17 - 9 - 2019 | 7:11
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home
Tag:Trung Quốc

Bài viết của TS. Emmanuel Karagiannis, Đại học Macedonia nêu những thuận lợi và khó khăn trong chiến lược xây dựng và duy trì những đường dẫn dầu xuyên quốc gia của Trung Quốc tại khu vực Trung và Đông Nam Á. Bài viết được in trong Series đặc biệt của tạp chí Harvard Asia Quarterly của Trường Đại học Havard với chủ đề "Tranh chấp biển- An ninh hàng hải tại Đông Á", (The Disputed Sea – Maritime Security in East Asia) tháng 12/2010.

 

Phần mở đầu

Sự trỗi dậy của đất nước đông dân nhất thế giới và những liên đới của nước này trong hệ thống quốc tế đã làm nóng các vấn đề ở phương Tây. Một điều dám chắc là: nền kinh tế đang bùng nổ của Trung Quốc cần nguồn cung năng lượng đầy đủ và an toàn để đảm bảo duy trì tốc độ tăng trưởng hiện nay. Nhu cầu năng lượng tăng vọt như vậy đã ảnh hưởng đến những ưu tiên trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc. Trong những năm gần đây, Bắc Kinh đã chuyển tập trung từ khu vực Đông Á sang những khu vực giàu năng lượng như Tây Phi, Trung Á, và Trung Đông.

Từ giữa thập niên 1990, các công ty dầu của Trung Quốc như Tập đoàn hóa dầu (Sinopec), Tập đoàn dầu khí quốc gia Trung Quốc (CNPC), và Tập đoàn khai thác dầu ngoài khơi Trung Quốc (CNOOC) đã được Bắc Kinh khuyến khích, nếu không phải là ra lệnh, đầu tư ra nước ngoài. Các công ty Trung Quốc đã mua các mỏ dầu và khí gas ở Sudan, Angola, Peru, Canada, Kazakhstan, và nhiều nước khác. Nhưng nhập khẩu năng lượng vẫn là vấn đề gây tranh cãi ở Trung Quốc, do giá dầu tăng cao và những quan ngại địa chính trị về an ninh nguồn cung. Bắc Kinh hiện đang cạnh tranh với châu Âu, Mỹ và Nhật Bản để giành các nguồn năng lượng khan hiếm tại thế giới đang phát triển. Việc chính trị hóa vấn đề năng lượng ngày càng tăng thậm chí đã khiến một số nhà phân tích Trung Quốc nhìn nhận các cuộc chiến tranh của Mỹ tại Afghanistan và Iraq là những nỗ lực để đảm bảo nguồn dầu mỏ và khí gas.[1]

Mặc dù Trung Quốc phụ thuộc vào đường biển để nhập khẩu một lượng lớn dầu mỏ, nhưng Bắc Kinh không có khả năng quân sự để bảo vệ những tuyến đường này. Kết quả là, việc gián đoạn với nguồn cung nhập khẩu dầu có thể gây hại đến ổn định kinh tế Trung Quốc, Bắc Kinh ngày càng nhận thức rõ điều này. Vấn đề nổi trội nhất chính là Eo biển Malacca, dài 600 dặm nối Trung Đông và châu Phi với Đông Á.

Tháng 11 năm 2003, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã bày tỏ quan ngại của mình về khả năng tin tưởng vào khu vực Eo biển này.[2] Tuy nhiên, người ta chưa mấy chú ý tới những kênh thay thế mà qua đó Trung Quốc có thể tiếp nhận năng lượng. Bắc Kinh đã đầu tư rất nhiều vào xây dựng đường ống dẫn dầu tại các nước láng giềng. Ở Trung Á, có đường ống dẫn dầu Trung Quốc - Kazakh và Trung Quốc –Turkmen, đồng thời, ống dẫn dầu Thái Bình Dương- Tây Siberia đang được xây dựng. Tại Đông Nam Á, một số đường ống dẫn dầu được thiết kế đặc biệt để đi qua Eo biển Malacca, như Trung Quốc – Miến Điện, đường ống dẫn dầu Kra Isthmus và Pakistan – Trung Quốc. Bài viết này ra soát những thuận lợi và khó khăn của chiến lược ống dẫn dầu này. Bắt đầu là mô tả vắn tắt ngành công nghiệp dầu mỏ và khí gas của Trung Quốc. Sau đó xem xét nền ngoại giao ống dẫn dầu của Trung Quốc tại khu vực Trung và Đông Nam Á. Luận điểm chính ở đây là trong khi ống dẫn dầu có thể là phương tiện hiệu quả nhất để vận chuyển một lượng lớn hydrocarbons qua một khoảng cách rất xa, chúng lại cực kỳ dễ bị tổn thương bởi các cuộc tấn công khủng bố. Do đó, điều quan trọng là phải đánh giá nguy cơ an ninh có khả năng xuất phát từ những xung đột cường độ thấp với các nhóm khủng bố và ly khai quanh khu vực các đường ống dẫn dầu. Vấn đề này tồn tại ở cả trong và bên ngoài biên giới Trung Quốc.

Ngành công nghiệp dầu và khí gas của Trung Quốc

Khi nước Cộng hòa Nhân Dân Trung Hoa (CHND) được thành lập năm 1949, hầu hết nhu cầu năng lượng đều được đáp ứng nhờ nhập khẩu. Nhưng từ khi mỏ dầu Đại Khánh được phát hiện ở phía tây Trung Quốc năm 1959, sản xuất dầu trong nước đã có thể thay thế nhập khẩu. Trái với bối cảnh thù địch của Mỹ, giới lãnh đạo Trung Quốc áp dụng chính sách tự lực dầu lửa (zili gengsheng).[3]

Không có gì đáng ngạc nhiên là các cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973 và 1979 hầu như không mấy tác động đển nền kinh tế tập trung của Trung Quốc. Lúc đó, còn có tin đồn là sản xuất dầu mỏ của Trung Quốc sẽ vượt Mỹ và Liên Xô vào năm 1980.[4] Chính sách mở của mà Đặng Tiểu Bình tuyên bố năm 1979 đã dần biến Trung Quốc thành một quốc gia công nghiệp hoá. Tuy nhiên, từ đầu thập niên 1990, ngành dầu lửa của nước này đã không còn đáp ứng được cầu tăng mạnh. Trung Quốc vẫn là một nước sản xuất năng lượng lớn, nhất là về than đá, nhưng trữ lượng dầu mỏ và khí gas của nước này lại hạn chế. Năm 2009, trữ lượng dầu mỏ được xác định là 16 tỷ thùng và khí gas là 2,2 nghìn tỷ mét khối (tcm)[5]. Năm 2008, Trung Quốc sản xuất 4 triệu thùng/ngày nhưng lại tiêu thụ 7.8 triệu thùng/ngày. Do đó, Trung Quốc đã phải nhập khẩu khoảng 3,9 triệu thùng/ ngày, và trở thành nước nhập khẩu dầu nhiều thứ ba thế giới, sau Mỹ và Nhật. [6] Trong những năm gần đây, Ả Rập Saudi, Angola và Iran là ba nước cung cấp dầu thô lớn nhất cho Trung Quốc. Nhu cầu dầu mỏ tăng mạnh nhất ở các tỉnh ven biển phía đông năm, đáng chú ý là Phúc Kiến và Quảng Đông.

Trong thập kỷ qua, khí gas tự nhiên là nguồn nhiên liệu tăng nhanh nhất ở Trung Quốc, chủ yếu là do việc giảm mạnh trữ lượng than đá vì những quan ngại môi trường đang ngày càng gia tăng. Theo Robert Ebel, tương lai năng lượng của Trung Quốc phụ thuộc vào những vấn đề sau:

· Sự đa dạng trong các nguồn nhập khẩu dầu

· Mua được đủ dầu từ nước ngoài

· Phát triển năng lượng thuỷ điện và hạt nhân để giảm tình trạng lệ thuộc vào than đá

· Chuyển đổi năng lượng[7]

Hơn nữa, vẫn chưa rõ ràng về việc cơ quan nào sẽ chịu trách nhiệm thiết kế và thực thi chính sách năng lượng khả thi. Bộ Công nghiệp nhiên liệu và hoá chất của Trung Quốc được thành lập năm 1970, nhưng đã bị giải thể 5 năm sau đó. Rút cuộc, Bộ Năng lượng được thành lập năm 1988 nhưng cũng giải thể năm 1993. Vào đầu thập niên 2000, chính quyền Trung Quốc đã thành lập Phòng năng lượng thuộc Uỷ ban Phát triển và Cải cách Quốc gia (NDRC) là cơ quan chịu trách nhiệm phát triển chiến lược dài hạn cho đất nước.[8] Sau đó, Ủy ban Năng lượng đã thay phòng này vào tháng 6 năm 2008.

Các nguồn năng lượng của Trung Quốc được phân bổ ở những vùng đại lục kém phát triển,  trong khi các trung tâm đô thị thịnh vượng và các ngành tiêu thụ nhiều năng lượng lại tập trung ở khu vực đông bắc và đông nam. Để đối phó với sự chênh lệch này, chính phủ Trung Quốc đã đề ra chính sách "Tây Tiến" vào phiên họp tháng 3 năm 2000 của Quốc hội. Chính sách này nhằm thúc đẩy sự phát triển của các tỉnh phía tây bằng cách khai thác nguồn năng lượng ở đây, sau đó chuyển tới các trung tâm đô thị và công nghiệp ở những khu vực khác của đất nước.

Trọng tâm của dự án này là dự án đường ống dẫn khí gas Đông-Tây dài 2500 dặm, trị giá 5,2 tỷ USD, nối những trữ lượng gas ở thềm lục địa Tarim của Tân Cương với Thượng Hải. Ống dẫn này bắt đầu cung cấp khí gas vào tháng Giêng năm 2005 và có công suất 1,2 tỷ mét khối/ năm. Đường ống dẫn dầu này cũng là xương sống của chính sách nhằm nới lỏng sự lệ thuộc nặng nề vào nhập khẩu dầu của chính phủ. Sản xuất dầu từ Tân Cương sẽ cải thiện an ninh năng lượng của Trung Quốc bằng cách giảm nhập khẩu năng lượng và giúp chính quyền Trung Quốc kiểm soát tốt hơn với các nguồn cung năng lượng trong nước.

Ngoại giao ống dẫn dầu của Trung Quốc trong khu vực Trung Á

Khi Trung Quốc trở thành nước nhập khẩu ròng dầu mỏ vào năm 1993, Bắc Kinh đã nỗ lực đa dạng hoá các con đường cung cấp dầu của mình. Eo biển Malacca là kênh cung cấp 80% lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc, chủ yếu từ Trung Đông và Tây Phi.[9] Do đó, Bắc Kinh lo ngại rằng trong trường hợp xảy ra khủng hoảng với Mỹ, có thể là liên quan đến vấn đề Đài Loan hoặc vấn đề nào khác, hải quân Mỹ có thể sẽ cắt nguồn dầu vào Trung Quốc và do đó sẽ gây tổn hại đến nền kinh tế Trung Quốc. Vì vậy, điều quan trọng chiến lược với chính phủ Trung Quốc là thiết lập các kênh nhập khẩu dầu trên đất liền.

Kể từ khi phát hiện ra các nguồn dầu mỏ lớn ở biển bắc vào thập niên 1970, người ta chưa tìm thấy nguồn trữ lượng dầu mới nào có tầm cỡ thế giới trong suốt một thập kỷ. Tình hình chỉ thay đổi vào đầu thập niên 1990, khi các nguồn năng lượng khác được tìm thấy ở Biển Cáp-ca. Biển Cáp-ca, có bờ tây tạo thành hàng rào phía đông của Cáp-ca và bờ đông tạo thành nơi khởi đầu của Trung Á, đã được coi như một nguồn bổ sung dầu mỏ rất lớn cho Trung Quốc.

Kazakhstan là nước sản xuất dầu mỏ chủ chốt trong khu vực, với trữ lượng dầu mỏ ước tính gần 40 tỷ thùng.[10] Quả thật, việc Kazakhstan phát hiện ra mỏ dầu khổng lồ Kasaghan, dự tính là một trong 5 mỏ dầu lớn nhất thế giới, là một nhân tố khiến Bắc Kinh để mắt đến Trung Á và Biển Cáp-ca.[11] Đường ống dẫn Trung Quốc-Kazakh được kiến nghị lần đầu vào năm 1997, nhưng các cuộc đàm phán đã bị đình lại trong sáu năm cho đến khi người ta tìm thấy thêm trữ lượng dầu để dự án nói trên khả thi về mặt kinh tế. Cuối cùng, đường ống dẫn dầu Trung Quốc - Kazakh được khởi công vào tháng 9 năm 2004. Hai nước đã xây một phần từ  Atasu, Kazakhstan đền thị trấn biên giới của Alashankou ở khu tự trị Tân Cương Uighur của Trung Quốc. Đường ống dẫn dài 620 dặm đã được hoàn thiện vào tháng 12 năm 2005 với chi phí 700 triệu USD. Cuối tháng 5 năm 2006, Trung Quốc đã nhận được dầu từ Kazakh lần đầu tiên qua đường ống dẫn Atasu-Alashankou. Dự án này có công suất ban đầu có thể vận chuyển 200.000 thùng dầu thô/ngày, dự kiến công suất sẽ được tăng gấp đôi vào năm 2011.[12] PetroKazakhstan, công ty đã được CNPC mua với giá 4.2 tỷ USD vào tháng 10 năm 2005, cung cấp ống dẫn, nhưng các công ty dầu của Nga cũng sử dụng đường ống này để xuất khẩu dầu sang thị trường Trung Quốc. Việc xây dựng ống dẫn dầu Trung Quốc-Kazakh sẽ không chỉ giúp Trung Quốc bớt lệ thuộc vào Eo biển Malacca, mà còn tăng ảnh hưởng của Trung Quốc ở Trung Á, làm phương hại đến những lợi ích của Nga.

Việc hiện thực hoá dự án ống dẫn dầu Trung Quốc - Kazakh chỉ mới bắt đầu. Người Tuốc-men có trữ lượng khí gas lớn thứ 5 thế giới; trữ lượng khí gas tự nhiên đã được xác định là khoảng 3 nghìn tỷ mét khối. Song, trữ lượng của Tuốc-men hầu như chưa được khai thác do thiếu thị trường tiêu thụ xuất khẩu. Tháng 12 năm 2009, đường ống dẫn khí gas dài 1140 dặm đã được đưa vào hoạt động nối các mỏ ở Tuốc-men với thành phố biên giới Horgos của Trung Quốc. Đường ống dẫn này đi qua miền trung Uzbekistan và phía nam Kazakhstan trước khi đến phía tây Trung Quốc. Theo các điều khoản của thoả hiệp, trong ba thập kỷ, mỗi năm Trung Quốc sẽ mua 30 tỷ mét khối của Tuốc-men.[13] Ban đầu, chỉ có khí gas của Tuốc-men đi qua đường ống dẫn này; nhưng đến năm 2010, Kazakhstan và Uzbekistan cũng sẽ sử dụng đường ống để xuất khẩu trữ lượng khí gas của họ sang Trung Quốc.[14] Đường ống dẫn này được xây dựng chỉ 3 năm sau khi ký hiệp định Trung Quốc – Tuốcmen về việc xây dựng ống dẫn và cung cấp khí gas.

Trên thực tế, đường ống dẫn Trung Quốc-Tuốc men đã phá vỡ thế độc quyền của Nga về những con đường xuất khẩu khí gas từ Trung Á. Maxcova sẽ không thể mua thêm khối lượng lớn khí gas của Tuốc-men với giá thấp để tiêu thụ trong nước và rồi bán với gía thị trường nữa. Tuy nhiên, một công ty xây dựng của Nga, Stroytransgaz, đã giúp xây dựng đường ống dẫn Trung Quốc - Tuốc men. Do đó, Edward Chow và Leigh Hendrix đã yêu cầu là Maxcova muốn khí gas của Tuốc men đi theo hướng đông hơn là hướng tây, nơi mà đường ống này có thể cạnh tranh với khí gas của Nga trên thị trường chủ yếu của Châu Âu.[15] Nói cách khác, Maxcova phải chung sống với những lợi ích năng lượng của Trung Quốc mà không làm phương hại đến chiến lược xuất khẩu khí gas của nước này. Nhân tố năng lượng cũng là lý do cải thiện nhanh chóng quan hệ Trung-Nga trong giai đoạn hậu chiến tranh lạnh. Những quan ngại về an ninh năng lượng đã buộc giới lãnh đạo Trung Quốc chú ý tới những mỏ dầu và khí gas cực lớn của Siberia. Công ty năng lượng tư nhân Yukos của Nga là công ty đầu tiên kiểm chứng khả năng xây dựng đường ống dẫn từ thị trấn Angarsk của Siberia - nơi công ty này vận hành một nhà máy lọc dầu - đến Đại Khánh Trung Quốc. Một góc khuất bất ngờ khác đó là Nhật Bản cũng bày tỏ quan tâm đến đường ống dẫn từ Nga sẽ đi qua Trung Quốc và chạm cảng phía đông của Nga, cảng Nakhodka. Đề xuất của Nhật được đưa ra với mục đích giảm sự lệ thuộc của Tokyo vào các nguồn từ Vịnh Persian, chứ không phải làm ảnh hưởng đến những lợi ích năng lượng của Trung Quốc. Dự án ống dẫn của Nga không mấy chốc trở thành một vấn đề cạnh tranh năng lượng giữa Trung - Nhật. Tuy nhiên, có quá nhiều vấn đề khiến cả Maxcova và Bắc Kinh không để việc xây dựng đường ống dẫn dầu này làm xói mòn quan hệ song phương. Hai nước đều là thành viên của Tổ chức Hợp tác Thượng Hải, đây là liên minh quân sự quan trọng nhất trong khu vực. Hơn nữa, họ có chung hoặc đồng quan điểm về những vấn đề lớn toàn cầu (như khủng hoảng Kosovo, chương trình hạt nhân Triều Tiên, trừng phạt Iran).

Sau một số lần trì hoãn, công ty độc quyền ống dẫn của Nga đã khởi công đường ống dẫn nối Đông Siberria- Thái Bình Dương (ESPO) vào tháng 4 năm 2006. Đướng ống dẫn này sẽ kéo dài 2500 dặm từ thành phố Taishet của Nga đến Thái Bình Dương. 1200 dặm đầu tiên đã hoàn tất năm 2009 và kéo đến Skovorodino, chỉ cách biên giới Trung Quốc 30 dặm. Giai đoạn đầu tiên bao gồm một nhánh đến Đại Khánh, có thể chuyển tải tối đa 600.000 thùng/ngày. Đoạn thứ hai sẽ chạm bờ biển Thái Bình Dương trên đất Nga. Con đường này sẽ cho phép vận chuyển dầu đến cả Trung Quốc và Nhật, điện Kremlin sẽ tăng cường an ninh cầu đối với xuất khẩu khí gas của Siberia.

Tóm lại, Trung Quốc là nước đến sau trong cuộc chay đua giành các nguồn năng lượng Caspian và Siberia. Song, Bắc Kinh đã theo đuổi, tương đối thành công con đường ngoại giao ống dẫn đa phương, tạo nên kết quả là việc xây dựng ba đường ống dẫn nêu trên. Các đường ống dẫn này sẽ được phát triển dựa trên những cân nhắc thương mại, chẳng hạn như thuế, thuế quan, và rủi ro môi trường. Nhưng các yếu tố kinh tế không đủ để lý giải những con đường ống dẫn của Trung Quốc - ở đây còn có vai trò của các nhân tố địa chính trị và địa kinh tế. Những đường ống dẫn này đã được xây dựng do vị thế ngày càng tăng của Trung Quốc với vai trò là một cường quốc lớn và là một bên chơi trong vấn đề năng lượng toàn cầu.

Chiến lược đi qua Malacca

Bắc Kinh đã coi sự đa dạng địa lý trong các con đường cung cấp dầu lửa và khí gas như một chiến lược quản lý rủi ro thiết yếu. Điều này lý giải tại sao Trung Quốc quan tâm đến việc xây dựng đường ống dẫn đi qua Malacca nhằm giảm sự phụ thuộc vào các bể chứa dầu từ viện Persia và Châu Phi. Những đường ống dẫn này sẽ giảm thiểu khả năng bị gián đoạn nguồn cung, giả sử nếu bất ngờ xảy ra tai nạn, bị tấn công khủng bố, hoặc bất ổn trên đường thuỷ.

Một ý tưởng được đưa ra là xây dựng một kênh dọc eo đất Kra của Thái Lan nhằm giảm bớt lượng dầu chảy qua eo biển Malacca. Năm 2005, một báo cáo được chuẩn bị cho Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Donald Rumsfeld bị rò rỉ trên Thời báo Washington tuyên bố Bắc Kinh đang xem xét việc tài trợ xây dựng kênh Kra 20 tỷ USD đi qua eo biển Malacca, như một phần trong chiến lược "chuỗi ngọc trai".[16] Do chi phí xây dựng kênh này khá cao nên Băng-cốc đã đề xuất xây dựng một đường ống dẫn dầu ngầm dài 150 dặm xuyên qua phía Nam Thái Lan với chi phí ước tính 600-800 triệu USD[17]. Nếu như con kênh hoặc đường ống dẫn dầu này được xây dựng, dầu sẽ chảy từ vịnh Bengal đến vịnh Thái Lan; như thế, những bể chứa dầu sẽ tránh được khu vực eo biển Malacca đông đúc và rút ngắn hành trình đến các cảng của Trung Quốc.

Tháng 3 năm 2009, Trung Quốc và Mi-an-ma đã ký một hiệp định xây đựng các đường ống dẫn dầu và khí gas song song từ phía Tây Mi-an-ma đến tỉnh Vân Nam của Trung Quốc. Những đường ống dẫn này dự kiến sẽ bắt đầu vận hành vào năm 2013. Trung Quốc sẽ đầu tư 1,5 tỷ USD vào đường ống dẫn dầu và 1 tỷ USD vào đường dẫn khí gas.[18] Những đường ống này sẽ cung cấp dầu cho Trung Quốc được chuyển từ Trung Đông và Châu Phi, và khí gas từ những trữ lượng ngoài khơi rất lớn của Mi-an-ma. Theo quan điểm của Trung Quốc, việc xây dựng đường ống dẫn kép này sẽ xúc tiến sự đa dạng trong các nguồn cung năng lượng và tăng cường an ninh năng lượng của đất nước này. Trung Quốc từ lâu đã là đồng minh thân cận nhất của Mi-an-ma và là nước bảo hộ Mi-an-ma trong Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc. Do nền kinh tế đang suy thoái và tình trạng ly khai trên quốc tế, nên Mi-an-ma rất muốn trở thành cầu nối năng lượng đến Trung Quốc.

Một khả năng khác nữa là xây dựng đường ống nối Pakistan với phía tây Trung Quốc. Vị trí của Pakistan, liền kề Vịnh Persian, là lợi thế chiến lược trong việc vận chuyển các nguồn năng lượng đến thị trường Trung Quốc. Đường ống dẫn này đã được đề xuất lần đầu tiên bởi người sau này là Tổng thống Pervez Musharraf trong chuyến thăm của ông đến Bắc Kinh vào tháng 2 năm 2006. Đề nghị của ông được đưa ra sau gần một năm kể từ khi xây dựng cảng nước sâu tại Gwadar thuộc tỉnh Baluchistan - Pakistan. Cảng do Trung Quốc tài trợ xây dựng này chỉ cách eo biển Hormuz 390 hải lý, như vậy trong trường hợp có gián đoạn tại eo biển Malacca, việc nhập khẩu dầu sẽ được chuyển hướng sang đó và được vận chuyển qua vùng Gilgit sang phía tây Trung Quốc. Do đó, Pakistan sẽ trở thành một trung tâm quá cảnh quan trọng chở dầu đến Trung Quốc và nâng tầm quan trọng chiến lược của nước này tại Nam Á. Đồng thời, dự án này cũng có thể là một nguồn việc làm và thu nhập đáng hoan nghênh với nền kinh tế đang “đắm” của Pakistan. Tháng 7 năm 2009, Tổng thống Pakistan Asif Ali Zardari đã thảo luận dự án đường ống dẫn này với người đồng nhiệm Trung Quốc Ôn Gia Bảo.[19] Vì những lợi ích năng lượng và mối liên kết chặt chẽ với Trung Quốc của Pakistan, chắc chắn rằng việc xây dựng đường ống này chỉ còn là vấn đề thời gian.

Đường ống dẫn dầu của Trung Quốc và những xung đột tần suất thấp ở Trung Á

Mặc dù việc xây dựng các đường ống dẫn có lẽ sẽ chắc chắn giảm thiểu sự lệ thuộc của Trung Quốc vào eo biển Malacca, nhưng những đường ống dẫn này không kém nguy cơ dễ bị gián đoạn do dễ bị tổn thương. Độ dài của các đường ống dẫn khiến chúng rất khó được bảo vệ. Điều này làm chúng trở thành mục tiêu tiềm năng của những kẻ nổi loạn và khủng bố. Trong những năm gần đây, nhiều đường ống dẫn dầu và khí gas đã bị tấn công ở Thổ Nhĩ Kỳ, Nga, Iraq, Nigeria, Yemen, và Colombia.

Chủ nghĩa ly khai Uighur là thách thức an ninh trầm trọng nhất mà Trung Quốc phải đối mặt hiện nay. Tân Cương (hay thường được biết đến là Đông Thổ) chủ yếu có dân số là người Uighur đạo hồi nói tiếng Thổ, nhưng người Hán cũng đang phát triển rất nhanh ở đây. Người Uighur, vốn có lịch sử lâu đời chống lại những quy định của Bắc Kinh, cảm thấy họ bị gạt ra ngoài lề cả về kinh tế và chính trị mặc dù khu vực của họ giữ hầu hết trữ lượng dầu và khí gas của Trung Quốc. Xem ra Tân Cương nhận được rất ít lợi ích từ những trữ lượng năng lượng của mình vì sản xuất năng lượng do các công ty quốc doanh kiểm soát, những công ty này lại muốn thuê người Hán hơn là người Uighur, sản phẩm của họ chủ yếu do Bắc Kinh và các thành phố ven biển tiêu thụ và thuế hầu như được nộp cho chính quyền trung ương.[20] Mặc dù Bắc Kinh khăng khăng rằng các nguồn năng lượng này sẽ thay đổi cuộc sống ở Tân Cương, nhưng việc phát triển đường ống dẫn đã trở thành một nguồn cơn căng thẳng mới giữa cộng đồng Uighur và nhà nước Trung Quốc. Đồng thời, Bắc Kinh đã theo đuổi chính sách hiếu chiến chống lại các nhóm khủng bố Uighur, một các tiếp cận mà các nước láng giềng Trung Á khác vẫn hậu thuẫn rất tích cực. Hasan Mahsum đã thành lập và dẫn đầu Tổ chức Giải phóng Đông Thổ (Sharki Turkistan Azatlik Fronti – Tổ chức Giải phóng Đông Thổ) cho đến khi bị quan đội Pakistan hạ vào năm 2003. Tổ chức Giải phóng Đông Thổ nỗ lực ly khai Tân Cương khỏi Trung Quốc và thành lập nhà nước hồi giáo. Nhóm này đã phát động đánh bom trước khi diễn ra Olympic Bắc Kinh năm 2008. Mặc dù Tổ chức Giải phóng Đông Thổ là một nhóm khá nhỏ, nhưng rõ ràng là họ đã nhận được hỗ trợ hậu cần từ al-Qaeda và Taliban.

