8 - 12 - 2019 | 12:53
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home
Tag:Trung Quốc

Loạt bài của các chuyên gia về Biển Đông đăng trên tạp chí “Tri thức thế giới” của Bộ Ngoại giao Trung Quốc: một nửa giang sơn của Trung Quốc là phần bao bọc xung quanh phía Nam nhưng đang ở trong trạng thái của “mùa Đông lạnh giá”? “Trung Quốc cần phải có kế sách đối phó như thế nào?”

 

BÀI I: NHÌN NHẬN THẾ NÀO VỀ TÌNH HÌNH BIỂN ĐÔNG HIỆN NAY (Trương Hải Văn, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu chiến lược phát triển biển – Cục hải dương quốc gia Trung Quốc) 

Xem xét từ góc độ chính trị quốc tế và quan hệ giữa các quốc gia, tôi cho rằng tình hình Biển Đông vẫn đang ổn định, hay nói cách khác các nước ở khu vực Biển Đông và các nước ngoài khu vực như Mỹ đang duy trì quan hệ chính trị ngoại giao bình thường với Trung Quốc, khả năng xảy ra xung đột quân sự ở Biển Đông không lớn. Tuy nhiên, nếu xem xét từ góc độ khác thì đã có rất nhiều vấn đề tồn tại. Xét từ góc độ quyền phát ngôn thì từ năm 2010 đến 2011, vấn đề Biển Đông đã bị nhào nặn thành một trong những vấn đề nóng của khu vực này. Một số nước Đông Nam Á như Việt Nam và các nước ngoài khu vực như Mỹ, Nhật Bản... đã ngang nhiên tô vẽ vấn đề Biển Đông, trong khi đó Trung Quốc lại dường như im lặng. Tuy nhiên, trước năm 2010, nếu Trung Quốc phản đối mạnh thì dù là nước xung quanh Biển Đông hay nước ngoài khu vực sẽ đều không thể công khai thảo luận vấn đề tranh chấp Biển Đông theo cơ chế mang tính khu vực hoặc tại các hội nghị mang tính khu vực như Diễn đàn khu vực ASEAN. Tại Diễn đàn khu vực ASEAN năm 2010, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc cũng đã phản bác những ngôn luận được gọi là tự do hàng hải ở Biển Đông trong tình hình không thể nhẫn nại hơn nữa. Nói tóm lại, quyền phát ngôn của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông hiện nay là bị động, đương nhiên tình hình này chủ yếu cũng bắt nguồn từ chính sách tự kiềm chế và dịu giọng của Trung Quốc. Xét về góc độ khai thác sử dụng tài nguyên thiên nhiên biển thì các nước xung quanh Biển Đông mỗi năm khai thác đến hàng triệu tấn, thậm chí hàng chục triệu tấn dầu khí từ vùng biển tranh chấp ở Biển Đông, trong khi một sự thực không thể tranh cãi là Trung Quốc lại không có một giếng dầu nào trong vùng biển tranh chấp. Trong thời gian rất dài trước đây, khi muốn lôi kéo công ty dầu khí của các nước phương Tây vào thăm dò, khai thác dầu khí, Philíppin và Việt Nam thường dè dặt, đắn đo trước phản ứng của Trung Quốc nhưng hiện nay tình hình rõ ràng đã khác trước. Ví dụ như Philíppin, khi hợp tác với công ty dầu khí phương Tây khai thác dầu khí ở vùng biển tranh chấp, nước này tạo dư luận ồn ào trước, dùng thủ đoạn “kẻ cướp kêu bắt kẻ cướp”. Như vậy cũng có thể nói trước đây Philíppin khai thác vụng trộm dầu khí ở vùng biển tranh chấp, nay trắng trợn hành động, cho thấy Trung Quốc đang ngày càng mất đi khả năng kiểm soát tình hình trước hành vi xâm phạm chủ quyền nghiêm trọng của các nước xung quanh như vậy. Xét về phương diện đánh bắt cá thì ngư dân Trung Quốc hiện nay đến đâu cũng bị bắt bớ, trong đó bao gồm Biển Đông và Đông Hải (Biển Hoa Đông). Xét về góc độ so sánh lực lượng và xây dựng quan hệ chiến lược, từ năm 2010 đến nay, so sánh lực lượng ở khu vực Biển Đông đã có thay đổi to lớn. Quan hệ chiến lược giữa các nước trong và ngoài khu vực Biển Đông có bước phát triển mới, về tổng thể, cơ bản đã hình thành mối quan hệ so sánh lực lượng trong đó một bên là Trung Quốc, còn bên kia là một số nước khác do Mỹ và Việt Nam đứng đầu. Quan hệ so sánh này biểu hiện cụ thể ở hai phương diện: 

Một là, xem xét tình hình quan hệ giữa thế lực bên ngoài khu vực và các nước vùng biển xung quanh, từ năm 2010 đến nay, Mỹ không ngừng gia tăng sự hiện diện quân sự ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Ngoài việc lớn tiếng tăng cường quan hệ liên minh quân sự với các nước Hàn Quốc, Nhật Bản, Philíppin, Mỹ đã nhiều lần tổ chức diễn tập quân sự chung, cuối năm 2011 Mỹ lại tuyên bố đạt được thỏa thuận xây dựng căn cứ hải quân ở Ôxtrâylia. Một số nước xung quanh Biển Đông cũng có động thái quan trọng, ví dụ như quan hệ quân sự hiện nay giữa Việt Nam với Mỹ có thể nói là thời kỳ tốt đẹp nhất kể từ khi kết thúc Chiến tranh Việt Nam; Việt Nam và Ấn Độ, Nhật Bản đều đã thiết lập và tăng cường quan hệ hợp tác quân sự, trong đó cả Ấn Độ và Nhật Bản đều cam kết rõ phải giúp Việt Nam nâng cao khả năng quân sự trên biển. Philíppin, Inđônêxia cũng đều lần lượt nâng cấp quan hệ với Nhật Bản lên thành quan hệ đối tác chiến lược, tuyên bố phải bảo vệ “lợi ích chung” ở Biển Đông. Thứ hai, xem xét tình hình phát triển quan hệ giữa các nước tranh chấp Biển Đông, Việt Nam không ngừng điều chỉnh chiến lược Biển Đông của họ, ra sức phát triển quan hệ với nước tranh chấp Biển Đông khác như Philíppin. Việt Nam đã từng bước thay đổi lập trường đối phó tranh chấp Biển Đông, bắt đầu gác lại tranh chấp với các nước khác như Philíppin, tích cực lôi kéo Philíppin và Malaixia nhằm mục đích cùng đối phó với Trung Quốc. Một vấn đề cần phải xem xét kỹ là, từ những năm 70 của thế kỷ trước đến nay, vấn đề tranh chấp Biển Đông đã tồn tại mấy chục năm nhưng về cơ bản các nước và Trung Quốc đều giữ lập trường giống nhau hoặc tương tự nhau, đó là có tranh chấp nhưng không làm to chuyện. Nhưng từ năm 2010 đến nay, vấn đề Biển Đông đã bị hâm nóng lên, dường như hai năm trở lại đây Biển Đông đã luôn xuất hiện tình trạng tranh chấp mới nào đó! Sự thực cái gọi là vấn đề Biển Đông đang bị khuấy lên hiện nay, trên thực tế là bị người ta cố ý làm cho nóng lên. Tôi cho rằng vấn đề này trước hết là Mỹ và Việt Nam phối hợp với nhau nhằm đạt mục đích giúp Mỹ nhanh chóng can thiệp vấn đề Biển Đông, tranh giành ảnh hưởng ở khu vực Biển Đông, đồng thời giúp Việt Nam củng cố và giành giật lợi ích thực tế ở Biển Đông, hơn nữa xét tình hình hiện nay, rõ ràng họ đã rất thành công. Từ năm 2010 đến nay, Mỹ và Việt Nam đã lợi dụng mặt bằng đối thoại ASEAN ở nhiều cấp độ, triển khai thế tiến công Trung Quốc về mặt dư luận, tạo bầu không khí dư luận để cùng công khai “lên án” Trung Quốc. Xét bầu không khí dư luận hiện nay, dường như vấn đề Biển Đông chính là vấn đề mà một bên là Trung Quốc, bên kia là các nước ASEAN và Mỹ, Nhật Bản, là hình thức xung đột giữa lợi ích của Trung Quốc ở Biển Đông và “lợi ích chung” của tất cả các nước này tại Biển Đông. 

Thứ hai là tạo môi trường dư luận để làm méo mó hình ảnh của Trung Quốc, cô lập Trung Quốc, phục vụ cho Mỹ và Việt Nam thành lập liên minh đại chiến lược chống Trung Quốc, bao vây Trung Quốc từ hướng Biển Đông. Hơn nữa, cho đến cuối năm 2011, liên minh nói trên đã rõ hình hài, tiêu chí trực tiếp nhất là quan hệ đối tác các loại mà các nước tranh chấp Biển Đông như đã nói trên là Việt Nam, Philíppin... và các thế lực ngoài khu vực như Mỹ, Nhật Bản và Ấn Độ, đã hình thành và đang tăng cường, củng cố. Tuy nhiên, các nước này cũng có tính hai mặt rất rõ rệt. Một mặt, xét từ góc độ an ninh, họ muốn dựa vào Mỹ để kiềm chế, cân bằng Trung Quốc, không muốn tin vào Trung Quốc; Mặt khác, về phương diện kinh tế lại muốn dựa vào Trung Quốc, có được lợi ích thực tế từ Trung Quốc. Ngoại trưởng Philíppin đi thăm Trung Quốc, có được lợi ích thực tế từ Trung Quốc nhưng sau khi về nước đã lập tức cho công ty dầu khí phương Tây vào thăm dò khai thác dầu khí ở khu vực tranh chấp thuộc Biển Đông. Việt Nam và Nhật Bản rất thành thạo lợi dụng những dịp đi thăm lẫn nhau của các nhà lãnh đạo hai nước, vừa ca tụng bài ca hữu nghị với Trung Quốc, vừa nhân có hội để thăm dò, điều tra trên biển, cố tình chiếm được lợi ích thực tế, vì theo những cách thức quen thuộc, trong khi các nhà lãnh đạo đi thăm, Trung Quốc bao giờ cũng áp dụng lập trường kiềm chế, nói chung không có hành động thực tế ở ngoài biển. Nói tóm lại, một số nước xung quanh có quy hoạch chiến lược, có kế hoạch hành động trong vấn đề tranh chấp Biển Đông, hơn nữa có chiến lược đấu tranh rất lợi hại, hết sức thành thạo trong việc tạo ra và lợi dụng các cơ hội để mưu cầu lợi ích biển tối đa. 

BÀI II: CỤC DIỆN MÔI TRƯỜNG XUNG QUANH KHÓ KHĂN VÀ NGHỊCH LÝ VỀ CHÍNH SÁCH AN NINH (Dương Nghị - Thiếu tướng, Nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu chiến lược, Đại học Quốc phòng Trung Quốc) 

Tình hình “xung đột cường độ mạnh” nguy hiểm nhất ở Biển Đông có thể là năm 2010 và 2011. Bởi vai trò của nước Chủ tịch luân phiên ASEAN rất lớn, trong khi đó Việt Nam với tư cách là nước Chủ tịch vào năm 2010 đã làm hết khả năng của mình, lợi dụng sự ủng hộ của Mỹ đưa vấn đề Biển Đông lên bàn hội nghị các nước ASEAN. Năm 2012, Mỹ lần đầu tiên, tham gia Hội nghị cấp cao Đông Á. Từ năm 2012–2014, Chủ tịch luân phiên ASEAN sẽ lần lượt theo thứ tự do Campuchia, Brunây và Mianma đảm nhận, bởi thế tình hình có khả năng sẽ không tiếp tục nghiêm trọng như năm 2011. Mặc dù vậy, tôi cho rằng vấn đề Biển Đông chỉ có thể nói là sóng gió trên mặt biển có thể giảm bớt chứ sóng ngầm sẽ vẫn như cũ. Xét từ trạng thái hiện nay, vấn đề Biển Đông đã trở thành nhân tố vô cùng quan trọng ảnh hưởng đến lợi ích an ninh và lợi ích phát triển của Trung Quốc, đồng thời cũng trở thành vấn đề nóng mới liên quan đến sự ổn định ở khu vực xung quanh Trung Quốc. Quan hệ Trung – Mỹ trước mắt vẫn chủ yếu là cạnh tranh, sở dĩ vấn đề Biển Đông nóng lên, được phóng đại như vậy, có thể nói là do một số nước xung quanh đã phối hợp với chiến lược “trở lại châu Á-Thái Bình Dương” mà Mỹ đã công phu hoạch định. Năm 2010, Mỹ đã lợi dụng sự kiện “tàu Cheonan” ở hướng Bắc Trung Quốc và khuấy động Biển Đông ở phía Nam, khiến Trung Quốc bị tiến công từ hai mặt. Thủ đoạn thành công nhất của Mỹ là đã làm cho mâu thuẫn Trung – Mỹ diễn biến thành vấn đề giữa Trung Quốc và các nước thuộc khu vực xung quanh, bởi vậy thực chất của vấn đề Biển Đông còn là cuộc đấu chiến lược giữa Trung Quốc và Mỹ. Cùng với vấn đề Biển Đông nóng lên, không ít vạch đỏ của Trung Quốc đã bị phá vỡ, hơn nữa còn đang tiếp tục bị đột phá. Ví dụ như Trung Quốc luôn chủ trương vấn đề Biển Đông là công việc của các nước trong khu vực, trong khi xét từ ý nghĩa nào đó, trên thực tế đã bị quốc tế hóa. Ở quần đảo Trường Sa hiện nay có tới 58% các đảo-bãi đã bị Việt Nam chiếm cứ, vậy Trung Quốc cần phải đối xử như thế nào? Có cần phải thu hồi lại, cũng như thu hồi bằng cách nào, những vấn đề này đã trở thành điểm mấu chốt để Trung Quốc phá vỡ thế bế tắc trong việc giải quyết vấn đề Biển Đông. Dưới tiền đề Trung Quốc kiên trì đi theo con đường phát triển hòa bình như hiện nay, không thể dễ dàng sử dụng sức mạnh quân sự để thu phục đất bị mất, vậy chúng ta cần phải làm gì? Đồng thời, trong khi Trung Quốc trỗi dậy, áp lực trong và ngoài nước đối với chính sách ngoại giao của chúng ta cũng đồng thời lớn thêm. Áp lực bên ngoài như “thuyết về mối đe dọa Trung Quốc”, bên trong là sức ép của dân chúng theo tình cảm dân tộc chủ nghĩa, khó khăn đối với cả bên trong và bên ngoài tăng lên, nếu xử lý không thỏa đáng vấn đề Biển Đông thì không những lợi ích quốc gia sẽ bị tổn hại mà còn có thể nguy hại đến sự ổn định trong nước, thậm chí trực tiếp đe dọa địa vị cầm quyền của Đảng Cộng sản Trung Quốc của chúng ta. Về biện pháp đối phó của Trung Quốc, người viết có thể kiến nghị một số điểm sau đây: 

Thứ nhất, xây dựng chiến lược Biển Đông ở tầm trung ương. Trước hết, cần thành lập cơ quan lãnh đạo thống nhất. Việt Nam đã sớm thành lập “Ủy ban phối hợp Trường Sa”, Trung Quốc đến nay đều chưa có gì. Sau nữa là xác định rõ lợi ích ở Biển Đông, đồng thời hoạch định con đường giải quyết hữu hiệu vấn đề, không thể chỉ nói mà không làm. Lại nữa, cần sử dụng nguồn lực chiến lược tổng hợp, các ngành nhất định phải phối hợp thống nhất. Thứ hai, thay đổi quan niệm, tích cực có hành động. Từ chỗ không gây nên chuyện, đừng để xảy ra trục trặc, đến chỗ làm việc, trù tính xác lập vị thế, từ đó tạo dựng tình thế có lợi cho Trung Quốc ở Biển Đông, nhanh chóng loại bỏ tình hình bế tắc nói trên. Thứ ba, tạo nguồn lực tổng hợp. Trung Quốc cần sử dụng phương pháp tác chiến toàn diện bao gồm các nguồn lực về chính trị, kinh tế, ngoại giao, pháp luật, quân sự, dư luận... Về mặt ngoại giao, cần dũng cảm thể hiện thái độ, không thể quá bị động. Về phương diện lợi ích quốc gia ở Biển Đông, Trung Quốc có lý, nhất định phải mạnh mẽ, không thể bị người khác áp đảo. Thứ tư, xây dựng các phương án ứng phó khẩn cấp. Cần phản ứng kịp thời, đề phòng sai lầm trong hỗn loạn, lại càng phải đề phòng để mất thời cơ tốt. Thứ năm, tăng cường xây dựng lực lượng, nâng cao khả năng bảo vệ an ninh trên biển của quốc gia, đồng thời thông qua thực hiện chấp pháp hữu hiệu trên biển để thể hiện ý chí của Trung Quốc trong việc bảo vệ lợi ích quốc gia, đặc biệt là nhanh chóng xây dựng lực lượng chấp pháp thống nhất trên biển. Về phương diện quân sự, nhất định phải kín đáo phát triển nhanh, triển khai thích hợp và sử dụng thận trọng. 

BÀI III: VÀI SUY NGHĨ VỀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG (La Viện – Thiếu tướng, Ủy viên thường trực kiêm Phó Tổng thư ký Hội học thuật Khoa học quân sự Trung Quốc) 

Chúng ta đều nói Biển Đông ở vào “mùa Thu nhiều chuyện”, vậy dòng khí lạnh của “mùa Đông Biển Đông” đã từ đâu đến? Tôi cho rằng vẫn do Mỹ trở lại châu Á-Thái Bình Dương mang lại. Hiện nay, có hai cách nhìn nhận về việc Mỹ trở lại châu Á – Thái Bình Dương: Một là cho rằng nước Mỹ nhằm tỏ rõ sự hiện diện quân sự của mình ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương chứ hoàn toàn không phải nhắm vào Trung Quốc. Hai là cho rằng Mỹ kiềm chế Trung Quốc để bao vây Trung Quốc. Cá nhân tôi cho rằng thà cứ tin là Mỹ có ý đồ nhắm vào Trung Quốc chứ không thể tin Mỹ không có ý đồ nói trên. Dù có khả năng bao vây Trung Quốc hay không thì Mỹ chắc chắn vẫn có ý đồ. Tôi xin đưa ra cách quy nạp về bố trí chiến lược của Mỹ ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, gọi tắt là “bố cục chiến lược năm ba hai một”, trong đó “năm” là chỉ 5 liên minh quân sự lớn, đó là các liên minh Mỹ - Nhật, Mỹ - Hàn, Mỹ - Philíppin, Mỹ - Thái Lan, Mỹ - Ôxtrâylia, đồng thời còn có 5 căn cứ quân sự lớn, trước hết là một quần thể căn cứ quân sự Đông Bắc Á, chủ yếu kiểm soát ba eo biển La Pérouse, Tsugaru và Tsushima, khóa chặt cửa ngõ phía Bắc của Trung Quốc; Hai là quần thể căn cứ Đông Nam Á, chủ yếu kiểm soát Eo biển Malắcca, phong tỏa cửa ngõ phía Nam Trung Quốc; Ba là quần thể căn cứ đảo Guam, được ví như hai quả đấm thu lại của Mỹ, sẵn sàng xuất kích; Bốn là quần thể căn cứ Ôxtrâylia – Niu Dilân, quần thể căn cứ này mặc dù đóng quân hạn chế nhưng là căn cứ đầu não và là trận địa cảnh báo tiền duyên trong cuộc chiến thông tin của nước Mỹ, địa vị của căn cứ này vẫn rất quan trọng; Năm là quần thể căn cứ Haoai, đó là đầu mối thông tin – giao thông của Mỹ và là trung tâm chỉ huy tác chiến ở Thái Bình Dương của Mỹ. “Ba” là chỉ ba tuyến phong tỏa, đó là ba chuỗi đảo mà mọi người đều biết. Thứ nhất là các đảo chính ở Nhật Bản, Okinawa, Philíppin và khu vực Đài Loan; Thứ hai là đảo Guam và khu vực xung quanh Ôxtrâylia; Còn quần đảo Haoai là chuỗi đảo thứ ba. “Hai” là chỉ “hai chiếc mỏ neo”, chiếc neo phía Bắc là Liên minh quân sự Mỹ - Nhật, phía Nam là Liên minh quân sự Mỹ - Ôxtrâylia. “Một” là chỉ vòng vây hình thành bao quanh Trung Quốc.Bất kể vòng vây này hình dạng thế nào thì quả thực vẫn tồn tại. Những năm gần đây, Mỹ đã có được quyền xây dựng hơn 10 căn cứ quân sự ở các nước như Philíppin, Inđônêxia... Gần đây tình hình Biển Đông nổi sóng gió, Mỹ lập tức đề xuất điều chiến hạm gần bờ của họ đến cảng Changi của Xinhgapo. Một tiêu chí then chốt để có thể biết được Mỹ có trở lại Thái Bình Dương hay không là phải xem quân đội Mỹ có có trở lại cảng Subic, căn cứ quân sự Clack ở Philíppin và cảng Cam Ranh của Việt Nam hay không? Hai điểm này có thể coi là việc làm mang tính tiêu chí để xem xét việc Mỹ hoàn thành mục tiêu “trở lại châu Á – Thái Bình Dương”. Ở Nam Á, Mỹ và Ấn Độ đã kết thành quan hệ đối tác chiến lược. Ở Trung Á, Mỹ có 18 căn cứ quân sự, khoảng cách đến Tân Cương gần nhất là 250 km. Mông Cổ hiện nay lại càng thực hiện “chiến lược nước láng giềng thứ ba”, coi Mỹ là nước láng giềng thứ ba và diễn tập quân sự chung với Mỹ. Ở Đông Bắc Á, Mỹ cũng có các Liên minh quân sự Mỹ - Hàn, Mỹ - Nhật. Mỹ còn bố trí trận địa SONAR ở vùng biển xung quanh Trung Quốc để trinh sát tàu ngầm và tàu mặt nước của Trung Quốc, luôn nhiều lần diễn tập quân sự quy mô lớn với các nước láng giềng xung quanh Trung Quốc. Vì thế có nhận thấy rõ rằng, dù ý đồ của Mỹ thế nào thì vòng vây nói trên đã thực sự tồn tại. 

Vậy phải giải quyết vấn đề Biển Đông như thế nào? Tôi cho rằng Trung ương Đảng trước hết cần phải coi sự nghiệp hải dương là trọng tâm của mọi trọng tâm, giống như sự nghiệp vũ trụ. Cần phải thành lập Ủy ban an ninh quốc gia, và dưới đó thành lập Ủy ban quốc gia về an ninh biển và phát triển biển do người lãnh đạo quốc gia nắm giữ. Thứ hai, cần kiên trì nguyên tắc “chủ quyền thuộc về ta” do đồng chí Đặng Tiểu Bình đề xuất. Chỉ có như vậy mới có thể làm cho các nước xung quanh hiểu lập trường cơ bản của chúng ta, nhất là nguyên tắc “chủ quyền thuộc về ta” không thể chỉ dừng lại ở lời nói mà phải được thực hiện bằng hành động. Đó chính là “5 tồn tại” mà tôi đề xuất như dưới đây: Một là tồn tại về mặt hành chính. Trung Quốc cần thành lập Khu hành chính đặc biệt ở Biển Đông, hoạch định các đơn vị hành chính như thành phố, quận, huyện, xã..., đồng thời cắt cử các quan chức quản lý về mặt hành chính. Dù không thể lên được đảo cũng cần phải công bố, căng biển trong đất liền cáo thị tên gọi của khu vực hành chính và các nhân viên quản lý, đồng thời các đại biểu Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc và ủy viên Chính Hiệp cũng cần phải công khai lên đảo tuần tra, tuyên bố chủ quyền. Hai là tồn tại về luật pháp. Nhất định phải đưa các căn cứ pháp lý của Trung Quốc đến diễn đàn quốc tế để tuyên truyền, phân tích, giải thích. Ba là tồn tại về quốc phòng. Trên các đảo ở Biển Đông thì những nơi có thể đóng quân sẽ phải đóng quân, những nơi không thể đóng quân thì phải xây dựng các cơ sở quân sự như cột đèn, thiết bị đo chiều gió, chỉ hướng gió, trạm quan trắc v.v.. Ngoài ra, máy bay chiến đấu và tàu chiến của Trung Quốc phải tuần tra thường kỳ ở khu vực này, đồng thời phải trịnh trọng tuyên bố khu vực nào đó là khu vực diễn tập quân sự hoặc khu bắn thử tên lửa khi ở trong trạng thái nguy cơ. Bốn là tồn tại về kinh tế. Ngư dân Trung Quốc cần thành lập và xây dựng các ngư trường, lồng lưới, tàu chiến có thể tiến hành bảo vệ dưới danh nghĩa hộ tống. Chúng ta cũng cần thành lập các mặt bằng khoan giếng, và còn có thể sử dụng phương pháp phát triển các dự án du lịch bằng tàu du lịch cỡ lớn đến khu vực Biển Đông để thể hiện chủ quyền. Trong quá trình trỗi dậy, biên giới lợi ích của Trung Quốc cũng sẽ đồng thời từng bước mở rộng, khái niệm chủ quyền cũng sẽ thay đổi. Ví dụ như tàu sân bay, mặt bằng thăm dò trên biển của Trung Quốc sẽ trở thành lãnh thổ lưu động. Năm là tồn tại về mặt dư luận. Trong luật quốc tế có một điều khoản quy định, nếu một số đảo nào đó sau khi bị chiếm nhưng không dẫn đến tranh chấp thì sau 50 năm đương nhiên sẽ được tách ra. Vì thế dư luận ở Trung Quốc cần không ngừng chỉ rõ Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với Biển Đông và vùng biển phụ cận Biển Đông. Ngoài ra Trung Quốc có căn cứ trong vấn đề phân định lãnh thổ Biển Đông theo luật quốc tế, vì thế báo chí cần tuyên truyền mạnh về những luật pháp nói trên. Trung Quốc cũng cần công bố “Sách Trắng về Biển Đông” vào thời điểm thích hợp, giải thích rõ căn cứ pháp lý của Trung Quốc. Cuối cùng, cũng cần phải nhấn mạnh một điểm, rằng trong vấn đề Biển Đông Trung Quốc không chỉ nhấn mạnh áp dụng biện pháp hòa bình, mà cần phải thực hiện song song giữa mềm và cứng, giữa ân đức và uy lực, hai tay đều phải cứng, vừa tuyên bố chúng ta có ý nguyện hòa bình tốt đẹp, nhưng cũng cần phải tuyên bố có ý chí kiên định bảo vệ chủ quyền quốc gia bằng biện pháp phi hòa bình. Chỉ có kết hợp giữa “ý nguyện” và “ý chí” mới có thể thực sự ngăn chặn chiến tranh, bảo vệ chủ quyền một cách hữu hiệu. 

