23 - 9 - 2019 | 14:55
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home
Tag:Trung Quốc

Đặt giả thuyết rằng Trung Quốc thực sự coi Biển Đông là “lợi ích cốt lõi”, bài viết của Toshi Yoshihara James R. Holmes, Đại học Hải chiến Mỹ, phân tích khả năng thành công của Trung Quốc trong việc bảo vệ “lợi ích cốt lõi” của mình tại Biển Đông. Khía cạnh mà tác giả tập trung phân tích chủ yếu nhằm vào năng lực quốc phòng của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA).

 

Có cảm giác quanh các báo cáo rằng Trung Quốc đã tuyên bố Biển Đông là “lợi ích cốt lõi” của quốc gia. Các quan chức cao cấp của Trung Quốc được cho là đã đưa ra khái niệm này trong một cuộc gặp kín vào tháng 3 năm 2010 với hai chức sắc của Mỹ, Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ James B. Steinberg và ông Jeffrey Bader, Giám đốc phụ trách khu vực Châu Á thuộc Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ.[1] Tiếp đó, trong bài phỏng vấn với Tạp chí “The Australian”, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã tiết lộ rằng đoàn đại biểu Trung Quốc đã tái khẳng định tuyên bố của Bắc Kinh trong Đối Thoại Chiến Lược và Kinh Tế Mỹ-Trung lần thứ 2 được tổ chức tại Bắc Kinh vào tháng 5 năm 2010.[2] Từ đó xuất hiện rất nhiều các tranh cãi về của ngữ cảnh cũng như nội dung chính xác của các phát biểu tại các cuộc họp đó.[3] Từ đó, các quan chức Trung Quốc đã kiềm chế công khai mô tả Biển Đông theo thuật ngữ chính thức và cứng nhắc đó.

Sự mơ hồ và tranh cãi xung quanh vấn đề này gợi nhớ đến một sự kiện tương tự cách đó 15 năm, khi khủng hoảng tại Eo biển Đài Loan lên tới đỉnh điểm. Vào thời điểm đó, một vị tướng của Trung Quốc đã nói với cựu đại sứ Hoa Kỳ, Chas Freeman rằng lãnh đạo Hoa Kì “nên lo cho Los Angeles hơn lo Đài Loan”. Phát biểu đó được cho là sự úp mở về một mối đe dọa hạt nhân.[4] Sự phủ nhận sau này của Trung Quốc về điều này đã tạo nên sự mập mờ về bản chất của cuộc đối thoại không chính thức này. Tuy nhiên, những sự kiện này cho thấy rằng Bắc Kinh thường khoanh đỏ những vấn đề mà họ coi là tối quan trọng đối với lợi ích của mình. Chúng cũng cảnh báo về việc xem các phát ngôn của Trung Quốc như thật.

Đặt giả thiết cho cuộc tranh luận rằng Trung Quốc coi vấn đề Biển Đông là “lợi ích cốt lõi” của quốc gia. Việc khẳng định lợi ích đó đã đặt tầm quan trọng của vùng nước đó lên mức dành cho các vùng lãnh thổ như Tây Tạng, Đài Loan và Tân Cương mà Trung Quốc xem như một phần lãnh thổ quốc gia không thể tách rời của họ và sẽ bảo vệ bằng mọi giá. Điều này cho thấy một mục tiêu chính trị với phạm vi đáng ngạc nhiên. Để bảo vệ “lợi ích cốt lõi” của mình, Trung Quốc có thể tăng cường các nỗ lực ngoại giao và quân sự ở mức cao nhất. Nhưng liệu Quân đội giải phóng nhân dân (PLA) có thể thực hiện điều đó và bằng cách nào?

Liệu Bắc Kinh có các phương tiện quân sự, chiến lược và tinh thần chiến đấu quả cảm để bảo vệ được lợi ích quan trọng này của quốc gia? Đánh giá khả năng hiện tại và những khả năng tiềm ẩn của Trung Quốc sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách và các nhà phân tích xác định liệu mục đích của Bắc Kinh tại Biển Đông có nằm trong khả năng các phương tiện quân sự của họ hay không. Nếu không, cần xác định thời gian và nguồn lực mà Trung Quốc phải đầu từ để có thể bảo vệ được lợi ích cốt lõi của mình. Đánh giá được điều này sẽ gợi ý các nước liên quan chủ yếu trong khu vực có thể đối phó như thế nào với chính sách ngày càng tham vọng của Trung Quốc mà không khiêu khích một sự phản ứng thái quá từ Bắc Kinh.

Phạm vi các mục tiêu chiến lược

Trước tiên cần xác định Bắc Kinh hàm ý gì trong cụm từ “lợi ích cốt lõi” và chỉ đạo chiến lược nào xuất phát từ lợi ích đó? Nếu lãnh đạo Đảng cộng sản Trung Quốc thực sự xử lí vấn đề Biển Đông như đã từng làm với Đài Loan thì có thể thấy rõ một số ngụ ý chiến lược sau:

Chủ quyền lãnh thổ là không thể chia cắt. Nếu lãnh đạo Trung Quốc coi chủ quyền trên biển không thể tách khỏi chủ quyển trên đất liền thì không thể để các tranh chấp về lãnh thổ không được giải quyết vô thời hạn.[5] Mặc dù Bắc Kinh đã có ý định gác lại các tuyên bố chủ quyền gây tranh cãi sang một bên vì mục đích khai thác chung nguồn tài nguyên thiên nhiên nhưng quan điểm của Trung Quốc về sự toàn vẹn lãnh thổ là bất khả xâm phạm. Vì thế dù thế nào thì Trung Quốc phải tìm được cách giải quyết cho vấn đề này.

Trung Quốc cần sức mạnh vũ trang để chiếm giữ các vùng lãnh thổ mà Trung Quốc đang có tranh chấp. Theo đó, nếu Biển Đông là lợi ích cốt lỗi cần được đảm bảo trong bất cứ hoàn cảnh nào thì Trung Quốc phải chuẩn bị những điều cần thiết nhằm đánh bại nỗ lực từ các nước bên ngoài để có thể biến nguyên trạng hiện tại thành một thực tế chính trị lâu dài. Bắc Kinh cần có đủ khả năng để chiếm giữ toàn bộ và nguyên vẹn tất cả vùng lãnh thổ đang có tranh chấp đồng thời ngăn cản ý định đảo ngược các lợi ích của Trung Quốc từ kẻ thù.

Trung Quốc phải áp đặt một trật tự mới trong khu vực. Để củng cố sự thống nhất quốc gia và bảo vệ tất cả các lợi ích cốt lõi của mình, Trung Quốc phải thiết lập một trật tự mới trong khu vực bất chấp những thách thức từ những nước láng giềng và các cường quốc bên ngoài. Nước này có thể thiết lập trật tự khu vực đó bằng sự đồng thuận hoặc ngoại giao cưỡng bức, tùy thuộc vào hoàn cảnh. Tuy nhiên để ngăn chặn các mối đe dọa đến trật tự mà Trung Quốc thiết lập, việc xây dựng một lực lương hải quân thống trị ở khu vực là điều khôn ngoan.

Những gợi ý này sẽ thúc giục các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc hướng tới quan điểm tối đa hóa lợi ích cốt lõi của quốc gia. Nếu Bắc Kinh hành động dựa trên các gợi ý này thì Biển Đông sẽ trở thành một cái hồ của Trung Quốc trong đó PLA chặn mọi đường vào của hải quân nước ngoài.

 

Một sự diễn giải khiêm tốn hơn căn cứ vào lịch sử Hoa Kỳ cũng có khả năng xảy ra. Một số người ở Trung Quốc xem Biển Đông, Hoa Đông và Hoàng Hải mà những người dân thường Trung Quốc gọi một cách đơn giản là ''Tam Hải” (ba vùng biển) hoặc ''Cận Hải'' (các vùng biển gần) theo cách tương tự mà những người Mỹ thế kỷ 19 xem biển Caribbean và Vịnh Mexico là hai khu vực mà Hoa Kỳ phải chiếm hữu để hiện thực hóa tiềm năng chính trị và thương mại của nước này.[6] Ngoại trừ một số ít các đảo chiếm từ Tây Ban Nha năm 1898, Washington không có tuyên bố lãnh thổ nào ở Caribbe hay vùng Vịnh và cũng không ngăn cản các tàu chiến của châu Âu tại khu vực này. Chính quyền Mỹ chủ yếu muốn ngăn chặn những nỗ lực của Châu Âu để có được các căn cứ Hải quân xuyên qua các làn đường biển dẫn đến eo đất Trung Mỹ, vị trí tương lai của một kênh đào xuyên đại dương.

Đó là chính xác là mục đích mà tổng thống Theodore Roosevelt muốn nói đến trong “Hệ luận” năm 1904 của ông đối với học thuyết Monroe. Roosevelt tuyên bố quyền hạn chế để can thiệp vào công việc của các quốc gia Caribe kém phát triển không có khả năng trả các khoản vay cho các ngân hàng Châu Âu. Các chính phủ Châu Âu thường gửi tàu chiến để chiếm các phòng thuế hải quan ở những quốc gia này để trả nợ cho những chủ nợ của họ. Để có thể làm như vậy, họ đã chiếm hữu lãnh thổ ven biển thuộc châu Mỹ nơi mà họ có thể biến thành căn cứ Hải quân dọc theo các làn đường biển Caribe. [7] Một viễn cảnh như thế là điềm xấu đối với các nhà chiến lược hàng hải Hoa Kì.

Tại sao việc chặn trước sự xâm nhập châu Âu quan trọng như vậy? Đối với nhà tư tưởng về sức mạnh biển Alfred Thayer Mahan, Eo đất (Isthmus) tạo nên một “cổng vào” Thái Bình Dương cho Hoa Kỳ ''.[8] Đào một kênh ngang qua Nicaragua hoặc Panama và bảo vệ các cửa ngõ hướng đến kênh đào đó là mối quan tâm lớn nhất của Mahan. Ông tiên đoán rằng '' các quốc gia thương mại táo bạo '' như nước Đức dưới thời Kaiser sẽ đấu tranh giành các thuộc địa có vị trí địa chính trị, như các đế quốc Tây Ban Nha và Anh đã làm trong nhiều thế kỷ.[9] Mahan cho rằng Hoa Kỳ bây giờ đặt lợi ích vượt trội lên eo đất này, do cả lợi ích thương mại đang phát triển ở vùng Viễn Đông và vì vị trí địa lý đặc biệt của nó mà đã cản trở '' sự liên lạc nhanh chóng và an toàn giữa hai vùng bờ biển của chúng ta''.[10] Đối với ông, sự lưu thông tự do vận tải quân sự và thương mại giữa bờ Đông và bờ Tây, và giữa Bắc Mỹ và Châu Á, tạo thành lợi ích cốt lõi của Mỹ tại Vùng vịnh và biển Carribe.

Để giữ vững lợi ích cốt lõi này, Mahan đòi hỏi lực lượng Hải quân Mỹ cần có 20 tàu chiến để có thể “chiến đấu, với những cơ hội chiến thắng hợp lý, lực lượng lớn nhất có thể được đem đến để chống lại nước này” ở các vùng biển phía Nam. [11] Một đội tàu “có khả năng tạo ra những cú đánh mạnh” và có thể giành lấy “quyền làm chủ trên biển” từ các đạo quân châu Âu được phái đến châu Mỹ.[12]

Biển Đông là câu trả lời của Trung Quốc cho Biển Carribe và Vùng Vịnh. Với vai trò là con đường biển quan trọng đến Ấn Độ Dương và eo Malacca, Biển Đông cũng khá giống với các biển nửa kín của Mỹ. Bán đảo Malay và quần đảo Sumatra nổi lên là một không gian địa lý, tạo nên một eo đất lớn, mà dưới con mắt của người Trung Quốc giống như eo đất đã từng ám ảnh Mahan. Và Biển Đông cũng giống như biển Carribe của Mahan, là một vùng biển mà chỉ có một quốc gia biển lớn là Trung Quốc bao quanh nó. Hai biển kín là Baltic và biển Đen, mà tiếp giáp với một cường quốc lục địa nổi bật là Nga, cũng đặt ra một tình huống tương tự. Liên Xô đã xây dựng một lực lượng hải quân mạnh để biến những biển trên thành của mình. Dường như các tình huống tương tự tạo ra các chiến lược tương tự.

NẾU TẬP TRUNG VÀO BIỂN ĐÔNG, TRUNG QUỐC CÓ THỂ XAO NHÃNG CÁC LỢI ÍCH Ở BIỂN HOÀNG HẢI VÀ BIỂN HOA ĐÔNG

Nhưng mà nước Mỹ cuối thế kỷ vẫn nằm rất xa khỏi các mối đe dọa từ các cường quốc chính khác. Nước này có khả năng để ngỏ bờ biển Thái Bình Dương hoặc Đại Tây Dương của mình ít nhiều không cần phòng thủ để tập trung năng lượng của mình vào một sự mở rộng kín đáo. Trung Quốc thì lại không có lợi thế này. Nếu nước này chỉ tập trung hải quân vào việc xử lý các tranh chấp ở Biển Đông thì sẽ có thể mất những lợi ích quan trọng ở biển Hoàng Hải và Hoa Đông. Bắc Triều Tiên vẫn tiếp tục gây phiền nhiễu ở ngay cửa ngõ biển của Trung Quốc. Đối thủ kình địch là Nhật Bản thì đang khoe mình với một đội tàu đẳng cấp thế giới và một vị trí chiến lược trên các con đường giao thông vận tải (sea lines of communication SLOCs) của Trung Quốc. Tình thế bế tắc trên eo biển Đài Loan vẫn bị kéo dài, lần lữa, đòi hỏi sự quan tâm chính sách của Trung Quốc. Cùng lúc đó, lợi ích biển ngày càng lớn kêu gọi sự chú ý của Trung Quốc đến các vùng biển bên ngoài Đông Á và đến các nhiệm vụ như chống cướp biển. Bắc Kinh không thể thờ ơ trước những vấn đề như vậy, những vấn đề có thể vắt kiệt các nguồn lực của các đội quân Đông Nam Á.

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây


Toshi Yoshihara, James R. Holmes 

PGS. về chiến lược trường ĐH Hải chiến Hoa Kỳ 

Quách Huyền (dịch) 

Đỗ Thủy (hiệu đính)

Bài viết đăng trên The Washington Quarterly, mùa xuân năm 2011 với nhan đề “ Can China Defend a “Core Interest” in the South China Sea? 


[1] Edward Wong “Chinese Military Seeks to Extend Its Naval Power,” New York Times April 23, 2010, http://www.nytimes.com/2010/04/24/world/asia/24navy.html.


[2] U.S. State Department, “Remarks by Secretary Clinton: Interview with Greg Sheridan of The Austraslian,” Melbourne, Australia, 8/11/2010 http:///www.state.gov/secretary/rm/2010/11/15067/htm.

[3] Để xem một số lý giải hợp lý về những vấn đề này, xem Carlyle A. Thayer, “Recent Developments in the Soouth China Sea: Grounds for Cautious Optimism?” RSIS Working Paper, số 220 (14/12/2010) trang 2-6, http://www.rsis.edu.sg/publications/WorkingPapers/WP220.pdf, và Michale D. Swaine, “China’s Assertive Behavior, Phần I: On ‘Core Interests’, “China Leadership Monitor số34 (Fall2010), trang 8-11, http://www.carnegieendowmenr.org/files/Swaine_CLM_34_1114101.pdf.

[4] John W. Garver, Face Off: China, the United States, and Taiwan’s Democratization (Seattle: University of Washington Press, 1997), trang 129.

[5] Trong khi bản chất thật sự của các yêu sách biến của Bắc Kinh vẫn đang được tranh luận thì thậm chí trong số các nhà phân tích Trung Quốc, một nhóm học giả xem Biển Đông là lãnh thổ có chủ quyền. Xem Peter A. Dutton, “Through a Chinese Lens,” Naval Institute Proceedings 126, số 4 (4/2010): trang 24-39. Ngoài ra, xét về quan điểm lịch sử, xem Andrew R. Wilson, “The Maritime Transformations of Ming China,” trong China Goes to Sea: Maritime Transformation in Comparative Historical Perspective, eds. Andrew S. Erickson, Lyle J. Goldstein, and Carnes Lord (Annapolis: Naval Institute Press, 2009), trang 235-287.

[6] Fareed Zakaria, From Wealth to Power. The Unusual Origins of America’s World Role (Princeton: Princeton University Press, 1998), trang 128-180.

[7] Dexter Perkins, A History of the Monroe Doctrine (Boston: Little, Brown, 1955), trang 228-275.

[8] Alfred Thayer Mahan, Naval Strategy, Compared and Contrasted with the Principles and Practice of Military Operations on Land (Boston: Little Brown, 1911), trang 111.

[9] Alfred Thayer Mahan, The Interest of America in Sea Power, Present and Future (1897; tái bản, Freeport: Books Libraries Press, 1970), trang 65-68.

[10] Nt, trang 78-83.

[11] Nt, trang 198.

[12] Alfred Thayer Mahan, The Influence of Sea Power upon History, 1660- 1783 (1890; tái bản, New York: Dover, 1987), trang 138; Mahan, Interest of America in Sea Power, trang 198; Margaret Tuttle Sprout, “Mahan: Evangelist of Sea Power,” trong Makers of Modern Strategy: Military Thought from Machiavelli to Hitler, ed. Edward Mead Earle (Princeton: Princeton University Press, 1943), trang 433.


 

Bài viết của GS. Baldas Ghoshal, Thành viên danh dự của Viện Nghiên cứu Hòa bình và Xung đột (Ấn Độ), nhìn vào cách tiếp cận của ASEAN đối với tranh chấp Biển Đông, kiểm định tính hiệu quả của ASEAN trong việc đối phó với các yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc, bên tranh chấp chính, và đánh giá triển vọng xoa dịu căng thẳng trong khu vực bằng những khuôn khổ pháp lý hiện hành.

Lời giới thiệu

Trọng tâm chính của bài viết là nhìn vào cách tiếp cận của ASEAN đối với tranh chấp Biển Đông, kiểm định tính hiệu quả của ASEAN trong việc đối phó với các yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc, bên tranh chấp chính, và đánh giá triển vọng xoa dịu căng thẳng trong khu vực bằng những khuôn khổ pháp lý hiện hành.

Tranh chấp quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa liên quan đến một số quốc gia thành viên của ASEAN, là Việt Nam, Ma-lai-xi-a, Philíppin và Bru-nei. In-đô-nê-xi-a không phải là một bên yêu sách trong tranh chấp, nhưng có một thời gian dài đóng góp tích cực vào việc thiết lập các phương thức xây dựng lòng tin với mục tiêu giảm bớt căng thẳng và tránh làm bùng phát bất cứ xung đột nào trong khu vực. Tuy nhiên, việc Trung Quốc gộp cả quần đảo Natura vào yêu sách của mình một vài năm trước đây đã khiến người In-đô-nê-xi-a thực sự bị sốc, họ đã tiến hành một cuộc tập trận lớn nhất xung quanh quần đảo Natura trong vòng ba tuần vào tháng 10 năm 1996 với sự góp mặt của hơn 19.000 binh sĩ, 50 tàu chiến và 41 máy bay bao gồm cả máy bay chiến đấu của ba quân chủng. Những thành viên còn lại của ASEAN dù không có bất kỳ sự liên quan nào đối với tranh chấp nhưng đều quan ngại về Biển Đông như một điểm bùng phát xung đột tiềm tàng ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.

Vì các quốc gia ASEAN tham gia ở các mức độ khác nhau vào tranh chấp và do vậy lợi ích của họ cũng không tương đồng, cho nên không có một cách tiếp cận chung của ASEAN đối với tranh chấp Biển Đông, mặc dù tất cả các quốc gia trong khối đều tán thành ý tưởng xây dựng lòng tin và lôi kéo Trung Quốc tham gia vào việc hạn chế tranh chấp và kiềm chế xung đột trong khu vực. Thực ra, mặc dù nói là đồng thuận và đoàn kết ASEAN, mỗi quốc gia thành viên đều theo đuổi chính sách riêng của mình, đặc biệt liên quan đến vấn đề Trung Quốc yêu sách gần như toàn bộ Biển Đông. Người ta thậm chí có thể lập luận rằng trên thực tế, các quốc gia ASEAN đã chia rẽ về cách tiếp cận của họ đối với Trung Quốc, cũng như về phương thức nhằm giảm bớt căng thẳng trong khu vực. Mỗi quốc gia thành viên nhìn nhận Trung Quốc từ góc độ lợi ích quốc gia của chính mình – do vậy Trung Quốc được đánh giá như một nguồn lợi ích kinh tế hoặc giả như một mối đe dọa. Kết quả là, vị thế của ASEAN trong vấn đề chiến lược và chính trị so với Trung Quốc là tương đối yếu. Để bù đắp sự yếu kém này, ASEAN thường xuyên sử dụng phương thức ngoại giao và cố gắng quốc tế hóa các vấn đề khu vực nhằm lôi kéo các cường quốc bên ngoài vào để cân bằng với một Trung Quốc đang trỗi dậy mạnh mẽ. Một chiến lược như vậy mang lại cho ASEAN một vị thế ngoại giao cao hơn như trong xung đột Cam-pu-chia trong thập niên 80 và đầu thập niên 90, giúp ASEAN có thể ngăn chặn được căng thẳng khu vực trong ngắn hạn; tuy nhiên ASEAN đã thất bại trong việc che dấu nhược điểm yếu cố hữu của mình trong việc đối phó với bá chủ khu vực - Trung Quốc.

Thứ hai, Trung Quốc hiểu sự chia rẽ của các quốc gia ASEAN trong cách tiếp cận đối với mình và tận dụng triệt để cơ hội này để khoét sâu thêm mâu thuẫn trong hàng ngũ ASEAN. Điều này thể hiện khá rõ từ sự chia rẽ sâu sắc trong quá khứ giữa Philíppin và Ma-lai-xi-a về đề xuất Bộ quy tắc ứng xử dành cho các thành viên của ASEAN và Trung Quốc bao gồm một loạt vấn đề từ tìm kiếm và cứu nạn cho tới khảo sát chung ở Biển Đông. Sau nhiều năm tin tưởng rằng không có gì đáng ngại về một Trung Quốc đang trỗi dậy, chính quyền Bắc Kinh quyết đoán hơn gần đây đang thực hiện chiến thuật chia để trị đối với các nước láng giềng ở Đông Nam Á của mình, tìm cách cô lập những bên yêu sách các quần đảo tranh chấp trong một khu vực nhiều dầu và khí đốt. Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì thừa nhận rằng “có những tranh chấp về lãnh thổ và quyền hàng hải” giữa Trung Quốc và một vài quốc gia láng giếng nhưng “những tranh chấp này không nên nhìn nhận như là một tranh chấp giữa Trung Quốc và cả khối ASEAN chỉ bởi vì các quốc gia có liên quan này là thành viên của ASEAN”. Phát biểu đó cho thấy Trung Quốc muốn chia cắt ASEAN thành một bên là các quốc gia có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc tại những đảo nhỏ trên Biển Đông là Philíppin, Việt Nam, Bru-nei và Ma-lai-xi-a, và bên kia là các quốc gia không có bất kỳ tranh chấp lãnh thổ nào như In-đô-nê-xi-a Thái lan, Lào, Cam-pu-chia, Mi-an-ma và Xinh-ga-po.

Thứ ba, vì các nước ASEAN không thống nhất trong lập trường của mình đối với Trung Quốc, tất cả các nước này dù là một cách riêng rẽ hay tập hợp đã đi trệch hướng vào các thời điểm khác nhau nhằm cố gắng theo đuổi một chính sách nhân nhượng lợi ích của Trung Quốc về vấn đề này. Trung Quốc chắc chắn có sức ép riêng của mình để đưa ra yêu sách đối với gần như toàn bộ Biển Đông và tiếp tục với “chính sách gặm nhấm dần dần” của mình, nhưng đồng thời cách tiếp cận có phần nhân nhượng của ASEAN có thể đã khuyến khích Trung Quốc theo đuổi điều mà cựu Bộ trưởng quốc phòng Philíppin Mercado những năm 90 gọi là chính sách “vừa đàm vừa chiếm”. Thậm chí thành công hạn chế ASEAN đạt được trong việc lôi kéo Trung Quốc tham gia vào các đối thoại khác nhau về vấn đề Biển Đông, như Đối thoại ASEAN – Trung Quốc, Hội thảo Biển Đông do In-đô-nê-xi-a tổ chức và sáng kiến Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), chủ yếu là vì Trung Quốc nhân nhượng các lợi ích thiết thân của ASEAN trong khi bảo lưu các vấn đề liên quan đến chủ quyền quốc gia và không can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác. Việc chuyển đổi công thức “quy trình ba bước” (xây dựng lòng tin, ngoại giao phòng ngừa và giải quyết xung đột) vốn được ghi nhận ban đầu trong mục tiêu của ARF để kiểm soát xung đột trong khu vực thành một mục tiêu cuối cùng mập mờ và hạn chế là “tìm hiểu thêm về các cách tiếp cận đối với xung đột” cũng như việc tái định nghĩa phương thức ngoại giao phòng ngừa trong hội nghị Nhóm công tác CSCAP tại Băng Cốc từ tháng 1-3 năm 1999 là những ví dụ minh họa cho thấy những nỗ lực của ASEAN trong việc đáp ứng sự nhạy cảm và lợi ích của Trung Quốc.

Trong bài viết này, chúng tôi muốn lập luận rằng chính sách của ASEAN trong việc lôi kéo sự can dự của Trung Quốc cũng như cách tiếp cận “mềm mỏng” và có phần nhượng bộ của họ đối với vấn đề Biển Đông chỉ đem lại những lợi ích tạm thời ở khía cạnh gác lại tranh chấp, nhưng không có hiệu quả trong việc kiểm soát xung đột hay kiềm chế xung đột leo thang trong tranh chấp ở Trường Sa. Những hành động của Trung Quốc ở Biển Đông trong hai thập kỷ qua chứng tỏ rằng Trung Quốc chỉ nói suông đối với tiến trình xây dựng lòng tin trên biển, điều mà ARF (Diễn đàn khu vực ASEAN), CSCAP (Hội đồng hợp tác an ninh khu vực Châu Á Thái Bình Dương), những tuyên bố và hoạt động ngoại giao khác nhau của ASEAN cũng như những hiệp định song phương với Trung Quốc đang cố gắng để đạt được. Trung Quốc từ lâu vẫn duy trì quan điểm không thỏa hiệp trong vấn đề chủ quyền đối với Biển Đông; nước này cũng không thật sự chân thành trong vấn đề khai thác chung các nguồn tài nguyên trong khu vực.

Căn nguyên của vấn đề là việc chồng chéo của hàng loạt yêu sách chủ quyền đối với hàng trăm hòn đảo và bãi đá. Việc kiểm soát khu vực đó có tác động quan trọng đối với tự do qua lại của tàu thuyền và rốt cuộc, việc triển khai các hoạt động đầu tư vào khí đốt tự nhiên và dầu sẽ không thể được thực hiện cho tới khi các vấn đề chủ quyền được giải quyết. Do đó, các bên tranh chấp đều cố gắng củng cố yêu sách của mình. Trong 53 đảo ở Trường Sa bị chiếm đóng bởi các bên yêu sách khác nhau, Trung Quốc chiếm 11; Philíppin chiếm 8, Ma-lai-xi-a chiếm 5, Đài loan chiếm 1, số đảo còn lại thuộc về Việt Nam. Các quốc gia yêu sách viện dẫn yếu tố lịch sử, địa lý và Công ước Luật biển của Liên Hiệp Quốc để hỗ trợ cho yêu sách của mình. Các nước yêu sách, dù không thường xuyên, đều cố gắng tăng cường khả năng phòng thủ trên các đảo mà mình chiếm đóng. Khi chưa có bất kỳ một giải pháp toàn vẹn nào, tranh chấp ở Trường Sa cuối cùng có thể sẽ dẫn đến những cuộc xung đột vũ trang, đặc biệt khi kết hợp với các vấn đề trên đất liền.

Tuy nhiên, các nhà phân tích quân sự cho rằng bất chấp sự tăng cường lực lượng đồn trú và triển khai các cơ sở hạ tầng để phòng thủ, không hòn đảo nào ở Trường Sa thực sự có khả năng phòng thủ xét về khía cạnh quân sự. Họ cũng chỉ ra rằng sự phối hợp quân sự giữa mỗi quốc gia yêu sách và các đảo mà họ chiếm đóng có thể bị gián đoạn bởi các vấn đề tiếp vận khá phức tạp. Do đó, việc phòng thủ ở các hòn đảo ở Trường Sa sẽ đặt các quốc gia chiếm đóng trước nhu cầu phải phát triển các năng lực triển khai sức mạnh. Điều này giải thích cho việc tại sao trong những năm gần đây, Trung Quốc đẩy mạnh phát triển năng lực hải quân viễn dương và xây dựng các hạm đội hiện đại phối hợp với các đơn vị trên bộ và trên không để chiến đấu bảo vệ chủ quyền trên biển của mình. Điều đó cũng phần nào giải thích tại sao Trung Quốc, kể từ năm 1994, tiến hành một số cuộc tập trận trên biển mặc dù nhiều lần biểu lộ ý định gác tranh chấp chủ quyền. Đối phó với những động thái này của Trung Quốc, các quốc gia ASEAN, một phần vì cân nhắc đến tình huống khủng hoảng có thể xảy ra do tranh chấp Trường Sa, đã chi tiêu cho quốc phòng và có các hoạt động hợp tác quân sự với phía Mỹ.

Chúng tôi cũng lập luận thêm rằng cách thức kiềm chế Trung Quốc không phải là  bằng việc bộc lộ những yếu kém của ASEAN và nhân nhượng những lợi ích thiết yếu của Trung Quốc ở Biển Đông, mà chỉ có thể là bằng một lập trường thống nhất và kiên định mà đã truyền tải một thông điệp như các ngoại trưởng ASEAN đã từng làm vào ngày 18 tháng 3 năm 1995 sau sự kiện Trung Quốc chiếm đóng Đảo Vành  Khăn bị phát hiện. Chỉ sau khi có tuyên bố đó, phía Trung Quốc đã không những đồng ý giải quyết đa phương với ASEAN mà còn thể hiện một chút linh hoạt đối với vấn đề. Chiến lược Châu Á của Trung Quốc là giải quyết song phương với tất cả các bên để qua đó có thể tối đa hóa lợi thế của một nước lớn trong những mối quan hệ không cân xứng. Nhưng mặt khác, với việc sử dụng lá chắn đoàn kết để thay thế cho sức mạnh quân sự, ASEAN đã buộc Trung Quốc phải giải quyết vấn đề với các thành viên của mình như với cả một khối thống nhất. Đồng thời Trung Quốc chấp nhận một cách tiếp cận mang tính hòa giải hơn. Ví dụ như, tháng 7 năm 1995, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc khẳng định rằng Trung Quốc không có lợi khi cản trở tự do lưu thông hàng hải ở khu vực Trường Sa và cho biết rằng nước này cảm thấy các vấn đề đều có thể được giải quyết mà không cần có trung gian hòa giải hoặc sự can thiệp nào từ bên ngoài. Thời gian sau đó, ASEAN đã không còn thể hiện được sự đoàn kết như trước đây bởi việc xung đột lợi ích quốc gia đã bắt đầu chia cắt ASEAN một lần nữa, đồng thời cuộc khủng hoảng kinh tế ở châu Á gây ra bất ổn trong các quốc gia thành viên cũng như bản thân ASEAN.

Tranh chấp Biển Đông và Chiếm đóng dần dần

Trước khi chúng ta đi sâu vào một số điểm đã nêu ở trên cần đề cập ngắn gọn về tranh chấp ở Biển Đông. Mặc dù Trung Quốc và Việt Nam là những bên tranh chấp chủ yếu trong cuộc chiến giành chủ quyền đối với các đảo cùng các bãi đá và đảo nhỏ ở xung quanh, Philíppin sau đó cũng đưa ra yêu sách đối với những hòn đảo giàu tài nguyên này, ngoài ra còn có những bên yêu sách khác như Đài Loan, Ma-lai-xi-a và Bru-nei. Tuy nhiên, trước những năm 1990, chỉ có Trung Quốc và Việt Nam đã từng đụng độ quân sự trong việc tranh chấp các đảo. Sử dụng các sự kiện lịch sử và những phát hiện khảo cổ để chứng minh cho những yêu sách của mình, hai nước có vụ đụng độ đầu tiên vào năm 1973 khi Trung Quốc chiếm đóng bằng vũ lực quần đảo Hoàng Sa từ một nước Việt nam cộng hòa đang rệu rã và yếu kém, đổi tên nó thành Tây Sa và sát nhập vào khu vực đảo Hải Nam. Tiếp theo vào năm 1988, đã diễn ra một cuộc đụng độ hải quân khốc liệt tại Đá Gạc Ma trong quần đảo Trường Sa. Tàu Trung Quốc đã bắn chìm một số tàu Việt Nam và gần 70 chiến sĩ hải quân Việt Nam đã hi sinh. Một vài năm trước sự kiện này, Trung Quốc phát động một cuộc tấn công trên bộ “để dạy cho người Việt Nam một bài học”. Năm 1992 Trung Quốc cũng đã thông qua luật về lãnh hải và vùng tiếp giáp của mình trong tuyên bố vào tháng 1 năm 1992 trong đó không chỉ nêu ra yêu sách đối với những quần đảo này mà Trung Quốc còn tự cho mình quyền đuổi bắt các tàu thuyền nước ngoài nếu bị bắt gặp vi phạm luật lệ và những quy định của Trung Quốc. Cũng trong năm đó, Việt nam đã cáo buộc Trung Quốc khai thác dầu bởi nước này đã nhượng quyền khai thác cho một công ty thăm dò dầu đến từ Denver, tập đoàn năng lượng Cretonne, trong một khu vực đang tranh chấp quanh Bãi Tư Chính, người Trung Quốc gọi là bãi Vạn An 21 (WAB 21). Thời điểm đưa ra thông báo về việc nhượng quyền của Trung Quốc đối với công ty Mỹ khá quan trọng bởi nó diễn ra cùng lúc khi mà đại diện của quốc gia yêu sách bao gồm những đại biểu từ Trung Quốc và các nước khác đang hội họp tại Jogjakarta dưới sự bảo trợ của Ngoại trưởng In-đô-nê-xi-a, để tìm ra một giải pháp khả dĩ cho vấn đề Biển Đông. Việc này đã khiến một học giả Ma-lai-xi-a bình luận rằng: “Dù hành động đó có ý làm mất mặt một vài bên nào đó hay không, nó đã để lại hệ quả rất xấu trong mối quan hệ giữa ASEAN và Trung Quốc”. Mặc dù phát sinh một số xung đột quân sự trong hai thập kỷ qua, vấn đề yêu sách chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa chưa đạt được bất kỳ kết quả rõ rệt nào. Khi thiếu vắng những đồng thuận khu vực rõ ràng, quy luật xa xưa “chân lý thuộc về kẻ mạnh” dường như đang thắng thế ở Biển Đông.

Việc Trung Quốc xâm phạm khắp Biển Đông dẫn đến xung đột trực tiếp với một quốc gia thành viên không thuộc phe cộng sản của ASEAN là Philíppin. Theo nguồn tin của Philíppin, ngày 8 tháng 1 năm 1995, lực lượng vũ trang Trung Quốc được tám tàu chiến yểm trợ đã chiếm Đá Vành Khăn, nằm cách khu vực Philíppin gọi là tỉnh Palawan 200 km, và cắm cờ Trung Quốc. Tháng 3 năm đó, quân đội Philíppin được huy động để đẩy lui và xóa bỏ mọi cột mốc của người Trung Quốc. Năm 1996, một tàu hải quân của Trung Quốc đã đấu pháo với một tàu chiến của Philíppin gần đảo Campones. Tháng 4 năm 1997 hải quân Philíppin phát hiện một tàu cao tốc và hai tàu cá của Trung Quốc trong khu vực Bãi Cạn Hoàng Nham, nơi mà Trung Quốc đang cố gắng thiết lập các công trình xây dựng. Trong năm 1998 và 1999, việc Trung Quốc một lần nữa xây dựng thêm các công trình trên Đá Vành Khăn đã làm gia tăng căng thẳng trong quan hệ giữa hai nước. Trung Quốc đã bác bỏ kháng nghị ngoại giao của Philíppin đối với các hoạt động xây dựng trên đảo, nhấn mạnh rằng đấy là một phần lãnh thổ của Bắc Kinh và đó là công việc sửa chữa đơn thuần nơi trú ẩn cho ngư dân bị hư hại bởi gió biển. Manila khẳng định đảo đá nằm bên trong khu vực đặc quyền kinh tế (EEZ) rộng 200 hải lý của mình theo Công ước Luật biển của Liên hiệp quốc đối với quốc gia quần đảo như Philíppin. Khu vực này nằm cách đảo Hải Nam, vùng lãnh thổ gần nhất của Trung Quốc khoảng 1100km. Trung Quốc đang làm mọi cách để giành được đất, cả về mặt thực tế lẫn chính trị, trong cuộc tranh giành Biển Đông.