Tổ chức Giải phóng Đông Thổ, hoặc một nhóm kế tục, có thể sẽ cố gắng phá huỷ những đường ống dẫn và hạ tầng dầu lửa nếu những nhu cầu chính trị của họ không được đáp ứng. Hơn thế nữa, những náo động sắc tộc ở Tân Cương có thể gây nhiều hậu quả ở Kazakhstan, nơi mà dân địa phương hầu như đồng cảm với cộng đồng Uighur. Không khó để tưởng tượng về một cuộc biểu tình trả đũa phản đối đường ống dẫn Trung Quốc - Kazakh khi nó đi qua lãnh thổ Kazakh nếu Bắc Kinh dùng đến lực lượng ồ ạt chống lại những người ly khai Uighur. Quả thật, có một số bằng chứng cho thấy nhà cầm quyền Trung Quốc đã giải quyết những quan ngại về an ninh ống dẫn, chẳng hạn như Zhang Zhiheng, Tổng bí thư Đảng Cộng sản của khu vực tự trị Mông Cổ Bayangol, đã tuyên bố đường ống dẫn Đông - Tây “được chạy ngầm để tránh khí hậu khắc nghiệt và cả tiềm năng trở thành mục tiêu tấn công khủng bố”.[21]

Nhưng sự đối đầu của Bắc Kinh với người Uighur không phải là xung đột tần suất thấp duy nhất đe doạ việc vận chuyển các nguồn năng lượng đến Trung Quốc. Từ đầu thập niên 1990, các nhóm hồi giáo quân sự đã phát triển nhanh ở Trung Á, họ nhắm vào cả quân nhân và cả dân thường. Có lẽ nhóm nguy hiểm nhất là phong trào hồi giáo ở Uzbekistan (O’zbekistan islamiy harakati) do hai chiến sĩ người Uzbek phát động ở Afghanistan năm 1998, tên là Tohir Yuldoshev và Juma Namangani. Trong mùa hè năm 1999 và 2000, phong trào này đã tổ chức 2 cuộc tấn công quy mô nhỏ bất ngờ vào Kyrgyzstan và Uzbekistan. Kết quả là năm 2000, Phong trào hồi giáo Uzbekistan bị Uỷ ban nhà nước Hoa Kỳ đưa vào danh sách tổ chức khủng bố. Ước tính số quân du kích của Phong trào hồi giáo Uzbekistan có từ vài trăm đến vài nghìn người.[22] Phong trào hồi giáo Uzbekistan sau đó được cho là đã đổi tên thành Đảng Hồi giáo Thổ vào tháng 6 năm 2001, để đánh dấu sự mở rộng các mục tiêu của mình.[23] Không chỉ là mục tiêu ban đầu thành lập nhà nước Hồi giáo ở Uzbekistan, nhóm này hiện muốn thành lập nhà nước hồi giáo ở tất cả các nước Trung Á, có thể bao gồm Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan, Turkmenistan, Uzbekistan, và tỉnh Tân Cương.

Phong trào hồi giáo Uzbekistan hầu như đã bị tiêu diệt bởi cuộc tấn công can thiệp của Mỹ ở Afghanistan năm 2001. Chính Namangani đã bị giết và những thành viên còn lại của nhóm buộc phải tị nạn trong các khu vực của bộ lạc dọc biên giới Afghani với Pakistan. Tuy nhiên, những phần tử Phong trào hồi giáo Uzbekistan vẫn hoạt động ở thung lũng Ferghana và nam Kazakhstan. Tháng 11 năm 2004, cơ quan an ninh của Kazakhstan tuyên bố họ đã đập tan một nhóm khủng bố trong vùng có dính líu đến Phong trào hồi giáo Uzbekistan và Al-Qaeda. Nhóm này, có cả công dân Uzbek và Kazakh, được cho là đã tham gia vào cuộc tấn công chống lại cảnh sát của Uzbek ở Tashkent vào tháng 3 năm 2004 và những cuộc đánh bom tự sát chống lại Israeli, các đại sứ quán Mỹ và tổng lãnh sự quán ở Tashkent vào tháng 7 năm 2004.[24] Nhóm phải rút lui vào tháng 8 năm 2009 khi thủ lĩnh của họ được đưa tin là đã bị giết trong một cuộc tấn công tên lửa của Mỹ tại Nam Waziristan. Song, nhóm vẫn hoạt động và có thể tổ chức tấn công ở Trung Á.

Đông Nam Á

Tình hình cũng rắc rối không kém với những đường ống dẫn tiềm năng xuyên qua khu vực. Tất cả các nhà nước đề xuất xây đường ống quá cảnh (là Pakistan, Thái lan và Mi-an-ma) đang phải chịu những cuộc nổi dậy sắc tộc và tôn giáo kinh niên, điều này làm nguy hại đến sự ổn định trong khu vực và khiến việc phát triển ống dẫn trở nên phức tạp. Ở Pakistan, người Taliban địa phương đã dấy lên những cuộc tấn công phối hợp chống lại những lực lượng của chính phủ, biến các tỉnh phía tây bắc thành khu chiến sự. Hơn nữa, một cuộc nổi dậy đã xảy ra ở Baluchistan, nơi có cảng Gwadar, lấy đi hàng trăm sinh mạng. Những người theo chủ nghĩa dân tộc Baluch đã chủ trương thành lập Balunchistan độc lập, kết hợp một số phần của cả Pakistan và Iran. Quân giải phóng Baluchistani, nhóm nổi dậy lớn nhất ở  Baluch, đã ám sát ba kỹ sư người Trung Quốc vào tháng 5 năm 2004. Bốn tháng sau đó, quân Tổ chức Giải phóng Đông Thổ sát hại hai Hoa kiều ở Gwadar. Do đó, về mặt chính trị mà nói, Pakistan có vẻ không phải là một nước đặc biệt hấp dẫn để có kế hoạch xây dựng đường ống dẫn dầu hay khí gas tự nhiên lớn xuyên qua nước này. Khó có thể biết được tình hình sẽ biến đổi thế nào trong thời gian tới.

Ớ Thái Lan xảy ra một cuộc nổi dậy của người hồi giáo ở ngay giữa khu vực Pattani, bạo lực không ngừng lan sang cả các tỉnh lân cận. Chính phủ Thái đã cáo buộc phong trào ly khai Pattani, hầu hết là người Mã Lai, chịu ảnh hưởng của al Qaeda và Jemaah Islamiyah. Trong bất cứ trường hợp nào, cuộc nổi dậy này cũng đã có thêm động lực mới sau việc làm táo bạo tháng 9 năm 2006. Những phương kế mạnh tay của quân đội Thái đã làm bùng lên sự oán giận trong cộng đồng hồi giáo địa phương. Tổ chức giải phóng thống nhất Pattani (PULO) đã tiến hành hàng chục cuộc tấn công chống lại quân lính và cảnh sát cũng như thường dân. Việc nổi dậy này, đã lấy đi hàng ngàn sinh mạng trong thập kỷ qua, không có khả năng sẽ sớm kết thúc.

Mi-an-ma đã trải qua sự bất ổn chính trị lớn vào năm 1988 khi chế độ quân sự vấp phải sự phản đối ồ ạt của phe dân chủ. Năm 1990, hội đồng tư vấn từ chối công nhận kết quả bầu cử mà đảng đối lập, Liên minh dân chủ quốc dân, thắng tuyệt đối với đa số phiếu bầu. Những cuộc biểu tình do những nhà hoạt động chính trị đối lập tổ chức cũng đã diễn ra trong năm 2007. Thêm nữa, đụng độ giữa lực lượng chính phủ và những nhóm nổi dậy khác nhau đã xảy ra ở các bang Shan và Kayin. Chính sách đàn áp của Mi-an-ma chống lại các nhóm dân tộc thiểu số có thể sẽ làm dấy thêm hoạt động nổi dậy trong những năm tới.

Do đường ống dẫn dầu là những tài sản chiến lược quan trọng, nên trách nhiệm bảo vệ chúng trước hết thuộc về nhà nước. Ở Trung Quốc, Cảnh sát vũ trang Nhân dân  (PAP) có trách nhiệm bảo vệ những cơ sở năng lượng (như ống dẫn, các trạm bơm và ga lưu kho, nhà máy thuỷ điện) trước các cuộc tấn công khủng bố. Độ dài đường ống dẫn dầu và khí gas của Trung Quốc vào khoảng 43.000 dặm tính đến năm 2009 và dự báo sẽ lên đến 124.000 dặm vào năm 2020.[25] Ngay cả khi lực lượng an ninh của Trung Quốc có đủ để bảo vệ những đường ống dẫn, thì việc các nhà nước quá cảnh có thực sự đủ khả năng bảo vệ chúng hay không vẫn còn là điều đáng bàn. Trong số đó có nhiều nhà nước không có đủ lực lượng an ninh, và việc này càng trở nên phức tạp khi khoảng cách của những đường ống dẫn rất xa nhau.

Tuy nhiên, nhà nước quá cảnh có thể viện đến những biện pháp ưu tiên nhất định để giảm thiểu khả năng tấn công khủng bố. Có những phương pháp chi phí thấp để đảm bảo an ninh phối hợp, chẳng hạn như canh gác hàng rào bằng những thiết bị cảm ứng, đặt máy quay theo dõi, rada tầm thấp, giám sát ban đêm, và mìn sát thương. Hơn nữa, các nhà nước quá cảnh có thể dựa vào sự hỗ trợ của những công ty dầu lửa, những công ty xây các đường ống đi qua vùng địa hình có tiềm ẩn thù địch trong hàng chục năm. Điển hình là sự hiện diện đơn thuần của xung đột tần suất thấp ở cấp địa phương không thể ngăn cản việc phát triển đường đống dẫn ra bên ngoài. Ngành năng lượng có kinh nghiệm quốc tế phong phú trong việc giảm thiểu tác hại trực tiếp đối với những tài sản hạ tầng của ngành. Người ta có thể nhanh chóng sửa đường ống dẫn và các bể dự trữ có thể giúp giảm thiểu phí tổn do việc bị gián đoạn gây ra.

Nói vậy nhưng không một biện pháp an ninh nào trong số nêu trên có thể bảo vệ tuyệt đối đường ống dẫn dài hàng trăm dặm khỏi việc bị tấn công du kích. Đặc biệt là, Chính sách chống khủng bố của Bắc Kinh ở Tân Cương hầu như đã chắc chắn gặp phải sự thù địch gay gắt từ những người Uighur, và như thế tạo ra khả năng xảy ra hành động khủng bố tấn công vào những đường ống dẫn của Trung Quốc.

Kết luận

Vì nền kinh tế Trung Quốc vẫn tiếp tục tăng trưởng mạnh, nên nhu cầu năng lượng của nước này đang bùng nổ. Những quan ngại về việc đa dạng hoá con đường cung cấp, yếu tố địa chính trị và sự bất ổn trên các thị trường năng lượng toàn cầu đã thúc đẩy Trung Quốc chuyển sự chú ý sang xây dựng các đường ống dẫn. Thứ nhất, Trung Quốc đang nỗ lực đòi lợi ích của mình trên biển Caspian, một mặt trận năng lượng mới. Trong đó, các đường ống dẫn Trung Quốc-Kazakh và Trung Quốc-Tuốc men là rất quan trọng. Thứ hai, những đường ống đi qua Malacca đang được xây dựng ở Đông Nam Á.

Tuy nhiên, mặt trái của chiến lược này là an ninh đường ống dẫn. Đường ống dẫn không kém dễ bị tổn thương hơn bể chứa. Sự đối đầu giữa nhà cầm quyền Trung Quốc và dân Uighur ở tỉnh Tân Cương, cũng như sự hiện diện cuả quân giải phóng hồi giáo ở Trung Á, làm tăng nguy cơ tấn công vào các đường ống dẫn qua biên giới. Những đường ống dẫn qua Malacca đi qua khu vực quân sự bất an ở Pakistan, Miến điện và Thái lan.

Nhất thiết phải xử lý vấn đề an ninh đường ống dẫn như một vấn đề chính trị chứ không phải là quân sự. Những mối đe doạ từ bên ngoài đối với việc vận chuyển dầu và khí gas là một phần của sự bất ổn chính trị trong toàn khu vực. Chỉ khi đảm bảo được những lợi ích xã hội và kinh tế với tất cả các nước và các nhóm sắc tộc, tôn giáo có liên quan, và những lợi ích này được minh chứng với tất cả các bên, thì đường ống dẫn mới an toàn. Việc chi mạnh tay vào các dự án phát triển dọc các đường ống dẫn có thể là một cách để đảm bảo sự ủng hộ ở địa phương.

TS. Emmanuel Karagiannis, Đại học Macedonia

Thùy Linh (dịch)

Mai Lan (hiệu đính)

Bản gốc tiếng Anh “CHINA’S PIPELINE DIPLOMACY: Assessing the Threat of Low-Intensity Conflicts

Bài viết được in trong Seri đặc biệt của tạp chí Harvard Asia Quarterly với chủ đề “The Disputed Sea – Maritime Security in East Asia” tháng 12/2010

Đề nghị chỉ được dẫn đường link mọi thông tin, bài viết  trên www.nghiencuubiendong.vn, không đăng lại khi chưa có sự đồng ý của Ban Biên tập NCBĐ.



[1] Chang Zekun, “Shijie shiyou diyuan xin tujing xia de shiyou

[2]  Bo Kong, China’s International Petroleum Policy (Santa Barbara, CA: Praeger Security International, 2010), 129.

[3] On China’s doctrine of self-reliance in the oil industry xem Lim Tai Wei, Oil in China: From Self-Reliance toi nternationalization (London: World Scientific, 2010), 57-78.

[4] Kim Woodard, The International Energy Relations of China

[5] Xem Energy Information Agency, China: Country Analysis Brief (Washington, DC: Department of Energy, tháng 7 2009), đăng tại http://www.eia.doe.gov/cabs/China/Oil.html

[6] Ibid.

[7] Robert Ebel, China’s Energy Future: The Middle Kingdom Xemks Its Place in the Sun (Washington, DC: Center for Strategic

and International Studies, 2005), 3.

[8]  Xem Gawdat Bahgat, “China’s Energy Policy: Strategic Implications”, Middle East Economic Survey 49-2 (2007).

[9]  US Office of the Secretary of Defense, Annual Report on the Military Power of the People’s Republic of China, 2005 (Washington, DC: Government Printing Office, 2005), 33.

[10] British Petroleum, Statistical Review of World Energy 2010, đăng tại http://www.bp.com/sectiongenericartile.do?categor

yId=9023769&contentId=7044915

[11]  Xuanli Liao, “Central Asia and China’s Energy Security,China and Eurasia Forum Quarterly 4-4 (2006): 65.

[12]  “China-Kazakhstan Pipeline Start to Pump Oil,” China Daily,  15 tháng 12, 2005, đăng tại http://www.chinadaily.com.cn/english/doc/2005-12/15/content_503709.htm

[13]  March Lanteigne, “China’s Energy Security and Eurasian Diplomacy: The Case of Turkmenistan,” Politics 27 (tháng 10

2007), 151.

[14] Stephen Blank, “The Strategic Implications of the Turkmenistan-China Pipeline Project,” China Brief [The Jamestown Foundation]10-3, 4 tháng 2, 2010.

[15] Edward Chow and Leigh Hendrix, “Central Asia’s Pipelines:Field of Dreams and Reality,” National Bureau of Asian Research

(tháng 9, 2010): 38, đăng tại www.nbr.org/downloads/pdfs/eta/es_conf10_agenda.pdf

[16]  Bill Gertz, “China Builds Up Strategic Sea Lanes”, The Washington Times, 17 tháng 1, 2005, đăng tại http://www.washingtontimes.com/news/2005/jan/17/20050117-115550-1929r/

[17] Ian Storey, “China’s Malacca Dilemma”, China Brief [The Jamestown Foundation] 6-8, 12 tháng 4, 2006.

[18] Sudha Ramachandran, “China Secures Myanmar Energy Route”, Asian Times, 3 tháng 4, 2009 đăng tại http://www.

atimes.com/atimes/South_Asia/KD03Df03.html

[19]  “Pak to Build Rail Link, Pipeline from Gwadar to China”, The Nation, 9 tháng 7, 2010 đăng tại http://www.nation.com.pk/pakistan-news-newspaper-daily-english-online/Politics/09-Jul-2010/Pak-to-build-rail-link-pipeline-from-Gwadar-to-China

[20] Jehangir Pocha, “In China, a Pipeline Spurs Ethnic Conflict”, The New York Times, 7 tháng 10, 2006.


[21] Bernard D. Cole, “Oil for the Lamps of China” – Beijing’s 21st-Century Search for Energy,” McNair Paper 67 (Washington, D.C.: Institute for National Strategic Studies, 2003): 62.

[22] R. Weitz, “Storm Clouds over Central Asia: Revival of the Islamic Movement of Uzbekistan?”, Studies in Conflict and Terrorism 27 (2004): 506.

[23]  Xem I. Alibekov, “IMU Reportedly Expands, Prepares to Strike Western Targets”, Eurasia Insight, October 29, 2002.

[24] Xem M. Yermukanov, “Kazakh Security Services Trumpet Victory over Al-Qaida Members”, Central Asia-Caucasus Analyst, November 17, 2004.


[25] “China’s Major Oil and Gas Pipelines Surpass 70,000 km in Length”, đăng tại http://www.gasandoil.com/GOC/news/nts102510.htm

 

Mạng bình luận trường RSIS Singapore đăng bài phân tích “Islands or Rocks? Evolving Dispute in South China Sea” của Robert Beckman, Giám đốc Trung tâm Luật Quốc tế, giáo sư tại Khoa Luật Đại học Quốc gia Singapore. Tác giả cho rằng cuộc tranh cãi về quyền khai thác tài nguyên quanh quần đảo Trường Sa đã biến thành một cuộc tranh cãi về mặt quy chế pháp lý của các đảo, đá.

 

Chủ quyền, toàn bộ hoặc một phần, đối với quần đảo Trường Sa trên biển Đông là đối tượng tranh chấp giữa Trung Quốc, Ma-lai-xia, Philíppin, Việt Nam, Brunây và Đài Loan. Công hàm ngoại giao tháng 4/2011 do Philíppin và Trung Quốc nộp lên Tổng Thư ký Liên hợp quốc đã đặt nền móng cho một vụ tranh chấp giữa một số nước thuộc ASEAN (Malaixia, Philíppin và Việt Nam) và Trung Quốc, liên quan đến chủ quyền pháp lý đối với các bãi đá tạo thành quần đảo Trường Sa.

Vấn đề quan trọng nhất được đưa ra là: Nước nào có quyền thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên trong và dưới các vùng biển xung quanh quần đảo này? Mặc dù đối tượng tranh chấp cuối cùng là tài nguyên thiên nhiên, nhưng cuộc tranh chấp này được dựng lên như một cuộc tranh cãi pháp lý về nhận thức đối với Điều 121 Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS).

Các định nghĩa pháp lý

Điều 121 quy định rằng một hòn đảo – được định nghĩa là "một khu vực đất tự nhiên nhô lên trên mặt nước khi thủy triều lên" - về nguyên tắc có thể tạo ra các vùng lãnh hải giống như đất liền. Chúng bao gồm vùng lãnh hải trong bán kính 12 hải lý, vùng EEZ trong bán kính 200 hải lý và một thềm lục địa. Một số cấu thành của quần đảo Trường Sa do các nước đang chiếm đóng không đáp ứng được định nghĩa của một hòn đảo. Chúng hoặc bị ngập dưới nước khi thủy triều lên, hoặc nhô trên mặt nước khi thủy triều lên là nhờ được cải tạo hoặc do các cấu trúc nhân tạo. Các bãi đá này thậm chí không được hưởng vùng lãnh hải 12 hải lý.

Đoạn 3 của Điều 121 trong UNCLOS đã tạo ra một ngoại lệ cho một số loại đảo bằng cách nói rằng "các bãi đá mà không thể tự nó duy trì sự sinh sống hoặc đời sống kinh tế của con người" sẽ không có vùng EEZ hay thềm lục địa. Nhiều bãi đá trong quần đảo Trường Sa có thể nằm trong nhóm này và do đó chỉ được vùng lãnh hải 12 hải lý. 

Lý lẽ của Ma-lai-xia, Việt Nam và Trung Quốc 

Công hàm của Philíppin gửi lên Tổng Thư ký Liên hợp quốc hôm 5/4/2011 và của Trung Quốc hôm 14/4/2011 là những văn bản mới nhất trong một loạt công hàm liên quan đến Thỏa thuận chung giữa Malaixia và Việt Nam được hai nước trình lên Ủy ban ranh giới Thềm lục địa của Liên hợp quốc vào ngày 6/5/2009. Trong thỏa thuận chung này, Malaixia và Việt Nam tuyên bố chủ quyền đối với một thềm lục địa vượt ra ngoài giới hạn 200 hải lý của vùng EEZ mà họ tuyên bố trên biển Đông.

Ngày 7/5/2009, Trung Quốc phản ứng bằng cách gửi công hàm nói rằng nước này có chủ quyền không thể tranh cãi đối với quần đảo Trường Sa và các vùng biển liền kề. Trung Quốc cũng khẳng định chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng biển “liên quan” trên Biển Đông, kèm theo là bản đồ đường “lưỡi bò” 9 đoạn do nước này đưa ra.

Phản ứng của Philíppin và sự đáp trả của Trung Quốc

Philíppin phản ứng bằng cách gửi công hàm ngoại giao vào ngày 4/4/2011, trong đó nói rằng UNCLOS không cung cấp cơ sở pháp lý cho bất cứ sự đòi hỏi nào về chủ quyền và quyền tài phán trên vùng biển "liên quan" (và các đáy biển và lòng đất) nằm trong đường “9 đoạn” phía ngoài các vùng biển được coi là "liền kề" với các hòn đảo theo định nghĩa tại Điều 121 của UNCLOS. Mặc dù ngôn ngữ thể hiện trong công hàm không rõ ràng, nhưng dường như nó hàm ý Trung Quốc không có cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền và quyền tài phán đối với bất kỳ nguồn tài nguyên nào nằm trong vùng “lưỡi bò” và nằm ngoài vùng biển liền kề với các đảo của nước này.

Ngày 14/4/2011, phản ứng với công hàm của Philíppin, Trung Quốc nhắc lại quan điểm lâu nay là nước này có chủ quyền không thể tranh cãi đối với toàn bộ quần đảo Trường Sa và vùng biển liền kề. Trung Quốc cũng khẳng định chủ quyền và quyền tài phán trên các vùng nước liên quan, cũng như đáy biển và lòng đất phía dưới. Tuy nhiên, nước này không đề cập đến bản đồ “9 đoạn”, và tuyên bố (lần đầu tiên) rằng quần đảo này được hưởng quyền lãnh hải, vùng EEZ và thềm lục địa. Đây có thể là một động thái quan trọng bởi Trung Quốc dường như đã nêu rõ đòi hỏi của mình và dùng UNCLOS để bảo vệ lý lẽ.

Hòn đảo hay bãi đá?

Trong cuộc tranh chấp về các quần đảo và bãi đá, các nước ASEAN sẽ tiếp tục giữ quan điểm rằng họ có chủ quyền và quyền tài phán đối với nguồn tài nguyên thiên nhiên ở trong và dưới các vùng nước thuộc quần đảo Trường Sa. Đòi hỏi của họ dựa trên quyền đối với 200 hải lý vùng EEZ tính từ các đường cơ sở thuộc lãnh thổ đất liền hoặc quần đảo của họ. Họ sẽ không đòi hỏi vùng EEZ từ bất kỳ cấu thành nào của quần đảo Trường Sa, và sẽ nhất quán rằng không một cấu thành nào thuộc diện tranh chấp được coi là “hòn đảo”, và những “hòn đảo” đó trên thực tế chỉ là bãi đá.

Chiến lược này sẽ mang lại cho các quốc gia tranh chấp thuộc ASEAN chủ quyền không thể tranh cãi để thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên ở trong và phía dưới của hầu hết các vùng nước thuộc quần đảo Trường Sa. Họ sẽ chỉ không có chủ quyền và quyền tài phán để khai thác tài nguyên thuộc bán kính 12 hải lý liền kề các đảo, chừng nào cuộc tranh chấp vẫn chưa được phán quyết.

Để bảo vệ lợi ích của mình, Trung Quốc sẽ phải duy trì quan điểm là ít nhất một số bãi đá thuộc Trường Sa được tính là “đảo" để được hưởng vùng EEZ và thềm lục địa. Quan điểm này sẽ tạo ra một vùng chồng lấn đáng kể giữa vùng EEZ của quần đảo Trường Sa mà Trung Quốc đòi chủ quyền với vùng EEZ và/hoặc thềm lục địa mở rộng mà các quốc gia tranh chấp thuộc ASEAN có quyền tính từ đường cơ sở của lãnh thổ hay quần đảo của họ.

Trung Quốc sẽ phải đối mặt với một thách thức là trước đây nước này đã có quan điểm về thế nào là đảo và thế nào là bãi đá. Trong các cuộc tranh luận tại Liên hợp quốc liên quan đến cuộc tranh chấp giữa nước này với Nhật Bản về chủ quyền đảo Okinotorishima, Trung Quốc lập luận rằng các đảo nhỏ, ở xa, không có người ở không được trao vùng EEZ hay thềm lục địa. Các quốc gia ASEAN có thể sẽ nói rằng lập luận này của Trung Quốc cũng nên áp dụng đối với các đảo nhỏ trong quần đảo Trường Sa. 

  Theo Rsis

 Mỹ Anh (gt)

 

Trang Christian Science Monitor ngày 3/6 đăng bài “Why the South China Sea is turning more turbulent” của Simon Montlake. Theo nhận định của tác giả, sự kình địch quân sự giữa Trung Quốc với Mỹ có thể là nguyên nhân của những hành động hiếu chiến gần đây của Trung Quốc tại khu vực Biển Đông.

 

Căng thẳng lại gia tăng sau một năm Mỹ nhảy vào cuộc tranh chấp một số hòn đảo nhỏ có tiềm năng về dầu khí tại Biển Đông giữa Trung Quốc với các nước láng giềng nhỏ hơn tại khu vực.

Từ tháng 3/2011, Việt Nam và Philíppin đã cáo buộc Trung Quốc có những hành động hiếu chiến tại những khu vực tranh chấp. Các chuyên gia quân sự nói rằng, việc Trung Quốc duy trì tăng cường quân sự giúp hải quân nước này có thêm sức mạnh tại khu vực vốn chịu sự thống trị của Hải quân Mỹ. Trước khi tham dự hội nghị an ninh tại Xinh-ga-po, Bộ Trưởng Quốc Phòng Gates ngày 3/6 phát biểu với phóng viên rằng: “Chúng tôi không cố kiềm chế Trung Quốc”.

Tuy vậy, trước khi xảy ra những căng thẳng gần đây, các nhà phân tích nói rằng cách cư xử của Trung Quốc đã bắt đầu giảm nhẹ và nước này sử dụng các nỗ lực ngoại giao nhằm lấy lòng các nước láng giềng. Trung Quốc bắt đầu có thái độ trên sau khi Ngoại Trưởng Clinton sử dụng diễn đàn an ninh khu vực tại Việt Nam để nêu lên lợi ích chiến lược của Mỹ tại khu vực Biển Đông và đề nghị làm trung gian cho các cuộc đàm phán hòa bình.

Theo một nhà ngoại giao Mỹ đồng thời cũng là một chuyên gia về Trung Quốc, đề nghị trên đã không được đón nhận và sự can thiệp của Mỹ khiến Trung Quốc điều chỉnh lập trường của mình theo hướng thực dụng và hợp tác hơn, vốn được nước này từng làm từ những năm 1990. Là một cường quốc quân sự đang nổi lên, Trung Quốc muốn tránh xu hướng thân Mỹ tại khu vực.