BÀI IV: TỪ VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG BÀN VỀ ĐIỀU CHỈNH NGOẠI GIAO (Diêm Học Thông – Viện trưởng Viện nghiên cứu quan hệ quốc tế hiện đại, Đại học Thanh Hoa) 

Trong bối cảnh vấn đề đặt ra cho năm 2012 là Trung Quốc cần phải làm gì, không chỉ có chiến lược ngoại giao mà nguyên tắc ngoại giao có cần phải điều chỉnh hay không? Bài viết của học giả Diêm Học Thông dưới đây phân tích vấn đề điều chỉnh đường lối ngoại giao của Trung Quốc xung quanh vấn đề Biển Đông như sau: Trong quân đội hiện nay đang có câu nói đặc biệt phổ biến, đó là “không đánh mà khuất phục được quân người”. Tuy nhiên, rất nhiều người đã giải thích nhầm câu nói trên thành không sử dụng vũ lực. Khái niệm “không đánh” trong câu của Tôn Tử nói trên nghĩa là không tiến hành trận chiến nóng để công phá thành chứ không phải là chiến tranh lạnh không sử dụng vũ lực. Ví dụ nói, trong quá trình giải phóng Bắc Bình (tên gọi cũ của Bắc Kinh hiện nay) giải phóng quân “vây mà không đánh”; Trong thời kỳ khủng hoảng Béclin, Liên Xô tiến hành phong tỏa giao thông ở Tây Béclin; Trong cuộc khủng hoảng tên lửa Cu Ba, Liên Xô chuẩn bị bố trí tên lửa ở Cu Ba; Trong Chiến tranh Irắc Mỹ thiết lập vùng cấm bay v.v., những cách nói trên đây đều hàm nghĩa “không đánh mà khuất phục được quân người”. Nói cách khác, vấn đề mấu chốt để phân định ý nghĩa “không đánh mà khuất phục được quân người” không phải ở chỗ có sử dụng biện pháp quân sự hay không mà ở chỗ có khai hỏa tiến công hay không. Hay cũng là nói, áp dụng biện pháp quân sự để uy hiếp hoặc phong tỏa cũng thuộc phạm trù “không đánh mà khuất phục được quân người”. Một ý nghĩa cốt lõi khác của câu nói trên là “quân người khuất phục”. Ở đây có ý nói kết quả trận đánh nóng chưa tiến hành là đối phương tự khuất phục chứ không phải mình khuất phục quân đối phương. Hiện nay có rất nhiều người lý giải về câu nói trên là, chỉ cần không sử dụng vũ lực giải quyết vấn đề, dù là tự mình khuất phục đối phương cũng là “thượng sách”. Trong lĩnh vực chính trị quốc tế, chỉ cần một bên khuất phục là có thể đảm bảo “hòa bình”. Nhưng, kết quả giải quyết hòa bình nói trên không thuộc về phạm trù “không đánh mà khuất phục được quân người” của Tôn Tử, mà đó gọi là “không đánh mà quân mình bị khuất phục”. Đó là vấn đề đặc biệt rõ ràng về chiến lược đối ngoại. Nói cách khác, vận dụng tư duy xử sự bằng cách không sử dụng vũ lực để giải quyết vấn đề, lấy “giấu mình chờ thời” làm ý tưởng ngoại giao trung tâm sẽ không thể xây dựng được chiến lược lớn về biển của Trung Quốc, cũng không thể giải quyết được vấn đề Biển Đông. Đặc biệt là nếu lấy bảo vệ thời cơ chiến lược và bảo vệ đại cục ổn định làm nguyên tắc thì Trung Quốc chỉ có thể lùi bước nhượng bộ trong vấn đề Biển Đông. Nếu bảo vệ thời cơ chiến lược được hiểu là lấy xây dựng kinh tế làm trung tâm, bảo vệ đại cục ổn định được hiểu là duy trì quan hệ hữu hảo với Mỹ, hay nói cách khác, nếu lo ngại giải quyết vấn đề Biển Đông sẽ ảnh hưởng đến phát triển kinh tế của Trung Quốc, ảnh hưởng đến quan hệ Trung – Mỹ, thì như vậy sẽ chỉ có thể là hy sinh lợi ích Biển Đông. Muốn giữ được quyền lợi ở Biển Đông thì không thể câu nệ vào “giấu mình chờ thời”, không thể lấy phục vụ xây dựng kinh tế làm nhiệm vụ tối cao trong đường lối ngoại giao. 

Lợi ích hàng đầu của Trung Quốc cuối cùng là gì? Tôi cho rằng lợi ích kinh tế đã không còn tiếp tục là vị trí số một tuyệt đối, lợi ích an ninh cần phải được đặt lên trên lợi ích kinh tế, khi hai lợi ích phát sinh xung đột sẽ lấy lợi ích an ninh làm trọng tâm. Quốc gia lớn mạnh không có nghĩa là an ninh tự thân đã được nâng cao, mà sự thực đã chứng minh ngược lại, quốc gia càng lớn mạnh thì vấn đề an ninh sẽ càng trở nên nghiêm trọng vì biên giới lợi ích của quốc gia đã mở rộng ranh giới ra bên ngoài nên càng dễ bị bên ngoài tấn công. Nước Mỹ chính là một ví dụ rõ nhất. Lợi ích mở rộng đòi hỏi phải được bảo vệ bằng quân sự, tốc độ nâng cao khả năng bảo vệ bằng quân sự không theo kịp với tốc độ mở rộng lợi ích khác thì vấn đề an ninh sẽ càng ngày càng nghiêm trọng. Chính là do thực lực kinh tế và địa vị của Trung Quốc được nâng cao đã xuất hiện vấn đề về an ninh quốc gia như trong tranh chấp Biển Đông. Nhận định về tình hình Biển Đông, tôi có một cách nhìn khác. Cho dù năm 2012 biến động về nước chủ tịch luân phiên ASEAN là nhân tố ảnh hưởng quan trọng làm giảm nhẹ mức độ kích hoạt vấn đề Biển Đông, nhưng thực chất vấn đề Biển Đông trên thực tế vẫn được quyết định bởi chiến lược của Mỹ. Tôi xem xét tình hình Biển Đông từ góc độ chiến lược của Mỹ đối với Trung Quốc. Nói cách khác, tình hình Biển Đông chủ yếu sẽ được quyết định bởi việc Obama tranh cử tổng thống có được thuận lợi hay không. Nếu tình hình Obama tranh cử thuận lợi thì ông này sẽ tăng cường chiến lược hiện nay của Mỹ ở Biển Đông. Năm 2009, H. Clinton tham gia Hội nghị cấp cao Đông Á, có tổng cộng 12 nước ủng hộ Mỹ trong vấn đề này. Năm 2011, Obama tham gia Hội nghị cấp cao Đông Á, có 14 nước ủng hộ. Chiến lược Đông Nam Á của Mỹ khiến Mỹ được lợi. Đối với chiến lược đã cho thấy lợi ích thì Obama sẽ không từ bỏ. Bởi thế nếu Obama thắng cử thì năm 2012 ông ta sẽ còn tham gia Hội nghị cấp cao Đông Á, tình hình Biển Đông rất có thể nghiêm trọng hơn hiện nay. Đặc biệt tháng 12 vừa qua, H. Clinton đã đi thăm Mianma, hội kiến với Aung San Suu Kyi, rõ ràng là Mianma bắt đầu thỏa hiệp với Mỹ. Đồng thời xem xét đến viện trợ của Nga những năm gần đây cho Việt Nam sẽ thấy tình hình Biển Đông năm 2012 mà Trung Quốc phải đối mặt rất khó có được chuyển biến tốt. Nếu Obama tranh cử không thuận lợi, ông này sẽ khó tham gia Hội nghị thượng đỉnh Đông Á, tình hình như vậy sẽ có phần tốt hơn. 

Hiện nay, mọi người đã và đang tranh luận việc Mỹ trở lại châu Á – Thái Bình Dương là hành động chiến thuật hay chiến lược? Nếu là chiến thuật thì năm 2013 sau khi bầu cử tổng thống, Mỹ có thể sẽ trở lại chính sách đối với Trung Quốc năm 2009, nhưng nếu là hành động chiến lược thì dù ứng viên tổng thống nào trúng cử cũng đều củng cố áp lực đối với Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông, sẽ tăng cường sự hiện diện quân sự và hành động chiến lược ở khu vực này. Tôi cho rằng việc Mỹ điều chỉnh chính sách đối với Trung Quốc lần này là mang tính chiến lược. Như mọi người đều biết, thực lực về vật chất của Mỹ đang giảm xuống một cách tương đối, vậy Mỹ sẽ phải dựa vào ưu thế ngoại giao để bù lại sự bất cập trong quốc lực tổng hợp. Như vậy cũng là nói, nước Mỹ sau khi thực lực vật chất sụt giảm tương đối sẽ tăng cường hiệp đồng tác chiến với đồng minh, như vậy mới có thể tiếp tục duy trì địa vị chủ đạo của nước Mỹ, đồng thời khu vực Biển Đông có từng ấy nước ủng hộ Mỹ thì tại sao Mỹ phải từ bỏ theo một hướng phi lôgích? Ngoài ra, Mỹ rút khỏi Trung Đông, tăng cường sự có mặt ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, so với khu vực Đông Bắc Á thì Biển Đông dễ dàng thâm nhập hơn, vậy tại sao Mỹ lại không kiềm chế Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông? Về biện pháp đối phó của Trung Quốc, tôi kiên trì theo hướng nên từ bỏ chính sách “giấu mình chờ thời” và “không liên kết”. Khiêm tốn thận trọng là khái niệm rất hay của Trung Quốc, nhưng vì sao phải thôi kiên trì “giấu mình chờ thời” để không sử dụng nguyên tắc “khiêm tốn thận trọng”? “Giấu mình chờ thời” có hàm nghĩa báo thù, đó là vấn đề không thể thay đổi. “Không liên kết” nghĩa là không kết giao thành bạn đáng tin cậy nhất. Không có bạn tin cậy, khi gặp khó khăn chúng ta sẽ không có ai để làm chỗ dựa. Chúng ta không có bạn đồng minh, nước khác cũng sẽ không giảm lo sợ đối với nước Trung Quốc trỗi dậy. Chính sách “không liên kết” trở thành chướng ngại để nước ta tranh thủ đa số nước ủng hộ ở khu vực Biển Đông. Mỹ rất lo ngại chúng ta từ bỏ chính sách “không liên kết”, vì chính sách này có lợi cho Mỹ cô lập chúng ta. Nhìn tổng quan bốn khu vực xung quanh Trung Quốc thì khu vực an toàn nhất là phía Tây và Tây Bắc, còn chỗ dựa an ninh ở khu vực này là Tổ chức hợp tác Thượng Hải mang tính chất bán liên minh quân sự. 

Nói tóm lại, Trung Quốc hiện nay không những phải đối mặt trước vấn đề điều chỉnh chiến lược ngoại giao, mà vấn đề là có cần điều chỉnh nguyên tắc ngoại giao hay không, nghĩa là có điều chỉnh nguyên tắc “giấu mình chờ thời” và “không liên kết” hay không? Vấn đề Biển Đông hiện nay là hình ảnh thu nhỏ của ngoại giao toàn cầu của Trung Quốc, phản ánh ý tưởng ngoại giao đã lỗi thời. Trong “Kinh thi” có nói, “Chu tuy cựu bang, kỳ mệnh duy mới” nghĩa là triều nhà Chu có thể kéo dài được mấy trăm năm, chỗ dựa chính là không ngừng đổi mới. Người viết bài này cho rằng việc điều chỉnh nguyên tắc “không liên kết” đã vận dụng 30 năm và nguyên tắc “giấu mình chờ thời” đã thực hiện 20 năm, sẽ có lợi cho việc giữ gìn lợi ích Biển Đông và lợi ích quốc gia trên toàn cầu của Trung Quốc./.

 Theo Tạp chí “Tri thức thế giới” (Trung Quốc – số 1/2012)

Lê Sơn (gt)

 

 

Mạng Tân Hoa gần đây đăng bài viết của tác giả Lăng Đức Quyền về những vấn đề liên quan đến tình hình tranh chấp ở Biển Đông đang được các giới quan tâm rộng rãi như: tranh chấp đã phát sinh thế nào, chính sách, chủ trương của Trung Quốc, triển vọng quan hệ Trung Quốc-ASEAN cũng như quan hệ Trung Quốc-Việt Nam liên quan tình hình Biển Đông trong thời gian sắp tới

I- Tranh chp Biển Đông và “vn đ Biển Đông”

Theo định nghĩa của Cục thủy văn quốc tế, Biển Đông là vùng biển chạy dài theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, biên giới phía Nam ở vị trí 3 độ vĩ tuyến Nam, giữa Nam Xumatra và Kalimantan, phía Bắc và Đông Bắc đến Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến, Đài Loan và Eo biển Đài Loan, biên giới phía Đông đến quần đảo Philíppin, phía Tây Nam đến Việt Nam và bán đảo Mã Lai, thông qua Eo biển Bashi, biển Sulu và Eo biển Malắcca nối liền với Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Hầu như cả Biển Đông bị vây quanh bởi đại lục, bán đảo và các đảo, diện tích hơn 3,5 triệu km 2, bằng khoảng ba lần tổng diện tích của Bột Hải, Hoàng Hải và Đông Hải (Biển Hoa Đông). Xung quanh Biển Đông có 9 quốc gia, gồm Trung Quốc (cả Đài Loan), Việt Nam , Campuchia, Thái Lan, Malaixia, Xinhgapo, Inđônêxia, Brunây và Philíppin. Trong vùng biển nói trên có hai vịnh là Vịnh Bắc Bộ và Vịnh Thái Lan. Vịnh Bắc Bộ là vịnh chung giữa Trung Quốc và Việt Nam, không liên quan đến nước khác. Năm 2000 Chính phủ hai nước Trung-Việt đã ký Hiệp định phân định biên giới Vịnh Bắc Bộ. Các nước xung quanh Vịnh Thái Lan có Thái Lan, Campuchia, Việt Nam và Malaixia. Việc giải quyết vấn đề quyền lợi về thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế ở Vịnh Thái Lan đã có rất nhiều tiến triển, giữa Việt Nam và Campuchia, giữa Malaixia và Thái Lan, giữa Malaixia và Việt Nam đã ký các hiệp định song phương nhưng giữa Campuchia và Thái Lan còn chưa ký được hiệp định. Vấn đề Biển Đông như mọi người thường nói không bao gồm Vịnh Bắc Bộ và Vịnh Thái Lan. Tranh chấp Biển Đông tập trung ở vùng biển quần đảo Trường Sa (quốc tế thường gọi là Spratly), liên quan đến Trung Quốc (bao gồm Đài Loan) và 5 nước (Việt Nam, Philíppin, Malaixia, Inđônêxia và Brunây), dân gian thường gọi là “6 nước 7 bên”. Sáu nước Đông Nam Á khác gồm Xinhgapo, Thái Lan, Campuchia, Lào, Mianma và Timo Leste không trực tiếp liên quan đến tranh chấp Biển Đông.

Nói một cách khái quát, tranh chấp Biển Đông chủ yếu liên quan đến hai phương diện: Một là tranh chấp chủ quyền lãnh thổ ở các đảo, hai là phân định vùng đặc quyền kinh tế. Đây là tranh chấp chủ quyền các đảo và lợi ích biển phức tạp nhất trên thế giới, không chỉ liên quan đến nhiều nước ven bờ Biển Đông, mà còn ở vào khu vực đường biển quốc tế quan trọng, liên quan đến lợi ích chiến lược của rất nhiều nước Đông Á và thế giới. Tranh chấp lợi ích lớn phức tạp đan xen lẫn nhau đã làm cho khó khăn trong giải quyết vấn đề tranh chấp Biển Đông tăng lên. Ngoài vùng biển quần đảo Trường Sa, giữa Trung Quốc và Việt Nam vẫn còn bất đồng và tranh chấp trong vấn đề phân định biên giới ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ. Giữa Trung Quốc và Philíppin cũng tồn tại tranh chấp chủ quyền các đảo và lợi ích biển ở khu vực Trung Bộ Trường Sa. Một số năm gần đây, “vấn đề Biển Đông” đã trở thành một từ nóng, không những được đề cập đến trong báo chí các nước trên thế giới, mà còn được đề cập trên các diễn đàn ngoại giao đa phương của khu vực và quốc tế hiện nay. Vậy cuối cùng, “vấn đề Biển Đông” là gì? Dường như cách gọi này đã trở thành một từ đồng nghĩa với tranh chấp chủ quyền các đảo và tranh chấp lợi ích biển giữa Trung Quốc với các nước Việt Nam , Philíppin, Malaixia... Đó thực sự là một cách hiểu nhầm. Trên thực tế, vùng biển rộng hơn 3,5 triệu km 2 nói trên liên quan đến nhiều nước ven biển, vị trí địa lý của vùng biển này nằm trên đường giao thông vận tải biển quan trọng của quốc tế, hơn nữa liên quan đến lợi ích chiến lược và lợi ích kinh tế quan trọng của các nước lớn trên thế giới. Những vấn đề thuộc khu vực Biển Đông thì rất nhiều, đa dạng và gồm nhiều phương diện. Sẽ là phiến diện và thiếu chuẩn xác nếu gọi chung chung tranh chấp giữa các nước xung quanh về chủ quyền và lợi ích biển là “vấn đề Biển Đông”. Trung Quốc phản đối “quốc tế hóa vấn đề Biển Đông” là phản đối việc quốc tế hóa tranh chấp chủ quyền các bãi, đảo và lợi ích biển ở Biển Đông, vì quốc tế hóa không những không giúp ích gì cho việc giải quyết vấn đề, mà sẽ càng làm cho tranh cãi gay gắt hơn, khiến thế lực bên ngoài xen vào, tranh chấp sẽ mở rộng hơn và phức tạp hơn, gây tổn hại đến lợi ích to lớn của mỗi nước liên quan và lợi ích chung của cả khu vực. Nói cho chuẩn xác thì khu vực Biển Đông đứng trước hai vấn đề lớn về an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống.

Trong lĩnh vực an ninh truyền thống, Chiến tranh thế giới thứ Hai và nhiều cuộc chiến tranh cục bộ, trong đó bao gồm cuộc Chiến tranh Việt Nam xảy ra từ mấy chục năm nay, đều trực tiếp hay gián tiếp liên quan nhiều đến Biển Đông, và cũng đều liên quan nhiều đến cục diện chiến lược quân sự, kinh tế của các nước lớn hiện nay và trong tương lai. Trong khu vực Biển Đông hiện nay không hề có sự đe dọa trực tiếp hay hiện thực trong lĩnh vực an ninh truyền thống đối với Trung Quốc, nhiều nhất chỉ có thể nói là có thể có mối đe dọa tiềm tàng. Trên trường quốc tế có người lợi dụng một số va chạm, tranh chấp ở Biển Đông, rắp tâm hướng mâu thuẫn vào Trung Quốc, tô vẽ, thổi phồng “mối đe dọa từ Trung Quốc”. Cách nói vu vơ thiếu căn cứ như trên đã không đánh lừa được ai. Quốc sách và chiến lược của Trung Quốc là không xưng bá, trước sau cùng với các nước láng giềng thi hành chính sách láng giềng thân thiện, cùng có lợi, cùng thắng và cùng phát triển. Bản thân Trung Quốc không mưu cầu bá quyền, cũng không tranh bá với nước khác, hay tìm kiếm một hình thức “bá quyền chung” nào đó với nước khác. Lịch sử và hiện thực chứng minh rằng Trung Quốc không phải là “mối đe dọa” an ninh truyền thống với các nước xung quanh, mà là cơ hội hợp tác cùng có lợi. Trong lĩnh vực an ninh phi truyền thống, Biển Đông và khu vực xung quanh vừa tồn tại lợi ích chung, cũng vừa đứng trước thách thức chung của các nước. “Các nước” ở đây không những bao gồm các nước ven biển, mà bao gồm cả các nước khác ngoài khu vực. Có thể nói, hầu như tất cả mọi vấn đề trong lĩnh vực an ninh phi truyền thống của thế giới, ở mức độ nào đó cũng đều liên quan tới Biển Đông. Vấn đề thuộc lĩnh vực an ninh phi truyền thống của khu vực quả thực là vấn đề mang tính chất quốc tế. Vấn đề phức tạp như vậy đương nhiên đòi hỏi các nước trong khu vực và tất cả các nước có lợi ích liên quan trên thế giới cùng bàn bạc đối phó giải quyết căn cứ theo các vấn đề và tình huống cụ thể, trên cơ sở của phương châm tăng cường lòng tin, mở rộng điểm đồng và lợi ích chung, thu hẹp và giải quyết ổn thỏa mâu thuẫn, bất đồng. Những lợi ích chung mà các nước trong khu vực Biển Đông và cộng đồng quốc tế quan tâm đòi hỏi các nước khu vực và cộng đồng quốc tế hợp tác cùng bảo vệ, giữ gìn.

II- Nguồn gốc và bối cảnh quốc tế của tranh chấp Biển Đông

Nguồn gốc tranh chấp chủ quyền các đảo ở Biển Đông có thể truy ngược lại thời gian giữa các thể chế của triều đình Mãn Thanh và Trung Hoa dân quốc. Trong thời gian đó Chính phủ Trung Quốc đã bắt đầu có xích mích ngoại giao về quyền quản lý một số đảo ở Biển Đông với nhà cầm quyền Pháp. Trước khi Chiến tranh thế giới thứ Hai kết thúc, ba nước Mỹ, Anh, Trung Quốc đã ra các văn kiện mang tính pháp lý quốc tế như “Tuyên ngôn Cairô” và “Thông cáo chung Pốtxđam”, tuyên bố tước đoạt những phần lãnh thổ do Chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản xâm chiếm. Trong bối cảnh Chiến tranh thế giới thứ Hai kết thúc, cuộc kháng chiến chống Nhật thắng lợi, địa vị quốc tế của Trung Quốc được nâng cao chưa từng có. Năm 1946 Chính phủ Quốc Dân đảng lúc đó đã đưa tàu chiến tuần tra các đảo ở Biển Đông, đồng thời tiếp quản đảo Thái Bình là đảo lớn nhất trong quần đảo Trường Sa. Năm 1947, Vụ Phương vực thuộc Bộ Nội chính của Chính phủ Quốc Dân đảng đã vẽ một “đường đứt đoạn” hình chữ U trên “Bản đồ các đảo Trường Sa”, đồng thời đã công khai phát hành tấm bản đồ này. Tranh chấp chủ quyền các đảo ở Biển Đông lần đầu tiên xuất hiện tại Hội nghị hòa bình kết thúc chiến tranh với Nhật Bản tại San Francisco năm 1951 gồm 51 nước tham gia. Mỹ và Anh tẩy chay các phái đoàn của Chính phủ Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa vừa mới thành lập không lâu và Chính phủ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tới tham gia hội nghị, quay lưng lại với bản dự thảo “Hòa ước với Nhật Bản” do Liên Xô và Trung Quốc khởi thảo. Hòa ước với Nhật Bản được Hội nghị hòa bình kết thúc chiến tranh ở San Francisco thông qua đã bóp méo, xuyên tạc tinh thần của các văn kiện pháp lý quốc tế như “Tuyên ngôn Cairô” tháng 11 năm 1943 và “Thông cáo chung Pốtxđam” tháng 7 năm 1945, đề xuất “Nhật Bản từ bỏ tất cả mọi quyền lợi và đòi hỏi đối với dãy đảo Đài Loan, Bành Hồ, các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa” nhưng không có chữ nào nói đến vấn đề quy thuộc chủ quyền đối với các vùng lãnh thổ nói trên. Trong “Tuyên bố về dự thảo Hòa ước của Mỹ-Anh với Nhật Bản và về Hội nghị San Francisco” do Ngoại trưởng Chu Ân Lai thay mặt Chính phủ nước Trung Quốc mới trình bày ngày 15 tháng 8 năm 1951 chỉ rõ, các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, Trung Sa và Đông Sa “từ xưa đến nay là lãnh thổ của Trung Quốc, trong thời gian Đế quốc Nhật phát động chiến tranh xâm lược tuy một thời bị thất thủ nhưng sau khi Nhật Bản đầu hàng đã được Chính phủ Trung Quốc lúc đó tiếp nhận”. Chủ quyền của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa đối với quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa, “dù dự thảo hòa ước đối với Nhật Bản do Mỹ-Anh soạn thảo có quy định hay không quy định, hoặc quy định như thế nào, cũng đều không bị ảnh hưởng”.

Cần phải chỉ rõ rằng quyền và lợi ích mà Chính phủ Trung Quốc chủ trương và bảo vệ ở Biển Đông là quyền-lợi ích trong phạm vi “đường đứt đoạn”. Những cách nói như “Biển Đông là nội hải của Trung Quốc”, “Biển Đông thuộc về Trung Quốc” v.v. trên thực tế là cách nói rất sai trái, hết sức tai hại. Rơi vào vòng nhầm lẫn này sẽ dẫn đến hiểu lầm và phán đoán nhầm rất nhiều vấn đề, dẫn đến rất nhiều rắc rối và phiền phức. Cần phải nhìn lại lịch sử về đoạn đánh dấu này, đọc kỹ bản tuyên bố đầu tiên của Chính phủ nước Trung Quốc mới về chủ quyền hai quần đảo ở Biển Đông mới có thể hiểu rõ được lý do thực sự và bối cảnh chiến lược quốc tế liên quan đến tranh chấp Biển Đông. Hội nghị hòa bình San Francisco đã gieo mầm họa về “hai nước Trung Quốc” và tranh chấp Biển Đông, đồng thời cũng khơi mào cho việc “quốc tế hóa” tranh chấp các đảo ở Biển Đông sau này. Lịch sử chứng minh rằng kẻ gây ra mầm họa thực sự cho tranh chấp Biển Đông là các nước lớn phương Tây như Mỹ, Anh, Pháp. Xét từ góc độ lịch sử thì thời gian, bối cảnh và tính chất nảy sinh vấn đề Đài Loan và tranh chấp chủ quyền các bãi, đảo ở Biển Đông là dường như giống nhau. Có thể nói, vấn đề này chính là di sản từ giai đoạn khởi đầu của Chiến tranh Lạnh. “Chiến tranh Lạnh” đã kết thúc hơn 20 năm. Thời đại ngày nay đòi hỏi các nước và cộng đồng quốc tế từ bỏ tư duy Chiến tranh Lạnh và đối đầu liên minh, thông qua hợp tác đa phương để giữ gìn an ninh chung, hiệp lực ngăn chặn xung đột và chiến tranh. Chiến tranh và đối đầu sẽ chỉ dẫn đến vòng tuần hoàn ác tính lấy bạo lực thay thế bạo lực, đối thoại và đàm phán là con đường hữu hiệu và đáng tin cậy duy nhất để giải quyết tranh chấp. Phải lấy hợp tác để mưu cầu hòa bình, đảm bảo an ninh, thúc đẩy hài hòa, phản đối tùy tiện sử dụng vũ lực hoặc đe dọa nhau bằng vũ lực. Đó là quan điểm an ninh mà Chính phủ Trung Quốc chủ trương và thực hiện, cũng là nguyên tắc cơ bản để xử lý tranh chấp Biển Đông.

III- Hàng hải và vị trí chiến lược của đường giao thông trên biển ở Biển Đông

Vị trí chiến lược của Eo biển Malắcca thế nào mọi người đều đã biết. Tuyến đường giao thông trên biển ở Biển Đông là phần kéo dài trọng yếu của đường vận tải Eo biển Malắcca, trong đó vị trí chiến lược của tuyến đường vận tải này cũng quan trọng như vậy. Biển Đông và Eo biển Malắcca là một thể gắn liền, không thể tách rời nhau. Tất cả các loại tàu thuyền đi qua Eo biển Malắcca, bao gồm tàu thương mại và tàu quân sự hầu như đều phải đi qua Biển Đông. Vì thế, từ góc nhìn địa chiến lược có tên gọi là “đường giao thông Biển Đông– Eo biển Malắcca” dường như sẽ đúng hơn. Eo biển Malắcca và đường vận tải quốc tế ở Biển Đông có thể ví như “yết hầu - thực quản”. Tuyến đường giao thông Biển Đông– Eo biển Malắcca là tuyến xung yếu chiến lược tiện lợi nhất từ Tây Thái Bình Dương đi vào Nam Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, là một trong các tuyến vận tải biển quan trọng nhộn nhịp nhất thế giới, nối liền giữa Đông Nam Á với Nam Á, giữa châu Đại Dương, Trung Đông, châu Phi và châu Âu. Về địa lý, đường giao thông quốc tế trên biển ở Biển Đôngcó vị trí chiến lược quan trọng. Chiến lược toàn cầu của Mỹ là phải kiểm soát 16 vị trí yết hầu trên biển. Mục tiêu chiến lược và lợi ích to lớn của nước Mỹ là gây ảnh hưởng và kiểm soát các tuyến vận tải trên biển nói trên, đảm bảo ưu thế của Mỹ trong các cuộc cạnh tranh quốc tế và xung đột quốc tế tiềm tàng. Với tư cách là mắt xích trung tâm nối liền hai khu vực chiến lược quan trọng là Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, Eo biển Malắcca được Mỹ xác định là một trong 16 yết hầu trên biển như vậy. Biển Đông– Eo biển Malắcca là hướng đi tất yếu để các nước Đông Á đi đến Ấn Độ Dương và Nam Thái Bình Dương. Trong bối cảnh thời đại kinh tế toàn cầu hóa và kinh tế các nước Đông Á phát triển mạnh như Trung Quốc, vị trí của tuyến đường vận tải biển Biển Đông– Eo biển Malắcca trong vận tải đường biển toàn cầu lại càng nổi bật hơn. Dù là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc hay các nước ASEAN, hoặc là Ôxtrâylia, Ấn Độ, Trung Đông, châu Phi, thậm chí là châu Âu, nước Mỹ đi nữa thì tuyến đường vận tải biển quốc tế này có thể được gọi là “tuyến đường sinh mệnh huyết mạch”.

