 12:50
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home
Tag:Việt Nam

Loạt bài của các chuyên gia về Biển Đông đăng trên tạp chí “Tri thức thế giới” của Bộ Ngoại giao Trung Quốc: một nửa giang sơn của Trung Quốc là phần bao bọc xung quanh phía Nam nhưng đang ở trong trạng thái của “mùa Đông lạnh giá”? “Trung Quốc cần phải có kế sách đối phó như thế nào?”

 

BÀI I: NHÌN NHẬN THẾ NÀO VỀ TÌNH HÌNH BIỂN ĐÔNG HIỆN NAY (Trương Hải Văn, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu chiến lược phát triển biển – Cục hải dương quốc gia Trung Quốc) 

Xem xét từ góc độ chính trị quốc tế và quan hệ giữa các quốc gia, tôi cho rằng tình hình Biển Đông vẫn đang ổn định, hay nói cách khác các nước ở khu vực Biển Đông và các nước ngoài khu vực như Mỹ đang duy trì quan hệ chính trị ngoại giao bình thường với Trung Quốc, khả năng xảy ra xung đột quân sự ở Biển Đông không lớn. Tuy nhiên, nếu xem xét từ góc độ khác thì đã có rất nhiều vấn đề tồn tại. Xét từ góc độ quyền phát ngôn thì từ năm 2010 đến 2011, vấn đề Biển Đông đã bị nhào nặn thành một trong những vấn đề nóng của khu vực này. Một số nước Đông Nam Á như Việt Nam và các nước ngoài khu vực như Mỹ, Nhật Bản... đã ngang nhiên tô vẽ vấn đề Biển Đông, trong khi đó Trung Quốc lại dường như im lặng. Tuy nhiên, trước năm 2010, nếu Trung Quốc phản đối mạnh thì dù là nước xung quanh Biển Đông hay nước ngoài khu vực sẽ đều không thể công khai thảo luận vấn đề tranh chấp Biển Đông theo cơ chế mang tính khu vực hoặc tại các hội nghị mang tính khu vực như Diễn đàn khu vực ASEAN. Tại Diễn đàn khu vực ASEAN năm 2010, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc cũng đã phản bác những ngôn luận được gọi là tự do hàng hải ở Biển Đông trong tình hình không thể nhẫn nại hơn nữa. Nói tóm lại, quyền phát ngôn của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông hiện nay là bị động, đương nhiên tình hình này chủ yếu cũng bắt nguồn từ chính sách tự kiềm chế và dịu giọng của Trung Quốc. Xét về góc độ khai thác sử dụng tài nguyên thiên nhiên biển thì các nước xung quanh Biển Đông mỗi năm khai thác đến hàng triệu tấn, thậm chí hàng chục triệu tấn dầu khí từ vùng biển tranh chấp ở Biển Đông, trong khi một sự thực không thể tranh cãi là Trung Quốc lại không có một giếng dầu nào trong vùng biển tranh chấp. Trong thời gian rất dài trước đây, khi muốn lôi kéo công ty dầu khí của các nước phương Tây vào thăm dò, khai thác dầu khí, Philíppin và Việt Nam thường dè dặt, đắn đo trước phản ứng của Trung Quốc nhưng hiện nay tình hình rõ ràng đã khác trước. Ví dụ như Philíppin, khi hợp tác với công ty dầu khí phương Tây khai thác dầu khí ở vùng biển tranh chấp, nước này tạo dư luận ồn ào trước, dùng thủ đoạn “kẻ cướp kêu bắt kẻ cướp”. Như vậy cũng có thể nói trước đây Philíppin khai thác vụng trộm dầu khí ở vùng biển tranh chấp, nay trắng trợn hành động, cho thấy Trung Quốc đang ngày càng mất đi khả năng kiểm soát tình hình trước hành vi xâm phạm chủ quyền nghiêm trọng của các nước xung quanh như vậy. Xét về phương diện đánh bắt cá thì ngư dân Trung Quốc hiện nay đến đâu cũng bị bắt bớ, trong đó bao gồm Biển Đông và Đông Hải (Biển Hoa Đông). Xét về góc độ so sánh lực lượng và xây dựng quan hệ chiến lược, từ năm 2010 đến nay, so sánh lực lượng ở khu vực Biển Đông đã có thay đổi to lớn. Quan hệ chiến lược giữa các nước trong và ngoài khu vực Biển Đông có bước phát triển mới, về tổng thể, cơ bản đã hình thành mối quan hệ so sánh lực lượng trong đó một bên là Trung Quốc, còn bên kia là một số nước khác do Mỹ và Việt Nam đứng đầu. Quan hệ so sánh này biểu hiện cụ thể ở hai phương diện: 

Một là, xem xét tình hình quan hệ giữa thế lực bên ngoài khu vực và các nước vùng biển xung quanh, từ năm 2010 đến nay, Mỹ không ngừng gia tăng sự hiện diện quân sự ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Ngoài việc lớn tiếng tăng cường quan hệ liên minh quân sự với các nước Hàn Quốc, Nhật Bản, Philíppin, Mỹ đã nhiều lần tổ chức diễn tập quân sự chung, cuối năm 2011 Mỹ lại tuyên bố đạt được thỏa thuận xây dựng căn cứ hải quân ở Ôxtrâylia. Một số nước xung quanh Biển Đông cũng có động thái quan trọng, ví dụ như quan hệ quân sự hiện nay giữa Việt Nam với Mỹ có thể nói là thời kỳ tốt đẹp nhất kể từ khi kết thúc Chiến tranh Việt Nam; Việt Nam và Ấn Độ, Nhật Bản đều đã thiết lập và tăng cường quan hệ hợp tác quân sự, trong đó cả Ấn Độ và Nhật Bản đều cam kết rõ phải giúp Việt Nam nâng cao khả năng quân sự trên biển. Philíppin, Inđônêxia cũng đều lần lượt nâng cấp quan hệ với Nhật Bản lên thành quan hệ đối tác chiến lược, tuyên bố phải bảo vệ “lợi ích chung” ở Biển Đông. Thứ hai, xem xét tình hình phát triển quan hệ giữa các nước tranh chấp Biển Đông, Việt Nam không ngừng điều chỉnh chiến lược Biển Đông của họ, ra sức phát triển quan hệ với nước tranh chấp Biển Đông khác như Philíppin. Việt Nam đã từng bước thay đổi lập trường đối phó tranh chấp Biển Đông, bắt đầu gác lại tranh chấp với các nước khác như Philíppin, tích cực lôi kéo Philíppin và Malaixia nhằm mục đích cùng đối phó với Trung Quốc. Một vấn đề cần phải xem xét kỹ là, từ những năm 70 của thế kỷ trước đến nay, vấn đề tranh chấp Biển Đông đã tồn tại mấy chục năm nhưng về cơ bản các nước và Trung Quốc đều giữ lập trường giống nhau hoặc tương tự nhau, đó là có tranh chấp nhưng không làm to chuyện. Nhưng từ năm 2010 đến nay, vấn đề Biển Đông đã bị hâm nóng lên, dường như hai năm trở lại đây Biển Đông đã luôn xuất hiện tình trạng tranh chấp mới nào đó! Sự thực cái gọi là vấn đề Biển Đông đang bị khuấy lên hiện nay, trên thực tế là bị người ta cố ý làm cho nóng lên. Tôi cho rằng vấn đề này trước hết là Mỹ và Việt Nam phối hợp với nhau nhằm đạt mục đích giúp Mỹ nhanh chóng can thiệp vấn đề Biển Đông, tranh giành ảnh hưởng ở khu vực Biển Đông, đồng thời giúp Việt Nam củng cố và giành giật lợi ích thực tế ở Biển Đông, hơn nữa xét tình hình hiện nay, rõ ràng họ đã rất thành công. Từ năm 2010 đến nay, Mỹ và Việt Nam đã lợi dụng mặt bằng đối thoại ASEAN ở nhiều cấp độ, triển khai thế tiến công Trung Quốc về mặt dư luận, tạo bầu không khí dư luận để cùng công khai “lên án” Trung Quốc. Xét bầu không khí dư luận hiện nay, dường như vấn đề Biển Đông chính là vấn đề mà một bên là Trung Quốc, bên kia là các nước ASEAN và Mỹ, Nhật Bản, là hình thức xung đột giữa lợi ích của Trung Quốc ở Biển Đông và “lợi ích chung” của tất cả các nước này tại Biển Đông. 

Thứ hai là tạo môi trường dư luận để làm méo mó hình ảnh của Trung Quốc, cô lập Trung Quốc, phục vụ cho Mỹ và Việt Nam thành lập liên minh đại chiến lược chống Trung Quốc, bao vây Trung Quốc từ hướng Biển Đông. Hơn nữa, cho đến cuối năm 2011, liên minh nói trên đã rõ hình hài, tiêu chí trực tiếp nhất là quan hệ đối tác các loại mà các nước tranh chấp Biển Đông như đã nói trên là Việt Nam, Philíppin... và các thế lực ngoài khu vực như Mỹ, Nhật Bản và Ấn Độ, đã hình thành và đang tăng cường, củng cố. Tuy nhiên, các nước này cũng có tính hai mặt rất rõ rệt. Một mặt, xét từ góc độ an ninh, họ muốn dựa vào Mỹ để kiềm chế, cân bằng Trung Quốc, không muốn tin vào Trung Quốc; Mặt khác, về phương diện kinh tế lại muốn dựa vào Trung Quốc, có được lợi ích thực tế từ Trung Quốc. Ngoại trưởng Philíppin đi thăm Trung Quốc, có được lợi ích thực tế từ Trung Quốc nhưng sau khi về nước đã lập tức cho công ty dầu khí phương Tây vào thăm dò khai thác dầu khí ở khu vực tranh chấp thuộc Biển Đông. Việt Nam và Nhật Bản rất thành thạo lợi dụng những dịp đi thăm lẫn nhau của các nhà lãnh đạo hai nước, vừa ca tụng bài ca hữu nghị với Trung Quốc, vừa nhân có hội để thăm dò, điều tra trên biển, cố tình chiếm được lợi ích thực tế, vì theo những cách thức quen thuộc, trong khi các nhà lãnh đạo đi thăm, Trung Quốc bao giờ cũng áp dụng lập trường kiềm chế, nói chung không có hành động thực tế ở ngoài biển. Nói tóm lại, một số nước xung quanh có quy hoạch chiến lược, có kế hoạch hành động trong vấn đề tranh chấp Biển Đông, hơn nữa có chiến lược đấu tranh rất lợi hại, hết sức thành thạo trong việc tạo ra và lợi dụng các cơ hội để mưu cầu lợi ích biển tối đa. 

BÀI II: CỤC DIỆN MÔI TRƯỜNG XUNG QUANH KHÓ KHĂN VÀ NGHỊCH LÝ VỀ CHÍNH SÁCH AN NINH (Dương Nghị - Thiếu tướng, Nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu chiến lược, Đại học Quốc phòng Trung Quốc) 

Tình hình “xung đột cường độ mạnh” nguy hiểm nhất ở Biển Đông có thể là năm 2010 và 2011. Bởi vai trò của nước Chủ tịch luân phiên ASEAN rất lớn, trong khi đó Việt Nam với tư cách là nước Chủ tịch vào năm 2010 đã làm hết khả năng của mình, lợi dụng sự ủng hộ của Mỹ đưa vấn đề Biển Đông lên bàn hội nghị các nước ASEAN. Năm 2012, Mỹ lần đầu tiên, tham gia Hội nghị cấp cao Đông Á. Từ năm 2012–2014, Chủ tịch luân phiên ASEAN sẽ lần lượt theo thứ tự do Campuchia, Brunây và Mianma đảm nhận, bởi thế tình hình có khả năng sẽ không tiếp tục nghiêm trọng như năm 2011. Mặc dù vậy, tôi cho rằng vấn đề Biển Đông chỉ có thể nói là sóng gió trên mặt biển có thể giảm bớt chứ sóng ngầm sẽ vẫn như cũ. Xét từ trạng thái hiện nay, vấn đề Biển Đông đã trở thành nhân tố vô cùng quan trọng ảnh hưởng đến lợi ích an ninh và lợi ích phát triển của Trung Quốc, đồng thời cũng trở thành vấn đề nóng mới liên quan đến sự ổn định ở khu vực xung quanh Trung Quốc. Quan hệ Trung – Mỹ trước mắt vẫn chủ yếu là cạnh tranh, sở dĩ vấn đề Biển Đông nóng lên, được phóng đại như vậy, có thể nói là do một số nước xung quanh đã phối hợp với chiến lược “trở lại châu Á-Thái Bình Dương” mà Mỹ đã công phu hoạch định. Năm 2010, Mỹ đã lợi dụng sự kiện “tàu Cheonan” ở hướng Bắc Trung Quốc và khuấy động Biển Đông ở phía Nam, khiến Trung Quốc bị tiến công từ hai mặt. Thủ đoạn thành công nhất của Mỹ là đã làm cho mâu thuẫn Trung – Mỹ diễn biến thành vấn đề giữa Trung Quốc và các nước thuộc khu vực xung quanh, bởi vậy thực chất của vấn đề Biển Đông còn là cuộc đấu chiến lược giữa Trung Quốc và Mỹ. Cùng với vấn đề Biển Đông nóng lên, không ít vạch đỏ của Trung Quốc đã bị phá vỡ, hơn nữa còn đang tiếp tục bị đột phá. Ví dụ như Trung Quốc luôn chủ trương vấn đề Biển Đông là công việc của các nước trong khu vực, trong khi xét từ ý nghĩa nào đó, trên thực tế đã bị quốc tế hóa. Ở quần đảo Trường Sa hiện nay có tới 58% các đảo-bãi đã bị Việt Nam chiếm cứ, vậy Trung Quốc cần phải đối xử như thế nào? Có cần phải thu hồi lại, cũng như thu hồi bằng cách nào, những vấn đề này đã trở thành điểm mấu chốt để Trung Quốc phá vỡ thế bế tắc trong việc giải quyết vấn đề Biển Đông. Dưới tiền đề Trung Quốc kiên trì đi theo con đường phát triển hòa bình như hiện nay, không thể dễ dàng sử dụng sức mạnh quân sự để thu phục đất bị mất, vậy chúng ta cần phải làm gì? Đồng thời, trong khi Trung Quốc trỗi dậy, áp lực trong và ngoài nước đối với chính sách ngoại giao của chúng ta cũng đồng thời lớn thêm. Áp lực bên ngoài như “thuyết về mối đe dọa Trung Quốc”, bên trong là sức ép của dân chúng theo tình cảm dân tộc chủ nghĩa, khó khăn đối với cả bên trong và bên ngoài tăng lên, nếu xử lý không thỏa đáng vấn đề Biển Đông thì không những lợi ích quốc gia sẽ bị tổn hại mà còn có thể nguy hại đến sự ổn định trong nước, thậm chí trực tiếp đe dọa địa vị cầm quyền của Đảng Cộng sản Trung Quốc của chúng ta. Về biện pháp đối phó của Trung Quốc, người viết có thể kiến nghị một số điểm sau đây: 

Thứ nhất, xây dựng chiến lược Biển Đông ở tầm trung ương. Trước hết, cần thành lập cơ quan lãnh đạo thống nhất. Việt Nam đã sớm thành lập “Ủy ban phối hợp Trường Sa”, Trung Quốc đến nay đều chưa có gì. Sau nữa là xác định rõ lợi ích ở Biển Đông, đồng thời hoạch định con đường giải quyết hữu hiệu vấn đề, không thể chỉ nói mà không làm. Lại nữa, cần sử dụng nguồn lực chiến lược tổng hợp, các ngành nhất định phải phối hợp thống nhất. Thứ hai, thay đổi quan niệm, tích cực có hành động. Từ chỗ không gây nên chuyện, đừng để xảy ra trục trặc, đến chỗ làm việc, trù tính xác lập vị thế, từ đó tạo dựng tình thế có lợi cho Trung Quốc ở Biển Đông, nhanh chóng loại bỏ tình hình bế tắc nói trên. Thứ ba, tạo nguồn lực tổng hợp. Trung Quốc cần sử dụng phương pháp tác chiến toàn diện bao gồm các nguồn lực về chính trị, kinh tế, ngoại giao, pháp luật, quân sự, dư luận... Về mặt ngoại giao, cần dũng cảm thể hiện thái độ, không thể quá bị động. Về phương diện lợi ích quốc gia ở Biển Đông, Trung Quốc có lý, nhất định phải mạnh mẽ, không thể bị người khác áp đảo. Thứ tư, xây dựng các phương án ứng phó khẩn cấp. Cần phản ứng kịp thời, đề phòng sai lầm trong hỗn loạn, lại càng phải đề phòng để mất thời cơ tốt. Thứ năm, tăng cường xây dựng lực lượng, nâng cao khả năng bảo vệ an ninh trên biển của quốc gia, đồng thời thông qua thực hiện chấp pháp hữu hiệu trên biển để thể hiện ý chí của Trung Quốc trong việc bảo vệ lợi ích quốc gia, đặc biệt là nhanh chóng xây dựng lực lượng chấp pháp thống nhất trên biển. Về phương diện quân sự, nhất định phải kín đáo phát triển nhanh, triển khai thích hợp và sử dụng thận trọng. 

BÀI III: VÀI SUY NGHĨ VỀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG (La Viện – Thiếu tướng, Ủy viên thường trực kiêm Phó Tổng thư ký Hội học thuật Khoa học quân sự Trung Quốc) 

Chúng ta đều nói Biển Đông ở vào “mùa Thu nhiều chuyện”, vậy dòng khí lạnh của “mùa Đông Biển Đông” đã từ đâu đến? Tôi cho rằng vẫn do Mỹ trở lại châu Á-Thái Bình Dương mang lại. Hiện nay, có hai cách nhìn nhận về việc Mỹ trở lại châu Á – Thái Bình Dương: Một là cho rằng nước Mỹ nhằm tỏ rõ sự hiện diện quân sự của mình ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương chứ hoàn toàn không phải nhắm vào Trung Quốc. Hai là cho rằng Mỹ kiềm chế Trung Quốc để bao vây Trung Quốc. Cá nhân tôi cho rằng thà cứ tin là Mỹ có ý đồ nhắm vào Trung Quốc chứ không thể tin Mỹ không có ý đồ nói trên. Dù có khả năng bao vây Trung Quốc hay không thì Mỹ chắc chắn vẫn có ý đồ. Tôi xin đưa ra cách quy nạp về bố trí chiến lược của Mỹ ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, gọi tắt là “bố cục chiến lược năm ba hai một”, trong đó “năm” là chỉ 5 liên minh quân sự lớn, đó là các liên minh Mỹ - Nhật, Mỹ - Hàn, Mỹ - Philíppin, Mỹ - Thái Lan, Mỹ - Ôxtrâylia, đồng thời còn có 5 căn cứ quân sự lớn, trước hết là một quần thể căn cứ quân sự Đông Bắc Á, chủ yếu kiểm soát ba eo biển La Pérouse, Tsugaru và Tsushima, khóa chặt cửa ngõ phía Bắc của Trung Quốc; Hai là quần thể căn cứ Đông Nam Á, chủ yếu kiểm soát Eo biển Malắcca, phong tỏa cửa ngõ phía Nam Trung Quốc; Ba là quần thể căn cứ đảo Guam, được ví như hai quả đấm thu lại của Mỹ, sẵn sàng xuất kích; Bốn là quần thể căn cứ Ôxtrâylia – Niu Dilân, quần thể căn cứ này mặc dù đóng quân hạn chế nhưng là căn cứ đầu não và là trận địa cảnh báo tiền duyên trong cuộc chiến thông tin của nước Mỹ, địa vị của căn cứ này vẫn rất quan trọng; Năm là quần thể căn cứ Haoai, đó là đầu mối thông tin – giao thông của Mỹ và là trung tâm chỉ huy tác chiến ở Thái Bình Dương của Mỹ. “Ba” là chỉ ba tuyến phong tỏa, đó là ba chuỗi đảo mà mọi người đều biết. Thứ nhất là các đảo chính ở Nhật Bản, Okinawa, Philíppin và khu vực Đài Loan; Thứ hai là đảo Guam và khu vực xung quanh Ôxtrâylia; Còn quần đảo Haoai là chuỗi đảo thứ ba. “Hai” là chỉ “hai chiếc mỏ neo”, chiếc neo phía Bắc là Liên minh quân sự Mỹ - Nhật, phía Nam là Liên minh quân sự Mỹ - Ôxtrâylia. “Một” là chỉ vòng vây hình thành bao quanh Trung Quốc.Bất kể vòng vây này hình dạng thế nào thì quả thực vẫn tồn tại. Những năm gần đây, Mỹ đã có được quyền xây dựng hơn 10 căn cứ quân sự ở các nước như Philíppin, Inđônêxia... Gần đây tình hình Biển Đông nổi sóng gió, Mỹ lập tức đề xuất điều chiến hạm gần bờ của họ đến cảng Changi của Xinhgapo. Một tiêu chí then chốt để có thể biết được Mỹ có trở lại Thái Bình Dương hay không là phải xem quân đội Mỹ có có trở lại cảng Subic, căn cứ quân sự Clack ở Philíppin và cảng Cam Ranh của Việt Nam hay không? Hai điểm này có thể coi là việc làm mang tính tiêu chí để xem xét việc Mỹ hoàn thành mục tiêu “trở lại châu Á – Thái Bình Dương”. Ở Nam Á, Mỹ và Ấn Độ đã kết thành quan hệ đối tác chiến lược. Ở Trung Á, Mỹ có 18 căn cứ quân sự, khoảng cách đến Tân Cương gần nhất là 250 km. Mông Cổ hiện nay lại càng thực hiện “chiến lược nước láng giềng thứ ba”, coi Mỹ là nước láng giềng thứ ba và diễn tập quân sự chung với Mỹ. Ở Đông Bắc Á, Mỹ cũng có các Liên minh quân sự Mỹ - Hàn, Mỹ - Nhật. Mỹ còn bố trí trận địa SONAR ở vùng biển xung quanh Trung Quốc để trinh sát tàu ngầm và tàu mặt nước của Trung Quốc, luôn nhiều lần diễn tập quân sự quy mô lớn với các nước láng giềng xung quanh Trung Quốc. Vì thế có nhận thấy rõ rằng, dù ý đồ của Mỹ thế nào thì vòng vây nói trên đã thực sự tồn tại. 

Vậy phải giải quyết vấn đề Biển Đông như thế nào? Tôi cho rằng Trung ương Đảng trước hết cần phải coi sự nghiệp hải dương là trọng tâm của mọi trọng tâm, giống như sự nghiệp vũ trụ. Cần phải thành lập Ủy ban an ninh quốc gia, và dưới đó thành lập Ủy ban quốc gia về an ninh biển và phát triển biển do người lãnh đạo quốc gia nắm giữ. Thứ hai, cần kiên trì nguyên tắc “chủ quyền thuộc về ta” do đồng chí Đặng Tiểu Bình đề xuất. Chỉ có như vậy mới có thể làm cho các nước xung quanh hiểu lập trường cơ bản của chúng ta, nhất là nguyên tắc “chủ quyền thuộc về ta” không thể chỉ dừng lại ở lời nói mà phải được thực hiện bằng hành động. Đó chính là “5 tồn tại” mà tôi đề xuất như dưới đây: Một là tồn tại về mặt hành chính. Trung Quốc cần thành lập Khu hành chính đặc biệt ở Biển Đông, hoạch định các đơn vị hành chính như thành phố, quận, huyện, xã..., đồng thời cắt cử các quan chức quản lý về mặt hành chính. Dù không thể lên được đảo cũng cần phải công bố, căng biển trong đất liền cáo thị tên gọi của khu vực hành chính và các nhân viên quản lý, đồng thời các đại biểu Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc và ủy viên Chính Hiệp cũng cần phải công khai lên đảo tuần tra, tuyên bố chủ quyền. Hai là tồn tại về luật pháp. Nhất định phải đưa các căn cứ pháp lý của Trung Quốc đến diễn đàn quốc tế để tuyên truyền, phân tích, giải thích. Ba là tồn tại về quốc phòng. Trên các đảo ở Biển Đông thì những nơi có thể đóng quân sẽ phải đóng quân, những nơi không thể đóng quân thì phải xây dựng các cơ sở quân sự như cột đèn, thiết bị đo chiều gió, chỉ hướng gió, trạm quan trắc v.v.. Ngoài ra, máy bay chiến đấu và tàu chiến của Trung Quốc phải tuần tra thường kỳ ở khu vực này, đồng thời phải trịnh trọng tuyên bố khu vực nào đó là khu vực diễn tập quân sự hoặc khu bắn thử tên lửa khi ở trong trạng thái nguy cơ. Bốn là tồn tại về kinh tế. Ngư dân Trung Quốc cần thành lập và xây dựng các ngư trường, lồng lưới, tàu chiến có thể tiến hành bảo vệ dưới danh nghĩa hộ tống. Chúng ta cũng cần thành lập các mặt bằng khoan giếng, và còn có thể sử dụng phương pháp phát triển các dự án du lịch bằng tàu du lịch cỡ lớn đến khu vực Biển Đông để thể hiện chủ quyền. Trong quá trình trỗi dậy, biên giới lợi ích của Trung Quốc cũng sẽ đồng thời từng bước mở rộng, khái niệm chủ quyền cũng sẽ thay đổi. Ví dụ như tàu sân bay, mặt bằng thăm dò trên biển của Trung Quốc sẽ trở thành lãnh thổ lưu động. Năm là tồn tại về mặt dư luận. Trong luật quốc tế có một điều khoản quy định, nếu một số đảo nào đó sau khi bị chiếm nhưng không dẫn đến tranh chấp thì sau 50 năm đương nhiên sẽ được tách ra. Vì thế dư luận ở Trung Quốc cần không ngừng chỉ rõ Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với Biển Đông và vùng biển phụ cận Biển Đông. Ngoài ra Trung Quốc có căn cứ trong vấn đề phân định lãnh thổ Biển Đông theo luật quốc tế, vì thế báo chí cần tuyên truyền mạnh về những luật pháp nói trên. Trung Quốc cũng cần công bố “Sách Trắng về Biển Đông” vào thời điểm thích hợp, giải thích rõ căn cứ pháp lý của Trung Quốc. Cuối cùng, cũng cần phải nhấn mạnh một điểm, rằng trong vấn đề Biển Đông Trung Quốc không chỉ nhấn mạnh áp dụng biện pháp hòa bình, mà cần phải thực hiện song song giữa mềm và cứng, giữa ân đức và uy lực, hai tay đều phải cứng, vừa tuyên bố chúng ta có ý nguyện hòa bình tốt đẹp, nhưng cũng cần phải tuyên bố có ý chí kiên định bảo vệ chủ quyền quốc gia bằng biện pháp phi hòa bình. Chỉ có kết hợp giữa “ý nguyện” và “ý chí” mới có thể thực sự ngăn chặn chiến tranh, bảo vệ chủ quyền một cách hữu hiệu. 

BÀI IV: TỪ VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG BÀN VỀ ĐIỀU CHỈNH NGOẠI GIAO (Diêm Học Thông – Viện trưởng Viện nghiên cứu quan hệ quốc tế hiện đại, Đại học Thanh Hoa) 

Trong bối cảnh vấn đề đặt ra cho năm 2012 là Trung Quốc cần phải làm gì, không chỉ có chiến lược ngoại giao mà nguyên tắc ngoại giao có cần phải điều chỉnh hay không? Bài viết của học giả Diêm Học Thông dưới đây phân tích vấn đề điều chỉnh đường lối ngoại giao của Trung Quốc xung quanh vấn đề Biển Đông như sau: Trong quân đội hiện nay đang có câu nói đặc biệt phổ biến, đó là “không đánh mà khuất phục được quân người”. Tuy nhiên, rất nhiều người đã giải thích nhầm câu nói trên thành không sử dụng vũ lực. Khái niệm “không đánh” trong câu của Tôn Tử nói trên nghĩa là không tiến hành trận chiến nóng để công phá thành chứ không phải là chiến tranh lạnh không sử dụng vũ lực. Ví dụ nói, trong quá trình giải phóng Bắc Bình (tên gọi cũ của Bắc Kinh hiện nay) giải phóng quân “vây mà không đánh”; Trong thời kỳ khủng hoảng Béclin, Liên Xô tiến hành phong tỏa giao thông ở Tây Béclin; Trong cuộc khủng hoảng tên lửa Cu Ba, Liên Xô chuẩn bị bố trí tên lửa ở Cu Ba; Trong Chiến tranh Irắc Mỹ thiết lập vùng cấm bay v.v., những cách nói trên đây đều hàm nghĩa “không đánh mà khuất phục được quân người”. Nói cách khác, vấn đề mấu chốt để phân định ý nghĩa “không đánh mà khuất phục được quân người” không phải ở chỗ có sử dụng biện pháp quân sự hay không mà ở chỗ có khai hỏa tiến công hay không. Hay cũng là nói, áp dụng biện pháp quân sự để uy hiếp hoặc phong tỏa cũng thuộc phạm trù “không đánh mà khuất phục được quân người”. Một ý nghĩa cốt lõi khác của câu nói trên là “quân người khuất phục”. Ở đây có ý nói kết quả trận đánh nóng chưa tiến hành là đối phương tự khuất phục chứ không phải mình khuất phục quân đối phương. Hiện nay có rất nhiều người lý giải về câu nói trên là, chỉ cần không sử dụng vũ lực giải quyết vấn đề, dù là tự mình khuất phục đối phương cũng là “thượng sách”. Trong lĩnh vực chính trị quốc tế, chỉ cần một bên khuất phục là có thể đảm bảo “hòa bình”. Nhưng, kết quả giải quyết hòa bình nói trên không thuộc về phạm trù “không đánh mà khuất phục được quân người” của Tôn Tử, mà đó gọi là “không đánh mà quân mình bị khuất phục”. Đó là vấn đề đặc biệt rõ ràng về chiến lược đối ngoại. Nói cách khác, vận dụng tư duy xử sự bằng cách không sử dụng vũ lực để giải quyết vấn đề, lấy “giấu mình chờ thời” làm ý tưởng ngoại giao trung tâm sẽ không thể xây dựng được chiến lược lớn về biển của Trung Quốc, cũng không thể giải quyết được vấn đề Biển Đông. Đặc biệt là nếu lấy bảo vệ thời cơ chiến lược và bảo vệ đại cục ổn định làm nguyên tắc thì Trung Quốc chỉ có thể lùi bước nhượng bộ trong vấn đề Biển Đông. Nếu bảo vệ thời cơ chiến lược được hiểu là lấy xây dựng kinh tế làm trung tâm, bảo vệ đại cục ổn định được hiểu là duy trì quan hệ hữu hảo với Mỹ, hay nói cách khác, nếu lo ngại giải quyết vấn đề Biển Đông sẽ ảnh hưởng đến phát triển kinh tế của Trung Quốc, ảnh hưởng đến quan hệ Trung – Mỹ, thì như vậy sẽ chỉ có thể là hy sinh lợi ích Biển Đông. Muốn giữ được quyền lợi ở Biển Đông thì không thể câu nệ vào “giấu mình chờ thời”, không thể lấy phục vụ xây dựng kinh tế làm nhiệm vụ tối cao trong đường lối ngoại giao. 