Các nước khu vực đã đạt được một tiến bộ nhỏ trong việc giải quyết các tuyên bố chủ quyền tại các vùng chồng lấn thuộc 2 chuỗi đảo qua việc ký kết tuyên bố về quy tắc ứng xử giữa ASEAN với Trung Quốc năm 2002 như một cách nhằm giảm bớt căng thẳng. Tuy vậy, các cuộc đàm phán sau đó nhằm đưa ra các quy định bị đổ vỡ trong lúc có một số chỉ trích rằng ASEAN quá bị chia rẽ để có thể hành động. Theo các nhà ngoại giao châu Á, Trung Quốc cố tách các nước yếu hơn ra và ngăn chặn một lập trường chung, kiên định về Biển Đông. Năm 2010, Bộ Trưởng Ngoại Giao Trung Quốc Dương Khiết Trì nói rằng sẽ khó giải quyết hơn nếu quốc tế hóa vấn đề này.

Bộ Trưởng Ngoại Giao In-đô-nê-xia, nước Chủ tịch ASEAN, nói nước này muốn có Bộ quy tắc ứng xử (COC) vào cuối năm 2011 nhằm giải quyết vấn đề mà ông coi như mối đe dọa thực sự đối với khu vực. Ông cũng thừa nhận rằng nếu trì hoãn thêm nữa sẽ là dấu hiệu của sự thất bại.

Đa số các chuyên gia đều đánh giá sự phức tạp của tranh chấp này sẽ khiến khó có một giải pháp nhanh chóng mà dường như đó sẽ là một điểm nóng tiềm tàng khi các nước vẫn đang tìm kiếm nguồn dầu và khí tại đây.

Vào hôm 30/5, Việt Nam nói tàu tuần tra Trung Quốc đã cắt cáp ngầm của tàu PetroVietnam đang hoạt động ở khu vực cách bờ biển Việt Nam 120 hải lý. Cả 2 nước đều tuyên bố vùng biển này nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của mình.

Theo ông Đặng Đình Quý, Giám đốc Học viện Ngoại giao Việt Nam, một số tàu Trung Quốc trước đây đã từng ngăn cản các tàu khảo sát của Việt Nam, tuy nhiên mức độ  không nghiêm trọng và công khai như lần này. Ông cũng ghi nhận việc Mỹ tuyên bố lợi ích chiến lược tại khu vực Biển Đông đã phần nào khiến lập trường của Việt Nam và các nước ASEAN trở nên rõ ràng hơn... và khiến mọi thứ trở nên minh bạch hơn.

Một chuyên gia Indonesia ngờ rằng trong ASEAN đang có sự tranh giành ảnh hưởng giữa các siêu cường. Mặc dù Mỹ tuyên bố trung lập trong các tranh chấp tại Biển Đông nhưng các chuyên gia cho rằng khó mà tách bạch giữa các căng thẳng về tranh chấp chủ quyền với sự kình địch quân sự Trung - Mỹ.

Phát biểu năm 2010 của Ngoại Trưởng Clinton chỉ diễn ra vài tháng sau khi tàu tuần tra Trung Quốc đụng độ với tàu trinh sát của Hải quân Mỹ tại khu vực gần với căn cứ tàu ngầm của Trung Quocó thuộc đảo Hải Nam. Trung Quốc nói tàu này đang do thám trong vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc.

Trong quá khứ, Philíppin và Việt Nam đã từng tiến hành các cuộc khảo sát với Trung Quốc tại một số vùng phụ cận các hòn đảo tranh chấp. Tuy nhiên các cuộc khảo sát này không dẫn tới bất cứ một thỏa thuận khai thác chung nào. Theo một chuyên gia an ninh hàng hải thuộc đại học Nanyang (Xinh-ga-po), Trung Quốc không có lý do gì để xúc tiến cùng khai thác các giếng dầu này. Họ có khả năng chơi một cuộc chơi dài lâu.

  Theo Csmonitor

Hương Trà (gt)

 

 

 

Bài viết của GS. Keyuan Zou, Khoa Luật, Đại học Trung tâm Lancashire, Vương quốc Anh, đăng trên Series đặc biệt của tạp chí Harvard Asia Quarterly của Trường Đại học Havard với chủ đề: "Tranh chấp biển- An ninh hàng hải tại Đông Á", (The Disputed Sea – Maritime Security in East Asia), phân tích hành vi của  Trung Quốc trong các tranh cấp biển đảo với các nước láng giềng, từ đó  đánh giá về khả năng tôn trọng luật biển của nước này.

GIỚI THIỆU

Nơi đâu có con người, nơi đó có xung đột và hợp tác. Cùng với sự trỗi dậy của Trung Quốc ở Châu Á, dường như các xung đột trên biển đang xảy ra thường xuyên hơn. Một dấu hiệu của điều này là Hải quân Nhật Bản đang bắt giữ ngư dân Trung Quốc, trong khi Hải quân Trung Quốc, đến lượt mình, lại bắt giữ ngư dân Việt Nam.

Rất nhiều nhân tố châm ngòi cho các xung đột trên biển ở Đông Á, Một nhân tố liên quan đến tranh chấp lãnh thổ nổi lên từ các xung đột trong lịch sử. Các tranh chấp xung quanh Quần đảo Dokdo giữa Nhật Bản và Hàn Quốc và Quần đảo Điếu Ngư giữa Trung Quốc và Nhật Bản có thể được cho là sự kế thừa của chủ nghĩa thực dân Nhật trước Thế chiến thứ hai. Vụ bắt giữ ngư dân Trung Quốc gần đây diễn ra trong vùng nước liền kề quần đảo Điếu Ngư, vẫn đang dưới sự kiểm soát của Nhật Bản.

Một nhân tố khác liên quan đến luật về phân định ranh giới biển trong các hiệp định quốc tế. Sau khi Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển năm 1982 có hiệu lực năm 1994,[1] các tranh chấp biên giới ngày càng gia tăng và gay gắt. Công ước cho phép các quốc gia có đường bờ biển mở rộng vùng biển nằm trong quyền tài phán của mình lên đến 200 hải lý tính từ đường cơ sở nơi lãnh hải được xác định. Quyền tài phán này được chia thành một vùng lãnh hải 12 hải lý và một thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) rộng 200 hải lý. Trong một số trường hợp, thềm lục địa có thể kéo dài lên đến 350 hải lý. Đáng chú ý là thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế là hai vùng biển mới được tạo ra theo Công ước về Luật biển. Nếu những vùng biển này không được thiết lập, sẽ không có tranh chấp biển nào giữa Trung Quốc và Nhật Bản ở Biển Hoa Đông, vì vùng nước này phân cách hai nước này bởi một khoảng cách là 360 hải lý. Trong những trường hợp này, xung đột biển đã bị làm trầm trọng thêm bởi sự tranh giành gay gắt về nguồn năng lượng ở các vùng biển. Trong việc theo đuổi phát triển kinh tế nhanh, các quốc gia ven biển phải đáp ứng nhu cầu năng lượng ngày càng tăng.

Sự mở rộng các vùng biển thông qua các hiệp định quốc tế đã làm phức tạp thêm xung đột trên biển. Công ước về Luật biển bao gồm các điều khoản cụ thể về các vùng đặc quyền kinh tế cho các đảo với các kích thước khác nhau. Theo tính toán, một đảo không thể duy trì sự sống của con người có thể có một vùng lãnh hải rộng 1.550km2, trong khi một đảo lớn mà có thể duy trì đời sống kinh tế hay sự cư trú của con người có thể có một vùng đặc quyền kinh tế rộng khoảng 420.000km2.[2] Đây là một trong số các lý do tại sao có sự gia tăng các yêu sách đối với các đảo nhỏ; thậm chí cả các đá nhỏ cũng gây ra tranh chấp giữa các nước. Các đá đó bản thân nó không quan trọng – nhưng có các nguồn tài nguyên sống còn nằm trong các vùng biển xung quanh chúng.

TRANH CHẤP TRÊN BIỂN

Thông thường, có ba loại tranh chấp trên biển ở Đông Á: tranh chấp chủ quyền đối với các đảo nhỏ; tranh chấp phân định ranh giới biển giữa các nước láng giềng; và tranh chấp xung quanh việc phân chia và sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên biển. Đối với loại tranh chấp đầu tiên, không có viễn cảnh nào cho một giải pháp hợp lý trong tương lai gần, bởi vì các quốc gia tranh chấp đã cương quyết khẳng định chủ quyền của mình đối với các đảo nhỏ và không có dấu hiệu nào cho thấy bất cứ bên nào sẽ nhượng bộ. Điều phức tạp hơn là thực tế, những yêu sách về chủ quyền này có liên hệ rất mật thiết với các phong trào của những người theo chủ nghĩa dân tộc. Điều này có thể thấy từ sự phản đối mạnh mẽ liên tục diễn ra ở Trung Quốc xung quanh quần đảo Điếu Ngư và ở Hàn Quốc đối với quần đảo Dokdo, chống lại Nhật Bản trong cả hai trường hợp. Hơn nữa, vào tháng 12 năm 2007, các cuộc biểu tình lớn diễn ra ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh phản ứng lại các hành động đơn phương của hải quân Trung Quốc ở trong và xung quanh các đảo tranh chấp ở Biển Đông. Do vậy, bất cứ giải pháp nào cho các tranh chấp lãnh thổ trên biển này tiếp tục vẫn ở một tương lai xa vời.

Việc phân định giới hạn biên giới biển như đã đề ra trong Công ước về Luật biển cũng đã là một nguồn gây ra căng thẳng, đặc biệt là giữa Trung Quốc và các nước láng giềng. Trung Quốc đã thừa nhận là họ có những tranh chấp về việc phân định ranh giới chưa giải quyết được với hai nước Triền Tiên, Nhật Bản, Philippines, Brunei, Malaysia, Indonesia, và Việt Nam. Mặc dù Trung Quốc và Việt Nam đã ký Hiệp định về việc phân định biên giới trên biển ở Vịnh Bắc Bộ, nhưng vẫn không có bước tiến nào trong việc thỏa thuận biên giới biển giữa Trung Quốc và một nước láng giềng nào. Một số cuộc đối thoại liên quan vẫn đang diễn ra, như giữa Trung Quốc và Hàn Quốc; thường có báo cáo là đã đạt được thỏa thuận chung chung nào đó giữa hai quốc gia, nhưng chưa từng khi nào đạt được tiến bộ đáng kể nào trong lĩnh vực này.[3] Mặc dù các nước ven biển chỉ được hưởng quyền chủ quyền và quyền tài phán ở thềm lục địa và Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ), hai vùng biển này lại đặc biệt quan trọng vì chúng có rất nhiều tài nguyên thiên nhiên và có thể dần dần được chuyển thành lãnh thổ có chủ quyền. Một sự biến chuyển tương tự đã từng xảy ra trong trường hợp vùng biển truyền thống - hay còn gọi là Lãnh hải - đã được mở rộng thành 12 hải lý chiều rộng 3 hải lý ban đầu.

Cùng với các yêu sách chồng lấn đối với các đảo nhỏ, những lập trường pháp lý khác nhau về việc phân định biên giới cũng là nhân tố cản trở các Hiệp định về biên giới biển. Ở Biển Hoa Đông, Trung Quốc đã tìm cách mở rộng phạm vi thềm lục địa với Nhật Bản, nhưng Nhật Bản kiên trì đường phân định ở giữa. Cho đến nay, chưa thấy dấu hiệu hòa hợp nào về vấn đề này.

May mắn là, nhiều tiến bộ đã đạt được trong việc quản lý các nguồn tài nguyên biển, cùng với việc ký kết Hiệp định về nghề cá giữa Trung Quốc - Nhật Bản năm 1997, Hiệp định về nghề cá giữa Nhật Bản và Hàn Quốc năm 1998, và Hiệp định về nghề cá giữa Trung Quốc và Hàn Quốc năm 2000. Những Hiệp định này được soạn thảo để quản lý các nguồn cá ở Biển Hoa Đông, Hoàng Hải, và Biển Nhật Bản. Theo đó, các khu vực quản lý đánh bắt cá chung đã được xác lập và duy trì. Mặc dù vậy, các nguồn tài nguyên biển vẫn còn là một nguồn của xung đột. Các biện pháp đơn phương của một quốc gia có thể bị một quốc gia khác coi là có ý đồ xấu. Ví dụ, khi Trung Quốc ra Nghị định tuyên bố một mùa cấm đánh cá ở Biển Đông -  trong suốt mùa hè, Việt Nam coi việc này là sự can thiệp vào chủ quyền của mình.

Trong lĩnh vực quản lý và phát triển tài nguyên, đặc biệt là dầu mỏ và khí tự nhiên, tình hình còn phức tạp hơn. Cần nhớ lại rằng, vào năm 1974, một Hiệp định giữa Nhật Bản với Hàn Quốc cùng phát triển dầu mỏ và khí đốt tại Biển Hoa Đông đã gặp phải phản đối quyết liệt từ phía Trung Quốc. Lợi ích của Trung Quốc với tư cách bên thứ ba ở cùng vùng biển này đã làm tê liệt các cuộc đàm phán. Trong những năm gần đây, Trung Quốc và Nhật Bản đã tranh cãi về mỏ dầu khí Chunxiao, cách đường yêu sách trung tuyến đơn phương của Nhật Bản ở Biển Hoa Đông chỉ 5km. Vụ tranh chấp ít ra đã được giải quyết một phần bởi một Hiệp định giữa Trung Quốc và Nhật Bản hồi tháng sáu năm 2008:  thiết lập một vùng phát triển chung ở Biển Hoa Đông liền kề với đường yêu sách trung tuyến của Nhật Bản, và cho phép các Công ty của Nhật phát triển mỏ dầu Chunxiao theo Luật của Trung Quốc.[4] Kết quả của Hiệp định phù hợp với tinh thần và các điều khoản của Công ước về Luật biển, đó là khuyến khích các quốc gia đưa ra những thỏa thuận dự phòng trong khi chờ giải quyết đường biên giới trên. Tuy nhiên, thật không may là, những sự kiện gần đây đã dẫn tới việc chậm trễ thực hiện Hiệp định.

Trung Quốc cũng phản đối mạnh mẽ các yêu sách trên biển của Nhật Bản đối với Okinotorishima, một rặng đá ngầm ở 20025' Bắc và 136005' Đông từ với cực Nam của Nhật Bản. Do bào mòn của nước biển, bề mặt của đá ngầm nhô lên khỏi mặt nước khi thủy triều lên đã dần dần thu hẹp lại. Kết quả là Đảo Bắc (Kitakojima) chỉ nhô lên có 16 centimet và Đảo Đông (Higashikojima) chỉ nhô lên có 6 centimet bên trên mực nước biển khi thủy triều lên.[5] Nếu cứ để yên như vậy, đá ngầm này có thể bị nước biển nhấn chìm. Từ năm 1987,  Nhật Bản bắt đầu đầu tư lớn (khoảng 300 triệu USD) để gia cố, nâng cao đá ngầm này để lấy đó làm cơ sở đòi hỏi thêm các quyền tài phán trên biển. Nếu thành công, Nhật Bản có thể tuyên bố chủ quyền một Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) rộng khoảng 400,000 km2 và một thềm lục địa rộng khoảng 740,000 km2 xung quanh đá ngầm này.[6] Trung Quốc bày tỏ mối quan ngại của mình rằng việc thừa nhận yêu sách của Nhật Bản đối với thềm lục địa từ đảo Okinotorishima "sẽ tạo ra một tiền lệ có thể dẫn tới sự xâm lấn biển ngoài khơi trong Khu vực ở mức độ lớn hơn nữa".[7] Có vẻ như là yêu sách trên biển của Nhật Bản sẽ ảnh hưởng tới lợi ích của Trung Quốc trong việc đánh bắt cá và nghiên cứu khoa học biển tai các vùng biển liền kề quanh đảo đá ngầm.

VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG

Ở Biển Đông, tranh chấp về quần đảo Trường Sa là vấn đề gai góc nhất. Tranh chấp này đã tồn tại từ lâu, bao gồm Trung Quốc, Đài Loan Trung Quốc, Malaysia, Việt Nam, Philippines, và Brunei. Trong lịch sử quan hệ quốc tế, thường không có nhiều nước cùng tuyên bố chủ quyền đối với những hòn đảo nhỏ như vậy.

Là người chơi chính, những nỗ lực và hợp tác của Trung Quốc là không thể thiếu để giải tỏa căng thẳng trong khu vực. Khi đàm phán về bộ quy tắc ứng xử, ban đầu Trung Quốc rất miễn cưỡng tham gia đàm phán ở cấp độ đa phương với ASEAN mặc dù đã đạt được một bộ quy tắc ứng xử song phương với Philippines năm 1995. Tuy nhiên, Trung Quốc đã dần dần thay đổi thái độ và bắt đầu xem xét khả năng và những lợi ích của việc đàm phán một bộ quy tắc ứng xử cấp khu vực. Sự thay đổi này có thể do hai lực đẩy cả từ bên trong lẫn bên ngoài. Từ bên trong Trung Quốc, có sự thúc đẩy hướng tới một chính sách đối ngoại thực dụng "ổn định khu vực láng giềng" (wending zhoubian) được coi  là một trong những ưu tiên hàng đầu. Dựa trên điều này, Trung Quốc phải duy trì một môi trường ổn định ở Biển Đông. Từ bên ngoài, nỗ lực và sức ép của các nước ASEAN đã thuyết phục được Trung Quốc rằng hợp tác với ASEAN là tất yếu nếu Trung Quốc muốn có một môi trường ổn định ở vùng này. Kết quả là năm 1999 Trung Quốc đã đưa ra đề xuất của riêng mình về bộ quy tắc ứng xử như là đáp ứng lại đề xuất của ASEAN.[8] Trung Quốc và các nước ASEAN đã tiến hành nhiều vòng đàm phán để phác thảo ra một Bộ Quy tắcỨng xử Chung cho khu vực Biển Đông.[9]

Ngày 4 tháng Mười một năm 2002, Trung Quốc và tất cả các nước thành viên ASEAN đã ký Tuyên bố về Cách Ứng xử của các bên tại Biển Đông (DOC 2002) ở Phnom Penh, Campuchia,[10] Có lẽ đây là văn kiện đáng kể nhất từng được ký kết giữa Trung Quốc và các quốc gia ASEAN. Tuyên bố được soạn thảo nhằm củng cố và phát triển tình hữu nghị và sự hợp tác giữa Trung Quốc và ASEAN nhằm thúc đẩy hòa bình ở Biển Đông. Nó được xây dựng trên các nguyên tắc và mục tiêu của Tuyên bố chung của Hội nghị Nguyên thủ Quốc gia/Người đứng đầu Chính phủ các quốc gia thành viên ASEAN và Trung Quốc năm 1997.Tuyên bố tái khẳng định cam kết của các bên nhằm sử dụng luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước về Luật biển để xây dựng lòng tin và hợp tác. Các bên bảo đảm tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông. Các bên dự định hợp tác trên các lĩnh vực sau:

·                 Bảo vệ môi trường biển

·                 Nghiên cứu khoa học biển

·                 An toàn hàng hải và giao thông liên lạc trên biển

·                 Các hoạt động tìm kiếm và cứu hộ

·                 Chông tội phạm quốc tế, bao gồm nhưng không chỉ giới hạn trong buôn bán ma túy, cướp biển có vũ trang và buôn lậu vũ khí.

Các quốc gia ký kết cam kết giải quyết các tranh chấp lãnh thổ và tranh chấp quyền tài phán bằng các biện pháp hòa bình, tiếp tục đàm phán về Biển Đông và kiềm chế để tránh các hành động khiêu khích.

DOC 2002 chứa đựng nhiều yếu tố từ đề xuất của Trung Quốc đưa ra trước đó. Việc ký kết của Trung Quốc có thể được coi như một cử chỉ thiện chí. Một dấu hiệu của việc đó là sau khi ký DOC, Trung Quốc và Philippines giảm bớt tầm quan trọng của các cuộc tập trận Hải quân gần vùng biển tranh chấp, tuyên bố rằng các cuộc tập trận đó đó không liên quan đến các tranh chấp lãnh thổ.

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, đã có những bước thụt lùi làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hiệu quả DOC năm 2002. Thứ nhất, có những quốc gia vẫn tiếp tục những hành động đơn phương trái với lời kêu gọi tự kiềm chế đã nêu trong DOC. Các hành động này bao gồm việc đến thăm các đảo tranh chấp, cũng như việc xây dựng và nâng cấp cơ sở vật chất ở các đảo. Thứ hai, chương trình chung ba bên giữa Trung Quốc, Philippines và Việt Nam sau khi hoàn thành phần thứ nhất thì nay đã ngừng các hoạt động, và có lẽ hình như khó có thể thấy chương trình đó sẽ được khôi phục lại trong một tương lai gần.

Thứ ba, gần đây Trung Quốc đã có sự chuyển hướng thái độtừ chủ nghĩa đa phương quay trở lại chủ nghĩa song phương. Như năm 2009, đại sứ Trung Quốc tại ASEAN khi đó đã phát biểu do ASEAN bao gồm cả các nước có yêu sách lẫn các nước không có yêu sách nên tổ chức này không thể là diễn đàn thích hợp cho việc thảo luận vấn đề Biển Đông. Do vậy, chính phủ Trung Quốc muốn giải quyết các tranh chấp lãnh thổ thông qua đàm phán song phương.[11] Sự thay đổi này có chút gì đó gây ngạc nhiên vì Trung Quốc trước đó không lâu vẫn ủng hộ mạnh mẽ DOC, coi như đó là cử chỉ thiện chí phù hợp với cách hành xử đa phương. Trung Quốc thậm chí còn tổ chức một số hội nghị thực thi ở nước mình. Câu hỏi lớn là liệu chủ nghĩa song phương có thực sự hiệu quả để giải quyết vấn đề Biển Đông hay không.

Trung Quốc là nhân tố quan trọng nhất trong an ninh khu vực. Sẽ có một số lo ngại như liệu Trung Quốc có chọn cách tiếp cận cứng rắn cho vấn đề Biển Đông không. Trong một điều trần tại Hạ Viện Hoa Kỳ ngày 13/1/2010, Tư lệnh quân lực Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương đô đốc Robert Willard nói rằng Hải quân Trung Quốc đã tăng cường tuần tra trên Biển Đông và đã "cho thấy sẵn sàng đụng độ với các nước trong khu vực ở biển cả và ở các chuỗi đảo đang tranh chấp"[12] Nếu các kịch bản được mô tả này là đúng, thì các quốc gia Đông Nam Á có lý do để lo lắng. Và điều này sẽ phá hoại tinh thần của DOC.

May mắn là, các nước ASEAN và Trung Quốc mới đây đã thỏa thuận nối lại đối thoại về việc thực thi có hiệu quả DOC.  Họ đang hướng tới một Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC).[13]

HỢP TÁC CHỐNG CƯỚP BIỂN TRONG KHU VỰC

Cướp biển là mối đe dọa thường xuyên đối với an ninh biển của toàn thể thế giới. Số liệu mới nhất cho thấy năm 2009 toàn thế giới có 406 vụ cướp biển, nhiều nhất kể từ năm 2003. Cướp biển ở Biển Đông cũng tăng lên vào năm 2009  -  từ Tháng 1 đến tháng 9 năm 2009,  có  đến mười vụ so với 3 vụ cùng thời kỳ năm 2008.

Trung Quốc đã nhận thấy rằng họ không thể một mình chống lại cướp biển ở các vùng biển liền kề. Hợp tác khu vực là cần thiết thì mới có hiệu quả. Nhằm mục đích này, Trung Quốc đã ký Tuyên bố chung về Hợp tác trong các vẫn đề an ninh phi truyền thống với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) tháng 11 năm 2002. Hiệp định này đòi hỏi hợp tác toàn diện giữa các nước ASEAN và Trung Quốc trong các vấn đề an ninh phi truyền thồng và xác định các kiểu hợp tác ưu tiên. Các ưu tiên đó bao gồm "chống vận chuyển ma túy trái phép, buôn lậu người kể cả phụ nữ và trẻ em, cướp biển, khủng bố, buôn lậu vũ khí, rửa tiền, tội phạm kinh tế quốc tế và tội phạm tin học." Trong cả hợp tác đa phương và song phương, có các mục tiêu sau:

·                 Tăng cường trao đổi thông tin

·                 Tăng cường trao đổi nhân sự, đào tạo và nâng cao việc xây dựng năng lực

·                 Tăng cường hợp tác thực tiễn trong các vấn đề an ninh phi truyền thống

·                 Tăng cường nghiên cứu chung về các vấn đề an ninh phi truyền thống

·                 Khảo sát các lĩnh vực và các mô hình hợp tác khác [14] 

Thêm vào đó, Tuyên bố DOC năm 2002 [15] nhằm mục tiêu ngăn chặn cướp biển và cướp có vũ trang trên biển. Thực ra, dựa vào Tuyên bố này, Trung Quốc đã bảo trợ nhiều hội thảo về các vấn đề an ninh phi truyền thống. Ví dụ Viện Nghiên cứu Hải Nam Trung Quốc đã tiến hành hội thảo đào tạo về an ninh biển ở eo biển Malacca cho các quan chức chính phủ các nước Đông Nam Á vào tháng 12 năm 2007.

Những nỗ lực này ở khu vực lên tới đỉnh điểm trong Hiệp định quan trọng nhất khu vực về chống cướp biển: Hiệp định Hợp tác Khu vực về chống Cướp biển và cướp có vũ trang đối với tàu thuyền tại châu Á (ReCAAP) ký tháng 11/2004.  Hiệp định có hiệu lực từ tháng chín năm 2006, bắt buộc các nước ký kết phải:

·                 Ngăn chặn và tiêu diệt cướp biển và cướp bóc có vũ trang đối với các tàu biển

·                 Bắt giữ cướp biển hoặc những kẻ phạm vào việc cướp bóc có vũ trang đối với các tàu biển

·                 Bắt giữ tàu biển hoặc máy bay dùng vào việc cướp biển hoặc cướp bóc có vũ trang đối với các tàu biển

·                 Cứu hộ những tàu biển nạn nhân và những nạn nhân của cướp biển hoặc cướp bóc có vũ trang đối với các tàu biển[16]. Ngăn chặn cướp biển hoặc cướp bóc có vũ trang đối với các tàu biển tới hết mức có thể phù hợp với luật pháp và quy định quốc gia tương ứng và phù hợp với nguồn lực và năng lực của mình

·                 Hỗ trợ pháp lý lẫn nhau cũng như dẫn độ nhằm tiêu diệt và trừng trị cướp biển.

Ngoài các điều khoản này ra, hiệp định còn thành lập một Trung tâm Chia sẻ Thông tin (ISC). Trung tâm chính thức hoạt động vào tháng 11 năm 2007 tại Singapore.[17]

ReCAAP là hiệp định quốc tế đặc thù đầu tiên nhằm ngăn chặn và tiêu diệt cướp biển. Bởi vì điều này còn mới mẻ nên nó trở thành khuôn mẫu cho các giàn xếp pháp lý khác ở khu vực. Có tin là một Bộ Quy tắc ứng xử tương tự cũng đã được ký kết ở Tây Ấn Độ Dương.

Đặc biệt để xử lý riêng về vấn đề eo biển Malacca, chính phủ  Singapore và IMO đã cùng triệu tập "Hội nghị về Eo biển Malacca và Singapore: Nâng cao An toàn, An ninh và Bảo vệ Môi trường". Tại  Hội nghị này, Cơ chế Hợp tác cho  Eo biển Malacca và Singapore đã được thành lập năm 2007.  Cơ chế bao gồm Diễn đàn Hợp tác, Ủy ban Dự án Hợp tác, và Quỹ Hỗ trợ Hàng hải. Trung Quốc là một trong số các nước ở khu vực bày tỏ sự ủng hộ mạnh mẽ cho sáng kiến này.