Nói tóm lại, tuyến đường vận tải biển Biển Đông– Eo biển Malắcca có giá trị chiến lược lớn về kinh tế và quân sự đối với cả Trung Quốc, các nước trong khu vực và nước lớn trên thế giới. Cùng với địa vị kinh tế của Trung Quốc và châu Á trong nền kinh tế toàn cầu không ngừng được nâng lên, mức độ liên quan lẫn nhau giữa Tây Thái Bình Dương – Biển Đông– Eo biển Malắcca, Ấn Độ Dương và Nam Thái Bình Dương sẽ ngày càng chặt chẽ hơn. Xét từ tình hình hiện thực thì tầm quan trọng của Eo biển Malắcca đã vượt qua Kênh đào Xuyê, vai trò quan trọng của tuyến vận tải biển Biển Đôngđã vượt qua Vùng Vịnh Pécxích. Trước khi khai thông tuyến vận tải biển ở Bắc Cực, địa vị chiến lược về kinh tế và quân sự của tuyến đường vận tải biển Biển Đông– Eo biển Malắcca trong tương lai sẽ chỉ tăng lên chứ không giảm đi. Chính vì thế, tình hình Biển Đông hòa bình ổn định, giao thông quốc tế tự do và vận tải biển an toàn khiến cho các nước trong khu vực và các nước lớn trên thế giới hết sức quan tâm. Chính sách Biển Đông và hành động của nước lớn ngoài khu vực đương nhiên cũng khiến các nước khu vực vô cùng quan tâm. Tự do hàng hải ở Biển Đông vốn đã là một trong những chính sách liên quan tới Biển Đông mà Chính phủ Trung Quốc đã tuyên bố từ lâu. Chính phủ Trung Quốc căn cứ theo luật quốc tế trước sau nỗ lực nhằm đảm bảo tự do và an ninh hàng hải ở Biển Đông. Trên diễn đàn quốc tế, có một số người ngang nhiên nhào nặn đề tài về “tự do hàng hải, an ninh hàng hải”, như vậy là có dụng ý xấu. Tại Hội nghị cấp cao Đông Á mới đây, Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã nói: “Kinh tế Đông Á và Đông Nam Á phát triển đã cho thấy tự do và an ninh hàng hải ở Biển Đông không vì tranh chấp Biển Đông mà có bất cứ ảnh hưởng nào. Tự do hàng hải mà các nước được hưởng ở Biển Đông theo luật quốc tế đã được đảm bảo triệt để. Biển Đông là đường vận tải biển quan trọng của Trung Quốc, của các nước khác trong khu vực và các nước trên thế giới. Chính phủ Trung Quốc đã có những đóng góp tích cực để bảo vệ an ninh hàng hải ở Biển Đông”. Đảm bảo tự do hàng hải vừa là lợi ích to lớn của Trung Quốc, cũng vừa là lợi ích to lớn của các nước trong khu vực, nước lớn thế giới và của cộng đồng quốc tế. Nhận thức rõ điểm này không những có thể điều chỉnh lại những hiểu lầm, phán đoán nhầm của các nước hữu quan, loại bỏ cái gọi là “mối lo lắng” trên thế giới, mà còn có thể trở thành sân chơi quan trọng để Trung Quốc và các nước xung quanh Biển Đông, thậm chí là cộng đồng quốc tế bắt tay hợp tác, bảo vệ lợi ích chung, có thể loại bỏ lý do để một số nước ngoài khu vực gây nên chuyện, phá tan mưu đồ của một số thế lực chính trị muốn lấy đó để gieo rắc, ly gián quan hệ giữa Trung Quốc với các nước láng giềng ASEAN.

IV- Biến biển tranh chấp thành biển hợp tác hòa bình, hữu nghị

Hòa bình và phát triển là hai chủ đề lớn của thời đại ngày nay. Hòa bình, phát triển, hợp tác là xu thế không thể ngăn cản trên thế giới. Hiện nay thế giới đa cực hóa, kinh tế toàn cầu hóa đang phát triển theo chiều sâu, cộng đồng quốc tế đang đứng trước ngày càng nhiều vấn đề lịch sử mới. Cùng vận dụng tốt cơ hội phát triển, cùng đối phó với các loại rủi ro đã trở thành nguyện vọng của nhân dân các nước. Dân tộc Trung Hoa yêu chuộng hòa bình. Nhân dân Trung Quốc trải qua giai đoạn đau buồn do chiến loạn và bần cùng từ sau thời kỳ cận đại đã cảm nhận được sâu sắc giá trị quý báu của hòa bình và mong muốn cháy bỏng phát triển. Nhân dân Trung Quốc tin tưởng sâu sắc rằng chỉ có hòa bình mới thực hiện được ước nguyện an cư lạc nghiệp của nhân dân, chỉ có phát triển mới thực hiện được mục tiêu người dân được ăn no mặc ấm. Tạo môi trường quốc tế hòa bình ổn định để phát triển đất nước, đó là nhiệm vụ trung tâm trong công tác đối ngoại của Trung Quốc. Đồng thời Trung Quốc tích cực đóng góp xứng đáng cho hòa bình và phát triển của thế giới, tuyệt đối không bành trướng chiến lược, không bao giờ tranh bá, không xưng bá, Trung Quốc trước sau vẫn là lực lượng kiên định bảo vệ hòa bình, ổn định thế giới và khu vực. Bảo vệ hòa bình thế giới, thúc đẩy cùng nhau phát triển, đó là tôn chỉ trong chính sách ngoại giao của Trung Quốc. Trung Quốc đề xướng và ra sức cùng với các nước trên thế giới đẩy mạnh xây dựng thế giới hài hòa trong môi trường hòa bình lâu dài, cùng phồn vinh. Đó vừa là mục tiêu lâu dài, cũng vừa là nhiệm vụ thực tế. Trung Quốc đề xướng quan điểm an ninh mới tin cậy lẫn nhau, hợp tác, bình đẳng, cùng có lợi, tìm kiếm biện pháp thực hiện an ninh tổng hợp, an ninh chung, an ninh hợp tác. Trung Quốc kiên trì sử dụng phương thức hòa bình chứ không phải chiến tranh để giải quyết tranh chấp quốc tế, cùng bảo vệ thế giới hòa bình ổn định; Chủ trương thông qua hiệp thương đối thoại để tăng cường lòng tin, giảm thiểu bất đồng, loại bỏ tranh chấp, tránh sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực lẫn nhau.

Trung Quốc tích cực mở rộng hợp tác láng giềng hữu nghị với các nước xung quanh, cùng đẩy mạnh xây dựng châu Á hài hòa. Trung Quốc chủ trương các nước trong khu vực tôn trọng lẫn nhau, tăng cường sự tin cậy lẫn nhau, tìm kiếm điểm đồng gác lại bất đồng, thông qua đàm phán đối thoại và hiệp thương hữu nghị để giải quyết các mâu thuẫn và các vấn đề, bao gồm tranh chấp lãnh thổ và lợi ích biển, cùng bảo vệ khu vực hòa bình ổn định. Trung Quốc phát triển phồn vinh và thịnh trị lâu bền là cơ hội chứ không phải là mối đe dọa đối với các nước láng giềng xung quanh. Trung Quốc luôn tuân thủ “tinh thần châu Á” về tự lực tự cường, mở hướng tiến thủ, cởi mở, bao dung, đồng tâm hiệp lực, mãi là láng giềng tốt, người bạn tốt và đối tác tốt của các nước châu Á khác. Có thể nói một cách mạnh dạn thẳng thắn rằng giữa Trung Quốc và nước láng giềng xung quanh vẫn có tồn tại vấn đề do lịch sử để lại về phân định biên giới, chủ quyền các đảo và lợi ích biển. Vấn đề biên giới của Trung Quốc với tuyệt đại đa số các nước láng giềng trên bộ đã được giải quyết. Tranh chấp trên biển vẫn còn đợi thông qua đàm phán đối thoại và hiệp thương hữu nghị để tìm ra biện pháp giải quyết mà hai bên đều có thể chấp nhận được. Tranh chấp chủ quyền các đảo và lợi ích biển không chỉ tồn tại giữa Trung Quốc và các nước xung quanh Biển Đông, mà cả giữa các quốc gia liên quan khác. Vấn đề phân định biên giới Vịnh Bắc Bộ liên quan đến hai nước Trung Quốc – Việt Nam đã được giải quyết ổn thỏa. Vấn đề phân định biên giới ở Vịnh Thái Lan liên quan đến bốn nước là Malaixia, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam, đã được giải quyết về cơ bản nhưng chưa hoàn toàn. Ở phần phía Nam Biển Đông thậm chí là Eo biển Malắcca, giữa các nước hữu quan đều tồn tại nhiều tranh chấp nhưng chưa được giải quyết hoàn toàn mỹ mãn. Trên thế giới ngày nay tồn tại rất nhiều tranh chấp chủ quyền các đảo và tranh chấp quyền lợi biển, theo con số thống kê tổng cộng có đến hàng trăm vụ. Ngoài Biển Đông, loại tranh chấp này cũng tương đối rõ ở khu vực Đông Bắc Á. Giữa Nhật Bản và Nga, giữa Hàn Quốc và Trung Quốc đều có tranh chấp như vậy. Giữa Hàn Quốc và Nhật Bản, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên cũng có. Lập trường và chủ trương cơ bản của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông là nhất quán, rõ ràng, luôn cố gắng giữ gìn hòa bình ổn định, thông qua đàm phán đối thoại và hiệp thương hữu nghị, giải quyết thỏa đáng tranh chấp và vướng mắc. Mọi người hy vọng các bên đều xuất phát từ đại cục bảo vệ hòa bình ổn định khu vực, làm nhiều việc hơn để tăng thêm sự tin cậy lẫn nhau, thúc đẩy hợp tác, cố gắng làm cho Biển Đôn gtrở thành biển của hòa bình, hữu nghị, hợp tác.

V- Làm sâu sắc hơn lòng tin chính trị, phát triển hợp tác toàn diện

Trung Quốc kiên trì thực hiện chính sách láng giềng hữu nghị, làm sâu sắc hơn lòng tin chính trị, giải quyết ổn thỏa bất đồng và mâu thuẫn từ tầm cao chiến lược và toàn cục, ra sức phát triển hợp tác toàn diện với các nước xung quanh, mưu cầu cùng thắng lợi, cùng có lợi và cùng phồn vinh. Giữa Trung Quốc với các nước ASEAN núi liền núi, sông liền sông, Trung Quốc trước sau luôn coi các nước ASEAN là anh em tốt, láng giềng tốt, bạn bè tốt và đối tác tốt có thể tin cậy được, thành tâm thành ý phát triển quan hệ láng giềng hữu nghị. Trung Quốc và các nước ASEAN nối vòng tay đồng hành, trải qua khó khăn, cùng chung hoạn nạn, hiểu biết lẫn nhau, ủng hộ giúp đỡ lẫn nhau, đã lần lượt vượt qua từng thách thức, thu được nhiều thành quả huy hoàng. Trong 20 năm qua, quan hệ Trung Quốc – ASEAN đã có được bước phát triển toàn diện chưa từng có. Năm 1991 Trung Quốc đã cùng với ASEAN thiết lập quan hệ đối thoại, thể hiện hai bên đi theo xu hướng thời đại, tìm kiếm tầm nhìn xa chiến lược và dũng khí hợp tác khu vực, đã mở đầu tiến trình lịch sử về quan hệ giữa Trung Quốc và ASEAN, có ý nghĩa như một dấu mốc. Trung Quốc là nước lớn ngoài khu vực đầu tiên tham gia “Hiệp ước thân thiện và hợp tác ASEAN”, thiết lập quan hệ đối tác chiến lược hướng tới hòa bình và phồn vinh với ASEAN. Trung Quốc kiên trì ủng hộ ASEAN phát huy vai trò chủ đạo trong hợp tác Đông Á, ủng hộ “Hiệp ước về khu vực Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân”. Trung Quốc và ASEAN đã cùng thành lập Khu thương mại tự do lớn nhất giữa các nước đang phát triển. Trung Quốc và ASEAN nghiêm túc tuân thủ nguyên tắc tôn trọng lẫn nhau, không can thiệp công việc nội bộ của nhau, không ngừng tăng cường lòng tin chính trị lẫn nhau. Các nước ASEAN thi hành chính sách một nước Trung Quốc, ủng hộ Trung Quốc thống nhất hòa bình, quan tâm đến những mối lo ngại của Trung Quốc trong những vấn đề lớn có tính nguyên tắc liên quan đến chủ quyền của Trung Quốc. Trung Quốc tôn trọng con đường phát triển và quan niệm giá trị mà các nước ASEAN lựa chọn một cách tự chủ, ủng hộ ASEAN xử lý tranh chấp theo phương thức của mình, phản đối thế lực bên ngoài can thiệp công việc nội bộ của ASEAN.

Trong hợp tác, Trung Quốc và ASEAN đề xướng cùng hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau, học hỏi lẫn nhau cùng có lợi, thúc đẩy cùng phát triển. Năm 2011 kim ngạch thương mại hai chiều Trung Quốc – ASEAN đã vượt 350 tỉ USD, gấp hơn 40 lần so với năm 1991. Trung Quốc trở thành đối tác thương mại lớn nhất của ASEAN, ASEAN trở thành đối tác thương mại lớn thứ ba của Trung Quốc. Trung Quốc đã thành tâm viện trợ và giúp đỡ các nước thành viên ASEAN phát triển kinh tế và cải thiện dân sinh. Các nước thành viên ASEAN cũng tích cực ủng hộ Trung Quốc. Hai bên đã trao đổi kinh nghiệm, lấy mạnh bổ trợ yếu trong phương diện lãnh đạo và quản lý đất nước. Đứng trước khó khăn Trung Quốc và ASEAN cùng chung vai sát cánh, nỗ lực biến thách thức thành cơ hội. Hai bên đã cùng kiểm soát cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 ở châu Á, thúc đẩy thành lập cơ chế hợp tác ASEAN-Trung Quốc-Nhật Bản-Hàn Quốc; Cùng đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính quốc tế hiếm gặp, thành lập Khu thương mại tự do Trung Quốc-ASEAN đúng kỳ hạn một cách toàn diện; Trong đối phó với các vụ thiên tai, dịch bệnh lớn, hai bên giúp đỡ lẫn nhau, tìm kiếm thành lập cơ chế cảnh báo, phòng ngừa, kiểm soát và cứu trợ một cách hữu hiệu. Trung Quốc và ASEAN cố gắng chung sống hòa bình, láng giềng hữu nghị, tích cực xây dựng môi trường khu vực an ninh, hài hòa; Thông qua đối thoại và hiệp thương giải quyết tranh chấp và xử lý vấn đề do lịch sử để lại; Ra sức xây dựng khu vực Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân; Coi trọng tình hữu nghị truyền thống, truyền bá ý tưởng hữu nghị từ đời này sang đời khác. Quan hệ Trung Quốc – ASEAN là thực tế nhất, rộng rãi nhất và có nhiều thành quả nhất. Trung Quốc và các nước Đông Nam Á đều là nước đang phát triển, luôn xác định phát triển kinh tế, cải thiện dân sinh là nhiệm vụ bức thiết nhất và quan trọng nhất, đặt khả năng có đem lại lợi ích thực chất cho nhân dân bản quốc và khu vực bản địa được hay không lên vị trí hàng đầu. Trung Quốc và các nước Đông Nam Á gần gũi nhau về địa lý, văn hóa, lịch sử, liên hệ và giao lưu mật thiết trên các phương diện, có điều kiện thuận lợi trời phú để mở rộng hợp trong rất nhiều lĩnh vực. Ngày nay Trung Quốc và ASEAN là đối tác chiến lược ra sức cố gắng cho hòa bình và phồn vinh, mở rộng giao lưu hợp tác rộng rãi trong các lĩnh vực và ở mức độ cao chưa từng có từ trước đến nay, trở thành cộng đồng có vận mệnh chung, vui buồn vinh nhục có nhau, cùng có được thành tựu huy hoàng, có những đóng góp nổi bật trong sự nghiệp cao cả là đem lại hạnh phúc nhiều hơn cho nhân dân khu vực, thúc đẩy hòa bình và phát triển, tạo ra ảnh hưởng tích cực sâu xa cho sự tiến bộ ở châu Á và cả thế giới.

VI- Giải quyết ổn thỏa bất đồng, thúc đẩy cùng nhau phát triển

Tìm kiếm điểm đồng lớn, gác lại bất đồng nhỏ, xử lý ổn thỏa bất đồng lớn, hợp tác loại bỏ tranh chấp, là một chủ trương quan trọng của Trung Quốc. Lợi ích chung giữa Trung Quốc và ASEAN lớn hơn bất đồng rất nhiều. Phương hướng và mục tiêu đúng đắn cần phải là: Không ngừng làm to thêm chiếc bánh gatô về lợi ích chung, để cho bất đồng ngày càng thu hẹp. Ngay từ những năm 80 của thế kỷ 20, Tổng công trình sư cải cách mở cửa của Trung Quốc Đặng Tiểu Bình đã nói: “ ‘Một quốc gia, hai chế độ’ và biện pháp cùng khai thác giải quyết tranh chấp, đều là phương thức vì hòa bình chứ không dùng chiến tranh, đều gọi là chung sống hòa bình”. “Hiện nay rất nhiều bản đồ trên thế giới đều có thể chứng minh quần đảo Trường Sa là thuộc về Trung Quốc. Chúng ta thiên về vấn đề này, gác lại tranh chấp trước, không giải quyết vội. Làm như vậy là không để cho vấn đề này gây trở ngại cho quan hệ hữu nghị giữa Trung Quốc với nước hữu quan phát triển tốt đẹp. Sau một số năm chúng ta ngồi lại, bình tĩnh thảo luận, thương lượng một phương thức mà các bên đều chấp nhận được. Liệu có thể xem xét áp dụng biện pháp cùng phát triển đối với những tranh chấp hữu quan? Mục tiêu của chúng ta là cùng phát triển, chúng ta có đầy đủ điều kiện để trở thành bạn thật tốt”. “Trong vấn đề về quần đảo Trường Sa, hoàn toàn không phải không tìm được một biện pháp giải quyết thiết thực khả thi, nhưng vấn đề này cuối cùng là một vấn đề phiền phức, cần thông qua hiệp thương để tìm ra được biện pháp có lợi cho hòa bình và hợp tác hữu nghị”. Dưới sự chỉ dẫn của phương châm nói trên, quan hệ giữa Trung Quốc với các nước ASEAN đã trải qua đủ mọi khảo nghiệm khó khăn trắc trở. Hợp tác giữa Trung Quốc và ASEAN đã đem lại hạnh phúc cho nhân dân ở cả hai phía. Tháng 11 năm 2011, tại Hội nghị các nhà lãnh đạo ASEAN-Trung Quốc lần thứ 14, Thủ tướng Ôn Gia Bảo tuyên bố: “Trung Quốc không bao giờ mưu cầu bá quyền, phản đối bất cứ hành vi bá quyền nào, sẽ luôn thi hành chính sách ngoại giao ‘thân thiện với láng giềng, làm bạn với láng giềng’, tuân thủ nghiêm khắc ‘Hiệp ước thân thiện và hợp tác Đông Nam Á’. Tranh chấp tồn tại ở Biển Đông giữa các nước hữu quan trong khu vực là vấn đề tích tụ từ nhiều năm nay, cần phải do nước có chủ quyền liên quan trực tiếp giải quyết thông qua hiệp thương hữu nghị và đàm phán. Thế lực bên ngoài không nên mượn bất cứ lý do nào để can thiệp. Năm 2002 Trung Quốc và các nước ASEAN đã ký bản ‘Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông’, xác định sẽ đẩy mạnh hợp tác thiết thực, cố gắng để cuối cùng đạt được ‘Bộ quy tắc về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông’. Đó là ý nguyện chung của các nước Đông Nam Á và Trung Quốc. Phía Trung Quốc nguyện sẵn sàng cùng với các nước ASEAN tích cực thúc đẩy toàn diện việc thực hiện ‘Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông’, tăng cường hợp tác thực chất, đi vào thảo luận việc hoạch định ‘Bộ quy tắc về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông’”.

Ôn Gia Bảo còn tuyên bố, để mở rộng hợp tác thực tế trên biển, Trung Quốc sẽ thành lập Quỹ hợp tác trên biển Trung Quốc – ASEAN với số tiền 3 tỉ nhân dân tệ, bắt đầu từ các lĩnh vực nghiên cứu khoa học biển và bảo vệ môi trường biển, thông tin liên lạc, an ninh và cứu hộ hàng hải, chống tội phạm xuyên quốc gia, từng bước mở rộng hợp tác sang các lĩnh vực khác, tạo nên cục diện hợp tác trên biển đa tầng nấc, toàn diện giữa Trung Quốc và ASEAN. Trung Quốc đề nghị hai bên thành lập cơ chế tương ứng để nghiên cứu về vấn đề này và soạn thảo Quy hoạch hợp tác cụ thể. Trung Quốc - Việt Nam là hai nước láng giềng hữu nghị núi sông liền một dải, nhưng lại là hai bên tranh chấp chủ yếu ở Biển Đông. Tháng 10 năm 2011 Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng dẫn đầu đoàn đại biểu cấp cao sang thăm chính thức Trung Quốc, hội đàm và hội kiến với Tổng Bí thư Đảng Cộng sản, Chủ tịch nước Trung Quốc Hồ Cẩm Đào. Hai bên đã ký một loạt văn kiện hợp tác quan trọng và ra “Thông cáo chung”. Nhà lãnh đạo Trung Quốc nhấn mạnh: Quan hệ hai đảng, hai nước Trung – Việt phát triển lành mạnh ổn định, phù hợp với lợi ích căn bản của nhân dân hai nước, có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy xây dựng hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa thuận lợi ở hai nước, cũng quan trọng đối với hòa bình và phát triển ở châu Á và cả thế giới. Đảng và Chính phủ Trung Quốc luôn xuất phát từ tầm cao chiến lược và tầm nhìn lâu dài để nhìn nhận quan hệ Trung – Việt, nguyện cùng với Việt Nam bảo vệ tốt và phát triển tốt quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Trung – Việt theo Phương châm 16 chữ và Tinh thần 4 tốt. Nhà lãnh đạo Việt Nam nhấn mạnh: Đảng và Chính phủ Việt Nam hết sức coi trọng việc phát triển quan hệ với Trung Quốc, đặt quan hệ Việt-Trung ở vị trí ưu tiên trong quan hệ đối ngoại của Việt Nam . Việt Nam kiên trì theo Phương châm 16 chữ và Tinh thần 4 tốt làm cho các chuyến thăm cấp cao lẫn nhau mật thiết hơn, tăng cường lòng tin chính trị, đưa hợp tác cùng có lợi trong các lĩnh vực đi vào chiều sâu, làm phong phú thêm hình thức giao lưu nhân văn, tăng cường phối hợp trong các vấn đề quốc tế và khu vực, nâng quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt – Trung lên một tầm cao mới. Từ khi bình thường hóa quan hệ 20 năm qua, hai nước đã lần lượt giải quyết thành công hai vấn đề khó khăn do lịch sử để lại là phân định biên giới trên bộ và phân định biên giới Vịnh Bắc Bộ theo tinh thần dễ trước khó sau, thông cảm nhân nhượng lẫn nhau. Đặc biệt là việc phân định biên giới Vịnh Bắc Bộ đã mở ra hướng đi mới cho Trung Quốc giải quyết những vấn đề tương tự trên biển với các nước xung quanh. Những năm gần đây, bởi những nguyên nhân phức tạp, cũng do thế lực bên ngoài xen vào và do thế lực thù địch gây chia rẽ, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ và lợi ích biển ở Biển Đông bị khuấy nóng lên. Một trong những thủ đoạn triển khai “ngoại giao thông minh” của một số thế lực bên ngoài là tô vẽ cái gọi là “tình hình căng thẳng ở Biển Đông” Hợp tác hữu nghị là mạch chính trong quan hệ Trung – Việt, không nên để bất đồng và tranh chấp ảnh hưởng đến đại cục phát triển quan hệ.

Làm thế nào để xử lý và giải quyết ổn thỏa vấn đề trên biển giữa Trung Quốc và Việt Nam , đó quả thực là vấn đề được nhân dân hai nước hết sức quan tâm. Điều đáng phấn khởi là trong hội đàm cấp cao Trung – Việt, nhà lãnh đạo hai bên đã trao đổi ý kiến thẳng thắn và chân thành, và đã đạt được nhận thức chung. Một trong 6 văn kiện mà hai bên ký kết là “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Trung Quốc và Việt Nam ”. Nhà lãnh đạo hai nước đánh giá tích cực bản thỏa thuận này, cho rằng thỏa thuận có ý nghĩa chỉ đạo quan trọng để xử lý và giải quyết ổn thỏa vấn đề trên biển. Căn cứ những điểm nhận thức chung đạt được thì trên cơ sở thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ Trung – Việt năm 1993, hai bên đã đạt được 6 nguyên tắc cơ bản phải tuân thủ để giải quyết vấn đề trên biển, đặt cơ sở cho việc giải quyết thỏa đáng vấn đề này. Điều 4 trong Thỏa thuận nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề trên biển Trung – Việt quy đinh: “Trong tiến trình tìm kiếm biện pháp cơ bản và lâu dài giải quyết vấn đề trên biển, trên cơ sở tinh thần tôn trọng lẫn nhau, đối xử với nhau bình đẳng, cùng thắng lợi và cùng có lợi, theo nguyên tắc được đề cập trong điều 2 của Thỏa thuận này sẽ tích cực thảo luận, tìm kiếm biện pháp giải quyết mang tính chất quá độ, tạm thời, không ảnh hưởng đến lập trường và chủ trương của hai bên, trong đó bao gồm tích cực nghiên cứu và thương lượng, đàm phán vấn đề khai thác chung”. Điều 5 quy định: “Giải quyết vấn đề trên biển dựa theo tinh thần tiệm tiến tuần tự, dễ trước khó sau. Thúc đẩy đàm phán phân định biên giới vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc bộ một cách chắc chắn, đồng thời tích cực thương lượng đàm phán vấn đề khai thác chung ở vùng biển nói trên. Tích cực thúc đẩy hợp tác trên biển trong các lĩnh vực ít nhạy cảm, bao gồm bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học biển, cứu hộ trên biển, phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai. Nỗ lực tăng cường lòng tin lẫn nhau, tạo điều kiện giải quyết những vấn đề khó khăn hơn”. Một loạt nhận thức chung đạt được giữa nhà lãnh đạo hai đảng hai nước phù hợp với lòng dân ở hai nước, thuận theo xu hướng của thời đại, đã chỉ rõ phương hướng đúng đắn để mở rộng tương lai quan hệ Trung – Việt tốt đẹp hơn. Giữa Trung Quốc và Việt Nam cùng các nước ASEAN khác tồn tại vấn đề trong đó có tranh chấp chủ quyền các đảo và lợi ích biển, khi giải quyết đòi hỏi phải có sự nhẫn nại, thời gian và trí tuệ. Trước khi giải quyết vấn đề, bằng mọi cách không làm cho vấn đề phức tạp thêm, không để mâu thuẫn leo thang, ảnh hưởng đến cục diện lớn của hợp tác song phương. Cho dù thế hệ chúng ta hiện nay chưa giải quyết được về căn bản thì thế hệ con cháu sau này cũng nhất định có trí tuệ và khả năng để tìm ra biện pháp giải quyết thỏa đáng. Ý nguyện Biển Đông trở thành biển hòa bình, hữu nghị và hợp tác sẽ có ngày trở thành hiện thực. Quan hệ hợp tác hữu nghị giữa Trung Quốc và các nước Đông Nam Á sẽ tiến cùng thời đại, không ngừng được nâng lên trình độ mới cao hơn./.

Lăng Đức Quyền, nguyên Trưởng phân xã Tân Hoa xã tại Hà Nội, hiện là nghiên cứu viên thuộc Trung tâm nghiên cứu vấn đề quốc tế của Tân Hoa xã

Theo Mạng Tân Hoa (23/2)

Lê Sơn (gt)

 

 

Trung Quốc đã phát tín hiệu phủ nhận UNCLOS bằng việc khẳng định “chủ quyền không thể tranh cãi” đối với Biển Đông, quan điểm của Bắc Kinh đã gây nên xung đột với các quốc gia khác. Để đạt giải pháp công bằng cho tất cả các bên, các nước ASEAN cần liên kết để tìm ra một tiếng nói chung trong cách tiếp cận để giải quyết vấn đề Biển Đông đối với Trung Quốc.