Lợi ích hàng đầu của Trung Quốc cuối cùng là gì? Tôi cho rằng lợi ích kinh tế đã không còn tiếp tục là vị trí số một tuyệt đối, lợi ích an ninh cần phải được đặt lên trên lợi ích kinh tế, khi hai lợi ích phát sinh xung đột sẽ lấy lợi ích an ninh làm trọng tâm. Quốc gia lớn mạnh không có nghĩa là an ninh tự thân đã được nâng cao, mà sự thực đã chứng minh ngược lại, quốc gia càng lớn mạnh thì vấn đề an ninh sẽ càng trở nên nghiêm trọng vì biên giới lợi ích của quốc gia đã mở rộng ranh giới ra bên ngoài nên càng dễ bị bên ngoài tấn công. Nước Mỹ chính là một ví dụ rõ nhất. Lợi ích mở rộng đòi hỏi phải được bảo vệ bằng quân sự, tốc độ nâng cao khả năng bảo vệ bằng quân sự không theo kịp với tốc độ mở rộng lợi ích khác thì vấn đề an ninh sẽ càng ngày càng nghiêm trọng. Chính là do thực lực kinh tế và địa vị của Trung Quốc được nâng cao đã xuất hiện vấn đề về an ninh quốc gia như trong tranh chấp Biển Đông. Nhận định về tình hình Biển Đông, tôi có một cách nhìn khác. Cho dù năm 2012 biến động về nước chủ tịch luân phiên ASEAN là nhân tố ảnh hưởng quan trọng làm giảm nhẹ mức độ kích hoạt vấn đề Biển Đông, nhưng thực chất vấn đề Biển Đông trên thực tế vẫn được quyết định bởi chiến lược của Mỹ. Tôi xem xét tình hình Biển Đông từ góc độ chiến lược của Mỹ đối với Trung Quốc. Nói cách khác, tình hình Biển Đông chủ yếu sẽ được quyết định bởi việc Obama tranh cử tổng thống có được thuận lợi hay không. Nếu tình hình Obama tranh cử thuận lợi thì ông này sẽ tăng cường chiến lược hiện nay của Mỹ ở Biển Đông. Năm 2009, H. Clinton tham gia Hội nghị cấp cao Đông Á, có tổng cộng 12 nước ủng hộ Mỹ trong vấn đề này. Năm 2011, Obama tham gia Hội nghị cấp cao Đông Á, có 14 nước ủng hộ. Chiến lược Đông Nam Á của Mỹ khiến Mỹ được lợi. Đối với chiến lược đã cho thấy lợi ích thì Obama sẽ không từ bỏ. Bởi thế nếu Obama thắng cử thì năm 2012 ông ta sẽ còn tham gia Hội nghị cấp cao Đông Á, tình hình Biển Đông rất có thể nghiêm trọng hơn hiện nay. Đặc biệt tháng 12 vừa qua, H. Clinton đã đi thăm Mianma, hội kiến với Aung San Suu Kyi, rõ ràng là Mianma bắt đầu thỏa hiệp với Mỹ. Đồng thời xem xét đến viện trợ của Nga những năm gần đây cho Việt Nam sẽ thấy tình hình Biển Đông năm 2012 mà Trung Quốc phải đối mặt rất khó có được chuyển biến tốt. Nếu Obama tranh cử không thuận lợi, ông này sẽ khó tham gia Hội nghị thượng đỉnh Đông Á, tình hình như vậy sẽ có phần tốt hơn. 

Hiện nay, mọi người đã và đang tranh luận việc Mỹ trở lại châu Á – Thái Bình Dương là hành động chiến thuật hay chiến lược? Nếu là chiến thuật thì năm 2013 sau khi bầu cử tổng thống, Mỹ có thể sẽ trở lại chính sách đối với Trung Quốc năm 2009, nhưng nếu là hành động chiến lược thì dù ứng viên tổng thống nào trúng cử cũng đều củng cố áp lực đối với Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông, sẽ tăng cường sự hiện diện quân sự và hành động chiến lược ở khu vực này. Tôi cho rằng việc Mỹ điều chỉnh chính sách đối với Trung Quốc lần này là mang tính chiến lược. Như mọi người đều biết, thực lực về vật chất của Mỹ đang giảm xuống một cách tương đối, vậy Mỹ sẽ phải dựa vào ưu thế ngoại giao để bù lại sự bất cập trong quốc lực tổng hợp. Như vậy cũng là nói, nước Mỹ sau khi thực lực vật chất sụt giảm tương đối sẽ tăng cường hiệp đồng tác chiến với đồng minh, như vậy mới có thể tiếp tục duy trì địa vị chủ đạo của nước Mỹ, đồng thời khu vực Biển Đông có từng ấy nước ủng hộ Mỹ thì tại sao Mỹ phải từ bỏ theo một hướng phi lôgích? Ngoài ra, Mỹ rút khỏi Trung Đông, tăng cường sự có mặt ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, so với khu vực Đông Bắc Á thì Biển Đông dễ dàng thâm nhập hơn, vậy tại sao Mỹ lại không kiềm chế Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông? Về biện pháp đối phó của Trung Quốc, tôi kiên trì theo hướng nên từ bỏ chính sách “giấu mình chờ thời” và “không liên kết”. Khiêm tốn thận trọng là khái niệm rất hay của Trung Quốc, nhưng vì sao phải thôi kiên trì “giấu mình chờ thời” để không sử dụng nguyên tắc “khiêm tốn thận trọng”? “Giấu mình chờ thời” có hàm nghĩa báo thù, đó là vấn đề không thể thay đổi. “Không liên kết” nghĩa là không kết giao thành bạn đáng tin cậy nhất. Không có bạn tin cậy, khi gặp khó khăn chúng ta sẽ không có ai để làm chỗ dựa. Chúng ta không có bạn đồng minh, nước khác cũng sẽ không giảm lo sợ đối với nước Trung Quốc trỗi dậy. Chính sách “không liên kết” trở thành chướng ngại để nước ta tranh thủ đa số nước ủng hộ ở khu vực Biển Đông. Mỹ rất lo ngại chúng ta từ bỏ chính sách “không liên kết”, vì chính sách này có lợi cho Mỹ cô lập chúng ta. Nhìn tổng quan bốn khu vực xung quanh Trung Quốc thì khu vực an toàn nhất là phía Tây và Tây Bắc, còn chỗ dựa an ninh ở khu vực này là Tổ chức hợp tác Thượng Hải mang tính chất bán liên minh quân sự. 

Nói tóm lại, Trung Quốc hiện nay không những phải đối mặt trước vấn đề điều chỉnh chiến lược ngoại giao, mà vấn đề là có cần điều chỉnh nguyên tắc ngoại giao hay không, nghĩa là có điều chỉnh nguyên tắc “giấu mình chờ thời” và “không liên kết” hay không? Vấn đề Biển Đông hiện nay là hình ảnh thu nhỏ của ngoại giao toàn cầu của Trung Quốc, phản ánh ý tưởng ngoại giao đã lỗi thời. Trong “Kinh thi” có nói, “Chu tuy cựu bang, kỳ mệnh duy mới” nghĩa là triều nhà Chu có thể kéo dài được mấy trăm năm, chỗ dựa chính là không ngừng đổi mới. Người viết bài này cho rằng việc điều chỉnh nguyên tắc “không liên kết” đã vận dụng 30 năm và nguyên tắc “giấu mình chờ thời” đã thực hiện 20 năm, sẽ có lợi cho việc giữ gìn lợi ích Biển Đông và lợi ích quốc gia trên toàn cầu của Trung Quốc./.

 Theo Tạp chí “Tri thức thế giới” (Trung Quốc – số 1/2012)

Lê Sơn (gt)

 

 

Tọa đàm tại Bắc Kinh giữa các chuyên gia hàng đầu của Trung Quốc, tập trung phân tích tầm quan trọng của biển đối với sự phát triển của Trung Quốc, những diễn biến gấn đây về tình hình Nam Hải (Biển Đông), đặc biệt là nhân tố Mỹ và ảnh hưởng đến cục diện xung quanh Trung Quốc. Các học giả cũng đưa ra các kiến nghị chính sách cho Chính phủ Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông.

 

Hãng bình luận tin tức TQ (Chinareviewnews) và Nguyệt san Bình luận Trung Quốc của Hồng Công đã tổ chức buổi Tọa đàm về quyền lợi và chiến lược biển Trung Quốc tại Bắc Kinh. Buổi tọa đàm do Nghiên cứu viên Viện nghiên cứu vấn đề quốc tế TQ, Cố vấn học thuật của Nguyệt san Bình luận TQ chủ trì: tham gia gồm các chuyên gia, học giả: Giáo sư Viện nghiên cứu chiến lược quốc tế: Trường Đảng TƯ Mã Tiểu Quân; Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu CÁ-TBD, Viện Khoa học xã hội TQ Hàn Phong; Phó chủ nhiệm Trung tâm nghiên cứu chiến lược biển, Viện nghiên cứu quan hệ quốc tế hiện đại Vương San; Quyền Chủ nhiệm Phòng nghiên cứu luật biển, Viện nghiên cứu chiến lược phát triển biển, Cục hải dương TQ Ngô Kế Lục. Trợ lý Trung tâm nghiên cứu sử địa biên cương, Viện Khoa học xã hội TQ, Tiến sĩ Hầu Nghị.

Lược dịch một số nội dung chính như sau.

Quách Chấn Viễn: Năm ngoái TQ xảy ra tranh chấp đảo Điếu Ngư với Nhật Bản, năm nay lại xảy ra tranh chấp Biển Đông, do đó mọi người đều rất quan tâm đến vấn đề biển, về lý luận cũng trở thành vấn đề điểm nóng nổi bật.

Hàn Phong: Biển và an ninh  phát triển của TQ

Tôi thấy rằng vấn đề Biển Đông xảy ra lần này một lần nữa cho thấy nó liên quan đến toàn bộ chiến lược phát triển của TQ. Sự phát triển và trỗi dậy của Trung Quốc quá nhanh, do đó khái niệm về khu vực đã có sự thay đổi lớn, ví dụ khái niệm xung quanh TQ, khu vực CA-TBD và Đông Á đều được mở rộng nhanh chóng. Hiện nay không thể phân biệt rõ đâu là Đông Á. Nếu cuối năm nay Mỹ và Nga tham gia thì thực tế Đông Á là 10+8. Nhưng khái niệm Đông Á này đã có thay đổi triệt để về mặt địa lý. Trong tình hình nội hàm chiến lược của TQ đang được mở rộng, vấn đề Biển Đông ngày càng áp sát hoặc bao phủ lên toàn bộ khu vực tranh chấp. Trong quan hệ nước lớn hiện nay, vấn đề Biển Đông trên thực tế đã ảnh hưởng đến sự phát trển  của Trung Quốc, là con bài để một số nước kềm chế Trung Quốc phát  triển. Bởi vì vấn đề Biển Đông không phải hôm nay mới có, một số nước căn cứ vào chiến lược của mình lúc nào cũng có thể sử dụng con bài này. Hiện nay họ đã sử dụng và gần giống với vấn đề Đài Loan trước đây. Việc hiện nay họ tập trung sử dụng con bài này chứng tỏ nó có tác dụng trong chiến lược của họ,  có tác dụng kiềm chế TQ. Trạng thái chiến lược của TQ có thể hơi ôn hoà. Năm 2009 đã xảy ra một sự việc nhưng lần đó chủ yếu là đấu tranh pháp lý, còn lần này có thể không giống như thế mà tương đối tổng hợp, bối cảnh là lấy chủ quyền làm chính, các dạng đấu tranh đều đã xuất hiện, kể cả pháp lý. Do ở đây có chiến lược của nước lớn, cũng có sự tính toán của nước nhỏ. Đối với TQ đó có thể là cục diện chiến thuật vi mô hoặc là sự hỗn hợp thay thế nhau, đây có thể là lần đầu tiên đối với TQ. Có thể nói sự phát triển của TQ có ảnh hưởng ngày càng lớn đối với khu vực, nên các nước đã đưa ra con bài đó ở thời điểm này, nhưng đây chưa hẳn là một việc tồi tệ bởi vì việc TQ xử lý vấn đề này thế nào, quản lý vấn đề khu vực và tạo dựng môi trường xung quanh là một khả năng mà TQ cần có để lớn mạnh.

Cục diện cơ bản của an ninh khu vực chưa có thay đổi về căn bản, bởi vì mặc dù xảy ra vấn đề nhưng các bên đều không muôn phá vỡ giới hạn cuối cùng của DOC. Có thể nói, sự ổn định của khu vực vẫn là nhận thức chính trị chung của các bên, tất nhiên trên cơ sở này các nước đều cố gắng chiếm được nhiều hơn, giành được nhiều hơn. Nhưng trên thực tế không gian có thể chiếm hữu hiện nay không còn nhiều. Trong cục diện hiện nay, việc làm thế nào để xử lý thoả đáng vấn đề là chiến lược lớn và lợi ích quốc gia của TQ. Nên cân bằng thế nào giữa lợi ích lâu dài và lợi ích trước mắt. Hiện nay rất nhiều người đều quy nạp về vấn đề giữ ổn định hay bảo vệ quyền lợi, dường như có một số mâu thuẫn. Sở dĩ nói tình hình an ninh khu vực cơ bản không thay đổi, bởi vì chủ quyền Biển Đông  từ khi có tranh chấp đến nay vẫn như vậy. TQ không mất mát và cũng không vì nước khác chiếm nhiều hơn mà làm cho lợi ích của TQ bị tổn thất về căn bản. Trung Quốc trong lúc này cần phải bình tĩnh, bởi vì đây là vấn đề chủ quyền, tài nguyên năng lượng, tuyến đường biển quốc tế, quan hệ quốc tế và vấn đề quản lý biển. Nhưng những vấn đề này đều liên quan đến chủ quyền, do chưa phân định rõ nên mới có vấn đề. Phương châm cơ bản của TQ như Đặng Tiểu Bình đã nói, đó là chủ quyền thuộc ta, gác tranh chấp, cùng khai thác. Nhưng “chủ quyền thuộc ta” và "gác tranh chấp” trên thực tế có mâu thuẫn với nhau, thuộc ta rồi thì gác tranh chấp cái gì để thực hiện cùng khai thác. Đằng sau câu nói nảy chính là thừa nhận tranh chấp, có nghĩa là chủ quyền mặc dù thuộc tôi, nhưng tôi không có đủ khả năng để quản lý hết, đo đó tồn tại tranh chấp. Đó là tư duy lúc đó. Hiện nay chúng ta cũng chưa có thay đổi về vấn đề đó, chủ quyền là không thể từ bỏ, nhưng là gác lại tranh chấp. Tranh chấp này chưa được giải quyết các nước khác đã nêu ra nhiều chủ trương rõ ràng là có rất nhiều nguy hiểm đối với chủ quyền của TQ. Về pháp lý, lần này có thể sẽ cụ thể hơn, đã tập trung đưa ra. đó là căn cứ pháp lý của "đường 9 đoạn" và phạm vi tài nguyên của TQ, tuyến đường biển liên quan. Do đó, phương diện lớn của TQ là phát triển, nhất là phát triển đột phá vùng ven biển, mở rộng ra vùng biển tranh chấp nâng cao vai trò của TQ trong khu vực và trên thế giới trong tương lai, tăng cường ảnh hưởng đối với khu vực tranh chấp. Tất nhiên điều này  ngoài chủ quyền còn ảnh hưởng đến nội bộ và ổn định trong nước của TQ.

Mặc dù hiện nay vấn đề này đang bị làm to chuyện, nhưng các bên đều mong muốn thông qua đảm phán hoà bình để điều chỉnh. Philippines và Việt Nam cũng không muốn xung đột quân sự trực tiếp với TQ mà mong muốn trước khi TQ trỗi đậy sẽ thông qua mọi biện pháp để củng cố lợi ích mà họ đã giành được, tìm kiếm nhiều chứng cứ cho việc giải quyết vấn đề thực sự trong tương lai, nhằm giành được nhiều lợi ích hơn.

Mã Tiểu Quân: Cần làm rõ giữa quyền lực và quyền lợi biển

Những năm gần đây, tình hình tranh chấp chủ quyền lãnh thổ Biển Đông, bao gồm cả vấn đề biển Hoa Đông, Hoàng Hải liên tục quấy nhiễu đại cực chiến lược ngoại giao và môi trường quốc tế xung quanh TQ, tạo ra một cuộc thảo luận lớn của dư luận báo chí trong nước về quyền lợi biển. TQ có đi ra biển không? TQ có phải là một quốc gia biển không? TQ làm thế nào để xây dựng hải quân hùng mạnh? Hiện nay bao gồm cả giới học thuật và báo chí đều chưa nghiên cứu sâu những vấn đề này. Ví dụ trong một bài viết, hai khái niệm hoàn toàn khác nhau nêu trên thường bị sử dụng lẫn lộn. Hiện tượng này cho thấy chúng ta chưa chuẩn bị tốt về học thuật, lý luận, pháp lý và luật pháp quốc tế.

Về vấn đề bảo vệ quyền lợi biển và an ninh chủ quyền lãnh thổ của TQ, quan điểm cơ bản của tôi là: 3 yếu tố là sự toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ, thống nhất và an ninh của TQ cho đến nay vẫn chưa có cái nào được thực hiện, trong đó tất nhiên cũng bao gồm vấn đề chủ quyền lãnh thổ biển. Hiện nay khi chúng ta nói đến vấn đề chiến lược biển thì vấn đề cần giải quyết đầu tiên là mục tiêu chiến lược biển của TQ, chứ không phải nói một cách chung chung. Trong 62 năm kể từ khi nước TQ mới được thành lập, TQ đã hoàn thành phân định và cắm mốc biên giới đất liền với 12/14 nước, hiện nay còn Ấn Độ và Butan chưa hoàn thành. Trong đó đáng kể nhất là việc phân định biên giới với Nga và Việt Nam. TQ đã từng đánh nhau với hai nước này vì tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, nhưng kết quả phân định cuối cùng không phải bằng phương thức chiến tranh, mà là thông qua đàm phán giải quyết, thông cảm nhân nhượng lẫn nhau để giải quyết giống như chưa từng xảy ra chiến tranh biên giới giữa hai nước. Kể cả vấn đề chủ quyền biên giới biển đang làm cho mọi người lo ngại nhất hiện nay cũng đã có tiền lệ giải quyết thành công và lại với Việt Nam: nước đang có màu thuận gay gắt nhất với TQ hiện nay về vấn đề trên biển, đã cùng với TQ phân định thành công Vịnh Bắc Bộ. Kinh nghiệm lịch sử chứng minh, cho dù là biên giới đất liền hay biên giới biển, không thể sử dụng biện pháp chiến tranh để giành giật.

Học giả và báo chí phải có trách nhiệm giải thích với dân chúng. Chúng ta đang sống trong hệ thống quan hệ quốc tế hiện nay, việc giải quyệt tranh chấp biên giới và xung đột quốc tế chỉ có 2 con đường: một là cường quyền, hai là hòa bình và ngoại giao. Cho đến nay, cá nhân tôi chưa thấy lãnh đạo hay nhà chinh trị nào của TQ bày tỏ thông qua biện pháp cường quyền giải quyết vấn đề. TQ luôn tôn trọng và tuân thủ nguyên tắc chính trị trong quan hệ quốc tế hiện đại và nguyên tắc của luật pháp quốc tế để giải quyết những vấn đề này.

Đối với lợi ích biển, việc đầu tiên vẫn là toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ, thống nhất và an ninh đất nước. Đây là việc thiết thực và cấp bách nhất, cũng là lợi ích chiến lược quốc gia căn bản nhất của TQ. Do đó khi bàn về quyền lợi biển, đầu tiên là vấn đề bảo vệ cửa nhà, trước hết cần bảo vệ tốt nhà mình, sau đó mới bàn đến các khu vực tranh chấp; thứ hai là cần quan tâm đến vùng biển quốc tế. Những năm gần đây TQ đã bắt đầu đi vào vùng biển quốc tế và phát hiện thấy đây là một không gian rất lớn, có lợi ích chiến lược phong phú, nhưng sự chuẩn bị của TQ chưa đủ, nhân tài chuyên môn thiếu. Ở vùng biên quốc tế, Nam Bắc cực và vùng biển xung quanh, các tuyến đường biển, đáy biển quốc tế đều có lợi ích chiến lược to lớn của TQ. Việc xây dựng các cơ chế quốc tế liên quan cũng đang cần TQ tham gia nhiều hơn và mang tính xây dựng hơn.

Vương San: Biển có ý nghĩa to lớn đối vớt sự phát triển của TQ trong tương lai

TQ có đường bờ biển rất dài, lâu nay người TQ chịu sự bó buộc của tư tưởng quyền lợi đối với đất liền, ý thức biển của người TQ khá yếu, thiếu các chuyên gia trong lĩnh vực này bao gồm cả trên các diễn đàn quốc tế và đấu tranh về quyền phát ngôn. Việc thể hiện chủ trương của TQ một cách có cơ sở, có lý lẽ tại các diễn đàn quốc tế là then chốt. Ngoài ra, xét từ góc độ môi trường quốc tế thì rõ ràng TQ ở vào thế rất bất lợi trong việc bảo vệ quyền lợi biển. Tại các diễn đàn đa phương, về học thuật thì chỉ có vài nước thực sự nêu chính nghĩa thay cho TQ, do vậy trên trường quốc tế, TQ ở vào trạng thái bị động trên vấn đề Biển Đông. Nói về lý lẽ thì chúng ta tuy rằng có lý nhưng xét về tình hình thi chúng ta lại không thể mở rộng lý ra được. Hiện nay, quyền lợi biển của TQ vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Thứ nhất, các vùng biển xung quanh TQ liên tục bị xâm phạm. Hiện nay, các vùng Biển Hoa Đông, Hoàng Hải đến Biển Đông trên thực tế đều có tranh chấp với một số nước, đặc biệt là trong một, hai năm trở lại đây.

Tiếp đó là việc Mỹ tăng cường can thiệp vào vấn đề các vùng biển xung quanh TQ, quyền lợi biển của TQ bị xâm phạm . Nửa cuối năm 2010, Mỹ - Hàn liên tục lớn tiếng diễn tập quân sự tại Hoàng Hải và biển Hoa Đông; đưa tàu sân bay ra vào cửa nhà của TQ. Trong vấn đề Biển Đông, năm nay Mỹ lại có biện pháp mới, lợi dụng mâu thuẫn trong khu vực để kiềm chế TQ trong tranh chấp tại các vùng biển xung quanh Trung Quốc, nhân tố Mỹ ngày càng nỗi cộm, đây là hiện tượng thứ hai.

Hiện tượng thứ ba là an toàn hàng hải, tình trạng của TQ cùng khá gay go trong vấn đề này. Cùng với việc đi ra ngoài ngày càng được thực hiện đi vào chiều sâu, an toàn hàng hải ngày càng quan trọng đối với an ninh kinh tế quốc gia của TQ. Hiện nay 80% ngoại thương của TQ cần qua đường biển, hơn nữa một tư tưởng quan trọng của chiến lược đi ra ngoài là phát tài từ biển, đi đường biển, dựa vào biển để làm mạnh bản thân. Ngoài ra, hợp tác giữa TQ với các quốc gia ven các eo biển, bao gồm một số eo biển chính trên thế giới hiện nay chưa nhiều. Theo thống kê, hàng năm có 4000 - 5000 tàu buôn của TQ qua lại khu vực từ Trung Đông đến Bác Phi. TQ hiện có một số bất cập trong việc quản lý an toàn hàng hải: (i) chuẩn bị về chính sách đối với việc bảo vệ an ninh hàng hải chưa đủ, năng lực xây dựng mới ở giai đoạn đầu, còn có khoảng cách khá xa so với Mỹ, Nhật; (ii) vận tải biển xa của TQ hiện đa số đều đi qua các khu vực biển có xung đột vá nguy hiểm. Hai năm gần đây, TQ có nhiều tàu bị cướp biển bắt giữ, thiệt  hại không ít về kinh tế. Ngoài ra năng lực vận tải biền xa còn bất cập, đây là nhân tố mang tính bế tắc, hạn chế.

Thứ 4 là những thách thức của môi trường biển xung quanh TQ hay quyền lợi biển của TQ gặp phải, có khả năng đến từ hai bờ eo biển. Hiện nay quan hệ hai bờ phát triển khá nổi bật về kinh tế, nhưng trên vấn đề cùng bảo vệ quyền lợi biển của dân tộc Trung Hoa thì hai bờ vẫn chưa có hành động gì lớn và thực chất. Hiện hợp tác hai bờ mới chỉ dừng lại ở một số diễn đàn trong giói học thuật, ngoài ra chủ yếu nghiêng về an ninh trên biển, cứu hộ cứu nạn. Gân đây, Đài Loan cử tàu của Cục Hải Tuần đến đảo Thái Bình (Ba Bình), có tin Mã Anh Cửu muốn đến đảo Thái Bình (Ba Bình) tuyên bố chủ quyền, đây là những dấu hiệu tích cực giữa hai bờ trong việc cùng bảo vệ quyên lợi biển từ nay về sau. TQ cần xuất phát từ tầm cao chiến lược, từ ổn định lâu dài của quốc gia, từ bảo vệ ổn định xã hội để nhận  thức vấn đề biển, đẩy nhanh chiến lược biểnTQ trong thời kỳ mới. Cần học tập kinh nghiệm của các cường quốc biển như Mỹ, Nhật. Các nước Nga, Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, Ấn Độ trên thực tế đều có chiến lược biển tương ứng, Trung Quốc nên chăng cũng cần có chiến lược biển vào thời điểm thích hợp. Ngoài ra, TQ cần xây dựng mối quan hệ hài hòa với láng giềng, tích cực tham gia vào các công việc biển với láng giềng. Hiện nay trong nội bộ các nước láng giềng ở  Biển Đông đang dần hình thành một nhận thức chung đối với TQ, chưa nói đến hoàn toàn nhất trí nhưng những nước nói thay cho TQ ít. Gần đây, Singapore cũng công khai yêu cầu TQ phải xác định rõ chủ trương lợi ích của TQ trên vấn đề Biển Đông. Ngoài ra chính là việc bảo vệ quyền lợi biển của TQ, cần đẩy mạnh công tác đối với các tổ chức biển liên quan của LHQ. Hiện nay trên vấn đề Biển Đông một số ý kiến học giả cũng cho rằng cần nghiêm túc tuân thủ Công ước luật biển, Công ước là một pháp nhân để giải quyết vấn đề Biển Đông. Tuy nhiên Công ước chỉ giải quyết việc phân định các vùng biển, vấn đề Biển Đông ngoài tranh chấp phân định còn có  tranh chấp chủ quyền, tranh chấp chủ quyền dựa vào Công ước thì không thể giãi quyết được. Công ước không có sự ràng buộc để quy phạm TQ bàn về tranh chấp lãnh thổ với các nước xung quanh.

Mã Hiệu Quân: Thông thường, tranh chấp lãnh thổ giữa các quốc gia về bản chất là vấn đề phân định. Nếu anh không muốn thông qua đàm phán hòa bình giải quyết thì chỉ cỏ cách thông qua con đường chiến tranh để giải quyết, trong cộng đồng quốc tế ngày nay, con đường đó càng đi càng hẹp.

Vương San: Còn có một vấn đề khá truyền thống là làm phong phú sức mạnh trên biển, xây dựng hệ thống phòng vệ tổng hợp. Ai nấy đều biết thực lực hải quân chính là cơ sở vật chất của quyền lợi biển.

Ngô Kê Lục: Về vấn đề thứ nhất chỉnh là vấn đề giữa biển với sự phát triển, an ninh của TQ. Nói chung bây giờ là thời đại biển. TQ ngày càng phụ thuộc vào biển, lợi ích trên biển cũng ngày một nhiều. Trong các vùng biển Bột Hải, Hoàng Hải, Biền Hoa Đông và Biển Đông thì Biển Đông là nơi tranh chấp phức tạp nhất trên thế giới.

Về những thách thức và cơ hội đối với quyền lợi biển của TQ, TQ trước tiên cần làm rõ quyền lợi bản là gì? Hiện nay nhiều người đánh đồng khái niệm quyền lợi biển, hải quyền, quyền sử dụng biển làm một. “Quyền lợi biển" đã được nhắc đến trong lập pháp của TQ, gồm 2 mặt là quyền lợi và lợi ích. Sự khác biệt là quyền lợi "right" được pháp luật quy định rõ, còn lợi ích thì mỗi nước có cách hiệu khác nhau, như Mỹ thì cho rằng hải quân của họ tự do đi lại khắp toàn cầu là lợi ích của mình, có nước lại nghiêng về lợi ích nghề cá, an ninh. Nói một cách nghiêm chỉnh thì quyền lợi biển không bao gồm chủ quyền các đảo, chủ quyền đối với các đảo cao hơn nhiều so với quyền lợi biển, nếu không có chủ quyền các đảo thì cùng không có các quyền lợi biển kèm theo chủ quyền các đảo nữa. Đất thống trị biển, đây là một.tư tưởng quan trọng của luật biển. Chủ quyền các đảo là cao nhất, quyền lợi biển kèm theo nó là thứ phát sinh. Quyền lợi biển của TQ không phải là vấn đề các vùng biển xung quanh mà bao gồm cả các vùng biển quốc tế, biển sâu và mặt biển, khu vực Nam Bắc cực, và TQ cũng có quyền lợi bên trên mặt biển của các nước khác. Khi bàn về quyền lợi biển, nghiên cứu xây dựng chiến lược biển của Trung Quốc cần có cái nhìn toàn cầu, không nên chỉ tập trung vào các khu vực biển gần.

Nói đến những thách thức đối với quyền lợi biển của TQ, có 3 vấn đề: Các nước xung quanh chú trọng hơn vào vấn đề biển và quyền lợi biền, khả năng có liên quan cũng đã được nâng cao. Ví dụ như Nhật Bản đã ban hành luật biên cơ bản, Việt Nam đặt ra chiến lược biển đến 2020; thứ hai là sự liên kết giữa các nước quanh Biển Đông ngày càng nổi bật, đặc biệt từ năm 2009, sự giao lưu trao đổi giữa các nước này diễn ra nhiều, ngày càng liên kết lại với nhau để đối phó với TQ trên một số vấn đề quan trọng. Một động thái gần đây là vấn đề các đảo, cụ thể là vấn đề vai trò của luật pháp và hiệu lực phân định đối với các đảo, đá Trường Sa. Các nước trong khu vực dường như nghiêng về việc các đảo, đá này về luật pháp là đá chứ không phải đảo, không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, đồng thời không có hiệu lực trong việc phân định. Có nghĩa là khi phân định thì tính đất liền với đất liền, bỏ qua đảo. Những đảo này bị lờ đi trong khi phân giới, như vậy hiệu quả của việc phân giới như thế nào? Tứ đất liền của mình họ sẽ dồn vào giữa và như vậy Biển Đông  chỉ còn là một khoảng nhỏ. Nếu như chủ trương này thành hiện thực thì sẽ tác động lớn đến việc phân định và khai thác tài nguyên biển; thứ ba, các nước ngoài khu vực can thiệp vào, đây là việc bình thường và không thể né tránh được. Các nước có liên quan nhúng tay vào vấn đề Biển Đông với  mục đích khác nhau, cách thức cũng khác nhau nhưng tổng thể thì đều khiến tình hình thêm phức tạp. Từ khía cạnh này thì vấn đề Biển Đông  không còn là vấn đề vốn có của nó nữa mà còn là sự giao nhau, chạm chán về lợi ích chiến lược của một số nước.

