30 - 11 - 2020 | 15:14
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home
Tag:Việt Nam

Công ước Luật biển 1982 là hiến pháp của biển, là cơ sở pháp lý chung cho việc giải quyết các tranh chấp biển, trong đó có phân định vùng biển và thềm lục địa chồng lấn giữa các nước xung quanh Biển Đông. Bài viết nhân kỷ niệm 30 năm ngày ký kết và nhân ngày Viêt Nam thông qua Luật biển.

 

Sau hơn 4 năm chuẩn bị  và 9 năm đàm phán, ngày 10/12/1982, Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (gọi tắt là Công ước Luật biển 1982), tên tiếng Anh là United Nations Convention on the Law of the Sea, hay thường được gọi tắt là UNCLOS 1982, được 107 quốc gia, trong đó có Việt Nam, ký tại Montego Bay, Jamaica (tính đến nay, số quốc gia ký là 157), đánh dấu thành công của Hội nghị LHQ về Luật biển lần thứ 3, với sự tham gia của trên 150 quốc gia và nhiều tổ chức quốc tế, kể cả các tổ chức quốc tế phi chính phủ, cùng xây dựng nên một Công ước mới về Luật biển, được nhiều quốc gia, kể cả những quốc gia không có biển, cùng chấp nhận.

Sau Hiến chương LHQ, Công ước Luật biển 1982 được đánh giá là văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng nhất kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, được nhiều quốc gia ký kết và tham gia. Công ước Luật biển 1982 có hiệu lực từ ngày 16/11/1994 (12 tháng kể từ ngày Guyana, nước thứ 60 phê chuẩn Công ước ngày 16/11/1993). Là một văn kiện pháp lý đa phương đồ sộ, bao gồm 320 điều khoản và 9 Phụ lục, với hơn 1000 quy phạm pháp luật, Công ước Luật biển 1982 đã đáp ứng nguyện vọng và mong đợi của cộng đồng quốc tế về một trật tự pháp lý quốc tế mới đối với tất cả các vấn đề về biển và đại dương, bao gồm cả đáy biển và lòng đất dưới đáy biển.

Công ước Luật biển 1982 thực sự là một bản hiến pháp về biển của cộng đồng quốc tế bởi Công ước không chỉ bao gồm các điều khoản mang tính điều ước mà còn là văn bản pháp điển hoá các quy định mang tính tập quán. Công ước Luật biển 1982 thể hiện sự thoả hiệp mang tính toàn cầu, có tính đến lợi ích của tất cả các nước trên thế giới, dù là nước công nghiệp phát triển hay là nước đang phát triển… Công ước không chấp nhận bảo lưu mà đòi hỏi các quốc gia phải tham gia cả gói (package deal), có nghĩa là việc phê chuẩn hoặc tham gia Công ước đòi hỏi quốc gia phải có trách nhiệm thực hiện toàn bộ các điều khoản của Công ước.

Công ước Luật biển 1982 đã trù định toàn bộ các quy định liên quan đến các vùng biển mà một quốc gia ven biển có quyền được hưởng, cũng như những quy định liên quan đến việc sử dụng, khai thác biển và đại dương, cụ thể là: Quy chế pháp lý của tất cả các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia; Chế độ pháp lý đối với biển cả và Vùng - di sản chung của loài người; các quy định hàng hải và hàng không; việc sử dụng và quản lý tài nguyên biển bao gồm tài nguyên sinh vật và không sinh vật; Vấn đề bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học biển, an ninh trật tự trên biển; việc giải quyết tranh chấp và hợp tác quốc tế về biển; Quy chế hoạt động của cơ quan quyền lực quốc tế về đáy đại dương, Uỷ ban ranh giới ngoài thềm lục địa, toà án Luật biển quốc tế, hội nghị các quốc gia thành viên Công ước …

Tính đến ngày 3/6/2011, đã có 162 nước phê chuẩn và tham gia Công ước Luật biển 1982 (Thái lan là quốc gia thứ 162 gia nhập ngày 15/5/2011).

Một số nội dung quan trọng đã được quy định trong Công ước Luật biển 1982 như dưới đây:

1. Quốc gia ven biển thực hiện chủ quyền đầy đủ đối với vùng lãnh hải mà họ có quyền thiết lập với chiều rộng không quá 12 hải lý. Tuy vậy, chủ quyền  này không phải là tuyệt đối vì tầu thuyền nước ngoài được phép “đi qua vô hại” trong vùng lãnh hải. Tầu thuyền và máy bay được phép “đi quá cảnh” qua các dải hẹp, eo biển được sử dụng cho hàng hải quốc tế.

2. Ranh giới lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế (ĐQKT) và thềm lục địa được xác định dựa trên các quy tắc áp dụng cho lãnh thổ đất liền, nhưng đối với đá không thể có con người sinh sống hoặc không có đời sống kinh tế sẽ không có vùng ĐQKT hoặc thềm lục địa. Quốc gia có biên giới với eo biển có thể điều tiết lưu thông hàng hải và các khía cạnh khác liên quan đến đi lại, lưu thông..

3. Quốc gia quần đảo, được tạo thành bởi nhóm hoặc các nhóm đảo liên quan gần gũi và những vùng nước tiếp liền, sẽ có chủ quyền đối với vùng biển nằm trong các đường thẳng được vẽ bởi các điểm xa nhất của các đảo, vùng nước bên trong các đảo được gọi là vùng nước quần đảo, và các quốc gia này có thể thiết lập các đường đi lại cho tầu thuyền và hàng không, trong đó các quốc gia khác có thể được hưởng quyền qua lại các quần đảo bằng các tuyến đường biển đã định.

4. Quốc gia ven biển có quyền chủ quyền đối với vùng ĐQKT rộng tối đa 200 hải lý, đối với tài nguyên thiên nhiên và một số hoạt động kinh tế, và thực hiện quyền tài phán đối với các hoạt động nghiên cứu khoa học và bảo vệ môi trường. Các quốc gia khác có quyền tự do hàng hải và tự do hàng không và tự do đặt dây cáp ngầm và đường ống.

 5. Quốc gia không có biển hoặc bất lợi về địa lý có quyền tham gia trên cơ sở công bằng trong việc khai thác một phần thích hợp trong số phần dư dôi của các tài nguyên sống trong vùng ĐQKT của quốc gia ven biển trong cùng khu vực hoặc tiểu khu vực; các loài di cư như cá hoặc sinh vật biển được bảo vệ đặc biệt.

 6. Quốc gia ven biển có quyền chủ quyền đối với thềm lục địa (khu vực đáy biển của quốc gia) trong việc việc thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên của thềm lục địa. Thềm lục địa có thể kéo dài ít nhất là 200 hải lý từ bờ biển, và có thể  kéo dài không quá 350 hải lý trong những điều kiện cụ thể. Quốc gia ven biển chia sẻ với cộng đồng quốc tế phần lợi tức thu được do khai thác tài nguyên từ bất cứ khu vực nào trong thềm lục địa của quốc gia đó khi nó kéo dài quá 200 hải lý. Uỷ ban Ranh giới thềm lục địa (được thành lập theo Phụ lục II trong Công ước Luật biển 1982) sẽ có ý kiến đối với quốc gia liên quan về ranh giới ngoài của thềm lục địa khi nó kéo dài quá 200 hải lý.

 7. Tất cả các quốc gia đều có quyền tự do truyền thống về hàng hải, bay qua, nghiên cứu khoa học và đánh cá trên vùng biển quốc tế. Các quốc gia có trách nhiệm hợp tác với nhau trong việc thông qua các biện pháp để quản lý và bảo tồn các tài nguyên sống trên biển.

  8. Các quốc gia có chung biên giới với biển kín hoặc nửa kín cần hợp tác với nhau trong việc quản lý tài nguyên sống, có chính sách và hoạt động về môi trường cũng như nghiên cứu khoa học. Các quốc gia không có biển có quyền tiếp cận với biển và được tự do quá cảnh thông qua nước quá cảnh để ra biển. Các quốc gia phải ngăn chặn và kiểm soát ô nhiểm môi trường biển và phải chịu trách nhiệm đối với những thiệt hại gây ra do sự vi phạm nghĩa vụ quốc tế của mình để kiềm chế những sự ô nhiễm đó.

 9. Tất cả các nghiên cứu khoa học trong vùng ĐQKT và thềm lục địa phải có sự đồng ý của quốc gia ven biển. Tuy vậy, hầu như trong tất cả mọi trường hợp, quốc gia ven biển có trách nhiệm đồng ý với đề nghị của các quốc gia khác khi việc nghiên cứu được tiến hành vì mục đích hoà bình và đã thực hiện một số yêu cầu chi tiết. Các quốc gia cam kết tăng cường phát triển và chuyển giao kỹ thuật biển trong những điều kiện “ công bằng và hợp lý” có tính đến đầy đủ những lợi ích hợp pháp.

10. Các quốc gia thành viên phải giải quyết bằng biện pháp hoà bình các tranh chấp liên quan đến việc hiểu và áp dụng Công ước. Các tranh chấp cần được trình lên Toà án quốc tế về luật biển ( được thành lập theo Công ước), trình lên Toà án công lý quốc tế hoặc trọng tài. Toà án có quyền tài phán riêng biệt đối với những tranh chấp liên quan đến khai thác ở đáy biển.

Sau khi Công ước Luật biển 1982 ra đời và có hiệu lực, các quốc gia ven biển đã ra các tuyên bố để khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của mình đối với những vùng biển được mở rộng theo quy định của Công ước. Quy chế pháp lý đối với lãnh hải đã trở thành biện pháp giải toả cho các yêu sách xung đột giữa các quốc gia với nhau. Lưu thông hàng hải qua vùng lãnh hải và các dải hẹp giờ đây dựa trên các nguyên tắc pháp lý. Các quốc gia ven biển đã tận dụng các điều khoản lợi thế cho phép mở rộng vùng ĐQKT ra tới 200 hải lý dọc theo bờ biển. Các quốc gia không có biển được quyền tiếp xúc với biển hoặc từ biển cũng được quy định một cách rõ ràng. Quyền được tiến hành các nghiên cứu khoa học biển giờ đây được dựa trên các nguyên tắc mà không thể vì lý do gì để từ chối. Cơ quan quyền lực quốc tế về đáy đại dương đã được thành lập năm 1994, đang thực hiện chức năng tổ chức và kiểm soát các hoạt động dưới biển sâu ngoài vùng thuộc quyền tài phán quốc gia, nhằm điều hành việc khai thác và bảo tồn các nguồn tài nguyên của biển.Toà án Luật biển quốc tế cũng đã được thành lập năm 1996 và có quyền lực để giải quyết các tranh chấp liên quan đến biển phát sinh từ việc áp dụng hay hiểu biết về Công ước.

Tuy nhiên, cần phải nói thêm rằng, phần XI của Công ước Luật biển 1982 liên quan đến quy chế pháp lý đối với đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm ngoài giới hạn quyền tài phán quốc gia (Công ước gọi chung là “Vùng”), đặc biệt là việc khai thác các quặng nằm sâu dưới đáy đại dương, đã làm dấy lên nhiều lo ngại từ các nước công nghiệp phát triển, đặc biệt là Mỹ. Để đạt được sự tham gia rộng rãi hơn của các nước đối với Công ước, Tổng thư ký LHQ đã chủ động tiến hành một loạt các cuộc tham vấn không chính thức giữa các quốc gia để giải quyết các lo ngại này. Sự tham vấn đã kết thúc bằng việc các nước đạt được thoả thuận vào tháng 7/1994, gọi là “ Thoả thuận liên quan đến việc thực hiện phần XI của Công ước Luật biển 1982”. Thoả thuận này được coi là một bộ phận của Công ước và đã mở đường cho tất cả các nước tham gia ký hoặc phê chuẩn để trở thành thành viên của Công ước.

Sau khi Công ước Luật biển 1982 được thông qua ngày 30/4/1982, Việt Nam là một trong 107 quốc gia tham gia ký Công ước tại Montego Bay. Ngày 23/6/1994, Quốc hội nước ta đã ra Nghị quyết  về việc phê chuẩn văn kiện pháp lý quan trọng này. Điểm 1 trong Nghị quyết nêu rõ: “ Bằng việc phê chuẩn Công ước của LHQ về Luật biển 1982, nước CH XHCN Việt Nam biểu thị quyết tâm cùng cộng đồng quốc tế xây dựng một trật tự pháp lý công bằng, khuyến khích sự phát triển và hợp tác trên biển”. Quốc hội khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với các vùng nội thủy, lãnh hải. Quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng ĐQKT và thềm lục địa Việt Nam trên cơ sở các quy định của Công ước và các nguyên tắc của pháp luật quốc tế, yêu cầu các nước khác tôn trọng các quyền nói trên của Việt Nam. Quốc hội một lần nữa khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đồng thời cũng tuyên bố rõ lập trường của Nhà nước ta là giải quyết hòa bình các bất đồng liên quan đến Biển Ðông trên tinh thần bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng pháp luật quốc tế, đặc biệt là Công ước Luật Biển năm 1982, tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của các nước ven biển Ðông đối với vùng ĐQKT và thềm lục địa; Trong khi nỗ lực thúc đẩy đàm phán để tìm giải pháp cơ bản lâu dài, các bên liên quan cần duy trì hòa bình, ổn định trên cơ sở giữ nguyên hiện trạng, không có hành động làm phức tạp thêm tình hình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực.

Tham gia Công ước Luật biển 1982, Việt Nam, quốc gia ven biển, được thừa nhận có vùng lãnh hải rộng 12 hải lý, vùng ĐQKT rộng 200 hải lý, thềm lục địa rộng ít nhất 200 hải lý và có thể mở rộng tới 350 hải lý tính từ đường cơ sở. Diện tích các vùng biển và thềm lục địa mà nước ta được hưởng theo quy định của Công ước, khoảng gần một triệu Km2, rộng gấp ba lần diện tích lãnh thổ đất liền.

 Công ước Luật biển 1982 đã trở thành cơ sở pháp lý quốc tế vững chắc, quan trọng, được thừa nhận và luôn được viện dẫn trong cuộc đấu tranh cam go, phức tạp để bảo vệ các vùng biển và thềm lục địa và các quyền và lợi ích chính đáng của nước ta trên biển. Trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, bên cạnh những những chứng cứ lịch sử, pháp lý chứng minh chủ quyền của Việt Nam đã được xác lập liên tục, hoà bình từ lâu đời đối với hai quần đảo, Công ước là công cụ pháp lý để phản bác những yêu sách phi lý, ngang ngược của Trung Quốc đối với cái gọi là “đường lưỡi bò” chiếm đến 80% diện tích Biển Đông, vốn là vùng biển nửa kín được bao bọc bởi 9 quốc gia, trong đó có Việt Nam.

Công ước Luật biển 1982 cũng là cơ sở pháp lý chung cho việc phân định vùng biển và thềm lục địa chồng lấn giữa nước ta với các nước xung quanh Biển Đông như Cămpuchia, Thái lan, Trung Quốc, Indonesia, Malaysia…góp phần tạo dựng sự hiểu biết, tin cậy lẫn nhau, tạo môi trường ổn định, hoà bình, hợp tác và phát triển trong Biển Đông.

Sau 30 năm kể từ khi ra đời, không thể phủ nhận tầm quan trọng và vị trí pháp lý của Công ước Luật biển 1982 trong đời sống luật pháp quốc tế. Tại Hội nghị lần thứ 22 các quốc gia thành viên của Công ước, tổ chức tại NewYork  tháng 6/2012, một lần nữa Công ước được khẳng định là thành tựu của nhân loại bởi những quy định của nó là kết quả của sự hợp tác - đấu tranh - xây dựng nhiều năm giữa các quốc gia trên thế giới với các chế độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế, quan điểm luật pháp… khác nhau; là sự thoả hiệp giữa các quốc gia vì một nhận thức chung đối với tầm quan trọng sống còn của biển và đại dương đối với sự phát triển của nhân loại.Khi trở thành thành viên của Công ước, các quốc gia có trách nhiệm tuân thủ đầy đủ các quy định trong Công ước, không có ngoại lệ, và không có bảo lưu. Do đó, không thể có quốc gia nào, khi tham gia sân chơi luật pháp chung này, lại chỉ viện dẫn và áp dụng những quy định trong Công ước có lợi cho quốc gia mình, hoặc không tuân thủ, thậm chí phủ nhận, những quy định không có lợi cho quốc gia mình./.

MINH TRUNG

 

Ngày 21 tháng 7 năm 2011, tại Bali – Indonesia, ASEAN và Trung Quốc đã đạt được Bản Quy tắc hướng dẫn thực hiện DOC sau 9 năm đàm phán. Văn bản này được xem là bước tiến trong tiến trình quản lý tranh chấp, tuy nhiều ý kiến bình luận hoài nghi về khả năng kiềm chế các căng thẳng trên Biển Đông. NCBĐ xin giới thiệu bài viết của nhà nghiên cứu Việt Long về quá trình đi từ DOC đến Bản Quy tắc hướng dẫn, từ đó gợi mở các hướng về COC trong tương lai.

 

Ngày 21 tháng 7 năm 2011, tại Bali – Indonesia, trong khuôn khổ cuộc gặp cấp cao AMM 44, ASEAN và Trung Quốc đã đạt được Bản Quy tắc hướng dẫn thực hiện Tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên Biển Đông (gọi tắt Quy tắc Hướng dẫn DOC). Đây được xem là nỗ lực của các bên liên quan trong việc kiềm chế và quản lý‎ các tranh chấp trên Biển Đông, đang trở nên căng thẳng và thu hút sự quan tâm đặc biệt của Cộng đồng quốc tế nhất là từ nửa đầu năm 2011.

Tổng thư ký ASEAN, ông Surin Pitsuwan cho rằng thỏa thuận này là một thành tựu ngoại giao quan trọng, việc áp dụng bản Hướng dẫn sẽ tạo ra tiến trình qua đó đối thoại có thể phát triển và lòng tin lẫn nhau giữa các bên tranh chấp sẽ được thiết lập.  Ngoại trưởng nước chủ nhà Indonesia cho rằng, cam kết về Quy tắc hướng dẫn thực hiện DOC sẽ thuyết phục thế giới rằng hai bên có thể tránh được xung đột và giải quyết tranh chấp bằng con đường hòa bình. Việc kết thúc các quy tắc chứng tỏ rằng các quốc gia thành viên ASEAN và Trung Quốc đã nhận ra những lợi ích chung. Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Dương Khiết Trì cho rằng: “Kết quả này thể hiện quyết tâm, long tin và khả năng của Trung Quốc và ASEAN cùng nhau thúc đẩy hòa bình và ổn định trong Biển Nam Trung Hoa bằng việc thực hiện DOC”[1].. China Daily ngày 27/7/2011 viết: "Lần đầu tiên, cơn bão trên Biển Đông trong suốt hai tháng qua bắt đầu có dấu hiệu dịu lại. Kết quả đáng ca ngợi này đại diện cho cam kết của các bên liên quan trực tiếp tới tranh chấp để giải quyết vấn đề theo con đường song phương và trong hòa bình".[2] Trợ ly‎ Bộ trưởng Nhà ngoại giao Việt Nam, ông Phạm Quang Vinh cho rằng "đây là một khởi đầu tốt và có ý nghĩa để chúng ta tiếp tục cùng nhau đối thoại và hợp tác để thúc đẩy hơn nữa sự ổn định, lòng tin trong khu vực".  Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton nhận định, bản hướng dẫn là "một bước đi đầu tiên quan trọng" tiến tới một giải pháp ngoại giao cuối cùng.[3]

Không nghi ngờ gì, Bản quy tắc hướng dẫn là một văn bản đạt được đúng lúc, góp phần làm giảm bớt căng thẳng trên Biển Đông trong những tháng qua. Bản quy tắc là sự kéo dài của Tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC) trên con đường khó khăn đi đến một thoả thuận mang tính ràng buộc pháp lý – Bộ quy tắc ứng xử của các bên trên Biển Đông (COC) nhưng cũng có thể là một sự trì hoãn kéo dài tình thế hiện hữu trên Biển Đông. Tất cả tùy thuộc vào sự chủ động, kiên quyết đấu tranh và thiện chí hợp tác của các bên có quyền lợi ở Biển Đông.

Từ DOC đến Bản Quy tắc hướng dẫn

DOC là văn bản song phương có sự tham gia của nhiều bên đầu tiên của khu vực trong quản lý và kiềm chế tranh chấp Biển Đông.[4] Tranh chấp này được biết đến như tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc từ đầu thế kỷ, và với các bên tranh chấp khác trong nửa cuối của thế kỷ XX cho đến nay. Tranh chấp Biển Đông  gồm ba loại: tranh chấp chủ quyền các đảo, tranh chấp phân định biển (phân định biển liên quan đến các đảo có tranh chấp và phân định biển không liên quan đến tranh chấp chủ quyền) và tranh chấp về sử dụng và bảo vệ môi trường biển (các quyền tự do hàng hải, về đặt dây cáp và ống dẫn ngầm, tranh chấp về môi trường biển, về nghiên cứu khoa học biển). Các tranh chấp này đan xen nhau, phụ thuộc lẫn nhau, chịu ảnh hưởng quan hệ giữa các siêu cường trong và ngoài khu vực, làm tranh chấp ngày càng phức tạp, khó giải quyết. Sau hai lần Trung Quốc sử dụng vũ lực năm 1974 và 1988 cùng sự kiện hợp đồng thăm dò khu vực bãi ngầm Tư Chính giữa Trung Quốc và công ty Mỹ Crestone nằm trên thềm lục địa Việt Nam năm 1992, ASEAN mới có sáng kiến ngăn ngừa đầu tiên với Tuyên bố Biển Đông năm 1992[5]. Tuyên bố này lần đầu tiên kêu gọi các bên tranh chấp cùng ASEAN xây dựng một Bộ quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC) như một biện pháp xây dựng lòng tin của khu vực.[6]  Việc gia nhập ASEAN của Việt Nam và vụ đụng độ Mischief (Đá Vành khăn) giữa Philippin và Trung Quốc trong cùng năm 1995 đã là những chất xúc tác đưa hai quốc gia bị ảnh hưởng nhiều nhất của sự phô trương sức mạnh quân sự của người láng giềng phương Bắc buộc phải có những bước đi kiên quyết trong lĩnh vực này. Năm 1996 ASEAN chính thức thống nhất đề xuất xây dựng văn bản COC cho khu vực. Lúc đầu Trung Quốc không chấp nhận đàm phán xây dựng một COC với l‎ý do ASEAN và Trung Quốc đã có Tuyên bố hợp tác hướng tới thế kỷ 21 ký tháng 12/1997 tại Kuala Lumpur.[7]  Sau khi tuyên bố đường cơ sở quần đảo Hoàng Sa năm 1996 vi phạm chủ quyền Việt Nam, Trung Quốc thông qua luật đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 1998, lệnh cấm đánh bắt cá từ năm 1999 nhằm củng cố sự hiện diện của mình ở Biển Đông. Hành động của Trung Quốc làm các nước khác lo ngại và khởi đầu một cuộc chạy đua vũ trang và chiếm đóng mới ở Biển Đông. Đài Loan thông qua luật lãnh hải và vùng tiếp, giáp năm 1998, luật đặc quyền kinh tế và thềm lục địa năm 1999. Malaysia chiếm thêm Én Đất và Bãi Thám hiểm tháng 6/1999. Việt Nam và Philippin tăng cường củng cố các vị trí đã chiếm giữ. Bối cảnh căng thẳng trên Biển Đông lúc đó buộc các nhà ngoại giao khu vực phải sớm có một giải pháp. Các bộ quy tắc ứng xử Philippin – Trung Quốc và Philippin – Việt Nam trong năm 1995 là cơ sở để ASEAN đề nghị Trung Quốc tiến hành đàm phán về một Bộ quy tắc ứng xử chung ASEAN – Trung Quốc. Thế nhưng các cuộc đàm phán giữa các bên chỉ đi đến một kết quả nửa đường – Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) 2002 sau hơn 2 năm đàm phán và 10 năm nung nấu ý tưởng. Các khó khăn trong xây dựng một Bộ Quy tắc ứng xử COC như phạm vi áp dụng, quy định về việc không xây dựng các cấu trúc mới trên những đảo, đá, bãi ngầm hay tính ràng buộc pháp lý đã dễ dàng bị bỏ qua để đi đến Thỏa thuận tạm hài lòng tất cả các Bên. Không phải là COC như mục tiêu hướng đến mà là DOC 2002 với hy vọng làm dịu bớt tình hình căng thẳng trên Biển Đông. Thế nhưng một sản phẩm đẻ non khó có thể làm tranh chấp giảm bớt. Các bên đều lợi dụng tính lỏng lẻo trong các quy định chung của DOC 2002 nhằm ngụy biện cho các hoạt động tăng cường hiện diện của mình trên Biển Đông. Hiệp định thăm dò địa chấn Trung – Phi 2004 là một sự vi phạm nghiêm trọng đối với nguyên tắc thông báo cho nhau trong DOC[8],  đe doạ phá vỡ nền tảng củaTuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC) năm 2002. Sự thay thế Hiệp định này bằng “Thoả thuận ba bên về tiến hành thăm dò địa chấn biển chung trong khu vực xác định tại biển Đông” 2005, do sự đấu tranh kiên quyết của Việt Nam, cũng chỉ mang lại bình yên trong thời gian ngắn. Dàn khoan Kantan-03 và tàu nghiên cứu Nam Hải của Trung Quốc thường xuyên xâm nhập hoạt động trên thềm lục địa đất liền Việt Nam. Trung Quốc tiếp tục gây sức ép buộc các hãng dầu khí nước ngoài đang có Hợp đồng thăm dò và khai thác dầu khí trên thềm lục địa Việt Nam phải ngừng công việc. Thành phố Tam Á bao gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa được thiết lập cũng như vụ rước đuốc Olympic Bắc Kinh qua Hoàng Sa đã làm dấy lên sự biểu lộ bất bình của người dân Việt Nam vào tháng 12/2007. Đài Loan mở rộng chiếm đóng Bãi Bàn Than và lên kế hoạch xây đường băng trên đảo Ba Bình. Đề xuất 6 dự án trong khuôn khổ DOC 2002 không được thực hiện.[9]  ASEAN và Trung Quốc bất đồng về nguyên tắc 2 trong dự thảo Hướng dẫn thực hiện DOC.

Tình hình biển Đông thực sự nóng bỏng từ năm 2009 khi vào tháng ba, tàu Mỹ Impeccable đụng độ với tàu Trung Quốc và vào tháng năm khi Trung Quốc phản đối việc trình hồ sơ chung ranh giới thềm lục địa Việt Nam – Malayssia và hồ sơ của Việt Nam về ranh giới thềm lục địa trước thời hạn ngày 13/5/2009 mà Liên hợp quốc ấn định. Công hàm phản đối của phái đoàn Trung Quốc ngày 7/5/2009 có đính kèm bản đồ “đường lưỡi bò” yêu sách 80% diện tích Biển Đông trên cái gọi là cơ sở lịch sử.  Đây là lần đầu tiên Trung Quốc đưa bản đồ này ra trước cộng đồng quốc tế. Sau đó, Trung Quốc áp dụng một loạt biện pháp để xác lập “đường lưỡi bò” trên thực tế. Năm 2010 là sự đối đầu giữa những tuyên bố về “lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc và “lợi ích quốc gia” của Mỹ ở Biển Đông làm Hội nghị ARF 17 tại Hà Nội thêm nóng bỏng. Đặc biệt, Ngoại trưởng Dương Khiết Trì đã buộc tội Mỹ can thiệp và đe nẹt các nước láng giềng “TQ là nước lớn và các nước khác là nước nhỏ, đó là một sự thực”. Trung Quốc đơn phương mở rộng thêm thời gian cấm đánh bắt cá ở Biển Đông từ 15/5 đến 31/8 hàng năm và tăng cường bắt giữ tàu thuyền của ngư dân Việt Nam, Philippin đang hoạt động hợp pháp trên Biển Đông. Đỉnh điểm của căng thẳng là vào nửa đầu năm 2011. Tháng 3/2011 Trung Quốc cản trở hoạt động của tàu địa chất khảo sát bình thường của Philippines tại khu vực Bãi Cỏ Rong. Tháng 5/2011 tàu hải giám Trung Quốc cắt cáp tàu Bình Minh 02 và Viking 02 trong vùng biển cách đất liền Việt Nam 120 hải ly. Đây là hành động nghiêm trọng bởi theo Công ước Luật Biển 1982, tại điều khoản 57 và 76 thì các quốc gia ven biển được quyền có vùng đặc quyền kinh tế rộng ít nhất 200 hải lý và vùng thềm lục địa ít nhất 200 hải lý và có thể mở rộng ra, (nếu điều kiện địa chất địa mạo cho phép) 350 hải lý tính từ đường cơ sở hoặc 100 hải lý tính từ đường đẳng sâu 2500m, phù hợp với các quy định của Công ước. Các cuộc vi phạm này đã dẫn đến những cuộc biểu tình tự phát biểu lộ tinh thần yêu nước giữ gìn chủ quyền biển đảo của người dân Việt Nam suốt 7 chủ nhật liên tiếp của tháng 6-7/2011. Những lời trấn an xây dựng tàu sân bay chỉ để huấn luyện không làm ai tin tưởng. Sự phô trương sức mạnh “cơ bắp” của Trung Quốc với các nước nhỏ và những đòi hỏi vô lý về đường lưỡi bò đã gây quan ngại sâu sắc cho cộng đồng quốc tế cũng như những bất bình trong dân chúng các nước nhỏ và làm tổn hại chính hình ảnh của Trung Quốc đổi mới trên trường quốc tế. Tình hình căng thẳng trên Biển Đông, xung đột biên giới Thái Lan – Cămpuchia đã trở thành những thách thức cho ASEAN đang trên đường xây dựng một Cộng đồng vững mạnh, đoàn kết và phồn vinh, đủ sức giải quyết những vấn đề nội bộ.

Trong một bối cảnh như vậy, việc cần có một thành quả chính trị làm hạ nhiệt cơn sốt Biển Đông là một đòi hỏi bức bách với các bên. Những điều kiện của 9 năm trước cho ra đời DOC 2002 dường như lại tái hiện ở mức cao hơn trong việc thông qua Bản quy tắc hướng dẫn DOC.[10] Từ Đối thoại Shangri-la cho đến cuộc họp các Bộ trưởng quốc phòng ASEAN ADMM+ trong tháng 5/2011 và các cuộc họp SOM chuẩn bị cho AMM 44 và ARF 18 trong tháng 6/2011, đâu đâu cũng thể hiện yêu cầu sớm có một bản COC như biện pháp xây dựng lòng tin nhằm tránh Biển Đông lại nổi sóng.[11] Sáu vòng đàm phán của Nhóm làm việc ASEAN-Trung Quốc về hướng dẫn thực thi DOC từ 2005 với 20 đề nghị sửa đổi, trao qua đổi lại buộc phải kết thúc. Trong bối cảnh như vậy, Bản quy tắc hướng dẫn cũng chỉ là một bước đi nhỏ tính từ thời điểm thông qua DOC 2002 trên con đường đầy gập ghềnh gian khó để đạt được mục tiêu COC trong năm 2012 nhân dịp kỷ niệm 10 năm DOC 2002. Điều này thể hiện rõ trong nội dung của Bản quy tắc hướng dẫn so với các nguyên tắc được nêu trong DOC 2002.

Nội dung Bản Quy tắc hướng đẫn DOC 2002

DOC gồm 10 điểm[12] đã được bổ sung thêm bằng Bản Quy tắc hướng dẫn 8 điểm[13] nhằm làm rõ thêm những nội dung trong các điểm của DOC. Các điểm này là :

1.      Việc thực hiện DOC cần tiến hành từng bước phù hợp với các điều khoản trong DOC.

2.      Các bên tham gia DOC sẽ tiếp tục thúc đẩy đối thoại và tham vấn theo tinh thần của DOC.

3.      Việc tiến hành các hoạt động hoặc các dự án đã được quy định trong DOC cần được xác định rõ ràng.

4.      Việc tham gia các hoạt động hoặc các dự án cần được thực hiện trên cơ sở tự nguyện.

5.      Các hoạt động ban đầu được cam kết trong phạm vi DOC cần phải là các biện pháp xây dựng lòng tin.

6.      Quyết định thực hiện các biện pháp hoặc các hoạt động cụ thể của DOC cần dựa trên sự đồng thuận giữa các bên liên quan và tiến tới hiện thực hóa COC.

7.      Trong quá trình thực hiện các dự án đã được thỏa thuận, khi cần thiết, sẽ trưng cầu sự phục vụ của các chuyên gia, các nhân vật kiệt xuất nhằm cung cấp nguồn lực cụ thể đối với các dự án liên quan.

8.      Tiến trình thực hiện các hoạt động và các dự án đã được thỏa thuận trong DOC sẽ được thông báo hàng năm cho Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN - Trung Quốc.

Tại cuộc họp lần thứ nhất của Nhóm làm việc ASEAN – Trung Quốc về thực thi DOC tổ chức ngày 4-5/8/2005 tại Manila, Philipppin, dự thảo của ASEAN gồm 7 điểm:

1.      Việc thực hiện DOC cần tiến hành từng bước phù hợp với các điều khoản trong DOC.

2.      ASEAN sẽ tiếp tục thực tiễn hiện có của mình về tham vấn giữa các thành viên trước khi gặp Trung Quốc. 

3.      Việc thực hiện DOC cần được dựa trên các hoạt động hoặc các dự án được xác định rõ ràng.

4.      Việc tham gia các hoạt động hoặc các dự án cần được thực hiện trên cơ sở tự nguyện.

5.      Các hoạt động ban đầu được tiến hành trong phạm vi DOC cần phải là các biện pháp xây dựng lòng tin.

6.      Quyết định thực hiện các biện pháp hoặc các hoạt động cụ thể của DOC cần dựa trên sự đồng thuận giữa các bên liên quan và tiến tới hiện thực hóa COC.

7.      Trong quá trình thực hiện các dự án đã được thỏa thuận theo DOC, khi cần thiết, sẽ trưng cầu sự phục vụ của các chuyên gia, các nhân vật kiệt xuất nhằm cung cấp nguồn lực cụ thể đối với các dự án liên quan.[14]

             Nếu so sánh thì hầu hết các điểm trong Dự thảo ban đầu của ASEAN đều được hai bên chấp nhận, nhất là các điểm 1, 3, 4, 5, 6, 7. Bản Quy tắc hướng dẫn DOC 2011 chỉ thêm điểm số 8 mới và có thay đổi nội dung của điểm số 2.

            Nguyên tắc 2 được đề xuất phù hợp với nguyên tắc đồng thuận trong Hiến chương của ASEAN[15] và tinh thần DOC là văn bản ký‎ kết giữa một bên là ASEAN và một bên là Trung Quốc. Các nước thành viên ASEAN mong muốn có sự trao đổi trước thống nhất lập trường của khối trước khi thảo luận với Trung Quốc. Điều 2.2.b của Hiến chương 2007 quy định ASEAN chia xẻ cam kết và trách nhiệm tập thể đối với hòa bình, ổn định và thịnh vượng của khu vực và điều 2.2.g ASEAN tăng cường tham vấn đối với các vấn đề ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích chung của khối. Hầu hết các nước ASEAN, dù có yêu sách chủ quyền hay không, đều có những quyền lợi trên Biển Đông như quyền tự do hàng hải, quyền quá cảnh, quyền đánh bắt cá, quyền đặt dây cáp và ống dẫn ngầm phù hợp với các quy định của Công ước luật biển 1982. Các Tuyên bố tại các Hội nghị thượng đỉnh ASEAN từ năm 1992 đều có vấn đề Biển Đông. Ngày 7/6/2011, Philippin chính thức đưa ra sáng kiến kêu gọi ASEAN và các nước liên quan đóng góp để chuyển Biển Đông từ một vùng tranh chấp thành một khu vực Hòa bình, Tự do, Hữu nghị và Hợp tác (Zone of Peace, Freedom, Friendship, and Cooperation  - ZoPFF/C)[16] Tuy nhiên đề xuất này của ASEAN lại vấp phải lập trường trái ngược của Trung Quốc. Nếu vào thời điểm ký‎ DOC, Trung Quốc không bình luận gì về hình thức ký kết văn bản thì trong các cuộc thảo luận về hướng dẫn thực hiện DOC, Trung Quốc thể hiện quan điểm DOC là văn bản ký giữa Trung Quốc và từng nước thành viên ASEAN chứ không phải với một bên là khối ASEAN, bên kia là Trung Quốc. Tại ARF 17 tổ chức ở Hà Nội năm 2010, chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông là không quốc tế hóa, không đa phương hóa, giải quyết tranh chấp trên cơ sở song phương. Trong bối cảnh các bên đều cần có một văn bản chính trị để hạ nhiệt ở Biển Đông như Bản quy tắc hướng dẫn thực hiện DOC thì việc tìm ra một công thức thỏa thiệp là bắt buộc. Nguyên tắc 2 của bản Quy tắc hướng dẫn (“Các bên tham gia DOC sẽ tiếp tục thúc đẩy đối thoại và tham vấn theo tinh thần của DOC”) là một công thức như vậy. ASEAN có thể hiểu các bên ở đây là ASEAN và Trung Quốc. Ngược lại Trung Quốc có thể giải thích các bên DOC là Trung Quốc và 10 nước ASEAN và họ có thể đối thoại riêng rẽ với từng nước. Khó khăn lớn nhất trong xác định chủ thể của DOC và cơ chế làm việc đã không có được sự hướng dẫn thỏa đáng. Điều này sẽ không thể không ảnh hưởng tới việc thực thi DOC trong tương lai. ASEAN có thể hài lòng với nội dung thêm ở điểm 8 hướng dẫn báo cáo hàng năm cho Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN - Trung Quốc về tiến trình thực hiện các hoạt động và các dự án đã được thỏa thuận trong DOC. Điểm 8 Hướng dẫn này không làm thay đổi thực chất chấp nhận nguyên tắc 2 trong Bản quy tắc hướng dẫn. Đây là một yếu thế pháp lý trong thực hiện nguyên tắc đồng thuận của ASEAN.[17]

              Điểm thứ hai có thể thấy gọi là Bản quy tắc hướng dẫn DOC nhưng thực chất là hướng dẫn thực hiện các dự án trong khuôn khổ DOC. Đã có tới 4/8 điểm trong bản quy tắc có chữ “dự án” nếu không nói là hầu hết 8 điểm đều liên quan đến các dự án. Trợ lý Ngoại trưởng Trung Quốc Lưu Chí Dân phát biểu tại Bali, Indonexia, sau khi bản Quy tắc hướng dẫn được thông qua cũng nhấn mạnh đến việc thực hiện các dự án: "Trung Quốc và ASEAN sẽ thực thi đầy đủ và toàn diện DOC và sẽ khởi động các hoạt động thực thi thông qua các dự án hợp tác".  Như đã biết, việc thực hiện DOC ít nhất có hai mục tiêu đồng thời: tạo ra sự tin tưởng lẫn nhau giữa các bên tranh chấp và thúc đẩy để đi đến một Bộ quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông mang tính khu vực (điểm 10 của COC). Trong việc tạo ra sự tin tưởng lẫn nhau thì các dự án chỉ là một phần. Cái chính mà DOC phải đạt được là giúp hạn chế các hành động gia tăng căng thẳng ở Biển Đông. Thỏa thuận DOC đã không cụ thể hóa thế nào là các hành vi gây phức tạp hoặc gia tăng tranh chấp và ảnh hưởng đến hòa bình ổn định ở khu vực ngoài quy định không đưa người ra ở tại những đảo, đá, bãi ngầm chưa có người ở...