 

 

 

Công ước Luật biển của Liên Hiệp Quốc UNCLOS năm 1982 ghi nhận các đại dương là di sản chung của thế giới bằng một tập hợp các điều luật quy định về vùng đặc quyền quốc gia 200 hải lý từ bờ biển tương ứng của họ. Những vùng nước bên ngoài sẽ được mở ngỏ cho tất cả các hình thức sử dụng nhằm mục đích đóng góp cho các quan hệ hòa bình và hữu nghị. Bằng việc tuyên bố chủ quyền đối với Biển Đông, Trung Quốc đã bác bỏ bản công ước này. Những căng thẳng hiện nay trên Biển Đông bắt đầu từ năm 2009, sau khi Ủy ban Giới hạn Thềm lục địa của Liên Hiệp Quốc quy định hạn chót cho việc đệ trình yêu sách vùng thềm lục địa mở rộng dựa trên quy định 200 hải lý của UNCLOS. Sau khi Việt Nam và Malaysia đệ trình yêu sách của mình, Trung Quốc đã đưa ra một bản đồ với 9 đường đứt đoạn, yêu sách gần như toàn bộ Biển Đông. Sáu quốc gia có biên giới biển và những nước khác cũng rất quan tâm tới vấn đề. Đó là đường yêu sách mở rộng đằng sau những căng thẳng gia tăng tại Biển Đông. - YaleGlobal

Là trung tâm của nền kinh tế toàn cầu đang chuyển dịch về phương đông, nó phản ảnh sự trỗi dậy của Trung quốc như một một nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới. Những tuyến thương mại phục vụ khu vực cũng đạt được tầm quan trọng hơn, điều này đồng thời còn đem lại sự quan tâm mới đối với Công ước Luật biển của Liên Hiệp Quốc (UNCLOS) năm 1982. Đây là cơ chế luật pháp quốc tế đã duy trì trật tự hải dương từ hơn một thập kỷ rưỡi qua, và hiện nay, Đông Á đang nổi lên như một vũ đài xung đột mới.

Trung Quốc đã phát tín hiệu phủ nhận UNCLOS bằng việc khẳng định “chủ quyền không thể tranh cãi” đối với Biển Đông. Quan điểm này xung đột với những yêu sách của năm quốc gia tiếp giáp Biển Đông khác bao gồm Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei, cùng một bên là Đài Loan, vốn cũng có những yêu sách pháp lý đối với các vùng nước, các đặc tính và những hòn đảo dựa trên quy định của UNCLOS.

Cùng với sự xuất hiện như một quốc gia thương mại lớn, những yêu sách từ hàng thập kỷ trước bỗng trở thành cấp thiết, vì Trung Quốc đang phụ thuộc nhiều hơn bao giờ hết vào tuyến đường biển quốc tế kéo dài từ các vùng nước của Đông Á tới Trung Đông. Trước kia, Trung Quốc đã từng tự cung ứng về mặt năng lượng thì ngày nay họ đang phải nhập khẩu dầu mỏ, và sự phụ thuộc này sẽ ngày càng gia tăng đáng kể trong hai thập niên tới. Trung Quốc có những quan ngại đối với sự an toàn của tuyến đường vận chuyển trên biển và cho cả nhu cầu của họ đối với nguồn năng lượng hydrocarbon trầm tích tại Biển Đông, nơi được cho là có chứa một lượng dầu mỏ và khí gas dự trữ đáng kể.

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây

Carlyle A.Thayer, GS. danh dự tại Đại học New South Wales, Học viện Quốc phòng Australia.

Đăng Dương (dịch)

Bản gốc tiếng Anh: SOUTH CHINA SEA: A COMMONS FOR CHINA ONLY? China rejects UN treaty by asserting sovereignty over the South China Sea”

 

Về khía cạnh chiến lược, chính sách ngoại giao, quan hệ quốc tế và truyền thông trong vấn đề Biển Đông, Trung Quốc đã hoàn toàn bại trận. Dường như không một quốc gia nào ủng hộ lập trường cũng như lối hành xử của nước này. Bài viết của Viện trưởng Viện Nghiên cứu Đông Á, Đại học Quốc gia Singapore, Trịnh Vĩnh Niên trên Liên hợp Buổi sáng phân tích về nguyên nhân thất bại cũng như đối sách cho Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông.

 


Thời gian gần đây, mọi người đều vô cùng ngạc nhiên khi phát hiện ra rằng, đã bao nhiêu năm nay, song song với sự trỗi dậy của Trung Quốc là chuỗi "liên hoàn bại trận" của chính nước này trong các vấn đề về Biển. Đặc biệt bắt đầu từ năm ngoái, xu hướng này ngày càng hiện ra rõ ràng hơn.

Trung Quốc đã nỗ lực theo đuổi chiến lược "Trỗi dậy hòa bình" (Phát triển hòa bình) ngay sau công cuộc cải cách mở cửa. Trên rất nhiều phương diện, Trung Quốc đã từ bỏ chính sách chủ nghĩa đơn phương vốn đã tuân thủ từ rất lâu trước đó, đồng thời phát triển quan hệ hữu nghị đa phương với các nước ASEAN. Khu vực tự do thương mại Trung Quốc-ASEAN cũng đã bắt đầu có hiệu lực. Trong vấn đề tranh chấp Biển Đông, Trung Quốc đã đề xuất chủ trương "Gác tranh chấp chủ quyền, cùng khai thác chung". Những biện pháp này xét từ góc độ lý thuyết đến thực tiễn áp dụng đã hình thành nên sách lược và kim chỉ nam ngoại giao "Giấu mình chờ thời" của Trung Quốc suốt từ thời Đặng Tiểu Bình đến nay. Thế nhưng rất nhiều người đã cảm nhận ra rằng, trên rất nhiều vấn đề có liên quan, nếu như Trung Quốc không thể trực diện đối mặt thì sẽ góp phần đẩy chính sách của họ đi theo hướng ngược hẳn lại.

Sự quan tâm chú ý của toàn bộ khu vực Châu Á và cộng đồng quốc tế cho tới thời điểm này đều tập trung vào vấn đề Biển Đông, Biển Đông đột nhiên lại thêm một lần nữa trở thành điểm nóng của thế giới. Chính quyền Trung Quốc dường như lại không hiểu rõ tình trạng hiện nay. Đối với Trung Quốc mà nói, chính sách Biển Đông về bản chất không hề có bất cứ một thay đổi nào, chỉ là các nước có liên quan tiến hành một loạt các hành động không có lợi cho Trung Quốc, và phản ứng của Trung Quốc theo đó cũng chỉ tương đương với hình thức "cứu hỏa" mà thôi.

Trên thực tế, từ rất nhiều năm trở lại đây, chính bởi vì nguyên do Trung Quốc luôn áp dụng các biện pháp bị động đối phó lại khiến cho vấn đề Biển Đông ngày một tích tụ chồng chất lại, và rồi dẫn đến cục diện như ngày hôm nay. Không quan tâm Trung Quốc có muốn hay không, có nắm rõ tình hình hay không, thì Trung Quốc phải đối mặt với những thách thức chưa từng có trong vấn đề Biển Đông này.

Thứ nhất, Trung Quốc sớm đã hoàn toàn thất bại tại cuộc chiến công luận quốc tế.

Trong nhiều năm qua, khi Trung Quốc vẫn còn đắm chìm trong thuyết "Trỗi dậy hòa bình" do chính họ tạo dựng nên, thì các quốc gia có liên quan đã nỗ lực với tinh thần cao nhất và chuẩn bị đầy đủ trên trường quốc tế để chờ đợi vấn đề Biển Đông sẽ nổi lên như trong dự tính đã có sẵn. Xét trên hệ thống kiến thức (luật pháp), Trung Quốc hiện nay thật khó khăn để tìm ra được bất kỳ một lực lượng hỗ trợ có hiệu quả nào cho họ. Về xu hướng các giới truyền thông báo chí không đứng về phía Trung Quốc đã hình thành như hiện nay thì Trung Quốc cũng không có quyền phát biểu tại đây. Các nhà bình luận cho rằng dùng "Chính sách cứng rắn" để mô tả thái độ của Trung Quốc trong tranh chấp Biển Đông là chưa đầy đủ, chính xác phải gọi đó là "mang tính chất tranh cướp" mới đúng. Trên thực tế, cách nhận thức tương tự như vậy của Trung Quốc đã trở nên khá phổ biến trong cộng đồng quốc tế. Bản thân Trung Quốc lại quả quyết cho rằng họ không làm gì mà lại bị đối xử "oan uổng" như vậy, đây chính là căn nguyên khiến Trung Quốc bị mất quyền phát biểu trong cuộc chiến công luận quốc tế này.

Thứ hai, Trung Quốc cũng thua trận trong cuộc chiến chiến lược.

Các nước liên quan đều có những chiến lược khá rõ ràng trong vấn đề tranh chấp Biển Đông, cụ thể bao gồm các chiến lược như chủ nghĩa đa phương tại khu vực, quốc tế hóa, chính trị hóa đại quốc. Thế nhưng chiến lược của Trung Quốc nếu không dám đối mặt với sự thực thì sẽ là nhập nhằng không rõ ràng. Trung Quốc từ chối chi tiết hóa vấn đề, sử dụng khái niệm "phản đối quốc tế hóa" vô cùng vĩ mô này nhằm che lấp vấn đề cụ thể. Trên thực tế, tranh chấp Biển Đông đã được đa phương hóa, quốc tế hóa từ rất lâu rồi, hơn nữa sẽ rất nhanh tiến đến giai đoạn "chính trị hóa đại quốc" trong thời gian tới. Trung Quốc chỉ là không dám thừa nhận sự thực hiển hiện ra trước mắt này mà thôi.

Thứ ba, nếu tình hình vẫn tiếp diễn như vậy, Trung Quốc sẽ bị ràng buộc để cuối cùng rơi vào tình trạng mất chủ quyền trong cuộc chiến.

Như đã đề cập ở phần trên, từ năm ngoái cho đến năm nay, chính sách Biển Đông của Trung Quốc về bản chất không hề có bất cứ một thay đổi nào, mà chủ yếu chỉ là một số hành động mang tính chất phản ứng lại. Thế nhưng cho đến thời điểm này, bất cứ nước nào cũng đều cho rằng Trung Quốc chính là nguyên nhân phát sinh của mọi vấn đề. Tình hình thực tế là, các nước khác có liên quan vẫn đang xúc tiến các hoạt động và hành động trong khu vực tranh chấp Biển Đông, đặc biệt là trong việc phát triển nguồn năng lượng.

Trung Quốc chìm đắm trong "giấc mộng".

Đã nhiều năm nay, trong vấn đề tranh chấp Biển Đông (cũng như trong nhiều vấn đề khác), Trung Quốc dường như luôn sống trong "giấc mộng" mà chính bản thân họ tự vạch ra. Nhìn từ góc độ chiến lược, Trung Quốc không phải là không có cơ hội để chiếm ưu thế trong vấn đề Biển Đông này, mà thay vào đó lại tự động vứt bỏ những ưu thế đáng lẽ họ chiếm được ... Điều đáng tiếc là, những hành động của TQ không những không chiếm được sự đồng cảm của các nước liên quan đến tranh chấp mà cuối cùng dẫn đến kết quả hoàn toàn ngược lại, gây tổn hại cho chính lợi ích quốc gia của mình.

Vậy thì, kết quả cuối cùng sẽ như thế nào đây? Trung Quốc liệu sẽ từ bỏ chăng? Trong giới báo chí truyền thông vô cùng phát triển như ngày hôm nay, phạm vi xu hướng thỏa hiệp mà các nhà cầm quyền có thể áp dụng được ngày một nhỏ,càng không cần nói đến chuyện từ bỏ. Nếu tình hình này vẫn cứ tiếp diễn thì cuối cùng chắc chắn sẽ dẫn đến các cuộc xung đột xảy ra.Tuy nhiên xung đột trong thời gian này sẽ vô cùng bất lợi đối với Trung Quốc.

Vấn đề đã xuất hiện rồi, thì phái có cách đối phó lại. Nhiệm vụ đầu tiên cần phải làm là tìm hiểu rõ tại sao lại xuất hiện tình trạng như vậy? Ngoài các vấn đề xuất phát từ chính bản thân Trung Quốc thì còn có một số nguyên nhân quan trọng khác nữa. Đối với các nước có liên quan mà nói thì đây là sản phẩm phát sinh từ "môi trường quốc tế" và "môi trường nội bộ".

Đầu tiên đề cập đến môi trường quốc tế. Đối với các quốc gia có liên quan thì nhân tố quan trọng nhất trong môi trường quốc tế không thể không nhắc đến sự trỗi dậy kinh tế của Trung Quốc và kéo théo sau đó là hiện đại hóa nền quốc phòng, quân sự cũng như từ đó tác động đến cục diện địa chính trị của toàn bộ khu vực Châu Á. Các quốc gia có liên quan đã bắt đầu cảm thấy rằng thời gian không còn đứng về phía họ nữa. Mặc dù Trung Quốc luôn nhấn mạnh về sự "trỗi dậy hòa bình" của mình, thế nhưng họ lại bị coi là đã áp dụng chính sách chậm trễ kéo dài thời gian trong vấn đề Biển Đông nhằm chờ thời cơ cho đến khi tình hình quốc tế thuận lợi sẽ ra tay giải quyết tranh chấp. Do vậy, đối với các quốc gia có liên quan thì vấn đề Biển Đông bắt buộc phải được giải quyết theo hướng có lợi cho họ trước khi Trung Quốc thực sự trỗi dậy, nếu không, đợi cho đến khi Trung Quốc đã trỗi dậy rồi, tia hy vọng sẽ trở nên vô cùng mong manh. Cũng chính vì thế, bắt buộc phải thông qua bất cứ biện pháp nào để đẩy mạnh hành động, hối thúc phát triển theo khuynh hướng có lợi cho bản thân họ.

Đối với Trung Quốc mà nói, môi trường các nước lớn chủ yếu đề cập đến những biến đổi chính trị trong phạm vi giữa các nước này, đặc biệt là biến đổi trong mối quan hệ với các nước lớn như Mỹ. Trong vấn đề Biển Đông, không quản có muốn hay không thì Trung Quốc chắc chắn vẫn phải đối mặt với Mỹ. Thế nhưng trong quan hệ hai nước Trung-Mỹ thì dù Trung Quốc đã hao tâm tổn trí rất nhiều nhưng vẫn không biết nên làm như thế nào để có thể hòa nhập được cùng Mỹ, đặc biệt là mối quan hệ với Mỹ trong khu vực Châu Á. Rất nhiều người đã từng nghĩ rằng mục tiêu chủ yếu của Mỹ trong sự hiện diện tại Châu Á này là nhằm đối phó với Trung Quốc, thế nhưng trên thực tế lại không hề đơn giản như vậy. Lý do Mỹ tồn tại ở khu vực Châu Á không chỉ để đối phó với riêng một Trung Quốc, mà còn liên quan đến vấn đề địa chính trị khác. Ví dụ, nếu không có nhân tố Trung Quốc thì Mỹ vẫn đương nhiên tìm ra được lý do để tạo ra không gian sinh tồn tại Châu Á. Bất luận là khu vực Đông Bắc Á, Đông Nam Á hay Nam Á, mối quan hệ phức tạp đan xen giữa các nước đều cần có sự hỗ trợ sức mạnh của Mỹ để cân bằng lực lượng.

Trung Quốc không tạo dựng không gian cho Mỹ.

Rất nhiều các quốc gia Châu Á đều cần sự hiện diện của Mỹ chính là do kết quả không hành động của Trung Quốc. Ví dụ, trong vấn đề Triều Tiên thì ngoài Triều Tiên ra, hầu hết tất cả các nước Châu Á đều bất mãn với cách hành xử của Trung Quốc. Tất nhiên là cũng có những điểm khó xử riêng nhưng không thể vì thế mà chứng minh rằng cách hành xử của Trung Quốc là hợp lý được. Quan hệ giữa Trung Quốc và Nhật Bản thường xuyên liệt vào trạng thái căng thẳng. Hiện nay cùng với sự trỗi dậy của Ấn Độ thì mối quan hệ giữa Trung Quốc và Ấn Độ cũng hàm chứa rất nhiều những nhân tố không xác định. Mặc dù Trung Quốc và các nước khu vực Châu Á luôn có các lĩnh vực hợp tác chung, thế nhưng những cuộc xung đột dường như phát sinh ngày một phức tạp hơn. Dù thế nào đi chăng nữa, trong việc giải quyết các vấn đề khu vực Châu Á thì Mỹ vẫn là quốc gia duy nhất đã từng nhiều lần thông qua các cuộc trải nghiệm, hơn nữa, tính quan trọng của nhân tố Trung Quốc mặc dù ngày một tăng lên nhưng chưa hề thông qua bất kỳ một cuộc trải nghiệm nào cả. Trong bối cảnh như vậy, Mỹ vẫn chính là môt quốc gia đạt mức độ tin tưởng và được dựa dẫm cao nhất. Điều này cũng được thể hiện trong vấn đề Biển Đông, những nước có liên quan hy vọng có sự can thiệp của Mỹ tại khu vực xảy ra tranh chấp này, nhằm nâng cao tính chắc chắn của họ trong vấn đề Biển Đông. Chính vì thế mà dẫn tới xu thế "chính trị hóa đại quốc"...

Ở đây còn có môi trường nội bộ của chính bản thân Trung Quốc. Phiên họp Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ mười tám sẽ được tổ chức vào năm sau. Trong thời gian này, nhiệm vụ chính của chính quyền Trung Quốc là giải quyết công việc nội bộ, sự ổn định sẽ trấn áp tất cả mọi vấn đề khác. Có một số quốc gia phán đoán rằng trong thời kỳ này thì Trung Quốc sẽ không thể đưa ra những điều chỉnh lớn nào về chính sách đối ngoại được cả. Điều này cũng có nghĩa rằng, trước khi một thế hệ lãnh đạo mới được thành lập, Trung Quốc sẽ không thể có chính sách mới và quan trọng nào trong lĩnh vực ngoại giao, hay nói rằng phần lớn các chính sách đối ngoại được đưa ra tất nhiên đều mang tính chất phản ứng là chủ yếu. Cách phán đoán này khiến cho các nước có liên quan đến tranh chấp sẽ nhận thấy rằng đây là cơ hội để tiến hành áp dụng những phương pháp triệt để hơn cho họ.

Trung Quốc sẽ làm gì khi đối mặt với tình thế hiện tại này? Được coi là một quốc gia lớn đang trong quá trình trỗi dậy, Trung Quốc chắc chắn sẽ đóng vai trò ngày càng quan trọng trong các vấn đề về khu vực. Tình thế tại Biển Đông đối với Trung Quốc mà nói, mặc dù "ngày thế giới tận thế" vẫn còn cách xa vô cùng, nhưng họ bắt buộc phải thay đổi tính bị động đã tồn tại cho đến thời điểm hiện tại này để chuyển sang tính chủ động hơn. Điều đặc biệt quan trọng phải nói đến rằng, vấn đề hiện nay của Trung Quốc không phải là vấn đề về nguồn tài nguyên, mà là chiến lược, chính sách và cách huy động nguồn lực. Đơn giản mà nói chính là vấn đề về đường lối tư duy của Trung Quốc. Trong tranh chấp “Nam Hải” (Biển Đông), Trung Quốc phải có một đường lối tư duy rõ ràng, minh bạch.

Cần phải suy ngẫm lại đường lối tư duy đã cũ của Trung Quốc.

Khi đề cập đến đường lối tư duy mới thì cần phải suy ngẫm lại đường lối tư duy đã cũ của Trung Quốc. Vấn đề cốt lõi trong đường lối tư duy truyền thống của Trung Quốc chính là phản đối "quốc tế hóa" trong trannh chấp Biển Đông. Xét trên cơ sở lý thuyết, điều này đương nhiên là không sai. Nhưng vấn đề phát sinh nằm ở chỗ khái niệm đưa ra này không những không miêu tả được tình huống khách quan của quá trình tranh chấp Biển Đông mà lại càng khó khăn hơn khi áp dụng đường lối tư duy này để có thể tìm ra được biện pháp giải quyết. Điều này liên quan đến nhiều cấp độ bên trong các vấn đề chính.

Thứ nhất là chủ nghĩa song phương. Trung Quốc yêu sách gác tranh chấp chủ quyền cùng khai thác chung. Thế nhưng cho đến nay chính sách này vẫn chỉ dừng lại ở trạng thái khẩu hiệu, lý thuyết suông. Để có được mối quan hệ với các nước ASEAN, bản thân Trung Quốc không hề có kế hoạch khai thác Biển Đông nào cả, mà ngược lại chính là các nước có liên quan trong những năm gần đây tiến hành tăng cường khai thác. Thế nhưng Trung Quốc không phải đề xuất ra chủ trương cùng khai thác chung, mà chính xác phải nói là chủ trương khai thác đơn phương. Trong vấn đề cùng khai thác chung, các quốc gia có liên quan hoặc là không tự nguyện hoặc là tinh thần tự nguyện không cao. Hay nói toạc ra thì Trung Quốc không có đủ sức mạnh cũng như cơ chế quyền lực để thúc đẩy các quốc gia có liên quan công nhận và đi đến chấp nhận yêu sách cùng khai thác chung mà Trung Quốc đã đề xuất.

Thứ hai là chủ nghĩa đa phương, chính là mối quan hệ giữa Trung Quốc và các nước ASAEN. Vấn đề tranh chấp Biển Đông chủ yếu biểu hiện trong "Tuyên bố ứng xửtrên Biển Đông” mà Trung Quốc cũng đã ký kết. Thế nhưng văn bản này lại không mang bất cứ tính chất ràng buộc pháp lý nào. Văn bản tuy đã được ký kết rất nhiều năm qua nhưng không có bất cứ một quốc gia nào đạt hiệu quả trong việc thúc đẩy cho văn bản trở thành một tài liệu mang tính ràng buộc pháp lý được. Nên nói rằng chính bản thân Trung Quốc cũng không nỗ lực thực hiện đầy đủ nhiệm vụ của mình trong đó. Điều quan trọng của vấn đề nằm ở chỗ Trung Quốc vẫn tuân thủ chủ nghĩa song phương và phản đối đa phương hóa trong tranh chấp Biển Đông. Thế nhưng bản chất thực sự của rất nhiều vấn đề trong tranh chấp Biển Đông lại là đa phương, cho nên việc phản đối chính sách đa phương hóa đã thể hiện rõ thái độ của Trung Quốc không dám đối mặt với sự thực này.

Thứ ba là quốc tế hóa. Các quốc gia có liên quan đã đưa vấn đề tranh chấp Biển Đông giao phó cho Liên Hợp Quốc và các tổ chức quốc tế. Trung Quốc tỏ ý không chấp nhận cho lắm, bởi vì nếu cầu cứu đến Liên Hợp Quốc hoặc các tổ chức quốc tế thì khả năng bại trận của Trung Quốc sẽ lớn hơn cơ hội chiến thắng rất rất nhiều lần. Như đã thảo luận trong phần trên, Trung Quốc đã thua trận trong cuộc chiến công luận quốc tế rồi, sẽ không còn bao nhiêu người có thể thông cảm cho lập trường của Trung Quốc được nữa.

Thứ tư là chính trị hóa đại quốc. Các quốc gia có liên quan trong khu vực Đông Nam Á hy vọng sẽ có sự can thiệp của Mỹ tại đây, điều này là dễ hiểu. Thế nhưng mức độ can thiệp của Mỹ sẽ sâu nông như thế nào thì còn phải xem lợi ích quốc gia của chính họ trong vấn đề này. Nhân tố Mỹ trong khu vực Đông Nam Á đã luôn tồn tại từ trước tới nay, hay nói cách khác Mỹ đã luôn là một bộ phận cấu thành trong cấu trúc khu vực này. Trên thực tế, lợi ích của Mỹ tại khu vực Đông Nam Á này còn thâm căn cố đế hơn nhiều so với lợi ích của Trung Quốc. Ngay từ thời kỳ khi mới bắt đầu chiến tranh lạnh thì Mỹ đã không ngừng thiết lập mối quan hệ với các nước trong khối ASEAN, còn Trung Quốc chỉ mãi cho đến sau thời kỳ cải cách giải phóng đất nước mới bắt đầu xây dựng mối quan hệ mang tính thực chất với các nước này. Mối quan hệ giữa Mỹ và các nước Đông Nam Á là toàn diện trên các lĩnh vực còn Trung Quốc thì chủ yếu chỉ dựa trên lĩnh vực kinh tế, còn những lĩnh vực khác mới đang thuộc thời kỳ sơ khai. Do vậy, việc chính quyền Trung Quốc phản đối "chính trị hóa đại quốc" cũng chính là nguyên do khiến cho nước này không nhận ra bản chất thật của vấn đề tranh chấp.

Khi suy ngẫm đến các nhân tố đã được nêu ở phần trên, mọi người sẽ thật dễ dàng để trả lời câu hỏi rằng "Trung Quốc nên đi những bước tiếp theo như thế nào đây?", cũng có thể xem xét đánh giá từ nhiều góc độ như sau.

Trước tiên, Trung Quốc cần đặt mình đứng từ góc độ của các quốc gia láng giềng hoặc các nước có liên quan đến tranh chấp trong vấn đề Biển Đông để suy xét vấn đề. Trong suốt thời gian dài đến nay, chính quyền Trung Quốc luôn tuyên truyền lập trường với những nguyện vọng tốt đẹp của họ ra thế giới trong và ngoài nước, ví dụ như những khái niệm gọi là "trỗi dậy hòa bình", "phát triển hòa bình" và "láng giềng tốt", v.v... Những điều này rất quan trọng nhưng không bao giờ có thể coi là đủ được cả, bởi vì chính Trung Quốc đã coi nhẹ cách nhìn nhận của các nước xung quanh đối với sự trỗi dậy của họ như thế nào, hay mối quan tâm của các nước đó ra sao trước sự trỗi dậy của Trung Quốc. Chỉ cho đến khi thấu hiểu được mối lo lắng của các nước láng giềng này rồi, thì Trung Quốc mới hoạch định ra những chính sách thiết thực có hiệu quả được. Nếu không, không quan tâm nguyện vọng của Trung Quốc có như thế nào đi chăng nữa, hay đại loại giống như những khái niệm gọi tương tự như là "sự trỗi dậy hòa bình" v.v... thì cuối cùng vẫn biến thành những lời Trung Quốc tự nói và tự nghe.

Thứ hai, Trung Quốc bắt buộc phải phân định rõ ràng giữa vấn đề an ninh hàng hải và tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông. Mối quan tâm của cộng đồng quốc tế đặc biệt là Mỹ nói riêng chính là vấn đề an ninh hàng hải, việc Mỹ can thiệp vào vấn đề Biển Đông cũng chính xuất phát từ căn nguyên này ra. Đối với vấn đề này, Trung Quốc cần căn cứ vào tình hình thực tế, thừa nhận và nhấn mạnh rằng an ninh hàng hải là mối quan tâm của tất cả các bên tham gia, đồng thời cũng là trách nhiệm của tất cả các bên. Trung Quốc phải tình nguyện gánh vác trách nhiệm này cùng với các quốc gia khác như Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ hay các quốc gia ASEAN. Trên thực tế, vấn đề an ninh hàng hải quốc tế vẫn luôn do Mỹ đảm nhiệm từ trước tới nay. Mặc dù Trung Quốc đã bắt đầu có năng lực và sức mạnh trong vấn đề này, thế nhưng khả năng gánh vác được trách nhiệm thì vẫn còn quá là xa vời đối với chính họ, cho dù chỉ là vấn đề liên quan đến an ninh hàng hải trong khu vực mà thôi. Trong lĩnh vực này, hai nước Trung, Mỹ có không gian để có thể hợp tác cùng với nhau rất lớn, mà sự hợp tác như vậy cũng phù hợp với lợi ích quốc gia của chính bản thân Trung Quốc. (Đương nhiên ở đây đề cập đến một vấn đề còn cơ bản hơn, đó là việc Trung-Mỹ sẽ hợp tác như thế nào để xây dựng nên hệ thống an ninh trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương. Mà điều này đòi hỏi thể hiện trong một bài lập luận khác biệt nữa).

Quản lý và kiểm soát sẽ chính là các lựa chọn.

Thứ ba, một cấp bậc tiếp theo nữa là mối quan hệ giữa Trung Quốc và tổng thể khối ASEAN. Việt Nam, Philippin, Malaysia và Bruney là những nước thành viên ASEAN có tuyên bố chủ quyền một phần hoặc toàn bộ đối với một số đảo trên Biển Đông. Điều này quyết định đến sự cân nhắc của Trung Quốc về lợi ích tổng thể của khối ASEAN cũng như mối quan hệ giữa Trung Quốc và tổng thể ASEAN. Mặc dù cho tới thời điểm hiện tại, Trung Quốc không sẵn sàng chấp nhận chủ nghĩa đa phương, thế nhưng cuối cùng thì họ bất đắc dĩ cũng phải thừa nhận, hơn nữa sự chấp nhận này càng sớm bao nhiêu thì sẽ càng có lợi cho Trung Quốc bấy nhiêu. Hãy giả thiết một chút rằng, nếu như "Tuyên bố ứng xử trên Biển Đông" ngay từ những năm trước đã có tính ràng buộc pháp lý rồi thì cục diện Biển Đông sẽ không đến nỗi phát triển như thời điểm hiện tại thế này. Không còn nghi ngờ gì nữa, nếu Trung Quốc chấp nhận chủ nghĩa đa phương, thì "Tuyên bố ứng xửtrên Biển Đông" sẽ vẫn là một lối vào đầy thuận tiện.