Do vậy, dường như Trung Quốc đang theo đuổi một chính sách mà rất nhiều người hiện tại có thể mô tả là “gặm nhấm dần dần” – một chính sách từng bước thiết lập sự hiện diện lớn mạnh ở Biển Đông mà không cần đến sự đối đầu quân sự. Chính sách này tiến hành đồng thời hai chiến thuật chủ yếu để đạt được mục tiêu cuối cùng là ưu thế vượt trội ở Biển Đông. Chiến thuật đầu tiên là sử dụng phương thức ngoại giao trong đó Trung Quốc không ngần ngại nêu lập trường không thay đổi trong chủ quyền của mình đối với Trường Sa và chủ quyền đó không thể mang ra đàm phán, nhưng Trung Quốc cũng sẵn sàng tạm gác vấn đề chủ quyền, hợp tác với các bên yêu sách khác để tìm ra một giải pháp hòa bình cho tranh chấp dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế và cùng khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên với các bên khác. Chiến thuật thứ hai là sử dụng phương thức thiết lập sự hiện diện trên thực địa hoặc bản đồ đối với khu vực mà Trung Quốc yêu sách là của mình. Điều này bao gồm cắm các cột mốc lãnh thổ và, ở bất cứ nơi nào có thể, chiếm đóng những đảo đá chưa bị kiểm soát và xây dựng các công trình trên đó, giống điều họ đã từng làm trong vụ Đá Vành Khăn năm 1995 và 1999. Những cột mốc và công trình này được biểu thị trên bản đồ Trung Quốc để mô tả đường ranh giới của biển Trung Quốc và được viện dẫn như là điểm tham khảo trong các cuộc đàm phán song phương hoặc đa phương, kể cả trong hội thảo về Biển Đông được In-đô-nê-xi-a tổ chức. Để thể hiện cam kết của mình đối với luật pháp quốc tế, Trung Quốc cũng tuyên bố rằng nước này sẽ tuân thủ Công ước Liên hiệp quốc về luật biển (UNCLOS). Ví dụ, Tuyên bố chung giữa chủ tịch Trung Quốc và những người đứng đầu quốc gia/chính phủ của các nước thành viên ASEAN vào ngày 16 tháng 12 năm 1997 nói rõ “nhận thức rằng việc duy trì hòa bình và ổn định trong khu vực phục vụ cho lợi ích của tất cả các bên, họ cam kết giải quyết các bất đồng và tranh chấp thông qua các phương thức hòa bình, không viện đến đe dọa hoặc sử dụng vũ lực. Các bên liên quan đồng ý giải quyết tranh chấp liên quan đến Biển Đông thông qua phương thức thảo luận và đàm phán thiện chí theo luật pháp quốc tế đã được công nhận trên toàn cầu, bao gồm Công ước Luật biển 1982”. Điều thú vị là, khi bị các nước ASEAN gây sức ép chấp nhận một bộ quy tắc ứng xử để giảm bớt căng thẳng ở Biển Đông, Trung Quốc lập luận rằng tuyên bố chung này thích hợp đóng vai trò như chuẩn mực ứng xử. Tuy nhiên trên thực tế, kể từ năm 1982 Trung Quốc đã theo đuổi chiến thuật thứ hai với việc đặt các cột mốc lãnh thổ và chiếm đóng một số đảo đá.

Cách tiếp cận của ASEAN đối với tranh chấp Biển Đông

Đầu năm 1992, khi Trung Quốc đã là một đối tác đối thoại của ASEAN, ASEAN đưa ra vấn đề về Tuyên bố những quy tắc trên Biển Đông trong đó tổ chức ASEAN– chứ không phải là các quốc gia thành viên – thúc đẩy “tất cả các bên liên quan” có hành động kiềm chế nhằm tạo ra “một môi trường tích cực hình thành giải pháp cuối cùng cho mọi xung đột”. Mười năm sau đó, năm 2002, Trung Quốc ký,một văn kiện gọi là Tuyên bố về ứng xử giữa các bên ở Biển Đông với một khối ASEAN thống nhất, không phải chỉ riêng với những quốc gia có tranh chấp chưa được giải quyết với Trung Quốc. Kể từ đó, ASEAN và Trung Quốc xây dựng một “Bộ quy tắc ứng xử khu vực trên Biển Đông” nhưng một hiệp định dường như bị né tránh. Hiện tại, sau 19 năm đối thoại, cho rằng một khối ASEAN thống nhất không tham gia vào tiến trình là không đúng. Hơn nữa, Trung Quốc biết rằng các nước thành viên của ASEAN đã nhất trí rằng trước khi các quốc gia có tranh chấp lãnh thổ gặp gỡ để thảo luận với Trung Quốc về tranh chấp Biển Đông, tất cả 10 quốc gia thành viên sẽ gặp gỡ trước để tìm ra một lập trường chung. Các thành viên ASEAN nên biết rằng nếu riêng lẻ, sức mạnh của họ không đáng kể nhưng nếu đoàn kết lại thì họ sẽ có một sức mạnh chính trị ghê gớm. Hiệp định ký kết giữa Trung Quốc và ASEAN trong năm 2002 đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Năm ngoái, sau hội nghị thường niên của Diễn đàn khu vực ASEAN, với sự tham dự của các Ngoại trưởng từ 27 quốc gia, một tuyên bố được đưa ra trong đó các bộ trưởng “tái khẳng định tầm quan trọng của Tuyên bố cách ứng xử của các bên trên Biển Đông năm 2002 như là văn kiện mang dấu mốc quan trọng giữa ASEAN và Trung Quốc”. Bất chấp dấu ấn mang tính lịch sử này, ngoại trưởng Trung Quốc nhấn mạnh trong khi phản đối Bà Hillary Clinton rằng “Những quốc gia ASEAN không có yêu sách cho phía Trung Quốc biết rằng họ không phải là một phần của tranh chấp, họ không chọn bên và hy vọng rằng những tranh chấp này sẽ được giải quyết thông qua đàm phán song phương giữa các nước có liên quan”. Điều này giống như Trung Quốc đang cố gắng hướng một số nước thành viên của ASEAN chống lại chính tổ chức khu vực của mình, và chia cắt ASEAN thành hai khối.

Một khi các quốc gia ASEAN nhận ra rằng Trung Quốc đang quá khẳng định cái mà nước này mô tả là “lợi ích cốt lõi” và gộp cả Biển Đông vào trong đó thì họ sẽ không thờ ơ thêm nữa trước những vấn đề đang phá vỡ mối quan hệ của mình với Trung Quốc. Trước tiên, Ma-lai-xi-a và Việt Nam đưa ra một bản đệ trình chung vào mùng 6 tháng 5 năm 2009. Việt Nam đưa ra một bản đệ trình bổ sung vào mùng 7 tháng 5 năm 2009. Trung Quốc phản đối những bản đệ trình này. Philíppin phản đối bản đệ trình của Ma-lai-xi-a và Việt Nam, đưa ra một bản đệ trình một phần về một khu vực bên ngoài Biển Đông, cho rằng luật về đường cơ sở của mình phù hợp với các điều khoản của UNCLOS về đường cơ sở quần đảo. Trung Quốc và Bru-nei đã đệ trình thông tin sơ bộ. Bản đệ trình chung của Ma-lai-xi-a và Việt Nam kiến nghị rằng hai nước này có lập trường rằng quyền chủ quyền đối với những nguồn tài nguyên ở Biển Đông nên được xác định theo những nguyên tắc điều chỉnh thềm lục địa được tính từ bờ đất liền. Bằng cách không tính thềm lục địa hay khu EEZs của họ từ bất kỳ hòn đảo nào mà họ yêu sách trên Biển Đông, trên thực tế họ giữ lập trường rằng không hòn đảo nào ở Biển Đông được quyền có chiều rộng quá 12 hải lý – khoảng cách tối đa được cho phép theo UNCLOS. Thứ hai, các nhà lãnh đạo ASEAN đã vận động rất tích cực đối với phía Mỹ trong việc đảm nhận một vai trò tích cực trong việc duy trì an ninh cho các tuyến lưu thông hàng hải trên Biển Đông và do đó cũng là an ninh cho khu vực.

Sự quyết đoán của Trung Quốc và nỗ lực quốc tế hóa tranh chấp của ASEAN

Tranh chấp giữa Trung Quốc và ASEAN bùng phát công khai sau khi Ngoại trưởng Mỹ Bà Hilary Clinton, trong hội nghị thường niên của Diễn đàn khu vực ASEAN với sự tham dự của 27 quốc gia, bày tỏ sự ủng hộ của Mỹ đối với “quá trình ngoại giao hợp tác của tất cả các bên yêu sách nhằm giải quyết các tranh chấp lãnh thổ khác nhau trên tinh thần tự nguyện”. Kết quả là, rõ ràng có nhiều quốc gia, trong và ngoài ASEAN, hoan nghênh vai trò của Mỹ trong việc tạo ra đối trọng với Trung Quốc. Những nước phát biểu về vấn đề này không chỉ là những nước có yêu sách mà còn có cả các nước khác, như In-đô-nê-xi-a, Nhật Bản và Úc. Việc khẳng định rằng tranh chấp của Bắc Kinh chỉ với một số nước thành viên thay vì với cả khối ASEAN là rất khó phù hợp với những ghi nhận trong các văn kiện nêu trên. Trong khi yêu sách chủ quyền đối với gần như toàn bộ Biển Đông, Bắc Kinh đã đề xuất giải pháp hòa hoãn đối với tranh chấp thay vì thảo luận về khai thác chung các nguồn tài nguyên dưới biển. Để xoa dịu những quan ngại của khu vực, Trung Quốc đã ký một hiệp định bế tắc gọi là Tuyên bố về ứng xử của các bên trên Biển Đông với cam kết kiềm chế trong các hành động. Mục đích của việc làm này để hướng sự chú ý đi xa khỏi nỗ lực của Trung Quốc trong việc tăng cường kiểm soát quân sự đối với các vị trí mà nước này chiếm đóng và mở rộng đường ranh giới trên thực tế bằng việc ngăn cản các nước láng giềng đánh bắt cá trong các vùng biển tranh chấp hoặc khoan dầu ở vùng biển rất xa Trung Quốc. Trong năm 2007 và 2008, nước này thậm chí ngăn cấm BP và Exxon Mobil khoan dầu trong vùng biển ngoài khơi của Việt Nam. Trung Quốc thực hiện yêu sách bành trướng của mình đối với Biển Đông ở mức độ cao hơn bằng việc thách thức (năm 2009) một tàu khảo sát của hải quân Mỹ, tàu Impeccable, cách bờ biển của đảo Hải Nam Trung Quốc 75 dặm, mở rộng trên thực tế lãnh hải 12 hải lý của mình ra vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) 200 dặm. Phía Mỹ cho rằng theo Luật biển của Liên hiệp quốc, tàu hải quân của nước này có quyền tự do lưu thông qua vùng EEZ. Vào tháng ba, Trung Quốc nói với các quan chức cấp cao của Mỹ rằng chủ quyền của họ đối với Biển Đông là không phải bàn cãi và là một trong những vấn đề cốt lõi không được phép thỏa hiệp.

Sự khẳng định chủ quyền ngày càng tăng của Trung Quốc, cùng với việc tăng gấp đôi ngân sách quốc phòng càng làm gia tăng sự lo ngại ở Đông Á. Được khuyến khích bởi lợi ích mới mà chính quyền Obama đưa ra, các quốc gia trong khu vực đã lặng lẽ vận động Washington giữ một vai trò tích cực đối với các vấn đề của khu vực. Một phần bởi sự thúc giục từ ASEAN, phía Mỹ đã nối lại tiếp xúc với Mi-an-ma trong một thỏa thuận để thuyết phục nước này hướng tới cải cách dân chủ và thoát hẳn khỏi vòng tay của Trung Quốc. Kể từ khi giữ vai trò chủ tịch luân phiên ASEAN mùa hè năm ngoái, Việt nam đã có những cố gắng liên tục trong việc thu hút sự chú ý của Mỹ đối với mối đe dọa từ quyền lực Trung Quốc đang trỗi dậy ở Biển Đông; Ma-lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a, Philíppin cũng bày tỏ những quan ngại của mình với Washington. Một số nhà lãnh đạo Đông Nam Á tham dự hội nghị thượng đỉnh về An ninh Hạt nhân tại Washington tháng 3 năm 2010 đã tổ chức những cuộc hội đàm với Tổng thống Barack Obama và các quan chức cấp cao khác để bày tỏ những quan ngại của mình. Thượng nghị sĩ John Kerry, chủ tịch Ủy ban Quan hệ Đối ngoại của Thượng Viện, bày tỏ một cách công khai với Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng, người cũng tham gia cuộc gặp với Obama, rằng “Chúng tôi sẽ theo sát vấn đề một cách nghiêm túc. Nó liên quan trực tiếp đến tự do lưu thông hàng hải tại khu vực”.

Kết Luận

Những phân tích được đề cập ở trên cho thấy chính sách của ASEAN trong việc lôi kéo sự can dự của Trung Quốc và kìm chế cách hành xử của nước này ở Biển Đông chỉ thành công hạn chế trong phạm vi tạm gác lại xung đột. Cho đến nay, không một cơ chế nào trong ba cơ chế mà ASEAN áp dụng để chế ngự Trung Quốc – Đối thoại ASEAN - Trung Quốc, Hội thảo Biển Đông và ARF, mang lại một kết quả rõ ràng cho việc giải quyết vấn đề đã gây ra những căng thẳng trong khu vực. Như chúng tôi đã đề cập ở trên, căn nguyên của vấn đề là Trung Quốc và sự quyết đoán dần dần của nước này ở Biển Đông. Mục tiêu chính của ASEAN là khuyến khích Trung Quốc đồng ý giải quyết các tranh chấp một cách hòa bình và không chiếm đóng thêm các bãi đá và đảo ở khu vực tranh chấp Trường Sa. Đến nay, Trung Quốc chỉ nói suông với cả hai cam kết này. Nước này sử dụng cả phương thức ngoại giao và chiếm đóng thực địa để đẩy mạnh mục tiêu của mình ở Biển Đông. Trong khi thảo luận với ASEAN, nước này cũng đã chiếm các bãi đá và đảo ví dụ như Đá Vành Khăn. Với các quốc gia ASEAN, cách hành xử của Trung Quốc rõ ràng đã gây ra lo ngại, nhưng đồng thời, họ lại đi trệch hướng nhằm đáp ứng những lợi ích và quan ngại của Trung Quốc. Quả thực, phần lớn các đối thoại ASEAN – Trung Quốc hoặc những tương tác chỉ có thể thực hiện được dựa trên các điều khoản của Trung Quốc. Điều này, như chúng ta đã lập luận ở trên, cơ bản là vì sự yếu kém của ASEAN so với Trung Quốc, về mặt quân sự và mặt khác. Chúng tôi cũng tranh luận thêm rằng cách tiếp cận hiện nay của ASEAN đối với Trung Quốc là quá mềm mỏng và yếu ớt. Trung Quốc hiểu điều này rất rõ và đã theo đuổi mục tiêu của mình mà không bị ngăn cản. Trong khi thể hiện ra bên ngoài hình ảnh của một quốc gia biết lẽ phải và một người bạn quốc tế có trách nhiệm, Trung Quốc không thỏa hiệp về các vấn đề mà nước này coi là thiết yếu đối với lợi ích quốc gia. Vấn đề quần đảo Trường Sa là một trong lợi ích thiết yếu như vậy. Thay đổi trong văn hóa chính trị nội bộ của Trung Quốc và môi trường quốc tế có thể đã mang đến sự thay đổi trong lập trường của Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa, nhưng nhân tố quyết định cho sự thay đổi đó phải là sự thống nhất của chính ASEAN và một lập trường được xác định rõ ràng hơn nữa đối với vấn đề như họ đã từng làm vào tháng 3 năm 1995, ngay sau khi xảy ra sự kiện Đá Vành Khăn, và điều đó cũng đã lẫn đến tuyên bố của Bà Hilary Clinton tại hội nghị ở Hà Nội năm 2010. Giọng điệu hòa giải mà Trung Quốc thể hiện lúc đó là kết quả của một tuyên bố chung như vậy và của việc quốc tế hóa vấn đề.

Vấn đề đặt ra hiện nay đối với ASEAN không phải là đối đầu hay làm ngơ với Trung Quốc, mà tốt nhất là làm sao điều chỉnh mối quan hệ giữa ASEAN với Trung Quốc để yếu tố đe dọa trong việc mở rộng địa kinh tế của Trung Quốc bị loại bỏ hay ít nhất là giảm xuống một mức có thể chấp nhận hơn cũng như những khía cạnh tích cực trong mối quan hệ giữa hai bên được thực hiện mang tính xây dựng hơn và làm lợi cho tất cả. Vẫn chưa thể chắc là chiến thuật của ASEAN trong việc lôi kéo sự tham gia mang tính xây dựng của Trung Quốc có thành công hay không. Tuy nhiên trong lúc này, sẽ là hy vọng hão nếu cho rằng Trung Quốc một ngày nào đó có thể bị áp đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ. Trong khi không có bất kỳ lựa chọn khả thi nào khác, đây là một lựa chọn tốt nhất cho ASEAN để giải quyết thế tiến thoái lưỡng nan về an ninh của mình trước một Trung Quốc đang hồi sinh và tràn đầy tự tin. Tuy nhiên, một chiến thuật như vậy sẽ đòi hỏi ASEAN đóng một vài trò mang tính xây dựng trong mối quan hệ giữa Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ và Trung Quốc, những cường quốc chủ chốt sẽ quyết định tương lai của Châu Á – Thái Bình Dương. Chỉ bằng cách duy trì sự cân bằng thận trọng trong quan hệ của mình với những cường quốc trên thì ASEAN mới có thể đóng một vài trò hữu ích trong ngoại giao khu vực và tạo ra một không gian trong đó các quốc gia thành viên có thể theo đuổi công cuộc phát triển kinh tế và chính trị của riêng mình trong một trường hòa bình và ổn định. Mối quan hệ thân thiết của ASEAN với Ấn Độ có thể là nhân tố duy trì ổn định đặc biệt. Trên tất cả, chính sự đoàn kết của ASEAN sẽ không chỉ quyết định vị thế ngoại giao trong tương lai của cả khối, mà còn quyết định khả năng của ASEAN trong việc đối phó với một Trung Quốc quyết đoán./.

GS. Baldas Ghoshal

Tuấn Anh (dịch)

Đỗ Thủy (hiệu đính)

Tham luận của TS. Baladas Ghoshal tại Hội thảo Quốc tế “Triển vọng Hợp tác trong các vấn đề ở Biển Đông - Prospects of Cooperation and Convergence of the Issues and Dynamics in South China Sea” ngày 31 tháng 5 năm 2011, tại Jakarta, Indonesia do Trung tâm Nghiên cứu chiến lược Châu Á, Jakarta tổ chức.

Bản gốc tiếng Anh “ASEAN and the South China Sea Dispute

 

Bài viết của học giả Mohd Nizam Basiron đánh giá hiệu quả, tiến trình giải quyết tranh chấp Biển Đông sau khi Tuyên bố DOC được ký kết vào 2002 giữa Trung Quốc và ASEAN, thông qua đó, tác giả nhận định về khả năng đạt được giải pháp cho vấn đề trong tương lai.

Phần lớn nghiên cứu về Biển Đông đều tập trung vào những vấn đề an ninh truyền thống, địa chính trị, an ninh của các tuyến đường giao thông đường biển (SLOC) và cạnh tranh nguồn tài nguyên dầu mỏ trên khắp vùng Biển Đông. Vậy nên tầm quan trọng của Biển Đông trong vấn đề an ninh truyền thống không nên xem nhẹ. Năm trên bảy quốc gia có bờ biển với Biển Đông đang tranh chấp toàn bộ hoặc từng phần của vùng biển này. Trong khi đó Biển Đông cũng cung cấp các tuyến đường biển quan trong cho giao thông vận tải các loại hàng hóa và nguyên vật liệu - những yếu tố mà đã thúc đẩy tăng trưởng cho các nền kinh tế của khu vực Đông Á. Biển Đông đã đóng vai trò là tuyến đường thương mại quan trọng kể từ thế kỷ XV khi Trung Quốc và Ấn Độ trao đổi giao thương hàng hóa qua đây trong khi những thương buôn Arập và Iran đã sử dụng tuyến đường hàng hải trên Biển Đông này để vận chuyển hàng hóa từ thế kỷ VIII và IX.

Tuy nhiên, những nghiên cứu phần nào phiến diện về vấn đề Biển Đông thường bỏ qua chức năng cơ bản khác của nó từ góc độ an ninh phi truyền thống. Theo đánh giá trong năm 2000 vùng duyên hải ven Biển Đông có dân số khoảng 270 triệu người (Talaue-McManus, 2000), hầu hết trong số đó phụ thuộc vào Biển Đông như một nguồn mang lại thực phẩm và sự thịnh vượng kinh tế xã hội cho họ. Năm 2007 gần 7 triệu tấn cá là được khai thác tại Biển Đông, tương đương với 7% tổng sản lượng khai thác cá trên toàn thế giới. Bất cứ sự giảm sút trong việc khai thác cá tại Biển Đông có thế dẫn đến những ảnh hưởng bất lợi cho an ninh lương thực của toàn khu vực. Ngoài việc khai thác cá, Biển Đông cũng là nơi chứa đựng hơn 15% các đảo san hô của thế giới, trong năm 2000 nơi đây chiếm 12% số cây Đước của toàn thế giới (Talaue_McManus,2000)

Nhìn nhận Biển Đông một cách toàn diện cho thấy đây là nơi quan trọng đối với sự an ninh và ổn định của các nước quanh vùng biển này. Tuy vậy những điều đó lại rất mong manh do sự bình yên ở Biển Đông bị đe dọa bởi sự căng thẳng và đôi khi là bạo lực. Xung đột giữa hải quân Trung Quốc và Việt Nam tại đảo Gạc Ma vào năm 1988, sau đó vào năm 1995 Trung Quốc tiếp tục chiếm đảo Vành Khăn và gần đây hơn là cuộc đối đầu giữa tàu giám sát đánh bắt cá của Trung quốc với tàu thăm dò Impeccable của Mỹ gần đảo Hải Nam. Tất các những ví dụ trên đã nói lên mức độ căng thẳng trong các tình huống có thể xảy ra tại Biển Đông. Tuy nhiên vẫn có những điển hình về hợp tác và những nỗ lực giải quyết tranh chấp giữa các bên yêu sách. Những nỗ lực song phương như là bản ghi nhớ về hợp tác phát triển khai thác dầu và khí đốt giữa hai nước Việt Nam và Malaysia được ký vào năm 1992 đã chỉ rõ thiện chí gác tranh cãi về những tranh chấp lãnh thổ sang một bên để nhằm phát triển kinh tế (Thao,1999; Buszynski and Sazlan,2007). Tương tự, Trung Quốc, Việt Nam và Philippines cũng đã tiến hành cuộc khảo sát thực địa ba bên vào năm 2007 mặc dù đấy là nơi nằm ngay trong thềm lục địa hợp pháp của Philippines (Wain, 2010)

ASEAN, Trung Quốc và Tuyên Bố Ứng Xử Biển Đông (DOC)

Hai nhân vật chủ chốt trong nỗ lực giải quyết tranh chấp Biển Đông là ASEAN và Trung Quốc. Ngày mùng 4 tháng 11 năm 2002, ASEAN và Trung Quốc đã ký Tuyên Bố Ứng Xử giữa các bên trong Biển Đông (DOC). Mục tiêu chính của Tuyên Bố này là nhằm thúc đẩy các điều kiện thuận lợi cho những giải pháp hòa bình và lâu dài cho những tranh cãi và tranh chấp giữa các nước liên quan. Nói cách khác, Tuyên bố DOC là một bước đi vững chắc hướng tới giải quyết hòa bình tranh chấp tại Biển Đông. DOC được dựa trên cơ sở của những nguyên tắc về luật quốc tế chủ yếu là các điều khoản của Liên Hợp Quốc, Công ước Liên Hợp Quốc về luật biển (UNCLOS) và Hiệp ước hữu nghị và hợp tác của ASEAN. Những nguyên tắc quan trọng của DOC như sau:

1.   Giải quyết hòa bình các tranh chấp tại Biển Đông

2.   Tin cậy và xây dựng lòng tin lẫn nhau

3.   Tôn trọng và công nhận những điều khoản của Luật biển Quốc tế (UNCLOS) liên quan đến các vấn đề tự do hàng hải và vùng trời trên biển.

4.   Duy trì hiện trạng về tình trạng chiếm đóng hiện tại ở các đảo và bãi đá kể cả những đảo/đá chưa bị chiếm giữ ở biển Đông.

Tuyên bố DOC đề xuất đạt được những mục tiêu trên thông qua hai cơ chế đó là xây dựng sự tin cậy và lòng tin và cam kết các hoạt động mang tính hợp tác. Cơ chế đầu tiên dựa trên các họat động như là đối thoại và trao đổi quan điểm, diễn tập cứu trợ và chăm sóc người gặp nạn, tự giác thông báo các cuộc diễn tập quân sự và trao đổi thông tin trong khi cơ chế thứ hai khuyến khích các bên yêu sách thăm dò và tiếp tục hợp các tại các khu vực nhằm bảo vệ môi trường biển, phục vụ nghiên cứu biển, an toàn tàu bè và trao đổi liên lạc tại vùng biển cũng như tìm kiếm, cứu nạn và ngăn chặn tội phạm trên biển.

Mặc dù tuyên bố này đã góp phần làm giảm cường độ xung đột, tuy nhiên nó đã không hoàn toàn thuận buồm xuôi gió từ năm 2002 đến nay. Trong khoảng thời gian này những xung đột tuy nhỏ có lúc lên cao lúc dịu xuống tuy vậy đôi khi cũng có những cuộc chạm chán chết người như việc Trung Quốc bắn ngư dân Việt Nam năm 2005 và 2007.

Bất chấp những kêu gọi thực hiện kiềm chế trên biển Đông với các bên yêu sách trong tuyên bố DOC, các nước có liên quan vẫn đang cố ngấm ngầm họat động nhằm củng cố thêm những yêu sách của mình. Vào năm 2007 Trung Quốc, Phillipines và Việt Nam đã hoàn tất việc khảo sát ba bên thực địa trên biển. Cuộc khảo sát có thể được xem như là một phần của chính sách chia để trị của Trung Quốc đối với các nước có yêu sách trong ASEAN, tiếp sau đó là các chuỗi sự kiện do các nước có yêu sách khác tiến hành như chuyến viếng thăm Đảo Ba Bình của Tổng thống Đài Loan vào tháng 2 năm 2008 sau sự kiện hoàn thành đường băng trên đảo vào cuối năm 2007. Xét riêng rẽ, những sự việc này có thể được xem như những vấn đề nhỏ trong một bối cảnh lớn về an ninh trên toàn Biển Đông. Tuy nhiên nếu tổng hợp các sự kiện lại thì nó lại tạo nên mối đe đọa đối với sự ổn định vốn đã khó đạt được tại khu vực này và làm suy giảm ít nhất là tinh thần nếu không phải là những nội dung trong tuyên bố DOC.

Những suy đoán

Biển Đông mang lại cho các nước ven biển những sự lựa chọn trái ngược nhau. Một mặt là tiếp tục với hiện trạng như bây giờ, mặt khác các nước phải hướng đến một giải pháp lâu dài cho vấn đề này thông qua một số các phương thức khả thi khác mà có thể bao gồm hợp tác thiết thực trong các lĩnh vực an ninh truyền thống và phi truyền thống, các hoạt động kinh tế và môi trường, và phát triển một công cụ ràng buộc có tính pháp lý hoặc là thực thi Tuyên bố DOC. Tuy nhiên cho đến nay, một giải pháp lâu dài cho tranh chấp Biển Đông có vẻ như là viển vông. Trong khi các nước yêu sách tham gia vào các hội nghị như Hội thảo quản lý xung đột ở Biển Đông mà bắt đầu vào năm 1990 cũng như là những dự án của Chương trình môi trường của Liên Hợp quốc (UNEP) - Quỹ môi trường toàn cầu (GEFP) trong chương trình đảo ngược xu hướng suy thoái môi trường tại Biển Đông và Vịnh Thái Lan đã được khởi động từ năm 2001 đến 2009, phần lớn những dự án này đã bị bế tắc do các lập trường quốc gia mà ngăn cản sự đồng thuận  tạo ra cái mà người ta gọi là “nút thắt” (Gordian Knot) không thể tháo gỡ. Rõ ràng là có nhiều bài học được rút ra từ rất nhiều những sáng kiến được đề xuất theo kiểu điểm mạnh và điểm yếu cũng như những trở ngại để tiến tới một sự hợp tác lớn hơn và có thể đóng vai trò như kim chỉ nam cho việc giải quyết xung đột tại Biển Đông trong tương lai.

Liệu có giải pháp nào phía truớc?

Nếu như các bên yêu sách tại Biển Đông thực sự nghiêm túc về hòa bình và ổn định trong khu vực thì họ sẽ tìm ra các cách thức và biện pháp để tiền thúc đẩy Tuyên bố DOC. Tuyên bố DOC thực sự đã không tiến xa hơn một cách hiệu quả so với thời điểm ký kết vào năm 2002. Không có tiến triển trong bất kỳ chương trình nghị sự nào của tuyên bố này trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học biển, ngăn chặn ô nhiễm, bảo vệ môi trường biển và an ninh hàng hải. Nói theo một cách khác, các nước liên quan đã nói nhiều hơn là làm. Tất nhiên trừ khi là tình trạng hiện nay với những xung đột gián đoạn được chấp nhận tất cả các bên liên quan chấp nhận. Điều đó không đúng xét mức độ gia tăng căng thẳng hiện nay và khả năng bùng phát xung đột ngay cả với các hành động khiêu khích nhỏ nhất cũng như sự hiện diện của các nước không có yêu sách trong khu vực.

Đã có những lời tái kêu gọi các bên nhanh chóng đàm phán tiến một bộ quy tắc ứng xử (COC) mang tính ràng buộc sau diễn đàn ARF tại Hà Nội vào tháng 7 năm 2010. Tuy nhiên, tiến trình tiến tới COC diễn ra chậm chạm. Dựa trên kinh nghiệm xây dựng bộ quy tắc chỉ đạo nhằm thực thi DOC thì việc tiến tới một COC có thể sẽ là một chặng đường dài. ASEAN và Trung Quốc đã có 6 cuộc gặp mặt thông qua các nhóm làm việc liên hợp ASEAN-Trung Quốc trong việc thực thi Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông kể từ năm 2004 nhằm hoàn tất những hướng dẫn chỉ đạo nay nhưng chưa biết khi nào mới có thể kết thúc.

Có thể chia ra hai nhóm lạc quan và bi quan trong số các học giả nghiên cứu về giải quyết tranh chấp Biển Đông (Bateman,2010). Hiển nhiên là sẽ có những trở ngại lớn để có thể vượt qua. Bateman (2011) gợi ý rằng những trở ngại có thể bao gồm việc thiếu một thể chế hiệu quả nhằm quản lý các khu vực hợp tác đã được tán thành trong Tuyên bố DOC hay là chủ nghĩa dân tộc sâu sắc giữa các bên yêu sách, những nước mà coi vấn đề này như một tình huống “được ăn cả ngã về không” trong đó kẻ chiến thắng sẽ giành tất cả (Mak, 2008), cũng như bản chất của tranh chấp này vốn không thích hợp cho việc phân định và phân xử bằng pháp lý.

Thêm vào đó cũng có những chia rẽ rõ rệt giữa các thành viên ASEAN. Các thành viên ASEAN có thể được phân ra làm 4 nhóm về Tuyên bố DOC và giải pháp tranh chấp Biển Đông như sau:

1.   Những nước mà muốn ngay lập tức bắt tay vào xây dựng một văn bản pháp lý như Việt Nam và Philipppines

2.   Những thành viên mà ưu tiên cách tiếp cận từng bước như Malaysia và Brunei

3.   Nhưng nước không có yêu sách đối với Biển Đông mà muốn duy trì những lợi ích tích cực trong Tuyên bố DOC ví dụ như Singapore và Indonesia

4.   Những nước không có yêu sách đối với Biển Đông và không đưa ra bất cứ quan điểm gì đối với Tuyên bố DOC như Lào, Cam-pu-chia và Myanmar

Đại sứ Trung quốc tại ASEAN đã quy kết sự chậm trễ trong việc thiết lập những hướng dẫn chỉ đạo việc thực thi Tuyên bố DOC là do những toan tính trong nội bộ ASEAN về việc quyết định liệu các nước trong khối có nên tham khảo bàn bạc với nhau trước rồi sau đó mới bàn bạc với Trung Quốc hay không (Hanqin, 2009). Một ASEAN chia rẽ sẽ như từng chiếc đũa trong tay Trung Quốc cho nên một sự lãnh đạo đối với các nước thành viên trong khối là điều mang tính sống còn.  Việt Nam đã thể hiện vai trò lãnh đạo này trong suốt nhiệm kỳ là chủ tịch luân phiên của ASEAN vào năm 2010 qua việc làm nổi bật vấn đề đồng thời nỗ lực tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế nhằm tiến tới một ràng buộc mang tính pháp lý về nguyên tác ứng xử (COC). Tuy nhiên từ năm 2010 phần lớn những động lực đã đạt được nhằm tạo đà cho việc thiết lập COC dường như đã nguội đi. Minh chứng cho điều đó là tuyên bố chung giữa các nhà lãnh đạo ASEAN và Hoa Kỳ ngày 24 tháng 9 năm 2010 đã không đề cập đến vấn đề Biển Đông như một vấn đề quan trọng mà chỉ xác nhận lại các vấn đề cần thiết cho “…hòa bình và ổn định khu vực, an ninh biển, thương mại không bị cản trở và tự do hàng hải..”

Xét bối cảnh hiện nay, với sự mở rộng của hải quân Trung Quốc và khả năng gia tăng sự hiện diện của hải quân Mỹ tại Biển Đông và Đông Nam Á nói chung chắc chắn cần thiết phải có một giải pháp ”bền vững” hơn cho tranh chấp Biển Đông. Những triết lý cơ bản đằng sau Tuyên bố DOC đã tạo nên “những điều kiện thuận lợi cho một giải pháp hòa bình và dài hạn cho các tranh cãi và xung đột giữa các nước liên quan” này nên được xem xét trong bất cứ tiến trình đàm phán một bộ quy tắc ứng xử mang tính pháp lý nào khác cho Biển Đông. Đồng thời cũng cố một số những câu hỏi hóc búa mà các nước yêu sách cần phải đặt ra khi mà họ bắt đầu chặng đường tiến tới COC, đó là:

1.   Liệu COC có thay đổi hiện trạng tại Biển Đông như đã được tán thành trong Tuyên bố DOC hay là chỉ đơn thuần củng cố thêm DOC?

2.   Liệu COC có thúc đẩy hợp tác trong những lĩnh vực đã được xác định trong Tuyên bố DOC?

3.   Các cường quốc ngoài khu vực sẽ đóng vai trò gì trong quá trinh này? Vì cũng có các bên ngoài khu vực quan tâm đến Biển Đông, liệu COC cũng nên quản lý các họat động của họ hay không?

Kết Luận

Thoạt nhìn, tranh chấp gây ra từ những yêu sách biển chồng lấn tại Biển Đông theo ý kiến của một nhà phân tích đánh giá là có vẻ khá nan giải. Có quá nhiều các nước yêu sách với những tranh chấp song phương và đa phương hiện tại cũng như lợi ích của các cường quốc bên ngoài cụ thể như Mỹ. Tuy nhiên cả ASEAN và Trung Quốc đang tiếp tục những nỗ lực nhằm giải quyết các vấn đề tranh chấp tại Biển Đông. Trọng điểm của những nỗ lực này là Tuyên bố DOC đã được ASEAN và Trung quốc ký kết vào năm 2002 cũng như việc thực thi nó. Mặc dù rất nhiều người chỉ trích cho rằng DOC đã không đáp ứng được các mục tiêu trong việc hợp tác xa hơn ở Biển Đông, tuy nhiên thì Tuyên bố DOC bằng nhiều cách đã quản lý các tranh chấp đồng thời ngăn chặn việc xảy ra xung đột giữa các nước có yêu sách. Tuy nhiên xét đến lợi ích gia tăng và những tranh chấp kéo dài tại Biển Đông thì Tuyên bố DOC cần phải có một bước đi xa hơn nữa để tiến tới hợp tác thực sự. Vậy nên tiến trình này đã phát triển từng bước và cần thêm thời gian truớc khi có được một sự hợp tác thực sự bất chấp một vài tuyên bố được một vài nhà ngoại giao ASEAN đưa ra vào nửa cuối năm 2010 kêu gọi một bộ tuyên bố ứng xử (COC) chính thức tại Biển Đông.

Tài Liệu Tham Khảo

Adamrah, M. China ‘softens’ South China Sea stance. (December 14, 2010). The Jakarta Post.

http://www.thejakartapost.com/news/2010/11/24/china-%E2%80%98softens%E2%80%99-s-china-sea-stance.html

Bateman, S. (2009). Commentary on energy and geopolitics in the South China Sea by Michael Richardson.  http://www.iseas.edu.sg/aseanstudiescentre/ascdf2c1.pdf

Brown, R. & Sjostrand, S. (2001). Maritime archaeology and shipwreck ceramics in Malaysia. Kuala Lumpur: Department of Museum and Antiquities Malaysia.

Buszyinski, L. & Iskandar Sazlan. (2007). Maritime claims and energy cooperation in the South China Sea. Contemporary  Southeast Asia. Vol. 29(1).  143 - 171

Djalal, H. (2000). South China Sea island disputes. The Raffles Bulletin of Zoology. Supplement (8). 9 – 21.

Dzurek, D.J. (1996) The Spratly Islands dispute: Who’s on first? Maritime Briefing. 2(1). Durham: International Boundaries Research Unit.

Emmers, R. (2002). ASEAN, China and the South China Sea: An opportunity missed. IDSS Commentaries.  (30)

Emmers, R. (2009). Geopolitics and maritime territorial disputes in the South China Sea: From competition to collaboration? POINTER, 35(3). 1 – 5.

Emmers,    R.    Maritime    Disputes    in    the    South    China    Sea:    From    competition    to cooperation.

http://www.ceps.edu.au/userfileRalfs/file/%20Emmers%20-%20SCS-Griffith%20version.pdf

Haller-Trost,  R.  (1997).  The  contested  maritime  and  territorial  boundaries  of  Malaysia:  an international law perspective. London: Kluwer Law International

Jinming. L & Dexia, L. (2003). The dotted line on the Chinese map of the South China Sea: A note. Ocean Development and International Law, (34). 287 – 295.

Khun,  Z  &  Wang,  (2009).  The  South  China  Sea  declaration:  A  Chinese  perspective.  RSIS Commentaries No. 84. 2009.

Mak, J.N. (2008). Sovereignty in ASEAN and the problem of maritime cooperation in the South China Sea. Singapore: S Rajaratnam School of International Studies.