PHÂN ĐỊNH BIÊN GIỚI BIỂN

Thỏa thuận chính thức duy nhất liên quan đến việc phân định biên giới biển giữa Trung Quốc và các nước láng giềng là Hiệp định giữa Trung Quốc – Việt Nam về việc phân định biên giới biển ở Vịnh Bắc Bộ. Để hiểu được trường hợp này, cần xem xét  bối cảnh rộng hơn  của quan hệ biên giới Việt-Trung.

Hai nước bình thường hóa quan hệ ngoại giao vào tháng 11 năm 1991, sau một thời gian dài căng thẳng tiếp theo cuộc Chiến tranh Biên giới Trung-Việt năm 1979.  Các vấn đề biên giới tiếp tục là một vấn đề nhạy cảm trong quan hệ song phương; thực tế, cuộc Chiến tranh Biên giới Trung-Việt đã bắt đầu với vô số vụ va chạm có vũ trang dọc theo biên giới. Chính vì vậy mà cả hai bên đều đưa vấn đề biên giới thành ưu tiên số một để giải quyết các tranh chấp sau khi bình thường hóa quan hệ ngoại giao. Tháng 10  năm 1993,  hai bên ký kết một hiệp định đưa ra những nguyên tắc cơ bản để giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ. Theo đó, hai bên cam kết không tiến hành các hoạt động có khả năng làm phức tạp thêm các tranh chấp trong tiến hành các cuộc đàm phán.

Cũng nên nhớ rằng, trong khi Hiệp ước Pháp-Thanh năm 1887 phân định biên giới Trung -Việt áng chừngkhông có sự phân giới chính xác nào diễn ra. Đây chính là một nguồn gốc gây ra căng thẳng và xung đột. Năm 1999, cuối cùng thì hai quốc gia cũng đạt được một thỏa thuận về biên giới trên đất liền. Cuối năm 2008, đường phân giới đã hoàn thành.

Hiệp định Vịnh Bắc Bộ cho thấy hai bên đã có nỗ lực như nhau để phân định đường biên giới trên biển. Hiệp định này được ký kết sau nhiều vòng đàm phán vào năm 2000. Theo Hiệp định này, chiều dài của đường phân định khoảng 500 km. Đường này có 21 mốc địa lý, trong đó từ mốc 1 đến 9 phân định lãnh hải và các điểm từ 9 đến 21 phân định các Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ)  và các thềm lục địa của hai nước ở Vịnh Bắc Bộ.[18] Vì đây là Hiệp định đầu tiên thuộc dạng này mà Trung Quốc đạt được với các nước láng giềng, Hiệp định này có thể là một tấm gương tốt. Với Việt Nam, Hiệp định biên giới biển này cũng được đánh giá là toàn diện mà nước này đạt được. Tuy nhiên, trong trường hợp này, nó lại chỉ là cái thứ hai trong ba hiệp định biên giới Việt Nam đã ký với các quốc gia láng giềng.

 

Trung Quốc và Việt Nam cũng ký đã một hiệp định mới về quản lý nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ.  Hiệp định này quy định sử dụng hợp lý và phát tiển bền vững các nguồn cá và thiết lập Vùng đánh cá chung rộng khoảng 30.000 km2. Theo một khảo sát khoa học, việc đánh bắt cá bền vững ở Vịnh là 600.000 tấn mỗi năm; song trong những năm gần đây, lượng cá đánh bắt của cả hai nước Trung Quốc và Việt Nam đã đạt tới một triệu tấn. Do đó, sự quản lý bền vững song phương các nguồn cá là một biện pháp được đón nhận để ngăn ngừa suy kiệt nguồn tài nguyên cá.

Vịnh Bắc Bộ là một vùng biển chung nhau giữa Trung Quốc và Việt Nam. Bằng cách ký kết các hiệp định nói trên, hai quốc gia đã mở ra một giai đoạn mới cùng hợp tác trên biển trong quan hệ song phương. Nhằm thực hiện hiệu quả các hiệp định, hai bên đã tiến hành tuần tra chung và khảo sát khoa học. Cùng với đó, hai bên cũng đã ký một hiệp định khung về hợp tác thăm dò dầu khí trong tương lai ở Vịnh Bắc Bộ.

QUẢN LÝ CÁC NGUỒN CÁ

Ngoài Việt Nam, Trung Quốc cũng đã kýcác hiệp định về nghề cá với Nhật Bản và Hàn Quốc. Mặc dù các hiệp định này mới nhìn có vẻ không có giá trị lắm, song trên thực tế chúng có đóng góp lớn đề thúc đẩy các quan hệ ngoại giao trên biển.

Đối với Trung Quốc và Nhật Bản, hiệp định về nghề cá là một bước quan trọng tiến tới giải quyết vấn đề biên giới biển. Việc Công ước LHQ về Luật Biển có hiệu lực vào năm 1994 dẫn tới hỗn loạn hoàn toàn. Vì nơi rộng nhất của Biển Hoa Đông cũng chỉ nhỏ hơn 400 hải lý, nên chiều dài của các Vùng đặc quyền kinh tế EEZ được gán cho trong hiệp định  thực tế có nghĩa là các vùng biển của Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc sẽ chồng lấn lên nhau. Tình trạng này không bền vững; các bên cần điều chỉnh nhằm tránh các xung đột về lợi ích trong việc đánh bắt cá.

Sau một số vòng thương lượng, Trung Quốc và Nhật Bản đạt được một Hiệp định về quản lý nghề cá ở Biển Hoa Đông tháng chín năm1997.[19] Hiệp định này có hiệu lực vào tháng sáu năm 2000. Hiệp định có một số điều khoản quan trọng nhằm đáp ứng với tình hình đã thay đổi. Trước hết, hiệp định tái khẳng định nguyên tắc bảo vệ và bảo tồn nguồn cá. Điều này chiểu theo các điều khoản tương ứng trong Công ước LHQ về Luật Biển và những đòi hỏi về môi trường của Agenda 21. Hai bên đồng ý hợp tác để tiến hành nghiên cứu khoa học về nghề cá và bảo tồn các tài nguyên sống ở biển.[20] Khi tham gia vào các hoạt động đánh bắt cá tại EEZ của một nước khác, ngư dân phải tôn trọng các biện pháp bảo tồn và các luật liên quan khác của nước đó. Các quốc gia cần thông tin cho nhau về các luật và quy định tương ứng về bảo tồn nghề cá.[21]

Hai là, Trung Quốc cho ngư dân Nhật Bản quyền được đánh bắt cá trên EEZ của mình và ngược lại. Các nhà chức trách có thẩm quyền của mỗi quốc gia cấp giấy phép đánh bắt cá cho người và tầu đánh cá của nước bên kia và có thể thu một khoản phí thích hợp khi cấp các giấy phép đó. Việc cấp phép cần tuân theo các điều khoản tương ứng của Hiệp định. Tuy nhiên, cần phải cấp bao nhiêu giấy phép và bao nhiêu tấn cá được phép đánh bắt là một vấn đề khó khăn và phức tạp đòi hỏi tiếp tục đàm phán. Hơn nữa, Hiệp định cũng không bao gồm khu vực EEZ nằm ở phía nam 270 Bắc và phía tây của 125030' Đông trong Biển Hoa Đông, là các vùng có Đài Loan và quần đảo Điếu Ngư đang tranh chấp.

Thứ ba là, Hiệp định thành lập một Ủy ban Liên hợp về Nghề cá Trung-Nhật để thực hiện Hiệp định. Ủy ban gồm có bốn thành viên, mỗi bên cử ra hai người. Các quyết định dựa trên sự đồng thuận của các thành viên. Cả hai quốc gia phải tôn trọng các khuyến nghị của Ủy ban đưa ra và tiến hành các biện pháp phù hợp với các quyết định đó. Ủy ban có thể được triệu tập hàng năm hoặc ở Trung Quốc hoặc ở Nhật Bản. Nếu cần, cũng có thể có những cuộc họp bất thường.[22] Những dàn xếp tương tự cũng có trong các hiệp định nghề cá giữa Trung Quốc và Hàn Quốc và giữa Trung Quốc và Việt Nam.

Cuối cùng, Hiệp định về nghề cá cũng tạo ra một số bước tiến trong việc phân định biên giới biển bằng việc thiết lập một khu vực áp dụng các biện pháp tạm thời (Provisional Measures  Zone - PMZ).  PMZ  nằm ở giữa Biển Hoa Đông, cách đường cơ sở của Trung Hoa đại lục và bờ biển của đảo Ryukyu 52 hải lý. Giới hạn phía Bắc của đường này là vĩ tuyến 30040'Bắc và giới hạn phía Nam của đường này là vĩ tuyến 270 Bắc. Hai bên đồng ý bảo vệ các nguồn hải sản sống trong khu vực PMZ, dựa trên các quyết định của Ủy ban Liên hợp về nghề cá. Mỗi quốc gia chịu trách nhiệm đối với người của nước mình đánh bắt cá trong vùng PMZ, nhưng không nên áp đặt các biện pháp đối với người của nước kia đang hoạt động ở đó.

Việc thiết lập một khu vực đánh bắt cá chung là một dạng thức điển hình về hợp tác đánh bắt cá được thấy ở nhiều nơi trên thế giới. Do vậy, khu vực PMZ  Trung-Nhật không có gì mới. Cái mới ở đây là, khu vực PMZ này là khu vực đầu tiên giữa Trung Quốc và Nhật Bản  - nó cho thấy việc hợp tác trên biển giữa hai quốc gia đã đi vào một thời kỳ mới.

KẾT LUẬN

Trong quan hệ quốc tế, xung đột và hợp tác luôn tồn tại cùng với nhau. Trung Quốc và các nước láng giềng không phải là ngoại lệ. Ta chỉ có thể hy vọng rằng xung đột trong khu vực có thể giảm thiểu đến mức tối đa và hợp tác ngày càng được thúc đẩy và làm sâu sắc hơn nữa.

Công ước LHQ về Luật Biển đã thiết lập một chế độ hoạt động theo pháp luật cho các đại dương. Công ước được mô tả như là một bản "hiến pháp” cho các dại dương.[23] Tuân thủ luật pháp quốc tế là một trong những đòi hỏi đối với các quốc gia trong quan hệ quốc tế, Công ước LHQ về Luật Biển làm được nhiều hơn là chỉ đưa ra những điều luật. Một điều khoản đặc biệt yêu cầu các quốc gia thành viên phải phối hợp các hoạt động bảo tồn và nghiên cứu khoa học của mình trong khu vực.[24] Điều khoản này có lẽ ở điểm nào đó cũng được mở rộng sang cả lĩnh vực an ninh biển.

Vì Trung Quốc đang trỗi dậy, nước này chắc chắn đang hướng lợi ích của mình ra biển. Cần nhớ lại rằng năm 2005, Trung Quốc kỷ niệm 600 năm ngày sinh của Zheng He,[25] một nhà hàng hải vĩ đại triều Minh (1368-1644),  người đã lãnh đạo các hạm đội của Trung Quốc qua bảy cuộc viễn du tới Tây Phi đầu thế kỷ thứ 15. Làm lễ kỷ niệm Zheng He biểu hiện ý định của chính phủ Trung Quốc làm sống lại vinh quang hải quân Trung Quốc trong quá khức. Mặt khác, hải quân Trung Quốc hiện nay đang mở rộng hoạt động của mình ra ngoài vùng biển khơi và đang bàn xem liệu có nên trang bị tàu sân bay không. Rõ ràng là Trung Quốc đang quyết tâm trở thành cường quốc biển một lần nữa.

Tuy nhiên, những tham vọng này có thể khiến các nước láng giềng nghi ngờ liệu Trung Quốc có thực sự là thành viên có trách nhiệm trong các vấn đề quốc tế hay không, đặc biệt đối với các vấn đề an ninh biển. Một hình ảnh quá quyết đoán có khả năng phá hoại mục đích của Trung Quốc biến cả Biển Hoa Đông và Biển Đông thành vùng biển của hòa bình, hợp tác và hài hòa. Vì lý do đó mà cần đề xuất một kiểu "quyền lực thông minh" đối với chính sách biển của Trung Quốc. Nếu làm được điều này, Trung Quốc có khả năng tạo thành một tấm gương tốt cho các quốc gia khác ở châu Á noi theo. Nếu các quốc gia trong khu vực cùng hành động thì hòa bình và an ninh trên biển mới có thể được duy trì dài lâu.

GS. Keyuan Zou, Khoa Luật, Đại học Trung tâm Lancashire, Vương quốc Anh

Quang Hưng dịch

Bản gốc tiếng Anh “CAN CHINA RESPECT THE LAW OF THE SEAS?: An Assessment of Maritime Agreements Between China and its NeighborsBài viết được in trong Series đặc biệt của tạp chí Harvard Asia Quarterly với chủ đề "The Disputed Sea - Maritime Security in East Asia" tháng 12/2010.

Đề nghị chỉ được dẫn đường link bài viết này,  không cắt đăng lại khi chưa có sự đồng ý của Ban Biên tập NCBĐ.

 



[1] Toàn văn có tại http://www.un.org/Depts/los/convention_agreements/texts/unclos/closindx.htm, truy cập 4 Tháng 11 năm 2010.

[2] Li Haiqing, "Reflections on Our Strategy for Ocean Development in East Asian Seas," Ocean Development and Management (tiếng Trung) 1 (2005): 10.

[3] Cuộc họp lần thứ 13 giữa Trung Quốc và Hàn Quốc được tổ chức tại Qingdao, Trung Quốc vào ngày 4/7/2008.

[4] Toàn văn Hiệp định, xem: http://www.chinadaily.com.cn/china/2008-06/18/content_6774860.htm,, truy cập ngày 19/6/2008.

[5] Yann-huei Song, "Okinotorishima: “A ‘Rock’ or an ‘Island’? Recent Maritime Boundary Controversy between Japan and Taiwan/China,” Maritime Boundary Disputes, Settlement Processes, and the Law of the Sea, ed. Seoung-Yong Hong and Jon M. Van Dyke (Leiden: Martinus Nijhoff, 2009), 148.

[6] Qin Jize, Li Xiaokun và Cheng Guangjin, "Japan Atoll Expansion ‘Hurt Neighbors’," China Daily, 11/2/2010, truy cập ngày 14/10/2010  http://www.chinadaily.com.cn/world/2010-02/11/content_9461259.htm

[7] "Proposal for the inclusion of a supplementary item  in the agenda of the nineteen Meeting of States Parties: Note verbale Dated 21 May 2009 from the Permanent Mission of China to the United Nations addressed to the Secretary-General”, SPLOS 196, 22/5/2009,  truy cập ngày 14/10/2010, http://daccess-dds-ny.un.org/doc/UNDOC/GEN/N09/346/61/PDF/N0934661.pdf?OpenElement

[8] Hai đề xuất này được in lại trong Selected Foreign and Chinese Articles on the South China Sea(2001), ed. Hainan Research Institute for the South China Sea (Hainan: Haikou, 2002) (in Chinese), 180-183.

[9] Các bản dự thảo Quy tắc ứng xử của cả ASEAN và Trung Quốc được in lại trong Collection of Selected Foreign and Chinese Papers on the South China Sea, 180-183.

[10] Toàn văn có tại http://www.aseansec.org/13163.htm, truy cập ngày 18/10/2010.

[11] “Beijing: South China Sea Territorial Disputes Not on ASEAN Agenda,” VOA News, chỉnh sửa lần cuối ngày 21/10/2009, http://www.voanews.com/english/2009-10-21-voa20.cfm, truy cập ngày 11/11/2009.

[12] "Choppy Waters: East and south, China makes a splash," Economist bản in ngày 21/1/2010, truy cập ngày 15/10/2010 http://www.economist.com/world/asia/displaystory.cfm?story_id=15331153.

[13] Xem "Press Release on the 13th ASEAN – China Summit,”" Hà Nội, ngày 29/10/2010, truy cập ngày 1/11/2010,  http://asean2010.vn/asean_en/news/36/2DA9D9/Press-release-on-the-13th-ASEAN-CHINA-summit

[14] Xem "Joint Declaration of ASEAN and China on Cooperation in the field oì Non-Traditional Security Issues, 6th ASEAN-China Summit," 4/11/2002, truy cập ngày 18/10/2010 http://www.aseansec.org/13185.htm

[15] "Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea", truy cập ngày 18/10/2010, http://www.aseansec.org/13163.htm

[16] Điều 3 ReCAAP. Toàn văn tại "Regional Cooperation Agreement on Combating Piracy and Armed Robbery against Ships in Asia," truy cập 18/10/2010, http://www.recaap.org/about/pdf/ReCAAP%20Agreement.pdf

[17] Thông tin về các hoạt động của trung tâm này có tại http://www.recaap.org/index_home.html

[18] Chi tiết xem Zou Keyaun, “The Sino-Vietnamese Agreement on Maritime Delimitation in the Gulf of Tokin,” Ocean Development and International Law 36 (2005): 13-24.

[19] Hiệp định nghề cá giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Nhật Bản, Tháng 11/1997. Bản dịch Tiếng Anh không chính thức có tại Zou Keyuan, Law of the Sea in East Asia: Issues and Propects (London: Routledge, 2005), 175-180.

[20] Điều 10 Hiệp định Nghề cá Trung – Nhật

[21] Điều 4 Hiệp định Nghề cá Trung – Nhật

[22] Điều 11 Hiệp định Nghề cá Trung – Nhật.

[23] Xem Tommy Koh, "A Constitution for the Oceans", trong The Law of the Sea: United Nations Convention on the Law of the Sea with Index and Final Act of the Third United Nations Conference on the Law of the Sea (New York: United Nations, 1983), xxxiii.

[24] Điều 123 Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển.

[25] Chi tiết, xem "Envoy of Peace: in Commemoration of the 600th Anniversary of Zheng He’s Great Voyages (1405-1433)", truy cập ngày 16/2/2010, http://www.chinaculture.org/gb/en_focus/node_2478.htm. Khi thủ tướng Ôn Gia Bảo phát biểu tại Đại học Cambridge tháng 2/2009, ông đã mô tả Zheng He là "một sứ giả đích thực của tình yêu và hữu nghị", xem: "Premier Wen Says Cooperation Top Priority to Tackle Financial Crisis", sửa đổi lần cuối 3/2/2009, truy cập 16/2/2010, http://au.china-embassy.org/eng/xw/t535003.htm

 

 

Theo Daniel Ten Kate, tác giả bài viết “South China Sea Oil Rush Risks Clashes as U.S. Emboldens Vietnam on Claimsđăng trên trang Bloomberg, việc các nước đẩy mạnh các kế hoạch khai thác dầu khí tại khu vực Biển Đông mà Bắc Kinh đang tuyên bố chủ quyền sẽ làm bùng phát một cuộc xung đột mới tại khu vực này.

 

Việt Nam và Philíppin đang thúc đẩy các dự án triển khai dầu khí tại khu vực Biển Đông mà Trung Quốc đang tuyên bố chủ quyền. Điều này đã châm ngòi cho xung đột mới tại một trong những khu vực có các tuyến đường hàng hải bận rộn nhất thế giới.Tập đoàn năng lượng Talisman Energy Inc. (TLM), đối tác của Tập đoàn Dầu khí Petro Việt Nam, muốn bắt đầu khoan thăm dò vào năm 2012 tại lô thuộc vùng Trung Quốc tuyên bố chủ quyền và hứa dành cho công ty dầu khí Mỹ. Ông Ricky Carandang, phát ngôn viên của Tổng Thống Philíppin Nenigno Aquino, đã cho biết Philíppin có kế hoạch khai thác một lô trong khu vực biển nơi tàu tuần tra TQ va chạm với tàu thăm dò dầu khí của Philíppin vào tháng 3/2011.

Ông James A. Lyons Jr, cựu chỉ huy hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ từ 1985-1987 và hiện là Chủ tịch Tập đoàn Lion Associates LLC, chuyên tư vấn kinh doanh có trụ sở tại Virgina, Mỹ cho biết: Các nước láng giềng của Trung Quốc, đều có lực lượng quân sự lớn nhất châu Á và đang ngày càng “dũng cảm” hơn sau khi Mỹ khẳng định lợi ích của Mỹ tại vùng biển này vào năm 2010. Việc tăng giá dầu thô gần 100 USD/thùng cũng đã thúc đẩy Việt Nam và Philíppin theo đuổi dầu mỏ để đáp ứng mục tiêu tăng trưởng kinh tế ít nhất 7%/năm. Ông cũng nhấn mạnh: “Với tình hình kinh tế của Việt Nam và Philíppin, việc khai thác dầu khí là hoàn toàn hợp lý xét về khía cạnh kinh tế. Họ cũng muốn phụ thuộc vào Mỹ để bảo đảm mạnh mẽ an ninh”.

Giấy phép kinh doanh hợp pháp. Tháng 5/2011, tuyên bố trên trang web của Talisman, Tập đoàn dầu khí lớn thứ 3 của Canada xét về giá trị trên thị trường, đồng thời là đối tác của PVN, cho biết sẽ bắt đầu khoan thăm dò tại vùng nước thuộc chủ quyền của Việt Nam (cách bờ biển phía Nam đảo Hải Nam Trung Quốc 625 dặm), sau khi tiến hành thăm dò địa chất vào năm 2011. Ngày 4/5/2011, ông John Manzoni, quan chức điều hành hàng đầu của Talisman, cho biết: “Chúng tôi có những gì chúng tôi tin là giấy phép hợp pháp và Tập đoàn Talisman cũng có kế hoạch đẩy nhanh tốc độ thăm dò”.

Các lô 133 và 134 của Tập đoàn Talisman, cách VN 300km và được biết đến là WAB-21 của Trung Quốc - lô mà năm 1992 đã được hứa dành cho Tập đoàn Năng lượng Crestone Energy Corp, nay thuộc quyền sở hữu của Tập đoàn Khai thác Tài nguyên thiên nhiên có trụ sở tại Houston (Harvest Natural Resources Inc. (HNR). Ông James Edmiston, CEO của Tập đoàn Harvest, đã trả lời khi được hỏi về việc Tập đoàn Talisman có giấy phép hợp pháp vào tháng 8/2010: “Trung Quốc đã cho biết rất quan ngại về vụ việc này và cam kết sẽ can thiệp theo cách nào đó”.

Trong cuộc gặp với các chuyên gia ngày 3/9/2011, ông Mark W. Albers, Phó Chủ tịch cao cấp của Tập đoàn Exxon Mobil Corp. (XOM) cho biết Tập đoàn đang có kế hoạch chuẩn bị thăm dò dầu khí tại VN năm 2011. Theo tờ Vietnam News ngày 31/3/2011 cho biết công ty Irving, có trụ sở tại Texas sẽ tiến hành triển khai tại Lô 119 mà không trích dẫn nguồn tin. Một phần tại khu vực này thuộc những vùng nước mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền. Theo Người phát ngôn của Exxon Mobil, ông Patrick McGinn cho biết chi tiết các chương trình thăm dò vẫn còn bí mật.

Trung tướng Quân đội Philíppin, ông Juancho Sabban cho biết hai tàu tuần duyên Trung Quốc tháng 3/2011 đã yêu cầu tàu thăm dò dầu khí của Tập đoàn Năng lượng Forum Energy Plc (FEP) rời khỏi khu vực gần vùng nước tranh chấp khoảng 250km về phía Tây của đảo Palawan, Philíppin. Tàu Trung Quốc chỉ rời khu vực sau khi hai máy bay quân sự được triển khai. Khu vực trong hợp đồng với công ty Chertsey, của tập đoàn Forum Energy có trụ sở tại Anh thuộc vùng nước mà Trung Quốc, Việt Nam và Philíppin đã nhất trí cùng khai thác trong thỏa thuận đạt được vào năm 2008. Phần lớn khu vực này do Tập đoàn khai khoáng Philex, có trụ sở tại Manila, sở hữu và tập đoàn Forum có kế hoạch khoan giếng dầu ở khu vực này. Ngày 16/5, Người phát ngôn Tổng Thống Philíppin, ông Carandang cho biết khu vực mà Philíppin dự kiến khai thác là “phần rất quan trọng” trong kế hoạch cắt giảm nhập khẩu dầu của Tổng Thống Philíppin Aquino.

Để không bị bắt nạt. Các nhà hoạch định chính sách của Mỹ đã đề xuất Mỹ ký các hiệp định quốc phòng với Philíppin, Thái Lan và bảo đảm an ninh cho Đài Loan nhằm đối trọng với Trung Quốc. Theo nhóm nghiên cứu về an ninh toàn cầu thuộc Alexandria, Virginia, hơn nửa các tuyến hàng hóa thương mại toàn thế giới được vận chuyển qua Biển Đông hàng năm. Tại hội nghị khu vực tại Hà Nội, tháng 10/2010, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã tuyên bố “lợi ích quốc gia là tự do hàng hải và thương mại tại các vùng nước”. Theo ông Michael Green, cựu chuyên gia châu Á thuộc Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ, hiện làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế thuộc Washington cho rằng tuyên bố trên của Mỹ đã giúp các nước Đông Nam Á cảm thấy tự tin hơn một chút và không cảm thấy “bị bắt nạt”.

Các nguồn dự trữ của Trung Quốc đang giảm dần. Lực lượng không quân Mỹ đã tuần tra tại các vùng nước thuộc Thái Bình Dương kể từ sau chiến tranh thế giới II. Theo báo cáo Bộ Quốc Phòng Mỹ tháng 8/2010, Trung Quốc đã tăng cường mạnh mẽ lực lượng quân sự trong thập kỷ qua và triển khai tàu ngầm hạt nhân và hàng không mẫu hạm. Theo thông tin của Cơ quan quản lý thông tin năng lượng Mỹ (EIA), năm 1988 tại vụ va chạm trên đảo Trường Sa, Trung Quốc đã bắn chết hơn 70 lính Việt Nam và làm chìm một số tàu. Năm 1994, tàu chiến Trung Quốc lại được cử tới nhằm buộc Việt Nam phải dừng khoan. Theo các nghiên cứu của Trung Quốc do EIA trích dẫn cho biết BP Plc ước tính những vùng nước thuộc khu vực tranh chấp có trữ lượng dầu mỏ gấp 14 lần dự trữ dầu của Trung Quốc và gấp 10 lần dự trữ khí ga của nước này. Theo các số liệu tập hợp bởi Bloomberg, dự trữ dầu khí Trung Quốc giảm nhanh chóng gần 40% vào năm 2001 khi nền kinh tế tăng trưởng trung bình 10,5%/năm.


Theo ước tính của WB, nhu cầu về dầu khí của Viêt Nam đang ngày càng tăng nhanh chóng. Theo kế hoạch của Bộ Năng lượng Philíppin, nước này dự kiến sẽ tăng dự trữ khí cácbon lên 40% vào hai thập kỷ tới nhằm giảm hoàn toàn vào lượng nhập khẩu hiện nay.

Quyết định chính trị khó khăn. Theo ông Marshall Mays, giám đốc Tập đoàn Emerging Alpha tại Hồng Kông cho rằng đơn phương có thể là một chiến thuật đàm phán. Trung Quốc và những nước láng giềng có thể hợp tác dựa trên giả định đạt được sự phân chia lợi nhuận qua đàm phán. 10 nước ASEAN đã đạt được ít tiến triển trong đàm phán cam kết ứng xử về biển mang tính ràng buộc với Trung Quốc kể từ năm 2002. Ông Ralf Emmers, giáo sư tại Khoa Nghiên cứu Quốc Tế của trường S. Rajaratnam, Singapore cho rằng “việc nhất trí cùng thăm dò vô hình là bạn đã công nhận việc tuyên bố chủ quyền của các nước khác”. Đây là quyết định chính trị rất khó khăn đối với các nước khi cùng tuyên bố chủ quyền một phần hoặc toàn bộ khu vực Biển Đông.

Theo Bloomberg

Hương Trà (gt) 

Đề nghị chỉ  dẫn đường link bài viết này, không cắt đăng lại khi chưa có sự đồng ý của Ban Biên tập NCBĐ.

 

 

Trong thập niên vừa qua, Trung Quốc đã có những thái độ mạnh mẽ hơn đối với các vấn đề tranh chấp trong vấn đề Biển Đông nhằm bảo vệ lợi ích của mình. Mặc dù vậy, tâm lý phổ biến trong các nhà hoạch định chính sách và thành phần trí thức ở Trung Quốc là vẫn ủng hộ cách tiếp cận hợp tác đối với tranh chấp. Đây là 2 xu hướng đang diễn ra tại quốc gia này.

(Phần 1)

Chính sách “Ôn hòa có Tính toán” của Trung Quốc ở Biển Đông

Trong suốt những năm 1990, Trung Quốc đã có những nỗ lực lớn để bình thường hóa và cải thiện quan hệ với các quốc gia Đông Nam Á, một phần là để phòng ngừa một chính sách ngăn chặn/kiềm chế do Mỹ cầm đầu chống lại Trung Quốc. Thoát ra dần cách tiếp cận ban đầu là coi trọng quan hệ song phương, Trung Quốc đã tham gia nhiều hơn vào các thể chế đa phương và khu vực[1], đặc biệt là các thể chế cho phép Trung Quốc tăng cường đối thoại với ASEAN. Khi nguyên chủ tịch Giang Trạch Dân và các lãnh đạo ASEAN tổ chức hội nghị cấp cao ASEAN + Trung Quốc lần đầu tiên vào tháng 12 năm 1997, họ đã ra một tuyên bố chung thiết lập mối quan hệ láng giềng tốt, tin tưởng lẫn nhau trong thế kỷ hai mươi mốt. Kết quả là quan hệ kinh tế và chính trị giữa ASEAN và Trung Quốc phát triển nhanh chóng,[2] nhưng quan hệ an ninh vẫn rất mờ nhạt vì những tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông. Tuy nhiên vào thời điểm chuyển giao của thế kỷ, căng thẳng đã bắt đầu giảm dần nhờ một loạt các thỏa thuận: Trung Quốc và Việt Nam ký Hiệp định Biên giới trên Bộ tháng 12 năm 1999, tiếp theo là Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ năm 2000,[3] và tháng 11 năm 2002, Trung Quốc và ASEAN đã ký Tuyên bố về Cách Ứng xử của các Bên ở Biển Đông (DOC). Trước đó, tại Hội nghị Cấp cao ASEAN-Trung Quốc tháng 11 năm 2001, các lãnh đạo ASEAN đã chấp nhận đề xuất của Trung Quốc thành lập Khu vực Mậu dịch Tự do Trung Quốc-ASEAN (CAFTA) bao gồm Trung Quốc, Bru-nây, Ma-lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a, Phi-lip-pin, Xin-ga-po và Thái Lan vào năm 2010, tiếp theo là Cam-pu-chia, Lào, Mi-an-ma và Việt Nam vào năm 2015.[4]

Nói chung, cách tiếp cận vấn đề Biển Đông của Trung Quốc trong thập niên qua phản ánh sự định hướng lại toàn bộ chính sách ngoại giao Trung Quốc đối với các nước Đông Nam Á, điều mà nhiều chuyên gia đã mô tả như là “cuộc tấn quyến rũ” hay “quyền lực mềm”. Trung Quốc chủ yếu nỗ lực tìm kiếm một sự cân bằng trong việc theo đuổi lợi ích về chủ quyền, kinh tế, và chiến lược của nước này trong cuộc tranh chấp. Vì tầm quan trọng chính trị, kinh tế, và chiến lược của Biển Đông đối với Trung Quốc, nhiều người Trung Quốc có thể ủng hộ việc sử dụng các biện pháp cương quyết để theo đuổi lợi ích của nước này trong khu vực đó. Tuy nhiên, trong thập niên qua, không có xung đột quân sự lớn nào giữa Trung Quốc và các bên tranh chấp khác.[5] Những dự báo rằng các nước ASEAN sẽ không thể ép Trung Quốc vào đàm phán đa phương sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997, hóa ra lại không đúng.[6] Trung Quốc một mặt giữ thái độ cương quyết đối với yêu sách chủ quyền của nước này ở tất cả các sự kiện ngoại giao, tiến hành từng hành động để củng cố sự hiện diện của nước này ở Biển Đông, và đáp lại bằng những lời cảnh báo cứng rắn mỗi khi các bên tranh chấp khác hành động ngược lại với lợi ích của Trung Quốc. Nhưng mặt khác, Bắc Kinh nhận thấy họ phải tập trung vào những mục tiêu quan trọng hơn trong chính sách đối ngoại với Đông Nam Á, điều này đã dẫn đến khá nhiều thay đổi quan trọng trong cách cư xử của Trung Quốc hiện tại.

Ví dụ, Trung Quốc đã thay đổi thái độ cương quyết trước đây về đàm phán song phương, và nay đang dần dần chấp nhận cách tiếp cận đa phương. Nước này đã ký DOC, dù không phải là một hiệp định có ý nghĩa pháp lý nhưng có tác dụng rằng buộc về mặt đạo đức đối với các bên liên quan. Nó cho thấy trong một chừng mực nào đó Trung Quốc chấp nhận những chuẩn mực để điều hòa các vấn đề có liên quan đến Biển Đông dù chuẩn mực đó còn sơ khai và không chính thức. Cùng với đề xuất “cùng khai thác”, DOC đã cho thấy rõ hơn thiện ý thỏa hiệp yêu sách chủ quyền của Trung Quốc. Cũng bằng cách tham gia Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ASEAN (TAC), Trung Quốc đã cam kết về mặt pháp lý là không sử dụng vũ lực chống lại các thành viên ASEAN.  Một sự thay đổi nữa trong chính sách của Bắc Kinh là ý định ngày càng đẩy mạnh các chương trình cụ thể trong thỏa thuận phát triển chung của Trung Quốc,[7] trong khi trước đây, Bắc Kinh đã bị chỉ trích vì chủ trương “gác tranh chấp, cùng khai thác” mà không có đề xuất thiết thực nào.

Tại sao Trung Quốc lại chấp nhận những chính sách tương đối ôn hòa hơn này? Đây là một câu hỏi lớn, không chỉ để hiểu lịch sử thập niên vừa qua mà còn có cả manh mối về diễn biến trong tương lai. Một nhân tố mà hầu hết các nhà quan sát có thể đồng tình là Hải Quân Quân đội Giải phóng Nhân dân (PLAN) không đủ khả năng,[8] nhưng một mình nhân tố này chưa cho chúng ta lời giải thích thỏa đáng. Rốt cuộc, Bắc Kinh đã sử dụng những hành động vũ lực vào các năm 1974, 1988 và 1995 ngay cả khi hải quân của họ vẫn còn yếu kém hơn hiện nay. Thực tế, có ba nhân tố đồng thời có vai trò quyết định trong việc hình thành cách tiếp cận mới của Trung Quốc: nhu cầu cần có một vùng láng giềng hòa bình để thúc đẩy sự phát triển kinh tế trong nước, tầm quan trọng của ASEAN, và sức ép chiến lược từ những cường quốc bên ngoài.

Đặc biệt nhất là, Bắc Kinh tỏ ra nhiệt tình hơn trước trong việc tạo ra hình ảnh bản thân như một cường quốc có trách nhiệm để làm dịu đi “thuyết mối đe dọa Trung Quốc” và thể hiện mình là người ủng hộ các biện pháp đối thoại, xây dựng lòng tin, và quan hệ hợp tác thay vì thái độ hiếu chiến và đe họa, điều có thể gây tổn hại hơn đến lợi ích của bản thân nước này. Cách tiếp cận mới này không có nghĩa là Trung Quốc và các nước tranh chấp có thể dễ dàng vượt qua tranh chấp, nhưng điều đó có nghĩa là Trung Quốc sẵn sàng chú ý đến những lợi ích chính trị và chiến lược dài hạn của nước này ở Biển Đông và thực hiện giải pháp cùng có lợi. Các nhà phân tích cho rằng giải quyết tranh chấp Biển Đông trong khuôn khổ đối tác chiến lược sẽ tốt cho lợi ích cốt lõi của Trung Quốc, bao gồm cả những nỗ lực của Trung Quốc ngăn chặn Đài Loan độc lập.[9]

Tục ngữ có câu, nhảy tăng-gô cần có hai người. Không có phản ứng tích cực và nhân nhượng lẫn nhau từ các bên tranh chấp khác, Biển Đông không thể có được trạng thái ổn định hiện nay. Chia sẻ các mối quan tâm tương tự Trung Quốc, các nước khác trong khu vực cũng sẵn sàng chấp nhận một quan điểm hòa giải hơn bởi vì tất cả các nước đều cần có môi trường bên ngoài hòa bình và ổn định để phát triển kinh tế nước họ. Nhiều trong số các nước này đã nhận ra rằng đối đầu với Trung Quốc ở Biển Đông sẽ có hại cho sự ổn định của mối quan hệ ASEAN – Trung Quốc. Các cường quốc bên ngoài khác như Hoa Kỳ và Nhật Bản cũng không muốn có xung đột ở Biển Đông vì sợ làm gián đoạn vận tải biển và phá vỡ hòa bình khu vực. Sự hiện diện quân sự chiếm ưu thế của Mỹ ở Đông Á và quan hệ an ninh rộng khắp với các nước Đông Nam Á của nước này là những nhân tố mà các nhà hoạch định chính sách của Trung Quốc phải tính đến. Bắc Kinh hiểu rằng cách tiếp cận nặng tay của Trung Quốc sẽ chỉ đẩy các nước tranh chấp khác đến gần hơn với Oa-sing-tơn trên vũ đài an ninh.

Xuất hiện thái độ cương quyết của Trung Quốc

Bất chấp tất cả những diến biến tích cực đã đề cập trên, có nhiều dấu hiệu cho thấy Trung Quốc có thể trở nên cương quyết hơn trong tranh chấp Biển Đông thời gian tới. Cùng lúc, tâm lý phổ biến trong các nhà hoạch định chính sách và thành phần trí thức ở Trung Quốc là vẫn ủng hộ cách tiếp cận hợp tác đối với tranh chấp. Hai xu hướng này sẽ diễn ra như thế nào? Sự đan xen giữa hai cách tiếp cận có làm cho tranh chấp trở nên tồi tệ và phức tạp hơn không? Hay liệu thái độ ngày càng cương quyết của Trung Quốc cùng với nỗ lực đẩy mạnh các chương trình và những thỏa thuận cùng có lợi sẽ dẫn đến hợp tác nhiều hơn ở Biển Đông?

Những bất bình của Trung Quốc         

Sự thay đổi thái độ của Trung Quốc theo chiều hướng cương quyết phản ánh sự bất bình của nước này đối với những hành động của các nước khác trong khu vực,  mong muốn có được lợi ích kinh tế ở Biển Đông cùng với sự lớn mạnh về tiềm lực và sức mạnh của nước này. Trước hết, Trung Quốc rất giận giữ về những hành động vũ lực của các nước khu vực đối với ngư dân Trung Quốc ở vùng Trường Sa (A: Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd). Một bản báo cáo của Trung Quốc chỉ ra rằng cộng đồng nghề cá nước này đang ngày càng giảm hoạt động ở vùng Trường Sa (A: Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd), địa bàn đánh cá truyền thống của Trung Quốc ở Biển Đông. Diện tích đánh bắt thường xuyên của Trung Quốc ở Trường Sa (A: Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd) giờ đây đã bị giảm xuống 7800 ki-lô-mét vuông so với 83000 ki-lô-mét vuông vào năm 1989.[10] Truyền thông Trung Quốc thống kê rằng kể từ năm 1989 đã có trên 300 trường hợp tàu cá Trung Quốc bị bắt giữ, xua đuổi, thậm chí là bị bắn ở khu vực Trường Sa (A: Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd), trên tám mươi thuyền cá và hơn 1800 ngư dân Trung Quốc đã bị bắt giữ.[11]

Trong khi phần lớn các nhà phân tích đồng ý với chính phủ rằng “gác tranh chấp, cùng khai thác” vẫn nên là lập trường chính thức của Trung Quốc, một số nhà quan sát Trung Quốc ngày càng chỉ trích chính sách này. Họ cho rằng chính sách này thật ra đi ngược lại lợi ích Trung Quốc vì cho phép các nước yêu sách khác đơn phương khai thác tài nguyên ở Biển Đông. Bắc Kinh cũng không hài lòng trước nỗ lực của các nước tập hợp dưới lá cờ ASEAN để gây sức ép với Trung Quốc. Các nhà phân tích Trung Quốc tin rằng đã có sự thống nhất trong một số  thành viên ASEAN về vấn đề Biển Đông để chống lại Trung Quốc.[12] Ví dụ, Liu cho rằng ASEAN đã có vai trò chủ động trong việc phối hợp quan điểm của các quốc gia thành viên  khối này, đưa ra tuyên bố chung bày tỏ những mối quan tâm chung của ASEAN, lôi kéo Trung Quốc để thảo luận các tranh chấp, và sử dụng Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) thảo luận vấn đề Biển Đông để gây sức ép với Trung Quốc.[13]

Một phàn nàn đáng chú ý nữa của Trung Quốc là sự dính líu của các cường quốc lớn khác, đặc biệt là Hoa Kỳ. Theo cách hiểu của các học giả Trung Quốc, Oa-sing-tơn đang theo đuổi chính sách “trung lập chủ động” ở Biển Đông. Nhiều cuộc diễn tập hải quân do Mỹ cầm đầu ở Biển Đông đã củng cố cái nhìn tiêu cực của các nhà phân tích Trung Quốc về vai trò của Oa-sing-tơn trong tranh chấp. Họ nhận thấy rằng các cuộc diễn tập CARAT (Hợp tác Sẵn sàng Chiến đấu và Tập huấn Trên biển) giữa Mỹ và sáu quốc gia Đông Nam Á (Phi-lip-pin, Thái Lan, Xin-ga-po, Ma-lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a và Bru-nây) năm 2009 cho thấy Hoa Kỳ đang trở nên chủ động hơn trong tranh chấp Biển Đông, và chủ yếu để chống Trung Quốc. Bắc Kinh cũng quan ngại về sự cải thiện quan hệ quân sự giữa Oa-sing-tơn và Hà Nội.[14] Các học giả Trung Quốc cho rằng ảnh hưởng có tính chiến lược và xu hướng Mỹ nghiêng về ủng hộ các nước tranh chấp khác sẽ cổ vũ các nước này củng cố hơn nữa những yêu sách chủ quyền, đẩy mạnh hơn sự chiếm đóng trên thực tế của họ, và đơn phương khai thác các nguồn năng lượng.[15] Cuối cùng, nhiều nhà phân tích Trung Quốc kết luận rằng Hoa Kỳ tiếp tục theo đuổi chính sách giành ưu thế quân sự ở khu vực Biển Đông và sẽ trở nên chủ động hơn trong tranh chấp để thực hiện chiến lược bao vây và kiềm chế sự phát triển của Trung Quốc.[16]

Trung Quốc Ngày Càng Cương Quyết

Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã bắt đầu chú ý nhiều hơn đến Biển Đông, với hy vọng sẽ thu lợi từ những nguồn năng lượng trong khu vực này. Bất chấp những nghi ngờ về báo cáo trữ lượng dầu khí ở Biển Đông của nhiều chuyên gia quốc tế, Trung Quốc dường như hoàn toàn chắc chắn về triển vọng của các nguồn năng lượng trong khu vực. Jian Fengjiu, một kỹ sư lâu năm của Tập đoàn Dầu khí Xa bờ Quốc gia Trung Quốc (CNOOC), báo cáo rằng cho đến năm 2007, Trung Quốc đã phát hiện 323,5 tỉ mét khối khí ga thiên nhiên ở Biển Đông. Ông cũng cho biết Trung Quốc đang khai thác 6 tỉ mét khối khí ga thiên nhiên ở Biển Đông mỗi năm, chiếm 88 % lượng khí ga sản xuất từ biển của Trung Quốc.[17] Năm 2005 Bộ Đất đai và Tài nguyên Trung Quốc (Chinese Ministry of Land and Reresources) đã coi Biển Đông là một trong 10 vùng tài nguyên chiến lược và đã lập những kế hoạch đẩy mạnh nỗ lực khai thác dầu khí ở vùng nước sâu trong khu vực. CNOOC và một vài viện nghiên cứu khoa học ở Trung Quốc đã đẩy mạnh việc nghiên cứu sâu hơn về trữ lượng dầu khí trong vùng nước sâu của Biển Đông.[18]

Nhiều viện nghiên cứu ở Trung Quốc đã bắt đầu nghiên cứu toàn diện về khí mê-tan và hy-đrat (còn gọi là băng cháy) ở Biển Đông.[19] Tháng 8 năm 2006, Trung Quốc tuyên bố nước này đã có kế hoạch đầu tư 800 triệu Nhân dân tệ cho việc nghiên cứu khai thác băng cháy ở Biển Đông và dự định sẽ khai thác thử nghiệm vào trước năm 2015. Ước tính, chỉ riêng trữ lượng băng cháy ở phần phía bắc Biển Đông đã tương đương với 50 % toàn bộ trữ lượng dầu ở lục địa Trung Quốc.[20] CNOOC có kế hoạch đầu tư 200 tỉ Nhân dân tệ (29 tỉ Đô la Mỹ) trước năm 2020 để lắp đặt 800 giàn dầu ở những vùng nước sâu. Tập đoàn này có kế hoạch sản xuất tương đương 250 triệu tấn dầu thô trong những vùng nước sâu đến năm 2015 và 500 triệu tấn vào năm 2020. Hiện tại, CNOOC đang nỗ lực phát triển công nghệ, trang thiết bị và nguồn nhân lực cần thiết để đạt được những mục tiêu đó.[21]

Hơn một thập niên qua, Trung Quốc đã có nhiều nỗ lực để nâng cao khả năng thực thi luật hàng hải, bao gồm cả việc phát triển “khả năng chưa từng có”, sử dụng vệ tinh để giám sát và kiểm soát những hoạt động trong phạm vi vùng biển tranh chấp của nước này.[22] Trung Quốc ngày càng gia tăng việc áp dụng những khả năng thực thi luật pháp của mình để bảo vệ lợi ích của nước này ở Biển Đông. Vào tháng Ba (năm 2000), có tin là các quan chức Trung Quốc đã thông báo với những người động nhiệm Mỹ rằng Trung Quốc sẽ không tha thứ cho bất cứ sự can thiệp từ bên ngoài vào Biển Đông, một trong những “lợi ích quốc gia cốt lõi” của Trung Quốc.[23] Đây là lần đầu tiên Trung Quốc đưa vấn đề Biển Đông vào lợi ích quốc gia cốt lõi ngang bằng với các vấn đề Đài Loan và Tây Tạng.[24]

Tư tưởng bất mãn phổ biến ở Trung Quốc (đặt biệt là trong công chúng), lợi ích kinh tế ngày càng tăng trong khu vực, và những tiềm lực được tăng cường đang tiếp nhiên liệu cho quan điểm cứng rắn của quốc gia này. Có những dấu hiệu không thể nhầm lẫn rằng Trung Quốc đang nỗ lực đòi quyền lợi ở khu vực Biển Đông, mặc dù các hành động cứng rắn này có thể còn nhằm mục đích khác, không liên quan đến tranh chấp Biển Đông. Đầu năm 2009, lực lượng không quân Quân Khu Quảng Châu đã tiến hành diễn tập quy mô lớn tại khu vực phía nam Biển Đông. Nhiều nhà phân tích Trung Quốc đã xem cuộc diễn tập này, đặc biệt có sự tham gia của loại máy bay chiến đấu phản lực J – 10 tiếp nhiên liệu trên không của Trung Quốc, như một tín hiệu răn đe đối với các nước tranh chấp khác ở Biển Đông. Cuộc diễn tập cho thấy Trung Quốc “đang từng bước áp dụng chiến lược cứng rắn hơn” đối với tranh chấp Biển Đông thay vì chỉ đơn giản là đưa ra các phản đối ngoại giao như nước này đã từng làm trong quá khứ.[25] Tháng 3 năm 2009, Trung Quốc đã đưa tàu Ngư Chính 311, tàu tuần tra ngư nghiệp lớn nhất được sửa lại từ một tàu chiến cũ, đến Hoàng Sa [A: Paracel Islands, TQ: Xisha/Tây Sa – nd] để tuần tra. Trong tháng 5, một đội tàu Ngư Chính khác lại tuần tra khu vực Hoàng Sa [A: Paracel Islands, TQ: Xisha/Tây Sa – nd]. Ngày 01 tháng Tư năm 2010, hai tàu Ngư Chính Trung Quốc bắt đầu lên đường đến Trường Sa (A: Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd) để bảo vệ các hoạt động đánh cá của ngư dân Trung Quốc. Không giống những lần tuần tra trong quá khứ, lần này chính quyền Trung Quốc đã quyết định sử dụng đội tàu này để bắt đầu tuần tra thường xuyên ở khu vực Trường Sa (A: Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd). Trong lễ xuống thuyền, Lui Tianrong, một quan chức cấp cao của Ngư Chính Khu vực “Nam Hải” (Biển Đông) nói rằng thủy thủ hai tàu kiên quyết chống cướp biển, ngăn chặn các nước khác bắt giữ các tàu cá Trung Quốc, phản đối những hành động của nước khác xua đuổi tàu cá Trung Quốc và thể hiện chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông.[26] Từ cuối tháng Ba đến đầu tháng Tư, một đội tàu nhỏ của Hạm đội Bắc Hải thuộc Hải quân Quân đội Giải phóng Nhân dân PLAN đã có chuyến tuần tra dài ngày và đã tiến hành tập trận ở Biển Đông.[27]

Thái độ Cứng rắn và những Thiện ý của Trung Quốc

Mặc dù đang xuất hiện những tín hiệu về thái độ ngày càng cứng rắn của Trung Quốc, đã có những sức ép đáng kể có thể hạn chế sự hiếu chiến của quốc gia này. Trung Quốc phải đối mặt với một số tình thế tiến thoái lưỡng nan trong tranh chấp Biển Đông. Thứ nhất là sự khó khăn trong việc giữ cân bằng giữa việc bảo vệ chủ quyền và các quyền lợi khác của nước này ở Biển Đông và đồng thời duy trì quan hệ hòa bình, ổn định với các nước Đông Nam Á . Đông Nam Á vẫn thường được gọi là sân sau chiến lược của Trung Quốc. Bắc Kinh cần phải duy trì quan hệ tốt với các nước láng giềng Đông Nam Á để xua tan đi học thuyết về “Mối đe dọa Trung Quốc”, xây dựng hình ảnh tích cực về Trung Quốc trên trường quốc tế, và thúc đẩy hình thành hệ thống đa cực trong nền chính trị thế giới. Một cách tiếp cận nặng tay của Trung Quốc có thể dễ dàng đẩy các nước tranh chấp khác sang chiếc ô bảo trợ về an ninh của Mỹ và các cường quốc bên ngoài khác như Nhật Bản và Ấn Độ. Thứ hai, Bắc Kinh thường xuyên phải đối mặt với những tranh chấp biển đảo khó khăn với Nhật Bản ở Biển Hoa Đông. Thách thức ở Biển Hoa Đông cũng không kém phần phức tạp hơn tranh chấp Biển Đông. Thật ra trong những năm gần đây, giữa Trung Quốc và Nhật Bản đã xuất hiện nhiều tình huống khủng hoảng. Nhật Bản là một đối thủ mạnh hơn nhiều, cả về sức mạnh kinh tế và quân sự lẫn trong lĩnh vực hàng hải so với Trung Quốc. Thách thức đối với Trung Quốc là làm thế nào để tránh xảy ra leo thang xung đột trên biển cùng một lúc cả ở phía Đông và phía Nam. Điều này có nghĩa là Trung Quốc phải ứng xử cẩn thận ở Biển Đông để tránh một cuộc đối đầu từ hai phía trên biển. Thứ ba và có lẽ quan trọng nhất là lãnh đạo cấp cao Trung Quốc đang có một thái độ tỉnh táo, coi sự phát triển kinh tế xã hội trong nước là nhiệm vụ trung tâm trong những thập kỷ tới. Giới lãnh đạo Trung Quốc tin chắc rằng, môi trường hòa bình ổn định đặc biệt là trong các nước láng giềng Đông Á là không thể thiếu cho sự phát triển kinh tế bền vững từ đó giữ vững tính chính danh của giới cầm quyền hiện nay ở Trung Quốc.

Trong bối cảnh chiến lược rộng lớn hơn này, Bắc Kinh đã theo đuổi, và có thể sẽ tiếp tục theo đuổi chính sách an ninh khá ôn hòa ở Biển Đông. Nhu cầu phát triển kinh tế xã hội trong nước, tầm quan trọng của Đông Nam Á trong tổng thể chiến lược quốc tế, và chính sách khu vực của Trung Quốc cùng với sức ép chiến lược từ các cường quốc lớn - đặc biệt là Hoa Kỳ- đã tạo thành “một chính sách ôn hòa có tính toán” của Trung Quốc ở Biển Đông như đã bàn ở trên.[28] Nhiều khả năng, những nhân tố đã khiến Trung Quốc áp dụng xu hướng hợp tác sẽ tiếp tục tồn tại và phát huy tác dụng. Không có dấu hiệu cho thấy Trung Quốc sẽ mạo hiểm hy sinh sự tăng trưởng kinh tế trong nước để tiến hành cách tiếp cận vũ lực đối với tranh chấp Biển Đông. Thậm chí, nhận thức về môi trường chiến lược của Trung Quốc gần đây về cơ bản chưa có gì thay đổi. Sách Xanh Châu Á – Thái Bình Dương 2010 do Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc xuất bản hồi tháng Tư kết luận rằng tình hình an ninh của Trung Quốc ở khu vực các nước láng giềng chưa được cải thiện chút nào.  Sách cho rằng việc các cường quốc ở Đông Á tăng cường nỗ lực kiềm chế Trung Quốc và sự lo ngại Trung Quốc của các quốc gia nhỏ hơn trong khu vực đang ngày càng tăng do “nhận thức sai lệch của họ về sự trỗi dậy của Trung Quốc”. Cuốn sách đề nghị Bắc Kinh nên đối phó với môi trường an ninh này bằng cách áp dụng những chính sách sau: tăng cường sức mạnh của Trung Quốc, ổn định quan hệ Trung – Mỹ, theo đuổi chính sách láng giềng tốt để mở rộng ảnh hưởng của Trung Quốc trong khu vực láng giềng, và xây dựng quyền lực mềm để cải thiện hình ảnh của Trung Quốc trong khu vực.[29] Việc các tàu tuần tra của Trung Quốc không sử dụng vũ lực đối với tàu cá của các nước khác trong cuộc tuần tra tháng Tư đã cho thấy Trung Quốc vẫn rất thận trọng trong những tham vọng mở rộng những lợi ích của mình. Mặc dù các hoạt động tuần tra ở khu vực Trường Sa (A: Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd) nay đã trở thành thường xuyên, Bắc Kinh vẫn có những biện pháp phòng tránh các cuộc đụng độ và những xích mích nhỏ có thể leo thang dẫn đến xung đột.[30]

Mặc dù còn ở quy mô hạn chế, thái độ ngày càng cương quyết của Trung Quốc có thể gây sức ép khiến các nước tranh chấp khác phải xem xét nghiêm túc hơn các cơ chế hợp tác, như hợp tác chức năng hay “cùng phát triển”. Sáng kiến về các kế hoạch cùng có lợi của Trung Quốc chắc chắn sẽ giúp thúc đẩy sự hợp lâu dài giữa các bên tranh chấp. Một ví dụ rõ ràng về thiện ý của Trung Quốc là việc phân định Vịnh Bắc Bộ giữa Trung Quốc và Việt Nam. Theo hiệp định Trung Quốc và Việt Nam lần lượt được 46,77 và 53,23 % diện tích Vịnh. Hai nước đã đồng ý thiết lập vùng đánh cá chung và cùng thăm dò các nguồn năng lượng dọc đường ranh giới.[31]  Ngày 16 tháng 11 năm 2006, CNOOC và PetroVietnam đã ký thỏa thuận cùng thăm dò trữ lượng năng lượng ở khu vực hai bên đã thống nhất trong Vịnh Bắc Bộ.[32] Việc phân định thành công Vịnh Bắc Bộ có thể là một ví dụ tốt cho việc Trung Quốc đang thúc đẩy những mục tiêu có thiện ý hơn ở Biển Đông.

Để thúc đẩy những thỏa thuận cùng có lợi, có một bước mà Trung Quốc cần cam kết là làm rõ hơn quan điểm về các yêu sách của nước này ở Biển Đông. Nhiều năm qua, Bắc Kinh đã đẩy mạnh chương trình “cùng phát triển” ở Biển Đông. Nhưng đồng thời, thỉnh thoảng Trung Quốc lại đòi hỏi rằng các quốc gia tranh chấp khác phải công nhận chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông như một điều kiện tiên quyết.  Như ta có thể hình dung, các quốc gia khu vực thẳng thừng từ chối chấp nhận điều kiện tiên quyết của Trung Quốc. Thật ra, điều kiện đòi phải thừa nhận “chủ quyền của tôi” của Trung Quốc là một chướng ngại lớn cho bất cứ chương trình “cùng khai thác” nào. Với sự đồng thuận đang xuất hiện giữa các học giả Trung Quốc về xác định đường chữ U cùng với những thực tiễn song phương và đa phương ở Biển Đông, Trung Quốc có thể xác định rõ hơn những hệ lụy của đường chữ U và bắt đầu triển khai một cách linh hoạt điều kiện “lãnh thổ của tôi”của nước này .


Nhiều nhà phần tích cho rằng tốt hơn, Bắc Kinh nên đưa ra lời giải thích rõ ràng về đường chữ U càng sớm càng tốt trong bối cảnh các nước yêu sách khác đã tuyên bố EEZ (vùng đặc quyền kinh tế) và thềm lục địa của họ ở Biển Đông và tích cực khai thác các nguồn dầu và khí thiên nhiên trong vùng biển này.[33] Các cuộc đàm phán đang diễn ra với Việt Nam về phân định vùng biển và khai thác tài nguyên ở nam Vịnh Bắc Bộ đã làm tăng thêm tính cấp bách của việc giải thích rõ ràng quan điểm về đường chữ U của Trung Quốc.[34] Các nhà phân tích Trung Quốc nhận thức được tầm quan trọng của việc thực thi quyền tài phán liên tục trên thực tế trong các cuộc phân xử quốc tế về phân chia quyền sở hữu các đảo. Họ cho rằng những cuộc tuần tra có tính chính thức năm 2009 phù hợp với mục tiêu củng cố quyền tài phán trên các đảo và vùng nước ở Biển Đông. Tuy nhiên họ cũng cảnh báo rằng Trung Quốc sẽ phải công bố đường cơ sở trên biển ở quần đảo Trường Sa (A: Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd) cùng với EEZ (vùng đặc quyền kinh tế) và thềm lục địa của nước này. Tất cả các biện pháp này đều cấp bách vì những cuộc tuần tra của Trung Quốc giờ đây đã trở nên thường xuyên, và sẽ phải dựa trên nền tảng pháp lý vững chắc. Không có những cơ sở pháp lý này, các đội tuần tra Trung Quốc khó có thể xác định được giới hạn tuần tra của họ để có những hành động phù hợp bảo vệ quyền lợi trên biển của Trung Quốc ở khu vực Trường Sa (A:Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd).[35]

Thay vì yêu sách toàn bộ khu vực Biển Đông, phần lớn các học giả Trung Quốc cho rằng Trung Quốc được hưởng “những quyền lịch sử” ở Biển Đông.[36]  Tranh luận nhiều năm giữa các học giả Trung Quốc đã đưa đến một cách hiểu rõ ràng hơn về nội dung “những quyền lịch sử” này. Trước hết, nhiều nhà phân tích Trung Quốc cho rằng Trung Quốc có ít cơ sở pháp lý để tuyên bố chủ quyền trên toàn bộ khu vực Biển Đông. Nói cách khác, “những quyền lịch sử” không có nghĩa là chủ quyền chính thức trên toàn bộ Biển Đông. Một nhóm các nhà nghiên cứu tại Vụ “Nam Hải” (Biển Đông – nd) của Cục Quản lý Nhà nước về Tài nguyên Biển (Trung Quốc) cho rằng đường chữ U nên chỉ biểu thị Trung Quốc sở hữu các đảo ở Biển Đông bởi vì đó là ý định ban đầu của chính quyền Trung Quốc năm 1947- 48 khi vẽ đường này. Họ tin rằng chỉ có quan điểm này mới phù hợp với những tuyên bố của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (PRC) và luật biển quốc tế hiện nay. Họ lập luận thêm rằng những lợi ích của Trung Quốc sẽ không bị thỏa hiệp quá nhiều vì nếu những hòn đảo này thuộc quyền sở hữu của Trung Quốc, chúng sẽ có lãnh hải, EEZ (vùng đặc quyền kinh tế), và thềm lục địa.[37] Li Linghua, một nhà nghiên cứu thuộc Trung tâm Thông tin Biển Nhà nước (State Ocean Information Center), cho rằng đường cơ sở của Trung Quốc ở Hoàng Sa (A: Paracel Islands, TQ: Xisha/Tây Sa – nd) không phù hợp với UNCLOS và Trung Quốc nên nghiêm chỉnh tuân theo những nguyên tắc của UNCLOS khi công bố đường cơ sở của quốc gia này ở Trường Sa (A:Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd).[38] Theo cách hiểu này, Trung Quốc sẽ yêu sách toàn bộ lãnh thổ trên các đảo và bãi đất khác, chấp nhận những điều khoản của UNCLOS cho vùng nước xung quanh các đảo và có “những quyền lịch sử” đối với các nguồn tài nguyên ngoài EEZ (vùng đặc quyền kinh tế) nhưng trong đường chữ U.[39] Tuy nhiên vẫn chưa rõ các nhà phân tích Trung Quốc sẽ giải thích “những quyền lịch sử” ở Biển Đông như thế nào.

Chính phủ Trung Quốc đã nhiều lần tuyên bố rằng nước này yêu sách chủ quyền trên khắp các đảo và quyền chủ quyền trên khắp vùng nước bao quanh chúng ở Biển Đông. Chưa rõ Trung Quốc sẽ xác định giới hạn của “vùng nước bao quanh” như thế nào. Trung Quốc cũng đệ trình bản đồ Biển Đông với đường chữ U lên Uỷ ban Ranh giới thềm lục địa của Liên Hợp Quốc năm 2009 mà không giải thích cơ sở pháp lý và những hàm ý của đường này. Điều này làm tăng thêm mối quan ngại rằng Trung Quốc sẽ áp dụng sự mập mờ có tính toán trong những yêu sách của nước này ỏ Biển Đông. Nếu Trung Quốc có thể tuyên bố rõ ràng hơn rằng nước này không đòi chủ quyền đối với toàn bộ Biển Đông, nước này có thể bỏ đi điều kiện “chủ quyền của tôi” để tiến tới “cùng khai thác”. Trên thực tế, Trung Quốc đã thể hiện sự linh hoạt đáng kể trong điều kiện “chủ quyền của tôi” của nước này. Các tuyên bố và hành động của Trung Quốc đã làm yếu đi đáng kể nền tảng mà dựa trên đó Trung Quốc có thể tuyên bố vùng Biển Đông nằm trong đường chữ U là một phần lãnh thổ truyền thống hay vùng nước lịch sử của Trung Quốc. Trong nhiều tuyên bố chính thức, Bắc Kinh chỉ yêu sách “chủ quyền và quyền chủ quyền trên khắp các đảo và vùng nước bao quanh” ở Biển Đông. Trung Quốc đã công khai tuyên bố rằng nước này sẽ cho phép tự do liên lạc quốc tế ở Biển Đông, bao gồm giao thông hàng hải, các chuyến bay trên vùng trời Biển Đông, và lắp đặt cáp quang và đường ống dẫn dưới đáy biển. Chương trình nghiên cứu địa chấn chung giữa Trung Quốc - Phi-líp-pin - Việt Nam, về cơ bản là một phần của sáng kiến “cùng phát triển”, không đòi hỏi công nhận chủ quyền của Trung Quốc trong khu vực đang nghiên cứu. Trung Quốc đã chấp nhận “cùng khai thác” trong EEZ (vùng đặc quyền kinh tế), thềm lục địa của nước này ở Biển Hoa Đông với Nhật Bản và trong Vịnh Bắc Bộ với Việt Nam; trong cả hai trường hợp, Trung Quốc không yêu cầu bên khác thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc như một điều kiện tiên quyết. Trung Quốc cũng dứt khoát bác bỏ đề xuất của Việt Nam coi Vịnh Bắc Bộ là vùng nước lịch sử trong khi đàm phán phân định ranh giới. Trung Quốc hiện đang đàm phán với Việt Nam về chương trình “cùng phát triển” trong khu vực phía nam của Vịnh Bắc Bộ, một bộ phận của Biển Đông.

Nếu Trung Quốc quả thực giải thích yêu sách lịch sử ở Biển Đông như các nhà phân tích đề xuất, nước này không cần phải nhấn mạnh việc thừa nhận “lãnh thổ của tôi” như một điều kiện tiên quyết để “cùng phát triển”. Việc nhấn mạnh “lãnh thổ của tôi” trái với quan điểm “gác tranh chấp”. Thật ra tất cả các bên tranh chấp khác cũng có thể bỏ đi quan điểm của họ về chủ quyền trong các đề xuất khai thác chung vì UNLOS quy định không nước nào có chủ quyền ngoài giới hạn 12 hải lý lãnh hải. Suy cho cùng kế hoạch “cùng phát triển” không liên quan đến các đảo. Nếu Trung Quốc đi tiên phong trong việc giảm yêu sách chủ quyền ở các vùng nước trên Biển Đông, nước này sẽ xóa bỏ đáng kể rào cản của kế hoạch “cùng phát triển”.

Quan điểm rõ ràng hơn của Trung Quốc về yêu sách ở Biển Đông và thiện chí thúc đẩy những mục tiêu có thiện ý của nước này, ví dụ trạng thái cùng có lợi thực sự, sẽ tạo điểu kiện thuận lợi cho các đàm phán nghiêm túc những đề xuất lớn đã được nêu ra. Xue Li, nhà phân tích chiến lược cấp cao của Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc, đề xuất một Tổ chức Phát triển Năng lượng Trường Sa gồm cả bảy bên tranh chấp cùng thăm dò và khai thác các nguồn năng lượng ở khu vực Trường Sa (A:Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd).[40] Một số học giả Trung Quốc cũng tin rằng thiết lập Vòng cung kinh tế Biển Đông sẽ là một ý tưởng hay.[41] Việc giảm hơn nữa vấn đề chủ quyền ở Biển Đông sẽ giúp đẩy nhanh tiến bộ trong việc hình thành Vùng Kinh tế Vịnh Bắc Bộ (Pan-Beibu), kế hoạch mà chính quyền Trung Quốc muốn đẩy mạnh.[42] Cùng phát triển và hội nhập kinh tế chặt chẽ hơn ở Biển Đông có thể giúp tăng cường hiểu biết, dần xây dựng sự đồng thuận thông qua hợp tác để một ngày trong tương lai, các bên có thể tìm ra những biện pháp thiết thực hơn để giải quyết dứt điểm một lần tất cả các vấn đề.[43] Thậm chí các bên còn có thể đưa những tranh chấp lên trọng tài quốc tế trong tương lai.

Kết luận

Tranh chấp Biển Đông là vấn đề cực kỳ phức tạp. Rõ ràng, trông đợi một giải pháp cuối cùng trong tương lai gần là không thực tế. Trong những năm qua, tranh cãi giữa các bên yêu sách chưa bao giờ dừng lại. Bất cứ bước đi nào của một bên, dù chỉ là hành động tượng trưng để thể hiện quyền tài phán trên thực tế hay khai thác các đảo hoặc các vùng nước cho mục đích kinh tế, đều dẫn đến những phản ứng ngoại giao mạnh mẽ từ các bên khác. Tuy nhiên, những xích mích thường xuyên không làm lu mờ sự thực là các nước liên quan đã kiểm soát khá tốt tranh chấp trong thập niên qua. Không xảy ra xung đột quân sự lớn nào, và thực tế đã có một số tiến triển tích cực trong khu vực. Rõ ràng là các bên liên quan vẫn muốn tìm kiếm những cơ chế hợp tác để cải thiện tình trạng an ninh căng thẳng trong khu vực. Điều này tạo môi trường khu vực thuận lợi để Trung Quốc đẩy mạnh hơn nữa các kế hoạch hợp tác ở Biển Đông.


Điều chắc chắn là, không bên nào sẽ dễ dàng từ bỏ yêu sách của mình ở Biển Đông. May thay, lãnh đạo các nước đã nhận ra nguy cơ xung đột leo thang và đã quyết định tìm các biện pháp để duy trì ổn định chung của khu vực. Cuối cùng thì những người ra quyết định chính trị sẽ phải nhận ra rằng không quốc gia nào có yêu sách hoàn hảo ở Biển Đông. Việc tất cả các nước yêu sách đều đồng ý rằng có tồn tại tranh chấp ở Biển Đông thể hiện rằng những yêu sách này là không hoàn toàn vô căn cứ. Điều này nên là nền tảng cho hợp tác lâu dài.


Trung Quốc chắc chắn sẽ đóng vai trò cốt yếu trong việc quyết định sẽ có chiến tranh hay hợp tác ở Biển Đông. Khi sức mạnh hải quân, khả năng thực thi luật pháp và lợi ích kinh tế biển của nước này tăng lên, Trung Quốc có thể trở nên cứng rắn hơn trong những năm tới. Những cuộc tuần tra của PLAN (Hải Quân Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc) trong Vịnh Ê-đen dường như đã góp phần làm tăng sự tự tin của Trung Quốc trong việc thực hiện chính sách cứng rắn hơn ở Biển Đông. Nhưng cùng lúc Bắc Kinh sẽ nhận ra rằng nước này còn có những lợi ích chiến lược và chính trị thậm chí quan trọng hơn cần tính đến. Hiện tại, chưa rõ Trung Quốc sẽ đòi hỏi quyền lợi ở Biển Đông như thế nào, nhưng rất có thể, giới lãnh đạo Trung Quôc sẽ thường xuyên thử phản ứng từ các bên để tiếp tục hành động một cách phù hợp. Sự biểu hiện cũng như sự gia tăng thái độ cương quyết của Trung Quốc có vẻ sẽ khiêm tốn và có giới hạn.


Cùng lúc, tâm lý bao trùm ở Trung Quốc là ủng hộ hợp tác để ổn định Biển Đông. Trung Quốc đang tăng cường khả năng để đối phó với những vấn đề an ninh phi truyền thống trong vùng biển. Nước này có thể đóng vai trò tích cực hơn trong tất cả các thách thức an ninh phi truyền thống ở Biển Đông. Trung Quốc có thể nỗ lực hành động đơn phương trong vấn đề này nếu các nước khác ngần ngại tham gia. Thật ra, Trung Quốc thậm chí có thể cố lấy lý do ngăn chặn các mối đe dọa an ninh phi truyền thống để thúc đẩy lợi ích của nước này ở Biển Đông. Sự chủ động của Trung Quốc ở Biển Đông có thể tạo ra tình thế tiến thoái lưỡng nan cho các nước khác. Các nước này có thể chống lại những những động thái cứng rắn của Trung Quốc, đơn phương hay đa phương hoặc thậm chí với sự hỗ trợ của một số cường quốc bên ngoài. Hậu quả của việc này sẽ làm trầm trọng thêm tình hình an ninh ở Biển Đông và ảnh hưởng xấu đến quan hệ giữa Trung Quốc và Đông Nam Á. Các nước này cũng có thể chọn tham gia với Trung Quốc để cùng giải quyết những thách thức khác nhau trên biển và thậm chí có thể đồng ý khai thác chung các nguồn năng lượng và tài nguyên thiên nhiên khác ở Biển Đông.


Trong cả hai trường hợp, những động lực mới có thể xuất hiện ở Biển Đông. Trên phạm vi rộng, tình trạng an ninh cuối cùng ở Biển Đông sẽ được hình thành bởi những hành động của Trung Quốc. Sau một thập niên thực hiện chính sách an ninh ôn hòa ở Biển Đông, xây dựng sự đồng thuận về tính chất và phạm vi tuyên bố của mình, và xúc tiến những thỏa thuận cùng có lợi với những quốc gia láng giềng ven biển của nước này, giờ đây Trung Quốc đã có thêm khả năng và sự linh hoạt để đưa ra những chương trình có thiện ý hơn và thúc đẩy lợi ích chung ở Biển Đông. Nếu quan điểm hợp tác trội hơn ở Trung Quốc, và các quốc gia khu vực thấy có lợi hơn khi hưởng ứng tích cực những đề xuất hợp tác, chúng ta có thể hy vọng rằng hòa bình và ổn định ở Biển Đông sẽ được duy trì ít nhất là trong thập kỷ tới.


Li Mingjiang là phó giáo sư của Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam, Đại học Công Nghệ Nanyang, Xin-ga-po. Lĩnh vực nghiên cứu chính của ông gồm sự trỗi dậy của Trung Quốc trong bối cảnh quan hệ khu vực Đông Á và Quan hệ Trung - Mỹ, lịch sử ngoại giao Trung Quốc, các nhân tố nội bộ trong việc hình thành các chiến lược quốc tế của Trung Quốc. Ông nhận bằng Tiến sĩ Khoa học Chính trị tại Đại học Boston. Ông đã từng học tại Đại học Ngoại Giao (Bắc Kinh) và Trung Tâm Hopkins-Nanjing. Ông cũng đã từng là phóng viên ngoại giao cho Tân Hoa Xã từ năm 1999 đến 2001. isjli@ntu.edu.sg

Li Ming jiang, phó giáo sư của Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam, Đại học Công Nghệ Nanyang, Xin-ga-po.

Người dịch: Nguyễn Văn Bình

Hiệu đính: Hoàng Thị Tuấn Oanh

Bản gốc tiếng Anh "China’s South China Sea delimma- Balancing sovereignty, development and security"

Bài viết trích trong " Security and International Politics In the South China Sea ", Chủ biên: Sam Bateman, Ralf  Emmers, năm 2009.

Đề nghị chỉ được dẫn đường link mọi thông tin, bài viết  trên www.nghiencuubiendong.vn, không đăng lại khi chưa có sự đồng ý của Ban Biên tập NCBĐ.



[1] Christopher R. Hughes, ‘Nationalism and Multilateralism in Chinese Foreign Policy: Implication for South East Asia’, The Pacific Review, tập 18, số 1 (2005), tr. 119-35; Ronald C Keith, ‘China A Rising World Power and its Response to “Globalization”’, The Review of International Affairs, tập 3, số 4 (2004), tr. 507-23.

[2] Xem Swee - Hock, Sheng Lijun, Chin Kin –Wa (eds), ASEAN- China Relations, Realities and Prospects (Singapore: ISEAS, 2005).

[3] Zou Keyuan, ‘Thi Sino-Vietnamese Agreement on Maritme Boundary Delimitation in the Gulf of Tonkin’ Ocean Development and International Law, số. 36 (2005), tr 14- 24.

[4] Sheng Lijun, ‘China- ASEAN Free Trade Area, Origins, Developments and Strategic Motivations’ ISEAS Working Paper, International Politics and Security Issues Series số 1 (Singapore: ISEAS, 2003); Ian Storey, ‘China-ASEAN Summit: Beijing Charm Offensive Continues’, China Brief , James Town Foundation, tập. 6 số 23 (22/12/2006)

[5] Tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông thường được viện dẫn như một bằng chứng để chứng minh viễn cảnh ngày tận thế của an ninh ở Đông Á; xem ví dụ: Aaron L. Friedberg, ‘Ripe for Revalry’: Prospects for Peace in a Multipolar Asia’, International Security, tập. 18, số. 3 (mùa Đông 1993-1994), tr 5-33.

[6] Về dự đoán này, xem Allan Collins, The Security Delimmas of  South East Asia (Basingstoke: Macmillan, 2000),tr.169.

[7] Cuộc phỏng vấn của tác giả với các quan chức Trung Quốc chỉ ra rằng nhiều cơ quan Trung Quốc đang thật sự tìm kiếm những đề xuất hợp tác có thể.

[8] Felix K.Chang, ‘Beijing’s Research in the South China Sea’, Orbis, tập. 40 số 3 (mùa hè năm 1996); Ralf Emmers, ‘The De-escalationg of the Spratlys Dispute in Sino- South East Asian Relations’, RSIS Working Paper, số .129 (6 / 6 / 2007).

[9] Tian Xinjian và Yang Qing, Zhonguo haiyang bao [China Ocean Neaspaper], 14 / 6 /2005.

[10] Xi Zhigang, ‘Zhongguo nanhai zhanlue xin siwei’ [China’s New Thinking about South China Sea Issue], moulue tiandi [The Strategic Arena], số 2(2010), tr. 56-60.

[11] <http:/news.xinhuanet.com/mil/2010-04/06/content_13307981.htm> [Truy cập ngày 05 tháng 04/ 2010].

[12] Đây có thể là nhận thức sai của Trung Quốc. Nhiều nhà phân tích bên ngoài có thể đồng ý rằng ASEAN thực ra đã không hành động tập thể để đối phó với Trung Quốc trong trong vấn đề Biển Đông. Thất bại của Việt Nam trong việc đưa tranh chấp Biển Đông vào chương trình nghị sự chính thức tại Hội nghị Cấp cao ASEAN gần đây là một thí dụ tốt.

[13] Liu Zhongmin , ‘Lenzhan hou dongnanya goujia nanhai zhengce de fazhan doxiang yu Zhongguo de duice sikao’ [Developments and Trends in South East Asians Countries’s Souht China Sea’s Policies and China Responses ], Nanyang wenti yanjiu [Southeast Asian Affairs], số 2 (2008), tr. 25-34.

[14] Zhang Zhou, ‘Mei jie “kalate”yanxi, buju nan zhongguo hai’ [The US Making Plans in the South China Sea by Staging the CARAT Exercises], Huangqui junjunshi [Global Military Affairs], số 202 (tháng 07/2009).

[15] He Zhigong và An Xiaoping, ‘Nanhai zhengduan zhong de Meiguo yinsu jiqi yingxing’ [The US Factor in the South China Sea Disputes and its Impacts], dangdai yatai [Journal of Comtemporary Asia-Pacific Studies], số. 1 (2010), tr. 132-45; Cai Penghong, ‘Meiguo nanhai zhengce pouxi’ [Analysing American Policy Towards the South China Sea issue], Xiandai guoji guanxi [Comtemporary International Relations], số. 9 (2009), tr. 1-7, 35.

[16] Lu Fanhua, ‘Shi xi nanhai wenti zhong de Meiguo yinsu’, [An Examination of theUS Factor in the South China Sea Problem], Dongnanya nanya yanjiu [Southeast Asia and South Asia Studies], số 4. 12/2009), tr. 6-10; CaiPenhong, [ Analysing American Policy To,wards the South China Sea issue]; Wang Chuajnian, Meiguo de nan zhongguo hai zhengce: lishi yu xianshi’ [ American South China Sea Policy: History and Reality], Waijiao pinglun [Diplomatic Affairs], số 6. (2009), tr. 87-100.

[17] Zhang Fengjiu, ‘Wo guo nanhai tianranqi kaifa qianjing’ [The Prospects of Natural Gas Exploitation in the South China Sea], Tianranqi gongye [The Natural Gas Industry], tập. 29, số 1 (02/2009), tr. 17-20.

[18] China Petroliun Newspaper, 23 tháng 1 năm  2009.

[19] China National Land and Resources Newspaper, 23 Tháng 11.

[21] Zhou Xhouwei, ‘Nan Zhongguo hai shengshui kaifa de tiaozhan yu jiyu’ [Challenges and Opportunities for Deep Water Exploitation in the South China Sea], Gao keji yu canyehua [High Tecnology and Industrialisation], tháng 12/2008, tr. 20-3.

[22] Peter J. Brown, ‘China’s Navy Cruises into Pacific Ascandancy’, Asia Time, 22 /02/2010.

[23] Sự thật của tuyên bố này vẫn chưa rõ. Một quan chức quân sự cao cấp của Trung Quốc đã nói với tác giả trong một cuộc phỏng vấn rằng Người Trung Quốc đã thể hiện quan điểm này tại một hội thảo học thuật và hội thảo này không đại diện cho quan điểm chính thức của chính phủ về vấn đề Biển Đông.

[24] <http://mil.huanqiu.com/china/2010-04/777498.html>[Truy cập ngày 14/04/2010].

[25] Xi Zhigang, [China’s new thinking on the South China Sea issue] (Tư tưởng mới của Trung Quốc về vấn đề Biển Đông).

[27] <http://mil.huanqiu.com/china/2010-04/777498.html> [Truy cập ngày 14/04/2010].

[28] Li Ming jiang, ‘Security in the South China Sea: China’s Balancing Act and New Regional Dynamics, RSIS Working Paper, số 149 (Tháng 02/2008).

[30] Những cuộc phỏng vấn của tác giả với nhiều cơ quan Trung Quốc phụ trách vấn đề biển.

[31] Wu Jiahui, et al., ‘Zhong Yue Beibuwan huajie shuangying jieguo dui jiejue nanhai huajie wenti de qishi’ [ The Win-Win Results in Sino-Vietnamese Tonkin Gulf Demarkation and the Iplications for Maritime Delimitation in the Souht China Sea], redai dili [Tropical Geography], tập. 29, số. 6 (11/2009)

[32] Xem website chính thức của CNOOC: <http://www.cnooc.com.cn data/html/news/2007-05-10/276149.html> [Truy cập 10/06//2010].

[33] Wang Yongzhi, etla., [A Comprehensive View of the South China Sea Dotted Line].

[34] Li Linhua, ‘Nanhai zhoubian guojia de haiyang huajie lifa yu shijian’ [Regioanl States Legistration and  Practice in Maritime  Demacation in the South China Sea], Journal of Guangdong Ocean University, tập.28, số 2 (04/2008), tr. 6-11.

[35] Li Jinming, ‘Nan hai jushi yu yingdui hanyangfa de xin fazhan’ [The Situation in the South China Sea and Responses to the Latest Developments in the International Law of the Sea], Nanyang wenti yanjiu [Southest Asian Affair], số. 4 (2009), tr. 12-9.

[36] Li Jinming, [South China Sea Disputes and International Law of the Sea], tr. 59; Zou Keyyuan, ‘Historic Rights in International Law and in China’s Practice’, Ocean Development & International Law, tập. 32 số 2 (2001).

[37] Wu Jiahui, et al., [The Win-Win Results in Sino-Vietnamese Tonkin Gulf Demarcation and the Implications for Maritime Delimiation in the South China Sea]. (Kết quả cùng có lợi của việc Phân định Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam - Trung Quốc và những ứng dụng để phân chia vùng Biển trong Biền Đông ).

[38] Li Linghua,  [Regional States’ Legislation and Practice in Maritime Demarcation in the South China Sea].(Luật pháp và việc áp dụng luật pháp của các quốc gia khu vực trong việc phân giới biển ở Biển Đông).

[39] Jia Yu, [The Legal Stutus of the Dotted Line in the South China Sea]. (Tình hình pháp lý của Đường đứt  đoạn ở Biển Đông).

[40] Xue Li, ‘Nansha nengyuan kaifa zuzhi: nanhai wenti de chulu’ [Spratly Energy Development Organisation: a Solution for the South China Sea Issue], Shangwu zhoukan [Business Weekly], 20/06/2009, tr. 60-2.

[41] Yu Wenjin, et al., ‘Nanhai jingji quan de tichu yu tantao’ [A Proposal and Analysis of the South China Sea Economic Circle], Diyu yanjiu yu kaifa [Areal Research and Development], tập . 27, số 1 (02/2008), tra. 6-10.

[42] Để có nghiên cứu chi tiết về Vùng Kinh tế Vịnh Bắc bộ, xem Gu Xiaosong and Li Mingjiang, ‘Beibu Gulf: Emerging Sub-regional Integration between China and ASEAN’, RSIS Working Paper, số. 168 (01/2009).

[43] Li Guoxuan, ‘Nanhai gongtong kaifa zhiduhua: neihan, tiaojianyu zhiyue yinsu’ [The Institutionalisation of Joint Development in the South China Sea: Scope, Conditions, and Constraints],  Nanyang wenti yanjiu [Southeast Asian Affairs], số .1 (2008), tr. 61-8; Li Guoqiang, ‘Dui jiejue Nansha qundao zhuquan zhengyi jige fang’an de jiexi’ [An Analysis on the Proposals for the Solution of  Sovereignty Disputes over the Spratly Islands], China’s Borderland History and Geography Studies, số. 3 (2000), tr. 79-83.

 

Bài viết của PGS. Li Ming Jiang, Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam, Đại học Công Nghệ Nanyang, Xin-ga-po,  nêu lên quan điểm của Trung Quốc đối với tầm quan trọng của Biển Đông. Sau đó, bài viết đánh giá những thay đổi trong chính sách của Trung Quốc đối với vấn đề Biển Đông trong thập niên vừa qua

 

Trung Quốc đáng được xem là bên quan trọng nhất trong tranh chấp Biển Đông. Tính chất và phạm vi yêu sách của Trung Quốc, tình hình an ninh, các hoạt động quân sự và kinh tế của nước này trong khu vực luôn tác động sâu sắc đến diễn biến tranh chấp trong những thập niên qua. Bài viết này thảo luận về cuộc tranh cãi xung quanh chính sách của Trung Quốc đối với vấn đề Biển Đông. Nghiên cứu cho thấy sự cân bằng giữa thái độ ngày càng cương quyết và mong muốn hợp tác của Trung Quốc sẽ trở thành một thách thức trong việc hoạch định chính sách [đối với Trung Quốc và các bên tranh chấp khác].

Trung Quốc đáng được xem là bên quan trọng nhất trong tranh chấp Biển Đông. Tính chất và phạm vi yêu sách của Trung Quốc, tình hình an ninh, các hoạt động quân sự và kinh tế của nước này trong khu vực luôn tác động sâu sắc đến diễn biến tranh chấp trong những thập niên vừa qua. Dĩ nhiên, Trung Quốc sẽ vẫn tiếp tục là nhân tố chủ yếu của bất cứ diễn biến lớn nào ở Biển Đông trong tương lai gần. Do đó, việc hiểu những động thái có thể của Bắc Kinh trong tranh chấp là một yêu cầu chính đáng và rất quan trọng.

Bài viết này mô tả và phân tích những quan điểm và xu hướng mới đang xuất hiện ở Trung Quốc liên quan đến vấn đề Biển Đông, đặc biệt là sự tương tác giữa thái độ ngày càng cương quyết và những nỗ lực thúc đẩy các biện pháp hợp tác.[1] Trước tiên, bài viết điểm qua quan điểm của Trung Quốc đối với tầm quan trọng của Biển Đông. Sau đó, bài viết đánh giá những thay đổi trong chính sách của Trung Quốc đối với vấn đề Biển Đông trong thập niên vừa qua. Căn cứ vào thực tế rằng Trung Quốc  ngày càng tỏ rõ sự khao khát các nguồn năng lượng ở Biển Đông và nước này đang phát triển nhanh chóng tiềm lực hải quân, trong những năm tới có vẻ Bắc Kinh sẽ trở nên cương quyết hơn ở Biển Đông (ví dụ tuần tra thường xuyên và với mật độ dày hơn ở khu vực Trường Sa (A: Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd) và có các biện pháp mạnh hơn để bảo vệ quyền lợi của Trung Quốc trong khu vực). Nói chung, những biện pháp này được quân đội và các cơ quan thực thi pháp luật ủng hộ. Những hành động cứng rắn như thế của Trung Quốc chắc chắn sẽ gây ra những mối quan ngại mới trong các nước Đông Nam Á và dẫn đến các biện pháp đáp trả trong một bộ phận các quốc gia khu vực, có lẽ cùng với những hỗ trợ ngấm ngầm hoặc công khai từ các cường quốc bên ngoài. Tuy nhiên, trong bối cảnh những mối quan tâm chiến lược của Trung Quốc chủ yếu là Đông Á và các lãnh đạo nước này đang quan tâm nhất tới việc phát triển kinh tế quốc nội, nhiều khả năng Trung Quốc sẽ giới hạn hành vi của mình trong một chừng mực có thể để tránh leo thang  tranh chấp.

Trong khi đó, quan điểm chiếm ưu thế, được phe dân sự trong cộng đồng hoạch định chính sách đối ngoại ở Trung Quốc, gồm phần lớn các học giả ủng hộ, là giữ nguyên hiện trạng hoặc đẩy mạnh hợp tác hơn ở Biển Đông. Thật vậy, ngày càng có nhiều lời kêu gọi Trung Quốc đóng một vai trò tích cực hơn trong những chương trình hợp tác ở Biển Đông, như hợp tác đa phương về những vấn đề an ninh phi truyền thống và cùng khai thác các nguồn tài nguyên.[2]  Để đưa được các bên đang tranh chấp vào các chương trình hợp tác, Bắc Kinh sẽ phải thể hiện rõ hơn quan điểm của nước này trong tranh chấp và sẵn sàng chủ động thúc đẩy những đề xuất các bên cùng có lợi. Tôi nhận định trong bài này rằng Trung Quốc đã chuẩn bị tiến hành cả hai việc chủ yếu bởi vì đang xuất hiện sự đồng thuận trong cuộc tranh luận nội bộ về bản chất và phạm vi yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông cũng như những hệ quả pháp lý và chính sách từ chính những hành động mà Trung Quốc đã thực hiện đối với tranh chấp trong những thập niên qua.

Nhiều năm qua, Trung Quốc vẫn luôn than vãn rằng các bên tranh chấp khác đã không tích cực hưởng ứng đề xuất cùng phát triển của nước này ở Biển Đông. Có nhiều lý do dẫn đến sự thất bại này. Một phần là do thỉnh thoảng Trung Quốc lại đòi các bên khác phải công nhận điều kiện tiên quyết về “chủ quyền của chúng tôi”. Một phần khác là vì lý do kỹ thuật, ví dụ việc xác định các chương trình hợp tác cụ thể hay khả năng của các bên trong việc tiến hành hợp tác. Ngoài ra, tình hình chính trị nội bộ của nhiều bên cũng có tác động tiêu cực đối với việc thúc đẩy hợp tác đa phương ở Biển Đông. Liệu thái độ ngày càng cương quyết của Trung Quốc cùng với những nỗ lực trong việc thúc đẩy các chương trình hợp tác của nước này có tạo ra những động lực mới trong vấn đề tranh chấp Biển Đông phức tạp này không? Liệu các nước khu vực có cảm thấy sức ép từ Trung Quốc và hưởng ứng cách tiếp cận đang thay đổi của nước này bằng cách đánh giá nghiêm túc hơn các chương trình hợp tác hay họ sẽ đáp lại bằng các biện pháp chống trả quyết liệt  hơn?  Sẽ là mạo hiểm nếu đưa ra bất cứ câu trả lời rõ ràng nào cho những câu hỏi này bởi vì có quá nhiều điều bất định trong tranh chấp. Căn cứ vào diễn biến tranh chấp trong thập niên qua, tôi kết luận có hai xu hướng - sự cương quyết ngày càng tăng của Trung Quốc, chủ yếu gần như chỉ mang tính biểu tượng, và lợi ích ngày càng tăng trong việc thúc đẩy hợp tác – có khả năng tạo ra động lực mới trong tranh chấp Biển Đông. Trong những năm tới, Trung Quốc sẽ gặp phải thách thức trong việc làm thế nào để điều hòa giữa khuynh hướng thể hiện một lập trường ngày càng cương quyết hơn và thiện chí chính trị hợp tác hiện nay của nước này. Đây cũng sẽ là thách thức cho các nước Đông Nam Á có yêu sách trong việc đối phó với cách tiếp cận tranh chấp đang thay đổi của Trung Quốc.

Biển Đông trong Hoạch định Chiến lược của Trung Quốc

 Cũng như đối với các bên tranh chấp khác, các nguồn năng lượng ở Biển Đông có lẽ là điều hấp dẫn lớn nhất đối với Trung Quốc. Tuy nhiên, có lẽ khác với các các nước tranh chấp khác, Trung Quốc coi tầm quan trọng chiến lược của khu vực là dầu khí: các nhà phân tích Trung Quốc xem tài nguyên thiên nhiên ở Biển Đông như nhu cầu có tính quyết định đối với tương lai của nền kinh tế Trung Quốc. Kể từ khi trở thành một nước nhập khẩu ròng dầu lửa năm 1993, nhu cầu năng lượng của Trung Quốc luôn tăng. Tại cuộc họp của chính quyền trung ương về các vấn đề kinh tế ngày 29 tháng 11 năm 2003, chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào đã nhấn mạnh vấn đề an ninh dầu lửa của nước này. Ông kêu gọi các cộng sự của mình xem xét vấn đề năng lượng từ một tầm cao chiến lược mới, đưa ra một chiến lược phát triển dầu lửa mới và tiến hành các biện pháp hữu hiệu để đảm bảo an ninh năng lượng của Trung Quốc.[3] Biển Đông, thường được gán cho cái tên “Vịnh Ba Tư thứ hai” trong các báo cáo của Trung Quốc, được xem như một trong 10 nguồn cung dầu khí chiến lược quan trọng nhất của nước này.

Trong tình hình này, không có gì ngạc nhiên khi Trung Quốc tỏ ra khá khó chịu trước việc các nước tranh chấp khác khai thác tài nguyên năng lượng ở Biển Đông. Trung Quốc cho rằng bắt đầu từ những năm 1980 các nước tranh chấp khác đã lợi dụng tình trạng yếu kém về công nghệ và thiếu nguồn tài chính của Trung Quốc để đẩy mạnh nỗ lực khoan tìm các nguồn năng lượng trong khu vực. Các nhà quan sát Trung Quốc thường xuyên phàn nàn rằng các quốc gia tranh chấp khác đã xây dựng hơn một nghìn giếng dầu ở Biển Đông, và số lượng dầu khí các nước này sản xuất từ cá dự án này gấp vài lần sản lượng dầu khí ngoài khơi của Trung Quốc.[4] Các nhà phân tích Trung Quốc than vãn rằng thậm chí Bắc Kinh chưa xây dựng được một giàn khoan và sản xuất lấy được một thùng dầu nào ở khu vực Quần đảo Trường Sa (A: Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd). Họ thấy rằng thật trớ trêu khi trên thực tế Trung Quốc phải nhập khẩu một khối lượng dầu lớn của các nước đang bơm dầu lên từ Biển Đông.[5]

Còn một cân nhắc quan trọng nữa mà đối với Trung Quốc cũng là vấn đề chiến lược. Biển Đông kết nối Eo biển Ma-lắc-ca ở phía tây nam với Kênh đào Balintang, Kênh đào Bashi và Eo biển Đài Loan ở phía đông bắc, được coi như là “con đường huyết mạch” giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Các nhà phân tích Trung Quốc cho rằng Biển Đông có tầm quan trọng đặc biệt với Trung Quốc. Thứ nhất, Biển Đông được xem như tấm lá chắn tự nhiên đối với an ninh Trung Quốc ở phía nam. Các vùng miền nam Trung Quốc có đông dân và tương đối phát triển. Thứ hai, có một chỗ đứng vững chắc ở Biển Đông sẽ tạo cho vùng nội địa Trung Quốc một tuyến phòng thủ chiến lược hơn 1000 km, ý nghĩa an ninh của nó là không thể kể hết được.[6]

Uy thế về an ninh của Trung Quốc ở Biển Đông sẽ có tác dụng như một nhân tố kiểm chế đối với Hạm đội Bảy của Mỹ đang tích cực hoạt động ở Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương.[7] Thứ ba, về mặt địa lý, Trung Quốc bị bao quanh bởi chuỗi đảo phía đông. Trong bối cảnh Mỹ luôn có ý định duy trì sự hiện diện quân sự hùng mạnh ở Tây Thái Bình Dương, Bắc Kinh thấy rằng một chỗ đứng vững chắc ở Biển Đông ít nhất sẽ cho Trung Quốc thêm nhiều không gian di chuyển chiến lược hơn. Thứ tư, các nhà chiến lược Trung Quốc tin rằng, về địa chiến lược, Trung Quốc có thể bị tấn công từ cả đất liền và biển. Tính dễ bị tổn thương từ hai phía đã được cải thiện tới một mức độ nhất định sau khi Trung Quốc đã giải quyết các tranh chấp biên giới trên đất liền với tất cả các nước láng giềng của nước này, ngoại trừ Ấn Độ và Bu-tan. Họ cho rằng những thách thức đối với chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc trong tương lai sẽ chủ yếu đến từ biển, bao gồm Biển Đông.[8]

Kinh tế biển cũng là một nhân tố quan trọng trong các tính toán của Bắc Kinh. Nghành đánh bắt hải sản đã trở thành một phần quan trọng trong đời sống kinh tế người dân một số tỉnh duyên hải Trung Quốc tiếp giáp với Biển Đông, ví dụ Quảng Đông,  Hải Nam, và Quảng Tây. Bắc Kinh đã bắt đầu chú ý nhiều hơn đến phát triển kinh tế biển. Một nhà nghiên cứu cấp cao của Cục Quản lý Nhà nước về Tài Nguyên Biển [State Ocean Administration] chỉ ra rằng biển đã trở thành một khu vực quan trọng trong cuộc đua về sức mạnh quốc gia và lợi thế chiến lược dài hạn.[9] Trung Quốc đã nhận thấy rằng kinh tế biển của nước này chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong nền kinh tế tổng thể của nước này. Theo một nguồn thông tin của Trung Quốc, kinh tế biển chiếm 3,4 % tổng thu nhập quốc dân của Trung Quốc (GDP) năm 2002, thấp hơn nhiều các cường quốc biển phương Tây.[10]

Giống như các nước tranh chấp khác, Biển Đông cũng quan trọng với Trung Quốc vì có nhiều tuyến đường hàng không và các tuyến liên lạc hàng hải. Biển Đông  là cửa ngõ giao thông quan trọng ra eo biển Ma-lắc-ca, có vị trí rất quan trọng đối với an ninh năng lượng của Trung Quốc. Các nhà phân tích Trung Quốc thường đề cập đến một thực tế là khoảng bốn phần năm số lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc phải đi qua eo biển Ma-lắc-ca rồi sau đó đi qua Biển Đông.

Những Yêu sách Lịch sử của Trung Quốc ở Biển Đông

Như đã được biết đến rộng rãi trong cộng đồng học thuật, yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông chủ yếu chủ yếu dựa trên những nền tảng lịch sử.[11] Các nhà phân tích Trung Quốc chủ yếu biện luận rằng Trung Quốc là nước đầu tiên khám phá và sử dụng những hòn đảo và tài nguyên ở Biển Đông. Họ cho rằng tổ tiên của người Trung Quốc đã phát hiện ra những hòn đảo ở Biển Đông vào thời nhà Hán ở Trung Quốc, thế kỷ thứ hai trước Công nguyên. Vào thời Tam Quốc thế kỷ thứ ba, một đoàn sứ thần Trung Quốc đến Cam-pu-chia (lúc bấy giờ theo tiếng Trung Quốc gọi là Fu Nan - Phù Nam) đã có những mô tả vắn tắt về Hoàng Sa (A: Paracel Islands, TQ: Xisha/Tây Sa – nd) và Trường Sa (A: Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd) trong một cuốn sách bằng tiếng Trung Quốc. Dưới thời Tống và Nguyên (thế kỷ 10 - 14), nhiều tài liệu chính thức và không chính thức của Trung Quốc dường như chỉ ra rằng khu vực Biển Đông nằm trong đường biên giới quốc gia Trung Quốc. Trong thời Minh và Thanh, nhiều bản đồ chính thức tính cả Trường Sa (A: Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd) vào lãnh thổ Trung Quốc. Chính quyền nhà Thanh đã có hành động thể hiện quyền tài phán đối với Hoàng Sa (A: Paracel Islands, TQ: Xisha/Tây Sa – nd) trong những năm đầu thế kỷ 20.

Người Trung Quốc cũng thường tuyên bố rằng ngư dân Trung Quốc đã khai thác tài nguyên hải sản ở Biển Đông nhiều thế kỷ và giữ những bản ghi chép tỉ mỉ về các tuyến hàng hải và tên các hòn đảo, đảo nhỏ và các bãi ngầm ở Biển Đông. Nhiều ngư dân Trung Quốc đã sống và được chôn cất trên một số hòn đảo ở Trường Sa (A: Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd). Khi các nhà thám hiểm Nhật Bản bắt đầu đến Trường Sa (A: Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd) vào cuối những năm 1910 và kế tiếp là người Pháp vào đầu những năm 1930, họ đã bắt gặp một số ngư dân Trung Quốc ở Trường Sa (A: Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd) và rất nhiều bằng chứng cho thấy những ngư dân Trung Quốc này đã dùng những đảo này làm nơi cư trú thường xuyên. Các học giả Trung Quốc khẳng định rằng ngư dân Trung Quốc đã chống lại những nỗ lực chiếm đóng các đảo ở Trường Sa của người Pháp trong những năm 1930. Hành động của nười Pháp ở Biển Đông đã gây ra một phong trào dân tộc chủ nghĩa mạnh mẽ ở Trung Quốc. Chính quyền Trung Quốc đã lên tiếng phản đối Pháp trong những năm 1930. Và vào đầu những năm 1930, để đáp trả những hành động của người Pháp ở Biển Đông, chính quyền Trung Quốc đã bắt đầu tăng cường nỗ lực để quy định chính thức việc xuất bản các bản đồ Trung Quốc liên quan đến Biển Đông. Việc này cuối cùng dẫn tới một bản đồ chính thức về các đảo và bãi ở Biển Đông được xuất bản vào tháng 4 năm 1935. Người Nhật Bản kiểm soát Trường Sa (A: Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd) trong Chiến tranh Thế giới Thứ hai, nhưng Trung Quốc đã thu hồi lại Quần đảo Trường Sa (A: Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd)vào cuối năm 1946.[12]

Tháng 12 năm 1947 chính quyền Cộng hòa Trung Hoa xuất bản một bản đồ không chỉ định vị các quần đảo chính, các đảo và những những thực thể nổi trên mặt nước khác ở Biển Đông mà còn có đường mười một đoạn (còn được gọi là đường hình chữ U) bao quanh phần lớn Biển Đông. Đây là lần đầu tiên đường mười một đoạn xuất hiện trong một bản đồ chính thức của Trung Quốc. Tháng 2 năm 1948 chính quyền Trung Quốc xuất bản một bản đồ hành chính minh họa những yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông.[13] Các học giả Trung Quốc khẳng định rằng khi đường đứt đoạn được công bố lần đầu tiên, không nước nào phản đối về mặt ngoại giao.[14] Họ nói thêm rằng sau đó nhiều nước thậm chí đã xuất bản các bản đồ công nhận đường 11 đoạn của Trung Quốc.[15] Sau năm 1949, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (PRC) đã thừa hưởng đường 11 đoạn. Năm 1953, cố thủ tướng Chu Ân Lai đã quyết định bỏ đi hai đoạn trong vịnh Bắc Bộ và bản đồ Trung Quốc được xuất bản từ đó chỉ có đường chín đoạn ở khu vực Biển Đông.[16]

Chính phủ Trung Quốc chưa bao giờ chính thức giải thích những ý nghĩa pháp lý của đường chữ U, cũng không làm rõ phạm vi tuyên bố của mình ở Biển Đông. Nhưng có một điều rõ ràng là: Bắc Kinh coi đường chữ U như một trong những chứng cứ quan trọng nhất cho yêu sách lịch sử của Trung Quốc. Trên thực tế, các học giả Trung Quốc tranh luận khá mạnh cho quyền chủ quyền của Trung Quốc đối với những hòn đảo và các thực thể nổi trên mặt nước khác ở Biển Đông bằng cách đề cập đến đường chữ U. Về vấn đề mâu thuẫn có thể có giữa đường chữ U và Công ước Liên hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS), các nhà phân tích Trung Quốc vẫn giữ quan điểm rằng đường chữ U của Trung Quốc đã được công khai từ lâu trước khi xuất hiện luật biển quốc tế hiện nay (bao gồm UNCLOS), và cơ chế pháp lý luật biển quốc tế mới không nên phủ nhận những quyền trước đây của Trung Quốc ở Biển Đông. Họ cho rằng Trung Quốc nên được hưởng cả quyền pháp lý được quy định trong UNCLOS, ví dụ,  EEZ (vùng đặc quyền kinh tế) và thềm lục địa, cũng như những quyền lịch sử đối với khu vực nằm trong đường chữ U.[17] Họ biện luận rằng các bên yêu sách khác không nên đòi hỏi EEZ và thềm lục địa hay những hòn đảo và các thực thể nổi trên mặt nước khác trong đường chữ U của Trung Quốc. Họ cho rằng UNCLOS chỉ giải quyết việc phân định các vùng biển, nó không cung cấp bất cứ cơ sở pháp lý nào về những yêu sách trên đảo và những loại bãi khác trên biển. Họ lập luận rằng ý nghĩa lịch sử và pháp lý của đường chữ U chỉ ra rằng những hòn đảo trong Biển Đông đã là lãnh thổ Trung Quốc rồi và như vậy các quốc gia tranh chấp khác không có quyền sử dụng yêu sách EEZ (vùng đặc quyền kinh tế) hay thềm lục địa của họ theo các điều khoản UNCLOS để đưa ra bất cứ đòi hỏi nào về những hòn đảo trong đường chữ U.[18]

Đọc phần tiếp theo

 

Li Ming Jiang, Phó giáo sư  Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam, Đại học Công Nghệ Nanyang, Xin-ga-po

Người dịch: Nguyễn Văn Bình

Hiệu đính: Hoàng Thị Tuấn Oanh

Bản gốc tiếng Anh "China’s South China Sea delimma- Balancing sovereignty, development and security"

Bài viết trích trong " Security and International Politics In the South China Sea ", Chủ biên: Sam Bateman, Ralf  Emmers, năm 2009.


Đề nghị chỉ được dẫn đường link mọi thông tin, bài viết  trên www.nghiencuubiendong.vn, không đăng lại khi chưa có sự đồng ý của Ban Biên tập NCBĐ.



[1] Tác giả đã phỏng vấn trên 50 quan chức phụ trách vấn đề biển và các nhà phân tích gần gũi với giới hoạch định chính sách ở Bắc Kinh, Hải Nam, Quảng Châu, và Thượng Hải trong nửa đầu năm 2010. Dữ liệu thu thập từ những cuộc phỏng vấn này, cùng với rất nhiều các tuyên bố chính thức, những bài viết học thuật, được kết hợp phân tích trong bài viết này.

2 Ví dụ, Viện Nghiên cứu Biển “Nam Trung Hoa” [Biển Đông - dn] Quốc gia Trung Quốc ở Hải Nam, với sự hỗ trợ của Bộ Ngoại giao Trung Quốc, đã tổ chức một hội thảo quốc tế về hợp tác đa phương trong viêc đối phó với những  thách thức an ninh phi truyền thống ở Biển Đông vào tháng 5 năm 2010.

[3] Shi Hongtao, ‘Zhongguo de kunju’ [China Mallacca Dilema], China Youth Daily, 15 tháng 6, 2004.

[4] Dong Shaopeng, ‘Zhongguo weihu haiyang zhiyu de xin nuli’ [China’s New Efforts in Maintaining the Marritime Order], Gouji jinrong bao [International Finnacial News], ngày 2 tháng 9, 2005.

[5] Nu Anping, ‘Nanhai ziyuan zao zhoubian goujia fengkuang kaicai’[Spratlys’ Rerources Relentlessly Exploited by Neibouring States], Zhongguo canjing xinwen bao [China Industrial and Economic News], ngày 2 tháng 3, 2004.

[6] Hou Songling, ‘Zhongguo yu dongmeng guanxi zhong de bu wending yinsu-nansha wenti’ [A Destablilising Factor in China-Asean Relaions: Spratlys], Southeast Asia Studies, số 5/6 (2000).

[7] Những cuộc phỏng vấn của tác giả với nhiều giới chức quân sự  và nhà phân tích Trung Quốc.

[8]Liu Zhongmin, ‘Zhongguo haiquan fazhan zhanlue de ruogan sikao’ [Some Thoughts on the Development of China’s Marine Power], Jounal of Foreign Affairs University, tập. 80 (tháng 2, 2005).

[9] Sách đã dẫn.

[10] Sách đã dẫn.

[11] Các đoạn sau đưa ra một bản báo cáo tóm tắt một số điểm quan trọng trong bằng chứng lịch sử mà các tài liệu chính thức và các bài viết học thuật Trung Quốc thường sử dụng. Để xem xét lại một cách toàn diện tất cả những yêu sách xung đột, xem Marwyn S. Samuels, Contest for the South China Sea (Niu-ooc và Luân đôn; 1982); Mark J. Valencia, China and The South China Sea Disputes: Conflicting claims and potential solutions in the South China Sea, Adelphi Paper, số. 298 (Luân đôn: International Institute for Strategic Studies, 1995); Liselotte Odgaard, Marine Security between China and Southeast Asia (Burlington, VT: Ashgate, 2002).

[12] Chi tiết hơn về yêu sách lịch sử của Trung Quốc, xem Li Jimming, nanhai zhengduan yu guoli haiyang fa [South China Sea Disputes and Internatioanl Law of the Sea], (Beijing: Ocean Press, 2003), trang. 1-6;  Wu Shicun, zong lun nansha zhenduan [A Study on the South China Sea Dispute], (Haikou, Hainan Press, 2005), tr. 22-53.

[13] sách đã dẫn., tr.46-9.

[14]Một lý lẽ điển hình của các nước Đông Nam Á là họ vẫn dưới ách thống trị thuộc địa và do đó không có quyền lực chính trị để chính thức phản đối quan điểm của Trung Quốc vào thời điểm đó.

[15] sách đã dẫn., tr. 49; Li Jinming, [South China Sea Disputes and International Law of the Sea], tr.54.

[16] Wu Shicun, [A Study on the South China Sea Dispute],tr.49.

[17] Jia Yu, ‘Nanhai “duan xu xian” defalu diwwei’ [The Legal Status of the Dotted Line in the South China Sea], China Borderland History and Geography Studies, số. 2 (2005); Wang Yongzhi, et la., ‘Guanyu nanhai duan xu de zonghe taolun’ [A Comprehensive  Discussion of the South China Sea Dotted Line], Journal of Ocean University of China (Social Sciences Edition), số 3. (2008), tr. 1-5

[18] Gou Yuan, ‘dui nanhai zhengduan de gouji haiyang fa fenxi’) [An Analysis of the Application of International Law of the Sea on the South China Sea Disputes], beifang fa xue [Lagal Studies in the North], tập. 3, số. 14 (2009), tr. 133-8; Gou Yuan, ‘hezuo: jiejue nanhan wenti de bi you zhi lu’ [Cooperation: the inevitable approach to the solution of the South China Sea Disputes], China Border History and Geography Studies, vol. 3, số. 14 (2009), tr 127-35.

 

Một thời gian dài trong Chiến tranh Lạnh, hải quân Trung Quốc không là gì nhiều hơn một lực lượng tuần duyên tỉ mỉ. Ngày này, sự phân chia rõ ràng hơn đang diễn ra vì hải quân Trung Quốc nhấn mạnh chiến tranh tập trung vào công nghệ.

 

( Phần 1; Phần 2; Phần 3; Phần 4; Phần 5)

 

 

nh 15: Tàu tiếp nhiên liệu cứu hộ của MSA hoạt động gần với hai tàu Hải quân PLA. Duy trì hỗ trợ cho việc qua lại của tàu thuyền dọc những bờ biển sầm uất của Trung Quốc là nhiệm vụ chính của MSA. (Diễn đàn Quốc phòng Trung Quốc)

Trong số những thực thể giống như lực lượng tuần duyên, việc xem xét vai trò và nhiệm vụ, không tính đến nguồn lực, giữa một bên là lực lượng tuần duyên và một bên là hải quân như thế nào là điều tự nhiên và thích đáng. Nhà lý luận sức mạnh biển Geoffrey Till giải thích rằng mặc dù sự chồng lấn là không thể tránh khỏi và hợp lý, vẫn có số mô hình lực lượng tuần duyên có những mối quan hệ khác biệt với hải quân quốc gia. Till thấy rằng “Với sự mở rộng quan điểm về an ninh, có lẽ bị thúc giục bởi các sự kiện ngày 11/09, phạm vi chồng lấn tiềm tàng đang tăng lên theo nhiều hướng làm nảy sinh những vấn đề liên quan đến câu hỏi ai phải chịu trách nhiệm cho cái gì.” Ông giải thích thêm, một số quốc gia có hải quân và lực lượng tuần duyên với những nhiệm vụ riêng biệt đáng kể, trong khi ở những nước khác (thường là những nước nhỏ hoặc kém phát triển hơn) chính hải quân về cơ bản thực hiện chức năng như lực lượng tuần duyên, chủ yếu năng động trong các hoạt động tuần tra, quản lý bờ biển và các nhiệm vụ nghiên cứu và cứu hộ[108].

Các nhà phân tích của Trung Quốc đã ghi nhận đúng lúc rằng một số lực lượng tuần duyên, bao gồm USCG, đã can thiệp trầm trọng vào an ninh quốc gia. Ví dụ, một nhà phân tích hàng hải Trung Quốc ghi chú rằng lực lượng tuần duyên hùng mạnh của Nhật bản đảm nhiệm chức năng như một lực lượng dự phòng quan trọng cho hải quân Nhật bản[109]. Các tác giả của nghiên cứu của Viện Ning Ba quan sát thấy rằng Hoa Kỳ rõ ràng đã xem Lực lượng Tuần duyên của mình là một trong năm dịch vụ có trang bị vũ trang, nhiều lần sử dụng đơn vị này với nhiệm vụ chiến đấu.”[110] Những nhà phân tích này khá thẳng thắn khi tiên đoán vai trò quan trọng của các thực thể tuần duyên của Trung Quốc trong bất kỳ xung đột vũ trang nào trong tương lai: “Trong thời chiến, theo sự chỉ huy của hải quân, [các bộ phận tuần duyên của Trung Quốc] sẽ tháp tùng giao thông hàng hải, hỗ trợ kiểm soát giao thông hàng hải và cùng với các tàu đổ bộ, thực hiện nhiệm vụ chống tàu ngầm, bảo vệ hải cảng, cung cấp thủy thủ cho một số bộ phận trong hạm đội của hải quân và hỗ trợ trong quá trình hoàn thành công cuộc huy động quốc gia.”[111]

Một nhà phân tích chuyên môn từ trường Đại học Quốc phòng của Trung Quốc tranh cãi trong tháng 06/2009 rằng các tàu tuần duyên lớn của Trung Quốc có thể dễ dàng bị chuyển sang sử dụng trong chiến đấu viễn dương, trong khi các tàu tuần duyên nhỏ và trung bình có thể hỗ trợ bảo vệ bờ biển, đảm nhiệm những nhiệm vụ chẳng hạn như đặt bãi mìn[112]. Thuyền trưởng Moreland tương tự cho rằng “Cả lực lượng tuần duyên Trung Quốc và lực lượng tuần duyên Hoa Kỳ đều là các lực lượng hàng hải được trang bị vũ trang không thuộc các đơn vị của bộ quốc phòng của nước mình nhưng lại sẵn sàng hỗ trợ các cơ quan này tiến hành chiến tranh.”[113]Do đó, không có gì đáng ngạc nhiên khi thấy các đơn vị của Cộng đồng tuần duyên biển của Trung Quốc có quan điểm cứng rắn về các vấn đề chủ quyền và yêu sách biển: “Đài Loan trong nhiều khía cạnh nhất vẫn bị chi phối bởi các lực lượng bên ngoài… Từ khía cạnh này, đảo Đài Loan tạo thành một điểm trung tâm chiến lược quyết định vận mệnh tương lai của Trung Quốc… Trên biển cả, có nhiều quốc gia láng giềng có tranh chấp đảo và lãnh thổ đại dương với Trung Quốc. Những mâu thuẫn này tương đối lớn, và điều này có ảnh hưởng lớn đến không gian vận động ảnh hưởng trong nền chính trị, chính sách đối ngoại và các vấn đề quân đội của Trung Quốc.”[114]

Tuy nhiên, sẽ là một sai lầm khi xem các thực thể tuần duyên đang phát triển của Trung Quốc như những phụ tá đơn thuần cho Hải quân PLA. Một quan điểm thế giới chủ nghĩa hiển hiện rõ ràng trong nghiên cứu của Viện NinhBa: “Khởi xướng xung đột vũ trang [,] hoặc thậm chí chiến tranh hạn chế, cũng sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến toàn bộ khu vực và hệ thống thế giới, và không có lợi cho bối cảnh phát triển của đất nước.”[115] Hơn nữa, Viện Ninh Ba thuộc BCD, là một trong số ít các đơn vị được trang bị vũ trang trong số các thực thể tuần duyên của Trung Quốc; người ta có thể đoán chừng một cách logic rằng các đơn vị không được trang bị vũ trang (ví dụ như MSA hùng mạnh) ít có xu hướng tham gia các hoạt động bán quân sự. Một chiều hướng cũng hiển hiện trong nghiên cứu của Viện Ning Ba là các thực thể tuần duyên thực tế có thể cạnh tranh với hải quân của Trung Quốc để được cung cấp dự phòng. Ví dụ, các học giả này thất vọng thấy rằng “trong nước, nhiều học giả tin rằng sức mạnh biển là sức mạnh quân sự biển, và sức mạnh quân sự biển là hải quân.”[116]

Vấn đề cốt yếu đặt ra là khuynh hướng của hải quân Trung Quốc, mà rộng hơn là PLA, sẽ là gì để nâng cao khả năng tuần duyên trên biển. Dẫn chứng ban đầu, với hình thức là một bài báo trong số tháng 6/2008 của cơ quan Khoa học Quân sự Trung Quốc chính thức và đầy uy tín (中国军事科学) cho rằng PLA sẽ ủng hộ nỗ lực này; tác giả bài báo, đến từ trường Đại học Quốc phòng Trung Quốc, có niềm tin sâu sắc là năng lực giám sát trên biển mạnh hơn là một yếu tố trọng yếu trong một chiến lược biển mới của Trung Quốc.[117] Tháng 7/2009, một hoạt động nghiên cứu và cứu hộ quan trọng đã được tiến hành trong vùng lân cận của Vùng Châu thổ sông Châu Giang. Các nhà đồng tổ chức là Hạm đội Biển Nam của Hải quân PLA và chính quyền tỉnh Quảng Đông. Mười ba cơ quan, hai lăm tàu, và hai trực thăng đã tham gia vào hoạt động này với tên gọi là hoạt động Ba Chiều (“立体警民”) – nghĩa là quân đội, lược lương tuần duyên và nhân dân). Một ấn phẩm của Hải quân mô tả hoạt động này ghi lại rằng Trung Quốc đã thiết lập một hệ thống nghiên cứu và cứu hộ mới và mạnh nhưng than vãn rằng các vùng quân sự lại không được hợp nhất tốt thành một thể - vấn đề này thể hiện sự cần thiết phải tiến hành nhiều hơn các hoạt động như vậy.[118]

Ảnh 16: Tháng 7/2009, hoạt động nghiên cứu và cứu hộ quan trọng chưa từng diễn ra bao giờ với sự tham gia của các đơn vị hải quân và các thực thể hàng hải dân sự  (hai mươi lăm tàu và mười ba cơ quan) theo như đưa tin đã diễn ra tại Vùng Châu thổ Sông Châu Giang phía Nam Trung Quốc. (Hải Quân Hiện đại).

Xem xét lại hai mô hình thay thế của Till – phân chia rộng hay chồng lấn lớn – điều đáng lưu ý là Trung Quốc rõ ràng nổi lên từ truyền thống sau (chồng lấn). Một thời gian dài trong Chiến tranh Lạnh, hải quân Trung Quốc không là gì nhiều hơn một lực lượng tuần duyên tỉ mỉ. Ngày này, sự phân chia rõ ràng hơn đang diễn ra vì hải quân Trung Quốc nhấn mạnh chiến tranh tập trung vào công nghệ. Tuy nhiên, PLA cũng dần quan tâm hơn đến các vấn đề thường gây lo lắng cho các lực lượng tuần duyên, bao gồm nghiên cứu và cứu hộ, bảo vệ môi trường, và cướp biển, điều này nói lên rằng một sự phân chia rạch ròi về vai trò hoàn toàn không khả thi đối với Trung Quốc trong thời gian gần hay tương đối ngắn.[119]

Phần tiếp theo “Lý giải yếu điểm của năng lực giám sát trên biển của Trung Quốc" 

 

  Lyle J. Goldstein, Trường Cao đẳng Hải chiến Hoa Kỳ 

 

  Hiếu Minh, Ngọc Trang, Hà Tuyên (dịch)    

 Đỗ Thị Thủy (hiệu đính) 

 

 

Bản  gốc tiếng Anh "Five Dragons Stirring Up the Sea - Challenge and Opportunity in China's Improving Marritime Enforcement Capabilities ", Tạp chí Nghiên cứu biển Trung Quốc, số 5, tháng 4/2010, Trường Cao đẳng Hải chiến, Newport, Rhode Island, Hoa Kỳ

 

Đề nghị chỉ được dẫn đường link mọi thông tin, bài viết  trên www.nghiencuubiendong.vn, không đăng lại khi chưa có sự đồng ý của Ban Biên tập NCBĐ.

 

CHÚ THÍCH:

 


[108] Till, Sức mạnh về biển, trang 343–46.

[109] Bạch Tuấn Phong-Bai Junfeng, “Conception Regarding the Building of China’s Maritime Police,” trang 35.

[110] He Zhonglong cùng các cộng sự, Nghiên cứu về việc Phát triển Cảnh sát Biển của Trung Quốc, trang  4

[111] Như trên, trang 221. Bai Junfeng cũng khẳng định rằng cảnh sát biển của Trung Quốc trong tương lai cũng sẽ hỗ trợ Hải quân Trung Quốc trong thời chiến. Phân tích của ông liệt kê các sứ mệnh thời chiến có thể có như “hỗ trợ và tham gia cùng với hải quân khi triển khai chiến trận, hộ tống thông thương trên biển, bảo vệ cảng, bảo đảm an toàn cho các bến tàu, và hỗ trợ toàn bộ việc vận động dân cư.” Bai Junfeng, “Conception Regarding the Building of China’s Maritime Police,” trang 38.

[112]田承基 [Điền Thừa Cơ - Tian Chengji], “专家呼唤中国海岸警卫队保海洋权益” [Các chuyên gia kêu gọi thành lập “Cảnh sát biển của Trung Quốc” để bảo vệ quyền và lợi ích biển], 人民网 [Nhân dân nhật báo Internet], 21, tháng 6, 2009.

[113] Moreland, “U.S.-China Civil Maritime Engagement,” trang 4.

[114] Hà Trung Long - He Zhonglong  cùng các cộng sự, Nghiên cứu về việc Phát triển Cảnh sát Biển của Trung Quốc, trang 9.

[115] Như trên, trang 14. Một ý tưởng tương tự được nêu rõ trong Bai Junfeng, “Conception Regarding the Building of China’s Maritime Police,” trang 38.

[116] Hà Trung Long - He Zhonglong  cùng các cộng sự, Nghiên cứu về việc Phát triển Cảnh sát Biển của Trung Quốc, trang 213.

[117]孙景平 [Tôn Cảnh Bình - Sun Jingping], “新世纪新阶段海上安全战略断想” [Các chú ý trong Chiến lược An ninh Biển trong Giai đoạn mới của Thế kỷ mới], 中国军事科学 [Khoa học Quân sự Trung Quốc] (tháng 6, 2008), trang 77–78.

[118]菖学军 [Xương Học Quân - Chang Xuejun], “黄金水道: 上演立体大搜救” [Đường biển vàng: Giới thiệu tìm kiếm và cứu hộ đa phương diện], 当代海军 [Hải quân hiện đại] (tháng 8, 2009), trang 8–14.

[119] Xem, ví dụ, 于文献 [Vu Văn Hiến - Yu Wenxian], “怒海救援: 107 10级风浪中搜寻受困渔民记” [Cứu hộ từ một Biển nổi sóng: Báo cáo về việc tìm kiếm tàu đánh cá bị hủy hoại (distressed) của 107 tàu (Hải quân) trong bão mạnh cấp 10], 现代舰船 [Các tàu hiện đại] (tháng 4, 2007), trang 2–3. Xem thêm ảnh của cuộc tập ứng phó có cả quân-dân sự và được thực hiện bởi 章汉亭 [Trang Hán Đình - Zhang Hanting]trong 当代海军 [Hải quân hiện đại] (tháng 11, 2007), trang  44. Liên quan tới các thiên tai ở biển, xem bản của các tác giả từ Học viện Khoa học và Công Nghệ của PLA Nam Ninh, 郑晶晶, 徐迎, 金丰年[Trịnh Tinh Tinh - Zheng Jingjing, Từ Nghênh - Xu Ying, and Kim Phong Niên - Jin Fengnian], “‘卡特里哪飓风对防灾预案的启示” [Bài học rút ra từ việc phòng chống thảm họa trước “bão Katrina”], 自然灾害学报 [Tập san về Thiên tai] 16, số 1 (tháng 1,  2007), trang 12–16. Cũng cần phải chú ý rằng Hải quân PLA tiếp tục quan tâm đến các tàu khu trục và ca nô:谭正平 [Đàm Chính Bình - Tan Zhengping], “近海护卫舰正受各国海军青睐” [Các đội quân phòng vệ ven biển nhận được sự coi trọng của hải quân các nước - Inshore Frigates Are in the Good Graces of Every Navy], 当代海军 [Modern Navy] (April 2007), pp. 49–52.

 

 

Ngày 16/3/2010, trên tờ The Straits Times, nhà báo Peh Shing Huei đã có bài viết về sự tranh giành ảnh hưởng của Mỹ và Trung Quốc tại châu Á với nhan đề "Liệu Mỹ có thể tranh giành ảnh hưởng với Trung Quốc ở châu Á?". Nội dung bài báo như sau : 

 

 

 

 

Năm ngoái, khi Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ, Hillary Clinton tuyên bố với Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) rằng: “Chúng tôi đã trở lại”, mọi người điều hiểu đó là tín hiệu khẳng định, người Mỹ đang tìm cách thách thức sự gia tăng ảnh hưởng của Trung Quốc ở Đông Nam Á.

Trong nhiều năm, chính phủ Bush đã đưa ASEAN ra khỏi chính sách ưu tiên ngoại giao của Hoa Kỳ, người tiền nhiệm của bà Hillary Clinton, bà Condoleezza Rice đã bỏ qua Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN hai lần trong ba năm, trong khi đó, Bắc Kinh đang đạt tới vị trí quan trọng tại khu vực này. Các hoạt động thương mại đang bùng nổ giữa Trung Quốc và ASEAN. Các Viện Khổng Tử mọc lên như nấm tại nơi đây. Viện trợ nhân đạo cho khu vực đã được chính phủ Trung Quốc quan tâm phân phối từng phần.

Những từ ngữ mới liên quan tới mối quan hệ Trung Quốc và Asean, “Chinasean” dường như đang được nhắc tới nhiều hơn là những từ ngoại giao liên quan tới Trung Quốc.

Vấn đề được đặt ra là: liệu Mỹ có đủ sức mạnh và khả năng để cạnh tranh ảnh hưởng với Trung Quốc tại khu vực này?

Trung Quốc đã miệt mài nhằm “ve vãn” ASEAN trong suốt những năm Hoa Kỳ bận tham chiến tại Afghanistan và Irắc. Trao đổi thương mại giữa Trung Quốc-ASEAN tăng gần gấp bốn lần, từ 45,5 tỷ đô la trong năm 2001 lên $193 tỷ trong năm 2008, và đỉnh cao nhất là bước ngoặc của Hiệp định Thương mại Tự do Trung Quốc-ASEAN (CAFTA) có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2010.

Trung Quốc cũng đã cung cấp tổng số tiền viện trợ 25 tỷ đô la cho các quốc gia Đông Nam Á trong năm qua và “ngoại giao” với ASEAN bằng cách đưa 10 thành viên khối này dẫn đầu trong các tổ chức khu vực, như Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á.

Ngoài ra, Bắc Kinh cũng đã và đang chứng tỏ “quyền lực mềm” qua việc cung cấp học bổng cho sinh viên các nước ASEAN. Ước tính có khoảng 10.000 sinh viên Thái Lan hiện đang học tại Trung Quốc, theo Asia Times, con số này nhiều hơn tại Hoa Kỳ.

Và không giống như Washington, thỉnh thoảng gây áp lực đối với ASEAN để đẩy chính quyền quân phiệt Miến Điện ra khỏi nhóm, Bắc Kinh xem nước này là một trong những đồng minh của mình. Nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ mà ASEAN đang có, cũng chính là quan điểm của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Đầu tháng 3 này, lãnh đạo đứng thứ hai trong Đảng Cộng sản Trung Quốc, ông Ngô Bang Quốc, cũng nhắc lại quan điểm rằng, bất đồng giữa các quốc gia không nên là cái cớ để can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.

Lợi thế về địa lý cũng nghiêng về phía Trung Quốc, khi nước này có chung biên giới với Lào, Việt Nam và Miến Điện.

Tuy nhiên, vị trí địa lý cũng có thể là điểm bất lợi cho Trung Quốc, bởi nó có thể gây ra căng thẳng, và đó là cái cớ để Hoa Kỳ quay trở lại.

Ví như, Trung Quốc bị quy trách nhiệm liên quan tới mực nước hiện tại ở sông Mekong đang xuống quá thấp. Việt Nam, Lào và Campuchia cung cấp thông tin chống lại các con đập của Trung Quốc, và cho rằng chúng là nguyên nhân chính gây ra tai họa cho những nước này.

Hà Nội ngày đang ngày càng cảm thấy khó chịu về việc Trung Quốc gia tăng sự khẳng định chủ quyền ở biển Đông. Vào thời điểm cuối năm 2009, Trung Quốc đã tuyên bố rằng, họ dự định đưa quần đảo đang tranh chấp, quần đảo Hoàng Sa, thành một điểm du lịch hạng sang.

Myanmar, quốc gia coi Trung Quốc như một trong những đồng minh gần gũi nhất, cũng đang cảnh giác với Bắc Kinh sau cuộc đụng độ của những người đứng đầu chính quyền với nhóm người gốc Hán vào thời điểm cuối năm ngoái.
Ngay cả Hiệp định Thương mại Tự do Trung Quốc – ASEAN (CAFTA) cũng làm cho một số thành viên ASEAN không vừa ý. Các nước Indonesia, Malaysia, Thái Lan và Philippines đều có thái độ dè dặt về bản thỏa thuận, lo ngại rằng việc giảm thuế các sản phẩm Trung Quốc có thể sẽ làm cho các sản phẩm nội địa không thể cạnh tranh. Thậm chí Indonsia còn đang tìm cách đàm phán lại các thỏa thuận.

Lo ngại về Trung Quốc còn liên quan tới lĩnh vực quân sự, với một cuộc chạy đua vũ trang nổi lên trong khu vực mấy tháng qua, thêm vào những căng thẳng bên trong khối ASEAN trước mối đe dọa có thể thấy được về một Trung Quốc đang trỗi dậy.

Trong thời gian gần đây, cả Việt Nam và Myanmar đều ký những hợp đồng lớn về trang bị vũ khí với Nga, mặc dù có những lời chào mời nhiệt tình từ phía Trung Quốc - vốn dĩ đang muốn trở thành một nước xuất khẩu vũ khí. Trong khi Bắc Kinh thành công trong việc bán vũ khí cho một số nước ở châu Phi và Nam Mỹ, họ lại bị hạn chế bán vũ khí ở Đông Nam Á.

Myanmar đã ký một thỏa thuận trị giá 600 triệu đô la để mua 20 máy bay chiến đấu MIG-29 của Nga, chỉ hai tuần sau khi Phó Chủ tịch Trung Quốc, ông Tập Cận Bình đi thăm thủ đô Naypyidaw (Miến Điện) tháng 12 năm ngoái, một động thái được xem là mong muốn giảm bớt sự lệ thuộc vào Trung Quốc của chính phủ Miến Điện.

Mối lo ngại trong khu vực hiện nay đối với Trung Quốc là sự phản ánh về nỗi ám ảnh đối với quốc gia này trong hàng thế kỷ qua, đặc biệt là những năm tháng mà đế quốc này coi các nước trong khu vực như sân sau của mình.

Trong khi sự nồng ấm trong quan hệ với Trung Quốc mang lại lợi ích kinh tế cho khu vực Đông Nam Á, các nước láng giềng nhỏ bé ở phía nam Trung Quốc đã hơn một lần phải hứng chịu sự giận dữ của cườngq quốc này.

Những người Việt Nam đứng tuổi khó có thể quên, vào năm 1979, nhà lãnh đạo quá cố Trung Quốc, Đặng Tiểu Bình, đã đưa đội quân 250.000 người sang “dạy cho Việt Nam một bài học” vì đã xâm chiếm Campuchia. Và ngay cả đến tận bây giờ, người Việt Nam vẫn tổ chức kỷ niệm hang năm Lễ hội gò Đống Đa, đánh dấu chiến thắng của vị hoàng đế Việt Nam đối với quân xâm lược nhà Thanh – Trung Quốc năm 1789.

Các nước ASEAN còn lại cần nhớ một điều là Đảng Cộng sản Trung Quốc đã từng hỗ trợ cho cộng sản địa phương nổi loạn ở hầu hết các nước trong khu vực.
Tất cả quá trình lịch sử trên đã hướng ASEAN tới việc tìm kiếm một sự cân bằng quyền lực trong khu vực, vấn đề lớn nhất nằm trong thiện ý của Mỹ khi nước này tìm cách trở lại khu vực này:
Washington được các chủ nhà chào đón rất nồng nhiệt.

Thông điệp này đã được Bộ trưởng Cố vấn Singapore, ông Lý Quang Diệu, nói khá rõ vào thời điểm cuối năm ngoái tại Washington: “Quy mô của Trung Quốc rất khó cho tất cả các nước châu Á, kể cả Nhật Bản và Ấn Độ. Cho nên, chúng ta cần Hoa Kỳ để cân bằng quyền lực”.

Tấm thảm chào đón Hoa Kỳ đã được trải ra tại ASEAN. Chính phủ Obama đã thể hiện rằng họ muốn đóng một vai trò ở Đông Nam Á. Nhưng với hai cuộc chiến và một nền kinh tế đang phải khắc phục, người ta tự hỏi, liệu đây có phải là tham vọng nhưng “lực bất tòng tâm” đối với người Mỹ hay không?

 

 

(Asianews.it - 26/3). Lào - đất nước nhỏ bé tại châu Á - đang là tâm điểm chú ý của hai cường quốc là Mỹ và TQ. Mỹ muốn đẩy mạnh các chương trình phát triển trong các lĩnh vực môi trường, nhân đạo, thương mại và quân sự. Các đập thuỷ điện của TQ trên sông Mekong đang đe doạ hệ sinh thái của toàn thể ĐNÁ.

 Mỹ có ý định tăng cường hợp tác với Lào để kiềm chế sự bành trướng của TQ tại ĐNÁ. Sau nhiều thập niên nghi ngờ và không thông hiểu - một tàn tích của cuộc chiến tranh VN, Washington đã bắt đầu chương trình phát triển kinh tế song phương với Lào mà sẽ tập trung vào 4 lĩnh vực: bảo vệ môi trường trên sông Mekong; thúc đẩy thương mại; các chương trình trong lĩnh vực nhân đạo, kể cả việc phân loại những vùng đất còn nhiều bom mìn chưa nổ từ thời chiến tranh; hợp tác giữa quân đội hai nước với việc tập trung vào công tác đào tạo trong đó có việc giảng dạy tiếng Anh.

Chính quyền Viêng Chăn đã tỏ thái độ “cởi mở dè dặt” với các đề nghị của Mỹ. Theo phân tích đăng trên tạp chí Asia Times, đây là quyết định cần thiết để “tính tới sự ảnh hưởng ngày càng tăng của TQ tại Lào”. Một số người Lào chào đón quan hệ giữa đất nước nhỏ bé của mình và người khổng lồ châu Á, người mà đang chuyển vào Lào khối lượng hàng hoá và vốn đầu tư ngày một lớn. Tuy nhiên, mối đe doạ cụ thể về “sự thống trị của TQ” đang ngày một tăng và càng trầm trọng thêm bởi làn sóng tràn vào của người lao động TQ “đã đe doạ chủ quyền quốc gia của Lào”. Thêm nữa, ảnh hưởng của các đập thuỷ điện của TQ trên sông Mekong đang dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng về môi trường cho khí hậu cũng như hệ sinh thái của Lào.

VN cũng ủng hộ Washington và Viêng Chăn cải thiện quan hệ vì VN từ lâu là đồng minh thân cận nhất của Lào và VN cũng ngày càng quan ngại bởi sự lấn sân của TQ. Thực vậy, sau hai thập niên chiến tranh lạnh trong những năm 70 và 80 của thập kỷ qua, kể từ cuộc khủng hoảng châu Á năm 1977, Bắc Kinh đã bắt đầu các chương trình trợ giúp “hảo tâm” đối với Lào, kể cả viện trợ, cho vay với lãi suất thấp và trợ giúp kỹ thuật. Khác với các nước phương Tây, TQ không quan tâm tới các vấn đề nhân quyền với nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.

Để khởi động lại quan hệ Mỹ - Lào, giữa tháng 3 vừa qua, trợ lý NT Mỹ phụ trách Đông Á và TBD, ông Kurt Campbell đã tiến hành chuyến thăm Lào trong hai ngày. Ông đã nhấn mạnh thiện ý của TTh Obama muốn duy trì “mối quan hệ cao độ với Lào và cải thiện hợp tác nói chung với các nước ĐNÁ”.

So với TQ và VN, thương mại của Mỹ với Lào còn yếu kém. Do vậy Washington trong hai năm đã tăng gấp 4 lần khối lượng trao đổi thương mại với Lào, từ 15 triệu USD năm 2006 tăng lên 60 triệu USD năm 2008.

 

 

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 10232 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin