25 - 1 - 2021 | 17:45
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home
Tag:UNCLOS

Công ước Luật biển 1982 là hiến pháp của biển, là cơ sở pháp lý chung cho việc giải quyết các tranh chấp biển, trong đó có phân định vùng biển và thềm lục địa chồng lấn giữa các nước xung quanh Biển Đông. Bài viết nhân kỷ niệm 30 năm ngày ký kết và nhân ngày Viêt Nam thông qua Luật biển.

 

Sau hơn 4 năm chuẩn bị  và 9 năm đàm phán, ngày 10/12/1982, Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (gọi tắt là Công ước Luật biển 1982), tên tiếng Anh là United Nations Convention on the Law of the Sea, hay thường được gọi tắt là UNCLOS 1982, được 107 quốc gia, trong đó có Việt Nam, ký tại Montego Bay, Jamaica (tính đến nay, số quốc gia ký là 157), đánh dấu thành công của Hội nghị LHQ về Luật biển lần thứ 3, với sự tham gia của trên 150 quốc gia và nhiều tổ chức quốc tế, kể cả các tổ chức quốc tế phi chính phủ, cùng xây dựng nên một Công ước mới về Luật biển, được nhiều quốc gia, kể cả những quốc gia không có biển, cùng chấp nhận.

Sau Hiến chương LHQ, Công ước Luật biển 1982 được đánh giá là văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng nhất kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, được nhiều quốc gia ký kết và tham gia. Công ước Luật biển 1982 có hiệu lực từ ngày 16/11/1994 (12 tháng kể từ ngày Guyana, nước thứ 60 phê chuẩn Công ước ngày 16/11/1993). Là một văn kiện pháp lý đa phương đồ sộ, bao gồm 320 điều khoản và 9 Phụ lục, với hơn 1000 quy phạm pháp luật, Công ước Luật biển 1982 đã đáp ứng nguyện vọng và mong đợi của cộng đồng quốc tế về một trật tự pháp lý quốc tế mới đối với tất cả các vấn đề về biển và đại dương, bao gồm cả đáy biển và lòng đất dưới đáy biển.

Công ước Luật biển 1982 thực sự là một bản hiến pháp về biển của cộng đồng quốc tế bởi Công ước không chỉ bao gồm các điều khoản mang tính điều ước mà còn là văn bản pháp điển hoá các quy định mang tính tập quán. Công ước Luật biển 1982 thể hiện sự thoả hiệp mang tính toàn cầu, có tính đến lợi ích của tất cả các nước trên thế giới, dù là nước công nghiệp phát triển hay là nước đang phát triển… Công ước không chấp nhận bảo lưu mà đòi hỏi các quốc gia phải tham gia cả gói (package deal), có nghĩa là việc phê chuẩn hoặc tham gia Công ước đòi hỏi quốc gia phải có trách nhiệm thực hiện toàn bộ các điều khoản của Công ước.

Công ước Luật biển 1982 đã trù định toàn bộ các quy định liên quan đến các vùng biển mà một quốc gia ven biển có quyền được hưởng, cũng như những quy định liên quan đến việc sử dụng, khai thác biển và đại dương, cụ thể là: Quy chế pháp lý của tất cả các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia; Chế độ pháp lý đối với biển cả và Vùng - di sản chung của loài người; các quy định hàng hải và hàng không; việc sử dụng và quản lý tài nguyên biển bao gồm tài nguyên sinh vật và không sinh vật; Vấn đề bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học biển, an ninh trật tự trên biển; việc giải quyết tranh chấp và hợp tác quốc tế về biển; Quy chế hoạt động của cơ quan quyền lực quốc tế về đáy đại dương, Uỷ ban ranh giới ngoài thềm lục địa, toà án Luật biển quốc tế, hội nghị các quốc gia thành viên Công ước …

Tính đến ngày 3/6/2011, đã có 162 nước phê chuẩn và tham gia Công ước Luật biển 1982 (Thái lan là quốc gia thứ 162 gia nhập ngày 15/5/2011).

Một số nội dung quan trọng đã được quy định trong Công ước Luật biển 1982 như dưới đây:

1. Quốc gia ven biển thực hiện chủ quyền đầy đủ đối với vùng lãnh hải mà họ có quyền thiết lập với chiều rộng không quá 12 hải lý. Tuy vậy, chủ quyền  này không phải là tuyệt đối vì tầu thuyền nước ngoài được phép “đi qua vô hại” trong vùng lãnh hải. Tầu thuyền và máy bay được phép “đi quá cảnh” qua các dải hẹp, eo biển được sử dụng cho hàng hải quốc tế.

2. Ranh giới lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế (ĐQKT) và thềm lục địa được xác định dựa trên các quy tắc áp dụng cho lãnh thổ đất liền, nhưng đối với đá không thể có con người sinh sống hoặc không có đời sống kinh tế sẽ không có vùng ĐQKT hoặc thềm lục địa. Quốc gia có biên giới với eo biển có thể điều tiết lưu thông hàng hải và các khía cạnh khác liên quan đến đi lại, lưu thông..

3. Quốc gia quần đảo, được tạo thành bởi nhóm hoặc các nhóm đảo liên quan gần gũi và những vùng nước tiếp liền, sẽ có chủ quyền đối với vùng biển nằm trong các đường thẳng được vẽ bởi các điểm xa nhất của các đảo, vùng nước bên trong các đảo được gọi là vùng nước quần đảo, và các quốc gia này có thể thiết lập các đường đi lại cho tầu thuyền và hàng không, trong đó các quốc gia khác có thể được hưởng quyền qua lại các quần đảo bằng các tuyến đường biển đã định.

4. Quốc gia ven biển có quyền chủ quyền đối với vùng ĐQKT rộng tối đa 200 hải lý, đối với tài nguyên thiên nhiên và một số hoạt động kinh tế, và thực hiện quyền tài phán đối với các hoạt động nghiên cứu khoa học và bảo vệ môi trường. Các quốc gia khác có quyền tự do hàng hải và tự do hàng không và tự do đặt dây cáp ngầm và đường ống.

 5. Quốc gia không có biển hoặc bất lợi về địa lý có quyền tham gia trên cơ sở công bằng trong việc khai thác một phần thích hợp trong số phần dư dôi của các tài nguyên sống trong vùng ĐQKT của quốc gia ven biển trong cùng khu vực hoặc tiểu khu vực; các loài di cư như cá hoặc sinh vật biển được bảo vệ đặc biệt.

 6. Quốc gia ven biển có quyền chủ quyền đối với thềm lục địa (khu vực đáy biển của quốc gia) trong việc việc thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên của thềm lục địa. Thềm lục địa có thể kéo dài ít nhất là 200 hải lý từ bờ biển, và có thể  kéo dài không quá 350 hải lý trong những điều kiện cụ thể. Quốc gia ven biển chia sẻ với cộng đồng quốc tế phần lợi tức thu được do khai thác tài nguyên từ bất cứ khu vực nào trong thềm lục địa của quốc gia đó khi nó kéo dài quá 200 hải lý. Uỷ ban Ranh giới thềm lục địa (được thành lập theo Phụ lục II trong Công ước Luật biển 1982) sẽ có ý kiến đối với quốc gia liên quan về ranh giới ngoài của thềm lục địa khi nó kéo dài quá 200 hải lý.

 7. Tất cả các quốc gia đều có quyền tự do truyền thống về hàng hải, bay qua, nghiên cứu khoa học và đánh cá trên vùng biển quốc tế. Các quốc gia có trách nhiệm hợp tác với nhau trong việc thông qua các biện pháp để quản lý và bảo tồn các tài nguyên sống trên biển.

  8. Các quốc gia có chung biên giới với biển kín hoặc nửa kín cần hợp tác với nhau trong việc quản lý tài nguyên sống, có chính sách và hoạt động về môi trường cũng như nghiên cứu khoa học. Các quốc gia không có biển có quyền tiếp cận với biển và được tự do quá cảnh thông qua nước quá cảnh để ra biển. Các quốc gia phải ngăn chặn và kiểm soát ô nhiểm môi trường biển và phải chịu trách nhiệm đối với những thiệt hại gây ra do sự vi phạm nghĩa vụ quốc tế của mình để kiềm chế những sự ô nhiễm đó.

 9. Tất cả các nghiên cứu khoa học trong vùng ĐQKT và thềm lục địa phải có sự đồng ý của quốc gia ven biển. Tuy vậy, hầu như trong tất cả mọi trường hợp, quốc gia ven biển có trách nhiệm đồng ý với đề nghị của các quốc gia khác khi việc nghiên cứu được tiến hành vì mục đích hoà bình và đã thực hiện một số yêu cầu chi tiết. Các quốc gia cam kết tăng cường phát triển và chuyển giao kỹ thuật biển trong những điều kiện “ công bằng và hợp lý” có tính đến đầy đủ những lợi ích hợp pháp.

10. Các quốc gia thành viên phải giải quyết bằng biện pháp hoà bình các tranh chấp liên quan đến việc hiểu và áp dụng Công ước. Các tranh chấp cần được trình lên Toà án quốc tế về luật biển ( được thành lập theo Công ước), trình lên Toà án công lý quốc tế hoặc trọng tài. Toà án có quyền tài phán riêng biệt đối với những tranh chấp liên quan đến khai thác ở đáy biển.

Sau khi Công ước Luật biển 1982 ra đời và có hiệu lực, các quốc gia ven biển đã ra các tuyên bố để khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của mình đối với những vùng biển được mở rộng theo quy định của Công ước. Quy chế pháp lý đối với lãnh hải đã trở thành biện pháp giải toả cho các yêu sách xung đột giữa các quốc gia với nhau. Lưu thông hàng hải qua vùng lãnh hải và các dải hẹp giờ đây dựa trên các nguyên tắc pháp lý. Các quốc gia ven biển đã tận dụng các điều khoản lợi thế cho phép mở rộng vùng ĐQKT ra tới 200 hải lý dọc theo bờ biển. Các quốc gia không có biển được quyền tiếp xúc với biển hoặc từ biển cũng được quy định một cách rõ ràng. Quyền được tiến hành các nghiên cứu khoa học biển giờ đây được dựa trên các nguyên tắc mà không thể vì lý do gì để từ chối. Cơ quan quyền lực quốc tế về đáy đại dương đã được thành lập năm 1994, đang thực hiện chức năng tổ chức và kiểm soát các hoạt động dưới biển sâu ngoài vùng thuộc quyền tài phán quốc gia, nhằm điều hành việc khai thác và bảo tồn các nguồn tài nguyên của biển.Toà án Luật biển quốc tế cũng đã được thành lập năm 1996 và có quyền lực để giải quyết các tranh chấp liên quan đến biển phát sinh từ việc áp dụng hay hiểu biết về Công ước.

Tuy nhiên, cần phải nói thêm rằng, phần XI của Công ước Luật biển 1982 liên quan đến quy chế pháp lý đối với đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm ngoài giới hạn quyền tài phán quốc gia (Công ước gọi chung là “Vùng”), đặc biệt là việc khai thác các quặng nằm sâu dưới đáy đại dương, đã làm dấy lên nhiều lo ngại từ các nước công nghiệp phát triển, đặc biệt là Mỹ. Để đạt được sự tham gia rộng rãi hơn của các nước đối với Công ước, Tổng thư ký LHQ đã chủ động tiến hành một loạt các cuộc tham vấn không chính thức giữa các quốc gia để giải quyết các lo ngại này. Sự tham vấn đã kết thúc bằng việc các nước đạt được thoả thuận vào tháng 7/1994, gọi là “ Thoả thuận liên quan đến việc thực hiện phần XI của Công ước Luật biển 1982”. Thoả thuận này được coi là một bộ phận của Công ước và đã mở đường cho tất cả các nước tham gia ký hoặc phê chuẩn để trở thành thành viên của Công ước.

Sau khi Công ước Luật biển 1982 được thông qua ngày 30/4/1982, Việt Nam là một trong 107 quốc gia tham gia ký Công ước tại Montego Bay. Ngày 23/6/1994, Quốc hội nước ta đã ra Nghị quyết  về việc phê chuẩn văn kiện pháp lý quan trọng này. Điểm 1 trong Nghị quyết nêu rõ: “ Bằng việc phê chuẩn Công ước của LHQ về Luật biển 1982, nước CH XHCN Việt Nam biểu thị quyết tâm cùng cộng đồng quốc tế xây dựng một trật tự pháp lý công bằng, khuyến khích sự phát triển và hợp tác trên biển”. Quốc hội khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với các vùng nội thủy, lãnh hải. Quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng ĐQKT và thềm lục địa Việt Nam trên cơ sở các quy định của Công ước và các nguyên tắc của pháp luật quốc tế, yêu cầu các nước khác tôn trọng các quyền nói trên của Việt Nam. Quốc hội một lần nữa khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đồng thời cũng tuyên bố rõ lập trường của Nhà nước ta là giải quyết hòa bình các bất đồng liên quan đến Biển Ðông trên tinh thần bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng pháp luật quốc tế, đặc biệt là Công ước Luật Biển năm 1982, tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của các nước ven biển Ðông đối với vùng ĐQKT và thềm lục địa; Trong khi nỗ lực thúc đẩy đàm phán để tìm giải pháp cơ bản lâu dài, các bên liên quan cần duy trì hòa bình, ổn định trên cơ sở giữ nguyên hiện trạng, không có hành động làm phức tạp thêm tình hình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực.

Tham gia Công ước Luật biển 1982, Việt Nam, quốc gia ven biển, được thừa nhận có vùng lãnh hải rộng 12 hải lý, vùng ĐQKT rộng 200 hải lý, thềm lục địa rộng ít nhất 200 hải lý và có thể mở rộng tới 350 hải lý tính từ đường cơ sở. Diện tích các vùng biển và thềm lục địa mà nước ta được hưởng theo quy định của Công ước, khoảng gần một triệu Km2, rộng gấp ba lần diện tích lãnh thổ đất liền.

 Công ước Luật biển 1982 đã trở thành cơ sở pháp lý quốc tế vững chắc, quan trọng, được thừa nhận và luôn được viện dẫn trong cuộc đấu tranh cam go, phức tạp để bảo vệ các vùng biển và thềm lục địa và các quyền và lợi ích chính đáng của nước ta trên biển. Trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, bên cạnh những những chứng cứ lịch sử, pháp lý chứng minh chủ quyền của Việt Nam đã được xác lập liên tục, hoà bình từ lâu đời đối với hai quần đảo, Công ước là công cụ pháp lý để phản bác những yêu sách phi lý, ngang ngược của Trung Quốc đối với cái gọi là “đường lưỡi bò” chiếm đến 80% diện tích Biển Đông, vốn là vùng biển nửa kín được bao bọc bởi 9 quốc gia, trong đó có Việt Nam.

Công ước Luật biển 1982 cũng là cơ sở pháp lý chung cho việc phân định vùng biển và thềm lục địa chồng lấn giữa nước ta với các nước xung quanh Biển Đông như Cămpuchia, Thái lan, Trung Quốc, Indonesia, Malaysia…góp phần tạo dựng sự hiểu biết, tin cậy lẫn nhau, tạo môi trường ổn định, hoà bình, hợp tác và phát triển trong Biển Đông.

Sau 30 năm kể từ khi ra đời, không thể phủ nhận tầm quan trọng và vị trí pháp lý của Công ước Luật biển 1982 trong đời sống luật pháp quốc tế. Tại Hội nghị lần thứ 22 các quốc gia thành viên của Công ước, tổ chức tại NewYork  tháng 6/2012, một lần nữa Công ước được khẳng định là thành tựu của nhân loại bởi những quy định của nó là kết quả của sự hợp tác - đấu tranh - xây dựng nhiều năm giữa các quốc gia trên thế giới với các chế độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế, quan điểm luật pháp… khác nhau; là sự thoả hiệp giữa các quốc gia vì một nhận thức chung đối với tầm quan trọng sống còn của biển và đại dương đối với sự phát triển của nhân loại.Khi trở thành thành viên của Công ước, các quốc gia có trách nhiệm tuân thủ đầy đủ các quy định trong Công ước, không có ngoại lệ, và không có bảo lưu. Do đó, không thể có quốc gia nào, khi tham gia sân chơi luật pháp chung này, lại chỉ viện dẫn và áp dụng những quy định trong Công ước có lợi cho quốc gia mình, hoặc không tuân thủ, thậm chí phủ nhận, những quy định không có lợi cho quốc gia mình./.

MINH TRUNG

 

Bài viết của NCS. Vũ Hải Đăng và TS. Nguyễn Chu Hồi đánh giá về việc xây dựng thể chế liên quan đến những cơ chế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường biển tại Biển Đông. Phân tích cho thấy kết quả khá thất vọng trong quá trình xây dựng thể chế bảo vệ môi trường biển tại Biển Đông và khu vực vẫn còn một quãng đường dài trong vấn đề này. 

 

Xin chân thành cảm ơn sự đóng góp của các Giáo sư David VanderZwaag và Aldo Chircop của trường Đại học Dalhousie giúp hoàn thành bài viết[1].

Thể chế quốc tế (international regime) thường được định nghĩa là “một tập hợp những nguyên tắc, tiêu chuẩn, điều khoản và thủ tục ra quyết định, công khai hoặc không công khai, liên quan đến một lĩnh vực của quan hệ quốc tế mà thông qua chúng ý chí các chủ thể tham gia quan hệ có thể đồng nhất”.[2] Thể chế được hiểu như một thỏa thuận (arrangement) nhưng không phải là dạng thỏa thuận mang tính tạm thời có thể dễ dàng bị thay đổi mỗi khi có biến chuyển về lợi ích hay cân bằng quyền lực giữa các chủ thể.[3] Chức năng quan trọng nhất của thể chế quốc tế là tạo điều kiện phát triển quan hệ hợp tác có lợi giữa các chính phủ và ngăn chặn tình trạng chiến tranh hoặc tình trạng vô tổ chức (anarchy) trong quan hệ quốc tế.[4]

Mỗi thể chế có ba yếu tố cấu thành cơ bản. Thứ nhất và trước hết là yếu tố nội dung, bao gồm một tập hợp những quy định liên quan đến quyền và nghĩa vụ mà các chủ thể tham gia phải tuân theo. Thứ hai là yếu tố thủ tục, bao gồm những quy định liên quan đến việc ra quyết định tập thể như bỏ phiếu, giải quyết tranh chấp. Cuối cùng là một hệ thống chế tài nhằm đảm bảo các chủ thể tham gia sẽ tôn trọng các quy định và các quyết định đưa ra theo đúng thủ tục của thế chế.[5]

Thể chế quốc tế hết sức đa dạng về lĩnh vực áp dụng, phạm vi lãnh thổ có hiệu lực và thành phần tham gia.  Trong bài này, các tác giả sẽ tập trung phân tích vào việc xây dựng thể chế (hay còn gọi là hình thành thể chế) liên quan tới lĩnh vực bảo vệ môi trường biển tại khu vực Biển Đông (hay còn gọi là Biển Nam Trung Hoa: South China Sea). “Biển Đông”  ở đây  được hiểu là vùng biển nửa kín nằm trong khu vực Thái Bình Dương, trải dài từ Xinh-ga-po đến Vịnh Đài Loan. Vùng biển này có diện tích vào khoảng bốn triệu km2,   và đươc bao quanh bởi 10 nước và vùng lãnh thổ bao quanh: Trung Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), Phi-lip-pin, Ma-lai-xi-a, Bru-nây, In-đô-nê-xi-a, Xing-ga-po, Thái Lan, Cam-pu-chia và Việt Nam.[6]

Qua phân tích liệu những cơ chế, thỏa thuận quan trọng nhất đang tồn tại có liên quan, bài viết sẽ xác định xem việc bảo vệ môi trường biển tại Biển Đông đã hình thành một thể chế hay chưa. Những cơ chế, thỏa thuận  sẽ được phân tích gồm Hội thảo về Quản lý xung đột tiềm tàng trên Biển Đông của In-đô-nê-xia, Tuyên bố về Cách ứng xử của các Bên trên Biển Đông và Dự án “Ngăn chặn xu hướng xuống cấp của môi trường tại Biển Đông và Vịnh Thái Lan”. Ngoài ra, các tác giả cũng sẽ nghiên cứu việc xây dựng thể chế trong hai cơ chế thuộc khu vực các vùng biển Đông Á[7] là Cơ quan Điều phối biển Đông Á và Tổ chức đối tác quản lý môi trường biển Đông Á.

Đọc toàn bộ bài viết tại đây

 Vũ Hải Đăng, Nghiên cứu sinh Tiến sỹ, Đại học Dalhousie

Tiến sỹ Nguyễn Chu Hồi, Phó Tổng Cục trưởng, Tổng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam.



[1] Bài viết thể hiện quan điểm cá nhân của các tác giả.

[2] Stephen D. Krasner (ed.), International Regimes (Ithaca: Cornell University Press, 1983) tr. 1.

[3] Như trên.

[4] Mark Valencia, A Maritime Regime for North-East Asia (New York: Oxford University Press, 1996) tr.17.

[5] Oran Young, “International Regimes: Problems of Concept Formation” (1980) 32 World Politics 331 tr. 332.

[6] Lan Anh Thi Nguyen, “The South China Sea Dispute: A Reappraisal in the Light of International Law” (PhD Thesis, University of Bristol, School of Law, 2005) [unpublished] tr.25.

[7] Bao gồm các vùng biển An-đa-man, Ôt-xtrây-li-a, Eo Ma-la-ca, Eo Sing-ga-po, Biển Đông, Gia-va, Phlo-rét, Ban-đa, A-ra-phu-ra, Ti-mo, Xe-le-bét, Su-lu và Phi-lip-pin.

 

Bài viết của Nguyễn Đăng Thắng*, Nghiên cứu sinh luật tại Anh, phân tích những cơ chế giải quyết tranh chấp trong Công ước luật biển, mối quan tâm chính trong tranh chấp tại Biển Đông của Phi-lip-pin, từ đó đưa ra những đánh giá triển vọng về việc nước này kiện (nếu có) Trung Quốc, những suy ngẫm và có thể là bài học để Việt Nam tham khảo và xem xét.

 

Tháng 7 vừa qua Ngoại trưởng Phi-líp-pin Albert del Rosario đã có một số tuyên bố về khả năng giải quyết tranh chấp với Trung Quốc liên quan đến quần đảo Trường Sa ở Biển Đông bằng các cơ quan tài phán quốc tế. Trước hết đó là đề nghị về việc Phi-líp-pin và Trung Quốc cùng đưa tranh chấp giữa hai nước ra giải quyết trước Tòa án quốc tế về luật biển. Sau khi phía Trung Quốc từ chối, khăng khăng giải quyết vấn đề song phương, Ngoại trưởng Phi-líp-pin lại mạnh bạo khẳng định rằng họ sẽ sử dụng các quy định của Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 (Công ước Luật biển) cho phép họ có thể đơn phương kiện Trung Quốc.[1] Ngoại trưởng Phi-líp-pin tuyên bố rằng Phi-líp-pin muốn sử dụng cơ chế trọng tài quy định trong Công ước Luật biển để “xác định rõ vùng biển nào có tranh chấp và vùng biển nào không”.

Cứ tạm coi rằng Phi-líp-pin và Trung Quốc có yêu sách chính đáng ở Trường Sa, việc phân tích xem làm sao Phi-líp-pin có thể kiện Trung Quốc để bảo vệ quyền lợi của mình sẽ là một vấn đề thú vị và có thể là bài học cho Việt Nam khi Việt Nam cũng gặp phải những sự việc mà như Người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Việt Nam miêu tả là “Trung Quốc đang cố tình làm dư luận hiểu nhầm khu vực không có tranh chấp thành khu vực tranh chấp”.[2] Để hiểu được Phi-líp-pin làm thế nào để kiện Trung Quốc, trước hết cần phải trả lời câu hỏi: Phi-líp-pin định kiện về điều gì? Khi Phi-líp-pin vẫn chưa “bật mí” cụ thể về vấn đề này nhưng lại tỏ ra khá tự tin về sự thành công trong nỗ lực của mình, câu trả lời có lẽ có thể tìm bằng cách xem xét mối quan tâm của Phi-líp-pin hiện nay ở Biển Đông, đối chiếu nó với cơ chế giải quyết tranh chấp trong Công ước Luật biển và đánh giá triển vọng giải quyết vấn đề.

Sự kiện Bãi Cỏ Rong – mối quan tâm đặc biệt gần đây của Phi-líp-pin

Tuyên bố liên quan đến việc sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp trong Công ước Luật Biển của Ngoại trưởng Phi-líp-pin dường như hướng đến những căng thẳng gần đây giữa Phi-líp-pin và Trung Quốc xuất phát từ tranh chấp ở quần đảo Trường Sa (mà Phi-líp-pin còn gọi là Kalayaan hay KIG) bắt đầu bằng sự kiện Bãi Cỏ Rong. Đây là vụ việc vào đầu tháng ba khi hai tàu tuần tra của Trung Quốc xua đuổi tàu thăm dò của Anh do Phi-líp-pin thuê để khảo sát khu vực Bãi Cỏ.[3] Phi-líp-pin ngay lập tức có phản ứng mạnh mẽ trên thực địa bằng cách phái hai máy bay ra nơi xảy ra sự việc đồng thời cử hai tàu hải quân hộ tống tàu khảo sát trong suốt thời gian còn lại của chuyến khảo sát. Trên phương diện ngoại giao, Phi-líp-pin cũng gửi công hàm phản đối và cử đại diện sang Bắc Kinh để “bàn về vấn đề”.

Cũng được coi là hệ quả của sự kiện Bãi Cỏ Rong đó là việc đầu tháng 4, Phi-líp-pin tiếp tục phản đối Trung Quốc tại Liên hợp quốc liên quan đến bản đồ vẽ đường chín đoạn của Trung Quốc mà Phi-líp-pin cho rằng thể hiện các vùng nước liên quan cũng như đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của quần đảo Trường Sa. Trong gửi công hàm đến Tổng thư ký Liên hợp quốc, Phi-líp-pin khẳng định rằng đường chín đoạn do Trung Quốc vẽ không có bất kỳ cơ sở nào theo luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Luật biển.[4] Đáp lại, Phái đoàn Trung Quốc cũng gửi Công hàm đến Tổng thư ký Liên hợp quốc, khẳng định chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Trường Sa và đặc biệt nhấn mạnh ‘quần đảo Trường Sa hoàn toàn có lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa’ theo quy định của Công ước Luật biển cũng như các văn bản pháp luật trong nước của Trung Quốc.[5]

Tiếp đó, tại Hội nghị các quốc gia thành viên Công ước Luật biển lần thứ 21 diễn ra tại New York tháng 6 vừa qua, Tổng thư ký Ủy ban các Vấn đề Biển và Đại đương của Phi-lí-pin nêu rõ những sự kiện gần đây ở Bãi Cỏ Rong dường như đã mở rộng khái niệm khu vực tranh chấp ở Biển Đông để gộp cả “những vùng biển và thềm lục địa rõ ràng chỉ thuộc chủ quyền và/hay quyền tài phán của Phi-líp-pin”.[6] Đối chiếu phát biểu này với tuyên bố của Ngoại trưởng Phi-líp-pin về việc sử dụng Tòa trọng tài để làm rõ giữa khu vực tranh chấp và khu vực không tranh chấp thì dường Phi-líp-pin có ý định để sử dụng Tòa trọng tài để khẳng định Bãi Cỏ Rong là nằm trên thềm lục địa của Phi-líp-pin, tách biệt với vùng biển liên quan đến quần đảo Trường Sa đang tranh chấp. Điều này là cần thiết khi Bãi Cỏ Rong giờ đã trở thành một vấn đề đặc biệt quan tâm của Phi-líp-pin do dự đoán khu vực này có tiềm năng lớn về dầu khí. Tổng thống Phi-líp-pin gần đây tuyên bố sẽ làm mọi cách để bảo vệ khu vực này[7] và Phi-líp-pin thực sự đang nỗ lực mua sắm trang thiết bị để tăng cường tiềm lực quân sự của mình. Tuy nhiên, thực tế là năng lực quân sự của Phi-líp-pin vẫn được coi là thuộc loại yếu kém nhất trong khu vực và không thể so sánh với Trung Quốc – quốc gia có tiềm lực quốc phòng vượt trội trong khu vực. Hơn nữa, trong bối cảnh hiện nay, việc sử dụng đến vũ lực chỉ là phương tiện cuối cùng và các biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp luôn là ưu tiên hàng đầu. Chính vì thế, việc sử dụng Tòa trọng tài quy định trong Công ước Luật biển của Phi-líp-pin để giải quyết bất đồng với Trung Quốc là một cách làm khôn ngoan. Vấn đề đặt ra đó là thực sự Phi-líp-pin có khả năng làm điều này hay không và để trả lời câu hỏi này, cần hiểu qua cơ chế và thủ tục giải quyết tranh chấp trong Công ước Luật biển, đặc biệt là về Tòa trọng tài.

Vài nét về cơ chế giải quyết tranh chấp trong Công ước Luật biển và khả năng áp dụng trong tranh chấp giữa Phi-líp-pin và Trung Quốc ở Biển Đông

Cơ chế giải quyết tranh chấp trong Công ước Luật biển được coi là một trong những cơ chế giải quyết tranh chấp tiến bộ nhất và là hình mẫu về cơ chế giải quyết tranh chấp trong các lĩnh vực chuyên ngành của luật pháp quốc tế. Trước khi xem xét thêm về cơ chế giải quyết tranh chấp trong Công ước Luật biển, một điều dường như là hiển nhiên nhưng cần phải nhấn mạnh đó là về nguyên tắc, đối tượng tranh chấp mà cơ chế giải quyết tranh chấp trong Công ước Luật biển áp dụng phải liên quan đến việc giải thích và áp dụng Công ước.

Cơ chế giải quyết tranh chấp trong Công ước Luật biển được quy định tại Phần XV và được cụ thể hóa bằng một số phụ lục. Phần XV trong Công ước có ba (03) mục, trong đó hai mục đầu quy định về trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp và mục thứ ba quy định về một số ngoại lệ cho việc áp dụng thủ tục giải quyết tranh chấp bắt buộc.

Mục 1 của Phần XV chứa đựng một số quy định chung về việc giải quyết tranh chấp, trong đó đáng chú ý nhất đó là nghĩa vụ các bên tranh chấp phải “trao đổi ý kiến” về cách thức giải quyết tranh chấp (Điều 283). Khi các bên tranh chấp áp dụng các quy định trong Mục 1 mà tranh chấp không được giải quyết thì một bất kỳ một bên tranh chấp nào cũng có thể đơn phương sử dụng thủ tục phù hợp trù định tại Mục 2 để tìm kiếm một phán quyết có giá trị ràng buộc đối với bên kia về tranh chấp (Điều 286). Nói cách khác, Công ước quy định tại Mục 2 Phần XV một thủ tục giải quyết tranh chấp bắt buộc (với bên kia) và thủ tục này sẽ đưa đến một phán quyết có giá trị ràng buộc và tối hậu đối với cả hai bên tranh chấp (Điều 296). Nhờ có quy định của Mục 2 này mà phần lớn các tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng Công ước đều sẽ được giải quyết. Đây chính là điểm tiến bộ và được đánh giá cao của Công ước Luật biển.

Có bốn thủ tục giải quyết tranh chấp bắt buộc (các cơ quan tài phán quốc tế) được trù định tại Điều 287, Mục 2 Phần XI của Công ước, đó là: (i) Tòa án quốc tế về Luật biển thành lập theo Phụ lục VI; (ii) Tòa án công lý quốc tế (cơ quan tư pháp chủ yếu của Liên hợp quốc); (iii) một tòa trọng tài quốc tế thành lập theo Phụ lục VII (thường gọi là Trọng tài Phụ lục VII) và (iv) một tòa trọng tài đặc biệt thành lập theo Phụ lục VIII để giải quyết một số loại tranh chấp cụ thể mang tính kỹ thuật. Để các quốc gia vẫn có sự độc lập tương đối trong việc lựa chọn các thủ tục giải quyết tranh chấp, theo quy định của Công ước nếu hai quốc gia thành viên bằng tuyên bố của mình lựa chọn cùng một thủ tục trong bốn thủ tục trên thì thủ tục đó sẽ được áp dụng để giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa hai quốc gia này. Tuy nhiên, trong trường hợp hai quốc gia tranh chấp lựa chọn thủ tục giải quyết tranh chấp khác nhau hay trong trường hợp một hoặc cả hai bên tranh chấp không đưa ra tuyên bố lựa chọn thủ tục giải quyết tranh chấp, thì thủ tục Trọng tài Phụ lục VII sẽ được áp dụng như là thủ tục “mặc định” được áp dụng cho tranh chấp giữa hai quốc gia (khoản 3 Điều 287). Do cả Phi-líp-pin và Trung Quốc đều không đưa ra tuyên bố về việc lựa chọn thủ tục nào trong bốn thủ tục nêu trên, Trọng tài Phụ lục VII sẽ là thủ tục được áp dụng để giải quyết tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng Công ước giữa hai quốc gia này.

Tuy nhiên, không phải tất cả các tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng Công ước đều có thể giải quyết bằng thủ tục giải quyết tranh chấp bắt buộc tại Mục 2. Mục 3 Phần XV của Công ước Luật biển đưa một số các ngoại lệ, hạn chế thẩm quyền của các cơ quan tài phán quy định tại Điều 287, hay cụ thể ở đây là Trọng tài Phụ lục VII. Đáng chú ý trong quan hệ tranh chấp giữa Phi-líp-pin và Trung Quốc ở Biển Đông đó là các ngoại lệ liệt kê tại Điều 298, cụ thể là việc loại các tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng các điều 15, 74 và 83 về phân định ranh giới biển ra khỏi phạm vi các đối tượng tranh chấp mà Trọng tài Phụ lục VII có thể thụ lý. Các ngoại lệ theo Điều 298 gọi là ngoại lệ “tùy chọn” do các quốc gia được quyền “chọn” xem có gạt các tranh chấp liệt kê tại Điều này ra khỏi thẩm quyền của các cơ quan tài phán nêu tại Điều 287 hay không. Quyết định của quốc gia thành viên về vấn đề này sẽ được thể hiện bằng một tuyên bố vào lúc ký, phê chuẩn, gia nhập hay bất kỳ lúc nào khác (tất nhiên là trước khi có tranh chấp xảy ra). Năm 2006, Trung Quốc đã ra tuyên bố coi tất cả các loại tranh chấp liệt kê trong Điều 298 là ngoại lệ, bao gồm cả tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng các điều 15, 74 và 83 về phân định ranh giới biển. Như vậy, để bảo đảm Tòa trọng tài Phụ lục VII sẽ thụ lý yêu cầu của mình, Phi-líp-pin cần “thể hiện” tranh chấp với Trung Quốc dưới dạng một tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng Công ước nhưng lại không được nằm trong các ngoại lệ mà mà Trung Quốc đã tuyên bố năm 2006.

Tranh chấp nào cho Trọng tài Phụ lục VII và triển vọng?

Như đã trình bày ở trên, dường như mối quan tâm lớn nhất hiện nay của Phi-líp-pin là tách Bãi Cỏ Rong, mà Phi-líp-pin cho là nằm trong phạm vi thềm lục địa của mình, khỏi phạm vi vùng biển thuộc Trường Sa. Để xem Phi-líp-pin có thể vận dụng điều khoản nào trong Công ước, trước hết cần xem đặc điểm của Bãi Cỏ Rong.

Bãi Cỏ Rong là một bãi chìm vĩnh viễn[8] nằm cách Palawan khoảng 80 hải lý, cách đảo Hải Nam gần 500 hải lý[9] và cách gần điểm nhất của quần đảo Trường Sa khoảng 35-40 hải lý.[10] Do là một bãi chìm vĩnh viễn và với khoảng cách như vậy, Bãi Cỏ Rong không thể là đối tượng chiếm hữu riêng biệt để trở thành lãnh thổ quốc gia mà chỉ có thể có quy chế thềm lục địa của một quốc gia theo Công ước Luật biển. Phạm vi thềm lục địa theo Công ước Luật biển tối thiểu là 200 hải lý và có thể có kéo dài hơn đến rìa ngoài của thềm lục địa nếu rìa ngoài này vượt quá 200 hải lý.[11] Tuy nhiên, với khoảng cách địa lý như trên và với thực tế địa mạo ở Biển Đông, bãi Cỏ Rong sẽ khó có thể nằm trên thềm lục địa kéo dài từ đảo Hải Nam của Trung Quốc. Mọi yêu sách của Trung Quốc đối với Bãi Cỏ Rong do vậy chỉ có thể bắt nguồn từ yêu sách của Trung Quốc đối với quần đảo Trường Sa. Thực tế, Trung Quốc cũng đã tuyên bố quan điểm của mình cho rằng Trường Sa có thềm lục địa khi tranh cãi với Phi-líp-pin về đường chín đoạn tại Liên hợp quốc như đã nói bên trên.

Mặt khác, do khoảng cách từ Bãi Cỏ Rong đến Palawan ít hơn 200 hải lý nên Bãi Cỏ Rong có thể sẽ là một phần thềm lục địa của Phi-líp-pin nếu như Trường Sa không có thềm lục địa. Như vậy, cách tốt nhất để Phi-líp-pin bác bỏ yêu sách của Trung Quốc đối với Bãi Cỏ Rong chính là bác bỏ lập luận của Trung Quốc cho rằng Trường Sa có thềm lục địa.

Vấn đề Trường Sa có thềm lục địa hay không phụ thuộc vào việc giải thích Điều 121 về Quy chế đảo. Điều 121 quy định một vùng đất nổi tự nhiên nhưng không thể cho người đến ở hoặc không có đời sống kinh tế riêng thì sẽ bị coi là “đá” không có thềm lục địa (khoản 3). Các vùng đất nổi tự nhiên không phải là “đá” sẽ là “đảo” và sẽ có thềm lục địa riêng của mình (khoản 2). Như vậy, với việc Trung Quốc đã công khai quan điểm của mình là Trường Sa có thềm lục địa – tức là có “đảo” ở đó, Phi-líp-pin hoàn toàn có thể “tạo” một tranh chấp với Trung Quốc bằng một tuyên bố ngược lại, cho rằng Trường Sa chỉ toàn “đá”. Giữa Phi-líp-pin và Trung Quốc như vậy sẽ nảy sinh một tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng Điều 121 với Trường Sa và Phi-líp-pin có thể đơn phương yêu cầu thành lập Tòa trọng tài Phụ lục VII để giải quyết tranh chấp với Trung Quốc. Do tranh chấp về Điều 121 không nằm trong các ngoại lệ tại Mục 3, Tòa trọng tài Phụ lục VII hoàn toàn có thẩm quyền để thụ lý vụ việc do Phi-líp-pin đưa ra và sẽ ra phán quyết có giá trị ràng buộc với Phi-líp-pin và Trung Quốc về vấn đề điều Điều 121 được giải thích và áp dụng ở Trường Sa như thế nào. Nếu Tòa trọng tài đồng ý với Phi-líp-pin cho rằng ở Trường Sa không có “đảo” mà chỉ có “đá” thì phán quyết của Tòa sẽ xóa bỏ mọi yêu sách của Trung Quốc về thềm lục địa ở Trường Sa. Nói cách khác, Tòa trọng tài sẽ “gián tiếp” khẳng định Bãi Cỏ Rong thuộc thềm lục địa của Phi-líp-pin. Có lẽ, đây chính là điều Ngoại trưởng Phi-líp-pin ngụ ý khi tuyên bố yêu cầu Tòa trọng tài xác định đâu là khu vực tranh chấp và đâu là khu vực không tranh chấp.

Tuy nhiên, việc đưa tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng Điều 121 đối với Trường Sa cũng không phải là không có rủi ro. Định nghĩa về “đá” theo tiêu chuẩn “cho phép con người đến ở” hoặc “có đời sống kinh tế riêng” tại Điều 121 vốn nổi tiếng là “khó hiểu” và có nhiều cách giải thích khác nhau. Thực tế, trong khi chưa có một án lệ nào về việc giải thích và áp dụng Điều 121 thì các thẩm phán Tòa án quốc tế về luật biển trong các ý kiến riêng của mình đã áp dụng điều khoản này một cách khác nhau đối với cùng một cấu trúc địa lý.[12] Ngay đối với quần đảo Trường Sa, các học giả cũng có quan điểm khác nhau về vấn đề này. Trong trường hợp Phi-líp-pin không thành công trong việc chứng minh rằng ở Trường Sa không có “đảo” mà chỉ có “đá” thì phán quyết ràng buộc của Tòa trọng tài về việc “đảo” ở Trường Sa có thềm lục địa riêng cũng có nghĩa là sẽ có thể có vùng thềm lục địa chồng lần tạo bởi một bên là Trường Sa và một bên là bờ biển Phi-líp-pin và vùng chồng lấn này sẽ bao trùm lên Bãi Cỏ Rong. Trong trường hợp này, để khẳng định dứt khoát Bãi Cỏ Rong là thuộc về mình (Phi-líp-pin), Phi-líp-pin sẽ lại phải yêu cầu tòa phân định vùng chồng lần này. Nhưng để làm việc này thì Tòa trọng tài sẽ phải áp dụng các nguyên tắc phân định biển. Tranh chấp giữa Phi-líp-pin và Trung Quốc lúc này sẽ có liên quan đến việc giải thích và áp dụng các Điều 15, 74 và 83 của Công ước và Tuyên bố của Trung Quốc theo Điều 298 năm 2006 sẽ “phát huy tác dụng”, ngăn cản Tòa trọng tài tiếp tục thụ lý vụ việc. Như vậy sẽ không thể có sự phân định rạch ròi giữa một bên là thềm lục địa của Phi-líp-pin và một bên là thềm lục địa của Trường Sa và Bãi Cỏ Rong sẽ trở thành khu vực tranh chấp, dù là tạm thời.

Một điểm cũng đáng quan tâm đó thái độ của Trung Quốc sẽ như thế nào khi Phi-líp-pin yêu cầu thành lập Tòa trọng tài Phụ lục VII. Ở đây có thể thấy là Phụ lục VII của Công ước quy định khá chặt chẽ và đầy đủ về các vấn đề thủ tục, bảo đảm một Tòa trọng tài chắc chắn sẽ được thành lập nếu một bên tranh chấp có yêu cầu. Cụ thể, Phụ lục quy định rằng trong trường hợp một bên không chỉ định trọng tài hay các bên không đạt được thỏa thuận về trọng tài tham gia Tòa thì Chánh án Tòa án quốc tế về luật biển sẽ là người chỉ định trọng tài viên thay cho các quốc gia (Điều 3 Phụ lục VII). Đặc biệt, ngay cả trong trường hợp một bên tranh chấp thiếu hợp tác, thì theo Điều 9 của Phụ lục VII, Tòa trọng tài vẫn sẽ ra phán quyết ngay cả khi một bên tranh chấp không tham gia tranh tụng. Trước những quy định chặt chẽ như vậy, có lẽ việc bất hợp tác trong quá trình chỉ định trọng tài hay tố tụng sẽ không đem lại lợi ích gì cho bên bị kiện. Vì thế, dường như khả năng nhiều đó là Trung Quốc sẽ khôn ngoan “tỏ thiện chí” bằng cách tham gia vào quá trình thành lập Tòa trọng tài cũng như trong suốt quá trình tố tụng để bảo vệ quan điểm của mình.

Nhìn người lại ngẫm đến ta?

Khi mà Trung Quốc khăng khăng giải quyết tranh chấp song phương và dường như không “lùi bước” trong việc “áp đặt” các yêu sách của mình, việc Phi-líp-pin đơn phương yêu cầu thành lập Tòa trọng tài Phụ lục VII để kiện Trung Quốc, qua đó bảo vệ quyền lợi của mình có lẽ là một những bước đi “táo bạo” nhưng “khôn ngoan”. Khi mà tương quan lực lượng giữa hai nước chênh lệch đáng kể thì việc bên yếu hơn viện dẫn đến luật pháp quốc tế để tìm công lý là điều không tránh khỏi. Phi-líp-pin dường như cũng đã đáp ứng các nghĩa vụ thủ tục trước khi thành lập Tòa trọng tài Phụ lục VII quy định tại Mục 1, cụ thể là “nghĩa vụ trao đổi quan điểm” thông qua việc cử đoàn sang đàm phán với Trung Quốc sau sự kiện Bãi Cỏ Rong cũng như bằng chính việc Ngoại trưởng Phi-líp-pin đề nghị với người đồng nhiệm Trung Quốc về việc sử dụng Tòa án quốc tế về luật biển để giải quyết tranh chấp.

Qua việc phân tích cơ chế giải quyết tranh chấp trong Công ước Luật biển cũng như bối cảnh tranh chấp ở Biển Đông, có thể thấy đối tượng tranh chấp phù hợp nhất mà Phi-líp-pin có thể mang ra trước Tòa trọng tài Phụ lục VII chính là tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng Điều 121 về Quy chế đảo đối với Trường Sa. Một phán quyết ràng buộc của Tòa trọng tài về việc ở Trường Sa không có đảo và do đó không có thềm lục địa sẽ giải quyết được mối quan tâm hiện nay của Phi-líp-pin đối với Bãi Cỏ Rong hay những bãi ngầm mà Phi-líp-pin cho rằng nằm trong phạm vi thềm lục địa của họ.

Tuy nhiên, việc Phi-líp-pin sử dụng Tòa trọng tài Phụ lục VII để giải thích và áp dụng Điều 121 đối với Trường Sa không phải là không có rủi ro khi mà chưa có một án lệ nào về điều khoản này cũng như quan điểm của các luật gia còn khác nhau. Dù gì đi chăng nữa, hiện nay Trung Quốc vẫn đang duy trì yêu sách là các đảo ở Trường Sa có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Một phán quyết của Tòa trọng tài bất lợi cho Phi-líp-pin, cho rằng ở Trường Sa có một hoặc một số “đảo” vẫn không nhất thiết là điều xấu, ít nhất nó không làm cho tình hình xấu hơn hiện nay. Ngược lại, một câu trả lời cho câu hỏi “Yêu sách của Trung Quốc đúng hay sai?” và qua đó giúp nội bộ Phi-líp-pin hiểu được ở Biển Đông họ có cái gì, chưa có cái gì và thậm chí có thể không có cái gì thực sự là rất cần thiết. Nó sẽ xóa tan sự “mơ hồ” về pháp lý như hiện nay liên quan đến yêu sách của Trung Quốc. Hơn nữa, việc chưa có một án lệ nào về việc giải thích và áp dụng Điều 121 cũng là một cơ hội nếu Phi-líp-pin có sự đầu tư thích đáng cho vấn đề này để xây dựng những lập luận thuyết phục về việc nên giải thích và áp dụng Điều 121 ở Trường Sa như thế nào trước Tòa.

Với Việt Nam, vùng thềm lục địa phía Đông Nam của Việt Nam, nơi cách xa đảo Hải Nam của Trung Quốc, cũng đang bị Trung Quốc yêu sách như đã thấy ở Vụ Vikking II và không loại trừ khả năng Trung Quốc cũng đưa yêu sách đối với khu vực này trên cơ sở yêu sách về thềm lục địa từ Trường Sa. Nếu như vậy, những bước đi và việc sử dụng thủ tục Trọng tài Phụ lục VII của Phi-líp-pin để bảo vệ yêu sách của họ ở Bãi Cỏ Rong là điều đáng để suy ngẫm và có thể là bài học để Việt Nam nghiên cứu áp dụng trong nỗ lực bảo vệ quyền lợi chính đáng đối với vùng thềm lục địa phía Đông Nam của mình.

Phân tích trên cũng cho thấy, nếu Phi-líp-pin quyết tâm kiện Trung Quốc về việc giải thích và áp dụng Điều 121 đối với Trường Sa thì khả năng Tòa trọng tài Phụ lục VII được thành lập là rất cao và sẽ sớm có phán quyết về việc áp dụng Điều 121 thế nào ở Trường Sa. Tuy về nguyên tắc, một phán quyết của cơ quan tài phán quốc tế chỉ có giá trị đối với các bên tranh chấp và như vậy phán quyết của Tòa trọng tài Phụ lục VII do Phi-líp-pin yêu cầu thành lập chỉ ràng buộc Phi-líp-pin và Trung Quốc. Tuy nhiên, là một bên có yêu sách về chủ quyền ở Trường Sa, một phán quyết về việc ở Trường Sa có đảo hay không rõ ràng có liên quan đến lợi ích của Việt Nam. Hơn nữa, ngay cả khi phán quyết của Tòa trọng tài không có giá trị ràng buộc đối với Việt Nam, ý kiến của các trọng tài viên - các luật gia có uy tín trong lĩnh vực luật biển - về việc ở Trường Sa có “đảo” hay chỉ toàn “đá” không thể nói là không có tác động đối với yêu sách về biển và thềm lục địa của các nước ven Biển Đông. Việt Nam sẽ tham gia thế nào trong một tranh chấp giữa Phi-líp-pin và Trung Quốc để bảo vệ lợi ích của mình? Ngoài Việt Nam, Bru-nây và Ma-lai-xi-a cũng có yêu sách đối với Trường Sa. Hai quốc gia này cùng với In-đô-nê-xi-a cũng là các quốc gia đối diện với Trường Sa nên việc vùng biển của họ cũng phụ thuộc vào việc Trường Sa có thềm lục đia hay không. Với lợi ích như vậy, phản ứng của các quốc gia này sẽ như thế nào khi một Tòa trọng tài Phụ lục VII được thành lập? Hơn nữa, do phạm vi yêu sách của Phi-líp-pin không bao trùm toàn bộ Trường Sa, các bên sẽ phải làm gì để phán quyết của Tòa trọng tài bao trùm lên tất cả các vị trí địa lý tranh chấp ở Biển Đông? Đây là những câu hỏi quan trọng, cần nghiên cứu nghiêm túc và có thể là chủ đề thích hợp cho một hoặc nhiều bài một bài viết riêng. Xin hẹn dịp khác!

Nguyễn Đăng Thắng, Nghiên cứu sinh luật tại Anh

 

* Nguyễn Đăng Thắng, Nghiên cứu sinh luật tại Anh; Thành viên không thường trú, Trung tâm Nghiên cứu Biển Đông, Học viện Ngoại giao Việt Nam. Tác giả cám ơn Tiến sỹ Dương Danh Huy, Thạc sỹ Nguyễn Thị Thanh Hà, Phó Giáo sư - Tiến sỹ Nguyễn Hồng Thao và Thạc sỹ Trần Lê Phương đã trao đổi quan điểm với tác giả, cung cấp những thông tin quan trọng cũng như góp ý trực tiếp vào bài viết.

 

[1] “Philippines to seek UN arbitration in South China Sea” Agence France Presse (19 July 2011) <http://globalnation.inquirer.net/6371/philippines-to-seek-un-arbitration-in-spratlys> .

[2]Thông báo tại cuộc họp báo ngày 29/05/2011 của Bộ Ngoại giao về việc tàu Hải giám Trung Quốc đã cắt cáp thăm dò của tàu Bình Minh 02 thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam” http://www.mofa.gov.vn/vi/tt_baochi/tcbc/ns110529201615/view#b1IpAlKkl3wz .

[3] Xem I Storey, 'China and the Philippines: Implications of the Reed Bank Incident' (2011) 11(8) China  Brief 6, 7.

[4] 'Note Verbale No. 000228 dated 05 April 2011 of the Permanent Mission of the Republic of the Philippines to the United Nations', có tại http://www.un.org/depts/los/clcs_new/submissions_files/mysvnm33_09/phl_re_chn_2011.pdf.

[5] 'Note Verbale No. CML/8/2011 dated 14 April 2010 of the Permanent Mission of the People's Republic of China to the United Nations', có tại http://www.un.org/depts/los/clcs_new/submissions_files/vnm37_09/chn_2011_re_phl_e.pdf .

[6] Trích trong Press Release NYPM 30-2011 ngày 22/06/2011 của Phái đoàn thường trực Cộng hòa Phi-líp-pin bên cạnh Liên hợp quốc, có tại http://www.un.int/philippines/news/20110622nypm30.htm .

[7] Xem 'Philippines vows to protect South China Sea assets' Agence France Presse (25 July 2011), có tại http://www.channelnewsasia.com/stories/afp_asiapacific/view/1142928/1/.html .

[8] Xem MJ Valencia, JM Van Dyke and NA Ludwig, Sharing the resources of the South China Sea (Martinus Nijhoff, The Hague, 1997), 232, tập hợp các nguồn khác nhau cho rằng chỗ cao nhất của Bãi Cỏ Rong nằm cách mặt nước biển 9 hoặc 16 mét.

[9] Thông tin theo các báo của Phi-líp-pin.

[10] Tác giả cám ơn Tiến sỹ Dương Danh Huy đã cung cấp thông tin này.

[11] Điều 76 Công ước Luật biển.

[12] Xem Tuyên bố của Thẩm phán Vukas và Phản đối của Thẩm phán Anderson, chú thích 3, về đảo Heard của Úc trong vụ “The ‘Volga’, Russian Federation v Australia, Prompt Release”, ITLOS Case No 11 (ITLOS 2002).

 

Lời bạt cho bài viết: Phi-líp-pin định kiện Trung Quốc về điều gì ở Tòa trọng tài thành lập theo Công ước Luật biển? Và làm sao họ làm được như vậy? của Nguyễn Đăng Thắng, Nghiên cứu sinh luật tại Anh.


Sau khi bài viết này được hoàn thành, tại Diễn đàn về vấn đề Trường Sa do Đại học Ateneo de Manila tổ chức ngày 05/8/2011, Ngoại trưởng Phi-líp-pin Albert del Rosario tuyên bố rằng đường yêu sách 9 đoạn của Trung Quốc chính là “điểm then chốt của vấn đề” và gây khó khăn cho việc tìm kiếm giải pháp cho tranh chấp ở Biển Đông (mà giờ đây Phi-líp-pin gọi là Biển Tây Phi-líp-pin).[1]

Ngoại trưởng Phi-líp-pin cũng đề cập đến việc Phi-líp-pin đề nghị Trung Quốc giải quyết vấn đề tại Tòa án quốc tế về luật biển hoặc các cơ quan tài phán quốc tế khác đồng thời nhấn mạnh rằng: “Phi-líp-pin cho rằng đường 9 đoạn của Trung Quốc đơn giản là bất hợp pháp. Đường đó là tùy tiện và không có bất kỳ cơ sở hay giá trị nào theo luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển”.

 Trong bài phát biểu của mình, Ngoại trưởng Phi-líp-pin cũng cho biết đáp lại những cáo buộc của Phi-líp-pin về việc Trung Quốc vi phạm vùng biển của họ trước Liên hợp quốc, Trung Quốc đã trả lời rằng không xảy ra vi phạm do Trung Quốc có quyền chủ quyền đối với toàn bộ Biển Đông nhờ yêu sách đường 9 đoạn.[2]

Dường như những vi phạm của Trung Quốc mà Phi-líp-pin đề cập bao gồm cả sự kiện Bãi Vành Khăn khi Ngoại trưởng Phi-líp-pin nêu cụ thể rằng vụ vi phạm xảy ra “trong phạm vi 85 hải lý tính từ đảo gần nhất của Phi-líp-pin là Palawan”.  Ông del Rosario cũng cho biết thêm rằng Phi-líp-pin sẽ kêu gọi các nước tham gia vào việc đưa giá trị pháp lý của yêu sách đường 9 đoạn của Trung Quốc ra xem xét theo Công ước Luật biển đồng thời “lưu ý” tất cả các nước cần chuẩn bị cho việc yêu sách của mình được xem xét trước một cơ quan tài phán quốc tế và được công nhận.

Những tuyên bố trên của Ngoại trưởng Phi-líp-pin phần nào làm sáng tỏ thêm về đối tượng tranh chấp mà Phi-líp-pin định đưa ra trước Tòa Trọng tài Phụ lục VII – đó là đường yêu sách 9 đoạn của Trung Quốc. Một sự phản bác theo luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Luật biển, đối với đường yêu sách 9 đoạn bao trùm đến 80% Biển Đông là vô cùng cần thiết và sẽ góp phần vào nỗ lực chung của các nước duy trì ổn định và phát triển Biển Đông. Tạm thời bỏ qua việc thảo luận về tính phi lý của đường 9 đoạn của Trung Quốc, vấn đề đáng quan tâm đó là Tòa trọng tài Phụ lục VII có thể thụ lý một vụ việc liên quan đến đường 9 đoạn hay không. Vấn đề này lại phụ thuộc vào nội dung thực chất của đường 9 đoạn là gì. Ở đây có một điểm khó khăn đó là Trung Quốc vẫn chưa chính thức công khai quan điểm của mình về vấn đề này. Dù theo Ngoại trưởng Phi-líp-pin, Trung Quốc cho rằng đường 9 đoạn đem đến cho Trung Quốc “quyền tài phán” ở Biển Đông thì vẫn có sự không rõ ràng đó là “quyền tài phán” là quyền tài phán loại gì. Cụ thể là, “quyền tài phán” đó là quyền lịch sử của Trung Quốc ở Biển Đông và đường 9 đoạn là đường ranh giới thể hiện quyền lịch sử đó. Hay đường 9 đoạn chỉ thể hiện yêu sách về các vị trí địa lý mà Trung Quốc yêu sách chủ quyền ở Biển Đông và trong các vị trí đó có đảo theo Công ước Luật biển và do đó “quyền tài phán” mà Trung Quốc nói đến là quyền tài phán đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của các đảo đó theo Công ước Luật Biển. Trong trường hợp thứ hai này, vấn đề lại quay lại là trong các vị trí địa lý mà Trung Quốc yêu sách chủ quyền ở Biển Đông – Trường Sa - có đảo theo quy định tại Điều 121 của Công ước Luật biển để từ đó Trung Quốc có thể có yêu sách về thềm lục địa từ các đảo đó hay không. Nếu trong trường hợp này thì như đã thảo luận, Tòa trọng tài Phụ lục VII có khả năng thụ lý vụ việc. Tác giả vẫn tiếp tục cho rằng việc giải thích và áp dụng Điều 121 đối với Trường Sa chính là vấn đề Phi-líp-pin sẽ đưa ra Tòa trọng tài Phụ lục VII. Điều này được củng cố thêm bằng thực tế đó là khi phản đối đường 9 đoạn của Trung Quốc tại Liên hợp quốc tháng 4 vừa qua, Phi-líp-pin cho rằng đường 9 đoạn là thể hiện yêu sách về vùng biển và thềm lục địa của quần đảo Trường Sa.

Mặc khác, trong trường hợp Trung Quốc cho rằng đường 9 đoạn thể hiện “quyền tài phán” có tính chất lịch sử thì khả năng Tòa trọng tài Phụ lục VII có thẩm quyền thụ lý yêu cầu Phi-líp-pin hay không sẽ trở nên ít rõ ràng hơn. Điều này là do tuyên bố của Trung Quốc năm 2006 theo Điều 298 có loại trừ các tranh chấp liên quan đến “vịnh lịch sử và danh nghĩa lịch sử” khỏi thẩm quyền  của các cơ quan tài phán nêu tại Điều 297, Mục 2 Phần XV, cụ thể trong trường hợp này là Trọng tài Phụ lục VII. Câu hỏi đặt ra là ngoại lệ “vịnh lịch sử hay danh nghĩa lịch sử” (historic bay or historic title) có bao gồm cả quyền lịch sử hay không? Có học giả cho rằng câu trả lời là phủ định.[3]

Tuy nhiên, học giả đó không cung cấp các án lệ hay ý kiến của các học giả nổi tiếng để bảo vệ quan điểm của mình. Quan điểm của tác giả là trong các án lệ cũng như các chuyên khảo nghiên cứu về danh nghĩa lịch sử (historic title) và quyền lịch sử (historic right) trong luật quốc tế, phạm trù “danh nghĩ lịch sử” thường được hiểu là bao gồm cả “quyền lịch sử”. Nếu như vậy, một Tòa trọng tài Phụ lục VII sẽ khó có thể có thẩm quyền để thụ lý yêu cầu của Phi-líp-pin về giá trị của đường 9 đoạn như là một đường thể hiện yêu sách “quyền lịch sử” của Trung Quốc ở Biển Đông.

Tuy nhiên, cũng nên nói qua rằng nếu Trung Quốc chính thức khẳng định rằng đường 9 đoạn là yêu sách về “quyền lịch sử” ở Biển Đông không liên quan đến vấn đề chủ quyền đảo thì Công ước Luật biển lại có thêm một cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc mà Phi-líp-pin có thể đơn phương viện dẫn. Cơ chế này là cơ chế hòa giải, được áp dụng với tranh chấp thuộc ngoại lệ nêu tại Điều 298 mà không liên quan đến các tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ. Tuy báo cáo của ủy ban hòa giải không có giá trị bắt buộc như một phán quyết của Tòa trọng tài Phụ lục VII, ý kiến độc lập của một bên thứ ba về sự vô lý của đường 9 đoạn không phải là không có giá trị. Nó sẽ là cơ sở để Phi-líp-pin tiếp tục đàm phán với Trung Quốc về một giải pháp cho tranh chấp giữa họ, đặc biệt là về Bãi Cỏ Rong.

Dù thế nào đi chăng nữa, lời “kêu gọi” của Phi-líp-pin về việc các nước ASEAN tham gia cùng Phi-líp-pin để “thách thức” đường 9 đoạn của Trung Quốc cần được xem xét một cách nghiêm túc. Đã hé mở khả năng các nước ASEAN sẽ cùng tham gia với Phi-líp-pin trong một hoặc nhiều vụ kiện bằng thủ tục Trọng tài Phụ lục VII.

Nguyễn Đăng Thắng

Tác giải xin chân thành cám ơn Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Hồng Thao đã góp ý cho bài viết.

[1]  Office of the President of the Philippines, 'Secretary del Rosario says China’s 9-dash line is “crux of the problem” in WPS, proposes “preventive diplomacy” solutions' An August 5, 2011 press release from the Department of Foreign Affairs (. Lưu ý là tuyên bố của Ngoại trưởng Phi-líp-pin được đưa ra dường như để đáp lại tuyên bố của Ngoại trưởng Trung Quốc tại Diễn đàn an ninh khu vực ARF, trong đó Ngoại trưởng Trung Quốc nói rằng đường 9 đoạn đã có từ năm 1948. Xem Ministry of Foreign Affairs of the People's Republic of China, “Remarks by Foreign Minister Yang Jiechi at the 18th ARF Foreign Ministers' Meeting, 15-23 July 2011, Bali”

[2] So với  Office of the President of the Philippines, 'Continuing dialogue essential on the South China Sea' An March 18, 2011 press release from the Department of Foreign Affairs, trong đó Ngoại trưởng Phi-líp-pin không nói cụ thể nội dung công hàm của Trung Quốc trả lời công hàm phản đối của Phi-líp-pin liên quan đến sự kiện Bãi Cỏ Rong.

[3] Xem R Beckman, 'UNCLOS Dispute Settlement Regime and the South China Sea Disputes' trình bày tại 2011 International Law Association Asia-Pacific Regional Conference, Taipei (Taiwan), May 29 – 1 June 2010 2011. 

 

 

Trả lời phỏng vấn của đài ABC của Úc trong bài "Thỏa thuận chung” về vấn đề Biển Đông, TS. Trần Trường Thủy, GĐ Trung tâm Nghiên cứu Biển Đông, cho biết quan điểm của ông về một số vấn đề nhiều người quan tâm hiện nay như chuyến đi Trung Quốc của Thứ trưởng NG Hồ Xuân Sơn, các thỏa thuận về quản lý Biển Đông như DOC, Bản hướng dẫn thực thi DOC, và mong đợi của Việt Nam tại Hội nghị Bali.

 

 

Phóng viên:  Sau chuyến công du Trung Quốc của Đặc Phái Viên Hồ Xuân Sơn, Việt Nam và Trung Quốc tuyên bố đã đạt được “thỏa thuận chung”. Xin ông cho biết về thỏa thuận đó?

TS. Trần Trường Thủy: Theo tôi hiểu thì chuyến đi của Đặc phái viên Việt Nam sang Trung Quốc với mục đích làm giảm nhẹ căng thẳng trên Biển Đông. Chuyến đi này xảy ra sau chuyến thăm Việt Nam của Phó Trưởng ban Đối Ngoại Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Hai thông điệp chính truyền tải trong chuyến đi của đặc phái viên Việt Nam là nêu quan ngại trước việc Trung Quốc cắt cáp thăm dò của tàu Bình Minh 02 và tàu Viking II trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, đồng thời mong muốn củng cố quan hệ hữu nghị với Trung Quốc. Đây chính là hai vế đi liền nhau trong chính sách của Việt Nam là vừa đấu tranh trên những vấn đề khác biệt nhưng vẫn giữ vững quan hệ ổn định với các bên liên quan, thúc đẩy hợp tác trong những vấn đề có điểm đồng về lợi ích.

          Về “thỏa thuận chung” theo tôi hiểu thì không phải là một thỏa thuận gì mang tính văn bản pháp lý, trong chuyến đi ngắn như thế thì không thể đạt được thỏa thuận gì trong vấn đề phức tạp như Biển Đông. Hai bên chỉ có tuyên bố báo chí chung như đã công khai:  tăng cường quan hệ Việt-Trung;  tích cực thực hiện nhận thức chung của lãnh đạo hai nước trong vấn đề Biển Đông; hướng dẫn dư luận, báo chí; và tích cực đàm phán về các nguyên tắc giải quyết vấn đề trên biển.

          Một số người đặt câu hỏi về “nhận thức chung” của lãnh đạo cấp cao hai nước là gì, có thỏa thuận gì không. Thực ra “nhận thức chung” chỉ mang tính chung chung, được tuyên bố trong nhiều chuyến thăm cấp cao của hai bên. Các ý cơ bản chỉ mang tính nguyên tắc như giải quyết tranh chấp thông qua thương lượng, đàm phán trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước luật biển 1982; gìn giữ tình hình ổn định ở Biển Đông, không áp dụng hành động làm phức tạp hóa hoặc mở rộng thêm tranh chấp; tích cực nghiên cứu và bàn bạc để hợp tác cùng phát triển để đề ra mô hình và khu vực thích hợp, theo hình thức dễ trước khó sau.

          Các thành tố của “nhận thức chung” này thực ra là của Tuyên bố ứng xử các bên tại Biển Đông ký giữa ASEAN và Trung Quốc năm 2002, chỉ khác là mang áp dụng cụ thể thêm cho quan hệ Việt-Trung.  

 

Phóng viên: Tin cho biết Trung Quốc và ASEAN vừa đạt thống nhất về văn bản hướng dẫn thực hiện DOC. Tuy nhiên, một số quốc gia thành viên ASEAN than phiền những biện pháp hướng dẫn này có tính chất mơ hồ và không đầy đủ. Quan điểm của ông về vấn đề này?

 TS. Trần Trường Thủy: Văn bản vừa đạt được giữa Trung Quốc và ASEAN là văn bản hướng dẫn cách thức thực hiện DOC, có thể so sánh là như thông tư hướng dẫn thực hiện sau khi đã ban hành luật. Nội dung văn bản chỉ là các bước hướng dẫn cách thức thực hiện cụ thể các điều khoản của DOC. Lâu đến nay hai bên không nhất trí thông qua văn bản này là do bất đồng về cách thức tiến hành: ASEAN muốn bàn bạc, thống nhất với nhau trước, sau đó mới bàn với Trung Quốc; trong khi Trung Quốc không đồng ý bàn với ASEAN như là một khối. Bất đồng nữa liên quan đến việc ASEAN muốn thực thi đầy đủ các điều khoản của DOC, trong khi Trung Quốc chỉ chú trọng vào các dự án hợp tác.

           Việc hai bên đạt được thống nhất về Văn bản hướng dẫn này chỉ là bước nhỏ trong quản lý tranh chấp Biển Đông. Văn bản chỉ thể hiện là Trung Quốc và ASEAN có thể ngồi đàm phán và đặt được thỏa thuận với nhau. Cả DOC và văn bản hướng dẫn này không đủ hiệu lực để ngăn ngừa các hành vi làm phức tạp, căng thẳng tình hình của các bên.

 

Phóng viên:  Nếu các thỏa thuận sắp đạt được đều có tính chất không ràng buộc (như đã xảy ra với DOC từ năm 2002 tới nay) thì liệu việc ra đời thêm một văn kiện nữa có sẽ giúp giải quyết  tình hình căng thẳng ở Biển Đông hay không?  

TS. Trần Trường Thủy:  Hiện trong khu vực có hai cơ chế trực tiếp liên quan đến quản lý tình hình Biển Đông là Công ước luật biển 1982 và Tuyên bố DOC 2002.

Công ước luật biển 1982 là văn bản quan trọng nhất, phổ quát nhất quy định quyền và nghĩa vụ của các quốc gia liên quan đến biển, trong đó bao gồm các quy định về giải quyết tranh chấp liên quan đến biển. Tuy nhiên, Công ước không giải quyết vấn đề tranh chấp chủ quyền đối với các đảo, đá; mà ngược lại là nhân tố làm tranh chấp mở rộng hơn, do liên quan đến tranh chấp nguồn tài nguyên dầu khí, hải sản ở biển theo vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Ngoài ra Công ước cũng có nhiều điều khoản không rõ ràng nên các bên việc dẫn khác nhau nhằm tối đa hóa lợi ích của mình và biện minh cho hành động. Ví dụ như các điều khoản liên quan đến đảo, đá nào có vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa ; hay quy định về họat động của tàu bè quân sự nước ngoài trong vùng đặc quyền kinh tế.

DOC được ký kết nhằm mục đích quản lý tranh chấp thông qua khuyến khích các bên kiềm chế không làm phức tạp tình hình, tăng cường xây dựng lòng tin và thúc đẩy hợp tác. Tuy nhiên, DOC là văn bản chính trị không có giá trị pháp lý nên không có giá trị ràng buộc và không có chế tài để xử lý vi phạm. Các điều khoản cũng chưa đầy đủ để kiềm chế hành động của các bên và một số điều khoản chưa rõ ràng để quy chiếu.

          Thực tiễn cho thấy hai công cụ cơ bản này không đủ để quản lý hiệu quả các tranh chấp và không đủ hiệu lực để duy trì ổn định ở Biển Đông. Do đó rất cần thiết một văn bản mới có giá trị pháp lý quy định đầy đủ các điều khoản điều chỉnh hành vi của các bên liên quan thì mới có thể giúp quản lý hiệu quả tranh chấp Biển Đông.

 

Phóng viên: Theo ông, Việt Nam trông đợi gì ở cuộc họp Bali. Xin cho biết một số trông đợi cụ thể?

TS. Trần Trường Thủy:  Cá nhân tôi nghĩ là Việt Nam có thể trông đợi từ Bali ở mấy nội dung. Thứ nhất là duy trì việc bàn thảo về vấn đề Biển Đông tại các cuộc họp liên quan nội bộ ASEAN, ASEAN+ Trung Quốc và đặc biệt là tại ARF, càng nhiều tiếng nói quan ngại, nhiều kêu gọi tuân thủ luật pháp quốc tế, thực thi DOC càng có tác dụng trong việc duy trì hòa bình ổn định ở Biển Đông. Có thể Việt Nam cũng trông chờ vào phát biểu của Ngoại trưởng Mỹ về Biển Đông. Thứ hai là củng cố đoàn kết ASEAN, tăng cường đồng thuận trong vấn đề Biển Đông, có các mốc thời gian cụ thể cho các bước đi mới như COC. Trong tuyên bố chung các ngoại trưởng tôi thấy các ngoại trưởng đã đặt các mốc lộ trình cụ thể cho việc bàn thảo COC. Thứ ba là tranh thủ đạt các tiến triển mới trong các trao đổi song phương, với Trung Quốc. Thứ tư là đạt được các bước tiến cụ thể trong đàm phán: như Bản hướng dẫn thực thi DOC là một bước tiến mới./.

Việt Hùng (theo ABC)

 

 

Một ngày sau khi có tin Phi-líp-pin gửi thư lên Liên Hiệp Quốc để phản đối yêu sách đường chín đoạn của Trung Quốc, Bắc Kinh lên tiếng nói điều này “không thể chấp nhận được”. Đáp lại công hàm của Phi-líp-pin, Trung Quốc cũng lập tức gửi công hàm ngoại giao lên Liên Hiệp Quốc khẳng định chủ quyền 'không thể chối cãi' ở Biển Đông. Về nội dung công hàm này, các chuyên gia có khá  nhiều ý kiến bình luận xung quanh cách giải thích, ngôn từ cũng như  ý đồ của Trung Quốc.

 (Phần 1; Phần 2)

 

III. Công hàm của Trung Quốc

NCS. Vũ Hải Đăng

Tiếp tục liên quan đến vấn đề này, Trung Quốc vừa gửi công hàm  trả lời Phi-líp-pin. Sau khi đọc xong, tôi mấy suy nghĩ sơ bộ sau:

1) Tôi thấy khá khó hiểu với lập trường của Trung Quốc về địa vị của Trường Sa. Ở đoạn "kể tội" Phi-líp-pin, họ có nói Phi-líp-pin đã chiếm một vài đảo, đá (some islands and reefs) của Trường Sa. Nhưng sau đó, công hàm lại có đoạn viết là Trường Sa có đầy đủ các vùng lãnh hải, Đặc quyền kinh tế và Thềm lục địa (is fully entitled to Territorial Sea, Exclusive Economic Zone and Continental Shelf). Bãi đá (Reefs) thì làm sao có vùng Đặc quyền kinh tế và Thềm lục địa được?  Phải chăng đây là một cách khẳng định gián tiếp rằng Trung Quốc định áp dụng quy chế quần đảo cho Trường Sa ?

2) Khi tuyên bố các quốc gia ven biển vùng Đặc quyền kinh tế và Thềm lục địa yêu sách không xâm phạm đến chủ quyền lãnh thổ của các nước (coastal states' EEZ and continental shelf claims shall not infringe upon the territorial sovereignty of other states) phải chăng Trung Quốc viện dẫn nguyên tắc không xâm phạm lẫn nhau (no-encroachment principle) ? Điều này làm tôi nhớ tới lý lẽ của Hy Lạp trong vụ Thổ Nhĩ Kỳ - Hy Lạp năm 1978. Chỉ khác là trong vụ này, Hy Lạp viện dẫn rõ ràng điều 121 của Công Ước Luật Biển.

ThS. Nguyễn Thị Thanh Hà

Liên quan đến nội dung công hàm của Trung Quốc phản bác công hàm của Phi-líp-pin, mọi người có nhận thấy là bây giờ đã hình thành rõ 2 trường phái quan điểm: (i) các nước ASEAN cho rằng cách xác định vùng biển liên quan đến quần đảo Trường Sa là phải đưa trên cụ thể các hình thái địa chất (geological features) của quần đảo; (ii) Trung Quốc thì nói rằng toàn bộ quần đảo có lãnh hải, vùng Đặc quyền kinh tế và Thềm lục địa riêng.

Việt Nam chưa nói một cách chính thức quan điểm của mình về cách xác định vùng biển ở quần đảo Trường Sa mặc dù một số học giả Việt Nam đã phản đối việc coi quần đảo Trường Sa giống như một quốc gia quần đảo. Bây giờ chính là lúc Việt Nam phải lên tiếng. Liệu Việt Nam sẽ công khai đứng về bên nào? Điều này sẽ ảnh hưởng đến khả năng hợp tác với ASEAN để giải quyết các vấn đề Biển Đông. Không biết mọi người có nghĩ như vậy không?

NCS. Nguyễn Đăng Thắng

Cám ơn anh Đăng đã chia sẻ thông tin và suy nghĩ về Công hàm của Trung Quốc.

Về câu hỏi thứ nhất của anh Đăng, tôi nghĩ đúng là Trung Quốc coi Trường Sa là có quy chế quần đảo. Thực chất là Trung Quốc đã áp dụng đường cơ sở quần đảo đối với quần đảo Hoàng Sa. Nhưng ngay cả nếu Trung Quốc coi Trung Quốc là quy chế quần đảo cũng có điểm tốt đó là Trung Quốc coi như bỏ yêu sách về vùng nước lịch sử mà giờ đây lại coi đường 9 đoạn  là ranh giới vùng biển/thềm lục địa tính từ các đảo (việc này sẽ là rất có lợi cho ta và có thể thay đổi phần nào cách thức và diễn đàn để đấu tranh).  

Về câu hỏi thứ hai, tôi nghĩ có thể hiểu là theo nguyên tắc “không xâm phạm lẫn nhau” (non-encroachment) cũng được. Tôi chưa đọc vụ Hy Lạp/ Thổ Nhĩ Kỳ nhưng theo tôi hiểu, nguyên tắc này hoàn toàn có thể áp dụng được vì nó chỉ là một phần của học thuyết đất thống trị biển. Trong tranh luận lần trước tôi có nói là Phi-líp-pin áp dụng học thuyết đất thống trị biển không hoàn toàn chính xác và hạn chế theo hướng có lợi cho mình: một đảo nếu đáp ứng 121 thì hoàn toàn có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng (chính vì thế vùng biển ngoài KIG như Phi-líp-pin nói có thể sẽ nằm trong vùng biển tính từ Trường Sa chứ không phải là của quốc gia ven biển khác nếu Trường Sa – đảo lớn thứ hai ở quần đảo này - được coi là đáp ứng 121).

Ngoài ra, cũng như anh Đăng nói là Trung Quốc "kể tội" Phi-líp-pin là đã chiếm đóng các đảo này. Cái này theo cảm giác của tôi là thể hiện việc Trung Quốc hơi bị bất ngờ về công hàm của Phi-líp-pin, cần có câu trả lời sớm trước khi Tổng thống Phi-líp-pin sang Trung Quốc. Chính vì thế đoạn này trong công hàm dường như là không cần thiết. Trung Quốc còn viện dẫn nguyên tắc “các hành vị bất công không tạo nên luật pháp” (ex injurita jus non oritur), một nguyên tắc thường được viện dẫn trong trường hợp xâm chiếm có sử dụng vũ lực. Hình như TQ quên mất sự kiến năm 1988? 

Điểm cuối cùng bên trên đưa đến câu hỏi cuối cùng và cực kỳ quan trọng mà chị Hà nêu ra đó là lập trường của Việt Nam thế nào? Có nhiều quan điểm của học giả cho rằng việc Việt Nam đệ trình ranh giới ngoài tính từ bờ biển, bỏ qua các đảo là sự thừa nhận các đảo ở Trường Sa không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng. Cá nhân tôi thì cho rằng theo nguyên tắc không được giải thích hạn chế chủ quyền (limitation on sovereignty cannot be presumed) thì việc Việt Nam và Malaixia đệ trình từ bờ biển không nhất thiết có nghĩa là Việt Nam và Malaixia cho rằng các đảo trong quần đảo Trường Sa không đáp ứng 121.

Cuối cùng, có một điểm nữa đó là cả công hàm tiếng Anh của cả Phi-líp-pin và Trung Quốc đều sử dụng các thuật ngữ tiếng la-tinh và tiếng Pháp. Mọi người có bình luận gì không?

NCS. Trần Văn Thùy

Về bài viết của anh Thao, nó thực sự sẽ rất hữu ích nếu như anh làm sáng tỏ hơn trong kết luận của anh  đoạn: “Nó cũng thể hiện tình đoàn kết giữa các nước ASEAN hình thành một lập trường chung: Mọi tranh chấp tại Biển Đông đều cần phải giải quyết trên cơ sở Công ước Luật biển 1982 của Liên hợp quốc." Khi đọc đến điểm này, băn khoăn của tôi là UNCLOS có thể đáp ứng việc giải quyết tất cả các tranh chấp ở Biển Đông đến đâu và đến mức độ nào, nhất là vấn đề về chủ quyền.

Về phát biểu của Phái đoàn Thường trực của Trung Quốc, như anh Thắng đã đề cập, tôi nghĩ đây có thể là thời điểm để Việt Nam triệt để khai thác lập luận của Trung Quốc thể hiên trong công hàm của họ, đặc biệt là học thuyết pháp lý “ex injuria jus non oritur” để củng cố và tăng cường yêu sách lâu dài của Việt Nam đối với Trường Sa và Hoàng Sa. Theo tôi, động thái của Phi-líp-pin và Trung Quốc đòi hỏi phản ứng của Việt Nam và Việt Nan cần cân nhắc kỹ thời điểm phản ứng.

TS. Trần Trường Thủy

Tiếp theo ý kiến của mọi người, tôi thấy có một số vấn đề nữa cần đề cập hay làm rõ hơn:

1) Bên cạnh khía cạnh pháp lý, thì đây là trò chơi chính trị (political game), nhất là trong bối cảnh Phi-líp-pin  thay đổi lãnh đạo, cứng lên với Trung Quốc, thân với Mỹ. Cái hay là bây giờ các nước (kể cả Trung Quốc) trong khi theo đuổi các lợi ích chính trị và an ninh (political và security interests) đều phải "trong khuôn khổ luật pháp quốc tế hiện đại", do đó việc đẩy tiếp COC lại rất cần thiết.

2) Ý thứ hai là hệ quả của ý thứ nhất, về Công hàm mới nhất của Trung Quốc, có thể thấy là Trung Quốc đã làm sáng tỏ yêu sách theo UNCLOS, nhất là Trường Sa nằm hoàn toàn trong Lãnh hải, vùng Đặc quyền kinh tế và Thềm lục địa (is fully entitled to Territorial Sea, Exclusive Economic Zone and Continental Shelf). Do đó bây giờ "cuộc chiến pháp lý" lại quay trở lại với: (i) Tranh luận về chủ quyền đối với các hình thái địa chất của Hoàng Sa, Trường Sa; (ii) Đất thống trị được bao nhiêu biển? các hình thái địa chất này có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa hay không?.

3) Về phản đối Đường lưỡi bò của các nước ASEAN, đến nay Việt Nam, Indonesia và bây giờ là Philippin đã chính thức phản đối, Malaysia chỉ gián tiếp phản đối bằng báo cáo chung về ranh giới ngoài với Việt Nam, Bnunei thì giữ "low profile". Do đó rõ ràng là câu chuyện còn chưa kết thúc.

4) Việt Nam còn nhiều việc cần làm ngay (ngoài việc như anh Thùy nêu về phản ứng sau câu chuyện Công hàm của Phi-líp-pin và Trung Quốc và việc chị Hà nêu về làm sáng tỏ lập trường về "quy chế đảo" - mặc dù nhiều học giả quốc tế cho rằng Việt Nam đã minh bạch qua các báo cáo ranh giới ngoài vừa rồi).

NCS. Vũ Hải Đăng
Tôi xin phép có 2 ý kiến ngắn liên quan đến việc lập trường liên quan đến địa vị của Trường Sa và  viện dẫn "ex injurita jus non oritur" của Trung Quốc:

1.   Về quy chế của Trường Sa, theo tôi thì cho tới thời điểm này có thể khẳng định quan điểm chung của Việt Nam, Malayxia và Philippines là không coi Trường Sa có quy chế quần đảo. Có việc lên tiếng khẳng định thực thể nào là đảo, thực thể nào không tôi nghĩ là chưa cần thiết và cũng chưa thực sự thích hợp.

2.    Tôi nghĩ không phải là Trung Quốc quên các sự kiện 1974 và 1988 đâu. Nếu cần thiết, họ sẽ lập luận rằng đấy là hành động tự vệ (self defence), được luật pháp quốc tế cho phép trong khi đó việc yêu sách Trường Sa của Phi-líp-pin  rõ ràng là muộn hơn nhiều so với Trung Quốc và Việt Nam.

Cảm ơn anh Thắng đã trả lời các câu hỏi của tôi. Tôi xin phép nêu ý kiến của tôi về thắc mắc của anh  việc sử dụng "tràn lan" các thuật ngữ la tinh và tiếng Pháp trong 2 Công hàm. Lúc đầu, tôi cũng hơi thắc mắc tại sao Phi-líp-pin lại sử dụng thuật ngữ latin trong Công hàm. Về sau tôi nghĩ chắc mục đích quan trọng nhất của Phi-líp-pin là muốn phản đối việc coi Trường Sa là quần đảo và có vùng Đặc quyền kinh tế và Thềm lục địa nên muốn nhấn mạnh nguyên tắc "đất thống trị biển" và còn nêu bật về sau “quốc gia đảo và quốc gia ven biển phù hợp” (the appropriate coastal and archipelagic state). Còn mục đích của Trung Quốc khi sử dụng các thuật ngữ latin có lẽ là muốn "gậy ông đập lưng ông", "lấy mỡ nó rán nó", dùng chính phong cách và khái niệm Phi-líp-pin sử dụng để bác quan điểm của Phi-líp-pin

Cuối cùng tôi xin phép thêm một thắc mắc nhỏ: theo cao kiến của các anh, chị thì liệu Bru-nây có lên tiếng không đây ? Sau Việt Nam và Phi-líp-pin thì Brunei là nước bị ảnh hưởng nhiều nhất do đường yêu sách lưỡi bò. Bên cạnh đó, 3 nước bị ảnh hưởng đều đã lên tiếng cả rồi.

NCS. Nguyễn Đăng Thắng

Một câu hỏi hay. Tôi nghĩ Bru-nây từ trước đến giờ vẫn giữ quan điểm “giấu mình chờ thời” (low profile) nên ít có khả năng họ cũng tham gia cùng các nước ASEAN khác phản đối Trung Quốc, trừ phi có đòn bẩy khác.

Về vấn đề quyền tự vệ (self-defence), có nhiều cách giải thích. Tôi nghĩ lập luận về việc sử dụng vũ lực để "lấy lại" lãnh thổ hiện đang nằm trong sự kiểm soát của quốc gia khác là không thuyết phục. Cá nhân tôi nghiên về hướng lập luận của Higgins, nguyên Chánh án Tòa án quốc tế, một trong những luật gia xuất sắc nhất giai đoạn hiện nay cho rằng quyền tự vệ phải căn cứ trên chiếm hữu thực tế. Tôi thấy cách giải thích này là hợp lý nhất và phù hợp với nguyên tắc giải quyết hòa bình tranh chấp. Nếu không thì quan hệ quốc tế sẽ rất bất ổn định.

PGS. TS. Nguyễn Hồng Thao

Về công hàm của Trung Quốc, anh Đăng thấy có sự lộn xộn, lẫn lộn nhưng theo tôi Trung Quốc không thể có một sai lầm vội vàng mà không tính các bước đi trước. Dù Phi-líp-pin nói rõ về Đường lưỡi bò nhưng công hàm của Trung Quốc không nhắc lại mà chỉ nêu Trung Quốc có chủ quyền không tranh cãi trên các đảo, vùng nước tiếp giáp...vùng nước liên quan...Cái ngầm nhắc đến Đường lưỡi bò là từ xa xưa trong lịch sử. Trung Quốc không bao giờ bỏ Đường lưỡi bò nhưng cố tình mập mờ để tận dụng có lợi. Cách các học giả hiểu thường là Trung Quốc yêu sách cả các đảo cũng như vùng nước trong phạm vi Đường lưỡi bò. Gần đây do phản ứng quốc tế, học giả Trung Quốc tìm cách thăm dò Đường lưỡi bò  chỉ là yêu sách các đảo chứ không phải vùng nước. Cách phản biện lần này của Trung Quốc không khác với công hàm  phản đối VN 7/5/2009 và cũng tìm cách cho phù hợp với các Luật Lãnh hải  và Luật Đặc quyền kinh tế. Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với các đảo ở Biển Đông và vùng nước liền kề và có chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng nước liên quan cũng như là đáy biển và vùng đất dưới đáy biển (China has indisputable sovereignty over the islands in the SCS and the adjacent waters, and enjoys sovereign rights and jurisdiction over the relevant waters as well as the seabeds and subsoils thereof ). Câu này chỉ dùng từ “island” có nghĩa là Trung Quốc coi tất cả các đảo trong Biển Đông có Đặc quyền kinh tế và Thềm lục địa chứ không phải là đảo đá theo điều 121.3.

Tiếp đó, từ “relevant waters” có thể hiểu là các vùng nước liên quan Đặc quyền kinh tế và Thềm lục địa của từng đảo trong quần đảo Trường Sa. Điều này phù hợp với các Luật Lãnh hải, Luật Đặc quyền kinh tế mà Trung Quốc kể dưới. Nghĩa là có một cách giải thích mới: Đường lưỡi bò là yêu sách tất cả các đảo trong đó và các vùng nước của chúng phát sinh từ UNCLOS cũng nằm trong đó hoàn toàn hay một phần thì vẫn là  vùng nước liên quan (relevant waters). Qua đó có thể giải thích, Trung Quốc vừa có tính lịch sử, vừa theo đúng luật UNCLOS.

Từ đó, Trung Quốc lật lại với Phi-líp-pin các Quốc gia ven biển và Quốc gia quần đảo có quyền mở rộng các vùng biển từ đường cơ sở của mình  nhưng nếu có đảo đá thuộc chủ quyền của Trung Quốc trong đó thì việc xác định Vùng Đặc quyền kinh tế và Thềm lục địa của những quốc gia ven biển không được xâm phạm đến quyền chủ quyền của các nước khác (title over the EEZ and CS of the coastal States can not infringe upon the territorial sovereignty of other states). Trung Quốc đã viết đúng như vậy “coastal states' EEZ and continental shelf claims shall not infringe upon the territorial sovereignty of other states".

Còn sử dụng các từ Latin thì đúng như anh Thắng và anh Đăng đã phân tích, sử dụng gậy ông đập lưng ông. Phi-líp-pin dùng thì Trung Quốc cũng không kém. Kinh nghiệm cho thấy, Trung Quốc luôn có tính làm mập mờ, lúc nào dùng Luật Quốc tế, lúc dùng Luật biển đều có tính toán cả.

Một ý liên tưởng nữa là Phi-líp-pin đưa ra đất thống trị biển nội dung tương tự như  Hilary Clinton tại ARF 17 năm 2010, có chăng chỉ khác cách thể hiện. Liệu công hàm của Phi-líp-pin có sự tác động của Mỹ?

Về ý kiến của anh Thủy hiện có Việt Nam, Phi-líp-pin và In-đô-nê-xi-a phản đối, còn Ma-lai-xi-a chỉ gián tiếp thì nên xem xét trong bối cảnh chung. Việt Nam và Ma-lai-xi-a gửi công hàm phản đối công hàm ngày 7/5/2009 của Trung Quốc ngay ngày hôm sau, vì vậy có thể hiểu Ma-lai-xi-a cũng đã phản đối. Còn nếu đòi họ phản đối rõ từng chữ như Phi-líp-pin thì chắc sẽ khó.  Lần này mọi người hy vọng Việt Nam nên có ý kiến chính thức sau khi Phi-líp-pin và Trung Quốc đã có công hàm.

NCS. Nguyễn Đăng Thắng

Đúng là phần trên (đoạn thứ 2), Trung Quốc tiếp tục sử dụng những khái niệm như vùng nước lân cận, chủ quyền và các quyền "liên quan" (related rights - khác với quyền chủ quyền) dựa trên các bằng chứng lịch sử và pháp lý. Cái này cho thấy âm hưởng tiếp khái niệm vùng nước lịch sử theo đường 9 đoạn.

Mặt khác, đoạn thứ 4, Trung Quốc lại chỉ hạn chế lại còn lãnh hải, vùng Đặc quyền kinh tế và Thềm lục địa thôi theo Công ước Luật biển, Luật Lãnh hải và Luật về vùng Đặc quyền kinh tế và Thềm lục địa. Đặt trong bối cảnh của nó (đoạn 4 đi sau đoạn 3 phản đối Phi-líp-pin) thì đoạn 4 trong công hàm của Trung Quốc là để 'tranh luận' với PLP về đường 9 đoạn. Như vậy, có thể giải thích là Trung Quốc phần nào đã làm sáng tỏ ý nghĩa của đường 9 đoạn - đó là thể hiện phạm vi địa lý của quần đảo Trường Sa. Tuy nhiên, cách giải thích này lại có điểm không phù hợp với lịch sử vì theo tôi hiểu Trung Quốc lần đầu tiên công bố đường 9 đoạn (đúng ra là 11 đoạn) vào năm 1947. 

Những năm 1930s, Trung Quốc chỉ công bố bản đồ "các đảo của Trung Quốc" trên Biển Đông nhưng không dùng đường 9 hay 11 đoạn để vẽ. Nói cách khác, đoạn 4 chỉ là để khẳng định chủ quyền đối với Trường Sa và quy chế của quần đảo này, không đả động gì đến đường 9 đoạn. Chính vì thế tôi cho rằng công hàm của TQ chưa chắc đã đem lại sự giải thích rõ ràng  (greater clarity) mà có khi còn tạo ra 'sự mơ hồ hơn (deeper confusion).

Trong hoàn cảnh nào, tôi nghĩ Trung Quốc cũng đã tính toán kỹ khi đưa cơ sở pháp lý cho việc yêu sách vùng biển và Thềm lục địa của quần đảo Trường Sa là Công ước Luật biển, Luật Lãnh hải và Luật về vùng Đặc quyền kinh tế và Thềm lục địa. Đáng chú ý, luật cuối cùng có quy định là "các quyền lợi biển của Trung Quốc không bị ảnh hưởng". Quy định này có thể sẽ được Trung Quốc sử dụng sau này để "tái khẳng định" các quyền lịch sử theo đường 9 đoạn ở Biển Đông.

Có một điểm nữa, hôm qua tôi chưa nêu ra khi ủng hộ quan điểm của anh Đăng về việc cho rằng Trung Quốc "đang" yêu sách vùng nước quần đảo ở Trường Sa đó là việc Trung Quốc sử dụng cụm từ  Quần đảo Nam Sa (Nansha Islands) ở số ít. Tôi sẽ kiểm tra lại bản tiếng Trung của công hàm này.

PGS. TS. Nguyễn Hồng Thao

Có thể nói, Trung Quốc luôn giữ Đường lưỡi bò là vũ khí cho vấn đề Biển Đông. Bên cạnh đó, để phù hợp với các vùng biển khác nữa, Trung Quốc cũng phải dựa vào Luật biển Quốc tế. Nếu đối phương không mạnh thì sẽ ép Đường lưỡi bò theo đúng cách hiểu truyền thống bao gồm tất cả các địa vật và vùng nước, đáy biển bên trong. Nếu bị phản đối thì tìm cách giải thích xoa dịu sao cho vẫn vận dụng được Luật biển Quốc tế. Cách tốt nhất là làm sao dung hoà được hai lập trường này. Chính vì vậy, họ đã dùng thuật ngữ “relevant waters” chăng?

Nếu bị phê không phù hợp với Luật biển thì họ sẽ giơ ra các luật Đặc quyền kinh tế, luật Lãnh hải và các vùng nước này là vùng nước liên quan và vùng nước liền kề (adjacent and relevant waters) cả. Cho dù 200 hải lý thì chúng cũng nằm trong phạm vi đường lưỡi bò. Mặt khác các quyền lịch sử vẫn được giữ nguyên. Đến đây, rất đồng ý với anh Thắng đường lưỡi bò là phạm vi địa lý yêu sách quần đảo Trường Sa nhưng không loại trừ nếu Trung Quốc mạnh thì họ sẽ nói tiếp vùng nước liền kề (adjacent waters)  tính từ đường lưỡi bò chứ không chỉ bên trong tính từ các đảo. Lúc đó là sự kết hợp yêu sách cao nhất về đường lưỡi bò và luật biển.

Đó là trường hợp của bãi Tư Chính. Nếu chúng ta "mềm" với họ ở bãi Tư Chính, họ sẽ cho là vùng đó sẽ đương nhiên là vùng tranh chấp cần phân định. Phi-líp-pin có ưu điểm xuất phát từ “đất thống trị biển” nên lo-gic là các đường nhân tạo không phù hợp yêu cầu luật pháp và kinh tế sẽ không có giá trị. Và các vùng biển sẽ thuộc Quốc gia ven biển và Quốc gia quần đảo, tức đường lưỡi bò không đóng vai trò trong phân định.

Điểm 3 của Trung Quốc chính là bác bỏ, sử dụng luôn nguyên tắc “đất thống trị biển” mà Phi-líp-pin đã nêu dù các anh có mở rộng từ bờ biển hay Quốc gia quần đảo thì điều đó không ảnh hưởng đến các đảo "của TQ" theo nguyên tắc “đất thống trị biển”, chúng cũng có vùng biển tương tự và phải phân chia giữa đường lưỡi bò với phạm vi từ bờ biển hay Quốc gia quần đảo. Theo logic như tôi đã nhận định: đoạn 3 nói  về quyền lịch sử đường lưỡi bò, đoạn 4 nói về luật biển hiện đại. Vì đoạn 3 trước đoạn 4 nên ko phải đoạn 4 bác bỏ đường lưỡi bò mà nó phải tuân thủ đường lưỡi bò, đồng thời tuân thủ Luật biển. Do đó, tôi mới nghĩ Trung Quốc tính toán nhiều đường như vậy. Tôi cũng băn khoăn như vậy là không phù hợp với 11 đoạn lúc đầu. Song nếu tôi không nhầm thì CHND Trung Hoa nói đường lưỡi bò 9 đoạn chứ không nói đường lưỡi bò 11 đoạn. Cái đó từ thời Trung Hoa Dân quốc và còn vào lúc lẫn lộn giữa con đường của tư nhân vẽ và đường xuất bản chính thức.

Về ý kiến của anh Đăng, TQ áp dụng đường cơ sở quần đảo cho Trường Sa như Hoàng Sa. Về lý thuyết, tôi nghĩ  có khả năng đó nhưng cũng nên tính đến những yếu tố sau đây: Trung Quốc vẽ đường cơ sơ quần đảo cho Hoàng Sa vì đã chiếm hoàn toàn quần đảo còn Trường Sa thì chưa; khi vẽ vì Trường Sa rộng hơn Hoàng Sa 10 lần nên mức độ ảnh hưởng quyền quá cảnh của các nước lớn, Trung Quốc phải tính đến phản ứng của cộng đồng quốc tê; duy  trì đường lưỡi bò vẫn đảm bảo quyền lợi các vùng biển còn hơn là vẽ đường cơ sở quần đảo.

NCS. Nguyễn Đăng Thắng

Nhận xét của anh Thao làm tôi vỡ ra nhiều điều. Đúng là Trung Quốc dường như cảm nhận được rằng đường 9 đoạn của họ đang làm cho các nước trong khu vực 'vò đầu, bứt tai'. Vấn đề bây giờ là làm sao bớt vò đầu bứt tai? Một trong những lý do gây vò đầu bứt tai đó là Trung Quốc vẫn lập lờ trong quan điểm của mình làm cho các nước lo. Như anh Thao đã nói, Trung Quốc luôn có mấy phương án bỏ túi và sẽ được sử dụng trong những thời điểm khác nhau. Mỗi lần có sự kiện Trung Quốc lại hé lộ quan điểm một chút dù vẫn lập lờ. Cái khó bây giờ là làm sao làm cho Trung Quốc tiếp tục đưa ra một phương án cụ thể và sau đó 'cột' TQ với phương án đó. Có như thế thì mới tận dụng được sự ủng hộ của các bên khác.

Về vấn đề vùng nước quần đảo cho Trường Sa, đúng như Thao nói, là khả năng đó chỉ xảy ra trên lý thuyết. Trung Quốc cũng chẳng dại gì tự dưng đi tuyên bố vùng nước quần đảo trong khi thực tế chẳng quản lý được và hơn nữa lại gây xung đột với các nước lớn khác (không chỉ riêng Mỹ) có nhu cầu sử dụng Biển Đông cho mục đích hàng hải. Dù gì, cái Trung Quốc quan tâm đó là tài nguyên nằm trên vùng biển và Thềm lục địa của các nước ven biển khác và cứ 'con mèo nào bắt được nhiều chuột hơn' là Trung Quốc dùng, không cần biết mèo đó có được từ UNCLOS hay là 'có từ lịch sử'.  

Về Đoạn 4 trong công hàm của Trung Quốc - điểm liên quan đến đường 9/11 đoạn thì chắc tôi nói chưa rõ hoặc có thể tôi đã hiểu sai lịch sử. Theo tài liệu tôi đọc được thì những năm 1930s, Trung Quốc dưới Chính quyền Tưởng Giới Thạch chỉ mới công bố địa danh các đảo Trung Quốc yêu sách ở Biển Đông, bao gồm cả Trường Sa. Đường 9/11 đoạn lần đầu tiên được đưa ra là vào năm 1947 (nếu tôi không nhầm). Nếu như vậy, Đoạn 4 trong công hàm của Trung Quốc vẫn chỉ là tiếp tục khẳng định chủ quyền của Trung Quốc đối với Trường Sa và chẳng nói gì đến đường 9 đoạn. Trung Quốc hoặc là thấy chẳng cần, hoặc là không muốn nói cụ thể về giá trị của đường 9 đoạn. Đoán mò của tôi thì nếu Trung Quốc được hỏi thì sẽ trả lời là công hàm của Phi-líp-pin  sai ngay từ đoạn chủ quyền của Phi-líp-pin đối với KIG rồi nên cần gì phải xem xét đến lập luận liên quan đến đường 9 đoạn nữa.

Nói tóm lại, tưởng là công hàm của TQ làm cho vấn đề sáng tỏ hơn nhưng hóa ra lại thành mơ hồ hơn, rối rắm hơn.

Rõ ràng cuộc chiến pháp lý tại Biển Đông vẫn chưa kết thúc, NCBĐ xin tạm dừng cuộc tọa đàm bàn tròn lần này, chân thành cám ơn các chuyên gia đã tham gia tranh luận và hẹn gặp lại trên chủ đề khác lần sau./.

BBT NCBĐ

Đề nghị chỉ được dẫn đường link mọi thông tin, bài viết  trên www.nghiencuubiendong.vn, không đăng lại khi chưa có sự đồng ý của Ban Biên tập NCBĐ.

 

Trả lời câu hỏi tại sao Phi-líp-pin lại lên tiếng vào thời điểm này và với công hàm này, tiến trình giải quyết hòa bình các tranh chấp tại Biển Đông liệu sẽ được thúc đẩy hay không, PGS. Nguyễn Hồng Thao đã có bài bình luận toàn diện và chi tiết.

 

(Phần 1)

 

II. Phân tích Công hàm của Phi-líp-pin

PGS. TS. Nguyễn Hồng Thao

Tại sao Philippin lại lên tiếng vào thời điểm này và Công hàm của Philippin có những đóng góp gì mới cho tiến trình giải quyết hòa bình các tranh chấp ở Biển Đông. Đối với 2 câu hỏi này, tôi có đã sơ bộ tìm hiểu như sau:

1.  Vì sao Philipin lên tiếng?

So với Việt Nam và Trung Quốc, Philippin nhảy vào tranh chấp quần đảo Trường Sa muộn và yêu sách đưa ra được dựa trên những cơ sở pháp lý không đủ mạnh. Philippin cũng không phải là quốc gia có tiềm lực về quốc phòng và thường phải dựa trên cái ô của Mỹ. Năm 1951, Philippin mới bắt đầu nghĩ đến việc mở rộng ảnh hưởng ra quần đảo Trường Sa. Năm 1995, Philippin là nước thứ hai trong khu vực phải nếm trải sức mạnh quân sự của người khổng lồ phương Bắc. Philippin đã tích cực đưa ra nhiều đề xuất giải quyết hòa bình các xung đột từ đưa tranh chấp ra trước Tòa án quốc tế đến sáng kiến ký Bộ Luật ứng xử Philippin-Trung Quốc tháng 8/1995, rồi đồng tác giả với Việt Nam dự thảo Bộ luật ứng xử ASEAN-Trung Quốc 1999-2002, ký két Tuyên bố ASEAN-Trung Quốc về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông 2002, chương trình hợp tác nghiên cứu khoa học Việt Nam-Philippin JOMRSE...

Các động thái của Philippin phần nào cho thấy sự e ngại và phụ thuộc vào người khổng lồ phương Bắc. Thế nhưng sự nhún nhường hay đi đơn lẻ của Manila không ngăn nổi các hoạt động ngày càng cứng rắn của Trung Quốc trước Chính phủ mới của TT Benigno Aquino, thay thế TT Arroyo, người được đánh giá thân Bắc Kinh. Sau vụ hai tàu hải quân Trung Quốc xua đuổi một tàu thăm dò dầu khí cho Philippines ở vùng Bãi Cỏ Rong tháng 3/2011 mà Manila xác định là thuộc chủ quyền của mình đến 30/3/2011 là án tử hình Bắc Kinh giành cho  ba công dân Philíppin vì tội buôn lậu ma túy. Một tháng trước cuộc thăm chính thức của TT Philippin tới Bắc Kinh ngày 23-25/5/2011 là dịp để Philippin khẳng định quan điểm độc lập của mình trước sức ép của Trung Quốc, tạo thế chủ động trong hội đàm? Đồng thời sự “cứng lên” của Philippin cũng nhằm giải quyết phần nào những bất đồng nội bộ trong nhìn nhận một số vấn đề quốc tế như việc gộp hay không KIG vào đường cơ sở quần đảo. Philippin đang cần năng lượng trong đó dầu khí ở Bãi Cỏ Rong được coi là niềm hy vọng. Philippin thấy rằng quyền lợi của mình chỉ có thể được bảo đảm trong tình đoàn kết với các nước ASEAN. Hơn nữa quan hệ Manila và Washington ngày càng chặt chẽ trở lại, đặc biệt là trong lãnh vực quân sự. Nguyên tắc “Đất thống trị biển” được nhắc đến trong Công hàm ngày 5/4/2011 của Philippin và Ngoại trưởng Mỹ Hilary Clinton tại ARF 17, Hà Nội  2010 là cùng nội dung với cách thể hiện khác nhau.

Sau Công hàm của Việt Nam, Malaysia ngày 8/5/2009, của In-đô-nê-xi-a ngày 8/7/2010, Philippin đã hòa chung tiếng nói của các nước ASEAN trong việc bác bỏ đường lưỡi bò vô lý trong Biển Đông. Đây cũng là dịp Philippin điều chỉnh lập luận của mình cho phù hợp với luật quốc tế và tránh những sai lầm chiến lược trong quá khứ. Nếu đến hạn ngày 13/5/2009, Philippin cùng tham gia trình hồ sơ ranh giới ngoài thềm lục địa với Malayssia và Việt Nam hay trình hồ sơ riêng thì vị thế của Philippin đã khác. Philippin cũng nhìn nhận thấy rằng chỉ có Công ước Luật biển của Liên hợp quốc năm 1982 mới là công cụ hợp pháp và duy nhất để giải quyết các vấn đề trên Biển Đông, bảo đảm lợi ích công bằng cho các nước trong đó có Philippin. 

2.  Phân tích Công hàm ngày 5/4/2011

Công hàm có mục tiêu rõ ràng là bình luận về tấm bản đồ đính kèm Công hàm số CML/17/2009 và CML/18/2009 ngày 7/5/2009 của Phái đoàn thường trực CHND Trung Hoa. Công hàm Philippin đưa ra ba điểm: (i) Nhóm đảo KIG là một phần không tách rời của Philippines, rằng nước này có chủ quyền và quyền tài phán với các đặc trưng địa chất trong Nhóm đảo Kalayaan KIG đó; (ii) Philippin, theo nguyên tắc đất thống trị biển, thực hiện chủ quyền và quyền tài phán một cách cần thiết trên vùng nước xung quanh hoặc kế cận đối với mỗi đặc trưng địa chất liên quan trong Nhóm đảo Kalayaan KIG theo quy định của Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS). Phạm vi của các vùng nước kế cận các đặc trưng địa chất có liên quan được định nghĩa và xác định theo UNCLOS, đặc biệt điều 121 Chế độ các đảo; (iii) Chính vì các vùng nước kế cận các đặc trưng địa chất có liên quan được định nghĩa và là đối tượng của các tiêu chuẩn pháp lý và kỹ thuật nên yêu sách của CHND Trung Hoa tại hai Công hàm số CML/17/2009 và CML/18/2009 ngày 7/5/2009

Phân tích ba điểm đã nêu trong Công hàm ngày 5/4/2011 của Philippin có thể đi đến những nhận xét sơ bộ sau:

1.  Philippin tái khẳng định chủ quyền và quyền tài phán của mình đối với các đặc trưng địa chất trong Nhóm đảo Kalayaan KIG  được coi là một phần không tách rời của Philippines. Tuy nhiên tuyên bố lần này có những khác biệt với các văn bản trước. Thứ nhất, trong Sắc lệnh năm 1978, Philippin yêu sách: “ nhóm đảo KIG... bao gồm tất cả đáy biển, lòng đất dưới đáy biển, rìa lục địa và vùng trời sẽ thuộc và là đối tượng của chủ quyền của Philippin. Khu vực này tạo thành một quận riêng và tách rời của thủ phủ của tỉnh Palawan và được biết với tên gọi Kalayaan”, nghĩa là toàn bộ các đảo và các vùng nước nằm trong ranh giới KIG tự vạch với đầy đủ các tọa độ. Công hàm ngày 5/4/2011 chỉ yêu sách chủ quyền của các đảo đá như một phần không tách rời của Phillipin, Vấn đề vùng nước được tách rời ra và theo logic của những điểm tiếp theo, sẽ chỉ có một phần vùng nước trong ranh giới cũ của KIG chứ không phải toàn bộ vùng nước trong đó được yêu sách. Điều này được bổ sung bằng điểm 2 của Công hàm giúp phân biệt hai vấn đề: chủ quyền và quyền tài phán đối với các đặc trưng địa lý và chủ quyền, quyền tài phán và quyền chủ quyền đối với các vùng biển. Nó sẽ giúp cộng đồng thế giới hiểu rõ hơn về hai dạng tranh chấp đảo và biển ở Biển Đông mà Philippin là một bên yêu sách. Thứ hai, thuật ngữ “đảo” trong Sắc lệnh 1978 đã được thay bằng “đặc trưng địa chất” có thể hiểu bao gồm đảo, đá, bãi cạn nửa nổi nửa chìm để phù hợp với giải thích quy chế đảo trong điều 121 của UNCLOS. Thứ ba, quốc gia quần đảo này không nhắc đến các lý do về tính tiếp giáp hay an ninh quốc phòng làm cơ sở cho yêu sách của mình đối với các vùng nước  như trong Sắc lệnh 1978. Thứ tư, ranh giới của KIG cũng không được nhắc lại. Điều này sẽ liên quan đến phân tích trong điểm 2 tiếp theo.

2.   Philippin đã có bước chuyển khi nhấn mạnh nguyên tắc “Đất thống trị biển” để yêu sách các vùng biển. Nguyên tắc này đã được khẳng định bởi Tòa án quốc tế trong Vụ thềm lục địa Biển Bắc  năm 1969 và thực tiễn tài phán cũng như thực tiễn quốc tế. Nó cũng được thể hiện rõ trong tinh thần của điều 2, 55, 76 của UNCLOS. Chủ quyền của quốc gia ven biển được mở rộng ra vùng biển tiếp liền mà phạm vi vùng biển đó do UNCLOS quy định với sự thừa nhận chung của cộng đồng quốc tế. Có nghĩa chỉ khi quốc gia xác lập được chủ quyền trên đất thì chủ quyền đó mới mang lại các quyền được mở rộng ra trên biển mà không phải ngược lại: vẽ một đường yêu sách trên biển và cho rằng tất cả những gì trong đó là thuộc chủ quyền của mình. Các vùng biển xung quanh hoặc kế cận với các đặc trưng địa chất trong quần đảo Trường Sa là lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa sẽ phụ thuộc vào thỏa thuận của các Bên tranh chấp khi xác định quy chế của từng đảo đá theo điều 121 của UNCLOS. Ngay trong phần mở đầu của Điểm 2 Công hàm, Philippin nói về vùng nước tiếp giáp của các đảo và các đặc trưng địa chất (ở đây là cách ám chỉ các đá theo điều 121.3 của UNCLOS và các bãi cạn nửa nổi nửa chìm ?). Tiếp đó việc sử dụng các từ “vùng nước xung quanh” và “vùng nước tiếp giáp”. Từ  thực tế quần đảo Trường Sa, nếu đảo đá muốn có vùng nước xung quanh trọn vẹn thì đó chỉ có thể là lãnh hải 12 hải lý. Khái niệm “vùng nước tiếp giáp” ở đây có thể được hiểu là lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế tiếp giáp với các đảo tùy theo từng trường hợp và không phải là vùng nước xung quanh. Như vậy ngay trong ranh giới cũ của KIG mà Manila yêu sách chủ quyền sẽ có khả năng giữa các đảo đá có tồn tại các vùng biển thuộc chủ quyền (lãnh hải), quyền chủ quyền hoặc quyền tài phán (đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục địa) của một (hay nhiều) quốc gia ven biển khác. Một cách đơn giản, Công hàm Philippin thể hiện quan điểm tách biệt hai dạng tranh chấp: tranh chấp chủ quyền và tranh chấp vùng biển. Trong tranh chấp vùng biển, tùy thuộc vào quy chế đảo mà các bên có thể chấp nhận sẽ tồn tại ba khả năng: 1) các đảo đá của KIG chỉ có lãnh hải 12 hải lý; 2) các đảo đá này có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng; 3) một số đảo đá chỉ có lãnh hải và một số đảo đá khác có thể có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Từ đó, các đảo ở KIG có thể được gộp vào đường cơ sở quần đảo mở rộng của Philippin hoặc chúng được tách riêng và quản lý theo quy chế đảo hoặc đá theo Luật đường cơ sở ngày 10/3/2009 tùy thuộc từng đặc trưng địa chất này có được chỉ lãnh hải 12 hải lý hay có vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý hoặc thềm lục địa riêng. Là  quốc gia quần đảo duy nhất trong tranh chấp và lại ở gần các vị trí đảo tranh chấp nhất. Philippin có lý do để tận dụng vị thế đó nhằm kéo các đặc trưng địa chất KIG vào đường cơ sở quần đảo. Thê nhưng nếu theo đúng các quy định pháp lý và kỹ thuật của UNCLOS tỷ lệ nước trên đất của KIG sẽ lớn hơn 9:1. Thể hiện theo điểm  2 sẽ giúp Philippin trang trải được những cuộc tranh cãi nội bộ,mâu thuẫn giữa tình cảm chủ nghĩa dân tộc và lý trí cần tuân thủ UNCLOS. Chấp nhận nguyên tắc đất thống trị biển có nghĩa là Philippin phủ nhận tất cả các đường yêu sách không dựa trên các quy định pháp lý và kỹ thuật của UNCLOS  Điều này đúng với đường yêu sách lưỡi bò của Trung Quốc cũng như đường yêu sách của Malaysia và chính đường ranh giới KIG của Philippin. Các đường này là không có cơ sở pháp lý rõ ràng. Đến đây có thể hiểu tại sao Philippin không nhắc lại ranh giới KIG mà chỉ là các địa trưng địa chất trong KIG. Tuy nhiên, sẽ có sự mâu thuẫn trong điểm 1 và 2 của Philippin. Đưa ra ranh giới là một biện pháp kỹ thuật để nêu yêu sách các đặc trưng địa chất trong phạm vi đó mà không cần phải liệt kê tên từng đảo đá và quy chế của chúng. Bác bỏ ranh giới thì đặc trưng địa chất nào Manila yêu sách vẫn sẽ là câu hỏi. Khác với Việt Nam và Malaysia gián tiếp thể hiện các đặc trưng địa chất của quần đảo Trường Sa nên có lãnh hải 12 hải lý, Manila vẫn duy trì một sự không rõ ràng nhằm trù tính cho những bước đi chưa hình dung được trong tương lai. Song việc tuân thủ nguyên tắc “đất thống trị biển” đã có thể coi là một bước tiến rất gần với nguyên tắc xác lập chủ quyền bằng chiếm hữu thực tế và tinh thần duy trì status quo trong Tuyên bố DOC 2002 giữa ASEAN – Trung Quốc vì ổn định, hòa bình, và hợp tác phát triển ở Biển Đông.     

3.  Trong Điểm 3 của Công hàm, Philippin dẫn ra kết luận logic mà chúng ta có thể suy ra được ngay từ Điểm 2. Nếu theo đúng luật quốc tế và UNCLOS thì đường đứt khúc 9 đoạn và mọi đường yêu sách khác không đáp ứng các tiêu chuẩn pháp lý và kỹ thuật của UNCLOS đều không có cơ sở pháp lý để tồn tại. Công hàm nhắc đến hiệu quả của kết luận này đối với các vùng biển liên quan cũng như đáy biển và thềm lục địa của chúng" bên ngoài  các đặc trưng địa chất nói trên trong Nhóm các đảo Kalayaan KIG và các vùng nước kế cận của chúng” Điều này không có nghĩa là Philippin chỉ phản đối một phần đường lưỡi bò liên quan trực tiếp đến Nhóm đảo KIG mà toàn bộ đường lưỡi bò trong Biển Đông. Do chưa thể xác định được tên cụ thể của các đặc trưng địa chất trong ranh giới cũ của Nhóm đảo KIG cũng như quy chế của các đặc trưng địa chất này (chỉ có lãnh hải, hay có lãnh hải, đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng) nên vấn đề phân định biển giữa các quốc gia ở Biển Đông cũng chưa thể được giải quyết. Công hàm Philippin không nói đến hiệu lực của các đặc trưng địa chất “nằm ngoài KIG” như đảo Trường Sa. Tuy nhiên trong logic của nguyên tắc “Đất thống trị biển” và các yêu cầu pháp lý và kỹ thuật của UNCLOS mà Philippin thừa nhận trong điểm 1 và 2 thì đảo Trường Sa cũng là một đặc trưng địa chất giống như các đặc trưng địa chất khác của quần đảo và phải được xem xét theo quy chế của điều 121.3  Trong trường hợp tối thiểu các đảo đá ở quần đảo Trường Sa chỉ có lãnh hải 12 hải lý thì các quốc gia ven biển và quốc gia quần đảo trong khu vực này sẽ phải bàn nhau về việc xác định hay phân chia ranh giới ngoài thềm lục địa có khả năng mở rộng tới 350 hải lý tính từ đường cơ sở của quốc gia ven biển hay quốc gia quần đảo hoặc 100 hải lý tính từ đường đẳng sâu 2500m. Trong trường hợp này, Philippin sẽ hơi bị yếu thế do sự hiện diện của máng sâu Palawan ở phía Tây. Trong trường hợp tối đa, một số đảo có thể có vùng đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục địa thì việc phân định biển sẽ phải tính đến khoảng cách từ điểm đó đến bờ biển của quốc gia ven biển hay quốc gia quần đảo tùy thuộc đảo đó được xác định chủ quyền thuộc bên nào. Các vùng biển này có bản chất pháp lý từ nguyên tắc “Đất thống trị biển” phù hợp với các điều 3,4 (Lãnh hải), 55, 57 (đặc quyền kinh tế) và 76 (thềm lục địa). Việc phân định không thể được tiến hành từ những đường yêu sách không có cơ sở pháp lý từ nguyên tắc “Đất thống trị biển” như đường lưỡi bò. Vì vậy Philippin khẳng định các vùng biển này “nhất thiết quy thuộc hoặc thuộc quốc gia ven biển thích hợp hoặc quốc gia quần đảo Philippin – các vùng nước cũng như đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của chúng thuộc về quốc gia đó hoặc theo bản chất pháp lý của Lãnh hải, hoặc của vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý, hoặc của thềm lục địa phù hợp với các điều 3,4, 55,57 và 76 của UNCLOS ". Cách thể hiện ở điểm 3 cũng cho thấy Philippin hoàn toàn để ngỏ khả năng có thể tham gia hay tự đệ trình hồ sơ ranh giới thềm lục địa ở Biển Đông và đàm phán phân định biển với các nước trên cơ sở thỏa thuận duy trì nguyên trạng.

Tóm lại, Công hàm ngày 5/4/2011 của Philippin dù có cách trình bày phức tạp, với nhiều thuật ngữ pháp lý khó hiểu cũng làm sáng tỏ thêm một số khía cạnh trong lập trường của Philippin về vấn đề Biển Đông:

-     Mọi biện pháp giải quyết tranh chấp ở Biển Đông phải tuân thủ dựa trên cơ sở của Công ước Luật biển năm 1982 (UNCLOS).

-     Mọi đường yêu sách không từ nguyên tắc “Đất thống trị biển”, không đáp ứng các yêu cầu pháp lý và kỹ thuật của UNCLOS đều vô giá trị, đặc biệt là đường lưỡi bò trong Biển Đông.

-     Có hai dạng tranh chấp ở Biển Đông: tranh chấp chủ quyền trên các đăc trưng địa lý và tranh chấp vùng biển được xác định căn cứ vào quy chế của từng đặc trưng địa lý theo điều 121.3 của UNCLOS. Xu thế đa phần nếu không phải là tất cả các đảo đá trong quần đảo Trường Sa chỉ có lãnh hải 12 hải lý.

-     Việc xác định các vùng biển của các đảo đá theo quy chế điều 121.3 của UNCLOS sẽ quyết định vấn đề phân định biển giữa các quốc gia ven biển và quốc gia quần đảo quanh quần đảo Trường Sa. Đồng thời nó cũng gợi mở khả năng các nước quanh quần đảo Trường Sa phải ngồi với nhau để thỏa thuận về ranh giới ngoài thềm lục địa kéo dài tự nhiên từ bờ biển lục địa và quốc gia quần đảo nếu các đảo đá chỉ có lãnh hải 12 hải lý.

Đóng góp lớn nhất của Công hàm ngày 5/4/2011 là nó đã bác bỏ mọi đường yêu sách quá đáng không trên cơ sở UNCLOS. Nó cũng thể hiện tình đoàn kết giữa các nước ASEAN hình thành một lập trường chung: Mọi tranh chấp tại Biển Đông đều cần phải giải quyết trên cơ sở luật quốc tế, đặc biệt Công ước Luật biển 1982 của Liên hợp quốc. Công hàm đã góp phần thúc đẩy các Bên nỗ lực tìm tiếng nói chung, trước tiên là thúc đẩy việc thực hiện Tuyên bố DOC, tiến đến một Bộ Quy tắc ứng xử của các Bên trên Biển Đông, tạo khung pháp lý để trao đổi một cách khách quan và thành thật về quy chế các đảo đá của các quần đảo ở Biển Đông, một trong những chìa khóa then chốt để giải quyết hòa bình các tranh chấp Biển Đông.

NCS. Nguyễn Đăng Thắng

 Cám ơn anh  Thao đã chia sẻ bài viết rất kịp thời. Bài viết của anh rất nhiều thông tin và phần nào giải quyết được thắc mắc của tôi là tại sao Phi-líp-pin lại dùng là cấu trúc địa chất chứ không phải cấu trúc địa lý như người ta vẫn thường dùng Nhưng tôi vẫn còn một chút băn khoăn là không phải việc Phi-líp-pin viện dẫn vấn đề địa chất có hàm ý gì liên quan đến quy chế quần đảo của Phi-líp-pin hay quy chế quần đảo riêng cho KIG không? Quy định của Luật pháp Quốc tế về vấn đề này không rõ ràng nhưng trong tranh tụng, các bên tranh chấp vẫn đề cập đến vấn đề địa chất khi nói về một nhóm các đảo có phải là một quần đảo hay không (Vụ Nicaragua/Colombia - Preliminary Objections).

Về phần phân tích thì tôi thấy rất sâu sắc rồi, khó mà góp ý gì được thêm. Chỉ riêng có câu : "Điều này không có nghĩa là Philippin chỉ phản đối một phần đường lưỡi bò liên quan trực tiếp đến Nhóm đảo KIG mà toàn bộ đường lưỡi bò trong Biển Đông.", tôi nghĩ nếu anh nên giải thích thêm một chút để người đọc hiểu rõ hơn.

Ngoài ra, về việc Phi-líp-pin dùng thuật ngữ "vùng nước xung quanh" và "vùng nước tiếp giáp" của "từng cấu trúc địa chất", tôi có thêm một cách hiểu khác đó là do những cấu trúc này có thể gần nhau nên có trường hợp vùng nước của cấu trúc này chồng lấn lên vùng nước của cấu trúc kia, nên có thể khái niệm "vùng nước tiếp giáp" được hiểu trong trường hợp này.

Đọc phần tiếp theo về tranh luận liên quan đến "Công hàm của Trung Quốc "

Nghiên cứu Biển Đông

Đề nghị chỉ được dẫn đường link mọi thông tin, bài viết  trên www.nghiencuubiendong.vn, không đăng lại khi chưa có sự đồng ý của Ban Biên tập NCBĐ.

 

 

Công hàm của Phi-líp-pin phản đối Đường lưỡi bò và công hàm phản hồi của Trung Quốc gửi Liên Hiệp Quốc trong tháng 4 năm 2011 liên quan đến Biển Đông đã thu hút sự quan tâm và chú ý của dư luận. NCBĐ mời các chuyên gia trong vấn đề Biển Đông tham gia tranh luận trực tuyến về cuộc chiến pháp lý mới này.  

 

Bàn tròn tranh luận:

Cuộc chiến pháp lý mới liên quan đến Đường lưỡi bò

 

(Xung quanh công hàm của Phi-líp-pin phản đối Đường lưỡi bò và công hàm phản hồi của Trung Quốc gửi Liên Hiệp Quốc trong tháng 4 năm 2011 liên quan đến Biển Đông)

Gần 2 năm sau khi Trung Quốc chính thức công bố tấm bản đồ 9 đường gián đoạn (còn được biết đến là bản đồ đường lưỡi bò) làm cơ sở cho yêu sách chủ quyền đối với gần như toàn bộ vùng Biển Đông, Phi-líp-pin mới chính thức phản ứng trước sự việc này. Trong một văn kiện đề ngày 05/04/2011 gửi đến Liên Hiệp Quốc, Manila đã bác bỏ giá trị của tấm bản đồ 9 đường gián đoạn đó.

Đáp lại Phi-líp-pin, Trung Quốc cũng lập tức gửi công hàm ngoại giao lên Liên Hiệp Quốc phản bác lập trường nói trên của Phi-li-pin, đồng thời tái khẳng định yêu sách chủ quyền 'không thể chối cãi' ở Biển Đông.  

Vấn đề này đã thu hút được sự quan tâm và chú ý của dư luận. NCBĐ mời các chuyên gia trong vấn đề Biển Đông tham gia tranh luận trực tuyến về cuộc chiến pháp lý mới này.  Tham gia thảo luận có PGS. TS. Nguyễn Hồng Thao (Đại học Quốc Gia Hà Nội), Th.S. Nguyễn Thị Thanh Hà (Chuyên gia pháp lý, đang làm việc tại NewYork, Mỹ), TS. Trần Trường Thủy (Học viện Ngoại  giao), anh Nguyễn Đăng Thắng (Nghiên cứu sinh Luật, Vương quốc Anh), anh Trần Văn Thùy (Nghiên cứu sinh, Khoa luật, Đại học Brussel, Bỉ), anh Vũ Hải Đăng (Nghiên cứu sinh Tiến sỹ Luật, Trường Luật Môi trường biển, Đạihọc Dalhousie, Canada).

Lưu ý: Đây là những suy nghĩ ban đầu và có tính chất cá nhân, có thể sẽ thay đổi nên đề nghị chỉ tham khảo mà không trích dẫn.

I. Liên quan đến nội dung công hàm của Phi-líp-pin

NCS. Nguyễn Đăng Thắng

Tôi đọc thấy  Công hàm này được giải thích trên trang Nghiên cứu Biển Đông là đưa đến 2 hệ quả: (i) ASEAN đồng loạt phản đối Đường lưỡi bò; (ii) Các đảo, đá tại Trường Sa chỉ có lãnh hải 12 hải lý, không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

Về hệ quả thứ hai, cá nhân tôi hiểu khác một chút: Phi-líp-pin cho rằng một số các vị trí đảo nào trong "Miền đất tự do" của mình có thể có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa (điểm 2). Cách giải thích này có vẻ cũng phù  hợp với quan điểm của Phi-líp-pin trong Tuyên bố về đường cơ sở của Phi-líp-pin, theo đó quy chế đảo được áp dụng với phần quần đảo Trường Sa mà Phi-líp-pin yêu sách.  Với cách giải thích như vậy (cộng với một số các thuật ngữ pháp lý phức tạp hơn cần thiết), Phi-líp-pin bác bỏ "các vùng nước liên quan" trong Công hàm của Trung Quốc bên ngoài "miền đất tự do" (điểm 3), cho rằng chỉ có  Phi-líp-pin là quốc gia quần đảo ven bờ mới có thể yêu sách về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Hệ quả là các đảo bên ngoài "Miền đất tự do"  không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Lập luận này của  Phi-líp-pin dường như hơi "quá" và Phi-líp-pin đã áp dụng (hay đúng hơn là lợi dụng) học thuyết "đất thống trị biển" một cách không hoàn toàn phù  hợp (nếu không nói là không chính xác). Các vị trí đảo bên ngoài Miền đất tự do nếu đáp ứng tiêu chuẩn Điều 121 thì hoàn toàn có thể vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

Trong phân định, có thể các đảo này không có giá trị đầy đủ hoặc không có giá trị khi so với bờ biển của các quốc gia khác nhưng chắc chắn không kém giá trị hơn các vị trí đảo trong Miền đất tự do của Phi-líp-pin.

Bổ sung thêm một ý nữa,  bỏ qua sự chính xác về mặt pháp lý, phải thừa nhận là trong lập luận của Phi-líp-pin trong công hàm là rất thống nhất và có lô-gíc của nó.

TS. Trần Trường Thủy

Theo tôi, về điểm 2 về việc Phi-líp-pin  không coi các vị trí của Trường Sa có vùng Đặc quyền kinh tế  và Thềm lục địa, nếu đọc kỹ công hàm của Phi-líp-pin có thể thấy:

- Điểm 1:  Phi-líp-pin khẳng định chủ quyền đối với các vị trí thuộc Kalayan;

- Điểm 2:  Phi-líp-pin coi vùng nuớc liền kề ("adjacent" waters) của các vị trí này thuộc Phi-líp-pin luôn theo nguyên tắc đất thống trị biển ("the land dominates the sea"), theo điều 121 UNCLOS, nhưng không chỉ rõ theo khoản 2, hay 3.

- Điểm 3: Các vùng nước, đáy biển liên quan ngoài vùng nước liền kề "adjacent" này không có cơ sở pháp lý, mà thuộc các quốc gia ven biển lục địa và quần đảo (Phi-líp-pin), theo các điều về lãnh hải, vùng Đặc quyền kinh tế, Thềm lục địa của UNCLOS.

Như vậy có hai khả năng xảy ra ở điểm 2 ở trên:

(i) khả năng thứ nhất như anh Thắng đã nêu, Phi-líp-pin vẫn coi các vị trí thuộc Kalayan có Đặc quyền kinh tế và Thềm lục địa, điều này dẫn đến các điểm mâu thuẫn mà anh Thắng cũng chỉ ra; ngoài ra không giải thích được điểm 3 là tại sao các vùng nước, đáy biển liên quan ngoài vùng nuớc liền kề này lại không có cơ sở pháp lý theo UNCLOS và tại sao ở điểm 3 lại phải chỉ ra từ "lãnh hải"  theo điều 3,4 UNCLOS ở đây, Đường lưỡi bò không chồng lấn đến lãnh hải các nước tính từ đường cơ sở; {jcomments on}

(ii) khả năng hai logic hơn: Phi-líp-pin coi vùng nuớc liền kề  như "lãnh hải" (tương tự TQ đang dần dần coi), các vị trí của Kalayan và cả các vị trí khác thuộc Spratly có "lãnh hải", theo điều 121, khoản 3. Vùng ngoài các "lãnh hải" của Kalayaan này thuộc "lãnh hải" của các vị trí còn lại của Spratly, vùng Đặc quyền kinh tế, Thềm lục địa và Thềm lục địa kéo dài từ đường cơ sở các nước. Điều này cũng thống nhất với Công hàm Phi-líp-pin phản đối báo cáo của Việt Nam ở vùng phía bắc là vùng báo cáo thềm lục địa kéo dài của Việt Nam chồng lấn với của Phi-líp-pin (Thềm lục địa kéo dài từ đường cơ sở, chứ không phải từ các vị trí của Kalayan).

Th.S. Nguyễn Thị Thanh Hà

Cám ơn anh Thắng và anh Thủy đã đưa ra những nhận xét của mình để mọi người cùng suy nghĩ. Theo như tôi hiểu khi đọc công hàm của Phi-líp-pin thì Phi-líp-pin đồng thời thể hiện lập trường nguyên tắc, đồng thời dự trù cho khả năng giải quyết tranh chấp chủ quyền đối với các đảo, đá, bãi thuộc Trường Sa. .

 - Về lập trường nguyên tắc, Phi-líp-pin khẳng định: (i) chủ quyền đối với Kalayaan Islands Group (KIG); (ii) quyền đối với các vùng nước lân cận các hình thái địa chất (geological features) của KIG xuất phát từ chủ quyền lãnh thổ và căn cứ theo qui định của Công ước Luật biển 1982; (iii) quyền đối với vùng biển và thềm lục địa tiếp giáp lãnh thổ quốc gia xác định theo qui định của Công ước Luật biển 1982 (đối với Phi-líp-pin thì căn cứ vào đường cơ sở quốc gia quần đảo; đối với quốc gia ven biển lục địa thì căn cứ vào đường cơ sở của lãnh thổ lục địa; và vì thế không có cơ sở cho Trung Quốc yêu sách đưa trên đường 9 đoạn). Lập trường nguyên tắc này không có gì mới.

- Điều mà Phi-líp-pin không nói rõ ràng mà tôi cho là họ dự trù cho khả năng phải thương  lượng với các nước tranh chấp khác để chia sẻ quyền sở hữu các đảo, đá, bãi nằm trong KIG, chính là cách họ lập luận trong điểm 2. Do vậy, họ không đánh đồng cách xác định vùng biển phụ cận các hình thái địa chất (features) trong quần đảo Trường Sa với cách xác định vùng biển của quốc gia quần đảo. Họ nhấn mạnh vùng biển phụ cận các hình thái địa chất trong quần đảo phải theo Công ước Luật biển, đặc biệt là điều 121 về quy chế đảo chứ không nói rõ chúng sẽ chỉ có lãnh hải, hay có thể có cả vùng Đặc quyền kinh tế và Thềm lục địa riêng. Như vậy, có thể suy ra là các nước khác không thể dựa trên đòi hỏi chủ quyền đối với toàn thể quần đảo để yêu sách vùng biển theo cách khác; còn với Phi-líp-pin thì với lợi thế là một quốc gia quần đảo, khi xác định được chủ quyền đối với các đảo, đá, bãi nào thì họ sẽ xác định vùng biển các hình thái địa chất đó theo Công ước Luật biển rồi gộp chung vào vùng  biển quốc gia quần đảo và yêu sách các vùng biển kề cận theo quy chế quốc gia quần đảo.

Nhìn chung, trừ xung đột đương nhiên với Việt Nam liên quan đến chủ quyền đối với quần đảo, tôi thấy cách tiếp cận của Phi-líp-pin tương đồng với cách tiếp cận hiện nay của Việt Nam và các nước ASEAN khác. Tôi cho rằng, đây chính là cơ sở tốt cho các nước ASEAN phối hợp triển khai nhiều việc: DOC/COC, báo cáo chung về ranh giới thềm lục địa ngoài 200 hải lý.

NCS. Vũ Hải Đăng

Cách hiểu của tôi về điểm 3 của Công hàm hơi khác với ý kiến của chị Hà, anh Thắng và anh Thủy một chút. Theo tôi, Phi-líp-pin muốn tuyên bố 3 điều sau đây: (i) Yêu sách của Trung Quốc liên quan đến các vùng nước liên quan cũng như đáy biển và vùng đất dưới đáy biển (relevant waters as well as the seabed and subsoil thereof)đối với các thực thể bên ngoài Kalayaan Islands Group là không có cơ sở pháp lý; (ii) Các thực thể của Kalayaan có thể có hoặc không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa; (iii) cho dù các thực thể của Kalayaan có vùng Đặc quyền kinh tế và Thềm lục địa hay không thì các vùng biển này vẫn nhất thiết thuộc về (necessarily belong to) Phi-líp-pin.

NCS. Trần Văn Thùy

Cám ơn các anh chị đã chia sẻ quan điểm của mình, về cơ bản, tôi đồng tình với các quan điểm. Đối với vấn đề này, tôi có mấy nhận xét sau:

1. Đây là phản ứng chính thức của Phi-líp-pin đối với yêu sách của Trung Quốc tại Biển Đông nói chung và bản đồ đường 9 đoạn nói riêng. Tuy nhiên, bản chất và nội dung của công hàm này theo tôi có một giới hạn chủ định của nó khi nói đến yêu sách của Trung Quốc, đặc biệt là với yêu sách bản đồ đường 9 đoạn. Như đã nói, Phi-líp-pin vừa mới phần nào lên tiếng phản đối bản đồ đó, thể hiện ở điểm 3 của công hàm về vùng nước liên quan đáy biển và tầng đất dưới đáy Biển Đông. Cùng lúc đó, Phi-líp-pin tận dụng cơ hội tái khẳng định yêu sách của mình đối với nhóm đảo Kalayaan và các vùng nước của nó. Để hiểu rõ hơn những ẩn ý trong công hàm này, chúng ta cần phải có sự giải thích rõ ràng của tác giả công hàm.

2. Đây dường như là động thái chính trị hơn là động thái pháp lý, ý của tôi là động thái này có thể xuất phát từ ý chí chính trị, có thể mới có cách đây không lâu, do vậy, thời điểm của bước đi này có thể cần được xem xét kỹ.

3. Về kỹ thuật mà nói, như một qui tắc trong công hàm, Phi-líp-pin lẽ ra cần phải thêm vào yêu cầu công hàm được lưu truyền cho các bên liên quan bao gồm các nước thành viên của Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển nắm 1982 (UNCLOS) nhưng công hàm lại không yêu cầu điều này. Điều này không biết là vô tình hay hữu ý? Thêm vào đó, nếu đem so sánh với công hàm của In-đô-nê-xi-a thì Phi-líp-pin nhắc đến cả 2 công hàm của Trung Quốc. Tuy nhiên, trong khi người Phi-líp-pin chỉ nói rõ rằng các vùng nước liên quan, đáy biển và vùng đất dưới đáy Biển Đông nêu trong điểm 3 của công hàm không có cơ sở trong Luật pháp quốc tế, nhất là trong UNCLOS, In-đô-nê-xi-a có quan điểm rằng: bản đồ đường 9 đoạn rõ ràng là thiếu cơ sở pháp lý quốc tế.

4. Về một trong những nhận xét trên trang Nghiên cứu Biển Đông, “Công hàm Phi-líp-pin phản đối lên Liên hợp quốc về Đường lưỡi bò của Trung Quốc: Hai hệ quả: i) ASEAN đồng loạt phản đối ĐLB; ii) Các đảo, đá tại Trường Sa chỉ có lãnh hải 12 hải lý, không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.”, tôi nghĩ là có thể vẫn còn quá sớm đề đi đến kết luận này. Bởi vì Bru-nây, một trong những bên liên quan vẫn còn im lặng về yêu sách đường lưỡi bò của Trung Quốc;  quan điểm của Phi-líp-pin thể hiện trong công hàm nói trên không phải là đã đủ rõ ràng; và còn có nhiều điều cần phải tiếp tục làm rõ.

5. Tóm lại, dường như tất cả 4 quốc gia đã lên tiếng về bản đồ đường 9 lưỡi bò của Trung Quốc đều có xu hướng nhấn mạnh vào UNCLOS khi mà nhắc đến cơ sở pháp lý cho việc giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông.

NCS. Nguyễn Đăng Thắng

Phản hồi rất nhanh và quan điểm khác nhau của mọi người cho thấy rõ mức độ thú vị của công hàm Phi-líp-pin gửi là như thế nào. Rõ ràng chúng ta không phải người Phi-líp-pin và nếu tôi không nhầm thì mọi người cũng không học tiếng Anh ở Phi-líp-pin, thế nên việc giải thích công hàm của Phi-lí-pin theo cách khác nhau là hoàn toàn dễ hiểu vì người Phi-líp-pin vẫn nổi tiếng trong khu vực là dùng tiếng Anh phức tạp, chưa kể trong trường hợp này sự phức tạp còn được cố ý tăng lên.

Quan điểm của tôi cũng gần với quan điểm của chị Hà: (i) Thứ nhất, Kalayaan là một bộ phận của Phi-líp-pin, (ii) Thứ hai, vì KIG  thuộc Phi-líp-pin, theo học thuyết đất thống trị biển thì Phi-líp-pin có chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng nước xung quanh và bên cạnh mỗi vị trí địa lý có liên quan trong KIG như quy định của Công ước Luật Biển. Phạm vi của vùng nước bên cạnh là xác định (definite) và được xác định (determinable) theo Điều 121, (iii) Thứ ba, vì vùng nước bên cạnh những vị trí địa lý có liên quan xác định và phải tuân theo các tiêu chuẩn về pháp lý và kỹ thuật, yêu sách của TQ về "các vùng nước liên quan và đáy biển của chúng" nằm bên ngoài những vị trí địa lý có liên quan và vùng nước bên ngoài của chúng  không có cơ sở theo Luật pháp Quốc tế, đặc biệt là Công ước Luật biển. Những vùng nước nằm bên ngoài này sẽ thuộc về quốc gia ven biển hay quốc gia quần đảo theo quy chế lãnh hải, vùng Đặc quyền kinh tế và Thềm lục địa.

Cách hiểu của anh Thủy về điểm 2 cũng đưa đến cách giải thích lô-gích về điểm 3, tuy nhiên vẫn còn điểm về các vị trí bên ngoài Kalayaan hơi khó giải thích một chút. (Về điểm này một chút nữa tôi sẽ trình bày thêm). Tuy nhiên, tôi hiểu lô-gích trong Công hàm của Phi-líp-pin hơi khác một chút:  Lô-gích trong công hàm của Phi-líp-pin trước hết thể hiện ở việc Phi-líp-pin chỉ đả kích một phần đường 9 đoạn nằm bên ngoài vùng Kalayaan; vùng biển liên quan đến Kalayaan không có gì phải bàn cãi vì nó thuộc Phi-líp-pin. Yêu sách của Trung Quốc nằm bên ngoài vùng biển của Kalayaan không có cơ sở pháp lý theo Công ước Luật biển do Trung Quốc không phải là quốc gia ven biển hay quốc gia quần đảo ở khu vực này (mặt kia của học thuyết đất thống trị biển). Cũng vì lý do này, việc xác định vùng nước nào bên ngoài không quan trọng, chỉ cần biết vùng nước liên quan đến KIG là xác định (có nghĩa là không trùng với đường 9 đoạn của TQ). 

Đúng như anh Đăng đã nói, điểm 2 không nói rõ ràng về việc các vị trí đảo của KIG có vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa không? Tuy nhiên, mọi người chú ý là Phi-líp-pin dùng các khái niệm khác nhau mỗi hình thái địa chất liên quan (each relevant geological feature) và các hình thái địa chất liên quan (the relevant geological features), vùng nước liền kề (adjacent waters) và vùng nước xung quanh ( waters around) và chỉ có vùng nước liền kề ( waters "adjacent"- nhấn mạnh của Phi-líp-pin) mới là xác định (definite)  và được xác định (determinable) theo điều 121. Như vậy, đường như Phi-líp-pin cũng để ngỏ khả năng có sự phân biệt giữa các vị trí và các vùng nước liên quan đến KIG. Và cuối cùng, nếu Phi-líp-pin chỉ coi các vị trí ở Trường Sa (kể cả trong KIG) chỉ có lãnh hải thì tại sao Phi-líp-pin lại phải chốt là 'phạm vi sẽ được xác định theo điều 121'?

Cũng như anh Đăng nói, Phi-líp-pin cũng rất "thông minh". "Thông minh hơn nữa" (và cái này cũng cho thấy lô-gich trong công hàm của Phi-líp-pin) đó là Phi-líp-pin tuyên bố rằng KIG là một bộ phận của Phi-líp-pin, ngụ ý là vẫn để ngỏ khả năng tính các vùng biển của Phi-líp-pin theo học thuyết đất thống trị biển từ một số vị trí trong KIG. Như chị Hà nói, theo cách này Phi-líp-pin  tận dụng được vị thế của mình là quốc gia quần đảo duy nhất trong tranh chấp và lại ở gần các vị trí đảo tranh chấp nhất. Đây cũng là cái 'hơi quá' của Phi-líp-pin trong việc vận dụng học thuyết đất thống trị biển. Như cách hiểu của Phi-líp-pin thì nội tại các đảo ở Trường Sa không thể có vùng đặc quyền kinh tế và Thềm lục địa riêng, nhưng nếu chúng được gắn với quốc gia ven biển, trở thành một điểm trong đường cơ sở quần đảo thì lại khác. Việc này cũng sẽ cho Phi-líp-pin dư địa để sau này có thể điều chỉnh đường cơ sở quần đảo (vấn đề này thực ra khi Phi-líp-pin xây dựng dự luật về đường cơ sở mới cũng gây tranh cãi). 

Cách giải thích trên về công hàm của Phi-líp-pin cũng có một lô-gich nhất định trong nội tại của nó như tôi đã nhận xét trong phần trình bày trước. Tuy nhiên, cách giải thích này cho thấy Phi-líp-pin "hơi quá" trong yêu sách ở Biển Đông: cho rằng vùng biển bên ngoài vùng biển liên quan KIG  sẽ thuộc về quốc gia ven biển hay quốc gia quần đảo thôi. Giải thích như vậy cũng dẫn đến sự mâu thuẫn trong lập trường của Phi-líp-pin (mâu thuẫn này chỉ nảy sinh khi đi vào giải quyết thực tế) đó là một mặt Phi-líp-pin coi một số vị trí trong KIG (lưu ý là PLP dùng each relevant geological feature) có vùng liên quan (relevant waters), mặt khác lờ đi khả năng  các vị trí đảo bên ngoài KIG, trong đó đặc biệt có đảo Trường Sa lớn - đảo lớn thứ 2 ở quần đảo Trường Sa - cũng có vùng nước của mình.

Th.S. Nguyễn Thị Thanh Hà

Tôi muốn nói thêm một chút về bình luận của anh Thắng trong ý kiến mới nhất, liên quan đến đoạn cuối cùng khi nói về điểm 3 trong công hàm Phi-líp-pin.

Thứ nhất, tôi không cho là Phi-líp-pin tham khi nói các vùng biển và thềm lục địa ở Biển Đông ngoài KIG chỉ thuộc về các quốc gia ven biển và quốc gia quần đảo liên quan theo Công ước Luật biển 1982. Tôi thấy nói thế là chính xác. Liệu còn có cách xác định nào khác? Tất nhiên là không kể cách xác định vùng biển theo lịch sử như Trung Quốc.

Hai là Phi-líp-pin có lý khi chỉ bình luận về vùng biển lân cận các hình thái địa chất thuộc KIG. Sẽ không hợp lý khi Phi-líp-pin lại bình luận cả về vùng biển lân cận các hình thái địa chất nằm ngoài KIG trong đó có Trường Sa như anh Thắng nói, vì Phi-líp-pin muốn thể hiện rõ việc xác định vùng biển lân cận các vùng lãnh thổ của quốc gia khác sẽ do các quốc gia đó đảm nhiệm. Công hàm của Phi-líp-pin là văn kiện thể hiện lập trường chính thức của Nhà nước Phi-líp-pin, vì thế nó không thể đề cập đến các vấn đề theo cách bao quát như trong một tài liệu nghiên cứu của học giả được.

NCS. Nguyễn Đăng Thắng

Cám ơn chị Hà đã phản biện lại rất nhanh và có lý. Tuy nhiên, tôi nhìn nhận việc Phi-líp-pin "đòi hơi quá" không phải là việc Phi-líp-pin phân chia vùng biển ở Trường Sa cho các nước ven bờ mà là việc Phi-líp-pin "xây dựng" bờ biển của mình thế nào. Công hàm của Phi-líp-pin rõ ràng cho thấy và cũng như mọi người phân tích là để ngỏ khả năng Phi-líp-pin tận dụng vị trí địa lý thuận lợi của mình (và cũng có lúc là bất lợi nếu như vấn đề Trường Sa không được giải quyết) để vạch đường cơ sở quần đảo tối đa trong đó gộp cả vị trí các đảo trong quần đảo Trường Sa hoặc bãi Hoàng Nham. Như anh Thao đã phân tích, thực tế, nội bộ Phi-líp-pin cũng chưa thống nhất về vấn đề này khi xây dựng đường cơ sở quần đảo và giải pháp tạm thời đó là đưa KIG thành quy chế đảo (không thông qua dự luật dùng các vị trí trong KIG làm điểm cơ sở quần đảo). Chính vì lý do này, Công hàm của Phi-líp-pin vẫn "lập lờ" như vậy và để ngỏ khả năng điều chỉnh sau này. Tất nhiên, việc đưa ra một yêu sách như vậy là hoàn toàn dễ hiểu, khi đi vào đàm phán, phân định thực chất thì chắc chắn sẽ có sự thay đổi, nhượng bộ.

Chị Hà cũng đã chỉ ra rất chính xác là công hàm của Phi-líp-pin thể hiện lập trường của Phi-líp-pin nên không thể thể hiện các khả năng khác. Chính vì thế tôi cũng nói là chỉ khi đi vào đàm phán thực tế thì mới thấy sự mâu thuẫn đó là một mặt Phi-líp-pin coi các vị trí trong KIG có vùng nước lân cận còn Trường Sa của ta bị lờ đi.  Tạm thời hiện nay, nếu đọc riêng biệt, công hàm của Phi-líp-pin vẫn thể hiện một sự nhất quán và lô gich xuyên suốt.

Đọc phần tiếp theo "Phân tích Công hàm của Phi-líp-pin"

Nghiên cứu Biển Đông

Đề nghị chỉ được dẫn đường link mọi thông tin, bài viết  trên www.nghiencuubiendong.vn, không đăng lại khi chưa có sự đồng ý của Ban Biên tập NCBĐ.

 

Các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa có diện tích bề mặt chưa quá 15 km² là mục tiêu theo đuổi của những yêu sách và xung đột gia tăng kể từ những năm 1970. Những lợi ích từ yêu sách hai quần đảo này đối với các quốc gia là gì?

 

 

Dưới đây là một số nội dung chính trong bài phân tích Les îles Spratley et Paracels của tác giả Laurent Garnier đăng trên website Bộ Quốc Phòng Pháp.

Những thách thức

1- M rng vùng đc quyn kinh tế (EEZ):

Như chúng ta đã biết, theo luật quốc tế, việc một Nhà nước sở hữu một lãnh thổ trên biển sẽ cho phép có những đặc quyền đối với một phạm vi lãnh hải và EEZ. Việc các Nhà nước xung quanh Biển Đông tranh giành quyền sở hữu các đảo nhỏ và đảo san hô không có người ở và không thể sinh sống được tại Trường Sa và Hoàng Sa trước hết không phải nhằm giành chủ quyền các hòn đảo này mà là nhằm mở rộng EEZ. Chính vì lý do này, Trung Quốc, nước có EEZ rộng 880.000 km2 (Mỹ có EEZ rộng 12 triệu km2, Nhật 4,4 triệu km2, Pháp 11 triệu km2) đang dòm ngó 3,5 triệu km2 Biển Đông.

2- Các nguồn tài nguyên thiên nhiên và hải sản:

Hai quần đảo trên dồi dào các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Trữ lượng cá ước tính nhiều triệu tấn, các nguồn hải sản phong phú (các loài hải sản có giá trị cao như tôm hùm, rùa, đồi mồi, bào ngư quý hiếm…). Ngoài sự hiện diện của nguồn phốt phát trên các hòn đảo còn tiềm ẩn trữ lượng lớn các mỏ kim loại dưới đáy biển. 10% trữ lượng cá của thế giới nằm tại Biển Đông.

3- Kiểm soát các tuyến hàng hải thương mại quốc tế:

Biển Đông bao quát nhiều eo biển: Eo biển Malắcca nằm giữa bán đảo Malaixia và đảo Sumatra của Inđônêxia, nối biển Andaman ven Ấn Độ Dương với Biển Đông tại phía Nam; eo biển Sonde chia cắt các đảo Java của Inđônêxia với đảo Sumatra; eo biển Lombok nối biển Java và Ấn Độ Dương, chia cắt các đảo Bali và Lombok của Inđônêxia; eo biển Macassar chia cách phía Tây đảo Borneo và phía Đông đảo Sulawesi. Với chiều rộng trung bình 15 km và dài khoảng 800 km, eo biển này cho phép thông thương giữa biển Celebes và biển Java; eo biển Balabac nối biển Sulu với Biển Đông. Eo biển này chia cách đảo Balabac (thuộc tỉnh Palawan của Philíppin) với các đảo nằm ở phía Bắc của Borneo, thuộc bang Sabah của Malaixia, rộng 55 km; eo biển Luzon nằm giữa các đảo Luzon và Đài Loan; eo biển Đài loan, giao giữa quần đảo này với Trung Quốc đại lục.

Biển Đông là một ngã tư thông thương của các tuyến hàng hải thương mại quan trọng bởi đây là tuyến ngắn nhất nối giữa Bắc Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Trước tiên liên quan đến tuyến vận chuyển năng lượng, eo biển Malắcca vận chuyển nhiều dầu mỏ gấp 6 lần kênh đào Xuyê và nhiều hơn 17 lần kênh đào Panama. Biển Đông là nơi vận chuyển 2/3 nguồn năng lượng của Hàn Quốc, 60% nguồn năng lượng của Nhật Bản và Đài Loan, 80% nhập khẩu dầu thô của Trung Quốc, tức hơn một nửa nhập khẩu năng lượng của khu vực Đông Nam Á. Trong bối cảnh đó, việc nắm quyền kiểm soát hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa sẽ giúp kiểm soát hầu như một phần lớn EEZ và tuyến thương mại quan trọng hàng đầu thế giới.

4- Các nguồn tài nguyên dầu khí:

Theo tác giả Robert D. Kaplan, Biển Đông có trữ lượng dầu thô đạt 7 tỷ thùng (so với 1.383 tỷ thùng trên đất liền toàn thế giới theo tính toán của tập đoàn BP năm 2010, chiếm 0,5% trữ lượng dầu của thế giới) và có trữ lượng khí đốt đạt 25.000 tỷ m3 khí (so với 187.100 tỷ m3 khí trên đất liền toàn thế giới, chiếm 13,4% trữ lượng khí đốt toàn cầu).

5- Phạm vi triển khai một hạm đội tàu ngầm:

Biển Đông là tuyến hàng hải thương mại ưu tiên, thậm chí cốt yếu giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Không chỉ có tầm quan trọng về thương mại, Biển Đông còn chiếm một vị trí quan trọng trong chiến lược quân sự, đặc biệt đối với Trung Quốc. Chúng ta phải thừa nhận là Trung Quốc đang tăng cường khả năng của các đội tàu ngầm trong khu vực, đặc biệt là việc nước này xây dựng căn cứ tàu ngầm tại cảng hải quân Tam Á ở phía Nam đảo Hải Nam. Theo tướng Schaeffer, dường như tham vọng của Trung Quốc tại các quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa hay các quần đảo khác cũng như các vùng nước sâu tại Biển Đông không nhằm mục đích nào khác ngoài bảo đảm cho nước này một khu vực triển khai an toàn đội tàu ngầm tấn công. Dù bất kể thế nào Biển Đông vẫn là vùng biển xung quanh Trung Quốc có vùng nước sâu cho phép tàu ngầm nước này dễ dàng tiến ra Thái Bình Dương.

Tình trạng tranh chấp

1- Thiếu vng gii pháp đo đc?

Tính chất nghiêm trọng của cuộc xung đột này là thiếu một giải pháp đạo đức. Nếu cuộc Chiến tranh Thế giới thứ II là cuộc chiến không khoan nhượng chống chế độ cực quyền thì không một nước chủ chốt nào liên quan đến những căng thẳng tại Biển Đông có thể bị coi là hiện thân của sự xấu xa hoàn toàn. Do đó, cuộc chiến của cái tốt chống cái xấu đang dần thay thế bằng cuộc đối đầu giữa các chủ nghĩa dân tộc duy lý mà chúng ta có thể chứng kiến tại Biển Đông với câu nói: “Kẻ mạnh có thể làm điều mình muốn và kẻ yếu phải chịu điều cần phải chịu”. Nếu có khả năng xảy ra một cuộc tranh chấp thì cũng chỉ hạn chế ở một số cuộc đụng độ lẻ tẻ và không dẫn tới một cuộc chiến tranh quy mô lớn. Cũng cần phải thấy các cuộc đụng độ đó sẽ không gây ra nhiều lo ngại song chất lượng vũ khí sẽ quyết định cuộc đối đầu. Tình hình mong muốn nhất là duy trì quy chế nguyên trạng do sự cân bằng sức mạnh, nhất là giữa Mỹ và Trung Quốc, cũng như những gì Ôxtrâylia kêu gọi.

2- Một giải pháp pháp lý?

Mặc dù thiếu vắng giải pháp đạo đức song vẫn tồn tại một luật pháp quốc tế, đặc biệt như những gì Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982 ký ở Montego Bay mô tả. Công ước này không thể giải quyết toàn bộ mọi cuộc xung đột và đối đầu, xong đề ra một khung cảnh luật hợp pháp, trong đó mọi tranh chấp trên có thể được giải quyết theo các quy tắc lãnh hải và EEZ mà không phải cần tới đối đầu vũ trang. Công ước cũng là một tư liệu gốc về các luật lệ quy định các hoạt động ngoài khơi. Các nước có thể yêu cầu mở rộng EEZ trên thềm lục địa của mình. Đó là điều mà Malaixia và Việt Nam đã làm năm 2009. Nhưng do luật pháp quốc tế không đủ nên hành động phối hợp giữa Malaixia và Việt Nam đã làm Trung Quốc không hài lòng. Trung Quốc sau đó đã gửi một công hàm lên Tổng thư ký Liên hợp quốc nhằm chính thức hóa lập trường của nước này đối với yêu sách “đường lưỡi bò” trên Biển Đông, một quan điểm từ trước đến nay chưa được công nhận chính thức. Tướng Schaeffer xác nhận hành động của Trung Quốc đi ngược lại với điều 89 của UNCLOS, theo đó “không một Nhà nước nào có thể đòi hỏi một khu vực bất kỳ ngoài biển khơi làm chủ quyền riêng”. Cũng cần phải nhấn mạnh vai trò của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Tuy nhiên, các điều luật trong công ước của LHQ hay rộng hơn là hành động của cộng đồng quốc tế không đủ đề ngăn chặn mọi hành động hiếu chiến từ các đối tượng trong khu vực, ngay cả những nỗ lực của ASEAN. Chúng ta có thể nhắc đến Tòa án tư pháp quốc tế, song dù cố gắng cũng không thể triệu tập hết các nước liên quan đến tranh chấp. Tuy nhiên, dường như giải pháp của các nước liên quan Biển Đông sẽ mang tính chính trị hơn là tư pháp và có thể cả quân sự.

3- Các sự kiện mới đây cho thấy thái độ hiếu chiến gia tăng của Trung Quốc

Những cuộc xâm lược trên thực địa

Chúng ta thấy từ năm 2009 một sự gia tăng xâm lược của Trung Quốc trên Biển Đông. Không chỉ có vậy, Lực lượng hải quân của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLAN) không ngừng gia tăng các hành động hăm dọa, các hành động nhằm duy trì sự hiện diện tại Biển Đông. Cùng với đó là các đơn vị dân sự như lực lượng hải giám (CMS), được trang bị vũ khí từ PLAN, không ngừng quấy rối các tàu thăm dò dầu khí. Mọi hành động của Trung Quốc đều núp dưới vỏ bọc dân sự và được hải quân Trung Quốc hiện diện gần đó bảo vệ. Bên cạnh sự hiện diện hải quân, Trung Quốc còn thực hiện các vụ tấn công mạng. Đã có hơn 200 trang mạng của Việt Nam bị tin tặc tấn công vào tháng 6 năm 2011.

Những hành động hung hăng chống Mỹ

Những va chạm không chỉ diễn ra giữa Trung Quốc với các Nhà nước khu vực. Từ năm 2001 đã xảy ra 3 vụ va chạm giữa Mỹ và Trung Quốc: Tháng 4/2001, một máy bay trinh sát của Mỹ (EP3-Orion) đã va chạm với một báy bay quân sự Trung Quốc. Mặc dù vụ này xảy ra ngoài EEZ của Trung Quốc song người Trung Quốc lại quả quyết rằng người Mỹ đã vi phạm không phận nước mình. Người Trung Quốc cho rằng họ có quyền trên vùng không phận của EEZ. Điều này hoàn toàn đi ngược lại với luật pháp quốc tế.

Tháng 3/2009, 5 tàu của Trung Quốc đã ngăn cản tàu thăm dò đại dương USNS Impeccable của Mỹ. Tàu Impeccable khi đó đang thực hiện thăm dò tại khu vực gần căn cứ tàu ngầm Tam Á, song ở ngoài khơi (ngoài 12 dặm). Sự kiện này một lần nữa cho thấy tầm quan trọng chiến lược của khu vực đối với các tàu ngầm Trung Quốc và thể hiện sự bành trướng chủ quyền của Trung Quốc đối với EEZ.

Tháng 6/2009, một tàu ngầm Trung Quốc đã mắc vào đường cáp định vị sóng âm của tàu chiến Mỹ USS John McCain tại Scarborough Reef, một khu vực chiến lược mà các tàu ngầm Trung Quốc qua lại. Trung Quốc đã lợi dụng cơ hội này để gia tăng sức ép ngoại giao ngăn cản hải quân Mỹ hiện diện tại Biển Đông.

Một quan điểm ngoại giao mập mờ của Trung Quốc

Không hài lòng với việc chiếm biển, Trung Quốc cũng đang chiếm cả không gian ngoại giao. Không ngại mâu thuẫn với chính mình, Trung Quốc đang nuôi tham vọng đôi khi duy trì ý định hòa giải và hòa bình hơn trong khi vẫn khẳng định chủ quyền trên Biển Đông. Trong ý đồ chính thức hóa “đường lưỡi bò”, Bộ Ngoại giao Trung Quốc năm 2011 đã nói đến “chủ quyền không thể tranh cãi” của Trung Quốc tại Biển Đông. Đại sứ Trung Quốc tại Philíppin Lưu Kiến Siêu đã “khuyên các nước đòi hỏi chủ quyền tại Biển Đông” không tiếp tục khai thác dầu khí tại các “vùng lãnh hải của Trung Quốc” khi chưa được phép của Bắc Kinh.

Mặt khác, Trung Quốc lại thể hiện bộ mặt hòa bình. Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt ngày 5/6/2011 tại Hội nghị Shangri-La ở Xinhgapo đã tuyên bố: “Trung Quốc không có ý định đe dọa bất kỳ nước nào”. Qua quan điểm ngoại giao hai mặt này của Trung Quốc, rất thú vị khi theo dõi những tuyên bố của Trung Quốc khi mua tàu sân bay Varyag nhằm mục đích huấn luyện. Được đặt tên lại là Thi Lang, tàu này đã thực hiện các vụ thử nghiệm trên biển vào tháng 8/2011 và hải quân Trung Quốc đang xây dựng tàu sân bay thứ hai. Chúng ta thừa nhận rằng với việc đổi hướng luật pháp quốc tế một cách tranh cãi để có lợi cho mình, Trung Quốc đang tự cho mình quyền sở hữu phạm vi lãnh hải trong “đường lưỡi bò”.

4- Những lựa chọn của các Nhà nước Đông Nam Á trước sự bành trướng của Trung Quốc

Cần tới Oasinhtơn

Do hạn chế về phương tiện quốc phòng, ý định lớn của các “anh chàng David” Đông Nam Á là hướng về phía Mỹ trước “gã khổng lồ Goliah” Trung Quốc. Philíppin dựa vào Hiệp định phòng thủ chung năm 1951, theo đó Oasinhtơn cam kết cung cấp cho Philíppin thiết bị quân sự. Hải quân Mỹ cũng phối hợp với hải quân Philíppin tổ chức các cuộc tập trận chung hàng năm. Đối với Hà Nội thật không đơn giản. Do không thể công khai hướng tới Oasinhtơn, chiến lược của Việt Nam là công khai nhất có thể liên quan đến những hành động quấy rối mà mình là nạn nhân từ phía Trung Quốc để nhận được sự ủng hộ từ cộng đồng quốc tế. Ngày 9/6/2011, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố trước công chúng rằng chủ quyền của Việt Nam đối với các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa là không thể tranh cãi và “sẽ bảo vệ bằng các lực lượng vũ trang”. Những cuộc trao đổi giữa hải quân Mỹ và Việt Nam ngày càng gia tăng. Mỹ cũng hỗ trợ Xinhgapo, Thái Lan và ngày càng tăng cường quan hệ với Inđônêxia và Malaixia. Mỹ cũng đã quay trở lại Ôxtrâylia. Dường như Mỹ luôn có khả năng là đối trọng với hành động của Trung Quốc ngay cả khi Mỹ đang bước vào giai đoạn bị hạn chế ngân sách quốc phòng.

Hướng tới một cuộc chạy đua vũ trang

Trong bối cảnh này, các nước Đông Nam Á đang tìm cách tăng cường khả năng cho hải quân quốc gia. Từ năm 2000, nhập khẩu vũ khí của Inđônêxia đã tăng 84%, Xinhgapo tăng 146% và nước này đang tìm cách hiện đại hóa hạm đội tàu ngầm, Malaixia tăng 722% và vừa mới thiết lập một căn cứ tàu ngầm tại Borneo để hướng ra Biển Đông. Căn cứ này dành cho 2 tàu ngầm Scorpène mua của Pháp. Malaixia tháng 12/2011 đã mua của Pháp 6 tàu hộ tống Gowind. Việt Nam đã mua 6 tàu ngầm lớp Kilo trị giá 1,4 tỷ euro và các máy bay tiêm kích trị giá 700 triệu euro của Nga.

5- Thái độ của cộng đồng quốc tế

Quan điểm của Pháp

Đối với Pháp, mọi tranh chấp đều phải dựa vào luật pháp quốc tế. Pháp bày tỏ ủng hộ bộ quy tắc ứng xử do ASEAN đề xuất. Hơn nữa, trong nỗ lực giảm thiểu căng thẳng, Pháp đã đề xuất tổ chức hội thảo bao gồm cả Liên minh châu Âu và ASEAN dưới dạng các diễn đàn trao đổi kinh nghiệm quản lý các khu vực hàng hải chung.

Bước ngoặt cuối cùng là quan điểm của Mỹ

Ngoài những vụ va chạm của các tàu USNS Impeccable, USS John McCain, việc tháng 3/2010 Bắc Kinh coi Biển Đông là “lợi ích cốt lõi quốc gia”, ngang với Đài Loan và Tây Tạng đã làm gia tăng mâu thuẫn giữa Mỹ và Trung Quốc. Điều này đã đẩy người Mỹ chính thức cam kết sâu hơn vào khu vực với tuyên bố của Ngoại trưởng Hillary Clinton tại Hội nghị diễn đàn khu vực ASEAN ngày 23/7/2010 khi xác định: “Mỹ có lợi ích quốc gia trong tự do lưu thông hàng hải, tự do tiếp cận các hải phận chung tại châu Á, và tôn trọng luật pháp quốc tế tại Biển Đông”. Quan điểm của Mỹ là chính thức không tham gia những yêu sách lãnh hải song bày tỏ quan tâm đến nguy cơ dẫn đến các bên đối đầu làm ảnh hưởng tới tự do lưu thông hàng hải.

Kết luận

Trung Quốc tỏ thái độ phức tạp giữa lập trường xoa dịu và hành động gây hấn tại Biển Đông. Luật biển theo kiểu Trung Quốc và cách thể hiện của Bắc Kinh là những thách thức chiến lược. Trung Quốc đã hiểu rõ và đang sử dụng mưu đồ để mở rộng luật này phục vụ lợi ích riêng. Cách tiếp cận tư pháp liên quan các vấn đề Biển Đông phải được hoàn thiện từ cách đặt vấn đề ngoại giao và hàng hải. Trung Quốc có tham vọng giải quyết với các bên liên quan ở Biển Đông một cách song phương chứ không phải đa phương như phần lớn các đối tác và cộng đồng quốc tế mong muốn. Do đó, việc Mỹ quay trở lại khu vực đánh dấu một bước ngoặt trong các sự kiện. Cuộc chơi sẽ thận trọng hơn.

Bài gốc: Les îles Spratley et Paracels

Theo Cesm.marine.defense.gouv.fr

Viết Tuấn (gt)

 

 

Trong bài viết trên trang Hội đồng Quan hệ Đối ngoại (Mỹ), Bonnie Glaser (CSIS) đánh giá rằng khả năng xảy ra xung đột vũ trang ở Biển Đông là hoàn toàn có thể. Tác giả đề cập đến 3 trường hợp Mỹ có thể bị cuốn vào cuộc xung đột đó đồng thời khuyến nghị một số biện pháp ngoại giao phòng ngừa.

 

- Trường hợp có khả năng xảy ra và nguy hiểm nhất là xung đột phát sinh từ hoạt động quân sự của Mỹ trong khu vực đặc quyền kinh tế của Trung Quốc (EEZ). Mỹ cho rằng UNCLOS cho phép các nước tiến hành các hoạt động quân sự trong vùng EEZ mà không cần phải có sự đồng ý của nước ven biển đó. Còn Trung Quốc cho rằng các hoạt động trinh sát tiến hành không có sự thông báo và chấp thuận của Trung Quốc là vi phạm luật pháp Trung Quốc và luật pháp quốc tế. Trong những năm gần đây, Trung Quốc thường xuyên ngăn chặn máy bay trinh sát của Mỹ trong vùng EEZ như giữa máy bay trinh sát Mỹ và máy bay chiến đấu của Trung Quốc năm 2001, tàu chiến Trung Quốc quấy rối tàu tuần dương của Mỹ năm 2009. Trong bối cảnh ngày càng có nhiều tàu của Trung Quốc hoạt động trong vùng biển Đông, khả năng xảy ra va chạm với Trung Quốc ngày càng tăng cao.

- Trường hợp thứ hai liên quan đến xung đột giữa Trung Quốc và Phi-líp-pin, đặc biệt là tranh chấp liên quan đến bãi Cỏ Rong, 80 dặm từ bờ biển của Phi-líp-pin mà cả hai bên đều nhận có chủ quyền. Phi-líp-pin hiện đang hợp tác với nước ngoài tiến hành các hoạt động thăm dò và khoan dầu khí ở khu vực này và trong trường hợp Trung Quốc quyết định can thiệp sẽ dẫn đến tranh chấp giữa Trung Quốc và Phi-líp-pin. Mỹ có thể bị cuốn vào cuộc tranh chấp này vì Hiệp ước Phòng thủ chung năm 1951. Mặc dù Mỹ không nói rõ khả năng can thiệp của Mỹ trong trường hợp xảy ra xung đột giữa Phi-líp-pin và Trung Quốc, Phi-líp-pin đã nói rằng trong trường hợp xảy ra xung đột vũ trang với Trung Quốc, Phi-líp-pin mong muốn có sự hỗ trợ của Mỹ theo Hiệp định này.

- Trường hợp thứ ba là xung đột giữa Việt Nam và Trung Quốc. Mặc dù khả năng Mỹ bị cuốn vào xung đột giữa Việt Nam và Trung Quốc thấp hơn so với Phi-líp-pin, tuy nhiên trong trường hợp Trung Quốc gây hấn, Mỹ có thể quyết định điều tàu hải quân đến khu vực và Việt Nam có thể đề nghị Mỹ trợ giúp. Nếu Trung Quốc tấn công vào các tàu chở dầu hoặc giàn khoan của các công ty Mỹ đang khai thác dầu ở khu vực biển Đông, khả năng Mỹ tham gia vào xung đột sẽ càng cao hơn.

Các biện pháp ngoại giao phòng ngừa khả năng xảy ra xung đột giữa Mỹ và Trung Quốc, cụ thể là:

- Hỗ trợ xây dựng các biện pháp giảm nguy cơ xung đột giữa Mỹ và Trung Quốc thông qua việc thiết lập các cơ chế thông tin giữa hai bên.

- Hỗ trợ nâng cao năng lực cho các nước trong khu vực để có thể nâng cao khả năng phòng thủ của các nước và qua đó răn đe Trung Quốc không có những hành động quá khích.

- Khuyến khích việc giải quyết các tranh chấp thông qua Tòa án Quốc tế, Tòa án Luật Biển hoặc thông qua bên thứ ba khác.

- Thúc đẩy các biện pháp giảm thiểu nguy cơ xung đột ở cấp độ khu vực như việc tuân thủ DOC, thúc đẩy các cơ chế khu vực về an ninh biển.

- Khuyến khích cùng phát triển/ hợp tác đa phương trong lĩnh vực khai thác dầu khí, tài nguyên biển...

- Làm rõ những cam kết của Mỹ, tránh tạo cơ hội khuyến khích các nước có những hành động đối đầu.

Các khuyến nghị đối với chính quyền Mỹ để ngăn chặn khả năng xung đột và giảm hậu quả nếu xung đột xảy ra:

Một là, Mỹ cần phê chuẩn UNCLOS. Mặc dù Mỹ tự nguyện tuân thủ các nguyên tác của UNCLOS và đã cam kết sẽ phê chuẩn nhưng việc Mỹ chưa phê chuẩn UNCLOS làm cho các nước khác nghi ngờ là Mỹ sẽ chỉ tuân thủ các công ước quốc tế nếu phù hợp với lợi ích quốc gia. Hai là, các nước có lợi ích ở Biển Đông cần sử dụng các biện pháp và quy trình đảm bảo an toàn để giảm thiểu sự bất ổn và tăng cường thông tin liên lạc trong trường hợp có sự cố xảy ra. Các nước có thể thông qua một quy trình chuẩn cần phải tuân thủ để giảm thiểu khả năng xung đột bùng phát. Ba là, Mỹ cần khuyến khích với các biện pháp giảm thiểu nguy cơ và xây dựng lòng tin giữa các nước. Mỹ cần nêu rõ sự ủng hộ của Mỹ đối với việc thực hiện DOC và tiến tới COC. Bốn là, thiết lập cơ chế đối thoại mới trong khu vực như Diễn đàn Biên phòng biển, trung tâm chia sẻ thông tin, ủy ban điều phối hoạt động đánh cá.. để tạo cơ hội cho việc tăng cường thông tin và điều phối chung. Năm là, Mỹ cần xem xét lại các hoạt động trinh sát trong không trung cũng như trên biển ở gần khu vực lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc, giảm tần xuất hoặc tiến hành các hoạt động ở khu vực ngoài khơi cách xa vùng lãnh hải của Trung Quốc hơn. Sáu là, cần tăng cường hiệu quả của Thỏa thuận tham vấn về các vấn đề quân sự trên biển giữa Mỹ và Trung Quốc; Mỹ và Trung Quốc cần thống nhất về những quy tắc an toàn để giảm thiểu khả năng sảy ra xung đột trong tương lai; có thể nghiên cứu xây dựng thỏa thuận về "giải quyết các vụ việc trên biển". Bảy là, Mỹ cần phải nói rõ trong các cuộc đối thoại giữa Phi-líp-pin và Việt Nam về trách nhiệm và cam kết của Mỹ cũng như giới hạn của khả năng can thiệp của Mỹ trong các tranh chấp trong tương lai để tránh việc các nước trong khu vực được khuyến khích đứng lên đối đấu với Trung Quốc./.

Theo Cfr

Viết Tuấn (gt)

 

Ngôn ngữ