Prescott, J.R.V. (2010). The Spratly Islands: past and present. MIMA Bulletin, 17(1). 14 – 18 Schofield, C. (2000). A Code of Conduct for the South China Sea? Jane’s Intelligence Review. 1 – 10

Severino, R. (2010). ASEAN and the South China Sea. Security Challenges, 6(2). 37 - 47

Sichun, W & Huaifeng, R. (2003). More than a declaration: A commentary on the background and the significance of the Declaration on the Conduct of the Parties in the South China Sea. Chinese Journal of International Law. 311 – 319

Talaue-McManus.   (2000).   Transboundary   diagnostic   analysis   for   the   South   China   Sea. EAS/RCU Technical Report Series No. 14. Bangkok: UNEP

Nguyen Hong Thao (1999). Joint Development in the Gulf of Thailand. http://www.dur.ac.uk/resources/ibru/publications/full/bsb7-3_thao.pdf

Torode, G & Chan, M. China refuses to yield on Paracels. (December 12, 2010). South China Morning Post.

http://www.scmp.com/portal/site/SCMP/menuitem.2af62ecb329d3d7733492d9253a0a0a0/?vgnextoid=9f4e1947256dc210VgnVCM100000360a0a0aRCRD&ss=China&s=News

Valencia, M.J.(1985). Southeast Asian seas: oil under troubled waters. Hydrocarbon potential, jurisdictional issues and international relations. Singapore: Oxford University Press.

Valencia, M.J. (1991). Malaysia and the law of the sea: the foreign policy issues, the options and their implications. Kuala Lumpur: ISIS Malaysia

Valencia, M.J., Van Dyke, J.M.   & Ludwig, N.A.  (1997). Sharing resources in the South China Sea. The Hague: Kluwer Law International

Valencia, M.J. (2009). Tempting the dragon. Far Eastern Economic Review, 11 March 2009. http://www.nautilus.org/publications/essays/napsnet/forum/2009-2010/09020Valencia.html. (Accessed on 9 December 2010)

Wain, B. (2010). Manila’s bungle in the South China Sea. Far Eastern Economic Review, January/February2008.http://www.viet-Studies.info/kinhte/Manila_South_China_Sea.htm. (Accessed on 12 December 2010) ASEAN wants formal code. (August 6, 2010). The Straits Times

http://www.straitstimes.com/BreakingNews/SEAsia/Story/STIStory_562868.html

Mohd Nizam Basiron

Tiến Thịnh (dịch)

Đỗ Thủy (hiệu đính)

Tham luận của Mohd Nizam Basiron tại Hội thảo Quốc tế “Triển vọng Hợp tác trong các vấn đề ở Biển Đông - Prospects of Cooperation and Convergence of the Issues and Dynamics in South China Sea” ngày 31 tháng 5 năm 2011, tại Jakarta, Indonesia do Trung tâm Nghiên cứu chiến lược Châu Á, Jakarta tổ chức.

Bản gốc tiếng Anh “ASEAN and Dispute Resolution in the South China Sea

 

Trang Foreignpolicy gần đây đăng bài viết “The South China Sea Is the Future of Conflict” của học giả Robert D. Kaplan, chuyên gia cao cấp của Trung tâm An ninh Mỹ mới. Theo đó nhận định các vùng biển thuộc Biển Đông có thể tạo thành tuyến đầu về quân sự trong những thập kỷ tới. Trong khi Trung Quốc đang xây dựng quân đội của mình một cách đáng kể thì các nước Đông Nam Á cũng vậy, ngân sách quốc phòng của họ tăng lên khoảng 1/3 trong thập kỷ qua

 

Chiến trường đang xác định của thế kỷ 21 sẽ là ở trên biển 

Châu Âu là một bức họa về đất liền, Đông Á là một bức họa về biển. Sự khác biệt mang tính quyết định giữa thế kỷ 20 và thế kỷ 21 là ở chỗ đó. Các khu vực bị tranh giành nhiều nhất của trái đất này trong thế kỷ qua nằm trên vùng đất liền ở châu Âu, đặc biệt là ở dải đất bằng phẳng mà đã hình thành các đường biên giới giả tạo ngăn cách phía Đông và Tây của nước Đức và phơi ra trước bước tiến không thể ngăn cản nổi của các quân đội. Nhưng trong một khoảng thời gian hàng thập kỷ, trục nhân khẩu học và kinh tế của địa cầu đã thay đổi đáng kể chuyển đến đầu bên kia của đại lục Âu-Á, nơi các khoảng không gian giữa các trung tâm dân số lớn chủ yếu là đại dương. 

Do cách thức mà địa lý học làm sáng tỏ và đặt ra các ưu tiên, các đường nét tự nhiên này của Đông Á báo trước một thế kỷ của hải quân – hải quân được xác định ở đây theo nghĩa rộng bao gồm cả các đội hình chiến đấu trên biển lẫn trên không hiện nay khi mà chúng đã trở nên ngày càng không thể tách rời. Tại sao vậy? Trung Quốc đặc biệt lúc này khi mà các đường biên giới trên đất liền của họ an toàn hơn so với bất cứ thời điểm nào kể từ đỉnh cao của triều đại nhà Thanh vào cuối thế kỷ 18, đang tham gia vào việc bành trướng hải quân không thể chối cãi. Chính là thông qua sức mạnh trên biển mà Trung Quốc sẽ xóa bỏ về mặt tâm lý hai thế kỷ diễn ra các tội ác của nước ngoài trên lãnh thổ của mình – buộc mỗi nước xung quanh mình phải phản ứng lại. 

Các cuộc giao chiến quân sự trên đất liền và trên biển là rất khác nhau, với những tác động lớn đối với các chiến lược lớn cần thiết để giành chiến thắng – hoặc để né tránh – chúng. Các cuộc giao chiến trên đất liền làm dân thường vướng vào đó, trên thực tế khiến cho các quyền con người trở thành một yếu tố dấu hiệu trong các nghiên cứu về chiến tranh. Các cuộc giao tranh trên biển tiếp cận xung đột như một vấn đề mang tính khách quan và kỹ trị, trên thực tế rút gọn chiến tranh thành dạng toán học, ngược lại rõ rệt với các cuộc chiến trí tuệ đã giúp xác định các cuộc xung đột trước đây. 

Chiến tranh Thế giới thứ Hai là một cuộc chiến đạo đức chống lại chủ nghĩa phát xít, hệ tư tưởng chịu trách nhiệm về cái chết của hàng chục triệu người không tham chiến. Chiến tranh Lạnh là một cuộc chiến đạo đức chống lại chủ nghĩa cộng sản, một hệ tư tưởng mang tính áp bức tương tự mà các vùng lãnh thổ rộng lớn bị Hồng quân Liên Xô chiếm đoạt đã được cai trị bằng hệ tư tưởng đó. Giai đoạn ngay sau Chiến tranh Lạnh đã trở thành một cuộc chiến đạo đức chống lại nạn diệt chủng ở Bancăng và Trung Phi, hai nơi mà ở đó cuộc chiến tranh trên đất liền và các tội ác chống lại nhân loại không thể bị tách rời. Gần đây hơn là cuộc chiến đạo đức chống lại Hồi giáo cực đoan đã lôi kéo Mỹ vào sâu bên trong các biên giới địa hình đồi núi của Ápganixtan, nơi việc cư xử nhân đạo với hàng triệu dân thường là đặc biệt quan trọng đối với sự thành công trong cuộc chiến tranh này. Trong tất cả những nỗ lực này, chiến tranh và chính sách đối ngoại trở thành các chủ đề không chỉ đối với các binh lính và các nhà ngoại giao mà còn đối với các nhà nhân văn và các trí thức. Quả thực, việc chống nổi loạn thể hiện đỉnh cao của các kiểu kết hợp giữa các quân nhân và các chuyên gia về nhân quyền. Đây là kết quả cuối cùng của chiến tranh mặt đất tiến triển thành cuộc chiến tranh tổng lực trong thời hiện đại. 

Đông Á, hay chính xác hơn là Tây Thái Bình Dương, đang nhanh chóng trở thành trung tâm hoạt động hải quân mới của thế giới, báo trước một động lực khác về cơ bản. Khu vực này sẽ có thể tạo ra tương đối ít tình thế tiến thoái lưỡng nan về đạo đức theo kiểu mà chúng ta đã từng gặp trong thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, với khả năng xa vời là xảy ra cuộc chiến trên đất liền trên bán đảo Triều Tiên như một ngoại lệ đáng chú ý. Tây Thái Bình Dương sẽ đưa các vấn đề quân sự trở lại lĩnh vực hạn hẹp của các chuyên gia quốc phòng. Đây không chỉ đơn thuần bởi vì chúng ta đang đề cập đến lĩnh vực hải quân, trong đó không có các dân thường. Đó còn bởi vì bản chất của các nhà nước ở Đông Á, mà giống như Trung Quốc, có thể là rất độc tài, nhưng trong phần lớn các trường hợp không phải là chuyên chế hay quá vô nhân đạo. 

Cuộc đấu tranh giành địa vị đứng đầu ở Tây Thái Bình Dương sẽ không nhất thiết phải liên quan đến chiến sự; phần lớn những gì xảy ra sẽ diễn biến lặng lẽ và trên đường chân trời trong không gian đại dương trống vắng, với nhịp độ rất từ từ phù hợp với sự thích nghi chậm rãi và dần dần với sức mạnh vượt trội về kinh tế và quân sự mà các nước đã tạo ra trong suốt chiều dài lịch sử. Chiến tranh còn lâu mới là không thể tránh khỏi cho dù sự cạnh tranh là một xu hướng đã định. Và nếu Trung Quốc và Mỹ giải quyết thành công sự chuyển giao sắp diễn ra, thì châu Á và thế giới sẽ là một nơi an toàn và thịnh vượng hơn. Còn điều gì có thể mang tính đạo đức hơn thế? Hãy nhớ rằng: chính chủ nghĩa hiện thực phục vụ cho lợi ích quốc gia – có mục tiêu là tránh chiến tranh – đã cứu sống nhiều sinh mạng hơn trong chiều dài lịch sử so với chủ nghĩa can thiệp mang tính nhân đạo. 

Đông Á là một khu vực rộng lớn trải rộng gần như từ Bắc Cực đến Nam Cực – từ quần đảo Kuril hướng về phía Nam đến Niu Dilân – và có đặc trưng là một chuỗi đứt đoạn các bờ biển cô lập và các quần đảo trải dài. Ngay cả tính đến việc công nghệ đã thu hẹp khoảng cách đáng kể ra sao, thì biển vẫn đóng vai trò là một hàng rào ngăn chặn sự tấn công, ít nhất ở một mức độ mà đất liền không có được. Biển, không giống như đất liền, tạo ra các đường biên giới được xác định rõ ràng, đem lại cho nó khả năng giảm thiểu xung đột. Rồi cần phải cân nhắc đến tốc độ. Ngay cả các tàu chiến có tốc độ nhanh nhất cũng di chuyển tương đối chậm, chẳng hạn 35 hải lý, làm giảm khả năng xảy ra những tính toán sai lầm và cho các nhà ngoại giao có nhiều giờ hơn – thậm chí là nhiều ngày hơn – để cân nhắc lại các quyết định. Các lực lượng hải quân và không quân đơn giản là không chiếm đóng lãnh thổ bằng phương cách như lục quân. Chính nhờ các vùng biển xung quanh Đông Á – trung tâm sản xuất toàn cầu cũng như gia tăng mua sắm quân sự toàn cầu – mà thế kỷ 21 có cơ hội tốt hơn thế kỷ 20 để tránh được những cuộc đối đầu lớn về quân sự. 

Dĩ nhiên là Đông Á đã chứng kiến các cuộc đối đầu quân sự lớn trong thế kỷ 20, mà các vùng biển không ngăn cản nổi: cuộc chiến tranh Nga-Nhật Bản; gần nửa thế kỷ diễn ra nội chiến ở Trung Quốc đã đi kèm với sự sụp đổ từ từ của triều đại nhà Thanh; các cuộc chinh phục khác nhau của đế quốc Nhật, tiếp theo sau là Chiến tranh thế giới thứ Hai ở Thái Bình Dương; chiến tranh Triều Tiên; các cuộc chiến tranh ở Campuchia và Lào; và hai cuộc chiến tranh ở Việt Nam liên quan đến Pháp và Mỹ. Thực tế là việc địa lý của Đông Á chủ yếu là biển có rất ít ảnh hưởng đến những cuộc chiến tranh như thế, mà cốt lõi của chúng là các cuộc xung đột nhằm củng cố hoặc giải phóng quốc gia. Nhưng kỷ nguyên đó phần lớn nằm ở phía sau chúng ta. Quân đội các nước Đông Á, thay vì tập trung vào bên trong với các quân đội công nghệ thấp, đang tập trung hướng ra bên ngoài với các lực lượng hải quân và không quân công nghệ cao. 

Về việc so sánh giữa Trung Quốc ngày nay và Đức trong thời gian trước khi xảy ra Chiến tranh thế giới thứ Nhất mà nhiều người từng làm, đó là một sự sai lầm: Trong khi Đức, do vị trí địa lý của châu Âu, chủ yếu là một cường quốc trên đất liền, thì Trung Quốc, do vị trí địa lý của Đông Á, sẽ chủ yếu là một cường quốc hải quân. Đông Á có thể được chia thành hai khu vực chính: Đông Bắc Á, bị chi phối bởi bán đảo Triều Tiên, và Đông Nam Á, bị chi phối bởi Biển Đông. Đông Bắc Á xoay quanh số phận của Bắc Triều Tiên, một nhà nước độc tài bị cô lập với tương lai mờ nhạt trong một thế giới bị chi phối bởi chủ nghĩa tư bản và truyền thông điện tử. Nếu Bắc Triều Tiên nổ tung bên trong, thì các lực lượng mặt đất của Trung Quốc, Mỹ và Hàn Quốc có thể gặp nhau trên nửa phía Bắc của bán đảo này lấy cớ là tất cả những sự can thiệp nhân đạo, ngay cả khi họ tạo ra những phạm vi ảnh hưởng cho chính họ. Các vấn đề hải quân sẽ là vấn đề thứ yếu. Nhưng một sự thống nhất cuối cùng của Triều Tiên sẽ sớm làm cho các vấn đề hải quân trở nên nổi bật, với một Triều Tiên lớn hơn, Trung Quốc và Nhật Bản trong sự cân bằng mong manh, bị chia cắt bởi Biển Nhật Bản, Hoàng Hà và Bột Hải. Tuy nhiên bởi vì Bắc Triều Tiên vẫn tồn tại, giai đoạn Chiến tranh Lạnh của lịch sử Đông Bắc Á chưa hoàn toàn chấm dứt, và sức mạnh trên đất liền có thể chi phối truyền thông trước khi sức mạnh trên biển sẽ làm điều đó. 

Ngược lại, Đông Nam Á đã tiến sâu vào giai đoạn hậu Chiến tranh Lạnh trong lịch sử. Việt Nam, chi phối bờ biển phía Tây của Biển Đông, bất chấp hệ thống chính trị của mình, là một sức mạnh tư bản chủ nghĩa ghê gớm, tìm kiếm các mối quan hệ quân sự chặt chẽ hơn với Mỹ. Trung Quốc, được Mao Trạch Đông củng cố vững chắc như một nhà nước vương triều sau các thập kỷ hỗn loạn và biến thành nền kinh tế năng động nhất của thế giới nhờ chính sách tự do hóa của Đặng Tiểu Bình, hối hả vươn ra bên ngoài bằng hải quân của mình đến cái mà họ gọi là “chuỗi đảo đầu tiên” ở Tây Thái Bình Dương. Nước Hồi giáo khổng lồ, Inđônêxia, sau khi trải qua và cuối cùng kết thúc những thập kỷ của chế độ cai trị quân sự, đang sẵn sàng nổi lên thành một Ấn Độ thứ hai: một chế độ dân chủ sôi động và ổn định có khả năng triển khai sức mạnh bằng nền kinh tế đang phát triển của mình. Xinhgapo và Malaixia cũng đang tăng tiến về kinh tế, trung thành với mô hình vừa là nhà nước thành phố vừa là nhà nước kinh doanh thông qua những sự pha trộn đa dạng chế độ dân chủ và chủ nghĩa độc tài. Bức tranh ghép là về một nhóm các nước, với các vấn đề về tính hợp pháp trong nước và việc xây dựng nhà nước ở đằng sau họ, sẵn sàng thúc đẩy các quyền lãnh thổ đã được nhận biết vượt ra bên ngoài các bờ biển của họ. Sự thúc đẩy chung hướng ra bên ngoài này nằm trong buồng lái nhân khẩu học toàn cầu, bởi vì đó là ở Đông Nam Á, với 615 triệu dân, nơi 1,3 tỷ dân của Trung Quốc hội tụ với 1,5 tỷ dân ở tiểu lục địa Ấn Độ. Và nơi gặp gỡ về mặt địa lý của các nước này, và quân đội của họ là biển: Biển Đông. 

Biển Đông nối liền các nước Đông Nam Á với Tây Thái Bình Dương, có chức năng như một cái cổ họng của các tuyến đường biển toàn cầu. Đây là trung tâm của Âu-Á trên biển, bị ngắt quãng bởi các eo biển Malắcca, Sunda, Lombok và Makassar. Hơn một nửa số tàu chở hàng hóa mỗi năm của thế giới và 1/3 toàn bộ giao thông tuyến đường biển đi qua các điểm thắt này. Dầu lửa được chuyển qua eo biển Malắcca từ Ấn Độ Dương, trên đường đến Đông Á thông qua Biển Đông, gấp 6 lần số lượng đi qua Kênh đào Xuyê và gấp 17 lần số lượng đi qua Kênh đào Panama. Xấp xỉ 2/3 nguồn cung năng lượng của Hàn Quốc, gần 60 % nguồn cung năng lượng của Nhật Bản và Đài Loan, và khoảng 80% lượng dầu thô nhập khẩu của Trung Quốc đi qua Biển Đông. Còn nữa, Biển Đông mang lại trữ lượng dầu lửa 7 tỷ thùng và ước tính 900 nghìn tỷ phút khối khí tự nhiên, một món quà tiềm năng to lớn. 

Không chỉ vị trí và nguồn dự trữ năng lượng hứa hẹn mang lại cho Biển Đông tầm quan trọng địa-chiến lược thiết yếu, mà còn các tranh chấp lãnh thổ tàn nhẫn từ lâu đã lẩn quất xung quanh các vùng biển này. Một vài tranh chấp liên quan đến quần đảo Trường Sa, một quần đảo nhỏ ở phía Đông Nam Biển Đông. Việt Nam , Đài Loan và Trung Quốc mỗi bên đều tuyên bố chủ quyền toàn bộ hay phần lớn Biển Đông, cũng như toàn bộ các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Đặc biệt là Bắc Kinh khẳng định một đường lịch sử: họ tuyên bố chủ quyền đến tận trung tâm Biển Đông trong một vòng cung rộng lớn (được biết đến rộng rãi là “đường lưỡi bò”) từ Đảo Hải Nam của Trung Quốc ở cực Bắc Biển Đông suốt 1.200 dặm về phía Nam đến gần Xinhgapo và Malaixia. 

Kết quả là tất cả 9 nước tiếp xúc với Biển Đông ít nhiều đã dàn trận chống lại Trung Quốc và do đó dựa vào Mỹ để được hỗ trợ về ngoại giao và quân sự. Các tuyên bố chủ quyền gây xung đột này có thể trở nên gay gắt hơn do nhu cầu năng lượng leo thang của châu Á – tiêu thụ năng lượng dự kiến sẽ tăng gấp đôi vào năm 2030, với Trung Quốc chiếm ½ trong con số tăng trưởng đó – khiến Biển Đông trở thành một nơi đảm bảo thậm chí còn mang tính trung tâm hơn cho sức mạnh kinh tế của khu vực này. Biển Đông đã ngày càng trở thành một doanh trại vũ trang, khi các bên tuyên bố chủ quyền tăng cường và hiện đại hóa lực lượng hải quân của họ, ngay cả khi sự tranh giành các quần đảo và các bãi đá ngầm trong những thập kỷ gần đây hầu như đã kết thúc. Cho đến nay, Trung Quốc đã chiếm 12 điểm địa lý, Đài Loan chiếm 1, Việt Nam chiếm 25, Philíppin chiếm 8 và Malaixia chiếm 5. 

Chính địa lý của Trung Quốc định hướng nước này theo hướng Biển Đông. Trung Quốc nhìn về phía Nam hướng tới một vùng biển được hình thành, theo chiều kim đồng hồ, bởi Đài Loan, Philíppin, đảo Borneo chia cắt giữa Malaixia và Inđônêxia (cũng như Brunây nhỏ bé), Bán đảo Malaixia chia tách giữa Malaixia và Thái Lan, và bờ biển kéo dài hình rắn lượn của Việt Nam: tất cả đều là những nước yếu so với Trung Quốc. Giống biển Caribê, có đặc trưng là các quốc đảo nhỏ và được bao quanh bởi nước Mỹ quy mô lục địa, Biển Đông là một vũ đài hiển nhiên cho việc triển khai sức mạnh của Trung Quốc. 

Thật vậy, vị trí của Trung Quốc theo nhiều cách giống với vị trí của Mỹ đối với Caribê có quy mô tương tự vào thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Mỹ đã công nhận sự hiện diện và các tuyên bố chủ quyền của các cường quốc châu Âu ở Caribê, nhưng tuy thế vẫn tìm cách để thống trị khu vực này. Chính là cuộc chiến Tây Ban Nha-Mỹ vào năm 1898 và việc đào Kênh Panama từ năm 1904 đến năm 1914 đã báo hiệu sự xuất hiện của Mỹ với tư cách là một cường quốc thế giới. Hơn nữa, việc thống trị Vịnh Caribê rộng lớn hơn đã đem lại cho Mỹ sự kiểm soát có hiệu quả bán cầu Tây, điều đã cho phép nước này gây ảnh hưởng đến cán cân quyền lực ở bán cầu Đông. Và ngày nay Trung Quốc tìm thấy chính mình trong một tình huống tương tự ở Biển Đông, tiền sảnh của Ấn Độ Dương, nơi Trung Quốc cũng mong muốn có sự hiện diện của hải quân để bảo vệ các nguồn cung năng lượng từ Trung Đông của mình. 

Tuy nhiên, một điều gì đó sâu sắc và tình cảm hơn là vị trí địa lý đẩy Trung Quốc hướng về Biển Đông và hướng ra bên ngoài tới Thái Bình Dương: đó là sự chia cắt phần nào của chính Trung Quốc bởi các cường quốc phương Tây trong những năm tương đối gần đây, sau khi đã là một nước lớn và nền văn minh thế giới trong hàng thiên nhiên kỷ. 

Vào thế kỷ 19, khi triều đại nhà Thanh trở thành một kẻ bệnh tật của Đông Á, Trung Quốc đã đánh mất nhiều phần lãnh thổ của mình vào tay Anh, Pháp, Nhật Bản và Nga. Thế kỷ 20 đã diễn ra các cuộc tiếp quản đẫm máu của Nhật Bản đối với Bán đảo Sơn Đông và Mãn Châu Lý. Tất cả những điều này là sự sỉ nhục lên đến đỉnh điểm mà Trung Quốc phải chịu bằng các thỏa thuận đặc quyền ngoại giao của thế kỷ 19 và 20, nhờ đó các nước phương Tây cố giành lấy quyền kiểm soát các phần của các thành phố Trung Quốc – cái gọi là “các hải cảng mở theo hiệp ước”. Vào năm 1839, như sử gia Jonathan D.Spence thuộc trường Đại học Yale nói với chúng ta trong cuốn “Tìm kiếm Trung Quốc hiện đại”, do những sự cướp phá này cũng như cuộc nội chiến Trung Quốc, thậm chí còn có mối sợ hãi tiềm ẩn rằng “Trung Quốc sắp bị chia cắt, rằng nước này sẽ không còn tồn tại như một quốc gia nữa, và rằng 4.000 năm lịch sử đã được ghi chép của nó sẽ đi đến một kết thúc chóng vánh”. Sự ham muốn bành trướng của Trung Quốc là một tuyên bố rằng họ không bao giờ có ý định để cho những người nước ngoài lợi dụng mình một lần nữa. 
Giống hệt lãnh thổ Đức đã hình thành tuyến đầu về quân sự của Chiến tranh Lạnh, các vùng biển thuộc Biển Đông có thể tạo thành tuyến đầu về quân sự của những thập kỷ tới. Khi hải quân Trung Quốc trở nên mạnh mẽ hơn và khi tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc về Biển Đông mâu thuẫn với tuyên bố chủ quyền của các nước vùng duyên hải khác, các nhà nước khác này sẽ buộc phải phát triển hơn nữa các khả năng hải quân của họ. Họ cũng sẽ đối trọng với Trung Quốc bằng việc ngày càng dựa vào hải quân Mỹ, mà sức mạnh của nó có thể đạt đến đỉnh cao trong những điều kiện tương đối, ngay cả khi nó phải chuyển hướng các nguồn lực đáng kể sang Trung Đông. Đa cực trên toàn thế giới đã là một đặc trưng của ngoại giao và kinh tế học, nhưng Biển Đông có thể cho chúng ta thấy đa cực theo nghĩa quân sự thực ra sẽ như thế nào. 

Không có gì lãng mạn về mặt trận mới này, không có cái như các cuộc đấu tranh mang tính đạo đức. Trong các cuộc xung đột hải quân, trừ khi có pháo kích trên bờ, tự nó không có các nạn nhân; cũng không có kẻ thù triết học để đối đầu. Không có gì trên quy mô của sự thanh lọc sắc tộc có thể xảy ra trong chiến trường trung tâm xung đột mới này. Trung Quốc, bất chấp những người bất đồng ý kiến đau khổ của nó, đơn giản không phải là như một đối tượng của cơn giận dữ về đạo đức. Chế độ Trung Quốc chỉ chứng tỏ một phiên bản hàm lượng calo thấp của chủ nghĩa độc tài, với nền kinh tế theo kiểu tư bản chủ nghĩa và một hệ tư tưởng quản lý hầu như chẳng có gì để nói đến. Hơn nữa, Trung Quốc có thể trở thành một xã hội cởi mở hơn thay vì đóng kín trong những năm tương lai. Thay cho chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa quân phiệt, Trung Quốc, cùng với các nước khác ở Đông Á, ngày càng được xác định bởi sự kiên định đi theo chủ nghĩa dân tộc theo kiểu cũ: chắc chắn là một ý tưởng nhưng không phải là ý tưởng đã hấp dẫn các trí thức kể từ giữa thế kỷ 19. Và cho dù Trung Quốc trở nên dân chủ hơn, chủ nghĩa dân tộc của nước này có thể chỉ tăng lên, như ngay chính một cuộc khảo sát ngẫu nhiên về quan điểm của các cư dân mạng tương đối tự do cho thấy rõ. 

Chúng ta thường nghĩ về chủ nghĩa dân tộc như một tình cảm phản động, một di tích của thế kỷ 19. Tuy nhiên, chính chủ nghĩa dân tộc truyền thống đang chủ yếu thúc đẩy các hoạt động chính trị ở châu Á, và sẽ tiếp tục như vậy. Chủ nghĩa dân tộc đó không thể chối cãi đang dẫn đến sự phát triển quân đội các nước trong khu vực – đặc biệt là các lực lượng hải quân và không quân – nhằm bảo vệ chủ quyền và khẳng định chủ quyền đối với các nguồn tài nguyên thiên nhiên bị tranh chấp. Không có sự lôi cuốn mang tính triết học ở đây. Đó tất cả là về lôgích lạnh lùng của cán cân sức mạnh. Trong chừng mức mà chủ nghĩa hiện thực không ủy mị, liên kết với chủ nghĩa dân tộc, có một ngôi nhà về mặt địa lý, thì đó là Biển Đông. 

Do đó, bất cứ thảm kịch nào về đạo đức xảy ra ở Đông Á cũng sẽ mang hình thức chính trị quyền lực khắc khổ theo kiểu khiến nhiều trí thức và nhà báo bị tê liệt. Như Thucydides đề cập đến điều đó một cách đáng nhớ trong chuyện kể của ông về cuộc chinh phục đảo Melos của những người Aten cổ đại, “kẻ mạnh làm những gì họ có thể làm và kẻ yếu phải chịu những gì họ phải chịu”. Trong câu chuyện kể lại của thế kỷ 21, với Trung Quốc trong vai trò của người Aten với tư cách là một cường quốc biển khu vực vượt trội, nước yếu sẽ vẫn cam chịu nhưng chỉ thế thôi. Đây sẽ là chiến lược không được tuyên bố của Trung Quốc, và các nước nhỏ hơn thuộc Đông Nam Á có thể sẽ đứng về phía Mỹ để tránh bị giống số phận của người Melos. Tuy nhiên sẽ không có sự tàn sát. 

Biển Đông báo trước một hình thái xung đột khác so với các hình thái mà chúng ta đã quen với. Kể từ đầu thế kỷ 20, chúng ta đã bị tổn thương một mặt bởi các cuộc giao tranh thông thường lớn trên đất liền, và mặt khác bởi các cuộc chiến tranh nhỏ bẩn thỉu, không chính quy. Do cả hai loại chiến tranh đã tạo ra những thương vong lớn cho dân thường, chiến tranh đã là đối tượng cho các nhà nhân văn cũng như các tướng quân đội. Nhưng trong tương lai chúng ta chỉ có thể thấy một hình thái xung đột thuần túy hơn, giới hạn ở lĩnh vực hải quân. Đó là một kịch bản tích cực. Không thể loại bỏ hoàn toàn xung đột khỏi trạng thái sinh tồn của nhân loại. Một chủ đề trong “Các luận bàn về Livy” của Machiavelli là xung đột, được kiểm soát một cách đúng mức, sẽ có khả năng dẫn đến sự tiến bộ của nhân loại hơn là sự ổn định cứng nhắc. Một vùng biển đầy các tàu chiến không mâu thuẫn với thời đại đầy hứa hẹn dành cho châu Á. Sự mất an ninh thường nuôi dưỡng sự năng động. 

Nhưng liệu xung đột ở Biển Đông có thể được kiểm soát một cách đúng đắn hay không? Đến đây lập luận của tôi giả thiết rằng chiến tranh quy mô lớn sẽ không bùng nổ ở khu vực này và rằng thay vào đó các nước sẽ bằng lòng với việc dùng mánh khóe để tranh giành vị trí bằng các tàu chiến của mình trên các vùng biển khơi, trong khi vẫn đưa ra những tuyên bố chủ quyền mang tính cạnh tranh về các nguồn tài nguyên thiên nhiên và thậm chí có thể tán thành với việc phân chia chúng công bằng. Nhưng điều gì xảy ra nếu Trung Quốc, đi ngược lại tất cả những xu thế hiển nhiên này, định xâm lược Đài Loan? Điều gì xảy ra nếu Trung Quốc và Việt Nam, mà sự kình địch mạnh mẽ của họ bắt nguồn từ sâu xa trong lịch sử, đi đến chiến tranh như họ đã tiến hành vào năm 1979, lần này với các vũ khí gây sát thương hơn? Bởi vì không phải chỉ một mình Trung Quốc đang xây dựng quân đội của mình một cách đáng kể; các nước Đông Nam Á cũng vậy. Ngân sách quốc phòng của họ tăng khoảng 1/3 trong thập kỷ qua, ngay cả khi ngân sách quốc phòng của châu Âu giảm xuống. Các vũ khí nhập khẩu vào Inđônêxia, Xinhgapo và Malaixia tăng lên đến lần lượt là 84%, 146%, và 722% kể từ năm 2000. Sự chi tiêu này nhằm vào các phương tiện hải quân và không quân: các chiến hạm trên mặt nước, các tàu ngầm với hệ thống tên lửa tiên tiến và các máy bay chiến đấu tầm xa. Việt Nam gần đây đã chi 2 tỷ USD để mua 6 chiếc tàu ngầm lớp Kilo tối tân và 1 tỷ USD để mua các máy bay chiến đấu của Nga. Malaixia vừa mở một căn cứ tàu ngầm trên đảo Borneo . Trong khi Mỹ bị phân tâm bởi các cuộc chiến tranh trên đất liền ở khu vực Trung Đông rộng lớn hơn, sức mạnh quân sự đã lặng lẽ chuyển từ châu Âu sang châu Á. 

Hiện nay Mỹ đảm bảo nguyên trạng không yên ổn ở Biển Đông, giới hạn sự xâm lược của Trung Quốc chủ yếu ở những tấm bản đồ và giữ vai trò kiềm chế các nhà ngoại giao và hải quân của Trung Quốc (mặc dù điều này không phải để nói rằng Mỹ trong sáng trong các hành động của mình và Trung Quốc đương nhiên là một kẻ ác). Những gì Mỹ mang lại cho các nước thuộc khu vực Biển Đông không hẳn là thực tế về đức hạnh dân chủ của nó mà là thực tế về sức mạnh cơ bắp. Chính sự cân bằng quyền lực giữa Mỹ và Trung Quốc cuối cùng đang giữ cho Việt Nam, Đài Loan, Philíppin, Inđônêxia, Xinhgapo và Malaixia được tự do, có thể làm cho nước lớn này chống lại nước lớn kia để có lợi cho mình. Và bên trong không gian tự do đó, chủ nghĩa khu vực có thể nổi lên như một sức mạnh tự nó, dưới hình thức Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Tuy nhiên, quyền tự do như vậy không thể tự nhiên mà có. Vì tình thế đối đầu căng thẳng đang diễn ra giữa Mỹ và Trung Quốc – mà mở rộng sang một loạt phức tạp các chủ đề từ thương mại đến cải cách tiền tệ đến an ninh mạng đến sự giám sát tình báo – cuối cùng đang đe dọa thay đổi theo hướng có lợi cho Trung Quốc ở Đông Á, phần lớn là do tính chất trung tâm về địa lý của Trung Quốc ở khu vực này. 

Tổng kết toàn diện nhất về cảnh quan địa-chính trị mới của Châu Á không phải đến từ Oasinhtơn hay Bắc Kinh, mà từ Canbơrơ. Trong một bài viết dài 74 trang được xuất bản năm 2010 có tựa đề “Sự chuyển giao quyền lực: tương lai của Ôxtrâylia giữa Oasinhtơn và Bắc Kinh”, Hugh White, giáo sư nghiên cứu chiến lược tại trường Đại học Quốc gia Ôxtrâylia, miêu tả đất nước của ông là một cường quốc “nguyên trạng” tinh túy – một cường quốc hết sức muốn tình hình ở châu Á vẫn duy trì đúng như trên thực tế, với Trung Quốc tiếp tục phát triển để Ôxtrâylia có thể buôn bán ngày càng nhiều với nước này, trong khi Mỹ vẫn là “cường quốc mạnh mẽ nhất ở châu Á”, để là “người bảo vệ cuối cùng” của Ôxtrâylia. Nhưng như White viết, vấn đề là cả hai điều này không thể tiếp tục. Châu Á không thể tiếp tục thay đổi về mặt kinh tế mà không cần phải thay đổi về mặt chính trị và chiến lược; gã khổng lồ kinh tế Trung Quốc đương nhiên sẽ không hài lòng với sự vượt trội về quân sự của Mỹ ở châu Á. 

Trung Quốc muốn gì? White thừa nhận rằng người Trung Quốc có thể mong muốn ở châu Á một loại đế chế theo phong cách mới mà Mỹ đã sắp đặt ở bán cầu Tây một khi Oasinhtơn đã đảm bảo sự thống trị đối với Vịnh Caribê (như Bắc Kinh hy vọng nước này sẽ thống trị đối với Biển Đông). Theo lời của White, đế chế kiểu mới này có nghĩa là các nước láng giềng của Mỹ “ít nhiều được tự do điều hành đất nước của chính họ”, ngay cả khi Oasinhtơn khăng khăng rằng các quan điểm của mình sẽ được “xem xét đầy đủ” và được ưu tiên hơn so với quan điểm của các cường quốc bên ngoài. Vấn đề với mô hình này là Nhật Bản, nước có thể không chấp nhận sự bá quyền của Trung Quốc, dù mềm mỏng thế nào. Điều đó để lại mô hình Sự hòa hợp của châu Âu, trong đó Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản và Mỹ và có thể một hay hai nước khác sẽ cùng ngồi thảo luận về sức mạnh châu Á một cách ngang bằng. Nhưng Mỹ có chấp nhận hay không một vai trò khiêm tốn như vậy, vì nước này đã gắn sự thịnh vượng và sự ổn định của châu Á với địa vị đứng đầu của mình? White cho rằng đứng trước sức mạnh đang nổi lên của Trung Quốc, sự chi phối của Mỹ từ nay trở đi có thể có nghĩa là sự bất ổn cho châu Á. 

Sự chi phối của Mỹ được dự đoán trên quan điểm rằng bởi vì Trung Quốc độc đoán ở trong nước, nước này sẽ hành động “một cách không thể chấp nhận được ở bên ngoài”. Nhưng có thể không phải như vậy. Quan niệm của Trung Quốc về bản thân mình là một cường quốc ôn hòa, không mang tính bá quyền, một cường quốc không can thiệp vào triết lý nội bộ của các nước khác theo cách mà Mỹ vẫn làm – bằng kiểu đạo đức bao biện của mình. Bởi vì Trung Quốc tự xem mình là Vương quốc trung tâm, cơ sở sự thống trị của nước này là tính trung tâm vốn có của họ đối với lịch sử thế giới, chứ không phải bất cứ hệ thống nào mà họ tìm cách xuất khẩu. 

Nói cách khác, Mỹ, chứ không phải Trung Quốc, có thể là một vấn đề trong tương lai. Chúng ta có thể thực sự quan tâm quá nhiều đến bản chất nội tại của chế độ Trung Quốc và tìm cách hạn chế sức mạnh của Trung Quốc ở bên ngoài bởi vì chúng ta không thích các chính sách trong nước của nước này. Thay vào đó, mục đích của Mỹ ở châu Á cần phải là làm cân bằng chứ không phải là thống trị. Đó chính xác là bởi vì quyền lực cứng vẫn là chìa khóa cho các mối quan hệ quốc tế mà chúng ta phải tạo không gian cho Trung Quốc đang trỗi dây. Mỹ không cần phải tăng cường sức mạnh hải quân của mình ở Tây Thái Bình Dương, nhưng nước này cũng không thể giảm đáng kể sức mạnh này. 