Về cơ hội của quyền lợi biển TQ, chủ yếu có 3 khía cạnh: (i) TQ ngày càng coi trọng; (ii) khả năng bảo vệ quyền lợi biển đã mạnh lên; (iii) TQ có ưu thế về căn cứ pháp lý và lịch sử. Từ cấp cao đến dân thường đều có sự coi trọng nhiều hơn đến vấn đề Biển Đông và quyền lợi biển trong thời gian quan qua. Về tầng quốc gia, quy hoạch 5 năm lần thứ 12 của TQ có 100 chữ nói riêng về vấn đê biển, bao gồm cần bảo vệ chủ quyền lãnh thổ biển, xây dựng chiến lược quốc gia, bảo vệ quyền lợi biền, phát triển kinh tế biển…Về khả năng xây dựng, việc điều tra, chấp pháp, an ninh trên biển của TQ được nâng lên khá mạnh. Về cơ sở lịch sử và pháp lý đối với chủ quyền các đảo, đá Trường Sa, căn cứ của TQ có thể đứng vừng, có sức thuyết phục hơn cả.

Hậu Nghị: Biển có quan hệ chặt chẽ đến sự thịnh suy của quốc gia, nhà nước cần tăng đầu tư

Sự phát triển sức mạnh biển của TQ bao gồm phát triển kinh tế biển đều thể hiện sự thịnh suy của quốc gia. Ví dụ các thời Đường, Tống, Minh, kinh tế kỹ thuật của TQ đều đứng vào hàng đầu thế giới, lúc đó kinh tế biển, sức mạnh biển của TQ cũng rất phát triển. Thời nhà Thanh, thương mại giữa TQ và cá nước Đông Nam Á rất nhộn nhịp.

Sự suy yếu của TQ bắt đầu từ biển. Do sự hạn chế của giới thống trị phong kiến, sự phát triển về thương mại trên biển, khoa học kỹ thuật hàng hải, hải quân chịu ảnh hưởng nặng nề. Năm 1840 , chiến tranh Nha phiến nổ ra, TQ bắt đầu chìm vào xã hội nửa phong kiến nửa thực dân. Năm 1985, chiến tranh Trung - Nhật, sư đoàn thủy quân mạnh nhất châu Á của TQ khi đó bị chìm toàn bộ. Năm 1900, liên quân 8 nước tấn công, TQ hoàn toàn chìm trong chế độ nửa thực dân.

TQ là nước coi  trọng đất liền có truyền thống, lâu nay, chiến lược phát triển biển của TQ mờ nhạt không rõ ràng, chưa thành hình. Việc này thể hiện rõ khi so sánh với một số nước như Nhật Bản và Việt Nam, đặc biệt là Việt Nam, họ coi biển là mạch phát triển của quốc gia. Chỉ cần đọc báo Việt Nam, qua những phát biểu của lãnh đạo VN, các hội nghị quan trọng của Đảng và nhà nước đều có thể thấy các nội dung liên quan đến chiến lược phát triển biển và chiến lược đó đã được đưa vào trong Nghị quyết quan trọng của Đảng và nhà nước Việt Nam.

An ninh quốc gia của TQ bao gồm 2 nội dung, một là an ninh lãnh hải, an ninh chính trị và an ninh địa chính tri. Ngoài ra, chủ yếu vẫn là vấn đề an ninh năng lượng. Biển Đông là con đường vận chuyển năng lượng trên biển chủ yếu của TQ. Địa chính trị khu vực Biển Đông phức tạp, nếu một khi bị phong tỏa, thì tương đối phiền phức.

Để giải quyết vấn đề trong chiến lược biển của TQ, tôi cho rằng, một mặt cần giải quyết vấn đề nhân tài. Hiện nay, nhân tài về biển của TQ bị thiếu do ảnh hưởng của môi trường phát triển kinh tế xã hội của TQ, một bộ phận nhân tài chuyên ngành. Mặt khác, công tác biển đòi hỏi nhân tài cần hội đủ nhiều nhân tố, đều phải nắm bắt được các vấn đề như chính tri, lịch sử và luật pháp quốc tế hiện đại mới có thể trình bày được quan điểm của mình tại diễn đàn và hội nghị quốc tế, nên yêu cầu rất cao. TQ là nước lớn, dân số đông, chỉ cần đẩy mạnh đầu tư thì sẽ có khởi sắc.

Chúng ta cần phải tăng cường công tác tuyên truyền bên ngoài, các căn cứ lịch sử, pháp lý mà chúng ta có được về Hoàng Sa và Trường Sa là rất đầy đủ, nhưng rất nhiều người nước ngoài không biết điều này. Chúng ta bị thua ngay ở vấn đề quyền phát ngôn và tuyên truyền ra bên ngoài. Chỉ thảo luận trong chúng ta thì không có ý nghĩa thực tế gì. Hiện nay, mọi người nhìn bản đồ cảm thấy “đường 9 đoạn" của chúng ta sao lại vẽ đến của nhà của người khác. TQ là nước lớn, đối với những người không hiểu lịch sứ, rất dễ hình thành quan niệm nước lớn bắt nạt nước nhỏ. Trong lĩnh vực tuyên truyền ra bên ngoài, chúng ta cần phải làm có kết quả và đẩy mạnh đầu tư cho nó.

Về vấn đề bảo vệ quyền lợi biển của TQ, nhũng năm  gần đây và từ năm ngoái đến nay, do xảy ra nhiều việc, dường như cách nhìn đều cho  rằng tình hình vô cùng nghiêm trọng, có một số học giả đầu ngành trong lĩnh vực quan hệ quốc tế dường như cũng coi vấn đề là vô cùng nghiêm trọng. Nhưng tôi luôn cho rằng, toàn bộ môi trường quốc tế của TQ càng ngày càng tốt. Cùng với sự lớn mạnh và trưởng thành của TQ, trong khi môi trường quốc tế ngày càng có lợi cho TQ, không thể nói tình hình an ninh TQ lại rất nghiêm trọng. Đây là phán đoán mâu thuẫn, về cục bộ xuất hiện một số vấn đề, cần phái đặt nó vào môi trường xung quanh để nhìn nhận. Do vậy, khi có vấn đề, bàn đến những thách thức và cơ hội mà quyền lợi biển gặp phải, cơ hội là nhiều hơn. Nếu chúng ta chỉ thấy tình hình nghiêm trọng, mà xem nhẹ hoặc không coi trọng đúng mức việc chuyển nguy cơ thành cơ hội thì không được.

Mã Tiểu Quân: Tình hình biển hiện nay xung quanh Trung Quốc không phải là thời kỳ xấu nhất

Bàn về vấn đề biển hiện nay, đầu tiên cần phải phán đoán tình hình một cách thực sự cầu thị. Từ trước tới nay, luôn có người nói rằng tình hình trên vùng biển xung quanh TQ hiện nay đang ở thời kỳ nghiêm trọng nhất. Cá nhân tôi lại không cho là như vậy. Nhìn lại thời kỳ chiến tranh Lạnh, Mỹ thực hiện chủ nghĩa Eisenhower, dựa vào một số nước nhỏ xung quanh TQ để xây dựng chuỗi đảo thứ nhất, chuỗi đảo thứ hai, với ý đồ bao vây TQ, nhằm ngăn chặn sự mở rộng của cái gọi là chủ nghĩa cộng sản tại khu vực Tây Thái Bình Dương và Đông Á. Tình hình của thập niên 50 không nghiêm trọng bằng hiện nay sao? Khi đó hài quân TQ dường như chưa có, toàn bộ khu vực Đông Á không chi là tình hình biển mà toàn bộ tình hình chiến lược nghiêm trọng hơn hiện nay rất nhiều. Khi đó hạm đội 7 của Mỹ thường xuyên đi lại trên eo biển Đài Loan, Chinh phủ TQ tổng cộng đưa ra hơn 800 lần kháng nghị ngoại giao. Sau năm 1975 , Liên Xô thường trú tại cảng Cam Ranh, Mỹ đóng tại Subic, những căn cứ hải - không quân lớn nhất thế giới đều ở xung quanh TQ. Tình hình khi đó có nghiêm trọng hơn hiện nay không?  

Bàn về vấn đề biển, phán đoán tình hình vẫn là vị trí số 1. Hiện nay không phải là thời kỳ tình hình trên biển nghiêm trọng nhất trong lịch sử TQ mới, đây là một sự thực cơ bản. So với thập niên 50 đến thập niên 80, phán đoán này hoàn toàn đứng vững. Hiện nay là thời kỳ tình hình biển tốt nhất trong 62 năm xây dựng TQ mới. Phán đoán này xuất phát từ việc hiện nay là thời kỳ môi trường chiến lược quốc tế tốt nhất trong lịch sử TQ. TQ hiện là nước thương mại trên biển lớn nhất thế giới, có đội ngũ tàu thương mại to lớn, đánh bắt thủy sản trên biển là một trong những nước lớn nhất thế giới, có đội ngũ nhân viên biển lớn nhất toàn cầu, công tác đóng tàu trọng tải lớn cũng nhiều nhất thế giới . Đây đều là sự thể hiện của cường quốc biển, trong cục diện quốc tế hiện nay, đối với Trung Quốc, điều cần suy nghĩ hàng đầu là những nhân tố này, cho dù nhìn từ góc độ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, hiện nay không phải là thời kỳ tình hình nghiêm trọng nhất trong lịch sử.

Tiếp theo, nếu nói rằng tinh hình biển xung quanh TQ đang có chuyển biến, sự chuyển biến này có 2 phương diện: Một là, lực lượng của chúng ta lớn, các nước xung quanh, nhất là nước nhỏ đương nhiên có phản ứng. Đây là phản ứng tự nhiên xét về địa chính trị, là sự phản ứng mang tính vật lý, thậm chí là sự phản ứng lý tính. Một khi nước nhỏ căng thẳng, tự nhiên cần tìm một nước lớn để làm chỗ dựa. Hai là, sau khi Luật biển LHQ công bố và thực thi, ý thức quốc gia biển, đòi hỏi chủ quyền của một số nước xung quanh TQ bắt đầu nổi lên. Đây là điều rất tự nhiên. Trên thực tế, trong thực tiễn phân định biên giới với 12 nước láng giềng trên bộ, tiền đề cơ bản nhất của đàm phán phân định trong quá trình đàm phán, việc tôn trọng lẫn nhau đối với đòi hỏi chủ quyền lãnh thổ mà bên kia đưa ra. Đương nhiên, bạn có thể không đồng ý với chủ trương của họ, nhưng kết quả không tôn trọng quyền lợi mà đối phương đưa ra thì hai bên đàm phán như thế nào? Ngay cả ngồi lại với nhau cũng không thể. Mắc dù hai bên đã nhận định giải quyết  vấn đề cuối cùng vẫn là con đường đám phán ngoại giao, cần phải tôn trọng quyền lợi đòi hỏi chủ quyền của đối phương.

Gần đây, Thứ trưởng NG Việt Nam thăm Bắc Kinh. Tôi đặc biệt quan tâm đến tin do Tân Hoa Xã đưa. Bản tin do Tân Hoa Xã đưa đã nói 5 ý. Thứ nhất, hội đàm giữa hai bên là nhằm thực hiện nhận thức chung mà Lãnh đạo cấp cao hai bên đạt được trong vấn đề Biển Đông. Trước cuộc gặp giữa thứ trưởng NG Việt Nam với Đới Bỉnh Quốc, lãnh đạo hai bên đã trực tiếp hoặc gián tiếp bày tỏ rõ ràng chủ trương và lập trường đối với vấn đề này, sau đó, cuộc tiếp xúc giữa hai bên là cấp chuyên gia nhằm thực hiện hơn nữa việc này. Thứ hai, hai bên cần cùng nhau giải quyết vấn đề một cách hòa bình. Thứ ba, điều mà từ trước tới nay chưa từng có: hai bên Trung - Việt cần định hướng dư luận theo hướng hữu nghị. Thứ tư, điệu tuyệt vời hơn, hai bên cần sớm thương thảo và ký kết "Thỏa thuận nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển". Thứ năm, cần trên cơ sở song phương, thúc đẩy thực hiện DOC, tức văn kiện năm 2002. Tôi cho rằng, lãnh đạo TQ xử lý vấn đề này vô cùng lý tính, hiểu rõ đòi hỏi lợi ích chiến lược của tự thân TQ. Chính sách ngoại giao của TQ không hề bị truyền thông trong nước dẫn dắt, cũng không bị dẫn dắt bởi cái gọi là một sô chuyên gia và sự quá khích của một số ý kiến nhân dân. Hoạch định chiến lược quốc tế của TQ xuất phát từ những tính toán tình hình chiến lược lớn hơn.

Quách Chấn Viễn: Hai vấn đề tất yếu để giải quyết cuối cùng vấn đề Biển Đông

Tình hình hiện nay là đan xen giữa mâu thuẫn cục bộ gia tăng và môi trường lớn tổng thể tốt đẹp. Sự tồn tại đan xen này đã tạo ra tính phức tạp khi xử lý các vấn đề cụ thể, điều này cũng là vấn đề cho chúng ta suy nghĩ, đối mặt với tình hình phức tạp đó, chúng ta làm như thế nào, đây là thử thách đích thực đối với chúng ta.

Bàn về vấn đề mà người ta đều rất quan tâm, vấn đề Biển Đông, cũng là sự tồn tại giữa nhân tố có lợi và bất lợi. Ví dụ như câu nói của Đặng Tiểu Bình, chủ quyền thuộc về ta, gác tranh chấp, cùng khai thác. Nói thẳng thắn, đây là một tiền lệ không thành công trong 20 năm qua, đó là sự thực. Nhưng cần phân tích kỹ, tôi cho rằng giải quyết cuối cùng vấn để Biển Đông chỉ có đi theo con đường này, nếu không chỉ có đánh nhau. Từ tình hình hiện nay, bất kỳ nước đương sự nào đều không có nước nào muốn sử dụng vũ lực để giải quyết. Nếu có thể thực hiện gác tranh chấp, cùng khai thác có 2 điều kiện tất yếu: thứ nhất, nước đương sự đều nhận thức được cần phải đi theo con đường đàm phán hòa bình, cần có nhận thức này, đây là tiền đề. Thứ hai, lợi ích cùng khai thác nó tạo ra sức thu hút to lớn. Kết hợp hai điều kiện này mới có thể thực hiện gác tranh chấp, cùng khai thác, không có hai điều kiện này, thì rất khó để thực hiện gác tranh chấp, cùng khai thác. Làm thế nào thúc đẩy thực hiện vấn đề này, đây là điều mà chúng ta cần làm, cần suy nghĩ và cần tuyên truyền. Nói tóm lại, không phải là chúng ta không làm được gì, mà cần phải làm tích cực hơn. Mục đích theo đuổi cuối cùng của chúng ta là ở tầng nấc cao, tầng nấc cụ thể, có mục tiêu lâu dài và mục tiêu trước mắt. Trong vấn đề Biển Đông, tôi nghiêng về khả năng giải quyết khu vực cục bộ và vấn đề cục bộ. Khụ vực cục bộ và vấn đề cục bộ có hàm ý chiến lược của nó, song khi làm cụ thể cần cục bộ hóa, không nên toàn cục hóa.

Vương San: Ỷ thức từ biển là cơ hội từ biển

Môi trường biển của TQ đúng là đối mặt với một số cơ hội. Vì Công ước luật biền của LHQ thực tế là một cơ chế, không có sức ràng buộc, ở một mức độ nào đó thì nó chỉ đạo việc phân định biển giữa các quốc gia liên quan. Ngoài ra Công ước luật biển của LHQ từ ngày ra đời, là sàn phẩm thỏa hiệp của các bên, mọi người đều biết, năm 1972 TQ gia nhập LHQ. Trên thực tế, từ hội nghị về luật biển LHQ lần đầu tiên, TQ chưa tham dự, khi đó TQ chưa có ghế tại LHQ. Đúng năm 1972, sau khi chúng ta khôi phục ghế hợp pháp tại Liên Hợp Quốc, tham dự hội nghị luật biển Liên Hợp Quốc cũng trở thành một vũ đài quốc tế quan trong việc triển khai ngoại giao TQ. Khi đó, ý thức về biển của TQ kém xa so với hiện nay, hơn nữa đối với những khái niệm khu đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, bao gồm cả những lợi ích trong nó, chúng ta có thể cũng chưa nhận thức rõ ràng và sâu sắc. Nên tôi nghĩ rằng đó là một số vấn đề sau này của chúng ta. Vì sao Mỹ chưa tham gia "Công ước luật biển của LHQ", tôi nghĩ có thể liên quan đến nhận thức lâu dài của Mỹ đối với quyền lợi biển.

Mã Tiểu Quân: Trên thực tế, những năm gần đây, Mỹ đang tích cực tham gia. Là quốc gia biển của hai đại dương, nhưng Mỹ không tồn tại tranh chấp biển với bất kỳ quốc gia nào, trước kia họ không ký kết chủ yếu là vấn đề tự do lưu thông hàng hải quốc tế. Hiện nay trên thực tế không tồn tại vấn đề đó, do vậy tính tích cực được nâng lên. Một khi Mỹ tham dự thì sẽ đi đầu, đồng thời dùng thứ đó để trói buộc Trung Quốc. Trung Quốc cần phải cảnh giác.

Vương San: Trên thực tế, Mỹ đã ký kết, nhưng chưa phê chuẩn. Một nguyên nhân rất lớn là dường như phía quân đội phản đôi mạnh, cho rằng “Công ước luật biển của LHQ" hạn chế rất nhiêu hoạt động của quân đội trên biển. Có một điều nữa là, nếu Mỹ tham gia, Mỹ sẽ muốn đi đầu

Hàn Phong: Thách thức của vấn đề trên biển cần phân biệt rõ, không nên thù địch với các nước tranh chấp

Về thách thức, nhìn từ bên ngoài có thể thấy vấn đề TQ lo ngại nhất là sự can thiệp, chiến lược quay trở lại ĐNA và việc vận dụng thực lực mềm của Mỹ, nhưng trên thực tế hiệu quả vẫn có hạn và có tính co giãn. Mỹ sẽ không can thiệp quân sự vào tranh chấp lãnh thổ ở nấc cuối cùng kể cả đối với đồng minh, điều này là rõ ràng. Mỹ đưa ra phương thức giải quyết đa phương, nêu vấn đề an toàn hàng hải, ổn định khu vực, nhưng về mặt lợi ích chiến lược lại không muốn gánh vác trách nhiệm đối với khu vực tranh chấp, ít nhất là hiện nay Mỹ chưa nghĩ tới vấn đề này.

Thách thức từ bên ngoài còn đến từ ASEAN, đó là vấn đề liên kết đồng minh của ASEAN. ASEAN có một nguyên tắc chính trị bất thành văn đó là lợi ích của các nước đương sự là trên hết. Lần này cũng vậy, điều phối lẫn nhau nhiều nhất là giữa Việt Nam, Philippines và Malaysia. Và thêm Indonesia cũng muốn cầm đầu một lần nữa để điều phối với TQ. Ngoài ra còn một nguyên tắc nữa, khi các nước ASEAN khác không có lợi ích trong đó thì không thể dễ dàng nói không. Có thể thấy các nước tương đối tốt với TQ như Lào, CPC trong những lúc then chốt đều im lặng. Singapore là nước phụ thuộc lớn nhất vào biển, do đó nếu khu vực có vấn đề thì họ sẽ không thể chịu đựng nổi. Do đó, TQ cần phân biệt đối xử, không thể đặt tất cả các nước ASEAN trên một mặt bằng. Sự chênh lệch phát triển của các nước ASEAN cũng rất lớn, TQ cần phân biệt lợi ích, lợi hại của các nước ASEAN theo các mức độ khác nhau để đối xử.

Hiểu Quân: Không nên coi các nước tranh chấp lả kẻ thù, điểm này rất quan trọng. Không thể nói Việt Nam và Philippines đưa ra đòi hỏi thì coi họ là kẻ thù. Khi chưa đánh nhau thì không phải là kẻ thù.

Hàn Phong: an toàn hàng hải có lợi ích chung, cần hiểu ASEAN

Còn có một vấn đề đã xuất hiện nhiều lần là hiệu ứng nước nhỏ hay lợi thế nước nhỏ. Đó là khi nước nhỏ đấu tranh với nước lớn hay khi xảy ra tranh chấp thì nước nhỏ dù có lý hay không có lý thì vẫn thường được cho là có lý. TQ là nước lớn nhất trong khu vực nên rất khó có lý. TQ cần bảo vệ cơ chế hiện hành có lợi cho mình và cho ổn định khu vực. Không thể nói Mỹ can thiệp vào khu vực này là chống TQ, kể cả muốn chống cũng cần phận biệt. Tàu thuyên của Mỹ cần an toàn và tàu thuyền của Trung Quốc cũng cần an toàn, nếu làm tàu thuyền bị chìm hoặc đánh nhau, thả mìn, đối với ai cũng đều không thể được. Do đó TQ cần tiến hành diễn tập quân sự với Mỹ, Úc… Bởi vì khu vực này hết sức quan trọng, nếu thực sự xảy ra vấn đề thì không chỉ TQ có vấn đề mà những nước này đều có vấn đề. Chúng ta đều có lợi ích chung nhưng trước đây nhấn mạnh chưa đủ. Khu vực này đều có lợi cho tất cả các nước.

Đối với ASEAN, TQ đã làm được rất nhiều việc thành công. Hiện nay họ lo ngại đối với chiến lược của TQ là việc bình thường. TQ cần phải hiểu, trước cửa nhà anh một người to lớn, những thứ trong tay anh ta ngày càng nhiều, do đó cần phải nói rõ với họ. Thực ra chiến lược khu vực của ASEAN là không muốn lôi kéo các nước lớn vào, nhưng họ muốn duy trì cân bằng nước lớn, TQ cũng bị kéo vào. Chúng ta không nên nói ASEAN muốn liên minh với Mỹ để chống lại TQ, đó là kết luận quá đơn giản. Nếu cứ có kiểu tư duy như vậy, chúng ta sẽ đẩy các nước này lại với nhau, đối đầu với TQ, trên thực tế chưa nghiêm trọng như vậy. Ví dụ, Việt Nam thực ra quan hệ với Đảng CS TQ vẫn rất tốt. Tranh chấp lãnh thổ không phải tối hôm qua mới xảy ra, mà tính muộn nhất là bắt đầu từ thập kỷ 70, đến nay đã hơn 30 năm, đo đó chúng ta cần có lòng tin chiến lược.

Ngô Kế Lục: Mở rộng lợi ích chung, giảm bớt bất đồng

TQ mấy năm nay ra sức thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực ít nhạy cảm ở Biển Đông như khảo sát khoa học, bảo vệ môi trường, giảm nhẹ thiên tai, đã có hiệu quả và tiến triển lớn, như là hợp tác với Indonesta và Malaysia. Một số dự án hợp tác đã trở thành hình mẫu trong họp tác trên biển ở Đông Á. Ở Biển Đông, chúng ta có thể hợp tác nhiều hơn. Ví dụ, có thể xây dựng khu bào tồn thiên nhiên Trường Sa, bảo vệ môi trường tự nhiên và tài nguyên biển ở Trường Sa. Biển Đông cũng có vấn đề cướp biển, TQ có thể chủ động đề xướng xây dựng cơ chế an ninh khu vực trong lĩnh vực chống cướp biển. Cố gắng mở rộng điểm đồng và lợi ích chung, giảm bớt bất đồng, làm nhiều việc hơn theo hướng này.

Quách Chấn Viễn: Kết luận

Tóm lại, đối với vấn đề trên biển giữa TQ với các nước láng giềng cần thúc đẩy phát triển lợi ích chung hơn nữa, trong quá trình đó cần không ngừng triệt tiêu mâu thuẫn và xung đột song phương. Đây là sự tính toán cơ bản. Hai là, đây là một quá trình lịch sử, hình thành từ lịch sử, ít nhất đã có mấy chục năm lịch sử, do đó không nên nghĩ rằng một hai năm có thể giải quyết được. Lịch sử đã chứng minh vấn đề phức tạp nhất là tranh chấp chủ quyền lãnh thổ giữa các nước. Do đó cần phải kiên định lòng tin, không ngừng phát triển lợi ích chung, giải quyết mâu thuẫn và xung đột, đồng thời không nên nóng vội. TQ là một nước lớn đang lên nhanh thi càng phải rộng lượng. Có vấn đề thì giải quyết, nhất thời không giải quyết được thì giải quyết từ từ. "Gác tranh chấp” không thể nói không thể giải quyết được, chỉ có điều không nên nóng vội.

Bản gốc tiếng Trung 评论坛:中国海洋权益与海洋战略

Theo China Review News

Hoàng Loan, cộng tác viên tại Bắc Kinh

 

Bài viết của GS. Baldas Ghoshal, Thành viên danh dự của Viện Nghiên cứu Hòa bình và Xung đột (Ấn Độ), nhìn vào cách tiếp cận của ASEAN đối với tranh chấp Biển Đông, kiểm định tính hiệu quả của ASEAN trong việc đối phó với các yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc, bên tranh chấp chính, và đánh giá triển vọng xoa dịu căng thẳng trong khu vực bằng những khuôn khổ pháp lý hiện hành.

Lời giới thiệu

Trọng tâm chính của bài viết là nhìn vào cách tiếp cận của ASEAN đối với tranh chấp Biển Đông, kiểm định tính hiệu quả của ASEAN trong việc đối phó với các yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc, bên tranh chấp chính, và đánh giá triển vọng xoa dịu căng thẳng trong khu vực bằng những khuôn khổ pháp lý hiện hành.

Tranh chấp quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa liên quan đến một số quốc gia thành viên của ASEAN, là Việt Nam, Ma-lai-xi-a, Philíppin và Bru-nei. In-đô-nê-xi-a không phải là một bên yêu sách trong tranh chấp, nhưng có một thời gian dài đóng góp tích cực vào việc thiết lập các phương thức xây dựng lòng tin với mục tiêu giảm bớt căng thẳng và tránh làm bùng phát bất cứ xung đột nào trong khu vực. Tuy nhiên, việc Trung Quốc gộp cả quần đảo Natura vào yêu sách của mình một vài năm trước đây đã khiến người In-đô-nê-xi-a thực sự bị sốc, họ đã tiến hành một cuộc tập trận lớn nhất xung quanh quần đảo Natura trong vòng ba tuần vào tháng 10 năm 1996 với sự góp mặt của hơn 19.000 binh sĩ, 50 tàu chiến và 41 máy bay bao gồm cả máy bay chiến đấu của ba quân chủng. Những thành viên còn lại của ASEAN dù không có bất kỳ sự liên quan nào đối với tranh chấp nhưng đều quan ngại về Biển Đông như một điểm bùng phát xung đột tiềm tàng ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.

Vì các quốc gia ASEAN tham gia ở các mức độ khác nhau vào tranh chấp và do vậy lợi ích của họ cũng không tương đồng, cho nên không có một cách tiếp cận chung của ASEAN đối với tranh chấp Biển Đông, mặc dù tất cả các quốc gia trong khối đều tán thành ý tưởng xây dựng lòng tin và lôi kéo Trung Quốc tham gia vào việc hạn chế tranh chấp và kiềm chế xung đột trong khu vực. Thực ra, mặc dù nói là đồng thuận và đoàn kết ASEAN, mỗi quốc gia thành viên đều theo đuổi chính sách riêng của mình, đặc biệt liên quan đến vấn đề Trung Quốc yêu sách gần như toàn bộ Biển Đông. Người ta thậm chí có thể lập luận rằng trên thực tế, các quốc gia ASEAN đã chia rẽ về cách tiếp cận của họ đối với Trung Quốc, cũng như về phương thức nhằm giảm bớt căng thẳng trong khu vực. Mỗi quốc gia thành viên nhìn nhận Trung Quốc từ góc độ lợi ích quốc gia của chính mình – do vậy Trung Quốc được đánh giá như một nguồn lợi ích kinh tế hoặc giả như một mối đe dọa. Kết quả là, vị thế của ASEAN trong vấn đề chiến lược và chính trị so với Trung Quốc là tương đối yếu. Để bù đắp sự yếu kém này, ASEAN thường xuyên sử dụng phương thức ngoại giao và cố gắng quốc tế hóa các vấn đề khu vực nhằm lôi kéo các cường quốc bên ngoài vào để cân bằng với một Trung Quốc đang trỗi dậy mạnh mẽ. Một chiến lược như vậy mang lại cho ASEAN một vị thế ngoại giao cao hơn như trong xung đột Cam-pu-chia trong thập niên 80 và đầu thập niên 90, giúp ASEAN có thể ngăn chặn được căng thẳng khu vực trong ngắn hạn; tuy nhiên ASEAN đã thất bại trong việc che dấu nhược điểm yếu cố hữu của mình trong việc đối phó với bá chủ khu vực - Trung Quốc.

Thứ hai, Trung Quốc hiểu sự chia rẽ của các quốc gia ASEAN trong cách tiếp cận đối với mình và tận dụng triệt để cơ hội này để khoét sâu thêm mâu thuẫn trong hàng ngũ ASEAN. Điều này thể hiện khá rõ từ sự chia rẽ sâu sắc trong quá khứ giữa Philíppin và Ma-lai-xi-a về đề xuất Bộ quy tắc ứng xử dành cho các thành viên của ASEAN và Trung Quốc bao gồm một loạt vấn đề từ tìm kiếm và cứu nạn cho tới khảo sát chung ở Biển Đông. Sau nhiều năm tin tưởng rằng không có gì đáng ngại về một Trung Quốc đang trỗi dậy, chính quyền Bắc Kinh quyết đoán hơn gần đây đang thực hiện chiến thuật chia để trị đối với các nước láng giềng ở Đông Nam Á của mình, tìm cách cô lập những bên yêu sách các quần đảo tranh chấp trong một khu vực nhiều dầu và khí đốt. Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì thừa nhận rằng “có những tranh chấp về lãnh thổ và quyền hàng hải” giữa Trung Quốc và một vài quốc gia láng giếng nhưng “những tranh chấp này không nên nhìn nhận như là một tranh chấp giữa Trung Quốc và cả khối ASEAN chỉ bởi vì các quốc gia có liên quan này là thành viên của ASEAN”. Phát biểu đó cho thấy Trung Quốc muốn chia cắt ASEAN thành một bên là các quốc gia có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc tại những đảo nhỏ trên Biển Đông là Philíppin, Việt Nam, Bru-nei và Ma-lai-xi-a, và bên kia là các quốc gia không có bất kỳ tranh chấp lãnh thổ nào như In-đô-nê-xi-a Thái lan, Lào, Cam-pu-chia, Mi-an-ma và Xinh-ga-po.

Thứ ba, vì các nước ASEAN không thống nhất trong lập trường của mình đối với Trung Quốc, tất cả các nước này dù là một cách riêng rẽ hay tập hợp đã đi trệch hướng vào các thời điểm khác nhau nhằm cố gắng theo đuổi một chính sách nhân nhượng lợi ích của Trung Quốc về vấn đề này. Trung Quốc chắc chắn có sức ép riêng của mình để đưa ra yêu sách đối với gần như toàn bộ Biển Đông và tiếp tục với “chính sách gặm nhấm dần dần” của mình, nhưng đồng thời cách tiếp cận có phần nhân nhượng của ASEAN có thể đã khuyến khích Trung Quốc theo đuổi điều mà cựu Bộ trưởng quốc phòng Philíppin Mercado những năm 90 gọi là chính sách “vừa đàm vừa chiếm”. Thậm chí thành công hạn chế ASEAN đạt được trong việc lôi kéo Trung Quốc tham gia vào các đối thoại khác nhau về vấn đề Biển Đông, như Đối thoại ASEAN – Trung Quốc, Hội thảo Biển Đông do In-đô-nê-xi-a tổ chức và sáng kiến Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), chủ yếu là vì Trung Quốc nhân nhượng các lợi ích thiết thân của ASEAN trong khi bảo lưu các vấn đề liên quan đến chủ quyền quốc gia và không can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác. Việc chuyển đổi công thức “quy trình ba bước” (xây dựng lòng tin, ngoại giao phòng ngừa và giải quyết xung đột) vốn được ghi nhận ban đầu trong mục tiêu của ARF để kiểm soát xung đột trong khu vực thành một mục tiêu cuối cùng mập mờ và hạn chế là “tìm hiểu thêm về các cách tiếp cận đối với xung đột” cũng như việc tái định nghĩa phương thức ngoại giao phòng ngừa trong hội nghị Nhóm công tác CSCAP tại Băng Cốc từ tháng 1-3 năm 1999 là những ví dụ minh họa cho thấy những nỗ lực của ASEAN trong việc đáp ứng sự nhạy cảm và lợi ích của Trung Quốc.

Trong bài viết này, chúng tôi muốn lập luận rằng chính sách của ASEAN trong việc lôi kéo sự can dự của Trung Quốc cũng như cách tiếp cận “mềm mỏng” và có phần nhượng bộ của họ đối với vấn đề Biển Đông chỉ đem lại những lợi ích tạm thời ở khía cạnh gác lại tranh chấp, nhưng không có hiệu quả trong việc kiểm soát xung đột hay kiềm chế xung đột leo thang trong tranh chấp ở Trường Sa. Những hành động của Trung Quốc ở Biển Đông trong hai thập kỷ qua chứng tỏ rằng Trung Quốc chỉ nói suông đối với tiến trình xây dựng lòng tin trên biển, điều mà ARF (Diễn đàn khu vực ASEAN), CSCAP (Hội đồng hợp tác an ninh khu vực Châu Á Thái Bình Dương), những tuyên bố và hoạt động ngoại giao khác nhau của ASEAN cũng như những hiệp định song phương với Trung Quốc đang cố gắng để đạt được. Trung Quốc từ lâu vẫn duy trì quan điểm không thỏa hiệp trong vấn đề chủ quyền đối với Biển Đông; nước này cũng không thật sự chân thành trong vấn đề khai thác chung các nguồn tài nguyên trong khu vực.

Căn nguyên của vấn đề là việc chồng chéo của hàng loạt yêu sách chủ quyền đối với hàng trăm hòn đảo và bãi đá. Việc kiểm soát khu vực đó có tác động quan trọng đối với tự do qua lại của tàu thuyền và rốt cuộc, việc triển khai các hoạt động đầu tư vào khí đốt tự nhiên và dầu sẽ không thể được thực hiện cho tới khi các vấn đề chủ quyền được giải quyết. Do đó, các bên tranh chấp đều cố gắng củng cố yêu sách của mình. Trong 53 đảo ở Trường Sa bị chiếm đóng bởi các bên yêu sách khác nhau, Trung Quốc chiếm 11; Philíppin chiếm 8, Ma-lai-xi-a chiếm 5, Đài loan chiếm 1, số đảo còn lại thuộc về Việt Nam. Các quốc gia yêu sách viện dẫn yếu tố lịch sử, địa lý và Công ước Luật biển của Liên Hiệp Quốc để hỗ trợ cho yêu sách của mình. Các nước yêu sách, dù không thường xuyên, đều cố gắng tăng cường khả năng phòng thủ trên các đảo mà mình chiếm đóng. Khi chưa có bất kỳ một giải pháp toàn vẹn nào, tranh chấp ở Trường Sa cuối cùng có thể sẽ dẫn đến những cuộc xung đột vũ trang, đặc biệt khi kết hợp với các vấn đề trên đất liền.

Tuy nhiên, các nhà phân tích quân sự cho rằng bất chấp sự tăng cường lực lượng đồn trú và triển khai các cơ sở hạ tầng để phòng thủ, không hòn đảo nào ở Trường Sa thực sự có khả năng phòng thủ xét về khía cạnh quân sự. Họ cũng chỉ ra rằng sự phối hợp quân sự giữa mỗi quốc gia yêu sách và các đảo mà họ chiếm đóng có thể bị gián đoạn bởi các vấn đề tiếp vận khá phức tạp. Do đó, việc phòng thủ ở các hòn đảo ở Trường Sa sẽ đặt các quốc gia chiếm đóng trước nhu cầu phải phát triển các năng lực triển khai sức mạnh. Điều này giải thích cho việc tại sao trong những năm gần đây, Trung Quốc đẩy mạnh phát triển năng lực hải quân viễn dương và xây dựng các hạm đội hiện đại phối hợp với các đơn vị trên bộ và trên không để chiến đấu bảo vệ chủ quyền trên biển của mình. Điều đó cũng phần nào giải thích tại sao Trung Quốc, kể từ năm 1994, tiến hành một số cuộc tập trận trên biển mặc dù nhiều lần biểu lộ ý định gác tranh chấp chủ quyền. Đối phó với những động thái này của Trung Quốc, các quốc gia ASEAN, một phần vì cân nhắc đến tình huống khủng hoảng có thể xảy ra do tranh chấp Trường Sa, đã chi tiêu cho quốc phòng và có các hoạt động hợp tác quân sự với phía Mỹ.

Chúng tôi cũng lập luận thêm rằng cách thức kiềm chế Trung Quốc không phải là  bằng việc bộc lộ những yếu kém của ASEAN và nhân nhượng những lợi ích thiết yếu của Trung Quốc ở Biển Đông, mà chỉ có thể là bằng một lập trường thống nhất và kiên định mà đã truyền tải một thông điệp như các ngoại trưởng ASEAN đã từng làm vào ngày 18 tháng 3 năm 1995 sau sự kiện Trung Quốc chiếm đóng Đảo Vành  Khăn bị phát hiện. Chỉ sau khi có tuyên bố đó, phía Trung Quốc đã không những đồng ý giải quyết đa phương với ASEAN mà còn thể hiện một chút linh hoạt đối với vấn đề. Chiến lược Châu Á của Trung Quốc là giải quyết song phương với tất cả các bên để qua đó có thể tối đa hóa lợi thế của một nước lớn trong những mối quan hệ không cân xứng. Nhưng mặt khác, với việc sử dụng lá chắn đoàn kết để thay thế cho sức mạnh quân sự, ASEAN đã buộc Trung Quốc phải giải quyết vấn đề với các thành viên của mình như với cả một khối thống nhất. Đồng thời Trung Quốc chấp nhận một cách tiếp cận mang tính hòa giải hơn. Ví dụ như, tháng 7 năm 1995, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc khẳng định rằng Trung Quốc không có lợi khi cản trở tự do lưu thông hàng hải ở khu vực Trường Sa và cho biết rằng nước này cảm thấy các vấn đề đều có thể được giải quyết mà không cần có trung gian hòa giải hoặc sự can thiệp nào từ bên ngoài. Thời gian sau đó, ASEAN đã không còn thể hiện được sự đoàn kết như trước đây bởi việc xung đột lợi ích quốc gia đã bắt đầu chia cắt ASEAN một lần nữa, đồng thời cuộc khủng hoảng kinh tế ở châu Á gây ra bất ổn trong các quốc gia thành viên cũng như bản thân ASEAN.

Tranh chấp Biển Đông và Chiếm đóng dần dần

Trước khi chúng ta đi sâu vào một số điểm đã nêu ở trên cần đề cập ngắn gọn về tranh chấp ở Biển Đông. Mặc dù Trung Quốc và Việt Nam là những bên tranh chấp chủ yếu trong cuộc chiến giành chủ quyền đối với các đảo cùng các bãi đá và đảo nhỏ ở xung quanh, Philíppin sau đó cũng đưa ra yêu sách đối với những hòn đảo giàu tài nguyên này, ngoài ra còn có những bên yêu sách khác như Đài Loan, Ma-lai-xi-a và Bru-nei. Tuy nhiên, trước những năm 1990, chỉ có Trung Quốc và Việt Nam đã từng đụng độ quân sự trong việc tranh chấp các đảo. Sử dụng các sự kiện lịch sử và những phát hiện khảo cổ để chứng minh cho những yêu sách của mình, hai nước có vụ đụng độ đầu tiên vào năm 1973 khi Trung Quốc chiếm đóng bằng vũ lực quần đảo Hoàng Sa từ một nước Việt nam cộng hòa đang rệu rã và yếu kém, đổi tên nó thành Tây Sa và sát nhập vào khu vực đảo Hải Nam. Tiếp theo vào năm 1988, đã diễn ra một cuộc đụng độ hải quân khốc liệt tại Đá Gạc Ma trong quần đảo Trường Sa. Tàu Trung Quốc đã bắn chìm một số tàu Việt Nam và gần 70 chiến sĩ hải quân Việt Nam đã hi sinh. Một vài năm trước sự kiện này, Trung Quốc phát động một cuộc tấn công trên bộ “để dạy cho người Việt Nam một bài học”. Năm 1992 Trung Quốc cũng đã thông qua luật về lãnh hải và vùng tiếp giáp của mình trong tuyên bố vào tháng 1 năm 1992 trong đó không chỉ nêu ra yêu sách đối với những quần đảo này mà Trung Quốc còn tự cho mình quyền đuổi bắt các tàu thuyền nước ngoài nếu bị bắt gặp vi phạm luật lệ và những quy định của Trung Quốc. Cũng trong năm đó, Việt nam đã cáo buộc Trung Quốc khai thác dầu bởi nước này đã nhượng quyền khai thác cho một công ty thăm dò dầu đến từ Denver, tập đoàn năng lượng Cretonne, trong một khu vực đang tranh chấp quanh Bãi Tư Chính, người Trung Quốc gọi là bãi Vạn An 21 (WAB 21). Thời điểm đưa ra thông báo về việc nhượng quyền của Trung Quốc đối với công ty Mỹ khá quan trọng bởi nó diễn ra cùng lúc khi mà đại diện của quốc gia yêu sách bao gồm những đại biểu từ Trung Quốc và các nước khác đang hội họp tại Jogjakarta dưới sự bảo trợ của Ngoại trưởng In-đô-nê-xi-a, để tìm ra một giải pháp khả dĩ cho vấn đề Biển Đông. Việc này đã khiến một học giả Ma-lai-xi-a bình luận rằng: “Dù hành động đó có ý làm mất mặt một vài bên nào đó hay không, nó đã để lại hệ quả rất xấu trong mối quan hệ giữa ASEAN và Trung Quốc”. Mặc dù phát sinh một số xung đột quân sự trong hai thập kỷ qua, vấn đề yêu sách chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa chưa đạt được bất kỳ kết quả rõ rệt nào. Khi thiếu vắng những đồng thuận khu vực rõ ràng, quy luật xa xưa “chân lý thuộc về kẻ mạnh” dường như đang thắng thế ở Biển Đông.

Việc Trung Quốc xâm phạm khắp Biển Đông dẫn đến xung đột trực tiếp với một quốc gia thành viên không thuộc phe cộng sản của ASEAN là Philíppin. Theo nguồn tin của Philíppin, ngày 8 tháng 1 năm 1995, lực lượng vũ trang Trung Quốc được tám tàu chiến yểm trợ đã chiếm Đá Vành Khăn, nằm cách khu vực Philíppin gọi là tỉnh Palawan 200 km, và cắm cờ Trung Quốc. Tháng 3 năm đó, quân đội Philíppin được huy động để đẩy lui và xóa bỏ mọi cột mốc của người Trung Quốc. Năm 1996, một tàu hải quân của Trung Quốc đã đấu pháo với một tàu chiến của Philíppin gần đảo Campones. Tháng 4 năm 1997 hải quân Philíppin phát hiện một tàu cao tốc và hai tàu cá của Trung Quốc trong khu vực Bãi Cạn Hoàng Nham, nơi mà Trung Quốc đang cố gắng thiết lập các công trình xây dựng. Trong năm 1998 và 1999, việc Trung Quốc một lần nữa xây dựng thêm các công trình trên Đá Vành Khăn đã làm gia tăng căng thẳng trong quan hệ giữa hai nước. Trung Quốc đã bác bỏ kháng nghị ngoại giao của Philíppin đối với các hoạt động xây dựng trên đảo, nhấn mạnh rằng đấy là một phần lãnh thổ của Bắc Kinh và đó là công việc sửa chữa đơn thuần nơi trú ẩn cho ngư dân bị hư hại bởi gió biển. Manila khẳng định đảo đá nằm bên trong khu vực đặc quyền kinh tế (EEZ) rộng 200 hải lý của mình theo Công ước Luật biển của Liên hiệp quốc đối với quốc gia quần đảo như Philíppin. Khu vực này nằm cách đảo Hải Nam, vùng lãnh thổ gần nhất của Trung Quốc khoảng 1100km. Trung Quốc đang làm mọi cách để giành được đất, cả về mặt thực tế lẫn chính trị, trong cuộc tranh giành Biển Đông.

Do vậy, dường như Trung Quốc đang theo đuổi một chính sách mà rất nhiều người hiện tại có thể mô tả là “gặm nhấm dần dần” – một chính sách từng bước thiết lập sự hiện diện lớn mạnh ở Biển Đông mà không cần đến sự đối đầu quân sự. Chính sách này tiến hành đồng thời hai chiến thuật chủ yếu để đạt được mục tiêu cuối cùng là ưu thế vượt trội ở Biển Đông. Chiến thuật đầu tiên là sử dụng phương thức ngoại giao trong đó Trung Quốc không ngần ngại nêu lập trường không thay đổi trong chủ quyền của mình đối với Trường Sa và chủ quyền đó không thể mang ra đàm phán, nhưng Trung Quốc cũng sẵn sàng tạm gác vấn đề chủ quyền, hợp tác với các bên yêu sách khác để tìm ra một giải pháp hòa bình cho tranh chấp dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế và cùng khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên với các bên khác. Chiến thuật thứ hai là sử dụng phương thức thiết lập sự hiện diện trên thực địa hoặc bản đồ đối với khu vực mà Trung Quốc yêu sách là của mình. Điều này bao gồm cắm các cột mốc lãnh thổ và, ở bất cứ nơi nào có thể, chiếm đóng những đảo đá chưa bị kiểm soát và xây dựng các công trình trên đó, giống điều họ đã từng làm trong vụ Đá Vành Khăn năm 1995 và 1999. Những cột mốc và công trình này được biểu thị trên bản đồ Trung Quốc để mô tả đường ranh giới của biển Trung Quốc và được viện dẫn như là điểm tham khảo trong các cuộc đàm phán song phương hoặc đa phương, kể cả trong hội thảo về Biển Đông được In-đô-nê-xi-a tổ chức. Để thể hiện cam kết của mình đối với luật pháp quốc tế, Trung Quốc cũng tuyên bố rằng nước này sẽ tuân thủ Công ước Liên hiệp quốc về luật biển (UNCLOS). Ví dụ, Tuyên bố chung giữa chủ tịch Trung Quốc và những người đứng đầu quốc gia/chính phủ của các nước thành viên ASEAN vào ngày 16 tháng 12 năm 1997 nói rõ “nhận thức rằng việc duy trì hòa bình và ổn định trong khu vực phục vụ cho lợi ích của tất cả các bên, họ cam kết giải quyết các bất đồng và tranh chấp thông qua các phương thức hòa bình, không viện đến đe dọa hoặc sử dụng vũ lực. Các bên liên quan đồng ý giải quyết tranh chấp liên quan đến Biển Đông thông qua phương thức thảo luận và đàm phán thiện chí theo luật pháp quốc tế đã được công nhận trên toàn cầu, bao gồm Công ước Luật biển 1982”. Điều thú vị là, khi bị các nước ASEAN gây sức ép chấp nhận một bộ quy tắc ứng xử để giảm bớt căng thẳng ở Biển Đông, Trung Quốc lập luận rằng tuyên bố chung này thích hợp đóng vai trò như chuẩn mực ứng xử. Tuy nhiên trên thực tế, kể từ năm 1982 Trung Quốc đã theo đuổi chiến thuật thứ hai với việc đặt các cột mốc lãnh thổ và chiếm đóng một số đảo đá.

Cách tiếp cận của ASEAN đối với tranh chấp Biển Đông

Đầu năm 1992, khi Trung Quốc đã là một đối tác đối thoại của ASEAN, ASEAN đưa ra vấn đề về Tuyên bố những quy tắc trên Biển Đông trong đó tổ chức ASEAN– chứ không phải là các quốc gia thành viên – thúc đẩy “tất cả các bên liên quan” có hành động kiềm chế nhằm tạo ra “một môi trường tích cực hình thành giải pháp cuối cùng cho mọi xung đột”. Mười năm sau đó, năm 2002, Trung Quốc ký,một văn kiện gọi là Tuyên bố về ứng xử giữa các bên ở Biển Đông với một khối ASEAN thống nhất, không phải chỉ riêng với những quốc gia có tranh chấp chưa được giải quyết với Trung Quốc. Kể từ đó, ASEAN và Trung Quốc xây dựng một “Bộ quy tắc ứng xử khu vực trên Biển Đông” nhưng một hiệp định dường như bị né tránh. Hiện tại, sau 19 năm đối thoại, cho rằng một khối ASEAN thống nhất không tham gia vào tiến trình là không đúng. Hơn nữa, Trung Quốc biết rằng các nước thành viên của ASEAN đã nhất trí rằng trước khi các quốc gia có tranh chấp lãnh thổ gặp gỡ để thảo luận với Trung Quốc về tranh chấp Biển Đông, tất cả 10 quốc gia thành viên sẽ gặp gỡ trước để tìm ra một lập trường chung. Các thành viên ASEAN nên biết rằng nếu riêng lẻ, sức mạnh của họ không đáng kể nhưng nếu đoàn kết lại thì họ sẽ có một sức mạnh chính trị ghê gớm. Hiệp định ký kết giữa Trung Quốc và ASEAN trong năm 2002 đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Năm ngoái, sau hội nghị thường niên của Diễn đàn khu vực ASEAN, với sự tham dự của các Ngoại trưởng từ 27 quốc gia, một tuyên bố được đưa ra trong đó các bộ trưởng “tái khẳng định tầm quan trọng của Tuyên bố cách ứng xử của các bên trên Biển Đông năm 2002 như là văn kiện mang dấu mốc quan trọng giữa ASEAN và Trung Quốc”. Bất chấp dấu ấn mang tính lịch sử này, ngoại trưởng Trung Quốc nhấn mạnh trong khi phản đối Bà Hillary Clinton rằng “Những quốc gia ASEAN không có yêu sách cho phía Trung Quốc biết rằng họ không phải là một phần của tranh chấp, họ không chọn bên và hy vọng rằng những tranh chấp này sẽ được giải quyết thông qua đàm phán song phương giữa các nước có liên quan”. Điều này giống như Trung Quốc đang cố gắng hướng một số nước thành viên của ASEAN chống lại chính tổ chức khu vực của mình, và chia cắt ASEAN thành hai khối.

Một khi các quốc gia ASEAN nhận ra rằng Trung Quốc đang quá khẳng định cái mà nước này mô tả là “lợi ích cốt lõi” và gộp cả Biển Đông vào trong đó thì họ sẽ không thờ ơ thêm nữa trước những vấn đề đang phá vỡ mối quan hệ của mình với Trung Quốc. Trước tiên, Ma-lai-xi-a và Việt Nam đưa ra một bản đệ trình chung vào mùng 6 tháng 5 năm 2009. Việt Nam đưa ra một bản đệ trình bổ sung vào mùng 7 tháng 5 năm 2009. Trung Quốc phản đối những bản đệ trình này. Philíppin phản đối bản đệ trình của Ma-lai-xi-a và Việt Nam, đưa ra một bản đệ trình một phần về một khu vực bên ngoài Biển Đông, cho rằng luật về đường cơ sở của mình phù hợp với các điều khoản của UNCLOS về đường cơ sở quần đảo. Trung Quốc và Bru-nei đã đệ trình thông tin sơ bộ. Bản đệ trình chung của Ma-lai-xi-a và Việt Nam kiến nghị rằng hai nước này có lập trường rằng quyền chủ quyền đối với những nguồn tài nguyên ở Biển Đông nên được xác định theo những nguyên tắc điều chỉnh thềm lục địa được tính từ bờ đất liền. Bằng cách không tính thềm lục địa hay khu EEZs của họ từ bất kỳ hòn đảo nào mà họ yêu sách trên Biển Đông, trên thực tế họ giữ lập trường rằng không hòn đảo nào ở Biển Đông được quyền có chiều rộng quá 12 hải lý – khoảng cách tối đa được cho phép theo UNCLOS. Thứ hai, các nhà lãnh đạo ASEAN đã vận động rất tích cực đối với phía Mỹ trong việc đảm nhận một vai trò tích cực trong việc duy trì an ninh cho các tuyến lưu thông hàng hải trên Biển Đông và do đó cũng là an ninh cho khu vực.

Sự quyết đoán của Trung Quốc và nỗ lực quốc tế hóa tranh chấp của ASEAN

Tranh chấp giữa Trung Quốc và ASEAN bùng phát công khai sau khi Ngoại trưởng Mỹ Bà Hilary Clinton, trong hội nghị thường niên của Diễn đàn khu vực ASEAN với sự tham dự của 27 quốc gia, bày tỏ sự ủng hộ của Mỹ đối với “quá trình ngoại giao hợp tác của tất cả các bên yêu sách nhằm giải quyết các tranh chấp lãnh thổ khác nhau trên tinh thần tự nguyện”. Kết quả là, rõ ràng có nhiều quốc gia, trong và ngoài ASEAN, hoan nghênh vai trò của Mỹ trong việc tạo ra đối trọng với Trung Quốc. Những nước phát biểu về vấn đề này không chỉ là những nước có yêu sách mà còn có cả các nước khác, như In-đô-nê-xi-a, Nhật Bản và Úc. Việc khẳng định rằng tranh chấp của Bắc Kinh chỉ với một số nước thành viên thay vì với cả khối ASEAN là rất khó phù hợp với những ghi nhận trong các văn kiện nêu trên. Trong khi yêu sách chủ quyền đối với gần như toàn bộ Biển Đông, Bắc Kinh đã đề xuất giải pháp hòa hoãn đối với tranh chấp thay vì thảo luận về khai thác chung các nguồn tài nguyên dưới biển. Để xoa dịu những quan ngại của khu vực, Trung Quốc đã ký một hiệp định bế tắc gọi là Tuyên bố về ứng xử của các bên trên Biển Đông với cam kết kiềm chế trong các hành động. Mục đích của việc làm này để hướng sự chú ý đi xa khỏi nỗ lực của Trung Quốc trong việc tăng cường kiểm soát quân sự đối với các vị trí mà nước này chiếm đóng và mở rộng đường ranh giới trên thực tế bằng việc ngăn cản các nước láng giềng đánh bắt cá trong các vùng biển tranh chấp hoặc khoan dầu ở vùng biển rất xa Trung Quốc. Trong năm 2007 và 2008, nước này thậm chí ngăn cấm BP và Exxon Mobil khoan dầu trong vùng biển ngoài khơi của Việt Nam. Trung Quốc thực hiện yêu sách bành trướng của mình đối với Biển Đông ở mức độ cao hơn bằng việc thách thức (năm 2009) một tàu khảo sát của hải quân Mỹ, tàu Impeccable, cách bờ biển của đảo Hải Nam Trung Quốc 75 dặm, mở rộng trên thực tế lãnh hải 12 hải lý của mình ra vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) 200 dặm. Phía Mỹ cho rằng theo Luật biển của Liên hiệp quốc, tàu hải quân của nước này có quyền tự do lưu thông qua vùng EEZ. Vào tháng ba, Trung Quốc nói với các quan chức cấp cao của Mỹ rằng chủ quyền của họ đối với Biển Đông là không phải bàn cãi và là một trong những vấn đề cốt lõi không được phép thỏa hiệp.

Sự khẳng định chủ quyền ngày càng tăng của Trung Quốc, cùng với việc tăng gấp đôi ngân sách quốc phòng càng làm gia tăng sự lo ngại ở Đông Á. Được khuyến khích bởi lợi ích mới mà chính quyền Obama đưa ra, các quốc gia trong khu vực đã lặng lẽ vận động Washington giữ một vai trò tích cực đối với các vấn đề của khu vực. Một phần bởi sự thúc giục từ ASEAN, phía Mỹ đã nối lại tiếp xúc với Mi-an-ma trong một thỏa thuận để thuyết phục nước này hướng tới cải cách dân chủ và thoát hẳn khỏi vòng tay của Trung Quốc. Kể từ khi giữ vai trò chủ tịch luân phiên ASEAN mùa hè năm ngoái, Việt nam đã có những cố gắng liên tục trong việc thu hút sự chú ý của Mỹ đối với mối đe dọa từ quyền lực Trung Quốc đang trỗi dậy ở Biển Đông; Ma-lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a, Philíppin cũng bày tỏ những quan ngại của mình với Washington. Một số nhà lãnh đạo Đông Nam Á tham dự hội nghị thượng đỉnh về An ninh Hạt nhân tại Washington tháng 3 năm 2010 đã tổ chức những cuộc hội đàm với Tổng thống Barack Obama và các quan chức cấp cao khác để bày tỏ những quan ngại của mình. Thượng nghị sĩ John Kerry, chủ tịch Ủy ban Quan hệ Đối ngoại của Thượng Viện, bày tỏ một cách công khai với Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng, người cũng tham gia cuộc gặp với Obama, rằng “Chúng tôi sẽ theo sát vấn đề một cách nghiêm túc. Nó liên quan trực tiếp đến tự do lưu thông hàng hải tại khu vực”.

Kết Luận

Những phân tích được đề cập ở trên cho thấy chính sách của ASEAN trong việc lôi kéo sự can dự của Trung Quốc và kìm chế cách hành xử của nước này ở Biển Đông chỉ thành công hạn chế trong phạm vi tạm gác lại xung đột. Cho đến nay, không một cơ chế nào trong ba cơ chế mà ASEAN áp dụng để chế ngự Trung Quốc – Đối thoại ASEAN - Trung Quốc, Hội thảo Biển Đông và ARF, mang lại một kết quả rõ ràng cho việc giải quyết vấn đề đã gây ra những căng thẳng trong khu vực. Như chúng tôi đã đề cập ở trên, căn nguyên của vấn đề là Trung Quốc và sự quyết đoán dần dần của nước này ở Biển Đông. Mục tiêu chính của ASEAN là khuyến khích Trung Quốc đồng ý giải quyết các tranh chấp một cách hòa bình và không chiếm đóng thêm các bãi đá và đảo ở khu vực tranh chấp Trường Sa. Đến nay, Trung Quốc chỉ nói suông với cả hai cam kết này. Nước này sử dụng cả phương thức ngoại giao và chiếm đóng thực địa để đẩy mạnh mục tiêu của mình ở Biển Đông. Trong khi thảo luận với ASEAN, nước này cũng đã chiếm các bãi đá và đảo ví dụ như Đá Vành Khăn. Với các quốc gia ASEAN, cách hành xử của Trung Quốc rõ ràng đã gây ra lo ngại, nhưng đồng thời, họ lại đi trệch hướng nhằm đáp ứng những lợi ích và quan ngại của Trung Quốc. Quả thực, phần lớn các đối thoại ASEAN – Trung Quốc hoặc những tương tác chỉ có thể thực hiện được dựa trên các điều khoản của Trung Quốc. Điều này, như chúng ta đã lập luận ở trên, cơ bản là vì sự yếu kém của ASEAN so với Trung Quốc, về mặt quân sự và mặt khác. Chúng tôi cũng tranh luận thêm rằng cách tiếp cận hiện nay của ASEAN đối với Trung Quốc là quá mềm mỏng và yếu ớt. Trung Quốc hiểu điều này rất rõ và đã theo đuổi mục tiêu của mình mà không bị ngăn cản. Trong khi thể hiện ra bên ngoài hình ảnh của một quốc gia biết lẽ phải và một người bạn quốc tế có trách nhiệm, Trung Quốc không thỏa hiệp về các vấn đề mà nước này coi là thiết yếu đối với lợi ích quốc gia. Vấn đề quần đảo Trường Sa là một trong lợi ích thiết yếu như vậy. Thay đổi trong văn hóa chính trị nội bộ của Trung Quốc và môi trường quốc tế có thể đã mang đến sự thay đổi trong lập trường của Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa, nhưng nhân tố quyết định cho sự thay đổi đó phải là sự thống nhất của chính ASEAN và một lập trường được xác định rõ ràng hơn nữa đối với vấn đề như họ đã từng làm vào tháng 3 năm 1995, ngay sau khi xảy ra sự kiện Đá Vành Khăn, và điều đó cũng đã lẫn đến tuyên bố của Bà Hilary Clinton tại hội nghị ở Hà Nội năm 2010. Giọng điệu hòa giải mà Trung Quốc thể hiện lúc đó là kết quả của một tuyên bố chung như vậy và của việc quốc tế hóa vấn đề.

Vấn đề đặt ra hiện nay đối với ASEAN không phải là đối đầu hay làm ngơ với Trung Quốc, mà tốt nhất là làm sao điều chỉnh mối quan hệ giữa ASEAN với Trung Quốc để yếu tố đe dọa trong việc mở rộng địa kinh tế của Trung Quốc bị loại bỏ hay ít nhất là giảm xuống một mức có thể chấp nhận hơn cũng như những khía cạnh tích cực trong mối quan hệ giữa hai bên được thực hiện mang tính xây dựng hơn và làm lợi cho tất cả. Vẫn chưa thể chắc là chiến thuật của ASEAN trong việc lôi kéo sự tham gia mang tính xây dựng của Trung Quốc có thành công hay không. Tuy nhiên trong lúc này, sẽ là hy vọng hão nếu cho rằng Trung Quốc một ngày nào đó có thể bị áp đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ. Trong khi không có bất kỳ lựa chọn khả thi nào khác, đây là một lựa chọn tốt nhất cho ASEAN để giải quyết thế tiến thoái lưỡng nan về an ninh của mình trước một Trung Quốc đang hồi sinh và tràn đầy tự tin. Tuy nhiên, một chiến thuật như vậy sẽ đòi hỏi ASEAN đóng một vài trò mang tính xây dựng trong mối quan hệ giữa Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ và Trung Quốc, những cường quốc chủ chốt sẽ quyết định tương lai của Châu Á – Thái Bình Dương. Chỉ bằng cách duy trì sự cân bằng thận trọng trong quan hệ của mình với những cường quốc trên thì ASEAN mới có thể đóng một vài trò hữu ích trong ngoại giao khu vực và tạo ra một không gian trong đó các quốc gia thành viên có thể theo đuổi công cuộc phát triển kinh tế và chính trị của riêng mình trong một trường hòa bình và ổn định. Mối quan hệ thân thiết của ASEAN với Ấn Độ có thể là nhân tố duy trì ổn định đặc biệt. Trên tất cả, chính sự đoàn kết của ASEAN sẽ không chỉ quyết định vị thế ngoại giao trong tương lai của cả khối, mà còn quyết định khả năng của ASEAN trong việc đối phó với một Trung Quốc quyết đoán./.

GS. Baldas Ghoshal

Tuấn Anh (dịch)

Đỗ Thủy (hiệu đính)

Tham luận của TS. Baladas Ghoshal tại Hội thảo Quốc tế “Triển vọng Hợp tác trong các vấn đề ở Biển Đông - Prospects of Cooperation and Convergence of the Issues and Dynamics in South China Sea” ngày 31 tháng 5 năm 2011, tại Jakarta, Indonesia do Trung tâm Nghiên cứu chiến lược Châu Á, Jakarta tổ chức.

Bản gốc tiếng Anh “ASEAN and the South China Sea Dispute

 

Bài viết của học giả Mohd Nizam Basiron đánh giá hiệu quả, tiến trình giải quyết tranh chấp Biển Đông sau khi Tuyên bố DOC được ký kết vào 2002 giữa Trung Quốc và ASEAN, thông qua đó, tác giả nhận định về khả năng đạt được giải pháp cho vấn đề trong tương lai.

Phần lớn nghiên cứu về Biển Đông đều tập trung vào những vấn đề an ninh truyền thống, địa chính trị, an ninh của các tuyến đường giao thông đường biển (SLOC) và cạnh tranh nguồn tài nguyên dầu mỏ trên khắp vùng Biển Đông. Vậy nên tầm quan trọng của Biển Đông trong vấn đề an ninh truyền thống không nên xem nhẹ. Năm trên bảy quốc gia có bờ biển với Biển Đông đang tranh chấp toàn bộ hoặc từng phần của vùng biển này. Trong khi đó Biển Đông cũng cung cấp các tuyến đường biển quan trong cho giao thông vận tải các loại hàng hóa và nguyên vật liệu - những yếu tố mà đã thúc đẩy tăng trưởng cho các nền kinh tế của khu vực Đông Á. Biển Đông đã đóng vai trò là tuyến đường thương mại quan trọng kể từ thế kỷ XV khi Trung Quốc và Ấn Độ trao đổi giao thương hàng hóa qua đây trong khi những thương buôn Arập và Iran đã sử dụng tuyến đường hàng hải trên Biển Đông này để vận chuyển hàng hóa từ thế kỷ VIII và IX.

Tuy nhiên, những nghiên cứu phần nào phiến diện về vấn đề Biển Đông thường bỏ qua chức năng cơ bản khác của nó từ góc độ an ninh phi truyền thống. Theo đánh giá trong năm 2000 vùng duyên hải ven Biển Đông có dân số khoảng 270 triệu người (Talaue-McManus, 2000), hầu hết trong số đó phụ thuộc vào Biển Đông như một nguồn mang lại thực phẩm và sự thịnh vượng kinh tế xã hội cho họ. Năm 2007 gần 7 triệu tấn cá là được khai thác tại Biển Đông, tương đương với 7% tổng sản lượng khai thác cá trên toàn thế giới. Bất cứ sự giảm sút trong việc khai thác cá tại Biển Đông có thế dẫn đến những ảnh hưởng bất lợi cho an ninh lương thực của toàn khu vực. Ngoài việc khai thác cá, Biển Đông cũng là nơi chứa đựng hơn 15% các đảo san hô của thế giới, trong năm 2000 nơi đây chiếm 12% số cây Đước của toàn thế giới (Talaue_McManus,2000)

Nhìn nhận Biển Đông một cách toàn diện cho thấy đây là nơi quan trọng đối với sự an ninh và ổn định của các nước quanh vùng biển này. Tuy vậy những điều đó lại rất mong manh do sự bình yên ở Biển Đông bị đe dọa bởi sự căng thẳng và đôi khi là bạo lực. Xung đột giữa hải quân Trung Quốc và Việt Nam tại đảo Gạc Ma vào năm 1988, sau đó vào năm 1995 Trung Quốc tiếp tục chiếm đảo Vành Khăn và gần đây hơn là cuộc đối đầu giữa tàu giám sát đánh bắt cá của Trung quốc với tàu thăm dò Impeccable của Mỹ gần đảo Hải Nam. Tất các những ví dụ trên đã nói lên mức độ căng thẳng trong các tình huống có thể xảy ra tại Biển Đông. Tuy nhiên vẫn có những điển hình về hợp tác và những nỗ lực giải quyết tranh chấp giữa các bên yêu sách. Những nỗ lực song phương như là bản ghi nhớ về hợp tác phát triển khai thác dầu và khí đốt giữa hai nước Việt Nam và Malaysia được ký vào năm 1992 đã chỉ rõ thiện chí gác tranh cãi về những tranh chấp lãnh thổ sang một bên để nhằm phát triển kinh tế (Thao,1999; Buszynski and Sazlan,2007). Tương tự, Trung Quốc, Việt Nam và Philippines cũng đã tiến hành cuộc khảo sát thực địa ba bên vào năm 2007 mặc dù đấy là nơi nằm ngay trong thềm lục địa hợp pháp của Philippines (Wain, 2010)

ASEAN, Trung Quốc và Tuyên Bố Ứng Xử Biển Đông (DOC)

Hai nhân vật chủ chốt trong nỗ lực giải quyết tranh chấp Biển Đông là ASEAN và Trung Quốc. Ngày mùng 4 tháng 11 năm 2002, ASEAN và Trung Quốc đã ký Tuyên Bố Ứng Xử giữa các bên trong Biển Đông (DOC). Mục tiêu chính của Tuyên Bố này là nhằm thúc đẩy các điều kiện thuận lợi cho những giải pháp hòa bình và lâu dài cho những tranh cãi và tranh chấp giữa các nước liên quan. Nói cách khác, Tuyên bố DOC là một bước đi vững chắc hướng tới giải quyết hòa bình tranh chấp tại Biển Đông. DOC được dựa trên cơ sở của những nguyên tắc về luật quốc tế chủ yếu là các điều khoản của Liên Hợp Quốc, Công ước Liên Hợp Quốc về luật biển (UNCLOS) và Hiệp ước hữu nghị và hợp tác của ASEAN. Những nguyên tắc quan trọng của DOC như sau:

1.   Giải quyết hòa bình các tranh chấp tại Biển Đông

2.   Tin cậy và xây dựng lòng tin lẫn nhau

3.   Tôn trọng và công nhận những điều khoản của Luật biển Quốc tế (UNCLOS) liên quan đến các vấn đề tự do hàng hải và vùng trời trên biển.

4.   Duy trì hiện trạng về tình trạng chiếm đóng hiện tại ở các đảo và bãi đá kể cả những đảo/đá chưa bị chiếm giữ ở biển Đông.

Tuyên bố DOC đề xuất đạt được những mục tiêu trên thông qua hai cơ chế đó là xây dựng sự tin cậy và lòng tin và cam kết các hoạt động mang tính hợp tác. Cơ chế đầu tiên dựa trên các họat động như là đối thoại và trao đổi quan điểm, diễn tập cứu trợ và chăm sóc người gặp nạn, tự giác thông báo các cuộc diễn tập quân sự và trao đổi thông tin trong khi cơ chế thứ hai khuyến khích các bên yêu sách thăm dò và tiếp tục hợp các tại các khu vực nhằm bảo vệ môi trường biển, phục vụ nghiên cứu biển, an toàn tàu bè và trao đổi liên lạc tại vùng biển cũng như tìm kiếm, cứu nạn và ngăn chặn tội phạm trên biển.

Mặc dù tuyên bố này đã góp phần làm giảm cường độ xung đột, tuy nhiên nó đã không hoàn toàn thuận buồm xuôi gió từ năm 2002 đến nay. Trong khoảng thời gian này những xung đột tuy nhỏ có lúc lên cao lúc dịu xuống tuy vậy đôi khi cũng có những cuộc chạm chán chết người như việc Trung Quốc bắn ngư dân Việt Nam năm 2005 và 2007.

Bất chấp những kêu gọi thực hiện kiềm chế trên biển Đông với các bên yêu sách trong tuyên bố DOC, các nước có liên quan vẫn đang cố ngấm ngầm họat động nhằm củng cố thêm những yêu sách của mình. Vào năm 2007 Trung Quốc, Phillipines và Việt Nam đã hoàn tất việc khảo sát ba bên thực địa trên biển. Cuộc khảo sát có thể được xem như là một phần của chính sách chia để trị của Trung Quốc đối với các nước có yêu sách trong ASEAN, tiếp sau đó là các chuỗi sự kiện do các nước có yêu sách khác tiến hành như chuyến viếng thăm Đảo Ba Bình của Tổng thống Đài Loan vào tháng 2 năm 2008 sau sự kiện hoàn thành đường băng trên đảo vào cuối năm 2007. Xét riêng rẽ, những sự việc này có thể được xem như những vấn đề nhỏ trong một bối cảnh lớn về an ninh trên toàn Biển Đông. Tuy nhiên nếu tổng hợp các sự kiện lại thì nó lại tạo nên mối đe đọa đối với sự ổn định vốn đã khó đạt được tại khu vực này và làm suy giảm ít nhất là tinh thần nếu không phải là những nội dung trong tuyên bố DOC.

Những suy đoán

Biển Đông mang lại cho các nước ven biển những sự lựa chọn trái ngược nhau. Một mặt là tiếp tục với hiện trạng như bây giờ, mặt khác các nước phải hướng đến một giải pháp lâu dài cho vấn đề này thông qua một số các phương thức khả thi khác mà có thể bao gồm hợp tác thiết thực trong các lĩnh vực an ninh truyền thống và phi truyền thống, các hoạt động kinh tế và môi trường, và phát triển một công cụ ràng buộc có tính pháp lý hoặc là thực thi Tuyên bố DOC. Tuy nhiên cho đến nay, một giải pháp lâu dài cho tranh chấp Biển Đông có vẻ như là viển vông. Trong khi các nước yêu sách tham gia vào các hội nghị như Hội thảo quản lý xung đột ở Biển Đông mà bắt đầu vào năm 1990 cũng như là những dự án của Chương trình môi trường của Liên Hợp quốc (UNEP) - Quỹ môi trường toàn cầu (GEFP) trong chương trình đảo ngược xu hướng suy thoái môi trường tại Biển Đông và Vịnh Thái Lan đã được khởi động từ năm 2001 đến 2009, phần lớn những dự án này đã bị bế tắc do các lập trường quốc gia mà ngăn cản sự đồng thuận  tạo ra cái mà người ta gọi là “nút thắt” (Gordian Knot) không thể tháo gỡ. Rõ ràng là có nhiều bài học được rút ra từ rất nhiều những sáng kiến được đề xuất theo kiểu điểm mạnh và điểm yếu cũng như những trở ngại để tiến tới một sự hợp tác lớn hơn và có thể đóng vai trò như kim chỉ nam cho việc giải quyết xung đột tại Biển Đông trong tương lai.

Liệu có giải pháp nào phía truớc?

Nếu như các bên yêu sách tại Biển Đông thực sự nghiêm túc về hòa bình và ổn định trong khu vực thì họ sẽ tìm ra các cách thức và biện pháp để tiền thúc đẩy Tuyên bố DOC. Tuyên bố DOC thực sự đã không tiến xa hơn một cách hiệu quả so với thời điểm ký kết vào năm 2002. Không có tiến triển trong bất kỳ chương trình nghị sự nào của tuyên bố này trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học biển, ngăn chặn ô nhiễm, bảo vệ môi trường biển và an ninh hàng hải. Nói theo một cách khác, các nước liên quan đã nói nhiều hơn là làm. Tất nhiên trừ khi là tình trạng hiện nay với những xung đột gián đoạn được chấp nhận tất cả các bên liên quan chấp nhận. Điều đó không đúng xét mức độ gia tăng căng thẳng hiện nay và khả năng bùng phát xung đột ngay cả với các hành động khiêu khích nhỏ nhất cũng như sự hiện diện của các nước không có yêu sách trong khu vực.

Đã có những lời tái kêu gọi các bên nhanh chóng đàm phán tiến một bộ quy tắc ứng xử (COC) mang tính ràng buộc sau diễn đàn ARF tại Hà Nội vào tháng 7 năm 2010. Tuy nhiên, tiến trình tiến tới COC diễn ra chậm chạm. Dựa trên kinh nghiệm xây dựng bộ quy tắc chỉ đạo nhằm thực thi DOC thì việc tiến tới một COC có thể sẽ là một chặng đường dài. ASEAN và Trung Quốc đã có 6 cuộc gặp mặt thông qua các nhóm làm việc liên hợp ASEAN-Trung Quốc trong việc thực thi Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông kể từ năm 2004 nhằm hoàn tất những hướng dẫn chỉ đạo nay nhưng chưa biết khi nào mới có thể kết thúc.

Có thể chia ra hai nhóm lạc quan và bi quan trong số các học giả nghiên cứu về giải quyết tranh chấp Biển Đông (Bateman,2010). Hiển nhiên là sẽ có những trở ngại lớn để có thể vượt qua. Bateman (2011) gợi ý rằng những trở ngại có thể bao gồm việc thiếu một thể chế hiệu quả nhằm quản lý các khu vực hợp tác đã được tán thành trong Tuyên bố DOC hay là chủ nghĩa dân tộc sâu sắc giữa các bên yêu sách, những nước mà coi vấn đề này như một tình huống “được ăn cả ngã về không” trong đó kẻ chiến thắng sẽ giành tất cả (Mak, 2008), cũng như bản chất của tranh chấp này vốn không thích hợp cho việc phân định và phân xử bằng pháp lý.

Thêm vào đó cũng có những chia rẽ rõ rệt giữa các thành viên ASEAN. Các thành viên ASEAN có thể được phân ra làm 4 nhóm về Tuyên bố DOC và giải pháp tranh chấp Biển Đông như sau:

1.   Những nước mà muốn ngay lập tức bắt tay vào xây dựng một văn bản pháp lý như Việt Nam và Philipppines

2.   Những thành viên mà ưu tiên cách tiếp cận từng bước như Malaysia và Brunei

3.   Nhưng nước không có yêu sách đối với Biển Đông mà muốn duy trì những lợi ích tích cực trong Tuyên bố DOC ví dụ như Singapore và Indonesia

4.   Những nước không có yêu sách đối với Biển Đông và không đưa ra bất cứ quan điểm gì đối với Tuyên bố DOC như Lào, Cam-pu-chia và Myanmar

Đại sứ Trung quốc tại ASEAN đã quy kết sự chậm trễ trong việc thiết lập những hướng dẫn chỉ đạo việc thực thi Tuyên bố DOC là do những toan tính trong nội bộ ASEAN về việc quyết định liệu các nước trong khối có nên tham khảo bàn bạc với nhau trước rồi sau đó mới bàn bạc với Trung Quốc hay không (Hanqin, 2009). Một ASEAN chia rẽ sẽ như từng chiếc đũa trong tay Trung Quốc cho nên một sự lãnh đạo đối với các nước thành viên trong khối là điều mang tính sống còn.  Việt Nam đã thể hiện vai trò lãnh đạo này trong suốt nhiệm kỳ là chủ tịch luân phiên của ASEAN vào năm 2010 qua việc làm nổi bật vấn đề đồng thời nỗ lực tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế nhằm tiến tới một ràng buộc mang tính pháp lý về nguyên tác ứng xử (COC). Tuy nhiên từ năm 2010 phần lớn những động lực đã đạt được nhằm tạo đà cho việc thiết lập COC dường như đã nguội đi. Minh chứng cho điều đó là tuyên bố chung giữa các nhà lãnh đạo ASEAN và Hoa Kỳ ngày 24 tháng 9 năm 2010 đã không đề cập đến vấn đề Biển Đông như một vấn đề quan trọng mà chỉ xác nhận lại các vấn đề cần thiết cho “…hòa bình và ổn định khu vực, an ninh biển, thương mại không bị cản trở và tự do hàng hải..”

Xét bối cảnh hiện nay, với sự mở rộng của hải quân Trung Quốc và khả năng gia tăng sự hiện diện của hải quân Mỹ tại Biển Đông và Đông Nam Á nói chung chắc chắn cần thiết phải có một giải pháp ”bền vững” hơn cho tranh chấp Biển Đông. Những triết lý cơ bản đằng sau Tuyên bố DOC đã tạo nên “những điều kiện thuận lợi cho một giải pháp hòa bình và dài hạn cho các tranh cãi và xung đột giữa các nước liên quan” này nên được xem xét trong bất cứ tiến trình đàm phán một bộ quy tắc ứng xử mang tính pháp lý nào khác cho Biển Đông. Đồng thời cũng cố một số những câu hỏi hóc búa mà các nước yêu sách cần phải đặt ra khi mà họ bắt đầu chặng đường tiến tới COC, đó là:

1.   Liệu COC có thay đổi hiện trạng tại Biển Đông như đã được tán thành trong Tuyên bố DOC hay là chỉ đơn thuần củng cố thêm DOC?

2.   Liệu COC có thúc đẩy hợp tác trong những lĩnh vực đã được xác định trong Tuyên bố DOC?

3.   Các cường quốc ngoài khu vực sẽ đóng vai trò gì trong quá trinh này? Vì cũng có các bên ngoài khu vực quan tâm đến Biển Đông, liệu COC cũng nên quản lý các họat động của họ hay không?

Kết Luận

Thoạt nhìn, tranh chấp gây ra từ những yêu sách biển chồng lấn tại Biển Đông theo ý kiến của một nhà phân tích đánh giá là có vẻ khá nan giải. Có quá nhiều các nước yêu sách với những tranh chấp song phương và đa phương hiện tại cũng như lợi ích của các cường quốc bên ngoài cụ thể như Mỹ. Tuy nhiên cả ASEAN và Trung Quốc đang tiếp tục những nỗ lực nhằm giải quyết các vấn đề tranh chấp tại Biển Đông. Trọng điểm của những nỗ lực này là Tuyên bố DOC đã được ASEAN và Trung quốc ký kết vào năm 2002 cũng như việc thực thi nó. Mặc dù rất nhiều người chỉ trích cho rằng DOC đã không đáp ứng được các mục tiêu trong việc hợp tác xa hơn ở Biển Đông, tuy nhiên thì Tuyên bố DOC bằng nhiều cách đã quản lý các tranh chấp đồng thời ngăn chặn việc xảy ra xung đột giữa các nước có yêu sách. Tuy nhiên xét đến lợi ích gia tăng và những tranh chấp kéo dài tại Biển Đông thì Tuyên bố DOC cần phải có một bước đi xa hơn nữa để tiến tới hợp tác thực sự. Vậy nên tiến trình này đã phát triển từng bước và cần thêm thời gian truớc khi có được một sự hợp tác thực sự bất chấp một vài tuyên bố được một vài nhà ngoại giao ASEAN đưa ra vào nửa cuối năm 2010 kêu gọi một bộ tuyên bố ứng xử (COC) chính thức tại Biển Đông.

Tài Liệu Tham Khảo

Adamrah, M. China ‘softens’ South China Sea stance. (December 14, 2010). The Jakarta Post.

http://www.thejakartapost.com/news/2010/11/24/china-%E2%80%98softens%E2%80%99-s-china-sea-stance.html

Bateman, S. (2009). Commentary on energy and geopolitics in the South China Sea by Michael Richardson.  http://www.iseas.edu.sg/aseanstudiescentre/ascdf2c1.pdf

Brown, R. & Sjostrand, S. (2001). Maritime archaeology and shipwreck ceramics in Malaysia. Kuala Lumpur: Department of Museum and Antiquities Malaysia.

Buszyinski, L. & Iskandar Sazlan. (2007). Maritime claims and energy cooperation in the South China Sea. Contemporary  Southeast Asia. Vol. 29(1).  143 - 171

Djalal, H. (2000). South China Sea island disputes. The Raffles Bulletin of Zoology. Supplement (8). 9 – 21.

Dzurek, D.J. (1996) The Spratly Islands dispute: Who’s on first? Maritime Briefing. 2(1). Durham: International Boundaries Research Unit.

Emmers, R. (2002). ASEAN, China and the South China Sea: An opportunity missed. IDSS Commentaries.  (30)

Emmers, R. (2009). Geopolitics and maritime territorial disputes in the South China Sea: From competition to collaboration? POINTER, 35(3). 1 – 5.

Emmers,    R.    Maritime    Disputes    in    the    South    China    Sea:    From    competition    to cooperation.

http://www.ceps.edu.au/userfileRalfs/file/%20Emmers%20-%20SCS-Griffith%20version.pdf

Haller-Trost,  R.  (1997).  The  contested  maritime  and  territorial  boundaries  of  Malaysia:  an international law perspective. London: Kluwer Law International

Jinming. L & Dexia, L. (2003). The dotted line on the Chinese map of the South China Sea: A note. Ocean Development and International Law, (34). 287 – 295.

Khun,  Z  &  Wang,  (2009).  The  South  China  Sea  declaration:  A  Chinese  perspective.  RSIS Commentaries No. 84. 2009.

Mak, J.N. (2008). Sovereignty in ASEAN and the problem of maritime cooperation in the South China Sea. Singapore: S Rajaratnam School of International Studies.

Prescott, J.R.V. (2010). The Spratly Islands: past and present. MIMA Bulletin, 17(1). 14 – 18 Schofield, C. (2000). A Code of Conduct for the South China Sea? Jane’s Intelligence Review. 1 – 10

Severino, R. (2010). ASEAN and the South China Sea. Security Challenges, 6(2). 37 - 47

Sichun, W & Huaifeng, R. (2003). More than a declaration: A commentary on the background and the significance of the Declaration on the Conduct of the Parties in the South China Sea. Chinese Journal of International Law. 311 – 319

Talaue-McManus.   (2000).   Transboundary   diagnostic   analysis   for   the   South   China   Sea. EAS/RCU Technical Report Series No. 14. Bangkok: UNEP

Nguyen Hong Thao (1999). Joint Development in the Gulf of Thailand. http://www.dur.ac.uk/resources/ibru/publications/full/bsb7-3_thao.pdf

Torode, G & Chan, M. China refuses to yield on Paracels. (December 12, 2010). South China Morning Post.

http://www.scmp.com/portal/site/SCMP/menuitem.2af62ecb329d3d7733492d9253a0a0a0/?vgnextoid=9f4e1947256dc210VgnVCM100000360a0a0aRCRD&ss=China&s=News

Valencia, M.J.(1985). Southeast Asian seas: oil under troubled waters. Hydrocarbon potential, jurisdictional issues and international relations. Singapore: Oxford University Press.

Valencia, M.J. (1991). Malaysia and the law of the sea: the foreign policy issues, the options and their implications. Kuala Lumpur: ISIS Malaysia

Valencia, M.J., Van Dyke, J.M.   & Ludwig, N.A.  (1997). Sharing resources in the South China Sea. The Hague: Kluwer Law International

Valencia, M.J. (2009). Tempting the dragon. Far Eastern Economic Review, 11 March 2009. http://www.nautilus.org/publications/essays/napsnet/forum/2009-2010/09020Valencia.html. (Accessed on 9 December 2010)

Wain, B. (2010). Manila’s bungle in the South China Sea. Far Eastern Economic Review, January/February2008.http://www.viet-Studies.info/kinhte/Manila_South_China_Sea.htm. (Accessed on 12 December 2010) ASEAN wants formal code. (August 6, 2010). The Straits Times

http://www.straitstimes.com/BreakingNews/SEAsia/Story/STIStory_562868.html

Mohd Nizam Basiron

Tiến Thịnh (dịch)

Đỗ Thủy (hiệu đính)

Tham luận của Mohd Nizam Basiron tại Hội thảo Quốc tế “Triển vọng Hợp tác trong các vấn đề ở Biển Đông - Prospects of Cooperation and Convergence of the Issues and Dynamics in South China Sea” ngày 31 tháng 5 năm 2011, tại Jakarta, Indonesia do Trung tâm Nghiên cứu chiến lược Châu Á, Jakarta tổ chức.

Bản gốc tiếng Anh “ASEAN and Dispute Resolution in the South China Sea

 

Bài viết của TS. Renato Cruz De Castro (Philippines) nghiên cứu ngụ ý chính sách dài hạn của Mỹ trong Tuyên bố Hà Nội ngày 24/7/2010 của Ngoại trưởng Mỹ Hilary Clinton về tranh chấp Biển Đông, đó là chính sách kiềm chế (constrainment ) đối với một Trung Quốc đang ngày càng quyết đoán trong vấn đề tranh chấp lãnh thổ. Bài viết cũng đưa ra những thách thức về khả năng thành công của với chính sách này.

 

 

Bài viết nghiên cứu ngụ ý chính sách dài hạn trong Tuyên bố Hà Nội ngày 24/7/2010 của Ngoại trưởng Mỹ Hilary Clinton về tranh chấp Biển Đông. Bài viết lưu ý rằng tuyên bố của bà khởi xướng một chiến lược ngoại giao mới trong việc ứng phó với một nước Trung Quốc đang nổi lên và ngày càng quyết liệt trong cách hành xử. Phát biểu của bà Hilary rằng Washington sẵn sàng hợp tác với các quốc gia thành viên ASEAN để thuyết phục Trung Quốc theo lối tiếp cận đa phương trong tranh chấp Biển Đông ngụ ý về việc hình thành và áp dụng sức ép tổng lực của khu vực để thay đổi hành vi của Trung Quốc liên quan đến tranh chấp. Tuy nhiên, người ta quan sát rằng Trung Quốc hiện nay đang thay đổi chính sách này bằng cách cảnh cáo các nước ASEAN về việc lôi kéo Mỹ và thúc đẩy một giải pháp đa phương cho tranh chấp này. Trong phần kết luận, bài viết cảnh báo chính sách này đang bị thách thức bởi: a) Trung Quốc là một trong những đối tác kinh tế chính và đôi khi là đồng minh chính trị của hầu hết các nước ASEAN và b) các nỗ lực mạnh mẽ của Trung Quốc khiến Mỹ không còn giữ thái độ trung lập trong chiến lược ngoại giao này nữa. Tuy nhiên, thất bại của chính sách này có nghĩa là các nước ASEAN sẽ đối diện với hai viễn cảnh: một sự cân bằng quyền lực châu Á khi mà các cường quốc lớn và nhỏ sẽ tự thấy mình bị chôn chặt trong một cuộc đối đầu liên tiếp, điều mà đến lượt nó sẽ sinh ra các nguy cơ lớn nhất từ trước đến nay về việc tạo ra các liên minh, liên kết, chạy đua vũ trang, gây hấn và xung đột; hoặc một châu Á với Trung Quốc là trung tâm nơi mà Trung Quốc sẽ thử nghiệm sức mạnh vượt trội để duy trì trật tự và định hình khu vực theo hướng có lợi cho nước này.

Tóm lược Tuyên bố Hà Nội ngày 24/7/2010 về tranh chấp Biển Đông:  Khởi nguồn một chiến lược ngoại giao mới ứng phó với một Trung Quốc đang nổi lên?[1]

Tác giả: TS. Renato Cruz De Castro

Chưa đầy một tháng sau khi Barack Obama tuyên thệ nhậm chức Tổng thống thứ 44 của Hợp chúng Quốc Hoa Kỳ, Ngọai trưởng mới được bổ nhiệm của ông là bà Hilary Clinton đã bắt đầu chuyến công du châu Á. Chuyến công du châu Á tháng 2 năm 2009 của bà Clinton nhấn mạnh lợi ích mới chớm và mang tính thử nghiệm của chính quyền mới của Mỹ ở khu vực. Trong suốt chuyến đi của mình đến Đông Á, bà nhấn mạnh rằng chính quyền Obama sẽ lắng nghe và phản hồi những quan ngại của đồng minh và đối tác và sẽ không lơ là khu vực cho dù sự có mặt của Mỹ ở đây đang đối mặt với rất nhiều thách thức nghiêm trọng.[2] Trong năm tiếp theo, chính quyền Obama chỉ mất ít thời gian để gây ấn tượng với khu vực rằng Mỹ đang trở lại và đang theo đuổi chính sách tái can dự tích cực vào Đông Á. Chính sách này bao gồm việc tăng cường uy tín của các cam kết chính trị/ngoại giao của Mỹ bằng cách làm vững chắc thêm các liên minh song phương và sự tham gia của Mỹ trong các cơ chế đa phương của khu vực với sự tự tin và tích cực mới tìm ra. Chính sách tái can dự của chính quyền Obama ở Đông Á trở nên ngày càng rõ ràng qua rất nhiều hành động chính sách đối ngoại mạnh mẽ và rõ rệt mà nước này đã thực hiện trong 6 tháng đầu năm 2010. Tiêu biểu nhất trong số các hành động này là ngụ ý chính sách dài hạn trong Tuyên bố ngày 24/10/2010 của Ngoại trưởng Clinton về Biển Đông ở Hà Nội, Việt Nam.

Phát biểu trong Hội nghị Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) lần thứ 17 tại Hà Nội, Ngoại trưởng Clinton tuyên bố rằng Mỹ có lợi ích quốc gia đối với tự do hàng hải, tiếp cận mở đối với các không gian hàng hải chung ở châu Á và với việc tôn trọng luật biển quốc tế của các quốc gia duyên hải trong khu vực Biển Đông. Quan trọng hơn, bà thêm rằng Mỹ đã chuẩn bị để thúc đẩy các đàm phán đa phương để giải quyết các tuyên bố chủ quyền đang gây tranh cãi về quần đảo Trường Sa. Thêm vào đó, tuyên bố của bà thẳng thừng phủ nhận tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông mà mở rộng đến bờ biển của các nước ASEAN và gây ra sự chồng lấn một phần với các tuyên bố lãnh thổ của bốn nước ASEAN – Việt Nam, Philippines, Malaysia, và Brunei.[3] Mặc dù tuyên bố của bà được xem như nhằm giảm căng thẳng ở Biển Đông trong tình thế Trung Quốc ngày càng trở nên quả quyết, tuyên bố này thực sự là một lời khiển trách nặng nề với Bắc Kinh, nước luôn khăng khăng trong vài thập kỷ rằng phần lớn Biển Đông và các đảo trong Biển Đông thuộc về họ, và bất cứ giải pháp ngoại giao nào liên quan đến tranh chấp lãnh thổ biển này chỉ nên được giải quyết thông qua đàm phán song phương. Quan trọng nhất, bằng việc đưa ra quan điểm này, Washington đã khéo léo đánh đúng vào nỗi lo sợ của các quốc gia Đông Nam Á về lập trường hiếu chiến hoặc quả quyết của Trung Quốc ở rất nhiều tranh chấp biển khác trong khi bày tỏ sự lo lắng của chính họ về tự do hàng hải sau vụ tàu USS Impeccable tháng 3 năm 2009 va chạm với Trung Quốc.[4] Cuối cùng, tuyên bố của bà Clinton về quần đảo Trường Sa đã được truyền đạt khi Washington nhận thức rõ hơn rằng các quốc gia đưa ra yêu sách ở khu vực ASEAN đang rất lo ngại về sức mạnh hải quân của Trung Quốc và sự gia tăng tính quyết đoán của nước này trong các vụ việc liên quan đến tranh chấp Biển Đông.

Tuy nhiên, điều dễ dàng nhận ra trong các phân tích trên là ngụ ý dài hạn trong chính sách đối ngoại của Mỹ nói riêng, và trong chính sách của các quốc gia khu vực nói chung liên quan tới sự trỗi dậy của Trung Quốc. Tuyên bố Hà Nội ngày 24/7 khởi động một chiến lược ngoại giao mới trong đó ứng phó với một nước Trung Quốc đang lên và ngày càng quả quyết - chính sách chế ngự. Tuyên bố của Ngoại trưởng Clinton rằng Washington sẵn sàng hợp tác với các quốc gia thành viên ASEAN để thuyết phục Trung Quốc tìm kiếm một giải pháp đa phương cho tranh chấp lãnh thổ này ngụ ý việc hình thành và áp dụng sức ép tổng hợp khu vực để thay đổi hành vi của Trung Quốc về một vấn đề cụ thể - Biển Đông.

Bài viết nghiên cứu những ngụ ý ngoại giao và chiến lược ẩn sau Tuyên bố Hà Nội năm 2010 khi nó gợi lên sự áp dụng chiến lược ngoại giao chế ngự trước sự lớn mạnh của Trung Quốc. Bài viết nghiên cứu câu hỏi cơ bản: Tuyên bố Hà Nội năm 2010 làm thế nào để có thể thực thi chiến lược kiềm chế trong tình thế một nước Trung Quốc đang trỗi dậy? Bài viết cũng giải quyết những câu hỏi mang tính hệ quả như sau: 1) Kiềm chế là gì? 2) Nền tảng chính trị, chiến lược cho Tuyên bố Hà Nội năm 2010? 3) Những nhân tố cơ bản của Tuyên bố Hà Nội? 4) Làm thế nào những nhân tố đó khiến chiến lược kiềm chế một Trung Quốc đang lên có tác dụng? 5) Trung Quốc đang ứng phó với chính sách kiềm chế đang tiến triển này như thế nào? 6) Đâu là những vấn đề trong việc áp dụng chiến lược này với một nước Trung Quốc đang lên? Và 7) Đâu là giới hạn của kiềm chế như là một chính sách dài hạn trong việc ứng phó với nước Trung Quốc đang nổi lên?

TS. Renato Cruz De Castro

Hằng Ngân (dịch)

Đỗ Thủy (hiệu đính)

Đọc toàn bộ bản dịch bài viết tại đây

 

Bài tham luận trình bày tại Hội thảo “Biển Đông: Hướng tới một khu vực Hòa bình, Hợp tác và Tiến bộ - The South China Sea: Toward a Region of Peace, Cooperation, and Progress tổ chức tại Manila, Philippines, 5 – 6 tháng 7 năm 2011.

Bản gốc tiếng Anh “Abstract of The 24 July 2010 Hanoi Declaration on the South China Sea Dispute: The Birth of a New Diplomatic Strategy vis-à-vis an Emergent China?


[1] Bài viết trình bày tại Hội thảo Manila lần đầu tiên về Biển Đông: Hướng tới một khu vực hòa bình, Hợp tác và Tiến bộ, thành phố Makati, Khách sạn Dusit Thani, 5-6/7/2011. Bản khởi thảo, Chỉ được sử dụng trong hội nghị, nghiêm cấm dùng để dẫn lời hay trích dẫn.

[2] Ralph A. Cossa, “Continuity and Change in U.S. Asia Policy,” PacNet Newsletter# 18, p. 1.

http://www.pacnet@hawaiibiz.rr.com

[3] Frederick Z. Brown, “Rapprochement between Vietnam and the United States,” Contemporary Southeast Asia 32, 2 (December 2010). pp. 235-236.

[4] Mark J. Valencia, “The Future of Southeast Asia: Back to the Future?” Global Asia 5, 4 (Winter 2010). p.9

 

Trong bối cảnh tình hình Biển Đông căng thẳng, bài nghiên cứu của GS. Peter Dutton, Viện nghiên cứu Biển Trung Quốc, Học viện Hải quân Mỹ, đánh giá vai trò của các khuôn khổ và cơ chế an ninh biển hiện tại như Công ước luật biển 1982 hay Tuyên bố ứng xử 2002 trong việc duy trì hoà bình và thúc đẩy phát triển ở khu vực. Bài viết cũng đưa ra một số kiến nghị nhằm xây dựng lòng tin và đề ra tiến trình hướng tới sự ổn định lâu dài.

 

Như đã thấy trong năm 2011, Trung Quốc, Việt Nam và Philippines đều đang khẩn trương tiến hành các cuộc thăm dò và kế hoạch khoan nhằm chiếm giữ những nguồn tài nguyên hydrocarbon dưới đáy biển Đông nơi có vô số những yêu sách quốc gia chồng lấn nhau. Kết quả là, đôi khi sự va chạm trở nên nghiêm trọng và mỗi nước đều tăng cường những lập luận hùng hồn về quyền tài phán duy nhất của mình đối với việc khoan dầu trong những khu vực xác định. Mỗi nước cũng gia tăng những hoạt động hải quân trên biển Đông theo hai cách, hoặc là đưa ra những tín hiệu về quyết tâm bảo vệ quyền lợi của mình đối với các nguồn tài nguyên hoặc chí ít thì cũng được cho là như vậy.

Một số nhà quan sát cho rằng, các quan hệ kinh tế khu vực và mong muốn chung cho một môi trường bên ngoài ổn định để thúc đẩy sự phát triển kinh tế từ bên trong sẽ làm cho các cuộc cạnh tranh năng lượng và tranh chấp chủ quyền không dẫn đến xung đột[1],. Một số ý kiến lại cho rằng căng thẳng có thể kiểm soát được vì thực tế đã cho thấy rằng cho đến nay những tuyên bố hàng hải của Trung Quốc trên biển Hoa Đông và biển Đông “thường được thực thi  bởi các tàu tuần tra không trang bị vũ trang, điều này gửi đến một thông điệp rõ ràng rằng Bắc Kinh không tìm kiếm sự leo thang dẫn đến một cuộc khủng hoảng lớn vì những vấn đề này."[2] Một số khác thì lại khẳng định rằng những quan điểm trên là hão huyền.[3] Bài viết này xem xét rằng giữa những tình huống xấu đi như thế thì liệu các khuôn khổ và cơ chế an ninh hàng hải hiện tại - đặc biệt là hai trường hợp Công ước về Luật biển của Liên Hợp Quốc, và Tuyên bố ứng xử của các bên trên biển Đông - có đủ để duy trì hoà bình khu vực và thúc đẩy phát triển kinh tế khu vực hay không. Với kết luận chúng không đủ, bài viết sẽ đưa ra một số kiến nghị nhằm xây dựng lòng tin và đề ra tiến trình hướng tới sự ổn định lâu dài.

Tranh chấp chủ quyền và sự thất bại của luật quốc tế

Những tranh chấp ở biển Đông có thể được đặt trong ba phạm trù khác nhau - chủ quyền, quyền tài phán và quyền kiểm soát.[4] Phạm trù đầu tiên liên quan đến các tranh chấp của các bên về vấn đề chủ quyền trên các hòn đảo, bãi đá nổi và bãi đá chìm ở biển Đông. Hiện tại không có một khuôn khổ hay cơ chế khu vực và quốc tế tích cực nào trực tiếp giải quyết vấn đề chủ quyên. Điều này một phần vì thực tế Trung Quốc khăng khăng giữ quan điểm rằng họ sẽ chỉ giải quyết mọi tranh chấp trên biển Đông bằng đám phán và chỉ trên cơ sở đàm phán song phương mà thôi. Điều này đã loại bỏ cơ hội cho các bên tận dụng các cơ chế pháp lý và trọng tài hay các khuôn khổ khu vực và quốc tế khác nhằm hỗ trợ cho việc giải quyết hòa bình các tranh chấp.

Công bằng mà nói, liên quan đến vấn đề chủ quyền, dường như bất kỳ nước tranh chấp nào đều dường như không mấy quan tâm đến vấn đề đàm phán, phân xử hay giải quyết bằng tòa án. Những tuyên bố “chủ quyền không thể chối cãi” dựa trên những mối liên hệ lịch sử và kiểm soát chính quyền thường đến từ Việt Nam và Trung Quốc - mỗi nước đều khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.[5] Trong khi ít hùng hồn hơn, chính phủ Philippine đồng thời cũng khẳng định rằng nước này có “chủ quyền và quyền tài phán đối với các điểm địa lý” của quần đảo Kalayaans.[6] Những hồ sơ công khai phản ánh rằng Philippines căn cứ trên tuyên bố của họ dựa trên thuyết những vùng liền kề hoặc tiếp giáp với nhóm đảo Kalayaan với quần đảo chính của nó, mặc dù cơ sở của những tuyên bố này thì có độ chắc chắn ít hơn so với những tuyên bố của Việt Nam và Trung Quốc bởi vì Philippine cũng hoặc theo một cách khác, khẳng định trên những cở sở an ninh và kinh tế, rằng các đảo đã bị bỏ rơi bởi những nước khác sau Chiến tranh thế giới thứ 2, và sau đó Philippine đã thiết lập chủ quyền bằng cách tự khám phá hoặc ban hành sắc lệnh. Giống như Malaysia và Brunei, Philippine cũng khẳng định quyền kiểm soát trên Kalayaans như một sự mở rộng quyền lợi ở thềm lục địa của chính mình.[7] Trong khi một loạt các quan điểm như thế có thể phục vụ khéo léo cho các tranh cãi pháp lý, nó không thúc đẩy một môi trường thuận lợi cho đàm phán do các bên đối lập gặp khó khăn tìm kiếm một cơ sở chung để tiếp tục.

Chắc chắn rằng có những lựa chọn để phát triển một cơ chế hay khuôn khổ để giải quyết vấn đề chủ quyền. Nếu đàm phán đa phương không được chấp thuận và đàm phán song phương vẫn không đạt được kết quả, trong trường hợp đó, hiển nhiên các bên có thể phải đưa tình huống này ra Toà án Tư pháp quốc tế hoặc Toà án trọng tài thường trực. Tuy nhiên, vì một số lí do, điều này khó có khả năng xảy ra.

Về mặt chính trị, chính phủ các nước trong khu vực phải đấu tranh với chủ nghĩa dân tộc trong nước, điều đó hạn chế sự lựa chọn chính sách. Về mặt kinh tế, dường như có một nhận thức ngày càng tăng - đặc biệt là ở Trung Quốc và cũng ngày càng tăng ở Việt Nam - rằng mà những nguồn thực phẩm và năng lượng ở biển Đông ngày càng trở nên thiết yếu với sự thịnh vượng của quốc gia trong thế kỉ 21. Lo lắng này phủ bóng đen lên lập luận về chủ quyền đối với các đảo và các quyền pháp lý kèm theo nó. Thái độ thực dụng về những nguồn năng lượng trên biển Đông đặc biệt đang trở thành quy tắc tiêu chuẩn. Đây là một xu hướng đáng lo ngại vì nó cho thấy các bên trong tương lai có thể không sẵn sàng tin tưởng vào sự tiếp cận các nguồn tài nguyên dựa vào thị trường – vốn là nền tảng cho hệ thống toàn cầu. Cuối cùng, về mặt quân sự, Trung Quốc, Việt Nam và Philippine đều xem việc kiểm soát đối với các đảo là điều tối quan trọng cho an ninh quốc gia. Do đó, có nhiều cử tri trong mỗi quốc gia kiềm chế chính phủ của họ không được theo đuổi các thoả hiệp về chủ quyền. Điều này là một trong những lý do chính giải thích tại sao các chính phủ vẫn kiên quyết tránh những toà án quốc tế hay các ủy ban trọng tài nhằm giải quyết những vấn đề này. Đơn giản là có quá nhiều rủi ro.

Một lý do khác khiến các chính phủ tránh sự trợ giúp pháp lý quốc tế, đó là cơ chế luật pháp quốc tế điều chỉnh việc giải quyết các tranh chấp về chủ quyền còn chưa rõ ràng. Vì vậy, bản thân luật pháp là một nhân tố khác khiến các thoả hiệp trở nên khó khăn hơn -  thực sự nó làm trầm trọng thêm xu thế dẫn đến sự va chạm. Cụ thể, luật quốc tế khuyến khích khả năng của một quốc gia chứng tỏ một tuyên bố chủ quyền vượt trội bằng cách khẳng định sự chiếm đóng, quản trị hiệu quả và kiểm soát độc quyền. Tất cả các quốc gia biển Đông ngoại trừ Brunei có lực lượng đóng quân trên đảo, trạm theo dõi thời tiết, cơ sở vật chất để bảo vệ bờ biển, nghiên cứu khoa học, một số thậm chí đã được báo cáo là phát triển hoặc có kế hoạch phát triển hạ tầng du lịch. Tiếp theo mạch phát triển này, người Trung Quốc đã thiết lập một chính quyền thành phố trên quần đảo Trường Sa, thiết lập mạng lưới điện thoại di động, và hỗ trợ các hoạt động đánh bắt cá địa phương từ các hòn đảo. Người Malaysia thì lập ra một khu du lịch lặn trên một trong những đảo họ chiếm đóng được. Mỗi hoạt động này là một tuyên bố công khai về sự chiếm đóng và quản lý hiệu quả của một quốc gia đối với một đảo nào đó đang tranh chấp. Quả thực, để củng cố sự chiếm đóng và quản lý hiệu quả của mình, chính phủ Trung Quốc rõ ràng gần đây đã đi quá xa trong việc đặt cột mốc đánh dấu quyền chủ quyền của họ trên ba đảo nhỏ của quần đảo Trường Sa, bao gồm bãi đá ngầm Boxall (TQ: Niuchelun- nd) và bãi Amy Douglas gần Palawan. Để không mất đi yêu sách của mình trong việc quản lý và kiểm soát hiệu quả trên cùng những phần lãnh thổ đó, chính phủ Philippine đã tuyên bố rằng hải quân của họ đã tháo bỏ những cột mốc này và phái những đội tàu của họ đến để ngăn cản Trung Quốc khôi phục lại chúng. Philippine cũng gỡ bỏ một cái phao do Trung Quốc đặt ra khỏi mặt nước.[8]

Tóm lại, luật quốc tế liên quan đến chủ quyền tự nó đã tạo ra một cuộc cạnh tranh leo thang giữa các bên tranh chấp để chứng minh sự chiếm giữ và kiểm soát độc quyền trên các đảo. Bởi vì chủ quyền là một cuộc chiến một mất một còn, không bên nào có thể rút lui trong cuộc cạnh tranh và duy trì những đòi hỏi của mình. Khi những bên tham dự tăng lên, khả năng xảy ra sự cố nghiêm trọng hơn bao giờ hết. Như vậy, khuôn khổ luật quốc tế để giải quyết các tranh chấp chủ quyền hiện hành là một cơ chế không đủ để khuyến khích và tăng cường ổn định khu vực. Luật quốc tế cũng đưa ra các giải pháp đôi bên cùng có lợi khác dựa trên chia sẻ chủ quyền hay chủ quyền với những quyền quốc tế bất khả xâm phạm. Các bên sẽ thực hiện tốt việc thăm dò những lựa chọn kiểu đôi bên cùng có lợi này như là con đường đi dến những giải pháp tạm thời hoặc thậm chí là lâu dài cho vấn đề chủ quyền trên quần đảo Trường Sa.

Khuôn khổ tài phán biển của UNCLOS 

Dạng tranh chấp thứ hai liên quan tới thẩm quyền trong không gian biển và các nguồn tài nguyên trên biển, trong biển và dưới đáy biển. Có lẽ điều quan trọng nhất trong khuôn khổ an ninh hàng hải đối với biển Đông là Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS). UNCLOS đã được đàm phán trong suốt những năm 1970 và đầu những năm 1980 để đáp ứng một số xu hướng gây bất ổn trong lĩnh vực hàng hải, tất cả đều vẫn còn hiện diện trong khu vực biển Đông ngày nay bất chấp việc các nước ven biển Đông đã tham gia vào Công ước toàn cầu này.

Một xu hướng như thế là khả năng ngày càng tăng của các quốc gia trong suốt thế kỉ 20 để khai thác các nguồn tài nguyên sinh vật và phi sinh vật của một phần ngày càng mở rộng của những vùng duyên hải. Hoa Kỳ đã tiến hành hoạt động đầu tiên của một quốc gia trong kỷ nguyên hiện đại để thực hiện các quyền tài phán mở rộng trên biển với tuyên bố của Truman năm 1945, tuyên bố mà đã có kết quả ngoài ý muốn trong các thập kỉ tiếp theo trong việc dấy lên một cuộc chạy đua toàn cầu nhằm kiểm soát các nguồn tài nguyên biển thông qua một loạt các cơ chế cạnh tranh, bao gồm những tuyên bố của một số nước về chủ quyền quốc gia đầy đủ trong 200 hải lý tính từ bờ biển của họ. Vì nhiều lý do, nhiều nước khác mà đơn cử là không ít các cường quốc hàng hải không chấp nhận điều này do mất đi các quyền hàng hải quốc tế. Khi nhà nước có chủ quyền hoàn toàn đối với hơn 1/3 đại dương trên thế giới ngụ ý rằng một cơ chế chủ quyền hàng hải hoàn toàn sẽ được thiết lập.

Các tuyên bố của Truman cũng đã tạo ra các khu bảo tồn thuỷ sản ở biển sâu dưới quyền tài phán độc quyền của Hoa Kỳ với mục đích quản lý và bảo vệ những đàn cá vì lợi ích của người dân Mỹ. Như những gì đã xảy ra sau tuyên bố thềm lục địa, những điều kế tiếp là một mớ những yêu sách quốc gia về độc quyền nguồn tài nguyên mà cũng làm gia tăng các cuộc va chạm trên biển vì ở một số nơi, chẳng hạn như biển Đông, một chế độ pháp lý có thể không phải là giải pháp tốt nhất để mang lại một trật tự trong khu vực mà đã từng được xác nước ven biển xem là một khu vực hàng hải chung.

Trong một nỗ lực để mang lại trật tự và giảm thiểu va chạm, các cuộc đàm phán dưới sự bảo trợ của Liên Hợp Quốc được bắt đầu vào những năm 1950, đã mang lại một bộ công ước về luật biển sơ bộ nhưng rõ ràng là chưa đầy đủ tại Geneva vào năm 1958. Các cuộc đàm phán kéo dài vẫn tiếp tục, kết quả là vào năm 1982 trong một loạt các cuộc thương lượng lớn đã hình thành khuôn khổ UNCLOS cho việc ổn định các xu hướng nguy hiểm do tuyên bố Truman gây ra và vẫn tồn tại ở khu vực biển Đông ngày nay. Bốn khía cạnh trong công ước này đã được thiết lập để mang lại trật tự hợp lý trong việc “chiếm đất” trên biển và cân bằng các lợi ích hợp pháp của các quốc gia ven biển với những lợi ích hợp pháp tương tự của các cường quốc hàng hải.

Đường cơ sở.  Khía cạnh đầu tiên là pháp điển hoá các quy tắc liên quan đến đường cơ sở, các ranh giới tại hoặc gần bờ biển giữa lãnh thổ thuộc hoàn toàn chủ quyền của nước ven biển và các vùng biển mở rộng ra ngoài khơi của họ. Mục đích của một hệ thống các đường cơ sở thống nhất là hạn chế việc mở rộng thẩm quyền của quốc gia ven biển đối với các đại dương. UNCLOS điều 5 và 7 xác định rằng các đường cơ sở thường có đường nước thấp dọc theo bờ biển. Điều 7 cung cấp một tập hợp các tình huống rất hạn chế cho phép các quốc gia ven biển đi chệnh khỏi quy định thông thường, chủ yếu là nơi có tồn tại các vịnh nhỏ ven biển thụt sâu vào - như vịnh hẹp ở NaUy, hoặc các hải đảo chạy dọc theo khu vực lân cận của bờ biển - chẳng hạn như những đảo chạy dọc theo phía bờ biển tây nam của bán đảo Triều Tiên. Điều 47 cho phép các quốc gia gồm toàn bộ là các hòn đảo mà không có lãnh thổ đất liền - được gọi là các quốc gia quần đảo - được vẽ đường cơ sở xung quanh rìa ngoài xa nhất cho các đảo của họ và yêu sách một vị thế đặc biệt để đạt được và thực thi một mức độ quyền chủ quyền cao hơn đối với những vùng nước kèm theo. Mặc dù về cơ bản trên toàn cầu các nước có đủ tiêu chuẩn này là tương đối it, có hai nước giáp biển Đông đủ tiêu chuẩn này: Philippine và Indonesia. Tất nhiên, Malaysia không đủ tiêu chuẩn vì một phần lãnh thổ nước này là lục địa. Một điểm then chốt về cơ chế các đường cơ sở là chúng được vẽ dựa hoàn toàn vào địa lý của các quốc gia ven biển. Cơ chế dựa trên địa lý này được thiết lập nhằm đảm bảo trật tự trong quá trình thiết lập các yêu sách biển bằng cách thể hiện chúng từ một tập hợp đồng bộ các đặc điểm mở và không thể phủ nhận. Như vậy, không có ngoại lệ phi địa lý đối với việc vẽ các đường cơ sở mà được UNCLOS hoặc luật quốc tế nói chung công nhận. 

Các đường cơ sở của Trung Quốc. Mặc dù các đường cơ sở của Trung Hoa đại lục đều được thể hiện theo hình thù địa lý ven biển của nước này (đường hình chữ U trong biển Đông sẽ được bàn riêng), ở một vài nơi ngoài khơi, các đường cơ sở của Trung Quốc vượt quá mức cho phép của UNCLOS và luật án lệ quốc tế, thâu tóm một cách không chính đáng từ những vùng hoàn toàn thuộc quyền sử dụng quốc tế hơn 2500 hải lý vuông của không gian đại dương chủ yếu ở biển Hoa Đông. Điều quan trọng với vùng Biển Đông là Trung Quốc đã vẽ các đường cơ sở thẳng xung quanh quần đảo Hoàng Sa trong một hành vi vi phạm rõ ràng các quy tắc của UNCLOS rằng chỉ các quốc gia quần đảo mới có thể đưa ra một tuyên bố như vậy. Như vậy, mặc dù tiêu chuẩn quốc tế được thể hiện trong UNCLOS đã có một số tác động vào cách thức Trung Quốc vẽ đường cơ sở của họ như thế nào dọc theo đường bờ biển, chúng đã không ngăn chặn được Trung Quốc đưa ra những đòi hỏi quá mức hoặc rõ ràng không phù hợp trong một số trường hợp khác.

Các đường cơ sở của Việt Nam. Trong khi từ phía bắc bờ biển đến phía nam, Việt Nam vẽ các đường cơ sở mở rộng từ các hải đảo, chứ không phải là các đường thuỷ triều thấp thuộc bờ biển của họ, tính chất quá mức của những tuyên bố này ở phía nam và tây nam phần bờ biển của nước này thực sự là khác thường. Việt Nam dường như có ý bao gồm hơn 27.000 hải lý vuông mà lẽ ra cần được mở cho quốc tế sử dụng. Trong khi Việt Nam sử dụng các đặc điểm địa lý để mô tả các đường cơ sở của mình, nước này làm như vậy theo một cách thức mở rộng quá mức theo những quy định của UNCLOS như đã được làm rõ trong luật án lệ quốc tế. Như vậy, cũng giống như trong trường hợp của Trung Quốc, quy chế các đường cơ sở do UNCLOS xác lập đã không đóng vai trò kiềm chế với Việt Nam.

Các đường cơ sở của Indonesia và Philippine. Là hai quốc gia quần đảo trong khu vực, Indonesia và Philippine được quyền gộp phần lớn vùng nước vào các đường cơ sở của họ và khẳng định quyền chủ quyền trên đó. Mặc dù khi được vẽ lần đầu vào năm 1960, hệ thống các đường cơ sở thẳng của Indonesia không hề phù hợp với luật quốc tế, trong suốt các cuộc đàm phán UNCLOS vào những năm 1970 Indonesia đã vận động thành công để hệ thống của họ được chấp nhận cho tất cả các quốc gia bao gồm hoàn toàn các đảo. Ngày nay, các đường cơ sở của Indonesia đã được chấp nhận như một quy chuẩn. Tuy nhiên, Philippine từ lâu đã duy trì đường cơ sở mở rộng kế thừa từ thời thuộc địa của Tây Ban Nha và không đặt các đường cơ sở của họ phù hợp với UNCLOS cho đến tận tháng 3/2009 như một phần nỗ lực của họ nhằm đáp ứng hạn nộp hồ sơ cho Ủy ban thềm lục địa UNCLOS. Nói cách khác, để xác định thềm lục địa của mình, Philippine đầu tiên phải xác định các đường cơ sở để từ đó mới có thể vẽ ranh giới thềm lục địa.

Trong thời gian dẫn đến tuyên bố các đường cơ sở của Philippine, Trung Quốc được cho là đã gây áp lực đáng kể với các thành viên của Quốc hội Philippine. Áp lực này nhằm thuyết phục Quốc hội Philippine thông qua một dự luật đường cơ sở không bao gồm quần đảo Trường Sa bên trong các đường cơ sở của quần đảo Philippine. Điều Trung Quốc muốn hơn là Philippine vẽ các đường cơ sở xung quanh các đảo “chính” và xem Trường Sa mà Philippine yêu sách như một “quy chế đảo riêng biệt” bên ngoài quần đảo chính và do vậy bên ngoài cả các đường cơ sở quần đảo. Có lẽ, Trung Quốc đã tìm cách để tránh một tình huống mà trong đó Philippine tuyên bố quần đảo Trường Sa có chủ quyền lãnh thổ không thể tách rời khỏi Philippine khi vẽ các đường cơ sở bao gồm cả các đảo chính của Philippine và cả nhóm đảo Kalayaan (Trường Sa). Vì những lí do rõ ràng, Trung Quốc nhạy cảm với những khó khăn chính trị ngày càng gia tăng mà chính phủ Philippines sẽ phải đối mặt trong việc đàm phán về quyền lãnh thổ, việc mà luật pháp Philippine cho rằng “cốt lõi” hay không thể tách rời khỏi lãnh thổ của họ.

Cho dù vì áp lực của Trung Quốc hay một số lí do khác, sau một thời kì khó khăn chính trị, Quốc hội Philippine thực sự đã ban hành một dự luật các đường cơ sở trong đó loại yêu sách Kalayaan của họ trong quần đảo Trường Sa khỏi yêu sách quần đảo của họ và coi nhóm đảo đó như một tập hợp đảo riêng biệt. Điều này đã làm cho một số người ở Philippine tức giận rằng chính phủ của họ đã không chống lại nổi áp lực của Trung Quốc, sự oán giận mà đã đổ thêm dầu vào nỗi thất vọng mang tính chủ nghĩa dân tộc với sự can thiệp lúc đó của Trung Quốc trong những nỗ lực của Philippine nhằm thực hiện các cuộc điều tra về Bãi cỏ rong (A: Reed Bank, TQ: Liyue Tan, Lile Tan -nd).

Tóm lại, hệ thống các đường cơ sở được thiết lập theo UNCLOS đã không đủ để ngăn chặn ít nhất là hai nước mấu chốt ở biển Đông - Việt Nam và Trung Quốc - khỏi đưa ra những yêu sách biển quá mức, bất hợp pháp và đã không đủ để loại bỏ va chạm giữa các quốc gia. Tuy nhiên, Việt Nam, như sẽ chứng minh dưới đây, nhìn chung đã tuân thủ tốt hơn các quy tắc về phân định biên giới biển theo UNCLOS hơn là Trung Quốc.

Vùng đặc quyền kinh tế. Chuyển sang các nguồn tài nguyên ở biển Đông, có lẽ khuôn khổ UNCLOS quan trọng nhất được thiết lập nhằm đạt tới an ninh và ổn định hàng hải là quy chế của vùng đặc quyền kinh tế (EEZ). Vùng EEZ được thiết lập để giảm thiểu các tranh chấp đối với nguồn tài nguyên ở những dòng nước và đối với nguồn tài nguyên dưới đáy biển ra đến 200 hải lý tính từ đường cơ sở của quốc gia ven biển. UNCLOS cung cấp cho các quốc gia ven biển quy định quyền pháp lý để quản lý, bảo vệ và bảo tồn các nguồn tài nguyên sinh vật và phi sinh vật trong khu vực này. Việc quy chế EEZ thay thế quy chế thềm lục địa để quản lý đáy biển ra đến 200 hải lý là một thực tế thường bị xem nhẹ. Vì vậy, những điều khoản thềm lục địa UNCLOS chỉ có tầm quan trọng thực tiễn trong các trường hợp mà theo đó một quốc gia có thể đòi hỏi các quyền thềm lục địa vượt ngoài 200 hải lý - được biết như là thềm lục địa mở rộng.

UNCLOS khá rõ ràng rằng một tuyên bố quyền tài phán quốc gia đối với các nguồn tài nguyên phải được dựa trên địa lý của quốc gia ven biển. Biểu hiện của Trung Quốc về tuyên bố quyền tài phán hàng hải của họ trong biển Đông theo đường chữ U táo bạo mà không có bất cứ sự xem xét dù là trực tiếp hay thậm chí là gián tiếp nào về đặc điểm của hình thù địa lý duyên hải hay thậm chí là cả đường cơ sở của họ vì vậy là một sự vi phạm các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế và các qui chuẩn về cách hành xử được kỳ vọng của các quốc gia như đã nói rõ trong quy chế đường biên giới biển do UNCLOS lập ra. Tuyên bố hình chữ U của Trung Quốc do vậy là một trong hai nguồn chính của các vụ tranh chấp và va chạm giữa các quốc gia trên biển Đông - còn lại là các tranh chấp khác đang diễn ra về chủ quyền đối với các đảo biển đã được nói ở trên.

Ý nghĩa cụ thể của tuyên bố đường hình chữ U của Trung Quốc lảng tránh sự xác định rõ ràng, dường như đây là một phần chính sách nhà nước mà Trung Quốc lựa chọn liên quan đến yêu sách này.  Bốn sự giải thích thay thế khác hay có lẽ là trùng hợp nhau đã thể hiện ý nghĩa quyền tài phán của đường này: đối với một số người nó thể hiện chủ quyền hay quyền chủ quyền của Trung Quốc, đối với một số khác nó thể hiện một vùng với các quyền mang tính lịch sử quản lý khu vực, đối với một số khác nữa nó là một sự thể hiện các lợi ích về an ninh, và cuối cùng đối với một số người nó là một vùng mà trong đó Trung Quốc sở hữu tất cả các đảo và bất kỳ quyền về không gian vùng nước nào mà các đảo này có thể yêu sách. Chỉ có lời giải thích cuối cùng có giá trị theo UNCLOS, và thậm chí điều đó còn bị suy yếu bởi tuyên bố của Trung Quốc trong luật trong nước của Trung Quốc rằng họ có thêm các quyền lịch sử lâu đời đối với các vùng nước mà vượt ra ngoài những gì mà luật pháp quốc tế hiện nay công nhận. Thêm vào đó, Trung Quốc tuyên bố trong một bức thư gửi cho Uỷ ban Liên Hợp Quốc về Giới hạn của thềm lục địa rằng quần đảo Trường Sa “hoàn toàn có quyền có lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa.”[9] Tuyên bố về các quyền đối với EEZ và thềm lục địa đối với Trường Sa cũng đã vi phạm luật quốc tế ở chỗ có rất ít các đảo nhỏ, bãi ngầm và bãi cát nào mà tạo nên quần đảo Trường Sa có quyền hưởng các vùng đó do chúng không thể hỗ trợ việc sinh sống của người dân bản địa hoặc duy trì hoạt động kinh tế của chính mình.

Tuyên bố hình chữ U của Trung Quốc - một trong hai nguồn chính của các vụ tranh chấp và va chạm giữa các quốc gia trên biển Đông

Mặt khác, tận dụng quá trình mà theo đó các quốc gia có thể tạo ra những tuyên bố thềm lục địa vượt quá 200 hải lý, Việt Nam và Malaysia đã tuyên bố công khai vùng đặc quyền kinh tế của họ trên biển Đông cộng thêm việc mở rộng các quyền thềm lục địa mà hoàn toàn tuân thủ các điều khoản của UNCLOS, tất nhiên ngoại trừ việc vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam bắt đầu quá xa ra biển do các đường cơ sở không phù hợp của nước này. Philippine và Indonesia mỗi bên cũng duy trì một tuyên bố vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý thích hợp xung quanh các đường cơ sở quần đảo của họ, được xác định theo địa lý. Không giống như Trung Quốc, bốn nước yêu sách chủ quyền này đối với một số hoặc tất cả các đảo Trường Sa đã hoàn toàn kiềm chế không tuyên bố vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa mở rộng mà các điểm đảo này không được quyền hưởng.

Vì vậy, rõ ràng là ngoài cuộc đấu tranh chủ quyền trên các đảo, va chạm liên quan đến các quyền đánh bắt cá và cạnh tranh đối với nguồn tài nguyên hydrocarbon cần bổ sung thêm một cuộc đấu tranh về khuôn khổ qui phạm pháp luật mà theo đó các tranh chấp sẽ được giải quyết. Liệu UNCLOS, với tư cách là một quy chế quốc tế được chấp nhận rộng rãi và được phát triển để gìn giữ sự ổn định hàng hải trong cuộc cạnh tranh các nguồn tài nguyên biển có nên điều phối việc giải quyết các tranh chấp hay không? Hay cơ sở giải quyết tranh chấp nên là quan điểm của Trung Quốc về những quyền lợi lịch sử và sức mạnh đang ngày càng gia tăng của họ để thực thi chúng? Tuy nhiên tại thời điểm này, các điều khoản phân bổ nguồn tài nguyên của UNCLOS như một quy chế đảm bảo an ninh hàng hải và sự ổn định đã không thành công ở biển Đông.

Các quyền hàng hải. Quy chế thứ ba của UNCLOS mang bình luận ngắn gọn, vì nó liên quan đến phạm trù của các cuộc tranh chấp bao hàm việc kiểm soát đối với các vùng nước ở biển Đông. Trong suốt quá trình các cuộc đàm phán dẫn đến bản Công ước cuối cùng, đã có bất đồng giữa các quyền lợi hợp pháp của các quốc gia ven biển trong việc bảo vệ và phát triển bền vững các nguồn tài nguyên sinh vật và phi sinh vật ngoài khơi và quyền tự do hàng hải ở những vùng biển sâu khác mà cho phép các nước thực hiện tự do thương mại và để bảo vệ lợi ích an ninh của họ. Chế độ vùng đặc quyền kinh tế đã được soạn thảo như một thoả hiệp được cân bằng một cách thận trọng giữa hai lợi ích hợp pháp. Nó bảo vệ các quyền đối với các nguồn tài nguyên bằng cách cho phép các quốc gia có chủ quyền đặc quyền và quyền tài phán đủ để họ quản lý nhưng không phải là chủ quyền hoàn toàn, nghĩa là cho phép các quốc gia ven biển can thiệp vào quyền tự do hàng hải của các nước khác khi họ dùng sức mạnh hải quân để theo đuổi các lợi ích an ninh của mình. Bởi vậy, sự tự do hàng hải, tự do hàng không và một số hoạt động hợp pháp lâu đời khác trên vùng biển quốc tế, bao gồm cả tự do quân sự, đã được duy trì một cách cụ thể bởi tất cả các quốc gia trong khuôn khổ quyền tài phán của UNCLOS tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Việc Mỹ và Trung Quốc đấu tranh về sự cân bằng này là sự phản ánh thất bại của UNCLOS trong việc đáp ứng đầy đủ tiềm năng của nó như một cơ chế ổn định hàng hải liên quan đến việc cân bằng quyền lợi của các quốc gia ven biển và tự do quốc tế trong vùng đặc quyền kinh tế.

Từ những phân tích trên đây có thể thấy rõ rằng chưa có được sự tuân thủ ở cấp độ toàn cầu về bộ quy tắc của UNCLOS trong việc vẽ các đường biên giới phân định biển mà phân bổ các quyền lợi tài nguyên cũng như tự do hàng hải cho mục đích quân sự. Việc ký kết các hiệp định và công ước không đồng nghĩa với việc tuân thủ các quy định và các chuẩn mực mà chúng đề ra. Cần phải có những nỗ lực kiên trì để tăng cường quy chế UNCLOS và khuyến khích việc áp dụng nó trên toàn cầu.

Tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên biển Đông

Bởi vì khuôn khổ qui chuẩn do UNCLOS đưa ra không đủ để xây dựng sự ổn định hàng hải trong các mối quan hệ ở biển Đông, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã có những bước cố gắng đưa ra một khuôn khổ chính trị cho sự ổn định. Trong suốt những năm cuối thập kỷ 1990 và những năm bắt đầu thiên niên kỷ mới, ASEAN đã tìm cách để giảm thiểu căng thẳng và thúc đẩy một số nguyên tắc thành lập thông qua một sáng kiến của Indonesia. Cụ thể, ASEAN đã tìm cách “thúc đẩy hoà bình và ổn định khu vực thông qua tuân thủ công lý và quy định của pháp luật trong các mối quan hệ giữa các quốc gia trong khu vực này... và đẩy nhanh sự tăng trưởng kinh tế của khu vực.”[10] Nhu cầu về một quá trình như vậy là rõ ràng sau hai thập kỉ va chạm và thậm chí xung đột trên biển Đông, đáng chú ý nhất là cuộc chiến giữa Trung Quốc và Việt Nam Cộng hoà ở quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974, sự kiện bãi đá ngầm Chữ Thập (A: Fiery Cross Reef, TQ: Yungshu Jiao -nd) giữa Trung Quốc và Việt Nam năm 1988 và cuối cùng là sự kiện Đá Vành Khăn (A: Mischief, TQ: Meiji Jiao -nd) giữa Trung Quốc và Philippine năm 1995. Cũng vào năm 1995 này, Việt Nam đã ký Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác và sau đó trở thành một thành viên của ASEAN, do đó khối Đông Nam Á thống nhất về mặt chính trị đối lập với những gì được nhận thức rộng rãi ở Đông Nam Á như là cách cư xử mang tính phá hoại đầy nguy hiểm của Trung Quốc. Trung Quốc thoái lui vào năm 1995 và 1996 sau khi nhận thấy bản thân mình không giành được cái nhìn thiện cảm của một nhóm đoàn kết hiện tại của các quốc gia Đông Nam Á và sau khi Trung Quốc đã quá thất vọng về giải pháp cho cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan với Mỹ. Hoàn cảnh đã chín muồi cho tất cả các bên tìm đến một cơ chế mang lại sự ổn định cho biển Đông.

Phải mất đến gần 7 năm, nhưng trong năm 2002 các chính phủ của các nước thành viên ASEAN và Trung Quốc đã tham gia vào Tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên biển Đông (DOC). Thoả thuận này có năm tuyên bố cơ bản:

Tuyên bố khẳng định lại cam kết của các bên đối với luật quốc tế, bao gồm cả UNCLOS; cam kết các bên sẽ tìm cách nhằm xây dựng sự tin cậy và lòng tin giữa họ, dựa trên sự bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau; cam kết các bên sẽ tôn trọng quyền tự do hàng hải và hàng không trên biển Đông; cam kết các bên sẽ giải quyết các tranh chấp lãnh thổ và quyền tài phán mà không đe doạ hay sử dụng vũ lực; và cam kết các bên sẽ kiềm chế không đưa người ra sinh sống trên những đảo hiện không có người cư trú.

Mỗi tuyên bố sẽ được xem xét để quyết định xem khuôn khổ chính trị này có đủ để mang lại sự ổn định ở mức độ nào.

UNCLOS. Như đã chứng minh ở trên, việc cam kết tuân thủ các điều khoản và quy phạm pháp luật trong UNCLOS đã minh chứng một sự thất bại ở cả khía cạnh pháp lý lẫn chính trị vì tuyên bố của Trung Quốc vê quyền tài phán ở biển Đông dựa trên khái niệm của các quyền lợi mang tính lịch sử hơn là dựa trên khuôn khổ địa lý được đưa ra bởi Công ước. ASEAN đã không thực hiện được bất cứ tiến trình thêm nào thông qua những phương cách chính trị để thay đổi cách cư xử của Trung Quốc về điểm này so với Mỹ trong việc khuyến khích tuân thủ quy chế thẩm quyền trên biển.

Nói cách khác, cần lưu ý rằng mỗi hành động quốc gia của một nước ASEAN về lĩnh vực hàng hải trong thập kỷ qua nhìn chung là phù hợp với các điều khoản của UNCLOS. Philippine đặc biệt đã từ bỏ các tuyên bố lịch sử của mình về vấn đề vùng nước quần đảo của họ để ủng hộ hệ thống dựa trên địa lý mà UNCLOS quy định. Điều này có thể ít nhất là một phần do mong muốn liên kết các nguyên tắc và quy chuẩn trong ASEAN để mang lại lợi ích từ một sự thống nhất chính trị mà một sự liên kết như thế có thể thúc đẩy. Như vậy, ít nhất liên quan đến các quyết định của Philippine, bản DOC đã thành công trong việc thúc đẩy các quy phạm pháp luật của UNCLOS như một cơ sở để tạo nên các tuyên bố có thẩm quyền, hơn là những tuyên bố chỉ mang tính lịch sử.

Tự do hàng hải. Về cam kết của DOC nhằm nêu cao các quyền tự do hàng hải quốc tế trên biển Đông có một động lực ngầm khá thú vị ở khu vực Đông Nam Á. Ngay cả khi Philippine, Việt Nam, Singapore và các nước khác tìm cách để thu hút sức mạnh hải quân Mỹ gần hơn đến khu vực này, có một xu hướng đáng chú ý nhằm tính toán lại sự cân bằng về quyền và lợi ích của các quốc gia ven biển trong khu vực đặc quyền kinh tế theo các cách thức mà đòi hỏi phải có sự cho phép của các quốc gia ven biển trước khi một thế lực bên ngoài nào có có thể tiến hành việc tập trận hay các hoạt động khác trong vùng biển thẩm quyền tài phán của họ. Trong khi điều này là mối quan ngại đáng kể tới Mỹ - vì nó làm suy yếu nguồn cội chính của sức mạnh khu vực của Mỹ - điều này dường như nhìn chung không gây quan ngại lắm ở nhiều nước Đông Nam Á. Có thể thấy điều này qua tuyên bố về cách hiểu đi kèm với thông báo gia nhập UNCLOS của Thái Lan, trong đó nêu:

Chính phủ vương quốc Thái Lan hiểu rằng, trong vùng đặc quyền kinh tế, việc hưởng tự do hàng hải theo các quy định có liên quan đến Công ước không bao gồm bất cứ sự sử dụng không hoà bình nào mà không có sự đồng ý của quốc gia ven biển, cụ thể là những hoạt động tập trận quân sự hay những hoạt động khác mà có thể ảnh hưởng đến quyền lợi hoặc lợi ích của quốc gia trên biển....[11]

Chỉ có Thái Lan cùng với Malaysia và Trung Quốc là các quốc gia khu vực có tuyên bố công khai như vậy, nhưng các cuộc đối thoại riêng tư chỉ ra có thể có thậm chí nhiều hơn sự đồng thuận chung giữa các nước Đông Nam Á về vấn đề này. Điều rõ ràng từ các cuộc đối thoại và từ cách cư xử của các quốc gia Đông Nam Á là đối tượng của mối quan tâm hiện tại không phải là sức mạnh hải quân của Mỹ, mà là khả năng quân sự đang lớn mạnh của Trung Quốc. Nói theo cách khác, nếu xu hướng hiện nay dẫn đến khu vực ngày càng hạn chế các hoạt động hải quân trong khi Mỹ tiếp tục thực hiện tự do hàng hải trên toàn biển Đông vì tất cả những mục tiêu quân sự - trừ trường hợp gặp xích mích với Trung Quốc - trong các vùng biển tranh chấp trên biển Đông thì Trung Quốc có thể bắt đầu phải nếm cách xử sự tương tự từ các láng giềng của mình theo cách mà nước này đã đối xử với Hải quân Hoa Kỳ.

Các biện pháp xây dựng lòng tin. Cam kết trong DOC nhằm thực hiện các biện pháp xây dựng lòng tin có thể được ghi nhận một trong những thành công của nó đó là Hiệp định phân định lãnh thổ trên biển, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ [Hiệp định Vịnh Bắc bộ] giữa Việt Nam và Trung Quốc mà có hiệu lực vào tháng 6 năm 2004. Hiệp định này phân định biên giới trên biển giữa Trung Quốc và Việt Nam trong Vịnh Bắc Bộ mà cho đến nay là biên giới duy nhất trên biển được phân định của Trung Quốc và thiết lập một khu đánh bắt cá chung theo một thoả thuận đi kèm. Khu đánh bắt cá chung này bao gồm hầu hết các khu đánh bắt đang hoạt động trong vùng và kéo dài đến tận năm 2019, và sau đó sử phần lớn không gian này sẽ quay về dưới sự kiếm soát của Việt Nam.[12] Hiệp định đã quy định các đội tuần tra đánh bắt cá chung, đôi khi được thực hiện, nhưng có lẽ không có sự nhiệt tình mấy từ cả hai bên.

Sự đệ trình chung lên Uỷ ban ranh giới thềm lục địa về các đường biên giới biển dự kiến của Việt Nam và Malaysia trên biển Đông cũng cần được ghi nhận như là một dấu hiệu của việc xây dựng lòng tin song phương giữa hai quốc gia này. Việc Philippine và Brunei không thể tham gia với hai nước này có thể phản ánh mức độ phát triển của luật biển của họ. Một khi tiến trình bổ sung hoàn tất quy trình làm luật trong nước, hợp tác quốc tế bổ sung giữa bốn quốc gia ASEAN này trong đệ trình quốc tế của họ có thể trở nên rõ ràng. Đương nhiên điều này sẽ phản ánh cách thức đồng thuận mà ASEAN ưa thích.  Điều đó cũng có thể mang lại sức nặng trong đàm phán với Trung Quốc vì Trung Quốc rõ ràng sẽ trở thành nước duy nhất còn lại dựa vào các tuyên bố của mình trên cơ sở khác với khuôn khổ quy định đã được thống nhất của UNCLOS. Như vậy, sáng kiến về tiến trình xây dựng lòng tin đa phương mà đã đem đến một hiệp định ranh giới chung giữa các bên tranh chấp trong ASEAN trên cơ sở của các điều khoản trong UNCLOS cần được khuyến khích như một cơ chế để khích lệ Trung Quốc tiến hành tương tự như vậy.

Tất nhiên, Trung Quốc khăng khăng đòi các cuộc đàm phán song phương giữa họ và các quốc gia tranh chấp khác. Có lẽ phương án ưa thích này của Trung Quốc có thể được tôn trọng nếu các cuộc đàm phán song phương được tiến hành sau khi hoàn thành một tiến trình đàm phán đa phương do các nước tranh chấp còn lại tiến hành là Việt Nam, Malaysia, Philippine, Brunei và có lẽ cả Indonesia để đối phó với khu vực phía đông bắc đảo Natuna - nhằm đi đến một sự hiểu biết chung về ranh giới biển Đông giữa họ với nhau. Một trong những sự phức tạp hiện làm các cuộc đàm phán song phương trở nên quá khó khăn đó là thoả thuận của một bên tranh chấp với Trung Quốc ảnh hưởng đến khả năng đàm phán của nước này với tất cả các bên tranh chấp khác. Một tiến trình hai bước dựa trên thoả thuận cấp cao giữa các nước ASEAN, theo sau đó là các cuộc đàm phán song phương với Trung Quốc có thể dẫn đến việc sẽ đạt được một khuôn khổ khu vực mở rộng.

Ngăn chặn việc kiểm soát các đảo và kiềm chế vũ lực. Một trong những khía cạnh hiệu quả nhất của DOC là ngăn chặn sự thay đổi hiện trạng chiếm giữ trong suốt 16 năm, kể từ vụ đảo Vành Khăn (A: Mischief Reef, TQ: Meiji Jiao- nd)  thúc giục các bên phải nhanh chóng thay đổi tiến trình. Các cột mốc được Trung Quốc cắm trên Dải Amy Douglas và bãi đá ngầm Boxall (TQ: Niuchelun- nd) quá gây tranh cãi vì nó báo hiệu một sự đổ vỡ rõ ràng đối với chuẩn mực hành vi mang tính ổn định và cũng là quan trọng nhất này. Các bên cũng hành động với sự kiềm chế quân sự vì thoả thuận không đe doạ hoặc sử dụng vũ lực dường như đã bao hàm một sự hiểu biết rằng khu vực này sẽ không bị quân sự hoá. Tuy nhiên, ngay cả thoả thuận đó, dường như đang bị phá vỡ trong bối cảnh căng thẳng hiện tại. Mặc dù hầu hết người Trung Quốc nhìn nhận đất nước họ như nước duy nhất hành động kiềm chế trong khi các bên tranh chấp khác đoạt mất các nguồn tài nguyên nhưng sự thật có nhiều sắc thái khác. Trung Quốc có thể không quân sự hoá các tranh chấp ở biển Đông, nhưng chắc chắn họ sẽ tận dụng những tiềm lực hàng hải quốc gia to lớn khác để gây ảnh hưởng ở khu vực, bao gồm các tàu của Bộ chỉ huy thực thi luật đánh cá và Dịch vụ thăm dò biển của họ.

Kết luận.

Như đã từng thực hiện trong những năm 1995 và 1996, Indonesia với tư cách Chủ tịch ASEAN trong năm 2011 đã tích cực tìm kiếm để mang lại cho cách tiếp cận hoà bình hơn trong vấn đề giải quyết tranh chấp, bao gồm việc tài trợ cho các cuộc thảo luận và đối thoại. Mỹ đã kêu gọi một cách công khai các bên cần đạt được tiến triển về một thoả thuận mang tính thực thi cho DOC hay cho một Bộ ứng xử COC đầy đủ, chính thức. Philippine đề xuất một vùng tự do và hợp tác. Không thiếu những nguyện vọng tốt nhưng dường như có một sự thiếu vắng ý chí chính trị nhằm tìm kiếm những thoả hiệp và tất cả các bên đều đang sử dụng sức mạnh hải quân đã gửi đi các tín hiệu về sự quyết tâm của họ. Nếu các bên muốn ngăn chặn xung đột, câu trả lời không nằm trong các kiến nghị một mất - một còn về chủ quyền và quyền tài phán mà nằm ở việc kiếm tìm những câu trả lời trong một số ví dụ của các khuôn khổ các bên cùng có lợi mà sẽ khu vực hoá lãnh thổ và vùng nước trên biển Đông, cho phép phát triển chung các nguồn tài nguyên sinh vật và phi sinh vật, và tạo điều kiện cho việc thực thi chung các điều luật. Nếu không tình hình sẽ lại giống như từ trước đến nay – kẻ mạnh sẽ làm những điều mà họ có thể và kẻ yếu sẽ làm những điều mà họ phải làm.

GS. Peter A.Dutton

Hồng Nhung (dịch)

Đõ Thủy (hiệu đính)

Bài tham luận trình bày tại Hội thảo “Biển Đông: Hướng tới một khu vực Hòa bình, Hợp tác và Tiến bộ - The South China Sea: Toward a Region of Peace, Cooperation, and Progress” tổ chức tại Manila, Philippines, 5 – 6 tháng 7 năm 2011.

Bản gốc tiếng Anh “An Assessment of the Effectiveness of Current Maritime Security Frameworks and Mechanisms in the South China Sea



[1]Xem ,v.d., Joseph Y.S.Cheng, “Sino-Vietnamese Relations in the early twenty-first century,” Asian Survey, Vol.51, No.2, March/April 2011, tr.379-405

[2] Xem,v.d., Lyle J.Goldstein, “Resetting the US-China Security Relationship,” Survival, Vol.53, No.2, April-May 2011, tr.89-116

[3] Robert Kagan, The Perils of Wishful Thinking, The American Interest On-line, Junuary-February 2010, có tại http://www.the-american-interest.com/article.cfm?piece=759

[4] Peter Dutton, “Three Disputes and Three Objectives: China and the South China Sea,” Naval War College Review, Autumn 2011 (sắp xuất bản)

[5] “Vietnam Reassearts Sovereignty Over Archipelagoes,” Thanh Nien News, May 7, 2011; “China Reassearts Sovergnty Over Spratly Islands,” Jakarta Globe, March 8, 2011. Gần đây hầu như không có sự tham gia của Đài Loan vào tiến trình trên biển Đông, mặc dù những tuyên bố của họ khá trùng hợp với các tuyên bố của đại lục.

[6] Thư gửi từ Phái đoàn đại diện thường trực của nước Cộng hoà Philippine đến Tổng thư kí Liên Hợp Quốc, 11-00494, No.000228, May 7,2011; “PH Protests China’s 9-Dash Line Claim Over Spratlys,” VERA Files, April 13,2011.

[7] “Manila’s Claim in Spratlys Within West Philippine Sea,” Inquirer News, June 6, 2011.

[8]“Phl Removes Foreign Markers in Spratlys,” Philippine Star, June 16, 2011

[9] Thư từ Phái đoàn đại diện thường trực nước Cộng hoà nhân dân Trung Quốc tới Tổng thư kí Liên Hợp Quốc, 14 April 2011

[10]  Tuyên bố cách ứng xử của các bên trên biển Đông, có tại http://www.aseansec.org/13163.htm

[11] Tuyên bố của Vương quốc Thái Lan khi phê chuẩn cCông ước Liên Hợp Quốc về Luật biển, 25/05/2011

[12] Zou Keyuan, “The Sino-Vietnamese Agreement on Maritime Boundary Delimitation in the Gulf of  Tonkin,” Ocean Development and International Law, Vol 36 (2005), tr. 13-24 2005

 

Bàn về những sự việc căng thẳng trên Biển Đông thời gian gần đây, học giả Aileen S.P.Baviera vừa có bài viết đăng trên RSIS Commentaries No. 91/2011 ngày 14/6, nhan đề China and the South China Sea: Time for Code of Conduct?; hoặc trên The Manila Times.Tác giả đã nêu diễn biến những vụ việc đáng quan ngại xảy ra trên Biển Đông xuất phát từ động thái của Trung Quốc, khẳng định bản chất vô lý của Trung Quốc trên Biển Đông, nhấn mạnh yêu cầu cần có COC trong bối cảnh hiện nay và kiến nghị thái độ của các bên liên quan nhằm hướng tới mục tiêu giải quyết hòa bình tranh chấp trên Biển Đông. 

Trong những tháng qua, nhiều vụ việc xảy ra trên Biển Đông đã làm rõ hơn thực tế có vẻ như là Trung Quốc ngày càng sẵn sàng sử dụng sức mạnh quân sự để gây sức ép và ảnh hưởng đối với các đối thủ có tuyên bố chủ quyền trên vùng biển này, đặc biệt là Philíppin và Việt Nam. 

Hồi tháng Hai, giới truyền thông đăng tải sự cố ngư dân Philíppin bị tàu Trung Quốc đe dọa và tấn công. Ngày 2/3/2011, hai tàu hải giám Trung Quốc tiếp cận cản trở hoạt động của tàu thăm dò dầu khí MV Veritas Voyager của Philíppin và đòi tàu này ngừng hoạt động tại khu vực bãi Cỏ Rong (Reed Bank) – nơi họ nói là thuộc quyền chủ quyền của Bắc Kinh. 

Tiếp đó, Trung Quốc thông báo kế hoạch thả neo dàn khoan dầu khí tại vùng quần đảo Trường Sa. Cuối tháng Năm, hải quân Philíppin phát hiện nhiều cột mốc và một phao nổi tại vùng bãi cạn Amy Douglas Bank được cho là do tàu của Trung Quốc cắm, cho thấy dấu hiệu của các kế hoạch xây dựng công trình trên biển có thể được triển khai. Trong khi đó, một tàu hải giám của Trung Quốc lại tiếp cận một tàu thăm dò dầu khí của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam (Petrovietnam), cắt phá dây cáp chuyên dụng do tàu này thả xuống vùng biển mà Hà Nội tuyên bố là thuộc vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam. Vụ việc đã làm dấy lên nhiều cuộc biểu tình phản đối ở Hà Nội. 

Đòi hỏi về chủ quyền không phải là điều gì mới mẻ, bởi đó là tranh chấp lâu dài, nơi mà một bên tranh chấp hoặc một nước nào đó có hành động gì thì các bên khác luôn có phản ứng cứng rắn. 

Nhưng điều mới mẻ chính là hành động của Trung Quốc, giờ đây lại được hỗ trợ bởi khả năng hải quân hiện đại hơn, cũng như sự thể hiện một tham vọng chủ quyền lớn hơn và tâm lý dân tộc kiên quyết hơn, điều đang được minh chứng là vấn đề gây quan ngại lớn nhất (cho ổn định khu vực). 

Trò chơi phỏng đoán cứ lặp đi lặp lại là liệu những động thái đòi hỏi chủ quyền lãnh hải gần đây được triển khai với sự nhận thức đầy đủ và ủng hộ hoàn toàn của chính quyền trung ương Bắc Kinh, hay như Stein Tonneson và nhiều ý kiến khác lập luận rằng điều đó không phản ánh một chiến lược mới của Trung Quốc, mà là “hàng loạt động thái do tham mưu sai, không được điều phối tốt và đôi khi là ngạo mạn” mà các cơ quan, bộ phận cấp dưới ở Trung Quốc tiến hành khi họ thực thi trách nhiệm của mình. Song rốt cuộc thì không có cách giải thích nào có thể mang lại sự an ủi cho các nước láng giềng của Trung Quốc. 

Thực tế, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã tuyên bố sự vi phạm chủ quyền Philíppin như một số ý kiến nêu lên là “những hoạt động nghiên cứu hải dương bình thương” và sự cố với Việt Nam cũng chỉ là “những hoạt động giám sát và thực thi pháp luật về hải dương bình thường” trong “các vùng lãnh hải của Trung Quốc”. 

Thực vậy, tờ “China Daily” hồi cuối năm ngoái từng ra thông báo rằng cơ quan giám sát hải dương của Trung Quốc (CMS) – tức Cục Hải giám đã được tăng cường thêm hơn 1.000 nhân viên, 36 tàu và nhiều trang thiết bị mới nhằm tăng cường “khả năng hoạt động”. 

Được thành lập năm 1998, CMS tuyên bố đến hết năm 2005 cơ quan này có 91 tàu tuần tra, và đến cuối năm 2010 tăng lên 300 tàu và 10 máy bay. 
Viễn cảnh về sự hiện diện to lớn đó của Trung Quốc – dù là hải quân, bán quân sự hay dân sự - tại các vùng biển tranh chấp cứ như là họ được toàn thế giới thừa nhận là thực thi pháp luật Trung Quốc một cách “bình thường” trên vùng lãnh hải “không thể tranh cãi” của họ, đều không phải là điều mà các quốc gia láng giềng có thể đón nhận. 

Và nếu tàu bè, con người và tài sản của các nước láng giềng và các công ty nước ngoài tham gia hoạt động khai thác tài nguyên có thể đều là mục tiêu đe dọa (của Trung Quốc), thì tại sao những tàu thuyền thương mại khác đi qua các tuyến đường biển liên quan lại không phải là những đối tượng bị đe dọa trong tương lai? 

Nếu những xu thế hiện tại được tiếp tục, thì các hứa hẹn tôn trọng tự do hàng hải mà Bắc Kinh vẫn thường tuyên bố sẽ là giả dối. 

Thời điểm hiện tại, Trung Quốc tỏ ra là nước có hành động phản đối mạnh mẽ nhất đối với các hoạt động thăm dò dầu khí đơn phương. Trước khi xảy ra những vụ việc gần đây nhất, Trung Quốc đã ngăn cản không cho các công ty dầu khí quốc tế như BP và ExxonMobil triển khai hoạt động thăm dò tại vùng biển mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền, cảnh báo rằng làm như vậy sẽ ảnh hưởng đến các dự án của chính các công ty này tại Trung Quốc. 

Các quan chức và học giả Trung Quốc cũng đang lớn tiếng nói về việc cùng phát triển, có thể điều đó cho thấy lý do đằng sau sức ép mạnh mẽ là Bắc Kinh muốn “đánh cùi chỏ” để ép Việt Nam và Philíppin quay lại đường hướng cùng khai thác, từ bỏ hoạt động thăm dò đơn phương, theo tinh thần hợp tác ba bên ban đầu về thăm dò địa chấn trong vùng đặc quyền kinh tế của Philíppin. (Dự án nghiên cứu ba bên này rơi vào tình trạng mập mờ, không có nội dung dứt khoát cuối cùng vào năm 2008 sau khi bị cản trở bởi các vấn đề chính trị tại Philíppin – tác giả). 

Và nếu như vậy, đó có thể là một niềm tin khác thường, nhưng là một điều mà cả Việt Nam và Phiplíppin cần xem xét cẩn trọng xét trên đối sách cân bằng các mục tiêu về an ninh và kinh tế của mỗi nước, trong khi vẫn thúc đẩy lợi ích quốc gia và ổn định khu vực. 

Thậm chí như vậy, thì công luận đối lập ở Philíppin cũng có thể sẽ ngăn cản bất cứ thỏa thuận nào liên quan đến nội dung cùng thăm dò tài nguyên tại những vùng nằm gần đất nước này nhất. 

Trước những đám mây đen căng thẳng đang tích tụ như vậy, điều cần thiết là các bên liên quan phải nghiêm túc theo đuổi các cuộc đàm phán không chỉ về các hướng dẫn triển khai Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) năm 2002, trong khi DOC tỏ ra không đủ hiệu lực giải quyết những sự kiện phát sinh. Cái mà chúng ta cần là Bộ qui tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC) – văn bản chuyên biệt cho việc phòng ngừa xung đột vũ trang trên những vùng biển tranh chấp. 

Lợi ích của Trung Quốc cũng như của mỗi nước khác trên Biển Đông sẽ cần được giải quyết thông qua đối thoại và đàm phán. Tuy nhiên, Trung Quốc phải chấm dứt thái độ hăm họa, nếu không phải là sử dụng vũ lực trên thực địa, với mục đích gây sức ép buộc các bên tranh chấp phải thừa nhận tuyên bố chủ quyền của Bắc Kinh. 

Trung Quốc phải thể hiện trách nhiệm lớn trong việc hạ nhiệt căng thẳng quân sự và khôi phục bầu không khí mang tính xây dựng cho đối thoại. 

Mặt khác, Việt Nam, Philíppin và cả khối ASEAN sẽ tích cực đưa ra những đồng thuận của mình về vấn đề Biển Đông và làm cho Trung Quốc hiểu rõ giới hạn của cách tiếp cận đa phương đã đề xuất nhằm giải quyết tranh chấp, cũng như mong muốn đặt ra đối với COC.

Nghiên cứu Biển Đông (giới thiệu)

Aileen S.P.Baviera - Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam thuộc Học viện Công nghệ Nanyang (Xingapo), đồng thời là giáo sư tại Trung tâm châu Á - Đại học Philíppin,

 

Mạng bình luận trường RSIS Singapore đăng bài phân tích “Islands or Rocks? Evolving Dispute in South China Sea” của Robert Beckman, Giám đốc Trung tâm Luật Quốc tế, giáo sư tại Khoa Luật Đại học Quốc gia Singapore. Tác giả cho rằng cuộc tranh cãi về quyền khai thác tài nguyên quanh quần đảo Trường Sa đã biến thành một cuộc tranh cãi về mặt quy chế pháp lý của các đảo, đá.

 

Chủ quyền, toàn bộ hoặc một phần, đối với quần đảo Trường Sa trên biển Đông là đối tượng tranh chấp giữa Trung Quốc, Ma-lai-xia, Philíppin, Việt Nam, Brunây và Đài Loan. Công hàm ngoại giao tháng 4/2011 do Philíppin và Trung Quốc nộp lên Tổng Thư ký Liên hợp quốc đã đặt nền móng cho một vụ tranh chấp giữa một số nước thuộc ASEAN (Malaixia, Philíppin và Việt Nam) và Trung Quốc, liên quan đến chủ quyền pháp lý đối với các bãi đá tạo thành quần đảo Trường Sa.

Vấn đề quan trọng nhất được đưa ra là: Nước nào có quyền thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên trong và dưới các vùng biển xung quanh quần đảo này? Mặc dù đối tượng tranh chấp cuối cùng là tài nguyên thiên nhiên, nhưng cuộc tranh chấp này được dựng lên như một cuộc tranh cãi pháp lý về nhận thức đối với Điều 121 Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS).

Các định nghĩa pháp lý

Điều 121 quy định rằng một hòn đảo – được định nghĩa là "một khu vực đất tự nhiên nhô lên trên mặt nước khi thủy triều lên" - về nguyên tắc có thể tạo ra các vùng lãnh hải giống như đất liền. Chúng bao gồm vùng lãnh hải trong bán kính 12 hải lý, vùng EEZ trong bán kính 200 hải lý và một thềm lục địa. Một số cấu thành của quần đảo Trường Sa do các nước đang chiếm đóng không đáp ứng được định nghĩa của một hòn đảo. Chúng hoặc bị ngập dưới nước khi thủy triều lên, hoặc nhô trên mặt nước khi thủy triều lên là nhờ được cải tạo hoặc do các cấu trúc nhân tạo. Các bãi đá này thậm chí không được hưởng vùng lãnh hải 12 hải lý.

Đoạn 3 của Điều 121 trong UNCLOS đã tạo ra một ngoại lệ cho một số loại đảo bằng cách nói rằng "các bãi đá mà không thể tự nó duy trì sự sinh sống hoặc đời sống kinh tế của con người" sẽ không có vùng EEZ hay thềm lục địa. Nhiều bãi đá trong quần đảo Trường Sa có thể nằm trong nhóm này và do đó chỉ được vùng lãnh hải 12 hải lý. 

Lý lẽ của Ma-lai-xia, Việt Nam và Trung Quốc 

Công hàm của Philíppin gửi lên Tổng Thư ký Liên hợp quốc hôm 5/4/2011 và của Trung Quốc hôm 14/4/2011 là những văn bản mới nhất trong một loạt công hàm liên quan đến Thỏa thuận chung giữa Malaixia và Việt Nam được hai nước trình lên Ủy ban ranh giới Thềm lục địa của Liên hợp quốc vào ngày 6/5/2009. Trong thỏa thuận chung này, Malaixia và Việt Nam tuyên bố chủ quyền đối với một thềm lục địa vượt ra ngoài giới hạn 200 hải lý của vùng EEZ mà họ tuyên bố trên biển Đông.

Ngày 7/5/2009, Trung Quốc phản ứng bằng cách gửi công hàm nói rằng nước này có chủ quyền không thể tranh cãi đối với quần đảo Trường Sa và các vùng biển liền kề. Trung Quốc cũng khẳng định chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng biển “liên quan” trên Biển Đông, kèm theo là bản đồ đường “lưỡi bò” 9 đoạn do nước này đưa ra.

Phản ứng của Philíppin và sự đáp trả của Trung Quốc

Philíppin phản ứng bằng cách gửi công hàm ngoại giao vào ngày 4/4/2011, trong đó nói rằng UNCLOS không cung cấp cơ sở pháp lý cho bất cứ sự đòi hỏi nào về chủ quyền và quyền tài phán trên vùng biển "liên quan" (và các đáy biển và lòng đất) nằm trong đường “9 đoạn” phía ngoài các vùng biển được coi là "liền kề" với các hòn đảo theo định nghĩa tại Điều 121 của UNCLOS. Mặc dù ngôn ngữ thể hiện trong công hàm không rõ ràng, nhưng dường như nó hàm ý Trung Quốc không có cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền và quyền tài phán đối với bất kỳ nguồn tài nguyên nào nằm trong vùng “lưỡi bò” và nằm ngoài vùng biển liền kề với các đảo của nước này.

Ngày 14/4/2011, phản ứng với công hàm của Philíppin, Trung Quốc nhắc lại quan điểm lâu nay là nước này có chủ quyền không thể tranh cãi đối với toàn bộ quần đảo Trường Sa và vùng biển liền kề. Trung Quốc cũng khẳng định chủ quyền và quyền tài phán trên các vùng nước liên quan, cũng như đáy biển và lòng đất phía dưới. Tuy nhiên, nước này không đề cập đến bản đồ “9 đoạn”, và tuyên bố (lần đầu tiên) rằng quần đảo này được hưởng quyền lãnh hải, vùng EEZ và thềm lục địa. Đây có thể là một động thái quan trọng bởi Trung Quốc dường như đã nêu rõ đòi hỏi của mình và dùng UNCLOS để bảo vệ lý lẽ.

Hòn đảo hay bãi đá?

Trong cuộc tranh chấp về các quần đảo và bãi đá, các nước ASEAN sẽ tiếp tục giữ quan điểm rằng họ có chủ quyền và quyền tài phán đối với nguồn tài nguyên thiên nhiên ở trong và dưới các vùng nước thuộc quần đảo Trường Sa. Đòi hỏi của họ dựa trên quyền đối với 200 hải lý vùng EEZ tính từ các đường cơ sở thuộc lãnh thổ đất liền hoặc quần đảo của họ. Họ sẽ không đòi hỏi vùng EEZ từ bất kỳ cấu thành nào của quần đảo Trường Sa, và sẽ nhất quán rằng không một cấu thành nào thuộc diện tranh chấp được coi là “hòn đảo”, và những “hòn đảo” đó trên thực tế chỉ là bãi đá.

Chiến lược này sẽ mang lại cho các quốc gia tranh chấp thuộc ASEAN chủ quyền không thể tranh cãi để thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên ở trong và phía dưới của hầu hết các vùng nước thuộc quần đảo Trường Sa. Họ sẽ chỉ không có chủ quyền và quyền tài phán để khai thác tài nguyên thuộc bán kính 12 hải lý liền kề các đảo, chừng nào cuộc tranh chấp vẫn chưa được phán quyết.

Để bảo vệ lợi ích của mình, Trung Quốc sẽ phải duy trì quan điểm là ít nhất một số bãi đá thuộc Trường Sa được tính là “đảo" để được hưởng vùng EEZ và thềm lục địa. Quan điểm này sẽ tạo ra một vùng chồng lấn đáng kể giữa vùng EEZ của quần đảo Trường Sa mà Trung Quốc đòi chủ quyền với vùng EEZ và/hoặc thềm lục địa mở rộng mà các quốc gia tranh chấp thuộc ASEAN có quyền tính từ đường cơ sở của lãnh thổ hay quần đảo của họ.

Trung Quốc sẽ phải đối mặt với một thách thức là trước đây nước này đã có quan điểm về thế nào là đảo và thế nào là bãi đá. Trong các cuộc tranh luận tại Liên hợp quốc liên quan đến cuộc tranh chấp giữa nước này với Nhật Bản về chủ quyền đảo Okinotorishima, Trung Quốc lập luận rằng các đảo nhỏ, ở xa, không có người ở không được trao vùng EEZ hay thềm lục địa. Các quốc gia ASEAN có thể sẽ nói rằng lập luận này của Trung Quốc cũng nên áp dụng đối với các đảo nhỏ trong quần đảo Trường Sa. 

  Theo Rsis

 Mỹ Anh (gt)

 

Theo Daniel Ten Kate, tác giả bài viết “South China Sea Oil Rush Risks Clashes as U.S. Emboldens Vietnam on Claimsđăng trên trang Bloomberg, việc các nước đẩy mạnh các kế hoạch khai thác dầu khí tại khu vực Biển Đông mà Bắc Kinh đang tuyên bố chủ quyền sẽ làm bùng phát một cuộc xung đột mới tại khu vực này.

 

Việt Nam và Philíppin đang thúc đẩy các dự án triển khai dầu khí tại khu vực Biển Đông mà Trung Quốc đang tuyên bố chủ quyền. Điều này đã châm ngòi cho xung đột mới tại một trong những khu vực có các tuyến đường hàng hải bận rộn nhất thế giới.Tập đoàn năng lượng Talisman Energy Inc. (TLM), đối tác của Tập đoàn Dầu khí Petro Việt Nam, muốn bắt đầu khoan thăm dò vào năm 2012 tại lô thuộc vùng Trung Quốc tuyên bố chủ quyền và hứa dành cho công ty dầu khí Mỹ. Ông Ricky Carandang, phát ngôn viên của Tổng Thống Philíppin Nenigno Aquino, đã cho biết Philíppin có kế hoạch khai thác một lô trong khu vực biển nơi tàu tuần tra TQ va chạm với tàu thăm dò dầu khí của Philíppin vào tháng 3/2011.

Ông James A. Lyons Jr, cựu chỉ huy hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ từ 1985-1987 và hiện là Chủ tịch Tập đoàn Lion Associates LLC, chuyên tư vấn kinh doanh có trụ sở tại Virgina, Mỹ cho biết: Các nước láng giềng của Trung Quốc, đều có lực lượng quân sự lớn nhất châu Á và đang ngày càng “dũng cảm” hơn sau khi Mỹ khẳng định lợi ích của Mỹ tại vùng biển này vào năm 2010. Việc tăng giá dầu thô gần 100 USD/thùng cũng đã thúc đẩy Việt Nam và Philíppin theo đuổi dầu mỏ để đáp ứng mục tiêu tăng trưởng kinh tế ít nhất 7%/năm. Ông cũng nhấn mạnh: “Với tình hình kinh tế của Việt Nam và Philíppin, việc khai thác dầu khí là hoàn toàn hợp lý xét về khía cạnh kinh tế. Họ cũng muốn phụ thuộc vào Mỹ để bảo đảm mạnh mẽ an ninh”.

Giấy phép kinh doanh hợp pháp. Tháng 5/2011, tuyên bố trên trang web của Talisman, Tập đoàn dầu khí lớn thứ 3 của Canada xét về giá trị trên thị trường, đồng thời là đối tác của PVN, cho biết sẽ bắt đầu khoan thăm dò tại vùng nước thuộc chủ quyền của Việt Nam (cách bờ biển phía Nam đảo Hải Nam Trung Quốc 625 dặm), sau khi tiến hành thăm dò địa chất vào năm 2011. Ngày 4/5/2011, ông John Manzoni, quan chức điều hành hàng đầu của Talisman, cho biết: “Chúng tôi có những gì chúng tôi tin là giấy phép hợp pháp và Tập đoàn Talisman cũng có kế hoạch đẩy nhanh tốc độ thăm dò”.

Các lô 133 và 134 của Tập đoàn Talisman, cách VN 300km và được biết đến là WAB-21 của Trung Quốc - lô mà năm 1992 đã được hứa dành cho Tập đoàn Năng lượng Crestone Energy Corp, nay thuộc quyền sở hữu của Tập đoàn Khai thác Tài nguyên thiên nhiên có trụ sở tại Houston (Harvest Natural Resources Inc. (HNR). Ông James Edmiston, CEO của Tập đoàn Harvest, đã trả lời khi được hỏi về việc Tập đoàn Talisman có giấy phép hợp pháp vào tháng 8/2010: “Trung Quốc đã cho biết rất quan ngại về vụ việc này và cam kết sẽ can thiệp theo cách nào đó”.

Trong cuộc gặp với các chuyên gia ngày 3/9/2011, ông Mark W. Albers, Phó Chủ tịch cao cấp của Tập đoàn Exxon Mobil Corp. (XOM) cho biết Tập đoàn đang có kế hoạch chuẩn bị thăm dò dầu khí tại VN năm 2011. Theo tờ Vietnam News ngày 31/3/2011 cho biết công ty Irving, có trụ sở tại Texas sẽ tiến hành triển khai tại Lô 119 mà không trích dẫn nguồn tin. Một phần tại khu vực này thuộc những vùng nước mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền. Theo Người phát ngôn của Exxon Mobil, ông Patrick McGinn cho biết chi tiết các chương trình thăm dò vẫn còn bí mật.

Trung tướng Quân đội Philíppin, ông Juancho Sabban cho biết hai tàu tuần duyên Trung Quốc tháng 3/2011 đã yêu cầu tàu thăm dò dầu khí của Tập đoàn Năng lượng Forum Energy Plc (FEP) rời khỏi khu vực gần vùng nước tranh chấp khoảng 250km về phía Tây của đảo Palawan, Philíppin. Tàu Trung Quốc chỉ rời khu vực sau khi hai máy bay quân sự được triển khai. Khu vực trong hợp đồng với công ty Chertsey, của tập đoàn Forum Energy có trụ sở tại Anh thuộc vùng nước mà Trung Quốc, Việt Nam và Philíppin đã nhất trí cùng khai thác trong thỏa thuận đạt được vào năm 2008. Phần lớn khu vực này do Tập đoàn khai khoáng Philex, có trụ sở tại Manila, sở hữu và tập đoàn Forum có kế hoạch khoan giếng dầu ở khu vực này. Ngày 16/5, Người phát ngôn Tổng Thống Philíppin, ông Carandang cho biết khu vực mà Philíppin dự kiến khai thác là “phần rất quan trọng” trong kế hoạch cắt giảm nhập khẩu dầu của Tổng Thống Philíppin Aquino.

Để không bị bắt nạt. Các nhà hoạch định chính sách của Mỹ đã đề xuất Mỹ ký các hiệp định quốc phòng với Philíppin, Thái Lan và bảo đảm an ninh cho Đài Loan nhằm đối trọng với Trung Quốc. Theo nhóm nghiên cứu về an ninh toàn cầu thuộc Alexandria, Virginia, hơn nửa các tuyến hàng hóa thương mại toàn thế giới được vận chuyển qua Biển Đông hàng năm. Tại hội nghị khu vực tại Hà Nội, tháng 10/2010, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã tuyên bố “lợi ích quốc gia là tự do hàng hải và thương mại tại các vùng nước”. Theo ông Michael Green, cựu chuyên gia châu Á thuộc Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ, hiện làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế thuộc Washington cho rằng tuyên bố trên của Mỹ đã giúp các nước Đông Nam Á cảm thấy tự tin hơn một chút và không cảm thấy “bị bắt nạt”.

Các nguồn dự trữ của Trung Quốc đang giảm dần. Lực lượng không quân Mỹ đã tuần tra tại các vùng nước thuộc Thái Bình Dương kể từ sau chiến tranh thế giới II. Theo báo cáo Bộ Quốc Phòng Mỹ tháng 8/2010, Trung Quốc đã tăng cường mạnh mẽ lực lượng quân sự trong thập kỷ qua và triển khai tàu ngầm hạt nhân và hàng không mẫu hạm. Theo thông tin của Cơ quan quản lý thông tin năng lượng Mỹ (EIA), năm 1988 tại vụ va chạm trên đảo Trường Sa, Trung Quốc đã bắn chết hơn 70 lính Việt Nam và làm chìm một số tàu. Năm 1994, tàu chiến Trung Quốc lại được cử tới nhằm buộc Việt Nam phải dừng khoan. Theo các nghiên cứu của Trung Quốc do EIA trích dẫn cho biết BP Plc ước tính những vùng nước thuộc khu vực tranh chấp có trữ lượng dầu mỏ gấp 14 lần dự trữ dầu của Trung Quốc và gấp 10 lần dự trữ khí ga của nước này. Theo các số liệu tập hợp bởi Bloomberg, dự trữ dầu khí Trung Quốc giảm nhanh chóng gần 40% vào năm 2001 khi nền kinh tế tăng trưởng trung bình 10,5%/năm.


Theo ước tính của WB, nhu cầu về dầu khí của Viêt Nam đang ngày càng tăng nhanh chóng. Theo kế hoạch của Bộ Năng lượng Philíppin, nước này dự kiến sẽ tăng dự trữ khí cácbon lên 40% vào hai thập kỷ tới nhằm giảm hoàn toàn vào lượng nhập khẩu hiện nay.

Quyết định chính trị khó khăn. Theo ông Marshall Mays, giám đốc Tập đoàn Emerging Alpha tại Hồng Kông cho rằng đơn phương có thể là một chiến thuật đàm phán. Trung Quốc và những nước láng giềng có thể hợp tác dựa trên giả định đạt được sự phân chia lợi nhuận qua đàm phán. 10 nước ASEAN đã đạt được ít tiến triển trong đàm phán cam kết ứng xử về biển mang tính ràng buộc với Trung Quốc kể từ năm 2002. Ông Ralf Emmers, giáo sư tại Khoa Nghiên cứu Quốc Tế của trường S. Rajaratnam, Singapore cho rằng “việc nhất trí cùng thăm dò vô hình là bạn đã công nhận việc tuyên bố chủ quyền của các nước khác”. Đây là quyết định chính trị rất khó khăn đối với các nước khi cùng tuyên bố chủ quyền một phần hoặc toàn bộ khu vực Biển Đông.

Theo Bloomberg

Hương Trà (gt) 

Đề nghị chỉ  dẫn đường link bài viết này, không cắt đăng lại khi chưa có sự đồng ý của Ban Biên tập NCBĐ.

 

 

Sự kiện Scarborouhg đang thu hút sự chú ý quan tâm của cộng đồng quốc tế. Mọi hành động của các bên liên quan đều được giới phân tích, báo chí mổ xẻ và đưa ra những bình luận về tương lai của vấn đề.

 

Nhật báo The Philippines Star ngày 13/5 trích dẫn AFP đưa tin Trung Quốc hiện đang diễn tập quân sự và huấn luyện trực thăng của nước này tại hải phận quốc tế tiếp giáp với đảo Luzon và Đài Loan.

Đại tá Arnulfo Marcelo Burgos, NFN quân đội PLP, cho biết “Diễn tập hải quân trong các vùng biển quốc tế là quyền của quân đội bất cứ quốc gia nào. Không có ảnh hưởng gì đến chúng tôi miễn là TQ không tập trận trong lãnh hải của chúng tôi. Chúng tôi không thấy có vấn đề gì cả”. Theo lời ông Burgos, cũng giống như quân đội PLP, quân đội TQ cũng phải thường xuyên rèn luyện và cải thiện khả năng phối hợp tác chiến và đó là hoạt động bình thường của bất kỳ quân đội nào trên thế giới.

Tuy nhiên, các quan chức an ninh của PLP cũng như của Nhật Bản và ĐL đang theo dõi chặt chẽ việc dàn quân của hạm đội TQ.

Mặc dù cuộc tập trận này của hải quân TQ không đe dọa trực tiếp đến an ninh ĐL, nhưng nó được cho là có vai trò quan trọng trong các chiến dịch quân sự của TQ tấn công PLP và Việt Nam trên Biển Đông vào bất cứ lúc nào.

CCTV (TQ) đưa tin ngày 11/5, PLP kích động tinh thần người dân, khuyến khích người dân trong nước và kiều dân ở nước ngoài tổ chức biểu tình chống TQ. Theo CCTV, mỗi người dân PLP đi biểu tình phản đối TQ được chính phủ PLP phát cho 300 peso. Còn Phó NFN của TTh PLP Walter ngày 10/5 cho biết hoạt động biểu tình là do người dân PLP tự phát triển khai, chính phủ PLP không xúi giục người dân.

Ngày 12/5 đã diễn ra biểu tình của kiều dân PLP tại Mỹ, Hongkong, Canada, Australia, Thailand, Nam Phi, Đức và Arab để phản đối hành động của TQ. Ngày 12/5, NT/PLP thông báo với giới truyền thông rằng TQ và PLP đã bắt đầu nối lại đối thoại ngoại giao về vấn đề Scarborough, tuy nhiên cho dù đối thoại có đạt kết quả gì thì cũng chỉ là một thỏa thuận mang tính chất tạm thời chứ không phải là cách giải quyết tranh chấp cuối cùng, PLP vẫn muốn tìm kiếm một biện pháp giải quyết toàn diện.

Tại Bắc Kinh, NFN/BNG/TQ Hồng Lỗi cho biết PLP kích động dân chúng tiến hành biểu tình nhằm vào TQ là hành động sai lầm làm phức tạp và mở rộng vụ việc, mong PLP áp dụng hành động thực tế, thiết thực tôn trọng chủ quyền lãnh thổ của TQ, không áp dụng bất cứ hành động nào làm leo thang tình hình. TQ quan tâm môi trường an ninh đối với công dân TQ tại PLP, yêu cầu PLP áp dụng biện pháp hữu hiệu, thiết thực giữ gìn an toàn và quyền lợi hợp pháp của công dân và cơ quan TQ tại PLP.

Cũng trong ngày 11/5, TQ đã bác bỏ tin nói quân đội của họ đang chuẩn bị một cuộc chiến trong khi có căng thẳng liên quan tới tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông. Trước đó, tin tức nói rằng Quân khu Quảng Châu, hạm đội Biển Đông và các đơn vị khác đã được đặt trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu. Các nhà phân tích gia cho biết chính phủ trung ương có thể thấy có cơ hội để chuyển hướng sự chú ý ra khỏi các vấn đề nội bộ của TQ. Tuy nhiên, không rõ chủ định của họ là gì và những lợi ích có tính cạnh tranh của các cơ quan hàng hải và của quân đội cũng có nghĩa khó có thể đoán được TQ sẽ làm gì tiếp theo?

Trong một diễn biến liên quan, Bộ Nông nghiệp TQ cho biết từ ngày 16/5 sẽ bắt đầu vào kỳ nghỉ đánh bắt cá tại một số vùng biển tại Biển Đông, bao gồm vùng biển đảo Scarborough, các tàu cá của TQ đều bị cấm đến khu vực này đánh bắt cá.

Ngày 12/5, phát biểu trong chuyến thăm TQ, NT Australia Bob Carr đã kêu gọi các nước trong khu vực hãy giải quyết các tuyên bố chủ quyền của mình thông qua luật pháp quốc tế.

Trước đó, ngày 11/5, BTNG Ấn Độ đã cho biết lập trường của ẤĐ trước cuộc xung đột lãnh thổ giữa TQ và PLP tại Biển Đông, kêu gọi hai bên kiềm chế và giải quyết các vấn đề tranh chấp bằng con đường ngoại giao. Còn NFN/BNG ẤĐ nói “Duy trì hoà bình và an ninh trong khu vực là lợi ích sống còn đối với cộng đồng quốc tế. ẤĐ thúc giục hai nước thể hiện sự kiềm chế và giải quyết vấn đề theo con đường ngoại giao, phù hợp với các quy định của luật pháp quốc tế. Theo các nhà phân tích, Trong bối cảnh này, lập trường của ẤĐ là hết sức ý nghĩa. Mâu thuẫn TQ - ẤĐ ngày càng nổi rõ. Trong đó, cả hai bên còn rất nhiều vấn đề tranh cãi trong quan hệ chưa được tháo gỡ, nhưng đều cố dùng mọi cách để tránh đối đầu trực tiếp, phô trương lòng trung thành với cam kết hợp tác và thân thiện. Tuy nhiên, mâu thuẫn vẫn không triệt tiêu, mà chuyển tới những "vùng sâu vùng xa" và bộc lộ ở đó với tất cả sức mạnh. Cần tính rằng khoảng cách tiềm năng kinh tế và quân sự của TQ và ẤĐ là rất lớn, khiến cho hiện nay không ai nói về sự đồng đẳng hay cân bằng và trong tương lai ẤĐ cũng sẽ tiếp tục chủ động biểu thị sự hiện diện của mình ở những khu vực quan trọng sống còn để đảm bảo lợi ích, nhưng sẽ không đi tới đối đầu trực tiếp với TQ.

Còn các chiến lược gia Mỹ rất muốn thấy New Delhi ở tư cách một đồng minh gần gũi nhất trong chính sách kiềm chế TQ. Tuy nhiên, hiện thời những cân nhắc thực dụng trong chính sách đối ngoại của ẤĐ đang thắng thế. Washington khó lòng trông đợi viễn cảnh New Delhi hỗ trợ chính sách của người Mỹ.

Theo Mạng China.org.cn, giải thích về quan điểm cứng rắn của PLP trong vấn đề Biển Đông, Tướng La Viện, Phó Tổng Thư ký Hiệp hội khoa học Quân sự TQ cho rằng PLP hiện đang thực hiện “bài thử chiến lược” với TQ trên 3 khía cạnh: (i) PLP muốn thử xem liệu cộng đồng quốc tế có chấp nhận hành động của PLP không và liệu TQ sẽ làm thế nào. Nếu PLP thành công, họ sẽ mở rộng tuyên bố tới các Reed Tablemount và Thitu Island (Đảo Thị Tứ). Tồi tệ hơn nữa là VN, Indonesia, Malaysia, Brunây và các nước láng giềng khác sẽ học tập PLP. Trong tình huống đó, TQ sẽ mất nhiều hơn nữa các đảo và bãi đá ngầm. (ii) PLP muốn xem liệu TQ sẽ hoàn toàn loại bỏ các hành động quân sự trong bất kỳ sự kiện nào trong giai đoạn cơ hội chiến lược và thậm chí trao đổi đảo trong giải quyết hòa bình; (iii) PLP muốn thử sức mạnh đồng minh Mỹ và xem liệu Mỹ có ủng hộ hành động hiếu chiến hơn để giành lại đảo này. Tuy nhiên, dưới ảnh hưởng của căng thẳng leo thang, không thể nói Mỹ sẽ không liên qua nhưng Mỹ sẽ cân nhắc lợi hại trước khi có bất kỳ hành động thực tế nào và Mỹ biết rằng việc xung đột với TQ sẽ là không đáng.

Cũng liên quan đến xung đột PLP - TQ, các chuyên gia phân tích của PLP cho rằng TQ sẽ không làm hại đến “một sợi tóc” của PLP. Ngược lại, TQ đang cân nhắc đến những tình huống khó xử, bởi vì TQ đang muốn phát triển kinh tế và ổn định chính trị nên không thể áp dụng các biện pháp quân sự tại biển Đông. Mặt khác, TQ muốn điều quân đội tới vùng biển tranh chấp sẽ lại gặp bất lợi về địa lý hơn so với PLP vì căn cứ hải quân Trạm Giang (TQ) 1000 hải lý, nhanh nhất phải trong 2 ngày tàu chiến của TQ mới đến được Scarborough, khi đó quân đội PLP và đồng minh đã chuẩn bị sẵn sàng mọi thứ để chờ tàu chiến của TQ. Hơn nữa, TQ chưa chuẩn bị gì cho việc sẽ xuất binh để giải quyết tranh chấp với PLP vì vấn đề chính đối với TQ lúc này vẫn là việc Mỹ có thể tham gia bảo vệ PLP nếu xung đột nổ ra. TQ đang cảm thấy không chắc chắn về chiến thắng của mình nên chưa dám “động thủ”. Chuyên gia quân sự PLP đã kiến nghị PLP giữ một thái độ cứng rắn và phát động một phong trào phản đối TQ qua các phương tiện truyền thông để công đồng quốc tế lên án hành vi của nước này. Thế chủ động của TQ tự nhiên vì thế sẽ bị thu hẹp.

Trong một tin khác liên quan, Minh báo HK thì cho rằng chỉ sau khi tầu chiến của TQ được đưa xuống phía Nam, cộng thêm với sự kiên quyết của ngoại giao và dư luận chính thống của TQ bày tỏ kiên quyết không thể mất một tấc đất lãnh thổ, “chỉ cần PLP nổ súng, tầu chiến của họ sẽ bị chôn vùi xuống đáy biển”, PLP mới khôi phục đối thoại với ĐSQ TQ tại Manila, tình hình căng thẳng mới có dấu hiệu giảm nhiệt. Vụ việc này lắng xuống liệu có phải do Bắc Kinh chủ động “tấn công bằng ngoại giao, uy hiếp bằng quân sự” hay không còn cần có chứng cứ xác thực, nhưng cần phải chú ý những phát triển tiếp theo của tình hình, đặc biệt là những diễn biến tiếp theo bao gồm cả biểu hiện của Mỹ thì mới có thể khẳng định sự kết thúc của sự kiện Scarborough. Là một thành viên trong khu vực, đương nhiên TQ không mong muốn Biển Đông bị bao phủ bởi khói súng, nhưng điều đáng để lo ngại là các tranh chấp về chủ quyền tại các hòn đảo khác ở Biển Đông và Đông Hải vẫn còn tồn tại, xung đột vừa qua chưa thể là sự kiện cuối cùng.

Lập trường nhất quán của TQ tại Biển Đông không phải là không thể đàm phán, nhưng phải là đàm phán trong khuôn khổ song phương. Về vấn đề khai thác Biển Đông, TQ luốn giữ thái độ kiềm chế, dĩ hòa vi quý, “cùng khai thác, cùng phồn vinh” nhưng trong bối cảnh Mỹ tuyên bố quay trở lại châu Á, sự kiềm chế đã bị coi là mềm yếu, VN và PLP liên tiếp có các hành động khiêu chiến với TQ.

Việc PLP đồng ý đối thoại với TQ có lợi cho việc giải quyết tình hình khó khăn hiện nay, vì nếu tiếp tục đối kháng, chỉ cần có nổ súng, Hải quân PLP sẽ phải đối mặt với sự phản công mang tính hủy diệt. Xử lý sự kiện Scarborough lần này, trong một chừng mực nào đó đã làm hé lộ phương thức để xử lý các vấn đề tranh chấp sau này, từ cục diện “TQ không thể tuyên chiến” điều chỉnh thành “trong một số điều kiện đặc biệt, TQ có thể nổ súng”. Sự kiện Scarbourough lần này cũng tương tự sự kiện TQ tấn công VN năm 1979, BTQP TQ Lương Quang Liệt thăm Mỹ, phía Mỹ bày tỏ không đứng về bên nào trong tranh chấp tại Biển Đông, sau đó báo quân đội phát biểu bình luận với lời lẽ hết sức cứng rắn, chỉ thiếu là chưa có pháo kích.

Việc xử lý sự kiện Scarborough lần này của Bắc Kinh có 2 điểm đáng chú ý: (i), trong khu vực TQ có chủ quyền tuyệt đối, Bắc Kinh sẽ đứng yên nhìn người khác xâm phạm; (ii), chỉ cần đối phương nổ súng, Bắc Kinh sẽ đáp trả.

Sự kiện Scarborough là công việc giữa TQ và PLP, nhưng VN và NB đang theo dõi, quan sát hết sức chặt trẽ. Với tư cách là đồng minh và là một bên trong “Hiệp ước phòng thủ chung Mỹ - PLP”, trong lúc TQ và PLP “gươm tuốt, cung giương”, Mỹ đã bày tỏ rõ ràng “không đứng về bất cứ bên nào”, tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông và Đông Hải sẽ diễn biến ra sao, quan hệ đồng minh quân sự Mỹ Nhật sẽ phát triển như thế nào là điều rất đáng quan tâm.

 

 

Tổng hợp

 

 

Ngôn ngữ