              Sau những vụ tàu Bình Minh 02, Vi king 02 bị cắt cáp khi khảo sát trên thềm lục địa Việt Nam hay các cáo buộc của Philippins về những hoạt động của Trung Quốc ở Bãi Cỏ rong, vào sâu thềm lục địa của họ, cộng đồng khu vực và thế giới rất mong muốn Bản quy tắc hướng dẫn thực hiện DOC sẽ cụ thể hóa thêm những gì DOC chưa thể hiện. Rất tiếc, các thỏa thuận đạt được phần lớn chỉ tập trung vào các dự án trong các lĩnh vực phi truyền thống như nghiên cứu khoa học, bảo vệ môi trường biển, an toàn hàng hải; tìm kiếm cứu nạn; chống tội phạm có tổ chức. Các bên vẫn tiếp tục được quyền tự giải thích DOC và bản quy tắc hướng dẫn theo cách hiểu của mình. Điều này cắt nghĩa tại sao chỉ vài ngày sau khi thông qua Bản Quy tắc ứng xử, Philippin và Trung Quốc lại tiếp tục to tiếng với nhau khi Nhân dân Nhật báo ngày 2/8/2011 cảnh báo một số quốc gia sẽ phải trả giá đắt cho hành động sai lầm đối với chủ quyền của Trung Quốc sau khi báo Philippine Star đưa tin công binh Philippines sắp hoàn thành tòa nhà thứ hai trên một hòn đảo tại biển Đông.[18] Ngày hôm trước Trung Quốc cũng lên tiếng cảnh báo kế hoạch của Philiippines khoan thăm dò ít nhất hai giếng và tiến hành một loạt các cuộc khảo sát địa chấn vào đầu năm sau trên vùng biển giàu khí thuộc Bãi Cỏ rong.[19]

            Cũng giống như DOC, Bộ quy tắc hướng dẫn lảng tránh vấn đề phạm vi áp dụng, dù chỉ là phạm vi cho các dự án hợp tác. Phạm vi áp dụng của DOC được Việt Nam và ASEAN hiểu bao gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa những khu vực có tranh chấp, còn Trung Quốc lại hiểu chỉ bao gồm Trường Sa. Ngày 7/5/20009, với việc chính thức công bố bản đồ đường lưỡi bò tại Liên hợp quốc, theo Trung Quốc, phạm vi tranh chấp đồng nghĩa với phạm vi áp dụng DOC, ít nhất là trong phạm vi đường lưỡi bò  nhưng không được nói đến Hoàng Sa đã “thuộc” sự chiếm đóng của họ, không có gì phải đàm phán hay tranh cãi. Việc xác định phạm vi cho từng dự án được điều chỉnh bởi các quy tắc 3,4 và 6 với điều kiện các dự án đó phải rõ ràng, phải thông qua đồng thuận và việc tham gia trên cơ sở tự nguyện. Theo luật pháp và thực tiễn quốc tế, các dự án như các biện pháp xây dựng lòng tin có thể được tiến hành trên các khu vực tranh chấp có phạm vi xác định trên cơ sở thỏa thuận của các bên liên quan. Tại các khu vực không có tranh chấp, các dự án hợp tác phải tuân thủ luật pháp của nước chủ nhà. Ở Bali, Indonexia tháng 7/2011, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Dương Khiết Trì tuyên bố duy trì đường đứt khúc 9 đoạn từ năm 1948 thì đồng nghiệp Philipppin của ông Albert del Rosario than thở, đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông nhiều đến mức nếu đáp ứng đòi hỏi của họ, việc xây dựng một bộ quy tắc ứng xử với Trung Quốc trở thành vô ích. Các hoạt động đấu thầu dầu khí của Philippin và Việt Nam trong tháng 7-8/2011 trên thềm lục địa tính từ đất liền mà các nước này cho là của họ phù hợp Công ước luật biển 1982 liên tục bị Bắc Kinh cảnh báo là vi phạm chủ quyền của Trung Quốc. Bộ quy tắc hướng dẫn đã không đề cập đến hướng giải quyết các tranh chấp tương tự như thế nào, dựa trên Công ước luật biển hay dựa trên các bằng chứng lịch sử mà các bên thi nhau đưa ra và không có một biểu hiện nhượng bộ. Rõ ràng việc xác định phạm vi triển khai các dự án trong khuôn khổ DOC sẽ không dễ dàng hơn so với trước khi có Bộ quy tắc hướng dẫn thực hiện và nếu đạt được thỏa thuận thì việc tiến hành dự án cũng chưa hẳn đã thuận lợi khi việc tiến hành này là trên cơ sở tự nguyện, nghĩa là có thể tham gia hay rút ra tùy ý ‎?[20]

            Điểm 7 của Bộ Quy tắc ứng xử là nhằm tăng cường  nguồn lực cụ thể đối với các dự án liên quan. Tuy nhiên nó không cho biết rõ sẽ trưng cầu sự phục vụ của các chuyên gia, các nhân vật kiệt xuất mang quốc tịch Trung Quốc, các nước ASEAN hay một nước thứ ba. Ở đây cũng thể hiện sự nhượng bộ hai lập trường của ASEAN và Trung Quốc về mở rộng hợp tác giữa các bên liên quan trong và ngoài khu vực. Một dự án liên quan đến an toàn hàng hải hay bảo vệ môi trường biển rõ ràng cần có sự ủng hộ của không chỉ các nước trong khu vực mà cả các nước ngoài khu vực khi Biển Đông tập trung nhiều tuyến đường hàng hải quốc tế. Việc quy định không cụ thể có thể sẽ gây ra những thảo luận triền miên ở cấp chuyên viên, gây ảnh hưởng đến tiến trình thực hiện các dự án. Bộ quy tắc hướng dẫn cũng như DOC không giải quyết được dạng tranh chấp thứ ba ở Biển Đông đã bắt đầu bằng những tranh cãi giữa Mỹ và Trung Quốc về quyền tự do hàng hải, khảo sát khoa học qua vụ tàu Imppeccable tháng 3/20009, cũng như các tranh luận về lợi ích cốt lõi của Trung Quốc và lợi ích quốc gia của Mỹ trước và sau ARF 17 tại Hà Nội tháng 7/2010.

            Bộ quy tắc hướng dẫn cũng không có một quy định nào về cơ chế giám sát, thực thi các hoạt động hay các dự án trong khuôn khổ DOC ngoài quy định điểm 8 về nghĩa vụ thông báo hàng năm cho cuộc họp cho Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN - Trung Quốc. Điều này cũng dễ hiểu vì DOC là một văn bản lỏng lẻo, mang tính chính trị nhiều hơn là ràng buộc pháp lý nên Bản Quy tắc hướng dẫn cũng không thể khắc phục được tính chất này. Kết quả có thể dự báo là tính hiệu quả của các dự án không cao do không có một cơ chế hữu hiệu trong giám sát và thúc đẩy tiến trình dự án.

               Bản quy tắc hướng dẫn đề cập duy nhất tới COC, mục tiêu mà khu vực và quốc tế mong đợi, trong điểm 6, khi khẳng định quyết định tiến hành các hoạt động cụ thể này là nhằm tiến tới hiện thực hóa COC. Nếu bản quy tắc này được thông qua năm 2005 hay 2006 thì những quy định này có thể có tác động thúc đẩy nhanh hơn quá trình xây dựng COC và điểm 1: “Việc thực hiện DOC cần tiến hành từng bước” mới phù hợp. Trong bối cảnh được đặt giữa quyết tâm của ASEAN thông qua COC vào năm 2012 tại Phnompenh-Campuchia kỷ niệm 10 năm thông qua DOC và tuyên bố của Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì ở Bali, Indonesia tháng 7/2011 về chân thành thực hiện DOC và chỉ thảo luận xây dựng COC khi các điều kiện đã “chín muồi”,[21]thì thời gian thực hiện bản quy tắc hướng dẫn này quá ngắn ngủi, đồng nghĩa với hiệu quả thấp của nó.  Thời điểm tháng 5-6/2011 được đánh giá như một mốc kịch tính nhất, đe dọa xảy ra xung đột trên Biển Đông tính từ năm 1988. Người ta có thể đặt câu hỏi vậy tình hình hiện nay đã thực sự chín muồi để xây dựng COC chưa hay đợi đến bao giờ. Cảnh báo của Ngoại trưởng Trung Quốc làm tăng thêm mức độ hoài nghi về một bản ASEAN-Trung Quốc COC sẽ được thông qua vào năm sau. Trung Quốc vẫn dành cho mình quyền chủ động phán xét khi nào thì “chín muồi” để thảo luận về COC.

             Bộ quy tắc hướng dẫn trên con đường từ DOC đến COC

            Bộ quy tắc hướng dẫn DOC với những quy định chung chung, không đáp ứng được mong đợi của cộng đồng quốc tế. Thậm chí nó còn được đánh giá là một thỏa thuận hời hợt.[22] Tuy nhiên, trong bối cảnh một nền hòa bình tồi còn hơn là một cuộc chiến tranh tốt, nó đáp ứng được mục tiêu của các bên đề ra.

            Đối với Trung Quốc, việc thông qua bản quy tắc hướng dẫn bảo đảm: 1) không mâu thuẫn với chính sách hai không (không đa phương hóa, không quốc tế hóa) thể hiện trong việc thuyết phục ASEAN điều chỉnh nguyên tắc 2 trong dự thảo; 2) chứng tỏ cho cộng đồng quốc tế biết rằng Trung Quốc hoàn toàn có thể dẫn dắt ASEAN cũng giải quyết “nội bộ” vấn đề tranh chấp Biển Đông không có sự can thiệp từ bên ngoài; 3) khẳng định vai trò của Trung Quốc trong giải quyết tranh chấp theo hướng có lợi, chỉ xây dựng COC khi điều kiện đã chín muồi; 4) xoa dịu mâu thuẫn nội bộ giữa bên chủ chiến dùng vũ lực và bên chủ hòa đàm phán song phương để giải quyết tranh chấp; 5) không bị ràng buộc gì khi thực hiện các dự án DOC và tạo điều kiện để đòi hỏi thực hiện “gác tranh chấp cùng khai thác” trên tinh thần hợp tác DOC.

             Thời điểm mà Trung Quốc lựa chọn thông qua tại Bali cũng được quyết định bởi nhiều yếu tố[23]: 1) tình hình chính trị quốc tế và khu vực đã có nhiều biến đổi, cấp cao Đông Á tháng 11/2011 với sự gia nhập của Mỹ và việc Nga, Ấn Độ quan tâm nhiều hơn đến Đông Nam Á làm Trung Quốc không còn vị trí độc tôn trong quan hệ với các nước ASEAN; 2) có sự thay đổi vai trò Chủ tịch ASEAN từ các nước có đòi hỏi chủ quyền ở Biển Đông như Việt Nam hay có quan tâm sâu sắc tới an ninh Biển Đông như Indonesia sang quốc gia có lợi ích hạn chế hơn trong năm 2012; 3) Năm 2012 đánh dấu 20 năm quan hệ Trung Quốc – ASEAN nhưng hiện nay cả hai bên đều bối rối khi tranh chấp vượt ra tầm kiểm soát, niềm tin đã bị xói mòn bởi không có sự phát triển gì trong 9 năm từ khi thông qua DOC. Hai bên đều cần có một dấu ấn mới, mở đầu một thời kỳ mới; 4) quan hệ ngoại giao Trung Quốc và Mỹ, yếu tố tác động đến khu vực, cần có những biểu hiện ôn hòa, xuống thang hơn so với năm trước. Mỹ đang phải đối phó với những khó khăn kinh tế, nguy cơ vỡ nợ công và Trung Quốc cũng đang cần môi trường ổn định hơn để phát triển tầu sân bay và trấn áp các cuộc biểu tình nội bộ. Các phát biểu của chính giới Mỹ và Trung Quốc trước và sau ARF đều bớt phần căng thẳng, chỉ trích nhau như trước. Thời điểm thông qua bản quy tắc hướng dẫn 2 ngày trước ARF 18 cũng nhằm tránh khả năng có thêm một ARF giống như ARF 17 trong đó các nước tập trung phê phán thái độ của Bắc Kinh với tình hình Biển Đông.

               Đối với ASEAN, việc thông qua bản quy tắc hướng dẫn là một thắng lợi chính trị của ASEAN khi chứng tỏ được ASEAN có khả năng dàn xếp được những tranh cấp trong khu vực, nhất là khi ngoài vấn đề Biển Đông, ASEAN còn phải đối đầu với tranh chấp biên giới Thái Lan – Campuchia ở đền Preah Vihear  cũng như vấn đề Myanma. ASEAN và Trung Quốc đã tháo ngòi nổ vấn đề lớn nhất - chủ quyền đối với các vùng lãnh thổ đang có tranh chấp ở Biển Đông bằng cách đồng ý những hướng dẫn mới để xử lý các tranh chấp[24]. Đối với  ASEAN, việc kéo Trung Quốc vào nói chuyện về DOC đã là một bước tiến dù chưa đi đến ddwwocj giải pháp mong muốn.[25] ASEAN cũng mong muốn có được tiến triển trước lễ kỷ niệm 45 năm của khối vào 2012. Mặc dù nguyên tắc 2 trong dự thảo của ASEAN không đạt được yêu cầu của ASEAN nhưng nó không ảnh hưởng lớn đến nguyên tắc đồng thuận và tham vấn của ASEAN.  Đây cũng là thắng lợi của Indonesia trong vai trò Chủ tịch ASEAN, thể hiện vai trò không chỉ có thể lãnh đạo đi đến những giải pháp cho tranh chấp khu vực mà cả lãnh đạo toàn khối.[26] Đó là tiền đề để thực hiện tốt COC, góp phần mang lại hòa bình và ổn định cho Biển Đông. Bộ quy tắc hướng dẫn là cơ sở cho niềm tin tình hình Biển Đông sẽ dịu đi và một tiến trìnhh  thảo luận COC có thể bắt đầu.

             Đối với các nước ngoài khu vực, việc thông qua Bản quy tắc hướng dẫn cho thấy ít nhiều vai trò của dư luận quốc tế trong việc ngăn cản những bước đi phiêu lưu của Trung Quốc, tạo tiền lệ để áp dụng đấu tranh ở các khu vực khác. Đây cũng là cơ sở đấu tranh tiếp theo trên diễn đàn Đông Á vào cuối năm 2011. Các nước cũng có dịp thể hiện xu thế đòi hỏi phải giải quyết các tranh chấp biển trên cơ sở luật quốc tế và đặc biệt Công ước của Liên hợp quốc về luật biển 1982: Các tranh chấp biển phải được giải quyết trên cơ sở các yêu sách từ đất (land features) chứ không phải từ những đường vẽ tưởng tượng.

              Dư luận quốc tế đánh giá tích cực về việc thông qua Bản Quy tắc hướng dẫn hơn là bình luận về nội dung của nó. Trong khi Trung Quốc “đề cao thắng lợi”, ASEAN thở phào thì các nước khác cũng bớt e ngại hơn về một khả năng xung đột khó kiểm soát có thể xảy ra. Đây cũng là dịp để đánh giá những lời nói và việc làm của Trung Quốc trong thời gian qua. Bản Quy tắc hướng dẫn chỉ là bước đi đầu tiên thực hiện DOC của Trung QUốc và ASEAN với tư cách toàn khối. Đó là một bước đi đúng hướng. Song dư luận có quyền đòi hỏi ASEAN và Trung Quốc phải có những bước đi nhanh hơn, thậm chí là khẩn thiết, tiến đến sớm có một Bộ quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông mang tính pháp lý ràng buộc cao.[27] Việc triển khai các dự án sẽ là những biện pháp lòng tin ban đầu để xây dựng lại quan hệ ASEAN – Trung Quốc đã bị xói mòn phần nào từ 2009. ASEAN và Trung Quốc cần sớm thống nhất về ba vấn đề  lớn nhất trong tiến trình tiến đến COC là làm sao xác định được phạm vi vùng tranh chấp và không tranh chấp, cụ thể các hành động không được phép và cơ chế giám sát, giải quyết tranh chấp. Đó là những nội dung thực chất mà ASEAN và Trung Quốc không thể cứ tránh né, lần lữa.[28] Tương lai của COC phụ thuộc vào sự Công tâm và Chủ động của các bên, vào tính Công khai lập trường của các bên, vào Công luận và Công pháp quốc tế. Một công thức 5C cần thiết để có được một COC chấp nhận được với tất cả các bên.[29]

Việt Long

Bài viết tham dự Hội thảo “Việt nam và các nước ASEAN trước thử thách, Singapore, 20-21/8/2011.

Tác giả xin ngỏ lời cám ơn những ý kiến đóng góp quý báu của Nguyễn Thị Thanh Hà, Nguyễn Đăng Thắng, Giáp Văn Dương để hoàn thiện bài viết.



[1] Remarks by Foreign Minister Yang Jiechi at the ARF Foreign Ministers' Meeting, 2011/07/24 , http://www.fmprc.gov.cn/eng/topics/yjccxdmwzh/t842183.htm  

[2] China Daily 27/7/2011.

[3] Hoàng Phương Loan, Hạ nhiệt Biển Đông và trò chơi hai mặt, Tuần Việt Nam, ngày 27/7/2011.

[4] Governments of the Member States of ASEAN and the Government of the People’s Republic of China, Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea (Phnom Penh, November 4, 2002), http://www.aseansec.org/13163.htm

[5] Khoản 4 của Tuyên bố "khuyến nghị tất cả các bên liên quan áp dụng các nguyên tắc trong Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác tại Đông Nam Á như là cơ sở để hình thành một bộ luật ứng xử quốc tế đối với Biển Nam Trung Hoa”. Văn bản có tại  http://www.aseansec.org/1196.htm

[6] Nguyen Hong Thao, “Vietnam and the Code of Conduct for the South China Sea”, Ocean Development and International Law, 32:105-130, (2000).

[7] Joint Communique of The 29th ASEAN Ministerial Meeting (AMM), Jakarta, 20-21 July 1996, mục 11 "endorsed the idea of concluding a regional code of conduct in the South China Sea which will lay the foundation for lone[sic] term stability in the area and foster understanding among claimant countries."

Nguyen Hong Thao, “Vietnam and the Code of Conduct for the South China Sea”, Ocean Development and International Law, 32:105-130, (2000).

[8] Điểm 6 của DOC: “mọi hoạt động, dự án triển khai phải có sự thống nhất của tất cả các bên liên quan”. Xem nguyên văn tiếng Anh có trong Nguyen Hong Thao, "The 2002 Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea: A Note" Ocean Development & International Law 34 (2003): 279-285.

[9]Nguyen Hong Thao and Ramses,  “A New Legal Arrangement For the South China Sea?, Ocean Development & International Law(American), 2009, Vol. N.40: 4, 333 — 349.

[10] Indra Harsaputra, China ‘agrees’ to immediate peace in S. China Sea, The Jakarta Post, 2 June, 2011.

[11] Dina Indrasafitri, ASEAN defense meeting ends with declaration, The Jakarta Post, 19 May 2011.

[12] Về phân tích nội dung DOC xem Thanh Hà – Đăng Thắng,  “Ngẫm về bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông”, http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-04-15-nghi-ve-bo-quy-tac-ung-xu-o-bien-dong- ; Nguyen Hong Thao, "The 2002 Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea: A Note" Ocean Development & International Law 34 (2003): 279-285; Wu Shicun and Ren Huaifeng, "More than a Declaration: A Commentary on the Background and the Significance of the Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea" Chinese Journal of International Law 3 (2003): 311-19.

[13]Jakarta Post, "South China Sea Guidelines Agree" 21 July 2011;

http://www.mfa.gov.cn/chn/pds/ziliao/zt/dnzt/yjcdm2/t844329.htm

 Hoàng Anh, Quy tắc hướng dẫn thực hiện DOC, http://nghiencuubiendong.vn/tin-quoc-te-tong-hop/1849-1849 .

[14] Nguyen Hong Thao and Ramses,  “A New Legal Arrangement For the South China Sea?, Ocean Development & International Law(American), 2009, Vol. N.40: 4, 333 — 349.

[16] Albert F. Del Rosario, Secretary of Foreign Affairs of the Philippins,  “A Rules, – based regime in the South China Sea”, nghiencuubiendong.org, 7 June 2011.

[17] Brian McCartan  “Shallow agreement in the South China Sea”, Asia Times Online, http://www.atimes.com/atimes/Southeast_Asia/MG30Ae03.html , 30 July 2011.

[18]“Trung Quốc - Philippines: Lại căng thẳng lời qua, tiếng lại”.

http://www.thanhnien.com.vn/Pages/20110804/Trung-Quoc-Philippines-Lai-cang-thang-loi-qua-tieng-lai.aspx 4/8/2011 .

Michael Wines, “China Party Newspaper Warns the Philippines”,  The  New York Times 3, August 2011.

[19] “Drilling Plans raise Stakes in DisputesSeas”, The Wall Street Journal Business, 3 August 2011.

[20] Remarks by Foreign Minister Yang Jiechi at the ARF Foreign Ministers' Meeting, 2011/07/24 , http://www.fmprc.gov.cn/eng/topics/yjccxdmwzh/t842183.htm  “The dotted line was formally announced by the Chinese government in 1948. China's sovereignty, rights and claims in the South China Sea were established and developed in the long course of history. They have been consistently upheld by the Chinese government”.

Đằng sau việc Trung Quốc đồng ý ký vào bản hướng dẫn thực thi DOC với ASEAN , Nghiên cứu Biển Đông, 21/7/2011: Ông Rosario nói: “Về cơ bản, họ tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ Biển Đông. Vì vậy, nếu chúng ta (ASEAN) ký bộ quy tắc ứng xử với Trung Quốc, điều đó chẳng có nghĩa lý gì”.

[21] Remarks by Foreign Minister Yang Jiechi at the ARF Foreign Ministers' Meeting, 2011/07/24, http://www.fmprc.gov.cn/eng/topics/yjccxdmwzh/t842183.htm, “This outcome demonstrates the resolve, confidence and capability of China and ASEAN countries to jointly promote peace and stability in the South China Sea by implementing the DOC. At the meeting, China put forward a series of initiatives to promote practical cooperation under the DOC framework. These initiatives include holding a seminar on navigation freedom in the South China Sea and establishing three technical committees on marine scientific research and environmental protection and on other activities. China also reaffirmed its readiness to undertake the three cooperation projects already agreed upon by all parties. This once again shows China's commitment to and sincerity about the implementation of the DOC. China is open to discussing the formulation of a code of conduct of the parties in the South China Sea (COC) when conditions are ripe. But the pressing task at present is to start practical cooperation in the South China Sea”.

[22] Brian McCartan  “Shallow agreement in the South China Sea”, Asia Times Online, http://www.atimes.com/atimes/Southeast_Asia/MG30Ae03.htm , 30 July 2011.

[23] Kavi Chongkittavorn, “South China Sea: be aware of undercurrent”, The Nation, 1 August 2011.

[25] Endy M. Bayuni, “For ASEAN, talk is a real bargain”, The Jacarta Post, 08/04/2011, http://www.thejakartapost.com/news/2011/08/04/for-asean-talk-a-real-bargain.html 

[26] Mark J. Valencia, ASEAN rises to a challenge, The Japan Times, 1 August 2011.

[27] Ibid.

Walter Lohman, “The U.S. Cannot Rely on ASEAN in the South China Sea”, The Heritage Foundation, 5 August 2011, http://www.heritage.org/Research/Reports/2011/08/ASEAN-South-China-Sea-Dispute-and-US-Policy-on-East-Asia

[28] Tân bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh: “Phải xây dựng cho được bộ quy tắc ứng xử COC”, Sài gòn tiếp thị, 8/8/2011; http://sgtt.vn/Thoi-su/151008/Phai-xay-dung-cho-duoc-bo-quy-tac-ung-xu-COC.html

[29] Brian McCartan  “Shallow agreement in the South China Sea”, Asia Times Online,

http://www.atimes.com/atimes/Southeast_Asia/MG30Ae03.htm

, 30 July 2011

 

 

 

Bài viết của Nguyễn Đăng Thắng*, Nghiên cứu sinh luật tại Anh, phân tích những cơ chế giải quyết tranh chấp trong Công ước luật biển, mối quan tâm chính trong tranh chấp tại Biển Đông của Phi-lip-pin, từ đó đưa ra những đánh giá triển vọng về việc nước này kiện (nếu có) Trung Quốc, những suy ngẫm và có thể là bài học để Việt Nam tham khảo và xem xét.

 

Tháng 7 vừa qua Ngoại trưởng Phi-líp-pin Albert del Rosario đã có một số tuyên bố về khả năng giải quyết tranh chấp với Trung Quốc liên quan đến quần đảo Trường Sa ở Biển Đông bằng các cơ quan tài phán quốc tế. Trước hết đó là đề nghị về việc Phi-líp-pin và Trung Quốc cùng đưa tranh chấp giữa hai nước ra giải quyết trước Tòa án quốc tế về luật biển. Sau khi phía Trung Quốc từ chối, khăng khăng giải quyết vấn đề song phương, Ngoại trưởng Phi-líp-pin lại mạnh bạo khẳng định rằng họ sẽ sử dụng các quy định của Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 (Công ước Luật biển) cho phép họ có thể đơn phương kiện Trung Quốc.[1] Ngoại trưởng Phi-líp-pin tuyên bố rằng Phi-líp-pin muốn sử dụng cơ chế trọng tài quy định trong Công ước Luật biển để “xác định rõ vùng biển nào có tranh chấp và vùng biển nào không”.

Cứ tạm coi rằng Phi-líp-pin và Trung Quốc có yêu sách chính đáng ở Trường Sa, việc phân tích xem làm sao Phi-líp-pin có thể kiện Trung Quốc để bảo vệ quyền lợi của mình sẽ là một vấn đề thú vị và có thể là bài học cho Việt Nam khi Việt Nam cũng gặp phải những sự việc mà như Người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Việt Nam miêu tả là “Trung Quốc đang cố tình làm dư luận hiểu nhầm khu vực không có tranh chấp thành khu vực tranh chấp”.[2] Để hiểu được Phi-líp-pin làm thế nào để kiện Trung Quốc, trước hết cần phải trả lời câu hỏi: Phi-líp-pin định kiện về điều gì? Khi Phi-líp-pin vẫn chưa “bật mí” cụ thể về vấn đề này nhưng lại tỏ ra khá tự tin về sự thành công trong nỗ lực của mình, câu trả lời có lẽ có thể tìm bằng cách xem xét mối quan tâm của Phi-líp-pin hiện nay ở Biển Đông, đối chiếu nó với cơ chế giải quyết tranh chấp trong Công ước Luật biển và đánh giá triển vọng giải quyết vấn đề.

Sự kiện Bãi Cỏ Rong – mối quan tâm đặc biệt gần đây của Phi-líp-pin

Tuyên bố liên quan đến việc sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp trong Công ước Luật Biển của Ngoại trưởng Phi-líp-pin dường như hướng đến những căng thẳng gần đây giữa Phi-líp-pin và Trung Quốc xuất phát từ tranh chấp ở quần đảo Trường Sa (mà Phi-líp-pin còn gọi là Kalayaan hay KIG) bắt đầu bằng sự kiện Bãi Cỏ Rong. Đây là vụ việc vào đầu tháng ba khi hai tàu tuần tra của Trung Quốc xua đuổi tàu thăm dò của Anh do Phi-líp-pin thuê để khảo sát khu vực Bãi Cỏ.[3] Phi-líp-pin ngay lập tức có phản ứng mạnh mẽ trên thực địa bằng cách phái hai máy bay ra nơi xảy ra sự việc đồng thời cử hai tàu hải quân hộ tống tàu khảo sát trong suốt thời gian còn lại của chuyến khảo sát. Trên phương diện ngoại giao, Phi-líp-pin cũng gửi công hàm phản đối và cử đại diện sang Bắc Kinh để “bàn về vấn đề”.

Cũng được coi là hệ quả của sự kiện Bãi Cỏ Rong đó là việc đầu tháng 4, Phi-líp-pin tiếp tục phản đối Trung Quốc tại Liên hợp quốc liên quan đến bản đồ vẽ đường chín đoạn của Trung Quốc mà Phi-líp-pin cho rằng thể hiện các vùng nước liên quan cũng như đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của quần đảo Trường Sa. Trong gửi công hàm đến Tổng thư ký Liên hợp quốc, Phi-líp-pin khẳng định rằng đường chín đoạn do Trung Quốc vẽ không có bất kỳ cơ sở nào theo luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Luật biển.[4] Đáp lại, Phái đoàn Trung Quốc cũng gửi Công hàm đến Tổng thư ký Liên hợp quốc, khẳng định chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Trường Sa và đặc biệt nhấn mạnh ‘quần đảo Trường Sa hoàn toàn có lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa’ theo quy định của Công ước Luật biển cũng như các văn bản pháp luật trong nước của Trung Quốc.[5]

Tiếp đó, tại Hội nghị các quốc gia thành viên Công ước Luật biển lần thứ 21 diễn ra tại New York tháng 6 vừa qua, Tổng thư ký Ủy ban các Vấn đề Biển và Đại đương của Phi-lí-pin nêu rõ những sự kiện gần đây ở Bãi Cỏ Rong dường như đã mở rộng khái niệm khu vực tranh chấp ở Biển Đông để gộp cả “những vùng biển và thềm lục địa rõ ràng chỉ thuộc chủ quyền và/hay quyền tài phán của Phi-líp-pin”.[6] Đối chiếu phát biểu này với tuyên bố của Ngoại trưởng Phi-líp-pin về việc sử dụng Tòa trọng tài để làm rõ giữa khu vực tranh chấp và khu vực không tranh chấp thì dường Phi-líp-pin có ý định để sử dụng Tòa trọng tài để khẳng định Bãi Cỏ Rong là nằm trên thềm lục địa của Phi-líp-pin, tách biệt với vùng biển liên quan đến quần đảo Trường Sa đang tranh chấp. Điều này là cần thiết khi Bãi Cỏ Rong giờ đã trở thành một vấn đề đặc biệt quan tâm của Phi-líp-pin do dự đoán khu vực này có tiềm năng lớn về dầu khí. Tổng thống Phi-líp-pin gần đây tuyên bố sẽ làm mọi cách để bảo vệ khu vực này[7] và Phi-líp-pin thực sự đang nỗ lực mua sắm trang thiết bị để tăng cường tiềm lực quân sự của mình. Tuy nhiên, thực tế là năng lực quân sự của Phi-líp-pin vẫn được coi là thuộc loại yếu kém nhất trong khu vực và không thể so sánh với Trung Quốc – quốc gia có tiềm lực quốc phòng vượt trội trong khu vực. Hơn nữa, trong bối cảnh hiện nay, việc sử dụng đến vũ lực chỉ là phương tiện cuối cùng và các biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp luôn là ưu tiên hàng đầu. Chính vì thế, việc sử dụng Tòa trọng tài quy định trong Công ước Luật biển của Phi-líp-pin để giải quyết bất đồng với Trung Quốc là một cách làm khôn ngoan. Vấn đề đặt ra đó là thực sự Phi-líp-pin có khả năng làm điều này hay không và để trả lời câu hỏi này, cần hiểu qua cơ chế và thủ tục giải quyết tranh chấp trong Công ước Luật biển, đặc biệt là về Tòa trọng tài.

Vài nét về cơ chế giải quyết tranh chấp trong Công ước Luật biển và khả năng áp dụng trong tranh chấp giữa Phi-líp-pin và Trung Quốc ở Biển Đông

Cơ chế giải quyết tranh chấp trong Công ước Luật biển được coi là một trong những cơ chế giải quyết tranh chấp tiến bộ nhất và là hình mẫu về cơ chế giải quyết tranh chấp trong các lĩnh vực chuyên ngành của luật pháp quốc tế. Trước khi xem xét thêm về cơ chế giải quyết tranh chấp trong Công ước Luật biển, một điều dường như là hiển nhiên nhưng cần phải nhấn mạnh đó là về nguyên tắc, đối tượng tranh chấp mà cơ chế giải quyết tranh chấp trong Công ước Luật biển áp dụng phải liên quan đến việc giải thích và áp dụng Công ước.

Cơ chế giải quyết tranh chấp trong Công ước Luật biển được quy định tại Phần XV và được cụ thể hóa bằng một số phụ lục. Phần XV trong Công ước có ba (03) mục, trong đó hai mục đầu quy định về trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp và mục thứ ba quy định về một số ngoại lệ cho việc áp dụng thủ tục giải quyết tranh chấp bắt buộc.

Mục 1 của Phần XV chứa đựng một số quy định chung về việc giải quyết tranh chấp, trong đó đáng chú ý nhất đó là nghĩa vụ các bên tranh chấp phải “trao đổi ý kiến” về cách thức giải quyết tranh chấp (Điều 283). Khi các bên tranh chấp áp dụng các quy định trong Mục 1 mà tranh chấp không được giải quyết thì một bất kỳ một bên tranh chấp nào cũng có thể đơn phương sử dụng thủ tục phù hợp trù định tại Mục 2 để tìm kiếm một phán quyết có giá trị ràng buộc đối với bên kia về tranh chấp (Điều 286). Nói cách khác, Công ước quy định tại Mục 2 Phần XV một thủ tục giải quyết tranh chấp bắt buộc (với bên kia) và thủ tục này sẽ đưa đến một phán quyết có giá trị ràng buộc và tối hậu đối với cả hai bên tranh chấp (Điều 296). Nhờ có quy định của Mục 2 này mà phần lớn các tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng Công ước đều sẽ được giải quyết. Đây chính là điểm tiến bộ và được đánh giá cao của Công ước Luật biển.

Có bốn thủ tục giải quyết tranh chấp bắt buộc (các cơ quan tài phán quốc tế) được trù định tại Điều 287, Mục 2 Phần XI của Công ước, đó là: (i) Tòa án quốc tế về Luật biển thành lập theo Phụ lục VI; (ii) Tòa án công lý quốc tế (cơ quan tư pháp chủ yếu của Liên hợp quốc); (iii) một tòa trọng tài quốc tế thành lập theo Phụ lục VII (thường gọi là Trọng tài Phụ lục VII) và (iv) một tòa trọng tài đặc biệt thành lập theo Phụ lục VIII để giải quyết một số loại tranh chấp cụ thể mang tính kỹ thuật. Để các quốc gia vẫn có sự độc lập tương đối trong việc lựa chọn các thủ tục giải quyết tranh chấp, theo quy định của Công ước nếu hai quốc gia thành viên bằng tuyên bố của mình lựa chọn cùng một thủ tục trong bốn thủ tục trên thì thủ tục đó sẽ được áp dụng để giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa hai quốc gia này. Tuy nhiên, trong trường hợp hai quốc gia tranh chấp lựa chọn thủ tục giải quyết tranh chấp khác nhau hay trong trường hợp một hoặc cả hai bên tranh chấp không đưa ra tuyên bố lựa chọn thủ tục giải quyết tranh chấp, thì thủ tục Trọng tài Phụ lục VII sẽ được áp dụng như là thủ tục “mặc định” được áp dụng cho tranh chấp giữa hai quốc gia (khoản 3 Điều 287). Do cả Phi-líp-pin và Trung Quốc đều không đưa ra tuyên bố về việc lựa chọn thủ tục nào trong bốn thủ tục nêu trên, Trọng tài Phụ lục VII sẽ là thủ tục được áp dụng để giải quyết tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng Công ước giữa hai quốc gia này.

Tuy nhiên, không phải tất cả các tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng Công ước đều có thể giải quyết bằng thủ tục giải quyết tranh chấp bắt buộc tại Mục 2. Mục 3 Phần XV của Công ước Luật biển đưa một số các ngoại lệ, hạn chế thẩm quyền của các cơ quan tài phán quy định tại Điều 287, hay cụ thể ở đây là Trọng tài Phụ lục VII. Đáng chú ý trong quan hệ tranh chấp giữa Phi-líp-pin và Trung Quốc ở Biển Đông đó là các ngoại lệ liệt kê tại Điều 298, cụ thể là việc loại các tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng các điều 15, 74 và 83 về phân định ranh giới biển ra khỏi phạm vi các đối tượng tranh chấp mà Trọng tài Phụ lục VII có thể thụ lý. Các ngoại lệ theo Điều 298 gọi là ngoại lệ “tùy chọn” do các quốc gia được quyền “chọn” xem có gạt các tranh chấp liệt kê tại Điều này ra khỏi thẩm quyền của các cơ quan tài phán nêu tại Điều 287 hay không. Quyết định của quốc gia thành viên về vấn đề này sẽ được thể hiện bằng một tuyên bố vào lúc ký, phê chuẩn, gia nhập hay bất kỳ lúc nào khác (tất nhiên là trước khi có tranh chấp xảy ra). Năm 2006, Trung Quốc đã ra tuyên bố coi tất cả các loại tranh chấp liệt kê trong Điều 298 là ngoại lệ, bao gồm cả tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng các điều 15, 74 và 83 về phân định ranh giới biển. Như vậy, để bảo đảm Tòa trọng tài Phụ lục VII sẽ thụ lý yêu cầu của mình, Phi-líp-pin cần “thể hiện” tranh chấp với Trung Quốc dưới dạng một tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng Công ước nhưng lại không được nằm trong các ngoại lệ mà mà Trung Quốc đã tuyên bố năm 2006.

Tranh chấp nào cho Trọng tài Phụ lục VII và triển vọng?

Như đã trình bày ở trên, dường như mối quan tâm lớn nhất hiện nay của Phi-líp-pin là tách Bãi Cỏ Rong, mà Phi-líp-pin cho là nằm trong phạm vi thềm lục địa của mình, khỏi phạm vi vùng biển thuộc Trường Sa. Để xem Phi-líp-pin có thể vận dụng điều khoản nào trong Công ước, trước hết cần xem đặc điểm của Bãi Cỏ Rong.

Bãi Cỏ Rong là một bãi chìm vĩnh viễn[8] nằm cách Palawan khoảng 80 hải lý, cách đảo Hải Nam gần 500 hải lý[9] và cách gần điểm nhất của quần đảo Trường Sa khoảng 35-40 hải lý.[10] Do là một bãi chìm vĩnh viễn và với khoảng cách như vậy, Bãi Cỏ Rong không thể là đối tượng chiếm hữu riêng biệt để trở thành lãnh thổ quốc gia mà chỉ có thể có quy chế thềm lục địa của một quốc gia theo Công ước Luật biển. Phạm vi thềm lục địa theo Công ước Luật biển tối thiểu là 200 hải lý và có thể có kéo dài hơn đến rìa ngoài của thềm lục địa nếu rìa ngoài này vượt quá 200 hải lý.[11] Tuy nhiên, với khoảng cách địa lý như trên và với thực tế địa mạo ở Biển Đông, bãi Cỏ Rong sẽ khó có thể nằm trên thềm lục địa kéo dài từ đảo Hải Nam của Trung Quốc. Mọi yêu sách của Trung Quốc đối với Bãi Cỏ Rong do vậy chỉ có thể bắt nguồn từ yêu sách của Trung Quốc đối với quần đảo Trường Sa. Thực tế, Trung Quốc cũng đã tuyên bố quan điểm của mình cho rằng Trường Sa có thềm lục địa khi tranh cãi với Phi-líp-pin về đường chín đoạn tại Liên hợp quốc như đã nói bên trên.

Mặt khác, do khoảng cách từ Bãi Cỏ Rong đến Palawan ít hơn 200 hải lý nên Bãi Cỏ Rong có thể sẽ là một phần thềm lục địa của Phi-líp-pin nếu như Trường Sa không có thềm lục địa. Như vậy, cách tốt nhất để Phi-líp-pin bác bỏ yêu sách của Trung Quốc đối với Bãi Cỏ Rong chính là bác bỏ lập luận của Trung Quốc cho rằng Trường Sa có thềm lục địa.

Vấn đề Trường Sa có thềm lục địa hay không phụ thuộc vào việc giải thích Điều 121 về Quy chế đảo. Điều 121 quy định một vùng đất nổi tự nhiên nhưng không thể cho người đến ở hoặc không có đời sống kinh tế riêng thì sẽ bị coi là “đá” không có thềm lục địa (khoản 3). Các vùng đất nổi tự nhiên không phải là “đá” sẽ là “đảo” và sẽ có thềm lục địa riêng của mình (khoản 2). Như vậy, với việc Trung Quốc đã công khai quan điểm của mình là Trường Sa có thềm lục địa – tức là có “đảo” ở đó, Phi-líp-pin hoàn toàn có thể “tạo” một tranh chấp với Trung Quốc bằng một tuyên bố ngược lại, cho rằng Trường Sa chỉ toàn “đá”. Giữa Phi-líp-pin và Trung Quốc như vậy sẽ nảy sinh một tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng Điều 121 với Trường Sa và Phi-líp-pin có thể đơn phương yêu cầu thành lập Tòa trọng tài Phụ lục VII để giải quyết tranh chấp với Trung Quốc. Do tranh chấp về Điều 121 không nằm trong các ngoại lệ tại Mục 3, Tòa trọng tài Phụ lục VII hoàn toàn có thẩm quyền để thụ lý vụ việc do Phi-líp-pin đưa ra và sẽ ra phán quyết có giá trị ràng buộc với Phi-líp-pin và Trung Quốc về vấn đề điều Điều 121 được giải thích và áp dụng ở Trường Sa như thế nào. Nếu Tòa trọng tài đồng ý với Phi-líp-pin cho rằng ở Trường Sa không có “đảo” mà chỉ có “đá” thì phán quyết của Tòa sẽ xóa bỏ mọi yêu sách của Trung Quốc về thềm lục địa ở Trường Sa. Nói cách khác, Tòa trọng tài sẽ “gián tiếp” khẳng định Bãi Cỏ Rong thuộc thềm lục địa của Phi-líp-pin. Có lẽ, đây chính là điều Ngoại trưởng Phi-líp-pin ngụ ý khi tuyên bố yêu cầu Tòa trọng tài xác định đâu là khu vực tranh chấp và đâu là khu vực không tranh chấp.

Tuy nhiên, việc đưa tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng Điều 121 đối với Trường Sa cũng không phải là không có rủi ro. Định nghĩa về “đá” theo tiêu chuẩn “cho phép con người đến ở” hoặc “có đời sống kinh tế riêng” tại Điều 121 vốn nổi tiếng là “khó hiểu” và có nhiều cách giải thích khác nhau. Thực tế, trong khi chưa có một án lệ nào về việc giải thích và áp dụng Điều 121 thì các thẩm phán Tòa án quốc tế về luật biển trong các ý kiến riêng của mình đã áp dụng điều khoản này một cách khác nhau đối với cùng một cấu trúc địa lý.[12] Ngay đối với quần đảo Trường Sa, các học giả cũng có quan điểm khác nhau về vấn đề này. Trong trường hợp Phi-líp-pin không thành công trong việc chứng minh rằng ở Trường Sa không có “đảo” mà chỉ có “đá” thì phán quyết ràng buộc của Tòa trọng tài về việc “đảo” ở Trường Sa có thềm lục địa riêng cũng có nghĩa là sẽ có thể có vùng thềm lục địa chồng lần tạo bởi một bên là Trường Sa và một bên là bờ biển Phi-líp-pin và vùng chồng lấn này sẽ bao trùm lên Bãi Cỏ Rong. Trong trường hợp này, để khẳng định dứt khoát Bãi Cỏ Rong là thuộc về mình (Phi-líp-pin), Phi-líp-pin sẽ lại phải yêu cầu tòa phân định vùng chồng lần này. Nhưng để làm việc này thì Tòa trọng tài sẽ phải áp dụng các nguyên tắc phân định biển. Tranh chấp giữa Phi-líp-pin và Trung Quốc lúc này sẽ có liên quan đến việc giải thích và áp dụng các Điều 15, 74 và 83 của Công ước và Tuyên bố của Trung Quốc theo Điều 298 năm 2006 sẽ “phát huy tác dụng”, ngăn cản Tòa trọng tài tiếp tục thụ lý vụ việc. Như vậy sẽ không thể có sự phân định rạch ròi giữa một bên là thềm lục địa của Phi-líp-pin và một bên là thềm lục địa của Trường Sa và Bãi Cỏ Rong sẽ trở thành khu vực tranh chấp, dù là tạm thời.

Một điểm cũng đáng quan tâm đó thái độ của Trung Quốc sẽ như thế nào khi Phi-líp-pin yêu cầu thành lập Tòa trọng tài Phụ lục VII. Ở đây có thể thấy là Phụ lục VII của Công ước quy định khá chặt chẽ và đầy đủ về các vấn đề thủ tục, bảo đảm một Tòa trọng tài chắc chắn sẽ được thành lập nếu một bên tranh chấp có yêu cầu. Cụ thể, Phụ lục quy định rằng trong trường hợp một bên không chỉ định trọng tài hay các bên không đạt được thỏa thuận về trọng tài tham gia Tòa thì Chánh án Tòa án quốc tế về luật biển sẽ là người chỉ định trọng tài viên thay cho các quốc gia (Điều 3 Phụ lục VII). Đặc biệt, ngay cả trong trường hợp một bên tranh chấp thiếu hợp tác, thì theo Điều 9 của Phụ lục VII, Tòa trọng tài vẫn sẽ ra phán quyết ngay cả khi một bên tranh chấp không tham gia tranh tụng. Trước những quy định chặt chẽ như vậy, có lẽ việc bất hợp tác trong quá trình chỉ định trọng tài hay tố tụng sẽ không đem lại lợi ích gì cho bên bị kiện. Vì thế, dường như khả năng nhiều đó là Trung Quốc sẽ khôn ngoan “tỏ thiện chí” bằng cách tham gia vào quá trình thành lập Tòa trọng tài cũng như trong suốt quá trình tố tụng để bảo vệ quan điểm của mình.

Nhìn người lại ngẫm đến ta?

Khi mà Trung Quốc khăng khăng giải quyết tranh chấp song phương và dường như không “lùi bước” trong việc “áp đặt” các yêu sách của mình, việc Phi-líp-pin đơn phương yêu cầu thành lập Tòa trọng tài Phụ lục VII để kiện Trung Quốc, qua đó bảo vệ quyền lợi của mình có lẽ là một những bước đi “táo bạo” nhưng “khôn ngoan”. Khi mà tương quan lực lượng giữa hai nước chênh lệch đáng kể thì việc bên yếu hơn viện dẫn đến luật pháp quốc tế để tìm công lý là điều không tránh khỏi. Phi-líp-pin dường như cũng đã đáp ứng các nghĩa vụ thủ tục trước khi thành lập Tòa trọng tài Phụ lục VII quy định tại Mục 1, cụ thể là “nghĩa vụ trao đổi quan điểm” thông qua việc cử đoàn sang đàm phán với Trung Quốc sau sự kiện Bãi Cỏ Rong cũng như bằng chính việc Ngoại trưởng Phi-líp-pin đề nghị với người đồng nhiệm Trung Quốc về việc sử dụng Tòa án quốc tế về luật biển để giải quyết tranh chấp.

Qua việc phân tích cơ chế giải quyết tranh chấp trong Công ước Luật biển cũng như bối cảnh tranh chấp ở Biển Đông, có thể thấy đối tượng tranh chấp phù hợp nhất mà Phi-líp-pin có thể mang ra trước Tòa trọng tài Phụ lục VII chính là tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng Điều 121 về Quy chế đảo đối với Trường Sa. Một phán quyết ràng buộc của Tòa trọng tài về việc ở Trường Sa không có đảo và do đó không có thềm lục địa sẽ giải quyết được mối quan tâm hiện nay của Phi-líp-pin đối với Bãi Cỏ Rong hay những bãi ngầm mà Phi-líp-pin cho rằng nằm trong phạm vi thềm lục địa của họ.

Tuy nhiên, việc Phi-líp-pin sử dụng Tòa trọng tài Phụ lục VII để giải thích và áp dụng Điều 121 đối với Trường Sa không phải là không có rủi ro khi mà chưa có một án lệ nào về điều khoản này cũng như quan điểm của các luật gia còn khác nhau. Dù gì đi chăng nữa, hiện nay Trung Quốc vẫn đang duy trì yêu sách là các đảo ở Trường Sa có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Một phán quyết của Tòa trọng tài bất lợi cho Phi-líp-pin, cho rằng ở Trường Sa có một hoặc một số “đảo” vẫn không nhất thiết là điều xấu, ít nhất nó không làm cho tình hình xấu hơn hiện nay. Ngược lại, một câu trả lời cho câu hỏi “Yêu sách của Trung Quốc đúng hay sai?” và qua đó giúp nội bộ Phi-líp-pin hiểu được ở Biển Đông họ có cái gì, chưa có cái gì và thậm chí có thể không có cái gì thực sự là rất cần thiết. Nó sẽ xóa tan sự “mơ hồ” về pháp lý như hiện nay liên quan đến yêu sách của Trung Quốc. Hơn nữa, việc chưa có một án lệ nào về việc giải thích và áp dụng Điều 121 cũng là một cơ hội nếu Phi-líp-pin có sự đầu tư thích đáng cho vấn đề này để xây dựng những lập luận thuyết phục về việc nên giải thích và áp dụng Điều 121 ở Trường Sa như thế nào trước Tòa.

Với Việt Nam, vùng thềm lục địa phía Đông Nam của Việt Nam, nơi cách xa đảo Hải Nam của Trung Quốc, cũng đang bị Trung Quốc yêu sách như đã thấy ở Vụ Vikking II và không loại trừ khả năng Trung Quốc cũng đưa yêu sách đối với khu vực này trên cơ sở yêu sách về thềm lục địa từ Trường Sa. Nếu như vậy, những bước đi và việc sử dụng thủ tục Trọng tài Phụ lục VII của Phi-líp-pin để bảo vệ yêu sách của họ ở Bãi Cỏ Rong là điều đáng để suy ngẫm và có thể là bài học để Việt Nam nghiên cứu áp dụng trong nỗ lực bảo vệ quyền lợi chính đáng đối với vùng thềm lục địa phía Đông Nam của mình.

Phân tích trên cũng cho thấy, nếu Phi-líp-pin quyết tâm kiện Trung Quốc về việc giải thích và áp dụng Điều 121 đối với Trường Sa thì khả năng Tòa trọng tài Phụ lục VII được thành lập là rất cao và sẽ sớm có phán quyết về việc áp dụng Điều 121 thế nào ở Trường Sa. Tuy về nguyên tắc, một phán quyết của cơ quan tài phán quốc tế chỉ có giá trị đối với các bên tranh chấp và như vậy phán quyết của Tòa trọng tài Phụ lục VII do Phi-líp-pin yêu cầu thành lập chỉ ràng buộc Phi-líp-pin và Trung Quốc. Tuy nhiên, là một bên có yêu sách về chủ quyền ở Trường Sa, một phán quyết về việc ở Trường Sa có đảo hay không rõ ràng có liên quan đến lợi ích của Việt Nam. Hơn nữa, ngay cả khi phán quyết của Tòa trọng tài không có giá trị ràng buộc đối với Việt Nam, ý kiến của các trọng tài viên - các luật gia có uy tín trong lĩnh vực luật biển - về việc ở Trường Sa có “đảo” hay chỉ toàn “đá” không thể nói là không có tác động đối với yêu sách về biển và thềm lục địa của các nước ven Biển Đông. Việt Nam sẽ tham gia thế nào trong một tranh chấp giữa Phi-líp-pin và Trung Quốc để bảo vệ lợi ích của mình? Ngoài Việt Nam, Bru-nây và Ma-lai-xi-a cũng có yêu sách đối với Trường Sa. Hai quốc gia này cùng với In-đô-nê-xi-a cũng là các quốc gia đối diện với Trường Sa nên việc vùng biển của họ cũng phụ thuộc vào việc Trường Sa có thềm lục đia hay không. Với lợi ích như vậy, phản ứng của các quốc gia này sẽ như thế nào khi một Tòa trọng tài Phụ lục VII được thành lập? Hơn nữa, do phạm vi yêu sách của Phi-líp-pin không bao trùm toàn bộ Trường Sa, các bên sẽ phải làm gì để phán quyết của Tòa trọng tài bao trùm lên tất cả các vị trí địa lý tranh chấp ở Biển Đông? Đây là những câu hỏi quan trọng, cần nghiên cứu nghiêm túc và có thể là chủ đề thích hợp cho một hoặc nhiều bài một bài viết riêng. Xin hẹn dịp khác!

Nguyễn Đăng Thắng, Nghiên cứu sinh luật tại Anh

 

* Nguyễn Đăng Thắng, Nghiên cứu sinh luật tại Anh; Thành viên không thường trú, Trung tâm Nghiên cứu Biển Đông, Học viện Ngoại giao Việt Nam. Tác giả cám ơn Tiến sỹ Dương Danh Huy, Thạc sỹ Nguyễn Thị Thanh Hà, Phó Giáo sư - Tiến sỹ Nguyễn Hồng Thao và Thạc sỹ Trần Lê Phương đã trao đổi quan điểm với tác giả, cung cấp những thông tin quan trọng cũng như góp ý trực tiếp vào bài viết.

 

[1] “Philippines to seek UN arbitration in South China Sea” Agence France Presse (19 July 2011) <http://globalnation.inquirer.net/6371/philippines-to-seek-un-arbitration-in-spratlys> .

[2]Thông báo tại cuộc họp báo ngày 29/05/2011 của Bộ Ngoại giao về việc tàu Hải giám Trung Quốc đã cắt cáp thăm dò của tàu Bình Minh 02 thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam” http://www.mofa.gov.vn/vi/tt_baochi/tcbc/ns110529201615/view#b1IpAlKkl3wz .

[3] Xem I Storey, 'China and the Philippines: Implications of the Reed Bank Incident' (2011) 11(8) China  Brief 6, 7.

[4] 'Note Verbale No. 000228 dated 05 April 2011 of the Permanent Mission of the Republic of the Philippines to the United Nations', có tại http://www.un.org/depts/los/clcs_new/submissions_files/mysvnm33_09/phl_re_chn_2011.pdf.

[5] 'Note Verbale No. CML/8/2011 dated 14 April 2010 of the Permanent Mission of the People's Republic of China to the United Nations', có tại http://www.un.org/depts/los/clcs_new/submissions_files/vnm37_09/chn_2011_re_phl_e.pdf .

[6] Trích trong Press Release NYPM 30-2011 ngày 22/06/2011 của Phái đoàn thường trực Cộng hòa Phi-líp-pin bên cạnh Liên hợp quốc, có tại http://www.un.int/philippines/news/20110622nypm30.htm .

[7] Xem 'Philippines vows to protect South China Sea assets' Agence France Presse (25 July 2011), có tại http://www.channelnewsasia.com/stories/afp_asiapacific/view/1142928/1/.html .

[8] Xem MJ Valencia, JM Van Dyke and NA Ludwig, Sharing the resources of the South China Sea (Martinus Nijhoff, The Hague, 1997), 232, tập hợp các nguồn khác nhau cho rằng chỗ cao nhất của Bãi Cỏ Rong nằm cách mặt nước biển 9 hoặc 16 mét.

[9] Thông tin theo các báo của Phi-líp-pin.

[10] Tác giả cám ơn Tiến sỹ Dương Danh Huy đã cung cấp thông tin này.

[11] Điều 76 Công ước Luật biển.

[12] Xem Tuyên bố của Thẩm phán Vukas và Phản đối của Thẩm phán Anderson, chú thích 3, về đảo Heard của Úc trong vụ “The ‘Volga’, Russian Federation v Australia, Prompt Release”, ITLOS Case No 11 (ITLOS 2002).

 

(Theo nguyenxuandien) Những sử liệu Tây phương minh chứng chủ quyền của Việt Nam và quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa từ thời Pháp thuộc đến nay

 

 

 


I - MINH CHỨNG CỦA NGƯỜI NGOẠI QUỐC

 

Ngoài những tài liệu sử địa của Việt Nam, chúng ta còn có thể dẫn chứng nhiều tài liệu khác của người ngoại quốc, xác nhận chủ quyền củ ta trên quần đảo Hoàng Sa, chẳng hạn như :

 

1-Tài liệu của người Hòa Lan.

 

Căn cứ vào ký sự Batavia (Journal de Batavia) của Công ty Hòa Lan Đông Ấn (Compagnie hollandaise des Indes orientales), ấn hành trong những năm 1631-1634-1636, chúng ta được biết một sự kiện liên hệ tới quần đảo Hoàng Sa và Xứ Đàng Trong như sau:


Ngày 20-7-1634, dưới thời Chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên (1613-1635), ba chiếc tàu Hòa Lan tên Veehuizen, Schagen và Grootebroek, từ Batavia (Nam Dương) đến Touron cùng nhổ neo đi Formose (Đài Loan).


Ngày 21 thì gặp bão ngoài khơi, nên lạc nhau. Chiếc tầu Veen-huizen tới Formose ngày 2 tháng 8, chiếc Schagen ngày 10 cùng tháng. Riêng chiếc Grootebroek bị đắm gần quần đảo Paracels, ngang với bắc vĩ tuyến 17. Trong số hàng hóa trị giá 153 690 florins, thủy thủ chỉ cứu được một số trị giá 82 995 florins, kỳ dư bị chìm đắm kể cả chiếc tầu và 9 người bị mất tích.


Số hàng hóa cứu được, họ cất dấu nơi an toàn tại đảo Paracels. Thuyền trưởng Huijich Jansen và 12 thủy thủ đi bằng thuyền nhỏ vào duyên hải xứ Đàng Trong. Họ hy vọng sẽ tìm được một thuyền lớn để ra cứu 50 thủy thủ còn ở lại trên đảo. Thuyền trưởng đem theo 5 thùng bạc và 3.570 réaux đựng trong 17 bao. Khi họ vào tới đất liền, họ không được đối đãi như ý muốn. Tất cả bạc và tiền bị tịch thâu bởi viên chức đặc trách hải môn và thương thuyền, mà người Hòa Lan gọi là Ongangmij.


Sau đó, họ được phép trở lại Paracels trên một chiếc tầu Nhật Bản tên Kiko, mà họ mua đứt, để đón 50 thủy thủ còn nơi đảo và lấy 4 thùng bạc còn lại. Tất cả đều được 3 chiếc tàu khác tên là Bommel, Goa và Zeeburg (cũng bị bão mà vào núp miền duyên hải xứ Đàng Trong) chở về Batavia. Tại đây viên thuyền trưởng Jansen làm báo trình về việc thuyền Grootebroek bị đắm tại Paracels và sự tịch thâu 23 580 réaux bởi nhà chức trách xứ Đàng Trong.


Hai năm sau, dưới thời Chúa Thượng Nguyễn Phước Lan (1635-1648), ngày 6 tháng 3 năm 1636, hai chiếc tầu Hòa Lan khác tới Touron. Thương gia Abraham Duijeker tiến về Faifo để gặp quan Trấn thủ ; sau đó ông ta đi Thuận hóa (Senoa) yết kiến Chúa Thượng, để xin giao thương, đặt thương điếm vá đòi số tiền 23 580 réaux đã bị tịch thâu năm kia.


Còn Thượng Vương tiếp đón Duijeker rất trọng hậu ; nhưng Ngài truyền rằng : « Những việc khiếu nại đó đã xảy ra dưới thời Vua cha, nay Chúa không hề hay biết ; vả lại viên chức thuế quan Ongangmij (?) đã bị cách chức, tịch thu gia sản (vì tội đã ăn hối lộ tới 340 000 lượng bạc trong thời kỳ tại chức), đã bị xử trảm và phanh thây rồi ». Chúa Thượng xét rằng Ngài đã xử sự công minh lắm; nay chớ nhắc lại làm chi. Ngài cũng cam đoan từ nay pháp luật rất nghiêm minh và sẽ không bao giờ xảy ra những việc đáng tiếc như vậy nữa.


Để bù vào sự thiệt thòi đó, Chúa Thượng chấp thuận cho người Hòa Lan được tự do giao thương với xứ Đàng Trong, và miễn cho họ sắc thuế neo bến và các tặng phẩm, (II accordait aux Hollandais le droit de libre échange dans le pays, les exemptait pour l’avenir des droit d’ancrage et des présent usuels).


Vì lẽ đó mà từ năm 1636, một thương điếm (comptoir commercial) của người Hòa Lan đã được thiết lập tại Hội-An (Faifo) do Abraham Duijeker làm Trưởng điếm.


(Trích trong biên khảo « La Compagnie des Indes Néerlandaises et l’Indochine » bởi W.J.M Buch, đăng trong Bulletin de l’Ecole Française d’Extrême Orient, quyển XXXVI, năm 1936, trang 134.)


2. Jean Badiste Chaigneau (1769-1825) đã viết trong quyển « Mémoire sur la Cochinchine » như sau :


« Topographie : Division physique.- La Cochinchine dont le souverain porte aujourd’hui le titre d’Empereur, comprend la Cochinchine proprement dite, le Tonquin…, quelques îles habitées peu éloignées de la côte et l’archipel de Paracels, composé d’ilôts, d’écueils et de rochers inhabités. C’est seulement en 1816, que l’Empereur actuel a pris possession de de cet archipel. » (Le Mémoire sur la Cochinchine de Jean Eaptiste Chagneau, publié et annoté par A. Salles, Inspecteur des Colonies en retraite, Bulletin des Amis du Vieux Hue N°2, Avrit-Juin 1923).


Có nghĩa là :


Địa thế : Xứ Cochinchine, mà Quốc Vương ngày nay đã xưng đế hiệu, gồm có xứ Đàng Trong, Bắc Hà (Tonquin)… vài đảo gần bờ biển, có dân cư, và quần đảo Paracels, gồm có nhiều đảo và mỏm đá thiếu dân. Vào năm 1816 vị Hoàng đế đương kim đã tiếp nhận quần đảo này.


3. Đức Giám mục Taberd đã trong quyển « Univers, histoire et description de tous les peuples, de leurs religions, mœurs et coutumes », xuất bản năm 1833, những dòng sau đây :


“Nous n’entrerons pas dans l’énumération des principales îles dépendantes de la Cochinchine; nous ferons seulement observer que depuis de 34 ans l’archipel des Paracels nommé par les Annamites Cát Vàng ou Hoàng Sa (sable jaune) véritable labyrinthe de petits ilôts de rocs et de bancs de sable justement redoutés des navigateurs a été occupé pas les Cochinchinois.


Nous ignorons s’ils y ont fondé un établissement, mais il est certain que l’empereur Gia Long a tenu à ajouter ce singulier fleuron à couronne, car il jugea à propos d’en aller prendre possession en personne, et ce fut en l’année 1816 qu’il y arbore solenellement le drapeau cochinchinois. »


Tạm dịch như sau:


« Chúng tôi không đi vào việc kê khai những hòn đảo chính yếu của xứ Cochinchine. Chúng tôi chỉ xin lưu ý rằng từ hơn 34 năm nay, quần đảo Paracels - mà người Việt gọi là Cát Vàng (Hoàng Sa), gồm rất nhiều hòn dảo chằng chịt với nhau, lởm chởm những đá nhô lên giữa những bãi cát, làm cho những người đi biển rất e ngại – đã được chiếm cứ bởi người Việt xứ Đàng Trong.


Chúng tôi không rõ họ có thiết lập một cơ sở nào tại đó không; nhưng có điều chúng tôi biết chắc là Hoàng đế Gia Long đã chủ tâm thêm cái đóa hoa kì lạ đó vào vương miện của Ngài, vì vậy mà Ngài xét thấy đúng lúc phải thân chinh vượt biển để tiếp thâu quần đảo Hoàng Sa, và chính là vào năm 1816, mà Ngài đã long trọng treo tại đó lá cờ của xứ Đàng Trong. »


Những tài liệu quốc sử và ngoại sừ trên kia chứng minh một cách hùng hồn và bất khả kháng chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.


4. Hoàng Sa và Trường Sa tại Hội nghị San Francisco.


Theo Hiệp ước đình chỉ kí kết tại San Francisco, vào tháng 9 năm 1951, khoản 2, nước Nhật Bản phải rút lui khỏi các nơi mà họ đã dùng vũ lực để chiếm đóng trong thời đệ nhị chiến, lẽ tất nhiên là trong đó có hai quần đảo Paracels và Spratley.


Tại Hội nghị San Francisco, ngày 07/09/1951, Thủ Tướng Chính Phủ, Trưởng Phái đoàn Việt Nam, đã long trọng tuyên bố như sau :


« Et comme il faut franchement profiter de toutes occasion pour étouffer les germes de discorde, nous afirmons nos droits sur les îles Spratley et Paracels qui, de tout temps, ont fait partie du Viet Nam ».


Xin tạm dịch là :


« Và vì chưng phải lợi dụng tất cả mọi cơ hội để chặn đứng những mầm xung đột, chúng tôi xác nhận chủ quyền của chúng tôi trên các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, đã luôn luôn từ xưa thuộc lãnh thổ Việt Nam. »
Lời tuyên bố đó đã được Hội nghị San Francisco long trọng ghi vào biên bản và trong tất cả 51 phái đoàn phó hội, không có một phái đoàn nào phản đối gì cả.


II - HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA QUA THỜI PHÁP THUỘC ĐẾN NAY


1. Danh từ Paracels xuất hiện từ bao giờ.


Danh từ Paracels xuất hiện lần đầu tiên trên một bản đồ Bán Đảo Đông Dương (Carte de la Péninsule Indochinoise) do Frère Van Langren, người Hòa Lan, ấn hành năm 1595.


Bản đồ này phác họa nhờ những tài liệu của người Bồ Đào Nha, nối gót nhà hàng hải Vasco de Gama, đã tiên phong đông du tìm kiếm xứ Ấn Độ bằng đường biển (route maritime des Indes) bằng cách đi vòng mũi Hảo Vọng (Cap de Bonne Espérance) năm 1497. Nhiều tàu thủy Bồ Đào Nha đã tới Malacca từ năm 1509, Xiêm La từ năm 1511, vào năm 1516 thì Fernando Perez d’Andrade đến cửa biển sông Mekong.


Theo giáo sư Pierre Yves Manguin, danh từ Ilhas do Parcel (Paracels) do người Bồ Đào Nha đặt ra. Trong từ ngữ của họ, danh từ Parcel có nghĩa là « đá ngầm » (récif), cao tảng (haut-fond). (Xem biên khảo « Les Portugais sur les côtes du Vietnam et du Campa » đăng trong Bulletin de l’Ecole Française d’Extrême Orient, năm 1972, page 74).


Nhưng theo giáo sư A. Brébion, Paracels do tên một chiếc tàu của công ty Hòa Lan Đông Ấn, tên Paracelsse, bị chìm đắm tại quần đảo này hồi thế kỷ XVI. (Xem « Dictionnaire de bio-bibliographie générale, ancienne et moderne, de l’Indochine Francaise », 1935, Société d’Edrons Géographiques, maritimes et Coloniales, 17 Rue Jacob, Paris Vle).


Riêng về danh từ Trường Sa, chúng ta đã thấy trong Hồng Đức Bản Đồ phác họa từ thời Lê Thánh Tôn (1470-1498), vào ngày mồng 6 tháng 4 năm Hồng Đức thứ 21 (25/04/1490); bản đồ có ghi nơi đất liền « Trường Sa nhất nhật trình », tất nhiên đây không phải là quần đảo, mà là bờ biển chạy dài từ cửa Nhật Lệ (Quảng Bình) cho tới Phá Tam Giang (Thừa Thiên) qua các cửa Tùng Luật và Việt Yên (Quảng Trị). Bờ biển đầy cát trắng mênh mông, phải đi mất một ngày (nhất nhật trình). Trong bộ Đại Nam Nhất Thống Chí, những quyển nói về Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên đều có nói về dãy Trường Sa này, cũng có tên là Động Trường Sa, Động Bạch Sa (xưa gọi là Đại Trường Sa). Sách Ô Châu Cận Lục của Dương Văn An (1555) cũng có nhắc tới Trường Sa đã chỉ định dải cát trắng dài dằng dặc chạy suốt duyên hải Bình Trị Thiên.


2. Hoàng Sa dưới thời Pháp.


Dưới thời Pháp, quần đảo Paracels luôn luôn được nhà cầm quyền lưu ý tới. Từ năm 1920, Nha Thương chánh (Douanes) đã tổ chức những cuộc tuần du chung quanh đảo Hoàng Sa, để ngăn ngừa buôn lậu. Năm 1925, Hải học viện Nha Trang có gửi một phái đoàn bác học, đi trên tàu De Lanessan, ra Hoàng Sa để nghiên cứu tường tận tại chỗ. Phái đoàn nhận thấy quần đảo này chứa đựng rất nhiều phốt phát. Phái đoàn cũng khảo sát nhiều bằng chứng rằng quần đảo Paracels nằm trên một cao nguyên chìm dưới biển và dính liền với lục địa Việt Nam.


Nhiều công ty Nhật Bản đã xin phép chính quyền Pháp tại Đông Dương, để khai thác phốt phát và họ đã xây một con đê bằng đá phốt phát (jetée en blocs de phosphate) và chiếc cầu sắt dài 300 thước nơi đảo Robert, để tiện việc chuyên chở phốt phát lên tàu thủy.


Vì có sự giao thiệp với ngoại nhân nơi đảo này, nên chi nhà cầm quyền hồi đó đã ký một nghị định ngày 15/06/1932, thiết lập quần đảo Hoàng Sa thành một đại lý hành chánh (délégation administrative), gọi là Délégation administrative des Paracels, sáp nhập với tỉnh Thừa Thiên. Đến năm 1939, mới chia làm hai, lấy tên là « Délégation du Croissant et dépendances » và « Délégation de l’Amphitrite et dépendances. »


Cũng vào năm đó, khi trận đệ nhị thế chiến bùng nổ, quân đội Thiên Hoàng Nhật Bản ngang nhiên chiếm đóng quần đảo, lập tại đây một căn cứ quân sự, cho đến khi họ đầu hàng Đồng Minh.


3. Trường Sa dưới thời Pháp thuộc.


Người Trung Hoa gọi quần đảo này là Nam Sa (Nansha), đại khái chỉ định một cách mập mờ tất cả những hòn đảo rải rác phía dưới quần đảo Hoàng Sa.


Năm 1927, chiếc tàu De Lanessan đã tới tận nơi để khảo sát, sau khi đã khảo sát tại Paracels. Sau đó, năm 1930, chính quyền Pháp tại Đông Dương đã chính thức cử một phái đoàn ra cắm cờ tại quần đảo Spratley. Phái đoàn đi trên chiếc tàu La Malicieuse. Đến năm 1933, họ lại cử ba chiếc tàu khác là : Alerte, Astrobale và De Lanessan, ra tận nơi để cắm cờ trên những hòn đảo khác, rải rác chung quanh đảo chính Spratley.


Công việc thâu nhận từng hòn đảo bắt đầu từ ngày 13 tháng 4 năm 1930, với đảo Spratley; tiếp theo là đảo Caye d’amboine thâu nhận ngày 10/04/1933, nhóm Hải Đảo (Groupe des deux îles) thâu nhận ngày 10/04/1933 ; đảo Loaita thâu nhận ngày 11/04/1933; đảo Thi Tu thâu nhận ngày 12/04/1933.


Công việc thâu nhận từng hòn đảo (prise de possession) này bao gồm tất cả những hòn đảo con con rải rác chung quanh những hòn đảo chính đã kể trên kia. Một bản thông báo chính thức đã được đăng tải trong Công báo Đông Dương (Journal Officiel de l’Indochine ngày 25/09/1933, trang 7784).


Quần đảo Trường Sa đã được sáp nhập vào tỉnh Bà Rịa (Nam Việt) do nghị định của Toàn Quyền Đông Dương, ký ngày 21 juillet 1933.


Chúng ta cũng nên ghi thêm rằng từ năm 1920, có nhiều công ty Nhật Bản đến đây khai thác phốt phát. Thỉnh thoảng cũng có một số ngư phủ Trung Hoa chèo ghe từ Hải Nam, Quảng Đông tới đây để đánh cá, làm ăn trong mấy tháng rồi trở về quê quán.


Sau hết, chúng ta cũng nên ghi rằng năm 1938, Nhà Khí Tượng Đông Dương (Service Météorologique de l’Indochine) có thiết lập tại đảo Itu Aba, một cơ sở khí tượng bao trùm tất cả miền duyên hải Đông Dương.


Trước ngày khai chiến, chính phủ Nhật Bản đã tuyên bố ngày 30/03/1939 rằng quần đảo Spratley từ nay sẽ đặt dưới quyền kiểm soát của Nhật Bản. Viên Đại sứ Pháp tại Đông Kinh liền gửi thư phản kháng ngày 21/04/1939, và tuyên bố phủ nhận quyết định đơn phương của chính phủ Thiên Hoàng. Rồi chúng ta phải đợi tới ngày đình chiến, để chứng kiến việc quân đội Nhật rút khỏi Trường Sa, cũng như do Hiệp ước đình chiến San Francisco, chính phủ Nhật Bản đã long trọng từ bỏ chủ quyền của họ trên hải đảo Paracels và Spratley (1951).


Sau đó, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã nhiều lần xác nhận long trọng chủ quyền của mình trên hai quần đảo nói trên.


4. Công cuộc thực hiện chủ quyền của Việt Nam trong thời cận đại


a) Thời tiền chiến.


Các công tác thực hiện chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa gồm có:


Năm 1920, Quan thuế Pháp gửi quan thuyền đến tuần tiễu thường xuyên quần đảo Hoàng Sa.
Từ năm 1926 đến 1933, chính phủ Pháp đã cử chiến hạm và phái đoàn thám sát hai quần đảo này.
Từ 1931 đến 1939, Pháp gửi binh sĩ tới trú đóng tại Hoàng Sa.
Năm 1947, Pháp thiết lập đài vô tuyến tại đảo Pattle để đảm bảo an ninh thủy vận cho vùng Nam Hải. Về phương diện hành chánh, trong thời kỳ đó nhà cầm quyền Pháp và Việt đã có những quyết định như sau:
Nghị định số 156-SC ngày 15-6-1932 của Toàn Quyền Đông Dương đặt quần đảo Hoàng Sa đăng trong Công báo của chính phủ Pháp số 173 ngày 26/07/1933 trang 7839.
Nghị định số 4762 ngày 21/12/1933 của Thống đốc Nam Kỳ sáp nhập quần đảo Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa.
Dụ số 10 ngày 30/03/1933 năm Bảo Đại thứ 13 đặt quần đảo Hoàng Sa trực thuộc tỉnh Thừa Thiên.
Nghị định số 3282 ngày 05/05/1939 của Toàn Quyền Đông Dương sửa đổi nghị định trên và chia địa hạt trên ra làm hai nhóm : Nhóm Nguyệt Thiềm (Délégation du Croissant et dépendances) và Nhóm Tuyên Đức (Délégation de l’Amphitrite et dépendances). Trụ sở của hai vị đại diện Pháp được đặt tại đảo San Hồ (Pattle) và đảo Phú Lâm (Ile boisée).


b) Thời Cộng Hòa.


Dưới thời đệ nhất (1956-1963) và đệ nhị Cộng Hòa (từ 1964…), chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã có nhiều công tác và quyết định hành chánh liên hệ tới Hoàng Sa và Trường Sa:


Từ 1956, Hải quân VNCH thường xuyên thám sát quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Từ đó một trung đội Địa Phương Quân tỉnh Quảng Nam, gồm 40 người, do 1 sĩ quan cấp úy chỉ huy trú đóng tại đảo Hoàng Sa.
Các văn kiện hành chánh căn bản gồm có:
Sắc lệnh số 143/NV ngày 22/10/1956, Nghị định số 76/BNV/HC/ND ngày 20/03/1958 và Sắc Lệnh số 34/NV ngày 29/01/1959 sáp nhập quần đảo Trường Sa vào tỉnh Phước Tuy (Bà Rịa).
Sắc lệnh số 174/NV ngày 13/07/1961 của Tổng Thống VNCH đặt quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam (thay vì thuộc tỉnh Thừa Thiên) và thành lập quần đảo này thành xã Định Hải, thuộc quận Hòa Vang.
Do sắc lệnh số 709/BNV/HC ngày 21/10/1969 của thủ tướng Chính Phủ VNCH, xã Định Hải được xác nhập với xã Hòa Long, cùng thuộc quận Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam.


KẾT LUẬN


Căn cứ vào các dữ kiện lịch sử và hành chánh thượng dẫn, ta có thể khẳng định chủ quyền bất khả xâm của Viêt Nam Cộng Hòa, trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, trong cả bốn phương diện:lịch sử, địa lý, pháp lý và thực tế.


Các Chúa và Vua nhà Nguyễn đã thiết lập với các hải đảo những liên lạc thường xuyên có tính cách hành chánh, quân sự và quan thuế, chưa kể việc xây dựng quân trại,miếu vũ, mộ bia, v.v…đã trở thành những di tích lịch sử.


Nhìn lại quá trình lịch sử, chúng ta thấy một số sự kiện lịch sử và địa lý quan trọng đáng ghi nhớ là:


- Năm 1634, một chiếc tàu Hòa lan bị chìm đắm tại Hoàng Sa (Paracels),viên thuyền trưởng và đoàn thủy thủ lâm nạn đã được quan chức Quảng Nam, dưới thời Chúa Sãi, giúp đỡ cho trở về xứ Batavia.


- Năm 1702, dưới thời Chúa Minh Nguyễn Phước Chu, và từ đó về sau, sử sách đã nói tới Đội Hoàng Sa có nhiệm vụ tuần tiễu hải phận xứ Đàng Trong, kiểm soát các thương thuyền và đặc biệt thâu lượm được nhiều hàng hóa và kim khí, vật dụng tại quần đảo Hoàng Sa, đem về nộp cho Phủ Chúa tại Phú Xuân.


- Năm 1802 (đầu niên hiệu Gia Long), « cũng phỏng theo chế độ cũ, đặt Đội Hoàng Sa” (theo Đại Nam Nhất Thống Chí. »


- Năm 1816, Vua Gia Long thân chinh tiếp nhận quần đảo Hoàng Sa và thượng quốc kỳ trên đảo (theo Jean Baptiste Chaigneau và Giám mục Taberd).


- Năm 1820 (đầu niên hiệu Minh Mạng) « thường sai thuyền công đến nơi dò xét hải trình… » (theo Đại Nam Nhất Thống Chí).


- Năm 1835, Vua Minh Mạng truyền lập miếu Hoàng Sa dựng bia đá và tấm bình phong.


- Năm 1951, tại Hội nghị San Francisco, Thủ tướng Chính Phủ, Trưởng Phái đoàn, đã công khia vả long trọng tuyên bố chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, mà chẳng có một nước nào (trong số 51 nước tham dự hội nghị) phản đối cả.


Như vậy là chúng ta đã hội đủ những bằng chứng cụ thể tỏ rõ rằng các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của mình (animus) và mình đang khai thác (corpus) các hải sản, hải sâm, phân chim, ốc, xà cừ, phốt phát, đồi mồi, cát trắng, cát vàng,v.v… chứ không phải là hoang đảo (res derelicta) mặc cho ai muốn chiếm thì chiếm.


Trải mấy ngàn năm lịch sử, tổ tiên chúng ta đã tranh giành từng tấc đất ngọn rau trong cuộc bành trướng lãnh thổ khắp ba mặt : Nam tiến, Tây tiến, và Đông tiến, lấy Trường Sơn, sông Cửu Long và Nam Hải lảm địa bàn sinh hoạt, như muốn thi gan đấu sức với núi cao bể cả, nói lên ý chí quật cường của một dạn tộc chưa bao giờ chịu lùi bước trước nguy nan.


Ngày nay, đương đầu với những thử thách lớn lao, chúng ta chỉ có một con đường là trường kỳ chiến đấu trên mọi mặt : quân sự, chính trị, ngoại giao, để bảo vệ chủ quyền và sự vẹn toàn lãnh thổ, lãnh hải quốc gia Việt Nam.

 

Thái Văn Kiểm

 

 

(Theo nguyenxuandien)Các văn kiện chính thức xác nhận chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ thời Pháp thuộc tới nay.

 


Bà và Ông TRẦN-ĐĂNG-ĐẠI


LTS: Sử sách cổ Việt Nam đã cho biết rõ Việt Nam đã liên tục hành sử chủ quyền của mình trên quần đảo Hoàng sa và Trường sa qua nhiều thế kỷ. Từ khi bị người Pháp đô hộ đến nay, lần lượt chính quyền thống trị Pháp hoặc chính quyền bản xứ do họ dựng lên, gạt bỏ chính danh về phương diện chính trị đối với nhân dân Việt Nam, các nhà cầm quyền ấy về phương diện pháp lý, đã tiếp tục nói lên việc hành sử chủ quyền Việt Nam tại Hoàng sa và Trường sa qua các văn kiện chính thức của các nhà cầm quyền cai trị xứ sở này. Sự liên tục ban hành các văn kiện từ gần nửa thế kỷ nay về Hoàng sa và Trường sa đã là một bằng chứng hùng hồn rằng dù bị ngoại nhân thống trị hai chiến tranh, việc hành sử chủ quyền của Việt Nam ( qua nước bảo hộ, đại diện VN hoặc do chính phủ bản xứ) trên quần đảo Hoàng sa và Trường sa vẫn được liên tục. Chính người Trung Hoa lợi dụng tình trạng Việt Nam bị ngoại nhân thống trị và bị chiến tranh tương tàn, để mưu đồ chiếm hữu Hoàng sa, Trường sa một cách phi pháp và bất chính và chắc chắn như vậy sẽ bị dư luận thế giới lên án gay gắt. Sau đây chúng tôi đăng tải bài sưu tầm các văn kiện chính thức hiện nay tàng trữ đầy đủ tại các thư viện Sài Gòn cũng như nhiều nơi khác.


Giữa không khí rộn rịp để chào đón chúa Xuân năm Giáp Dần, tin thất thủ Hoàng Sa liên tiếp đưa đến, làm bàng hoàng không biết bao nhiêu con tim Việt.


Các học giả, các tài liệu gia đổ xô đi tìm bằng chứng để tỏ rằng, thực sự Hoàng Sa (Paracels) và cả Trường Sa (Spratly hay Spratley) đều là của Việt Nam từ lâu đời lắm rồi.


Qua báo chí đã đăng tải cũng như cuốn “ Les Archipels de Hoàng sa et de Trường sa selon les Anciens ouvrages Vietnamiens d’Histoire et de Géographie” của ông Võ Long Tề, thì Việt Nam có rất nhiều tài liệu cổ đã thực sự xác nhận chủ quyền Việt Nam trên quần đảo Hoàng sa và Trường sa một cách hiển nhiên không còn nghi ngờ gì nữa như “Toản Tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư” của Đỗ Bá (1630-1653), Phủ Biên Tạp Lục (1776), Dư Địa Chí (1821), Hoàng Việt Địa Dư Chí (1833), Đại Nam Thục Lục Chính Biên, Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ, Đại Nam Nhất Thống Chí…

.

Riêng chúng tôi cũng đã đi lục lọi kiếm trong các tài liệu cổ, đặc biệt đã kiếm được một tấm bản đồ cổ ấn hành năm 1838, nhan đề “An Nam Đại Quốc Họa Đồ” của giám mục Taberd.


Đây là một bản đồ đính sau cuốn Tự Điển Việt la tinh nhan đề “Latino – Anamiticum của giám mục Taberd”[1] xuất bản năm 1838.


Bản đồ này có chiều dài 80cm5; ngang 44cm in trên loại giấy thường để in họa đồ. Người ta thấy nhan đề của bản đồ được in bằng ba thứ tiếng chữ Hán, chữ quốc ngữ, chữ la tinh, được in trên phần giấy có biển Đông Hải( riêng chữ Hán viết theo lối chữ thảo) với các hàng thứ tự như sau:

.

安 南 大 國 畫 圖

AN NAM ĐẠI QUỐC HỌA ĐỒ
Seu
Tabula Géogaphica Imperil Anamitica
Ab Auctore Dictionaril Latino-Anamitica
Disposita
1838


Tại khoảng vĩ tuyến 17 độ và kinh tuyến hơn 110 độ, tức vùng Đông Hải người ta thấy ghi chú một số đảo và đề chữ:


Paracel
Seu
Cát Vàng


Người ta thấy miền duyên hải An Nam đối diện với Paracel( Cát Vàng) ta thấy các địa danh trên bản đồ như:


“ Hue ” tức Huế
“ Cửa Hàn Seu Touron Portus ” tức Cửa Hàn hay hải cảng Tourane (Đà Nẵng)
“ Hòn Sơn Cha ” tức bán đảo Sơn Trà ở Đà Nẵng
“ Cửa Đai Nai Chăm ” tức cửa Đại Chiêm, phía nam Đà Nẵng
“ Cù Lao Chăm ” tức Cù lao Chàm

Dưới phía nam ta còn thấy các địa danh:
“ Sa Kỳ ” và “ Cù lao Ré Seu Pulo Canton ”
“ cửa Đại Quảng Ngãi ”, “Dinh Quảng Ngãi ”
Và phía vịnh Thái Lan có đề Poulo Panjang seu Thổ Chau.


Với các chi tiết của bản đồ trên ta có thể kết luận rằng: Vào năm 1838, khi in tấm họa đồ nhan đề “ An Nam Đại Quốc Họa Đồ ”, kẹp vào cuốn từ điển cùng tác giả nhan đề “ Latino-Anamiticum”, giám mục Taberd đã xác định rõ Paracel là Cát Vàng hay Hoàng Sa nằm trong lãnh hải của An Nam Đại Quốc. Tấm bản đồ “ An Nam Đại Quốc Họa Đồ ” năm 1838 của Taberd là một bằng chứng quá hùng hồn xác định rằng đã từ lâu chính người ngoại quốc, điển hình là giám mục Taberd, đã biết rõ Chủ quyền của Việt Nam trên đảo Hoàng-Sa là điều không còn nghi ngờ gì nữa.


Đến đây, chúng tôi xin tường thuật lại những biện pháp và văn kiện hành chánh theo thứ tự thời gian (biên niên) đã được ban hành từ thời Pháp thuộc, hoặc do chính phủ bảo hộ Pháp hoặc do chính nam triều lúc triều đình Việt Nam hoặc chính phủ Việt Nam Cộng Hòa thực hiện.


1) Nghị định số 156 – SC do toàn quyền Đông dương ký ngày 15/6/1932.


Thiết lập tổ chức hành chánh tại quần đảo Hoàng-Sa (không tìm ra nguyên văn chỉ biết được do theo nghị định số 3282 ký ngày 5/5/1939).


2) Thông tri ngày 19/7/1933 của Bộ Ngoại Giao [Pháp Quốc]: liên quan đến việc hải quân Pháp chiếm hữu một số đảo thuộc quần đảo TRƯỜNG SA và phụ cận[2]


Sau đây là nguyên văn và bản dịch thông tri trên:


Thông tri ngày 19-7-1933 liên quan đến việc những đơn vị hải quân Pháp chiếm cứ một số hải đảo.


Chánh phủ Pháp đã sai những đơn vị hải quân chiếm cứ những đảo là tiểu đảo định rõ dưới đây:


1.Hải đảo Trường sa (Spratly), nằm tại 8°39’ Bắc vĩ tuyến và 111°55’ Kinh tuyến Tây Greenwich, cũng như các tiểu đảo phụ thuộc. (Sự chiếm hữu thực hiện ngày 13-4-1933).


2. Tiểu đảo Caye-d’Amboine, nằm tại 7°25’, Bắc vĩ tuyến và 112°55’ Kinh tuyến Tây Greenwich, cũng như các tiểu đảo phụ thuộc. (Sự chiếm hữu thực hiện ngày 7-4-1933).
3. Tiểu đảo Itu-Aba, nằm tại 10°22’ Bắc vĩ tuyến và 114°21’ Kinh tuyến Tây Greenwich, cũng như các tiểu đảo phụ thuộc.(Sự chiếm hữu thực hiện ngày 10-4-1933).


4. Nhóm Hải Đảo, nằm tại 11°29’ Bắc vĩ tuyến và 114°21’ Kinh tuyến Tây Greenwich, cũng như các tiểu đảo phụ thuộc. (Sự chiếm hữu thực hiện ngày 10-4-1933).


5. Tiểu đảo Loaito, nằm tại 10°42’ Bắc vĩ tuyến và 114°25’ Kinh tuyến Tây, cũng như các tiểu-đảo phụ-thuộc. (Sự chiếm hữu thực hiện ngày 11-4-1933).


6. Hải đảo Thi-Tu, nằm tại 11°7’ Bắc vĩ tuyến và 114°16’ Tây kinh tuyến Greenwich, cũng như những tiểu đảo phụ thuộc. (Sự chiếm hữu thực hiện ngày 12-4-1933).


Những hải đảo và tiểu đảo ghi trên từ nay sẽ thuộc chủ quyền Pháp quốc.


Nguyên văn

MINISTÈRE DES AFFAIRES ÉTRANGÈRES


Avis relatif à l’occupation, le 19 juillet 1933, de certaines iles par des uni-tés navales francaises.


Le Gouvernement francais a fait procéder par des unités navales à l’occupation des iles et ilòts définis ci-dessous:


1, L’ile Spratly, située par 8°39’ latitude Nord et 111°55’ longitude Est Greenwich, ainsi que les ilots qui en dépendent.
(La prise de possession a eu lieu le 13 avril 1933).


2, Ilot Caye-d’ Amboine, sitúe par 7°52’, latitude Nord et 112°55, longitude Est Greenwich, ainsi que les ilots qui en dépendent.
(La prise de possession a eu lieu le 7 avril 1933).


3, Ilot Itu-Aba, situé par 10°22’, latitude Nord et 114°21’, longitude Est Greenwich, ainsi que les ilots qui en dépendent.
(La prise de possession a eu lieu le 10 avril 1933).


4, Groupe de Deux-Iles, sitúe par 11°29’ latitude Nord et 114°21’, longitude Est Greenwich, ainis que les ilots qui en dépendent.
(La prise de possession a eu lieu le 10 avril 1933).


5, Ilot Loaito , sitúe par 10°42’ latitude Nord et 114°25’, longitude Est Greenwich, ainis que les ilots qui en dépendent.
(La prise de possession a eu lieu le 11 avril 1933).


6, Ile Thí-Tu, sitúe par 11°7’ latitude Nord et 114°16’, longitude Est Greenwich, ainis que les ilots qui en dépendent.
(La prise de possession a eu lieu le 12 avril 1933).


Les iles et ilots sus-indiqués relèvent désormais de la souverameté francaise
(Journal officiel de la République Francais 25 Juillet 1933, p.7394).


3) Thông tri của Bộ Ngoại Giao (Pháp quốc), liên quan đến việc các đơn vị hải quân Pháp chiếm một số hải đảo.[3]


Nội dung bản thông tri này gần y hệt như nội dung bản thông tri của Bộ Ngoại Giao ở trên đăng ở Journal officiel de la République Francais 25 Juillet 1933, p.7394, duy khác một vài điều theo thứ tự sau:


1. Đề mục thông tri bỏ “ le 19 Juillet 1933 ” (19-7-1933).


2. Chữa lại năm chiếm đảo Spratl, thay vì 13-4-1933 thì sửa là 13-4-1930.


3. Cuối thông tri ghi thêm: “Thông tri này đề thay thế thông tri trước, đăng trong công báo ngày 25-7-1933 nơi trang 7794 ”.


Như vậy chính vì thông tri đăng công báo ngày 25-7-1933 nhầm lẫn 1933 với 1930, nên đã có thông tri mới này cải chánh vì nội dung hoàn toàn giống nhau, nên chúng tôi chỉ xin đăng nguyên văn, xin độc giả xem các phần phiên dịch ở trên.


Nguyên văn
MINISTÈRE DES AFFAIRES ÉTRANGÈRES


Avis relatif à l’occupation de certaines iles iles par des unités navales francaises


Le Gouvernement francais a fait procéder par des navales à l’occupation des iles et ilots définis ci-dessous:


1. L’iles Spratly, sitúee par 8°39’ latitude Nord et 111°55’ longitude Est Greenwich, ainsi que les ilots qui en dépendent.(La prise de possession a eu lieu le 13 avril 1930).


2. Ilot Caye- d’Amboine, situé par 7°52’, latitude Nord et 112°55’ longitude Est Greenwich, ainsi que les ilots qui en dépendent.
(La prise de possession a eu lieu le 7 avril 1933).


3. Ilot Itu-Aba, situé par 10°22’ latitude Nord et 114°21’ longtitude Est Greenwich, ainsi que les ilots qui en dépendent.
(La prise de possession a eu lieu le 10 avril 1933).

4. Groupe de Deux-Iles, situé par 114°21’ longitude Est Greenwich, ainsi que les ilots qui en dépendent.
(La prise de possession a eu lieu le 10 avril 1933).


5. Ilot Lóaito, situé par 10°42’ latitude Nord et 114°25’ longtitude Est Greenwich, ainsi que les ilots qui en dépendent.
(La prise de possession a eu lieu le 11 avril 1933)


6. Ile Thi-Tu, située par 11°7’ latitude Nord et 114°16’ longtitude Est Greenwich, ainsi que les ilots qui en dépendent.
(La prise de possession a eu lieu le 12 avril 1933).

Les iles et ilots sus indiqués relèvent désormais de la souveraine- té francaise.
(Cet avis annule le précédent, inséré au Journal officel en date du 25 juillet 1933, page 7794).


4) Nghị định số 4762. CP ngày 21-12-1933 do Thống đốc M.J.Krautheimer ký nhập quần đảo spratly (Trường Sa) và các tiểu đảo Caye-d’ Amboine, Itu- Aba, nhóm Hai Đảo, Loaito và Thi Tu vào địa phận tỉnh Bà Rịa[4]


Tài liệu cũng thấy đăng trong Bulletin administratif de la Cochinchine 4-1-1934, nơi trang 28, nhưng không kê rõ số nghị định và do ai ký, xin phiên dịch bản văn ngắn sau đây:


“ Do các nghị định Thống đốc Nam-Kỳ ký ngày 21-12-1933.
Hải đảo Spartly (Trường Sa) và những tiểu đảo Caye-d’ Amboine, Itu- Aba, nhóm Hai Đảo, Loaito và Thi Tu thuộc hải đảo Spratly, nằm trên biển Đông- hải nay được sáp nhập vào địa phận tỉnh Bà Rịa.


Nguyên văn
PAR ARRÊTÉS DU GOUVERNEUR DE LA COCHINCHINE EN DATE DES 21 DÉCEMBRE 1933


L’ile dénommée Spratly et les ilots Caye-d’ Amboine, Itu-Aba, groupe de Deux-iles, Loaito et Thi-Tu qui en dépendent, situés dans la Mer de Chine sont rattachés à la province de Baria.


Sau đây là toàn văn nghị định 4762 trên, thấy còn lưu trữ tại Văn Khố Quốc Gia, Sài gòn, chưa đề số hiệu:

THỐNG ĐỐC NAM KỲ
Đệ tam đẳng Bắc đẩu bội tinh


“ Chiếu sắc lệnh ngày 20-10-1911;
Chiếu sắc lệnh ngày 9-6-1922 ấn định việc cải tổ Hội đồng thuộc địa Nam-Kỳ và những bản văn kế tiếp;

Chiếu thông tri đăng trong công báo Cộng-hòa Pháp quốc ngày 26-7-1933 của Bộ Ngoại giao, liên quan đến việc chiếm hữu một số hải đảo do những đơn vị hải quân Pháp thực hiện.
Chiếu các thư số 634 và 2243-AP ngày 24-8 và 14-9-1933 của Toàn quyền Đông dương, liên quan đến việc sáp nhập ngững hải đảo và tiểu đảo thuộc Trường Sa( Spratly) hay đảo Bão Tố (Tempete);
Chiếu các cuộc thảo luận của Hội đồng thuộc địa ngày 23-10-1933;
Hội đồng tư vấn đã tham khảo ý kiến;


NGHỊ ĐỊNH


Điều khoản thứ 1 – Đảo Trường Sa (Spratly) và các tiể u đảo Caye-d’Amboine, Itu-Aba, nhóm Hai Đảo, Loaito và Thi Tu thuộc Trường Sa, nằm trên biển Đông Hải được sáp nhập vào tỉnh Baria.

Điều khoản thứ 2 – Tỉnh trưởng Bà Rịa và Giám đốc sở địa chánh và họa đồ chiếu nhiệm vụ, thi hành nghị định này.

Saigon ngay 21 - 12 - 1933

Ký tên: J.KRAUTHEIMER


Nguyên văn
LE GOUVERNEUR DE LA COCHINCHINE OFFICER DE LA LÉGION D’HONNEUR


Vu le décret du 29 Octobre 1911;
Vu le décret du 9 Juin 1922 portant réorganisation du Conseil Colonial de la Cochinechine et les textes subséquents;
Vu l’avis publíe dans le Journal officietl de la République Francaise du 26 Juillet 1933 par le Ministere des Affaires Etrangéres, relatif à l’occupation de certaines iles par des unité navales Etrangeres, relatif à l’occupation de certaines iles par des unité navales francaises.
Vu les lettres Nos 634 et 2243- AP des 24 Aout et 14 septembre 1933 du Gouverneur général, relatives a l’annexion des iles et ilots du groupe Spratly ou Tempête;
Vu les delibération du Conseil colonial en date du 23 Octobre 1933;
Le consefl privé entendu,


ARRETE

Article ier. – L’ile dénommée Spartly et les ilots Caye-d’ Amboine, Itu-Aba, Groupe de Deux- iles, Loaito et Thi-Tu qui en dépendent, situés dans la mer de Chine sont rattachés à la province de Baria.

Article 2. – L’administrateur, Chef de la province de Baria et la Chef du Servics du Cadastré et de la Topographic sont chargés, chacun en ce qui le concerne de l’execution du présent arrêté.


Saigon, le 21 décembre 1933
Signé : J.KRAUTHEIMER


5) Dụ số 10 ngày 29 tháng 2 năm Bảo Đại thứ 13 (30 Mars 1938) Trích “Nam Triều Quốc Ngữ Công báo” số 8, năm 1938, trang 233)


Nguyên văn
NĂM 1938 – Số 8
CUNG LỤC DỤ SỐ 10 NGÀY 29 THÁNG 2 NĂM BẢO ĐẠI THỨ 13 (30 MARS 1938)


Chiếu chỉ các Cù lao Hoàng sa (Archipel des iles Paracels) thuộc về chủ quyền nước Nam đã lâu đời và dưới các tiền triều, các Cù lao ấy thuộc về địa hạt tỉnh Nam- Ngãi; đến đời Đức Thế- Tổ Cao- Hoàng Đế vẫn để y như cũ là vì nguyên trước sự giao thông với các Cù lao ấy đều do các cửa bể tỉnh Nam - Ngãi.


Chiếu chỉ nhờ sự tiến bộ trong việc hàng hải nên việc giao thông ngày nay có thay đổi, vả lại viên Đại- diện Chánh-phủ Nam-triều ủy phái ra kinh lý các cù lao ấy cùng quan Đai-diện Chánh-phủ Bảo-hộ có tâu rằng nên tháp các cù lao Hoàng sa vào địa hạt tỉnh Thừa-thiên thời được thuận tiện hơn.


DỤ


Độc khoản – Trước chuẩn tháp nhập các cù lao Hoàng sa (Archipel des Iles Paracels) vào địa hạt tỉnh Thừa thiên; về phương diện hành chánh, các cù lao ấy thuộc dưới quyền quan Tỉnh hiến tỉnh ấy,
Khâm thử


6) Nghị định số 3282 ngày 5-5-1939 của Toàn- Quyền Đông –Dương.

Nghị định này sửa đổi lại nghị định số 156 – SC ký ngày 15-6-1932[5]
Nội dung xin được phiên dịch sau đây:

 

TOÀN QUYỀN ĐÔNG DƯƠNG ĐỆ NHỊ
ĐẲNG BẮC ĐẨU BỘI TINH
Số 3282


Chiếu sắc lệnh ngày 20-10-1911, ấn định quyền hạn của quan toàn quyền và tổ chức tài chánh và hành chánh Đông dương; Chiếu sắc lệnh ngày 5-8-1936;
Chiếu nghị định ngày 28-12-1934 ấn định điều khỏan về phụ cấp và trợ cấp. Chiếu nghị định số 156- SC ngày 15-6-1932 ấn định việc thiết lập một đơn vị hành chánh tại quần đảo Trường Sa thuộc tỉnh Thừa Thiên ( Trung Kỳ) mang danh là Quận Hoàng Sa;
Do đề nghị của khâm sứ Trung Kỳ;


NGHỊ ĐỊNH


“ Điều thứ nhất – Nghị định số 156- SC ngày 15-6-1932 nay được sửa đổi như sau:


“Điều thứ nhất – Hai đơn vị hành chánh được thành lập tại quần đảo Hoàng –sa thuộc tỉnh Thừa Thiên (Trung Kỳ) dưới danh xưng là Sở đại lý “ Croissant và phụ cận” và Sở đại lý “ Amphyrite và phụ cận”. Ranh giới giữa hai sở này được phân bởi kinh tuyến số 112, trừ rặng đá ngầm Vuladdore hoàn toàn phụ thuộc vào sở đại lý Croissant.

“ Điều thứ hai: - Những phái viên hành chánh đứng đầu hai sở đại lý này với tư cách là ủy viên của công sứ Pháp tại Thừa Thiên Huế sẽ ở tại đảo Pattle và đảo Boisée.

“ Điều thứ ba – Hằng năm trong chức vụ ấy mỗi phái viên sẽ được hưởng phụ cấp đại diện và kinh lý là bốn trăm đồng (400,00) đã dự liệu ở nghị định ngày 28-12-1934. Phụ cấp này sẽ được ngân sách địa phương Trung Kỳ đài thọ, theo chương 12, điều 6, đọan 3”


Điều thứ hai – Phó Toàn Quyền Đông Dương và Khâm sứ Trung Kỳ, chiếu nhiệm vụ, lãnh ti hành nghị định này.


Hanoi, ngày 5-5-1939
Ký tên: J.Brévié


Nguyên văn
LE GOUVERNEUR GÉNÉRAL DE L’INDOCHINE
N.3282 Grand Officier de la Légion d’ Honneur


Vu les décrets du 20 Octobre 1911, portant fixation des pouvoirs du Gouverneur Général et organisation financìere et administrative de l’ Indochine;
Vu l’arrêté du 28 Décembre 1934 portant règlement sur les indemnités et prestatious en nature et en deniers;
Vu l’arrêté N156SC du 15 Juin 1933 portant création d’une délégations administrative aux iles Paracles dépendant de la province de ThuaThien (Annam) dénommée Délégation des Paracles;
Sur la propostion du Résident Supérieur en Annam;


ARRETE:


“ Article premier, - L’arrêté N 156 SC du 15 juin 1932 et modifíe ainsi qu’il suit:
“ Article premier, - Deux délégations administratives sont cree1es aux Iles Paracels dépendant de la province de Thua-thien (Annam) sous les noms de Délégation du “ Croissant et Dépendances” et de “ l’Amphytrite et Dépendances”. La limite entre ces 2 circonscriptions est fixée par le trajet du 112e méridien, sauf en sa traversée du récif Vuladdore qui est totalement englobé par la délégation du Croissant.
“ Art. 2. – Les Fonctionnaires placés à la tête de ces Délégations en quatifé de Délégúes du Résident de France à Thua-thien résideront respectivement à l’Ile Pattle et à l’Ile Boisée.
“ Art.3. – Ils auront droit chaeun, en cette quatité, pour frais de représentation et de tournées, à l’arrêté du 28 Décembre 1934. Cette indemnité est imputable au budget local de l’ Annam, chapitre 12, article 6, paragraphe 3”.
Art .2. – Le Secrétaire Général du Gouverment Général de l’ Indochine et le Résident Supérieur en Annam sout chargés, chacun en ce qui le concerne, de l’ exécution du présent arrêté.


Hanoi, le 4 Mai 1939
Signé: J.BRÉVÍE


7) Bản tuyên bố tại Hội nghị SAN FRANCISCO của Thủ tướng Trần văn Hữu, chính phủ Quốc gia Việt Nam trong thời kỳ người Pháp dùng lá bài Bảo Đại


[ Trích trong “ FRANCE ASIE, số 66-67 ( Novembre Décembre 1951), tr.502-505.]


Hội nghị San Francisco có 51 quốc gia tham dự, trong đó có 3 lời tuyên bố của 3 đại diện Việt, Miên, Lào. Ở đây, chúng ta chỉ chú trọng đến lời tuyên bố chánh thức của đại diện Việt Nam.


Đính kèm sau đây hình ảnh cùng nguyên văn bản tuyên bố của Thủ tướng Trần văn Hữu tại hội nghị San Francisco ngày 6 và 7-1951.

Sau đây là phần phiên dịch:


“Những quốc gia liên hiệp (Pháp) tại hội nghị San Francisco ngày 6 và 7-9-1951.


Việt-Nam
Bản tuyên ngôn của Thủ Tướng Trần văn Hữu.


Kính thưa Ông Chủ Tịch,
Kính thưa quí vị đại biểu,
Kính thưa quí vị.


Thật là nghiêm trọng và cảm kích cho Việt-Nam được đến San Francisco tham dự công việc của hội nghị Hòa-bình với Nhật-Bản.


Sở dĩ chúng tôi được hiện diện tại đây là nhờ các tử sĩ của chúng tôi và lòng hy sinh vô bờ bến của dân tộc chúng tôi, dân tộc đã chịu đựng biết bao là đau khổ để được sống còn và giành sự trường tồn cho nòi giống đã có hơn 4.000 năm lịch sử.


Nếu mỗi dân tộc đã thống khổ do sự chiếm đóng của Nhật Bản, có quyền tham gia hội nghị này, như tất cả diễn giả liên tiếp hai ngày nay đã đồng thanh nhìn nhận, mặc dù thuộc ý thức hệ nào đi nữa cũng vậy thì cái quyền của Việt Nam lên tiếng về hòa ước hòa bình với Nhật Bản lại càng dĩ nhiên hơn lúc nào hết, vì không ai không biết rằng, trong tất ảc các quốc gia Á châu, Việt Nam là một nước chịu nhiều đau khổ nhất về tài sản cũng như về tính mạng của người dân. Và tôi thiếu sót phận sự tối thiểu đối với đồng bào quá vãng nếu giờ phút này tôi không hướng một ý nghĩ thành kính đến một triệu dân Việt mà hoàn cảnh bi thảm của sự chiếm đóng đã đưa đến cái chết đau thương. Những hư hại vật chất mà đất nước chúng tôi gánh chịu không phải là ít và tất cả nền kinh tế của chúng tôi bị ảnh hưởng một cách trầm trọng. Cầu cống và đường xá bị cắt đứt, làng xã bị triệt hạ hoàn toàn, nhà thương và trường học bị thiệt hại, bến tàu và đường sắt bị dội bom, tất cả đều phải làm lại, đều cần thiết phải làm lại, nhưng than ôi, cần có các nguồn tài nguyên quá cao so với khả năng hiện hữu của chúng tôi.


Cho nên, trong lúc khen ngợi sự rộng lượng của các tác giả dự án thỏa hiệp này, chúng tôi cũng sẽ trình bày ngay đây những quan điểm mà chúng tôi yêu cầu hội nghị ghi nhận (chứng nhận).


Là những người Á châu, chúng tôi thành thật hân hoan trước những viễn tưởng mới mẻ mở rộng ra cho một quốc gia Á đông sau khi kết thúc thỏa hiệp hòa bình này. Chúng tôi cũng sẽ cố gắng hết sức góp phần vào sự phục hưng của một dân tộc Á đông bình dị và cần mẫn như nước Nhật Bản đây, chúng tôi tin chắc rằng tất cả những người dân Châu á phải là những người phát khởi thịnh vượng chung của mình, họ cũng trông cậy nơi chính mình để xa lánh mọi chế độ đế quốc và trong việc thiết lập một trạng thái quốc tế mới, một sự liên đới Á châu cũng cần thiết như một sự liên đới Âu châu vậy.


Điều này không có ý muốn nói là sẽ có một ngày nào đó hai sự đoàn kết này sẽ chống đối lẫn nhau. Điều này chỉ muốn nói một cách giản dị là các dân tộc Á châu một khi đã được các quốc gia Tây phương hoàn thành việc giúp đỡ họ xây dựng hòa bình, tôi nói rằng một khi mà hòa bình đã vãn hồi, các dân tộc Á châu không thể sẽ là gánh nặng cho kẻ khác, mà trái lại họ phải nhớ nằm lòng là họ phải tự bảo vệ mạng sống họ bằng những phương tiện riêng của họ. Điều đó ít nhất cũng là tham vọng của Việt Nam mà dù cho có phải chịu nhiều thăng trầm cực nhọc họ vẫn tự hào là đã không lúc nào để nhụt chí. Nhưng một dân tộc độc lập phải là một dân tộc tự hào và cũng bởi sự tự hào, theo chúng tôi, có cái giá, giá đó tuy không thể nào bằng sự tự hào của Nhật Bản nhưng chúng tôi tới đây để yêu cầu được chữ ký của 51 quốc gia hội viên của hội nghị này mà tái lập lại một đời sống quốc gia xứng đáng và tự hào.


Tuy nhiên nếu dự thảo hiệp ước này đòi hỏi thẳng thắn cái quyền đền bồi lại tất cả những hư hại mà chính Nhật Bản hoặc là tác giả, hoặc là ngẫu nhiên đã xảy ra, những đền bồi được dự liệu bằng các cung cấp dịch vụ, trong trường hợp của Việt Nam mà không được đền bồi bằng những nguyên liệu, thì chắc chắn sẽ chẳng có hiệu quả gì cả. Tất cả mọi thứ Việt Nam cũng cần như Nhật Bản, một số trợ giúp quan trọng để tái tạo nền kinh tế của mình. Từ đó nếu nhận những đền bồi chánh yếu bằng những cung cấp dịch vụ thì chẳng khác nào như là đi tín nhiệm một thứ tiền không thể lưu hành (dùng ở xứ của mình).


Chúng tôi vì vậy sẽ phải đòi hỏi nghiên cứu lại các phương thức bồi hoàn khác hữu hiệu hơn và nhất là chúng tôi phải tính, ngoại trừ những phương tiện tạm thời, tới một sự đền bồi thường thức vào cái ngày mà chúng tôi ước mong là sẽ rất gần, cái ngày mà nền kinh tế của Nhật Bản được phục hưng để họ có thể đương đầu với tất cả mọi bắt buộc.


Việt Nam sẽ thất vọng biết bao nếu mọi người gán ép cho các đòi hỏi của chúng tôi khác hơn các ý tưởng là nền kinh tế Việt Nam cũng cần phải trỗi dậy cũng như Việt Nam cần phải có một số cải thiện xã hội quan trọng. Đối tượng cuối cùng chỉ có thể đạt được nếu chúng ta để các tài nguyên quan trọng dự vào; các tài nguyên mà hiện tại trong giờ phút này phải nhường chỗ một phần lớn cho sự bảo tồn sự tự do và nền hòa bình của chúng tôi.


Cũng thế chúng tôi mong muốn, trong lĩnh vực của chúng tôi, một phương cách an ninh tập thể để hoàn tất những nỗ lực của chúng tôi.


Tôi rất sung sướng vì về việc này, đại diện nổi bật của Pháp ngày hôm qua cũng tại chính diễn đàn này, đã trình bày cùng các mối bận tâm như của chúng tôi.


Một hòa ước tương trợ lẫn nhau, để bảo vệ tất cả mọi xứ sở bị cùng các hiểm nguy như nhau, sẽ bảo đảm được một nền hòa bình bền vững trên một phần thế giới.


Việt Nam rất là hứng khởi ký nhận trước nhất cho công cuộc tạo dựng hòa bình này.


Và cũng vì cần phải thành thật lợi dụng tất cả mọi cơ hội để dập tắt những mầm móng các tranh chấp sau này, chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa[6]


Dưới mối lợi lộc mà chúng tôi vừa trình bày, chúng tôi nhìn nhận là dự án thỏa hiệp này, được soạn ra rập y khuôn tinh thần của Hiến Chương Liên Hợp Quốc đã xóa bỏ tất cả tính chất trừng phạt hoặc hạn chế, thiết lập một sự cố gắng sống động để hòa giải tiến bộ nhất trong lịch sử từ trước đến nay. Chúng tôi mong mỏi chân thành là Nhật Bản sẽ lợi dụng triệt để dữ kiện này để nền hòa bình thế giới được củng cố.


8) Sắc lệnh số 143- NV 22-10-1956 thay đổi địa giới và tên đô thành Saigon- ChoLon. [ Trích: Quy pháp vựng tập, tập 1, tr 465-466].

Chúng ta nhận thấy có một điều đặc biệt là nghị định này chú thích Hoàng Sa bằng Spratley trong ngoặc đơn. Chữ Spratley hay Spratly trên nguyên tắc phải để dịch chữ Trường Sa vì chính Trường Sa ( Spratly) do theo nghị định số 4762- CP ngày 21-12-1933 do Toàn quyền M.J.Krautheimer ký được sáp nhập vào tỉnh Bà Rịa, nên nếu Bà Rịa đổi tên là Phước Tuy thì Trường Sa cũng phải đổi tên theo. Có lẽ nhà cầm quyền khi ấy đã xét tới truyền thống xưa kia các tài liệu cổ đã chỉ dùng danh xưng Hoàng sa để chỉ tất cả các hải đảo từ Bắc xuống Nam., nên đã dùng danh xưng Hoàng sa (Spratly) trên.


Sau đây là nguyên văn sắc lệnh :


SẮC LỆNH số 143- NV ngày 22 tháng 10 năm 1956 thay đổi địa giới và tên đô thành Sài gòn – Chợ lớn cùng các tỉnh và tỉnh lị tại Nam Việt

TỔNG THỐNG VIỆT NAM CỘNG HÒA


Chiếu hiện ước tạm thời số 1 ngày 26-10-1955
Chiếu sắc lệnh số 4- TTP ngày 29 tháng 10 1955và các văn kiện kế tiếp ấn định thành phần chính phủ .
Chiếu đề nghị của Bộ trưởng Nội vụ.

SẮC LỆNH :


Điều thứ nhất – Địa phận Nam Việt nay gồm thêm một phần tỉnh Bình Thuận, được chia ra như sau:
a) Đô thành Sài Gòn ,
b) Hai mươi hai tỉnh.
Điều thứ 2 – Đô thành Sài Gòn – Chợ Lớn và các tỉnh, tỉnh lỵ hiện thời được thay đổi địa giới, thay tên theo danh sách và bản đồ đính hậu.
Điều thứ 3 – Để thi hành sắc lệnh này, bộ trưởng nội vụ:
- sẽ quy định trước ngày mùng 1 tháng giêng năm 1957 chương trình sáp nhập.
- ra lệnh cho các tỉnh trưởng sở quan sửa đổi và lập bảng danh sách thôn xã, tổng và quận cho từng tỉnh chiếu theo ranh giới mới.
Điều thứ 4 – Các điều khoản trái với sắc lênh này đều bãi bỏ.
Điều thứ 5 – các bộ trưởng, chiếu nhiệm vụ lĩnh thi hành sắc lệnh này.


Sài gòn, ngày 22 tháng 10 năm 1956
NGÔ ĐÌNH DIỆM

DANH SÁCH CÁC ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH NAM VIỆT

(N.X. Diện -lược bớt)


Kiến thị để đính theo sắc lệnh số 143 – NV
Ngày 22 tháng 10 năm 1956
Sài gòn,ngày 22 tháng 10 năm 1956
T.L. TỔNG THỐNG
Đổng lý văn phòng
QUÁCH TỔNG ĐỨC


9) Sắc lệnh số 174.N.V. ngày 13 tháng 7 năm 1961 đặt Hoàng sa thuộc tỉnh Quảng Nam và thành lập tại quần đảo này một xã lấy danh hiệu là xã Định hải trực thuộc quận Hòa vang [ Trích : Quy pháp vựng tập, tr, 365].

Sau đây là nguyên văn sắc lệnh:


SẮC LỆNH số 174-NV ngày 13 tháng bảy năm 1961 đặt quần đảo Hoàng sa thuộc tỉnh Quảng Nam và thành lập tại quần đảo này một xã lấy danh hiệu là xã Định hảo trực thuộc quận Hòa vang.


TỔNG THỐNG VIỆT NAM CỘNG HÒA


Chiếu sắc lệnh số 124-TTP ngày 28 tháng 5 năm 1961 ấn định thành phần chính phủ;
Chiếu dụ số 57-a ngày 24 tháng 10 năm 1956 cải tổ nền hành chánh Việt Nam;
Chiếu nghị định ngày 32 tháng 2 năm 1939 sửa đổi và bổ túc nghị định số 156-SG (sis)[7] ngày 15-6-1932, ấn định tổ chức hành chánh tại quần đảo Hoàng sa;
Chiếu dụ số 10 ngày 30 tháng 3 năm 1938 sát nhập quần đảo Hoàng sa và địa phận tỉnh Thừa Thiên;
Chiếu nghị định số 335-Nc/P6 ngày 24 tháng 6 năm 1958 và các văn kiện kế tiếp ấn định các đơn vị hành chánh tỉnh Quảng Nam;
Chiếu đề nghị của bộ trưởng nội vụ.


SẮC LỆNH


Điều thứ I.—Quần đảo Hoàng sa trước kia thuộc tỉnh Thừa Thiên, nay đặt thuộc tỉnh Quảng Nam.
Điều thư 2.—Một đơn vị hành chánh trọn đảo này bao gồm trọn quần đảo này được thành lập và lấy danh hiệu là xã Định hải, trực thuộc quận Hòa vang.
Xã Định hải đặt dưới quyền một phái viên hành chánh.
Điều thư 3.—Bộ trưởng nội vụ, tỉnh trưởng Thừa Thiên và tỉnh trưởng Quảng nam, chiếu nhiệm vụ, lãnh thi hành sắc lệnh này.


Sài gòn, ngày 13 thang 7 năm 1961
NGÔ ĐÌNH DIỆM


10) Nghị định số 709-BNV/HCĐP 26 ngày 21 tháng 10 năm 1969 sáp nhập xã Định hải thuộc quận Hòa vang tỉnh Quảng Nam vào xã Hòa long cùng quận (Trích : Quy pháp vựng tập, Quyển XII, tập 2,tr 1558).


Nguyên văn nghị định:

NGHỊ ĐỊNH số 709-BNV/HCĐP/26 ngày 21 tháng 10 năm 1969 sáp nhập xã dịnh hải thuộc quận Hòa vang tỉnh Quảng nam vào xã Hòa long cùng quận.
Tổng trưởng nội vụ,
Chiếu hiến pháp ngày mồng 1 tháng 4 năm 1967;
Chiếu sắc lệnh số 394-TT/SL ngày mồng 1 tháng 9 năm 1969 ấn định thành phần chính phủ;
Chiếu sắc lệnh số 19-SL/Nv ngày 22 tháng 11 năm 1967 ấn định chức trưởng của Tổng trưởng Nội vụ;
Chiếu dụ sô 57- a ngày 24 tháng 10 năm 1956 tổ chức nền hành chánh quốc gia:
Chiếu nghị định số 335-NC/P6 ngày 24 tháng 6 năm 1958 ấn định đơn vị hành chánh tỉnh Quảng Nam;
Chiếu sắc lệnh số 174-NV ngày 13 tháng 7 năm 1961 đặt quần đảo Hoàng sa thuộc tỉnh Quảng Nam và cải biến thành xã Định hải do một phái viên hành chánh quản trị;
Chiếu biên bản ngày mồng 6 tháng 2 năm 1968 của hội đồng tỉnh Quảng Nam và biên bản ngày mồng 9 tháng 8 năm 1969 của hội đồng xã Hòa long, quận Hòa vang, tỉnh Quảng nam thuận sáp nhập Xã Định hải quận Hòa vang cùng tỉnh vào xã Hòa long;
Chiếu đề nghị của tỉnh trưởng Quảng nam.


NGHỊ ĐỊNH


Điều thứ I. – Nay sáp nhập xã Định hải thuộc quận Hòa vang tỉnh Quảng nam vào xã Hòa long cùng quận.
Điều thứ 2. – Địa phận và ranh giới xã Hòa long được ấn định lại y theo bản đồ đính kèm bản chính nghị định này.
Điều thứ 3. – Thứ trưởng Nội vụ, đổng lý văn phòng, tổng thơ ký bộ nội vụ và tỉnh trưởng Quảng nam, chiếu nhiệm vụ, lãnh thị hành nghị định này.


Sài gòn, ngày 21 tháng 10 năm 1969
TRẦN THIỆN KHIÊM


11) Nghị định số 420-BNV/HCĐP/26, x ngày mồng 6 tháng 9 năm 1973 sáp nhập một số đảo vào xã Phước hải, quận Đất đỏ, tỉnh Phước tuy.
(Trích CBNV Cộng Hòa năm thứ 19, số 51, thứ bảy 29-9-1973).


Tổng trưởng nội vụ.
Chiếu hiến pháp Việt nam Cộng hòa ngày mồng 1 tháng 4 năm 1967;
Chiếu sắc lệnh số 394-TT/SL ngày mồng 1 tháng 9 năm 1969 và các văn kiện kế tiếp ấn định thành phần Chánh phủ;
Chiếu dụ số 57-a ngày 22 tháng 11 năm 1967 ấn định chức trưởng của Tổng trưởng nội vụ;
Chiếu sắc lệnh số 198-SL/ĐUHC ngày 24 tháng 12 năm 1966 và các văn kiện kế tiếp cải tổ nền hành chánh xã, ấp,nhất là sắc lệnh số 045-SL./NV ngày mồng 1 tháng 4 năm 1969 và sắc lệnh số 120-SL/NV ngày 22 tháng 8 năm 1972;
Chiếu nghị định ngày 21 tháng 12 năm 1933 sáp nhập quần đảo Trường sa (Spratly), Caye d’ Amboine, Itu- Aba, gronpe de Dẽu-Iles,Loaite, Thị tứ và các đảo phụ cận vào tỉnh Bà Rịa;
Chiếu sắc lệnh số 143-NV ngày 22 tháng 10 năm 1956 sáp nhập quần đảo Trường sa (Spratly) vào tỉnh Phước tuy;
Chiếu nghị định số 6-BNV/HC/NĐ ngày mồng 3 tháng 1 năm 1957 và các văn kiện kế tiếp ấn định các đơn vị hành chánh tỉnh Phước tuy;
Chiếu quyết định của Hội đồng nội các trong phiên họp ngày 9-1-1973;
Chiếu phúc trình của tỉnh Phước tuy;


NGHỊ ĐỊNH


Điều thứ I. – Nay sáp nhập các đảo Trường sa(Spratly), An bang(Amboyna Cay), Thái Bình (Itu-Aba), Song tử đông( Northcaest Cay), Song tử Tây(Southwest Cay), Loại ta ( Loaita), Thị tứ (Thi tu), Nam ai( Namyit), Sinh tồn (Sinh cowe) và các đảo phụ cận vào xã Phước hải quận Đất đỏ, tỉnh Phước tuy.
Điều thứ 2. – Phụ tá đặc biệt, đổng lý văn phòng, tổng thư ký Bộ Nội vụ và tỉnh trương Phước tuy, chiếu nhiệm vụ, thi hành nghị định này.

Nghị định này sẽ được đăng vào Công báo Việt Nam Cộng Hòa.


Sài gòn, ngày mồng 6 tháng 9 năm 1973
LÊ CÔNG CHẤT
Nghị định số 6-BNV/HC/NĐ ấn định các đơn vị hành chánh
Tỉnh Phước tuy CBNV 1957, tr. 2157.



TUYÊN CÁO CỦA BỘ NGOẠI GIAO VIỆT NAM CỘNG HÒA VỀ

NHỮNG HÀNH ĐỘNG GÂY HẤN CỦA TRUNG CỘNG TRONG KHU VỰC

QUẦN ĐẢO HOÀNG SA

( Ngày 19.1.1974)


Nguyên văn:


Sau khi mạo nhận ngày 11.1.1974 chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa của Việt Nam Cộng Hòa, Trung Cộng đã đưa hải quân tới khu vực hoàng sa, và đổ bộ quân lính lên các đảo Cam Tuyền, Quang hòa và Duy Mộng.


Lực lượng Hải quân Trung Cộng gồm 2 chiến đỉnh thuộc nhiều loại và trọng lượng khác nhau, kể cả một tàu loại Komar có trang bị hỏa tiễn.

Để bảo toàn sự toàn vẹn lãnh thổ và nền an ninh quốc gia trước cuộc xâm lăng quân sự này, các lực lượng Hải quân Việt Nam Cộng Hòa trấn đóng trong khu vực này đã ra lệnh cho bọn xâm nhập rời khỏi khu vực.

Thay vì tuân lệnh, các tàu Trung Cộng, kể tư 18-1-1974, lại có những hành động khiêu khích như đâm thẳng vào các chiến đỉnh Việt Nam.

Sáng ngày nay 19-1-1974 hồi 10 giờ 20, một hộ tống hạm Trung Cộng thuộc loại Kronstadt đã khai hỏa bắn vào khu trục hạm “ Trần Khánh Dư” mang số HQ-04 của Việt Nam Cộng Hòa. Để tự vệ, các chiến hạm Việt Nam đã phản pháo và gây hư hại cho hộ tống hạm Trung Cộng. Cuộc giao tranh còn tiếp diễn và đang gây thiệt hại về nhân mạng và vật chất cho cả đôi bên.

Các hành động quân sự của Trung Cộng là hành vi xâm phạm trắng trợn vào lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa, và một lần nữa vạch trần chánh sách bành trướng đế quốc mà Trung Cộng liên tục theo đuổi, đã được biểu lộ qua cuộc thôn tính Tây tạng, cuộc xâm lăng Đại Hàn và Ấn Độ trước kia.

Việc Trung Cộng ngày nay xâm phạm lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa không những chỉ đe dọa chủ quyền và an ninh của Việt Nam Cộng Hoà, mà còn là một hiểm họa đối với nền hòa bình và ổn cố của Đông Nam Á và toàn thế giới.

Với tư cách một nước nhỏ bị một cường quốc vô cớ tấn công, Việt Nam Cộng Hòa kêu gọi toàn thể các dân tộc yêu chuộng công lý và hòa bình trên thế giới hãy cương quyết lên án các hành vi chiến tranh thô bạo của Trung Cộng nhằm vào một quốc gia độc lập và có chủ quyền để buộc Trung Cộng phải tức khắc chấm dứt các hành vi nguy hiểm đó.

Làm ngơ để cho Trung Cộng tự do tiến hành cuộc xâm lấn trắng trợn này là khuyến khích kể gây hấn này theo đuổi chánh sách bành trướng của chúng và sự kiện này đe dọa sự sống còn của những nước nhỏ đặc biệt là những nước ở Á Châu.

Trong suốt lịch sử, dân tộc Việt Nam đã đánh bại nhiều cuộc ngoại xâm . Ngày nay, chánh phủ và nhân dân Việt Nam Cộng Hòa cũng nhất định bảo vệ sự toàn vẹn của lãnh thổ quốc gia.


(Tài liệu ronéo của Bộ Ngoại Giao, Sài gòn, số 015/BNG/TTBC/TT)

.

TUYÊN CÁO CỦA CHÁNH PHỦ VIỆT NAM CỘNG HÒA VỀ CHỦ QUYỀN

CỦA VIỆT NAM CỘNG HÒA TRÊN NHỮNG ĐẢO Ở NGOÀI KHƠI BỜ BIỂN

VIỆT NAM CỘNG HÒA

.

Nguyên văn:

Nghĩa vụ cao cả và cấp thiết nhất của một chánh phủ là bảo vệ chủ quyền, độc lập và sự vẹn toàn lãnh thổ của quốc gia. Chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa cương quyết làm tròn nghĩa vụ này, bất luận những khó khăn có thể gặp phải và bất chấp những sự phản đối không căn cứ dầu xuất phát từ đâu.


Trước việc Trung Cộng trắng trợn xâm chiếm bằng vũ lực quần đảo Hoàng sa của Việt Nam Cộng Hòa, Chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa thấy cần phải tuyên cáo long trọng trước công luận thế giới cho bạn cũng như thù biết rõ rằng.


Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là những phần bất khả phân của lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa. Chánh phủ và nhân dân Việt Nam Cộng Hòa không bao giờ chịu khuất phục trước bạo lực mà từ bỏ tất cả hay một phần chủ quyền của mình trên những quần đảo ấy.


Chừng nào còn một hòn đảo thuộc lãnh thổ ấy của Việt Nam Cộng Hòa bị nước ngoài chiếm giữ bằng bạo lực thì chừng ấy Chánh Phủ và nhân dân Việt Nam Cộng Hòa còn đấu tranh để khôi phục những quyền lợi chính đáng của mình.


Kẻ xâm chiếm phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về mọi tình trạng căng thẳng có thể do đó mà có.


Trong dịp này, Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa cũng long trọng tái xác nhận chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa trên những hải đảo nằm ở ngoài khơi bờ biển Trung-Phần và bờ biển Nam-Phần Việt Nam, từ trước tới nay vẫn được coi là một phần lãnh thổ của Việt Nam Cộng Hòa căn cứ trên những dữ kiện địa lý, lịch sử, pháp lý và thực tại không chối cãi được.

Chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa cương quyết bảo vệ chủ quyền quốc gia trên những đảo ấy bằng mọi cách.


Trung thành với chánh sách hòa bình cố hữu của mình, Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa sẵn sàng giải quyết bằng đường lối thương lượng những vụ tranh chấp quốc tế có thể xảy ra về những hải đảo ấy, nhưng nhất định không vì thế mà từ bỏ chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa trên những phần đất này.

 

Làm tại Saigon, ngày 14 tháng 2 năm 1974
(Tài liệu ronéo của Bộ Ngoại Giao, Sàigòn)

 

 



[1] Hiện cuốn sách và bản đồ trên đang tàng trữ tại Thư Viện Quốc Gia, 69 Gia Long Sài gòn tại phòng Sách Báo và Đồ Bản dành riêng cho loại cổ hiếm. Xem phụ bản An Nam Đại Quốc Họa Đồ đăng ở Sử Địa số này. Về xuất bản, cuốn sách thấy ghi bằng chữ “Ex Typis J.C Marth man, Fređericnagori vaigo serampore 1938”.

[2] Xem Journal Officiel de La République Francaise, 25 juiliet 1933 phần Avis Communication: Ministère des Affaires Etrangères, p 7794.

[3] Journal officiel de la République Francaise, 26 Juillet 1933, p 7837

[4] Nguyên văn nghị đĩnh hiện tàng trữ tại Văn Khố Quốc Gia (69 Gia Long, Sài Gòn) số hiệu có ghi rõ do Thống đốc M.J.Krantheimer ký.

[5] Xem Bulletin Administratif de l’Annam năm 1930, số9, trang 872.

[6] Nguyên văn chữ Pháp đoạn văn quan trọng liên quan đến Hoàng Sa và Trường Sa như sau:
“ Et comme il fant franchement profiler de toutes occasions pour élouffer les germes de discorde, nous affirmons nos droits sur les iles Spratly et Paracels qui de toul temps ont fait parlie du Viet Nam” .Cf “ Conférance de San Francisco”, France- Asie,p 66-67 (Novembre – Decembre 1951), p505

[7] (I) In lầm,SC thay vì SG.

 

 

Trong bài viết trên trang Hội đồng Quan hệ Đối ngoại (Mỹ), Bonnie Glaser (CSIS) đánh giá rằng khả năng xảy ra xung đột vũ trang ở Biển Đông là hoàn toàn có thể. Tác giả đề cập đến 3 trường hợp Mỹ có thể bị cuốn vào cuộc xung đột đó đồng thời khuyến nghị một số biện pháp ngoại giao phòng ngừa.

 

- Trường hợp có khả năng xảy ra và nguy hiểm nhất là xung đột phát sinh từ hoạt động quân sự của Mỹ trong khu vực đặc quyền kinh tế của Trung Quốc (EEZ). Mỹ cho rằng UNCLOS cho phép các nước tiến hành các hoạt động quân sự trong vùng EEZ mà không cần phải có sự đồng ý của nước ven biển đó. Còn Trung Quốc cho rằng các hoạt động trinh sát tiến hành không có sự thông báo và chấp thuận của Trung Quốc là vi phạm luật pháp Trung Quốc và luật pháp quốc tế. Trong những năm gần đây, Trung Quốc thường xuyên ngăn chặn máy bay trinh sát của Mỹ trong vùng EEZ như giữa máy bay trinh sát Mỹ và máy bay chiến đấu của Trung Quốc năm 2001, tàu chiến Trung Quốc quấy rối tàu tuần dương của Mỹ năm 2009. Trong bối cảnh ngày càng có nhiều tàu của Trung Quốc hoạt động trong vùng biển Đông, khả năng xảy ra va chạm với Trung Quốc ngày càng tăng cao.

- Trường hợp thứ hai liên quan đến xung đột giữa Trung Quốc và Phi-líp-pin, đặc biệt là tranh chấp liên quan đến bãi Cỏ Rong, 80 dặm từ bờ biển của Phi-líp-pin mà cả hai bên đều nhận có chủ quyền. Phi-líp-pin hiện đang hợp tác với nước ngoài tiến hành các hoạt động thăm dò và khoan dầu khí ở khu vực này và trong trường hợp Trung Quốc quyết định can thiệp sẽ dẫn đến tranh chấp giữa Trung Quốc và Phi-líp-pin. Mỹ có thể bị cuốn vào cuộc tranh chấp này vì Hiệp ước Phòng thủ chung năm 1951. Mặc dù Mỹ không nói rõ khả năng can thiệp của Mỹ trong trường hợp xảy ra xung đột giữa Phi-líp-pin và Trung Quốc, Phi-líp-pin đã nói rằng trong trường hợp xảy ra xung đột vũ trang với Trung Quốc, Phi-líp-pin mong muốn có sự hỗ trợ của Mỹ theo Hiệp định này.

- Trường hợp thứ ba là xung đột giữa Việt Nam và Trung Quốc. Mặc dù khả năng Mỹ bị cuốn vào xung đột giữa Việt Nam và Trung Quốc thấp hơn so với Phi-líp-pin, tuy nhiên trong trường hợp Trung Quốc gây hấn, Mỹ có thể quyết định điều tàu hải quân đến khu vực và Việt Nam có thể đề nghị Mỹ trợ giúp. Nếu Trung Quốc tấn công vào các tàu chở dầu hoặc giàn khoan của các công ty Mỹ đang khai thác dầu ở khu vực biển Đông, khả năng Mỹ tham gia vào xung đột sẽ càng cao hơn.

Các biện pháp ngoại giao phòng ngừa khả năng xảy ra xung đột giữa Mỹ và Trung Quốc, cụ thể là:

- Hỗ trợ xây dựng các biện pháp giảm nguy cơ xung đột giữa Mỹ và Trung Quốc thông qua việc thiết lập các cơ chế thông tin giữa hai bên.

- Hỗ trợ nâng cao năng lực cho các nước trong khu vực để có thể nâng cao khả năng phòng thủ của các nước và qua đó răn đe Trung Quốc không có những hành động quá khích.

- Khuyến khích việc giải quyết các tranh chấp thông qua Tòa án Quốc tế, Tòa án Luật Biển hoặc thông qua bên thứ ba khác.

- Thúc đẩy các biện pháp giảm thiểu nguy cơ xung đột ở cấp độ khu vực như việc tuân thủ DOC, thúc đẩy các cơ chế khu vực về an ninh biển.

- Khuyến khích cùng phát triển/ hợp tác đa phương trong lĩnh vực khai thác dầu khí, tài nguyên biển...

- Làm rõ những cam kết của Mỹ, tránh tạo cơ hội khuyến khích các nước có những hành động đối đầu.

Các khuyến nghị đối với chính quyền Mỹ để ngăn chặn khả năng xung đột và giảm hậu quả nếu xung đột xảy ra:

Một là, Mỹ cần phê chuẩn UNCLOS. Mặc dù Mỹ tự nguyện tuân thủ các nguyên tác của UNCLOS và đã cam kết sẽ phê chuẩn nhưng việc Mỹ chưa phê chuẩn UNCLOS làm cho các nước khác nghi ngờ là Mỹ sẽ chỉ tuân thủ các công ước quốc tế nếu phù hợp với lợi ích quốc gia. Hai là, các nước có lợi ích ở Biển Đông cần sử dụng các biện pháp và quy trình đảm bảo an toàn để giảm thiểu sự bất ổn và tăng cường thông tin liên lạc trong trường hợp có sự cố xảy ra. Các nước có thể thông qua một quy trình chuẩn cần phải tuân thủ để giảm thiểu khả năng xung đột bùng phát. Ba là, Mỹ cần khuyến khích với các biện pháp giảm thiểu nguy cơ và xây dựng lòng tin giữa các nước. Mỹ cần nêu rõ sự ủng hộ của Mỹ đối với việc thực hiện DOC và tiến tới COC. Bốn là, thiết lập cơ chế đối thoại mới trong khu vực như Diễn đàn Biên phòng biển, trung tâm chia sẻ thông tin, ủy ban điều phối hoạt động đánh cá.. để tạo cơ hội cho việc tăng cường thông tin và điều phối chung. Năm là, Mỹ cần xem xét lại các hoạt động trinh sát trong không trung cũng như trên biển ở gần khu vực lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc, giảm tần xuất hoặc tiến hành các hoạt động ở khu vực ngoài khơi cách xa vùng lãnh hải của Trung Quốc hơn. Sáu là, cần tăng cường hiệu quả của Thỏa thuận tham vấn về các vấn đề quân sự trên biển giữa Mỹ và Trung Quốc; Mỹ và Trung Quốc cần thống nhất về những quy tắc an toàn để giảm thiểu khả năng sảy ra xung đột trong tương lai; có thể nghiên cứu xây dựng thỏa thuận về "giải quyết các vụ việc trên biển". Bảy là, Mỹ cần phải nói rõ trong các cuộc đối thoại giữa Phi-líp-pin và Việt Nam về trách nhiệm và cam kết của Mỹ cũng như giới hạn của khả năng can thiệp của Mỹ trong các tranh chấp trong tương lai để tránh việc các nước trong khu vực được khuyến khích đứng lên đối đấu với Trung Quốc./.

Theo Cfr

Viết Tuấn (gt)

 

Nhu cầu về tài nguyên thiên nhiên gia tăng trong bối cảnh nguồn cung suy giảm đang đặt ra những thách thức đối với các nước xung quanh Biển Đông. Điều này sẽ tác động thế nào đến cách ứng xử của họ đối với bên ngoài: gia tăng cạnh tranh hay thúc đẩy hợp tác?.


Các xu hướng liên quan đến tài nguyên thiên nhiên, cả ở châu Á và trên thế giới, đang khiến quan hệ giữa các quốc gia ở Biển Đông trở nên phức tạp. Các cuộc đối thoại công khai hiện nay tập trung nhiều vào việc liệu các xu hướng đó có góp phần tạo nên xung đột hay không. Tuy nhiên, thực tế thì tình hình phức tạp hơn nhận định trên. Hàng loạt các xu hướng thay đổi liên quan đến năng lượng, kinh tế, tài nguyên và dân số như : nhu cầu năng lượng của thế giới đang gia tăng; sự phát triển của tầng lớp trung lưu tại khu vực Đông Nam Á ; quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp và dịch vụ ; việc dịch chuyển và phát triển ngành công nghiệp dầu mỏ ra ngoài khơi và tình trạng ngày càng khan hiếm nguồn tài nguyên thiên nhiên gần bờ sẽ tác động tới cách ứng xử của các quốc gia trong khu vực. Nếu các nhà lãnh đạo trong khu vực không hiểu được cách thức các xu hướng đó tương tác và ảnh hưởng tới hành vi của các quốc gia, thì họ sẽ có thể hiểu sai hành động của các quốc gia láng giềng, từ đó nguy cơ bất ổn định càng lớn hơn. Từ đó họ cũng có thể sẽ coi nhẹ các cơ hội hợp tác và củng cố an ninh, điều sẽ mang lại lợi ích cho tất cả các nước trong khu vực.

Nếu các chương khác của tập báo cáo này khẳng định rằng tài nguyên luôn luôn là nguồn gốc của cạnh tranh giữa các quốc gia tại Biển Đông, thì chương này sẽ xem xét nhiều hơn về cách thức tài nguyên thiên nhiên tác động tới cách cư xử của quốc gia tại khu vực. Chương này sẽ cung cấp tổng quan về các tác động chính trị và kinh tế mà các quốc gia phải đối mặt khi giải quyết các thách thức đặc thù liên quan đến vấn đề tài nguyên. Tiếp đó, chương này sẽ xem xét những xu hướng tài nguyên và môi trường quan trọng nhất tại khu vực – trong đó có năng lượng, thủy sản, khoáng sản và thay đổi khí hậu. Ngoài ra, chương này giải thích cách thức các xu hướng tác động tới nguồn tài nguyên trên đất liền, chẳng hạn như các đường ống dẫn năng lượng trên đất liền, từ đó định hình cách thức mà các quốc gia sẽ ứng xử với các vấn đề liên quan đến nguồn tài nguyên biển. Cuối cùng, chương này sẽ đưa ra kết luận thông qua việc xem xét việc Mỹ và các quốc gia khác có thể củng cố ổn định khu vực như thế nào nhờ vào những chính sách liên quan tới các xu hướng tài nguyên.

Những mối quan tâm về nguồn tài nguyên trong khu vực

Các xu hướng tài nguyên và môi trường tác động tới các quốc gia tại Biển Đông theo những cách thức khác nhau. Tất cả các quốc gia buộc phải quản lý xu hướng năng lượng, các hoạt động khai thác mỏ, trồng rừng, sản xuất nghề cá, các nguồn cung nước sạch và việc sử dụng đất trồng trọt. Tuy nhiên, mỗi một quốc gia đều đối mặt với những bài toán chính trị và kinh tế đặc thù khi quản lý các nguồn lực đó.

Đối với Trung Quốc, tài nguyên thiên nhiên và môi trường là vấn đề cơ bản đối với đại chiến lược của nước này. Đảng Cộng sản Trung Quốc coi tăng trưởng kinh tế là nền tảng của tính hợp pháp chính trị, và tăng trưởng nhanh đòi hỏi nhu cầu tiêu thụ năng lượng, khoáng sản, nước và các tài nguyên khác ngày càng nhiều. Ngoài ra, giới lãnh đạo Trung Quốc cũng nhận thức rằng sự suy thoái về môi trường nảy sinh do tình trạng quản lý kém trong việc tiêu thụ năng lượng có thể gây ra bất ổn định xã hội và giảm tăng trưởng GDP[1].

Đối với các quốc gia láng giềng của Trung Quốc tại Biển Đông, việc quản lý tài nguyên và môi trường có thể đóng vai trò ít quan trọng hơn về mặt chiến lược, tuy nhiên, những vấn đề này vẫn đặt ra nhiều thách thức lớn. Chẳng hạn như Indonesia phải tìm cách cân bằng giữa nhu cầu về tài nguyên đang ngày càng cấp bách với các tình trạnh đáng lo ngại như thiếu đất, hiện tượng nước biển dâng và dân số tăng. Giới lãnh đạo của Indonesia đã và đang ủng hộ chính sách tăng trưởng xuất khẩu dựa trên việc sản xuất dư thừa thực phẩm, nhiên liệu sạch và khoáng sản để xuất ra bên ngoài. Quốc gia này cũng cam kết bảo tồn số rừng nhiệt đới còn tồn tại và tăng cường nỗ lực tái phủ xanh rừng.  Các nhà tài trợ quốc tế đã cam kết hơn 3 tỷ đô-la cho hoạt động này. Với diện tích đất đai hạn chế dành cho phát triển – cùng hàng loạt các nhân tố nội bộ làm giảm sự kiểm soát của chính phủ trung ương[2] - câu hỏi về cách thức đầu tư như thế nào cho phát triển đang đặt ra nhiều thách thức chính trị mang tính hệ trọng. Chẳng hạn như, chính phủ Indonesia hiện nay đang bàn thảo về việc liệu có nên chuyển mục đích sử dụng các khu vực canh tác đặc thù của sản xuất lương thực cũng như trồng trọt trong nước sang sản xuất nhiên liệu sạch cho thị trường tiêu thụ quốc tế hoặc để tái trồng rừng hay không. Mỗi một mục đích sản xuất nêu trên đều liên quan đến việc đánh đổi giữa lợi ích của thị trường trong nước và nước ngoài[3]. Nhu cầu toàn cầu cũng tác động tới những lựa chọn đó. Trong những năm vừa qua, Liên minh châu Âu (EU) đã từng hạn chế nhập khẩu dầu cọ có xuất xứ nước ngoài được sản xuất thông qua việc sản xuất không bền vững với môi trường. Điều này đã từng gây ra những căng thẳng ngoại giao với các quốc gia xuất khẩu như Indonesia và Malaysia. Cả hai quốc gia này đều đã từng đệ trình đơn kiện lên Tổ chức thương mại thế giới (WTO) để nhằm thúc đẩy việc xuất khẩu dầu cọ[4].

Việt Nam hiện đang đối diện với nhiều thách thức môi trường có ảnh hưởng trực tiếp đến sự tăng trưởng kinh tế liên tục trong những năm qua. Quốc gia này đang trong tiến trình hoàn thành Các Mục tiêu thiên niên kỷ nằm trong Tuyên bố Thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc năm 2000; những mục tiêu đó bao gồm việc xóa đói giảm nghèo, phòng chống bệnh dịch và đảm bảo tính bền vững của môi trường. Chẳng hạn, Việt Nam đã đạt kết quả giảm đói nghèo từ 58,1% (năm 1993) xuống còn 16% (năm 2006) - đây là một thành tích đáng chú ý[5]. Từ năm 2005, GDP thực tế (tính cả điều chỉnh lạm phát) đã tăng với tốc độ hàng năm từ 5,3-8,5%.[6] Nhờ vào sự phát triển này, đời sống của người dân Việt Nam đang ngày càng được cải thiện. Nhưng đi cùng với đó, sự phát triển này cũng làm gia tăng những căng thẳng về nguồn cung nước sạch tại đây và càng ngày càng khiến vấn đề ô nhiễm môi trường trở nên trầm trọng. Khu vực đồng bằng sông Cửu Long đặc biệt dễ bị ảnh hưởng trước những tác động của biến đổi khí hậu, bao gồm hiện tượng nhiễm mặn và xói mòn. Mặc dù đóng góp của khu vực sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam chiếm tỉ trọng ngày càng ít trong GDP quốc gia, ngành này vẫn tiếp tục mang lại thu nhập về xuất khẩu và củng cố cho sự phát triển kinh tế nông thôn thông qua việc thúc đẩy mở rộng sân bay, các tuyến đại lộ cũng như các cơ sở hạ tầng khác. Tổn thất về môi trường và những tác động của biến đổi khí hậu đang đe dọa nghiêm trọng nỗ lực phát triển của đất nước, trong đó có những kế hoạch xuất khẩu nông sản; nhiều chuyên gia cảnh báo năng suất trong sản xuất nông nghiệp rất dễ bị ảnh hưởng trước bất cứ thay đổi nào dù là nhỏ nhất trong những thay đổi của khí hậu cũng như độ mặn của đất.

Các quốc gia nói trên – cùng với Philippines, Malaysia, Singapore và các quốc gia ven Biển Đông khác – đều có kinh nghiệm đối với những thách thức đặc thù liên quan tới xu hướng tài nguyên thiên nhiên và môi trường. Những thách thức trong nước ảnh hưởng đến cách ứng xử của họ với bên ngoài, đồng thời cũng có thể làm gia tăng cạnh tranh hoặc thúc đẩy hợp tác. Đặc biệt, ba nguồn tài nguyên sẽ có thể ảnh hưởng đến hành vi của các quốc gia ở Biển Đông và đóng vai trò quan trọng trong việc nhận thức rõ viễn cảnh của sự cạnh tranh cũng như hợp tác trong khu vực, đó là: năng lượng, nguồn hải sản và khoáng sản.

Năng lượng

Đối với phần lớn các quốc gia trong khu vực, việc tiếp cận Biển Đông luôn được xem là nhân tố quyết định tới việc thỏa mãn nhu cầu năng lượng cần thiết mà các quốc gia cần để phát triển, đặc biệt là trong bối cảnh  khu vực được đánh giá là có khả năng trở thành " một vịnh Ba Tư mới".[7] Mặc dù những đánh giá về trữ lượng khí đốt tự nhiên và các nhiên liệu khác (theo từ chuyên ngành là chỉ số RRP hoặc R/P, có nghĩa là chỉ số giữa trữ lượng và sản xuất – ND) đang thay đổi một cách nhanh chóng do sự phát triển của công nghệ và những thay đổi về giá cho phép các quốc gia có thể khai thác trữ lượng tài nguyên nhiều hơn dự tính ban đầu, nhưng các quốc gia vẫn đang gia tăng lo ngại về việc liệu trữ lượng tài nguyên này có đáp ứng được nhu cầu năng lượng trong dài hạn của họ hay không. Chẳng hạn, theo hãng BP, chỉ số R/P trữ lượng dầu của Trung Quốc – chỉ số sẽ cho biết việc cung ứng dầu mỏ quốc nội sẽ kéo dài bao lâu với tốc độ sản xuất hiện tại – chỉ ở mức 9,9 năm, và trữ lượng dầu tại Biển Đông có thể gấp đôi trữ lượng dầu mà Trung Quốc hiện có.[8] Các quốc gia trong khu vực có thể tìm kiếm việc tăng sản lượng tại Biển Đông bởi nguồn năng lượng dự trữ toàn cầu hiện nay đang tập trung phần lớn ở các quốc gia bất ổn chính trị, như Iran, Venezuela và Arap Saudi.

Tuy nhiên, các đánh giá về nguồn dự trữ năng lượng tại Biển Đông lại có nhiều khác biệt. Một đánh giá mới đây của Mỹ cho thấy rằng Biển Đông có khoảng 15,6 tỷ thùng dầu, trong đó có khoảng 1,6 tỷ thùng là trữ lượng dầu đã xác minh (trữ lượng xác minh là lượng dầu khí có thể thu hồi thương mại tính được ở thời điểm nhất định với độ tin cậy cao - ND). Ngược lại, những nhà thăm dò Trung Quốc đánh giá trữ lượng dầu có thể dao động từ 105 – 213 tỷ thùng, trong đó có khoảng 10,5 – 21,3 tỷ thùng là trữ lượng dầu đã xác minh, ngoài ra còn có trữ lượng lớn khí đốt tự nhiên.[9] Mặc dù có những khác biệt đó, một số quốc gia – trong đó có Trung Quốc, Việt Nam và Philippines - đang xúc tiến một vài kế hoạch khai thác các nguồn tài nguyên này. Các quốc gia lân cận khu vực biển Đông cũng quan tâm đến vấn đề này. Chẳng hạn như Ấn Độ đã tuyên bố vào tháng 9/2011, Công ty quốc doanh dầu mỏ và khí đốt tự nhiên của nước này sẽ là đối tác với Việt Nam trong việc khai thác dầu mỏ và khí đốt tự nhiên trong những vùng biển tranh chấp mà Việt Nam yêu sách thuộc chủ quyền của họ.[10] Trong khi đó, Trung Quốc tiếp tục đưa ra những cảnh báo đối với các quốc gia bên ngoài đang can dự vào các tranh chấp lãnh thổ trong khu vực. Điều này đã và đang làm gia tăng căng thẳng, theo đó, tất cả các quốc gia trong khu vực lo sợ rằng việc tiếp cận các nguồn tài nguyên này là một đề xuất "tổng bằng không" và họ phải khai thác các nguồn tài nguyên trước khi các quốc gia khác tiếp cận.

Ngoài ra, việc tiếp cận rộng rãi các tuyến lưu thông hàng hải (SLOC) chạy qua Biển Đông và kết nối các quốc gia trong khu vực với nguồn năng lượng từ Trung Đông thì cũng quan trọng như nguồn tài nguyên dầu mỏ ở dưới đáy biển tại khu vực này vậy. Chẳng hạn, hàng năm có 60 nghìn tàu quá cảnh tại eo biển Ma-lắc-ca, trong đó các tàu chở dầu chứa khoảng hơn 13 triệu thùng dầu, chiếm khoảng 40% số dầu được sản xuất trên toàn cầu.[11] Bản thân Trung Quốc cũng nhận ra rằng quốc gia này sẽ chịu nhiều tác động từ việc ngừng cấp năng lượng tại Biển Đông bởi 80% nguồn năng lượng của họ trong quá trính vận chuyển phải quá cảnh tại eo biển Ma-lắc-ca.[12] Điều này phần nào giải thích lý do Trung Quốc yêu sách phần lớn Biển Đông: bởi quốc gia này muốn độc quyền khả năng bảo vệ các tuyến SLOC khỏi nguy cơ tiềm tàng của việc bị cắt đứt nguồn cung dầu.

Sự cạnh tranh các nguồn nhiên liệu hóa thạch tại Biển Đông sẽ không chỉ phụ thuộc vào yêu sách của các quốc gia đối với các mỏ ngoài khơi xa mà còn phụ thuộc vào khả năng phát triển công nghệ nhằm tiếp cận với các mỏ tài nguyên đó. Ngược lại, tốc độ phát triển công nghệ, đặc biệt là công nghệ tiếp cận năng lượng và các nguồn tài nguyên khác (như khoáng sản) ở xa bờ sẽ xác định cách thức các quốc gia này có thể khai thác trữ lượng dầu nhanh ra sao.

Chi phí cũng là một nhân tố. Mặc dù Trung Quốc và các quốc gia khác có thể có công nghệ đủ để để sản xuất dầu mỏ và khí đốt ở phần lớn vùng nước sâu ở Biển Đông,[13] nhưng chi phí để sản xuất dầu khí ở xa bờ thường tốn kém nhiều hơn so với việc sản xuất từ các nguồn năng lượng truyền thống, đặc biệt so với sản xuất tại Iraq, Iran, những quốc gia có trữ lượng dầu mỏ truyền thống dồi dào. Các công ty năng lượng trong khu vực cũng như quốc tế tiến hành khai thác tại đây hiểu rõ được những chi phí và lợi nhuận kinh tế trong vấn đề này. Tuy nhiên, đối với các nhà hoạch định chính sách và các chuyên gia, họ cần nhận thức được thực tế rằng chi phí khai thác dầu từ các mỏ truyền thống tại khu vực Trung Đông hoặc Bắc Mỹ không giống như  chi phí khai thác dầu tại vùng biển sâu ở Biển Đông.

Lợi nhuận khai thác các nguồn tài nguyên dưới đáy biển tại Biển Đông có thể bị giảm nếu như (hoặc khi) các nhiên liệu thay thế có giá bằng với các nguồn tài nguyên hóa thạch truyền thống.[14] Chẳng hạn, đầu tư của Hải quân Mỹ vào nhiên liệu sinh học từ tảo đã làm giảm chi phí một ga-lông nhiên liệu tảo ở Mỹ, khiến giá của nguồn nhiên liệu này gần xuống tới mức giá của dầu mỏ. Đầu năm nay, Hải quân Mỹ đã thông báo một đơn đặt hàng 450.000 ga-lông nhiên liệu sinh học tảo, đây là đơn hàng mua bán lớn nhất từ trước tới nay.[15] Một đơn đặt hàng như vậy cho phép các công ty sản xuất năng lượng có thể tiến hành sản xuất dựa theo quy mô, điều này giúp giảm chi phí đơn vị của sản phẩm. Ngoài ra, những quy định mới – trong đó có quy định về phát thải khí các-bon trong ngành hàng không của EU và sắc lệnh của chính quyền Obama yêu cầu tất cả văn phòng liên bang giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính – có thể làm tăng nhu cầu sử dụng các nhiên liệu thay thế.[16] Việc sản xuất nhiên liệu sinh học toàn cầu tiếp tục phát triển dẫn đến nguồn cung tăng có thể bù đắp được nhu cầu về dầu mỏ được sản xuất thông qua những phương thức sản xuất đắt đỏ - trong đó có hoạt động rút dầu ở xa bờ và vùng biển sâu tại Biển Đông.

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây

Will Rogers

Lan Hương (dịch)

Quang Hưng (hiệu đính)

 

Bản dịch chương V: The Role of Natural Resources in the South China Sea trong báo cáo: Cooperation from Strenth: The United States, China and the South China Sea của Trung tâm An ninh mới (CNAS) của Mỹ.



[1] Theo một báo cáo mới đây của Ngân hàng thế giới, tỉ lệ người chết vì ô nhiễm đã ảnh hưởng xấu tới tăng trưởng GDP của Trung Quốc: «Theo một đánh giá, gánh nặng kinh tế của tỷ lệ chết trẻ và chết vì bệnh tật do ô nhiễm không khí tương đương với 157,3 tỷ nhân dân tệ vào năm 2003, chiếm khoảng 1,16% GDP. Con số này được xác định dựa trên giả định rằng giá trị kinh tế bị thiệt hại do mỗi cá nhân chết trẻ được tính bằng cách sử dụng giá trị GDP tính trên đầu người hiện tại cùng với khoảng thời gian mà lẽ ra còn trong cuộc đời họ. Nếu giá trị kinh tế bị thiệt hại của người chết trẻ được ước lượng thống kê vào khoảng 1 triệu NDT – được xác định dựa theo mức độ sẵn sàng chi trả của người dân trong việc tránh rủi ro tử vong -  thì những tổn thất do ô nhiễm không khí gây ra tương đương với 3,8% GDP». World Bank, “Cost of Pollution in China: Economic Estimates of Physical Damages” (2007), xiii.

[2] Tham khảo Abraham Denmark, Crafting a Strategic Vision: A New Era of U.S.-Indonesia Relations (Washington: Center for a New American Security, 2010), 17-20.

[3] Ví dụ, khi xem xét đến giá trị kinh tế của các nhiên liệu sinh học như dầu cọ (như In-đô-nê-xia có lãi khoảng 12,4 tỷ đô la vào năm 2009), giới hoạch định chính sách tỏ ra thận trọng trước những đánh đổi chính trị liên quan tới việc giảm sản xuất dầu cọ trong nước bởi nếu có thể đạt được tỉ lệ như mức cam kết của họ với những nhà tài trợ quốc tế trong việc bảo vệ những khu rừng còn sót lại thì việc giảm sản xuất này sẽ mang lại nguồn tiền cho các chương trình quốc gia,. Claire Leow và Yoga

Rusmana, “Indonesia to Develop Value-Added Palm Oil Industry, Rajasa Says,” Bloomberg, December 1, 2009, http://www.bloomberg.com/apps/news?pid=newsarchive&sid=a15d6QXkUfwI&refer=commodities.

[4] Ví dụ, đọc Bill Guerin, “European Blowback for Asian Biofuels,” Asia Times Online, February 8, 2007; và Pete Harrison, “Malaysia, Indonesia Warn EU Hampers Palm Oil Trade,” Reuters, 16 tháng 11, 2010.

[5] United Nations MDG Monitor, “Viet Nam,” www.mdgmonitor.org/country_progress.cfm?c=VNM&cd=704; and World Bank, “Vietnam: Country Overview,” (Tháng 6/2008), 1-4.

[6] World Bank, “East Asia and Pacific Economic Update 2010, Vol. I,” (2010), 46.

[7]Energy Information Administration, “South China Sea,” Country Analysis Briefs, Tháng 3/2008, http://www.eia.gov/emeu/cabs/South_China_Sea/OilNaturalGas.html.

[8] BP, Statistical Review of World Energy,” (Tháng 6/2011), 6.

[9] Các chuyên gia chỉ ra chính xác rằng các đánh giá của Trung Quốc chỉ bao gồm tổng thể trữ lượng dầu mỏ và khí đốt mà không tính đến số liệu chuẩn của ngành công nghiệp về tỷ trọng của dầu khí có thể thu hồi được, con số đã được chứng minh là khoảng 10%. Chính vì thế, tuyên bố của Trung Quốc về tiềm năng năng lượng ở Biển Đông là thái quá. Tham khảo thêm, Clive Schofield, Ian Townsend-Gault, Hasjim Djalal, Ian Storey, Meredith Miller and Tim Cook, “From Disputed Waters to Seas of Opportunity,” Special Report No. 30 (National Bureau of Asian Research, Tháng 7/ 2011), 12.

[10] Sachin Parashar, “Undeterred India to Hunt for Oil in South China Sea,” The Times of India, 17 tháng 9, 2011, http://articles.timesofindia.indiatimes.com/2011-09-17/india/30168478_1_respect-and-support-countries-ongcvidesh- pham-binh-minh.

[11]Department of Energy, “World Oil Transit Chokepoints,” February 2011,http://www.eia.gov/cabs/world_oil_transit_chokepoints/Full.html.

[12] Tham khảo phần tham luận trong « Malacca dilemma » ở chương viết của Ian Storey trong tập san này.

[13] Andrew Erickson và Gabriel Collins, “China Aims to More Than Triple Its Oil & Gas Production in the South China Sea over the Next 10 years,” China SignPost, 31 (3/4/2011), http://www.chinasignpost.com/wp-content/uploads/2011/04/China-SignPost_31_China-Deepwater-Energy-Production_201104032.pdf.

[14] Những nhà phân tích về năng lượng đã đánh giá, trong những cuộc trò chuyện cá nhân, rằng nhiên liệu sinh học có thể đạt cân bằng giá với dầu mỏ vào khoảng năm 2020. Các chuyên gia lập luận rằng thời gian cần thiết để tăng quy mô sản xuất của nhiên liệu sinh học nhằm cho ra được sản phẩm có mức giá cạnh tranh phụ thuộc nhiều vào ngành công nghiệp đang dẫn dắt phát triển, ngoài ra còn phụ thuộc vào các điều kiện về đầu tư quan trọng khác : « Nếu tham khảo dựa theo các kiến thức về công nghệ sinh học thì thời gian cần thiết là khoảng từ 5 đến 10 năm. Nếu nhìn từ góc độ của ngành công nghiệp dầu khí truyền thống, với các chu kỳ phát triển lâu dài cùng với sự phức tạp và quy mô của hệ thống phân phối, thời gian đó có thể kéo dài từ 15 đến 20 năm ». Daniel Yergin, The Quest: Energy, Security, and the Remaking of the Modern World (New York: Penguin Press, 2011), 663.

[15] Theo Tư lệnh Hải quân Mỹ, ông Ray Mabus, với nhu cầu khiêm tốn của Hải quân, giá nhiên liệu làm từ tảo đã bị cắt giảm một nửa trong năm qua và sẽ dự báo bị cắt giảm tiếp một nửa trong năm nay. Department of Defense Bloggers Roundtable with Ray Mabus, Secretary of the Navy, August 22, 2011. See also Defense Logistics Agency, “Request for Information: Procurement of Hydro-Renewable Jet and Marine Diesel Fuel,” 23/5/2011, https://www.fbo.gov/?s=opportunity&mode=form&id=173a64498bcfa1e6da5b34df1aab2f91&tab=core&_cview=0.

[16] Ví dụ, đọc European Commission on Climate Action, “Reducing Emissions from the Aviation Sector,” (January 4, 2011), http://ec.europa.eu/clima/policies/transport/aviation/index_en.htm; và President Barack

Obama, “Executive Order 13514,” October 5, 2009, http://www.whitehouse.gov/assets/documents/2009fedleader_eo_rel.pdf.

 

Tạp chí “Tri thức thế giới” số 4 có bài viết của tác giả Trương Hải Văn, cho rằng Trung Quốc tuyệt đối không được tự rơi vào trong chiếc bẫy, theo đó cứ mỗi khi bàn đến “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” hoặc bàn đến luật quốc tế là cho rằng Trung Quốc đuối lý nên phải né tránh.

 

Theo tác giả bài viết thì từ lâu nay, Trung Quốc vẫn áp dụng chính sách kiềm chế, không làm cho vấn đề Biển Đông nóng lên, không muốn nói đến, thậm chí là né tránh nhưng thực tế Trung Quốc tuyệt đối không phải vì không có căn cứ pháp luật. Ngày 27-1-2012 Ngoại trưởng Philíppin Rosario đã đưa ra tuyên bố xác nhận tin từ một số báo chí trước đó về việc Philíppin cho phép Mỹ mở rộng đóng quân tại nước này. Trong tuyên bố của Rosario còn nói đến việc Philíppin sẽ cùng với Mỹ tổ chức diễn tập quân sự hỗn hợp nhiều hơn. Ngoài ra, Bộ trưởng Quốc phòng Philíppin Voltaire T.Gazmin cùng ngày cũng cho biết Chính phủ Philíppin đang xem xét chấp nhận đề nghị của Mỹ để cho quân đội Mỹ bố trí tàu chiến và tàu trinh sát mới hơn. Ông Voltaire T.Gazmin nói “nếu thiếu sức mạnh răn đe này thì lãnh thổ của chúng tôi sẽ bị xâm lược. Hôm nay đã có người láng giềng tốt đó (nước Mỹ), chúng tôi sẽ không thể tiếp tục bị lừa gạt nữa”. Trước biểu hiện trên của Philíppin, các chuyên gia bình luận rằng điều này có thể sẽ có hiệu ứng kiểu mẫu nào đó trong số các nước hữu quan ở Biển Đông, khiến cho tình hình khu vực này phức tạp hơn. Trước đó ngày 14/1 tại Bắc Kinh, Trung Quốc và các nước ASEAN đã tổ chức Hội nghị quan chức cấp cao lần thứ tư về việc thực hiện “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông”, các bên đã nhất trí cho rằng cần nắm vững thời cơ có lợi nhân kỷ niệm 10 năm ký kết, thúc đẩy thực hiện toàn diện “Tuyên bố” nói trên. “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông” đã tồn tại được 10 năm nhằm mục đích “tăng cường sự tin cậy lẫn nhau, đẩy mạnh hợp tác, cùng bảo vệ hòa bình ổn định Biển Đông” nhưng vẫn cần phải được “thúc đẩy” và tiếp tục “đẩy mạnh” hơn nữa. Để đẩy mạnh hợp tác thực chất, tại hội nghị các nhà lãnh đạo Trung Quốc và ASEAN lần thứ 14 tháng 10 năm ngoái, một trong những đề xướng của Thủ tướng Ôn Gia Bảo về việc làm sâu sắc thêm hợp tác thực chất giữa Trung Quốc và ASEAN là mở rộng hợp tác thực chất trên biển, Trung Quốc sẽ thành lập Quỹ hợp tác trên biển Trung Quốc-ASEAN, đẩy mạnh hợp tác trong các lĩnh vực nghiên cứu khoa học và bảo vệ môi trường biển, liên hệ thông suốt với nhau, an ninh hàng hải và cứu hộ trên biển, tấn công tội phạm xuyên quốc gia. Trung Quốc đã đầu tư 3 tỉ nhân dân tệ cho quỹ này. 

I- Tình hình Biển Đông hiện nay rốt cuộc là thế nào? 

1/ Nhìn nhận vấn đề Biển Đông từ những góc độ khác nhau 

Tác giả bài viết cho rằng nếu nhìn từ góc độ chính trị quốc tế và quan hệ giữa các quốc gia thì tình hình Biển Đông vẫn ổn định. Nói như vậy cũng có nghĩa là quan hệ giữa các nước khu vực Biển Đông cùng nước ngoài khu vực như Mỹ... với Trung Quốc, vẫn đang duy trì quan hệ chính trị, ngoại giao bình thường, khả năng xảy ra xung đột quân sự ở Biển Đông không lớn. Nhưng nếu nhìn từ góc độ khác thì vấn đề sẽ rất nhiều. Ví dụ, xét từ góc độ kiểm soát và sử dụng quyền phát ngôn thì hai năm trở lại đây, vấn đề Biển Đông bị nhào nặn trở thành một trong những vấn đề nóng ở khu vực. Trước năm 2010 chỉ cần Trung Quốc phản đối mạnh thì dù các nước xung quanh Biển Đông hay ngoài Biển Đông cũng đều không thể công khai bàn vấn đề tranh chấp Biển Đông tại các cơ chế hay hội nghị mang tính khu vực như Diễn đàn Khu vực ASEAN. Một số nước ASEAN như Việt Nam ... cùng với Mỹ, Nhật Bản... (là các nước ngoài khu vực), có thể tìm ra những tình huống và cơ hội để ngang nhiên bày đặt vấn đề Biển Đông, thậm chí chỉ trích Trung Quốc, Trung Quốc về cơ bản đều bị động và đáp lại một cách giản đơn, chưa bao giờ chủ động gây chuyện. Tại Diễn đàn khu vực ASEAN năm 2010, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc cũng là không kìm nén được mới phản bác lại cái gọi là ngôn luận về “bảo vệ tự do hàng hải ở Biển Đông” của Ngoại trưởng Mỹ H. Clinton. Nói tóm lại, quyền phát ngôn của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông hiện nay là bị động, đương nhiên đó chủ yếu bắt nguồn từ chính sách tự kiềm chế và chừng mực của chúng ta. Xét từ góc độ khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên thì vài năm gần đây, theo con số thống kê chưa hoàn toàn đầy đủ, mỗi năm các nước ven Biển Đông đã khai thác một khối lượng đến trên 5 triệu tấn dầu khí ở vùng biển tranh chấp thuộc Biển Đông, trong khi Trung Quốc đến nay còn chưa có lấy một giếng dầu ở vùng biển tranh chấp này. Vấn đề vẫn không chỉ có thế mà một thời kỳ rất lâu trước đó, các nước như Philíppin và Việt Nam khi muốn lôi kéo công ty dầu khí của nước phương Tây vào khai thác, thăm dò, thường còn kiêng dè đến phản ứng của Trung Quốc, nếu Trung Quốc phản ứng mạnh sẽ có phần thu hẹp khai thác hoặc dịu giọng, còn nay thì mạnh bạo rõ rệt, ngang ngược bày đặt. Ví dụ, hồi tháng 5 tháng 6 năm 2011, cái gọi là vấn đề Biển Đông nóng lên, chính là do Việt Nam bày trò “giặc kêu bắt giặc” mà thành chuyện. Hiện nay Philíppin và Việt Nam liên tục lợi dụng việc Trung Quốc băn khoăn không muốn dư luận quốc tế làm ầm ĩ vấn đề Biển Đông, mỗi khi muốn hợp tác với công ty dầu khí phương Tây thăm dò, khai thác ở vùng biển tranh chấp thuộc Biển Đông, các nước này lại tạo dư luận trước, để khi Trung Quốc đưa tàu hải giám đến làm nhiệm vụ ngăn chặn, sẽ tuyên bố Trung Quốc đã gây rắc rối cho việc thăm dò khai thác trên biển của họ. Nói như vậy cũng có nghĩa là trước đây Việt Nam và Philíppin chỉ vụng trộm khai thác, thăm dò nguồn dầu khí ở vùng biển tranh chấp thuộc Biển Đông, hiện nay không chỉ trắng trợn khai thác mà còn phản công trả đũa, đổ vấy trách nhiệm cho Trung Quốc gây căng thẳng cho tình hình Biển Đông. Đối với hành động nghiêm trọng tương tự như vậy của một số nước xung quanh, Trung Quốc hiện nay chủ yếu vẫn áp dụng phương thức kháng nghị ngoại giao, đồng thời cũng thực thi một số hành động chấp pháp bảo vệ chủ quyền.

Tuy nhiên nếu nhìn từ hiệu quả thực tế thì những biện pháp này không đủ để ngăn chặn hoặc làm thay đổi tình hình mà các nước xung quanh cướp đoạt nguồn tài nguyên dầu khí ở vùng biển tranh chấp đang ngày càng mạnh lên. Xét từ phương diện đánh bắt ngư nghiệp, hiện nay thuyền đánh bắt cá của ngư dân Trung Quốc thường xuyên bị bắt giữ ở Biển Đông và Đông Hải (Biển Hoa Đông). Khi bị nước xung quanh bắt giữ, ngư dân Trung Quốc sẽ bị phạt và tịch thu tàu, bị phạt tiền nặng và phải ngồi tù, đứng trước rủi ro khuynh gia bại sản. Năm 2011 Nhật Bản và Hàn Quốc mở rộng bắt bớ, thậm chí sẵn sàng áp dụng phương thức bạo lực đối xử với ngư dân Trung Quốc, cuối cùng dẫn đến hậu quả là hai bên đều có người thương vong nghiêm trọng. Trong khi đó, Trung Quốc trước sau vẫn kiềm chế, chưa bao giờ xử phạt nghiêm khắc đối với những ngư dân và tàu cá của một số nước cạnh Biển Đông đánh bắt trái phép. Xét từ góc độ so sánh lực lượng và xây dựng quan hệ chiến lược, từ năm 2010 đến nay, so sánh lực lượng ở khu vực Biển Đông đã có thay đổi to lớn, quan hệ chiến lược giữa các nước ngoài Biển Đông có bước phát triển mới. Nhìn trên tổng thể, về cơ bản đã hình thành mối quan hệ so sánh lực lượng trong đó một bên do Trung Quốc đứng đầu, bên kia là Mỹ và một số nước quanh Biển Đông như Việt Nam. Mối quan hệ đó được biểu hiện cụ thể qua hai phương diện sau: Một là, quan hệ giữa thế lực ngoài khu vực và các nước thuộc vùng biển xung quanh Biển Đông ngày càng chặt chẽ hơn. Từ năm 2010 đến nay Mỹ không ngừng gia tăng sự hiện diện quân sự ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Ngoài việc không ngừng che giấu củng cố quan hệ đồng minh quân sự với Hàn Quốc, Nhật Bản và Philíppin, đồng thời nhiều lần diễn tập quân sự chung, cuối năm 2011 Mỹ lại tuyên bố ký thỏa thuận với Ôxtrâylia thành lập căn cứ hải quân tại nước này và đưa lính tác chiến đến đóng ở đó. Một số nước cạnh Biển Đông cũng vậy, quan hệ quân sự Việt-Mỹ hiện nay là thời kỳ tốt nhất kể từ chiến tranh Việt Nam đến nay; Việt Nam cũng đã xây dựng và tăng cường quan hệ hợp tác quân sự với Ấn Độ và Nhật Bản, các nước này đều cam kết rõ cần phải giúp Việt Nam nâng cao khả năng quân sự trên biển. Philíppin, Inđônêxia cũng lần lượt nâng cấp quan hệ với Nhật Bản, và đã nâng quan hệ lên đến tầm cao đối tác chiến lược, tuyên bố phải bảo vệ “lợi ích chung” ở Biển Đông. Điều đặc biệt phải chú ý quan tâm là các mối quan hệ đối tác chiến lược này không còn là lời nói ngoại giao, mà đã được đưa vào trong hiệp định ký kết chính thức. Hai là, xét từ tình hình phát triển quan hệ giữa các nước tranh chấp Biển Đông, Việt Nam không ngừng điều chỉnh chiến lược Biển Đông, bao gồm phương châm và sách lược mà Việt Nam đối phó trong tranh chấp Biển Đông, bắt đầu gác lại tranh chấp với các nước khác ở Biển Đông như Philíppin, tích cực lôi kéo Philíppin và Malaixia nhằm mục đích cùng đối phó với Trung Quốc. 

2/ Vì sao vấn đề Biển Đông gần đây nóng lên? Xu thế phát triển như thế nào? 

Một vấn đề đáng phải suy xét sâu xa là từ thập niên 70 của thế kỷ trước đến nay tranh chấp Biển Đông đã diễn ra hàng chục năm nhưng về cơ bản các nước khác và Trung Quốc đều giữ lập trường giống nhau hoặc tương tự nhau, nghĩa là có tranh chấp nhưng không thổi phồng. Nhưng từ năm 2010 đến nay, vấn đề Biển Đông bị khuấy nóng lên, dường như hai năm qua Biển Đông đang không ngừng xuất hiện tranh chấp mới. Sự thực là, cái gọi là vấn đề Biển Đông hiện nay là bị người ta khuấy lên. Nhưng ai khuấy? Vì sao lại phải khuấy lên như vậy? Tác giả bài viết này cho rằng việc khuấy cho vấn đề Biển Đông nóng lên là một thủ đoạn mà Mỹ và một số nước tranh chấp Biển Đông đã phối hợp với nhau để giúp Mỹ nhanh chóng can thiệp vào vấn đề Biển Đông, tranh giành ảnh hưởng ở khu vực Biển Đông, và cũng để giúp các nước như Việt Nam tranh đoạt và củng cố lợi ích thực tế ở Biển Đông. Hơn nữa, nhìn từ tình hình hiện nay thì cách làm của các nước nói trên tỏ ra đã rất thành công. Từ năm 2010 đến nay Mỹ và Việt Nam cũng như nước khác đã lợi dụng mặt bằng đối thoại trên nhiều cấp độ của ASEAN, triển khai thế tiến công dư luận đối với Trung Quốc, đã hình thành môi trường dư luận cùng “lên án” Trung Quốc. Xét từ môi trường dư luận hiện nay thì dường như vấn đề Biển Đông là vấn đề mà một bên là Trung Quốc, bên kia gồm có một số nước Đông Nam Á và một số nước khác như Mỹ, Nhật Bản, là cuộc xung đột giữa lợi ích của Trung Quốc và “lợi ích chung” của cả một số nước nói trên ở Biển Đông. Tình hình như trên tỏ ra không phù hợp với sự thực khách quan. Xu thế về so sánh lực lượng như vậy ở khu vực Biển Đông từ trước đến nay chưa hề có. Vì thế, mục đích làm cho vấn đề Biển Đông nóng lên chính là để bóp méo hình ảnh của Trung Quốc, cô lập Trung Quốc để tạo môi trường dư luận, phục vụ cho Mỹ và Việt Nam cùng các nước tranh chấp Biển Đông khác xây dựng đại liên minh chiến lược chống Trung Quốc, bao vây Trung Quốc ở hướng Biển Đông. Hơn nữa, cho đến cuối năm 2011 liên minh này đã dần có hình hài, tiêu chí trực tiếp nhất là các loại quan hệ đối tác chiến lược đã được kết thành giữa các nước tranh chấp Biển Đông như Việt Nam và Philíppin với thế lực ngoài khu vực như Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ như đã nói trên, đặc biệt là quan hệ hợp tác quân sự không ngừng được tăng cường. Tuy nhiên các nước này cũng có tính hai mặt rất rõ. Một mặt, về phương diện an ninh, các nước này đều hy vọng dựa vào Mỹ để kiềm chế Trung Quốc, nhưng mặt khác về phương diện kinh tế, ở mức độ khác nhau các nước này phải dựa vào Trung Quốc để có được lợi ích kinh tế thực sự. Có hai ví dụ rõ nhất gần đây, một là tháng 10 năm 2011 Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam thăm Trung Quốc, trong khi ký kết thỏa thuận nguyên tắc chỉ đạo giải quyết tranh chấp Biển Đông, Chủ tịch nước Việt Nam cũng đồng thời đi thăm Ấn Độ, ký kết thỏa thuận hợp tác giữa hai nước ở Biển Đông. Hai là vào tháng 7 năm 2011 Ngoại trưởng Philíppin đi thăm Trung Quốc, sau khi tìm kiếm được lợi ích kinh tế từ Trung Quốc trở về lại lập tức tuyên bố đưa công ty dầu mỏ phương Tây vào khai thác ở khu vực tranh chấp thuộc Biển Đông. Việt Nam và Philíppin là các nước cạnh Biển Đông hết sức khéo lợi dụng cơ hội nhà lãnh đạo hai nước đi thăm lẫn nhau, vừa ca ngợi tình cảm hữu nghị với Trung Quốc, lại vừa nhân cơ hội để thực hiện hành động thăm dò, điều tra khai thác trên biển, tranh đoạt lợi ích thực tế.

Nói tóm lại, trong vấn đề đối phó tranh chấp Biển Đông, một số nước xung quanh có quy hoạch chiến lược và kế hoạch hành động, cũng có sách lược đấu tranh, rất giỏi lợi dụng thiện chí và chính sách kiềm chế của Trung Quốc để mưu tìm lợi ích tối đa ở ngoài khơi Biển Đông. Đương nhiên không thể phủ nhận được rằng xét từ phương diện lợi ích chiến lược thì các nước cạnh Biển Đông và thế lực ngoài khu vực như Mỹ đều hy vọng dựa vào vấn đề tranh chấp Biển Đông, triệt để làm to chuyện với Trung Quốc. Ngoài ra, tác giả bài viết cũng cho rằng tính đến cuối năm 2011, tình hình Biển Đông căng thẳng đã diễn biến đến bước ngoặt. Có hai lý do chủ yếu, một là mục đích thổi phồng vấn đề Biển Đông của Mỹ và các nước như Việt Nam cơ bản đã đạt được, tức đã tạo ra được môi trường dư luận hết sức bất lợi cho Trung Quốc, cô lập Trung Quốc, xây dựng được đại liên minh chiến lược cùng chống Trung Quốc và bao vây Trung Quốc ở hướng Biển Đông. Hai là từ tháng 1 năm 2012, Campuchia trở thành nước chủ tịch luân phiên mới của ASEAN, ở mức độ nào đó thực tế này sẽ làm yếu đi mức độ lợi dụng các diễn đàn ASEAN để công kích Trung Quốc của Mỹ và Việt Nam. Tuy nhiên, như mọi người đều biết, việc tranh chấp chủ quyền các đảo, bãi ngoài khơi và hoạch định ranh giới biển là vấn đề khó khăn mang tính toàn cầu. Ví dụ, nước Mỹ cần phải lần lượt đàm phán về khoảng 37 đường biên giới biển với ít nhất 13 nước láng giềng trên biển (là các nước Anh, Hà Lan, Canađa, Cuba, Mêhicô, Panama, Vênêxuêla, Nhật Bản, Inđônêxia, Philíppin, Niu Dilân, quần đảo Tây Samoa và Tônga) ở 5 khu vực (châu Âu, Bắc Mỹ, Nam Mỹ, châu Á và châu Đại Dương), ngoài phân định đường biên giới trên biển ở vịnh Maine với Canađa, phần lớn các đường biên giới còn lại chưa được giải quyết. Nhật Bản cũng tồn tại vấn đề phân định biên giới biển với tất cả các nước láng giềng, và còn có tranh chấp chủ quyền về các đảo với Nga, Bắc Triều Tiên, Hàn Quốc và Trung Quốc, tất cả đều chưa được giải quyết hoàn toàn. Xét từ thực tiễn quốc tế thì công việc hoạch định biên giới biển hoặc giải quyết một tranh chấp nào đó về biển, thông thường đòi hỏi thời gian hàng chục năm, là “cuộc chiến lâu dài đặc biệt”. Hơn nữa, với những kiến thức thông thường và là một nguyên tắc quan trọng như mọi người đều biết thì việc giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia là trách nhiệm chung của các bên tranh chấp, đòi hỏi các bên cùng nỗ lực và có thiện chí, tuyệt đối không phải bất cứ nước đương sự nào đơn phương có thiện chí và kiềm chế mà có thể giải quyết dứt điểm được vấn đề. Vì thế, cũng như rất nhiều vùng biển quốc tế khác, trong thời gian tương đối dài tới đây vấn đề tranh chấp Biển Đông sẽ vẫn là một đề tài quan trọng để các nước hữu quan công kích Trung Quốc, tại vùng biển tranh chấp cục bộ ở Biển Đông khả năng mâu thuẫn bị kích hoạt gay gắt cũng vẫn tiếp tục. 

II- Tính chất hợp pháp trong chủ trương của Trung Quốc về quyền lợi ở Biển Đông 

Hiện nay xuất hiện một luận điệu cho rằng Trung Quốc không chiếm ưu thế pháp lý trong vấn đề Biển Đông. Thậm chí có người còn cho rằng “đường đứt đoạn Biển Đông” của Trung Quốc không có cơ sở luật pháp. Tuy nhiên, sự thực là như thế nào? Những năm gần đây Mỹ, Nhật Bản cùng với các nước Biển Đông như Philíppin, Việt Nam và Malaixia trong những khung cảnh khác nhau đã nhiều lần tuyên bố “phải căn cứ theo luật quốc tế, trong đó có ‘Công ước của Liên hợp quốc về luật biển’ để giải quyết vấn đề tranh chấp Biển Đông”. “Trung Quốc phải tuân thủ quy tắc luật quốc tế”, “đường đứt đoạn theo chủ trương của Trung Quốc không phù hợp với ‘Công ước của Liên hợp quốc về luật biển’”, thậm chí có một số người gọi là học giả còn đề xuất “phải lấy ‘Công ước của Liên hợp quốc về luật biển’ làm căn cứ để giải quyết vấn đề Biển Đông”. Những cách nói như trên thoạt nghe có vẻ khác nhau nhưng trên thực tế dụng ý và mục đích là như nhau, đó là chỉ trích chủ trương của Trung Quốc về vấn đề Biển Đông là không phù hợp với luật quốc tế, yêu cầu Trung Quốc từ bỏ chủ trương về quyền lợi ở Biển Đông. Nhưng có một sự hiểu biết thông thường cơ bản là luật quốc tế phải yêu cầu các nước tuân thủ chứ không thể chỉ yêu cầu Trung Quốc tuân thủ. Bởi dung lượng bài viết có hạn, tác giả bài viết không thể xuất phát từ góc độ chuyên ngành pháp luật quốc tế để trả lời những vấn đề nói trên, mà chỉ dẫn một số ví dụ từ hai phương diện để làm rõ vấn đề, xem Mỹ, Nhật Bản, cùng với Philíppin đã “tôn trọng” và “tuân thủ” luật pháp quốc tế như thế nào. 

1/ Mỹ và Nhật Bản là những ví dụ điển hình về không tôn trọng và không tuân thủ “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển”

Hiện nay cả thế giới đã có hơn 160 nước phê chuẩn “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển”, trong đó ngoài bao gồm tuyệt đại đa số các nước ven biển, còn có rất nhiều nước trong nội địa. Tuy nhiên Mỹ là nước đến đâu cũng chỉ trích nước khác không tuân thủ “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” nhưng đến nay vẫn từ chối phê chuẩn Công ước này. Nguyên nhân căn bản là, nếu phê chuẩn thì hải quân Mỹ sẽ bị hạn chế hoặc bị ảnh hưởng ở mức độ rất lớn chứ không thể được tự do hoạt động trên các vùng biển toàn cầu. Vì thế, có một vấn đề khiến người ta rất nghi hoặc là với tư cách là nước không tôn trọng và không phê chuẩn “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển”, chỉ chọn những điều khoản có lợi chứ không tuân thủ những điều khoản không có lợi cho mình trong công ước này để thi hành, vậy nước Mỹ có tư cách gì để chỉ trích Trung Quốc là nước đã ký kết tham gia công ước? Xem xét tiếp Nhật Bản, nước này đã ngang nhiên vi phạm điều 121 trong “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” quy định rõ về mặt pháp luật các đảo và bãi đảo. Nhật Bản từ lâu đã đầu tư rất nhiều tiền và nhân lực để xây dựng, củng cố nhân tạo đối với bãi san hô Okinotori mà trên thực tế chỉ là bãi đá (tức không thể có được thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế), diện tích chỉ bằng khoảng “chiếc giường đôi”, hòng biến bãi đá này thành “đảo” theo ý nghĩa pháp luật (tức có thể dựa theo luật pháp để chủ trương vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa). Năm 2009 Nhật Bản đã nộp lên Ủy ban ranh giới thềm lục địa Liên hợp quốc hồ sơ hoạch định thềm lục địa ngoài 200 hải lý (hoạch định ranh giới kéo dài tối đa của thềm lục địa tự nhiên của nước mình), không những đã chính thức hoạch định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 200 hải lý cho bãi Okinotori, mà còn hoạch định thềm lục địa ngoài 200 hải lý, diện tích lần lượt là hơn 400 nghìn km 2 và hơn 700 nghìn km 2 , còn lớn hơn nhiều so với cả lãnh thổ của bản thân nước Nhật vốn chỉ khoảng hơn 300 nghìn km 2 . Đối với việc làm vi phạm rõ rệt “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” nói trên của Nhật Bản, Mỹ không chỉ im hơi lặng tiếng, không một lời đả động đến mà còn bằng mọi cách ngăn cản và phản đối việc Trung Quốc đề cập vấn đề này tại hội nghị các nước tham gia công ước. Ngày 16/1/2012, Nhật Bản tuyên bố sẽ đặt tên cho các đảo không người ở trong đó có 4 hòn đảo thuộc quần đảo Điếu Ngư, Trung Quốc đã có bất đồng nghiêm trọng đối với Nhật Bản về vấn đề này, cho biết rõ mọi việc làm đơn phương đối với đảo Điếu Ngư và các đảo phụ thuộc xung quanh đảo Điếu Ngư đều là hành động trái phép và không có hiệu lực pháp lý. Rất dễ để có thể nhận ra ý đồ của Nhật Bản rằng thông qua phương thức đặt tên trước để biểu thị nước này có chủ quyền đối với các bãi, đảo tranh chấp nói trên, tiếp theo sẽ phỏng theo cách làm đối với bãi Okinotori, coi các bãi đảo không người ở như vậy là những điểm cơ bản về lãnh hải, đạt mục đích quản lý vùng biển Hoa Đông và vùng đặc quyền kinh tế cũng như thềm lục địa ở phạm vi lớn hơn nữa mà họ chủ trương. Trong bối cảnh tự mình rõ ràng không tuân thủ như vậy, Nhật Bản cũng có tư cách gì để “chỉ đạo” nước khác phải tuân thủ luật quốc tế? 

2/ Philíppin đã vi phạm những luật quốc tế nào? 

Hiện nay chủ trương lãnh thổ của Philíppin ở các đảo, bãi thuộc Biển Đông gồm hai bộ phận lớn: Thứ nhất, đặt tên cho một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa thành cái gọi là “quần đảo Kalayaan” để chủ trương thuộc về lãnh thổ của Philíppin. Hai là, chủ trương đảo Hoàng Nham của Trung Quốc cũng thuộc về quyền sở hữu của Philíppin. Trên thực tế, xét từ góc độ luật pháp quốc tế để nhận định chủ trương của Philíppin về những phần lãnh thổ nói trên có hợp pháp hay không thì đó là vấn đề rất đơn giản, tức Philíppin hoạch định những đảo, bãi này vào phạm vi lãnh thổ của họ vào lúc nào. Về vấn đề này, tác giả bài viết và một số đồng nghiệp đã tiến hành phân tích, nghiên cứu tất cả những pháp luật và điều ước về việc hoạch định phạm vi lãnh thổ của Philíppin trong lịch sử của nước này. Ví dụ, trong lịch sử, Philíppin đã lần lượt từng là thuộc địa của Tây Ban Nha và Mỹ, còn những hiệp ước hoạch định phạm vi lãnh thổ của Philíppin khi đó có “Hiệp ước Pari” năm 1898, “Hiệp ước Oasinhtơn” năm 1900; sau khi Philíppin độc lập, năm 1951 lại ký hiệp định song phương với Mỹ là “Hiệp ước phòng thủ chung Mỹ-Philíppin”. Những hiệp ước nói trên đã quy định Mỹ có nghĩa vụ bảo vệ cho lãnh thổ Philíppin không bị xâm lược. Vì thế trên thực tế cũng đã phân định phạm vi lãnh thổ của Philipin một cách tương ứng. Tuy nhiên, trong tất cả những hiệp ước nói trên đều không hoạch định cái gọi là “quần đảo Kalayaan” và đảo Hoàng Nham vào trong phạm vi lãnh thổ của Philíppin. Trên thực tế, đến năm 2009, Philíppin mới cho ra đời dự luật số 2699 (gọi là “Dự luật về vấn đề liên quan đến điểm cơ bản về lãnh hải”), lần đầu tiên mới đưa “quần đảo Kalayaan” và đảo Hoàng Nham vào làm lãnh thổ của Philíppin. Như vậy rõ ràng việc làm nói trên của Philíppin là phi pháp. Cho dù không xuất phát từ góc độ chuyên ngành về luật quốc tế để phân tích, mà chỉ cần nói theo sự hiểu biết thông thường, nếu một nước thông qua quá trình lập pháp của nước mình là có thể lấy lãnh thổ của nước khác nhập vào cương vực của nước mình, lấy đó làm của mình thì bản đồ thế giới sẽ phải yêu cầu vẽ lại rất nhiều rồi.

Hơn nữa, luật quốc tế còn có một quy tắc gọi là xác định ngày tháng then chốt, cũng là nói trước hết phải tìm ra được thời điểm xảy ra tranh chấp, phán quyết rõ sự thực lịch sử trước thời điểm đó là gì, đối tượng tranh chấp ở vào trạng thái như thế nào, tức là trước khi xảy ra tranh chấp, lãnh thổ đó thuộc về nước nào. Sau khi xảy ra tranh chấp thực tế như thế nào, nước có quyền lợi từ trước đó có phải đã từ bỏ quyền lợi của mình hay không, nước đương sự tranh chấp khác đã áp dụng hành động gì, có hiệu lực pháp lý quốc tế hay không. Sự thực pháp luật không thể bóp méo là: Sau năm 2009, Philíppin mới chính thức hoạch định cái gọi là “quần đảo Kalayaan” và đảo Hoàng Nham vào lãnh thổ của nước họ về mặt luật pháp. Dù không nói đến lịch sử lâu dài, chỉ cần nói đến tình hình từ khi thành lập nước Trung Quốc mới, ngay từ năm 1958 Trung Quốc đã quy định cả bốn quần đảo ở Biển Đông với các đảo khác vào trong phạm vi lãnh thổ của Trung Quốc rồi. Sau đó, trong “Luật lãnh hải và vùng giáp ranh Nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa” và trong những lần tuyên bố ngoại giao, Trung Quốc luôn nhấn mạnh chủ quyền của mình đối với các đảo Biển Đông, trong đó có quần đảo Trường Savà đảo Hoàng Nham, hơn nữa đến nay vẫn chưa bao giờ từ bỏ. Trên thực tế, năm 2009 Philíppin thông qua dự luật nói trên là hành động “có tật giật mình” của kẻ gian, vì Philíppin thấy mình căn bản không có cơ sở pháp luật để chủ trương “quần đảo Kalayaan” và đảo Hoàng Nham thuộc chủ quyền của mình nên mới phải cho ra đời dự luật mới này để lấp đi chỗ khuyết thiếu nghiêm trọng này. Nhưng nếu chiểu theo luật pháp quốc tế thì cách làm luật nói trên của Philíppin rõ ràng không có được tính hợp pháp, dự luật nói trên cũng tuyệt đối không thể có hiệu lực. Còn nước bảo hộ của Philíppin là nước Mỹ lại không có bất cứ ý kiến bình luận gì đối với việc làm như vậy của Philíppin.

3/ “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” không thể được dùng để chứng minh thuộc chủ quyền lãnh thổ hoặc giải quyết vấn đề tranh chấp chủ quyền lãnh thổ 

Nhận định vấn đề thuộc chủ quyền lãnh thổ hoặc giải quyết tranh chấp chủ quyền lãnh thổ phải căn cứ theo các quy tắc và nguyên tắc trong luật quốc tế ở rất nhiều phương diện chứ tuyệt đối không phải quy định trong một công ước nào đó. Đây là một kiến thức thông thường hết sức rõ ràng trong lý luận và thực tiễn về luật pháp quốc tế. Căn cứ luật pháp quốc tế để giải quyết tranh chấp lãnh thổ ít nhất bao gồm những quy tắc và nguyên tắc theo luật quốc tế như quy tắc có được lãnh thổ, quy tắc xác định thời gian, quy tắc xác định ngày tháng then chốt, quy tắc không truy ngược quá khứ, nguyên tắc cấm phản ngôn và quy tắc quyền lợi mang tính lịch sử. Một điều hết sức cần thiết phải chỉ rõ là những quy tắc nói trên đều không phải là quy định trong “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển”. Xét từ quy định trong bản thân “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” thì trong Lời nói đầu của Công ước đã chỉ rõ là “trong điều kiện tính đến chủ quyền của tất cả các nước, xây dựng một trật tự pháp luật về biển...”. Như vậy có nghĩa là trật tự biển được xây dựng theo yêu cầu của công ước nói trên là xuất phát từ một tiền đề, đó là không thay đổi chủ quyền quốc gia đã có. Một trong những căn cứ của luật quốc tế trong việc phán đoán quy thuộc chủ quyền lãnh thổ là quy tắc có được lãnh thổ, quy tắc này không quy định trong “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển”. Xét từ ý nghĩa lịch sử thì quy tắc có được lãnh thổ đã bao hàm rất nhiều quy tắc liên quan, bao gồm phát hiện, chiếm trước, chiếm lĩnh hữu hiệu và quản lý hữu hiệu v.v., đòi hỏi phải xuất phát từ nhiều góc độ và phương diện để phán đoán một quốc gia có chủ quyền đối với một phần lãnh thổ nào đó có hợp pháp hay không, mọi việc làm của quốc gia đó có hiệu lực theo luật quốc tế hay không. Từ các thời Tống, Nguyên, Thanh đến nay Trung Quốc đã trải qua nhiều thực tiễn qua các thời kỳ xã hội, qua nhiều triều đại, nhất là các đời chính phủ ở thời kỳ cận đại và hiện đại, đặc biệt bao gồm những thực tiễn về việc phát hiện, chiếm trước, quản lý hữu hiệu, đã có được chủ quyền lãnh thổ đối với các đảo ở Biển Đông một cách hữu hiệu. Còn một điều vẫn phải nói rõ rằng tiêu chuẩn và yêu cầu về luật quốc tế qua các thời kỳ lịch sử đối với một quốc gia có một lãnh thổ hợp pháp hay không là không giống nhau. Ví dụ, luật quốc tế thời cổ đại là ai có sức mạnh cưỡng chiếm, người ấy sẽ có được lãnh thổ, luật quốc tế thời cận đại cũng cho phép dùng vũ lực cưỡng đoạt chủ quyền lãnh thổ. Chẳng hạn như sau khi chiếm lĩnh nhiều đảo ở Nam Thái Bình Dương, nước Pháp đã có được chủ quyền ở những đảo đó. Nhưng luật quốc tế ở thời kỳ hiện đại là cấm dùng vũ lực để có được lãnh thổ, ví dụ rõ nhất là Nhật Bản trong thời kỳ Chiến tranh Thế giới thứ Hai đã chiếm các bãi, đảo ở Trường Sa và Đài Loan của Trung Quốc, những việc làm đó đều thuộc về hành vi trái phép. Vì thế, sau khi thất bại, Nhật Bản đã phải trả lại các vùng lãnh thổ chiếm đóng nói trên. Chính phủ Quốc dân ở Trung Quốc lúc đó đã đưa hạm đội với tàu đi tiên phong là tàu “Thái Bình” đến Biển Đông tiếp nhận những bãi, đảo đã bị Nhật Bản chiếm đóng. Đảo Thái Bình chính là được đặt tên theo con tàu đó. Trong nhiều đảo ở Biển Đông hiện nay, có rất nhiều bãi và đảo đều được đặt theo tên các tàu thuyền, thuyền trưởng hoặc nhân vật lịch sử đã đến các đảo ở Biển Đông để tuyên thị và bảo vệ chủ quyền. Ví dụ như bãi cát Đôn Khiêm chính là tên của Thuyền trưởng Lý Đôn Khiêm chỉ huy tàu chiến có tên hiệu là “Trung Nghiệp” mà Chính phủ Trung Quốc năm 1946 đã điều ra tiếp nhận quần đảo Trường Sa. 

Việc nhận định chủ trương quyền lợi của các nước ở Biển Đông hoàn toàn không phải chỉ có “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển”, mà còn phải dựa vào một quy tắc quan trọng khác trong luật quốc tế là quy tắc xác định thời gian, nghĩa là một hành vi nào đó trong lịch sử chỉ cần phù hợp với luật quốc tế ở thời kỳ lúc đó, thì hành vi đó sẽ là hành vi hợp pháp hữu hiệu. Cùng với quá trình phát triển của những quy tắc liên quan trong luật pháp quốc tế, những hành vi liên quan đến những quy tắc này cũng phải đổi mới và phát triển theo. Hàng trăm năm trước đây người Trung Quốc đã thông qua các phương thức phát hiện và chiếm hữu để có được quyền lợi sơ bộ đối với các đảo Biển Đông mà lúc đó chưa thuộc về bất cứ nước nào. Sau đó chính phủ qua các nhiệm kỳ đã thông qua các phương thức đặt tên cho các đảo và công bố bản đồ tương ứng, hoạch định các đảo đó vào khu vực hành chính địa phương, đưa tàu ra tuyên bố chủ quyền và tuần tra, tổ chức và quản lý các hoạt động của xã hội đến Biển Đông đánh bắt cá, đối phó với các hoạt động xâm phạm chủ quyền của nước ngoài, xây dựng luật hiện đại, từng bước có được chủ quyền lãnh thổ đối với các đảo ở Trường Sa. Thực tiễn qua các thời đại ở Trung Quốc không chỉ hoàn toàn phù hợp với quy tắc có được lãnh thổ lúc đó, mà cũng phù hợp với quy tắc có được lãnh thổ theo luật quốc tế cận đại và hiện đại. Vì thế, theo quy tắc về xác định thời gian thì việc Trung Quốc có được chủ quyền lãnh thổ đối với các đảo ở Biển Đông là hợp pháp, hữu hiệu. Trong tất cả các nước tranh chấp ở Biển Đông, chỉ có Trung Quốc là có căn cứ lịch sử dài đến mấy trăm năm. Mọi nhận định của quốc tế liên quan đến tranh chấp lãnh thổ đều cho thấy ý nghĩa phán định của những căn cứ lịch sử đối với chủ quyền lãnh thổ quốc gia là có vai trò to lớn. Vì thế, không thể nói một cách đơn giản rằng đã có “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” mới thì căn cứ lịch sử sẽ không còn hiệu lực. Ví dụ như vụ phân xử của Tòa án quốc tế về đảo Pedra Branca theo cách gọi của Xinhgapo hoặc đảo Pulau Batu Puteh theo cách gọi của Malaixia: Như mọi người đều biết, Xinhgapo là được độc lập từ Malaixia nên Tòa án quốc tế khi xử vụ tranh chấp này đã đưa ra tất cả mọi căn cứ mà hai bên có được, bao gồm cả những chứng cứ lịch sử phong phú để phân tích, thẩm định, cuối cùng xác định đảo trên thuộc về Xinhgapo. Tòa án quốc tế từ xưa đến nay không thể không xem xét đến căn cứ lịch sử để quyết định chủ quyền thuộc về ai trong một vùng lãnh thổ tranh chấp. Đến học giả phương Tây cũng đều thừa nhận, đối với vụ tranh chấp chủ quyền các đảo ở Trường Sa, những tư liệu Trung Quốc có được là phong phú nhất, chứng cứ chắc chắn nhất, các nước khác như Philíppin, Malaixia và Brunây căn bản lại không có. Đó chính là thực tế để cho thấy vì sao Mỹ phụ họa, giúp các nước như Philíppin nhấn mạnh một cách phiến diện và lặp đi lặp lại rằng giải quyết vấn đề Biển Đông cần phải lấy “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” làm căn cứ, ra sức làm mờ nhạt đi, thậm chí xóa bỏ những nhân tố căn bản có vị trí quan trọng trong giải quyết vấn đề tranh chấp Biển Đông. 

Chủ trương chủ quyền của các nước ở Biển Đông còn đề cập đến một nguyên tắc luật pháp quan trọng, đó là nguyên tắc luật pháp không truy ngược quá khứ. Ý nghĩa chính của nguyên tắc này là không thể dùng luật pháp của thế hệ sau để phán xét hành vi trước đây hợp pháp hay không hợp pháp. Chỉ riêng ví dụ về đường đứt đoạn ở Biển Đông, trước năm 1949 Chính phủ Quốc dân của Trung Quốc đã chính thức đặt tên và công bố bản đồ kèm theo đường đứt đoạn cho các bãi đảo ở Biển Đông, còn thông qua nhiều thực tiễn trên các phương diện về khai thác sử dụng tài nguyên như đưa tàu chiến đến Biển Đông tuyên bố chủ quyền, tổ chức và quản lý nghề cá, nhấn mạnh và củng cố chủ trương về quyền lợi ở Biển Đông. Sau năm 1949, Chính phủ Trung Quốc cũng kế thừa chủ trương của Chính phủ Quốc dân, vẫn tiếp tục đánh dấu đường đứt đoạn ở Biển Đông trên bản đồ chính thức của nhà nước, đồng thời cũng thông qua thực tiễn trong nhiều phương diện về lập pháp để nhấn mạnh và củng cố chủ trương về quyền lợi ở Biển Đông. Ai cũng biết là “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” từ năm 1994 mới bắt đầu có hiệu lực. Xem xét từ phương diện tài nguyên hiện hữu, nếu tính từ năm 1914 khi đường đứt đoạn ở Biển Đông bắt đầu xuất hiện thì đường đứt đoạn này đến nay đã được gần 100 năm, sớm hơn “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” 80 năm, hoặc nếu chỉ tính từ khi Chính phủ Trung Quốc chính thức công bố năm 1947 thì đến nay cũng đã được 65 năm, sớm hơn thời gian có hiệu lực của “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” 47 năm! Hơn nữa, đường đứt đoạn ở Biển Đông còn đề cập đến vấn đề về luật quốc tế khác phức tạp như quyền lợi mang tính lịch sử, vượt xa cả những nội dung được quy định trong “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển”. Vì thế tính hợp pháp của đường đứt đoạn ở Biển Đông tuyệt đối không đơn giản sử dụng “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” để phán đoán và phủ nhận. Nói “Đường đứt đoạn ở Biển Đông của Trung Quốc không phù hợp với ‘Công ước của Liên hợp quốc về luật biển’” thì bản thân cách nói đó rõ ràng đã thiếu căn cứ theo luật pháp quốc tế, là hết sức sai lầm. 

4/ “Quyền lợi chủ quyền” tuyệt đối không đồng nghĩa với “chủ quyền ” 

Về bản thân “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển”, có nhà lý luận cho rằng “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” bất lợi đối với Trung Quốc. Tác giả bài viết cho rằng có lợi hay không có lợi là tương đối chứ không tuyệt đối. Nhìn nhận từ điều kiện địa lý tự nhiên của vùng biển xung quanh Trung Quốc, nếu so sánh với những nước ven biển nhìn ra đại dương mênh mông trên thế giới thì Trung Quốc là nước bất lợi về mặt địa lý, vùng biển xung quanh Trung Quốc bị bao vây bởi lãnh thổ của rất nhiều nước lân bang, không thể được hưởng quyền lợi 200 hải lý như “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” dành cho các nước ven biển. Xét từ góc độ này thì việc thực hiện công ước nói trên là bất lợi đối với Trung Quốc, nhưng đồng thời, đối với những nước láng giềng ven biển có bờ biển liền với Trung Quốc và hướng sang Trung Quốc cũng cùng đối mặt với những bất lợi như vậy. Nhìn từ góc độ luật pháp thì đối với tất cả mọi nước ký kết, quyền lợi và nghĩa vụ được quy định trong “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” đều bình đẳng, các nước xung quanh có thể tuyên bố vùng biển quản lý 200 hải lý, Trung Quốc đại lục và các đảo của Trung Quốc cũng có thể tuyên bố có quyền lợi bình đẳng như vậy, nếu có vùng biển chồng lấn sẽ phát sinh vấn đề phân định ranh giới biển. Ngoài ra trong giải quyết vấn đề phân định ranh giới biển, các bên cũng ở cùng địa vị như nhau chứ không có vấn đề về việc chỉ bất lợi đối với Trung Quốc. Đương nhiên, không thể phủ nhận được rằng về khách quan quả có một tình huống đã dẫn đến cách nói sai lầm như trên, nghĩa là Malaixia, Brunây vốn là những nước không có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc, nhưng bởi “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” đã có quy chế về khu đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 200 hải lý đã khiến các nước này chủ trương vùng biển quản lý rộng 200 hải lý, từ đó cũng hoạch định một số đảo trong quần đảo Trường Savào phạm vi 200 hải lý do họ quản lý. Vì thế có người cho rằng “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” bất lợi đối với Trung Quốc. Quan điểm như vậy kỳ thực là hết sức sai lầm, là cách giải thích và lạm dùng quy chế về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa theo quy định trong “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển”. Các phần 5 và 6 trong “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” đã quy định thành quy chế về khu đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, theo đó nước ven biển chỉ có được hai quyền lợi chủ quyền và ba quyền quản lý ở khu đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, chủ yếu bao gồm: Quyền lợi chủ quyền có mục đích thăm dò và khai thác, nuôi trồng bảo vệ và quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên ở thủy vực hải dương, lòng biển và đáy biển (bất kể là tài nguyên sinh vật hay không phải sinh vật); Quyền lợi chủ quyền đối với các hoạt động khai thác và thăm dò mang tính kinh tế về nước biển, hải lưu và sức gió; Quyền quản lý trong việc kiến tạo và sử dụng đảo nhân tạo, trong kiến tạo và sử dụng các công trình thiết bị, và quản lý trong các phương diện nghiên cứu khoa học biển và bảo vệ môi trường biển. 

Một sự thực pháp luật không được phép nhầm lẫn là không chỉ là hai phần trong “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” nói trên mà bất cứ phần nào và điều khoản nào trong công ước cũng đều không quy định nước ven biển nào được dựa vào công ước để quy hoạch lãnh thổ của nước khác vào lãnh thổ của mình. Vì thế, tất cả các nước ký kết đều có thể dựa vào công ước để thực hiện hai quyền lợi chủ quyền và ba quyền quản lý ở khu đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, nhưng tuyệt đối không có quyền dựa vào đó để tranh đoạt chủ quyền của nước khác đã được hoạch định trong đó. “Quyền lợi chủ quyền” tuyệt đối không đồng nghĩa với “chủ quyền”. Mỗi từ ngữ trong luật pháp đều có nội hàm và ý nghĩa pháp luật của bản thân từ đó, tuyệt đối không thể làm lẫn lộn hoặc thay thế một cách giản đơn. Đó đều là kiến thức pháp luật quốc tế thông thường. Vì thế Malaixia đã lấy cớ là quyền lợi được “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” cho phép, chủ trương quy hoạch một số đảo thuộc quần đảo Trường Satrong phạm vi vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của họ thành lãnh thổ của họ. Đòi hỏi về loại chủ quyền lãnh thổ như vậy là cực kỳ hoang đường, cũng là phi pháp. Thử xem xét, nếu cách xác định như vậy là ổn thì thế giới sẽ ra sao? Và cùng cách suy diễn theo lý lẽ như vậy thì Trung Quốc cũng chẳng có thể hoạch định những vùng lãnh thổ của nước khác trong phạm vi 200 hải lý thuộc lãnh thổ Trung Quốc (ít nhất bao gồm các bãi, đảo phía Nam quần đảo Ryukyu và các bãi đảo phía Bắc Philíppin) vào cả trong phạm vi yêu cầu chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc (như đảo Đài Loan hoặc đảo Thái Bình) được hay sao? Còn như vấn đề chồng lấn về phạm vi các khu đặc quyền kinh tế và thềm lục địa đang tồn tại giữa Trung Quốc và các nước khác cùng tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông thì đòi hỏi thông qua đàm phán phân định ranh giới vùng biển để giải quyết. Trên thực tế, đây cũng là vấn đề liên quan đến quan hệ giữa quyền lợi về khu đặc quyền kinh tế và quyền lợi về thềm lục địa với quyền lợi mang tính chất lịch sử. Đường đứt đoạn ở Biển Đông hoàn toàn không phải dựa vào “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” để vạch ra, mà trong quá trình lịch sử gần 100 năm từ khi bắt đầu xuất hiện cho đến hiện nay, đường đứt đoạn đó đã từng bước phát triển từ Bắc xuống Nam đến khoảng 4 độ vĩ Bắc. Chủ quyền mang tính lịch sử là một vấn đề phức tạp về luật quốc tế, “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” không phủ nhận quyền lợi mang tính lịch sử, cũng chưa bao giờ quy định quyền lợi mang tính lịch sử phải được thay thế bằng khu đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Sự thực lịch sử là trong thời gian hàng chục năm sau khi chính thức công bố đường đứt đoạn ở Biển Đông, các nước xung quanh và cộng đồng quốc tế không có phản đối gì. 

Nói tóm lại, một vấn đề cốt lõi và then chốt cần phải làm lắng dịu trong vấn đề Biển Đông hiện đang sôi động là: Chủ trương có quyền lợi ở Biển Đông của tất cả các quốc gia liên quan tranh chấp Biển Đông có phải đều là hợp pháp? Sự thực không được xem thường là: Một số nước như Việt Nam và Philíppin đang đối kháng với chủ trương hợp pháp của Trung Quốc bằng chủ trương trái phép; Trong khi đó Mỹ, nước tự xưng sẵn sàng làm người điều đình tranh chấp Biển Đông, và Nhật Bản là hai nước bề ngoài ra vẻ công bằng nhưng thực chất đang cố tình làm thiên lệch, chỉ trích chủ trương của Trung Quốc về Biển Đông, còn đối với các nước tranh chấp khác ở Biển Đông như Việt Nam, Philíppin và Malaixia thì họ hầu như bỏ qua tính chất phi pháp trong các hành động của các nước này về chủ trương quyền lợi ở Biển Đông. Tác giả bài viết này cho rằng trong khi phán xử về tính hợp pháp trong chủ trương quyền lợi ở Biển Đông của Trung Quốc, cũng đồng thời phải nhận định chủ trương quyền lợi của nước tranh chấp khác có hợp pháp hay không, nếu không mà chỉ phiến diện yêu cầu, thậm chỉ chỉ trích kiểu này kiểu khác đối với Trung Quốc thì đó không phải là công bằng, Trung Quốc cũng không thể chấp nhận. Vì thế, người Trung Quốc tuyệt đối không được rơi vào chiếc bẫy này, tức Trung Quốc không nên chủ động bàn đến “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển”, không bàn đến căn cứ luật pháp quốc tế, nghĩ rằng như vậy là Trung Quốc đã đuối lý phải né tránh. Từ lâu nay Trung Quốc một mặt áp dụng chính sách kiềm chế, không làm nóng vấn đề ở Biển Đông, không muốn nói nhiều, thậm chí là tránh không nói, nhưng mặt khác cho đến nay khi các nước xung quanh như Philíppin chưa chính thức bắt đầu đàm phán ngoại giao giải quyết vấn đề tranh chấp, thì dù là các nước đó hay Trung Quốc cũng đều không có nghĩa vụ đơn phương trình bày toàn diện với cộng đồng quốc tế chủ trương và căn cứ của mình về quyền lợi ở Biển Đông. Kỳ thực, cho đến nay bản thân Philíppin cũng chưa làm rõ được phạm vi quyền lợi ở Biển Đông mà họ chủ trương cuối cùng là ở đâu. Từ cuối năm ngoái đến nay Philíppin đã nhiều lần công khai đề xuất phải cùng với các nước ASEAN “phân định vùng tranh chấp Biển Đông và vùng tranh chấp Philíppin”. Tác giả bài viết cho rằng trong giai đoạn hiện nay Trung Quốc cơ bản chưa cần thiết, cũng chưa có nghĩa vụ phải đơn phương trình bày hết tất cả lá bài cuối cùng của mình, chưa cần thiết công khai toàn diện, phơi bày ra tất cả mọi căn cứ pháp lý của mình, đó cần phải là những nội dung trên bàn đàm phán. Một số nước không ngừng nhào nặn hoặc chỉ trích vấn đề mang tính hợp pháp trong chủ trương về quyền lợi ở Biển Đông của Trung Quốc, kỳ thực là những biểu hiện giật mình vì chột dạ, dụng ý của họ là nhằm đẩy lệch góc nhìn, chuyển dịch tiêu điểm mâu thuẫn, nhưng làm như vậy vừa không thể làm thay đổi được tính chất phi pháp trong chủ trương Biển Đông của họ, cũng vừa không thể phủ nhận được tính hợp pháp trong chủ trương của Trung Quốc. Trong khi đó lập trường không nói và ít nói mà Trung Quốc áp dụng cũng tuyệt đối không có nghĩa là không có cơ sở pháp luật và căn cứ lịch sử.

Tục ngữ Trung Quốc có câu “có lý không phải cứ to tiếng”. Tuy nhiên, để làm cho những người quan tâm một cách khách quan và thực lòng vấn đề Biển Đông có thể hiểu được tình hình chân thực và chuẩn xác, thay đổi và đề phòng tin đồn thất thiệt cứ thổi lên mãi, ngoài người phát ngôn báo chí, Trung Quốc còn phải tích cực chủ động lợi dụng nhiều kênh, áp dụng nhiều phương thức tuyên truyền nhiều hơn nữa trước và sau khi một số vấn đề có thể được nhào nặn trở thành điểm nóng, để làm cho vấn đề được nhìn nhận chân thực hơn. Hiệu quả tuyên truyền tích cực và hướng dẫn dư luận sẽ tốt hơn nhiều so với bị động đối phó trước những chỉ trích theo dụng ý riêng. Nói tóm lại, “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” không phải là “linh đơn thần dược” để giải quyết mọi vấn đề tranh chấp biển, mà chỉ là một phần cấu thành của luật pháp quốc tế, không thể thay thế các quy tắc khác trong luật quốc tế, lại càng không thể giản đơn đánh đồng “luật quốc tế” với “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” theo cách đánh tráo khái niệm. Trong phần mở đầu của “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” cũng có quy định rõ ràng đối với vấn đề này, cụ thể là “các nước ký kết bản Công ước này xác nhận Công ước chưa có quy định cụ thể, cần phải tiếp tục lấy các quy tắc và nguyên tắc trong luật quốc tế nói chung để làm căn cứ chuẩn mực”. “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” không phải là căn cứ duy nhất của luật quốc tế để nhận định hoặc giải quyết vấn đề yêu sách chủ quyền lãnh thổ Trường Sa, cũng như nhận định hoặc phủ nhận tính hợp pháp trong đường đứt đoạn ở Biển Đông của Trung Quốc. Những cách nói “cần lấy ‘Công ước của Liên hợp quốc về luật biển’ làm căn cứ giải quyết vấn đề Biển Đông”, “một số đảo-bãi thuộc quần đảo Trường Sa đều đã được hoạch định vào khu đặc quyền của các nước như Malaixia (hoặc: Đều ở trong phạm vi thềm lục địa của Malaixia), vì thế những đảo-bãi này đã được quy về quyền sở hữu nhà nước của Malaixia”, “Đường đứt đoạn của Trung Quốc ở Biển Đông không phù hợp với ‘Công ước của Liên hợp quốc về luật biển”... là hết sức phiến diện, thậm chí là sai lầm. Nếu không có dụng ý riêng thì ít nhất cũng là sự khiếm khuyết trong kiến thức thông thường về luật quốc tế./.

Tác giả Trương Hải Văn là Tiến sĩ luật học, Nghiên cứu viên, Phó ban nghiên cứu chiến lược phát triển biển, Cục Hải dương quốc gia Trung Quốc.

Lê Sơn (gt)

 

Trong bài viết trên Tạp chí “Tri thức thế giới” của Bộ Ngoại giao Trung Quốc, tác giả Chương Địch Vũ cho rằng theo quy luật thông thường thì nước lớn chi phối nước nhỏ nhưng trong vấn đề Biển Đông, nước nhỏ lại chi phối nước lớn, tích cực chủ động, Việt Nam và Philíppin là các nước “nổ phát súng đầu tiên” trong khi Mỹ “trở lại châu Á-Thái Bình Dương”

I- Tranh giành Biển Đông, nước nhỏ chủ đạo nước lớn? 

Tranh chấp Biển Đông khởi nguồn đã lâu nhưng chưa bao giờ gay gắt như hiện nay. Lịch sử chính trị quốc tế thông thường là lịch sử chính trị nước lớn, nhưng hoàn toàn không phải “nước nhỏ” lúc nào cũng đều im tiếng. Người Trung Quốc phát hiện ra rằng khi Trung Quốc trỗi dậy, áp lực quốc tế đột ngột tăng lên, không chỉ có nước lớn đề phòng hơn, mà những phiền phức từ các nước nhỏ xung quanh cũng ngày càng nhiều thêm, hơn nữa áp lực từ hai phương diện nói trên cũng gặp nhau, trong đó điểm gây áp lực ban đầu chính là Biển Đông. Vấn đề đặc biệt rõ ràng là hoàn toàn không chỉ có nước chủ đạo thế giới hiện nay là Mỹ mới tiến hành kiềm chế Trung Quốc, mà các nước nhỏ xung quanh cũng lo sợ trước thực lực Trung Quốc lớn mạnh nên cũng đề phòng, cảnh giác với Trung Quốc. Trong vấn đề Biển Đông, những người “nổ phát súng đầu tiên” chính là Việt Nam và Philíppin. Việt Nam  năm 2010 với vai trò là Chủ tịch luân phiên ASEAN, đã lôi kéo thành công nước Mỹ vào cuộc. Phó viện trưởng Viện nghiên cứu quan hệ quốc tế và sự vụ công cộng thuộc Đại học Phúc Đán, Giáo sư Ngô Tâm Bá cho biết hành vi của các nước này đã phản ánh một cách tập trung tâm trạng lo lắng và bất an của họ khi sức mạnh của Trung Quốc tăng lên, nhất là lo sợ việc Trung Quốc phát triển hải quân và phương hướng phát triển hải quân của Trung Quốc. Ngày 9/6/2011, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố Việt Nam có “chủ quyền không thể tranh cãi” đối với “quần đảo Hoàng Sa” và “quần đảo Trường Sa”, “chúng ta sẽ tiếp tục kiên trì tuyên bố và cho thấy quyết tâm mạnh mẽ nhất của toàn đảng, toàn dân và toàn quân ta bảo vệ vùng biển và các đảo của quốc gia”. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Phương Nga cũng tuyên bố: “Hải quân Việt Nam sẽ áp dụng mọi biện pháp cần thiết, kiên quyết bảo vệ hòa bình, độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam . Ngày hôm sau, Việt Nam lớn tiếng tuyên bố sẽ tổ chức diễn tập bắn đạn thật trong 6 tiếng đồng hồ ở Biển Đông, đồng thời cảnh báo cho tàu thuyền các nước tránh xa vùng biển này. Hãng tin AP của Mỹ bình luận, việc làm nói trên của Việt Nam rõ ràng là nhằm “đáp lại” Trung Quốc. Trong ngày diễn tập bắn đạn thật thứ hai, ông Nguyễn Tấn Dũng ký sắc lệnh về việc tuyển quân. Có báo chí cho rằng đây là lần đầu tiên sau 32 năm xảy ra cuộc chiến phản kích tự vệ của Trung Quốc đối với Việt Nam  Chính phủ Việt Nam ban bố lệnh tuyển quân. Tuy nhiên, Việt Nam hoàn toàn không dừng lại ở đó. Từ cuối tháng 7 cho đến giữa tháng 8, trong vòng chưa đầy một tháng, Việt Nam đã cùng với Mỹ tổ chức hai lần diễn tập quân sự chung. Mặc dù Việt Nam tuyên bố việc làm đó hoàn toàn không nhắm vào Trung Quốc nhưng chỉ cần nhìn qua sẽ thấy trong chiếc hồ lô của Việt Nam cuối cùng sẽ có thứ thuốc gì để bán. 

Cũng trong tháng 6, một vai chính nữa có tranh chấp Biển Đông với Trung Quốc là Philíppin tuyên bố “các tàu của Trung Quốc ngày càng gia tăng hoạt động ở Biển Đông..., đã gây nguy hại cho ổn định khu vực, xâm phạm chủ quyền và quyền quản lý biển của Philíppin, vi phạm “Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông”. Hai tháng trước đó, Philíppin đã trình Liên hợp quốc “thư phản đối đường 9 đoạn” về biên giới Biển Đông của Trung Quốc. Trong tháng 5 Philíppin lại lớn tiếng nói rằng “người Trung Quốc xâm phạm Trường Sa”. Ngày 13/6, cùng ngày với Việt Nam diễn tập bắn đạn thật, Bộ trưởng Quốc phòng Philíppin tuyên bố diễn tập quân sự của Việt Nam là phù hợp với “quyền lợi chủ quyền của Việt Nam”, trong khi người phát ngôn của Tổng thống Philíppin cho biết Philíppin đã đổi tên gọi Biển Đông là “biển Tây Philíppin”. Tiếp theo đó, vào cuối tháng 6, Philíppin cũng diễn tập quân sự chung với Mỹ. Vào đầu tháng 7, Ngoại trưởng Philíppin đi thăm Trung Quốc, đề nghị Trung Quốc đưa vấn đề tranh chấp Biển Đônggiữa hai nước lên Tòa án luật biển quốc tế để giải quyết. Trong nửa năm sau đó, những va chạm giữa Philíppin và Trung Quốc trong vấn đề Biển Đôngdường như không hề dừng lại. Ngày 18/10, ở khu vực gần bãi Lễ Nhạc, một tàu được trang bị pháo của Philíppin đã đâm vào một tàu cá cỡ lớn kéo theo 25 chiếc xuồng nhỏ của Trung Quốc đang trong hành trình. Sự kiện nói trên lập tức lan ra thành đề tài nóng được báo chí quốc tế quan tâm. Mặc dù phía quân đội và ngoại giao Philíppin đều cho biết đây là sự kiện “va chạm nhỏ ngẫu nhiên”, Philíppin đã thông báo và tỏ ý xin lỗi Trung Quốc nhưng đồng thời Philíppin vẫn tiếp tục diễn tập quân sự chung. 

Nhìn bề ngoài, dù là diễn tập quân sự của Việt Nam hay của Philíppin, dường như không có gì khác so với các lần diễn tập quân sự chung với Mỹ trước đây, nhưng về thực chất, những cuộc diễn tập này lại có sự khác biệt lớn nhất ở chỗ các cuộc diễn tập này không phải do Mỹ chủ đạo, mà do các nước này chủ động tổ chức và mời gọi Mỹ, hay nói cách khác, Mỹ đã từ vai trò của bên chủ đạo trước đây trở thành bên tham gia. Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã nói: Nước Mỹ lần đầu tiên từ chỗ là bên khởi xướng trở thành bên tham gia trong vấn đề Biển Đông, hoàn toàn không phải Mỹ yêu cầu các nước đó kiềm chế Trung Quốc, mà tự họ ban đầu đã có phần kiềm chế nhắm vào Trung Quốc. Rõ ràng, sự chuyển biến của hiện tượng nói trên là do thực lực Trung Quốc tăng lên nhanh chóng. Như vậy, một số vấn đề âm ỉ từ lâu nay đã dễ dàng bộc lộ ra, vì các nước xung quanh ngày càng lo sợ người khổng lồ bên cạnh, cuối cùng, trong hệ thống triều cống ở Đông Á do Trung Quốc chủ đạo từ hàng trăm, hàng nghìn năm nay và các nước xung quanh chỉ biết cúi đầu xưng thần. Giữa quốc gia với quốc gia lại luôn vì không hiểu rõ ý đồ của nhau mà nảy sinh mâu thuẫn, đồng thời khả năng quân sự mà nước lớn có được lại trở thành công cụ để nước lớn đó lợi dụng nhằm bành trướng sức mạnh của mình bất cứ lúc nào, vì thế việc các nước nhỏ phải liên kết lại kiềm chế nước lớn đã trở thành cách lựa chọn của nhiều nước trong lịch sử. Chính các nước như Việt Nam và Philíppin ngày nay đang áp dụng kiểu lý luận như vậy trong việc giải thích thực tiễn, vẫn phỏng theo thông lệ lịch sử chứ không nhìn vào tình hình thực tế đã thay đổi. Tại phiên họp lần thứ nhất quốc hội khóa 13 của Việt Nam khai mạc ngày 21/7, Phó Thủ tướng thường trực Việt Nam Nguyễn Sinh Hùng phát biểu Chính phủ Việt Nam sẽ “áp dụng biện pháp bảo vệ chủ quyền quốc gia, bảo vệ các hoạt động của ngư dân, các hoạt động kinh tế, thương mại cũng như hoạt động khai thác và sử dụng dầu khí trong vùng biển thuộc chủ quyền của mình”.

Trong khi đó các cuộc biểu tình chống Trung Quốc ở Việt Nam cũng đồng thời diễn ra nóng bỏng liên tục. Báo chí phương Tây đã nói: Tại Việt Nam nếu không được nhà nước cho phép, những cuộc biểu tình như vậy về cơ bản là điều không thể tưởng tượng được. Thái độ của chính phủ và biểu tình của dân chúng cũng đủ nói lên rằng trước sự lớn mạnh của Trung Quốc, Việt Nam đã cảm thấy áp lực, đặc biệt lại càng cần có được cảm giác an toàn hơn so với trước đây khi Trung Quốc còn chưa có được thực lực như hiện nay. Vì thế, Việt Nam cần có “bạn” để tăng thêm cảm giác an toàn. Vậy là Việt Nam không chỉ diễn tập quân sự chung với Mỹ mà đồng thời còn mời cả Hải quân Ấn Độ - tàu đổ bộ xe tăng “INS Airavat” của Ấn Độ hồi cuối tháng 7 đã cập cảng Nha Trang thực hiện chuyến thăm Việt Nam. Ngày 12/10 tại Niu Đêli, Thủ tướng Ấn Độ M. Singh đã hội đàm với Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang đang ở thăm Ấn Độ, hai bên đã ký hiệp định về khai thác dầu thô ở Biển Đông. Có dư luận nói rằng Việt Nam thông qua nguồn dầu khí ở 29 đảo bãi đã chiếm được ở Biển Đông nên đã thu được lợi nhuận hơn 20 tỉ USD. Rõ ràng Việt Nam sẽ không khoanh tay nhượng bộ về nguồn lợi nhuận này mà càng tiến thêm một bước nói rằng những lợi ích này cũng lại trở thành một lý do nữa để họ phải kiềm chế Trung Quốc. Việt Nam thậm chí không hề e dè, tránh né khó khăn về mặt thời gian và lịch trình như đã sắp đặt sẵn để thực hiện: Chủ tịch nước Việt Nam đi thăm Ấn Độ đồng thời với Tổng bí thư Việt Nam đi thăm Trung Quốc, ký thỏa thuận giải quyết tranh chấp lãnh thổ trên biển Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc vào ngày 11/10. Việt Nam hợp tác với Ấn Độ, trong khi Philíppin cấu kết với Nhật Bản.

Ngày 9/9, chính phủ hai nước Nhật Bản và Philíppin lần đầu tiên đã tổ chức thảo luận, bàn bạc cấp vụ phó về vấn đề an ninh biển ở khu vực châu Á, trong đó một chủ đề quan trọng là đối phó thế nào với chủ trương của Trung Quốc về chủ quyền ở Đông Hải (Biển Hoa Đông) và Biển Đông. Hai nước quyết định sẽ tổ chức thảo luận định kỳ, phối hợp hành động, thúc đẩy hợp tác và đảm bảo tự do và an ninh hàng hải cho tàu thuyền của Nhật Bản ở Đông Hải và Biển Đông. Nhật Bản còn đồng ý chi tiền huấn luyện cho lực lượng cảnh sát bảo vệ bờ biển của Philíppin. Ngày 26/9, Tổng thống Philíppin Aquino 3 đi thăm Nhật Bản, hai bên đã thảo luận vấn đề tự do và an ninh hàng hải ở Biển Đông. Rõ ràng là do có bất đồng với Trung Quốc trong vấn đề Đông Hải nên Nhật Bản đã ủng hộ Philíppin trong vấn đề Biển Đông. Tuy nhiên, đối với Nhật Bản, dù không có vấn đề về lãnh thổ nhưng đã đề cập đến vấn đề biên giới lợi ích quan trọng của họ. Một quốc gia lớn mạnh lại giàu có, biên giới lợi ích mà họ cần bảo vệ lại càng rộng. Bản thân diện tích lãnh thổ của Nhật Bản quá nhỏ, cần nhiều tài nguyên cũng đòi hỏi phải nhập từ bên ngoài nên an toàn vận chuyển tài nguyên đã trở thành việc cần quan tâm nhất đối với Nhật Bản. Vì thế có thể nói Eo biển Malắcca và tuyến đường vận tải biển ở Biển Đông là liên quan đến lợi ích của Nhật Bản. Đồng thời Nhật Bản luôn có ý thức đấu tranh tế nhị với thực lực và ý đồ của Trung Quốc sau khi trỗi dậy. Xét từ góc độ này thì Nhật Bản sẽ không hề do dự can thiệp tình hình tranh chấp Biển Đông, và đã ủng hộ các nước có tranh chấp với Trung Quốc như Philíppin và Việt Nam . 

II- Vì sao họ đều có tính hai mặt? 

Tranh chấp ở Biển Đông cũng đã chứng kiến rất nhiều hành vi tự mâu thuẫn nhau ở các nước đương sự. Ví dụ, Việt Nam tuy lời nói và việc làm không dè dặt nhưng cũng còn nhiều mặt khác: Ngày 27/6, Việt Nam cho biết sẵn sàng giải quyết hòa bình tranh chấp với Trung Quốc ở Biển Đông. Ngày 3/8, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam cho biết hai nước Trung-Việt sẽ thông qua đàm phán và hiệp thương hữu nghị giải quyết hòa bình tranh chấp trên biển giữa hai nước. Ngày 11/10, hai nước đã ký Thỏa thuận về hiệp thương giải quyết tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông. Những biểu hiện như trên được xem như hành vi mâu thuẫn trong chủ trương chính của họ, điều không hiếm gặp với chỉ riêng nước nào. Mặc dù Trung Quốc và Việt Nam ký kết Thỏa hiệp giải quyết hòa bình vấn đề Biển Đông, nhưng Tổng thống Philíppin Aquino liền kháng nghị, cho biết tranh chấp lãnh thổ ở khu vực này liên quan đến nhiều nước, cần thông qua hiệp thương đa phương để giải quyết trong khuôn khổ ASEAN, Thỏa thuận song phương giữa Trung Quốc và Việt Nam không “giải quyết toàn diện vấn đề tranh chấp”. Tuy nhiên, trong chuyến thăm Trung Quốc hồi cuối tháng 8 chính ông này cũng hoàn toàn nhận lời, cam kết vấn đề Biển Đông liên quan giữa Trung Quốc và Philíppin cần thông qua hiệp thương để giải quyết chứ không thể dùng vũ lực. Tuy vậy trong chuyến thăm Trung Quốc lần này, Aquino 3 còn đem về nhiều hợp đồng thương mại lớn, hy vọng thông qua mở rộng quan hệ kinh tế thương mại để làm gia tăng lợi ích thực tế. Rõ ràng, giữa Việt Nam và Philíppin không chỉ đặt trọng tâm vào việc quốc tế hóa vấn đề Biển Đôngđể tìm kiếm sự bảo hộ lợi ích của mình, mà hai nước này cũng không muốn chọc giận Trung Quốc đến cùng. Năm 1987, Tổng thống Philíppin bà Aquino đi thăm Trung Quốc, khi bàn đến vấn đề Biển Đông với Đặng Tiểu Bình, bà Aquino nói: “Ít nhất về mặt địa lý, các đảo này gần Philíppin hơn”. Đặng Tiểu Bình mỉm cười, đáp: “Về mặt địa lý, Philíppin cũng rất gần Trung Quốc”. Vì thế, sự thực về địa chính trị làm cho Philíppin và Việt Nam không dám hoàn toàn quyết liệt với Trung Quốc, vì như thế không chỉ làm cho họ mất đi lợi ích kinh tế không thể lường trước, mà về khả năng quân sự khoảng cách giữa hai nước này với Trung Quốc cũng cách nhau một trời một vực. Vì vậy, đó vừa là nguyên nhân căn bản khiến hai nước này kiềm chế Trung Quốc, vừa là nguyên nhân thực tế khiến các nước này chỉ có thể là “cáo mượn oai hùm”. 

Trên thực tế, những nước chủ động tỏ ra thân thiện với Trung Quốc không chỉ có Philíppin và Việt Nam. Tại Hội nghị cấp cao Đông Á họp ở Bali của Inđônêxia mới đây, sau khi nghe nói Mỹ và Ôxtrâylia diễn tập quân sự liên hợp, chủ tịch luân phiên ASEAN là Inđônêxia đã tuyên bố hy vọng diễn tập quân sự nói trên sẽ mời Trung Quốc và tất cả các nước Đông Nam Á cùng tham gia. Brunây cũng đã ký thỏa thuận với Trung Quốc về hợp tác dầu khí ngoài khơi. Thậm chí cả Ấn Độ gần đây cũng đề nghị ba nước Trung Quốc-Mỹ-Ấn Độ tổ chức hội nghị hiệp thương giải quyết tranh chấp Biển Đông. Nói cho cùng thì mỗi nước đều có cách tính toán riêng của mình. Các nước Philíppin và Việt Nam vừa muốn được lợi kinh tế từ Trung Quốc, lại vừa hy vọng thông qua liên kết với Mỹ, Ấn Độ và Nhật Bản để kiềm chế Trung Quốc, đề phòng Trung Quốc chủ đạo tình hình Biển Đông, từ đó gia tăng cảm giác an toàn của mình. Nhưng đồng thời cũng sợ đi quá xa, vừa làm cho Trung Quốc tức giận, lại vừa “rước sói vào nhà”, cuối cùng khiến Biển Đông một lần nữa trở thành vũ đài để các nước lớn đấu nhau, còn những nước nhỏ như họ sẽ làm vật hy sinh. Chính mâu thuẫn tâm lý như vậy là nguyên nhân thực sự khiến cho hành vi của họ xem ra mâu thuẫn nhau. Tuy nhiên, không phải cách suy nghĩ của tất cả các nước Đông Nam Á đều chỉ như thế. Inđônêxia là nước Hồi giáo lớn nhất thế giới, cũng coi là nước lớn ở khu vực Đông Nam Á. Sở dĩ Inđônêxia muốn Trung Quốc và các nước Đông Nam Á đều có thể tham gia diễn tập quân sự hỗn hợp Mỹ-Ôxtrâylia vì đó cũng là dịp để nước này thể hiện địa vị của mình, hy vọng có được quyền phát ngôn lớn nhất ở khu vực Đông Nam Á. Về phương diện này Philíppin có biểu hiện hết sức rõ rệt, thông qua hội nghị về vấn đề Biển Đôngdo Philíppin tự tổ chức, hy vọng có thể chủ đạo việc giải quyết tình hình Biển Đông, đồng thời đưa ra dự thảo nghị quyết về vấn đề Biển Đông tại Hội nghị cấp cao ASEAN. Qua đó có thể thấy được tính hai mặt của các nước này. Sự việc bề ngoài xem ra “cần phải” như vậy thì trên thực tế lại luôn chưa ra hàng ra lối, đó là khó khăn trong hành động tập thể. Ý muốn liên kết kiềm chế Trung Quốc sẽ bị ảnh hưởng bởi sự khác nhau về lợi ích giữa các nước. Xây dựng liên minh là bởi có kẻ thù chung, biện pháp an ninh tập thể được cho là có khả năng bảo vệ sự tồn tại của chính mình được tốt hơn, nhưng trên thực tế lợi ích của mỗi quốc gia với quốc gia khác trong cùng liên minh lại chưa bao giờ thống nhất với nhau, kể cả áp lực an ninh mà mỗi nước phải đối mặt cũng không hoàn toàn giống nhau. 

Ví dụ, Việt Nam giáp giới với Trung Quốc, lại có không biết bao nhiêu mối liên hệ khác trong lịch sử, tiếp nữa là cuộc chiến tranh giữa Trung Quốc và Việt Nam, tất cả đều có ảnh hưởng rất lớn đối với Việt Nam. Vì thế áp lực mà Việt Nam cảm nhận trong nội tâm phải lớn hơn các nước khác. Cũng như vậy, do bóng đen của chiến tranh, trong phản ứng của Việt Nam với nước Mỹ cũng tự nhiên có theo bao nhiêu mối lo. Đồng thời trong vấn đề Biển Đông, Việt Nam đã chiếm được 29 đảo bãi, đó vừa là quốc gia được lợi lớn nhất, cũng vừa là quốc gia có bất đồng lớn nhất với Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông. Một thời kỳ gần đây tình hình kinh tế Việt Nam xấu đi nhiều, xét trong ngắn hạn sẽ vẫn còn xấu đi. Trong khi đó dầu thô đã trở thành mặt hàng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam , phát triển dầu khí là trụ cột quan trọng của nền kinh tế Việt Nam. Trong tổng số lượng dầu xuất khẩu hàng năm của Việt Nam có 27% là từ khu vực đang có tranh chấp ở Biển Đông. Đối với Inđônêxia, tranh chấp với Trung Quốc trong lịch sử ít, vị trí cách Trung Quốc cũng xa, liên lụy với Trung Quốc trong vấn đề Biển Đôngcũng không nhiều nên áp lực cảm nhận về thực tế Trung Quốc trỗi dậy và bất đồng với Trung Quốc trong vấn đề Biển Đôngđều nhỏ, hiển nhiên phương thức hành động của Inđônêxia và Việt Nam có phần khác nhau. Sự thực cũng đã kiểm nghiệm cách lập luận này, Việt Nam tích cực liên kết với nước khác kiềm chế cân bằng Trung Quốc, trong khi Inđônêxia chỉ phụ họa đi theo. Giữa các nước không nhất định cứ vì đe dọa lợi ích chung mới hợp tác, hơn nữa không nhất thiết cứ phải hợp tác để tranh thủ lợi ích chung. Trong một thế giới “hỗn mang”, người bạn hôm nay có thể trở thành kẻ thù vào ngày mai, vấn đề mà quốc gia quan tâm hơn là lợi ích tương đối chứ không phải tuyệt đối, nếu một nước cho rằng nước khác có thể có được nhiều lợi ích hơn thì rất có khả năng sẽ từ bỏ hợp tác. Đó chính là nguyên nhân giải thích vì sao chính sách đối ngoại của những nước này lại có tính hai mặt. 

III- Ai có thể kiềm chế, cân bằng Trung Quốc ở Biển Đông? 

Cách nghĩ của các nước Đông Nam Á trong vấn đề Biển Đông kỳ thực là gặp nhau trong việc mở rộng thành viên của ASEAN, đều không muốn bị chính trị nước lớn chôn vùi. Bộ trưởng cao cấp Xinhgapo Lý Quang Diệu đã nói Trung Quốc và Mỹ xảy ra xung đột, đó là việc mà các nước Đông Nam Á lo lắng nhất. Các nước này không muốn gặp cảnh buộc phải lựa chọn hoặc nước này hoặc nước kia. Vì thế, trong khi Việt Nam và Philíppin lôi kéo Mỹ, Nhật Bản và Ấn Độ thì đồng thời, Philíppin gần đây lại cũng lôi kéo Liên minh châu Âu vào vấn đề Biển Đông. Các nước này muốn các nước lớn đó kiềm chế lẫn nhau, lo ngại cục diện chỉ một nước lớn độc chiếm làm chủ tất cả. Nhưng các nước này đã bỏ qua một vấn đề căn bản nhất, đó là nước nhỏ dù có “đục nước béo cò” đến đâu thì việc đảm bảo cơ bản đối với họ vẫn phải dựa vào nước lớn để thực hiện. Nói cách khác, họ tuy có ý đồ “tránh sói” thế nào ở cửa trước cũng không tránh được phải “rước hổ” từ phía cửa sau. Hành động hiện nay của họ rất có thể dẫn đến hậu quả như vậy, cho dù bản thân họ cũng có phần cảnh giác. Xét tình hình trước mắt thì các nước lớn xen vào vấn đề Biển Đông có Nhật Bản, Ấn Độ và Mỹ. Nhật Bản coi Eo biển Malắcca là tuyến đường biển huyết mạch, nhưng Nhật Bản không có đòi hỏi lãnh thổ ở Biển Đông nên bản thân lý do Nhật Bản nhảy vào Biển Đông là rất khiên cưỡng, lộ liễu. Không lâu sau khi Nhật Bản thành lập nội các mới nhiệm kỳ hiện nay, Ngoại trưởng Nhật Koichiro Gemba ngày 11/10 đã bắt đầu thực hiện chuyến thăm Đông Nam Á 5 ngày, trong đó vấn đề quan tâm nhất là thảo luận bàn bạc thống nhất và hiệp thương với Inđônêxia và các nước các nước Đông Nam Á khác về “vấn đề đảm bảo an ninh biển”. Báo chí Nhật Bản đưa tin Chính phủ Nhật Bản đang có kế hoạch cùng với Việt Nam và Philíppin thành lập một cơ quan phối hợp về vấn đề chủ quyền và đảm bảo an ninh hàng hải ở Biển Đông.

Giữa tháng 11, Thủ tướng Nhật Bản Noda đã tham gia loạt hội nghị cấp cao các nhà lãnh đạo Đông Á, đề xuất ý tưởng về một “hành lang kinh tế biển ASEAN”, hy vọng đạt được nhận thức chung cùng thành lập hành lang nói trên với các nước Đông Nam Á. Trên thực tế “Hành lang kinh tế” nói trên là “hành lang kinh tế vòng quanh Biển Đông”, cho thấy rõ lập trường của Nhật Bản can thiệp toàn diện vào vấn đề Biển Đông để đảm bảo chắc chắn quyền và lợi ích của Nhật Bản trong vùng biển Biển Đôngcũng như giao thông hàng hải của Nhật Bản ở vùng biển này. Giáo sư Ngô Tâm Bá cho rằng Nhật Bản can thiệp Biển Đông trước hết là phối hợp với Mỹ. Mỹ khi có ưu thế, nói chung đều tự can thiệp vào khu vực có vấn đề, khi thế của họ yếu đi thì kích động các bên khác kiềm chế. Vì thế trong vấn đề Biển Đông, Mỹ đặc biệt cổ vũ Nhật Bản và Ấn Độ kiềm chế Trung Quốc. Sau nữa, để có được lợi thế trong tranh chấp ở biển Hoa Đông, Nhật Bản rõ ràng kiềm chế Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông, khiến Trung Quốc phải phân tán lực lượng. Cuối cùng, một bộ phận người Nhật Bản cho rằng Trung Quốc về mặt chiến lược ngày càng coi thường Nhật Bản nên biểu hiện của Nhật Bản ở Đông Nam Á cũng đáp lại Trung Quốc bằng cách nhìn nhận như vậy. Tuy nhiên, một số nước như Philíppin tích cực lôi kéo Nhật Bản can thiệp vấn đề Biển Đông nhưng không phải tất cả các nước ASEAN đều tán thành cách làm như vậy. Ngay từ tháng 1, Ngoại trưởng Inđônêxia đã thể hiện sự lo lắng đối với việc Nhật Bản can thiệp Biển Đông. Trong tháng 6 và tháng 11, Inđônêxia lại cho biết vấn đề Biển Đông cần phải do các nước đương sự giải quyết với nhau. Inđônêxia không chỉ xem xét vấn đề từ phương diện lịch sử của Nhật Bản mà cũng không muốn nước lớn khác can thiệp quá nhiều vào vấn đề Biển Đông. Từ đó có thể thấy Nhật Bản dù có ý định can thiệp vấn đề Biển Đôngđể kiềm chế Trung Quốc nhưng “không ở địa vị sẽ khó mưu việc chính sự”.

Nhật Bản có rất nhiều cách nghĩ trong vấn đề Biển Đông nhưng rất khó áp dụng được trong thực tiễn. Đồng thời xét những hạn chế trong hiến pháp Nhật Bản cũng như kinh tế Nhật Bản nhiều năm nay suy yếu, lại gặp nhiều rủi ro không lường trước, cộng thêm điều kiện địa lý làm hạn chế khả năng của bản thân Nhật Bản thì ảnh hưởng của Nhật Bản đối với vấn đề Biển Đông là không nhiều. Ấn Độ là nước hết sức hăng hái trong năm nay, từ báo chí đến chính phủ lúc nào cũng chĩa mũi dùi vào Trung Quốc, thường xuyên tỏ rõ địa vị nước lớn của mình trong các nước láng giềng của Trung Quốc. Tuy nhiên, cuối cùng khu vực lợi ích trung tâm của Ấn Độ không phải nằm ở Biển Đông. Một loạt tài liệu của Ấn Độ đều xác định khu vực lợi ích trung tâm của Ấn Độ là ở vùng biển Ấn Độ Dương. Đối với mục tiêu kiềm chế Trung Quốc, mặc dù Ấn Độ hài lòng với việc mình làm, một mặt có thể hạn chế Trung Quốc mở rộng ảnh hưởng khi tham gia các công việc ở Nam Á, đặc biệt coi đó là biện pháp để đáp lại quan hệ đặc biệt giữa Trung Quốc và Pakixtan, mặt khác có thể có được một số lợi ích kinh tế, ví dụ như hợp tác phát triển dầu khí với Việt Nam ở Biển Đông. Nhưng nếu có hành động trong vấn đề Biển Đông thì Ấn Độ phải xem xét đến giá phải trả về trách nhiệm kiềm chế Trung Quốc trỗi dậy, càng chưa nói đến lĩnh vực này không hề có vai trò quan trọng đối với Ấn Độ. Thêm nữa là đặc tính truyền thống về tôn giáo và văn hóa của Ấn Độ, rất khó nói được rằng Ấn Độ có điều kiện cơ bản để kiềm chế Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông. Vì thế, có thể thấy được rằng trong vấn đề Biển Đông, các nước Đông Nam Á, Ấn Độ và Nhật Bản đều không thể trở thành bên kiềm chế Trung Quốc hữu hiệu, nên lần này Mỹ đã quyết tâm phải tự mình ra tay. Trong khi bà Clinton lại lớn tiếng tuyên bố “trở lại châu Á”, hành động của Mỹ một lần nữa cũng đồng thời nhắm đúng vào khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

IV- Mỹ ra tay, phải để Trung Quốc tin được Mỹ có khả năng sử dụng vũ lực 

“Tay cân bằng xa bờ”, đó là cách miêu tả về vai trò của nước Anh khi đứng trước những đối thủ cạnh tranh có thể xuất hiện ở lục địa châu Âu lúc ban đầu: Dựa vào đặc điểm cách biệt của vùng nước, thúc đẩy các nước châu Âu khác đối kháng với nước trỗi dậy, duy trì thế cân bằng ở châu Âu, đề phòng xuất hiện kẻ thách thức lớn mạnh, còn mình thì thờ ơ như kẻ ngoài cuộc để hưởng lợi. “Tay cân bằng xa bờ” chỉ có một nguyên tắc là tránh cho một khu vực nào đó xuất hiện một nước bá quyền, còn nước chủ đạo hiện hữu đầu tiên là trút bỏ trách nhiệm, sau đó đứng về bên của nước chống lại nước trỗi dậy để loại bỏ mầm họa. Sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai, Mỹ triệt để tiếp nhận chiếc gậy quyền lực của nước Anh, bắt đầu đóng vai trò của “tay cân bằng xa bờ” trong phạm vi thế giới: Thi hành “Kế hoạch Marshall” ở châu Âu, hy vọng châu Âu có thể tự đảm nhận trách nhiệm cân bằng với Liên Xô; Ở châu Á, Mỹ một thời muốn lợi dụng Trung Quốc thời chính phủ Quốc dân đảng để kiềm chế, cân bằng Liên Xô, sau đó Tưởng Giới Thạch bị lật đổ, Mỹ mới bắt đầu coi trọng địa vị của Nhật Bản, đồng thời không tiếc sức đóng quân tại nhiều địa điểm ở châu Á-Thái Bình Dương. Vì nguồn lực chiến lược của Nhật Bản rất có hạn nên Mỹ không thể thoái thác trách nhiệm, đành phải tự mình đứng ra cân bằng. Nước bá quyền và nước trỗi dậy tranh giành thiên hạ đã xuyên suốt lịch sử thế giới. Trong khi thực lực tương đối của Trung Quốc và Mỹ có sự thay đổi nhất định, Mỹ phải kiềm chế Trung Quốc để giữ địa vị chủ đạo của mình. Như đã nói trên, hiện nay ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương chưa có được nước cân bằng thích hợp, Mỹ cần phải tạo nên một “cây cầu lớn” như vậy. Từ lâu nay Mỹ đã duy trì trạng thái đóng quân với số lượng lớn ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Các liên minh quân sự Mỹ-Nhật Bản, Mỹ-Hàn Quốc, Mỹ-Philíppin, Mỹ-Ôxtrâylia đã đe dọa Liên Xô (Nga) và Trung Quốc. Người Mỹ tự cho mình là người bảo vệ hòa bình thế giới, nhưng sự thực là việc Mỹ đóng quân luôn trở thành người bảo vệ cho lợi ích của Mỹ ở khu vực, bất luận biện pháp bảo vệ là đe dọa hay là sử dụng vũ lực.

Lần này Mỹ tuyên bố đóng quân lâu dài ở Ôxtrâylia, số quân sẽ tăng lên đến 2.500 người trong vòng 5 năm, tàu sân bay chạy bằng động cơ hạt nhân của Mỹ cũng sẽ tuần tiễu ở vùng biển thuộc Ôxtrâylia, hơn nữa Mỹ gần đây đã đề xuất chiến lược mới về “nhất thể hóa không quân và hải quân”. Quan chức Bộ Quốc phòng Mỹ khi giới thiệu chiến lược nói trên tuy không nhắc đến tên “Trung Quốc” nhưng có quan chức cao cấp nói: “Xét đến vũ khí mang tính tấn công kiểu mới của Trung Quốc có thể tạo nên mối đe dọa đối với tự do hàng hải ở Biển Đông và Hoàng Hải nên Bộ mới định ra chiến lược nói trên”. Còn có quan chức quân sự cấp cao Mỹ nói: “Chiến lược này đánh dấu một bước chuyển ngoặt lớn của nước Mỹ đối với xu hướng quân sự của Trung Quốc đang chuyển sang phong cách chiến tranh lạnh của phương Đông đối với phương Tây”. Có nhà lý luận cho rằng Mỹ đóng quân ở Ôxtrâylia là chuyển dịch từ Okinawa, theo vị trí đối thẳng với Trung Quốc thì đó là cách xa chứ không phải đến gần, hơn nữa máy bay chiến đấu F16C/D mà Mỹ bán cho Inđônêxia cũng không nhiều, xét về căn bản thì không đáng để Trung Quốc phải ngạc nhiên. Quan điểm này đã lẫn lộn về điều kiện đe dọa. Đe dọa có được thành công phải có hai điều kiện, một là bên đe dọa có thực lực, hai là bên bị đe dọa tin là bên đe dọa có thể sử dụng vũ lực. Thực lực của nước Mỹ không nói ai cũng biết, nhưng trước khi Mỹ bố trí quân sự cụ thể theo cách gọi “trở lại châu Á-Thái Bình Dương” mới đây thì Trung Quốc có thể không cảm nhận được áp lực mạnh như thế. Nói ngắn gọn thì Mỹ đang thỏa mãn điều kiện thứ hai trong hai điều kiện đe dọa, nghĩa là Mỹ phải làm cho Trung Quốc tin chắc rằng Mỹ có thể sử dụng vũ lực. Giáo sư Ngô Tâm Bá cho biết Mỹ trở lại châu Á-Thái Bình Dương, bề ngoài xem như quan tâm sâu sắc hơn đến khu vực Đông Nam Á nhưng thực tế là hành vi kiềm chế Trung Quốc trỗi dậy. 

Ngoài lĩnh vực quân sự, Mỹ còn có hành động trong các lĩnh vực ngoại giao và kinh tế. Từ lâu nay Mianma trên tổng thể luôn ủng hộ Trung Quốc. Gần đây Ngoại trưởng Mỹ H. Clinton đi thăm Mianma, đó là chuyến thăm Mianma đầu tiên của chính khách quan trọng Mỹ từ hơn 50 năm qua. Rất rõ ràng, Mỹ ủng hộ lãnh tụ phe đối lập Aung San Suu Kyi tham gia bầu cử, trên danh nghĩa là thúc đẩy tiến trình dân chủ ở Mianma nhưng trên thực tế còn giành giật đồng minh với Trung Quốc. Điều rõ ràng hơn nữa là phía sau việc Mỹ thúc đẩy tiến trình dân chủ là vực dậy chính quyền thân Mỹ và làm cho chính quyền này có tác dụng đối với Mỹ. Điều đặc biệt quan trọng là Mianma sẽ trở thành nước Chủ tịch luân phiên ASEAN vào năm 2014, ảnh hưởng của Mianma sẽ không ngừng mở rộng, không thể nói Mỹ không có tính toán gì về phương diện này. Ngày 10/11/2011, trước khi diễn ra Hội nghị không chính thức các nhà lãnh đạo của Tổ chức hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương lần thứ 19, H. Clinton tuyên bố khu vực châu Á-Thái Bình Dương sẽ là trọng tâm chiến lược ngoại giao của Mỹ tới đây, thế kỷ 21 sẽ là thế kỷ Thái Bình Dương của nước Mỹ. Tại hội nghị, Obama đã thúc đẩy “Hiệp định quan hệ đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương” (TPP) do Mỹ chủ đạo, trở thành một bộ phận quan trọng về phương diện kinh tế trong chiến lược trở lại châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ. Rõ ràng, Mỹ muốn thông qua hiệp định này để ngăn chặn châu Á hình thành một tập đoàn thương mại thống nhất, đồng thời can thiệp toàn diện vào tiến trình nhất thể hóa khu vực Đông Á, đảm bảo chắc chắn lợi ích địa chính trị, kinh tế và an ninh, cuối cùng là tạo dựng lại và chủ đạo tiến trình củng cố kinh tế khu vực châu Á-Thái Bình Dương, làm tiêu tan ảnh hưởng của Trung Quốc ở khu vực này. 

Có nhà lý luận đã chỉ ra rằng cụm từ Mỹ “trở lại châu Á-Thái Bình Dương” là không chuẩn xác, vì Mỹ từ trước đến nay chưa bao giờ rời khỏi châu Á. Đúng như thế nhưng trọng tâm chiến lược của Mỹ từ khi kết thúc Chiến tranh Lạnh đến nay chưa bao giờ ngả về châu Á-Thái Bình Dương như vậy, lại càng chưa bao giờ coi trọng Biển Đông đến vậy. Sự thực cơ bản ở đây là dù các nước Đông Nam Á có ý đồ kiềm chế, cân bằng Trung Quốc như thế nào cũng đều không có thực lực. Vì thế, dù một số nước có lo ngại và bài trừ việc Mỹ hoàn toàn chủ đạo Biển Đông, các nước này cũng vẫn phải lựa chọn theo cách hợp tác với Mỹ. Thực tế cho thấy diễn tập quân sự của Việt Nam, Philíppin, Ấn Độ, Ôxtrâylia đều không thiếu sự tham gia của Mỹ. Hành vi của các nước Đông Nam Á, ở mức độ rất lớn dù là ý muốn của chính họ nhưng các nước này vẫn cần thực lực của Mỹ để làm cơ sở, cần Mỹ lớn tiếng nói về chính sách “trở lại châu Á-Thái Bình Dương” để làm bối cảnh. Thực chất việc Mỹ trở lại châu Á-Thái Bình Dương chính là thông qua liên kết với nước láng giềng của Trung Quốc để kiềm chế Trung Quốc, làm giảm nhẹ áp lực của bản thân và cuối cùng duy trì địa vị chủ đạo, cũng là chiến lược “tay cân bằng xa bờ” mà Mỹ đang sử dụng. Trương Hạo, Chủ nhiệm Phòng ngoại giao an ninh, Ban châu Á-Thái Bình Dương thuộc Viện khoa học xã hội Trung Quốc cho biết nói đến việc Philíppin và Việt Nam có lập trường cứng rắn trong vấn đề Biển Đông, ngoài yêu cầu chính trị và nhu cầu lợi ích kinh tế ở trong nước thì đó là tâm lý lo sợ do chênh lệch về thực lực của quốc gia so với sức mạnh quốc gia tổng hợp của Trung Quốc đang tăng lên. Do bị hạn chế bởi quy mô và tốc độ phát triển kinh tế trong nước, Việt Nam và Philíppin chỉ dựa vào thực lực bản thân, rõ ràng không thể kiềm chế được Trung Quốc nên hai nước vừa phải tăng cường xây dựng quân bị của mình, lại vừa phải tăng cường hợp tác với Mỹ, trở thành biện pháp hữu hiệu kiềm chế Trung Quốc của họ. Việc Mỹ lớn tiếng trở lại đã được Philíppin và Việt Nam hoan nghênh, hy vọng lợi dụng mâu thuẫn Trung- Mỹ để được lợi. 

Mặt khác, nguyên nhân căn bản của việc Mỹ “trở lại châu Á-Thái Bình Dương” là sự thay đổi thực lực tương đối giữa Trung Quốc và Mỹ. Diêm Học Thông, Giám đốc Học viện Quan hệ quốc tế đương đại thuộc Đại học Thanh Hoa nói hiện nay khoảng cách giữa Mỹ với tất cả các nước ngoài Trung Quốc đều đang giãn rộng ra, khoảng cách giữa Trung Quốc với tất cả các nước ngoài Mỹ cũng đang giãn rộng ra, đồng thời khoảng cách giữa Mỹ và Trung Quốc lại đang thu hẹp lại. Như vậy cũng là nói cục diện thế giới phát triển rất có thể là một xu thế hai cực, vì thế khi thực lực của bản thân nước Mỹ ở mức độ nào đó giảm đi thì hơn lúc nào hết Mỹ phải thể hiện thực lực của mình. Diêm Học Thông cho rằng sở dĩ Mỹ có được địa vị chủ đạo trong thế giới hiện nay vì ngoài thực lực của bản thân, còn có danh tiếng đang phát huy vai trò của Mỹ. Cũng có thể nói khi người khác đều tin tưởng rằng Mỹ có thực lực tương đối mạnh thì, dù thực lực có giảm đi Mỹ vẫn là nước chủ đạo, nhưng khi nước Mỹ thể hiện ra dấu hiệu suy thoái nào đó, dần dần nước khác sẽ nghi ngờ, cuối cùng Mỹ “đi cũng dở, ở không xong”. Đó chính là việc Mỹ đưa tàu sân bay đến khu vực Trung Đông, đối đầu với Xyri và Iran được Nga đứng phía sau, đồng thời tuyên bố tại châu Á thế kỷ 21 sẽ là thế kỷ Thái Bình Dương của Mỹ, chắc chắn đã thể hiện rõ nguyên nhân kiềm chế Trung Quốc trỗi dậy. Tuy nhiên, như Ngô Tâm Bá đã nói, biện pháp để Mỹ giữ địa vị bá quyền ở khu vực Đông Á thậm chí trên thế giới không hoàn toàn là cân bằng xa bờ, vì Mỹ trước sau chưa bao giờ thực sự “xa bờ”, ví dụ như Mỹ đã duy trì đóng đến 100 nghìn quân ở khu vực Đông Á. Theo Ngô Tâm Bá, phải nói là Mỹ “tham gia cân bằng” hoặc “tiếp xúc cân bằng” sẽ đúng hơn. Hơn nữa, Mỹ không chỉ nhằm cân bằng mà còn giữ ưu thế. Ngô Tâm Bá nói Mỹ luôn cố gắng để giữ được ưu thế về sức mạnh tuyệt đối của mình ở bất cứ khu vực quan trọng nào. Trước mắt Trung Quốc phát triển quân sự, Mỹ đã bắt đầu cảm nhận được thách thức ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Mục đích bố trí quân sự ở châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ là để có khả năng can thiệp vào tất cả mọi vấn đề liên quan mà trọng tâm là bán đảo Triều Tiên và eo biển Đài Loan.Hiện nay, sau khi Bắc Triều Tiên có vũ khí hạt nhân, khả năng và ý muốn can thiệp vấn đề Triều Tiên đã giảm mạnh, đồng thời khả năng quân sự của Trung Quốc lớn mạnh cũng làm cho Mỹ cảm thấy cái giá phải trả để can thiệp vấn đề Đài Loan tăng lên, vì thế Mỹ phải có thay đổi. Lần này, Mỹ lớn tiếng tuyên bố “trở lại châu Á-Thái Bình Dương”, một là phát đi tín hiệu với nước đồng minh của mình rằng “Mỹ chưa yếu đi”, tỏ cho thấy họ sẽ tiếp tục đảm bảo an ninh cho các nước này, hơn nữa Mỹ có khả năng như vậy, đồng thời cũng cảnh cáo Trung Quốc rằng nước Mỹ chưa yếu đi, Trung Quốc không được có hành động sai lầm; hai là tập hợp lại, có sự điều chỉnh về bố trí lực lượng, ba là muốn tìm lại khả năng kiểm soát toàn cục. Vì thế tất cả mọi việc làm của Mỹ hoàn toàn không phải là một điểm hoặc một tuyến đơn nhất, mà phải xem xét đến toàn cục ở Đông Á và châu Á-Thái bình Dương, cũng tuyệt đối không chỉ nhằm vào vấn đề Biển Đông. 

V- Áp lực và đối sách để Trung Quốc trỗi dậy 

Phó giáo sư Tôn Học Phong, Học viện quan hệ quốc tế đương đại thuộc Đại học Thanh Hoa cho rằng xét từ kinh nghiệm lịch sử trong quan hệ quốc tế thì khó khăn lớn nhất trong quan hệ đối ngoại của nước lớn trỗi dậy là làm dịu bớt được khó khăn trong quá trình trỗi dậy. Cái gọi là khó khăn trỗi dậy ở đây là cục diện lưỡng nan, theo đó nước lớn trỗi dậy vừa phải duy trì xu hướng tăng trưởng thực lực, chuyển hóa thực lực quốc gia thành ảnh hưởng đối với hệ thống, đồng thời lại phải cố gắng hết khả năng kiểm soát được áp lực an ninh trong hệ thống. Các quốc gia trỗi dậy khác nhau hoặc cùng một quốc gia nhưng trong các giai đoạn trỗi dậy khác nhau thì cường độ khó khăn trỗi dậy của nước đó hoàn toàn không giống nhau. Ngoài nhân tố địa lý và nhân tố kết cấu hệ thống, sự lựa chọn chiến lược của nước trỗi dậy cũng sẽ có ảnh hưởng quan trọng đối với khả năng nước đó có làm dịu được khó khăn trỗi dậy một cách hữu hiệu hay không. Thông thường, trong giai đoạn mà thực lực của nước trỗi dậy còn yếu hơn thực lực của nước chủ đạo hệ thống, nếu hành động chiến lược của nước trỗi dậy xung đột với lợi ích an ninh cốt lõi của nước chủ đạo và nước láng giềng càng nhỏ, thì thành công làm dịu khó khăn của nước trỗi dậy sẽ càng lớn; mức độ ép buộc trong hành động chiến lược của nước trỗi dậy càng thấp thì khả năng thành công của nước trỗi dậy cũng sẽ càng lớn. Ví dụ, sau khi nước Đức thống nhất, trọng tâm chiến lược đối ngoại của Bismarck là thông qua thành lập liên minh để duy trì thế cân bằng ở châu Âu, đem hết khả năng làm yếu đi thách thức của nước Đức đối với lợi ích an ninh trung tâm của nước chủ đạo là nước Anh và các nước lớn châu Âu khác. Đồng thời Đức cố gắng tránh sử dụng vũ lực, nhất là sử dụng vũ lực ở khu vực lợi ích trung tâm của nước chủ đạo. Kết quả là, nước Đức trỗi dậy đã tạo ra môi trường an ninh xung quanh rất tốt, làm dịu tình trạng khó khăn trỗi dậy mà nước Đức đang phải đối mặt ở thời kỳ đầu. 

Năm 2011 là năm mà mức độ phản ứng của Mỹ và các nước khác đối với Trung Quốc trỗi dậy đã mạnh thêm một cấp. Áp lực đối với Trung Quốc trong năm cũng không ngừng tăng lên, kích hoạt cho những vấn đề xung quanh Biển Đông có thể xuất hiện. Trung Quốc đã đặc biệt phải làm tốt công tác hoạch định chiến lược đối ngoại. Tôn Học Phong cho rằng từ những năm 90 của thế kỷ trước đến nay, Trung Quốc luôn cố gắng thử nghiệm chính sách vỗ về triệt để trong ngoại giao láng giềng, nhằm làm dịu bớt khó khăn trỗi dậy của bản thân. Chiến lược này tuy có thể làm dịu mâu thuẫn an ninh giữa Trung Quốc với các nước xung quanh nhưng lại khó có được hiệu quả lâu dài. Nguyên nhân xảy ra hiện tượng nói trên là do trong hệ thống Đông Á đã xuất hiện hệ thống an ninh theo đẳng cấp của nước Mỹ. Theo phương thức bảo vệ sự sống còn của quốc gia thì các nước Đông Á về cơ bản có thể chia thành hai loại, một loại là quốc gia tự lực, như Trung Quốc, Việt Nam, chủ yếu dựa vào lực lượng của bản thân để duy trì an ninh sống còn của mình. Loại quốc gia thứ hai là dựa vào nước khác, ví dụ như Nhật Bản, Philíppin, Hàn Quốc. Các nước này tuy có lực lượng quân sự riêng nhưng an ninh sinh tồn của quốc gia luôn phải nhờ vào viện trợ và giúp đỡ của nước đồng minh bên ngoài như Mỹ để được đảm bảo. Cũng có thể nói giữa các nước này với Mỹ đã hình thành một hệ thống an ninh đẳng cấp, trong đó Mỹ là nước cung cấp an ninh, nước đồng minh ở khu vực là nước tiêu thụ an ninh. Chính yếu tố này đã khiến cho chiến lược vỗ về của Trung Quốc không có được hiệu quả lâu dài. 

Tôn Học Phong còn làm rõ thêm rằng trong khi làm hòa hoãn mâu thuẫn an ninh với Trung Quốc, nước được giúp đỡ và bảo hộ trong hệ thống an ninh của nước Mỹ sẽ dựa vào Mỹ, tiếp tục tỏ rõ sức mạnh với Trung Quốc nhằm có được ưu thế trong cạnh tranh lợi ích an ninh, vì hoà hoãn tạm thời trong tranh chấp cuối cùng không đồng nghĩa với mâu thuẫn an ninh song phương cuối cùng được giải quyết. Còn Mỹ lại có thể đem lại sự bảo hộ an ninh hữu hiệu hơn. Ngoài ra, song song với việc Trung Quốc triển khai chính sách lợi dụng hợp tác kinh tế vỗ về các nước láng giềng Đông Á, quan hệ thương mại giữa các nước nói trên với Trung Quốc phần lớn đều trở nên chặt chẽ hơn, mức độ lệ thuộc vào Trung Quốc từng bước sâu sắc hơn, nhưng lo ngại của các nước này cũng bắt đầu tăng lên. Họ sợ rằng nếu tiếp tục phối hợp theo chính sách vỗ về như vậy của Trung Quốc, sẽ tạo ra ảnh hưởng mặt trái trong việc bảo vệ lợi ích an ninh trung tâm của bản thân, từ đó thúc đẩy các nước này quyết tâm lợi dụng biện pháp tất yếu mà Mỹ áp dụng trong bảo vệ an ninh để đưa đến cục diện có lợi trong cuộc cạnh tranh an ninh với Trung Quốc, cố gắng đến mức tối đa, ngăn ngừa Trung Quốc lợi dụng ưu thế để gây tổn hại đến lợi ích an ninh trung tâm của họ trong tương lai. Rõ ràng, những biện pháp nói trên ở mức độ nào đó đã làm lung lay quyết tâm của Trung Quốc trong việc kiên trì chính sách vỗ về. Trung Quốc không thể làm dịu mâu thuẫn nhưng phải trả giá bằng cách gây tổn hại cho lợi ích trung tâm của mình, cũng không thể đáp ứng nước khác mà hạ thấp mạnh mẽ mức độ ủng hộ ở trong nước đối với chính sách của mình. Vì thế, mặc dù Trung Quốc phải tiếp tục tự kiềm chế nhưng cũng không thể kiên trì mãi chính sách vỗ về. 

Trong khi làm dịu mâu thuẫn an ninh với Trung Quốc, nếu nước tự lực có mâu thuẫn an ninh trực tiếp với Trung Quốc thì họ sẽ lo lắng rằng việc hòa hoãn mâu thuẫn lâu dài với Trung Quốc (đặc biệt là tranh chấp lãnh thổ) cuối cùng sẽ có lợi cho Trung Quốc. Rốt cuộc Trung Quốc sẽ có ưu thế về thực lực và từng bước mở rộng thực lực, trong khi những nước đó lại không thể tìm kiếm được sự bảo hộ an ninh hữu hiệu nên sẽ đem hết khả năng tăng cường thực lực của mình. Tuy nhiên, sự chênh lệch về thực lực với Trung Quốc đã quyết định cho những nước này phải tìm kiếm sự giúp đỡ từ bên ngoài. Điều quan trọng hơn là các nước này sẽ nhờ vào những nước được Mỹ giúp đỡ nói trên để kiềm chế Trung Quốc trong xung đột với Trung Quốc. Đứng trước thách thức an ninh với các nước loại này, Trung Quốc không thể tránh khỏi phải có hành động để không làm tổn thất lợi ích an ninh trung tâm của mình. Kết quả là, mâu thuẫn an ninh song phương sẽ tiếp tục kích hoạt, chính sách vỗ về của Trung Quốc sẽ mất đi tính hữu hiệu. Dù quốc gia tự lực có mâu thuẫn an ninh với Trung Quốc, nhưng nước đó cũng có thể hy vọng nhờ vào sự giúp đỡ của Trung Quốc để loại bỏ mối đe dọa an ninh đến từ hệ thống an ninh của nước Mỹ, đặc biệt là hy vọng Trung Quốc làm theo cách của nước Mỹ, cũng trở thành nước đảm bảo an ninh cho mình một cách hữu hiệu. Nhưng chính sách vỗ về của Trung Quốc thường chỉ có thể đảm bảo cho những đe dọa an ninh của các nước này không xấu đi rõ rệt chứ không thể loại bỏ được những đe dọa lớn từ bên ngoài của loại quốc gia này một cách hữu hiệu, thiết thực. Kết quả tự nhiên là cuối cùng quốc gia này sẽ ngày càng xác định chính sách vỗ về của Trung Quốc làm tổn hại đến lợi ích an ninh trung tâm của họ, từ đó sẽ không sẵn sàng phối hợp lâu dài với chính sách vỗ về của Trung Quốc. 

Đối với việc Trung Quốc trỗi dậy, tư duy của các nước Đông Nam Á và cách nghĩ chủ yếu của phương Tây là nhất trí với nhau, cho rằng nước trỗi dậy nhất định sẽ thông qua thay đổi hiện trạng để có được địa vị chủ đạo, còn ở khu vực Biển Đông là kẻ đi đầu. Nhưng về phương diện khác, vấn đề này cũng giải thích vì sao giữa Trung Quốc và các nước Đông Nam Á lại thiếu lòng tin. Tại Hội nghị các nhà lãnh đạo Trung Quốc - ASEAN lần thứ 14, Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã nói tranh chấp ở Biển Đông là vấn đề tích tụ từ nhiều năm qua, cần phải do nước chủ quyền liên quan trực tiếp thông qua hiệp thương hữu nghị và đàm phán hòa bình để giải quyết, thế lực bên ngoài không nên can thiệp bằng bất cứ giá nào. Kỳ thực, trong vấn đề Biển Đông, Mỹ dù lên tiếng rất mạnh nhưng khó khăn của họ trong việc can dự sâu vào vấn đề Biển Đông là rất lớn. Ngô Tâm Bá cho rằng vấn đề Biển Đông chủ yếu bắt nguồn từ tranh chấp chủ quyền khiến cho Mỹ rất khó tỏ rõ thái độ. Cho dù Mỹ có thể ủng hộ lập trường của nước đồng minh, nhưng bản thân họ rất khó có được thái độ công khai để khẳng định phần lãnh thổ cụ thể nào thuộc về một quốc gia nào. Ngoài ra, Mỹ không có cách nào để trực tiếp tham gia đàm phán với nước hữu quan, vì bản thân họ không phải là bên liên quan trực tiếp, bởi thế Mỹ cùng lắm cũng chỉ gây áp lực, vì vấn đề này vừa không gây tổn hại đến lợi ích của Mỹ, vừa không có mối liên quan gì khác với họ. Trương Khiết cho rằng không nhất thiết phải quá lo lắng việc Mỹ can dự sâu vào vấn đề Biển Đông. Lợi ích chủ yếu của Mỹ ở Biển Đông chẳng qua chỉ có ba điểm là: Chiến hạm của Mỹ tự do đi qua Biển Đông không bị thiệt hại; khi xung đột leo thang mà ảnh hưởng đến lợi ích của đồng minh của Mỹ ở khu vực này, Mỹ sẽ phải có biện pháp đối phó; đảm bảo lợi ích khai thác tài nguyên ở Biển Đông cho các công ty xuyên quốc gia của Mỹ. Rõ ràng là trong lợi ích cụ thể ở Biển Đông, Trung Quốc và Mỹ không có xung đột mang tính căn bản. Còn ý đồ trung tâm của Mỹ là cân bằng ảnh hưởng của Trung Quốc đang ngày một tăng lên. Mỹ cho rằng chỉ có nước Mỹ mới có địa vị và sức mạnh quốc gia để loại bỏ tình trạng mất cân bằng quyền lực rõ ràng ở khu vực này. 

Như vậy, Trung Quốc cần phải đối phó với cục diện phức tạp ở Biển Đông bằng cách nào? Các học giả đã nêu lên một số giả thiết cho vấn đề này. Ngô Tâm Bá cho biết ông đã tham gia Hội nghị an ninh châu Á tổ chức tại Xinhgapo (Đối thoại Shangri La lần thứ 14). Khi đó, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ R. Gates đã nhiều lần nhắc đi nhắc lại thông điệp chủ yếu tại hội nghị rằng Mỹ sẽ không rời khỏi khu vực này. Nhưng sau đó, Giám đốc Học viện chính trị Lý Quang Diệu ở Xinhgapo Mã Khải Thạc vẫn truy vấn, rằng khi chi phí quân sự của Trung Quốc không ngừng tăng lên, còn chi phí quân sự của Mỹ không ngừng giảm đi, ngài Gates sẽ làm thế nào để cho chúng tôi tin được rằng trong 5 năm tới Mỹ sẽ không rời khỏi đây? Rõ ràng trong phương diện này, Mỹ đã phải chịu áp lực, hay nói cách khác là đồng minh của Mỹ đã nghi ngờ Mỹ. Trong chính trường quốc tế, lòng tin phải quan trọng hơn khả năng thực tế. Ngô Tâm Bá cho rằng trong đối sách của Trung Quốc cần phải nắm chắc ba điểm sau: Trước hết, phải nhìn nhận thấu đáo vấn đề, phải thấy được rằng các động thái của Mỹ luôn hư hư thực thực nên không nhất thiết phải quá lo lắng. Hành động mới đây của Mỹ chắc chắn là có ý tạo thanh thế. Việc Mỹ đóng quân tại Ôxtrâylia, tư thế của Mỹ trong các hội nghị, trên thực tế không tạo nên mối đe dọa về bản chất đối với Trung Quốc nhưng đó là một tín hiệu. Thứ hai, trong khi xem xét vấn đề Biển Đông và quan hệ với các nước xung quanh, Trung Quốc nhất định phải có quan niệm toàn cục chứ không thể thấy vấn đề nào thảo luận vấn đề đó, mà phải là có cần có bỏ, có tiến có lui. Thứ ba, Trung Quốc cần phải phát huy triệt để ưu thế của mình. Trước hết là ưu thế địa lý, tức Trung Quốc là một quốc gia hải lục phức hợp; Trung Quốc có nhiều mối quan hệ với các khu vực, có diện tích lãnh thổ rộng, có thể sẵn sàng can dự và xuất quân trong các vấn đề xung quanh. Hai là, Trung Quốc có ưu thế về kinh tế. Những nước này dựa vào nước Mỹ về an ninh nhưng về kinh tế chỉ có thể dựa vào Trung Quốc. Trung Quốc hiện nay là đối tác thương mại lớn nhất của Nhật Bản, Hàn Quốc, Bắc Triều Tiên, Mông Cổ, Ấn Độ, Việt Nam, Inđônêxia. Nước này là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Nhật Bản, Hàn Quốc, Mông Cô, Malaixia, Inđônêxia và Thái Lan; Trung Quốc còn là nước có nguồn lực đầu tư nước ngoài chủ yếu vào ngày càng nhiều nước châu Á. Trong khi đó, Mỹ còn phải xuất khẩu sang khu vực Đông Á để thu lời. Vì thế, các nước Đông Nam Á còn phải dựa vào Trung Quốc về kinh tế. Cuối cùng là ưu thế về ý tưởng của Trung Quốc. Nói một cách tương đối thì ý tưởng của Trung Quốc thời hậu Chiến tranh Lạnh là nghiêng về hòa bình hơn, chú trọng hợp tác an ninh khu vực hơn, có quan điểm an ninh mới “không sử dụng vũ lực, giải quyết tranh chấp bằng phương thức hòa bình”. Trong khi đó, Mỹ yêu cầu người khác phải tuân thủ luật pháp quốc tế, còn bản thân Mỹ đến nay vẫn chưa tham gia “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển”. 

Tôn Học Phong cho rằng cần phải điều chỉnh chiến lược vỗ về của Trung Quốc theo hai phương diện sau đây: Thứ nhất, Trung Quốc cần kết hợp, điều hòa giữa chính sách vỗ về xung quanh và chính sách đối với Mỹ, xem xét toàn diện trong mối liên hệ chứ không tách biệt. Nếu không, ngoại giao Trung Quốc sẽ thường xuyên gặp phải tình trạng quan hệ song phương với Mỹ vẫn được, nhưng quan hệ với các nước Đông Á lại sinh ra cạnh tranh quyết liệt. Phương thức chủ yếu để gắn kết chính sách Đông Á của Trung Quốc với chính sách đối với Mỹ của Trung Quốc lại với nhau là nâng cấp đối thoại an ninh khu vực châu Á-Thái Bình Dương đã được thiết lập giữa Trung Quốc và Mỹ và cố gắng tổ chức thảo luận đạt hiệu quả thực tế như dự kiến để duy trì trạng thái ổn định tổng thể ở khu vực Đông Á. Đồng thời, có thể thử nghiệm thiết lập cơ chế đối thoại song phương không chính thức về an ninh chiến lược Đông Á giữa Trung Quốc và Mỹ, để đảm bảo cho đối thoại chiến lược châu Á-Thái Bình Dương chính thức của chính phủ có được hiệu quả thiết thực. Thứ hai, hoạch định chính sách phù hợp hơn với đặc điểm về sự đe dọa an ninh của nước tự lực trong khu vực Đông Á và nhắm mục tiêu vào các nước đó. Về chính sách an ninh của nước được bảo hộ như Philíppin, điều dễ nhận thấy là những nước này không có nhiều khả năng áp dụng chính sách mang tính đối kháng đặc biệt nghiêm trọng trong điều kiện Trung-Mỹ có thể đạt được nhất trí. Vì thế, chính sách Đông Á của Trung Quốc (bao gồm khu vực Biển Đông) chủ yếu cần quan tâm đến nước tự lực vốn phải dựa vào bản thân để bảo vệ an ninh của chính mình, đồng thời xây dựng chính sách sao cho phù hợp hơn với đặc điểm của nước đó và nhắm vào nước đó. Nếu đe dọa chủ yếu của những nước đó đến từ những nước đồng minh quân sự do Mỹ chủ đạo thì Trung Quốc có thể bảo hộ an ninh cho nước đó một cách thích hợp để làm yếu đi chính sách đối kháng của nước đó nhắm vào Trung Quốc. Nếu đe dọa của những nước đó đến từ Trung Quốc thì Trung Quốc tất yếu phải áp dụng chính sách phối hợp giữa vỗ về và cứng rắn để đạt được hiệu quả tương tự. Cách đây không lâu, 4 nước Trung Quốc, Lào, Mianma và Thái Lan đã đạt được thỏa thuận cùng bảo vệ tuyến giao thông đường thủy trên sông Mê Công. Cùng với việc thực lực quốc gia của Trung Quốc phát triển, Trung Quốc vừa phải thể hiện được ý nghĩa của sự phát triển đối với dân chúng, cũng vừa phải dựa vào thực lực của bản thân để bảo vệ biên giới lợi ích đang ngày một mở rộng của mình. Việc bảo vệ an ninh vận tải đường thủy trên sông Mê Công không chỉ là bảo vệ an ninh khu vực, đảm nhận trách nhiệm nước lớn của Trung Quốc, mà còn phải là vấn đề bảo vệ an ninh cho các công dân của Trung Quốc ở nước ngoài. Hơn nữa, việc mở rộng hoạt động thương mại của Trung Quốc cũng khiến cho mức độ an toàn của khu vực xung quanh liên quan trực tiếp đến lợi ích của Trung Quốc. Vì thế, Trung Quốc cần phải làm được như vậy, nếu không thì nước trỗi dậy sẽ không biết phải bắt đầu bàn bạc từ đâu.

Ngày 2/12/2011, Ngoại trưởng Adam của Xâysen cho biết Xâysen đang đề nghị Trung Quốc xây dựng căn cứ quân sự trong lãnh thổ nước này để nâng cao khả năng đối phó với hải tặc. Đề nghị nói trên của Xâysen một lần nữa tiếp tục cho thấy khi thực lực của Trung Quốc tăng lên, việc họ đóng quân nhằm bảo vệ an ninh khu vực sẽ phù hợp với yêu cầu của rất nhiều quốc gia. Giáo sư Ngô Tâm Bá cho rằng đối với Trung Quốc, tầm quan trọng của việc bảo vệ an ninh đường thủy bằng lực lượng vũ trang trên sông Mê Công chỉ đứng sau cơ chế hợp tác của Tổ chức hợp tác Thượng Hải, sự kiện xảy ra trên sông Mê Công quả đã một lần đem lại cơ hội cho Trung Quốc. Vấn đề mà Trung Quốc và các nước xung quanh phải đối mặt nhiều hơn là an ninh phi truyền thống, vì thế hoàn toàn có thể lấy đó làm thông lệ, thông qua phương thức hợp tác quân sự với các nước láng giềng để cùng bảo vệ an ninh. Trung Quốc gần đây đã bắt đầu tự tổ chức diễn tập quân sự ở Thái Bình Dương. Báo chí đưa tin, từ ngày 22 - 23/11/2011, sáu chiến hạm của Hải quân Trung Quốc đã lần lượt đi qua vùng biển giữa đảo Okinawa và đảo Miyako với tốc độ 25 km/giờ, từ biển Hoa Đông tiến đến Thái Bình Dương. Việc làm nói trên hoàn toàn phù hợp với luật quốc tế. Trung Quốc gần đây liên tục diễn tập quân sự ở vùng biển nói trên. Từ tháng 10/2011 đến nay, Quân Giải phóng Trung Quốc đã tổ chức diễn tập quân sự liên hợp phối hợp giữa lục quân và không quân ở Tây Tạng. Ở Hoàng Hải, họ cũng đã tổ chức huấn luyện chiến đấu liên hợp. Vào cuối tháng 10/2011, tàu chiến hải quân lại tiến đến huấn luyện ở Tây Thái Bình Dương. Cuối tháng 11, tàu sân bay của Trung Quốc ra khơi chạy thử lần thứ hai. Những động thái thể hiện thực lực của Trung Quốc nói trên cũng là hành động đáp trả mạnh mẽ trong vấn đề xung quanh Biển Đông. Trương Khiết cho biết từ cố gắng ngoại giao của Chính phủ Trung Quốc trong năm 2011, có thể nhận định rõ rằng trong tương lai Trung Quốc vẫn sẽ áp dụng chính sách tự kiềm chế để đối phó với tranh chấp Biển Đông. Duy trì môi trường xung quanh ổn định, đảm bảo để Trung Quốc trỗi dậy vẫn là sự lựa chọn chiến lược quan trọng của Trung Quốc hiện nay. Sách lược Trung Quốc trong xử lý tranh chấp Biển Đông, việc Trung Quốc cố gắng phát triển tàu sân bay và một loạt cuộc diễn tập quân sự trên vùng biển gần đều được coi là một chỉnh thể, đã trở thành hàn thử biểu để các nước trong và ngoài khu vực đoán định Trung Quốc lựa chọn phương thức hòa bình hay sử dụng vũ lực để trỗi dậy. Vấn đề Biển Đông đã không chỉ là tranh chấp chủ quyền về lãnh thổ lãnh hải, mà còn là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến môi trường an ninh xung quanh và chiến lược toàn cầu của Trung Quốc.


Theo Tạp chí “Tri thức thế giới”- BNG Trung Quốc ( kỳ 24 năm 2011)

Lê Sơn (gt)

 

Tuyên bố của NPNBNG/TQ vào ngày 1/3 về vấn đề Biển Đông rằng “không có quốc gia nào, kể cả Trung Quốc, đưa ra tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ Biển Đông”. Tuyên bố này được giới phân tích cho rằng quan điểm của Trung Quốc đã “mềm hóa”, nhưng sự thực về lập trường và thái độ của Trung Quốc là như thế nào?

Bài viết của Lý Quốc Cường, chuyên gia về vấn đề Biển Đông thuộc Trung tâm Nghiên cứu Sử địa biên giới, Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc đăng trên trang Chiến lược Trung Quốc

 

Tuyên bố ngày 01/3 vừa qua của Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi về vấn đề Biển Đông khiến dư luận quốc tế quan tâm cao độ, ông Hồng Lỗi nói “không có quốc gia nào, kể cả Trung Quốc, đưa ra tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ Biển Đông”. Giới phân tích bên ngoài căn cứ vào phát biểu này cho rằng, lập trường của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông đã “mềm hóa”.

Thực tế, lập trường và thái độ của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông là nhất quán và rõ ràng, hoàn toàn không tồn tại cái gọi là “mềm hóa lập trường” hay “bắt đầu trở nên rõ ràng”. Dư luận phân tích như vậy thực chất là vô tình hiểu sai hoặc cố ý làm sai lệch lập trường của Chính phủ Trung Quốc.

Ngày 06/3, tại buổi họp báo bên lề Kỳ họp lần thứ 5 Quốc hội Trung Quốc khóa 11, Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì một lần nữa phát biểu về vấn đề Biển Đông, nhấn mạnh “Trung Quốc nhất quán chủ trương lấy sự thực làm nền tảng, căn cứ vào chuẩn mực cơ bản của quan hệ quốc tế, các nước liên quan trực tiếp đàm phán giải quyết thỏa đáng tranh chấp Biển Đông. Trong khi tranh chấp chưa được giải quyết, các bên có thể gác tranh chấp, cùng khai thác”.

Lập trường của Trung Quốc đã hết sức rõ ràng, cái cớ “bảo vệ tự do hàng hải Biển Đông” của quốc gia liên quan là không đủ thuyết phục. Người phát ngôn Hồng Lỗi ngày 29/02 nói “sự thật chứng minh, an toàn và tự do hàng hải trên Biển Đông chưa bao giờ là vấn đề, và không bị bất kỳ ảnh hưởng nào do tranh chấp Biển Đông. Hy vọng các bên, kể cả bên không liên quan trực tiếp đến tranh chấp, sẽ làm những việc có lợi cho gìn giữ hòa bình và ổn định của khu vực”.

Nhưng có một hiện thực là, một số nước có yêu sách chủ quyền lôi kéo một số nước không có yêu sách chủ quyền nhúng tay vào vấn đề Biển Đông, hoặc luân phiên tổ chức diễn tập quân sự liên hợp, hoặc tìm cách mời thầu thăm dò khai thác dầu khí Biển Đông, cố ý tạo ra bầu không khí mất ổn định tại khu vực.  

Với phát biểu ngày 01/3 của Người phát ngôn Hồng Lỗi cho rằng “không có quốc gia nào kể cả Trung Quốc đưa ra yêu sách chủ quyền đối với toàn bộ Biển Đông”, vậy thì yêu sách chủ quyền của Trung Quốc đối với Biển Đông rốt cục là gì? Khu vực tranh chấp Biển Đông rốt cục như thế nào?

Toàn bộ Biển Đông có diện tích 3,5 triệu km2, trong đó Trung Quốc chủ trương có chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng biển nằm trong khu vực “đường 9 đoạn” (đường lưỡi bò), với diện tích hơn 2 triệu km2. Nói cách khác, Trung Quốc có chủ quyền và quyền tài phán không thể xâm phạm đối với vùng biển rộng hơn 2 triệu km2 thuộc Biển Đông cùng các đảo, bãi, bãi ngầm nằm trong phạm vi này.

Trung Quốc chưa công bố đường cơ sở lãnh hải Biển Đông

“Cương vực Nam Hải” của Trung Quốc đã trải qua quá trình hình thành và phát triển lâu dài trong lịch sử. Trải qua các triều đại từ Hán, Đường cho đến Tống, Nguyên, Minh, Thanh... phạm vi sinh sống và hoạt động của người Trung Quốc đã phát triển mở rộng ra tới hầu hết các đảo ở Biển Đông, chính quyền qua các triều đại đã hình thành sự quản lý đối với các đảo ở Biển Đông và vùng biển phụ cận. Kể từ thời kỳ cận đại, chính phủ Trung Quốc đã tăng cường và thực hiện hiệu quả chủ quyền và quyền quản lý đối với các đảo thuộc Biển Đông; đến năm 1947 bằng việc quy phạm các tên gọi địa lý và vẽ bản đồ các đảo, một lần nữa xác định rõ điểm cực nam của Trung Quốc là bãi ngầm Tăng Mẫu (bãi James), đồng thời lấy đường đứt đoạn làm giới hạn, từ đó hình thành phạm vi thực chất về “cương vực Nam Hải” của Trung Quốc.   

Kể từ khi chính thức công bố bản đồ “đường đứt đoạn” năm 1948 đến nay, Trung Quốc luôn kiên trì chủ quyền đối với vùng biển và các đảo trong phạm vi “đường đứt đoạn”. Lập trường này không chỉ được phản ánh trong tuyên bố của chính quyền các thời kỳ, trong các bản đồ cũng như trong thực tiễn lâu dài Trung Quốc thực thi quyền quản lý của mình, mà còn được thể hiện rõ ràng và đầy đủ trong các văn bản pháp lý và nội luật của Trung Quốc, như “Tuyên bố về Lãnh hải 1958”, “Luật về Lãnh hải và vùng tiếp giáp” năm 1992, “Luật về Vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa” năm 1998.   

Liên quan đến vấn đề thụ đắc lãnh thổ, luật pháp quốc tế hiện nay có các nguyên tắc cơ bản như “luật đương đại”, “phát hiện”, “chiếm trước”, “quản lý hữu hiệu” v.v.. Căn cứ vào nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, xét đến các chứng cứ lịch sử cho thấy Trung Quốc đã phát hiện sớm nhất, đặt tên sớm nhất, khai thác và quản lý đầu tiên, thực hiện quyền quản lý hành chính đầu tiên và liên tục không gián đoạn đối với Biển Đông... có thể xác định rõ ràng là, sự hình thành “biên giới Nam Hải” của Trung Quốc không chỉ là sự phát triển tất yếu của lịch sử, mà còn có tính duy nhất và liên tục, hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế. Về việc này, trong một thời kỳ dài, các nước trên thế giới không có nước nào đưa ra ý kiến bất đồng, ngược lại họ còn thừa nhận hoặc là mặc nhiên công nhận sự thực Trung Quốc có chủ quyền đối với các đảo ở Biển Đông.

Ngày 15/05/1996, Chính phủ Trung Quốc ra tuyên bố về một phần đường cơ sở lãnh hải lục địa và đường cơ sở lãnh hải quần đảo Hoàng Sa, xác định rõ đường cơ sở lãnh hải của Trung Quốc tại quần đảo Hoàng Sa, từ đó xác định rõ phạm vi chiều rộng lãnh hải 12 hải lý tính từ đường cơ sở lãnh hải của quần đảo Hoàng Sa là bộ phận cấu thành của lãnh thổ Trung Quốc, chủ quyền của Trung Quốc bao gồm vùng biển, bầu trời, lòng biển và đáy biển trong phạm vi lãnh hải.

Mặc dù trong tuyên bố này đã bảo lưu quyền “sẽ tiếp tục tuyên bố đường cơ sở lãnh hải của các vùng biển khác của nước CHND Trung Hoa”, nhưng để gìn giữ hòa bình ổn định của Biển Đông, Chính phủ Trung Quốc chưa công bố đường cơ sở lãnh hải của quần đảo Trường Sa. Tuy nhiên một điều chắc chắn là, thứ nhất Trung Quốc chưa bao giờ thay đổi lập trường của mình về chủ quyền và quyền tài phán đối với quần đảo Trường Sa và vùng biển phụ cận, thứ hai là chưa bao giờ mở rộng chủ trương “đường đứt đoạn”, luôn lấy “đường đứt đoạn” làm chủ trương phạm vi chủ quyền và quyền tài phán.   

Hiệu lực của “đường đứt đoạn” tối ưu hơn “Công ước luật Biển”

Công ước Luật biển LHQ được ký kết năm 1982, năm 1994 chính thức có hiệu lực. Công ước này đã xác định một loạt chế độ luật pháp quốc tế về biển, cho phép các nước ven biển chủ trương vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa mở rộng. Các nước khu vực Biển Đông như Việt Nam, Philippines, Malaysia, Indonesia, Bruney dựa vào đó lần lượt đưa ra yêu sách của mình về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, đồng thời “xâm phạm” vào phạm vi đường đứt đoạn của Trung Quốc với các mức độ khác nhau, gây ra chồng lấn về chủ quyền và quyền tài phán, từ đó hình thành vấn đề phân định ranh giới trên Biển Đông.

Một điều dễ thấy là, lập trường Biển Đông của Trung Quốc có chứng cứ lịch sử và bằng chứng pháp lý đầy đủ và rõ ràng, “đường đứt đoạn” là một trong những cơ sở căn bản để xác lập chủ quyền và quyền tài phán của Trung Quốc ở Biển Đông. Cơ sở để các nước ven Biển Đông nêu ra yêu sách chủ quyền là dựa trên Công ước luật Biển của LHQ, riêng Việt Nam còn đưa ra bằng chứng lịch sử, nhưng những bằng chứng này đều không thuyết phục, bất luận là từ góc độ lịch sử hay là từ lý luận và thực tiễn luật pháp quốc tế.

Cần phải nhấn mạnh là, trước hết, “đường đứt đoạn” ra đời từ rất sớm so với Công ước luật Biển 1982, là sự thực khách quan đã tồn tại gần 100 năm, công bố chính thức cũng đã hơn 60 năm, bởi vậy yêu cầu “đường đứt đoạn” phải phù hợp với Công ước luật Biển không chỉ là đảo ngược vấn đề, mà còn là không tôn trọng sự thật lịch sử và luật pháp. Mặt khác, Công ước luật biển chỉ là một bộ luật trong luật pháp quốc tế, không thể thay thế cho các luật quốc tế khác; bản thân Công ước không quy phạm và không ảnh hưởng đến vấn đề chủ quyền của các quốc gia, do đó không thể lấy Công ước này làm căn cứ chủ yếu hoặc duy nhất để phán xét tính hợp pháp của chủ trương chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông. Thứ ba, bản thân Công ước không phủ nhận các chủ trương quyền lợi đã hình thành và kéo dài liên tục trước khi Công ước ra đời, càng không thể mang lại “tính hợp pháp” cho bất kỳ quốc gia nào xâm phạm và làm tổn hại chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc./.

Bản gốc tiếng Trung “际先驱导报:中国的南海诉求究竟是什么

Quốc Trung, cộng tác viên tại Hồng Công (gt)

 

 

Ngôn ngữ