Việc mất đi một nhóm tàu sân bay của Mỹ ở Tây Thái Bình Dương do những sự cắt giảm ngân sách hay sự tái triển khai sang Trung Đông có thể gây ra các cuộc thảo luận căng thẳng trong khu vực này về sự sa sút của Mỹ và kết quả là cần phải có những sự sửa đổi và các thỏa thuận phụ với Bắc Kinh. Một tình huống tối ưu là sự hiện diện của hải quân và không quân Mỹ ít nhiều ở mức độ hiện nay, ngay cả khi Mỹ làm tất cả trong quyền lực của mình để hình thành các mối quan hệ thân mật và có thể dự đoán được với Trung Quốc. Theo cách đó qua thời gian Mỹ có thể điều chỉnh cho thích nghi với hải quân biển khơi của Trung Quốc. Trong các vấn đề quốc tế, phía sau tất cả các câu hỏi về đạo đức là các câu hỏi về sức mạnh. Sự can thiệp nhân đạo ở Bancăng chỉ có thể có bởi vì chế độ Xécbi là yếu kém, không giống như chế độ Nga, từng phạm các tội ác quy mô tương tự ở Chesnia trong khi phương Tây chẳng làm gì cả. Ở Tây Thái Bình Dương trong các thập kỷ sắp tới, đạo đức có thể có nghĩa là từ bỏ một số lý tưởng được ưa thích nhất của chúng ta vì lợi ích của sự ổn định. Chúng ta có thể làm gì khác nữa để tạo không gian cho Trung Quốc gần như là độc đoán khi quân đội của họ mở rộng? Bản thân cán cân quyền lực, thậm chí còn hơn cả các giá trị dân chủ của phương Tây, thường là sự bảo vệ tốt nhất cho quyền tự do. Đó cũng sẽ là một bài học về Biển Đông trong thế kỷ 21 – một bài học khác mà những người theo chủ nghĩa lý tưởng không muốn nghe./.

  Theo Foreignpolicy (số 9-10/2011)

 Hương Trà (gt)

 

Bài viết của TS. Renato Cruz De Castro (Philippines) nghiên cứu ngụ ý chính sách dài hạn của Mỹ trong Tuyên bố Hà Nội ngày 24/7/2010 của Ngoại trưởng Mỹ Hilary Clinton về tranh chấp Biển Đông, đó là chính sách kiềm chế (constrainment ) đối với một Trung Quốc đang ngày càng quyết đoán trong vấn đề tranh chấp lãnh thổ. Bài viết cũng đưa ra những thách thức về khả năng thành công của với chính sách này.

 

 

Bài viết nghiên cứu ngụ ý chính sách dài hạn trong Tuyên bố Hà Nội ngày 24/7/2010 của Ngoại trưởng Mỹ Hilary Clinton về tranh chấp Biển Đông. Bài viết lưu ý rằng tuyên bố của bà khởi xướng một chiến lược ngoại giao mới trong việc ứng phó với một nước Trung Quốc đang nổi lên và ngày càng quyết liệt trong cách hành xử. Phát biểu của bà Hilary rằng Washington sẵn sàng hợp tác với các quốc gia thành viên ASEAN để thuyết phục Trung Quốc theo lối tiếp cận đa phương trong tranh chấp Biển Đông ngụ ý về việc hình thành và áp dụng sức ép tổng lực của khu vực để thay đổi hành vi của Trung Quốc liên quan đến tranh chấp. Tuy nhiên, người ta quan sát rằng Trung Quốc hiện nay đang thay đổi chính sách này bằng cách cảnh cáo các nước ASEAN về việc lôi kéo Mỹ và thúc đẩy một giải pháp đa phương cho tranh chấp này. Trong phần kết luận, bài viết cảnh báo chính sách này đang bị thách thức bởi: a) Trung Quốc là một trong những đối tác kinh tế chính và đôi khi là đồng minh chính trị của hầu hết các nước ASEAN và b) các nỗ lực mạnh mẽ của Trung Quốc khiến Mỹ không còn giữ thái độ trung lập trong chiến lược ngoại giao này nữa. Tuy nhiên, thất bại của chính sách này có nghĩa là các nước ASEAN sẽ đối diện với hai viễn cảnh: một sự cân bằng quyền lực châu Á khi mà các cường quốc lớn và nhỏ sẽ tự thấy mình bị chôn chặt trong một cuộc đối đầu liên tiếp, điều mà đến lượt nó sẽ sinh ra các nguy cơ lớn nhất từ trước đến nay về việc tạo ra các liên minh, liên kết, chạy đua vũ trang, gây hấn và xung đột; hoặc một châu Á với Trung Quốc là trung tâm nơi mà Trung Quốc sẽ thử nghiệm sức mạnh vượt trội để duy trì trật tự và định hình khu vực theo hướng có lợi cho nước này.

Tóm lược Tuyên bố Hà Nội ngày 24/7/2010 về tranh chấp Biển Đông:  Khởi nguồn một chiến lược ngoại giao mới ứng phó với một Trung Quốc đang nổi lên?[1]

Tác giả: TS. Renato Cruz De Castro

Chưa đầy một tháng sau khi Barack Obama tuyên thệ nhậm chức Tổng thống thứ 44 của Hợp chúng Quốc Hoa Kỳ, Ngọai trưởng mới được bổ nhiệm của ông là bà Hilary Clinton đã bắt đầu chuyến công du châu Á. Chuyến công du châu Á tháng 2 năm 2009 của bà Clinton nhấn mạnh lợi ích mới chớm và mang tính thử nghiệm của chính quyền mới của Mỹ ở khu vực. Trong suốt chuyến đi của mình đến Đông Á, bà nhấn mạnh rằng chính quyền Obama sẽ lắng nghe và phản hồi những quan ngại của đồng minh và đối tác và sẽ không lơ là khu vực cho dù sự có mặt của Mỹ ở đây đang đối mặt với rất nhiều thách thức nghiêm trọng.[2] Trong năm tiếp theo, chính quyền Obama chỉ mất ít thời gian để gây ấn tượng với khu vực rằng Mỹ đang trở lại và đang theo đuổi chính sách tái can dự tích cực vào Đông Á. Chính sách này bao gồm việc tăng cường uy tín của các cam kết chính trị/ngoại giao của Mỹ bằng cách làm vững chắc thêm các liên minh song phương và sự tham gia của Mỹ trong các cơ chế đa phương của khu vực với sự tự tin và tích cực mới tìm ra. Chính sách tái can dự của chính quyền Obama ở Đông Á trở nên ngày càng rõ ràng qua rất nhiều hành động chính sách đối ngoại mạnh mẽ và rõ rệt mà nước này đã thực hiện trong 6 tháng đầu năm 2010. Tiêu biểu nhất trong số các hành động này là ngụ ý chính sách dài hạn trong Tuyên bố ngày 24/10/2010 của Ngoại trưởng Clinton về Biển Đông ở Hà Nội, Việt Nam.

Phát biểu trong Hội nghị Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) lần thứ 17 tại Hà Nội, Ngoại trưởng Clinton tuyên bố rằng Mỹ có lợi ích quốc gia đối với tự do hàng hải, tiếp cận mở đối với các không gian hàng hải chung ở châu Á và với việc tôn trọng luật biển quốc tế của các quốc gia duyên hải trong khu vực Biển Đông. Quan trọng hơn, bà thêm rằng Mỹ đã chuẩn bị để thúc đẩy các đàm phán đa phương để giải quyết các tuyên bố chủ quyền đang gây tranh cãi về quần đảo Trường Sa. Thêm vào đó, tuyên bố của bà thẳng thừng phủ nhận tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông mà mở rộng đến bờ biển của các nước ASEAN và gây ra sự chồng lấn một phần với các tuyên bố lãnh thổ của bốn nước ASEAN – Việt Nam, Philippines, Malaysia, và Brunei.[3] Mặc dù tuyên bố của bà được xem như nhằm giảm căng thẳng ở Biển Đông trong tình thế Trung Quốc ngày càng trở nên quả quyết, tuyên bố này thực sự là một lời khiển trách nặng nề với Bắc Kinh, nước luôn khăng khăng trong vài thập kỷ rằng phần lớn Biển Đông và các đảo trong Biển Đông thuộc về họ, và bất cứ giải pháp ngoại giao nào liên quan đến tranh chấp lãnh thổ biển này chỉ nên được giải quyết thông qua đàm phán song phương. Quan trọng nhất, bằng việc đưa ra quan điểm này, Washington đã khéo léo đánh đúng vào nỗi lo sợ của các quốc gia Đông Nam Á về lập trường hiếu chiến hoặc quả quyết của Trung Quốc ở rất nhiều tranh chấp biển khác trong khi bày tỏ sự lo lắng của chính họ về tự do hàng hải sau vụ tàu USS Impeccable tháng 3 năm 2009 va chạm với Trung Quốc.[4] Cuối cùng, tuyên bố của bà Clinton về quần đảo Trường Sa đã được truyền đạt khi Washington nhận thức rõ hơn rằng các quốc gia đưa ra yêu sách ở khu vực ASEAN đang rất lo ngại về sức mạnh hải quân của Trung Quốc và sự gia tăng tính quyết đoán của nước này trong các vụ việc liên quan đến tranh chấp Biển Đông.

Tuy nhiên, điều dễ dàng nhận ra trong các phân tích trên là ngụ ý dài hạn trong chính sách đối ngoại của Mỹ nói riêng, và trong chính sách của các quốc gia khu vực nói chung liên quan tới sự trỗi dậy của Trung Quốc. Tuyên bố Hà Nội ngày 24/7 khởi động một chiến lược ngoại giao mới trong đó ứng phó với một nước Trung Quốc đang lên và ngày càng quả quyết - chính sách chế ngự. Tuyên bố của Ngoại trưởng Clinton rằng Washington sẵn sàng hợp tác với các quốc gia thành viên ASEAN để thuyết phục Trung Quốc tìm kiếm một giải pháp đa phương cho tranh chấp lãnh thổ này ngụ ý việc hình thành và áp dụng sức ép tổng hợp khu vực để thay đổi hành vi của Trung Quốc về một vấn đề cụ thể - Biển Đông.

Bài viết nghiên cứu những ngụ ý ngoại giao và chiến lược ẩn sau Tuyên bố Hà Nội năm 2010 khi nó gợi lên sự áp dụng chiến lược ngoại giao chế ngự trước sự lớn mạnh của Trung Quốc. Bài viết nghiên cứu câu hỏi cơ bản: Tuyên bố Hà Nội năm 2010 làm thế nào để có thể thực thi chiến lược kiềm chế trong tình thế một nước Trung Quốc đang trỗi dậy? Bài viết cũng giải quyết những câu hỏi mang tính hệ quả như sau: 1) Kiềm chế là gì? 2) Nền tảng chính trị, chiến lược cho Tuyên bố Hà Nội năm 2010? 3) Những nhân tố cơ bản của Tuyên bố Hà Nội? 4) Làm thế nào những nhân tố đó khiến chiến lược kiềm chế một Trung Quốc đang lên có tác dụng? 5) Trung Quốc đang ứng phó với chính sách kiềm chế đang tiến triển này như thế nào? 6) Đâu là những vấn đề trong việc áp dụng chiến lược này với một nước Trung Quốc đang lên? Và 7) Đâu là giới hạn của kiềm chế như là một chính sách dài hạn trong việc ứng phó với nước Trung Quốc đang nổi lên?

TS. Renato Cruz De Castro

Hằng Ngân (dịch)

Đỗ Thủy (hiệu đính)

Đọc toàn bộ bản dịch bài viết tại đây

 

Bài tham luận trình bày tại Hội thảo “Biển Đông: Hướng tới một khu vực Hòa bình, Hợp tác và Tiến bộ - The South China Sea: Toward a Region of Peace, Cooperation, and Progress tổ chức tại Manila, Philippines, 5 – 6 tháng 7 năm 2011.

Bản gốc tiếng Anh “Abstract of The 24 July 2010 Hanoi Declaration on the South China Sea Dispute: The Birth of a New Diplomatic Strategy vis-à-vis an Emergent China?


[1] Bài viết trình bày tại Hội thảo Manila lần đầu tiên về Biển Đông: Hướng tới một khu vực hòa bình, Hợp tác và Tiến bộ, thành phố Makati, Khách sạn Dusit Thani, 5-6/7/2011. Bản khởi thảo, Chỉ được sử dụng trong hội nghị, nghiêm cấm dùng để dẫn lời hay trích dẫn.

[2] Ralph A. Cossa, “Continuity and Change in U.S. Asia Policy,” PacNet Newsletter# 18, p. 1.

http://www.pacnet@hawaiibiz.rr.com

[3] Frederick Z. Brown, “Rapprochement between Vietnam and the United States,” Contemporary Southeast Asia 32, 2 (December 2010). pp. 235-236.

[4] Mark J. Valencia, “The Future of Southeast Asia: Back to the Future?” Global Asia 5, 4 (Winter 2010). p.9

 

Trong bối cảnh tình hình Biển Đông căng thẳng, bài nghiên cứu của GS. Peter Dutton, Viện nghiên cứu Biển Trung Quốc, Học viện Hải quân Mỹ, đánh giá vai trò của các khuôn khổ và cơ chế an ninh biển hiện tại như Công ước luật biển 1982 hay Tuyên bố ứng xử 2002 trong việc duy trì hoà bình và thúc đẩy phát triển ở khu vực. Bài viết cũng đưa ra một số kiến nghị nhằm xây dựng lòng tin và đề ra tiến trình hướng tới sự ổn định lâu dài.

 

Như đã thấy trong năm 2011, Trung Quốc, Việt Nam và Philippines đều đang khẩn trương tiến hành các cuộc thăm dò và kế hoạch khoan nhằm chiếm giữ những nguồn tài nguyên hydrocarbon dưới đáy biển Đông nơi có vô số những yêu sách quốc gia chồng lấn nhau. Kết quả là, đôi khi sự va chạm trở nên nghiêm trọng và mỗi nước đều tăng cường những lập luận hùng hồn về quyền tài phán duy nhất của mình đối với việc khoan dầu trong những khu vực xác định. Mỗi nước cũng gia tăng những hoạt động hải quân trên biển Đông theo hai cách, hoặc là đưa ra những tín hiệu về quyết tâm bảo vệ quyền lợi của mình đối với các nguồn tài nguyên hoặc chí ít thì cũng được cho là như vậy.

Một số nhà quan sát cho rằng, các quan hệ kinh tế khu vực và mong muốn chung cho một môi trường bên ngoài ổn định để thúc đẩy sự phát triển kinh tế từ bên trong sẽ làm cho các cuộc cạnh tranh năng lượng và tranh chấp chủ quyền không dẫn đến xung đột[1],. Một số ý kiến lại cho rằng căng thẳng có thể kiểm soát được vì thực tế đã cho thấy rằng cho đến nay những tuyên bố hàng hải của Trung Quốc trên biển Hoa Đông và biển Đông “thường được thực thi  bởi các tàu tuần tra không trang bị vũ trang, điều này gửi đến một thông điệp rõ ràng rằng Bắc Kinh không tìm kiếm sự leo thang dẫn đến một cuộc khủng hoảng lớn vì những vấn đề này."[2] Một số khác thì lại khẳng định rằng những quan điểm trên là hão huyền.[3] Bài viết này xem xét rằng giữa những tình huống xấu đi như thế thì liệu các khuôn khổ và cơ chế an ninh hàng hải hiện tại - đặc biệt là hai trường hợp Công ước về Luật biển của Liên Hợp Quốc, và Tuyên bố ứng xử của các bên trên biển Đông - có đủ để duy trì hoà bình khu vực và thúc đẩy phát triển kinh tế khu vực hay không. Với kết luận chúng không đủ, bài viết sẽ đưa ra một số kiến nghị nhằm xây dựng lòng tin và đề ra tiến trình hướng tới sự ổn định lâu dài.

Tranh chấp chủ quyền và sự thất bại của luật quốc tế

Những tranh chấp ở biển Đông có thể được đặt trong ba phạm trù khác nhau - chủ quyền, quyền tài phán và quyền kiểm soát.[4] Phạm trù đầu tiên liên quan đến các tranh chấp của các bên về vấn đề chủ quyền trên các hòn đảo, bãi đá nổi và bãi đá chìm ở biển Đông. Hiện tại không có một khuôn khổ hay cơ chế khu vực và quốc tế tích cực nào trực tiếp giải quyết vấn đề chủ quyên. Điều này một phần vì thực tế Trung Quốc khăng khăng giữ quan điểm rằng họ sẽ chỉ giải quyết mọi tranh chấp trên biển Đông bằng đám phán và chỉ trên cơ sở đàm phán song phương mà thôi. Điều này đã loại bỏ cơ hội cho các bên tận dụng các cơ chế pháp lý và trọng tài hay các khuôn khổ khu vực và quốc tế khác nhằm hỗ trợ cho việc giải quyết hòa bình các tranh chấp.

Công bằng mà nói, liên quan đến vấn đề chủ quyền, dường như bất kỳ nước tranh chấp nào đều dường như không mấy quan tâm đến vấn đề đàm phán, phân xử hay giải quyết bằng tòa án. Những tuyên bố “chủ quyền không thể chối cãi” dựa trên những mối liên hệ lịch sử và kiểm soát chính quyền thường đến từ Việt Nam và Trung Quốc - mỗi nước đều khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.[5] Trong khi ít hùng hồn hơn, chính phủ Philippine đồng thời cũng khẳng định rằng nước này có “chủ quyền và quyền tài phán đối với các điểm địa lý” của quần đảo Kalayaans.[6] Những hồ sơ công khai phản ánh rằng Philippines căn cứ trên tuyên bố của họ dựa trên thuyết những vùng liền kề hoặc tiếp giáp với nhóm đảo Kalayaan với quần đảo chính của nó, mặc dù cơ sở của những tuyên bố này thì có độ chắc chắn ít hơn so với những tuyên bố của Việt Nam và Trung Quốc bởi vì Philippine cũng hoặc theo một cách khác, khẳng định trên những cở sở an ninh và kinh tế, rằng các đảo đã bị bỏ rơi bởi những nước khác sau Chiến tranh thế giới thứ 2, và sau đó Philippine đã thiết lập chủ quyền bằng cách tự khám phá hoặc ban hành sắc lệnh. Giống như Malaysia và Brunei, Philippine cũng khẳng định quyền kiểm soát trên Kalayaans như một sự mở rộng quyền lợi ở thềm lục địa của chính mình.[7] Trong khi một loạt các quan điểm như thế có thể phục vụ khéo léo cho các tranh cãi pháp lý, nó không thúc đẩy một môi trường thuận lợi cho đàm phán do các bên đối lập gặp khó khăn tìm kiếm một cơ sở chung để tiếp tục.

Chắc chắn rằng có những lựa chọn để phát triển một cơ chế hay khuôn khổ để giải quyết vấn đề chủ quyền. Nếu đàm phán đa phương không được chấp thuận và đàm phán song phương vẫn không đạt được kết quả, trong trường hợp đó, hiển nhiên các bên có thể phải đưa tình huống này ra Toà án Tư pháp quốc tế hoặc Toà án trọng tài thường trực. Tuy nhiên, vì một số lí do, điều này khó có khả năng xảy ra.

Về mặt chính trị, chính phủ các nước trong khu vực phải đấu tranh với chủ nghĩa dân tộc trong nước, điều đó hạn chế sự lựa chọn chính sách. Về mặt kinh tế, dường như có một nhận thức ngày càng tăng - đặc biệt là ở Trung Quốc và cũng ngày càng tăng ở Việt Nam - rằng mà những nguồn thực phẩm và năng lượng ở biển Đông ngày càng trở nên thiết yếu với sự thịnh vượng của quốc gia trong thế kỉ 21. Lo lắng này phủ bóng đen lên lập luận về chủ quyền đối với các đảo và các quyền pháp lý kèm theo nó. Thái độ thực dụng về những nguồn năng lượng trên biển Đông đặc biệt đang trở thành quy tắc tiêu chuẩn. Đây là một xu hướng đáng lo ngại vì nó cho thấy các bên trong tương lai có thể không sẵn sàng tin tưởng vào sự tiếp cận các nguồn tài nguyên dựa vào thị trường – vốn là nền tảng cho hệ thống toàn cầu. Cuối cùng, về mặt quân sự, Trung Quốc, Việt Nam và Philippine đều xem việc kiểm soát đối với các đảo là điều tối quan trọng cho an ninh quốc gia. Do đó, có nhiều cử tri trong mỗi quốc gia kiềm chế chính phủ của họ không được theo đuổi các thoả hiệp về chủ quyền. Điều này là một trong những lý do chính giải thích tại sao các chính phủ vẫn kiên quyết tránh những toà án quốc tế hay các ủy ban trọng tài nhằm giải quyết những vấn đề này. Đơn giản là có quá nhiều rủi ro.

Một lý do khác khiến các chính phủ tránh sự trợ giúp pháp lý quốc tế, đó là cơ chế luật pháp quốc tế điều chỉnh việc giải quyết các tranh chấp về chủ quyền còn chưa rõ ràng. Vì vậy, bản thân luật pháp là một nhân tố khác khiến các thoả hiệp trở nên khó khăn hơn -  thực sự nó làm trầm trọng thêm xu thế dẫn đến sự va chạm. Cụ thể, luật quốc tế khuyến khích khả năng của một quốc gia chứng tỏ một tuyên bố chủ quyền vượt trội bằng cách khẳng định sự chiếm đóng, quản trị hiệu quả và kiểm soát độc quyền. Tất cả các quốc gia biển Đông ngoại trừ Brunei có lực lượng đóng quân trên đảo, trạm theo dõi thời tiết, cơ sở vật chất để bảo vệ bờ biển, nghiên cứu khoa học, một số thậm chí đã được báo cáo là phát triển hoặc có kế hoạch phát triển hạ tầng du lịch. Tiếp theo mạch phát triển này, người Trung Quốc đã thiết lập một chính quyền thành phố trên quần đảo Trường Sa, thiết lập mạng lưới điện thoại di động, và hỗ trợ các hoạt động đánh bắt cá địa phương từ các hòn đảo. Người Malaysia thì lập ra một khu du lịch lặn trên một trong những đảo họ chiếm đóng được. Mỗi hoạt động này là một tuyên bố công khai về sự chiếm đóng và quản lý hiệu quả của một quốc gia đối với một đảo nào đó đang tranh chấp. Quả thực, để củng cố sự chiếm đóng và quản lý hiệu quả của mình, chính phủ Trung Quốc rõ ràng gần đây đã đi quá xa trong việc đặt cột mốc đánh dấu quyền chủ quyền của họ trên ba đảo nhỏ của quần đảo Trường Sa, bao gồm bãi đá ngầm Boxall (TQ: Niuchelun- nd) và bãi Amy Douglas gần Palawan. Để không mất đi yêu sách của mình trong việc quản lý và kiểm soát hiệu quả trên cùng những phần lãnh thổ đó, chính phủ Philippine đã tuyên bố rằng hải quân của họ đã tháo bỏ những cột mốc này và phái những đội tàu của họ đến để ngăn cản Trung Quốc khôi phục lại chúng. Philippine cũng gỡ bỏ một cái phao do Trung Quốc đặt ra khỏi mặt nước.[8]

Tóm lại, luật quốc tế liên quan đến chủ quyền tự nó đã tạo ra một cuộc cạnh tranh leo thang giữa các bên tranh chấp để chứng minh sự chiếm giữ và kiểm soát độc quyền trên các đảo. Bởi vì chủ quyền là một cuộc chiến một mất một còn, không bên nào có thể rút lui trong cuộc cạnh tranh và duy trì những đòi hỏi của mình. Khi những bên tham dự tăng lên, khả năng xảy ra sự cố nghiêm trọng hơn bao giờ hết. Như vậy, khuôn khổ luật quốc tế để giải quyết các tranh chấp chủ quyền hiện hành là một cơ chế không đủ để khuyến khích và tăng cường ổn định khu vực. Luật quốc tế cũng đưa ra các giải pháp đôi bên cùng có lợi khác dựa trên chia sẻ chủ quyền hay chủ quyền với những quyền quốc tế bất khả xâm phạm. Các bên sẽ thực hiện tốt việc thăm dò những lựa chọn kiểu đôi bên cùng có lợi này như là con đường đi dến những giải pháp tạm thời hoặc thậm chí là lâu dài cho vấn đề chủ quyền trên quần đảo Trường Sa.

Khuôn khổ tài phán biển của UNCLOS 

Dạng tranh chấp thứ hai liên quan tới thẩm quyền trong không gian biển và các nguồn tài nguyên trên biển, trong biển và dưới đáy biển. Có lẽ điều quan trọng nhất trong khuôn khổ an ninh hàng hải đối với biển Đông là Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS). UNCLOS đã được đàm phán trong suốt những năm 1970 và đầu những năm 1980 để đáp ứng một số xu hướng gây bất ổn trong lĩnh vực hàng hải, tất cả đều vẫn còn hiện diện trong khu vực biển Đông ngày nay bất chấp việc các nước ven biển Đông đã tham gia vào Công ước toàn cầu này.

Một xu hướng như thế là khả năng ngày càng tăng của các quốc gia trong suốt thế kỉ 20 để khai thác các nguồn tài nguyên sinh vật và phi sinh vật của một phần ngày càng mở rộng của những vùng duyên hải. Hoa Kỳ đã tiến hành hoạt động đầu tiên của một quốc gia trong kỷ nguyên hiện đại để thực hiện các quyền tài phán mở rộng trên biển với tuyên bố của Truman năm 1945, tuyên bố mà đã có kết quả ngoài ý muốn trong các thập kỉ tiếp theo trong việc dấy lên một cuộc chạy đua toàn cầu nhằm kiểm soát các nguồn tài nguyên biển thông qua một loạt các cơ chế cạnh tranh, bao gồm những tuyên bố của một số nước về chủ quyền quốc gia đầy đủ trong 200 hải lý tính từ bờ biển của họ. Vì nhiều lý do, nhiều nước khác mà đơn cử là không ít các cường quốc hàng hải không chấp nhận điều này do mất đi các quyền hàng hải quốc tế. Khi nhà nước có chủ quyền hoàn toàn đối với hơn 1/3 đại dương trên thế giới ngụ ý rằng một cơ chế chủ quyền hàng hải hoàn toàn sẽ được thiết lập.

Các tuyên bố của Truman cũng đã tạo ra các khu bảo tồn thuỷ sản ở biển sâu dưới quyền tài phán độc quyền của Hoa Kỳ với mục đích quản lý và bảo vệ những đàn cá vì lợi ích của người dân Mỹ. Như những gì đã xảy ra sau tuyên bố thềm lục địa, những điều kế tiếp là một mớ những yêu sách quốc gia về độc quyền nguồn tài nguyên mà cũng làm gia tăng các cuộc va chạm trên biển vì ở một số nơi, chẳng hạn như biển Đông, một chế độ pháp lý có thể không phải là giải pháp tốt nhất để mang lại một trật tự trong khu vực mà đã từng được xác nước ven biển xem là một khu vực hàng hải chung.

Trong một nỗ lực để mang lại trật tự và giảm thiểu va chạm, các cuộc đàm phán dưới sự bảo trợ của Liên Hợp Quốc được bắt đầu vào những năm 1950, đã mang lại một bộ công ước về luật biển sơ bộ nhưng rõ ràng là chưa đầy đủ tại Geneva vào năm 1958. Các cuộc đàm phán kéo dài vẫn tiếp tục, kết quả là vào năm 1982 trong một loạt các cuộc thương lượng lớn đã hình thành khuôn khổ UNCLOS cho việc ổn định các xu hướng nguy hiểm do tuyên bố Truman gây ra và vẫn tồn tại ở khu vực biển Đông ngày nay. Bốn khía cạnh trong công ước này đã được thiết lập để mang lại trật tự hợp lý trong việc “chiếm đất” trên biển và cân bằng các lợi ích hợp pháp của các quốc gia ven biển với những lợi ích hợp pháp tương tự của các cường quốc hàng hải.

Đường cơ sở.  Khía cạnh đầu tiên là pháp điển hoá các quy tắc liên quan đến đường cơ sở, các ranh giới tại hoặc gần bờ biển giữa lãnh thổ thuộc hoàn toàn chủ quyền của nước ven biển và các vùng biển mở rộng ra ngoài khơi của họ. Mục đích của một hệ thống các đường cơ sở thống nhất là hạn chế việc mở rộng thẩm quyền của quốc gia ven biển đối với các đại dương. UNCLOS điều 5 và 7 xác định rằng các đường cơ sở thường có đường nước thấp dọc theo bờ biển. Điều 7 cung cấp một tập hợp các tình huống rất hạn chế cho phép các quốc gia ven biển đi chệnh khỏi quy định thông thường, chủ yếu là nơi có tồn tại các vịnh nhỏ ven biển thụt sâu vào - như vịnh hẹp ở NaUy, hoặc các hải đảo chạy dọc theo khu vực lân cận của bờ biển - chẳng hạn như những đảo chạy dọc theo phía bờ biển tây nam của bán đảo Triều Tiên. Điều 47 cho phép các quốc gia gồm toàn bộ là các hòn đảo mà không có lãnh thổ đất liền - được gọi là các quốc gia quần đảo - được vẽ đường cơ sở xung quanh rìa ngoài xa nhất cho các đảo của họ và yêu sách một vị thế đặc biệt để đạt được và thực thi một mức độ quyền chủ quyền cao hơn đối với những vùng nước kèm theo. Mặc dù về cơ bản trên toàn cầu các nước có đủ tiêu chuẩn này là tương đối it, có hai nước giáp biển Đông đủ tiêu chuẩn này: Philippine và Indonesia. Tất nhiên, Malaysia không đủ tiêu chuẩn vì một phần lãnh thổ nước này là lục địa. Một điểm then chốt về cơ chế các đường cơ sở là chúng được vẽ dựa hoàn toàn vào địa lý của các quốc gia ven biển. Cơ chế dựa trên địa lý này được thiết lập nhằm đảm bảo trật tự trong quá trình thiết lập các yêu sách biển bằng cách thể hiện chúng từ một tập hợp đồng bộ các đặc điểm mở và không thể phủ nhận. Như vậy, không có ngoại lệ phi địa lý đối với việc vẽ các đường cơ sở mà được UNCLOS hoặc luật quốc tế nói chung công nhận. 

Các đường cơ sở của Trung Quốc. Mặc dù các đường cơ sở của Trung Hoa đại lục đều được thể hiện theo hình thù địa lý ven biển của nước này (đường hình chữ U trong biển Đông sẽ được bàn riêng), ở một vài nơi ngoài khơi, các đường cơ sở của Trung Quốc vượt quá mức cho phép của UNCLOS và luật án lệ quốc tế, thâu tóm một cách không chính đáng từ những vùng hoàn toàn thuộc quyền sử dụng quốc tế hơn 2500 hải lý vuông của không gian đại dương chủ yếu ở biển Hoa Đông. Điều quan trọng với vùng Biển Đông là Trung Quốc đã vẽ các đường cơ sở thẳng xung quanh quần đảo Hoàng Sa trong một hành vi vi phạm rõ ràng các quy tắc của UNCLOS rằng chỉ các quốc gia quần đảo mới có thể đưa ra một tuyên bố như vậy. Như vậy, mặc dù tiêu chuẩn quốc tế được thể hiện trong UNCLOS đã có một số tác động vào cách thức Trung Quốc vẽ đường cơ sở của họ như thế nào dọc theo đường bờ biển, chúng đã không ngăn chặn được Trung Quốc đưa ra những đòi hỏi quá mức hoặc rõ ràng không phù hợp trong một số trường hợp khác.

Các đường cơ sở của Việt Nam. Trong khi từ phía bắc bờ biển đến phía nam, Việt Nam vẽ các đường cơ sở mở rộng từ các hải đảo, chứ không phải là các đường thuỷ triều thấp thuộc bờ biển của họ, tính chất quá mức của những tuyên bố này ở phía nam và tây nam phần bờ biển của nước này thực sự là khác thường. Việt Nam dường như có ý bao gồm hơn 27.000 hải lý vuông mà lẽ ra cần được mở cho quốc tế sử dụng. Trong khi Việt Nam sử dụng các đặc điểm địa lý để mô tả các đường cơ sở của mình, nước này làm như vậy theo một cách thức mở rộng quá mức theo những quy định của UNCLOS như đã được làm rõ trong luật án lệ quốc tế. Như vậy, cũng giống như trong trường hợp của Trung Quốc, quy chế các đường cơ sở do UNCLOS xác lập đã không đóng vai trò kiềm chế với Việt Nam.

Các đường cơ sở của Indonesia và Philippine. Là hai quốc gia quần đảo trong khu vực, Indonesia và Philippine được quyền gộp phần lớn vùng nước vào các đường cơ sở của họ và khẳng định quyền chủ quyền trên đó. Mặc dù khi được vẽ lần đầu vào năm 1960, hệ thống các đường cơ sở thẳng của Indonesia không hề phù hợp với luật quốc tế, trong suốt các cuộc đàm phán UNCLOS vào những năm 1970 Indonesia đã vận động thành công để hệ thống của họ được chấp nhận cho tất cả các quốc gia bao gồm hoàn toàn các đảo. Ngày nay, các đường cơ sở của Indonesia đã được chấp nhận như một quy chuẩn. Tuy nhiên, Philippine từ lâu đã duy trì đường cơ sở mở rộng kế thừa từ thời thuộc địa của Tây Ban Nha và không đặt các đường cơ sở của họ phù hợp với UNCLOS cho đến tận tháng 3/2009 như một phần nỗ lực của họ nhằm đáp ứng hạn nộp hồ sơ cho Ủy ban thềm lục địa UNCLOS. Nói cách khác, để xác định thềm lục địa của mình, Philippine đầu tiên phải xác định các đường cơ sở để từ đó mới có thể vẽ ranh giới thềm lục địa.

Trong thời gian dẫn đến tuyên bố các đường cơ sở của Philippine, Trung Quốc được cho là đã gây áp lực đáng kể với các thành viên của Quốc hội Philippine. Áp lực này nhằm thuyết phục Quốc hội Philippine thông qua một dự luật đường cơ sở không bao gồm quần đảo Trường Sa bên trong các đường cơ sở của quần đảo Philippine. Điều Trung Quốc muốn hơn là Philippine vẽ các đường cơ sở xung quanh các đảo “chính” và xem Trường Sa mà Philippine yêu sách như một “quy chế đảo riêng biệt” bên ngoài quần đảo chính và do vậy bên ngoài cả các đường cơ sở quần đảo. Có lẽ, Trung Quốc đã tìm cách để tránh một tình huống mà trong đó Philippine tuyên bố quần đảo Trường Sa có chủ quyền lãnh thổ không thể tách rời khỏi Philippine khi vẽ các đường cơ sở bao gồm cả các đảo chính của Philippine và cả nhóm đảo Kalayaan (Trường Sa). Vì những lí do rõ ràng, Trung Quốc nhạy cảm với những khó khăn chính trị ngày càng gia tăng mà chính phủ Philippines sẽ phải đối mặt trong việc đàm phán về quyền lãnh thổ, việc mà luật pháp Philippine cho rằng “cốt lõi” hay không thể tách rời khỏi lãnh thổ của họ.

Cho dù vì áp lực của Trung Quốc hay một số lí do khác, sau một thời kì khó khăn chính trị, Quốc hội Philippine thực sự đã ban hành một dự luật các đường cơ sở trong đó loại yêu sách Kalayaan của họ trong quần đảo Trường Sa khỏi yêu sách quần đảo của họ và coi nhóm đảo đó như một tập hợp đảo riêng biệt. Điều này đã làm cho một số người ở Philippine tức giận rằng chính phủ của họ đã không chống lại nổi áp lực của Trung Quốc, sự oán giận mà đã đổ thêm dầu vào nỗi thất vọng mang tính chủ nghĩa dân tộc với sự can thiệp lúc đó của Trung Quốc trong những nỗ lực của Philippine nhằm thực hiện các cuộc điều tra về Bãi cỏ rong (A: Reed Bank, TQ: Liyue Tan, Lile Tan -nd).

Tóm lại, hệ thống các đường cơ sở được thiết lập theo UNCLOS đã không đủ để ngăn chặn ít nhất là hai nước mấu chốt ở biển Đông - Việt Nam và Trung Quốc - khỏi đưa ra những yêu sách biển quá mức, bất hợp pháp và đã không đủ để loại bỏ va chạm giữa các quốc gia. Tuy nhiên, Việt Nam, như sẽ chứng minh dưới đây, nhìn chung đã tuân thủ tốt hơn các quy tắc về phân định biên giới biển theo UNCLOS hơn là Trung Quốc.

Vùng đặc quyền kinh tế. Chuyển sang các nguồn tài nguyên ở biển Đông, có lẽ khuôn khổ UNCLOS quan trọng nhất được thiết lập nhằm đạt tới an ninh và ổn định hàng hải là quy chế của vùng đặc quyền kinh tế (EEZ). Vùng EEZ được thiết lập để giảm thiểu các tranh chấp đối với nguồn tài nguyên ở những dòng nước và đối với nguồn tài nguyên dưới đáy biển ra đến 200 hải lý tính từ đường cơ sở của quốc gia ven biển. UNCLOS cung cấp cho các quốc gia ven biển quy định quyền pháp lý để quản lý, bảo vệ và bảo tồn các nguồn tài nguyên sinh vật và phi sinh vật trong khu vực này. Việc quy chế EEZ thay thế quy chế thềm lục địa để quản lý đáy biển ra đến 200 hải lý là một thực tế thường bị xem nhẹ. Vì vậy, những điều khoản thềm lục địa UNCLOS chỉ có tầm quan trọng thực tiễn trong các trường hợp mà theo đó một quốc gia có thể đòi hỏi các quyền thềm lục địa vượt ngoài 200 hải lý - được biết như là thềm lục địa mở rộng.

UNCLOS khá rõ ràng rằng một tuyên bố quyền tài phán quốc gia đối với các nguồn tài nguyên phải được dựa trên địa lý của quốc gia ven biển. Biểu hiện của Trung Quốc về tuyên bố quyền tài phán hàng hải của họ trong biển Đông theo đường chữ U táo bạo mà không có bất cứ sự xem xét dù là trực tiếp hay thậm chí là gián tiếp nào về đặc điểm của hình thù địa lý duyên hải hay thậm chí là cả đường cơ sở của họ vì vậy là một sự vi phạm các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế và các qui chuẩn về cách hành xử được kỳ vọng của các quốc gia như đã nói rõ trong quy chế đường biên giới biển do UNCLOS lập ra. Tuyên bố hình chữ U của Trung Quốc do vậy là một trong hai nguồn chính của các vụ tranh chấp và va chạm giữa các quốc gia trên biển Đông - còn lại là các tranh chấp khác đang diễn ra về chủ quyền đối với các đảo biển đã được nói ở trên.

