8 - 12 - 2019 | 12:11
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home
Tag:Trung Quốc

Bài viết phân tích quan hệ ASEAN - Trung Quốc thời kỳ sau chiến tranh lạnh đến nay, dự đoán triển vọng trong những năm tới và nêu ra một số đề xuất về biện pháp để tăng cường và củng cố quan hệ hai bên.

 

__________________

 

Bức tranh quan hệ ASEAN - Trung Quốc gần hai chục năm sau chiến tranh Lạnh nổi bật những mảng sáng với nhiều màu sắc, khá tương phản với quá khứ ảm đạm của hai thập kỷ trước. Chưa bao giờ ASEAN - Trung Quốc có được mối quan hệ gần gũi, hợp tác chặt chẽ và khá toàn diện như hiện nay. Bài viết này tập trung phân tích sự phát triển của quan hệ ASEAN - Trung Quốc trong thời gian kể từ khi kết thúc chiến tranh Lạnh đến nay trên các mặt chính trị, an ninh và kinh tế, các hạn chế tồn tại và các yếu tố quyết định sự phát triển đó. Trên cơ sở đó, bài viết dự đoán triển vọng quan hệ hai bên trong những năm tới và nêu một số đề xuất về biện pháp chính sách nhằm tiếp tục củng cố và tăng cường quan hệ giữa hai bên.

 

Nhìn lại quan hệ ASEAN - Trung Quốc

Trong thời kỳ chiến tranh Lạnh, hầu hết các nước ASEAN còn e ngại về mối đe dọa Trung Quốc, tìm chỗ dựa an ninh và hợp tác chủ yếu với các nước phương Tây. Do vậy, quan hệ ASEAN - Trung Quốc hầu như chưa có gì đáng kể cho đến tận cuối những năm 1980, ngoại trừ sự hợp tác để hỗ trợ Chính phủ Liên hiệp 3 bên của Cam-pu-chia do Hoàng thân Sihanouk đứng đầu chống lại quân đội Việt Nam ở Cam-pu-chia và Chính phủ Phnôm Pênh được Việt Nam hậu thuẫn.

Chiến tranh Lạnh kết thúc kéo theo sự thay đổi quan trọng không chỉ trong cục diện quan hệ quốc tế trên phạm vi toàn cầu mà ở cả các khu vực. Đông Nam Á vốn là khu vực bị chia rẽ giữa hai chiến tuyến theo ý thức hệ trong gần suốt thời kỳ chiến tranh Lạnh, từ đầu những năm 1990 bắt đầu quá trình tái tạo cục diện mới cùng với việc kết thúc cuộc chiến ở Cam-pu-chia, bình thường hóa quan hệ Việt-Mỹ, Việt-Trung và sự xích lại gần nhau giữa các nước Đông Dương với 6 nước thành viên ASEAN cũ, đặc biệt là từ khi Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia lần lượt trở thành thành viên ASEAN. Cũng kể từ đó, quan hệ ASEAN - Trung Quốc bước sang một chương mới đặc trưng bởi sự phát triển rất nhanh và khá toàn diện của các mối quan hệ hợp tác cả trên phương diện song phương (giữa từng nước thành viên ASEAN với Trung Quốc) lẫn trên phương diện đa phương (giữa khối ASEAN với Trung Quốc trong các khuôn khổ hợp tác ASEAN và ASEAN với các đối tác bên ngoài). Ngày nay, Trung Quốc và ASEAN đã trở thành đối tác đặc biệt quan trọng của nhau.

 

Về chính trị, bên cạnh sự cải thiện và duy trì quan hệ song phương chặt chẽ giữa từng nước ASEAN với Trung Quốc, quan hệ đa phương giữa hai bên cũng đã phát triển rất nhanh và từng bước được nâng cấp. Từ năm 1994, Trung Quốc bắt đầu tham gia Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) và sau đó họp tham vấn cấp cao ASEAN - Trung Quốc lần đầu tiên. Từ năm 1996, Trung Quốc trở thành đối tác toàn diện của ASEAN. Tháng 12/1997, các nhà lãnh đạo của ASEAN và Trung Quốc đã có cuộc gặp thượng đỉnh không chính thức đầu tiên và ra «Tuyên bố chung xây dựng quan hệ đối tác láng giềng thân thiện và tin cậy lẫn nhau hướng tới thế kỷ 21» tạo khung và lộ trình cho mối quan hệ toàn diện giữa hai bên. Năm 2003, tại Hội nghị Thượng đỉnh Bali, In-đô-nê-xi-a, Trung Quốc trở thành đối tác đối thoại đầu tiên của ASEAN tham gia Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác (TAC). Sau hội nghị, hai bên ra một “Thông cáo chung về đối tác chiến lược vì hòa bình và thịnh vượng”. Sau đó, năm 2004, hai bên thông qua một chương trình hành động để thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược.[1] Những năm qua, mối quan hệ chặt chẽ giữa ASEAN và Trung Quốc không ngừng được củng cố thông qua các hoạt động từ cấp thấp đến cấp cao trong khuôn khổ các cơ chế của ASEAN (ASEAN + 1, ASEAN + 3, PMC) cũng như các cơ chế mà ASEAN giữ vai trò quan trọng như ARF, Đông Á, v.v..

 

Về an ninh quốc phòng, cho đến những năm 1990, giữa một số nước ASEAN và Trung Quốc vẫn còn đụng độ quân sự nhỏ ở biển Đông và trên khu vực biên giới đất liền. Đặc biệt, năm 1995, Trung Quốc đã âm thầm xây dựng công sự trên đảo Vành Khăn, dẫn đến một cuộc không kích của Phi-líp-pin lên đảo này.[2] Giữa Việt Nam và Trung Quốc cũng liên tục xảy ra va chạm nhỏ ở biên giới đất liền và trên biển. Sau năm 2000, tình hình được cải thiện rõ rệt. Tháng 3/2000, các viên chức cao cấp ASEAN - Trung Quốc lần đầu tiên thảo luận dự thảo về nguyên tắc hành xử ở biển Đông. Tháng 11/2002, tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN - Trung Quốc ở Phnôm Pênh, hai bên đã ký “Tuyên bố về cách hành xử ở biển Đông” (DOC) và từ năm 2004 đã tiến hành các cuộc họp cấp cao để thảo luận tiến trình triển khai.[3] Một văn kiện khác liên quan đến an ninh cũng được ký kết là “Tuyên bố chung về Hợp tác trong lĩnh vực an ninh phi truyền thống”. Một số năm gần đây, Trung Quốc thể hiện vai trò tích cực và năng động hơn trong ARF, chủ động thúc đẩy đối thoại an ninh quốc phòng, xây dựng lòng tin, tham gia hợp tác về an ninh phi truyền thống... Đáng chú ý là quan hệ song phương giữa các thành viên ASEAN với Trung Quốc trong lĩnh vực an ninh quốc phòng được thúc đẩy khá mạnh. Trung Quốc lập tùy viên quân sự ở tất cả các nước ASEAN; duy trì tham vấn thường niên với In-đô-nê-xi-a, Phi-líp-pin, Xinh-ga-po, Thái Lan và Việt Nam; viện trợ quân sự và cung cấp vũ khí, thiết bị quân sự cho Cam-pu-chia, Lào, Mi-an-ma, Phi-líp-pin và Thái Lan; hợp tác đào tạo và tiến hành diễn tập quân sự với Xinh-ga-po và Thái Lan.[4] Tuy nhiên, quan hệ ASEAN - Trung Quốc trong lĩnh vực an ninh quốc phòng cũng có nhiều khó khăn và hạn chế. Lòng tin lẫn nhau tuy được cải thiện hơn, song chưa đạt tới mức cao. Đặc biệt, với việc Trung Quốc tăng cường hiện đại hóa quân đội và lực lượng hải quân, chính thức nêu yêu sách “đường lưỡi bò” đối với biển Đông, tăng cường xây dựng các công trình ở Hoàng Sa và Trường Sa, cứng rắn hơn trong các hoạt động tranh chấp trên biển Đông, trì hoãn triển khai DOC và không mặn mà với đàm phán về một bộ quy tắc ứng xử (COC) mang tính ràng buộc pháp lý... làm tăng sự nghi ngại trong nhiều nước ASEAN về tham vọng của Trung Quốc. Điều này là một cản trở quan trọng cho hợp tác hai bên về an ninh quốc phòng cũng như trong một số lĩnh vực khác.[5]

 

Về quan hệ kinh tế, đây là lĩnh vực phát triển vượt bậc trong những năm qua. Hai bên đã đàm phán và ký nhiều văn bản tạo khuôn khổ pháp lý cho quan hệ kinh tế, trong đó đặc biệt là Hiệp định khung về Hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN - Trung Quốc (2002), quy định việc thành lập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA) vào năm 2010.[6] Năm 2003, cùng với việc khẳng định sẽ xây dựng mối quan hệ đối tác chiến lược, hai bên đã ký một Nghị định thư sửa đổi Hiệp định khung hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN - Trung Quốc nhằm đẩy mạnh hơn nữa việc cắt giảm và tiến tới xóa bỏ hoàn toàn hàng rào thuế quan đối với một số nhóm mặt hàng nhập khẩu thuộc Chương trình Thu hoạch sớm (EHP). Tại Hội nghị thượng đỉnh tháng 11/2004, hai bên đã ký các Hiệp định về Thương mại hàng hóa (TIG) và Cơ chế giải quyết tranh chấp (DSM) trong khuôn khổ Hiệp định khung. Bên lề Hội nghị, hai bên cũng đã ký một biên bản ghi nhớ về hợp tác giao thông với chủ trương thúc đẩy liên kết giao thông theo hướng tổng thể, toàn diện và gắn kết, và tạo nền tảng vững chắc cho ACFTA. Cho đến năm 2005, đã có ba dự án về hợp tác giao thông giữa ASEAN và Trung Quốc được thực hiện.[7] Tại Hội nghị thượng đỉnh tháng 12/2005, hai bên thỏa thuận dành ưu tiên cho 5 lĩnh vực hợp tác nữa là năng lượng, giao thông, văn hóa, sức khỏe cộng đồng và du lịch. Cộng với 5 lĩnh vực từ năm 2001 là nông nghiệp, công nghiệp thông tin, phát triển nhân lực, đầu tư và phát triển lưu vực sông Mê-kông, tổng cộng là 10 lĩnh vực được ưu tiên. Đến năm 2007, có thêm một lĩnh vực nữa là môi trường. Tại Hội nghị Thượng đỉnh tháng 1/2007, hai bên đã ký Hiệp định Thương mại Dịch vụ trong khuôn khổ Hiệp định khung và một phần đã được đưa vào thực hiện từ tháng 7/2007. Tháng 10/2007, các Bộ trưởng ASEAN và Trung Quốc đã có cuộc họp đầu tiên về kiểm dịch, kiểm tra và giám sát chất lượng với mục đích là tăng cường hợp tác trong lĩnh vực an toàn thực phẩm, thúc đẩy giao thương thực phẩm và bảo vệ quyền của người sử dụng. Đây cũng là một mảng hợp tác để tiến tới ACFTA. Tháng 11/2007, hai bên đã đạt được thỏa thuận về giao thông đường biển và sau đó là một thoả thuận về hợp tác trong lĩnh vực hàng không nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại và du lịch. Ngoài ra, thông qua cơ chế ASEAN+3, hai bên đã đạt được nhiều bước tiến trong hợp tác tài chính, như tạo lập một mạng lưới để giám sát các dòng vốn, nâng cấp hệ thống cảnh báo sớm, từng bước xây dựng thị trường trái phiếu quốc gia và khu vực, nâng cao hiệu quả của công tác tổng kết tình hình kinh tế và đối thoại chính sách.[8] Tháng 3/2009, các Bộ trưởng Tài chính ASEAN cùng Trung Quốc, Nhật và Hàn Quốc đã đạt được thoả thuận lập Kho dự trữ ngoại tệ khu vực 120 tỷ đô la (Trung Quốc và Nhật mỗi nước sẽ đóng góp 38,4 tỷ, Hàn Quốc 19,2 tỷ, phần còn lại do ASEAN đóng góp) nhằm hỗ trợ các nước trong khu vực đối phó với khó khăn về thiếu tiền mặt. Ngày 15/8/2009, ASEAN và Trung Quốc đã ký Hiệp định về Đầu tư nhằm tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư từ các nước thuộc khu vực, và tiến tới thực hiện tự do hóa đầu tư giữa hai bên trong tương lai.

Các thỏa thuận nói trên đã đặt nền tảng pháp lý một cách khá toàn diện để thúc đẩy hợp tác kinh tế nhiều mặt giữa ASEAN và Trung Quốc. Nhờ vậy, các hoạt động giao thương kinh tế cụ thể giữa hai bên đã phát triển rất nhanh trong thời gian qua.

 

Về thương mại, trong những năm 1980, thương mại ASEAN - Trung Quốc chỉ chiếm khoảng 2 - 3% tổng số thương mại của mỗi bên với thế giới.[9] Đến năm 1995, thương mại với ASEAN chiếm 6,9% tổng ngoại thương của Trung Quốc và đến năm 2006 con số này là 9,1%, với tổng kim ngạch đạt 160,84 tỷ USD.[10] Thương mại hai chiều tăng trung bình trên 20% một năm,[11] đưa hai bên trở thành đối tác thương mại lớn thứ ba và thứ tư của nhau.[12] Năm 2008, kim ngạch hai bên đạt 231,1 tỷ USD.[13]

 

Về đầu tư, FDI giữa hai bên cũng tăng nhanh trong những năm gần đây. Từ năm 1991-2000, FDI của ASEAN vào Trung Quốc tăng với mức bình quân hàng năm là 28%. Năm 1991, ASEAN mới đầu tư vào Trung Quốc 90 triệu USD, nhưng 10 năm sau (2001) đã đạt con số 26.1 tỷ, chiếm khoảng 7.7% tổng số đầu tư của nước ngoài vào Trung Quốc. Từ năm 2002 đến 2007, FDI từ ASEAN vào Trung Quốc đạt bình quân mỗi năm trên 3 tỷ USD. Như vậy, ASEAN là một nguồn FDI quan trọng của Trung Quốc. Trước năm 2003, FDI từ Trung Quốc vào ASEAN hầu như chưa đáng kể, nhưng từ năm 2003 đến nay, Trung Quốc tăng mạnh đầu tư vào ASEAN, đến cuối năm 2006, tổng số FDI từ Trung Quốc vào ASEAN đạt 11,8 tỷ USD.[14] Tuy vậy, cho đến nay đầu tư của Trung Quốc vào ASEAN cũng còn ở mức khiêm tốn so với tổng đầu tư của ASEAN vào nước này.