Thứ tư, một cấp bậc cuối cùng là nên đối diện với vấn đề tranh chấp chủ quyền như thế nào. Đây là vấn đề vô cùng thiết yếu, Trung Quốc nên từ bỏ chủ nghĩa song phương truyền thống và chấp nhận chủ nghĩa song phương mới, cũng có nghĩa là một chủ nghĩa song phương mới nằm trong cấu trúc của chủ nghĩa đa phương. Điều này nói lên rằng, Trung Quốc và các nước có liên quan đến tranh chấp sẽ có thể tiến hành các cuộc họp thảo luận song phương dưới hình thức cấu trúc đa phương giữa Trung Quốc và ASEAN khi bàn bạc nghiên cứu về vấn đề Biển Đông. Dưới hình thức cấu trúc đa phương như vậy, các quốc gia không liên quan đến tranh chấp Biển Đông sẽ không tỏ rõ thái độ ủng hộ đối với bất cứ một bên nào, lập trường trung lập sẽ là lợi ích lớn nhất của tất cả các bên. Đồng thời khuôn khổ này cũng tạo động lực lớn giúp cho các nước có liên quan đến tranh chấp có thể tiến hành thương lượng thảo luận với Trung Quốc.

Vấn đề Biển Đông ngày càng trở nên phức tạp gay gắt. Muốn một bước giải quyết nhanh gọn vấn đề này là không điều không thể xảy ra được. Nếu không giải quyết được vấn đề tồn tại, thì phương án quản lý và kiểm soát sẽ trở thành những cách lựa chọn hợp lý. Nhưng muốn quản lý và kiểm soát được vấn đề tranh chấp Biển Đông thì cần bắt buộc phát triển một loạt các cơ chế pháp lý. Mặc dù Trung Quốc hiện nay đang nằm trong tình thế bị động, thế nhưng không gian mà Trung Quốc có thể hoạt động được lại vô cùng lớn. Là một quốc gia lớn có trách nhiệm thì Trung Quốc cũng nên tìm kiếm các giải pháp để quản lý và kiểm soát vấn đề tranh chấp trên Biển Đông bắt đầu ngay từ trong bối cảnh khu vực thậm chí mở rộng ra quốc tế. Nếu Trung Quốc không thể thay đổi đường lối tư duy truyền thống một cách có hiệu quả thì không gian hoạt động của Trung Quốc trong vấn đề này sẽ ngày càng bị thu hẹp nhỏ lại.

Bản gốc tiếng Trung “中国活在梦中 南海早已彻底输掉

Theo Liên hợp Buổi sáng

Đinh Thị Thu (dịch)

 

 

 Báo cáo của Trung tâm An ninh Mới của Mỹ (CNAS) cho rằng các lợi ích của Mỹ đang ngày càng bị đe dọa trước sự lớn mạnh của Trung Quốc, nhất là trước việc nước này sẵn sàng “xem xét lại” các luật chơi đã được thiết lập. Mỹ cần không ngừng quan tâm đến Biển Đông và tăng cường hợp tác. Hợp tác chỉ có thể đạt hiệu quả dựa trên sức mạnh răn đe quân sự của Mỹ.

obama.jpg


Báo cáo dài 115 trang, gồm 6 chương do các học giả hàng đầu của CNAS, Viện Công nghệ Massachuset (MIT), Học viện Hải chiến Hoa Kỳ và Viện Nghiên cứu Đông Nam Á của Singapore thực hiện.

Nhận định chính của báo cáo cho rằng các lợi ích của Mỹ đang ngày càng bị đe dọa trước sự lớn mạnh về quân sự và kinh tế của Trung Quốc, nhất là trước việc nước này sẵn sàng “xem xét lại” các luật lệ đã được thiết lập. Mỹ và các nước khác có lợi ích quan trọng về tự do hàng hải, bao gồm cả tự do thương mại và hoạt động quân sự; trong khi Trung Quốc đang tìm mọi cách để hạn chế tự do này, bao gồm cả việc đòi xem xét lại các luật lệ trên biển từ trước đến nay và phát triển sức mạnh quân sự nhằm ngăn chặn “tiếp cận” (access) đến khu vực. Do đó, Chính quyền Mỹ cần tích cực và không ngừng quan tâm đến vấn đề Biển Đông. Mỹ cần phải tăng cường hợp tác nhưng hợp tác chỉ có thể đạt hiệu quả dựa trên sức mạnh răn đe quân sự của Mỹ

 

 

1) Lợi ích của Mỹ tại Biển Đông 

Báo cáo đánh giá tầm quan trọng của Biển Đông ở các khía cạnh: i) Biển Đông là trung tâm dân số của thế giới trong thế kỷ 21 thông qua giao thương hàng hóa, tài nguyên của 1,5 tỷ người Trung Quốc, 600 triệu người Đông Nam Á và 1,3 tỷ người tiểu lục địa Ấn Độ; ii) Các tuyến đường vận tải qua Biển Đông là giao thoa của toàn cầu hóa và địa chính trị; iii) Biển Đông là “Vịnh Péc-xích thứ hai về dầu mỏ” với trữ lượng hơn 130 tỷ thùng (nếu dựa vào đánh giá của phía Trung Quốc), và nếu Trung Quốc kiểm soát được nguồn năng lượng này thì nước này sẽ ít phụ thuộc vào nguồn cung từ Trung Đông và vận tải qua eo Malacca, qua đó có thể “độc lập” hơn, ít bị “tổn thương” so với vận tải qua các tuyến đường hiện nay do Hải quân Mỹ đảm bảo an ninh; iv) Ở khía cạnh nào đó, Biển Đông là “trận chiến chính” của việc chuyển giao quyền lực thế giới, là thuốc thử về cán cân quyền lực mới giữa Trung Quốc đang lên và Mỹ đang đi xuống. 

Báo cáo cho rằng tranh chấp Biển Đông có từ lâu và sẽ không thể giải quyết được một sớm một chiều. Tình hình gần đây tái diễn căng thẳng nhưng sẽ không dẫn đến đụng độ giữa các nước trong thời gian ngắn trước mắt. Tuy nhiên, Biển Đông đã trở thành trung tâm của cạnh tranh địa-chính trị lâu dài, trong đó sự lớn mạnh của Trung Quốc sẽ thúc đẩy cạnh tranh quyền lực và chủ nghĩa dân tộc.  Trong bối cảnh đó, việc Trung Quốc nêu tham vọng yêu sách và nhất là sẵn sàng sử dụng sức mạnh quân sự để củng cố yêu sách sẽ đe dọa đến “độ tin cậy” của sức mạnh quân sự, và sự thống trị của Mỹ tại Châu Á-Thái Bình Dương.

Trong các thập kỷ tới, thách thức lớn nhất đối với Mỹ là làm thế nào để duy trì các luật chơi trên biển đã được thiết lập, nhất là tự do hàng hải, nhưng lại phải thích nghi với sự trỗi dậy của các cường quốc khu vực, đặc biệt là Trung Quốc. Báo cáo cho rằng Mỹ cần duy trì mục tiêu là bảo vệ lợi ích của mình nhằm duy trì nguyên trạng nhưng không nhất thiết phải dẫn đến “đụng độ” với Trung Quốc; Mỹ cần cùng các nước khu vực thúc đẩy các khuôn khổ đa phương, “ràng buộc” Trung Quốc vào các tiêu chuẩn luật pháp quốc tế, qua đó điều chỉnh hành vi của Trung Quốc.

2) Đánh giá về chiến lược Biển Đông của Trung Quốc  

- Biển Đông gắn bó với Trung Quốc dưới nhiều góc độ: địa lý, lịch sử, tài nguyên và nhất là việc đảm bảo các tuyến đường vận tải biển. Trung Quốc có tham vọng và nhu cầu kiểm soát các tuyến đường biển huyết mạch mang tính sống còn đối với kinh tế nước này qua Biển Đông và eo Malacca. Nếu đường biển này bị phong tỏa dù chỉ một ngày, nguồn cung năng lượng cho Trung Quốc bị gián đoạn, thì có thể dẫn đến bất ổn xã hội. `

- Trung Quốc có nhu cầu chính đáng trong việc phát triển hải quân nhằm đảm bảo các tuyến đường biển. Tuy nhiên, hiện Trung Quốc đã lớn mạnh, có lực lượng hải quân hùng mạnh, lại tạo ra các thách thức cho trật tự khu vực Đông Á.  Lực lượng tàu ngầm của Trung Quốc chủ yếu là tàu diesel (trong khi của Mỹ là tàu hạt nhân), nhưng tàu ngầm diesel chạy êm, thích hợp hơn trong triển khai tại các vùng biển đông đúc ở Đông Á. Báo cáo đánh giá xu hướng đáng lo ngại là Trung Quốc hiện có 60 tàu ngầm và sẽ có 75 chiếc trong vòng vài năm tới, nhiều hơn Mỹ (trong khi Mỹ chỉ triển khai 55% lực lượng tàu ngầm ở Thái Bình Dương). Tỷ lệ tăng trưởng mới tàu ngầm giữa Trung Quốc và Mỹ từ năm 2000 là 4/1; và từ năm 2005 là 8/1.

- Báo cáo nhận định rằng sức mạnh của Trung Quốc không chỉ trong vấn đề tàu ngầm hay quân sự, mà còn ở quy mô dân số, khả năng kinh tế và vị trí địa lý trung tâm. Trung Quốc sẽ tích cực sử dụng các đòn bẩy sức mạnh trong vấn đề Biển Đông để đạt sự thừa nhận vai trò thống lĩnh và nhân nhượng từ các nước khác. Đa số các nước trong khu vực có quan hệ kinh tế, thương mại chặt chẽ với Trung Quốc, nhưng đều rất thận trọng và đề phòng Trung Quốc. Các nước này một mặt tăng cường quan hệ, nhưng lại lo ngại Trung Quốc, muốn duy trì sự hiện diện quân sự của Mỹ. Tuy vậy, các nước khu vực lại không muốn Mỹ gây căng thẳng với Trung Quốc do lo ngại bị lâm vào thế “kẹt” trong cuộc chơi giữa hai cường quốc. Chính sách của Trung Quốc là khai thác tối đa hạn chế này bằng cách kết hợp cân bằng giữa quyết đoán trên thực địa và thu phục bằng ngoại giao, nhằm ngăn chặn các mầm mống của liên minh kiềm chế Trung Quốc ở Đông Nam Á.    

- Tuy Trung Quốc ngày càng dân chủ hóa, nhưng lợi ích địa chiến lược của Trung Quốc không phụ thuộc vào hình thức của thể chế hay ý thức hệ. Đối với Đảng Cộng sản Trung Quốc hiện nay, tính chính danh được duy trì và củng cố bởi tăng trưởng kinh tế cao. Do đó, sự ổn định của Trung Quốc phụ thuộc vào nguồn cung tài nguyên và tự do giao thương trên biển. Theo đó, Chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông sẽ không hướng tới “đụng độ”, mà trọng tâm chính là tìm cách đạt được mục tiêu mà không cần dùng đến sức mạnh, tức “thắng không cần đánh”.  Nếu có thể dịch chuyển được cán cân lực lượng nghiêng theo phía mình, thì Trung Quốc có thể đẩy Mỹ ra khỏi khu vực Biển Đông và ngoài chuỗi đảo thứ nhất ở Tây Thái Bình Dương, thiết lập ảnh hưởng lên các nước khác trong khu vực, khiến các nước này bị “Phần Lan hóa” – không thể thực thi chính sách đối ngoại độc lập, nhất là không dám đi với Mỹ để đối phó với Trung Quốc.

- Cách thức triển khai chính sách của Trung Quốc là kết hợp giữa “đe dọa”  và “hợp tác” (coercion and cooperation) – vừa thu phục vừa gia tăng ảnh hưởng lên các nước Đông Nam Á;  hay “đàm và chiếm” (talk and take).  Trung Quốc sẽ kiên trì chống quốc tế hóa, chống đưa Biển Đông ra bàn thảo tại các diễn đàn đa phương. Theo đánh giá của nhóm tác giả: song phương sẽ giúp Trung Quốc “chia để trị”; đa phương sẽ đẩy Trung Quốc vào thế yếu. Các phát triển liên quan đến Biển Đông nửa sau năm 2011 thể hiện rõ việc quốc tế hóa và việc nêu cao quan ngại của cộng đồng thế giới đối với các hành động của Trung Quốc đã buộc nước này phải điều chỉnh chính sách, ngoại giao mềm dẻo hơn. Trung Quốc chấp nhận ký Văn bản hướng dẫn thực thi DOC và chịu đàm phán về COC sau khi vấn đề Biển Đông được quốc tế hóa trong năm 2010, 2011. Trung Quốc cũng điều chỉnh, có các bước đi nhằm củng cố quan hệ song phương với hai nước chủ chốt khác ở Biển Đông là Việt Nam và Philippines.

- Tuy vậy, theo nhóm tác giả, hiện vẫn không rõ hiện Trung Quốc có một chiến lược kiên định, rõ ràng với Biển Đông hay chưa, hay các nhóm lợi ích khác nhau triển khai hành động riêng rẽ, không có sự phối hợp tầm quốc gia. Đơn cử trong lĩnh vực luật, có nhiều cơ quan khác nhau thực thi pháp luật trên Biển Đông nhưng chính sách và phát biểu của họ nhiều khi không có sự phối hợp. Lãnh đạo Trung Quốc nhận ra tình trạng này và đang cố gắng thiết lập các cơ chế liên Bộ ngành để hoạch định và thực thi chính sách đối với vấn đề Biển Đông.

3) Kiến nghị chính sách đối với chính quyền Mỹ

Trên cơ sở phân tích trên, Bản báo cáo của CNAS khuyến nghị các nhà hoạch định chính sách cần thực hiện 5 bước tổng quát để bảo vệ lợi ích của Hoa Kỳ và đồng minh trên Biển Đông. Các bước này bao gồm:

i) Tăng cường sự hiện diện hải quân: Mỹ cần tiếp tục đi đầu trong lĩnh vực ngoại giao và kinh tế, tuy nhiên điều này cần phải có sự hậu thuẫn từ sức mạnh quân sự. Biển Đông trước tiên là sân chơi về sức mạnh hải quân hiện đại. Sức mạnh hải quân ngày càng gia tăng của Trung Quốc đang đe dọa đến các lực lượng hải quân và các căn cứ quân sự của Mỹ, đe dọa tự do thông thương trên biển và vai trò kiểm soát đường biển từ trước đến nay của Mỹ. Do đó, Mỹ cần đảm bảo sức mạnh hải quân nhằm: i) duy trì cân bằng quyền lực để kiểm soát và bảo vệ tự do hàng hải trên Biển Đông; ii) răn đe không để xảy ra xung đột hoặc ít nhất cho thấy kẻ hiếu chiến sẽ không dễ dàng thắng, qua đó giúp duy trì hòa bình và thịnh vượng trong khu vực. 

 ii) Củng cố mạng lưới an ninh trong khu vực: Mỹ cần thúc đẩy một mạng lưới các đối tác an ninh, bổ sung cho hệ thống liên minh “trục và nan hoa” hiện nay giữa Mỹ và các nước đồng minh như Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, Thái Lan, Phi-líp-pin.  Mỹ cần xây dựng một mạng lưới các nước đối tác trong khu vực làm đối trọng với sức mạnh hải quân của Trung Quốc trong khu vực. Việt Nam, Philippines là các nhân tố chính. Nếu Việt Nam không dám đương đầu với Trung Quốc thì các nước yếu hơn như Philippines sẽ không thể nào dám đương đầu với Trung Quốc. Nếu sức mạnh của Mỹ suy giảm, Việt Nam không có lựa chọn nào khác là phải sống chung với Trung Quốc. 

Do Mỹ vẫn cần phải hợp tác với Trung Quốc và một số nước (như Việt Nam) không muốn thể hiện công khai đối phó Trung Quốc. Do đó, hình thức quan hệ đối tác chiến lược dựa trên lợi ích chung (có thể hiểu như các liên minh ngầm) sẽ giúp tránh gây tâm lý thù địch từ phía Trung Quốc. Các liên minh ngầm này thậm chí còn có thể mạnh hơn cả những liên minh chính thức.

Mỹ cũng cần có chính sách nhất quán về sự hiện diện quân sự qua khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) thông qua các căn cứ truyền thống ở Nhật Bản, Hàn Quốc, các địa điểm tiếp cận mới trong khu vực với cách làm mới. Ví dụ như năm 2011 Mỹ có quyết định cho hai tầu chiến dừng tại Singapore mà không xác định là dừng thường xuyên hay không.  Mô hình mới này mang tính linh động, không cố định, tránh các nước đối tác bị Trung Quốc gây sức ép. Mô hình này có thể áp dụng cho cho các nước ASEAN khác như Philippines và Việt Nam.

iii) Củng cố các nguyên tắc và thể chế đa phương: Mỹ cần tiếp tục thúc đẩy bàn thảo vấn đề  trong các chương trình an ninh và ngoại giao của mình, bao gồm việc tham dự các hội thảo ở kênh 2 như cuộc hội thảo Biển Đông hàng năm do Việt Nam tổ chức tại Hà Nội, cho đến các cuộc họp chính thức liên quan như ASEAN, ARF, ADMM+ và EAS.

iv) Đầu tư vào thương mại mở khu vực. Mỹ cần tăng cường thúc đẩy hơn nữa liên kết kinh tế giữa các nước trong khu vực cũng như giữa Mỹ với các nước trong khu vực. Việc tăng cường liên kết kinh tế giúp Mỹ tăng đầu tư chiến lược vào khu vực năng động nhất trên thế giới. Tiềm năng phát triển của Quan hệ Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) một ngày sẽ trở thành thể chế thương mại ưu đãi bao trùm. Nếu Mỹ và các nước không thúc đẩy liên kết kinh tế trong khu vực như vậy, một hệ thống thương mại như vậy do Trung Quốc lãnh đạo sẽ hình thành và điều này là bất lợi cho Mỹ.

v) Định hình mối quan hệ thực tế với Trung Quốc. Mỹ cần có chính sách đúng đắn với Trung Quốc – không quá ảo hưởng về “hợp tác toàn cầu” cũng như không quá bi quan về “sự đối đầu không tránh khỏi” với Trung Quốc. Mỹ cần tích cức can dự ngoại giao và kinh tế, hậu thuẫn hiệu quả bởi sức mạnh quân sự áp đảo và nền kinh tế tăng trưởng tốt của Mỹ. Mục đích chính là duy trì quan hệ hợp tác tổng thể, nhưng không để mất thế thượng phong về sức mạnh quân sự, đảm bảo Trung Quốc không thể trở thành bá quyền khu vực.     

Thái Giang (TTBĐ)

 

    

 

Từ việc phân tích tổng hợp các nhân tố dẫn đến căng thẳng và kéo dài trong tranh chấp Biển Đông, TS. Aileen S.P Baviera , Đại học Philippines đề cập đến các giải pháp: song phương, đa phương, hợp tác về an ninh hàng hải nhằm thúc đẩy giải quyết tranh chấp Biển Đông, trong đó tác giả nhấn mạnh đến vai trò tiếp cận đa phương.

 

Những sự kiện gần đây đã thu hút sự chú ý đối với các tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông - một vùng biển mà căng thẳng đang ngày càng leo thang và có khả năng xảy ra một cuộc đối đầu quân sự  giữa các bên yêu sách đối địch nhau, đặc biệt giữa Trung Quốc và Việt Nam, Trung Quốc và Philippines. Trong khi trước đó, nhiều nước yêu sách đã từng thực hiện những hành động đơn phương riêng lẻ mà được giải thích là việc khẳng định chủ quyền (bao gồm thông qua các luật liên quan đến lãnh thổ và các vùng biển, các hoạt động thăm dò, khai thác tài nguyên, và các nỗ lực ngăn chặn hoạt động tương tự của các quốc gia khác), thì vòng căng thẳng mới nhất lại liên quan đến nhiều nhân tố đáng lo ngại.

Những nhân tố mới trong tranh chấp

Đầu tiên, và trước hết là việc Trung Quốc tăng cường sử dụng quân sự, bán quân sự hay các cơ quan thực thi pháp luật nhằm khẳng định chủ quyền tại các khu vực tranh chấp thể hiện trong bản đồ Đường đứt khúc chín đoạn, đặc biệt tại các khu vực gần bờ biển của các quốc gia duyên hải. Điều này cần phải được hiểu trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng tăng cường năng lực của mình và thể hiện rõ ý định triển khai sức mạnh hải quân tại Biển Hoa Đông và Biển Đông. Trung Quốc gần đây đã đệ trình bản đồ thể hiện chính thức yêu sách của mình với Liên Hợp Quốc (như là một phần trong công hàm phản đối của nước này chống lại một đệ trình chung của Việt Nam - Malaysia về giới hạn thềm lục địa tại Biển Đông).

Thứ hai là sự thất bại cho đến nay của ngoại giao đa phương ở khu vực giữa Trung Quốc và ASEAN trong việc tiến tới thúc đẩy xây dựng lòng tin, hợp tác hay cấp bách hơn nữa, là trong việc nhất trí các giải pháp tránh xung đột và các quy định ứng xử khác trong khu vực tranh chấp.

Thứ ba là sự không chắc chắn về quỹ đạo của quan hệ các cường quốc, trong một môi trường mà sự nổi lên của Trung Quốc đang diễn ra giữa lúc kinh tế Mỹ đang suy giảm và các mối quan tâm của Mỹ thì đang ở các nơi khác trên thế giới (mặc dù chính quyền Obama đã tuyên bố dự định vẫn duy trì quyền lực ở Thái Bình Dương).

Các yếu tố này hợp lại dường như đã làm thay đổi cục diện của các tranh chấp lãnh thổ theo những cách khác nhau. Đang có một sự chuyển trọng tâm trong các nỗ lực quản lý xung đột từ việc xây dựng lòng tin giữa Trung Quốc và ASEAN và tìm kiếm công thức cho việc hợp tác tài nguyên sang (1) nhu cầu phải làm rõ chính xác phạm vi và các căn cứ pháp lý của các yêu sách tương ứng, cũng như bản chất của các bộ luật và các cơ chế có thể áp dụng trong các vùng biển xung quanh; (2) làm thế nào để ngăn chặn sự bùng nổ chiến tranh vũ trang và một cuộc chạy đua vũ trang lâu dài giữa các bên yêu sách đối địch, và (3) vấn đề liệu việc đưa Mỹ vào làm đối trọng với Trung Quốc là hữu ích hay gây nguy hại đến tiến trình ngoại giao giữa ASEAN - Trung Quốc về vấn đề này.

Bề ngoài của cuộc cạnh tranh giữa các cường quốc

Như đã được tranh luận từ lâu, tranh chấp Biển Đông là một phép thử về thái độ và hành xử của Trung Quốc với các nước láng giềng nhỏ hơn với tư cách cường quốc mới nhất và lớn nhất của khu vực. Quan điểm cứng rắn và sự phô trương sức mạnh quân sự gần đây của Trung Quốc diễn ra sau một thời gian khá dài các mối quan hệ và hợp tác song phương cũng như đa phương với các nước Đông Nam Á khá suôn sẻ, từ đó gửi đi các tín hiệu lẫn lộn tới các láng giềng và làm xuất hiện mâu thuẫn với Khái niệm An ninh Mới mà nước này đang cố gắng thể hiện. Đồng thời, quan ngại của Mỹ về những gì mà nước này cho là thiếu minh bạch trong hiện đại hoá quân đội Trung Quốc nói chung, và khả năng chống can thiệp và phong tỏa khu vực (anti-access area-denial  capability) nói riêng của Trung Quốc, cộng hưởng ở một số nước trong khu vực Đông Nam Á. Sự phát triển căn cứ tàu ngầm trên đảo Hải Nam và ý định triển khai các nhóm tàu sân bay chiến đấu của Trung Quốc là những điểm đáng chú ý đặc biệt.

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây

TS. Aileen San Pablo

Hồng Nhung (dịch)

Quang Hưng (hiệu đính)

Tham luận của TS. Aileen San Pablo-Baviera, Đại học Philippines tại Hội thảo “Biển Đông: Hướng tới một khu vực Hòa bình, Hợp tác và Tiến bộ - The South China Sea: Toward a Region of Peace, Cooperation, and Progress” do Học viện Ngoại giao Việt Nam phối hợp với Trường Đào tạo cán bộ đối ngoại Philippines tổ chức tại Manila, Philippines 5 – 6 tháng 7 năm 2011.

Bản gốc tiếng Anh “The South China Sea Territorial Disputes in ASEAN-China Relations

 

Bài viết của GS. Leszek Buszynski, Đại học Quốc gia Úc, phân tích nhân tố địa chính trị chiến lược trong tranh chấp Biển Đông. Trước một Trung Quốc ngày một quyết đoán, nếu ASEAN không đoàn kết và đi đến thống nhất lập trường trong tranh chấp thì giải pháp cuối cùng cho Biển Đông rất xa vời.

 

Giới thiệu

Biển Đông là khu vực tranh chấp chủ quyền đối với các đảo và lãnh hải giữa Trung Quốc và 5 quốc gia ASEAN gồm: Việt Nam, Philippin, Malaysia, Brunei và Indonesia. Tranh chấp này bao gồm những vấn đề phức tạp liên quan đến việc Luật biển quốc tế không đưa ra hướng dẫn rõ ràng trong trường hợp có sự chồng lấn về yêu sách đối với lãnh hải, các đảo và vùng Đặc quyền kinh tế (EEZ). Các bên tranh chấp đều có những yêu sách đối kháng nhau đối với nguồn dầu khí, quyền đánh bắt cá, và đối với nước yêu sách chính là Trung Quốc chính là sự tiếp cận chiến lược đối với Biển Đông. Bài viết lập luận rằng nhân tố chiến lược đã trở thành nhân tố quan trọng nhất và làm lu mờ các nhân tố còn lại. Tranh chấp Biển Đông đang ngày càng gắn liền với những vấn đề chiến lược rộng lớn hơn liên quan đến Tây Thái Bình Dương, ảnh hưởng đến cả Trung Quốc và Hoa Kỳ. Ý nghĩa chiến lược của Biển Đông gia tăng cùng với sức mạnh ngày càng được tăng cường của hải quân Trung Quốc và nhu cầu mở rộng tiếp cận eo biển Malacca và Thái Bình Dương của nước này. Khi Trung Quốc phát triển chiến lược chống xâm nhập và từ chối tiếp cận biển thì Hoa Kỳ cũng buộc phải đưa ra quan điểm để bảo vệ vị trí chiến lược của mình trong khu vực. Các quan chức Trung Quốc đã coi Biển Đông là “lợi ích cốt lõi”. Tuyên bố này mặc dù chưa được chính thức công nhận nhưng nó cũng thể hiện một nhận thức rất rõ ràng về ý nghĩa của khu vực Biển Đông. Lựa chọn của ASEAN trong tình huống này là hạn chế chừng nào mà khối này vẫn còn chia rẽ và không thể phát triển sự đồng thuận trong cách đối phó với Trung Quốc. Sự chia rẽ này càng dai dẳng trong ASEAN thì càng có khả năng rằng khối này sẽ bị ngập chìm bởi các sự kiện mà sẽ đặt tương lai của khu vực vào tay các cường quốc.

NHỮNG NỖ LỰC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP, LIÊN HỢP QUỐC VÀ ASEAN.

Một giải pháp chính trị hoặc ngoại giao cho tranh chấp ở thời điểm hiện tại có vẻ không khả thi. Những đề xuất mang tranh chấp này lên Tòa án Công lý quốc tế để phân xử không được các bên chấp nhận. Liên Hợp Quốc không can dự vào các tranh chấp lãnh thổ với vai trò trung gian hòa giải trừ phi có yêu cầu trực tiếp từ các bên yêu sách. Ủy ban Liên Hợp Quốc về giới hạn thềm lục địa (CLCS) đã yêu cầu các bên đệ trình bản báo cáo liên quan đến yêu sách đối với thềm lục địa vào hạn chót là trước ngày 13/5/2009. Việt Nam và Malaysia đã gửi bản đệ trình chung về Biển Đông vào ngày 6/5, và ngay ngày hôm sau, Trung Quốc đã gửi công hàm phản đối. Công hàm của Trung Quốc đính kèm bản đồ đường 9 đoạn yêu sách đối với Biển Đông mà vẫn không làm rõ bản chất thực sự về yêu sách của Trung Quốc. Tuy nhiên, Ủy ban Liên Hợp Quốc sẽ không ra phán quyết đối với một bản đệ trình nếu nó liên quan đến tranh chấp lãnh thổ. Vào ngày 5/4, Philippin đã kháng cáo lên Liên Hợp Quốc sau khi tàu tuần duyên Trung Quốc quấy nhiễu một tàu khai thác dầu khí Philippin trong vùng tranh chấp vào hồi tháng 3/2011[1]. Ngày 14/4, Trung Quốc đã phản ứng khi tuyên bố rằng Philippin đã “xâm chiếm” Biển Đông vào thập niên 1970 khi nước này tuyên bố chủ quyền ở khu vực này[2]. Vì Liên Hợp Quốc không có thẩm quyền xét xử vấn đề tranh chấp lãnh thổ, do đó nỗ lực của Philippin không mang lại kết quả, tuy nhiên ít nhất thì điều đó cũng công khai quan điểm của nước này. Đã có nhiều cách tiếp cận khác nhau cả ở cấp độ song phương và đa phương nhằm tìm giải pháp cho vấn đề tranh chấp, những hiệp định giữa Việt Nam - Philippin, Việt Nam - Trung Quốc, Malaysia - Trung Quốc gần đây là những ví dụ về cách tiếp cận song phương. Chủ trương của Trung Quốc là đàm phán song phương, nhưng điều đó rõ ràng bất lợi đối với các quốc gia tranh chấp ASEAN. Cách tiếp cận đa phương mang lại hy vọng lớn hơn nhiều để giải quyết tranh chấp, và cũng chính vì mục đích đó mà Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) đã được thành lập năm 1994. Mục tiêu của Diễn đàn là lôi kéo Trung Quốc vào sứ mạng duy trì an ninh khu vực và để giành sự thừa nhận của nước này đối với trật tự hiện hiện tại. Tuy nhiên Trung Quốc luôn phản đối sự dính líu của ARF trong vấn đề tranh chấp và khăng khăng chủ trương tiến hành đàm phán song phương, không chấp nhận đàm phán đa phương[3].

Mặc dù vậy, Trung Quốc đã ký một văn bản đa phương với ASEAN: Tuyên bố về cách ứng xử của Các bên tại Biển Đông (DOC) vào tháng 11/2002, và vào thời điểm đó thì đây là văn kiện đầy triển vọng. Trung Quốc đã đồng ý ký một văn kiện với ASEAN với tư cách là một khối mặc dù đây chỉ là tuyên bố chứ không phải là bộ quy tắc ứng xử chính thức. Sau đó Trung Quốc cũng tham gia vào Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác vào ngày 10/8/2003, theo đó những tranh chấp sẽ được giải quyết một cách hòa bình. Cùng ngày, “Kế hoạch tổng thể” nhằm đưa mối qua hệ ASEAN – Trung Quốc sâu rộng hơn giai đoạn 2005 -2010 đã được ASEAN thông qua, trong đó đã đưa ra nhiều đề xuất khác nhau nhằm thực hiện DOC như thông qua Hội nghị Cấp cao thường niên ASEAN – Trung Quốc (SOM), hay thành lập Nhóm làm việc chung soạn thảo những đề nghị nhằm thực hiện DOC và kiến nghị những định hướng chính sách lên Hội nghị Cấp cao ASEAN – Trung Quốc (SOM)[4]. Tháng 12/2004 các quan chức cấp cao ASEAN Trung Quốc đã quyết định thành lập Nhóm làm việc chung ASEAN – Trung Quốc về việc thực hiện DOC (ASEAN – China JWG). Hai bên cũng đồng ý tiến tới việc cuối cùng ký kết một bộ quy tắc ứng xử. JWG đã có 6 cuộc gặp, lần đầu tiên vào năm 2005 tại Manila, lần cuối cùng là vào tháng 3/2011 nhưng với rất ít kết quả đạt được.

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây

GS. Leszek Buszynski

Quang Châu (dịch)

Đỗ Thủy (hiệu đính)

Tham luận của GS. Leszek Buszynski tại Hội thảo Quốc tế “Triển vọng Hợp tác trong các vấn đề ở Biển Đông - Prospects of Cooperation and Convergence of the Issues and Dynamics in South China Sea” ngày 31 tháng 5 năm 2011, tại Jakarta, Indonesia do Trung tâm Nghiên cứu chiến lược Châu Á, Jakarta tổ chức.

Bản gốc tiếng Anh “Can the South China Sea Dispute be resolved? ASEAN’s choices before an assertive China



[1] “Philippines protests China’s Spratly claim at UN,” AFP, 13 April 2011

[2] Teresa Cerojano, “Beijing counters Manila’s UN protest, says Philippines “started to invade” Spratlys in 1970s,” AFP, 19 April 2011

[3] Rodolfo C. Severino, The ASEAN Regional Forum, Institute of Southeast Asian Studies, Singapore 2009, p. 58

[4] Plan of Action to Implement the Joint Declaration on ASEAN-China Strategic Partnership for Peace and Prosperity, Association of Southeast Asian nations,  http://www.aseansec.org/16805.htm

 

Bản báo cáo của của Cục Nghiên cứu Quốc gia về Châu Á (NBR) của Mỹ phân tích, đánh giá những rủi ro ở vùng Biển Đông, biển Hoa Đông và Vịnh Thái Lan; các xu hướng gần đây tại các vùng biển tranh chấp - bao gồm cả tích cực và tiêu cực; các rào cản và cơ hội để thúc đẩy hợp tác. Cuối cùng, báo cáo đề xuất một loạt các kiến nghị chính sách cho các bên liên quan. Bản báo cáo được thực hiện bởi các chuyên gia quốc tế hàng đầu trong lĩnh vực này.

 

LỜI MỞ ĐẦU

Những tranh chấp chủ quyền trên biển ở khu vực Đông và Đông Nam Á là những mối đe dọa tiềm tàng lớn nhất đối với nền an ninh và lợi ích kinh tế của các quốc gia trong khu vực cũng như trên toàn thế giới. Các tuyến giao thông lớn trên biển, đặc biệt là Biển Hoa Đông, Biển Đông, và Vịnh Thái Lan, đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự lưu thông tự do của thương mại và hàng hóa. Đồng thời, các vùng biển này này cũng chứa đựng trong nó những tài nguyên sinh vật và phi sinh vật để góp phần duy trì nền kinh tế và dân số của các quốc gia yêu sách cũng như các quốc gia sử dụng các nguồn tài nguyên đó. Cùng với sự phát triển của công nghệ cho phép khoan, đào, khai thác sâu dưới nước, giờ đây tiềm năng tài nguyên của khu vực lại càng lớn. Tuy nhiên, những yêu sách chồng lấn về quyền tài phán và những nỗ lực của các quốc gia nhằm khẳng định vị trí của mình đã gây cản trở cho mọi hoạt động, từ các hoạt động thăm dò cho đến việc khai thác các tài nguyên vốn có. Do tính phức tạp của các yếu tố chính trị, lịch sử, pháp lý, kinh tế trong nước có liên quan, cho đến nay các quốc gia yêu sách vẫn chưa đi đến được một giải pháp cho những tranh chấp này. Thậm chí vấn đề này còn trở nên phức tạp hơn do áp lực ngày càng tăng về việc phát triển nguồn năng lượng trong khu vực khi mà yêu cầu của thế giới ngày càng cao.

Những nỗ lực nhằm giải quyết tranh chấp đã được thực hiện hàng thập kỷ nay, cả ở các cấp chính thức lẫn cấp Kênh II, kết quả chúng mang lại là những thỏa thuận nhằm gác xung đột chủ quyền sang một bên và cùng nhau khai thác các nguồn tài nguyên theo các hiệp định tạm thời – một phương pháp được ưu tiên để xây dựng lòng tin và hướng về phía trước. Một số hiệp định song phương ở Vịnh Thái Lan đã cho phép các dự án phát triển tài nguyên đã được triển khai. Các biện pháp xây dựng lòng tin ở Biển Đông giữa Trung Quốc và ASEAN, đặc biệt là Tuyên bố về Ứng xử của các Bên tại Biển Đông năm 2002 (DoC), cũng đã góp phần kiềm chế các căng thẳng, mặc dù không có cơ chế triển khai chính thức. Tuy nhiên các dàn xếp hiện hành cũng có những hạn chế của nó, thậm chí một vài dàn xếp đã bị trì hoãn một cách vô thời hạn.

Do đó căng thẳng vẫn tiếp tục leo thang và thường xuyên trở thành tâm điểm thời sự, đặc biệt là giữa các quốc gia yêu sách ở Biển Đông. Mối quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam có lẽ là nóng nhất trong khu vực này và nổi bật bởi hàng loạt các vụ việc xảy ra trong những năm gần đây. Những vụ việc liên quan đến các quốc gia yêu sách khác về vấn đề Trường Sa, cũng như về việc xây dựng các trạm quân sự trên các bãi và đảo san hô ở Biển Đông đã khiến cho căng thẳng đến nay vẫn tiếp diễn và có tính nghiêm trọng, đồng thời trở thành động lực cho các chương trình hiện đại hóa quân sự trong khu vực. Hệ quả là, rất ít khả năng để những quốc gia này giải quyết các bất đồng trong tương lai gần.

Nhận thức được rằng, có lẽ là trong hàng thập kỷ tới các quốc gia vẫn khó có thể đi đến được các giải pháp cho những tranh chấp quyền tài phán trên biển trong khu vực, nhưng cũng nhận thức được tầm quan trọng của các vùng biển tranh chấp đối với thương mại và tài nguyên; do đó Cục Nghiên cứu Quốc gia về Châu Á (NBR) đã nghiên cứu về những tranh chấp này và tác động của chúng, để từ đó đưa ra những cách nhìn mới về cách thức quản lý những xung đột trên trước khi có được một giải pháp về chính trị. Để làm việc này, NBR đã tập hợp một đội ngũ gồm các chuyên gia quốc tế để thực hiện một dự án ba năm có tên là “Maritime Energy Resources in Aisa: Opportunities for Joint Development” [Tài nguyên Năng lượng Biển ở Châu Á: Cơ hội cho sự Phát triển Chung] (MERA) để phân tích các diễn biến gần đây trong khu vực và cung cấp những phân tích và các lựa chọn thực tiễn cho các nhà hoạch định chính sách nhằm góp phần cải thiện các tranh chấp.

Dự án này được hỗ trợ bởi Sáng kiến An ninh Châu Á thuộc Quỹ John D. Và Catherine T. MacArthur và được dẫn đầu bởi nhà nghiên cứu trưởng là Tiến Sĩ Cliv Schofield (Trung tâm của Úc về Tài nguyên và An ninh Đại dương, Đại học Wollongong, Úc). Báo cáo này được tổng hợp từ những kết luận và quan điểm chính của đội ngũ các học giả của dự án cũng như  kết hợp ý kiến chuyên môn và phân tích của nghiên cứu trưởng, các cố vấn cấp cao, và nhân viên của NBR, những người đã tham dự hội thảo kéo dài ba ngày vào tháng 5/2011 để dự thảo báo cáo này. Mục đích của báo cáo là để tóm tắt và tập trung vào các khía cạnh liên quan đến chính sách của dự án MERA mà không bị hạn chế bởi các chính sách quốc gia hay các đòi hỏi về chủ quyền.

Tôi muốn bày tỏ sự cảm kích đối với các tác giả của bản báo cáo này vì thời gian và cống hiến mà họ đã dành ra, cũng như sự ủng hộ của họ đối với dự án MERA trong tất cả các giai đoạn. Tôi cũng muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Quỹ MacArthur vì sự ủng hộ hào phóng về mặt tài chính, mà nếu không có nó thì dự án này đã không thể thực hiện được.

Tim Cook, Giám đốc Dự án, Cục Nghiên cứu Quốc gia về Châu Á

CLIVE SCHOFIELD là Giáo sư và Giám đốc Nghiên cứu tại Trung tâm của Úc về Tài nguyên và An ninh Đại dương (ANCORS), Đại học Wollongong, Úc. Hiện ông là Ủy viên giám đốc của Hội đồng Nghiên cứu Úc và là nghiên cứu trưởng của dự án “Tài nguyên Năng lượng Biển ở Châu Á: Cơ hội cho sự Phát triển Chung” của NBR. Có thể liên lạc với ông qua địa chỉ <clives@uoww.edu.au>.

IAN TOWNSEND-GAULT là Giám đốc Viện Nghiên cứu Đông Nam Á tại Trung tâm Nghiên cứu Pháp lý Châu Á, Khoa Luật, Đại học British Columbia. Có thể liên lạc với ông qua địa chỉ <itgault@law.ubc.ca>

 

HASJIM DJALAL là thành viên Hội đồng Biển Indonesia; Cố vấn Cấp cao của Bộ trưởng Bộ Hàng hải và Ngư nghiệp, Bộ trưởng Bộ Giao thông, và Trưởng Tham mưu Hải quân Indonesia; và là thành viên của Nhóm Chuyên gia Pháp lý của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Indonesia. Có thể liên lạc với ông qua địa chỉ <hdh@cbn.net.id>.

IAN STOREY là Ủy viên giám đốc của Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (ISEAS), Singapore, và là Biên tập viên của tạp chí Contemporary Southeast Asia. Có thể liên lạc với ông qua địa chỉ <ijstorey@edu.sg>.

MEREDITH MILLER là Phó Chủ nhiệm Các vấn đề Thương mại, Kinh tế, và Năng lượng ở Cục Nghiên cứu Quốc gia về Châu Á. Có thể liên lạc với bà qua địa chỉ <mmiller@nbr.org>.

TIM COOK là Giám đốc Cao cấp của Cục Nghiên cứu Quốc gia về Châu Á. Có thể liên lạc với ông qua địa chỉ tcook@nbr.org

TÓM TẮT

Báo cáo này phân tích các kết luận từ dự án ba năm về “Tài nguyên Năng lượng Biển ở Châu Á: Cơ hội cho sự Phát triển Chung” của Cục Nghiên cứu Quốc gia về Châu Á, trong đó đánh giá các tranh chấp quyền tài phán trên biển và các cơ hội hợp tác ở Đông và Đông Nam Á.

NHỮNG KÉT LUẬN CHÍNH

Những tranh chấp lâu năm về các yêu sách quyền tài phán trên biển ở Biển Hoa Đông, Biển Đông, và Vịnh Thái Lan đe dọa sự ổn định và thịnh vượng lâu dài của các quốc gia trong khu vực Đông và Đông Nam Á. Mặc dù đã có nhiều nỗ lực đa phương trong những thập kỷ gần đây cùng với các thể chế pháp lý quốc tế như Công ước LHQ về Luật Biển, nhưng căng thẳng giữa các quốc gia yêu sách và các quốc gia sử dụng vẫn cao. Các quốc gia yêu sách vẫn chưa đi đến được một giải pháp cho những tranh chấp này do tính phức tạp của các yếu tố chính trị, lịch sử, pháp lý, kinh tế trong nước có liên quan và áp lực cần phải phát triển các nguồn năng lượng trong khu vực tranh chấp. Những mối quan ngại về quyền tiếp cận tài nguyên, cùng với việc các quốc gia yêu sách đã không thực thi được các biện pháp xây dựng lòng tin (CBM) để xoa dịu căng thẳng, đã cho thấy rằng một giải pháp chính trị khó có thể đạt được trong ngắn hạn. Ngay cả khi không có một thỏa thuận dài hạn, thì các quốc gia yêu sách vẫn cần phải có những hành động phối hợp tạm thời để xoa dịu căng thẳng, tăng cường hợp tác và lòng tin, cũng như duy trì cương vị quản lý đối với môi trường và tài nguyên biển.

Ý NGHĨA CHÍNH TRỊ

+ Các quốc gia có thể quản lý tốt hơn những căng thẳng hiện tại bằng cách thực thi các biện pháp xây dựng lòng tin, bao gồm cả các biện pháp được liệt kê trong Tuyên bố về Ứng xử của Các bên tại Biển Đông (DoC). Những biện pháp này có thể bao gồm những việc như sử dụng các đường dây nóng, thông báo trước về việc tập trận quân sự, tìm kiếm và cứu nạn chung, hợp tác về phòng, chống các mối đe dọa xuyên quốc gia, các quy định về ứng xử khi đụng độ trên biển cả, và tăng cường minh bạch về quân sự.


+  Bất kể hạn chế trong việc thực thi DoC, Trung Quốc và các nước ASEAN cần phải bắt đầu đàm phán để về một bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông để chính thức hóa các biện pháp xây dựng lòng tin và hạn chế những hành động gây mất ổn định.

+Việc quản lý tạm thời nhiều tranh chấp lãnh thổ và trên biển có liên kết với nhau ở Châu Á là cách tốt nhất để đảm bảo quyền tự do hàng hải và sự lưu thông tự do của thương mại, vốn đóng vai trò hết sức quan trọng đối với các nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới. Những dàn xếp này sẽ không phương hại tới các yêu sách trên biển của các quốc gia trong thời gian ngắn.


Không gian biển nửa kín của Biển Hoa Đông, Biển Đông, và Vịnh Thái Lan là nơi chứa đựng các tuyến giao thông trên biển (SLOC) có giá trị vô cùng quan trọng không chỉ với các quốc gia ở Đông và Đông Nam Á mà còn với thương mại toàn cầu. Hơn nữa những vùng biển này còn chứa một môi trường biển vô cùng đa dạng về sinh học, có giá trị lớn với ngành đánh cá, và do đó nó duy trì được sự sống của hàng trăm triệu người. Thêm vào đó, từ lâu đã có những dự đoán rằng những khu vực này chứa đựng trữ lượng dồi dào các nguồn năng lượng đáy biển – một tiềm năng có sức hấp dẫn vô cùng lớn trong một thời đại mà mối lo ngại về an ninh năng lượng ngày càng gia tăng. Tuy các nguồn trữ lượng năng lượng dưới đáy biển đã được phát hiện và đang trong quá trình được phát triển trong khu vực Biển Hoa Đông, Biển Đông, và Vịnh Thái Lan, nhưng tiềm năng thực sự của những khu vực này vẫn chưa được làm sáng tỏ và cũng chưa thể hiện thực hóa do các tranh chấp về quyền tài phán lãnh thổ và trên biển vẫn là những đặc tính cố hữu của những vùng biển này. Thực tế là những không gian biển này đã được định hình bởi nhiều tranh chấp chủ quyền đối với những hòn đảo, đảo đá, bãi đá ngầm có diện tích nhỏ và cách xa bờ cùng với những yêu sách chồng chéo và không phải lúc nào cũng rõ ràng về quyền tài phán.

Những tranh chấp về chủ quyền và quyền tài phán trên biển ở Đông và Đông Nam Á là những điểm nóng có nguy cơ trở thành mối đe dọa đối với hòa bình, an ninh, và cùng với nó là thịnh vượng về kinh tế trong những khu vực này. Những yêu sách xung đột nhau về chủ quyền đối với các hòn đảo và các đảo nhỏ cùng với những yêu sách chồng lấn trên biển liên quan đến chúng là nguồn gốc của sự căng thẳng trong suốt hàng thập kỷ qua. Những tranh chấp này đã dẫn đến hàng loạt các vụ việc và thậm chí là đụng độ quân sự giữa các quốc gia yêu sách trong quá khứ. Với sự dai dẳng của các tranh chấp, rất có khả năng những vụ việc đó sẽ lại tiếp diễn và có nguy cơ phát triển thành những xung đột lớn hơn.

Việc không có một giải pháp giải quyết tranh chấp đã là một cản trở lớn đối với các lợi ích tích cực mà những không gian biển và các tài nguyên của nó có thể mang lại cho các quốc gia trong khu vực. Đặc biệt là khi nhìn từ góc độ năng lượng, các tuyến biển của Châu Á là những điểm quá cảnh quan trọng – và cũng có thể là những nguồn trữ lượng dồi dào – của năng lượng hidrocacbon mà các nền kinh tế trong khu vực phải dựa vào để duy trì quỹ đạo phát triển của mình. Nhiều quốc gia trong khu vực đang bị thâm hụt nguồn năng lượng trong nước một cách nghiêm trọng và đang ngày càng phụ thuộc vào việc nhập khẩu dầu thô để đáp ứng các yêu cầu. Chẳng hạn, ở Đông Á Nhật Bản và Hàn Quốc là hai nước phụ thuộc rất nhiều vào dầu thô để đáp ứng hầu hết các yêu cầu của mình, và trong năm 2009 Trung Quốc đã phải dựa vào dầu thô nhập khẩu để giải quyết 53% các nhu cầu. Sự lệ thuộc vào dầu thô và khí của hầu hết các quốc gia ở Đông và Đông Nam Á (ngoại trừ Brunei) được dự đoán là sẽ còn tăng mạnh trong tương lai.

Hầu hết các nguồn năng lượng nhập khẩu này đến từ Châu Phi và Trung Đông và được vận chuyển bằng đường biển qua các điểm kiểm tra ở Đông Nam Á như Eo biển Malacca, Singapore, Sunda, Lombok, Makassar, và Balabac rồi mới đi tiếp qua Biển Đông và Biển Hoa Đông đến bến cảng cuối cùng. Bất kỳ cuộc đụng độ hay biểu dương lực lượng nào ở một trong những điểm này cũng có thể ảnh hưởng tiêu cực tới an ninh năng lượng trong khu vực do tàu thuyền phải điều chỉnh lại tuyến hàng hải. Do trữ lượng dầu chủ yếu của thế giới tập trung ở những nơi như Trung Đông nên các nguồn cung cấp thay thế mà không đòi hỏi việc quá cảnh qua khu vực bị ảnh hưởng là tương đối thấp (xem Hình 1-3).

Hình 1

 

Hình 2


 

Hình 3


Tranh chấp trong khu vực trải rộng từ những yêu sách chủ quyền đối với đảo và vùng biển liên kết cho đến những bất đồng về năng lực của những hòn đảo nhỏ, xa bờ, và không có người sinh sống để bổ trợ cho những yêu sách mở rộng đối với không gian biển. Những bất đồng về vai trò của các hòn đảo trong việc phân định biên giới trên biển, cũng như những bất đồng về cách thức tiếp cận hay phương pháp của việc phân định biên giới đã làm trầm trọng thêm sự phức tạp của các tranh chấp và dẫn đến sự trì hoãn của một biện pháp giải quyết cuối cùng. Những nỗ lực để giải quyết các tranh chấp này đã tiếp diễn hàng thập kỷ nay tại các cấp độ chính phủ và cấp độ Kênh II mà hầu như không đạt được mấy thành công. Trong đó, những nỗ lực trong cách tiếp cận về pháp luật quốc tế dựa trên Công ước LHQ về Luật Biển (UNCLOS), các cuộc đàm phán phân định biên giới song phương, và các hiệp định phát triển tài nguyên chung đã đóng vai trò kiềm chế hành vi của các quốc gia, đưa ra các lựa chọn thay thế, và nhìn chung đã nhấn mạnh vai trò của ngoại giao và đàm thoại thay vì sử dụng lực lượng quân sự trong việc giải quyết tranh chấp.

Tuy nhiên, vẫn có những dấu hiệu đáng báo động về căng thẳng đang gia tăng giữa các quốc gia trong khu vực Đông và Đông Nam Á về những yêu sách chồng chéo của họ. Chẳng hạn, trong nửa đầu năm 2011 đã có ít nhất là hai lần tàu hải giám của Trung Quốc quấy rầy tàu thăm dò địa chấn do chính phủ Philippin và Việt Nam làm chủ quản và buộc những con tàu này phải ngừng các hoạt động khai thác của mình. Sự kiện đầu tiên xảy ra vào tháng 3 ở Bãi Cỏ rong, một khu vực mà Philippin cho là thuộc vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) kéo dài 200 hải lý của mình. Sự kiện thứ hai xảy ra vào tháng 5 ở vùng biển gần tỉnh Phú Yên của miền trung Việt Nam. Cả Manila và Hà Nội đều đã phản đối những hành động của tàu tuần tra Trung Quốc. Một vụ việc khác đã xảy ra vào tháng 9/2010 khi lực lượng Biên phòng Nhật Bản bắt giữ thuyền trưởng của một con tàu đánh cá của Trung Quốc sau một cuộc đụng dộ ở vùng biển tranh chấp ở Biển Hoa Đông. Sự kiện này, cùng với căng thẳng ngoại giao về sau, đã làm dấy lên căng thẳng giữa các thành phần chủ nghĩa dân tộc của hai nước và làm lu mờ hơn khả năng thực thi hiệp định năm 2008 về vùng phát triển chung và dự án dầu khí. Trong khi đó, ở Vịnh Thái Lan tình trạng xấu đi của quan hệ giữa Campuchia và Thái Lan, chủ yếu do những tranh chấp trên biên giới đất liền, vẫn có khả năng lan ra biển. Những vụ việc nêu trên và một loạt các tranh cãi tương tự đã thường xuyên xảy ra trong các năm gần đây. Trong mọi vụ việc thì căng thẳng và sự mất lòng tin đều gia tăng giữa các chủ thể chính, và từ đó đặt ra nghi vấn về khả năng giải quyết những tranh chấp này trong tương lai.

Ở những nơi có những yêu sách chồng lấn về biển, những bất trắc về quyền tài phán rõ ràng đã gây phức tạp cho công tác quản lý tài nguyên đại dương. Những chính sách không được điều phối dẫn đến tranh chấp về tài nguyên mang tính hủy hoại và không bền vững, đặc biệt là đối với các tài nguyên sinh vật biển. Sự đối đầu, va chạm giữa các đoàn tàu đánh cá có thể nhanh chóng kéo các cơ quan chức năng của các quốc gia ven biển vào cuộc, đặc biệt là khi các lực lượng an ninh của quốc gia chỉ đơn thuần cho là mình đang tuần tra ở không gian biển “của mình”. Sự cạnh tranh về tài nguyên cũng có xu hướng kích động các thành phần chủ nghĩa dân tộc - tương tự những gì đã xảy ra trong các cuộc biểu tình ở Trung Quốc về việc Nhật Bản bắt giữ thuyền trưởng thuyền đánh cá của Trung Quốc. Những tư tưởng chủ nghĩa dân tộc như vậy càng làm gia tăng rủi ro cho các nhà lãnh đạo chính trị do họ có thể vì lí do nhượng bộ mà thể hiện sự yếu đuối với công dân của mình. Trong trường hợp xấu nhất, nếu căng thẳng leo thang và trở thành xung đột vũ trang thì quyền tự do hàng hải và thương mại tren biển, bao gồm việc quá cảnh các nguồn tài nguyên năng lượng quan trọng, sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực.

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây

Clive Schofield, Ian Townsend-Gault, Hasjim Djalal, Ian Storey, Meredith Miller, và Tim Cook

Bá Việt (dịch)

Quang Hưng (hiệu đính)

Báo cáo của Cục Nghiên cứu Quốc gia về Châu Á (National Bureau of Asian Research) về hợp tác trên biển ở Đông và Đông Nam Á, bản gốc tiếng Anh “From Disputed Waters to Seas of Opportunity: Overcoming Barriers to Maritime Cooperation in East and Southeast Asia

 

Tọa đàm tại Bắc Kinh giữa các chuyên gia hàng đầu của Trung Quốc, tập trung phân tích tầm quan trọng của biển đối với sự phát triển của Trung Quốc, những diễn biến gấn đây về tình hình Nam Hải (Biển Đông), đặc biệt là nhân tố Mỹ và ảnh hưởng đến cục diện xung quanh Trung Quốc. Các học giả cũng đưa ra các kiến nghị chính sách cho Chính phủ Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông.

 

Hãng bình luận tin tức TQ (Chinareviewnews) và Nguyệt san Bình luận Trung Quốc của Hồng Công đã tổ chức buổi Tọa đàm về quyền lợi và chiến lược biển Trung Quốc tại Bắc Kinh. Buổi tọa đàm do Nghiên cứu viên Viện nghiên cứu vấn đề quốc tế TQ, Cố vấn học thuật của Nguyệt san Bình luận TQ chủ trì: tham gia gồm các chuyên gia, học giả: Giáo sư Viện nghiên cứu chiến lược quốc tế: Trường Đảng TƯ Mã Tiểu Quân; Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu CÁ-TBD, Viện Khoa học xã hội TQ Hàn Phong; Phó chủ nhiệm Trung tâm nghiên cứu chiến lược biển, Viện nghiên cứu quan hệ quốc tế hiện đại Vương San; Quyền Chủ nhiệm Phòng nghiên cứu luật biển, Viện nghiên cứu chiến lược phát triển biển, Cục hải dương TQ Ngô Kế Lục. Trợ lý Trung tâm nghiên cứu sử địa biên cương, Viện Khoa học xã hội TQ, Tiến sĩ Hầu Nghị.

Lược dịch một số nội dung chính như sau.

Quách Chấn Viễn: Năm ngoái TQ xảy ra tranh chấp đảo Điếu Ngư với Nhật Bản, năm nay lại xảy ra tranh chấp Biển Đông, do đó mọi người đều rất quan tâm đến vấn đề biển, về lý luận cũng trở thành vấn đề điểm nóng nổi bật.

Hàn Phong: Biển và an ninh  phát triển của TQ

Tôi thấy rằng vấn đề Biển Đông xảy ra lần này một lần nữa cho thấy nó liên quan đến toàn bộ chiến lược phát triển của TQ. Sự phát triển và trỗi dậy của Trung Quốc quá nhanh, do đó khái niệm về khu vực đã có sự thay đổi lớn, ví dụ khái niệm xung quanh TQ, khu vực CA-TBD và Đông Á đều được mở rộng nhanh chóng. Hiện nay không thể phân biệt rõ đâu là Đông Á. Nếu cuối năm nay Mỹ và Nga tham gia thì thực tế Đông Á là 10+8. Nhưng khái niệm Đông Á này đã có thay đổi triệt để về mặt địa lý. Trong tình hình nội hàm chiến lược của TQ đang được mở rộng, vấn đề Biển Đông ngày càng áp sát hoặc bao phủ lên toàn bộ khu vực tranh chấp. Trong quan hệ nước lớn hiện nay, vấn đề Biển Đông trên thực tế đã ảnh hưởng đến sự phát trển  của Trung Quốc, là con bài để một số nước kềm chế Trung Quốc phát  triển. Bởi vì vấn đề Biển Đông không phải hôm nay mới có, một số nước căn cứ vào chiến lược của mình lúc nào cũng có thể sử dụng con bài này. Hiện nay họ đã sử dụng và gần giống với vấn đề Đài Loan trước đây. Việc hiện nay họ tập trung sử dụng con bài này chứng tỏ nó có tác dụng trong chiến lược của họ,  có tác dụng kiềm chế TQ. Trạng thái chiến lược của TQ có thể hơi ôn hoà. Năm 2009 đã xảy ra một sự việc nhưng lần đó chủ yếu là đấu tranh pháp lý, còn lần này có thể không giống như thế mà tương đối tổng hợp, bối cảnh là lấy chủ quyền làm chính, các dạng đấu tranh đều đã xuất hiện, kể cả pháp lý. Do ở đây có chiến lược của nước lớn, cũng có sự tính toán của nước nhỏ. Đối với TQ đó có thể là cục diện chiến thuật vi mô hoặc là sự hỗn hợp thay thế nhau, đây có thể là lần đầu tiên đối với TQ. Có thể nói sự phát triển của TQ có ảnh hưởng ngày càng lớn đối với khu vực, nên các nước đã đưa ra con bài đó ở thời điểm này, nhưng đây chưa hẳn là một việc tồi tệ bởi vì việc TQ xử lý vấn đề này thế nào, quản lý vấn đề khu vực và tạo dựng môi trường xung quanh là một khả năng mà TQ cần có để lớn mạnh.

Cục diện cơ bản của an ninh khu vực chưa có thay đổi về căn bản, bởi vì mặc dù xảy ra vấn đề nhưng các bên đều không muôn phá vỡ giới hạn cuối cùng của DOC. Có thể nói, sự ổn định của khu vực vẫn là nhận thức chính trị chung của các bên, tất nhiên trên cơ sở này các nước đều cố gắng chiếm được nhiều hơn, giành được nhiều hơn. Nhưng trên thực tế không gian có thể chiếm hữu hiện nay không còn nhiều. Trong cục diện hiện nay, việc làm thế nào để xử lý thoả đáng vấn đề là chiến lược lớn và lợi ích quốc gia của TQ. Nên cân bằng thế nào giữa lợi ích lâu dài và lợi ích trước mắt. Hiện nay rất nhiều người đều quy nạp về vấn đề giữ ổn định hay bảo vệ quyền lợi, dường như có một số mâu thuẫn. Sở dĩ nói tình hình an ninh khu vực cơ bản không thay đổi, bởi vì chủ quyền Biển Đông  từ khi có tranh chấp đến nay vẫn như vậy. TQ không mất mát và cũng không vì nước khác chiếm nhiều hơn mà làm cho lợi ích của TQ bị tổn thất về căn bản. Trung Quốc trong lúc này cần phải bình tĩnh, bởi vì đây là vấn đề chủ quyền, tài nguyên năng lượng, tuyến đường biển quốc tế, quan hệ quốc tế và vấn đề quản lý biển. Nhưng những vấn đề này đều liên quan đến chủ quyền, do chưa phân định rõ nên mới có vấn đề. Phương châm cơ bản của TQ như Đặng Tiểu Bình đã nói, đó là chủ quyền thuộc ta, gác tranh chấp, cùng khai thác. Nhưng “chủ quyền thuộc ta” và "gác tranh chấp” trên thực tế có mâu thuẫn với nhau, thuộc ta rồi thì gác tranh chấp cái gì để thực hiện cùng khai thác. Đằng sau câu nói nảy chính là thừa nhận tranh chấp, có nghĩa là chủ quyền mặc dù thuộc tôi, nhưng tôi không có đủ khả năng để quản lý hết, đo đó tồn tại tranh chấp. Đó là tư duy lúc đó. Hiện nay chúng ta cũng chưa có thay đổi về vấn đề đó, chủ quyền là không thể từ bỏ, nhưng là gác lại tranh chấp. Tranh chấp này chưa được giải quyết các nước khác đã nêu ra nhiều chủ trương rõ ràng là có rất nhiều nguy hiểm đối với chủ quyền của TQ. Về pháp lý, lần này có thể sẽ cụ thể hơn, đã tập trung đưa ra. đó là căn cứ pháp lý của "đường 9 đoạn" và phạm vi tài nguyên của TQ, tuyến đường biển liên quan. Do đó, phương diện lớn của TQ là phát triển, nhất là phát triển đột phá vùng ven biển, mở rộng ra vùng biển tranh chấp nâng cao vai trò của TQ trong khu vực và trên thế giới trong tương lai, tăng cường ảnh hưởng đối với khu vực tranh chấp. Tất nhiên điều này  ngoài chủ quyền còn ảnh hưởng đến nội bộ và ổn định trong nước của TQ.

Mặc dù hiện nay vấn đề này đang bị làm to chuyện, nhưng các bên đều mong muốn thông qua đảm phán hoà bình để điều chỉnh. Philippines và Việt Nam cũng không muốn xung đột quân sự trực tiếp với TQ mà mong muốn trước khi TQ trỗi đậy sẽ thông qua mọi biện pháp để củng cố lợi ích mà họ đã giành được, tìm kiếm nhiều chứng cứ cho việc giải quyết vấn đề thực sự trong tương lai, nhằm giành được nhiều lợi ích hơn.

Mã Tiểu Quân: Cần làm rõ giữa quyền lực và quyền lợi biển

Những năm gần đây, tình hình tranh chấp chủ quyền lãnh thổ Biển Đông, bao gồm cả vấn đề biển Hoa Đông, Hoàng Hải liên tục quấy nhiễu đại cực chiến lược ngoại giao và môi trường quốc tế xung quanh TQ, tạo ra một cuộc thảo luận lớn của dư luận báo chí trong nước về quyền lợi biển. TQ có đi ra biển không? TQ có phải là một quốc gia biển không? TQ làm thế nào để xây dựng hải quân hùng mạnh? Hiện nay bao gồm cả giới học thuật và báo chí đều chưa nghiên cứu sâu những vấn đề này. Ví dụ trong một bài viết, hai khái niệm hoàn toàn khác nhau nêu trên thường bị sử dụng lẫn lộn. Hiện tượng này cho thấy chúng ta chưa chuẩn bị tốt về học thuật, lý luận, pháp lý và luật pháp quốc tế.

Về vấn đề bảo vệ quyền lợi biển và an ninh chủ quyền lãnh thổ của TQ, quan điểm cơ bản của tôi là: 3 yếu tố là sự toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ, thống nhất và an ninh của TQ cho đến nay vẫn chưa có cái nào được thực hiện, trong đó tất nhiên cũng bao gồm vấn đề chủ quyền lãnh thổ biển. Hiện nay khi chúng ta nói đến vấn đề chiến lược biển thì vấn đề cần giải quyết đầu tiên là mục tiêu chiến lược biển của TQ, chứ không phải nói một cách chung chung. Trong 62 năm kể từ khi nước TQ mới được thành lập, TQ đã hoàn thành phân định và cắm mốc biên giới đất liền với 12/14 nước, hiện nay còn Ấn Độ và Butan chưa hoàn thành. Trong đó đáng kể nhất là việc phân định biên giới với Nga và Việt Nam. TQ đã từng đánh nhau với hai nước này vì tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, nhưng kết quả phân định cuối cùng không phải bằng phương thức chiến tranh, mà là thông qua đàm phán giải quyết, thông cảm nhân nhượng lẫn nhau để giải quyết giống như chưa từng xảy ra chiến tranh biên giới giữa hai nước. Kể cả vấn đề chủ quyền biên giới biển đang làm cho mọi người lo ngại nhất hiện nay cũng đã có tiền lệ giải quyết thành công và lại với Việt Nam: nước đang có màu thuận gay gắt nhất với TQ hiện nay về vấn đề trên biển, đã cùng với TQ phân định thành công Vịnh Bắc Bộ. Kinh nghiệm lịch sử chứng minh, cho dù là biên giới đất liền hay biên giới biển, không thể sử dụng biện pháp chiến tranh để giành giật.

Học giả và báo chí phải có trách nhiệm giải thích với dân chúng. Chúng ta đang sống trong hệ thống quan hệ quốc tế hiện nay, việc giải quyệt tranh chấp biên giới và xung đột quốc tế chỉ có 2 con đường: một là cường quyền, hai là hòa bình và ngoại giao. Cho đến nay, cá nhân tôi chưa thấy lãnh đạo hay nhà chinh trị nào của TQ bày tỏ thông qua biện pháp cường quyền giải quyết vấn đề. TQ luôn tôn trọng và tuân thủ nguyên tắc chính trị trong quan hệ quốc tế hiện đại và nguyên tắc của luật pháp quốc tế để giải quyết những vấn đề này.

Đối với lợi ích biển, việc đầu tiên vẫn là toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ, thống nhất và an ninh đất nước. Đây là việc thiết thực và cấp bách nhất, cũng là lợi ích chiến lược quốc gia căn bản nhất của TQ. Do đó khi bàn về quyền lợi biển, đầu tiên là vấn đề bảo vệ cửa nhà, trước hết cần bảo vệ tốt nhà mình, sau đó mới bàn đến các khu vực tranh chấp; thứ hai là cần quan tâm đến vùng biển quốc tế. Những năm gần đây TQ đã bắt đầu đi vào vùng biển quốc tế và phát hiện thấy đây là một không gian rất lớn, có lợi ích chiến lược phong phú, nhưng sự chuẩn bị của TQ chưa đủ, nhân tài chuyên môn thiếu. Ở vùng biên quốc tế, Nam Bắc cực và vùng biển xung quanh, các tuyến đường biển, đáy biển quốc tế đều có lợi ích chiến lược to lớn của TQ. Việc xây dựng các cơ chế quốc tế liên quan cũng đang cần TQ tham gia nhiều hơn và mang tính xây dựng hơn.

Vương San: Biển có ý nghĩa to lớn đối vớt sự phát triển của TQ trong tương lai

TQ có đường bờ biển rất dài, lâu nay người TQ chịu sự bó buộc của tư tưởng quyền lợi đối với đất liền, ý thức biển của người TQ khá yếu, thiếu các chuyên gia trong lĩnh vực này bao gồm cả trên các diễn đàn quốc tế và đấu tranh về quyền phát ngôn. Việc thể hiện chủ trương của TQ một cách có cơ sở, có lý lẽ tại các diễn đàn quốc tế là then chốt. Ngoài ra, xét từ góc độ môi trường quốc tế thì rõ ràng TQ ở vào thế rất bất lợi trong việc bảo vệ quyền lợi biển. Tại các diễn đàn đa phương, về học thuật thì chỉ có vài nước thực sự nêu chính nghĩa thay cho TQ, do vậy trên trường quốc tế, TQ ở vào trạng thái bị động trên vấn đề Biển Đông. Nói về lý lẽ thì chúng ta tuy rằng có lý nhưng xét về tình hình thi chúng ta lại không thể mở rộng lý ra được. Hiện nay, quyền lợi biển của TQ vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Thứ nhất, các vùng biển xung quanh TQ liên tục bị xâm phạm. Hiện nay, các vùng Biển Hoa Đông, Hoàng Hải đến Biển Đông trên thực tế đều có tranh chấp với một số nước, đặc biệt là trong một, hai năm trở lại đây.

Tiếp đó là việc Mỹ tăng cường can thiệp vào vấn đề các vùng biển xung quanh TQ, quyền lợi biển của TQ bị xâm phạm . Nửa cuối năm 2010, Mỹ - Hàn liên tục lớn tiếng diễn tập quân sự tại Hoàng Hải và biển Hoa Đông; đưa tàu sân bay ra vào cửa nhà của TQ. Trong vấn đề Biển Đông, năm nay Mỹ lại có biện pháp mới, lợi dụng mâu thuẫn trong khu vực để kiềm chế TQ trong tranh chấp tại các vùng biển xung quanh Trung Quốc, nhân tố Mỹ ngày càng nỗi cộm, đây là hiện tượng thứ hai.

Hiện tượng thứ ba là an toàn hàng hải, tình trạng của TQ cùng khá gay go trong vấn đề này. Cùng với việc đi ra ngoài ngày càng được thực hiện đi vào chiều sâu, an toàn hàng hải ngày càng quan trọng đối với an ninh kinh tế quốc gia của TQ. Hiện nay 80% ngoại thương của TQ cần qua đường biển, hơn nữa một tư tưởng quan trọng của chiến lược đi ra ngoài là phát tài từ biển, đi đường biển, dựa vào biển để làm mạnh bản thân. Ngoài ra, hợp tác giữa TQ với các quốc gia ven các eo biển, bao gồm một số eo biển chính trên thế giới hiện nay chưa nhiều. Theo thống kê, hàng năm có 4000 - 5000 tàu buôn của TQ qua lại khu vực từ Trung Đông đến Bác Phi. TQ hiện có một số bất cập trong việc quản lý an toàn hàng hải: (i) chuẩn bị về chính sách đối với việc bảo vệ an ninh hàng hải chưa đủ, năng lực xây dựng mới ở giai đoạn đầu, còn có khoảng cách khá xa so với Mỹ, Nhật; (ii) vận tải biển xa của TQ hiện đa số đều đi qua các khu vực biển có xung đột vá nguy hiểm. Hai năm gần đây, TQ có nhiều tàu bị cướp biển bắt giữ, thiệt  hại không ít về kinh tế. Ngoài ra năng lực vận tải biền xa còn bất cập, đây là nhân tố mang tính bế tắc, hạn chế.

Thứ 4 là những thách thức của môi trường biển xung quanh TQ hay quyền lợi biển của TQ gặp phải, có khả năng đến từ hai bờ eo biển. Hiện nay quan hệ hai bờ phát triển khá nổi bật về kinh tế, nhưng trên vấn đề cùng bảo vệ quyền lợi biển của dân tộc Trung Hoa thì hai bờ vẫn chưa có hành động gì lớn và thực chất. Hiện hợp tác hai bờ mới chỉ dừng lại ở một số diễn đàn trong giói học thuật, ngoài ra chủ yếu nghiêng về an ninh trên biển, cứu hộ cứu nạn. Gân đây, Đài Loan cử tàu của Cục Hải Tuần đến đảo Thái Bình (Ba Bình), có tin Mã Anh Cửu muốn đến đảo Thái Bình (Ba Bình) tuyên bố chủ quyền, đây là những dấu hiệu tích cực giữa hai bờ trong việc cùng bảo vệ quyên lợi biển từ nay về sau. TQ cần xuất phát từ tầm cao chiến lược, từ ổn định lâu dài của quốc gia, từ bảo vệ ổn định xã hội để nhận  thức vấn đề biển, đẩy nhanh chiến lược biểnTQ trong thời kỳ mới. Cần học tập kinh nghiệm của các cường quốc biển như Mỹ, Nhật. Các nước Nga, Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, Ấn Độ trên thực tế đều có chiến lược biển tương ứng, Trung Quốc nên chăng cũng cần có chiến lược biển vào thời điểm thích hợp. Ngoài ra, TQ cần xây dựng mối quan hệ hài hòa với láng giềng, tích cực tham gia vào các công việc biển với láng giềng. Hiện nay trong nội bộ các nước láng giềng ở  Biển Đông đang dần hình thành một nhận thức chung đối với TQ, chưa nói đến hoàn toàn nhất trí nhưng những nước nói thay cho TQ ít. Gần đây, Singapore cũng công khai yêu cầu TQ phải xác định rõ chủ trương lợi ích của TQ trên vấn đề Biển Đông. Ngoài ra chính là việc bảo vệ quyền lợi biển của TQ, cần đẩy mạnh công tác đối với các tổ chức biển liên quan của LHQ. Hiện nay trên vấn đề Biển Đông một số ý kiến học giả cũng cho rằng cần nghiêm túc tuân thủ Công ước luật biển, Công ước là một pháp nhân để giải quyết vấn đề Biển Đông. Tuy nhiên Công ước chỉ giải quyết việc phân định các vùng biển, vấn đề Biển Đông ngoài tranh chấp phân định còn có  tranh chấp chủ quyền, tranh chấp chủ quyền dựa vào Công ước thì không thể giãi quyết được. Công ước không có sự ràng buộc để quy phạm TQ bàn về tranh chấp lãnh thổ với các nước xung quanh.

Mã Hiệu Quân: Thông thường, tranh chấp lãnh thổ giữa các quốc gia về bản chất là vấn đề phân định. Nếu anh không muốn thông qua đàm phán hòa bình giải quyết thì chỉ cỏ cách thông qua con đường chiến tranh để giải quyết, trong cộng đồng quốc tế ngày nay, con đường đó càng đi càng hẹp.

Vương San: Còn có một vấn đề khá truyền thống là làm phong phú sức mạnh trên biển, xây dựng hệ thống phòng vệ tổng hợp. Ai nấy đều biết thực lực hải quân chính là cơ sở vật chất của quyền lợi biển.

Ngô Kê Lục: Về vấn đề thứ nhất chỉnh là vấn đề giữa biển với sự phát triển, an ninh của TQ. Nói chung bây giờ là thời đại biển. TQ ngày càng phụ thuộc vào biển, lợi ích trên biển cũng ngày một nhiều. Trong các vùng biển Bột Hải, Hoàng Hải, Biền Hoa Đông và Biển Đông thì Biển Đông là nơi tranh chấp phức tạp nhất trên thế giới.

Về những thách thức và cơ hội đối với quyền lợi biển của TQ, TQ trước tiên cần làm rõ quyền lợi bản là gì? Hiện nay nhiều người đánh đồng khái niệm quyền lợi biển, hải quyền, quyền sử dụng biển làm một. “Quyền lợi biển" đã được nhắc đến trong lập pháp của TQ, gồm 2 mặt là quyền lợi và lợi ích. Sự khác biệt là quyền lợi "right" được pháp luật quy định rõ, còn lợi ích thì mỗi nước có cách hiệu khác nhau, như Mỹ thì cho rằng hải quân của họ tự do đi lại khắp toàn cầu là lợi ích của mình, có nước lại nghiêng về lợi ích nghề cá, an ninh. Nói một cách nghiêm chỉnh thì quyền lợi biển không bao gồm chủ quyền các đảo, chủ quyền đối với các đảo cao hơn nhiều so với quyền lợi biển, nếu không có chủ quyền các đảo thì cùng không có các quyền lợi biển kèm theo chủ quyền các đảo nữa. Đất thống trị biển, đây là một.tư tưởng quan trọng của luật biển. Chủ quyền các đảo là cao nhất, quyền lợi biển kèm theo nó là thứ phát sinh. Quyền lợi biển của TQ không phải là vấn đề các vùng biển xung quanh mà bao gồm cả các vùng biển quốc tế, biển sâu và mặt biển, khu vực Nam Bắc cực, và TQ cũng có quyền lợi bên trên mặt biển của các nước khác. Khi bàn về quyền lợi biển, nghiên cứu xây dựng chiến lược biển của Trung Quốc cần có cái nhìn toàn cầu, không nên chỉ tập trung vào các khu vực biển gần.

Nói đến những thách thức đối với quyền lợi biển của TQ, có 3 vấn đề: Các nước xung quanh chú trọng hơn vào vấn đề biển và quyền lợi biền, khả năng có liên quan cũng đã được nâng cao. Ví dụ như Nhật Bản đã ban hành luật biên cơ bản, Việt Nam đặt ra chiến lược biển đến 2020; thứ hai là sự liên kết giữa các nước quanh Biển Đông ngày càng nổi bật, đặc biệt từ năm 2009, sự giao lưu trao đổi giữa các nước này diễn ra nhiều, ngày càng liên kết lại với nhau để đối phó với TQ trên một số vấn đề quan trọng. Một động thái gần đây là vấn đề các đảo, cụ thể là vấn đề vai trò của luật pháp và hiệu lực phân định đối với các đảo, đá Trường Sa. Các nước trong khu vực dường như nghiêng về việc các đảo, đá này về luật pháp là đá chứ không phải đảo, không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, đồng thời không có hiệu lực trong việc phân định. Có nghĩa là khi phân định thì tính đất liền với đất liền, bỏ qua đảo. Những đảo này bị lờ đi trong khi phân giới, như vậy hiệu quả của việc phân giới như thế nào? Tứ đất liền của mình họ sẽ dồn vào giữa và như vậy Biển Đông  chỉ còn là một khoảng nhỏ. Nếu như chủ trương này thành hiện thực thì sẽ tác động lớn đến việc phân định và khai thác tài nguyên biển; thứ ba, các nước ngoài khu vực can thiệp vào, đây là việc bình thường và không thể né tránh được. Các nước có liên quan nhúng tay vào vấn đề Biển Đông với  mục đích khác nhau, cách thức cũng khác nhau nhưng tổng thể thì đều khiến tình hình thêm phức tạp. Từ khía cạnh này thì vấn đề Biển Đông  không còn là vấn đề vốn có của nó nữa mà còn là sự giao nhau, chạm chán về lợi ích chiến lược của một số nước.

Về cơ hội của quyền lợi biển TQ, chủ yếu có 3 khía cạnh: (i) TQ ngày càng coi trọng; (ii) khả năng bảo vệ quyền lợi biển đã mạnh lên; (iii) TQ có ưu thế về căn cứ pháp lý và lịch sử. Từ cấp cao đến dân thường đều có sự coi trọng nhiều hơn đến vấn đề Biển Đông và quyền lợi biển trong thời gian quan qua. Về tầng quốc gia, quy hoạch 5 năm lần thứ 12 của TQ có 100 chữ nói riêng về vấn đê biển, bao gồm cần bảo vệ chủ quyền lãnh thổ biển, xây dựng chiến lược quốc gia, bảo vệ quyền lợi biền, phát triển kinh tế biển…Về khả năng xây dựng, việc điều tra, chấp pháp, an ninh trên biển của TQ được nâng lên khá mạnh. Về cơ sở lịch sử và pháp lý đối với chủ quyền các đảo, đá Trường Sa, căn cứ của TQ có thể đứng vừng, có sức thuyết phục hơn cả.

Hậu Nghị: Biển có quan hệ chặt chẽ đến sự thịnh suy của quốc gia, nhà nước cần tăng đầu tư

Sự phát triển sức mạnh biển của TQ bao gồm phát triển kinh tế biển đều thể hiện sự thịnh suy của quốc gia. Ví dụ các thời Đường, Tống, Minh, kinh tế kỹ thuật của TQ đều đứng vào hàng đầu thế giới, lúc đó kinh tế biển, sức mạnh biển của TQ cũng rất phát triển. Thời nhà Thanh, thương mại giữa TQ và cá nước Đông Nam Á rất nhộn nhịp.

Sự suy yếu của TQ bắt đầu từ biển. Do sự hạn chế của giới thống trị phong kiến, sự phát triển về thương mại trên biển, khoa học kỹ thuật hàng hải, hải quân chịu ảnh hưởng nặng nề. Năm 1840 , chiến tranh Nha phiến nổ ra, TQ bắt đầu chìm vào xã hội nửa phong kiến nửa thực dân. Năm 1985, chiến tranh Trung - Nhật, sư đoàn thủy quân mạnh nhất châu Á của TQ khi đó bị chìm toàn bộ. Năm 1900, liên quân 8 nước tấn công, TQ hoàn toàn chìm trong chế độ nửa thực dân.

TQ là nước coi  trọng đất liền có truyền thống, lâu nay, chiến lược phát triển biển của TQ mờ nhạt không rõ ràng, chưa thành hình. Việc này thể hiện rõ khi so sánh với một số nước như Nhật Bản và Việt Nam, đặc biệt là Việt Nam, họ coi biển là mạch phát triển của quốc gia. Chỉ cần đọc báo Việt Nam, qua những phát biểu của lãnh đạo VN, các hội nghị quan trọng của Đảng và nhà nước đều có thể thấy các nội dung liên quan đến chiến lược phát triển biển và chiến lược đó đã được đưa vào trong Nghị quyết quan trọng của Đảng và nhà nước Việt Nam.

An ninh quốc gia của TQ bao gồm 2 nội dung, một là an ninh lãnh hải, an ninh chính trị và an ninh địa chính tri. Ngoài ra, chủ yếu vẫn là vấn đề an ninh năng lượng. Biển Đông là con đường vận chuyển năng lượng trên biển chủ yếu của TQ. Địa chính trị khu vực Biển Đông phức tạp, nếu một khi bị phong tỏa, thì tương đối phiền phức.

Để giải quyết vấn đề trong chiến lược biển của TQ, tôi cho rằng, một mặt cần giải quyết vấn đề nhân tài. Hiện nay, nhân tài về biển của TQ bị thiếu do ảnh hưởng của môi trường phát triển kinh tế xã hội của TQ, một bộ phận nhân tài chuyên ngành. Mặt khác, công tác biển đòi hỏi nhân tài cần hội đủ nhiều nhân tố, đều phải nắm bắt được các vấn đề như chính tri, lịch sử và luật pháp quốc tế hiện đại mới có thể trình bày được quan điểm của mình tại diễn đàn và hội nghị quốc tế, nên yêu cầu rất cao. TQ là nước lớn, dân số đông, chỉ cần đẩy mạnh đầu tư thì sẽ có khởi sắc.

Chúng ta cần phải tăng cường công tác tuyên truyền bên ngoài, các căn cứ lịch sử, pháp lý mà chúng ta có được về Hoàng Sa và Trường Sa là rất đầy đủ, nhưng rất nhiều người nước ngoài không biết điều này. Chúng ta bị thua ngay ở vấn đề quyền phát ngôn và tuyên truyền ra bên ngoài. Chỉ thảo luận trong chúng ta thì không có ý nghĩa thực tế gì. Hiện nay, mọi người nhìn bản đồ cảm thấy “đường 9 đoạn" của chúng ta sao lại vẽ đến của nhà của người khác. TQ là nước lớn, đối với những người không hiểu lịch sứ, rất dễ hình thành quan niệm nước lớn bắt nạt nước nhỏ. Trong lĩnh vực tuyên truyền ra bên ngoài, chúng ta cần phải làm có kết quả và đẩy mạnh đầu tư cho nó.

Về vấn đề bảo vệ quyền lợi biển của TQ, nhũng năm  gần đây và từ năm ngoái đến nay, do xảy ra nhiều việc, dường như cách nhìn đều cho  rằng tình hình vô cùng nghiêm trọng, có một số học giả đầu ngành trong lĩnh vực quan hệ quốc tế dường như cũng coi vấn đề là vô cùng nghiêm trọng. Nhưng tôi luôn cho rằng, toàn bộ môi trường quốc tế của TQ càng ngày càng tốt. Cùng với sự lớn mạnh và trưởng thành của TQ, trong khi môi trường quốc tế ngày càng có lợi cho TQ, không thể nói tình hình an ninh TQ lại rất nghiêm trọng. Đây là phán đoán mâu thuẫn, về cục bộ xuất hiện một số vấn đề, cần phái đặt nó vào môi trường xung quanh để nhìn nhận. Do vậy, khi có vấn đề, bàn đến những thách thức và cơ hội mà quyền lợi biển gặp phải, cơ hội là nhiều hơn. Nếu chúng ta chỉ thấy tình hình nghiêm trọng, mà xem nhẹ hoặc không coi trọng đúng mức việc chuyển nguy cơ thành cơ hội thì không được.

Mã Tiểu Quân: Tình hình biển hiện nay xung quanh Trung Quốc không phải là thời kỳ xấu nhất

Bàn về vấn đề biển hiện nay, đầu tiên cần phải phán đoán tình hình một cách thực sự cầu thị. Từ trước tới nay, luôn có người nói rằng tình hình trên vùng biển xung quanh TQ hiện nay đang ở thời kỳ nghiêm trọng nhất. Cá nhân tôi lại không cho là như vậy. Nhìn lại thời kỳ chiến tranh Lạnh, Mỹ thực hiện chủ nghĩa Eisenhower, dựa vào một số nước nhỏ xung quanh TQ để xây dựng chuỗi đảo thứ nhất, chuỗi đảo thứ hai, với ý đồ bao vây TQ, nhằm ngăn chặn sự mở rộng của cái gọi là chủ nghĩa cộng sản tại khu vực Tây Thái Bình Dương và Đông Á. Tình hình của thập niên 50 không nghiêm trọng bằng hiện nay sao? Khi đó hài quân TQ dường như chưa có, toàn bộ khu vực Đông Á không chi là tình hình biển mà toàn bộ tình hình chiến lược nghiêm trọng hơn hiện nay rất nhiều. Khi đó hạm đội 7 của Mỹ thường xuyên đi lại trên eo biển Đài Loan, Chinh phủ TQ tổng cộng đưa ra hơn 800 lần kháng nghị ngoại giao. Sau năm 1975 , Liên Xô thường trú tại cảng Cam Ranh, Mỹ đóng tại Subic, những căn cứ hải - không quân lớn nhất thế giới đều ở xung quanh TQ. Tình hình khi đó có nghiêm trọng hơn hiện nay không?  

Bàn về vấn đề biển, phán đoán tình hình vẫn là vị trí số 1. Hiện nay không phải là thời kỳ tình hình trên biển nghiêm trọng nhất trong lịch sử TQ mới, đây là một sự thực cơ bản. So với thập niên 50 đến thập niên 80, phán đoán này hoàn toàn đứng vững. Hiện nay là thời kỳ tình hình biển tốt nhất trong 62 năm xây dựng TQ mới. Phán đoán này xuất phát từ việc hiện nay là thời kỳ môi trường chiến lược quốc tế tốt nhất trong lịch sử TQ. TQ hiện là nước thương mại trên biển lớn nhất thế giới, có đội ngũ tàu thương mại to lớn, đánh bắt thủy sản trên biển là một trong những nước lớn nhất thế giới, có đội ngũ nhân viên biển lớn nhất toàn cầu, công tác đóng tàu trọng tải lớn cũng nhiều nhất thế giới . Đây đều là sự thể hiện của cường quốc biển, trong cục diện quốc tế hiện nay, đối với Trung Quốc, điều cần suy nghĩ hàng đầu là những nhân tố này, cho dù nhìn từ góc độ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, hiện nay không phải là thời kỳ tình hình nghiêm trọng nhất trong lịch sử.

Tiếp theo, nếu nói rằng tinh hình biển xung quanh TQ đang có chuyển biến, sự chuyển biến này có 2 phương diện: Một là, lực lượng của chúng ta lớn, các nước xung quanh, nhất là nước nhỏ đương nhiên có phản ứng. Đây là phản ứng tự nhiên xét về địa chính trị, là sự phản ứng mang tính vật lý, thậm chí là sự phản ứng lý tính. Một khi nước nhỏ căng thẳng, tự nhiên cần tìm một nước lớn để làm chỗ dựa. Hai là, sau khi Luật biển LHQ công bố và thực thi, ý thức quốc gia biển, đòi hỏi chủ quyền của một số nước xung quanh TQ bắt đầu nổi lên. Đây là điều rất tự nhiên. Trên thực tế, trong thực tiễn phân định biên giới với 12 nước láng giềng trên bộ, tiền đề cơ bản nhất của đàm phán phân định trong quá trình đàm phán, việc tôn trọng lẫn nhau đối với đòi hỏi chủ quyền lãnh thổ mà bên kia đưa ra. Đương nhiên, bạn có thể không đồng ý với chủ trương của họ, nhưng kết quả không tôn trọng quyền lợi mà đối phương đưa ra thì hai bên đàm phán như thế nào? Ngay cả ngồi lại với nhau cũng không thể. Mắc dù hai bên đã nhận định giải quyết  vấn đề cuối cùng vẫn là con đường đám phán ngoại giao, cần phải tôn trọng quyền lợi đòi hỏi chủ quyền của đối phương.

Gần đây, Thứ trưởng NG Việt Nam thăm Bắc Kinh. Tôi đặc biệt quan tâm đến tin do Tân Hoa Xã đưa. Bản tin do Tân Hoa Xã đưa đã nói 5 ý. Thứ nhất, hội đàm giữa hai bên là nhằm thực hiện nhận thức chung mà Lãnh đạo cấp cao hai bên đạt được trong vấn đề Biển Đông. Trước cuộc gặp giữa thứ trưởng NG Việt Nam với Đới Bỉnh Quốc, lãnh đạo hai bên đã trực tiếp hoặc gián tiếp bày tỏ rõ ràng chủ trương và lập trường đối với vấn đề này, sau đó, cuộc tiếp xúc giữa hai bên là cấp chuyên gia nhằm thực hiện hơn nữa việc này. Thứ hai, hai bên cần cùng nhau giải quyết vấn đề một cách hòa bình. Thứ ba, điều mà từ trước tới nay chưa từng có: hai bên Trung - Việt cần định hướng dư luận theo hướng hữu nghị. Thứ tư, điệu tuyệt vời hơn, hai bên cần sớm thương thảo và ký kết "Thỏa thuận nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển". Thứ năm, cần trên cơ sở song phương, thúc đẩy thực hiện DOC, tức văn kiện năm 2002. Tôi cho rằng, lãnh đạo TQ xử lý vấn đề này vô cùng lý tính, hiểu rõ đòi hỏi lợi ích chiến lược của tự thân TQ. Chính sách ngoại giao của TQ không hề bị truyền thông trong nước dẫn dắt, cũng không bị dẫn dắt bởi cái gọi là một sô chuyên gia và sự quá khích của một số ý kiến nhân dân. Hoạch định chiến lược quốc tế của TQ xuất phát từ những tính toán tình hình chiến lược lớn hơn.

Quách Chấn Viễn: Hai vấn đề tất yếu để giải quyết cuối cùng vấn đề Biển Đông

Tình hình hiện nay là đan xen giữa mâu thuẫn cục bộ gia tăng và môi trường lớn tổng thể tốt đẹp. Sự tồn tại đan xen này đã tạo ra tính phức tạp khi xử lý các vấn đề cụ thể, điều này cũng là vấn đề cho chúng ta suy nghĩ, đối mặt với tình hình phức tạp đó, chúng ta làm như thế nào, đây là thử thách đích thực đối với chúng ta.

Bàn về vấn đề mà người ta đều rất quan tâm, vấn đề Biển Đông, cũng là sự tồn tại giữa nhân tố có lợi và bất lợi. Ví dụ như câu nói của Đặng Tiểu Bình, chủ quyền thuộc về ta, gác tranh chấp, cùng khai thác. Nói thẳng thắn, đây là một tiền lệ không thành công trong 20 năm qua, đó là sự thực. Nhưng cần phân tích kỹ, tôi cho rằng giải quyết cuối cùng vấn để Biển Đông chỉ có đi theo con đường này, nếu không chỉ có đánh nhau. Từ tình hình hiện nay, bất kỳ nước đương sự nào đều không có nước nào muốn sử dụng vũ lực để giải quyết. Nếu có thể thực hiện gác tranh chấp, cùng khai thác có 2 điều kiện tất yếu: thứ nhất, nước đương sự đều nhận thức được cần phải đi theo con đường đàm phán hòa bình, cần có nhận thức này, đây là tiền đề. Thứ hai, lợi ích cùng khai thác nó tạo ra sức thu hút to lớn. Kết hợp hai điều kiện này mới có thể thực hiện gác tranh chấp, cùng khai thác, không có hai điều kiện này, thì rất khó để thực hiện gác tranh chấp, cùng khai thác. Làm thế nào thúc đẩy thực hiện vấn đề này, đây là điều mà chúng ta cần làm, cần suy nghĩ và cần tuyên truyền. Nói tóm lại, không phải là chúng ta không làm được gì, mà cần phải làm tích cực hơn. Mục đích theo đuổi cuối cùng của chúng ta là ở tầng nấc cao, tầng nấc cụ thể, có mục tiêu lâu dài và mục tiêu trước mắt. Trong vấn đề Biển Đông, tôi nghiêng về khả năng giải quyết khu vực cục bộ và vấn đề cục bộ. Khụ vực cục bộ và vấn đề cục bộ có hàm ý chiến lược của nó, song khi làm cụ thể cần cục bộ hóa, không nên toàn cục hóa.

Vương San: Ỷ thức từ biển là cơ hội từ biển

Môi trường biển của TQ đúng là đối mặt với một số cơ hội. Vì Công ước luật biền của LHQ thực tế là một cơ chế, không có sức ràng buộc, ở một mức độ nào đó thì nó chỉ đạo việc phân định biển giữa các quốc gia liên quan. Ngoài ra Công ước luật biển của LHQ từ ngày ra đời, là sàn phẩm thỏa hiệp của các bên, mọi người đều biết, năm 1972 TQ gia nhập LHQ. Trên thực tế, từ hội nghị về luật biển LHQ lần đầu tiên, TQ chưa tham dự, khi đó TQ chưa có ghế tại LHQ. Đúng năm 1972, sau khi chúng ta khôi phục ghế hợp pháp tại Liên Hợp Quốc, tham dự hội nghị luật biển Liên Hợp Quốc cũng trở thành một vũ đài quốc tế quan trong việc triển khai ngoại giao TQ. Khi đó, ý thức về biển của TQ kém xa so với hiện nay, hơn nữa đối với những khái niệm khu đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, bao gồm cả những lợi ích trong nó, chúng ta có thể cũng chưa nhận thức rõ ràng và sâu sắc. Nên tôi nghĩ rằng đó là một số vấn đề sau này của chúng ta. Vì sao Mỹ chưa tham gia "Công ước luật biển của LHQ", tôi nghĩ có thể liên quan đến nhận thức lâu dài của Mỹ đối với quyền lợi biển.

Mã Tiểu Quân: Trên thực tế, những năm gần đây, Mỹ đang tích cực tham gia. Là quốc gia biển của hai đại dương, nhưng Mỹ không tồn tại tranh chấp biển với bất kỳ quốc gia nào, trước kia họ không ký kết chủ yếu là vấn đề tự do lưu thông hàng hải quốc tế. Hiện nay trên thực tế không tồn tại vấn đề đó, do vậy tính tích cực được nâng lên. Một khi Mỹ tham dự thì sẽ đi đầu, đồng thời dùng thứ đó để trói buộc Trung Quốc. Trung Quốc cần phải cảnh giác.

Vương San: Trên thực tế, Mỹ đã ký kết, nhưng chưa phê chuẩn. Một nguyên nhân rất lớn là dường như phía quân đội phản đôi mạnh, cho rằng “Công ước luật biển của LHQ" hạn chế rất nhiêu hoạt động của quân đội trên biển. Có một điều nữa là, nếu Mỹ tham gia, Mỹ sẽ muốn đi đầu

Hàn Phong: Thách thức của vấn đề trên biển cần phân biệt rõ, không nên thù địch với các nước tranh chấp

Về thách thức, nhìn từ bên ngoài có thể thấy vấn đề TQ lo ngại nhất là sự can thiệp, chiến lược quay trở lại ĐNA và việc vận dụng thực lực mềm của Mỹ, nhưng trên thực tế hiệu quả vẫn có hạn và có tính co giãn. Mỹ sẽ không can thiệp quân sự vào tranh chấp lãnh thổ ở nấc cuối cùng kể cả đối với đồng minh, điều này là rõ ràng. Mỹ đưa ra phương thức giải quyết đa phương, nêu vấn đề an toàn hàng hải, ổn định khu vực, nhưng về mặt lợi ích chiến lược lại không muốn gánh vác trách nhiệm đối với khu vực tranh chấp, ít nhất là hiện nay Mỹ chưa nghĩ tới vấn đề này.

Thách thức từ bên ngoài còn đến từ ASEAN, đó là vấn đề liên kết đồng minh của ASEAN. ASEAN có một nguyên tắc chính trị bất thành văn đó là lợi ích của các nước đương sự là trên hết. Lần này cũng vậy, điều phối lẫn nhau nhiều nhất là giữa Việt Nam, Philippines và Malaysia. Và thêm Indonesia cũng muốn cầm đầu một lần nữa để điều phối với TQ. Ngoài ra còn một nguyên tắc nữa, khi các nước ASEAN khác không có lợi ích trong đó thì không thể dễ dàng nói không. Có thể thấy các nước tương đối tốt với TQ như Lào, CPC trong những lúc then chốt đều im lặng. Singapore là nước phụ thuộc lớn nhất vào biển, do đó nếu khu vực có vấn đề thì họ sẽ không thể chịu đựng nổi. Do đó, TQ cần phân biệt đối xử, không thể đặt tất cả các nước ASEAN trên một mặt bằng. Sự chênh lệch phát triển của các nước ASEAN cũng rất lớn, TQ cần phân biệt lợi ích, lợi hại của các nước ASEAN theo các mức độ khác nhau để đối xử.

Hiểu Quân: Không nên coi các nước tranh chấp lả kẻ thù, điểm này rất quan trọng. Không thể nói Việt Nam và Philippines đưa ra đòi hỏi thì coi họ là kẻ thù. Khi chưa đánh nhau thì không phải là kẻ thù.

Hàn Phong: an toàn hàng hải có lợi ích chung, cần hiểu ASEAN

Còn có một vấn đề đã xuất hiện nhiều lần là hiệu ứng nước nhỏ hay lợi thế nước nhỏ. Đó là khi nước nhỏ đấu tranh với nước lớn hay khi xảy ra tranh chấp thì nước nhỏ dù có lý hay không có lý thì vẫn thường được cho là có lý. TQ là nước lớn nhất trong khu vực nên rất khó có lý. TQ cần bảo vệ cơ chế hiện hành có lợi cho mình và cho ổn định khu vực. Không thể nói Mỹ can thiệp vào khu vực này là chống TQ, kể cả muốn chống cũng cần phận biệt. Tàu thuyên của Mỹ cần an toàn và tàu thuyền của Trung Quốc cũng cần an toàn, nếu làm tàu thuyền bị chìm hoặc đánh nhau, thả mìn, đối với ai cũng đều không thể được. Do đó TQ cần tiến hành diễn tập quân sự với Mỹ, Úc… Bởi vì khu vực này hết sức quan trọng, nếu thực sự xảy ra vấn đề thì không chỉ TQ có vấn đề mà những nước này đều có vấn đề. Chúng ta đều có lợi ích chung nhưng trước đây nhấn mạnh chưa đủ. Khu vực này đều có lợi cho tất cả các nước.

Đối với ASEAN, TQ đã làm được rất nhiều việc thành công. Hiện nay họ lo ngại đối với chiến lược của TQ là việc bình thường. TQ cần phải hiểu, trước cửa nhà anh một người to lớn, những thứ trong tay anh ta ngày càng nhiều, do đó cần phải nói rõ với họ. Thực ra chiến lược khu vực của ASEAN là không muốn lôi kéo các nước lớn vào, nhưng họ muốn duy trì cân bằng nước lớn, TQ cũng bị kéo vào. Chúng ta không nên nói ASEAN muốn liên minh với Mỹ để chống lại TQ, đó là kết luận quá đơn giản. Nếu cứ có kiểu tư duy như vậy, chúng ta sẽ đẩy các nước này lại với nhau, đối đầu với TQ, trên thực tế chưa nghiêm trọng như vậy. Ví dụ, Việt Nam thực ra quan hệ với Đảng CS TQ vẫn rất tốt. Tranh chấp lãnh thổ không phải tối hôm qua mới xảy ra, mà tính muộn nhất là bắt đầu từ thập kỷ 70, đến nay đã hơn 30 năm, đo đó chúng ta cần có lòng tin chiến lược.

Ngô Kế Lục: Mở rộng lợi ích chung, giảm bớt bất đồng

TQ mấy năm nay ra sức thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực ít nhạy cảm ở Biển Đông như khảo sát khoa học, bảo vệ môi trường, giảm nhẹ thiên tai, đã có hiệu quả và tiến triển lớn, như là hợp tác với Indonesta và Malaysia. Một số dự án hợp tác đã trở thành hình mẫu trong họp tác trên biển ở Đông Á. Ở Biển Đông, chúng ta có thể hợp tác nhiều hơn. Ví dụ, có thể xây dựng khu bào tồn thiên nhiên Trường Sa, bảo vệ môi trường tự nhiên và tài nguyên biển ở Trường Sa. Biển Đông cũng có vấn đề cướp biển, TQ có thể chủ động đề xướng xây dựng cơ chế an ninh khu vực trong lĩnh vực chống cướp biển. Cố gắng mở rộng điểm đồng và lợi ích chung, giảm bớt bất đồng, làm nhiều việc hơn theo hướng này.

Quách Chấn Viễn: Kết luận

Tóm lại, đối với vấn đề trên biển giữa TQ với các nước láng giềng cần thúc đẩy phát triển lợi ích chung hơn nữa, trong quá trình đó cần không ngừng triệt tiêu mâu thuẫn và xung đột song phương. Đây là sự tính toán cơ bản. Hai là, đây là một quá trình lịch sử, hình thành từ lịch sử, ít nhất đã có mấy chục năm lịch sử, do đó không nên nghĩ rằng một hai năm có thể giải quyết được. Lịch sử đã chứng minh vấn đề phức tạp nhất là tranh chấp chủ quyền lãnh thổ giữa các nước. Do đó cần phải kiên định lòng tin, không ngừng phát triển lợi ích chung, giải quyết mâu thuẫn và xung đột, đồng thời không nên nóng vội. TQ là một nước lớn đang lên nhanh thi càng phải rộng lượng. Có vấn đề thì giải quyết, nhất thời không giải quyết được thì giải quyết từ từ. "Gác tranh chấp” không thể nói không thể giải quyết được, chỉ có điều không nên nóng vội.

Bản gốc tiếng Trung 评论坛:中国海洋权益与海洋战略

Theo China Review News

Hoàng Loan, cộng tác viên tại Bắc Kinh

 

Ngoài vấn đề tự do hàng hải, giới phân tích cho rằng vị trí chiến lược của Biển Đông còn ẩn chứa đằng sau nó những toan tính khác của các cường quốc.

 

  

Tranh chấp lãnh hải trên Biển Đông đang gia tăng đến mức giống như một điểm va chạm chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc sau một cuộc tranh cãi khó chịu giữa chính phủ hai nước này. Bộ Ngoại giao Mỹ chỉ trích kế hoạch của Trung Quốc đặt một đơn vị quân đội đồn trú trên quần đảo Hoàng Sa, nhấn mạnh rằng hành động này sẽ làm gia tăng căng thẳng quốc tế. Bắc Kinh đã đáp trả rằng Mỹ nên để ý đến việc của chính mình hơn là “chõ mũi vào chuyện của nước khác.”

Nhiều nhà quan sát đặt câu hỏi tại sao Oasinhtơn và Bắc Kinh lại đang cho phép một sự kích động mới bùng nổ trong mối quan hệ quan trọng đến mức không thể tính toán hết được giữa Mỹ và Trung Quốc. Điều không may là có sự hiểu lầm đang lan rộng về lý do cơ bản của Mỹ đối với sự can thiệp ngoại giao của Oasinhtơn vào một cuộc tranh chấp lãnh hải mà Mỹ không phải là bên tham gia tranh chấp. Mặc dù các quan chức Mỹ đã nêu ra một vài quan ngại cụ thể của Mỹ về các chính sách và hoạt động của Trung Quốc ở Biển Đông, nhưng điều mà Mỹ lo ngại nhiều nhất được hiểu một cách rộng rãi và được lặp đi lặp lại là mối đe dọa tiềm tàng đối với “tự do hàng hải:” Nước CHND Trung Hoa có thể tiến tới áp đặt các hạn chế đối với các tàu nước ngoài đi qua Biển Đông. Tuy nhiên, điều này không phải là vấn đề thực sự, mà vấn đề thực chất là sự hăm dọa, ỷ mạnh hiếp yếu.

Chắc chắn Mỹ là nước đưa ra đề xuất mạnh mẽ về tự do hàng hải ở các vùng biển quốc tế. Lập trường này không chỉ phản ánh cam kết của Mỹ đối với nguyên tắc tự do nói chung, mà còn phản ánh những lợi ích của một quốc gia thương mại với lực lượng hải quân giàu năng lực nhất thế giới. Khả năng nếu như tự do hàng hải ở Biển Đông lâm vào tình cảnh nguy hiểm, Mỹ sẽ xuất hiện để bảo vệ là điều không còn nghi ngờ. Tuy nhiên, hiện nay tự do hàng hải không phải là vấn đề ở Biển Đông.

Người Trung Quốc nói rằng họ không can thiệp vào hàng hải quốc tế ở Biển Đông và cũng không có ý định làm như vậy trong tương lai. Lập trường của họ có một số lý lẽ. Trung Quốc đặc biệt hay phàn nàn về sự giám sát của các tàu và máy bay Mỹ ở khu vực gần bờ biển Trung Quốc. Điều này đã dẫn đến một số vụ quấy nhiễu của Trung Quốc mà một số vụ đã được báo chí đăng tải. Công ước LHQ về Luật biển cho phép do thám hạn chế ở khu vực giữa các vùng nước trong lãnh hải của một nước – 12 hải lý – và giới hạn vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của nước đó (thường là 200 hải lý).

Người Trung Quốc tranh cãi rằng do thám không phải là “đi ngang qua một cách vô hại” và không nên cho phép thực hiện hành động đó ở trong EEZ. Đó không phải là một tranh cãi vô lý. Vì thế tình huống này đã dẫn đến một số vụ can thiệp của hải quân Mỹ vào “tự do hàng hải,” nhưng tình trạng này rất hạn chế và chỉ trong trường hợp đặc biệt. Tình huống khác, trong đó các tàu thuyền Trung Quốc can thiệp vào các tàu không phải của Trung Quốc là khi các con tàu đó tham gia các hoạt động liên quan đến việc khai thác các nguồn tài nguyên biển – như đánh bắt tôm cá hoặc chuẩn bị khoan lấy dầu mỏ, hoặc khi người nước ngoài đang nỗ lực bắt giữ các ngư dân Trung Quốc. Đây cũng là các trường hợp đặc biệt. Mặc khác, người Trung Quốc không can thiệp vào việc đi lại của các tàu chở hàng mang cờ Mỹ hay tàu của hải quân Mỹ đi qua Biển Đông. Do đó, người Trung Quốc khẳng định rằng tranh cãi về tự do hàng hải là điều không có thật – một lời khẳng định thuyết phục được nhiều nhà quan sát trung lập. Từ lập luận này, người Trung Quốc cáo buộc rằng người Mỹ đang sử dụng tự do hàng hải làm cái cớ để mở rộng chiến lược ngăn chặn sang Đông Nam Á, hạn chế ảnh hưởng của Trung Quốc và tuyển mộ thêm các đồng minh mới tham gia vòng vây quân sự mà Mỹ đang siết quanh Trung Quốc.

Như vậy, tranh luận về tự do hàng hải cơ bản sẽ tiếp tục tồn tại. Đúng hơn, điều mà Chính phủ Mỹ sẽ nói rằng do hàng hải làm cho thế giới an toàn và tránh khỏi sự áp bức là trái với luật pháp quốc tế. Điều mỉa mai là Trung Quốc đã bắt đầu thực hiện điều mà các nhà ngoại giao nước này đã lên án trong nhiều thập kỷ là “chủ nghĩa bá quyền” hay “chính trị cường quyền” – hành động của các nước mạnh ép buộc các nước nhỏ hơn phải ưu tiên các quyền lợi riêng của các nước mạnh. 6 chính phủ tuyên bố là chủ sở hữu một số vùng ở Biển Đông. Trung Quốc không phải là nước duy nhất tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông đã đơn phương tăng cường sự kiểm soát của họ đối với các vùng lãnh hải và nguồn tài nguyên ở Biển Đông trong những năm gần đây. Tuy nhiên, Trung Quốc đã tách biệt bản thân họ theo hai cách quan trọng và tiêu cực.
Đầu tiên, những tuyên bố của Trung Quốc đều là sự mở rộng bất thường và mơ hồ một cách có chủ đích. Bắc Kinh đã ngang ngược từ chối xác định những tuyên bố của họ dựa trên những quy định trong Công ước LHQ về Luật biển, trong đó Trung Quốc là một nước đã ký công ước. Đây là một phần trong chiến lược nhập nhằng mơ hồ mà Trung Quốc đang áp dụng để cố gắng giảm thiểu những lo ngại của thế giới và để tránh bị kiềm chế bởi Công ước LHQ về Luật biển trong khi vẫn thực hiện các hành động nhằm đe dọa các đối thủ tuyên bố chủ quyền khác ở Biển Đông.

Thứ hai, các hành động mà Trung Quốc đã thực hiện nhằm khẳng định chủ quyền đối với Biển Đông và “các hòn đảo” nhỏ của họ là mạnh mẽ hơn những hành động của các bên cũng tuyên bố chủ quyền khác. Những hành động này gồm có đe dọa và phá hoại các tàu nước ngoài, áp đặt lệnh cấm đánh bắt cá trong một khoảng thời gian trong năm trên một nửa Biển Đông và bắt giữ các ngư dân nước ngoài không tuân thủ lệnh cấm này. Gần đây, cũng có tuyên bố về việc tăng cường quân sự hóa của Trung Quốc trong khu vực – không chỉ là đơn vị đồn trú mới thành lập ở Tây Sa, mà còn là thông báo của người phát ngôn quân đội Cảnh Nhạn Sinh hồi tháng 6 rằng Trung Quốc đã bắt đầu tiến hành “các hoạt động tuần tra thông thường và tuần tra sẵn sàng chiến đấu” ở Biển Đông. Các hành động của Trung Quốc đang là mối đe dọa bởi vì Trung Quốc là nước lớn. Không có quốc gia nào ở Đông Nam Á có thể đối chọi được với sức mạnh quân sự của Trung Quốc trên Biển Đông. Tỷ trọng kinh tế lớn, tỷ lệ tăng trưởng nhanh và cam kết tăng cường các lực lượng quân sự của Trung Quốc đảm bảo rằng khoảng cách sức mạnh giữa Trung Quốc và các nước Đông Nam Á sẽ chỉ gia tăng nhiều hơn trong tương lai. Để làm cho cuộc tranh chấp nghiêng hơn hẳn về một bên, Chính phủ Trung Quốc gần đây đã công bố các kế hoạch tăng cường mạnh mẽ số lượng tàu tuần tra gần như là tàu quân sự - do lực lượng bảo vệ bờ biển và các cơ quan khác điều hành – mà Trung Quốc sẽ triển khai tới Biển Đông.

Hậu quả là chiến lược trên của Trung Quốc trở thành ảo tưởng giữa hai cường quốc về trật tự quốc tế ở châu Á. Ảo tưởng của Mỹ bao gồm một hệ thống các quy tắc và luật pháp quốc tế mà theo đó đảm bảo rằng trong số nhiều vấn đề, các nước nhỏ được bảo vệ trước các nước lớn hơn và các thủ tục giải quyết tranh chấp sẽ công bằng. Ở phía bên kia, Trung Quốc có vẻ như muốn khôi phục một phạm vi ảnh hưởng của người Trung Quốc ở Đông Á và Đông Nam Á như nước này đã từng có được thời xưa. Theo sự dàn xếp này, các nguyên tắc về ảnh hưởng quốc tế sẽ phản ánh các lợi ích cơ bản của Trung Quốc. Bắc Kinh sẽ mong đợi các chính phủ trong khu vực không thực hiện các quyết định lớn đi ngược lại mong muốn của Trung Quốc. Sự thiếu thiện chí của Trung Quốc hiện nay trong việc đặt nền móng cho các tuyên bố của Bắc Kinh theo Công ước LHQ về Luật Biển có lẽ phản ánh ý nghĩ là bộ luật gần như hoàn toàn do phương Tây viết ra này sẽ không cần thiết khi Trung Quốc khôi phục được vị trí thống trị khu vực trong lịch sử. Một số nhà quan sát coi cuộc cạnh tranh Trung-Mỹ ở Biển Đông đơn giản là một cuộc khẩu chiến giữa hai cường quốc mà cả hai đều đang tìm cách thống trị khu vực, với mỗi nước đều hành động vì lợi ích bá chủ riêng của mình hơn là bảo vệ một số nguyên tắc cao hơn. Tuy nhiên, trong trường hợp này, sự can thiệp của Mỹ rõ ràng cùng chiến tuyến với những lợi ích của các quốc gia Đông Nam Á, những nước tìm cách tránh sự thống trị của Trung Quốc hoặc bất kỳ cường quốc nào khác. Trung Quốc hiện đang tìm cách thực hiện một trật tự theo mong muốn của nước này, trong khi Mỹ thì đang tìm cách đảm bảo rằng các quốc gia nhỏ hơn không bị nghiền nát bởi Trung Quốc. Đây là một vấn đề thực tế và các quan chức Mỹ cần làm rõ điều này./.

Theo "Asia sentinel" (ngày 5/9)

Vũ Hiền (gt)

 

 

Ngôn ngữ