Ý nghĩa cụ thể của tuyên bố đường hình chữ U của Trung Quốc lảng tránh sự xác định rõ ràng, dường như đây là một phần chính sách nhà nước mà Trung Quốc lựa chọn liên quan đến yêu sách này.  Bốn sự giải thích thay thế khác hay có lẽ là trùng hợp nhau đã thể hiện ý nghĩa quyền tài phán của đường này: đối với một số người nó thể hiện chủ quyền hay quyền chủ quyền của Trung Quốc, đối với một số khác nó thể hiện một vùng với các quyền mang tính lịch sử quản lý khu vực, đối với một số khác nữa nó là một sự thể hiện các lợi ích về an ninh, và cuối cùng đối với một số người nó là một vùng mà trong đó Trung Quốc sở hữu tất cả các đảo và bất kỳ quyền về không gian vùng nước nào mà các đảo này có thể yêu sách. Chỉ có lời giải thích cuối cùng có giá trị theo UNCLOS, và thậm chí điều đó còn bị suy yếu bởi tuyên bố của Trung Quốc trong luật trong nước của Trung Quốc rằng họ có thêm các quyền lịch sử lâu đời đối với các vùng nước mà vượt ra ngoài những gì mà luật pháp quốc tế hiện nay công nhận. Thêm vào đó, Trung Quốc tuyên bố trong một bức thư gửi cho Uỷ ban Liên Hợp Quốc về Giới hạn của thềm lục địa rằng quần đảo Trường Sa “hoàn toàn có quyền có lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa.”[9] Tuyên bố về các quyền đối với EEZ và thềm lục địa đối với Trường Sa cũng đã vi phạm luật quốc tế ở chỗ có rất ít các đảo nhỏ, bãi ngầm và bãi cát nào mà tạo nên quần đảo Trường Sa có quyền hưởng các vùng đó do chúng không thể hỗ trợ việc sinh sống của người dân bản địa hoặc duy trì hoạt động kinh tế của chính mình.

Tuyên bố hình chữ U của Trung Quốc - một trong hai nguồn chính của các vụ tranh chấp và va chạm giữa các quốc gia trên biển Đông

Mặt khác, tận dụng quá trình mà theo đó các quốc gia có thể tạo ra những tuyên bố thềm lục địa vượt quá 200 hải lý, Việt Nam và Malaysia đã tuyên bố công khai vùng đặc quyền kinh tế của họ trên biển Đông cộng thêm việc mở rộng các quyền thềm lục địa mà hoàn toàn tuân thủ các điều khoản của UNCLOS, tất nhiên ngoại trừ việc vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam bắt đầu quá xa ra biển do các đường cơ sở không phù hợp của nước này. Philippine và Indonesia mỗi bên cũng duy trì một tuyên bố vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý thích hợp xung quanh các đường cơ sở quần đảo của họ, được xác định theo địa lý. Không giống như Trung Quốc, bốn nước yêu sách chủ quyền này đối với một số hoặc tất cả các đảo Trường Sa đã hoàn toàn kiềm chế không tuyên bố vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa mở rộng mà các điểm đảo này không được quyền hưởng.

Vì vậy, rõ ràng là ngoài cuộc đấu tranh chủ quyền trên các đảo, va chạm liên quan đến các quyền đánh bắt cá và cạnh tranh đối với nguồn tài nguyên hydrocarbon cần bổ sung thêm một cuộc đấu tranh về khuôn khổ qui phạm pháp luật mà theo đó các tranh chấp sẽ được giải quyết. Liệu UNCLOS, với tư cách là một quy chế quốc tế được chấp nhận rộng rãi và được phát triển để gìn giữ sự ổn định hàng hải trong cuộc cạnh tranh các nguồn tài nguyên biển có nên điều phối việc giải quyết các tranh chấp hay không? Hay cơ sở giải quyết tranh chấp nên là quan điểm của Trung Quốc về những quyền lợi lịch sử và sức mạnh đang ngày càng gia tăng của họ để thực thi chúng? Tuy nhiên tại thời điểm này, các điều khoản phân bổ nguồn tài nguyên của UNCLOS như một quy chế đảm bảo an ninh hàng hải và sự ổn định đã không thành công ở biển Đông.

Các quyền hàng hải. Quy chế thứ ba của UNCLOS mang bình luận ngắn gọn, vì nó liên quan đến phạm trù của các cuộc tranh chấp bao hàm việc kiểm soát đối với các vùng nước ở biển Đông. Trong suốt quá trình các cuộc đàm phán dẫn đến bản Công ước cuối cùng, đã có bất đồng giữa các quyền lợi hợp pháp của các quốc gia ven biển trong việc bảo vệ và phát triển bền vững các nguồn tài nguyên sinh vật và phi sinh vật ngoài khơi và quyền tự do hàng hải ở những vùng biển sâu khác mà cho phép các nước thực hiện tự do thương mại và để bảo vệ lợi ích an ninh của họ. Chế độ vùng đặc quyền kinh tế đã được soạn thảo như một thoả hiệp được cân bằng một cách thận trọng giữa hai lợi ích hợp pháp. Nó bảo vệ các quyền đối với các nguồn tài nguyên bằng cách cho phép các quốc gia có chủ quyền đặc quyền và quyền tài phán đủ để họ quản lý nhưng không phải là chủ quyền hoàn toàn, nghĩa là cho phép các quốc gia ven biển can thiệp vào quyền tự do hàng hải của các nước khác khi họ dùng sức mạnh hải quân để theo đuổi các lợi ích an ninh của mình. Bởi vậy, sự tự do hàng hải, tự do hàng không và một số hoạt động hợp pháp lâu đời khác trên vùng biển quốc tế, bao gồm cả tự do quân sự, đã được duy trì một cách cụ thể bởi tất cả các quốc gia trong khuôn khổ quyền tài phán của UNCLOS tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Việc Mỹ và Trung Quốc đấu tranh về sự cân bằng này là sự phản ánh thất bại của UNCLOS trong việc đáp ứng đầy đủ tiềm năng của nó như một cơ chế ổn định hàng hải liên quan đến việc cân bằng quyền lợi của các quốc gia ven biển và tự do quốc tế trong vùng đặc quyền kinh tế.

Từ những phân tích trên đây có thể thấy rõ rằng chưa có được sự tuân thủ ở cấp độ toàn cầu về bộ quy tắc của UNCLOS trong việc vẽ các đường biên giới phân định biển mà phân bổ các quyền lợi tài nguyên cũng như tự do hàng hải cho mục đích quân sự. Việc ký kết các hiệp định và công ước không đồng nghĩa với việc tuân thủ các quy định và các chuẩn mực mà chúng đề ra. Cần phải có những nỗ lực kiên trì để tăng cường quy chế UNCLOS và khuyến khích việc áp dụng nó trên toàn cầu.

Tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên biển Đông

Bởi vì khuôn khổ qui chuẩn do UNCLOS đưa ra không đủ để xây dựng sự ổn định hàng hải trong các mối quan hệ ở biển Đông, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã có những bước cố gắng đưa ra một khuôn khổ chính trị cho sự ổn định. Trong suốt những năm cuối thập kỷ 1990 và những năm bắt đầu thiên niên kỷ mới, ASEAN đã tìm cách để giảm thiểu căng thẳng và thúc đẩy một số nguyên tắc thành lập thông qua một sáng kiến của Indonesia. Cụ thể, ASEAN đã tìm cách “thúc đẩy hoà bình và ổn định khu vực thông qua tuân thủ công lý và quy định của pháp luật trong các mối quan hệ giữa các quốc gia trong khu vực này... và đẩy nhanh sự tăng trưởng kinh tế của khu vực.”[10] Nhu cầu về một quá trình như vậy là rõ ràng sau hai thập kỉ va chạm và thậm chí xung đột trên biển Đông, đáng chú ý nhất là cuộc chiến giữa Trung Quốc và Việt Nam Cộng hoà ở quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974, sự kiện bãi đá ngầm Chữ Thập (A: Fiery Cross Reef, TQ: Yungshu Jiao -nd) giữa Trung Quốc và Việt Nam năm 1988 và cuối cùng là sự kiện Đá Vành Khăn (A: Mischief, TQ: Meiji Jiao -nd) giữa Trung Quốc và Philippine năm 1995. Cũng vào năm 1995 này, Việt Nam đã ký Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác và sau đó trở thành một thành viên của ASEAN, do đó khối Đông Nam Á thống nhất về mặt chính trị đối lập với những gì được nhận thức rộng rãi ở Đông Nam Á như là cách cư xử mang tính phá hoại đầy nguy hiểm của Trung Quốc. Trung Quốc thoái lui vào năm 1995 và 1996 sau khi nhận thấy bản thân mình không giành được cái nhìn thiện cảm của một nhóm đoàn kết hiện tại của các quốc gia Đông Nam Á và sau khi Trung Quốc đã quá thất vọng về giải pháp cho cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan với Mỹ. Hoàn cảnh đã chín muồi cho tất cả các bên tìm đến một cơ chế mang lại sự ổn định cho biển Đông.

Phải mất đến gần 7 năm, nhưng trong năm 2002 các chính phủ của các nước thành viên ASEAN và Trung Quốc đã tham gia vào Tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên biển Đông (DOC). Thoả thuận này có năm tuyên bố cơ bản:

Tuyên bố khẳng định lại cam kết của các bên đối với luật quốc tế, bao gồm cả UNCLOS; cam kết các bên sẽ tìm cách nhằm xây dựng sự tin cậy và lòng tin giữa họ, dựa trên sự bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau; cam kết các bên sẽ tôn trọng quyền tự do hàng hải và hàng không trên biển Đông; cam kết các bên sẽ giải quyết các tranh chấp lãnh thổ và quyền tài phán mà không đe doạ hay sử dụng vũ lực; và cam kết các bên sẽ kiềm chế không đưa người ra sinh sống trên những đảo hiện không có người cư trú.

Mỗi tuyên bố sẽ được xem xét để quyết định xem khuôn khổ chính trị này có đủ để mang lại sự ổn định ở mức độ nào.

UNCLOS. Như đã chứng minh ở trên, việc cam kết tuân thủ các điều khoản và quy phạm pháp luật trong UNCLOS đã minh chứng một sự thất bại ở cả khía cạnh pháp lý lẫn chính trị vì tuyên bố của Trung Quốc vê quyền tài phán ở biển Đông dựa trên khái niệm của các quyền lợi mang tính lịch sử hơn là dựa trên khuôn khổ địa lý được đưa ra bởi Công ước. ASEAN đã không thực hiện được bất cứ tiến trình thêm nào thông qua những phương cách chính trị để thay đổi cách cư xử của Trung Quốc về điểm này so với Mỹ trong việc khuyến khích tuân thủ quy chế thẩm quyền trên biển.

Nói cách khác, cần lưu ý rằng mỗi hành động quốc gia của một nước ASEAN về lĩnh vực hàng hải trong thập kỷ qua nhìn chung là phù hợp với các điều khoản của UNCLOS. Philippine đặc biệt đã từ bỏ các tuyên bố lịch sử của mình về vấn đề vùng nước quần đảo của họ để ủng hộ hệ thống dựa trên địa lý mà UNCLOS quy định. Điều này có thể ít nhất là một phần do mong muốn liên kết các nguyên tắc và quy chuẩn trong ASEAN để mang lại lợi ích từ một sự thống nhất chính trị mà một sự liên kết như thế có thể thúc đẩy. Như vậy, ít nhất liên quan đến các quyết định của Philippine, bản DOC đã thành công trong việc thúc đẩy các quy phạm pháp luật của UNCLOS như một cơ sở để tạo nên các tuyên bố có thẩm quyền, hơn là những tuyên bố chỉ mang tính lịch sử.

Tự do hàng hải. Về cam kết của DOC nhằm nêu cao các quyền tự do hàng hải quốc tế trên biển Đông có một động lực ngầm khá thú vị ở khu vực Đông Nam Á. Ngay cả khi Philippine, Việt Nam, Singapore và các nước khác tìm cách để thu hút sức mạnh hải quân Mỹ gần hơn đến khu vực này, có một xu hướng đáng chú ý nhằm tính toán lại sự cân bằng về quyền và lợi ích của các quốc gia ven biển trong khu vực đặc quyền kinh tế theo các cách thức mà đòi hỏi phải có sự cho phép của các quốc gia ven biển trước khi một thế lực bên ngoài nào có có thể tiến hành việc tập trận hay các hoạt động khác trong vùng biển thẩm quyền tài phán của họ. Trong khi điều này là mối quan ngại đáng kể tới Mỹ - vì nó làm suy yếu nguồn cội chính của sức mạnh khu vực của Mỹ - điều này dường như nhìn chung không gây quan ngại lắm ở nhiều nước Đông Nam Á. Có thể thấy điều này qua tuyên bố về cách hiểu đi kèm với thông báo gia nhập UNCLOS của Thái Lan, trong đó nêu:

Chính phủ vương quốc Thái Lan hiểu rằng, trong vùng đặc quyền kinh tế, việc hưởng tự do hàng hải theo các quy định có liên quan đến Công ước không bao gồm bất cứ sự sử dụng không hoà bình nào mà không có sự đồng ý của quốc gia ven biển, cụ thể là những hoạt động tập trận quân sự hay những hoạt động khác mà có thể ảnh hưởng đến quyền lợi hoặc lợi ích của quốc gia trên biển....[11]

Chỉ có Thái Lan cùng với Malaysia và Trung Quốc là các quốc gia khu vực có tuyên bố công khai như vậy, nhưng các cuộc đối thoại riêng tư chỉ ra có thể có thậm chí nhiều hơn sự đồng thuận chung giữa các nước Đông Nam Á về vấn đề này. Điều rõ ràng từ các cuộc đối thoại và từ cách cư xử của các quốc gia Đông Nam Á là đối tượng của mối quan tâm hiện tại không phải là sức mạnh hải quân của Mỹ, mà là khả năng quân sự đang lớn mạnh của Trung Quốc. Nói theo cách khác, nếu xu hướng hiện nay dẫn đến khu vực ngày càng hạn chế các hoạt động hải quân trong khi Mỹ tiếp tục thực hiện tự do hàng hải trên toàn biển Đông vì tất cả những mục tiêu quân sự - trừ trường hợp gặp xích mích với Trung Quốc - trong các vùng biển tranh chấp trên biển Đông thì Trung Quốc có thể bắt đầu phải nếm cách xử sự tương tự từ các láng giềng của mình theo cách mà nước này đã đối xử với Hải quân Hoa Kỳ.

Các biện pháp xây dựng lòng tin. Cam kết trong DOC nhằm thực hiện các biện pháp xây dựng lòng tin có thể được ghi nhận một trong những thành công của nó đó là Hiệp định phân định lãnh thổ trên biển, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ [Hiệp định Vịnh Bắc bộ] giữa Việt Nam và Trung Quốc mà có hiệu lực vào tháng 6 năm 2004. Hiệp định này phân định biên giới trên biển giữa Trung Quốc và Việt Nam trong Vịnh Bắc Bộ mà cho đến nay là biên giới duy nhất trên biển được phân định của Trung Quốc và thiết lập một khu đánh bắt cá chung theo một thoả thuận đi kèm. Khu đánh bắt cá chung này bao gồm hầu hết các khu đánh bắt đang hoạt động trong vùng và kéo dài đến tận năm 2019, và sau đó sử phần lớn không gian này sẽ quay về dưới sự kiếm soát của Việt Nam.[12] Hiệp định đã quy định các đội tuần tra đánh bắt cá chung, đôi khi được thực hiện, nhưng có lẽ không có sự nhiệt tình mấy từ cả hai bên.

Sự đệ trình chung lên Uỷ ban ranh giới thềm lục địa về các đường biên giới biển dự kiến của Việt Nam và Malaysia trên biển Đông cũng cần được ghi nhận như là một dấu hiệu của việc xây dựng lòng tin song phương giữa hai quốc gia này. Việc Philippine và Brunei không thể tham gia với hai nước này có thể phản ánh mức độ phát triển của luật biển của họ. Một khi tiến trình bổ sung hoàn tất quy trình làm luật trong nước, hợp tác quốc tế bổ sung giữa bốn quốc gia ASEAN này trong đệ trình quốc tế của họ có thể trở nên rõ ràng. Đương nhiên điều này sẽ phản ánh cách thức đồng thuận mà ASEAN ưa thích.  Điều đó cũng có thể mang lại sức nặng trong đàm phán với Trung Quốc vì Trung Quốc rõ ràng sẽ trở thành nước duy nhất còn lại dựa vào các tuyên bố của mình trên cơ sở khác với khuôn khổ quy định đã được thống nhất của UNCLOS. Như vậy, sáng kiến về tiến trình xây dựng lòng tin đa phương mà đã đem đến một hiệp định ranh giới chung giữa các bên tranh chấp trong ASEAN trên cơ sở của các điều khoản trong UNCLOS cần được khuyến khích như một cơ chế để khích lệ Trung Quốc tiến hành tương tự như vậy.

Tất nhiên, Trung Quốc khăng khăng đòi các cuộc đàm phán song phương giữa họ và các quốc gia tranh chấp khác. Có lẽ phương án ưa thích này của Trung Quốc có thể được tôn trọng nếu các cuộc đàm phán song phương được tiến hành sau khi hoàn thành một tiến trình đàm phán đa phương do các nước tranh chấp còn lại tiến hành là Việt Nam, Malaysia, Philippine, Brunei và có lẽ cả Indonesia để đối phó với khu vực phía đông bắc đảo Natuna - nhằm đi đến một sự hiểu biết chung về ranh giới biển Đông giữa họ với nhau. Một trong những sự phức tạp hiện làm các cuộc đàm phán song phương trở nên quá khó khăn đó là thoả thuận của một bên tranh chấp với Trung Quốc ảnh hưởng đến khả năng đàm phán của nước này với tất cả các bên tranh chấp khác. Một tiến trình hai bước dựa trên thoả thuận cấp cao giữa các nước ASEAN, theo sau đó là các cuộc đàm phán song phương với Trung Quốc có thể dẫn đến việc sẽ đạt được một khuôn khổ khu vực mở rộng.

Ngăn chặn việc kiểm soát các đảo và kiềm chế vũ lực. Một trong những khía cạnh hiệu quả nhất của DOC là ngăn chặn sự thay đổi hiện trạng chiếm giữ trong suốt 16 năm, kể từ vụ đảo Vành Khăn (A: Mischief Reef, TQ: Meiji Jiao- nd)  thúc giục các bên phải nhanh chóng thay đổi tiến trình. Các cột mốc được Trung Quốc cắm trên Dải Amy Douglas và bãi đá ngầm Boxall (TQ: Niuchelun- nd) quá gây tranh cãi vì nó báo hiệu một sự đổ vỡ rõ ràng đối với chuẩn mực hành vi mang tính ổn định và cũng là quan trọng nhất này. Các bên cũng hành động với sự kiềm chế quân sự vì thoả thuận không đe doạ hoặc sử dụng vũ lực dường như đã bao hàm một sự hiểu biết rằng khu vực này sẽ không bị quân sự hoá. Tuy nhiên, ngay cả thoả thuận đó, dường như đang bị phá vỡ trong bối cảnh căng thẳng hiện tại. Mặc dù hầu hết người Trung Quốc nhìn nhận đất nước họ như nước duy nhất hành động kiềm chế trong khi các bên tranh chấp khác đoạt mất các nguồn tài nguyên nhưng sự thật có nhiều sắc thái khác. Trung Quốc có thể không quân sự hoá các tranh chấp ở biển Đông, nhưng chắc chắn họ sẽ tận dụng những tiềm lực hàng hải quốc gia to lớn khác để gây ảnh hưởng ở khu vực, bao gồm các tàu của Bộ chỉ huy thực thi luật đánh cá và Dịch vụ thăm dò biển của họ.

Kết luận.

Như đã từng thực hiện trong những năm 1995 và 1996, Indonesia với tư cách Chủ tịch ASEAN trong năm 2011 đã tích cực tìm kiếm để mang lại cho cách tiếp cận hoà bình hơn trong vấn đề giải quyết tranh chấp, bao gồm việc tài trợ cho các cuộc thảo luận và đối thoại. Mỹ đã kêu gọi một cách công khai các bên cần đạt được tiến triển về một thoả thuận mang tính thực thi cho DOC hay cho một Bộ ứng xử COC đầy đủ, chính thức. Philippine đề xuất một vùng tự do và hợp tác. Không thiếu những nguyện vọng tốt nhưng dường như có một sự thiếu vắng ý chí chính trị nhằm tìm kiếm những thoả hiệp và tất cả các bên đều đang sử dụng sức mạnh hải quân đã gửi đi các tín hiệu về sự quyết tâm của họ. Nếu các bên muốn ngăn chặn xung đột, câu trả lời không nằm trong các kiến nghị một mất - một còn về chủ quyền và quyền tài phán mà nằm ở việc kiếm tìm những câu trả lời trong một số ví dụ của các khuôn khổ các bên cùng có lợi mà sẽ khu vực hoá lãnh thổ và vùng nước trên biển Đông, cho phép phát triển chung các nguồn tài nguyên sinh vật và phi sinh vật, và tạo điều kiện cho việc thực thi chung các điều luật. Nếu không tình hình sẽ lại giống như từ trước đến nay – kẻ mạnh sẽ làm những điều mà họ có thể và kẻ yếu sẽ làm những điều mà họ phải làm.

GS. Peter A.Dutton

Hồng Nhung (dịch)

Đõ Thủy (hiệu đính)

Bài tham luận trình bày tại Hội thảo “Biển Đông: Hướng tới một khu vực Hòa bình, Hợp tác và Tiến bộ - The South China Sea: Toward a Region of Peace, Cooperation, and Progress” tổ chức tại Manila, Philippines, 5 – 6 tháng 7 năm 2011.

Bản gốc tiếng Anh “An Assessment of the Effectiveness of Current Maritime Security Frameworks and Mechanisms in the South China Sea



[1]Xem ,v.d., Joseph Y.S.Cheng, “Sino-Vietnamese Relations in the early twenty-first century,” Asian Survey, Vol.51, No.2, March/April 2011, tr.379-405

[2] Xem,v.d., Lyle J.Goldstein, “Resetting the US-China Security Relationship,” Survival, Vol.53, No.2, April-May 2011, tr.89-116

[3] Robert Kagan, The Perils of Wishful Thinking, The American Interest On-line, Junuary-February 2010, có tại http://www.the-american-interest.com/article.cfm?piece=759

[4] Peter Dutton, “Three Disputes and Three Objectives: China and the South China Sea,” Naval War College Review, Autumn 2011 (sắp xuất bản)

[5] “Vietnam Reassearts Sovereignty Over Archipelagoes,” Thanh Nien News, May 7, 2011; “China Reassearts Sovergnty Over Spratly Islands,” Jakarta Globe, March 8, 2011. Gần đây hầu như không có sự tham gia của Đài Loan vào tiến trình trên biển Đông, mặc dù những tuyên bố của họ khá trùng hợp với các tuyên bố của đại lục.

[6] Thư gửi từ Phái đoàn đại diện thường trực của nước Cộng hoà Philippine đến Tổng thư kí Liên Hợp Quốc, 11-00494, No.000228, May 7,2011; “PH Protests China’s 9-Dash Line Claim Over Spratlys,” VERA Files, April 13,2011.

[7] “Manila’s Claim in Spratlys Within West Philippine Sea,” Inquirer News, June 6, 2011.

[8]“Phl Removes Foreign Markers in Spratlys,” Philippine Star, June 16, 2011

[9] Thư từ Phái đoàn đại diện thường trực nước Cộng hoà nhân dân Trung Quốc tới Tổng thư kí Liên Hợp Quốc, 14 April 2011

[10]  Tuyên bố cách ứng xử của các bên trên biển Đông, có tại http://www.aseansec.org/13163.htm

[11] Tuyên bố của Vương quốc Thái Lan khi phê chuẩn cCông ước Liên Hợp Quốc về Luật biển, 25/05/2011

[12] Zou Keyuan, “The Sino-Vietnamese Agreement on Maritime Boundary Delimitation in the Gulf of  Tonkin,” Ocean Development and International Law, Vol 36 (2005), tr. 13-24 2005

 

Bài viết của tác giả Trang Ngọc Hoa, đăng trên trang trang mạng “Viện Nghiên cứu các Vấn đề Quốc tế Trung Quốc – China Institute of International studies” đã nêu ra một số đánh giá và phân tích của phía Trung Quốc về lợi ích, vai trò và chính sách của Nhật Bản trong vấn đề Biển Đông.

Năm 2010, sau khi Hoa Kỳ bày tỏ sự “quan tâm” xoay quanh vấn đề Biển Đông đối với Trung Quốc, Nhật Bản cũng bắt đầu tích cực có hoạt động can thiệp vào, đồng thời, còn làm khó Trung Quốc trên vấn đề biển Đông hải. Hàng loạt những hành động trên tất nhiên không phải do tình cờ, điều này vốn có quan hệ mật thiết với chính sách hải dương của Nhật Bản bấy lâu nay vẫn nhắm vào Trung Quốc. Trên vấn đề Biển Đông, chính sách tổng thể của Nhật Bản có thể chia ra làm bốn thời kỳ. Thời kỳ đầu sau khi chiến tranh kết thúc, đối với chủ quyền, Nhật bản không có những phản đối khác, tới những năm của thập niên 80 thì bắt đầu đặt quan tâm, sau Chiến tranh lạnh bắt đầu lập kế hoạch để can thiệp, và hiện nay, Nhật Bản đang tích cực can thiệp vào vấn đề. Trọng tâm chiến lược hải dương của Nhật Bản trong tương lai tại Đông hải và Thái Bình Dương sẽ là tiếp tục mở rộng, nhưng cũng sẽ dựa trên nhiều yếu tố quan trọng khác như, an toàn hàng hải của bản thân Nhật bản, kiềm chế thế lực của Trung quốc, ngăn chặn Trung Quốc mở rộng ảnh hưởng, đòi hỏi về hải quyền, và đàm phán với Trung Quốc về chủ quyền tại Đông Hải. Nhật Bản cũng sẽ tiếp tục thực hiện liên minh với Hoa Kỳ, lôi kéo Việt Nam, và còn diễn vai trò của kẻ khoắng nước để dụng hỏa đả công.

I-Vị thế của Biển Đông thay đổi trong chiến lược đối ngoại của Nhật Bản

 

1-Từ thập niên 80 của thế kỷ 20, Nhật Bản bắt đầu quan tâm chú tới vấn đề Biển Đông.

 

Nhật Bản là quốc gia thiếu thốn tài nguyên, có tới 95% lượng năng lượng tiêu thụ phải dựa vào nhập khẩu[1], nguồn năng lượng quan trọng nhất là dầu mỏ chủ yếu đi qua tuyến đường vận chuyển trên Biển Đông để tới được Nhật Bản. Ngoài ra, có tới 99% lượng hàng hóa Nhật Bản xuất khẩu đi các nơi cũng dựa vào tuyến đường biển, những sản phẩm hàng hóa xuất khẩu được vận chuyển tới thị trường Âu châu, những hàng mậu dịch xuất nhập khẩu vào Đông Nam Á và Châu Đại Dương cũng chủ yếu dựa vào tuyến đường qua Biển Đông. Nếu để tầu thuyền chở hàng di chuyển qua Philippine theo tuyến hải trình phía đông, nó sẽ làm cho giá thành hàng hóa thành phẩm của Nhật Bản tăng lên từ 2 đến 5%. Do đó, tuyến đường hàng hải trên Biển Đông được Nhật Bản nhìn nhận đánh giá là “tuyến đường sinh tử” trên biển. Theo đà thực lực kinh tế phát triển nhanh chóng, Nhật Bản ngày càng mở rộng thái độ quan tâm đối với an ninh hàng hải trên tuyến đường Biển Đông.

Đồng thời, thực lực quân sự ngày càng được tăng cường cũng làm cho Nhật Bản chú ý xem xét hơn tới việc bảo vệ an ninh trên tuyến đường biển. Trong thời kỳ đầu lực lượng phòng vệ Nhật Bản mới được thành lập, phạm vi phòng vệ được xác định lấy lãnh thổ làm trung tâm và trải rộng ra trong vòng 200 hải lý, cho tới các vùng eo biển Tsugaru và Tsushima. Những năm của thập niên 80, Hoa kỳ dần thực hiện chiến lược rút gọn trên toàn cầu, đồng thời yêu cầu Nhật Bản đẩy mạnh mở rộng trang bị quân sự, đảm trách nhiều nhiệm vụ tác chiến hơn. Năm 1981, Thủ tướng Nhật Bản Zenko Suzuki viếng thăm Hoa Kỳ, chính thức tiếp nhận yêu cầu của phía chính phủ Mỹ, và cam kết để lực lượng phòng vệ trên biển của Nhật Bản đảm bảo nhiệm vụ bảo vệ cho tuyến đường 1000 hải lý trên biển. Từ đó đến nay, Nhật Bản chịu trách nhiệm bảo vệ an toàn cho “tuyến đường biển tây nam” từ vịnh Osaka tới eo biển bashi, còn tuyến đường biển từ eo biển Bashi xuống phía nam do quân đội Hoa Kỳ đảm trách[2]. Trong “ Sách trắng Quốc phòng Nhật Bản năm 1983” đã lần đầu tiên đưa ra nguyên tắc: “Hàng trăm hải lý xung quanh Nhật Bản, và khoảng 1000 hải lý trên tuyến đường biển trong khu vực là thuộc phạm vi phòng thủ địa lý của Nhật Bản”[3].  

2-Sau Chiến tranh lạnh, Nhật Bản điều chỉnh mục tiêu chiến lược quốc gia, trên mặt chiến lược, từng bước can thiệp vào khu vực Biển Đông.

Sau chiến tranh lạnh, tình hình quốc tế phát sinh nhiều thay đổi sâu sắc. Thực lực kinh tế và quân sự Nhật Bản nhanh chóng được tăng cường, tranh chấp trở thành chính trị, cường quốc về quân sự được khẳng định là mục tiêu chiến lược quốc gia. Đồng thời, từ phía Nhật Bản nhìn lại, sự phát triển nhanh chóng của Trung quốc đã đưa tới cho Nhật Bản một tương lai chịu những áp lực và thách thức, mâu thuẫn Trung - Nhật càng gia tăng. Dưới hoàn cảnh đó, Nhật Bản đã để mắt tới những tranh chấp trên Biển Đông, đồng thời xây dựng luật pháp để thò tay can thiệp vào những vấn đề an ninh liên quan, không ngừng tăng cường mở rộng sức ảnh hưởng tại khu vực này.

Sau khi bùng phát tranh chấp giữa Trung - Phi - Mỹ xung quanh dải đá ngầm Mischief Reef (dải Vành Khăn của VN) năm 1995, Nhật Bản bắt đầu có thái độ khai thác can thiệp trính trị. Trong khi hội đàm giữa những nhà lãnh đạo Nhật Bản và lãnh đạo Trung Quốc, phía Nhật Bản đã liên tiếp bày tỏ ý kiến quan tâm tới quần đảo Trường Sa. Khi tham gia hội nghị Diễn đàn Đông Nam Á lần 2, Ngoại trưởng Nhật Yohey Kono đã đưa ra ý kiến về việc có thể đem vấn đề Biển Đông ra thảo luận trong khuôn khổ của “Diễn đàn khu vực Đông Nam Á”. Nhật Bản kỳ vọng sẽ học hỏi được kinh nghiệm xử lý đối phó với Trung Quốc từ những tranh chấp trên Biển Đông, đồng thời còn muốn dùng những tranh chấp này để khống chế Trung Quốc.

Đọc toàn bộ bản dịch bài viết tại đây

Nguồn 日本在中国南海问题上扮演的角色

Theo Tạp chí “Nghiên cứu các vấn đề quốc tế”, kỳ số 3, năm 2011)

Người dịch: Đăng Dương– Trung tâm Nghiên cứu Biển Đông



[1] Điều tra thống kê tài nguyên của Cục Chính sách Công nghiệp và Kinh tế, thuộc Bộ Kinh tế và Công nghiệp Nhật Bản.

[2] Báo cáo của Tiểu ban Hợp tác và Phòng vệ trực thuộc Uỷ ban Hiệp định  An ninh và Phòng thủ chung Mỹ Nhật. Bản “Báo cáo Triệu Hòa, ngày 27 tháng 11 năm 1953”.http://www.clearing.mod.go.jp/hakusho_data/1981/w1981_9134.html.

[3] Xem “ Sách trắng Quốc phòng Nhật Bản ”. Bản in năm Triệu Hòa thứ 58 http://www.clearing.mod.go.jp/hakusho_data/1983/w1983_03.html

 

 

Loạt bài của Giáo sư Tiến sĩ Djalal Hasyim, đại diện cho Inđônêxia tại một số hội nghị Liên hợp quốc về luật biển, từng là Đại sứ Inđônêxia tại Ốttaoa (Canađa) và Bonn (Đức) với nhan đề “Lessons learned at the SCS workshop process” (Part I, II, III) đăng trên tờ Jakarta Post đề cập những mục đích, bài học rút ra từ các hội thảo về Biển Đông. Qua đó, tác giả cũng đưa ra một số khuyến nghị cho vấn đề giải quyết tranh chấp Biển Đông. Bài viết dựa trên những tham luận của ông tại "Hội nghị về Phát triển và Biển Đông", do Trung tâm Luật quốc tế Xinhgapo tổ chức mới đây.

Hội thảo quốc tế về Biển Đông lần 2 (TP. Hồ Chí Minh 11/2010)

I/ Mục đích của các cuộc Hội thảo về Biển Đông

Các cuộc hội thảo không chính thức về Biển Đông không nhằm mục đích giải quyết tranh chấp lãnh thổ giữa những quốc gia tuyên bố chủ quyền, mà nhằm đạt được 3 điều:

Thứ nhất, đề ra các chương trình hợp tác, bao gồm tất cả các bên tham gia; Thứ hai, thúc đẩy đối thoại giữa các bên có lợi ích trực tiếp để có thể tìm được giải pháp cho vấn đề của họ; Thứ ba, phát triển một quá trình xây dựng lòng tin lẫn nhau giữa các bên.

Thực tế ở Biển Đông cho thấy hợp tác kỹ thuật là vấn đề tương đối dễ dàng đạt được hơn là vấn đề phân bổ các nguồn tài nguyên, hay các vấn đề khó khăn hơn về chủ quyền, lãnh thổ và pháp lý. Liên quan đến xúc tiến và hợp tác, các bên liên quan ở Biển Đông đã đồng ý với nhiều cam kết, và một số trong số đó đã được thực hiện, chẳng hạn như cuộc khảo sát đa dạng sinh học. Các cam kết khác đang trong quá trình thực hiện như giám sát sự dâng cao mực nước biển và môi trường. Ngoài ra, các chương trình đào tạo cho Mạng lưới Đông Nam Á về Giáo dục và Đào tạo cũng đang được thực hiện cùng với vùng lãnh thổ Đài Loan (năm 2010) và với Trung Quốc (năm 2011), có lợi cho tất cả các bên liên quan đến Biển Đông.

Đối với việc thúc đẩy đối thoại giữa các bên, Trung Quốc và Việt Nam đã có thể thoả thuận về đường phân định trên biển trong Vịnh Bắc Bộ, và trong một số trường hợp, hợp tác chung về thủy sản trong khu vực. Việt Nam và Inđônêxia cũng đã đồng ý phân định thềm lục địa ở phần phía Nam của Biển Đông, phía Bắc Natuna.

Để thúc đẩy xây dựng lòng tin, ASEAN và Trung Quốc đã ký Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC). Philíppin cũng đã đồng ý với quy tắc ứng xử với Trung Quốc và Việt Nam .

Nhiều bài học đã được rút ra từ quản lý xung đột tiềm năng hoặc các xung đột thực tế ở Biển Đông. Một số trong những bài học này cũng có thể hữu ích cho các vùng khác. Ở đây còn có các diễn đàn khác để giải quyết các vấn đề Biển Đông, như đối thoại ASEAN-Trung Quốc và thảo luận không chính thức trong Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) và Hội đồng Hợp tác An ninh châu Á-Thái Bình Dương (CSCAP). Tuy nhiên, các bên tham gia Hội thảo về Biển Đông (SCSW) phải đồng ý rằng quá trình này nên tiếp tục và được hỗ trợ bởi tất cả các quốc gia ven biển hoặc các cơ quan có thẩm quyền của Biển Đông.

II/ Một số bài học rút ra từ 20 năm quản lý quá trình Hội thảo về Biển Đông

Các bên tranh chấp phải nhận thức rằng các bùng phát xung đột - nhất là xung đột vũ trang - sẽ không giải quyết được tranh chấp và sẽ không bên nào được hưởng lợi. Trong thực tế, nó chỉ có thể mang lại thiệt hại hay mất mát cho các bên mà thôi.

Chính trị sẽ tồn tại để giải quyết tranh chấp một cách hòa bình và có biện pháp để giữ cho các tranh chấp không leo thang thành xung đột vũ trang. Các bên phải nhận thức rằng giải quyết các tranh chấp có lợi hơn là kéo dài tranh chấp.

Các bên liên quan không nên lập pháp hóa bất kỳ tuyên bố nào về lãnh thổ, nhất là về những khu vực đang tranh chấp. Lập pháp hóa tuyên bố về lãnh thổ và tìm kiếm sự ủng hộ thông qua ý kiến ​​ công chúng có xu hướng làm cứng rắn hơn thái độ của tất cả các bên, làm cho các giải pháp, thỏa hiệp hoặc thậm chí là giải pháp tạm thời cũng trở nên khó khăn hơn.

Ở đây có một yêu cầu rất lớn để tăng tính minh bạch trong chính sách quốc gia, pháp luật, tài liệu và tổ chức các cuộc họp thường xuyên hơn - chính thức hay không chính thức - giữa cán bộ pháp lý của các nước liên quan để trao đổi tài liệu và thông tin về kế hoạch lập pháp của họ. Những nỗ lực thành công thường bắt đầu với nỗ lực chính thức. Các bên liên quan cần thực thi chính sách ngoại giao phòng ngừa, có lợi trong giải quyết các vấn đề khu vực hoặc quốc tế. Những giải pháp chỉ xét đến lợi ích quốc gia hoặc khu vực mà bỏ qua lợi ích của các quốc gia ngoài khu vực sẽ là giải pháp kéo dài, không hiệu quả.

III/ Một số nguyên tắc cơ bản để đưa ra sáng kiến ​​ chính thức trong Hội thảo về Biển Đông

1. Sử dụng cách tiếp cận bao gồm tất cả, không loại trừ bất kỳ quốc gia hoặc bên liên quan trực tiếp nào.

2. Bắt đầu với các vấn đề ít nhạy cảm để các bên tham gia cảm thấy thoải mái thảo luận mà không gây ác cảm từ chính phủ hoặc cơ quan tương ứng của họ. Ví dụ, dầu khí và tài nguyên thiên nhiên là chủ đề nhạy cảm, còn bảo vệ môi trường là một chủ đề dễ thảo luận hơn.

3. Những người tham gia nên là các nhân vật cấp cao hay có vai trò quan trọng trong cơ quan hay chính phủ của họ, kể cả khi tham gia quá trình này với tư cách cá nhân.

4. Ít nhất là trong giai đoạn ban đầu, không nên thể chế hoá cơ cấu của quá trình hoặc tạo ra một cơ chế vĩnh viễn. Giữ quá trình linh hoạt ở mức có thể.

5. Không nên phóng đại sự khác biệt và cần nhấn mạnh đến hợp tác. Đem sự chú ý quốc tế mang tính khiêu khích ngay lập tức hay quá sớm vào đối thoại có thể gây bất lợi về lâu dài.

6. Do một số vấn đề nhất định có tính tinh tế và nhạy cảm nên cần khôn ngoan bắt đầu với những gì có thể và theo phương pháp tiếp cận từng bước, bảo đảm tính nguyên tắc song cần xét đến hiệu quả.

7. Cần hiểu rằng quá trình quản lý các xung đột tiềm năng là một quá trình liên tục lâu dài, không cần coi việc thiếu kết quả cụ thể hay ngay lập tức là nguyên nhân gây thất vọng hay thất bại.

8. Giữ các mục tiêu một cách đơn giản. Các hội thảo về Biển Đông có ba mục tiêu: Tìm hiểu làm thế nào để hợp tác, khuyến khích đối thoại giữa các bên liên quan trực tiếp, và phát triển lòng tin để các bên tham gia cảm thấy thoải mái thảo luận về các vấn đề khó khăn.

9. Vai trò của người khởi xướng, người đối thoại, người triệu tập của quá trình, người ủng hộ vô tư và các nhà tài trợ đều rất quan trọng. Đòi hỏi tất cả phải vô tư và có sự kiên nhẫn, cống hiến, kiên trì và đủ kiến ​​ thức về các vấn đề tế nhị có liên quan, đồng thời phải tôn trọng, hỗ trợ liên tục và hợp tác giữa tất cả các bên tham gia. Luôn nhớ cần thúc đẩy lợi ích chung hơn là lợi ích của ngành hoặc nhóm, để hướng tới một quyết định đồng thuận.

IV/ Những bài học bổ sung sau khi quá trình Hội thảo không chính thức về Biển Đông được khởi xướng cách đây 20 năm

1. Các nước lớn trong khu vực nên quan tâm đến quan điểm của những người hàng xóm của họ, đặc biệt là các nước nhỏ hơn. Các nước lớn hơn nên cẩn thận để tránh bị coi là thống trị hoặc bắt nạt các nước láng giềng nhỏ hơn.

2. Các nỗ lực cần được mở rộng để các bên tham gia các chương trình hợp tác và làm sâu sắc thêm các lĩnh vực hợp tác, đồng thời thúc đẩy tăng trưởng của các nước trong khu vực. Những nỗ lực hợp tác nhiều hơn nhằm đem lại lợi ích kinh tế lẫn nhau, sẽ đem lại khả năng thành công lớn hơn.

3. Nên nhấn mạnh hơn về những lợi ích chung và khu vực. Các nước trong khu vực cần tìm hiểu làm thế nào để theo đuổi lợi ích quốc gia và duy trì sự hài hòa khu vực. Trong thực tế, nên nhận thức lợi ích khu vực như một phần của lợi ích quốc gia.

4. Nên tiến triển dần dần từ quan niệm về khả năng phục hồi quốc gia để thúc đẩy sự gắn kết khu vực và khả năng phục hồi khu vực. Quan niệm về khả năng phục hồi quốc gia cho thấy sức mạnh của một quốc gia phụ thuộc và sẽ bị ảnh hưởng bởi các mối liên kết yếu nhất của nó. Khả năng phục hồi quốc gia sẽ tăng nếu các điểm yếu của các bộ phận cấu thành được khắc phục và sự liên kết và gắn kết giữa tất cả các thành phần được tăng cường. Tương tự, khả năng phục hồi khu vực sẽ bị ảnh hưởng bởi sự bất ổn ở một hay nhiều các quốc gia thành phần, hay từ sự liên kết và gắn kết giữa các nước thành viên bị giảm sút.

5. Các nước trong khu vực cần ít nhạy cảm hơn về khái niệm chủ quyền quốc gia, bởi ngày càng có nhiều vấn đề mang tính quốc gia trong quá khứ trở thành mang tính khu vực và có ý nghĩa khu vực hơn, chẳng hạn như vấn đề môi trường, một số vấn đề ổn định chính trị trong nước nhất định, vấn đề quyền con người, thậm chí một số vấn đề tiền tệ và tài chính, như đã cho thấy gần đây ở Đông Nam Á.

6. Với ý nghĩa thực sự là các nước láng giềng phương Đông tốt, các nước trong khu vực nên hữu ích cho các nước láng giềng nếu cần. Mọi sự hỗ trợ của các nước giàu hơn và mạnh hơn cho các nước nghèo hơn và yếu hơn trong khu vực đều không nên dựa trên tính toán lợi ích kinh doanh và lợi ích quốc gia một cách chặt chẽ, mà cần có một yếu tố mạnh mẽ của lòng tốt và sự vô tư, để có thể thúc đẩy mạnh mẽ hơn sự gắn kết khu vực.

7. Các nước trong khu vực nên tránh các cuộc đua vũ trang với nhau, bởi trong thực tế họ có thể phối hợp các nhu cầu phòng thủ, củng cố sự hòa hợp khu vực và tính minh bạch. Có rất nhiều hợp tác an ninh phi quân sự có thể được phát triển để tránh xảy ra chạy đua vũ trang trong khu vực, như ngăn chặn cướp biển, buôn bán ma túy, các vấn đề tị nạn, chủ nghĩa khủng bố quốc tế, buôn lậu...

8. Các nước lớn bên ngoài có thể và có khả năng thực tế hỗ trợ phát triển một bầu không khí xây dựng trong khu vực cho sự ổn định, hòa bình và tiến bộ. Tuy nhiên, các nước lớn này không nên can dự vào tranh chấp lãnh thổ hoặc quyền tài phán, trừ khi có yêu cầu của các bên liên quan, hoặc nếu hậu quả của việc tranh chấp đe dọa trực tiếp đến họ hay lợi ích của họ, hoặc sẽ gây nguy hiểm cho hòa bình và ổn định trong khu vực.

9. Các quốc gia trong khu vực nên thực hiện ngoại giao phòng ngừa bằng cách ngăn ngừa tranh chấp trở thành xung đột vũ trang mở, xung đột leo thang hay lan rộng. Việc có được nhiều cuộc đối thoại và các biện pháp xây dựng lòng tin hơn giữa tất cả các bên liên quan, được hỗ trợ một cách phù hợp bởi bên thứ ba là cần thiết.

10. Các nước trong khu vực cần tăng cường nỗ lực hợp tác để có thể quản lý được các xung đột tiềm năng bằng cách chuyển đổi chúng thành các hợp tác thực tế. Bất kỳ cuộc xung đột tiềm năng nào cũng có các yếu tố hợp tác. Những nỗ lực xây dựng và thực hiện dự án hợp tác phải được thể hiện một cách cụ thể thông qua hỗ trợ tài chính, kỹ thuật và hành chính cần thiết.

11. Các quốc gia trong khu vực cần phát triển nhiều diễn đàn đối thoại - song phương hoặc đa phương, chính thức hay không chính thức - để cuối cùng có thể đi đến một bộ các thoả thuận quy tắc ứng xử cho khu vực. Không nên đánh giá thấp sự đóng góp của hai hướng này cho các hoạt động ngoại giao phòng ngừa.

12. Các quốc gia có thể theo đuổi các con đường khác nhau cho giải quyết hòa bình các tranh chấp thông qua thương lượng, song phương nếu là tranh chấp song phương, hoặc đa phương nếu là tranh chấp đa phương. Vì hầu hết các bên liên quan đều là thành viên Liên Hợp Quốc và là các bên tham gia Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982 (UNCLOS), và tất cả đều cam kết giải quyết hòa bình các tranh chấp, nên đều có thể thực hiện những cam kết này để giải quyết tranh chấp một cách hòa bình sớm nhất có thể.

13. Các cơ chế bên thứ ba cho giải quyết tranh chấp cũng cần được khai thác và tận dụng, chẳng hạn như các cơ quan thiện chí, hòa giải, trọng tài, và nếu cần thiết có thể phán xử thông qua Tòa án quốc tế, Luật của Tòa án biển. Năm 1976, các nước ASEAN đã ký Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác (TAC), trong đó nhất trí về một số cơ chế giải quyết tranh chấp giữa các nước thành viên. Một cơ chế mới cho Biển Đông về tổng thể cần được xem xét hoặc trên cơ sở TAC hoặc từ các mô hình khác.

14. Các nước trong khu vực nên cố gắng giải quyết ranh giới trên bộ, trên biển và quyền tài phán càng sớm càng tốt đồng thời với việc tôn trọng các thoả thuận ranh giới. Không nên giải quyết vấn đề biên giới bằng cách đơn phương ban hành luật pháp quốc gia, bởi pháp luật có xu hướng khiến lập trường trở nên cứng rắn, hơn là cho phép các bên tham gia tìm kiếm các giải pháp. Chậm trễ trong việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ và quyền tài phán sẽ không hữu ích trong việc thúc đẩy hòa bình và ổn định. Trên thực tế, sự trì hoãn giải quyết tranh chấp càng lâu thì quan điểm của các bên càng trở nên cứng rắn hơn, khiến cho việc giải quyết trở nên khó khăn hơn, bất lợi cho các nước liên quan và cho toàn bộ khu vực nói chung.

15. Tại một số khu vực tranh chấp, việc áp dụng một khái niệm phát triển chung có thể có ích, nhất là đối với các khu vực tranh chấp có quy mô lớn. Các bên liên quan có thể xây dựng các mục tiêu cũng như cơ chế cho sự phát triển chung, và sẵn sàng đàm phán nghiêm túc về vấn đề này.

16. Sự tham gia của các học giả và các chuyên gia vào thảo luận việc giải quyết các xung đột tiềm năng là hữu ích.

17. Cần xem xét đến mọi lợi ích của các nước trong khu vực, và không nên loại bỏ hoàn toàn tiềm năng đóng góp của mỗi nước để tránh xảy ra xung đột trong khu vực .

18. Gần đây, đã có gợi ý rằng một số nước ASEAN cần đoàn kết chống lại Trung Quốc về vấn đề lãnh thổ và quyền tài phán trên Biển Đông (như đã được Kompas đăng tải ngày 1/6/2011). Nỗ lực này có thể khó khăn vì nhiều lý do:

a - Một số nước ASEAN đã có tranh chấp với nhau, chẳng hạn như Philíppin và Malaixia. Trong thực tế, khi Malaixia và Việt Nam đệ trình chung các giới hạn của thềm lục địa của họ ở Biển Đông lên Ủy ban ranh giới thềm lục địa Liên hợp quốc, thì Philíppin và Trung Quốc đã phản đối.

b - Trong số 10 nước ASEAN, có bốn nước liên quan đến tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông (Việt Nam, Malaixia, Brunây và Philíppin), sáu nước còn lại (Inđônêxia, Xinhgapo, Thái Lan, Campuchia, Lào và Mianma) không liên quan hoặc không liên quan trực tiếp. Sáu nước này có thể không có lợi ích cụ thể để tham gia tranh chấp lãnh thổ, ngoại trừ thể hiện tình đoàn kết trong khối hay sự cần thiết phải đảm bảo hòa bình và ổn định trong khu vực. Sáu nước này, mặc dù không tuyên bố về chủ quyền, song có thể cùng đưa ra một sáng kiến ​​ chung để đưa bốn nước kia vào bàn đàm phán với hai bên ngoài ASEAN tuyên bố chủ quyền.

c - Sự hình thành ASEAN thống nhất chống Trung Quốc dường như là một cách tiếp cận đối đầu hơn là hợp tác. Quá trình SCSW được thúc đẩy bởi cách tiếp cận hợp tác trong vòng 20 năm qua để tránh những tình huống đối đầu. Kinh nghiệm đã chỉ ra rằng Trung Quốc dường như đáp lại với hợp tác nhiều hơn là đối đầu.

d - Cuối cùng, một giải pháp phát triển chung cho các nguồn tài nguyên dầu khí ở Biển Đông là có thể, nếu các bên liên quan có thể xem xét những bài học từ quá trình SCSW đã liệt kê ở trên./.

Theo Jakarta Post

Trần Quang (gt)

 

Bài nghiên cứu của hai học giả Trung tâm Tài nguyên và An ninh Đại dương Quốc gia Úc, Đại học  New South Wales, Úc phân tích ba lĩnh vực trong vấn đề Biển Đông: địa chính trị, phát triển hải quân và chiến lược.  Trong đó nghiên cứu cụ thể  về việc Trung Quốc phản đối các hoạt động quân sự ở vùng đặc quyền kinh tế nhằm thể hiện quyết tâm tăng cường vị thế chiến lược tại Biển Đông.

 

An ninh hàng hải ở Biển Đông đang phải đối mặt với một loạt các thách thức, từ các mối đe dọa ở mức độ thấp mang tính phi truyền thống đến các tính toán mang tính chiến lược chính trị truyền thống, bao gồm tiềm năng xung đột giữa các quốc gia trong khu vực đối với các vùng lãnh thổ hoặc tài nguyên biển và khả năng xung đột giữa các cường quốc. Bài viết này tập trung vào các tuyến giao thông chính trên biển ở Biển Đông, sự phát triển hải quân trong khu vực, và một nghiên cứu tình huống về việc Trung Quốc phản đối các hoạt động quân sự ở vùng đặc quyền kinh tế ở Biển Đông. Bài viết đưa ra lập luận rằng Bắc Kinh đang lại một lần nữa thể hiện một thái độ quyết tâm để tăng cường vị thế chiến lược của mình ở Biển Đông trong khi các quốc gia khác trong khu vực cũng đang khẳng định yêu sách và phát triển khả năng hải quân của họ.

Giới thiệu

Nền trật tự và an ninh tốt ở Biển Đông đang phải đối mặt với một loạt các thách thức, từ các mối đe dọa ở mức độ thấp mang tính phi truyền thống đối với môi trường và sự thịnh vượng kinh tế của các cộng đồng nhỏ ven biển vốn phụ thuộc vào biển; đến các mối lo ngại mang tính truyền thống hơn về cướp biển và các loại hình tội phạm khác trên biển; cho đến các tính toán chính trị, bao gồm tiềm năng xung đột giữa các quốc gia trong khu vực đối với các vùng lãnh thổ đang tranh chấp, quyền tài phán trên biển, và các tài nguyên biển có liên quan.Ở mức cao nhất của các mối đe dọa, khả năng xung đột giữa các cường quốc cũng vẫn luôn hiện hữu ở vùng biển quan trọng như vậy mà liên quan đến những tuyến liên giao thông trên biển tấp nập và quan trọng nhất thế giới.

Có rất nhiều lí do, ít nhất là trên lí thuyết, giải thích tại sao các nỗ lực nhằm giải quyết và cải thiện các thách thức đối với trật tự, an ninh, và phúc lợi ở một vùng biển nửa kín, mà đa số các thách thức đó lại mang tính truyền thống, cần phải được chia sẻ một cách hợp tác giữa các quốc gia ven biển. Tuy nhiên, các vấn đề nhạy cảm chính trị có liên quan ở khu vực Đông Nam Á, mà tại đó các lợi ích quốc gia thường xung đột với nhau, hoặc ít nhất là khác biệt nhau cũng nhiều như được chia sẻ, đã khiến cho việc đạt đến một “thể chế hàng hải ổn định” như Michael Leifer đã mô tả vào năm 1991 trở nên vô cùng khó trở thành hiện thực.[1] Biển Đông là một trường hợp khó khăn chủ yếu là do địa lý phức tạp và hệ quả của những bế tắc về quyền tài phán. Hơn nữa, các quan điểm và cách giải thích không thống nhất về luật biển của cả các quốc gia ven biển và quốc gia sử dụng đã khiến cho Công ước LHQ về Luật Biển (UNLOS)[2] trở thành một cơ sở không vững chắc cho việc thành lập nên một thể chế hàng hải ổn định như của Leifer.[3]

Thêm vào đó, khu vực này đang ngày càng trở nên bất ổn do tình trạng không chắc chắn và vận động về chiến lược, với sự trỗi dậy của Trung Quốc và tính cương quyết ngày càng tăng của nước này đã tác động mạnh mẽ tới các tranh chấp lãnh thổ lâu năm và các mối thù địch truyền thống. Để giải quyết các khía cạnh chiến lược và hải quân của an ninh Biển Đông, bài viết này đã chọn ra ba trong số rất nhiều lĩnh vực để phân tích chi tiết: địa lý chiến lược, phát triển hải quân và chiến lược, và các tình hình tranh cãi gần đây về các hoạt động quân sự ở vùng đặc quyền kinh tế (EEZ).

Địa lý Chiến lược

Biển Đông là một không gian lớn nối liền khu vực nam Trung Quốc và Đài Loan với khu vực Đông Nam Á bán đảo và quần đảo. Biển Đông cũng cấu thành một khu vực thiết yếu của tuyến thương mại trên biển: cả Châu Âu và Trung Đông tới Bắc Á; Đông Nam Á tới Bắc Á; và phần lớn của Đông Nam Á tới Thái Bình Dương và Bắc Mỹ.[4] Địa lý của khu vực Biển Đông là một yếu tố quan trọng trong việc phân tích chiến lược. Vị trí trung tâm của nó ở Đông Á khiến nó có tầm quan trọng đối với giao thông thương mại và chiến lược. Sự phức tạp của nó mang lại mối hiểm nguy thực tế đối với an toàn hàng hải và hiểm nguy chính trị với vai trò là một tranh chấp quốc tế. Trên thực tế, các đặc tính chính trị, văn hóa, dân tộc, lịch sử và chiến lược khác nhau của các quốc gia ven biển đã mang lại các tiềm năng về các tranh chấp hoặc xung đột không thường trực.

Biển Đông được bao quan bởi tám chính thể ven biển: Brunei, Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Philippine, Singapore, Đài Loan và Việt Nam cũng như Campuchia và Thái Lan trong vùng Vịnh Thái Lan. Các giới hạn địa lý của Biển Đông được xác lập một cách không rõ ràng và ở một mức độ nào đó còn bị tranh cãi. Ví dụ, Tổ chức Thủy văn học Quốc tế (IHO), đã cố gắng chỉnh sửa ấn phẩm về giới hạn của Biển Đông được phát hành năm 1953 trong hơn 20 năm qua.[5] Ấn phẩm tái bản năm 2002 của tổ chức này về Các giới hạn của Đại dương và Biển vẫn chỉ đang ở dạng dự thảo.[6]  Phiên bản dự thảo năm 2002 đã loại trừ các khu vực quan trọng được nêu trong phiên bản năm 1953: biển Natuna ở phía Nam (bản sửa đổi này dường như đã ước tính các đường cơ sở của Indonesia); Vịnh Bắc Bộ ở phía tây (bên cạnh Vịnh Thái Lan vốn đã bị loại trừ từ trước); và Eo biển Đài Loan ở phía bắc.[7] Bài viết này không đưa ra quan điểm về giới hạn của Biển Đông, mà chỉ lưu ý tính chất chưa rõ ràng của việc xác định nó.[8] Tuy nhiên, cho dù giới hạn chính xác có được vẽ ở đâu, thì biển Đông cũng là một vùng biển rộng lớn và bao trùm một diện tích ước lượng khảng 2,7 đến 3 triệu kilomet vuông.

Những nút thắt cổ chai

Địa hình phức tạp của Biển Đông, chủ yếu do tính chất quần đảo của các rìa đông và nam của nó, đồng nghĩa với việc hầu hết các điểm vào và ra chủ yếu cho hoạt động hàng hải đều hẹp và là “các nút thắt cổ chai” theo ngôn ngữ của an ninh hàng hải. Một số tuyến đường rất hẹp và nguy hiểm, trong khi số khác thì không. Nổi bật nhất trong số các nút thắt này bao gồm:[9]

Eo biển Singapore và Malacca – tuyến đường ngắn nhất nối Biển Đông với Ấn Độ Dương, thông qua Biển Andaman;

Eo biển Karimata – nối với Biển Java và sau đó là các Eo biểm Sunda và Lombok;

- Eo biển Balabac – nối với phần phía nam của Biển Sulu (phía nam Palawan) và sau đó với Thái Bình Dương qua Eo biển Surigao và Biển Philippin;

Eo biển Mindoro – nối qua Eo biển Apo Đông và Cuyo Đông với khu vực phía bắc của Biển Sulu;

- Lộ tuyến Đảo Verde – tuyến đường nối tới Biển Sulu thông qua Eo Biển Cuyo Đông và tới Biển Philippin và Thái Bình Dương thông qua Eo biển San Bernadino;

Kênh Bashi và Kênh Balingtang – nối với Biển Philippin và Thái Bình Dương giữa Đài Loan và Luzon; và

Eo biển Đài Loan.

Các Tuyến Giao thông trên Biển(SLOCs)

Như đã nêu ở trên, Biển Đông là một trong những tuyến đường nhộn nhịp và quan trọng nhất thế giới. Rất khó để có được dữ liệu chất lượng về thông thương qua khu vực này. Tuy nhiên, một vài chỉ số thường được trích dẫn bao gồm việc thương mại dọc Biển Đông liên quan đến gần một nửa trọng tải các đội tàu thương mại toàn cầu. Đặc biệt, nó là tuyến đường quan trọng cho nguồn cung cấp năng lượng từ biển đến từ Trung Đông, Châu Phi, Châu Úc, và Đông Nam Á tới các nền kinh tế phụ thuộc vào nhập khẩu ở Đông Bắc Á. Dầu khí đặc biệt là một mặt hàng thiết yếu và mang tính chiến lược, khiến cho Biển Đông trở nên quan trọng đối với cả an ninh hàng hải và an ninh năng lượng. Một lượng đáng kể của khối lượng dầu và khí được vận tải thường niên đi qua Biển Đông: ước tính Nhật, Hàn Quốc, và Đài Loan mỗi nước nhập khẩu hơn 80% lượng dầu thô qua đường Biển Đông;  và, với Trung Quốc, hiện đang nhập khẩu hơn 50% tổng lượng dầu tiêu thụ, khoảng từ 80% đến 90% của lượng nhập khẩu đó là đi qua đường Biển Đông.[10] Định lượng dầu, khí và các nguồn năng lượng khác được nhập khẩu qua những SLOC này dự kiến sẽ tăng một cách đáng kể trong vài thập kỷ tới.

Như đã nêu ở trên, không hề có một tuyến đường duy nhất, mà có rất nhiều, tùy thuộc vào xuất xứ và nơi đến của các chuyến hàng, hướng đi, và thời điểm trong năm cũng như tình trạng thời tiết. Tuyến đường quan trọng nhất trên biển là tuyến vào và ra khỏi Biển Đông qua các Eo biển Malacca và Singapore, hai eo biển này sẽ còn đón nhận thêm nhiều chuyến hàng hơn nữa trong thời gian tới, bất kể các tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Chẳng hạn, trong thời gian gần đây, số lượng các tàu buôn quốc tế đi qua Eo biển Malacca đã tăng từ khoảng 44.000 trong năm 1999 lên đến hơn 70.000 vào năm 2007.[11]

Tuy nhiên, tuyến đường tiếp theo sau khi một con tàu đã đi qua Eo biển Malacca và Singapore (hoặc đi theo lộ tuyến đến các eo biển này), có thể sẽ khác nhau tùy thuộc vào các yếu tố được nêu ở trên. Thông thường các tàu rời khỏi Eo biển Singapore, và đi về hướng đông bắc, qua phía tây Đảo Anambas của Indonesia, giữa Rạng Charlotte và Prince Consort (hay bãi Tây Vệ trong tiếng Trung Quốc) của quần đảo Trường Sa, giữa Bãi Đá ngầm Bombay (hay Lãng Hoa tiêu trong tiếng Trung Quốc) của Quần đảo Hoàng Sa và Rạng Macclesfield (hay Quần đảo Trung Sa trong tiếng Trung Quốc) và sau đó tới Hồng Công hoặc đi qua Eo biển Đài Loan; hoặc tới phía đông của Rạng Macclesfield và sau đó đi qua Kênh Bashi hoặc Balingtang đến Nhật Bản hay các nước Đông Bắc Á khác. Các tuyến đường khác nối Singapore với Thái Bình Dương, bao gồm tuyến đường đi qua Rạng Prince Consort và sau đó đi qua Bãi Đá ngầm Bắc Danger (hay Quần đảo Song Tử theo tiếng Trung Quốc) của Quần đảo Trường Sa tới Eo biển Đảo Verde của Philippin và sau đó tới Eo biển San Bernadino của Philippin; tuyến đường đi qua gần bờ tây Borneo và sau đó qua Lộ tuyến Palawan (giữa Palawan và quần đảo Trường Sa) tới Lộ tuyến Đảo Verde; hay tuyến đường một lần nữa đi qua gần bờ tây Borneo, thông qua Eo biển Balabac, Biển Sulu, và Eo biển Surigao (hay Eo biển Basilan và Biển Celebes).[12] Trong khi SLOC chính đi theo hướng bắc-nam, nhưng cũng có các tuyến quan trong theo hướng đông-tây kết nối Đông Nam Á với Bắc Mỹ và Kênh Panama. Một số tuyến đường nối Hồng Công và các cảng khác ở phía nam Trung Quốc với các cảng của California và Kênh Panama cũng đi qua khu vực phía bắc của Biển Đông, nối với Thái Bình Dương thông qua Kênh Balintang.[13]

Các Eo biển Lombok và Sunda cũng là các nhánh dẫn vào Biển Đông. Eo biển Lombok là một tuyến đường quan trọng cho các tàu có trọng tải lớn với tầm nước quá sâu để có thể đi qua đường Eo biển Malacca. Do đó, việc vận chuyển tàu thuyền có thể đi qua Biển Java và Eo biển Karimata để đi vào Biển Đông qua một trong hai eo biển trên. Tuy nhiên, không phải tàu thuyền nào đi qua Eo biển Lombok cũng đều đi qua Biển Đông, do có nhiều tàu thuyền đi qua Eo biển Makassar và Biển Celebes để đi đến Thái Bình Dương. Tuy nhiên, tuyến đường Lombok-Makassar-Celebes lại được sử dụng, chẳng hạn, bởi tàu chạy khí hóa lỏng của Úc để đến Tỉnh Quảng Đông ở miền nam Trung Quốc, sau đó đi qua Tuyến Sibutu và Biển Sulu và thông qua Eo biển Mindoro tới Biển Đông. Tuyến đường Biển Đông – Eo biển Mindoro cũng được sử dụng bởi tàu thuyền đi về phía nam từ Thượng Hải đi tới Eo biển Torres.[14]

Mặc dù các quần đảo tranh chấp ở Biển Đông chắn ngang tuyến SLOC chính, nhưng tàu thuyền đi về hướng Đông bắc Á hầu hết lại chạy qua phía tây của Trường Sa – một khu vực cần phải tránh vì lí do rủi ro hàng hải – đi qua giữa Hoàng Sa và Bãi cạn Scarborough (hay Hoàng Nham đảo trong tiếng Trung Quốc) và gần Đảo Pratas (hay Quần đảo Đông Sa trong tiếng Trung Quốc) về phía bắc, đi tiếp qua Eo biển Đài Loan hoặc các Kênh Bashi hoặc Balintang. Tuyến Palawan nằm dọc theo Trường Sa về phía đông của quần đảo này.

Các SLOC của Biển Đông không chỉ quan trọng đối với thương mại. Chùng còn tạo thành các tuyến đường thiết yếu và ngắn nhất để nối tây Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương cho các hải quân của khu vực. Đặc biệt là Bộ Tư Lệnh Hoa Kỳ ở Thái Bình Dương với các căn cứ hải quân ở Trân Châu Cảng, Guam và Nhật Bản, có trách nhiệm trên khắp Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Chẳng hạn, có thể thấy trong các giai đoạn đầu của Chiến dịch Tự do Lâu dài chống lại Al-Qaeda và Taliban ở Afghanistan vào cuối năm 2001 và 2002, tư trang và quân nhu của hải quân Mỹ đã từ các căn cứ đó được vận chuyển vào Ấn Độ Dương qua Eo biển Malacca. Hải quân của các nước khác trong khu vực cũng sử dụng Biển Đông như một khu vực hoạt động cũng như trung chuyển.

Ít nhất là trên lý thuyết, an ninh của SLOC là mối quan ngại chung của tất cả các quốc gia ven biển, hàng hải và thương mại. Hợp tác ở Châu Á để nâng cao an toàn và an ninh tàu thuyền khỏi cướp biển và các rủi ro hàng hải và thậm chí là mối đe dọa tiềm tàng của khủng bố đang ngày càng tăng, mặc dù chậm. Việc này liên quan đến các biện pháp hợp tác quốc tế, khu vực, tiểu khu vực, và song phương, tuy nhiên không một biện pháp nào trong số đó có thể cải thiện được tình hình căng thẳng chiến lược trong khu vực.[15] Ví dụ như Trung Quốc, mặc dù có lợi ích lớn trong sự an toàn của tàu thuyền qua Biển Đông và các Eo biển có liên quan, đã duy trì một quan điểm khá là truyền thống về an ninh của SLOC, với mối quan ngại chính về khả năng Mỹ phong tỏa tuyến tàu thuyền đi đến Trung Quốc trong trường hợp có xung đột về Đài Loan.

Phát triển Hải quân và Chiến lược

Mặc dù ngân sách quốc phòng của hầu hết các nước Đông Nam Á đều bị ảnh hưởng tiêu cực bởi cuộc khủng hoảng kinh tế Châu Á năm 1997-1998, nhưng trong thời gian gần đây chi tiêu quốc phòng ở khu vực này đang ngày càng tăng. Vẫn chưa thể biết rõ rằng liệu cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay có tác động lâu dài đến ngân sách quốc phòng hay không, nhưng cho đến nay rất nhiều nước vẫn tỏ ra miễn nhiễm với nó. Trong số các cường quốc chính, ngân sách quốc phòng của Trung Quốc và Ấn Độ đặc biệt đã liên tục tăng với tốc độ cao trong thập kỷ vừa qua, với việc Trung Quốc có ngân sách quốc phòng tăng với chỉ số hai con số liên tục trong hai thập kỷ vừa qua.[16]

Động lực Hiện đại hóa Hải quân

Có một số yếu tố thúc đẩy, hoặc ít nhất là ảnh hưởng tới, việc hiện dại hóa hải quân, trong đó bao gồm đơn giản là khả năng trang trải phí tổn cho các năng lực mới. Một yếu tố hàng đầu ở Biển Đông là các tranh chấp liên quan đến các vùng lãnh thổ và, hệ quả của nó, quyền tài phán trên biển tiềm tàng mà các vùng lãnh thổ đó có thể được hưởng, bao gồm các tài nguyên sinh vật và khoáng sản có liên quan. Vẫn tồn tại những khúc mắc về mức độ tài nguyên hydrocarbon ở vùng trung tâm của Biển Đông. Một yếu tố khác thường bị bỏ qua là tầm quan trọng của Biển Đông với vai trò là nơi đánh bắt cá, với giá trị 10% của tổng sản lượng đánh bắt cá toàn cầu,[17] với lượng đánh bắt thường niên rơi vào khoảng 5 triệu tấn và đứng thứ tư trong tổng số 19 khu vực đánh bắt cá chính của thế giới.[18] Hải sản ở đây cung cấp một lượng lớn nhu cầu protein của người dân trong khu  vực và cũng là một nguồn lương thực quan trọng. Ước tính trong khu vực Đông Nam Á có khoảng 10 triệu ngư dân, với khoảng 100 triệu người phụ thuộc vào nghề đánh cá trong khu vực để đáp ứng nhu cầu về kinh tế.[19] Do đó không có gì là lạ khi mà hầu hết các xung đột ở cấp độ thấp ở và xung quanh các quần đảo tranh chấp đều liên quan đến ngành cá.

Một trong những con đường dẫn đến việc các nước yêu sách quân sự hóa các tranh chấp ở quần đảo Trường Sa là việc các binh lính chiếm đóng các đảo nhỏ và việc xây dựng các trạm quân sự. Việt Nam được cho là đã chiếm đóng khoảng 25 đảo nhỏ (bao gồm đảo Trường Sa, hay đảo Nam Uy trong tiếng Trung Quốc), Philippines chiếm 8 đảo (gồm đảo Thị Tứ hay Pagasa theo tiếng Tagalog, đảo Trung Nghiệp trong tiếng Trung), Malaysia 3, và Đài Loan chiếm đóng đảo lớn nhất (Itu Aba, hay Đảo Thái Bình trong tiếng Trung Quốc).[20] Trung Quốc được cho là đang chiếm đóng ít nhất 8 đảo: Bãi đá ngầm Subi (hay Chử Bí Tiêu trong tiếng Trung Quốc), Bãi Gaven (Nam Huân tiêu trong tiếng Trung), Bãi Johnson (Xích Qua tiêu), Bãi Kennan (Tây Môn tiêu), Bãi Fiery Cross (Vĩnh Thử tiêu), Bãi Cuarteron (Hoa Dương tiêu), Bắc Danger (Quần đảo Song Tử) và Bãi Vành Khăn (Mỹ Tế tiêu).[21] Các nguồn khác đã trích dẫn số đảo bị chiếm đóng vào khoảng từ 45 đến 58, mặc dù, như một nhà địa chất chính trị đã chỉ ra, chỉ có 36 trong số các đảo đó là nằm trên mặt nước lúc thủy triều lên.[22]

Các cuộc tranh chấp đảo làm xấu thêm sự chồng chéo vốn đã phức tạp của các yêu sách trên biển ở Biển Đông, mà tại đó rất nhiều các đường biên giới vẫn còn chưa được phân định và quyền tài phán đối với tài nguyên biển vẫn còn đang bị tranh chấp. Một yếu tố gây khó khăn nữa là các yêu sách mới trên biển đòi hỏi kéo dài các khu vực thềm lục địa, đặc biệt là đệ trình chung của Malaysia và Việt Nam lên Ủy bạn Ranh giới Thềm Lục địa của LHQ (CLCS),[23] và đệ trình của Việt Nam về khu vực phía bắc Biển Đông,[24] dẫn đến những phản ứng mạnh mẽ từ phía Trung Quốc.[25] Các quốc gia yêu sách khác nhiều khả năng cũng sẽ đi theo các yêu sách của riêng mình và khiến cho tình hình căng thẳng càng leo thang,[26] và cũng vì thế tác động đến sự phát triển hải quân.

Vai trò trung tâm của Trung Quốc với tư cách là một quốc gia yêu sách, và các mối liên kết giữa lợi ích của nước này ở Biển Đông và sự phát triển sức mạnh biển của Trung Quốc cũng như tổng thể tham vọng bá chủ khu vực của nước này đã khiến cho các tranh chấp trở nên quan trọng hơn là giá trị bề nổi hạn chế của một vài đảo, đảo đá và đá ngầm nhỏ và rải rác – hay thậm chí là tiềm năng tài nguyên năng lượng. Trung Quốc từ lâu đã lo ngại về sự hiện diện chiến lược của các cường quốc ở Đông Nam Á, những nước có thể sẽ khai thác những điểm yếu của Trung Quốc ở trên biển để gây áp lực lên Trung Quốc từ phía ngoại vi đường biển phía nam của Trung Quốc. Do đó những tham vọng chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông bao gồm việc mở rộng phạm vi phòng thủ, ngăn chặn sự hiện diện của các cường quốc khác, chống lại các mối đe doạ đối với những lợi ích về lãnh thổ và hàng hải từ phía các quốc gia yêu sách khác, và cuối cùng là tìm kiếm các biện pháp kiểm soát trên biển ở khu vực để thực hiện tham vọng bá chủ của mình.

Hơn nữa, Trung Quốc cũng có lợi ích trong việc có khả năng kiểm soát các tuyến đường biển ở Đông Á, vừa để bảo đảm nguồn cung dầu và cũng là để đe dọa đường kinh tế huyết mạch của Đài Loan và Nhật Bản nếu cần thiết. Một sự hiện diện chiến lược thường trực ở Biển Đông, đặc biệt là nếu Trung Quốc có thể cưỡng chế thành công các yêu sách lãnh thổ của mình, rất có thể sẽ tạo điều kiện để nước này thực hiện những mục tiêu trên trong tương lai. Sự thành lập của các căn cứ, bắc giàn, và trạm tuần tra dọc các tuyến biển quan trọng đã được gọi là chiến lược “chuỗi hạt trai” trong một báo cáo của Mỹ với tựa đề là Tương lai Năng lượng ở Châu Á, do các cố vấn Booz Allen Hamilton của Văn phòng Bộ Quốc phòng thực hiện.[27] Một dãy các cảng, căn cứ, và trạm nghe kéo dài từ cửa Vịnh Ba Tư vào đến Biển Đông đã cấu thành chuỗi “hạt trai” này. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số hoài nghi về trạng thái và việc sử dụng của một số phương tiện trên.[28]

Mặc dù các tàu thuyền phải tránh chính Quần đảo Trường Sa khi qua lại, nhưng căn cứ ở các đảo của nó có thể được sử dụng để làm gián đoạn thông thương của tàu thuyền, giống như vào thời Chiến tranh Thế giới lần thứ Hai khi Nhật Bản đặt các tàu ngầm ở đảo Ba Bình để phục vụ mục tiêu này.[29] Tuy nhiên, diện tích nhỏ của các hòn đảo, kể cả những hòn đảo lớn nhất, đồng nghĩa với việc chúng sẽ có giá trị chiến lược không đáng kể trong các cuộc xung đột lớn. Thay vào đó, chúng còn rất dễ bị công kích, và thậm chí còn không thể bảo vệ được trước một đợt tấn công tập trung. Giá trị chiến lược của nó chỉ duy trì được chủ yếu vào thời bình, với vai trò là các trạm tuần tra hay bắc giàn, và với vai trò là các dấu hiệu chính trị về ý định đối với các yêu sách lãnh thổ và quyền tài phán trên biển.