Hợp tác tiểu vùng ASEAN - Trung Quốc những năm gần đây được quan tâm thúc đẩy mạnh, đặc biệt là từ phía Trung Quốc. Trung Quốc tích cực tham gia vào hợp tác tiểu vùng Mê-kông mở rộng (GMS), đầu tư nhiều vào các dự án cơ sở hạ tầng, nhất là ở thượng nguồn sông Mê-kông, chủ động và tích cực thúc đẩy triển khai Hành lang Bắc-Nam và hợp tác Vịnh Bắc Bộ mở rộng. Tuyên bố dành 15 tỷ USD cho Quỹ ASEAN - Trung Quốc để hỗ trợ các dự án hợp tác kinh tế giữa hai bên, đặc biệt là các dự án phát triển các cơ sở hạ tầng về giao thông và viễn thông kết nối Trung Quốc với các nước ASEAN. Việc tăng cường hợp tác tiểu vùng có ý nghĩa quan trọng kết nối các nước trong khu vực với nhau, khai thác các nguồn lực và khả năng của các vùng miền để phát triển, đặc biệt, hỗ trợ đắc lực việc thực hiện ACFTA.

Như vậy, trong gần hai thập kỷ qua, quan hệ ASEAN - Trung Quốc phát triển mạnh cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Sự nghi kỵ và lo ngại lẫn nhau dần dần nhường chỗ cho sự tin cậy lẫn nhau hơn và hai bên trở thành đối tác toàn diện đặc biệt quan trọng của nhau. So với các quan hệ của ASEAN với các nước đối tác bên ngoài khác thì hợp tác ASEAN - Trung Quốc đã phát triển nhanh hơn cả. Sự phát triển như vậy của quan hệ ASEAN - Trung Quốc không những góp phần vào tăng trưởng và phát triển của mỗi nước thành viên ASEAN và Trung Quốc mà còn thúc đẩy xu hướng hợp tác khu vực và đóng góp vào sự phát triển, ổn định chung của cả khu vực, tăng cường vai trò và vị thế quốc tế của cả ASEAN lẫn Trung Quốc.

 

Những hạn chế

Mặc dù đã có sự phát triển khá ngoạn mục trong những năm qua, song quan hệ ASEAN - Trung Quốc hiện nay vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của cả hai bên và còn những hạn chế đáng kể.

 

Một là, như đã đề cập ở trên, ASEAN và Trung Quốc chưa đạt được mức độ tin cậy lẫn nhau cao để có thể hoàn toàn trao gửi cho nhau. Thể hiện rõ nét nhất là tranh chấp biên giới và biển đảo giữa Trung Quốc với một số nước ASEAN vẫn tồn tại và gần đây có phần căng thẳng hơn, đặc biệt với việc Trung Quốc chính thức công bố yêu sách “đường lưỡi bò” và tăng cường các hoạt động tại biển Đông, hiện đại hóa quân đội và lực lượng hải quân. Điều này có phần làm sống lại ám ảnh của “mối đe dọa Trung Quốc” đối với các nước ASEAN.[15] Ngoài ra, các biện pháp và cách thức triển khai quan hệ của Trung Quốc với ASEAN nói chung và từng nước ASEAN nói riêng khiến một số người nghi ngờ Trung Quốc đang tìm cách làm mất đi sự cân bằng trong cán cân quyền lực ở khu vực Đông Nam Á và làm yếu đi sự thống nhất của ASEAN.

 

Hai là, nền kinh tế của các nước ASEAN và Trung Quốc đều hướng vào xuất khẩu và các đối tác lớn là Mỹ, các nước châu Âu và Đông Bắc Á. Do vậy, trong quan hệ kinh tế quốc tế, ASEAN và Trung Quốc lại cạnh tranh nhau nhiều hơn là bổ sung cho nhau. Hơn nữa, hiện thời, Trung Quốc cũng chưa có khả năng đáp ứng nhiều đối với nhu cầu về thu hút FDI và công nghệ cao của các nước ASEAN. Những đặc điểm này góp phần hạn chế đáng kể việc phát huy tiềm năng trao đổi kinh tế giữa ASEAN và Trung Quốc. Việc  hoàn  thành xây dựng ACFTA sẽ góp phần tăng cường hơn nữa quan hệ kinh tế giữa các nước thành viên ASEAN và Trung Quốc, song để loại bỏ  hoàn  toàn các hạn chế gắn với đặc điểm của từng nền kinh tế ASEAN và Trung Quốc như đã nêu trên đòi hỏi thời gian dài thông qua việc cơ cấu lại từng nền kinh tế và năng lực cạnh tranh quốc gia.

 

Ba là, sự khác biệt trên nhiều phương diện giữa các thành viên ASEAN khiến cho ASEAN nhiều khi không dễ dàng có tiếng nói chung trong quan hệ với Trung Quốc, gặp không ít khó khăn và chậm chạp trong việc đề ra và triển khai các chương trình hợp tác với Trung Quốc.

 

Bốn là, sự cạnh tranh ảnh hưởng và vai trò của các cường quốc tại khu vực Đông Nam Á có tác động quan trọng đến quan hệ ASEAN - Trung Quốc. Một mặt, để tránh bị bất lợi nếu để ASEAN bị quá nhiều ảnh hưởng của các cường quốc khác, Trung Quốc phải thúc đẩy quan hệ chặt chẽ với ASEAN. Mặt khác, các cường quốc khác, nhất là Mỹ, Nhật, EU… cũng không muốn để Trung Quốc chi phối ASEAN, nên tìm cách gia tăng và củng cố quyền lợi và ảnh hưởng của mình ở khu vực Đông Nam Á thông qua thúc đẩy quan hệ toàn diện với ASEAN. Chính quyền của Tổng thống Obama gần đây đã khẳng định quyết tâm thực hiện chính sách trở lại Đông Nam Á. Nhật, EU, Ấn Độ, Hàn Quốc, Úc đã và đang tích cực triển khai chính sách tăng cường quan hệ với ASEAN, đàm phán và ký các thoả thuận mậu dịch tự do với cả khối hoặc từng nước ASEAN. Kể cả Nga gần đây cũng có những bước đi tích cực trong phát triển quan hệ với ASEAN. Như vậy, các nước ASEAN sẽ phải tính toán, điều chỉnh và tìm cách cân bằng quan hệ với các cường quốc, nên cũng không thể đi quá xa với Trung Quốc. Thực tế lâu nay cho thấy, phần lớn các nước ASEAN vẫn trông chờ nhiều hơn vào Mỹ và các nước phương Tây khác trong việc duy trì an ninh và ổn định cũng như trong các lĩnh vực hợp tác khác. Trung Quốc khó có thể thay thế được vai trò của Mỹ tại khu vực.

 

Điều gì giải thích sự phát triển quan hệ ASEAN - Trung Quốc trong gần hai thập kỷ qua ?

Có nhiều yếu tố lý giải nguyên nhân của sự phát triển nhanh chóng các mối quan hệ ASEAN - Trung Quốc trong những năm qua, trong đó đáng lưu ý nhất là những yếu tố sau :

 

Thứ nhất, cả ASEAN và Trung Quốc đều cần nhau vì nhu cầu an ninh cho bản thân mình và duy trì hòa bình ổn định trong khu vực để tạo thuận lợi cho phát triển, mở rộng thị trường quốc tế cho thương mại và đầu tư.

Về phía ASEAN, duy trì hòa bình, ổn định và tăng cường hợp tác khu vực, hợp tác quốc tế là chính sách cơ bản của Hiệp hội nhằm tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho sự phát triển thịnh vượng của mỗi nước thành viên và củng cố vai trò của ASEAN. Thực hiện khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Khu vực Đầu tư ASEAN (AIA), xây dựng Cộng đồng ASEAN và triển khai các quan hệ đối tác toàn diện với các nước ngoài khu vực, nhất là các cường quốc như Mỹ, Trung Quốc, Nhật, EU, Ấn Độ… vừa là mục tiêu vừa là biện pháp quan trọng để ASEAN phát triển trong điều kiện toàn cầu hóa. ASEAN ý thức rõ vai trò và vị trí của Trung Quốc ở khu vực - một quốc gia có thị trường khổng lồ 1,3 tỷ người và nền kinh tế tăng trưởng rất nhanh - cũng như tầm quan trọng của việc phát triển quan hệ nhiều mặt với Trung Quốc, nên từ khi kết thúc chiến tranh Lạnh, Hiệp hội nói chung và từng nước thành viên nói riêng đều tìm cách tăng cường quan hệ với Trung Quốc, coi đây là ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của mình. 

Về phía Trung Quốc, để thực hiện thành công chiến lược “trỗi dậy hòa bình”, Trung Quốc tích cực triển khai các chính sách và biện pháp tăng cường quan hệ hợp tác nhiều mặt với các nước, trong đó có các nước trong khu vực, đặc biệt là ASEAN. Khu vực Đông Nam Á đối với Trung Quốc có vị trí đặc biệt quan trọng trên các phương diện chính trị, chiến lược và kinh tế. Duy trì được quan hệ mật thiết và hợp tác toàn diện với ASEAN, Trung Quốc sẽ phát huy được ảnh hưởng và vai trò của mình trong khu vực, đồng thời hạn chế được ảnh hưởng của các cường quốc khác ở đây, phá được thế bị bao vây, kiềm tỏa về chiến lược của Mỹ và phương Tây. Nhờ vậy, Trung Quốc có điều kiện bảo đảm môi trường an ninh ổn định để phát triển, mở rộng được thị trường sang một khu vực hết sức quan trọng cho sự phát triển hòa bình của Trung Quốc. Thêm nữa, hợp tác với ASEAN cũng là thử nghiệm đầu tiên của Trung Quốc trong chiến lược hội nhập khu vực, từ đó tạo cơ sở để Trung Quốc mở rộng tiến trình hội nhập khu vực của mình.

 

Thứ hai, môi trường quốc tế cũng như điều kiện của ASEAN và Trung Quốc có nhiều thuận lợi để hai bên tăng cường quan hệ với nhau.

-Về môi trường quốc tế: Thuận lợi lớn là từ sau chiến tranh Lạnh, xu thế hòa bình và hợp tác trên thế giới trở thành một xu thế chủ đạo chi phối quan hệ quốc tế. Hầu hết các nước đều cố gắng tránh đối đầu và tìm kiếm hợp tác với nhau. Nếu như trong thời kỳ chiến tranh Lạnh, Trung Quốc là một bên tham gia vào sự đối đầu giữa hai hệ thống và quan hệ giữa Trung Quốc với hầu hết các cường quốc khác cũng như với phần lớn các nước Đông Nam Á là mang tính thù địch, thì từ khi chiến tranh Lạnh kết thúc, quan hệ giữa Trung Quốc với các nước này được cải thiện, chuyển dần từ đối đầu sang đối tác. Bên cạnh đó, xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế cũng phát triển mạnh mẽ kéo theo sự tham gia của hầu hết các nước. Đặc biệt, ở Đông Á, hòa bình và ổn định cơ bản được tái lập và duy trì sau khi cuộc xung đột Cam-pu-chia được giải quyết bằng chính trị vào đầu thập kỷ 1990. ASEAN dần mở rộng bao gồm cả Việt Nam, Lào, Mi-an-ma và Cam-pu-chia. Tiến trình liên kết ASEAN được tăng cường thông qua hàng loạt chương trình lớn (AFTA, AIA, Cộng đồng ASEAN…). ASEAN ngày một lớn mạnh, có vị thế và vai trò quốc tế quan trọng, khiến các cường quốc vị nể và tìm cách tranh thủ, tích cực thúc đẩy quan hệ hợp tác.

-Về điều kiện trong nước : Kinh tế các nước ASEAN và Trung Quốc đều tăng trưởng nhanh và phụ thuộc nhiều vào thương mại và đầu tư quốc tế. Trong suốt ba thập kỷ, nhờ cải cách và mở cửa, nền kinh tế Trung Quốc đã bảo đảm được ổn định, đạt tốc độ tăng trưởng cao. Trung Quốc đã trở thành nền kinh tế lớn thứ ba thế giới với kho dự trữ ngoại tệ lớn nhất thế giới (trên 2000 tỷ USD năm 2008)[16] nhờ xuất siêu. Nền kinh tế các nước ASEAN cũng duy trì được mức tăng trưởng khá trước khủng hoảng năm 1997 và sau đó phục hồi, tiếp tục tăng trưởng tương đối tốt trong thập kỷ 2000. Cả Trung Quốc và ASEAN đều cần mở rộng thị trường quốc tế của mình để bảo đảm duy trì tăng trưởng cho nền kinh tế chủ yếu dựa vào xuất khẩu và thu hút FDI, nhất là trong bối cảnh xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa đang ngày càng nổi lên mạnh mẽ và sự đe dọa thu hẹp các thị trường truyền thống chủ chốt của Trung Quốc và ASEAN tại Bắc Mỹ và EU do hệ quả của xu hướng bảo hộ mới đang dâng lên ở đây.

 

Thứ ba, mặc dù mỗi bên theo đuổi những mục tiêu khác nhau, nhưng cả ASEAN và Trung Quốc đều thống nhất nhận thức chung về sự cần thiết tăng cường quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai bên và đều đã chủ động, tích cực triển khai các chính sách và biện pháp tranh thủ lẫn nhau, đẩy mạnh hợp tác và liên kết khu vực cả trên phương diện song phương lẫn đa phương.

 

Triển vọng quan hệ ASEAN - Trung Quốc

Triển vọng của quan hệ ASEAN - Trung Quốc trong tương lai phụ thuộc vào nhiều yếu tố, đặc biệt là các yếu tố như môi trường quốc tế và khu vực, điều kiện bên trong của ASEAN và Trung Quốc, chính sách của mỗi bên.

Như đã phân tích ở trên, trong tầm ngắn hạn và trung hạn, có thể thấy rằng cả ASEAN và Trung Quốc đều cần tiếp tục duy trì an ninh, ổn định ở khu vực và hợp tác để phát triển. Các cường quốc liên quan đến Đông Á nói chung và Đông Nam Á nói riêng cũng có lợi ích trong việc duy trì hòa bình, ổn định ở khu vực này. Hiện nay và trong những năm tới, có hai vấn đề lớn có thể ảnh hưởng tiêu cực đến an ninh và ổn định của khu vực. Thứ nhất là vấn đề tranh chấp về biển đảo, trong đó trực tiếp ảnh hưởng nhất đến quan hệ ASEAN - Trung Quốc là tranh chấp giữa Trung Quốc với các nước khu vực liên quan đến biển Đông. Thứ hai là vấn đề tăng cường vũ trang của các nước trong khu vực trong bối cảnh gia tăng căng thẳng trong tranh chấp biển đảo trên biển Đông. Tuy nhiên, trong xu thế hiện nay, ít có khả năng nổ ra xung đột lớn phá vỡ hòa bình và ổn định trong khu vực, ít nhất là trong trung hạn. Các nước liên quan sẽ cố gắng kiềm chế, tránh xung đột và tìm giải pháp thích hợp để duy trì quan hệ hợp tác. Các cường quốc liên quan đến khu vực về cơ bản sẽ ủng hộ các nước tranh chấp tìm giải pháp hòa bình và duy trì hợp tác.

Một yếu tố khác có thể gây ảnh hưởng không thuận cho việc tăng cường quan hệ và hợp tác chặt chẽ ASEAN - Trung Quốc là sự gia tăng cạnh tranh ảnh hưởng của các cường quốc bên ngoài khu vực Đông Nam Á. Điều này nổi lên ngày càng rõ trong một số năm gần đây. Ngoài Mỹ đang triển khai chính sách “trở lại” từ khi Tổng thống Obama lên nắm quyền,[17] Nhật Bản, EU, Ấn Độ, Nga, Hàn Quốc, Úc[18] rất tích cực tăng cường quan hệ nhiều mặt với ASEAN thông qua các chương trình hợp tác và liên kết kinh tế. Đây có thể được xem như là các đối trọng của quan hệ ASEAN - Trung Quốc. Mặc dù có thể tạo ra những lực cản nhất định cho việc thúc đẩy sâu hơn quan hệ ASEAN - Trung Quốc và làm phức tạp hơn các mối quan hệ trong khu vực, song về cơ bản các cặp quan hệ của ASEAN với các cường quốc bên ngoài ít có khả năng đảo ngược hoặc làm xấu đi nghiêm trọng quan hệ ASEAN - Trung Quốc. ASEAN sẽ cố gắng tìm cách giữ cân bằng các mối quan hệ của mình với tất cả các cường quốc, dù rằng không dễ dàng.

Bối cảnh của ASEAN và Trung Quốc trong những năm tới cũng sẽ cơ bản thuận lợi cho khả năng tăng cường quan hệ hợp tác hai bên. Cả Trung Quốc và hầu hết các nước ASEAN đều sẽ tiếp tục duy trì được ổn định chính trị, bất chấp một số khó khăn nội tại đang vấp phải, và tăng trưởng kinh tế khả quan hơn sau suy thoái toàn cầu.

Cả ASEAN và Trung Quốc ngày càng cần đến thị trường của nhau hơn, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa, khu vực hóa tiếp tục gia tăng và mỗi nước đều tích cực mở cửa hội nhập vào xu thế này. Các chính phủ hai bên đều tỏ rõ quyết tâm tăng cường quan hệ đối tác toàn diện với nhau. Đặc biệt, với việc đẩy mạnh xây dựng Cộng đồng ASEAN, thực hiện khu vực Mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc cũng như các hiệp định về dịch vụ, đầu tư và các thỏa thuận trong nhiều lĩnh vực khác, quan hệ ASEAN - Trung Quốc sẽ tiếp tục đà phát triển mạnh cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, làm cho hai bên sẽ gắn bó với nhau nhiều hơn và điều này sẽ có nhiều tác động tới khu vực Đông Nam Á.

 

Một số khuyến nghị về tăng cường quan hệ ASEAN - Trung Quốc

Tăng cường quan hệ toàn diện ASEAN - Trung Quốc nhìn chung có lợi cho việc duy trì hòa bình, ổn định ở khu vực Đông Nam Á và đóng góp cho sự phát triển của các nước trong khu vực. Hai bên cần tiếp tục củng cố và thúc đẩy, làm sâu sắc hơn mối quan hệ này. Dưới đây, tác giả  bài viết xin nêu một số đề xuất về phương hướng và biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu này:

 

Thứ nhất, ASEAN và Trung Quốc cần tăng cường hơn nữa lòng tin đối với nhau thông qua các biện pháp song phương và đa phương. Về song phương, việc tăng cường hợp tác trên mọi lĩnh vực và giao lưu ở mọi cấp từ lãnh đạo cấp cao đến cấp thực hiện chính sách, giới nghiên cứu và nhân dân giữa Trung Quốc và các nước thành viên ASEAN là rất quan trọng. Về đa phương, Trung Quốc và ASEAN cần tham gia tích cực hơn vào các cơ chế đối thoại an ninh khu vực, đẩy nhanh và thực chất hơn tiến trình ARF vào giai đoạn ngoại giao phòng ngừa, xem xét tích cực khả năng thiết lập một cơ chế an ninh khu vực cho cả Đông Á (sáng kiến xây dựng Cộng đồng Đông Á), sớm đàm phán và ký kết một bộ quy tắc ứng xử ở biển Đông (COC).

 

Thứ hai, các bên tranh chấp liên quan đến biển Đông cần hết sức kiềm chế, tránh xung đột, giữ nguyên trạng tình hình và sớm đi vào đàm phán đa phương giải quyết hòa bình vấn đề tranh chấp và việc khai thác, quản lý các nguồn lợi cũng như các vấn đề liên quan khác tại các khu vực tranh chấp.

 

Thứ ba, hai bên thực hiện xây dựng ACFTA và thỏa thuận hợp tác ASEAN - Trung Quốc trong các lĩnh vực một cách thực chất. Trong bối cảnh suy thoái toàn cầu, hai bên cần đẩy mạnh mở cửa cho nhau hơn để khai thác thị trường nội khối. ASEAN nên ủng hộ và tích cực cùng Trung Quốc triển khai các chương trình/dự án hợp tác tiểu vùng hiện nay (GMS, Hành lang Nam Ninh - Xinh-ga-po, Vịnh Bắc Bộ mở rộng), tập trung vào phát triển cơ sở hạ tầng, đào tạo nguồn nhân lực, tạo thuận lợi cho thương mại và đầu tư. Trung Quốc nên thể hiện tích cực hơn nữa, thậm chí cần đóng vai trò đầu tàu và là nhà tài trợ chính trong các dự án hợp tác kinh tế ASEAN - Trung Quốc cả trên phương diện khu vực lẫn tiểu vùng.

Thứ tư, hợp tác giữa hai bên trong các lĩnh vực chuyên ngành cũng cần được mở rộng và tăng cường cả về chiều sâu. Đặc biệt, cần đẩy mạnh hơn hợp tác về công nghệ, giáo dục - đào tạo và du lịch với các chương trình và biện pháp hữu hiệu.

 

TS. Phạm Quốc Trụ, Học viện Ngoại giao

Bài đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số 79 (12-2009)



[1] Xem trang về quan hệ ASEAN- Trung Quốc tại http://www.aseansec.org/4979.htm, truy cập 26/08/2008.

[2] Ngô Thế Vinh, “Đá Vành Khăn: Đối đầu giữa Phi Luật Tân và Trung Quốc trên quần đảo Trường Sa”, 2007, http://talawas.org/talaDB/showFile.php?res=117568&rb=0401, truy cập 26/08/2008.

[3] Xem The Report of the ASEAN - China Eminent Persons Group, tr. 17-18.

4 Xem Ian Storey, “Quan hệ an ninh quốc phòng ASEAN-Trung Quốc: những cải thiện và rào cản”, Tham luận tại Hội thảo Hợp tác khu vực và tiểu vùng ASEAN-Trung Quốc, do Trường Nghiên cứu Quốc tế Đại học NanYang tổ chức tại Xinh-ga-po 1-2/10/2009.

[5] Như trên.

[6] Các nước ASEAN 6 và Trung Quốc hoàn tất thực hiện các nghĩa vụ cắt giảm thuế quan theo Hiệp định vào 2010, tuy nhiên, ASEAN 4 (Cam-pu-chia, Lào, Mi-an-ma và Việt Nam) sẽ hoàn tất các nghĩa vụ này vào 2015.

[7] Xem The Report of the ASEAN- China Eminent Persons Group, tr. 19.

[8] Như trên

[9]John Wong và Lye Liang Fook, “ASEAN perspective on China: Trade and impacts”, bài viết cho hội thảo quốc tế “Phát triển của quan hệ thương mại ASEAN - Trung Quốc 15 năm qua  và triển vọng”, Hà Nội, 2007, tr. 2.

[10] Nguồn: “China Ministry of Commerce”, http://mofcom.gov.cn, truy cập ngày 28/08/2008.

[11]China, ASEAN summit promote trade, trust”, China Daily, 29/10/2006, truy cập tại http://www.chinadaily.com.cn/china/2006-10/29content_719317.htm, ngày 28/08/2008.

[12] Như trên.

[13] Feasibility Study Report on Pan-Beibu Gulf Economic Cooperation cua Joint Expert Group, June 2009.

[14] Zhao Jianglin, phát biểu tại hội thảo quốc tế “Phát triển của quan hệ thương mại  ASEAN - Trung Quốc 15 năm qua và triển vọng”, Hà Nội , 2007. 

[15] Ian Storey, tham luận tại Hội thảo quốc tế “Biển Đông: Hợp tác vì an ninh và phát triển khu vực”, Hà nội, 26-28/11/2009.

[16] Carlyle A. Thayer, “Những diễn biến gần đây ở biển Đông: Hệ lụy đối với hoà bình, ổn định và phát triển ở khu vực”, tham luận tại hội thảo quốc tế “Biển Đông: Hợp tác vì an ninh và phát triển khu vực”, Hà Nội, 26 -28/11/2009.

[17] Tuy là đối tác đối thoại của ASEAN từ lâu, song dưới thời Tổng thống George W. Bush, Mỹ không chú trọng nhiều đến hợp tác với ASEAN. Chính quyền dân chủ của Tổng thống B. Obama tỏ quan tâm hơn và khẳng định chính sách cam kết trở lại đối với Đông Nam Á.

[18] Nhật Bản, Ấn Độ và Ốt-xtrây-li-a đều đã ký Hiệp định đối tác và mậu dịch tự do với ASEAN. Hàn Quốc cũng đàm phán với ASEAN một hiệp định tương tự. EU cũng đã đàm phán FTA song phương với một số nước ASEAN và đang xem xét việc đàm phán tiếp FTA với một số nước thành viên ASEAN khác, trong đó có Việt Nam.

 

 

Thời gian gần đây, lãnh đạo cấp cao quân đội Trung Quốc, bao gồm cả Bộ trưởng Quốc phòng Lương Quang Liệt đã liên tục đi thăm các nước, ngoài các nước lớn như Mỹ, Nga, còn đi thăm các nước láng giềng lân cận, khiến ngoại giao quân sự Trung Quốc gần đây dấy lên thành cao trào.

 

Trong bối cảnh vấn đề căng thẳng Biển Đông đang tiếp tục diễn ra, tình hình đảo Điếu Ngư nóng lên, một loạt chuyến thăm nhằm tăng cường an ninh phòng vệ của quân đội Trung Quốc được cả thế giới quan tâm.

I- Tạo dựng môi trường an ninh hợp tác tin cậy lẫn nhau

Nhận lời mời của Tư lệnh hải quân Nước Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ -Thượng tướng Bill Gaelic, ngày 3/9/2012 Ủy viên Quân ủy trung ương, Tư lệnh hải quân Ngô Thắng Lợi đã dẫn đầu đoàn đại biểu quân đội Trung Quốc đi thăm hữu nghị chính thức Thổ Nhĩ Kỳ. Tư lệnh Ngô Thắng Lợi hội kiến với nhà lãnh đạo quân đội và hải quân Thổ Nhĩ Kỳ, đi thăm một số đơn vị hải quân và trường quân sự của hải quân Thổ Nhĩ Kỳ, đồng thời mở rộng giao lưu hợp tác, đi sâu trao đổi ý kiến thiết thực trong các lĩnh vực giao lưu cấp cao, tàu chiến thăm lẫn nhau, hợp tác hộ tống tàu biển, giao lưu giữa các trường, viện của hải quân hai nước. Trước khi Tư lệnh Ngô Thắng Lợi đi thăm Thổ Nhĩ Kỳ, ngày 2/9 Ủy viên Quốc vụ kiêm Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt đã đi thăm Ấn Độ 5 ngày, đây là chuyến thăm Ấn Độ đầu tiên của Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc sau 8 năm gián đoạn. Trước đó, từ ngày 29/8 Bộ trưởng Lương Quang Liệt đã đi thăm Xri Lanca. Đây là lần đầu tiên Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc thăm Xri Lanca.

Cũng trong ngày 2/9, nhận lời mời của Bộ trưởng Quốc phòng các nước Việt Nam, Mianma, Malaixia và Xinhgapo, Phó Tổng tham mưu trưởng Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) Mã Hiểu Thiên đã khởi hành đi thăm bốn nước nói trên, lần lượt tham gia thảo luận, bàn bạc về an ninh quốc phòng lần thứ 6 với Bộ Quốc phòng Việt Nam, thảo luận bàn bạc về an ninh quốc phòng lần đầu tiên giữa hai Bộ Quốc phòng Trung Quốc – Malaixia, đối thoại chính sách quốc phòng lần thứ 4 giữa Trung Quốc và Xinhgapo, đồng thời đi thăm hữu nghị chính thức Mianma. Trong tháng 8 vừa qua, hai Phó Tổng tham mưu trưởng của PLA là Ngụy Phượng Hòa và Thái Anh Đĩnh dẫn đầu đoàn đại biểu đi thăm Nga và Mỹ. Tháng 1 năm nay, các chuyến thăm cấp cao liên tục như vậy của quân đội Trung Quốc được dư luận quan tâm. Là một bộ phận quan trọng của ngoại giao tổng thể quốc gia, ngoại giao quân sự Trung Quốc gần đây lại dấy lên cao trào mới. Trong số các quốc gia mà lãnh đạo cấp cao quân đội Trung Quốc đi thăm lần này vừa có các nước láng giềng lân cận, vừa có nước lớn như Mỹ, Nga. Có ý kiến phân tích cho rằng Trung Quốc đang nỗ lực thông qua giao lưu quân sự nhiều cấp độ như vậy để tạo dựng môi trường an ninh quân sự hợp tác tin cậy lẫn nhau.

II- Liên tiếp đi thăm láng giềng thúc đẩy lòng tin quân sự - Giao lưu quân sự Trung-Ấn được quan tâm

Từ hàng loạt chuyến thăm cấp cao liên tục lần này cho thấy việc Trung Quốc chú trọng tăng cường giao lưu an ninh quốc phòng với các nước xung quanh có đặc điểm rất rõ rệt. Các nước Ấn Độ, Lào do Bộ trưởng Quốc phòng Lương Quang Liệt đến thăm; các nước Việt Nam, Mianma, Malaixia, Xinhgapo do Phó Tổng tham mưu trưởng Mã Hiểu Thiên đến thăm; nước Nga do Phó Tổng tham mưu trưởng Ngụy Phượng Hòa đến thăm, đều là các nước láng giềng của Trung Quốc.

Về phát triển quan hệ quân sự của Trung Quốc với các nước xung quanh, người phát ngôn báo chí Bộ Quốc phòng Cảnh Nhạn Sinh ngày 30/8 nhấn mạnh Trung Quốc tuân thủ phương châm ngoại giao thân thiện với láng giềng, coi láng giềng là bạn, kiên trì quan điểm an ninh mới về tin cậy lẫn nhau, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi, sẵn sàng trở thành láng giềng tốt, người bạn tốt, đối tác tốt với các nước trong khu vực. Quân đội Trung Quốc sẽ tiếp tục nâng cao sự tin cậy lẫn nhau, tăng cường hợp tác, chung tay đối phó thách thức, không ngừng nỗ lực bảo vệ hòa bình, ổn định của khu vực.

Trong các chuyến giao lưu quân sự với các nước xung quanh lần này, cuộc gặp giữa Trung Quốc và Ấn Độ thu hút sự quan tâm nhiều nhất. Chuyến thăm Ấn Độ lần này của Bộ trưởng Lương Quang Liệt là chuyến thăm đầu tiên của Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc sau 8 năm, kể từ tháng 3/2004, chuyến thăm Trung Quốc gần đây nhất của Bộ trưởng Quốc phòng Ấn Độ cũng cách đây 6 năm, vào năm 2006.
Theo lịch trình, trong thời gian ở thăm Ấn Độ, Bộ trưởng Lương Quang Liệt gặp Bộ trưởng Quốc phòng A.K. Anthony và các quan chức quân sự cấp cao khác của Ấn Độ, đồng thời hội kiến với Thủ tướng Ấn Độ Mamohan Singh. Bộ Quốc phòng Ấn Độ trước đó cho hay Trung Quốc và Ấn Độ sẽ thảo luận, bàn bạc những công việc liên quan đến quốc phòng và an ninh, bao gồm tăng cường biện pháp giữ gìn hòa bình và ổn định ở khu vực biên giới giữa hai nước, thúc đẩy xây dựng lòng tin giữa lực lượng vũ trang hai nước. Hai bên cũng sẽ thảo luận vấn đề tái khởi động diễn tập quân sự hỗn hợp Trung - Ấn mang tên “ Tay nắm tay” lần thứ ba tại Trung Quốc vào năm tới.

Các nhà phân tích cho rằng những năm gần đây, động thái của Ấn Độ trong vấn đề Nam Hải đã khiến Trung Quốc lo ngại, trong khi Ấn Độ cũng có nhiều nghi kỵ về cách làm của Trung Quốc trong các công việc ở Ấn Độ Dương, lần giao lưu hiện nay giữa quân đội Trung Quốc và Ấn Độ có ý nghĩa tích cực trong việc tăng thêm lòng tin, giảm bớt nghi kỵ, bảo vệ an ninh ở khu vực. Trong chuyến thăm Xri Lanca trước đó, Bộ trưởng Lương Quang Liệt cũng nhấn mạnh Trung Quốc phát triển quan hệ ngày càng mật thiết với các quốc gia Nam Á là nhằm đảm bảo an ninh và ổn định khu vực chứ không có ý đồ làm tổn hại cho bất cứ bên thứ ba nào.

III- Phó Tổng tham mưu trưởng Trung Quốc thăm Mỹ trong thời kỳ nhạy cảm để nhấn mạnh chủ quyền đảo Điếu Ngư, tránh hiểu lầm

Ngoài tăng cường giao lưu quân sự với các nước xung quanh, trong thời điểm vấn đề Nam Hải, đảo Điếu Ngư một lần nữa nóng lên, việc Phó Tổng tham mưu trưởng PLA Thái Anh Đĩnh đi thăm Mỹ từ ngày 20 – 28/8 cũng được dư luận chú ý. Là một bộ phận của quá trình cơ chế hóa các chuyến thăm cấp cao lẫn nhau giữa hai quân đội Trung Quốc – Mỹ, chuyến thăm Mỹ lần này của phái đoàn Thái Anh Đĩnh diễn ra chỉ hơn ba tháng sau chuyến thăm Mỹ của Bộ trưởng Quốc phòng Lương Quang Liệt đầu tháng 5/2012. Trong chuyến thăm, Phó Tổng Tham mưu trưởng Thái Anh Đĩnh đã lần lượt hội kiến với Thứ trưởng thường trực Bộ Quốc phòng Mỹ Ashton Carter, Phó Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Mỹ Vinny Rumsfeld, Phó Tham mưu trưởng lục quân Mỹ Austin, Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ Sherman, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương Locklear, đồng thời tham quan căn cứ quân sự Mỹ, tọa đàm với các học giả nổi tiếng Mỹ, thăm tàu khu trục Aegis thuộc Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ.

Về vấn đề đảo Điếu Ngư, khi trả lời phỏng vấn báo chí ông Thái Anh Đĩnh cho biết trong khi đề cập đến lợi ích cốt lõi của Trung Quốc như chủ quyền, an ninh và trong các vấn đề lớn cần quan tâm, đoàn đại biểu Trung Quốc đã trình bày lập trường nguyên tắc của mình, nhấn mạnh ý thức chủ quyền mạnh mẽ của nhân dân và quân đội Trung Quốc, nói rõ hành vi xâm chiếm trái phép đảo Điếu Ngư của Nhật Bản không làm thay đổi được chủ quyền của Trung Quốc ở đảo này. Phía Trung Quốc kiên quyết phản đối Mỹ coi đảo Điếu Ngư là đối tượng để áp dụng Hiệp ước đảm bảo an ninh Mỹ - Nhật, hối thúc Mỹ có nhiều nỗ lực thúc đẩy hòa bình ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, bảo vệ cục diện lớn của quan hệ hữu nghị Trung – Mỹ.

Sau khi kết thúc chuyến thăm Mỹ của Thái Anh Đĩnh, tại cuộc họp báo thường kỳ ngày 30/8, Bộ Ngoại giao Trung Quốc xác nhận Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Panetta sẽ thăm Trung Quốc vào giữa tháng 9. Người phát ngôn báo chí Bộ Quốc phòng Trung Quốc Cảnh Nhạn Sinh cho hay Trung Quốc hết sức coi trọng chuyến thăm này và đang tiến hành công tác chuẩn bị một cách nghiêm túc. Ngoài ra, ông Cảnh Nhạn Sinh cũng cho biết quân đội Mỹ - Trung sẽ còn trao đổi các đoàn và các trường viện đi thăm lẫn nhau mang tính cơ chế, mở rộng giao lưu trong các lĩnh vực chuyên môn, đồng thời còn có kế hoạch tổ chức diễn tập quân sự hỗn hợp chống cướp biển. Ngành quốc phòng hai nước luôn giữ mối liên hệ chặt chẽ và trao đổi thường xuyên về vấn đề này.

Theo các nhà phân tích tình hình Biển Đông và tình hình Biển Hoa Đông thời gian gần đây bị chấn động, Mỹ liên tục diễn tập quân sự ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, trong bối cảnh đó, quân đội hai nước Mỹ - Trung cũng giữ liên hệ tiếp xúc chặt chẽ trên cơ sở được cơ chế hóa, đó là biểu hiện về quan hệ quân đội hai nước ngày càng tốt đẹp, có lợi cho việc nâng cao lòng tin lẫn nhau, tránh hiểu lầm và nhận định sai lệch về nhau.

Theo Mạng Tân Hoa (ngày 4/9)

Lê Sơn (Nhật Linh)

 

 

 

Các cuộc thảo luận đang diễn ra về bản chất của sự thay đổi địa chính trị trong khu vực, và cách quản lý tốt nhất sự thay đổi đó phản ánh mối quan tâm ngày càng tăng tại các quốc gia trong khu vực về tương lai của quan hệ Trung-Mỹ. Điều này đặt ra câu hỏi về sự cấp thiết của một trật tự khu vực có thể đảm bảo rằng mối quan hệ Trung-Mỹ sẽ tiếp tục đóng vai trò trụ cột cho sự ổn định và thịnh vượng của khu vực Đông Á. 

Trong bài viết “Đông Á cần có một ban lãnh đạo”, đăng trên tờ “Bưu điện Giacácta” mới đây, học giả Rizal Sukma - Giám đốc điều hành Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) – Inđônêxia cho rằng trong bối cảnh đan xen phức tạp của sự hợp tác - cạnh tranh Mỹ - Trung hiện tại và trong tương lai, bên cạnh sự nổi lên của các cường quốc khu vực khác; ASEAN – với tư cách là một Hiệp hội mong muốn khẳng định vai trò trung tâm trong các cấu trúc khu vực đang định hình như Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS) và chính EAS cũng đang có những đặc tính cần xem xét kỹ, thì khu vực Đông Á cần có một “ban lãnh đạo”. Ban lãnh đạo này không ai khác chính là EAS, nhưng diễn đàn này cần được tổ chức, vận hành theo một số hình thức và cơ chế nhất định, nhằm qua đó đảm bảo rằng không có sự chi phối nước lớn, đảm bảo một ASEAN đoàn kết, khẳng định được vai trò trung tâm trong các cấu trúc khu vực đang định hình và phát huy vị thế toàn cầu.

Biểu hiện của sự cạnh tranh giữa Trung Quốc và Mỹ trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương đã trở nên rõ ràng hơn trong vài năm qua. Trong khi những tuyên bố chính thức tại Bắc Kinh và Oasinhtơn tiếp tục nhấn mạnh sự cần thiết phải có mối quan hệ hợp tác, thì trên thực tế hai nước ngày càng coi nhau như đối thủ cạnh tranh tiềm tàng. Từ phía Trung Quốc, người ta thường nghe tiếng nói mô tả Mỹ như là một cường quốc đang suy giảm cố kiềm chế sự trỗi dậy trở thành lãnh đạo khu vực của Trung Quốc. Từ phía Mỹ, Trung Quốc được cho là có ý định, và chẳng bao lâu là có năng lực, thách thức vị trí thống soái của Mỹ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Tuy nhiên, có những lý do để tin rằng cả hai cường quốc sẽ cố gắng hết sức nhằm quản lý sự cạnh tranh đang nổi lên trong phạm vi của mối quan hệ chủ yếu là hợp tác giữa hai bên. Nói cách khác, trong khi các yếu tố cạnh tranh là không thể tránh khỏi trong mối quan hệ Mỹ-Trung, hai bên cũng sẽ đảm bảo rằng mối quan hệ song phương của họ sẽ được xác định nhiều hơn bởi sự hợp tác. Tuy nhiên, nếu không quản lý thận trọng, sự cạnh tranh đó cũng có thể phát triển thành một sự kình địch chiến lược. Một sự chuyển đổi trong quan hệ Mỹ-Trung, từ cạnh tranh sang kình địch, sẽ là một thảm họa cho tất cả mọi người trong khu vực. 

Đối với các cường quốc khác tại Đông Á, quan hệ Trung-Mỹ được đặc trưng bởi các yếu tố hợp tác và cạnh tranh, và sự không chắc chắn liên quan đến yếu tố nào sẽ thắng thế trong những năm tới, rõ ràng là một mối quan tâm. Các cuộc thảo luận đang diễn ra về bản chất của sự thay đổi địa chính trị trong khu vực, và cách quản lý tốt nhất sự thay đổi đó phản ánh mối quan tâm ngày càng tăng tại các quốc gia trong khu vực về tương lai của quan hệ Trung-Mỹ. Điều này đặt ra câu hỏi về sự cấp thiết của một trật tự khu vực có thể đảm bảo rằng mối quan hệ Trung-Mỹ sẽ tiếp tục đóng vai trò trụ cột cho sự ổn định và thịnh vượng của khu vực Đông Á. Trong khi mối quan hệ Mỹ-Trung là rất quan trọng đối với bất kỳ trật tự khu vực nào ở Đông Á, chúng ta không nên quên rằng khu vực này còn có sự hiện diện của các cường quốc khác. Trong bối cảnh này, bất kỳ trật tự khu vực nào cũng cần đảm bảo rằng mối quan hệ giữa tất cả các cường quốc như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản và Ấn Độ - sẽ chủ yếu là hợp tác hơn là cạnh tranh. Bất cứ trật tự khu vực nào cũng cần phải ngăn chặn sự cạnh tranh chiến lược giữa bốn cường quốc lớn mà đang trở thành đặc điểm chính của các quan hệ trong khu vực. Theo đó, có quan điểm cho rằng hòa bình và ổn định trong khu vực sẽ được đảm bảo tốt nhất bởi sự hình thành của một phối kết hợp giữa các cường quốc, hoặc là với định dạng đồng lãnh đạo giữa Mỹ và Trung Quốc (G-2) hoặc giữa bốn cường quốc đã đề cập ở trên. Ý tưởng về sự phối kết hợp giữa các cường quốc rõ ràng đang đánh giá thấp, nếu không nói là bỏ qua, vai trò của các thế lực vừa và nhỏ khác trong khu vực. Đối với những quốc gia đó, đặc biệt là những nước ở khu vực Đông Nam Á, trật tự khu vực ưa thích là một trật tự có thể ngăn ngừa sự xuất hiện của một hình thái phối kết hợp cường quốc giữa bốn nước lớn không có lợi cho các nước nhỏ hơn trong khu vực. Đây là lý do tại sao các nước ASEAN tiếp tục nhấn mạnh sự cần thiết phải có vai trò trung tâm của ASEAN trong mọi trật tự khu vực đang nổi lên. Tuy nhiên, vấn đề là ASEAN (cũng như các tiến trình do ASEAN lãnh đạo) vẫn chưa tạo được bất kỳ sự đảm bảo nào có thể duy trì hòa bình và ổn định trong khu vực. Thực tế, những diễn biến gần đây cho thấy chính ASEAN có thể bị chia rẽ trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng tăng giữa các nước lớn. ASEAN cần hiểu và hiểu rằng "không có sự thống nhất, không có vai trò trung tâm". 

Mặc dù phải đối mặt với những thách thức trong quá trình định hình trật tự mới nổi lên trong khu vực, ASEAN vẫn có cơ hội rất quan trọng không thể bỏ qua. Cơ hội này đến từ cấu trúc bao nạp của EAS. Là một quá trình tương đối mới, EAS chứa đựng hai tiềm năng quan trọng. Thứ nhất, EAS là một hình thức sắp đặt đầu tiên trong khu vực, nơi tất cả các cường quốc lớn, vừa và nhỏ - đều tham gia. Do vai trò trung tâm của ASEAN trong đó, EAS cũng là một diễn đàn, nơi các cường quốc trong và ngoài khu vực tương tác trong một khung cảnh tương đối không có nước nào đóng vai trò lãnh đạo. Nói cách khác, mọi quốc gia đều có một vị trí và một tiếng nói trên bàn hội nghị. Thứ hai, do yếu tố thành viên tham gia rộng rãi, EAS cũng có thể hoạt động như là một nền tảng để ASEAN kết nối với các cấu trúc làm nên trật tự toàn cầu khác, đặc biệt là G-20. ASEAN, với mong muốn đóng vai trò tích cực hơn trong “một cộng đồng toàn cầu của các quốc gia”, sẽ được hưởng lợi rất nhiều nếu có thể chuyển đổi EAS thành một thể chế vượt khỏi tầm chỉ là một diễn đàn "đối thoại" giữa các nhà lãnh đạo. Nói cách khác, ASEAN cần phải bắt đầu suy tính về những gì mà ASEAN muốn làm với EAS. Để hiện thực hóa được những tiềm năng này, EAS cần hoạt động như là một ban chỉ đạo cho khu vực châu Á-Thái Bình Dương theo hai cách thức tương quan với nhau: Thứ nhất, EAS cần được vận hành như một ban chỉ đạo điều phối các cơ chế khác nhau trong khu vực như ASEAN+3, Diễn đàn an ninh khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM +), và Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC). Thứ hai, các nước tham gia EAS là thành viên G-20 cần tổ chức một phiên họp kín không chính thức để phối hợp các chính sách và lợi ích của họ ở cấp độ toàn cầu. Quả thật, tương lai của Đông Á là quan trọng tới mức không thể bị chi phối bởi các hình thức chèo lái chính trị nước lớn. Sự lựa chọn tốt nhất vẫn tiếp tục là tăng cường các thoả thuận khu vực, cùng lúc nhìn nhận những điểm yếu cố hữu trong các sắp xếp đó. Quá trình này nên bắt đầu bằng cách thảo luận về vai trò mà EAS cần có trong tương lai. Chuyển đổi EAS thành một tổ chức có chức năng như một ban chỉ đạo cho khu vực là một vai trò như vậy. 

Bàn về thực trạng, triển vọng giải quyết và tác động xử lý các tranh chấp lãnh thổ - lãnh hải tại Đông Á, gồm cả Đông Nam Á và Đông Bắc Á, trong đó có Biển Đông đối với hòa bình, ổn định, phát triển thịnh vượng của toàn khu vực, học giả Rizal Sukma cũng vừa có bài viết đăng trên tờ “Bưu điện Giacácta”, nhan đề “Liệu chúng ta có phải quan ngại về những tranh chấp lãnh thổ ở Đông Á?”. Trong bài viết này, tác giả nêu ý kiến đáng lưu tâm: Tranh chấp lãnh thổ vẫn tiếp tục là một vấn đề nghiêm trọng tại khu vực. Tất cả các bên tranh chấp cần nhận thức rằng những hứa hẹn về thế kỷ châu Á là quý giá tới mức không thể bị hủy hoại bởi các tranh chấp lãnh thổ.

Đông Á đang ngày càng trở thành một khu vực của mâu thuẫn. Một mặt, Đông Á đã trở thành một trung tâm của sự chú ý toàn cầu do tầm quan trọng ngày càng tăng của khu vực này đối với kinh tế thế giới. Tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh tại khu vực, đặc biệt là ở Trung Quốc và Ấn Độ là cơ sở để người ta bàn luận về một thế kỷ của châu Á đang đến. 

Nhìn nhận từ quan điểm chiến lược, nhiều người cũng chỉ ra rằng trung tâm lực hấp dẫn của nền chính trị toàn cầu đã chuyển sang Đông Á. Nói ngắn gọn, khu vực Đông Á đang được mô tả như là trung tâm của sự thịnh vượng toàn cầu trong tương lai. Tuy nhiên, vẫn tồn tại nghi ngờ liệu sự thịnh vượng đang lên này sẽ đi liền với sự ổn định của khu vực. Những căng thẳng ngoại giao và tranh cãi chính trị xoay quanh hàng loạt vấn đề lãnh thổ chỉ rõ một tương lai đáng lo ngại cho hòa bình và ổn định tại khu vực. Thật vậy, tranh chấp lãnh thổ ở Đông Á đã bắt đầu nổi lên như một điểm nóng nghiêm trọng, làm gia tăng mối lo ngại khu vực về tương lai của toàn Đông Á. Nói cách khác, một khi hòa bình ở khu vực Đông Á vẫn còn bấp bênh thì sự thịnh vượng tại đây không thể tự nhiên mà có. Hãy nhìn vào Biển Đông, nơi căng thẳng đang âm ỉ từ nhiều tháng nay. Tranh cãi ngoại giao giữa Trung Quốc và hai nước Đông Nam Á là Việt Nam và Philíppin về những tuyên bố tranh chấp nhau trên Biển Đông đã bắt đầu ảnh hưởng đến khu vực rộng lớn hơn. Lần đầu tiên trong 45 năm, Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN (AMM) đã không ra được thông cáo chung. Thất bại này do một vấn đề duy nhất gây ra: Biển Đông. Bất chấp những nỗ lực của Inđônêxia nhằm khôi phục sự thống nhất của ASEAN về vấn đề này và thúc đẩy nhằm sớm đi đến một Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông, thì một kết quả hòa bình của tiến trình này vẫn còn xa vời. Ngược lại, do những chiều hướng quân sự của tranh chấp đang dần làm vấn đề trở nên phức tạp hơn, triển vọng xử lý các tranh chấp thông qua các biện pháp hòa bình thậm chí có thể trở nên khó khăn hơn. Hơn nữa, ở đây còn hiện hữu sự cạnh tranh chiến lược đang nổi lên giữa Trung Quốc và Mỹ với khả năng có thể làm cho các nỗ lực quản lý những tranh chấp này thậm chí còn khó khăn hơn. 

Cùng lúc, những tranh chấp lãnh thổ song phương giữa các nước ASEAN - như giữa Malaixia và Inđônêxia hay giữa Thái Lan và Campuchia - cũng đang tạo ra căng thẳng ngoại giao giữa các bên tranh chấp. Tranh chấp lãnh thổ cũng là một mối quan ngại tại Đông Bắc Á. Tranh chấp giữa Trung Quốc và Nhật Bản về quần đảo Senkaku (đảo Điếu Ngư) từ lâu đã là một vấn đề tồn tại trong quan hệ giữa Bắc Kinh và Tôkyô. Còn giữa Nhật Bản và Hàn Quốc, tranh chấp quần đảo Takeshima (đảo Dokdo) cũng đang là một nhức nhối trong mối quan hệ giữa Tôkyô và Xơun. Tuy nhiên, những căng thẳng ngoại giao gần đây giữa hai cặp quan hệ Tôkyô - Bắc Kinh và Tôkyô - Xơun cho thấy tranh chấp lãnh thổ vẫn còn là một vấn đề nghiêm trọng cho khu vực. Vấn đề tranh chấp lãnh hải trên Biển Đông liên quan đến Trung Quốc và 4 nước ASEAN đang được giải quyết trong khuôn khổ của Tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC). ASEAN và Trung Quốc cũng đang hướng tới một bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC) làm nền tảng cho việc xử lý vấn đề một cách hòa bình. Nhật Bản và Hàn Quốc đều là đồng minh của Mỹ, và Mỹ có thể đóng một vai trò trung gian để giảm bớt căng thẳng giữa hai nước Đông Bắc Á này. Bởi vậy, xét tất cả các tranh chấp lãnh thổ tại Đông Á về triển vọng xử lý, thì tranh chấp giữa Trung Quốc và Nhật Bản là đặc biệt đáng lo ngại. Hiện chưa rõ liệu hai nước sẽ tiến đến giải quyết tranh chấp lãnh thổ như thế nào. Thực tế, sự phát triển gần đây trong quan hệ Trung Quốc-Nhật Bản đã không tạo ra nhiều lạc quan. Tranh chấp quần đảo Senkaku/Điếu Ngư một lần nữa lại làm gia tăng căng thẳng giữa hai nước. Cả hai từ lâu đã ở thế kẹt trong trò chơi ăn miếng trả miếng: Một nhóm ủng hộ Trung Quốc có trụ sở tại Hồng Công - tự xưng là Ủy ban hành động để bảo vệ quần đảo Điếu Ngư đã đổ bộ lên một hòn đảo tranh chấp trong quần đảo này. Nhật Bản bắt giữ và trục xuất các nhà hoạt động Hồng Công. Các cuộc biểu tình với giai điệu chống Nhật đã nổ ra tại nhiều nơi ở Trung Quốc. Tiếp đến, một số nhà hoạt động Nhật Bản trả đũa bằng cách đổ bộ lên chính hòn đảo này, và ngay sau đó là những chỉ trích từ Chính phủ Trung Quốc. 

Vòng xoay có thể không dừng lại ở đó. Nhóm các nhà hoạt động có trụ sở tại Hồng Công hiện đang lên kế hoạch tổ chức tiếp nhiều cuộc biểu tình bên ngoài đại sứ quán và lãnh sự quán Nhật Bản trên toàn thế giới vào ngày 18/9, đồng thời kêu gọi người Trung Quốc trên khắp thế giới tham gia các cuộc biểu tình. Một khi chủ nghĩa dân tộc trở thành một phần của tranh chấp thì việc hai nước xích mích hơn nữa không phải là khó xảy ra. Nếu không được quản lý đúng đắn với thái độ kiềm chế, những vấn đề tranh chấp lãnh thổ nói trên sẽ làm tổn hại nghiêm trọng hòa bình, ổn định và thịnh vượng ở Đông Á. Các bên tranh chấp - cả ở khu vực Đông Nam Á và Đông Bắc Á - cần nhận thức rằng hứa hẹn về thế kỷ châu Á là quý giá tới mức không thể bị hủy hoại bởi các tranh chấp lãnh thổ./. 

Theo Bưu điện Giacácta

Viết Tuấn (gt)

 

 

Những năm gần đây, sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc ở các nước châu Á đã trở thành sự thực không phải tranh cãi. Điều dễ nhận thấy rằng hạt nhân của chủ nghĩa dân tộc này là tranh chấp chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải, cũng là một hình thức của chủ nghĩa dân tộc cổ điển nhất.

Do vấn đề về Biển Đông, Việt Nam và Philíppin thường xuyên diễn ra phong trào dân tộc nhắm vào Trung Quốc. chủ nghĩa dân tộc giữa Hàn Quốc và Nhật Bản cũng đang phát triển nhắm vào đối phương do tranh chấp chủ quyền ở đảo Dokdo/Takeshima. Trung Quốc lại càng được coi là trung tâm của phong trào dân tộc lần này, trong tất cả các nước châu Á, tranh chấp lãnh thổ và lãnh hải giữa Trung Quốc và các nước xung quanh là nhiều nhất, chủ nghĩa dân tộc ở Trung Quốc cũng đang phát triển mạnh nhắm vào các nước tranh chấp đó, phong trào bảo vệ đảo Điếu Ngư ở ba nơi hai bờ (Đại lục, Đài Loan, Hồng Công-Hai bờ eo biển Đài Loan) vừa diễn ra là ví dụ mới nhất. Trung Quốc cũng vì thế nên lại trở thành đối tượng quan tâm của các nước.

Chủ nghĩa dân tộc nổi lên ở châu Á khiến người ta cảm thấy lo ngại sâu sắc về tình hình an ninh khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Là nước lớn châu Á và là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, chủ nghĩa dân tộc ở Trung Quốc sẽ đi về đâu, điều đó quả thực sẽ ảnh hưởng đến chiến tranh và hòa bình ở cả châu Á. Trên thực tế, từ khi Liên Xô tan rã và Chiến tranh Lạnh kết thúc đến nay, các nước đều từng giờ từng phút quan tâm đến xu hướng của chủ nghĩa dân tộc ở Trung Quốc. Từ khi cải cách mở cửa, mặc dù Chính phủ Trung Quốc luôn nhấn mạnh tính chất hòa bình trong phát triển của Trung Quốc, đề ra chính sách ngoại giao “giấu mình chờ thời” và “trỗi dậy hòa bình” v.v., nhưng dường như có nhiều người hơn nghiêng về hướng tin tưởng rằng chủ nghĩa dân tộc ở Trung Quốc cuối cùng sẽ diễn biến thành chủ nghĩa dân tộc như ở Đức và Nhật Bản trước đây, và trở thành căn nguyên tiềm ẩn của xung đột và chiến tranh.

Tuy nhiên, điều hết sức hoang đường là càng nghiên cứu nhiều về chủ nghĩa dân tộc ở Trung Quốc thì người ta lại càng thể hiện rõ tình trạng thiên kiến thâm căn cố đế của họ đối với Trung Quốc. Những thiên kiến này không những tồn tại ở phương Tây, đặc biệt là ở nước Mỹ, mà còn ở các các nước láng giềng xung quanh Trung Quốc, nhất là một số nước đang có tranh chấp chủ quyền lãnh thổ với Trung Quốc. Những thiên kiến nói trên thể hiện ở ba phương diện sau:

Thứ nhất là ý thức hệ. Xuất phát từ ý thức hệ để đo lường chủ nghĩa dân tộc, đó là cách thường thấy nhất ở các nước dân chủ. Nói một cách đơn giản, chủ nghĩa dân tộc ở các nước dân chủ đều là bình thường, là biểu hiện bình thường của ý thức hệ, nhưng chủ nghĩa dân tộc xảy ra ở các nước phi dân chủ lại thường là sản phẩm huy động của chính phủ theo chủ nghĩa quyền uy. Vì thế, mặc dù Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và Ấn độ đều tồn tại chủ nghĩa dân tộc, đối tượng bị chỉ trích thường là chủ nghĩa dân tộc, nhưng chủ nghĩa dân tộc ở các nước dân chủ không những không bị chỉ trích mà lại thường được ca ngợi.

Thứ hai là địa chính trị và địa chiến lược. Ở phương diện này lợi ích chiến lược sẽ nhiều hơn. Một số nước thường coi chủ nghĩa dân tộc ở các nước có lợi ích địa chính trị và địa chiến lược gắn với nước mình là bình thường và còn tán dương, nhưng lại coi chủ nghĩa dân tộc ở những nước có lợi ích địa chính trị và địa chiến lược xung đột hoặc cạnh tranh với nước mình là không bình thường, đồng thời còn bị khiển trách. Điều này được thể hiện rất rõ trong phương diện đối xử của Mỹ và phương Tây với chủ nghĩa dân tộc xảy ra ở các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Việt Nam và Philíppin.

Thứ ba là đạo đức. Đây là phương diện phổ biến nhất, cảm tính nhất, hầu như có thể xảy ra ở bất cứ tầng lớp nào trong một xã hội. Việc phán đoán đạo đức đối với chủ nghĩa dân tộc là thường thấy giữa nước lớn với nước nhỏ, giữa nước mạnh và nước yếu. Rất đơn giản, người ta khiển trách nước lớn và cường quốc lừa gạt nước nhỏ và nước yếu nhưng lại ca ngợi thách thức của nước nhỏ và nước yếu đối với nước lớn. chủ nghĩa dân tộc cũng vậy.

I- Chính phủ xử lý thế nào trong quan hệ với chủ nghĩa dân tộc

Về mặt lý thuyết, vấn đề cần phải xử lý đối với chủ nghĩa dân tộc đó là quan hệ giữa mình và người khác, đặc điểm lớn nhất trong đó là luôn nghĩ mình đúng, còn người khác lúc nào cũng sai. Trong rất nhiều trường hợp, chủ nghĩa dân tộc vừa là thiên kiến với người khác, cũng vừa là thiên kiến với chính mình. Vì thế nếu xử lý không thỏa đáng, không những sẽ gây tổn hại cho lợi ích người khác, cũng vừa gây tổn hại cho lợi ích của bản thân mình. Kinh nghiệm cho thấy chủ nghĩa dân tộc đã dẫn đến không biết bao nhiêu lần chiến tranh và xung đột trong lịch sử, vừa xảy ra giữa các nước có chủ quyền, cũng vừa xảy ra trong nội bộ nước chủ quyền. Sau khi chiến tranh kết thúc, xu hướng này của chủ nghĩa dân tộc vẫn tiếp tục dai dẳng.

Liệu chủ nghĩa dân tộc ở các nước châu Á có diễn biến thành xung đột, thậm chí là chiến tranh giữa các nước hay không, vấn đề này chủ yếu liên quan đến việc xử lý quan hệ với chủ nghĩa dân tộc của chính phủ các nước. chủ nghĩa dân tộc có thể không tránh được nhưng xung đột và chiến tranh do chủ nghĩa dân tộc gây nên không phải không tránh được, trong đó chính phủ đóng vai trò quan trọng nhất.

Xem xét quan hệ giữa chính phủ với chủ nghĩa dân tộc, có thể phân thành một số loại hình sau:

Loại thứ nhất, chính phủ huy động, trong đó lại có thể phân thành hai loại nhỏ.

Một là chính phủ chủ động tạo ra chủ nghĩa dân tộc. Ở một số xã hội, chủ nghĩa dân tộc vốn không mạnh, nhưng để đạt được mục đích của mình, chính phủ đã sử dụng các biện pháp và các nguồn lực (chẳng hạn như cơ cấu tổ chức hoặc ý thức hệ) để tạo ra một loại chủ nghĩa dân tộc theo cách mà chính phủ đó yêu cầu. Các nước châu Âu trong thời kỳ đầu là như vậy, kết quả huy động là đã làm tăng thêm được sự thừa nhận đối với tư cách quốc gia chủ quyền, nhưng cũng đồng thời dẫn đến không biết bao nhiêu cuộc chiến tranh và xung đột. Trước Chiến tranh thế giới thứ Hai, các chính phủ Đức và Nhật Bản đã tạo ra thứ chủ nghĩa dân tộc mang tính xâm lược rất mạnh.

Hai là chủ nghĩa dân tộc đã có sẵn trong xã hội, chính phủ hoặc chính khách đã lồng tính toán của mình vào đó để đạt được mục tiêu lợi ích như vậy.

Loại thứ hai, phản ứng của chính phủ. Loại hình này cụ thể là trong xã hội đang tồn tại sẵn tinh thần và tình cảm dân tộc, bất cứ lúc nào cũng có thể nổ ra. Trong một số tình huống, chủ nghĩa dân tộc nổ ra là phản ứng đối với một sự kiện nào đó; trong một số tình huống khác, chủ nghĩa dân tộc nổ ra, bản thân đã có thể tạo ra sự kiện. Mỗi khi nổ ra, Chủ nghĩa dân tộc đều có ảnh hưởng với cả bên trong và bên ngoài, vì thế các chính phủ không thể không có phản ứng.

Loại thứ ba, Chính phủ lợi dụng chủ nghĩa dân tộc để chứng minh cho sự hợp lý trong chính sách của mình. Loại hình này là ở giữa hai loại hình nói trên. Nếu chủ nghĩa dân tộc trở thành một kiểu tồn tại khách quan, sẽ không có chính phủ nào có thể hoàn toàn coi thường sự tồn tại đó, cho dù đó là Chính phủ dân tộc hay là Chủ nghĩa quyền uy. Đã là tồn tại khách quan thì ở mức độ nào đó, các chính phủ sẽ đều phải lợi dụng nguồn lực của chủ nghĩa dân tộc để chứng minh cho tính hợp lý trong một số chính sách của mình.

Xét từ ba loại hình quan hệ giữa chính phủ với chủ nghĩa dân tộc nói trên, có thể thấy được xu hướng phát triển của chủ nghĩa dân tộc ở các nước châu Á. Ở Trung Quốc, tính chất hợp lý trong chính sách của Chính phủ chủ yếu không nằm ở ý dân, đặc biệt là ý thức dân tộc của dân chúng. Chính phủ vẫn có tính tự chủ rất mạnh để xử lý mối quan hệ với chủ nghĩa dân tộc. Trong thực tiễn quả đúng như vậy. Trong thời đại Mao Trạch Đông, bởi quốc gia yếu nên chủ nghĩa dân tộc thuộc loại hình chính phủ huy động, điều này được thể hiện đặc biệt rõ trong phương diện chống các bá quyền Mỹ và Liên Xô. Nhưng từ khi cải cách mở cửa đến nay, Chính phủ Trung Quốc nhắm vào chủ nghĩa dân tộc chủ yếu là tăng cường quản lý và kiểm soát. Trung Quốc mặc dù cũng đã trải qua phong trào yêu nước, cũng đã có ảnh hưởng đối với chủ nghĩa dân tộc về phương diện xã hội, nhưng mục tiêu chính của Chủ nghĩa yêu nước là ổn định nội bộ chứ không phải với bên ngoài. Xét từ góc độ chính phủ thì chủ nghĩa dân tộc ở Trung Quốc phần lớn là có tính chất phản ứng, tức phản ứng đối với chủ nghĩa dân tộc trên bình diện xã hội.

II- Chính phủ Trung Quốc kiểm soát và quản lý chủ nghĩa dân tộc

Là nước lớn đang trỗi dậy, chủ nghĩa dân tộc ở Trung Quốc hiện nay càng ngày càng thể hiện rõ tính tự phát. Cũng có thể nói chủ nghĩa dân tộc ở Trung Quốc hiện nay đã biến thành một hình thức tồn tại khách quan. Chính phủ quả thực có khả năng lợi dụng chủ nghĩa dân tộc để chứng minh cho tính hợp lý của chính sách, nhưng ở phương diện này Chính phủ Trung Quốc hết sức tự kiềm chế.

Từ trung ương đến địa phương, không có một chính khách nào có thể ngang ngược huy động chủ nghĩa dân tộc để lồng mục đích của mình vào đó. Ngược lại, biện pháp mà Chính phủ vận dụng nhiều hơn với chủ nghĩa dân tộc là kiểm soát và quản lý. Cũng chính vì vậy nên Chính phủ Trung Quốc thường bị những người theo chủ nghĩa dân tộc ở trong và ngoài nước phê phán, thậm chí còn bị công kích. Trên thực tế, bởi Chính phủ thiếu sự tham gia và chỉ dẫn đối với chủ nghĩa dân tộc nên chủ nghĩa dân tộc ở Trung Quốc ngày càng biểu hiện rõ hơn mặt tình cảm mãnh liệt của nó. Thực tế nói trên khiến cho chủ nghĩa dân tộc có thể sinh ra tính phá hoại rất lớn, đồng thời cũng làm cho áp lực đối với chính phủ tăng lên rất mạnh. Vì vậy, Chính phủ Trung Quốc có thể làm được nhiều hơn, khiến chủ nghĩa dân tộc trở nên lý tính hơn, làm tăng thêm lợi ích cho quốc gia.

Khác với Trung Quốc, Chính phủ Nhật Bản ngày càng thể hiện loại hình huy động đối với chủ nghĩa dân tộc. Cũng giống như rất nhiều nước phát triển, dân chủ đại chúng ở Nhật Bản càng ngày càng khó sản sinh ra được một chính phủ mạnh. Do đòi hỏi của chính trị, các chính trị gia của Nhật Bản thường lấy cớ dân chủ, sử dụng phương thức chính trị theo chủ nghĩa dân túy để huy động nguồn lực của chủ nghĩa dân tộc trong xã hội. Kết quả là, vật hy sinh thường là quan hệ của Nhật Bản với nước khác, đặc biệt là quan hệ với các nước láng giềng như Trung Quốc, Hàn Quốc.

Thực tế này đã diễn ra liên tục suốt từ thời của Junichiro Koizumi đến nay chưa bao giờ ngắt quãng. Tình hình của Nhật Bản hiện nay là dù đảng cầm quyền hay đảng đối lập, dù chính trị gia ở trung ương hay ở địa phương, dù chính phủ hay người dân, tất cả đều có khả năng rất lớn để đặt mục đích của mình vào chủ nghĩa dân tộc. So với Trung Quốc, chủ nghĩa dân tộc ở Nhật Bản có động lực lớn hơn. chủ nghĩa dân tộc ở Nhật Bản mạnh lên lại tất yếu kích thích chủ nghĩa dân tộc ở Trung Quốc và Hàn Quốc. Về quan hệ giữa dân chủ đại chúng và chủ nghĩa dân tộc, Hàn Quốc cũng tương tự Nhật Bản, tức chính phủ càng yếu lại càng dựa vào chủ nghĩa dân tộc. Trong quan hệ với Trung Quốc, chủ nghĩa dân tộc ở các nước Việt Nam, Philíppin cũng đang mạnh lên. So với Trung Quốc, các nước này là nước nhỏ đang phát triển, đồng thời Chính phủ các nước này cũng yếu hơn Chính phủ Trung Quốc rất nhiều. Vì thế Chính phủ các nước này phải huy động chủ nghĩa dân tộc để có được tính hợp pháp của chính phủ, trong khi làm hòa hoãn mâu thuẫn trong nước cũng đồng thời gây tổn hại đến quan hệ với Trung Quốc. Điều quan trọng hơn nữa là, chủ nghĩa dân tộc nhắm vào Trung Quốc ở các nước này thường lôi kéo một nước lớn khác là nước Mỹ vào, trong khi Mỹ xuất phát từ nhu cầu địa-chính trị nên thường hùa vào thêm, làm cho tính chất quốc tế của chủ nghĩa dân tộc ở các nước này phức tạp hơn.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, chính phủ các nước có xu hướng yếu đi, một số chính phủ yếu đi nhanh hơn so với một số chính phủ khác. Thời đại này về lý thuyết vẫn nói là thời đại của quốc gia chủ quyền, nhưng chính phủ của quốc gia chủ quyền đã rất khó kiểm soát được dân chúng do mình quản lý như trong truyền thống. Đồng thời lực lượng xã hội tăng nhanh, ngày càng đóng vai trò quan trọng trên vũ đài chính trị thế giới.

Có điều, chủ nghĩa dân tộc trong xã hội có thể dẫn đến tranh chấp và xung đột giữa các nước, nhưng trong nhân dân không có khả năng để giải quyết những tranh chấp và xung đột quốc tế, cuối cùng vẫn phải nhờ đến chính phủ của quốc gia chủ quyền. Vì thế, giữa các chính phủ quốc gia chủ quyền lại càng phải hợp tác, phải xử lý vấn đề chủ nghĩa dân tộc ở nước mình bằng lý tính nhiều hơn chứ không phải xuất phát từ tư lợi để huy động chủ nghĩa dân tộc một cách không có trách nhiệm, đơn giản đổ trách nhiệm cho nước khác, đặc biệt đối với Chính phủ Trung Quốc với tư cách là một Trung Quốc “lớn”, “mạnh” và “phi dân chủ” trong con mắt của họ.

Dù nói về kinh nghiệm lịch sử hay thách thức hiện thực, làm thế nào để đối phó với chủ nghĩa dân tộc tồn tại khách quan, đó vẫn là một nhiệm vụ khó khăn đối với tất cả chính phủ ở các nước. Nếu chủ nghĩa dân tộc vượt quá tầm kiểm soát và mạnh lên đến mức độ nào đó thì chắc chắn sẽ bị lực lượng chính trị cấp tiến ở các nước kìm lại, tiếp nữa là gây sức ép với cả chính quyền, từ đó khiến cho chủ nghĩa dân tộc đi đến chỗ xung đột, thậm chí là chiến tranh giữa các nước mà không có đường lùi.

Tác giả Trịnh Vĩnh Niên làViện trưởng Viện Đông Á – Đại học quốc gia.

Theo Báo “Thanh niên Trung Quốc” (ngày 23/8)

Nhật Linh (gt)

 

 

Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton ngày 3/9 đã đến Inđônêxia với hy vọng có thể thúc đẩy sự đoàn kết giữa các nước thành viên Đông Nam Á trong việc giải quyết các cuộc tranh chấp ngày càng căng thẳng với Trung Quốc.  

 

Trong chuyến thăm Inđônêxia, bà Clinton sẽ gặp các nhà lãnh đạo nước này - trong đó có Tổng thống Susilo Bambang Yudhoyono - và đi thăm trụ sở của Hiệp hội Các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) như một phần trong nỗ lực nhằm thúc đẩy quan hệ với tổ chức năng động về kinh tế này. Một quan chức cấp cao của Mỹ, yêu cầu giấu tên, cho biết bà Clinton hy vọng sẽ thảo luận với phía Inđônêxia về cách hai bên (Mỹ và ASEAN) hỗ trợ lẫn nhau, thúc đẩy các nỗ lực ngoại giao. Quan chức này nói: "Điều quan trọng nhất là chúng ta có thể kết thúc mọi việc bằng một tiến trình ngoại giao, nơi các vấn đề này được giải quyết thông qua cuộc trao đổi ngoại giao nghiêm túc giữa Trung Quốc và một ASEAN đoàn kết, chứ không phải thông qua các hành động ép buộc và hăm dọa".

Cũng nhân chuyến công du châu Á kéo dài 11 ngày của Ngoại trưởng Mỹ, báo "Bưu điện Giacácta" ngày 3/9 đã đăng bài viết của nhà phân tích Andi Widjajanto thuộc Đại học Quan hệ Quốc tế Inđônêxia về nội dung và ý nghĩa của chuyến thăm này. Học giả Andi Widjajanto cho biết Mỹ đánh giá Inđônêxia là một đối tác then chốt, một nhân tố quan trọng và có vai trò dẫn đầu trong ASEAN, đặc biệt là trong việc xử lý tình hình căng thẳng ở Biển Đông giữa Trung Quốc và một số quốc gia thành viên ASEAN.

Theo ông Andi Widjajanto, vai trò của Inđônêxia càng nổi bật trong vấn đề Biển Đông vì quốc gia này không phải là một bên tuyên bố chủ quyền ở đây. Inđônêxia đã rất nỗ lực trong việc phối hợp quan điểm chung của ASEAN về tranh chấp này. Chính vì vậy, chuyến thăm Giacácta của Ngoại trưởng Clinton được cho là sẽ nêu bật vai trò của Inđônêxia trong ASEAN và trong việc làm dịu căng thẳng ở Biển Đông, bởi một ASEAN đoàn kết và vững chắc là phù hợp với lợi ích của Mỹ khi họ phải đối mặt với một Trung Quốc ngày càng tỏ ra quyết đoán hơn, nhất là sau khi chính quyền của Tổng thống Barack Obama chuyển trong tâm ưu tiên chiến lược sang châu Á-Thái Bình Dương. 

Chuyên gia Andi Widjajanto nhận định chuyến thăm rất ngắn tới Giacácta của bà Clinton sẽ không liên quan đến Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC), mà nhằm thảo luận với các nhà lãnh đạo Inđônêxia về những căng thẳng ngày càng tăng ở Biển Đông. Ông lưu ý rằng trong một tuyên bố trên trang web của Bộ Ngoại giao Mỹ, người phát ngôn của bộ này là Victoria Nuland cho biết Ngoại trưởng Clinton "sẽ thảo luận với các nhà lãnh đạo Inđônêxia về quan hệ đối tác toàn diện Mỹ-Inđônêxia và cam kết của hai nước về các vấn đề khu vực và toàn cầu". 

Chuyến thăm của Ngoại trưởng Mỹ diễn ra vào thời điểm khá nhạy cảm: Các quốc gia thành viên ASEAN bị chia rẽ sâu sắc về sự bành trướng và gia tăng tranh chấp của Trung Quốc ở Biển Đông. Ông Andi Widjajanto cho biết về các vấn đề khu vực khác, Ngoại trưởng Clinton dự kiến sẽ thảo luận về kế hoạch sắp tới cho Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á (EAS) và phương pháp tiếp cận của Inđônêxia đối với các vấn đề quan trọng như xây dựng EAS và Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF). Về quan hệ song phương, ngoại trưởng hai nước sẽ thảo luận việc chuẩn bị cho cuộc họp Ủy ban Hỗn hợp Inđônêxia-Mỹ sẽ diễn ra tại Oasinhtơn vào cuối tháng 9 này, trao đổi về vấn đề nhân quyền và tôn giáo ở Inđônêxia, xem xét các vấn đề khu vực và đa phương ảnh hưởng đến quyền lợi của Mỹ và Inđônêxia.

Ủy ban hỗn hợp Inđônêxia-Mỹ là diễn đàn hàng năm, được thành lập sau khi hai nước thiết lập Quan hệ đối tác toàn diện năm 2010.

Ngày 4/9, bà Clinton sẽ đến Trung Quốc để hội đàm với các nhà lãnh đạo nước chủ nhà về mối quan hệ thường xuyên biến động giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới này. Cuối tuần, bà Clinton sẽ thăm Brunây. Như vậy, bà là Ngoại trưởng Mỹ đầu tiên đến thăm tất cả 10 quốc gia ASEAN

 Thùy Anh(gt)

 

Trung Quốc vẫn cam kết duy trì hòa bình và ổn định tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương và nỗ lực xây dựng thế giới hòa bình. Tuy nhiên, tình hình hiện nay tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương vẫn ảm đạm và các nước láng giềng vẫn thường xuyên khiêu khích.

Trung Quốc không mọi đợi tình hình này. Tuy nhiên, mặt khác Trung Quốc có thể tận dụng cơ hội này để chủ động điều chỉnh quan điểm của Trung Quốc tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.

Tình hình hỗn loạn tạo cơ hội cho Trung Quốc phát triển sức mạnh quân sự. Những điều chỉnh gần đây của Trung Quốc trong việc cố cân bằng sức mạnh quân sự và kinh tế đã khiến một số nước lo lắng.

Hiện nay, Trung Quốc đã buộc phải tăng cường sức mạnh quân sự bởi an ninh quốc gia Trung Quốc thường xuyên bị đe dọa. Một số láng giềng đang khiêu khích Trung Quốc bởi họ nghĩ rằng quân sự của Trung Quốc yếu và Trung Quốc sẽ không dám sử dụng vũ lực.

Hỗn loạn cũng tạo cơ hội để thay đổi cấu trúc cường quốc toàn cầu. Trong lịch sử nhân loại, tất cả các cường quốc đang nổi đều thay đổi phân phối quyền lực giữa các nước chủ chốt thông qua việc tái định hình cầu trúc quyền lực quốc tế.

Tuy nhiên, Trung Quốc không mong muốn tái xây dựng cấu trúc quyền lực toàn cầu hay trở thành cường quốc thế giới thông qua các hoạt động quân sự. Trung Quốc cần thiết lập vị thế mới trong cấu trúc quyền lực tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương thông qua lời nói và hành động.

Sự hỗn loạn là cơ hội để Trung Quốc thể hiện ảnh hưởng thông qua lời nói và hành động. Ngạn ngữ có câu “thời đại tạo anh hùng”. Trung Quốc cần nắm cơ hội để thể hiện ảnh hưởng và xây dựng luật chơi mới. Với sức mạnh quốc gia, Trung Quốc cần chủ động tìm cách mở rộng sức mạnh và ảnh hưởng quốc tế.

Cuối cùng, tình hình hỗn loạn tạo phạm vi cho chủ động giải quyết xung đột với các nước láng giềng. Hiện còn nhiều mâu thuẫn và xung đột giữa Trung Quốc và các nước láng giềng. Nếu Trung Quốc không giải quyết những vấn đề này, thì nó sẽ cản trở con đường phát triển của Trung Quốc. Những vấn đề này có thể không hoàn toàn giải quyết được trong môi trường hòa bình. Tình hình hỗn loạn cũng tạo cho Trung Quốc và các nước láng giềng cơ hội để giải quyết vấn đề này. Các nước có liên quan cần phải thông tin nhiều hơn cho nhau và so sánh sức mạnh tương quan trong bối cảnh hỗn loạn.

Trung Quốc không ngại tình hình hỗn loạn tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương mà sẽ tận dụng cơ hội này để giải quyết các mâu thuẫn và xung đột với các nước láng giềng.

Thời báo Hoàn cầu, ngày 27/08/2012

Thùy Anh(gt)

 

Trái ngược với khuynh hướng của phần lớn học giả và các nhà hoạch định chính sách Mỹ, thường nghĩ về sự can dự của Trung Quốc tại khu vực Vịnh Pécxích như là "bạn của Iran và chống lại Mỹ và phương Tây", các lợi ích lớn của Trung Quốc tại vùng Vịnh đã giải thích lý do họ cần hòa bình tại Trung Đông, cũng như chiến lược lâu dài của Bắc Kinh.

 

 

Các báo cáo hàng tháng của Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) và các công ty phân tích hàng đầu khác cho thấy trong tháng 5/2012, Trung Quốc đã nhập khẩu 6 triệu thùng dầu/ngày, mức cao kỷ lục và tăng 10,8% so với tháng 4/2012. Nếu so với cùng kỳ năm 2011, lượng dầu nhập khẩu tăng tới 18,2%. Các dữ liệu của OPEC cho thấy mức tăng trưởng dầu mỏ nhập khẩu của Trung Quốc chủ yếu nhờ nhập khẩu từ Trung Đông, nhưng không chỉ từ Iran. Lượng dầu xuất khẩu từ Irắc, Các Tiểu Vương quốc Arập Thống nhất (UAE), Yêmen và Arập Xêút sang Trung Quốc đều tăng. Trung Quốc cũng nhập khẩu dầu mỏ của Côoét và Ôman. Đặc biệt, lượng dầu xuất khẩu của Arập Xêút sang Trung Quốc đã cao gấp hai lần lượng dầu Trung Quốc nhập khẩu của Iran.

Vậy các dữ liệu trên cho thấy điều gì?

Thứ nhất, chúng xác nhận rằng "sự khát dầu" của Trung Quốc đang tăng lên, như hầu hết các chỉ số kinh tế vĩ mô cho thấy, và sản lượng dầu trong nước của Trung Quốc vẫn không thể bắt kịp với nhu cầu gia tăng, khiến Trung Quốc sẽ ngày càng cần nhập khẩu nhiều dầu mỏ hơn.

Thứ hai, Trung Quốc đang ngày càng phụ thuộc vào các nguồn dầu mỏ ngoài Iran hơn. Điều này không có nghĩa là Trung Quốc không còn quan tâm đến việc nhập khẩu dầu từ Iran do sự sẵn có, giá thấp hơn và ít đối thủ cạnh tranh do các lệnh trừng phạt quốc tế. Nhưng việc sản xuất dầu mỏ của Iran ít có khả năng mở rộng do hầu hết các giếng dầu đều cũ và cần có những kỹ thuật khai thác tiên tiến, mà chỉ các công ty nước ngoài mới có để tăng sản lượng. Trong khi đó, sản lượng dầu của các nước khác, nhất là Irắc, đang tăng mạnh nhờ các khoản đầu tư mới và sử dụng kỹ thuật hiện đại. Sản lượng dầu thô của Irắc hiện đã vượt của Iran và dự kiến tiếp tục tăng trong những năm tới, trong khi Arập Xêút, UAE và Ôman sẽ vẫn là những nước xuất khẩu dầu lớn. Nếu các lệnh trừng phạt hiện nay không được dỡ bỏ, Iran sẽ vẫn quan trọng với Trung Quốc, nhưng không quan trọng tới mức khiến Trung Quốc sẵn sàng xung đột với các nước thành viên của Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh (GCC).

Thứ ba, Trung Quốc cần dầu mỏ để tiếp tục phát triển và không muốn bất kỳ điều gì có thể khiến nguồn dầu không thể đến được Đại lục, nơi các ngành công nghiệp, các thành phố và nền kinh tế Trung Quốc đang rất cần. Do hầu hết nguồn dầu thô nhập khẩu của Trung Quốc là từ Vịnh Pécxích, nên Trung Quốc muốn tránh những sự kiện có thể làm gián đoạn các tuyến đường cung cấp dầu mỏ cho họ từ Trung Đông. Trung Quốc không muốn có một cuộc chiến chống lại Iran bởi vì cuộc chiến này có thể cắt đứt nguồn cung cấp dầu mỏ của họ từ Iran và làm gián đoạn dòng dầu nhập khẩu của họ đi qua Eo biển Hormuz. Phương Tây dường như sẽ có lợi do Trung Quốc sẽ gây sức ép để Iran không phong tỏa eo biển này. Nguy cơ Trung Quốc thôi ủng hộ Iran tại HĐBA LHQ có thể cũng đủ để thuyết phục các nhà lãnh đạo Iran không lựa chọn chiến tranh.

Những điều trên có nghĩa là Trung Quốc không muốn chiến tranh, hoặc sự bất ổn nghiêm trọng tại khu vực Trung Đông và sẽ tích cực hoạt động để tránh điều này. Do vậy, Bắc Kinh có thể trở thành người bạn tốt nhất của Mỹ tại Trung Đông để đảm bảo chắc chắn rằng Iran sẽ không quá hung hăng đối với các nước láng giềng. Sự đe dọa sẽ vẫn tiếp tục, nhưng Bắc Kinh có thể dễ dàng thay thế Oasinhtơn trong việc duy trì hòa bình khu vực. Do các lợi ích lớn của Trung Quốc trong sự ổn định tại Trung Đông (vì việc nhập khẩu dầu), Trung Quốc có thể được tin cậy hơn. Thêm vào đó, do không còn những lợi ích lớn tại Trung Đông, Mỹ có thể tập trung vào các khu vực khác khi Trung Quốc vẫn sa lầy tại một trong những khu vực phức tạp nhất thế giới.

Nghe có vẻ khó tin, nhưng Mỹ có thể được lợi nhiều hơn từ sự hợp tác thận trọng với Trung Quốc tại một số khu vực chủ chốt. Việc khai thác những điểm yếu của Trung Quốc sẽ khiến vùng Vịnh và các khu vực khác an toàn hơn. Việc này đòi hỏi phải quan sát xem lợi ích của Trung Quốc nằm ở đâu, và thay vì "đánh đắm" con tàu Trung Quốc, tốt hơn Mỹ nên giúp Trung Quốc hướng tới sự quan tâm chung. 

Theo mạng "Oil price" (ngày 21/8)

Vũ Hiền (gt)

 

Trong một bài viết mới đây được trang tin “Đa chiều” phiên bản tiếng Trung của Mỹ trích dẫn, Giáo sư kinh tế Patrick Chovanec cho rằng dù Đảng Dân chủ tiếp tục nắm quyền hay Đảng Cộng hòa đổi ngôi thành công đều phải thận trọng đối với nhiều vấn đề liên quan tới Trung Quốc.

 

 

Năm 2012 này là năm đại bầu cử ở Mỹ. Tương tự như bất cứ năm đại bầu cử nào ở Mỹ, vấn đề Trung Quốc luôn được các đảng phái sử dụng để giành thêm phiếu bầu. Trong bài viết của mình, vị Giáo sư quốc tịch Mỹ ở Đại học Thanh Hoa (Trung Quốc) này cảnh báo các ứng cử viên tổng thống Mỹ rằng trong vài tháng tới và trong vòng một năm sau khi lên cầm quyền, họ nên chú ý tới ba vấn đề sau liên quan tới Trung Quốc: 

Thứ nhất, kinh tế Trung Quốc không chỉ giảm tốc độ tăng trưởng, hơn thế còn đang trải qua thời kỳ cải tạo sâu sắc. Theo Giáo sư Chovanec, hiện nay, bong bóng đầu tư thúc đẩy phát triển kinh tế tốc độ cao của Trung Quốc đã vỡ và trước mắt sẽ không có biện pháp kích thích nào được chuẩn bị sẵn. Vào cuối năm 2012, tại Trung Quốc sẽ xuất hiện khủng hoảng tài chính ở một hình thức nào đó. Khả năng này rất hiện thực. 

Thứ hai, Trung Quốc đang trong giai đoạn chuyển giao quyền lực và trong tiến trình đó đã xuất hiện một số trắc trở. Dẫu vậy, cuối cùng việc chuyển giao quyền lực vẫn được thực hiện, nhưng những “khúc nhạc đệm” xen vào tiến trình chuyển giao quyền lực sẽ khiến nhà lãnh đạo Trung Quốc không thể dành toàn lực để ứng phó với các vấn đề kinh tế ngày một rõ ràng. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc tin rằng họ vẫn còn nhiều thời gian, nhưng dường như họ không biết rõ tính nghiêm trọng và tính khẩn cấp của tình hình, hơn nữa, những biện pháp vốn phát huy tác dụng nay đã mất đi sự linh nghiệm. 

Thứ ba là những phiền phức mà các vấn đề kinh tế của Trung Quốc gây ra cho Mỹ. Trước tiên là việc Trung Quốc thông qua chính sách đồng nhân dân tệ yếu để thúc đẩy xuất khẩu sẽ xung đột trực tiếp với cam kết của ứng cử viên Đảng Cộng hòa Mitt Romney (theo tạp chí “Nhà Kinh tế”, ông Romney cam kết sẽ tuyên bố Trung Quốc là nước “thao túng tiền tệ” ngay trong ngày đầu tiên bước vào Nhà Trắng). Bên cạnh đó phải thấy rằng Trung Quốc đã bắt đầu bán phá giá một số sản phẩm sản xuất dư thừa như sắt thép ra thị trường thế giới. Việc này tiếp tục làm gia tăng căng thẳng trong quan hệ thương mại quốc tế cũng như làm trầm trọng hơn sự mất cân bằng trong thương mại quốc tế. 

Cuối cùng là cục diện tồi tệ nhất: Trung Quốc có thể bất chấp rủi ro châm ngòi xung đột tại Biển Đông nhằm chuyển hướng quan tâm chú ý của người dân sang "kẻ thù" của nước này. Giáo sư Chovanec nhấn mạnh những phân tích nêu trên của ông không tồn tại cách nhìn phiến diện mang tính đảng phái, và thích hợp với cả ứng cử viên tổng thống của Đảng Cộng hòa lẫn ứng cử viên tổng thống của Đảng Dân chủ. Giáo sư Chovanec cũng cho biết ông không có ác ý nhằm làm dấy lên sự đả kích của người Trung Quốc, chỉ vạch ra một cách khách quan sức phá hoại cực lớn mà Trung Quốc có thể gây ra. Nếu Trung Quốc “lắc lư” khi bước trên con đường tương lai và không biết đi về đâu, đây mới là điều Mỹ đáng phải lo lắng. 

Lê Sơn (gt)

 

Thời báo hoàn cầu ngày 8/6 dẫn nguồn từ “Báo Bưu điện Gia-các-ta” của Indonesia ngày 7/6 đăng bài: “Nam Hải (Biển Đông) là hòn đá thử vàng quan hệ Trung Quốc-ASEAN”. Dưới đây là nội dung chính bài báo.

 

Trung Quốc đã giải quyết được phần lớn vấn đề biên giới lãnh thổ bằng biện pháp hòa bình. Lãnh đạo Trung Quốc cho rằng đây là việc cần thiết, có thể tập trung được tinh lực để phát triển kinh tế và thể hiện với thế giới Trung Quốc là một quốc gia có trách nhiệm. Nhưng sự phức tạp trong chính sách quốc phòng xung quanh Trung Quốc khiến khó có thể đánh giá được Trung Quốc sẽ bảo vệ “chủ quyền không thể tranh cãi” trong trường hợp nào. Hải quân Trung Quốc lần đầu tiên có khả năng phá vỡ “chuỗi đảo thứ nhất”, điều này sẽ có ảnh hưởng chiến lược lớn đối với cán cân tương quan lực lượng ở khu vực trong nhiều năm tới.

 

Chuyên gia về vấn đề khu vực Michael Auslin cho rằng đây là bước đầu tiên trong chiến lược “phòng ngự biển xa” mới nhất của Trung Quốc (khác với phòng ngự biển gần truyền thống), cho thấy Trung Quốc có ý định đóng vai trò lớn hơn trong khu vực. Đối với việc hải quân Trung Quốc ngày càng tự tin hơn, các nước Đông Nam Á rất khó hoan nghênh một cách tích cực. Mức độ phụ thuộc ngày càng lớn trong lĩnh vực kinh tế thương mại giữa Trung Quốc và ASEAN đã xóa đi sự bất an của các nước trong khu vực đối với Trung Quốc. Nhưng vấn đề “Nam Hải” sẽ là hòn đá thử vàng cuối cùng để xem quan hệ giữa Trung Quốc và ASEAN đã chín muồi chưa.

 

Việc Trung Quốc đẩy nhanh hiện đại hóa hải quân sẽ khiến Trung Quốc khó xóa bỏ được sự lo ngại của các nước trong khu vực. Ngoài ra, bên trong các nước ASEAN tồn tại khoảng cách về chính trị và kinh tế, các nước này quan hệ với Trung Quốc đều theo đuổi lợi ích chiến lược riêng. Do đó, các nước ASEAN khó có thể đạt được sự đồng thuận nhằm ủng hộ một số nước thành viên giải quyết tranh chấp ở “Nam Hải” (Biển Đông).

 

Nhưng điều quan trọng hơn là các nước ASEAN cần phải hiểu Trung Quốc lo ngại việc thỏa hiệp trong vấn đề “Nam Hải” (Biển Đông) sẽ phát tín hiệu sai cho Đài Loan. Hơn nữa, nhu cầu năng lượng của Trung Quốc ngày càng tăng và sự lệ thuộc cao vào eo biển Malacca khiến Trung Quốc phải tính đến việc sử dụng biện pháp quân sự để bảo đảm nguồn cung. Đồng thời, Trung Quốc cũng cần phải hiểu cho dù Trung Quốc sử dụng vũ lực ở bất kỳ hình thức nào thì các nước ASEAN cũng không thể tha thứ, “sức hấp dẫn” của ngoại giao và kinh tế không đủ để giữ lòng tin chiến lược lâu dài.

 

 

 

 

Báo “Tin tức Vân Nam ngày 6/4 đăng bài “ Hợp tác Trung Quốc – Đài Loan” đề cập đến vấn đề hợp tác về chính trị, quân sự trong vấn đề Biển Đông.

Trong thời gian họp Hội nghị Chính hiệp và Quốc hội TQ năm 2010, nguyên phó Ban nghiên cứu quân sự thế giới của Viện khoa học quân sự Trung Quốc, Thiếu tướng La Viện cũng nêu rõ quân đội hai bờ nên cùng nhau bảo vệ biên cương vốn có của dân tộc Trung Hoa, ví dụ như cùng nhau phối hợp phòng vệ ở Nam Hải, một khi xảy ra chuyện, quân đội Đài Loan trên đảo Thái Bình có thể cung cấp hậu cần cho phía Đại Lục.

Có chuyên gia quân sự chỉ ra rằng do vị trí địa lý của đảo Thái Bình ưu việt, lại có nguồn nước ngọt, hoàn toàn có thể xây dựng căn cứ hậu cần quan trọng cho tầu chiến và tầu ngầm. Hơn nữa, đảo Thái Bình chỉ cách đảo bãi mà quân đội Trung Quốc chiếm giữ ở Nam Sa (Trường Sa) khoảng 410 hải lý, nếu ý tưởng về việc hai bờ phối hợp bảo vệ Biển Đông được thực hiện, thì có thể có hành động đối phó với những kẻ xâm nhập vùng biển Biển Đông của TQ cướp bóc tài nguyên, có lợi cho việc bảo vệ tài nguyên của Biển Đông.

Hiện nay, việc hai bờ hợp tác để bảo vệ Biển Đông vẫn gặp rất nhiều khó khăn. Một là, giữa hai bờ còn thiếu sự tin cậy về chính trị; hai là, quan hệ quân sự giữa hai bờ chưa được cải thiện; ba là, các thế lực nước ngoài luôn luôn quấy rối sự hợp tác giữa hai bờ. Những năm gần đây, chính giới của hai bờ qua lại tăng lên, sự hiểu biết trong dân chúng cũng tăng lên, có thể nói điều kiện hai bờ phối hợp bảo vệ Biển Đông đang chín muồi.

Phó giáo sư Trường Đại học Hạ Môn Lý Bằng cho rằng không nhất thiết phải đòi hỏi hai bờ đạt được sự tin cậy chính trị và quân sự, sau đó mới tiến hành phối hợp, mà có thể bắt đầu hợp tác mang tính chất chức năng, thông qua sự hợp tác chức năng để tăng thêm sự tin cậy giữa hai bờ, từ đó tìm kiếm phương thức hợp tác trong lĩnh vực chính trị và quân sự.

 

 

 

Ngôn ngữ