Tuy nhiên, khi xem lại khái niệm về chuỗi hạt trai, hai nhà nghiên cứu của Đại học Hải chiến Mỹ đã lập luận rằng các chiến lược gia Trung Quốc xem nước này như một cường quốc thương mại đang đi lên, thậm chí là thế lực lớn nhất ở khu vực Biển Đông nhưng lại phải sống dưới cái bóng của một thế lực hải quân thống trị toàn cầu, một tình huống địa chính trị đòi hỏi phải thành lập “các căn cứ nối liền các tuyến giao thông trên biển” ở Biển Đông.[30] Trong suốt hơn ba thập kỷ Trung Quốc đã từ từ xây dựng các căn cứ quân sự của mình trên khắp Biển Đông, trong đó có quần đảo Trường Sa. Trong những năm gần đây, nước này đã tăng cường đáng kể các căn cứ quân sự, đặc biệt là trên Đảo Hải Nam và quần đảo Hoàng Sa. Cũng có các báo cáo cho thấy rằng Hải quân Quân Giải phóng Nhân dân (PLA) có ý định tăng cường lực lượng trong khu vực, với nhận định của một quan chức cấp cao của PLA rằng tình hình an ninh ở đây đang “rất nghiêm trọng”, đòi hỏi Trung Quốc phải cử thêm tàu tới khu vực tranh cãi và tăng cường quân sự hóa các đảo chiếm đóng ở Trường Sa, trong đó bao gồm việc xây dựng cảng cho tàu thuyền và sân bay ở Đá Vành Khăn, một bãi đá thuộc kiểm soát của Trung Quốc nằm phía trong vùng Đặc quyền Kinh tế mà Philippin yêu sách.[31]

Các chiến lược gia của Trung Quốc cũng lưu ý về tầm quan trọng địa chính trị của việc kiểm soát được Đài Loan và các đảo thuộc kiểm soát của Đài Loan ở Trường Sa nếu Trung Quốc muốn thiết lập một vị trí thống trị tới “cực nam của Biển Đông.”[32] Quan điểm này về Đài Loan, như một “cầu đổ bộ” để qua đó tiến hành thôn tính vùng biển Đông Nam Á, dường như là một phần trong một quan điểm lớn hơn về mặt địa chính trị của Trung Quốc về tầm quan trọng của Đài Loan, mà phần nào lý giải cho các nỗ lực của Trung Quốc kể từ thời kỳ đầu những năm 1990 nhằm phá hủy nền độc lập trên thực tế của Đài Loan và sau đó để nắm quyền kiểm soát quốc đảo này.[33]

Một động lực khác cho việc hiện đại hóa hải quân là khả năng rằng các yếu tố này đã dẫn đến việc các quốc gia ven biển ở Đông Nam Á thực hiện “phòng ngừa rủi ro” (hedging) ở một mức độ nào đó để đối phó với tình trạng không chắc chắn về mặt chính trị hoặc khả năng xảy ra xung đột lớn. Mặc dù rất ít được các quốc gia trong khu vực đề cập đến, nhưng cũng sẽ là hợp lý khi nhận định rằng hầu hết các tình huống có thể ảnh hưởng trực tiếp đến Biển Đông đều có liên quan đến Trung Quốc. Các khả năng này bao gồm một cuộc xung đột đối với Đài Loan, với Nhật Bản hay Mỹ, các động thái của Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa hoặc chống lại Việt Nam, hay các hệ quả bên ngoài của những bất ổn từ bên trong Trung Quốc.

Mặc dù ít có khả năng dẫn đến xung đột vũ trang, nhưng khu vực này cũng tồn tại nhiều quốc gia đối địch từ lâu đời. Một vài cuộc đối địch này mang tính lịch sử, như giữa Singapore với Malaysia; liên quan đến các tranh chấp về lãnh thổ hay vùng biển, hay như giữa Indonesia và Malaysia đối với khu vực phát triển ngoài khơi Ambalat ở bờ đông Borneo; hay cả hai, như yêu sách gần đây của Philippin đối với Sabah hay mối hiềm khích và ngờ vực lâu đời giữa Trung Quốc và Việt Nam. Các yếu tố về tôn giáo và dân tộc có thể cũng có vai trò trong các mối hiềm khích. Mặc dù rất nhiều quốc gia đối đầu thường không bao giờ thừa nhận việc đó, nhưng các mối quan hệ như vậy chính là các yếu tố trong việc hiện đại hóa quân sự. Rất nhiều yếu tố kích động cụ thể không nằm trong bản thân khu vực Biển Đông, nhưng với những tác động tới việc phát triển hải quân, chúng cũng có những mối quan hệ mật thiết với nền an ninh trong khu vực. Mặc dù khái niệm về một cuộc “chạy đua vũ trang” là đầy ẩn  ý và được sử dụng một cách mơ hồ bởi các nhà hoạch định chính sách, nhưng ở một chừng mực nào đó vẫn tồn tại yếu tố cạnh tranh trong quá trình xây dựng quân đội trong khu vực, dù là một vài trong số đó có phản ánh sự “đối đầu hữu nghị” trong cộng đồng Hiệp hội Các nước Đông Nam Á (ASEAN) thay vì tranh đấu chiến lược nguy hại đi chăng nữa.

Sự cần thiết phải giải quyết các vấn đề về cướp biển và cướp vũ trang trên biển, và mối đe dọa tiềm tàng về khủng bố trên biển là những động lực thúc đẩy việc tăng cường lực lượng an ninh ở một số quốc gia, đặc biệt là ba quốc gia ven biển ở Eo biển Malacca và Singapore cũng như Philippin. Tuy nhiên, các loại đe dọa này lại thể hiện rõ ràng nhất ở chính các eo biển trong trường hợp trước, và ở khu vực Biển Sulu-Celebes của vùng phía nam Philippin trong trường hợp sau chứ không phải ở Biển Đông. Dù vậy, gần đây vẫn có một số mối quan ngại rằng các cuộc tấn công của cướp biển đang ngày càng gia tăng ở khu vực  phía nam của Biển Đông, xung quanh quần đảo Riau, nơi mà các tàu thuyền thường thả neo để chờ nhập cảng Singapore, và xung quanh đảo Mangkai và Đảo Anambas.[34] Việc này có thể dẫn đến các nỗ lực lớn hơn để bảo đảm an ninh cho khu vực này, vốn là tuyến đường chính từ Singapore và các eo biển tới Đông Bắc Á.

Sự hiện đại hóa hải quân của các quốc gia trong khu vực Biển Đông không thể gán cho một yếu tố tác động riêng rẽ nào. Trong khi cá thể từng quốc gia có thể có các ưu tiên khác nhau, nhưng tất cả các vấn đề được thảo luận ở trên đều ảnh hưởng tới hầu hết các quốc gia ven biển ở Biển Đông ở các mức độ khác nhau. Tuy nhiên, tình trạng lỏng lẻo của quan hệ các nước lớn và sự trỗi dậy của Trung Quốc cần phải được xem như là những nhân tố đi đầu của các trang thiết bị quân sự tối tân được sản xuất, chẳng hạn như tàu ngầm.

Đặc điểm của Hiện đại hóa Hải quân

Một trong các đặc điểm của hiện đại hóa hải quân trong khu vực là sự phát triển của lực lượng tuần tra trên biển hay các tổ chức bán quân sự và dân sự giống kiểu lực lượng tuần duyên tập trung vào cưỡng chế hàng hải, an toàn, bảo vệ môi trường biển, và các nhiệm vụ phi quân sự khác trên biển. Các quốc gia trong khu vực Biển Đông có những tổ chức như trên bao gồm Brunei, Trung Quốc, Indonesia (có cảnh sát biển, nhưng đang xem xét việc hình thành lực lượng tuần tra trên biển), Malaysia, Philippin, Singapore, Đài Loan, và Việt Nam.[35] Lực lượng tuần tra của các nước khác, đặc biệt là Nhật Bản và Mỹ, cũng thường xuyên được cử xuống khu vực Biển Đông.

Tuy nhiên, một trong số các hệ quả của quá trình phát triển này là các lực lượng hải quân đã có thể tập trung nhiều hơn vào vai trò chiến đấu và các cuộc tranh chấp mà nhiều khả năng sẽ dẫn đến các cuộc xung đột vũ trang. Một số tiềm lực mới đang được bổ sung vào lực lượng của các quốc gia ở Biển Đông, trong đó bao gồm: tàu ngầm; lực lượng chiến đấu trên mặt nước mới hơn và lớn hơn; máy bay chiến đấu có khả năng hoạt động trên biển và máy bay tuần tra trên biển; và tên lửa chống tàu hiện đại. Sự mở rộng của các hạm đội tàu ngầm điện-diesel trong khu vực là đặc biệt đáng kể, với các nước vốn đã sử dụng chúng nay đang hiện đại hóa lực lượng của mình còn các quốc gia khác thì bắt đầu vận hành chúng lần đầu tiên.

Chẳng hạn như Singapore, nước này đã tiến hành sử dụng bốn chiếc tàu ngầm đầu tiên hạng ex-Swedish Challenger trong vòng vài năm gần đây, đồng thời bổ sung thêm hai chiếc hạng ex-Swedish Vastergotland (A-17). Đặc biệt, tàu A-17 sẽ là những chiếu tàu ngầm đầu tiên của khu vực được trang bị hệ thống chuyển động khí độc lập cho phép thực hiện các hoạt động dưới lòng nước mà không cần phải nổi lên trong hơn hai tuần. Chiếc A-17 đầu tiên nhiều khả năng sẽ bắt đầu phục vụ cho Singapore vào cuối năm 2010, và có thể sẽ thay thế một trong các mẫu cũ hơn.[36] Hải quân của Malaysia cũng sẽ lần đầu tiên được trang bị tàu ngầm khi một trong hai chiếc Scorpene Pháp-Tây Ban Nha đi vào hoạt động vào năm 2010.[37] Đặc biệt quan trọng là Việt Nam đã ký kết hợp đồng để mua sáu chiếc thuyền hạng Kilo của Nga,[38] đây sẽ là những chiếc tàu ngầm đúng nghĩa đầu tiên mà Hà Nội vận hành. Quyết định này có thể đã bị ảnh hưởng bởi mối quan ngại của Hà Nội đối với quan điểm ngày càng cứng rắn của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông. Trong khi đó thì Indonesia đang tìm cách để tái đầu tư cho lực lượng tàu ngầm đang bị suy yếu nghiêm trọng trong khi Thái Lan cũng đang tỏ ra quan tâm tới việc trang bị tàu ngầm; mặc dù tham vọng của lực lượng hải quân của cả hai nước này đều bị ảnh hưởng tiêu cực do thiếu vốn.[39] Đài Loan vẫn tiếp tục theo đuổi các lựa chọn để thay thế hạm đội tàu ngầm nhỏ bé và cũ kỹ của mình, bất chấp các cản trở về chính trị đối với nước này trong những năm gần đây.

Cũng cần chỉ ra rằng một vài Quốc gia ở Biển Đông đã đưa vào sử dụng các tàu chiến và tàu chiến trên mặt nước cỡ nhỏ trong những năm gần đây, trong đó có Brunei,[40] Indonesia, Malaysia, và Singapore, trong khi Trung Quốc và Đài Loan đã bổ sung các hạm đội chiến đấu trên mặt nước cho riêng mình. Việc đưa vào sử dụng nhiều hơn các loại tàu này, kể cả của các lực lượng hải quân vốn có ít hoặc không có kinh nghiệm vận hành các đơn vị tàu chiến, đã cho thấy sự tập trung ngày càng cao cho khu vực ngoài khơi trong các ưu tiên quân sự. Cùng với các lực lượng hải quân sử dụng khu vực Biển Đông thường xuyên, một thực tế khó tránh khỏi là giao thông và hoạt động hải quân cũng vì thế mà có nhiều khả năng sẽ gia tăng trong tương lai.

Một vài quốc gia trong khu vực cũng đang phát triển các tàu boong phẳng lội nước, nhiều khả năng sẽ xuất hiện ở Biển Đông, đặc biệt là để phản ứng với các thiên tai và khủng hoảng nhân đạo. Thái Lan từ lâu đã có tàu chở máy bay cỡ nhỏ, mặc dù ít khi hoạt động. Hải quân Mỹ có lực lượng tàu sân bay và tàu lội nước cỡ lớn. Ấn Độ có tàu chở vận hành đường dài. Nhật Bản có tàu chở máy bay trực thăng cỡ nhỏ hạng Osumi và sẽ được bổ sung bởi hạng Hyuga 18.000 tấn. Hàn Quốc đã lắp đặt hai tàu chở trực thăng hạng Tok-do cỡ 19.000 tấn. Úc đang sản xuất hai tàu trạm đáp trực thăng (LHD) cỡ lớn (c. 27.000 tấn) với thiết kết Tây Ban Nha.[41] Trung Quốc được kỳ vọng sẽ xây dựng các tàu kiểu LHD hoặc tàu có khả năng chở máy bay.

Một trong những sự phát triển năng lực đáng chú ý hơn, mà cũng cho thấy những ưu tiên dành cho khu vực ngoài khơi, là việc phổ biến các loại tên lửa hành trình chống tàu hiện đại, dù là được phóng từ đất liền, trên không, hay trên biển (từ các tàu nổi hay tàu ngầm). Tên lửa hành trình tấn công trên mặt đất (LACM) cũng đã bắt đầu xuất hiện trong danh sách của các quốc gia trong khu vực, đáng chú ý nhất là Trung Quốc và Đài Loan. Năng lực tấn công trên mặt đất của một số quốc gia ngoài khu vực cũng có liên quan tới tình hình chiến lược, đặc biệt là của Mỹ với sự phòng ngừa đối với sự hiếu chiến có thể có của Trung Quốc. Những quốc gia khác cũng phát triển những năng lực trên nhằm phục vụ an ninh ở Biển Đông bao gồm Ấn Độ, và gần đây nhất là Úc với công bố trong Sách Trắng Quốc phòng năm 2009 rằng ba chiếc tàu khu trục Aegis mới (sẽ được đưa vào sử dụng trong 5 năm tới) và các tàu chiến, tàu ngầm thế hệ tiếp theo sẽ được trang bị để chở LACM, nhiều khả năng sẽ là loại U.S. Tomahawk.[42]

Ở Trung Quốc, quá trình hiện đại hóa và mở rộng hải quân diễn ra tương đối chậm nhưng chắc chắn, tạo ra những cải tiến thực sự trong sức mạnh hải quân của Trung Quốc.[43] Trung Quốc đã đưa vào sử dụng một số hạng mục tàu nổi và tàu chìm mới trong thập kỷ quả, trong đó có: ba hạng tàu khu trục nội địa và một của Nga; hai hạng tàu ngầm diesel-điện nội địa và một của Nga; và tàu ngằm tấn công hạt nhân (SSN) và tàu chở tên lửa đạn đạo (SSBN). Lực lượng Không Hải quân PLA và Lực lượng Không quân PLA đều đã đưa vào sử dụng máy bay chiến đấu đa chức năng Su-30 của Nga với chức năng chính là thủy chiến cùng với máy bay thủy chiến JH-7 và B-6 của nội địa.[44]

Người ta ước tính rằng có khoảng từ 25-30 đơn vị chiến đấu chính trên mặt nước có căn cứ là Hạm đội Nam Hải của Trung Quốc (trên tổng số khoảng 80 tàu), gồm cả tàu khu trục hạng Loại 052C Luyang II mới và hạng 052B Luyang I được trang bị tên lửa điều khiển của nội địa, và tàu chiến thuộc hạng mục mới mới nhất – Loại 053A Jiangkai II. Đáng chú ý là hầu hết các tàu chiến và tàu vận chuyển lội nước của hải quân PLA đều có căn cứ là Hạm đội Nam Hải, bao gồm 11 trên tổng số 19 tàu đáp hạng nặng 072 II và 072 III. Tàu sân bay (LPD) Loại 071 cỡ lớn duy nhất (khoảng 20.000 tấn) được đưa vào Hạm đội Hải Nam vào cuối năm 2007 được đặt ở căn cứ hải quân Trạm Giang thuộc Tỉnh Quảng Đông.[45] Mô hình quân sự này cho phép Trung Quốc có thể nhanh chóng dàn quân lực lượng thủy quân lục chiến hay các lực lượng lục quân khác vào Biển Đông hay để chống Đài Loan.

Năng lực tấn công và phòng vệ của Trung Quốc có phạm vi rất rộng, kể cả khi không tính đến các trạm hải quân – vốn đã mang tính lưu động.[46]Rõ ràng là kể cả tính từ lục địa Trung Quốc thì toàn bộ Biển Đông giờ đây đã nằm trong phạm vi của lực lượng tên lửa thông thường và không quân của PLA. Với hai căn cứ không quân chính trên Đảo Hải Nam, cũng như các căn cứ trên Đảo Woody (hay Vĩnh Hưng đảo trong tiếng Trung Quốc, nơi dàn quân của máy bay chiến đấu và các loại máy bay khác) và các đảo khác thuộc quần đảo Hoàng Sa, bên cạnh các cơ sở thu thập tình báo và giao thông chính ở Hoàng Sa (và ở một mức độ thấp hơn ở Trường Sa) và trên Đảo Hải Nam,  Trung Quốc đã được trang bị đầy đủ để giám sát toàn bộ khu vực.[47]

Một tiến triển chiến lược quan trọng ở Biển Đông là sự mở rộng của căn cứ hải quân Ngọc Lâm ở Tam Á, điểm cực nam của Đảo Hải Nam. Vốn là căn cứ chính của tàu ngầm thông thường của Hạm Đội Nam Hải, căn cứ này đã được mở rộng đáng kể từ cuối những năm 1990. Giờ đây nó còn là căn cứ hạm đội Đội Tàu Chiến số 9 của Hạm đội Nam Hải, với hai bến tàu dài khoảng 1km, đồng nghĩa với việc nó có thể chứa đựng các tàu có kích cỡ rất lớn, kể cả loại tàu chở máy bay của Trung Quốc trong tương lai. Một tiến triển quan trọng khác là việc xây dựng căn cứ tàu ngầm hạt nhân, hay còn gọi là Căn cứ Tàu ngầm số 2, bao gồm ba bến tàu, một cơ sở tàu ngầm dưới lòng đất, và các cơ sở khử từ tàu ngầm. Lối vào cơ sở ngầm rộng 23m, có khả năng chứa đựng tất cả các loại tàu ngầm của Hải quân PLA. Hiệp hội các Nhà khoa học Mỹ nhận định rằng một trong các tàu ngầm tên lửa đạn đạo hạt nhân hạng Jin 094 của Hải quân PLA đang được đặt tại đó.[48] Vùng biển dẫn đến phía nam Đảo Hải Nam sâu hơn 5.000m và vì thế cho phép tuần tra bằng SSBN ở Biển Đông.[49] Tuy nhiên, nếu Trung Quốc muốn biến Biển Đông thành một pháo đài SSBN để hình thành một môi trường vận hành an ninh cho khả năng phản kích hạt nhân trên biển của mình[50] thì nước này sẽ cần phải có khả năng ngăn chặn các cường quốc kình địch khác vào khu vực, một điều khó có thể xảy ra. Tuy vậy, sự nhạy cảm của Trung Quốc đối với việc thăm dò ngoài khơi của khu vực vận hành SSBN và theo dõi các tàu ngầm của nước này nhiều khả năng có nguyên nhân từ vụ việc Impeccable xảy ra vào tháng 3 năm 2009 – được thảo luận ở phần dưới đây.

Quan điểm của Trung Quốc về tàu sân bay đã thay đổi đáng kể trong thời gian gần đây. Trong khi trước đây ý niệm về tàu sân bay cho hải quân PLA đã bị gạt bỏ, thì quan điểm giờ đây của Trung Quốc không chỉ là có thể  mà thậm chí còn là điều tất yếu. Tuyên bố của một số quan chức cấp cao của Hải quân PLA dường như đã xác nhận rằng một chương trình về tàu sân bay sẽ sớm được công bố.[51] Chẳng hạn, Thiếu tướng Giáo sư Trương Triệu Trung đã nêu trong tờ Global Times vào tháng 4 năm 2009 rằng “phát triển tàu sân bay sẽ là ưu tiên hàng đầu của chúng tôi.”[52] Hạm đội Nam Hải – có thể là Ngọc Lâm – nhiều khả năng sẽ là căn cứ điểm cho các tàu sân bay do có vị trí gần với các điểm tranh chấp mà tại đó năng lực triển khai sức mạnh là quan trọng, và cũng như gần các SLOC chính, cả vì lí do phòng vệ và ngăn chặn.

Hoạt động Quân sự ở vùng EEZ

Hoạt động quân sự của các nước ngoại lai trong các vùng biển thuộc quyền tài phán mà các quốc gia ven biển yêu sách là một vấn đề gây tranh cãi ở Châu Á, nơi mà sự nhạy cảm về chủ quyền và quyền chủ quyền trên biển được cảm nhận một cách rõ ràng.[53] Một vùng biển gây tranh cãi nhiều nhất về hoạt động quân sự của nước ngoài là vùng EEZ. Một cách giải thích Công ước LOS được một số quốc gia ở Biển Đông ưa chuộng[54] là vùng EEZ cấu thành một vùng nước ven biển đặc biệt mà tại đó quốc gia ven biển có quyền tài phán để ban hành và cưỡng chế luật pháp và quy định của mình về một số hoạt động nhất định.[55]

Một số quốc gia ở Biển Đông yêu sách về các vùng an ninh trên biển nhằm hạn chế hoạt động của các tàu chiến nước ngoài hay các hoạt động quân sự khác, hoặc không thì để khẳng định các quyền mà có thể gây ảnh hưởng đến các hoạt động đó. Những quốc gia này gồm có Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Philippin, và Việt Nam .[56] Sự nhạy cảm của một số quốc gia ven biển, đáng chú ý nhất là Trung Quốc, đã dẫn đến các nỗ lực pháp lý, chính trị, và hải quân để áp đặt quan điểm của mình về việc hạn chế quyền tự do hàng hải. Các nỗ lực của hải quân hoặc “cưỡng chế” của Trung Quốc trong vấn đề này mà đã dẫn đến các vụ việc rất quan trọng về mặt ngoại giao và sẽ được thảo luận ở phần dưới đây.

Việc phổ biến năng lực hải quân và các hoạt động trên địa hình biển khó khăn hoặc nguy hiểm đã dẫn đến kết luận rằng các vụ việc và tai nạn trên biển xảy ra khá thường xuyên, và vì thế tạo ra tiềm năng cho các xung đột. Cụ thể, những tai nạn hoặc đụng độ không chủ đích trên biển là những hậu quả có thể xảy ra của việc tăng cường hoạt động của tàu ngầm do điều kiện vận hành khó khăn ở Biển Đông và đôi khi do địa hình eo hẹp hoặc phức tạp dưới lòng nước và điều kiện âm thanh không thuận lợi.  Những khó khăn đó là minh chứng rằng nhiều khả năng sẽ có thêm nhiều hoạt động thăm dò thủy văn và thu thập dữ liệu âm thanh trên khắp khu vực của quân sự, những hoạt động mà vốn bản thân nó đã tạo ra căng thẳng, đặc biệt là khi chúng diễn ra ở các vùng EEZ của một số quốc gia ven biển. Các vùng biên giới trên biển chưa được hoạch định hoặc đang tranh chấp sẽ làm vấn đề trở nên phức tạp hơn. Tuy nhiên, nếu không có các hoạt động thăm dò đó thì những tai nạn liên quan đến tàu ngầm sẽ có nguy cơ xảy ra nhiều hơn.[57]

Hơn nữa, thực tế là rất nhiều nước vận hành tàu ngầm đều thiếu kinh nghiệm – và thậm chí một vài nước còn không có năng lực – và khiến cho tình hình trở nên nguy hiểm hơn. Dù vậy, không chỉ có những nước thiếu kinh nghiệm hay không có năng lực mới gặp phải những khó khăn liên quan đến việc vận hành tàu ngầm. Trong khi đã có những mối nghi ngờ nảy sinh, chẳng hạn như về năng lực và việc huấn luyện thủy thủ tàu ngầm của Trung Quốc do các vụ tai nạn trước đây, nhưng những nước vận hành dày dặn kinh  nghiệm như Mỹ, Úc, Anh, Pháp và Nga cũng đều đã gặp phải các vụ việc nghiêm trọng trong những năm ngần đây. Trong trường hợp của Nga và Trung Quốc thì kết cục rất thảm khốc. Do đó ý tưởng về việc sẽ có thêm nhiều tàu ngầm hoạt động ở Biển Đông, đặc biệt ở các vùng ven biển, đã tạo ra những vấn đề thực sự đối với an toàn vận hành. Tuy nhiên, khó có thể minh bạch hơn về các hoạt động của tàu ngầm do sự minh bạch sẽ hủy hoại lợi thế mưu lược và tính chất vận hành của tàu ngầm – đó là sự tàng hình.

Phản ứng của Trung Quốc đối với các Hoạt động Quân sự của Mỹ

Trung Quốc là quốc gia cương quyết nhất trong khu vực trong các phương kế nhằm hạn chế hay thậm chí là ngăn chặn các hoạt động quân sự trong và trên các vùng mà quốc gia này coi là EEZ của mình. Đã có một số vụ việc xảy ra giữa lực lượng hải quân của Trung Quốc và Mỹ, trong đó có một số ở vùng Biển Đông. Vụ việc lớn nhất tính đến nay xảy ra vào ngày 1 tháng 4 năm 2001 khi máy bay thu thập tình báo điện tử EP-3E của Hải quân Mỹ đâm vào máy bay chiến đấu F-8 của PLA ở vị trí cách Đảo Hải Nam 70 hải lý về phía nam. Vụ việc này là đỉnh điểm của thái độ hung hãn ngày càng tăng của các phi công máy bay đánh chặn Trung Quốc đối với các máy tuần tra tương tự của Mỹ trong hai tháng trước đó.  Chiếc EP-3E bị hư hại đã kịp hạ cánh trên Đảo Hải Nam nhưng phi công của Trung Quốc thì lại bị mất tích. Rõ ràng là cách điều khiển máy bay ẩu của phi công Trung Quốc chính là nguyên nhân dẫn đến vụ việc. Đô đốc Dennis Blair, chỉ huy Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ vào thời điểm đó, đã phát biểu rằng:

Những chiếc máy bay lớn như [chiếc EP-3E] bay thẳng và cân bằng trên đường đi, với các máy bay nhỏ bay xung quanh. Theo nguyên tắc hàng không quốc tế, máy bay có khả năng bay nhanh và điều khiển linh hoạt hơn có nghĩa vụ phải tránh đường cho máy bay chậm hơn. Việc ai đâm vào ai ở đây khá là rõ ràng.[58]

Tuy vậy Trung Quốc vẫn tịch thu máy bay của Mỹ (và tạm giam phi hành đoàn), gỡ bỏ các hệ thống đáng giá trước khi cho phép máy bay được rời đi.[59]

Mặc dù vụ va chạm xảy ra trên không phận quốc tế, nhưng Trung Quốc vẫn thực thi quyền khống chế các máy bay tuần tra và tàu chiến của nước ngoài ra khỏi vùng EEZ rộng 200 hải lý của mình. Trong vùng EEZ, quốc gia ven biển có quyền chủ quyền đối với tài nguyên biển và quyền tài phán đối với việc nghiên cứu khoa học biển và việc bảo vệ, bảo tồn môi trường biển.[60] Những quy định trên tạo ra sự mập mờ, thường là một cách có chủ định, và đã dẫn đến những tranh chấp liên quan đến các hoạt động quân sự. Các lập luận của Trung Quốc tập trung vào các vấn đề về quyền an ninh và quyền của các quốc gia ven biển theo Điều 58 của Công ước LOS, tại đó liệt kê quyền và nghĩa vụ của “Quốc gia khác” trong vùng EEZ. Điều 58 cho phép tất cả các quốc gia có quyền tự do trên biển cả được nhắc đến trong Điều 87 về hàng hải, hàng không và lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm, bao gồm các loại gắn liền với việc vận hành tàu và máy bay, và phù hợp với các điều khoản khác của Công ước LOS. Các quốc gia khi thực hiện các quyền này phải “tôn trọng hợp lý” quyền và nghĩa vụ của quốc gia ven biển và tuân thủ luật pháp và quy định của quốc gia ven biển về quyền chủ quyền của mình.[61] Cũng cần phải lưu ý rằng điều khoản về nghĩa vụ “tôn trọng hợp lý” là mang tính có đi có lại khi xét đến nội dung của Điều 56(2).

Công ước LOS không chỉ định cụ thể các quyền của hải quân trong vùng EEZ. Một vài quốc gia đưa ra lập luận rằng việc nước ngoài sử dụng vùng EEZ vào mục đích quân sự là bị cấm theo Điều 58 bởi việc đó đi trái lại với nghĩa vụ gìn giữ biển cả cho các mục đích hòa bình (không được xác định) (Công ước LOS Điều 88), hoặc không phải là “sử dụng hợp pháp” vùng biển.[62] Tuy nhiên, quyền tự do trên biển bị giảm trong vùng EEZ cho các mục đích phi hàng hải bởi vì các quốc gia ven biển có quyền tài phán độc quyền đối với việc xây dựng đảo nhân tạo, các thiết bị và cấu trúc chỉ liên quan đến tài nguyên, nghiên cứu khoa học biển, hay môi trường. Tuy nhiên, điều này không hẳn là nghiêm cấm việc xây dựng hoặc lắp đặt các trang thiết bị quân sự không liên quan đến môi trường, tài nguyên, hay nghiên cứu biển.[63]

Trái với các lập luận của Trung Quốc, các vùng biển của EEZ có thể được hiểu một cách đúng nhất là các vùng biển cả và quốc gia ven biển có quyền chủ quyền được ban hành luật pháp và quy định về việc sử dụng tài nguyên và quản lý đối với một số hoạt động nhất định. Do đó các quốc gia khác vẫn giữ được mọi quyền tự do trên biển cả, bao gồm cả quyền thực hiện các hoạt động quân sự mà vẫn lưu ý đến nghĩa vụ phải “tôn trọng hợp lý” – vốn không được định nghĩa. Còn về vấn đề hàng không, như trong vụ EP-3E, cả Công ước LOS và Công ước về Hàng không Dân dụng[64] đều không cho quốc gia ven biển quyền được kiểm soát khoảng trời trên vùng EEZ. Vùng trời không phải là một phần của EEZ, và tất cả các máy bay đều có quyền tự do hàng không và quyền được thực hiện các hoạt động quân sự. Do đó, việc ban hành luật hay chính sách cho vùng EEZ mà không liên quan đến việc sử dụng tài nguyên; xây dựng đảo nhân tạo,  thiết bị, hay cấu trúc; thực hiện nghiên cứu trên biển; hay bảo vệ môi trường biển sẽ là không phù hợp với Công ước LOS. Việc Trung Quốc phản đối hoạt động quân sự của Mỹ trong vụ EP-3E là không liên quan đến các vấn đề nêu trên.

Một vụ việc nổi bật khác xảy ra ở Biển Đông là vào ngày 8 tháng 3 năm 2009, ở vị trí cách Đảo Hải Nam 75 hải lý về phía nam, trong vùng EEZ của Trung Quốc. Chiếc quân hạm do thám đại dương không trang bị vũ trang và mang tính chất dân sự của Mỹ, USNS Impeccable, là một phần của Chương trình Tàu Nhiệm vụ Đặc biệt của Ban chỉ huy Vận tải Hải quân Mỹ và được sử dụng để vẽ bản đồ đáy biển bằng cách sử dụng hệ thống định vị thủy âm tần suất thấp và thực hiện thu thập dữ liệu âm thanh, đã bị quấy rối bởi năm con tàu của Trung Quốc. Một chiếc là tàu tình báo của Hải quân PLA, một chiếc khác là tàu tuần tra của Bộ Thủy sản, chiếc thứ ba của Cục Đại dương Quốc gia cùng hai tàu đánh cá. Chiếc Impeccable vào lúc đó được mô tả là đang thực hiện công việc vẽ bản đồ đáy biển một cách định kỳ, còn nguồn khác thì nói rằng nó đang sử dụng Tổ hợp giám sát sự triển khai lực lượng trên mặt biển có phương tiện kéo (SURTASS) để nghe ngóng và theo dõi tàu ngầm. Các thủy thủ Trung Quốc đã sử dụng móc sắt dài để móc cáp kéo hệ thống định vị thủy âm và hai con thuyền gần lại tới khoảng cách 15m với chiếc Impeccable và yêu cầu chiếc tàu này rời khỏi khu vực. Tàu Impeccable phản ứng bằng cách chĩa vòi rồng cứu hoả vào phía các thủy thủ Trung Quốc, những người này sau đó đã cởi hết quần áo và chỉ còn mặc đồ lót! Tiếp đó hai con thuyền của Trung Quốc đã tiến gần đến 8m và di chuyển đến thẳng trước mặt tàu Impeccable, vừa đi vừa thả những mảnh gỗ trên đường đi của nó khiến cho chiếc Impeccable phải dừng khẩn cấp để tránh bị va chạm.[65]

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã phát biểu rằng tàu Impeccable đã “thực hiện các hoạt động ở vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc ở Biển Đông mà không được phép của Trung Quốc” và yêu cầu Mỹ phải “ngừng ngay lập tức các hoạt động tương tự và đưa ra các biện pháp hiệu quả để ngăn ngừa các hành vi tương tự khỏi xảy ra,” và nói thêm rằng các yêu sách về hành vi quấy rối là “hoàn toàn trái với thực tế và ... Trung Quốc không thể nào chấp nhận được.”[66] Hơn nữa, một chính ủy Hải quân PLA còn nói thêm rằng “Quyền qua lại vô hại của tàu thuyền hải quân đến từ các nước khác trong lãnh hải [hoặc] vùng kinh tế đặc biệt là chấp nhận được, nhưng các hoạt động ngoài phạm vi đó thì không.”[67] Một phát ngôn viên khác của Bộ Quốc phòng Trung Quốc đã phát biểu một vài ngày sau đó rằng:

Việc phía Trung Quốc thực hiện các biện pháp cưỡng chế và bảo vệ định kỳ trong vùng đặc quyền kinh tế của mình là hoàn toàn phù hợp và hợp pháp. ... Chúng tôi yêu cầu Mỹ tôn trọng các lợi ích pháp lý của mối quan ngại an ninh của mình, và có những biện pháp hiệu quả để ngăn ngừa việc tái diễn những sự vụ tương tự.[68]

Những lời phát biểu trên rõ ràng là đã lẫn lỗn giữa quy chế của vùng EEZ với quy chế của lãnh hải và dường như đã áp đặt quyền lãnh hải vào trong vùng EEZ. Các phát biểu này phản ánh luật pháp của Trung Quốc mà theo đó các tàu chiến phải được cấp phép trước khi đi vào vùng lãnh hải của Trung Quốc và yêu cầu các quyền an ninh lớn hơn ở vùng tiếp giáp.[69] Theo Công ước LOS, các hoạt động quân sự chỉ được kiểm soát trong giới hạn của quyền qua lại vô hại, quá cảnh, đi qua tuyến đường biển đi qua quần đảo, và không có sự kiểm soát nào như trên áp dụng cho vùng EEZ.[70]

Một lập luận khác mà giới phân tích Trung Quốc đưa ra là các hoạt động của tàu Impeccable đã đi trái lại với điều khoản về việc “sử dụng biển vào mục đích hòa bình” của Công ước LOS, [71] và cho rằng các hoạt động của nó đã rõ ràng nhằm mục đích thu thập thông tin quân sự và không vì mục đích hòa bình. Họ đã công khai xâm phạm an ninh quốc phòng và trật tự hòa bình của Trung Quốc và cấu thành một mối đe dọa vũ lực chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ và nền độc lập chính trị của Trung Quốc.[72]

Điều 301 của Công ước LOS nghiêm cấm “dựa vào việc đe dọa hay sử dụng vũ lực để xâm phạm toàn vẹn lãnh thổ hay độc lập chính trị của mọi Quốc gia” và, cùng với Điều 88 về gìn giữ biển cả cho “mục đích hòa bình,” được xem như là sự tái khẳng định của tập quán quốc tế về việc nghiêm cấm sử dụng vũ lực được nêu trong Điều 2(4) của Hiến chương LHQ.[73] Sẽ chẳng có lập luận nào vững chắc có thể được đưa ra dựa trên Công ước LOS hay bất kỳ văn bản pháp lý quốc tế nào, rằng các hoạt động thăm dò thời bình ở vùng EEZ lại đe dọa tới sự toàn vẹn lãnh thổ hay độc lập chính trị của bất kỳ quốc gia ven biển nào. Cũng như các lập luận của quan chức Trung Quốc, những lập luận này một lần nữa có hàm ý áp dụng chủ quyền quốc gia ven biển trên vùng EEZ và đi ngược lại với Công ước LOS. Hơn nữa nó cũng có hàm ý rằng các hoạt động quân sự và việc thu thập thông tin bản thân chúng đã mang tính chất không hòa bình. Đây là một lập luận vô nghĩa mà về mặt logic có thể áp dụng cho mọi hoạt động và lực lượng quân sự.

Nếu các luận điểm của Trung Quốc về chủ quyền ở vùng EEZ là không có cơ sở, thì việc giải thích Công ước LOS về việc liệu các cuộc thăm dò quân sự ở vùng EEZ có đồng nghĩa với nghiên cứu khoa học trên biển hay không lại càng mập mờ. Các quốc gia ven biển có quyền được quy định về nghiên cứu khoa học biển ở vùng EEZ.[74] Tuy nhiên, Công ước này lại không đưa ra định nghĩa về nghiên cứu khoa học biển. Có thể lập luân rằng quy chế của Công ước LOS không bao gồm các hoạt động tình báo quân sự và các cuộc thăm dò thủy văn của hải quân. Hơn nữa, những hoạt động đó cũng không động chạm đến việc sử dụng tài nguyên trong vùng EEZ hay ảnh hưởng tới môi trường biển của vùng này. Do vậy, có thể nói rằng những hoạt động này cần phải được coi là những hoạt động không bị hạn chế bởi các điều khoản của Công ước LOS.[75] Như Sam Bateman đã bình luận về vụ việc:

Có những cơ sở vững chắc để Mỹ cảm thấy được biện minh khi yêu sách về quyền được hoạt động ở Biển Đông của tàu Impeccable. Hoạt động đó không phải nghiên cứu khoa học biển trong quyền tài phán của quốc gia ven biển và đòi hỏi phải được quốc gia đó cấp phép trước. Thay vào đó nó là một phần của các quyền tự do hàng hải trên biển cả mà Công ước UNCLOS đã mở rộng đến vùng EEZ ... nhiệm vụ của tàu Impeccable ... rõ ràng có bản chất là quân sự. Việc sử dụng biển cả vào mục đích quân sự là quyền được thừa nhận trong luật quốc tế, và Trung Quốc sẽ khó mà có thể duy trì được lập luận rằng các hoạt động của những con tàu này tạo ra một mối đe dọa trực tiếp tới an ninh quốc phòng của mình.[76]

Vụ việc tàu Impeccable đại diện cho mô hình vụ việc nguy hiểm nhất từng xảy ra giữa Trung Quốc và Mỹ trên biển trong khoảng thời gian 2 tuần. Một chiếc thuyền tuần tra của Bộ Thủy sản Trung Quốc vào ngày 4 tháng 3 năm 2009 đã không một lời cảnh báo sử dụng đèn chiếu cường độ cao để chiếu vào một chiếc tàu tương tự tàu Impeccable, chiếc USNS Victorious, cách bờ biển Trung Quốc 125 hải lý ở Hoàng Hải. Một ngày sau đó, chiếc máy bay tuần tra biển Y-12 đã có 12 lượt bay tầm thấp qua con tàu. Thêm vào đó, ngày 5 tháng 3 tàu Impeccable đã được tiếp cận bởi một tàu chiến Trung Quốc ở tầm gần với hai lần đi qua mũi tàu, trong đó có một lần chỉ ở khoảng cách 100 yard (khoảng hơn 90m – ND), và một chiếc Y-12 với 11 lượt bay tầm thấp qua tàu. Vào ngày 7 tháng 3, một con tàu tình báo của Trung Quốc (nhiều khả năng đây cũng là con tàu liên quan trong vụ việc ngày 8 tháng 3) đã khẳng định qua đài rằng tàu Impeccable đã thực hiện các hoạt động bất hợp pháp và cần phải rời khỏi khu vực, nếu không sẽ phải “gánh chịu hậu quả”.[77] Một loạt các sự kiện xảy ra dường như đã thể hiện thái độ ngày càng hung hãn của Trung Quốc trên biển. Như Giám đốc Tình báo Quốc gia của Mỹ đã xác nhận trước Ủy ban Các vấn đề vũ trang của Thượng viện rằng: “Trong vài năm trở lại đây, họ đã trở nên hung hãn hơn với việc áp đặt các yêu sách của mình.”[78] Thái độ ngày càng cứng rắn của Trung Quốc được phản ánh qua bài báo ngày 19 tháng 2 của tờ Đảng Cộng sản ở Nội Mông, trong đó có nói rằng: “Nếu tàu gián điệp của Mỹ còn đi vào khu vực này thì Trung Quốc sẽ đánh chìm nó.”[79]

Mỹ phản ứng với vụ việc Impeccable bằng cách điều tàu chiến USS Chung-Hoon để hộ tống tàu Impeccable để tàu này tiếp tục công việc thăm dò của mình.[80] Đáp lại, Trung Quốc tuyên bố rằng sẽ tăng cường tuần tra ở khu vực Biển Đông và xây dựng thêm tàu tuần tra.[81] Một quan chức Quốc phòng Mỹ đã nói rõ khi làm chứng trước Thượng viện rằng Mỹ sẽ không lùi bước trước cương vị chiến lược là quốc gia bảo đảm ổn định khu vực và quan điểm về việc thực thi quyền tự do hàng hải của mình.

Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương của Mỹ sẽ tiếp tục thực thi các quyền tự do hàng hải trong khu vực. Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương sẽ tiếp tục thực hiện các hoạt động ở Biển Đông một cách tuân thủ tuyệt đối luật tập quán quốc tế được phản ánh trong Công ước LHQ về Luật Biển. Hoạt động của Mỹ sẽ được điều chỉnh bởi lợi ích của chúng ta trong khu vực, và mong muốn của chúng ta về việc bảo tồn an ninh và ổn định trên khắp khu vực tây Thái Bình Dương.[82]

Một vụ việc khác đã xảy ra vào tháng 6 năm 2009 khi một tàu ngầm của Trung Quốc va chạm với hệ thống định vị thủy âm đang được kéo bởi tàu chiến của Mỹ, chiếc USS John S. McCain, trên khu vực Biển Đông gần bờ biển Philippin, trong lúc đang diễn ra cuộc tập trận chung thường niên của Hải quân Mỹ và lực lượng của Philippin. Cả hai bên đều đã coi nhẹ vụ việc này, với tuyên bố của Mỹ rằng vụ việc này là một “sự va chạm không chủ ý”[83] và Trung Quốc đã đồng ý. Tuy nhiên, một nhà nghiên cứu cấp cao của PLA tại Viện Khoa học Quân sự đã bổ sung rằng: “Cách tốt nhất để tránh các vụ va chạm như thế này là Lầu Năm góc chấm dứt các động thái không hữu nghị đối với Trung Quốc trong khu vực,”[84] bất chấp thực tế là vụ việc này đã xảy ra ở vị trí cách xa các vùng biển thuộc quyền tài phán của Trung Quốc.

Hiệp định Tham vấn Quân sự Biển năm 1998[85] giữa Washington và Bắc Kinh đã tỏ ra là không hiệu quả trong việc ngăn ngừa các vụ việc trên biển như trên hay quản lý tốt hơn các vụ việc hoặc khủng hoảng khi chúng xảy ra. Mỹ đã kêu gọi ký kết một hiệp định chính thức theo đúng kiểu vụ việc trên biển hơn, tương tự như hiệp định ký kết với Liên Xô cũ trong thời kỳ chiến tranh lạnh,[86] nhưng cho đến nay lời kêu gọi này đã không bị phản đối mà cũng không bị phớt lờ. Tuy vậy, sự mở rộng của hải quân Trung Quốc và quan điểm ngày càng cứng rắn của Trung Quốc trên biển – cũng như sự phát triển nói chung của hải quân và cưỡng chế trên biển trong khu vực – cho thấy rằng các vụ việc trên biển nhiều khả năng sẽ trở nên phổ biến hơn là giảm đi.

Những vụ việc này là minh chứng cho thấy rằng thực tiễn của Trung Quốc là không phù hợp với Công ước LOS. Trung Quốc dường như đang yêu sách một thứ quyền tài phán nào đó đối với toàn bộ Biển Đông (cụ thể là toàn bộ vùng biển bên trong yêu sách đường lưỡi bò), với tuyên bố vào tháng 5 năm 2009 rằng:

 Trung Quốc có chủ quyền không thể chối cãi đối với các đảo trong Biển Đông và các vùng biển liền kề, và hưởng quyền chủ quyền và quyền tài phán trên các vùng biển có liên quan cũng như đáy biển và tầng đất cái của chúng.[87]

Bất kỳ hành động nào nhằm áp đặt quan điểm mở rộng vùng EEZ đều có thể thể hiện ý định nhằm loại trừ máy bay và tàu chiến quân sự nước ngoài ra khỏi toàn bộ khu vực. Mặc dù trên thực tiễn quan điểm như vậy không mang tính cưỡng chế, nhưng nó phản ánh ý định của Trung Quốc muốn biến Biển Đông thành cái hồ của Trung Quốc.

Thực tế là cách giải thích gây tranh cãi về quy chế vùng EEZ còn trở nên nặng nề hơn ở các biển kín hoặc nửa kín như Biển Đông, do nó có thể bao trùm toàn bộ không gian biển nếu tất cả các quốc gia ven biển yêu sách tối đa vùng EEZ mà họ có thể được hưởng và nếu các vùng EEZ có thể được yêu sách đối với các đảo nhỏ của quần đảo Trường Sa. Ở Biển Đông, chỉ có các vùng biển bao quanh một số phần của của Quần Đảo Trường Sa cho đến nay là chưa được yêu sách là các vùng EEZ, mặc dù những yêu sách đó có thể sẽ được đưa ra trong tương lai. Nếu các vùng EEZ có thể được yêu sách từ các đảo nhỏ của Trường Sa, thì sẽ không có vùng nào được coi là biển cả; hoặc không thì sẽ có một vùng biển cả nằm lọt giữa trung tâm của Biển Đông. Tuy nhiên, như đã lập luận ở trên, việc này sẽ không thể áp dụng được đối với quyền của các quốc gia khác được thực hiện các hoạt động quân sự ở những khu vực đó.

Kết luận: Trung Quốc, Cạnh tranh Địa Chính trị, và Biển Đông

Trong vài năm trở lại đây, có vẻ như Trung Quốc đã kiếm chế sự cương quyết của mình ở Biển Đông, mà thay vào đó lựa chọn cách tiếp cận hòa giải (hay còn gọi là “chiến dịch quyến rũ”) về hội nhập ngoại giao và kinh tế với các nước láng giềng Đông Nam Á. Tuy nhiên, Bắc Kinh đã quay trở lại với kiểu cách cũ và thể hiện một đường lối cương quyết – và thậm chí là hung hãn hơn. Trung Quốc đang ngày càng gia tăng áp lực với các quốc gia yêu sách khác ở Biển Đông và “không nghênh đón” các lực lượng nước ngoài như Mỹ một cách có hệ thống. Áp lực này, cho đến lúc đó chủ yếu vẫn là trên phương diệnchính trị và kinh tế, đang ngày càng trở nên quân sự hóa. Dường như đang có những nỗ lực phối hợp nhằm tăng cường vị thế chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông, quay trở lại xu hướng của những năm 1970, nhưng đã được bổ sung bởi các nguồn lực và tiềm lực quân sự lớn hơn.

Các quốc gia khác trong khu vực Biển Đông cũng đang khẳng định các yêu sách của riêng mình và phát triển hải quân của mình, mặc dù ở mức độ thấp hơn Trung Quốc. Kết hợp với các tác nhân hiện đại hóa quân sự khác như đã được thảo luận ở trên, hiện đang tồn tại xu hướng phát triển hải quân trong khu vực. Trừ khi cuộc khủng hoảng tài chính thế giới trở nên tồi tệ hơn, thì xu hướng đó có khả năng sẽ vẫn tiếp tục. Những thứ dường như là lợi ích chung của khu vực trong vấn đề an ninh SLOC như bảo vệ môi trường biển và bảo tồn cá, an ninh năng lượng, chống tội phạm xuyên quốc gia, và thậm chí là giảm thiểu tác động tiêu cực của sự nóng lên toàn cầu đều đòi hỏi phải có sự hợp tác nếu muốn giải quyết một cách thỏa đáng. Tuy nhiên, khu vực này vẫn đang thiếu các cơ chế hữu hiệu để đạt được sự hợp tác có tính thực tiễn, và thực tế của cuộc sống chính trị trong khu vực đồng nghĩa với việc những thách thức đó có khả năng sẽ chia rẽ các quốc gia hơn là gắn kết họ.

Nền tảng của những thách thức này là cuộc cạnh tranh chiến lược ngày càng gia tăng tập trung vào sự trỗi dậy của Trung Quốc, vốn đã được khởi động với việc một vài quốc gia đã thúc đẩy các chiến lựoc cân bằng (balancing) hay phòng ngừa rủi ro (hedging), trong đó có một số nước trong khu vực Biển Đông. Sự cạnh tranh của các cường quốc trong khu vực – đặc biệt tập trung xung quanh việc kiềm chế Trung Quốc – rõ ràng sẽ mang một yếu tố Biển Đông. Hải quân Mỹ đóng vai trò thường xuyên trong khu vực kể từ trước Chiến tranh Thế giới Lần thứ II. Nhật Bản, và đặc biệt là Lực lượng tuần duyên Nhật Bản, và thậm chí là Ấn Độ, đã cử quân đến Biển Đông. Sự hiện diện của các lực lượng trên biển của các nước này và các nước “bên ngoài” khác nhiều khả năng sẽ còn gia tăng và, cộng với các lực lượng hải quân của chính các quốc gia ven Biển Đông, sẽ tạo nên một môi trường hoạt động phức tạp hơn và thậm chí là nguy hiểm hơn trong tương lai. Bất kỳ ý nghĩ nào về việc Biển Đông có thể trở thành một vùng hòa bình và hợp tác có lẽ sẽ phải gác lại trong một thời gian.

                                                                            TS. CHRIS RAHMAN, GS. MARTIN TSAMENYI

Trung tâm Tài nguyên và An ninh Đại dương Quốc gia Úc, Đại học  New South Wales, Úc

Phạm Bá Việt (dịch)

Đỗ Thị Thủy (hiệu đính)

Bản gốc tiếng Anh “A Strategic Perspective on Security and Naval Issues in the South China Sea”, Ocean Development & International Law, 41: 4, 315 — 333

Đề nghị chỉ được dẫn đường link mọi thông tin, bài viết  trên www.nghiencuubiendong.vn, không đăng lại khi chưa có sự đồng ý của Ban Biên tập NCBĐ.



[1]MichaelLeifer,“TheMaritimeRegimeandRegionalSecurityinEastAsia,”PacificReview 4 (1991): 126–136.Xem thêm Sam Bateman, “Building Good Order at Sea in Southeast Asia: The Promise of International Regimes” in Maritime Security in Southeast Asia, eds. Kwa Chong Guan and John K. Skogan (London: Routledge, 2007), 97–116.

[2]Công ước LHQ về Luật Biển, 1833, U.N.T.S. 397.

[3]Sam Bateman, “UNCLOS and Its Limitations as the Foundation for a Regional Maritime Security Regime,” IDSS Working Paper No. 111 (Singapore: Institute for Defence and Strategic Studies, April 2006), 2.

[4]John H.Noer, with David Gregory, Chokepoints: Maritime Economic Concerns in Southeast Asia (Washington, DC: NDU Press, 1996), Figures 17–20, 63–66.

[5]International Hydrographic Organization, Limits of Oceans and Seas, Special Publication No. 23, 3rd ed. (Monte Carlo: IHO, 1953), 30–31.

[6]InternationalHydrographicOrganization,LimitsofOceansandSeas,IHOPublicationS-23, draft 4th ed. (IHO, 2002).

[7]Nt., tại 6-6-6-8

[8] Để biết về phạm vi địa chất của Biển Đông, xem Nien- Tsu Alfred Hu, “Semi-enclosed Troubled Water: A New Thinking on the Application of the 1982 UNCLOS Article 123 to the South China Sea,” Ocean Development & International Law 41(3), 2010, pp. 281–314, tại 299–301.

[9]Xem (UK) Admiralty, Ocean Passages for the World, 5th ed., NP 136 (Taunton: United Kingdom Hydrographic Office, 2004), Ch. 7.

[10] Dữ liệu được tính trung bình và tổng hợp từ các nguồn khác nhau của chính phủ Mỹ, bao gồm Bộ Quốc phòng, Cục Quản lý Thông tin Năng lượng, và Văn phòng Tình báo Hải quân.

[11]Dữ liệu từ PortKlangVesselTrafficService.

[12]OceanPassagesfortheWorld, ghi chú số 9, tại 166–172.

[13]Nt., tại 240-243.

[14]Nt., tại 203-204.

[15] Xem Chris Rahman, “The International Politics of Combating Piracy in Southeast Asia,” inViolence at Sea: Piracy in the Age of Global Terrorism, ed. Peter Lehr (New York: Routledge, 2007), tr. 183–198.

[16]United States, Office of the Secretary of Defense, Military Power of the People’s Republic of China 2009, Annual Report to Congress (Washington, DC: Department of Defense, 2009), 31.

[17]Clive Schofield, “Dangerous Ground: A Geopolitical Overview of the South China Sea” in Security and International Politics in the South China Sea: Towards a Cooperative Management Regime, eds. Sam Bateman and Ralf Emmers (London: Routledge, 2009), 14–18.

[18]United Nations Environment Programme(UNEP), Globa lInternational Waters Assessment. South China Sea: Regional Assessment 54 (Kalmar, Sweden: University of Kalmar, 2005), 40–41.

[19]Meryl J. Williams, Enmeshed: Australia and Southeast Asia’s Fisheries, Lowy Institute Paper 20 (Sydney, Australia: Lowy Institute for International Policy, 2007), 27.

[20] Xem Clive Schofield, “A Code of Conduct for the South China Sea?” Jane’s Intelligence Review, November 2000, 37. Đảo Ba Bình nay đang được kiểm soát bởi Cục Biên phòng Đài Loan.

[21]Greg Austin, China’s Ocean Frontier: International Law, Military Force and National Development (St Leonards, New South Wales, Australia: Allen & Unwin, 1998), 132 và 380–381.

[22]Schofield,“DangerousGround,” ghi chú số 17, tại 11 và 22,n.24.

[23] Đệ trình chung của Malaysia và Việt Nam lên Uỷ ban Ranh giới thềm lục địa Liên hợp quốc theo đoạn 8, điều 76 của Công ước LHQ về Luật biển về phần phía Nam của biển Đông, Bản tóm tắt, tháng 5/2009, có tại trang web của Uỷ ban Ranh giới thềm lục địa LHQ:  www.un.org/Depts/los/clcs new/clcs home.htm.          

[24] Đệ trình chung của Việt Nam lên Uỷ ban Ranh giới thềm lục địa Liên hợp quốc theo đoạn 8, điều 76 của Công ước LHQ về Luật biển năm 1982 về thềm lục địa mở rộng của Việt Nam: vùng phía Bắc, Bản tóm tắt, tháng 4/2009, có tại trang web của Uỷ ban Ranh giới thềm lục địa LHQ, như chú thích  23.

[25] Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, Thư gửi Tổng thư ký Liên Hợp Quốc, , Doc. CML/17/2009, New York, 7/5/2009; và Thư gửi Tổng thư ký Liên Hợp Quốc, Doc. CML/18/2009, New York, 7/5/2009, có tại trang web của Uỷ ban Ranh giới thềm lục địa LHQ, như chú thích  23.

[26] Xem Sam Bateman and Clive Schofield, “Outer Shelf Claims in the South China Sea: New Dimension to Old Disputes,” RSIS Commentaries, 1 July 2009 (Singapore: S. Rajaratnam School of International Studies, Nanyang Technological University).

[27]Bản báo cáo đầu tiên được công bố bởi “China Builds Up Strategic Sea Lanes,” Washington Times, 18 January 2005.

[28] Ví dụ, xem Andrew Selth, “Burma, China and the Myth of Military Bases,” Asian Security 3 (September 2007): 279–307.

[29] Xem Geoffrey Till, “The South China Sea Dispute: An International History,” in Bateman and Emmers, supra note 17, at 36.

[30]James R. Holmes and Toshi Yoshihara, Chinese Naval Strategy in the 21st Century: The Turn to Mahan (London: Routledge, 2008), 53.

[31]L. C. Russell Hsiao, “In a Fortnight: PLA General Advises Building Bases in the South China Sea,” Jamestown Foundation, China Brief , 24 June 2009, 1–2.

[32]Holmes and Yoshihara, ghi chú số 30, tại 53.

[33] Xem Alan M. Wachman, Why Taiwan? Geostrategic Rationales for China’s Territorial Integrity (Stanford, CA: Stanford University Press, 2007).

[34]EricFre ́con,“PiracyintheSouthChinaSea:MaritimeAmbushesofftheMangkaiPassage,” RSIS Commentaries, 20 February 2009.

[35]Sam Bateman, “Coast Guards: New Forces for Regional Order and Security,” AsiaPacific Issues, No. 65, January 2003, 5.

[36]Tim Fish, “Submarine Programmes Top SE Asian Wish Lists,” Jane’s Navy International, April 2010, 27.

[37]Nt., tại 26.

[38]Nt., tại 27.

[39]Nt., tại 27.

[40]Tuy nhiên Brunei giờ đang cố gắng bán các con tàu mới của mình, có thể là vì chúng quá lớn và quá phức tạp so với nhu cầu của Brunei cũng như năng lực vận hành của nước này.

[41] Xem Eric Grove, “Carrier Waves: Programmes Speak of an Enduring Appeal,” Jane’s NavyInternational, November 2007, 31–32.

[42]CommonwealthofAustralia,DefendingAustraliaintheAsiaPacificCentury:Force2030,(Canberra: Department of Defence, May 2009), 81. For an analysis, see Jack McCaffrie and Chris Rahman, “Australia’s 2009 Defense White Paper: A Maritime Focus for Uncertain Times,” Naval War College Review 63 (Winter 2010): 69.

[43] Xem ChrisRahman,“TheRiseofChinaasaRegionalMaritimePower:Strategic Implications for a New Century,” PhD dissertation, University of Wollongong, 2003.

[44] Để biết thêm chi tiết về các lực lượng hải quân của PLA, xem trang web SinoDefense.com, tại www.sinodefence.com/navy/default.asp.       

[45]Nt.

[46] Xem bản đồ Military Power of the People’s Republic of China 2009, ghi chú số 16, tại 23.

[47] Bruce A. Elleman, “Maritime Territorial Disputes and Their Impact on Maritime Strategy: A Historical Perspective,” in Bateman and Emmers, supra note 17, at 46–48.

[48]Xem trang SinoDefenc , ghi chú số 44; và Richard D. Fisher, “Satellite Imagery

Confirms Nuclear Sub Base in China,” Jane’s Defence Weekly, 16 April 2008, 4.

[49]Nt.

[50] Khái niệm pháo đài SSBN được bảo vệ bằng các lớp khả năng phòng thủ theo vòng tròn đồng tâm do Liên Xô phát triển trong chiến tranh lạnh. Xem phân tích trong Bryan Ranft và Geoffrey Till, The Sea in Soviet Strategy, 2nd ed. (Annapolis, MD: Naval Institute Press, 1989), 193–197.

[51]Xem “Naval Chief Details Chinese Wishlist,” Jane’s Navy International, May 2009, 5; và “Speculation Mounts over PRC’s Aircraft Carrier Plan,” Taipei Times, 7 March 2009.

[52]Kang Jua, “China Doesn’t Need Super Navy: Military Analysts,” Global Times, 21 April 2009.

[53] Xem hai số đặc biệt của tạp chí Marine Policy bàn về chủ đề này: Sốl. 28 01/2004) và số 29 (03/2005).

[54] Để tìm hiểu kỹ hơn về tranh luận này ở Đông Á, xem, ví dụ như EEZ Group 21, Guidelines for Navigation and Overflight in the Exclusive Economic Zone: A Commentary (Tokyo: Ocean Policy Research Foundation, 2006).

[55] Để biết thêm về lập luận mạnh mẽ nhưng không thuyết phục của Malaysia về vấn đề này, xem B. A. Hamzah, “EEZs: U.S. Must Unclench Its Fist First,” RSIS Commentaries, 9 April 2009.

[56]Xem Stuart Kaye, Freedom of Navigation in the Indo-Pacific Region, Papers in Australian Maritime Affairs No. 22 (Canberra: Sea Power Centre–Australia, 2008), 8–12 and 31–35.

[57]Xem Sam Bateman, “Perils of the Deep: The Dangers of Submarine Operations in Asia,” RSIS Commentaries, 21 February 2007 (Singapore: S. Rajaratnam School of International Studies, Nanyang Technological University).

[58] Trích trong “Trapped Behind the Lines,” The Australian, 3/4/2001, 1.

[59] “‘Spyplane’ Loss a Big Blow for U.S. Intelligence,” Jane’s Navy International,

May 2001, 8.

[60] Công ước Luật biển, chú thích 2, điều. 56(1).

[61] Xem phân tích trong Martin Tsamenyi và Barry Snushall, “The Legal Dimension of Maritime Military Operations,” in Positioning Navies for the Future: Challenge and Response, ed. Jack McCaffrie (Sydney: Sea Power Centre—Australia and Halstead Press, 2006), 111–132.

[62]Nt., tại 122.

[63]Nt., tại 116.

[64]Nt., tại 116.

[65] Xem “U.S. Angered by Chinese NavalManoeuvres,” The Australian, 10March 2009; “USNPLA South China Sea Incident,” Associated Press, 10 March 2009; “China Says U.S. Provoked Naval Incident,” International Herald Tribune, 10 March 2009; và“Surveillance Ship ‘Did Not Violate Law,’ Says DoD,” Jane’s Navy International, April 2009, 6.

[66] Trích trong “FM: U.S. Naval Ship Violates Int’l, Chinese Law,” China Daily, 10 March 2009.

[67] Được trích trong “Violation of China’s Sovereignty Never Allowed,” China Daily, 10 March 2009.

[68] Được trích trong “Obama–Yang Discuss U.S.-China Sea Dispute on the Sidelines of Improved Cooperation,” Associated Press, 15 March 2009.

[69] Xem Kaye, chú thích 56, tr.31.

[70] Tsamenyi và Snushall, chú thích 61, tr. 113–121.

[71] Công ước Luật biển, chú thích 2, điều 301.

[72] Ji Guoxing, “The Legality of the ‘Impeccable Incident,”’ China Security 5 (Spring 2009): 18–19.

[73] Tsamenyi và Snushall, chú thích 61, tr. 122.

[74] Công ước Luật biển, chú thích 2, điều. 56, 87, 238–241.

[75] Tsamenyi và Snushall, chú thích 61, tr. 128.

[76] Sam Bateman, “Clashes at Sea: When Chinese Vessels Harass U.S. Ships,” RSIS Commentaries, 13 March 2009, 2 (Singapore: S. Rajaratnam School of International Studies, Nanyang Technological University). Để giải thích về lập trường của Mỹ, xem  Patrick J. Neher, Raul A.Pedrozo, and J. Ashley Roach, “In Defence of High Seas Freedoms,” RSIS Commentaries, 24 March 2009 (Singapore: S. Rajaratnam School of International Studies, Nanyang Technological University); và Thuyền trưởng Raul Pedrozo, JAGC, USN, “Close Encounters at Sea: The USNS Impeccable Incident,”

Naval War College Review 62 (Summer 2009): 106–107.

[77] “USN-PLA South China Sea Incident,” Associated Press, 10 March 2009.

[78] Trích trong “Blair: China Gets ‘More Aggressive’ Against U.S. Ships,” Washington Times, 11 March 2009.

[79] Trích trong Nt.

[80] “Destroyer to Protect Ship Near China,” Washington Post, 13 March 2009.

[81] “Beijing to Deploy More Ships to the South China Sea,” Times (UK), 19 March 2009.

[82] Bài điều trần của Phó Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Robert Scher trước Ủy ban Đối ngoại Thượng viện, Quốc hội Mỹ ngày 15/7/2009, tr.5 về “Các vấn đề hàng hải và Tranh chấp chủ quyền ở Đông Á”, Các vấn đề an ninh Châu Á-Thái Bình Dương, Văn phòng Bộ trưởng Quốc phòng.

[83] “Chinese Sub Smashes U.S. Destroyer’s Sonar,” The Australian, 13 June 2009.

[84] Trích trong “Sub, Sonar Collision ‘Inadvertent,”’ Global Times, 15 June 2009.

[85] Thỏa thuận giữa Bộ quốc phòng Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và Bộ Quốc phòng Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về việc thiết lập một cơ chế tham vấn nhằm tăng cường an toàn hàng hải quân sự, Bắc Kinh, 19/01/1998. 

[86] Thỏa thuận giữa Chính phủ Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và Chính phủ Liên bang Xô Viết về việc phòng ngừa các sự việc xảy ra trên biển, Mát-xco-va, 25/05/1972, được bổ sung bằng Nghị định thư năm 1973 và một trao đổi công hàm năm 1998. Nghị định thư được Liên bang Nga, nước thừa kế Liên bang Xô Viết về các quyền và nghĩa vụ liên quan đến Hiệp định này thông qua.

[87] Xem các công hàm của CHND Trung Hoa, chú thích 25.

 

 

Bàn về những sự việc căng thẳng trên Biển Đông thời gian gần đây, học giả Aileen S.P.Baviera vừa có bài viết đăng trên RSIS Commentaries No. 91/2011 ngày 14/6, nhan đề China and the South China Sea: Time for Code of Conduct?; hoặc trên The Manila Times.Tác giả đã nêu diễn biến những vụ việc đáng quan ngại xảy ra trên Biển Đông xuất phát từ động thái của Trung Quốc, khẳng định bản chất vô lý của Trung Quốc trên Biển Đông, nhấn mạnh yêu cầu cần có COC trong bối cảnh hiện nay và kiến nghị thái độ của các bên liên quan nhằm hướng tới mục tiêu giải quyết hòa bình tranh chấp trên Biển Đông. 

Trong những tháng qua, nhiều vụ việc xảy ra trên Biển Đông đã làm rõ hơn thực tế có vẻ như là Trung Quốc ngày càng sẵn sàng sử dụng sức mạnh quân sự để gây sức ép và ảnh hưởng đối với các đối thủ có tuyên bố chủ quyền trên vùng biển này, đặc biệt là Philíppin và Việt Nam. 

Hồi tháng Hai, giới truyền thông đăng tải sự cố ngư dân Philíppin bị tàu Trung Quốc đe dọa và tấn công. Ngày 2/3/2011, hai tàu hải giám Trung Quốc tiếp cận cản trở hoạt động của tàu thăm dò dầu khí MV Veritas Voyager của Philíppin và đòi tàu này ngừng hoạt động tại khu vực bãi Cỏ Rong (Reed Bank) – nơi họ nói là thuộc quyền chủ quyền của Bắc Kinh. 

Tiếp đó, Trung Quốc thông báo kế hoạch thả neo dàn khoan dầu khí tại vùng quần đảo Trường Sa. Cuối tháng Năm, hải quân Philíppin phát hiện nhiều cột mốc và một phao nổi tại vùng bãi cạn Amy Douglas Bank được cho là do tàu của Trung Quốc cắm, cho thấy dấu hiệu của các kế hoạch xây dựng công trình trên biển có thể được triển khai. Trong khi đó, một tàu hải giám của Trung Quốc lại tiếp cận một tàu thăm dò dầu khí của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam (Petrovietnam), cắt phá dây cáp chuyên dụng do tàu này thả xuống vùng biển mà Hà Nội tuyên bố là thuộc vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam. Vụ việc đã làm dấy lên nhiều cuộc biểu tình phản đối ở Hà Nội. 

Đòi hỏi về chủ quyền không phải là điều gì mới mẻ, bởi đó là tranh chấp lâu dài, nơi mà một bên tranh chấp hoặc một nước nào đó có hành động gì thì các bên khác luôn có phản ứng cứng rắn. 

Nhưng điều mới mẻ chính là hành động của Trung Quốc, giờ đây lại được hỗ trợ bởi khả năng hải quân hiện đại hơn, cũng như sự thể hiện một tham vọng chủ quyền lớn hơn và tâm lý dân tộc kiên quyết hơn, điều đang được minh chứng là vấn đề gây quan ngại lớn nhất (cho ổn định khu vực). 

Trò chơi phỏng đoán cứ lặp đi lặp lại là liệu những động thái đòi hỏi chủ quyền lãnh hải gần đây được triển khai với sự nhận thức đầy đủ và ủng hộ hoàn toàn của chính quyền trung ương Bắc Kinh, hay như Stein Tonneson và nhiều ý kiến khác lập luận rằng điều đó không phản ánh một chiến lược mới của Trung Quốc, mà là “hàng loạt động thái do tham mưu sai, không được điều phối tốt và đôi khi là ngạo mạn” mà các cơ quan, bộ phận cấp dưới ở Trung Quốc tiến hành khi họ thực thi trách nhiệm của mình. Song rốt cuộc thì không có cách giải thích nào có thể mang lại sự an ủi cho các nước láng giềng của Trung Quốc. 

Thực tế, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã tuyên bố sự vi phạm chủ quyền Philíppin như một số ý kiến nêu lên là “những hoạt động nghiên cứu hải dương bình thương” và sự cố với Việt Nam cũng chỉ là “những hoạt động giám sát và thực thi pháp luật về hải dương bình thường” trong “các vùng lãnh hải của Trung Quốc”. 

Thực vậy, tờ “China Daily” hồi cuối năm ngoái từng ra thông báo rằng cơ quan giám sát hải dương của Trung Quốc (CMS) – tức Cục Hải giám đã được tăng cường thêm hơn 1.000 nhân viên, 36 tàu và nhiều trang thiết bị mới nhằm tăng cường “khả năng hoạt động”. 

Được thành lập năm 1998, CMS tuyên bố đến hết năm 2005 cơ quan này có 91 tàu tuần tra, và đến cuối năm 2010 tăng lên 300 tàu và 10 máy bay. 
Viễn cảnh về sự hiện diện to lớn đó của Trung Quốc – dù là hải quân, bán quân sự hay dân sự - tại các vùng biển tranh chấp cứ như là họ được toàn thế giới thừa nhận là thực thi pháp luật Trung Quốc một cách “bình thường” trên vùng lãnh hải “không thể tranh cãi” của họ, đều không phải là điều mà các quốc gia láng giềng có thể đón nhận. 

Và nếu tàu bè, con người và tài sản của các nước láng giềng và các công ty nước ngoài tham gia hoạt động khai thác tài nguyên có thể đều là mục tiêu đe dọa (của Trung Quốc), thì tại sao những tàu thuyền thương mại khác đi qua các tuyến đường biển liên quan lại không phải là những đối tượng bị đe dọa trong tương lai? 

Nếu những xu thế hiện tại được tiếp tục, thì các hứa hẹn tôn trọng tự do hàng hải mà Bắc Kinh vẫn thường tuyên bố sẽ là giả dối. 

Thời điểm hiện tại, Trung Quốc tỏ ra là nước có hành động phản đối mạnh mẽ nhất đối với các hoạt động thăm dò dầu khí đơn phương. Trước khi xảy ra những vụ việc gần đây nhất, Trung Quốc đã ngăn cản không cho các công ty dầu khí quốc tế như BP và ExxonMobil triển khai hoạt động thăm dò tại vùng biển mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền, cảnh báo rằng làm như vậy sẽ ảnh hưởng đến các dự án của chính các công ty này tại Trung Quốc. 

Các quan chức và học giả Trung Quốc cũng đang lớn tiếng nói về việc cùng phát triển, có thể điều đó cho thấy lý do đằng sau sức ép mạnh mẽ là Bắc Kinh muốn “đánh cùi chỏ” để ép Việt Nam và Philíppin quay lại đường hướng cùng khai thác, từ bỏ hoạt động thăm dò đơn phương, theo tinh thần hợp tác ba bên ban đầu về thăm dò địa chấn trong vùng đặc quyền kinh tế của Philíppin. (Dự án nghiên cứu ba bên này rơi vào tình trạng mập mờ, không có nội dung dứt khoát cuối cùng vào năm 2008 sau khi bị cản trở bởi các vấn đề chính trị tại Philíppin – tác giả). 

Và nếu như vậy, đó có thể là một niềm tin khác thường, nhưng là một điều mà cả Việt Nam và Phiplíppin cần xem xét cẩn trọng xét trên đối sách cân bằng các mục tiêu về an ninh và kinh tế của mỗi nước, trong khi vẫn thúc đẩy lợi ích quốc gia và ổn định khu vực. 

Thậm chí như vậy, thì công luận đối lập ở Philíppin cũng có thể sẽ ngăn cản bất cứ thỏa thuận nào liên quan đến nội dung cùng thăm dò tài nguyên tại những vùng nằm gần đất nước này nhất. 

Trước những đám mây đen căng thẳng đang tích tụ như vậy, điều cần thiết là các bên liên quan phải nghiêm túc theo đuổi các cuộc đàm phán không chỉ về các hướng dẫn triển khai Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) năm 2002, trong khi DOC tỏ ra không đủ hiệu lực giải quyết những sự kiện phát sinh. Cái mà chúng ta cần là Bộ qui tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC) – văn bản chuyên biệt cho việc phòng ngừa xung đột vũ trang trên những vùng biển tranh chấp. 

Lợi ích của Trung Quốc cũng như của mỗi nước khác trên Biển Đông sẽ cần được giải quyết thông qua đối thoại và đàm phán. Tuy nhiên, Trung Quốc phải chấm dứt thái độ hăm họa, nếu không phải là sử dụng vũ lực trên thực địa, với mục đích gây sức ép buộc các bên tranh chấp phải thừa nhận tuyên bố chủ quyền của Bắc Kinh. 

Trung Quốc phải thể hiện trách nhiệm lớn trong việc hạ nhiệt căng thẳng quân sự và khôi phục bầu không khí mang tính xây dựng cho đối thoại. 

Mặt khác, Việt Nam, Philíppin và cả khối ASEAN sẽ tích cực đưa ra những đồng thuận của mình về vấn đề Biển Đông và làm cho Trung Quốc hiểu rõ giới hạn của cách tiếp cận đa phương đã đề xuất nhằm giải quyết tranh chấp, cũng như mong muốn đặt ra đối với COC.

Nghiên cứu Biển Đông (giới thiệu)

Aileen S.P.Baviera - Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam thuộc Học viện Công nghệ Nanyang (Xingapo), đồng thời là giáo sư tại Trung tâm châu Á - Đại học Philíppin,

 

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 7860 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin