23 - 9 - 2019 | 16:19
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home
Tag:Trung Quốc

Bộ phận dự báo, phân tích và tư vấn rủi ro (EIU) thuộc Tạp chí Nhà Kinh tế (Anh) ngày 16/5 đưa ra nhận định của cơ quan nghiên cứu uy tín này về khả năng bùng phát xung đột tại Biển Đông sau những đụng độ mới đây giữa Trung Quốc và Philíppin, đồng thời đánh giá về khả năng hợp tác cùng khai thác giữa Philíppin và Trung Quốc.

 

Những căng thẳng giữa Trung Quốc và Philíppin về vùng lãnh thổ tranh chấp tại Biển Đông một lần nữa lại nổi lên trong những tuần gần đây. Thảo luận về khu vực phát triển chung (JDA) và các lệnh cấm đánh cá chồng lấn có thể sẽ giúp xóa bỏ một phần sự mất tin cậy lẫn nhau. Thêm vào đó, những khó khăn chính trị mà ông Chu Vĩnh Khang, người đứng đầu ngành an ninh theo đường lối cứng rắn của Trung Quốc, đang phải đối mặt có thể sẽ mang lại một tia sáng le lói về khả năng của một cách tiếp cận bớt đối đầu hơn đối với cuộc xung đột. Tuy nhiên, khi những lợi ích của việc kiểm soát Biển Đông vốn quan trọng cả về chiến lược và kinh tế gia tăng, nguy cơ về các cuộc va chạm nhỏ dẫn tới một cuộc xung đột toàn diện vẫn còn đáng kể.

Những cuộc tranh cãi giữa các bên tuyên bố chủ quyền vùng lãnh thổ tranh chấp tại Biển Đông - trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, bãi đá ngầm Scarborough - đã nổ ra thường xuyên trong những năm gần đây. Cuộc tranh cãi mới nhất, bắt đầu từ ngày 8/4, nổi lên khi tàu chiến Philíppin phát hiện các tàu đánh cá Trung Quốc hoạt động bất hợp pháp tại khu vực bãi đá ngầm (Trung Quốc gọi là đảo Hoàng Nham), cách đảo Luzon của Philíppin 220 km về phía Tây, và cả hai nước đều tuyên bố chủ quyền. Tàu hải giám Trung Quốc đã được điều động tới để ngăn cản Hải quân Philíppin bắt giữ các ngư dân Trung Quốc, tạo ra một sự bế tắc. Sau sự náo động ban đầu của những sự phản đối lẫn nhau, Bắc Kinh và Manila bắt đầu các cuộc đàm phán, dẫn tới việc Philíppin rút tàu chiến và thay thế bằng tàu bảo vệ bờ biển dân sự. Các tàu đánh cá Trung Quốc sau đó rút đi mà không bị cản trở. Các tàu tuần tra dân sự của Trung Quốc và Philíppin sau đó tiếp tục "gằm ghè" nhau dọc bãi đá ngầm trong khi các ngư dân hai nước vẫn miệt mài làm ăn ở vùng nước xung quanh.

Phản ứng của Trung Quốc đối với sự cố này đã và đang trở nên phức tạp bởi môi trường chính trị chưa ổn định tại Bắc Kinh trong bối cảnh chính phủ chuyển giao quyền lực cho thế hệ lãnh đạo mới - một tình huống có thể tạo ra nhiều không gian hơn cho một loạt các cơ quan của Trung Quốc có liên quan khích bác chống lại nhau. Tuy nhiên, phản ứng cơ bản của Trung Quốc đối với sự cố này, như thường lệ, được tô điểm bằng quan điểm dân tộc chủ nghĩa, cứng rắn của chính phủ phản đối bất kỳ hành động nào thách thức những tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc. Những ngày gần đây, Trung Quốc đã dừng các chuyến du lịch sang Philíppin và khám xét nghiêm ngặt hơn các hoa quả nhập từ Philíppin, chẳng hạn như chuối, sản phẩm mà Trung Quốc là khách hàng lớn nhất. Bắc Kinh cũng đã cảnh báo Manila rằng nước này đã sẵn sàng phản ứng với "bất kỳ một sự leo thang" nào của tình hình.

Đặt cược lớn

Đối với cả Trung Quốc và Philíppin, triển vọng về việc vùng biển tranh chấp có trữ lượng tài nguyên thiên nhiên đáng kể đồng nghĩa với việc hai nước đều đặt cược lớn vào canh bạc này. Ủy ban Thông tin Năng lượng Mỹ ước tính trữ lượng dầu khí được chứng minh và chưa khai thác tại khu vực này lên tới 213 tỷ thùng. Ngày 9/5, Tập đoàn dầu khí ngoài khơi quốc gia Trung Quốc (CNOOC) tuyên bố rằng đã sẵn sàng bắt đầu khai thác dầu sử dụng giàn khoan dầu nước sâu đầu tiên của mình tại Biển Đông. Mặc dù giàn khoan này không đặt bên trong vùng tranh chấp nhưng CNOOC mô tả nó không chỉ là phương tiện để gia tăng sản xuất khí đốt và dầu mỏ quốc gia mà còn là "công cụ chiến lược" để thúc đẩy các lợi ích lớn hơn của Trung Quốc ở tại khu vực này.

Cách tiếp cận của Philíppin đối với tranh chấp cũng phản ánh sự mong muốn đạt được các lợi ích kinh tế từ nguồn tài nguyên thiên nhiên dưới đáy Biển Đông. Cuối tháng 4, Forum Enerny, một bộ phận đặt trụ sở tại Anh của Tập đoàn Philex Mining do Philíppin sở hữu, tuyên bố rằng nguồn khí đốt tự nhiên đã phát hiện năm 2006 tại một khu vực tranh chấp lớn hơn so với ước tính trước đây. Trữ lượng này nằm tại mỏ khí đốt Sampaguita ở Bãi Cỏ Rong. Tuy nhiên, tranh chấp lãnh thổ giữa hai nước tới nay vẫn cản trở việc khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên của khu vực. Philex Mining nói rằng các xung đột lãnh thổ đã làm trì hoãn các kế hoạch khai thác khí tại Bãi Cỏ Rong, nơi các tàu Trung Quốc đã quấy nhiễu một trong những tàu khảo sát của Forum Energy trong năm 2011.

Những triển vọng hợp tác cùng khai thác

Các khu vực phát triển chung (JDA) trong một số bối cảnh khác đã được sử dụng để cho phép các quốc gia cùng thu lợi ích từ những nguồn lực kinh tế chung trong khi gạt ra một bên các vấn đề về chủ quyền gây tranh cãi. Những tiền lệ bao gồm việc phát triển các nguồn tài nguyên thiên nhiên ở một số khu vực khác của châu Á, chẳng hạn giữa Malaixia và Việt Nam, và giữa Malaixia với Thái Lan. Trung Quốc bấy lâu nay vẫn muốn thực hiện các JDA song phương, nhưng Philíppin vẫn cẩn trọng hơn. Năm ngoái, Chính phủ Philíppin lặp lại rằng nước này sẽ mở cửa cho nước ngoài tham gia khai thác tại Bãi Cỏ Rong, nhưng việc khai thác đó phải tuân thủ luật pháp của Philíppin (Philíppin nhiệt tình hơn đối với việc cùng khai thác tại các vùng tranh chấp ở Biển Đông nằm ngoài EEZ của nước này). Ngày 4/5, Tổng thống Philíppin Benigno Aquino nói rằng ông để ngỏ khả năng các công ty cùng tham gia khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên tại các khu vực tranh chấp ở Biển Đông, cùng với các chính phủ có liên quan giải quyết tranh chấp lãnh thổ riêng rẽ của họ. Ngay sau đó, Philex Mining nói rằng tập đoàn này đã thảo thuận về khả năng thiết lập đối tác với CNOOC để khai thác khí đốt tự nhiên tại Bãi Cỏ Rong.

Trong khi tăng cường phát triển các thực lực quân sự của mình, cả Trung Quốc và Philíppin đều tiếp tục lên tiếng ủng hộ một giải pháp hòa bình đối với các tranh chấp giữa hai bên tại Biển Đông. Tuy nhiên, hai nước lại ưu tiên các con đường khác nhau hướng tới một giải pháp hòa bình. Philíppin, giống như các nước có tuyên bố chủ quyền khác ở Đông Nam Á, muốn cách tiếp cận đa phương dựa trên Công ước LHQ về Luật Biển (UNCLOS). Chính phủ Philíppin đã đưa tranh chấp với Trung Quốc tại bãi đá ngầm Scarborough ra Tòa án Quốc tế về Luật Biển (ITLOS) để phân xử, mặc dù thể chế này không có quyền áp đặt các giải pháp. Mặc dù Trung Quốc phản đối đề nghị này, song các nhà chức trách Philíppin đã tỏ dấu hiệu cho thấy họ có ý định đơn phương đệ trình vấn đề này lên ITLOS. Trung Quốc kiên định muốn giải quyết tranh chấp trên biển theo con đường song phương theo cách thức "đóng cửa bảo nhau", theo đó sẽ mang lại cho nước này ưu thế hơn khi đương đầu với các nước láng giềng có tranh chấp.

Một giải pháp hòa bình đối với tranh chấp Biển Đông chắc chắn sẽ nằm trong lợi ích của cả hai nước, và có những lý do đúng đắn để tránh những căng thẳng leo thang. Đối với Trung Quốc, khả năng can dự quân sự của Mỹ là một nguy cơ rất lớn. Đối với Philíppin, hiện vẫn còn tồn tại một sự không rõ ràng về quan điểm của Mỹ đối với tranh chấp, và vì thế nước này không thể chắc chắn về mức độ hỗ trợ của Mỹ trong trường hợp căng thẳng leo thang với Trung Quốc.

Mặc dù vậy, một giải pháp hòa bình khó có thể sớm đạt được. Việc thiết lập vùng khai thác chung có thể giúp giảm căng thẳng, nhưng tranh chấp Biển Đông không chỉ đơn thuần là về nguồn tài nguyên thiên nhiên như dầu mỏ và trữ lượng cá, mà còn liên quan tới các vấn đề chủ quyền cơ bản, việc kiểm soát các tuyến đường biển chiến lược và nỗ lực của Philíppin củng cố an ninh chống lại nền tảng quyền lực ngày càng gia tăng của Trung Quốc. Các vấn đề này sẽ khó có thể mất đi một cách nhanh chóng, và khi những sự đối đầu trở nên thường xuyên hơn thì nguy cơ các đụng độ quy mô nhỏ phát triển thành xung đột toàn diện vẫn tồn tại.

Một động thái có thể mang lại một chút hy vọng cho một bước chuyển trong những hướng đi của các sự kiện hiện nay là khả năng mất quyền lực của "Sa hoàng an ninh" Trung Quốc Chu Vĩnh Khang sau vụ bê bối của Bạc Hy Lai. Ông Chu Vĩnh Khang hiện vẫn tại vị, nhưng tin tức trên tờ "Thời báo Tài chính" của Anh và một số phương tiện truyền thông Trung Quốc cho thấy ông có thể sẽ phải từ bỏ phần lớn quyền lực của mình. Với việc ông Chu Vĩnh Khang được coi là một nhà bảo thủ theo đường lối cứng rắn và là một trong những động lực chính phía sau cách tiếp cận hiếu chiến của Trung Quốc đối với các vấn đề như Biển Đông, nhiều khả năng các nhân vật khác có thể sẽ áp đặt thực hiện một đường lối ít đối đầu hơn. Bản chất liên kết ứng phó của nền chính trị Trung Quốc - và thực tế là người kế nhiệm ông Chu Vĩnh Khang cũng có thể xuất thân từ phe bảo thủ trong Đảng Cộng sản Trung Quốc - khiến việc chuyển đổi mạnh trong chính sách là điều khó có thể xảy ra. Lập trường của Trung Quốc phản ánh những quan điểm ý thức hệ và chiến lược lâu đời và vượt ra ngoài khả năng của một cá nhân nhất định. Mặc dù vậy, trong tranh chấp này thì chỉ cần một thay đổi nhỏ về quan điểm cũng có thể mở ra con đường cho một cách tiếp cận triển vọng hơn.

Theo The Economist

Trần Quang (gt)

 

Bài viết đề cập đến hai nội dung chính: (i) cơ sở của chính sách "láng giềng tốt" của Trung Quốc; (ii) triển khai chính sách này trong quan hệ của Trung Quốc đối vớ Đông Nam Á. Trên cơ sở đó, tác giả cũng đưa ra một số đánh giá sơ bộ về triển vọng của chính sách.

________________________

 

 

Lời mở đầu

Chính sách “láng giềng tốt” là một bộ phận quan trọng trong chính sách đối ngoại độc lập tự chủ của Trung Quốc, thể hiện sự coi trọng của Trung Quốc trong phát triển quan hệ với các nước láng giềng, nhằm thực hiện mục tiêu tạo ra một môi trường quốc tế thuận lợi cho công cuộc phát triển kinh tế-xã hội của Trung Quốc.

Trong Chiến tranh lạnh, các nước láng giềng nhìn chung không chiếm vị trí quan trọng trong các chiến lược ngoại giao của Trung Quốc. Các chiến lược đối ngoại của Trung Quốc trong thời kỳ này - nhất biên đảo, hai trận tuyến và một trận tuyến - đều tập trung xử lý quan hệ với hai nước lớn là Liên Xô và Mỹ. Chỉ từ khi Đặng Tiểu Bình đưa ra đường lối đối ngoại độc lập tự chủ năm 1982, nhận thức của Trung Quốc về tầm quan trọng của mối quan hệ với láng giềng mới rõ hơn. Bên cạnh đó, những diễn biến trong nước và những thay đổi trong môi trường quốc tế cuối những năm 1980, mà điển hình là việc Chiến tranh lạnh kết thúc, vừa là nguyên nhân vừa là chất xúc tác định hình chính sách láng giềng tốt của Trung Quốc đầu những năm 1990.

Trong tham luận này, tác giả đề cập hai nội dung chính: (i) cơ sở của chính sách láng giềng tốt của Trung Quốc; và (ii) triển khai chính sách này trong quan hệ của Trung Quốc đối với Đông Nam Á. Trên cơ sở đó, tác giả cũng đưa ra một số đánh giá sơ bộ về triển vọng của chính sách.

 

Cơ sở của chính sách

Có thể có những cơ sở khác nhau lý giải việc hình thành chính sách “láng giềng tốt” của Trung Quốc. Tuy nhiên, căn cứ vào tình hình nội bộ Trung Quốc và những diễn biến trên trường quốc tế trước và sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, tác giả thấy có bốn nhân tố mang tính quyết định sau:

 

 

Đặng Tiểu Bình và chính sách đối ngoại độc lập tự chủ

Đại hội 12 Đảng Cộng sản Trung Quốc tháng 9/1982 đánh dấu sự thay đổi cơ bản chiến lược đối ngoại của Trung Quốc. Chiến lược “một trận tuyến” được thay thế bằng chiến lược đối ngoại độc lập tự chủ, theo đó Trung Quốc chủ trương “không kết liên minh” trong xử lý quan hệ với siêu cường Xô-Mỹ. Chiến lược đối ngoại này là kết quả của quá trình tổng kết những mặt được, mất của các chiến lược mà Trung Quốc đã theo đuổi kể từ khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời, đặc biệt là chiến lược ngoại giao “một trận tuyến.” Chiến lược “một trận tuyến” theo đánh giá của một học giả Trung Quốc mặc dù “đã cải thiện rất nhiều quan hệ của Trung Quốc với Mỹ và các nước phương Tây” nhưng nó cũng “hạn chế Trung Quốc phát triển quan hệ với các nước khác trên thế giới, đặc biệt khiến Trung Quốc ở vào trạng thái căng thẳng đối đầu với Liên Xô và các nước đồng minh châu Á của họ, làm cho Trung Quốc phải đối mặt với môi trường an ninh xung quanh rất nguy hiểm.”

 

[1]

Chính sách đối ngoại độc lập tự chủ của Trung Quốc trong thập niên 1980 tiếp tục đặt trọng tâm vào xử lý quan hệ với Mỹ và Liên Xô theo hướng cải thiện quan hệ với cả hai siêu cường. Tuy nhiên, với mục tiêu tạo ra một môi trường quốc tế thuận lợi và hòa bình cho Trung Quốc thực hiện xây dựng hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa (bốn hiện đại hóa), phương châm đối ngoại mới này có ý nghĩa quan trọng, tạo cơ sở cho việc ổn định và phát triển quan hệ với các nước láng giềng đầu những năm 1990, mở rộng hơn nữa không gian ngoại giao của Trung Quốc vốn bị hạn chế bởi các chiến lược đối ngoại trước đó.

 

Sự kiện Thiên An Môn và hệ lụy

Sự kiện Thiên An Môn năm 1989 là bước thụt lùi trong việc triển khai chính sách đối ngoại ưu tiên cải thiện quan hệ với Mỹ và phương Tây nhằm phục vụ công cuộc bốn hiện đại hóa của Trung Quốc. Mỹ và các nước phương Tây phản ứng và chỉ trích mạnh mẽ sự kiện này. Chính quyền Bush đã áp đặt lệnh cấm vận bán vũ khí cho Trung Quốc và ngưng các cuộc tiếp xúc cấp cao với chính phủ Trung Quốc.[2]

Phản ứng quốc tế trước sự kiện Thiên An Môn khiến Trung Quốc nhận thức được những nguy cơ gây bất ổn mới, cả trong nước lẫn quốc tế, buộc Trung Quốc phải điều chỉnh chính sách đối ngoại.[3] Ngoại giao Trung Quốc thời điểm này đã có biểu hiện hướng sang các nước láng giềng. Minh chứng cho điểm này là hàng loạt chuyến thăm của các nhà lãnh đạo Trung Quốc tới các nước láng giềng Đông Nam Á. Thủ tướng Lý Bằng thăm Indonesia, Singapore và Thái Lan tháng 12/1990, thăm Malaysia, Philippines và Lào tháng 12/1990.

“Chính sách Láng giềng tốt” lần đầu tiên được Ngoại trưởng Trung Quốc Tiền Kỳ Tham nhắc đến cuối năm 1990 cho thấy mong muốn cải thiện quan hệ với các nước láng giềng của Trung Quốc.[4] Năm 1991, Thủ tướng Lý Bằng khẳng định rõ “phát triển quan hệ láng giềng tốt với các nước có chung đường biên giới là một phần quan trọng trong chính sách đối ngoại của chúng ta.”[5] Báo cáo Chính trị Đại hội XIV Đảng Cộng sản Trung Quốc nhận định “quan hệ với các nước láng giềng tốt nhất kể từ khi đất nước thành lập.”[6] Báo cáo chính trị tại Đại hội XV Đảng Cộng sản Trung Quốc tiếp tục nhấn mạnh “Cần phải kiên trì quan hệ hữu nghị láng giềng thân thiện. Đây là chủ trương nhất quán của nước ta, quyết không thay đổi. Đối với những vấn đề tranh chấp giữa ta với các nước láng giềng, cần phải xuất phát từ đại cục giữ gìn hòa bình và ổn định, thông qua hiệp thương và đàm phái hữu nghị để giải quyết. Nếu ngay một lúc không giải quyết được, có thể tạm gác lại, cầu đồng tồn dị.”[7] Phương châm chỉ đạo này tiếp tục được duy trì qua các kỳ Đại hội Đảng.

Do vậy, có thể nói Sự kiện Thiên An Môn đã có những tác động trực tiếp tới nhận thức của lãnh đạo Trung Quốc về quan hệ với các nước láng giềng vốn không ở vị trí ưu tiên cao trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc trước đó. Việc ổn định và phát triển quan hệ với các nước láng giềng càng có ý nghĩa quan trọng hơn khi sự lớn mạnh của Trung Quốc trong thập kỷ 1990 khiến xuất hiện cái gọi là “thuyết về mối đe dọa Trung Quốc.”

 

Làm thất bại “thuyết về mối đe dọa của Trung Quốc”

Sự lớn mạnh của Trung Quốc về kinh tế và tăng cường sức mạnh quân sự không thể không làm các nước láng giềng lo ngại. Ở Đông Nam Á thập kỷ 1990, bên cạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ của Trung Quốc khiến các nền kinh tế Đông Nam Á lo ngại về khả năng cạnh tranh thu hút FDI và hạn chế thị trường xuất khẩu, những sự kiện như việc Trung Quốc chiếm đảo Vành Khăn và thử tên lửa qua Eo biển Đài Loan năm 1995 đã gióng lên hồi chuông báo động đối với các nước láng giềng. Thực tiễn này càng củng cố cho “thuyết về mối đe dọa Trung Quốc”[8] mà các nhà lãnh đạo Trung Quốc cho là “sản phẩm” của những nước muốn tìm kiếm một kẻ thù mới để thay thế Liên Xô.[9]

Ở Trung Quốc, từ giữa những năm 1990 đã có sự tranh luận giữa các nhà lãnh đạo về việc tiếp tục tư tưởng “giấu mình chờ thời” của Đặng Tiểu Bình hay thừa nhận Trung Quốc đã trở thành một nước lớn. Mặc dù ít người thừa nhận Trung Quốc là một nước lớn, nhưng đã có sự thừa nhận rằng Trung Quốc phải làm gì đó để làm giảm bớt những mối lo ngại của các nước khác trước sự lớn mạnh của mình, nếu muốn đảm bảo sự ổn định nội bộ và môi trường hòa bình cho phát triển kinh tế.[10] Tuy nhiên, việc khẳng định bằng lời nói rằng Trung Quốc không phải là mối đe dọa đối với các nước khác là không đủ mà cần phải có hành động trên thực tế.[11] Suy nghĩ này đã được các nhà lãnh đạo Trung Quốc hiện thực hóa trong quan hệ với các nước láng giềng trong lịch sử vốn đã có tâm lý nghi kỵ về những tham vọng của Trung Quốc.

 

Xây dựng hình ảnh Trung Quốc một nước lớn có trách nhiệm

Thế hệ lãnh đạo thứ tư của Trung Quốc mà đại diện là Chủ tịch Hồ Cẩm Đào và Thủ tướng Ôn Gia Bảo lên nắm quyền với cam kết thực hiện chính sách “phát triển hòa bình.” Có thể giải thích chính sách này một cách đơn giản là sự phát triển của Trung Quốc không là mối đe dọa và không gây tổn hại cho các nước khác. Thuyết “phát triển hòa bình” do vậy có thể xem là đối trọng với “thuyết về mối đe dọa Trung Quốc”, đồng thời có tác dụng trấn an các nước khác về sự trỗi dậy của Trung Quốc.

“Phát triển hòa bình” đi song hành cùng nỗ lực xây dựng một nước lớn có trách nhiệm. Nhận thức được sự lớn mạnh của Trung Quốc có thể khiến các nước khác nhìn nhận Trung Quốc như một mối đe dọa, các nhà lãnh đạo Trung Quốc nỗ lực xây dựng hình ảnh tích cực của Trung Quốc với tư cách một nước lớn có trách nhiệm. Do vậy, quan hệ tốt với các nước láng giềng là một hướng đi đúng đắn góp phần quan trọng trong việc xây dựng hình ảnh và vị thế của Trung Quốc trong khu vực và trên thế giới, góp phần làm thất bại “thuyết về mối đe dọa Trung Quốc.”

 

Chính sách láng giềng tốt với các nước Đông Nam Á: Từ ổn định tới thích nghi

Ổn định và điều chỉnh quan hệ theo hướng coi trọng lợi ích của các nước láng giềng là đặc điểm trong chính sách của Trung Quốc đối với Đông Nam Á từ những năm 1990. Trong nửa đầu thập kỷ 90, hoạt động ngoại giao của Trung Quốc tập trung vào việc khôi phục quan hệ với các nước láng giềng chủ chốt ở Đông Nam Á. Quan hệ Trung Quốc với Indonesia và Singapore được bình thường hóa năm 1990. Trung Quốc bình thường hóa quan hệ với Việt Nam năm 1991. Quan hệ Trung Quốc với Malaysia, Philipin và Thái Lan, đã được bình thường hóa trong Chiến tranh lạnh, tiếp tục phát triển.[12]

Tuy nhiên, quan hệ giữa Trung Quốc và các nước láng giềng Đông Nam Á thời kỳ này cũng không hẳn vì thế mà suôn sẻ. Những hành động của Trung Quốc ở Biển Đông khiến các nước láng giềng rất lo ngại,[13] đặc biệt là việc Trung Quốc chiếm đảo Vành Khăn năm 1995. Lãnh đạo các nước ASEAN đã đưa ra tuyên bố bày tỏ lo ngại về hòa bình và ổn định ở khu vực này. Trước phản ứng của các nước láng giềng sau sự kiện này, từ giữa thập kỷ 90, lập trường của Trung Quốc đã có sự điều chỉnh theo hướng mềm mỏng hơn, chú ý hơn tới lợi ích của các nước và có những nhượng bộ nhất định. Về cơ bản, chính sách láng giềng tốt của Trung Quốc từ giữa những năm 1990 được thể hiện theo ba hướng sau: (i) Kiềm chế và giảm bớt căng thẳng ở Biển Đông; (ii) Thúc đẩy ngoại giao kinh tế; và (iii) tích cực tham gia vào các thể chế hợp tác khu vực.

 

Kiềm chế và giảm bớt căng thẳng ở Biển Đông

Giai đoạn 1996-2002, Trung Quốc đã có nỗ lực giảm bớt căng thẳng ở Biển Đông thông qua kiềm chế không gây ra các vụ tranh chấp nghiêm trọng như vụ đảo Vành Khăn. Nhượng bộ nỗ lực của các nước trong khu vực muốn xây dựng một văn kiện pháp lý quy định hành vi của các bên ở Biển Đông,[14] tháng 11/2002, Trung Quốc đã ký Tuyên bố về Ứng xử của các bên ở Biển Đông, theo đó các bên nhất trí giải quyết các tranh chấp lãnh thổ bằng biện pháp hòa bình, không sử dụng vũ lực, đàm phán trực tiếp giữa các nước có chủ quyền trực tiếp liên quan, phù hợp với các nguyên tắc luật pháp quốc tế.[15] Các bên đồng thời cam kết kiềm chế không gây thêm tranh chấp đồng thời tăng cường nỗ lực xây dựng lòng tin giữa các bên.[16]

Đối với các nước ASEAN láng giềng, việc Trung Quốc ký Tuyên bố này là “nỗ lực ngoại giao điển hình nhằm giảm bớt tranh chấp ở Trường Sa.”[17] Đây cũng là một biểu hiện cụ thể cho thấy Trung Quốc tỏ ra thuận theo lợi ích của các nước láng giềng, và ở mức độ nào đó làm giảm bớt quan ngại của họ từ những cam kết Trung Quốc đưa ra cùng các bên. Tuy nhiên, do Tuyên bố về Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông không phải là một văn kiện có tính pháp lý và mang tính ràng buộc, các nước láng giềng của Trung Quốc chắc chắn chưa thỏa mãn. Họ cần một Bộ Quy tắc Ứng xử mang tính pháp lý.

 

Thúc đẩy ngoại giao kinh tế

Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc, đặc biệt là khả năng thu hút FDI[18] và chiếm lĩnh thị trường xuất khẩu, khiến các nền kinh tế Đông Nam Á lo ngại. Bên cạnh đó, việc nền kinh tế Trung Quốc không bị tác động bởi cuộc khủng hoảng tài chính 1997-98 và gia nhập WTO năm 2001 “chỉ làm tăng thêm lo ngại của ASEAN”19]

Nhận thức được mối quan ngại của các nước láng giềng về mối đe dọa kinh tế,[20] Trung Quốc đã thúc đẩy “ngoại giao kinh tế” nhằm mục tiêu trấn an các nước láng giềng rằng sự lớn mạnh của nền kinh tế Trung Quốc không làm tổn hại đến các nền kinh tế khác. Trái lại, các nền kinh tế trong khu vực còn được lợi từ việc tăng cường quan hệ kinh tế, thương mại với Trung Quốc.

Đề xuất xây dựng Khu vực Tự do Thương mại Trung Quốc-ASEAN là ví dụ điển hình về lợi ích lâu dài của việc duy trì mối quan hệ tốt với láng giềng.[21] Trung Quốc tạo thuận lợi cho các nền kinh tế Đông Nam Á xâm nhập thị trường Trung Quốc thông qua kế hoạch “Thu hoạch sớm.” Kế hoạch này được coi là một “nhượng bộ” của Trung Quốc để các nền kinh tế khu vực được hưởng lợi ích sớm thông qua giảm thuế đối với nhiều mặt hàng trong đó có cả hàng nông nghiệp và chế tạo.[22] Nhượng bộ của Trung Quốc có thể hiện ở sự đối xử đặc biệt với các nền kinh tế kém phát triển hơn trong ASEAN, bao gồm Việt Nam, Lào, Cămpuchia và Myanmar. Trong khuôn khổ Khu vực Tự do Thương mại ASEAN-Trung Quốc, các nền kinh tế này có thêm 5 năm trước khi tuân thủ các quy định của Hiệp định. Điều này có nghĩa là các nền kinh tế này được thâm nhập thị trường Trung Quốc trước khi mở cửa thị trường của họ cho hàng Trung Quốc cạnh tranh.

Ngoại giao kinh tế không chỉ góp phần làm giảm bớt những mối lo ngại của các nước láng giềng về sức mạnh kinh tế Trung Quốc mà còn mang đến cơ hội cho họ. Hành động giúp đỡ và thiện chí của Trung Quốc trong cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ 1997-98 và những nhượng bộ trong việc xây dựng ASEAN-Trung Quốc FTA đã tạo được nhiều thiện cảm đối với các nước láng giềng, góp phần xây dựng hình ảnh một nước lớn Trung Quốc có trách nhiệm trong khu vực.

 

 

Tích cực tham gia các cơ chế hợp tác khu vực

 

Trung Quốc từ lâu vốn không muốn tham gia các tổ chức đa phương. Tuy nhiên, các nhà lãnh đạo Trung Quốc cũng dần nhận thức được rằng việc Trung Quốc đứng ngoài các cơ chế có thể khiến các nước trong khu vực có cảm nhận rằng Trung Quốc không để tâm tới lợi ích và những vấn đề quan tâm chung của các nước trong khu vực tại các cơ chế này. Quan trọng hơn, để xây dựng hình ảnh một nước lớn có trách nhiệm Trung Quốc càng không thể không tham gia các cơ chế khu vực.

Từ những năm 1990 Trung Quốc bắt đầu quan tâm, từng bước tham gia rồi chủ động tham gia tích cực vào các cơ chế hợp tác khu vực mà ASEAN đóng vai trò trụ cột như ARF, ASEAN +3 và Hợp tác Đông Á. Về cơ bản Trung Quốc tích cực ủng hộ các sáng kiến hợp tác khu vực của ASEAN. Ở một khía cạnh nào đó, việc Trung Quốc tham gia các cơ chế đa phương trong khu vực cho thấy, ngoài việc đạt được những lợi ích của bản thân, Trung Quốc còn đáp ứng ý muốn các nước láng giềng là lôi kéo Trung Quốc tham gia vào các cơ chế này không chỉ thúc đẩy các lĩnh vực hợp tác mà quan trọng hơn là thảo luận và giải quyết các vấn đề cản trở quan hệ trên cơ sở đa phương thay vì song phương như trước kia.

 

 

 

Quan hệ Việt Nam-Trung Quốc

Quan hệ Việt Nam-Trung Quốc là mối quan hệ đặc biệt ở nhiều khía cạnh. Lịch sử và địa lý đã tạo nên những thăm trầm trong mối quan hệ này. Tuy nhiên, sau khi hai nước bình thường hóa quan hệ, phát triển mối quan hệ láng giềng tốt với Việt Nam là một bộ phận trong chính sách láng giềng tốt của Trung Quốc. Do vậy, quan hệ Trung Quốc-Việt Nam không nằm ngoài dòng chảy chung trong quan hệ của Trung Quốc với các nước láng giềng khác.

Quan hệ Trung Quốc-Việt Nam đang ở thời kỳ tốt đẹp nhất từ trước tới nay.[23] Phương châm 16 chữ và “bốn tốt” là nguyên tắc chỉ đạo trong quan hệ giữa hai nước. Quan hệ song phương về mọi mặt có những bước phát triển mạnh mẽ, điển hình là vấn đề giải quyết các vấn đề biên giới lãnh thổ. Năm 1993, hai bên đã ký Thoả thuận về các nguyên tắc cơ bản giải quyết các vấn đề biên giới lãnh thổ, từ đó mở ra các cuộc đàm phán về ba vấn đề biên giới trên đất liền, phân định Vịnh Bắc Bộ và vấn đề trên biển (Biển Đông).

Ngày 30/12/1999, hai bên ký Hiệp ước biên giới trên đất liền và quyết tâm trong năm 2008 hoàn thành toàn bộ công tác phân giới cắm mốc và ký kết văn kiện mới về "Quy chế quản lý biên giới." Ngày 25/12/2000, hai bên ký Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ. Hai hiệp định này bắt đầu hiệu lực từ ngày 30/6/2004. Về vấn đề biển Đông, hai bên nhất trí kiên trì thông qua đàm phán hoà bình để giải quyết. Năm 2005, ba công ty dầu khí của Việt Nam (PetroVietnam), Trung Quốc (CNOOC), và Phi-lip-pin (PNOC) đã ký Thoả thuận về khảo sát địa chấn chung trong một số khu vực trên biển Đông và đang được triển khai thuận lợi.[24]


 

Kết luận

Chính sách láng giềng tốt của Trung Quốc nói chung và với Đông Nam Á nói riêng về cơ bản phản ánh nhu cầu bức thiết của Trung Quốc nhằm tạo một môi trường xung quanh ổn định, hòa bình, có lợi cho sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của Trung Quốc. Nói cách khác sự thay đổi tình hình của các nước xung quanh cũng như quan hệ tốt, xấu giữa Trung Quốc với các nước này ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh quốc gia và ổn định xã hội của Trung Quốc. Trên thực tế láng giềng của Trung Quốc bao gồm cả những nước lớn, vừa và nhỏ, mạnh yếu khác nhau, có lợi ích và có những vấn đề khác nhau trong quan hệ với Trung Quốc. Do vậy khi triển khai chính sách láng giềng tốt, Trung Quốc có những đối sách khác nhau.

Trong hơn một thập kỷ qua, chính sách láng giềng tốt của Trung Quốc đối với các nước láng giềng Đông Nam Á được xây dựng và phát triển theo hướng tích cực. Nội dung của chính sách thể hiện ba điểm chủ yếu sau: (i) Trung Quốc coi trọng quan hệ với các nước láng giềng hơn trước kia; (ii) Trung Quốc hiểu được lợi ích, cũng như những mối lo ngại của các quốc gia láng giềng trước sự trỗi dậy của mình; và (iii) Trung Quốc đã có những hành động nhằm trấn an các nước láng giềng, cụ thể là nhượng bộ và có phần thuận theo lợi ích của láng giềng.

Nhìn chung chính sách láng giềng tốt của Trung Quốc được đánh giá là thành công. Chính sách này tiếp tục có cơ sở tồn tại khi hòa bình và ổn định không chỉ là nhu cầu của Trung Quốc mà với cả các nước láng giềng./.

 

 

Khổng Thị Bình

Học viện Ngoại giao

 


  [*] Tham luận tại Đối thoại thường niên giữa Học viện Ngoại giao và Tạp chí Trung Cộng (Đài Loan)

[1] Trương Tiểu Minh, Chiến tranh lạnh và Di sản của nó (Hà Nội: NXB Chính trị Quốc gia, 2002), tr. 475-492.

 

 

 

[2] Ngày 5/6/1989, Bush hủy trao đổi phái đoàn quân sự Mỹ -Trung Quốc và hủy chuyến thăm dự định vào ngày 10/7 của Bộ trưởng Thương mại Robert Mosbacher.

[3] Alice D. Ba, “China and Asean: Renavigating Relations for a 21st century Asia”, Asian Survey, Vol. XLIII, N0. 4, July-August, 2003. tr. 630 

 

 

 

[4] Steven F. Jackson trích trong Robert A. Scalapino, “China’s relations with its neighbors,” Academey of Political Science, Proceeding 1991, 38, N0. 2. 1991, tr. 63.

 

 

[5] Như  trên

 

 

[6] Văn kiện Đại hội XIV Đảng Cộng sản Trung Quốc, TTXVN, 17/9/1997.

 

 

[7] Văn kiện Đại hội XIV Đảng Cộng sản Trung Quốc, TTXVN, 17/9/1997.

 

 

[8] Về “thuyết về mối đe dọa Trung Quốc” xem Broomfield E.V., “Perceptions of Danger: The China Threat Theory” Journal of Contemporary China, Vol 12, N0. 35, 2003, pp. 265-284.

 

 

[9] See Susan L. Shirk, China’s Fragile Superpower (Oxford University Press, 2007), tr. .

 

 

[10] See Susan L. Shirk, tr.

[11] Susan L. Shirk trích lời một Đại sứ Trung Quốc “Sẽ không ai tin chúng ta nếu chúng ta không có những đề xuất cụ thể.”

 

 

[12] Xem Bruce Vauhgn and Wayne Morrison “China-Southeast Asia Relations: Trends, Issues, and Implications for the United States” CRS Report for Congress, April 4, 2006. Available at:http://www.fas.org/sgp/crs/row/RL32688.pdf

 

 

[13] Tháng 2/1992 thông qua Luật về Lãnh hải và các vùng tiếp giáp, tái khẳng định chủ quyền ở Biển Đông và quyền sử dụng vũ lực để bảo vệ các đảo của mình, trong đó có Trường Sa và các vùng biển bao quanh.

 

 

[14] Tháng 7/1992 tại Manila, Ngoại trưởng các nước ASEAN ký Tuyên bố ASEAN về Biển Đông; tháng 11/1999 Philippin và Việt Nam đề xuất xây dựng một bộ luật ứng xử ở Biển Đông nhưng Trung Quốc và Malaysia phản đối vì mang tính pháp lý/

 

 

[15] Tuyên bố về Quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông, Phnom Penh, Căm-pu-chia, 4/11/2002.

 

 

[16] Như trên.

 

 

[17] Ralf Emmers, “The De-escaltion of the Spratly Dispute in Sino-Southeast Asian Relations,”, p.11.

 

 

[18] Từ năm 1999, nguồn FDI vào Trung Quốc tăng trên 50 tỉ đô la mỗi năm. Trong khi đó FDI vào ASEAN giảm đáng kể, năm 2002 tổng FDI chỉ bằng một nửa năm 1999.

 

 

[19] Alice D. Ba, “China and Asean: Renavigating Relations for a 21st century Asia”, p. 634.

 

 

[20] Trung Quốc có phải là mối đe dọa kinh tế đối với Đông Nam Á không, xem John Ravenhill, “Is China an Economic Threat to Southeast Asia,” Asian Survey, Vol. XLVI, N0. 5, September/October 2006, tr. 653-674.

 

 

[21] Năm 2000, trao đổi thương mại của Trung Quốc với ASEAN chỉ chiếm 8% tổng thương mại của Trung Quốc và 5% của ASEAN.

[22] Elizabeth Economy, “China’s rise in Southeast Asia: Implications for Japan and the United States,” Japan Focus, October 10, 2005, available at

 

www.cfr.org/publication/1977/China_rise_in_Southeast_asia.html

 

 

[23] Về lịch sử các giai đoạn quan hệ Việt-Trung xem thêm Bộ Ngoại giao, Ngoại giao Việt Nam 1945-2000 (Hà Nội: NXB Chính trị Quốc gia, 2005; Vũ Dương Huân (Chủ biên), Ngoại giao Việt Nam hiện đại vì sự nghiệp đổi mới 1975-2002 (Hà Nội: Học viện Quan hệ Quốc tế, 2002); Alexander L. Vuving, “Strategy and

 

Evolution of Vietnam’s China policy: A Changing Mix of Pathways” Asian Survey, Vol. XLVI, N0. 6, November/December 2006.

 

[24] Bộ Ngoại giao Việt Nam, tại trang web at http://www.mofa.gov.vn

 

 


 
Sau sự kiện Thiên An Môn (1989), nội bộ Trung Quốc đã tranh luận gay gắt về tốc độ, bước đi cải cách mở của để đưa Trung Quốc trở thành cường quốc thế giới.Trước tình hình đó, Đặng Tiểu Bình đã đưa ra quyết sách : "Giải phóng tư tưởng" và "đi sâu cải cách mở cửa", đẩy mạnh chiến lược "Tăng tốc", thực hiện mục tiêu chiến lược ba bước để đưa Trung Quốc phát triển thành cường quốc.
 

 ______________________________________

 

Trung Quốc là nước có láng giềng đa dạng và phức tạp nhất trên thế giới. Theo khái niệm truyền thống của Trung Quốc, láng giềng của Trung Quốc là các nước thuộc khu vực Đông Bắc Á, Bắc Á, Trung Á, Nam Á, Đông Nam Á. Từ năm 2003, một số học giả Trung Quốc đưa ra khái niệm “chu biên”, theo đó khái niệm láng giềng của Trung Quốc được mở rộng  tới Tây Á, Châu Úc, Nam Thái Bình Dương, thậm chí bao gồm cả Mỹ.

Trung Quốc có đường biên giới trên bộ chung với 14 nước dài khoảng 22.000 km.[1] Các nước láng giềng của Trung Quốc có vị trí địa chiến lược rất quan trọng đối với Trung Quốc và các nước lớn, là những khu vực giàu tài nguyên nhưng cũng rất đa dạng về chính trị, kinh tế, văn hóa,
sắc tộc (nếu tính cả Trung Quốc thì chiếm tới 2/3 dân số thế giới với khoảng 3,5 tỉ’ người). Có nước thuộc chế độ XHCN, có nước thuộc các nước tư bản phát triển, có nước thuộc loại thu nhập đứng hàng đầu thế giới như Nhật Bản, Xinh-ga-po nhưng cũng có nước thuộc loại chậm phát triển như Lào, Cam-pu-chia, Mi-an-ma, Băng-la-đét, Triều Tiên. Đây cũng là nơi tập trung các tôn giáo lớn trên thế giới như Phật giáo, Cơ đốc giáo, Thiên chúa giáo, Islam, Ấn Độ giáo, có ảnh hưởng đến quan hệ các mặt của khu vực. Về quân sự, trong các nước láng giềng của Trung Quốc có 3  nước có vũ khí hạt nhân (Nga, Ấn Độ, Pa-ki-xtan). Trung Quốc có 3 nước láng giềng lớn là Nga, Ấn Độ, Nhật Bản, trong đó Nga và Ấn Độ là những cường quốc đang phục hồi và trỗi dậy, Nhật Bản là thực thể kinh tế lớn thứ hai thế giới, hiện đang muốn trở thành nước lớn về chính trị và quân sự.

Từ khi thành lập nước đến nay, quan hệ của Trung Quốc với các nước láng giềng trải qua nhiều biến cố lịch sử, để lại nhiều vấn đề phức tạp cả về chính trị lẫn tranh chấp về biên giới lãnh thổ ở nhiều tầng nấc khác nhau. Qua các lần điều chỉnh chiến lược, Trung Quốc có nhiều thay đổi trong chính sách với các nước láng giềng, trong đó nổi bật nhất là giai đoạn sau Chiến tranh lạnh.

Sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, cục diện “hai cực” bị phá vỡ, tình trạng Trung Quốc bị kẹt giữa đối đầu quân sự Xô - Mỹ mất đi, cục diện “nhất siêu, đa cường” hình thành, xu thế đa cực hóa, toàn cầu hoá, hòa bình và hợp tác phát triển mạnh. Mỹ trở thành siêu cường duy nhất, nhưng thế và lực có phần giảm sút. Các nước thay đổi tư duy, điều chỉnh chính sách theo hướng tập trung ổn định chính trị và phát triển kinh tế, đa dạng hóa quan hệ nhằm tranh thủ vị thế tốt nhất trong tiến trình hình thành trật tự quốc tế mới. 

Tuy nhiên, môi trường xung quanh Trung Quốc cũng xuất hiện nhiều nhân tố phức tạp mới: chính sách kiềm chế của Mỹ tăng lên, các tồn tại về lịch sử, biên giới - lãnh thổ với hầu hết các nước chưa được giải quyết; xung đột, các điểm nóng khu vực còn tồn tại, tình hình chính trị nội bộ một số nước Trung Á, các vấn đề ly khai, sắc tộc, khủng bố diễn biến phức tạp...

Sau sự kiện Thiên An Môn năm 1989, Trung Quốc phải mất ba năm trị lý, chỉnh đốn, trong nội bộ Ban Lãnh đạo có tranh luận gay gắt về tốc độ, bước đi cải cách mở cửa. Trước tình hình đó, Đặng Tiểu Bình đưa ra quyết sách “giải phóng tư tưởng”  và “ đi sâu cải cách mở cửa”, đẩy mạnh chiến lược “tăng tốc”, thực hiện mục tiêu chiến lược ba bước đưa Trung Quốc trở thành cường quốc thế giới[2]. Do vậy, Trung Quốc có yêu cầu về môi trường bên ngoài hòa bình, ổn định phục vụ cho chiến lược tăng tốc phát triển kinh tế. 

 Mục tiêu chính sách ngoại giao láng giềng của Trung Quốc thời kỳ sau Chiến tranh lạnh là trụ chân vững chắc ở châu Á, lấy châu Á, các nước láng giềng làm vũ đài chính để vươn ra thế giới. Trong đó, Trung quốc thực hiện chính sách phi tư tưởng hóa quan hệ, đề cao 5 nguyên tắc chung sống hòa bình, không liên minh với bất cứ nước nào. [3] 

Nhìn tổng thể, nội dung chính sách ngoại giao láng giềng của Trung quốc tập trung vào một số điểm sau:

- Một là, khôi phục, cải thiện quan hệ chính trị với các nước láng giềng xung quanh; từng bước xây dựng khuôn khổ quan hệ ổn định lâu dài, thúc đẩy quan hệ kinh tế - thương mại, mở rộng lợi ích chung.

- Hai là, tập trung giải quyết các vấn đề tồn tại về biên giới đất liền; ổn định tình hình an ninh và trật tự vùng biên giới, thực hiện chính sách mở cửa toàn phương vị với các nước có chung đường biên giới.

- Ba là, xây dựng các hình thức tập hợp lực lượng, bước đầu tranh giành ảnh hưởng với Mỹ.

- Bốn là, tăng cường hợp tác khu vực, phát huy vai trò của Trung Quốc ở các tổ chức quốc tế và khu vực. Thúc đẩy việc hình thành và tham gia các cơ chế hợp tác khu vực trên các mặt chính trị, an ninh và kinh tế.

Từ đó đến nay, chính sách ngoại giao láng giềng của Trung Quốc đã thu được một số kết quả nổi bật:

- Thiết lập hoặc bình thường hoá quan hệ với tất cả các nước láng giềng xung quanh, kể cả những láng giềng khác biệt về chế độ chính trị hoặc có nhiều vấn đề cấn cá với Trung Quốc; từng bước đưa quan hệ với các nước láng giềng đi vào ổn định. Trung Quốc thiết lập quan hệ quan hệ ngoại giao với Xinh-ga-po (1990), với Nga (1991), các nước Trung Á (1992), Bru-nây và Hàn Quốc (1992), bình thường hóa quan hệ với Ấn Độ (1988), Mông Cổ (1989), In-đô-nê-xi-a, Cam-pu-chia, Lào (1990), Việt Nam (1991), trao đổi một loạt chuyến thăm cấp cao với nhiều nước láng giềng.[4]

Từ giữa thập niên 90, Trung Quốc nâng cấp quan hệ, từng bước xây dựng khuôn khổ quan hệ với các nước láng giềng ở nhiều cấp độ khác nhau: quan hệ hữu nghị truyền thống đặc biệt với Triều Tiên, Mi-an-ma; quan hệ láng giềng hữu nghị (với Việt Nam, Lào, Mông Cổ); quan hệ đối tác toàn diện với Hàn Quốc, Xinh-ga-po; quan hệ đối tác chiến lược với Nga,  Ấn Độ, Pa-ki-xtan, Ca-dắc-xtan và với nhiều nước ASEAN (Thái Lan, In-đô-nê-xi-a, Phi-lip-pin, Ma-lai-xi-a).

- Cơ bản giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ trên đất liền với các nước. Đây là đợt lớn thứ hai kể từ năm 1949[5], Trung Quốc tiến hành đàm phán, ký kết Hiệp ước hoặc Hiệp định biên giới trên đất liền với nhiều nước láng giềng xung quanh: Lào tháng 10/1991 (sau đó ký Nghị định thư xác định ngã 3 biên giới Trung Quốc - Lào - Mi-an-ma năm 1994; ngã ba biên giới Trung Quốc - Lào - Việt Nam năm 2006), với Việt Nam năm 1999, với Nga, Ca-dắc-xtan, Cư-rư-gư-xtan năm 2004. Năm 2005, Trung Quốc và Ấn Độ ký “Hiệp định nguyên tắc chỉ đạo chính trị giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ” đối với đường biên giới dài 2.000km, diện tích tranh chấp rộng 125 ngàn km2.

 Cho đến nay, Trung Quốc đã ký Hiệp ước hoặc Hiệp định về biên giới với 13/14 nước, với khoảng 90% trên tổng số 22.000 km đường biên giới trên bộ với các nước, trong đó có hai nước có tranh chấp phức tạp nhất là Nga và Việt Nam, chỉ còn lại với Ấn Độ.

 Tuy nhiên, tranh chấp biển giữa Trung Quốc với các nước láng giềng diễn biến ngày càng phức tạp. Trung Quốc đẩy mạnh chiến lược biển, thực hiện chủ trương “gác tranh chấp, cùng khai thác”,  triển khai mạnh mẽ các hoạt động thăm dò khai thác dầu khí ở khu vực tranh chấp với các nước.

- Về đa phương, Trung Quốc tăng cường tập hợp lực lượng thông qua việc chủ động và tích cực tham gia vào các tổ chức quốc tế, khu vực nhằm nâng cao vị thế, vai trò của Trung Quốc. Rõ nét nhất là việc Trung Quốc thúc đẩy thành lập Diễn đàn hợp tác Thượng Hải (1996) và sau đó nâng cấp thành Tổ chức hợp tác Thượng Hải (SCO) năm 2001, lập Diễn đàn Bác Ngao, tích cực tham gia Diễn đàn đối thoại châu Á (ACD). Đặc biệt, Trung Quốc chủ động, tích cực tham gia các thể chế đa phương ở khu vực nhằm định hướng các tổ chức khu vực phát triển phù hợp với lợi ích của Trung Quốc như Quan hệ đối thoại ASEAN-Trung Quốc (1991), Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) (1994), ASEAN+3 (1997), và cấp cao Đông Á (EAS năm 2005); ủng hộ vai trò hạt nhân của ASEAN trong cơ chế Cấp cao Đông Á không có sự tham gia của Mỹ. 

Đặc biệt là sau sự kiện 11/9, trong bối cảnh Mỹ có yêu cầu tranh thủ Trung Quốc trong cuộc chiến chống khủng bố, giải quyết các vấn đề toàn cầu, các điểm nóng khu vực như vấn đề hạt nhân Triều Tiên, I-ran...,  Trung Quốc đã triệt để tận dụng cơ hội này để tích cực tham gia các vấn đề quốc tế và khu vực.   

Về kinh tế, để phục vụ cho công cuộc cải cách mở cửa kinh tế trong nước, Trung Quốc coi trọng thúc đẩy quan hệ kinh tế - thương mại với các nước láng giềng, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm của chính sách ngoại giao láng giềng và đã đạt được một số thành tựu đáng kể[6]:

- Một là, tăng cường mở cửa đối ngoại, từng bước mở cửa các thành phố ven biển, lập các khu chế xuất, phi thuế quan nhằm thu hút vốn FDI từ các nước láng giềng. Tính đến năm 2005, 70% vốn FDI của Trung Quốc là từ các nước láng giềng xung quanh. Với các nước có chung biên giới trên bộ, Trung Quốc đẩy mạnh chính sách “biên mậu”, thành lập các khu kinh tế mở nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá, góp phần thúc đẩy quan hệ thực chất với các nước nước láng giềng.

- Hai là, đẩy mạnh các hoạt động ngoại giao kinh tế: thành lập nhiều ủy ban hỗn hợp kinh tế, ký kết hàng loạt các hiệp định kinh tế - thương mại và đầu tư với láng giềng và tăng viện trợ cho một số nước trong khu vực. Ngoài Áp-ga-ni-xtan và Bu-tan do chiến tranh, chính trị nội bộ không ổn định, Trung Quốc luôn duy trì được xu thế tăng trưởng cao trong trao đổi mậu dịch với các nước láng giềng; trở thành bạn hàng mậu dịch hàng đầu của hầu hết các nước trong khu vực như Hàn Quốc, Nhật Bản, Việt Nam, Lào, Triều Tiên, Mông Cổ…, là bạn hàng lớn thứ hai của Ấn Độ và khu vực Trung Á, thứ tư của Nga, đồng thời cũng là thị trường đầu tư, xuất khẩu quan trọng hàng đầu của các nước này.

- Ba là, tận dụng thời cơ để nâng cao vị thế và ảnh hưởng về kinh tế trong khu vực. Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Nam Á năm 1997 là cơ hội tốt để Trung Quốc phát huy vai trò nước lớn về kinh tế khu vực. Từ những năm đầu thế kỷ 21, Trung Quốc chủ động và tích cực thúc đẩy việc thành lập các khu vực mậu dịch tự do song phương và đa phương với các nước láng giềng, ký FTA với ASEAN và một số nước thuộc ASEAN.

Về an ninh, Trung Quốc cơ bản duy trì ổn định biên giới với láng giềng, kể cả với các nước có tranh chấp lãnh thổ. Trung Quốc ký Hiệp định quản lý biên giới tạm thời với Việt Nam (1991); Hiệp định Trung - Nga về củng cố lòng tin trong lĩnh vực quân sự ở vùng biên giới (1996) và Hiệp định cắt giảm quân ở biên giới với Nga, Ca-dắc-xtan, Cư-rư-gư-xtan (1997); Hiệp định về duy trì an ninh, hòa bình ở đường biên theo ranh giới quản lý thực tế (1993), Hiệp định về các biện pháp xây dựng lòng tin ở khu quân sự theo đường quản lý thực tế (1996) với Ấn Độ. Kể từ năm 1949 đến nay, đây là giai đoạn duy nhất Trung Quốc duy trì được ổn định tình hình biên giới trên bộ với các nước xung quanh, không để xảy ra các cuộc xung đột quân sự lớn.

- Trung Quốc đã có thành công nhất định trong việc hạn chế tác động tiêu cực từ chính sách kiềm chế của Mỹ và các nước đồng minh; liên kết với Nga, Trung Á, các nước ASEAN tạo thế đối trọng để ổn định tình hình khu vực, đối phó với các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống. Trung Quốc tích cực tham dự các cơ chế an ninh khu vực như Diễn đàn  Shangri La, ARF, tiến hành tham vấn quốc phòng với Mỹ, Ấn Độ, phối hợp tốt với Nga và các nước Trung Á tập trận chống khủng bố, cứu nạn thông qua khuôn khổ song phương và SCO. Bên cạnh đó, Trung Quốc tăng cường hợp tác và tăng viện trợ quân sự cho Pa-ki-xtan, Mi-an-ma, Thái Lan, Phi-lip-pin, In-đô-nê-xi-a, Cam-pu-chia, Lào nhằm tăng cường ảnh hưởng tại khu vực.

Tuy đạt được một số thành công trong việc thực hiện chính sách ngoại giao láng giềng, nhưng Trung Quốc cũng gặp nhiều khó khăn về môi trường xung quanh do[7]:

- Quan hệ chính trị với một số nước láng giềng chưa thật sự ổn định.

- Tâm lý nghi kỵ Trung Quốc của các nước láng giềng vẫn còn rất lớn, nhất là việc Trung Quốc không ngừng tăng chi phí quốc phòng và đưa ra các yêu sách mới về lãnh thổ.

- Gần như toàn bộ tranh chấp biển với các nước láng giềng chưa được phân định (Trung Quốc tự cho rằng có khoảng 1.500 km2 tranh chấp).

- Cạnh tranh chiến lược giữa Trung Quốc với Mỹ ngày càng gay gắt, cạnh tranh giữa Trung Quốc với Nhật Bản và Ấn Độ ngày càng tăng.

- Các điểm nóng khu vực còn diễn biến phức tạp và tiềm ẩn nhiều nhân tố mất ổn định, xu thế chạy đua vũ trang có chiều hướng gia tăng.

- Các thách thức về an ninh phi truyền thống nổi lên (khủng bố, xung đột và ly khai sắc tộc, các vấn đề thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, tội phạm xuyên quốc gia, môi trường sinh thái...).

Cụ thể, các khu vực láng giềng xung quanh Trung Quốc vẫn tồn tại nhiều thách thức về môi trường an ninh:

- Tại khu vực Đông Bắc Á,  tồn tại một số vấn đề lớn đối với Trung Quốc: (i) vấn đề Đài Loan; (ii) vấn đề hạt nhân Triều Tiên; (iii) liên minh quân sự Mỹ - Nhật - Hàn; (iv) cạnh tranh chiến lược Trung - Nhật (bao gồm các vấn đề lịch sử, lãnh thổ, vai trò nước lớn...); (v) chưa có cơ chế an ninh khu vực; (vi) khả năng thành lập FTA còn gặp nhiều trở ngại.

- Tại khu vực Đông Nam Á, Trung Quốc phải giải quyết các vấn đề lớn: (i) cạnh tranh ảnh hưởng với Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ, EU gia tăng, về lâu dài sự quan tâm của Nga sẽ tăng lên; (ii) tranh chấp biển Đông còn rất phức tạp, Trung Quốc phải giải quyết mâu thuẫn giữa “chính sách ngoại giao láng giềng hữu nghị” với các yêu cầu về lãnh thổ và tài nguyên biển; (iii) vai trò của Trung Quốc trong việc xử lý vấn đề nội bộ một số nước (Mi-an-ma, Phi-lip-pin).

- Tại khu vực Nam Á, tình hình an ninh chính trị diễn biến phức tạp: (i) mất ổn định về chính trị nội bộ tại nhiều nước; (ii) cạnh tranh ảnh hưởng và chạy đua vũ trang giữa Ấn Độ - Pa-ki-xtan; (iii) vai trò chủ đạo của Ấn Độ trong bản đồ địa chính trị khu vực ngày càng cao, các vấn đề Tây Tạng, Ca-xmia còn tiềm ẩn nhiều nhân tố phức tạp; (vi) vai trò, ảnh hưởng của Mỹ ở khu vực gia tăng, đặc biệt là Mỹ thúc đẩy quan hệ với Ấn Độ nhằm làm đối trọng với Trung Quốc.

Tại khu vực Trung Á, Trung Quốc phải đối phó với (i) chủ nghĩa li khai, sắc tộc, tôn giáo cực đoan, khủng bố; (ii) cạnh tranh ảnh hưởng với Mỹ, Nga, thậm chí là sự tham gia của Nhật Bản nhằm tranh giành vị trí chiến lược và nguồn tài nguyên dầu khí...; (iii) tình hình chính trị nội bộ các nước không ổn định, tác động của các cuộc “cách mạng màu” đối với khu vực biên giới phía Tây Trung Quốc ngày càng lớn.

*

*     *

 Sau 30 năm cải cách, mở cửa và xây dựng hiện đại hóa, Trung Quốc đạt được thành tựu to lớn về mọi mặt. Với tốc độ tăng trưởng trung bình 9,7%, xét tổng thể, Trung Quốc đã trở thành một trong những nước có sức mạnh tổng hợp hàng đầu thế giới. Năm 2007, GDP của Trung Quốc đạt 3.425 tỉ USD, vươn lên đứng thứ 4 thế giới (sau Mỹ, Nhật, Đức)  đóng góp 16% cho tăng trưởng toàn cầu. Dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc đạt 1.760 tỷ USD, đứng đầu thế giới; kim ngạch mậu dịch đạt 2.170 tỷ USD, đứng thứ 3 thế giới. [8] Những năm gần đây, cùng với đà phát triển kinh tế, Trung Quốc không ngừng tăng cường đầu tư hiện đại hóa quốc phòng, thu hẹp đáng kể khoảng cách về quân sự so với Mỹ, Nga. Trung Quốc hiện sở hữu một kho vũ khí thông thường vào loại lớn nhất thế giới, một lực lượng mạnh về tên lửa đạn đạo tầm xa và tầm ngắn, tên lửa mang đầu đạn hạt nhân tầm thấp, là cường quốc vũ trụ đứng thứ ba trên thế giới (sau Mỹ, Nga) và hiện đang hiện đại hoá không quân và hải quân. Bên cạnh đó, Trung Quốc đang có kế hoạch trang bị tàu sân bay, xây dựng căn cứ tàu ngầm ở Hải Nam để phục vụ cho chiến lược biển.

 Ở bên  ngoài, do sự phục hồi mạnh mẽ của các nước lớn mới trỗi dậy, so sánh lực lượng giữa các nước lớn đang thay đổi có lợi cho Trung Quốc, xu thế đa cực ngày càng phát triển, đan xen lợi ích giữa các nước lớn ngày càng tăng. Nga coi trọng quan hệ với Trung Quốc để tăng thế trong quan hệ với Mỹ, Ấn Độ và Nhật Bản đều chủ trương củng cố quan hệ với Trung Quốc. Mỹ tiếp tục gặp khó khăn, phải ưu tiên cho vấn đề I-rắc và khu vực Trung Đông, có yêu cầu hợp tác với Trung Quốc trong nhiều vấn đề toàn cầu và khu vực. Các nước láng giềng càng nhận thức rõ hơn về các cơ hội cũng như thách thức đặt ra do Trung Quốc trỗi dậy, trong đó thấy rõ lợi ích trong việc phát triển quan hệ với Trung Quốc. Đây là cơ hội thuận lợi để Trung Quốc tăng cường ảnh hưởng ở khu vực láng giềng xung quanh lên một tầng nấc mới cao hơn.

 Từ đó Trung Quốc xác định, chính sách ngoại giao láng giềng trong giai đoạn mới sẽ mang tính hợp tác thực chất và sâu rộng hơn, đó là: “tăng cường láng giềng hữu nghị và hợp tác thực chất với các nước xung quanh, tích cực triển khai hợp tác khu vực, cùng tạo dựng môi trường khu vực hòa bình, ổn định, bình đẳng tin cậy lẫn nhau, hợp tác cùng thắng”, và “làm sâu sắc toàn diện quan hệ hữu nghị với các nước láng giềng…”.[9] 

Mặc dù trong thứ tự ưu tiên, chính sách ngoại giao láng giềng của Trung Quốc được xếp ở vị trí thứ hai sau phần quan hệ với các nước phát triển nhưng nội dung có sự điều chỉnh rõ nét, thể hiện ở các điểm sau:

- Mở rộng thêm nội hàm “phú lân”: Trên cơ sở chính sách tạo dựng môi trường hòa bình, ổn định phục vụ mục tiêu hiện đại hóa của giai đoạn trước (an lân, mục lân), Trung Quốc phát triển thêm nội hàm “phú lân” với phương châm “hợp tác cùng thắng”, “cùng phát triển, cùng phồn vinh”.

- Mở rộng các lĩnh vực hợp tác theo hướng toàn diện và cân bằng hơn, từ chỗ chỉ chú trọng quan hệ chính trị, kinh tế, chuyển sang coi trọng thúc đẩy toàn diện cả quan hệ chính trị, kinh tế - thương mại, quân sự, an ninh và văn hoá, cả song phương và đa phương.

+ Về chính trị, tiếp tục xây dựng khuôn khổ ổn định lâu dài, nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược với các nước có các vấn đề phức tạp về biên giới lãnh thổ và lịch sử; tăng cường quan hệ, thâm nhập sâu vào nội bộ các nước, kể cả với các lực lượng trước đây có thái độ không thân thiện với Trung Quốc.

+ Về kinh tế, chuyển từ quan hệ thương mại thông thường sang tăng cường hợp tác đầu tư xây dựng các dự án lớn, nhất là các dự án khai thác năng lượng, tài nguyên, xây dựng cơ sở hạ tầng, hợp tác về khoa học - kỹ thuật, công nghệ, bảo vệ môi trường, từng bước thúc đẩy xây dựng các khu vực mậu dịch tự do với các khu vực (FTA trong SCO, FTA Đông Bắc Á, các FTA song phương).

+ Về an ninh, chú trọng các nội dung hợp tác an ninh phi truyền thống, chủ động tham gia các cơ chế an ninh với các nước xung quanh, đẩy mạnh các cuộc tập trận chung, tăng cường giao lưu quân sự với các nước, kể cả với đồng minh của Mỹ.

- Thay đổi phương thức thực hiện: Chuyển từ chính sách “giấu mình chờ thời” sang tích cực tham gia công việc quốc tế, nhất là trong các vấn đề an ninh khu vực; chủ động trong việc tranh giành và mở rộng ảnh hưởng; gắn chính sách ngoại giao láng giềng với “ngoại giao nước lớn”, “ngoại giao năng lượng”, “chiến lược biển” (chủ trương gác tranh chấp, cùng khai thác); thể hiện rõ nhất qua việc tranh giành nguồn tài nguyên, năng lượng ở các khu vực Trung Á, Nam Á, Đông Nam Á, trên biển.

Theo đó, Trung quốc triển khai đồng bộ chính sách ngoại giao láng giềng mới trên tất cả các lĩnh vực từ chính trị, kinh tế, an ninh đến việc tăng cường “sức mạnh mềm” ở tất cả các khu vực xung quanh[10]:

Về chính trị

Ở khu vực Đông Bắc Á: Với mục tiêu xây dựng khu vực ổn định về chính trị - an ninh, tăng cường quan hệ kinh tế, thương mại với các nước trong khu vực, tìm cách phá thế kiềm chế của liên minh Mỹ - Nhật - Hàn, loại bỏ các nguy cơ đối với an ninh khu vực, Trung Quốc tập trung thúc đẩy xu thế hòa dịu ở khu vực Đông Bắc Á, chủ động phát huy vai trò chủ đạo trong tất cả các vấn đề ở khu vực, kể cả trong quan hệ với Nhật Bản, Hàn quốc, vấn đề hạt nhân Triều Tiên và vấn đề Đài Loan. Cụ thể là:

- Nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược với Nhật Bản nhằm xây dựng khuôn khổ quan hệ Trung - Nhật ổn định lâu dài, thông qua đó kiềm chế sự trỗi dậy của các lực lượng cánh hữu ở Nhật. Sau khi Thủ tướng Fukuda lên cầm quyền vào cuối 2007, Trung Quốc có nhiều bước đi cải thiện quan hệ với Nhật Bản, nhượng bộ Nhật Bản trên một số vấn đề then chốt như chấp nhận cùng khai thác ở Đông Hải và ủng hộ vai trò quốc tế của Nhật Bản, kể cả khả năng có thể đánh đổi với Nhật trong vấn đề cải tổ HĐBA/LHQ.

- Nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược nhằm hạn chế Hàn Quốc củng cố liên minh với Mỹ, Nhật. Trung Quốc triệt để lợi dụng lợi ích chính trị, kinh tế để tạo đòn bẩy trong quan hệ với Hàn Quốc, làm cho nước này giữ cân bằng trong quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc, nhất là trước việc Chính phủ mới của Hàn Quốc đang thực hiện chính sách ngoại giao thực dụng, chủ trương vừa thúc đẩy quan hệ với các nước lớn, vừa tìm cách thắt chặt quan hệ với Mỹ.

- Tích cực thúc đẩy hợp tác Trung -  Nhật - Hàn thông qua việc chính thức thiết lập cơ chế gặp gỡ cấp cao ba nước, mở rộng phạm vi hợp tác sang các vấn đề toàn cầu và khu vực (vấn đề an ninh khu vực Đông Bắc Á, hạt nhân Triều Tiên, an ninh năng lượng, biến đổi khí hậu...).

- Nâng cao vai trò chủ đạo của Trung Quốc trong đàm phán 6 bên về vấn đề hạt nhân Triều Tiên, thúc đẩy mạnh mẽ đối thoại và hợp tác hai bờ eo biển Đài Loan nhằm ổn định tình hình khu vực và tạo thế mặc cả trong quan hệ với Mỹ. Những tiến triển gần đây trong vấn đề hạt nhân Triều Tiên, nhất là những bước đi mới của Triều Tiên (trao tài liệu khai báo hạt nhân, phá huỷ tháp làm lạnh hạt nhân Yongbyon...) đều gắn liền với vai trò của Trung Quốc. Đặc biệt, sau khi Quốc dân Đảng thắng cử trong cuộc bầu cử “người đứng đầu chính quyền Đài Loan”, Trung Quốc điều chỉnh mạnh mẽ chính sách hòa dịu với Đài Loan (Chủ tịch Hồ Cẩm Đào tiếp “người thứ hai” mới đắc cử của chính quyền Đài Loan, đón Chủ tịch Quốc dân Đảng, hai bên nối lại đàm phán hai bờ, mở đường bay, du lịch; Trung Quốc giảm số lượng tên lửa nhằm vào Đài Loan, bàn vấn đề cùng khai thác dầu khí ở eo biển Đài Loan), mở ra cục diện mới hòa dịu và hợp tác giữa hai bờ sau tám năm căng thẳng.

Tại khu vực Đông Nam Á, Những năm gần đây, Trung Quốc ra sức tranh thủ các nước ASEAN nhằm giành giật ảnh hưởng với Mỹ, Nhật. Với phương châm “cầu đồng, tồn dị”, “lấy kinh tế thúc đẩy chính trị”, thông qua nhiều biện pháp tổng hợp về chính trị, kinh tế, đầu tư, viện trợ, tác động nội bộ, Trung Quốc đẩy mạnh việc nâng cấp quan hệ với các nước[11], tranh thủ mở rộng ảnh hưởng sâu rộng ở khu vực, kể cả với các nước vốn là đồng minh của Mỹ (Phi-lip-pin, Thái Lan, Xinh-ga-po), đồng thời tăng cường xâm nhập, nâng cao ảnh hưởng về chính trị, kinh tế đối với các nước khác như In-đô-nê-xi-a, Lào, Cam-pu-chia, Mi-an-ma, Đông Timo... Trung Quốc ngày càng chủ động và khéo léo trong việc tăng cường hợp tác với các nước ASEAN, sẵn sàng chủ động nêu sáng kiến và đi đầu trong việc thúc đẩy quan hệ hợp tác cả song phương lẫn đa phương.

Về đa phương, Trung Quốc ủng hộ hầu hết các sáng kiến của ASEAN trong các lĩnh vực chính trị, an ninh, kinh tế, gia nhập “Hiệp ước hợp tác thân thiện Đông Nam Á”, nâng cấp quan hệ Trung Quốc - ASEAN từ đối tác toàn diện lên đối tác chiến lược (10/2003), ủng hộ việc xây dựng các cộng đồng kinh tế, chính trị - an ninh, văn hóa - xã hội của ASEAN cũng như vai trò chủ đạo của ASEAN trong hợp tác Đông Á. Trung Quốc đang đẩy nhanh việc xây dựng Khu vực thương mại tự do Trung Quốc - ASEAN, tích cực thúc đẩy đàm phán về Hiệp định đầu tư Trung Quốc - ASEAN, chủ động tham dự các cơ chế đối thoại về chính trị, kinh tế và an ninh trong khu vực, kể cả hợp tác về quốc phòng để đối phó với các nguy cơ về an ninh truyền thống và phi truyền thống. Trung Quốc đề cao vai trò của ASEAN trong các cơ chế đối thoại ASEAN+1, ASEAN+3, Đối thoại Châu Á và các cơ chế không có Mỹ tham gia.

Tuy nhiên, trở ngại lớn nhất trong quan hệ giữa Trung Quốc với ASEAN là vấn đề biển Đông và sự nghi ngại của các nước ASEAN trước sự trỗi dậy nhanh chóng của Trung Quốc. Trung Quốc phải xử lý mâu thuẫn giữa việc duy trì quan hệ hữu nghị với các nước ASEAN với các yêu sách về lãnh thổ và tài nguyên ở biển Đông.

 Với Nga và các nước Trung Á,  Trung Quốc coi quan hệ Trung - Nga có ý nghĩa chiến lược trong việc thúc đẩy xu thế đa cực hoá và tập hợp lực lượng nhằm hạn chế chính sách kiềm chế của Mỹ và phương Tây. Vì vậy, Trung Quốc chủ trương nâng cấp, bổ sung các nội dung mới cho mối quan hệ đối tác hợp tác chiến lược giữa hai nước cả về chính trị, kinh tế, năng lượng và hợp tác quốc phòng, tăng cường liên kết nhưng không liên minh và tránh đối đầu trực tiếp với Mỹ, phối hợp chặt chẽ trong các vấn đề quốc tế thông qua quan hệ song phương, Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO), cơ chế đối thoại Trung - Nga - Ấn và nhóm BRIC (Bra-xin, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc).

Về chính trị, hai bên tăng cường trao đổi và tiếp xúc cấp cao, ủng hộ lẫn nhau trong các vấn đề lớn liên quan trực tiếp tới lợi ích mỗi nước. Theo đó, Nga ủng hộ Trung Quốc trong vấn đề Tây Tạng, Đài Loan, tổ chức Olympic Bắc Kinh 2008, hợp tác cứu nạn trong trận động đất ở Tứ Xuyên. Trung Quốc ủng hộ Nga trong vấn đề Mỹ triển khai NMD ở Đông Âu và các vấn đề nội bộ của Nga, không phản đối việc Nga đưa quân vào Gru-di-a và công nhận độc lập của Nam Ossetia và Apkhazia.

Về các vấn đề quốc tế, hai bên tăng cường phối hợp lập trường trong các vấn đề quan trọng, ủng hộ nỗ lực xây dựng thế giới đa cực ổn định, hài hoà, thúc đẩy dân chủ hoá quan hệ quốc tế công bằng, hợp lý, đẩy mạnh hợp tác trong các vấn đề an ninh quan trọng như vấn đề hạt nhân I-ran, Triều tiên, kiểm soát vũ khí, chống khủng bố, trong đó có việc sẽ liên kết lực lượng để chống lại sự đe dọa của nước thứ ba.

Đối với các nước Trung Á, khu vực giàu nguồn tài nguyên năng lượng nhưng cũng là nơi có sự cạnh tranh phức tạp giữa nhiều nước lớn, Trung Quốc và Nga đều có lợi ích duy trì ảnh hưởng vượt trội ở khu vực. Trung Quốc có mục tiêu triển khai chính sách “ngoại giao năng lượng” và bảo đảm an ninh ổn định cho khu vực biên giới phía Tây, hạn chế tối đa ảnh hưởng tiêu cực của các cuộc “cách mạng màu” ở Trung Á đối với vấn đề ly khai, sắc tộc của Trung Quốc. Những năm gần đây, Trung Quốc tăng cường thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước Trung Á. Tháng 8/2007, Trung Quốc cùng các nước thành viên SCO ký Hiệp ước láng giềng, hữu nghị, nêu đề nghị 4 điểm nhằm thúc đầy quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện trong các nước SCO[12] và sau đó tháng 7/2008, ký Hiệp ước láng giềng hữu nghị với Ta-di-ki-xtan. Đặc biệt, Trung Quốc cùng Nga thúc đẩy sự hợp tác trong SCO, tạo sự gắn kết về chính trị, an ninh, kinh tế, lôi kéo thêm nhiều nước khác ở khu vực nhằm tạo thế đối trọng với Mỹ và các nước phương Tây.

Tại khu vực Nam Á, Trung Quốc điều chỉnh chính sách theo hướng giữ cân bằng quan hệ, một mặt tăng cường hợp tác hữu nghị với Ấn Độ, mặt khác tiếp tục duy trì quan hệ truyền thống với Pa-ki-xtan. Trung Quốc coi Ấn Độ vừa là đối tác quan trọng cần tranh thủ, vừa là đối thủ cạnh tranh lớn nhất ở khu vực Nam Á.

Nhằm hạn chế Mỹ lôi kéo Ấn Độ,  Trung Quốc chủ trương đẩy nhanh việc điều chỉnh chiến lược trong quan hệ với Ấn Độ, tăng cường phối hợp thúc đẩy xu thế đa cực để hai nước cùng vươn lên chiếm giữ vai trò quan trọng trên trường quốc tế. Theo đó, Trung Quốc chủ động mở rộng và cụ thể hóa các nội dung của mối quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước, xây dựng “Tầm nhìn Trung - Ấn thế kỷ 21”, tăng cường đối thoại chiến lược, thiết lập cơ chế đối thoại quốc phòng, các văn phòng liên lạc về an ninh tại Đại sứ quán mỗi nước; tiến hành các cuộc tập trận chung chống khủng bố; tích cực tìm kiếm các giải pháp giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ, trước hết là thiết lập cơ chế tăng cường tin cậy ở khu vực biên giới; mở rộng hợp tác kinh tế, mậu dịch, hình thành cơ chế trao đổi về quản lý nguồn nước ở các sông biên giới; tăng cường hợp tác về năng lượng hạt nhân dân sự; ủng hộ lẫn nhau trong các vấn đề nội bộ của mỗi nước.

Về các vấn đề quốc tế, Trung Quốc ủng hộ Ấn Độ đóng vai trò tích cực hơn tại Liên Hợp quốc, kể cả việc Ấn Độ trở thành Ủy viên thường trực HĐBA/LHQ; tăng cường phối hợp và chia sẻ quan điểm chung về các vấn đề toàn cầu hóa, biến đổi khí hậu, an ninh năng lượng, chống chủ nghĩa khủng bố, tăng cường tập hợp lực lượng  trong các cơ chế Trung - Nga - Ấn và Trung - Nga - Ấn - Bra-xin.

Đối với các vấn đề khu vực, Trung Quốc tỏ thái độ ứng xử như một nước lớn “có trách nhiệm”, thể hiện vai trò tích cực hơn trong quá trình giải quyết các điểm nóng khu vực nhằm nâng cao uy tín của Trung Quốc trên trường quốc tế, tạo thế mặc cả với Mỹ trong các vấn đề chiến lược. Trung Quốc sử dụng ảnh hưởng để thuyết phục Triều Tiên tỏ thái độ mềm mỏng hơn với Mỹ, Nhật; gây áp lực để  chính quyền quân sự Mi-an-ma đẩy nhanh tiến trình dân chủ và hoà giải dân tộc; lần đầu tiên tổ chức cuộc gặp P5+1 về vấn đề hạt nhân I-ran tại Thượng Hải (4/2008) nhằm thúc đẩy khả năng hình thành cơ chế đàm phán 6 bên về vấn đề này. 

Về kinh tế

Để phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế trong nước, nhất là trong bối cảnh giá dầu mỏ, nguyên nhiên liệu, lương thực tăng đột biến, kinh tế thế giới có nhiều biến động, Trung Quốc chủ trương tiếp tục mở cửa đối ngoại, đồng thời đẩy mạnh chiến lược “hướng ra ngoài”. Theo đó, Trung Quốc chủ động gắn kết ngoại giao kinh tế với ngoại giao láng giềng, vừa tạo cơ sở thực chất thúc đẩy quan hệ chính trị, vừa tăng cường phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại, đưa thực lực kinh tế của Trung Quốc ra bên ngoài. Các hướng triển khai cụ thể là[13]:

- Tăng cường quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư:  Đẩy mạnh tăng trưởng kim ngạch thương mại với tất cả các nước láng giềng theo ba hướng: duy trì tăng trưởng ổn định thương mại với đối tác lớn (Nhật Bản, Hàn Quốc); tăng nhanh thương mại với các nước còn nhiều triển vọng như ASEAN, Nga, Ấn Độ (khoảng 25-30%/năm), thúc đẩy mạnh mẽ với các nước láng giềng có nhiều tiềm năng như như Lào, Cam-pu-chia, Việt Nam, Trung Á (trên 30%/năm).

- Đẩy mạnh đầu tư vào các lĩnh vực năng lượng, khai khoáng, viễn thông,  xây dựng cơ sở hạ tầng tại các nước láng giềng thông qua nhiều biện pháp như tranh thủ quan hệ cấp cao, quan hệ hữu nghị truyền thống, tăng viện trợ ODA, cho vay ưu đãi đối với các dự án hợp tác lớn.

- Đẩy mạnh hợp tác bảo đảm an ninh năng lượng, KHKT, công nghệ cao và bảo vệ môi trường sinh thái với các nước láng giềng có trình độ phát triển cao (Nhật Bản, Hàn Quốc, Xinh-ga-po...), nhất là trong lĩnh vực cắt giảm khí thải và hiệu ứng nhà kính, giảm tiêu hao năng lượng, chống bão cát, trồng rừng, bảo vệ nguồn nước, quản lý và chế biến rác thải.

- Tăng cường liên kết kinh tế khu vực, thúc đẩy việc đàm phán ký kết Hiệp định đầu tư với ASEAN để chuẩn bị cho việc thành lập CAFTA, tiếp tục duy trì và tích cực tham gia các diễn đàn kinh tế khu vực như Hợp tác Đông Á, Diễn đàn Bác Ngao, Sáng kiến hợp tác Vịnh Bắc Bộ mở rộng, Hợp tác tiểu vùng sông Mê Kông (GMS), đàm phán ký kết các Hiệp định thiết lập khu mậu dịch tự do (FTA) song phương với các nước, qua đó nhằm khẳng định vai trò đầu tàu kinh tế trong khu vực, tạo sự đan xen, phụ thuộc lẫn nhau hơn nữa giữa Trung Quốc với các nước láng giềng và giành lợi thế cạnh tranh với các nước lớn khác ở khu vực.

Cùng với việc tăng cường đàm phán FTA với Hàn Quốc, Trung Quốc tiếp tục thúc đẩy Nhật Bản và Hàn Quốc tìm kiếm khả năng thành lập khu mậu dịch tự do Trung - Nhật - Hàn. Với các nước trong SCO, Trung Quốc tiếp tục thúc đẩy liên kết kinh tế khu vực, hiện đang chuẩn bị các bước đi cần thiết để thiết lập FTA khu vực Trung Á. Với Nam Á, Trung Quốc đang tính tới các bước tham gia hợp tác khu vực.

Về an ninh

Trung Quốc điều chỉnh mạnh phương châm tác chiến quân sự từ “ứng phó với xung đột và chiến tranh cục bộ” sang “xây dựng phòng thủ lãnh thổ, ứng phó với chiến tranh cục bộ trong điều kiện kỹ thuật cao, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và quyền lợi biển”; đẩy mạnh đầu tư cho quốc phòng, chuẩn bị các phương án đối phó với các tranh chấp về biên giới lãnh thổ và các sự kiến đột biến có thể xảy ra. Theo đó, Trung Quốc tiếp tục duy trì một số lượng đáng kể tên lửa, tàu ngầm tại eo biển Đài Loan để phòng ngừa sự can thiệp của Mỹ, Nhật Bản và xu thế Đài Loan độc lập; cử tầu tuần tra bảo vệ mỏ dầu Xuân Hiểu tại Đông Hải; xây dựng căn cứ tầu ngầm hạt nhân tại Hải Nam, tăng tần suất tập trận, cứu hộ, tuần tra ở Biển Đông, gián tiếp bảo vệ cho tuyến đường vận chuyển hàng hóa và dầu mỏ qua eo biển Malacca; duy trì chính sách với Ấn Độ theo hướng vừa củng cố lực lượng quân đội trên biên giới Trung - Ấn để tạo thế đàm phán, vừa triển khai tập trận chung chống khủng bố nhằm tăng cường tin cậy với Ấn Độ; triển khai tập trận chung với Nga và các nước Trung Á nhằm trấn áp khủng bố ở biên giới Tây Bắc.

Tại khu vực Đông Bắc Á, cùng với tiến triển của Đàm phán 6 bên về vấn đề hạt nhân Triều Tiên, Trung Quốc tích cực thúc đẩy các bên liên quan tiến tới thành lập cơ chế an ninh chung khu vực, tiếp tục ủng hộ Triều Tiên duy trì sức mạnh quân sự làm vùng đệm an ninh. Với Bắc và Trung Á, Trung Quốc đẩy mạnh quan hệ quân sự với Nga, nhất là trong lĩnh vực buôn bán và chuyển giao công nghệ sản xuất vũ khí, thiết lập đường dây nóng giữa hai Bộ Quốc phòng, tăng cường tập trận chung song phương và đa phương thông qua SCO. Với Đông Nam Á, Trung Quốc tham dự đầy đủ các cơ chế an ninh khu vực như ARF, Diễn đàn Shangri La, đề xuất các ý tưởng tăng cường quan hệ quân sự song phương và đa phương, trong đó có cả tập trận chung với một số nước ASEAN. Với các nước lớn như Mỹ, Nhật, Ấn Độ, Trung Quốc một mặt duy trì các cơ chế đối thoại chiến lược, an ninh, tiến hành giao lưu quân sự, kể cả tàu chiến, tổ chức diễn tập cứu hộ trên biển, tham vấn quốc phòng thường niên, mặt khác cũng thể hiện rõ ý đồ tăng cường sức mạnh mang tính phòng ngừa và răn đe. Với các nước vừa và nhỏ, Trung Quốc nhấn mạnh tới quan niệm mới về an ninh tổng hợp dựa trên cơ sở lợi ích chung, các vấn đề an ninh phi truyền thống, đồng thời đẩy mạnh viện trợ quân sự, bán vũ khí với giá ưu đãi và chuyển giao công nghệ sản xuất đạn dược cho Pa-ki-xtan, Mi-an-ma, Thái Lan, Phi-lip-pin, Cam-pu-chia và In-đô-nê-xi-a... để tăng cường cạnh tranh ảnh hưởng quân sự với Mỹ.

Đặc biệt, Trung Quốc đẩy mạnh việc triển khai chiến lược biển, thực hiện chủ trương “gác tranh chấp, cùng khai thác” với các biện pháp cụ thể là:

- Lần đầu tiên công bố Cương yếu “Quy hoạch phát triển sự nghiệp biển quốc gia”, gắn quyền lợi biển với an ninh quốc gia; phê chuẩn “Quy hoạch phát triển khu kinh tế Vịnh Bắc Bộ Quảng Tây”, triển khai mạnh sáng kiến hợp tác Vịnh Bắc Bộ mở rộng.

- Tăng cường thực lực và sự hiện diện về quân sự ở các khu vực tranh chấp, đẩy mạnh các hoạt động thăm dò và khai thác tài nguyên, dầu khí trên thực địa.

- Triển khai thực hiện chủ trương “gác tranh chấp, cùng khai thác” ở Đông Hải với Nhật, có thể cùng Đài Loan khai thác ở eo biển Đài Loan. 

- Ra sức vận động các nước liên quan chấp nhận chủ trương “gác tranh chấp, cùng khai thác”, từ hợp tác trên các lĩnh vực ít nhạy cảm như dự báo bão, cứu hộ, cứu nạn, nghiên cứu khoa học với mục tiêu cuối cùng là cùng khai thác dầu khí và tài nguyên.

Tăng cường sức mạnh mềm

Trung Quốc tiếp tục áp dụng cách tiếp cận “mềm” và sử dụng các công cụ của quyền lực mềm đối với khu vực.[14] Về chính trị, tập trung vào việc tăng cường quan hệ chính trị song phương, đồng thời chú trọng gây ảnh hưởng tới nội bộ các nước nhằm tranh thủ sự ủng hộ về chính trị, kinh tế, thậm chí cả lĩnh vực an ninh.  Về kinh tế, coi đây là cơ sở để tăng cường sức mạnh mềm, vừa phục vụ phát triển kinh tế trong nước, vừa tăng cường ảnh hưởng của Trung Quốc đối với các nước. Về văn hóa, Trung Quốc muốn xây dựng nền tảng “tinh thần” của văn hoá Trung Hoa ra thế giới bên ngoài, trước hết là ở các nước láng giềng khu vực.

Những năm gần đây, Trung Quốc chú trọng tăng cường sức mạnh mềm, coi đây là biện pháp chiến lược quan trọng để thực hiện mục tiêu “trỗi dậy hòa bình” và làm rõ sự khác biệt về chính sách ngoại giao “hòa bình” của Trung Quốc so với chính sách của Mỹ. Nội dung của chính sách tăng cường “sức mạnh mềm” bao gồm:

- Tăng cường quảng bá mô hình chính trị, kinh tế và phát triển của Trung Quốc, đưa ra các cam kết chung sống hòa bình, hợp tác cùng thắng, cùng phồn vinh với các nước, luôn nhấn mạnh Trung Quốc đi theo con đường phát triển hòa bình, mở cửa, không chỉ có lợi cho Trung Quốc mà còn tạo ra cơ hội phát triển cho các nước láng giềng, đồng thời tạo ra một hình ảnh Trung Quốc bảo vệ lợi ích các nước đang phát triển trên các vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo và quyền tự quyết dân tộc trước sức ép của phương Tây.

- Dùng thương mại và viện trợ làm công cụ tăng cường sức mạnh mềm, nhất là ở khu vực Đông Nam Á. Kết quả là, nhiều năm gần đây ảnh hưởng của Trung Quốc các nước khu vực, nhất là ở Mi-an-ma, Cam-pu-chia, Lào; Phi-lip-pin đều ngày càng sâu rộng.

- Đẩy mạnh truyền bá văn hóa, nghệ thuật, du học, y học cổ truyền đối với khu vực láng giềng xung quanh. Chỉ trong vòng 4 năm từ năm 2004 đến nay, Trung Quốc đầu tư mở  227 Học viện Khổng Tử (Trung tâm văn hoá ngôn ngữ) trên 66 quốc gia trên khắp thế giới và dự tính đến năm 2010 tổng cộng số học viện Khổng Tử sẽ đạt con số 500.[15] Ngoài ra, hàng năm Trung Quốc cung cấp học bổng đào tạo hàng nghìn cán bộ và sinh viên các ngành nghề cho các nước ở khu vực xung quanh, nhằm tăng cường ảnh hưởng sâu rộng tới các nước trong khu vực.

*

*      *

Do tầm quan trọng của láng giềng đối với kinh tế, chính trị, an ninh của Trung Quốc nên ngay từ đầu thập kỷ 50 của thế kỷ 20, Trung Quốc đã tỏ ra coi trọng quan hệ với các nước láng giềng, nhất là với các nước có vai trò trong phong trào không liên kết (Ấn Độ, Việt Nam, In-đô-nê-xi-a, Nê-pan...). Tuy nhiên, trong bối cảnh Chiến tranh lạnh, và sự chi phối của xu thế hòa hoãn Xô-Mỹ, Trung Quốc có nhu cầu phá thế hai cực Xô-Mỹ, tập hợp thế giới thứ ba nên chính sách ngoại giao láng giềng hầu như không được triển khai. Từ cuối những năm 80 và nhất là sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, xuất phát từ yêu cầu ổn định môi trường an ninh xung quanh, chính sách ngoại giao láng giềng của Trung Quốc mới trở thành một trong những ưu tiên hàng đầu của ngoại giao Trung Quốc. Đặc biệt, bước vào đầu thế kỷ 21, vai trò của láng giềng ngày càng được Trung Quốc coi trọng hơn nhằm phục vụ cho chiến lược trỗi dậy hòa bình, tăng cường sức mạnh mềm, nắm chắc châu Á làm điểm tựa cho việc vươn ra thế giới.

 Chính sách ngoại giao láng giềng của Trung Quốc là một bộ phận cấu thành trong tổng thể chiến lược đối ngoại chung của Trung Quốc; có mục tiêu không thay đổi là tìm cách tranh giành mở rộng, ảnh hưởng và các nước láng giềng phải có quan hệ hữu nghị với Trung Quốc. Đối với mỗi khu vực khác nhau, chính sách ngoại giao láng giềng của Trung Quốc có những điểm ưu tiên khác nhau: Với khu vực Đông Bắc Á, ưu tiên của Trung Quốc là về mặt kinh tế và an ninh; Với khu vực Trung Á, Trung Quốc coi trọng hơn mặt an ninh và tài nguyên thiên nhiên; Với khu vực Đông Nam Á, sự quan tâm của Trung Quốc khá toàn diện bao gồm cả chính trị, kinh tế và an ninh, gần đây chuyển sang cả lĩnh vực văn hóa. Trung Quốc luôn coi Đông Nam Á là hướng trọng tâm trong việc triển khai chiến lược của mình, là bàn đạp để Trung Quốc vươn tầm ảnh hưởng ra thế giới./.

 

Nguyễn Công Minh[16]

 

Bài đăng trên tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số 3 (74) tháng 9 – 2008, Học viện Ngoại giao




[1] Trung Quốc có chung đường biên giới trên bộ với Triều Tiên, Nga, Mông Cổ, Ka-dắc-xtan, Ta-di-ki-xtan, Cư-rư-gư-xtan, Áp-ga-ni-xtan, Pa-ki-xtan, Ấn Độ, Nê-pan, Bu-tan, Mi-an-ma, Lào, Việt Nam; đang có tranh chấp về biển với 7 nước là Nhật Bản, Triều Tiên, Hàn Quốc,  Phi-lip-pin, Bru-nây, Ma-lai-xi-a và Việt Nam.

[2] Wang Xi, “Thực tiễn  đương đại Trung Quốc và quan niệm phát triển của Đặng Tiểu Bình”, Nhà xuất bản Nhân dân Trung Quốc.

[3] He XueMei, “Regionalism: The New Concept of China's Neighboring Diplomacy after the End of the Cold War”, HeNan University 2005.

[4] Yan ShengYi, “Ngoại giao đương đại Trung Quốc”, Nhà xuất bản Đại học Phúc Đán, 5/2004.

[5] Đợt 1 vào những năm 1960, Trung Quốc đã ký với Hiệp định biên giới trên bộ với 5 nước là Mi-an-ma, Nê-pan, Mông Cổ, Áp-ga-ni-xtan, Pa-ki-xtan.

[6] Bộ trưởng BNG Trung Quốc Dương Khiết Trì, “Ngoại giao Trung Quốc từ khi cải cách mở cửa đến nay”, mạng Nhân dân Trung Quốc, 24/9/2008.

[7] Hu ZhengYue (Vụ trưởng vụ châu Á Trung Quốc), “Toàn diện nâng cấp Ngoại giao láng giềng Trung Quốc”, mạng Sina.com.cn ngày 24/1/2008.

[8] Theo Báo cáo của  Cục thống kê Trung Quốc.

[9] Liu QingCai, “China's Good-Neighbour Policy in the New Period”, International Review 5, China  2005 year.

[10] Hu ZhengYue (Vụ trưởng vụ châu Á Trung Quốc), “Toàn diện nâng cấp Ngoại giao láng giềng Trung Quốc”, mạng Sina.com.cn ngày 24/1/2008.

[11] Trung Quốc đã xây dựng khuôn khổ quan hệ chiến lược với hầu hết các nước ASEAN, với
Ma-lai-xi-a năm 2004, với Thái Lan, In-đô-nê-xi-a, Phi-lip-pin năm 2005, với  Việt Nam tháng 6/2008.

[12] Đề nghị 4 điểm này là: (1). Chân thành thực hiện Hiệp ước láng giềng, hữu nghị và hợp tác lâu dài, tăng cường nền tảng chính trị cho sự phát triển lâu dài và bền vững của SCO; (2). Cùng phát triển và hợp tác kinh tế của có lợi để xây dựng nền tảng kinh tế mạnh cho SCO; (3). Thúc đẩy giao lưu văn hoá đối thoại giữa các nền văn minh, trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi, không can thiệp vào nội bộ của nhau; (4). Tiếp tục mở cửa ra thế giới, thúc đẩy hợp tác theo chiều sâu với các nước, tổ chức quốc tế nhằm tạo môi trường bên ngoài thuận lợi cho sự phát triển của SCO.

[13] New Contributions by the Third Generation of Central Leadership of Communist Party of China, Journal of Chinese Women’s College Shandong Branch 4, 2002.

[14] Mạng Tân Hoa Xã, “Tăng cường sức mạnh mềm là nhiệm vụ ‘cứng’ trong giai đoạn hiện nay”, 4/9/2006.

[15] Mạng “Tân Hoa Xã ”, ngày 4/3/2008

[16] Mọi quan điểm trong bài hoàn toàn là của riêng tác giả.

 

 

 
Trong những năm gần đây, đã có rất nhiều phân tích và tranh luận về sự trỗi dậy của Trung Quốc. Hầu hết những phân tích và tranh luận này đều nói về sự trỗi dậy về mặt kinh tế và quân sự của Trung Quốc. Đó cũng là điều dễ hiểu, bởi Trung Quốc đã đạt được những thành tựu đáng kinh ngạc về mặt kinh tế, kéo theo nó là sự gia tăng sức mạnh quân sự một cách mạnh mẽ. Nói theo một cách khác, phần “sức mạnh cứng” của Trung Quốc đang ngày càng gia tăng. Nhưng bên cạnh đó, có một phần sức mạnh quan trọng khác của Trung Quốc cũng đang gia tăng một cách ấn tượng, không chỉ ở châu Á, mà trong chừng mực nào đó, còn đo được trên toàn thế giới. Đó chính là “sức mạnh mềm”.

 

Khái niệm về “sức mạnh” hay “quyền lực” được đề cập trong các tác phẩm khác nhau của Hans J. Morgenthau, Klaus Knorr và Ray Cline. Đến đầu thập niên 1990, khái niệm “sức mạnh mềm” được học giả Mỹ Joseph Nye đưa ra và phát triển trong cuốn sách Soft Power: The means to Success in the World Politics (Sức mạnh mềm: Công cụ thành công trong Chính trị thế giới). Nye cho rằng “sức mạnh mềm là khả năng đạt được điều mà bạn muốn thông qua sức hấp dẫn chứ không phải thông qua ép buộc hay mua chuộc” và “sức mạnh mềm xuất phát từ sự hấp dẫn về văn hóa, tư tưởng chính trị và các chính sách của một quốc gia”. Joshua Goldstein cũng cho rằng, “sức mạnh mềm” là loại sức mạnh “có thể dễ dàng gây ảnh hưởng lên hành vi của quốc gia khác mà không cần phải sử dụng đến các loại sức mạnh có thể đong đếm được”.[1]

Trung Quốc giờ đây đang tận dụng sự “hấp dẫn” của mình để gây ảnh hưởng lên các nước châu Á. Hiện nay, các học giả Trung Quốc cũng coi các thành tố “mềm” là một lựa chọn chiến lược phục vụ cho chiến lược “phát triển hòa bình” của nước này.

Việc Trung Quốc thúc đẩy sự phát triển “sức mạnh mềm” ra các nước láng giềng là một thực tế. Nhưng đâu là lý do để Trung Quốc thúc đẩy chính sách này, đặc biệt là ở châu Á? Bài viết sẽ điểm qua những khía cạnh của sức mạnh mềm của Trung Quốc và tìm hiểu liệu “sức mạnh mềm” có là một yếu tố quan trọng trong chiến lược “phát triển hòa bình” của Trung Quốc.

Sự mở rộng sức mạnh mềm của Trung Quốc

Từ lâu, các đế chế Trung Hoa đã tìm cách phát triển nền văn hóa của mình ra các khu vực xung quanh. Với lịch sử 5000 năm, nền văn hóa Trung Quốc đã từng bước mở rộng ảnh hưởng ra các nước xung quanh như Việt Nam, Triều Tiên và Nhật Bản. Các chuyến thám hiểm của Trịnh Hòa cuối thế kỷ 15 qua vùng biển Đông Nam Á cũng có mục đích tạo ra kênh liên lạc giữa Trung Quốc với các nước trong khu vực và truyền bá sự thịnh vượng của nền văn minh Trung Hoa sang các nước “Nam Dương”.[2]

Ngày nay, sự thành công của công cuộc cải cách mở cửa đã tạo điều kiện cho Trung Quốc phát triển các giá trị văn hóa của nền văn minh Trung Hoa. Người Trung Quốc luôn tự coi nền văn hóa của mình là “nền văn hóa của thế giới”. Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào đã nói “nền văn hóa Trung Quốc không phải của chỉ riêng người Trung Quốc mà là của toàn thế giới… Chúng ta sẵn sàng thúc đẩy giao lưu văn hóa với toàn bộ thế giới với nỗ lực chung thúc đẩy sự phát triển văn hóa”.[3]

Với lý do đó, hàng năm Trung Quốc đã chi ra một khoản ngân sách lên tới 200 triệu USD để thúc đẩy việc học tiếng Trung trên toàn thế giới và đặt mục tiêu tăng số lượng người nước ngoài học tiếng Trung lên 100 triệu người vào năm 2010.[4] Học viện Khổng giáo, một mô hình truyền bá văn hóa Trung Quốc giống như “Hội đồng Anh” và “Trung tâm văn hóa Pháp” đã được lập ra. Tính đến cuối năm 2005, đã có 32 Học viện Khổng giáo được Bộ Giáo dục Trung Quốc thành lập ở trên 23 nước trên thế giới với nhiệm vụ truyền bá tiếng Hán và văn hóa Trung Quốc tới nước sở tại.[5] Phong trào học tiếng Trung hiện đang rất thịnh hành ở hầu hết các nước trong khu vực. Một số trường Đại học lớn như Đại học Xơ-un (Hàn Quốc) đã chính thức tuyên bố lấy tiếng Trung Quốc thay cho tiếng Anh làm ngoại ngữ chính trong các chương trình đào tạo từ tháng 12/2003.[6] Con số du học sinh là người châu Á ở Trung Quốc cũng tăng lên không ngừng và cho đến năm 2004, 80% trong tổng số 78.000 sinh viên nước ngoài đang theo học trong các trường đại học và cao đẳng ở Trung Quốc đến từ các nước châu Á.[7]

Phim truyền hình, một trong những công cụ truyền bá văn hóa hữu hiệu nhất cũng được Trung Quốc sử dụng một cách triệt để. Các bộ phim truyền hình Trung Quốc đã được trình chiếu ở hầu như tất cả các kênh truyền hình của các nước Đông Nam Á, kể cho người dân các nước này không chỉ về cuộc sống hiện tại ở Trung Quốc mà còn về các câu chuyện lịch sử Trung Quốc. Chỉ tính riêng tại Việt Nam, phim Trung Quốc đã được trình chiếu ở tất cả các kênh truyền hình từ Trung ương cho đến các địa phương. Có người đã cho rằng phim Trung Quốc được chiếu nhiều sẽ làm tăng sự hiểu biết và cảm thụ về lịch sử và văn hóa Trung Quốc. Ngoài ra, một số kênh truyền hình trong khu vực như “Metro TV” của In-đô-nê-xi-a, “Channel News Asia” của Xinh-ga-po đã xây dựng các bản tin phát hoàn toàn bằng tiếng Trung Quốc phổ thông, phủ sóng ra toàn khu vực.

Bên cạnh văn hóa, hàng hóa Trung Quốc cũng tràn ngập trong khu vực Đông Nam Á. Các nhãn hiệu hàng hóa của Trung Quốc đại lục như TCL, Haier, Huawei, Levono… ngày càng trở nên phổ biến với người tiêu dùng Đông Nam Á. Kinh tế đại lục phát triển cũng làm gia tăng số lượng khách du lịch Trung Quốc đến các nước châu Á. Chỉ tính riêng năm 2003, 4,6 triệu khách du lịch Trung Quốc đã đến các nước Đông Nam Á[8] và con số này vẫn tiếp tục tăng lên, kéo theo sự phát triển của ẩm thực, văn hóa và ngôn ngữ Trung Quốc.

Trên lĩnh vực ngoại giao, Chính phủ Trung Quốc cũng tích cực sử dụng các diễn đàn đa phương để xây dựng hình ảnh một nước lớn Trung Quốc đầy thiện chí và trách nhiệm. Theo đuổi một khái niệm an ninh mới nhấn mạnh tới hợp tác và đối thoại an ninh khu vực ở các cấp độ khác nhau, Trung Quốc bày tỏ mong muốn có một trật tự an ninh mới thông qua việc giải quyết một cách hòa bình các bất đồng hơn là đối đầu. Trong cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, việc Trung Quốc quyết định không phá giá đồng Nhân dân tệ được các nước Đông Nam Á coi là một biện pháp xây dựng lòng tin. 

Các công cụ khác cũng được Trung Quốc tích cực sử dụng để tăng cường hình ảnh ở châu Á. Dù còn có tranh cãi, thương mại và viện trợ cũng được coi là thành tổ của sức mạnh mềm của Trung Quốc. Các nghiên cứu mới đây cho thấy các khoản viện trợ của Trung Quốc dành cho các nước châu Á đã tăng lên không ngừng và nhanh chóng vượt qua Mỹ. Năm 2002, tổng số viện trợ Trung Quốc dành cho In-đô-nê-xi-a lớn gấp hai lần tổng số viện trợ Mỹ dành cho nước này. Cuối năm 2004, Trung Quốc cũng đã nhanh chóng gửi viện trợ và đồ cứu trợ trị giá 60 triệu USD cho các nước trong khu vực bị thiệt hại do trận sóng thần cuối tháng 12/2004. Năm 2003, số tiền viện trợ mà Trung Quốc dành cho Phi-líp-pin lớn gấp bốn lần số viện trợ của Mỹ, dành cho Lào gấp ba lần của Mỹ[9] và các khoản viện trợ mà Trung Quốc dành cho các nước châu Á cũng ngày càng đa dạng hơn, không chỉ ở những dự án lớn, mà còn được chuyển thành các học bổng ngắn hạn cho các quan chức Chính phủ. Điều đáng nói là các khoản viện trợ của Trung Quốc được đặc biệt hoan nghênh do: (i) Trung Quốc không đặt các điều kiện đi kèm như phải cải cách dân chủ, mở cửa thị trường hay bảo vệ môi trường. Thay vào đó là chính sách “không can thiệp vào công việc nội bộ” khiến các nước hài lòng vì cảm thấy chủ quyền của họ được tôn trọng và; (ii) Trung Quốc sẵn sàng nhận các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, năng lượng là những lĩnh vực mà các nhà đầu tư khác ít hứng thú.[10]

Trung Quốc cũng tích cực thúc đẩy khu vực thương mại tự do với ASEAN và với từng nước thành viên đơn lẻ. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Trung Quốc vào Đông Nam Á cũng bắt đầu được chú ý. Trong giai đoạn 2002-2006, tổng số FDI của Trung Quốc vào khu vực này đạt 2,3 tỷ USD, chiếm 1,3% tổng số vốn FDI vào Đông Nam Á trong giai đoạn này.[11] Tuy đây không phải là con số lớn, nhưng việc các doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư vào Đông Nam Á đã góp phần đáng kể vào việc xây dựng hình ảnh của Trung Quốc trong khu vực.

Quan hệ kinh tế của Trung Quốc với ASEAN phát triển nhanh chóng cả về khối lượng, tốc độ tăng trưởng và quy mô. Trong giai đoạn 1997-2006, thương mại của Trung Quốc với các nước ASEAN đã tăng lần lượt là 450% và 625%, đạt 106,9 tỷ USD. ASEAN hiện là thị trường nhập khẩu lớn thứ tư của Trung Quốc và là nhà xuất khẩu lớn thứ ba vào Trung Quốc.[12]

Sức mạnh mềm: một công cụ của chính sách

Như Nye đã nói, “sức mạnh mềm” chính là loại sức mạnh hấp dẫn, tác động gián tiếp vào hành vi của người khác. Những lợi ích mà “sức mạnh mềm” mang lại cho một quốc gia không phải là những lợi ích có thể thấy ngay được, nhưng nó lại mang đến những tác dụng ngoài mong muốn.

Với các quốc gia-dân tộc, sức mạnh mềm là một công cụ quan trọng trong việc thực thi chính sách đối ngoại. Khi nói về những lợi ích của sức  mạnh mềm, Joseph Nye cho rằng, trong quan hệ quốc tế, một quốc gia có thể tác động vào một quốc gia khác “một cách tự nhiên” thông qua các giá trị như ý chí, kỹ năng ngoại giao, khả năng huy động sự ủng hộ nội bộ hay hệ tư tưởng, tôn giáo... Và khi giá trị của một quốc gia được nhiều nước khác chia sẻ thì quốc gia đó sẽ dễ dàng gây ảnh hưởng lên hành vi của quốc gia khác.[13] Quan điểm này của Nye được Joshua S. Goldstein chia sẻ khi Goldstein cho rằng sức mạnh ý tưởng có thể giúp “tối đa hóa các khả năng ảnh hưởng thông qua quy trình tâm lý” và một quốc gia có thể thu được ảnh hưởng quốc tế thông qua việc “trở thành người làm luật hay thay đổi cách nhìn của quốc gia khác đối với lợi ích quốc gia của họ”.[14]

Xét trên quan điểm truyền thống, các loại sức mạnh cứng như tiềm lực kinh tế, quân sự, quy mô dân số… là những thước đo cơ bản để quyết định sức mạnh và ảnh hưởng của một quốc gia. Rõ ràng là sức mạnh cứng, nhất là sức mạnh quân sự của Trung Quốc đang tăng lên nhưng Trung Quốc lại khó có thể sử dụng sức mạnh cứng trong quan hệ quốc tế ở châu Á. Điều này là vì những lý do sau: Lý do đầu tiên là trong quan hệ quốc tế ngày nay, các cường quốc không thể chỉ khẳng định sức mạnh của mình thông qua sức mạnh quân sự vì sử dụng sức mạnh quân sự vừa khó vừa khiến họ phải trả một cái giá cao hơn. Ngoài ra, các mối quan tâm về an ninh quốc gia ngày nay cũng trở nên phức tạp hơn khi các mối đe dọa đang thay đổi từ đe dọa quân sự (các mối đe dọa đến chủ quyền lãnh thổ) đến các vấn đề về kinh tế và sinh thái.[15] Hơn nữa, việc một quốc gia tập trung quá nhiều vào việc phát triển sức mạnh quân sự không chỉ khiến quốc gia đó gặp phải nguy cơ suy thoái về mặt kinh tế mà còn kéo theo sự nghi kỵ hay chống đối của các quốc gia láng giềng. Hậu quả là nó có thể kéo theo các cuộc chạy đua vũ trang, gây nên tình thế bất lợi đối với an ninh và lợi ích quốc gia. Trên thực tế, Trung Quốc đã gặp phải những vấn đề như vậy. Một phần trước việc Trung Quốc tăng chi phí quốc phòng và hiện đại hóa quân sự,[16] các nước khác ở châu Á cũng tăng cường trang bị vũ khí. Chính phủ In-đô-nê-xi-a mới đây đã công bố kế hoạch trang bị cho hải quân 12 tàu ngầm lớp Kilo vào năm 2024 trong khi Xinh-ga-po cũng có kế hoạch trang bị cho mình 6 tàu ngầm vào năm 2016. Từ năm 1996 đến năm 2003, Ma-lai-xi-a đã mua của Nga 18 máy bay chiến đấu MiG 29 và 18 máy bay SU-30MK; mua của Pháp ba chiếc tàu ngầm, mua của Anh hai tàu khu trục nhỏ loại Kekiu GEC-Yarrow, mua của I-ta-li-a 4 tàu hộ tống có trang bị tên lửa Assad.[17]  Năm 1996, Phi-líp-pin đã thông qua chương trình hiện đại hóa quân đội trong 15 năm với chi phí 12,7 tỷ USD.[18]

Bên cạnh phản ứng tự nhiên là tăng cường vũ trang, các học giả còn cho rằng các nước châu Á còn lựa chọn biện pháp tăng cường hợp tác quân sự giữa các nước với nhau hoặc với các cường quốc ngoài khu vực để cân bằng lực lượng với Trung Quốc. Tháng 03/2007, Nhật Bản và Ô-xtrây-li-a đã ký một hiệp ước an ninh song phương mà theo nhiều học giả, là nhằm vào mục đích đối phó với Trung Quốc. Mối quan hệ quân sự của Mỹ với các nước Đông Nam Á như Thái Lan, Phi-líp-pin, Xinh-ga-po… cũng được tăng cường. Ấn Độ cũng tích cực tăng cường hợp tác quân sự với các nước Đông Nam Á.

Cũng theo các học giả, ngoài sức mạnh quân sự, sự gia tăng sức mạnh “cứng” nói chung của Trung Quốc còn tạo ra một bất lợi nữa đối với nước này là việc nó khiến cho sự nghi kỵ của các nước châu Á, nhất là Đông Nam Á đối với ý đồ của Bắc Kinh. Vốn nằm kế cận Trung Quốc về mặt địa lý, các nước Đông Nam Á rất nhạy cảm trước sự trỗi dậy của Trung Quốc, nhất là khi giữa Trung Quốc và một số nước đang có những tranh chấp về lãnh thổ. Phi-líp-pin đã từng coi những hành động của Trung Quốc ở Biển Đông là điển hình của “chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc ở Đông Nam Á”. Bên cạnh đó, một số nước phương Tây vẫn tin vào thuyết về “mối đe dọa Trung Quốc”, theo đó khi mạnh lên, Trung Quốc sẽ công khai thách thức quyền lực và ảnh hưởng của Mỹ.

Như vậy, về mặt chiến lược, sự tăng cường vũ trang của các nước châu Á và sự hợp tác quân sự của các cường quốc bên ngoài với các nước trong khu vực châu Á sẽ tạo ra một môi trường bất ổn xung quanh Trung Quốc. Sự nghi kỵ mà các nước châu Á dành cho Trung Quốc sẽ khiến cho hình ảnh của Trung Quốc bị suy giảm. Do đó, các học giả Trung Quốc cho rằng, nếu Trung Quốc muốn thực sự trở thành một cường quốc tầm cỡ thế giới thì nước này phải tập trung vào phát triển “sức mạnh mềm” chứ không phải chỉ có “sức mạnh cứng”. Họ còn cho rằng, “sức mạnh mềm đã trở thành tiêu điểm trong thế kỷ 21” và “những quốc gia có thể phát huy tác dụng trong cộng đồng quốc tế và nhận được sự tôn trọng đều là những quốc gia có đầy đủ cả thực lực cứng và thực lực mềm”.[19]

Lý do thứ hai để Trung Quốc lựa chọn phát triển sức mạnh mềm là vì Trung Quốc có tiềm lực về mặt này. Mặc dù các học giả phương Tây cho rằng tiềm lực sức mạnh “mềm” của Trung Quốc không nhiều vì nước này không có nhiều giá trị để chia sẻ với thế giới. Mô hình kinh tế Trung Quốc tuy có hấp dẫn với một số quốc gia, nhưng về cơ bản Trung Quốc vẫn chỉ đang ở giai đoạn “học hỏi” các nước phương Tây.[20] Tuy nhiên, ở châu Á, tiềm lực mềm của Trung Quốc là rất lớn. Nền văn minh Trung Hoa đã phát triển  trên 5000 năm với rất nhiều giá trị quan trọng và có sức hấp dẫn lớn. Thống kê của Bộ Giáo dục Trung Quốc cho thấy 75% số sinh viên nước ngoài đến Trung Quốc để học về các chuyên ngành có liên quan đến văn hóa Trung Quốc như ngôn ngữ, nghệ thuật, lịch sử, triết học và y thuật.[21] Nho giáo, hệ tư tưởng chính thống phong kiến của Trung Quốc đã có ảnh hưởng rất lớn đến các nước châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam. Bên cạnh đó, gần 60 triệu Hoa kiều đang sinh sống ở Đông Nam Á và khoảng 4,6 triệu khách du lịch Trung Quốc hàng năm đến khu vực này là những lực lượng đông đảo có thể đóng góp vào việc phát triển văn hóa và quảng bá hình ảnh của Trung Quốc đến các nước trong khu vực. Sự thành công của mô hình kinh tế Trung Quốc ngày nay cũng tạo cho nước này một sức hấp dẫn rất lớn. Một học giả Xinh-ga-po từng nói: “Quá trình Trung Quốc trỗi dậy từ nghèo nàn trở thành đất nước giàu có đã có tác dụng cổ vũ đối với không ít quốc gia đang tuyệt vọng” và thậm chí mô hình phát triển của Trung Quốc còn có thể “hấp dẫn hơn nữa nếu như nước này tiếp tục phát triển một cách khoa học, xử lý được một loạt các vấn đề xã hội như chênh lệch giàu nghèo và ô nhiễm môi trường”…[22]

Thứ ba, những thành công của Trung Quốc trong nỗ lực xây dựng hình ảnh ở châu Á thông qua các biện pháp “mềm” là một minh chứng quan trọng cho tiềm lực mềm của Trung Quốc. Trong hơn một thập kỷ qua, hình ảnh của Trung Quốc đã được cải thiện rõ rệt trong tâm lý người dân các nước châu Á. Một cuộc thăm dò ý kiến do Cơ quan Nghiên cứu của Bộ Ngoại giao Mỹ tiến hành vào tháng 7 và 8/2003 cho thấy hình ảnh của Trung Quốc nhìn chung là tích cực ở Nhật Bản và Hàn Quốc. Đa số những người được hỏi ý kiến - 54% ở Nhật Bản và 68% ở Hàn Quốc - hoàn toàn có thiện chí với Trung Quốc. Người Nhật Bản và Hàn Quốc coi Trung Quốc là nước có ảnh hưởng nhất trong 5 đến 10 năm tới. 2/3 (67%) người Hàn Quốc coi sự phát triển kinh tế của Trung Quốc có tác động tích cực đến nền kinh tế Triều Tiên. Công chúng Nhật Bản bị chia rẽ về vấn đề này, nhưng nhìn chung cả Hàn Quốc và Nhật Bản đều coi Trung Quốc là góp phần vào ổn định và hòa bình ở khu vực Đông Á.[23] Thiện cảm đối với Trung Quốc càng ngày càng tăng ở các nước Đông Nam Á. Một cuộc thăm dò dư luận của đài BBC cuối năm 2003 cho thấy, có tới 70% người dân Phi-lip-pin và 68% người In-đô-nê-xi-a được hỏi có cái nhìn tích cực về Trung Quốc. Hơn 2/3 người Thái Lan được hỏi coi Trung Quốc là “người bạn thân nhất” của Thái Lan trong khi chỉ có 9% số ủng hộ Mỹ.[24]

 

Thay lời kết

Trung Quốc đang dùng “sức mạnh mềm” để tạo ảnh hưởng của mình ở châu Á. Tiềm lực “sức mạnh mềm” của Trung Quốc là rất lớn, được cho là đã “bắt rễ” ở châu Á từ lâu. Khổng giáo, học thuyết chính trị-xã hội của giới cầm quyền phong kiến Trung Quốc cũng có những ảnh hưởng rất lớn đối với các nước châu Á. Ngày nay, sự phát triển nhanh chóng về mặt kinh tế của Trung Quốc sẽ khiến cho mô hình phát triển của nước này càng trở nên hấp dẫn hơn. Đồng thời, sự giàu có về kinh tế cũng tạo điều kiện cho Trung Quốc triển khai mạnh mẽ việc truyền bá văn hóa Trung Quốc ra bên ngoài. Nói theo lời của một số học giả, Trung Quốc đang sử dụng cả quá khứ và hiện tại, sử dụng sức mạnh cứng để hỗ trợ cho việc xây dựng và sử dụng sức mạnh mềm trong quan hệ với các nước láng giềng châu Á. Đây được coi là một yếu tố quan trọng và một sự lựa chọn chiến lược của Trung Quốc.

Nhưng sự phát triển nhanh chóng của Trung Quốc đã không khỏi khiến cho các nước láng giềng lo ngại. Để trấn an các nước láng giềng nhạy cảm, Trung Quốc đã đưa ra thuyết “phát triển hòa bình” theo đó sự phát triển của Trung Quốc sẽ không mang lại bất kỳ mối đe dọa nào đối với các nước láng giềng. 

 

Nguyễn Đức Tuyến, Chuyên viên, Học viện Ngoại giao

Bài đăng trên tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số 1 (72), tháng 3 - 2008, Học viện Ngoại giao


 




[1] Joshua Goldstein, International Relations - brief second edition (Washington D.C: Longman Publication, American University, 2003), tr. 16-17.

[2] Bates Gill and Yanzhong Huang, “Sources and Limits of Chinese soft power”, Survival, Vol. 48, No. 2. Summer 2006, p. 18

[3] Bài phát biểu của Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào trước Quốc hội Ô-xtrây-li-a ngày 24/10/2003, xem tại địa chỉ www.australiapolitics.com/news/ 2003/10/03-10-24b.shtml.

[4] Bates Gill and Yanzhong Huang, tlđd, tr. 18.

[5] Bates Gill and Yanzhong Huang, tlđd, tr. 18.

[6] Eric Teo Chu Cheow, “Vai trò đang lên, “sức mạnh mềm” và ảnh hưởng của Trung Quốc tại châu Á”, Thông tin tham khảo Quan hệ Quốc tế - tháng 07/2005. Học viện Quan hệ Quốc tế, Hà Nội, tr. 24.

[7] Thông tấn xã Việt Nam, “IHT: Trung Quốc tìm cách quyến rũ các nước láng giềng”, Tin tham khảo đặc biệt, ngày 20/05/2005.

[8] Trung tâm Thông tin Thương mại (Bộ Công Thương), thông tin chi tiết tại website: http://www.vinanet.com.vn/NewsDetail.aspx?NewsID=95732#Scene_1.

[9] Joshua Kurlantzick, “China’s Charm: Implications of Chinese Soft Power”, Policy Brief 46, June 2006, Carnegie Endownment for International Peace, available at www.carnegieendowment.org/publications/index. cfm?fa=view&id=18401.

[10] Báo cáo trình Quốc hội Mỹ của Thomas Lum, Wayne M. Morrison và Brice Vaughn thuộc Foreign Affairs, Defence and Trade Division, Congressional Research Service, Tin A Bộ Ngoại giao, ngày 25/01/2007.

[11] ASEAN Statistics, available at http://www. aseansec.org/Stat/Table26.pdf.

[12] Báo cáo trình Quốc hội Mỹ, tlđd.

[13] Joseph Nye, “Soft Power and Lleadership: The Benifits of Soft power”, Compass: A Journal of Leadership. Spring 2004. Có thể xem nội dung bài viết tại địa chỉ http://hbswk.hbs.edu/achieve/ 4290.html.

[14] Joshua S. Goldstein, tlđd, tr. 46-47.

[15] Joseph Nye, Bound to Lead - The Changing Nature of American Power (New York: Basic Book, 1990), tr. 154.

[16] Kể từ năm 1990, ngân sách quốc phòng của Trung Quốc đã liên tục tăng ở mức hai con số, khoảng 15,3%/năm, đến năm 2007 đã lên đến 45 tỷ USD, tăng 17,8% so với năm 2006. Quân đội Trung Quốc, nhất là hải quân cũng được hiện đại hóa nhanh chóng với nhiều tàu ngầm lớp Kilo và tàu khu trục lớp Sovrevenyy của Nga. Thông tin tham khảo tại bản Tin thế giới ngày 04/03/2007 và Tin Tham khảo thế giới ngày 04/10/2002 của Thông tấn xã Việt Nam.

[17] Thông tấn xã Việt Nam, Tin tham khảo thế giới, ngày 21/05/2003.

[18] Thông tấn xã Việt Nam, Tài liệu tham khảo đặc biệt ngày 25/08/1997.

[19] Thông tấn xã Việt Nam, “Trung Quốc xác định xây dựng thực lực mềm là nhiệm vụ chiến lược”, Tin Tham khảo đặc biệt, ngày 04/06/2007.

[20] Muthiat Alagappa, Bài phát biểu trong buổi nói chuyện với các cán bộ của Học viện Ngoại giao, Bộ Ngoại giao ngày 07/01/2008 tại Hà Nội.

[21] Bates Gill and Yanzhong Huang, tlđd, tr. 18.

[22] “Trung Quốc xác định xây dựng thực lực mềm là nhiệm vụ chiến lược”, tlđd.

[23] Thông tấn xã Việt Nam, “Trung Quốc phát triển quyền lực mềm và tác động đối với chính sách của Mỹ ở châu Á”, Tin tham khảo chủ nhật ngày 07/03/2005.

[24] Bates Gill and Yanzhong Huang, tlđd, tr. 26.

 

 

 

Tham vọng của Trung Quốc tại Biển Đông đang kích thích sự can dự của Mỹ. Những yêu sách chủ quyền, nhu cầu tài nguyên đang khiến cho căng thẳng tại Biển Đông gia tăng và cánh cửa giải quyết triệt để vấn đề trở nên hẹp hơn.

 

 

 

Rủi ro do xung đột leo thang từ những sự kiện nhỏ nhặt có liên quan đang tăng lên tại Biển Đông từ 2 năm qua với những tranh chấp mà giờ đây có ít cơ hội cho việc đàm phán hay giải quyết. Ban đầu, những tranh chấp xảy ra sau Chiến tranh lạnh khi các quốc gia duyên hải – Trung Quốc và 3 quốc gia của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), gồm Indonesia, Malaysia, Philipin cũng như Việt Nam, quốc gia gia nhập ASEAN sau này – đã cạnh tranh để chiếm đóng những hòn đảo tại đây. Thực sự lúc đó khi vấn đề chỉ hoàn toàn ở mức tranh chấp lãnh thổ, thì nó đã có thể được giải quyết thông qua những nỗ lực của Trung Quốc bắt tay với ASEAN và tiến đến thắt chặt mối quan hệ với khu vực này.

Vào những năm 90, việc tiếp cận những nguồn trữ lượng dầu khí cũng như nguồn tài nguyên biển, đánh bắt cá đã bắt đầu làm phức tạp những yêu sách. Khi nhu cầu năng lượng toàn cầu tăng, các bên yêu sách đã đặt ra kế hoạch để khai thác những trữ lượng hydrocarbon của biển với những tranh chấp liên tiếp sau đó không còn gây sửng sốt, đặc biệt là giữa Trung Quốc và Việt Nam. Tuy nhiên, những tranh chấp năng lượng không cần thiết gây ra xung đột, vì tranh chấp đã, đang và có thể tiếp tục được kiểm soát thông qua những cơ chế phát triển đa phương hay phát triển chung, đối với những cơ chế này có nhiều tiền lệ cho dù chúng không phức tạp như Biển Đông.

Tuy nhiên, giờ đây vấn đề đã vượt ra khỏi những yêu sách lãnh thổ và việc tiếp cận tài nguyên năng lượng, khi Biển Đông trở thành tâm điểm cho cuộc cạnh tranh Mỹ - Trung tại Tây Thái Bình Dương. Từ khoảng năm 2010, Biển Đông bắt đầu được liên kết với những chiến lược rộng lớn hơn liên quan đến chiến lược hải quân của Trung Quốc và sự hiện diện tới đây của Mỹ tại khu vực này. Điều này khiến cho tranh chấp trở nên nguy hiểm và có lý do để quan ngại, đặc biệt là kh Mỹ tái khẳng định lợi ích của mình tại Châu Á – Thái Bình Dương và thắt chặt những mối quan hệ an ninh với các quốc gia yêu sách trong ASEAN có tranh chấp.

NHỮNG CĂN NGUYÊN THUỘC TRANH CHẤP LÃNH THỔ

Trung Quốc và Việt Nam yêu sách toàn bộ khu vực Biển Đông và những hòn đảo trong đó, trong khi Malaysia, Philipin, Indonesia và Brunei yêu sách đối với những khu vực tiếp giáp. Có hai nguyên tắc chi phối những yêu sách, và cả hai đều chống lại yêu sách của Trung Quốc đối với khu vực này. Thứ nhất là nguyên tắc “chiếm hữu hiệu quả”, một tiền lệ được hình thành bởi Tòa trọng tài Thường trực trong án lệ đảo Palmas vào tháng 4 năm 1928.[1] Chiếm hữu hiệu quả thừa hưởng thẩm quyền và mục đích để thực hiện quyền quyền tài phán liên tục và kế tiếp, điều này khác hẳn với xâm chiếm. Mặc dù Trung Quốc chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa – quần đảo với khoảng 30 hòn đảo cách đều từ bờ biển Trung Quốc và Việt Nam – thuyết về chiếm hữu hiệu quả cũng chống lại sự chiếm đóng của Trung Quốc tại quần đảo Trường Sa - quần đảo nằm ngoài bờ biển của Philipin và Malaysia – ngoài 9 hòn đảo Trung Quốc chiếm giữ từ 1988 – 1992, còn lại do các quốc gia yêu sách trong ASEAN chiếm giữ.

Nguyên tắc thứ hai là Công ước Luật biển Liên hợp Quốc (UNCLOS), Công ước đưa ra những nguyên tắc quyết định đến yêu sách đối với nguồn tài nguyên dựa trên vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa tiếp giáp (vùng đặc quyền kinh tế là khu vực biển kéo dài 320 km từ bờ biển, khu vực cho phép quốc gia ven biển yêu sách đối với những nguồn tài nguyên tại đây). UNCLOS không ủng hộ bất kỳ một bên nào được yêu sách vượt quá khu vực EEZ hay khu vực thềm lục địa tiếp giáp được tuyên bố. Nhưng yêu sách của Trung Quốc lại vượt quá vùng EEZ và chống lấn lên những yêu sách chủ quyền hợp pháp (theo quy định của UNCLOS cho phép – ND) của các quốc gia ASEAN có yêu sách.

Yêu sách của Trung Quốc dựa trên lịch sử, nhưng những yêu sách kiểu như vậy không hề thuyết phục trong luật quốc tế, theo quan điểm của Trung Quốc thì luật quốc tế hạ thấp di sản tổ tiên và là nguồn cơn oán giận của Trung Quốc. Quan điểm của Trung Quốc là yêu sách của nước này có trước UNCLOS (Công ước được công nhận vào năm 1982 và có hiệu lực 1994 sau khi quốc gia thứ 60 phê chuẩn) và rằng Công ước nên được điều chính lại cho phù hợp với những quyền lịch sử. Để khẳng định cho những yêu sách trong tình huống tồn tại sự phức tạp của luật quốc tế có thể không ủng hộ những yêu sách, Trung Quốc đã liên tiếp dùng đến những áp lực ngoại giao đối với việc xem xét lại luật quốc tế và đạt được một ngoại lệ đặt biệt đối với Biển Đông, nơi mà những yêu sách tổ tiên của Trung Quốc được tất cả công nhận.

DẦU, NĂNG LƯỢNG VÀ NGƯ NGHIỆP

Do tranh chấp lãnh thổ, vấn đề Biển Đông có thể sẽ còn tiếp tục bế tắc mà không có bất kỳ nhu cầu cấp bách nào để giải quyết vấn đề.Tuy nhiên sự tồn tại của nguồn dự trữ năng lượng tại Biển Đông lại ngăn cản một giải pháp như vậy. Với việc nhu cầu năng lượng toàn cầu đang tăng, những quốc gia tiêu thụ năng lượng chủ yếu như Trung Quốc đang tìm kiếm những nguồn năng lượng mới nhằm đáp ứng cho nền kinh tế đang phát triển của mình. Vào năm 2009, Trung Quốc trở thành nước tiêu thụ dầu đứng thứ hai sau Mỹ, và nhu cầu tiêu thụ của nước này dường như sẽ tăng gấp đôi vào năm 2030, điều khiến cho nước này trở thành quốc gia tiêu thụ dầu lớn nhất thế giới. Năm 2010, Trung Quốc nhập khẩu 52% lượng dầu từ Trung Đông, Ả Rập Xê Út và nhập 66% từ Angola. Trung Quốc đang đa dạng hóa nguồn cung nhằm giảm sự phụ thuộc vào việc nhập khẩu dầu theo đuổi việc gia tăng nguồn sản xuất ngoài khơi lưu vực Sông Ngọc (Pearl River) và Biển Đông.[2]

Những yêu sách chủ quyền cạnh tranh về năng lượng

Việt Nam là quốc gia sản xuất dầu lớn trong khu vực, với việc công ty dầu quốc doanh PetroVietnam sản xuất 24,4 triệu tấn, chiếm 26% tổng lượng sản xuất dầu của Việt Nam từ 3 mỏ dầu tại Biển Đông[3]. Với sản xuất tại những mỏ đã được khai thác giảm, PetroVietnam đã ký kết 60 hợp đồng khai thác và sản xuất dầu khí với nhiều công ty nước ngoài khác nhau trong nỗ lực khai thác những mỏ dầu mới. Tuy nhiên những mỏ dầu mới này không mang lại kỳ vọng bù đắp nguồn dầu bị giảm.[4] Khi Việt Nam nỗ lực khai thác những mỏ dầu mới, có khả năng sẽ làm tái bùng lên những xung đột với Trung Quốc, quốc gia kiên quyết phản đối nỗ lực của Việt Nam ký kết hợp đồng khai thác dầu với các công ty dầu quốc tế tại Biển Đông.

Trung Quốc phàn nàn rằng các quốc gia yêu sách chủ quyền trong ASEAN đang xâm phạm vùng biển của Trung Quốc và nó nằm trong khu vực mà Trung Quốc có quyền thực thi yêu sách của mình đối với các bên. Ví dụ, vào 26 tháng 5, 2011, 2 chiếc tàu hải giám của Trung Quốc đã cắt cáp khai thác của một tàu khảo sát Việt Nam đang tìm kiếm những mỏ dầu, khí trong vùng EEZ của Việt Nam, cách khoảng 120 km từ bờ biển phía nam Việt Nam. Bộ Ngoại giao Việt Nam đã công bố những đoạn video về việc tàu Trung Quốc đã thực sự phá cáp tàu Bình Minh của Việt Nam.[5] Người phát ngôn Bộ ngoại giao Trung Quốc, Khương Du (Jiang Yu) đã tuyên bố rằng tàu Trung Quốc đã thưc hiện “những hoạt động giám sát và thực thi luật hàng hải hoàn toàn bình thường trong khu vực thuộc quyền tài phán của Trung Quốc”[6] Vào ngày 9 tháng 6, một tàu cá Trung Quốc thực hiện hành động tương tự khi cắt cáp khảo sát của một tàu khảo sát khác của Việt Nam.

Philipin cũng gặp vấn đề tương tự với Trung Quốc. Manila đang nỗ lực nâng cao khả năng tự sản xuất dầu của mình, và đặt ra mục tiêu đạt 60% năm 2011, là điều có vẻ không thể thực hiện. Nước này dự tính ký kết 15 hợp đồng khai thác trong một vài năm tới tại khu vực khai thác ngoài khơi đảo Palawan, trong khu vực Trung Quốc có yêu sách. [7] Vào năm 2011, Philipin đã công bố 7 vụ việc liên quan đến sự quấy rối của Trung Quốc. Trong trường hợp vào ngày 2 tháng 3, hai chiếc tàu tuần tra Trung Quốc đã quấy rối một chiếc tàu khai thác dầu trong khu vực yêu sách của Philipin, cách 250 km phía tây Palawan. Hai chiếc tàu này đã rời đi ngày sau khi Không quân Philipin có mặt. Vào ngày 5 tháng 4, Manila trao công hàm phản đối chính thức lên Liên Hiệp Quốc và tìm kiếm sự ủng hộ của ASEAN trong việc tiến tới một quan điểm chung đối với vấn đề.[8] Trung Quốc đã đáp lại vài ngày sau đó bằng việc chính thức cáo buộc Philipin đã “xâm lược” các vùng nước của Trung Quốc.[9] Sau khi hạ thủy tàu Hải Giám 31 (Haixun-31) 3000 tấn, cùng với máy bay lên thẳng tại Biển Đông, vào tháng 6 Philipin cũng đưa loại tàu chiến cũ từ thế chiến thứ hai, tàu Rajah Humabon, ra khu vực yêu sách của mình.[10] Con tàu này đã phá bỏ những cột mốc của Trung Quốc đặt trên nhiều bãi đá trong khu vực yêu sách của Philipin.[11] Cũng vào tháng 6, tuyên bố chính thức của tổng thống Philipin nước này đang đổi tên biển từ Biển Đông thành “biển Tây Philipin” và tuyên bố chương trình mở rộng hải quân, chương trình nhằm cải thiện những giới hạn về sự hiện diện của Philipin tại Biển Đông.[12]

Bất chấp sự phản đối của Trung Quốc, cả Việt Nam và Philipin đều có kế hoạch tiếp tục những dự án khai thác khí ga cùng với các công ty nước ngoài. PetroVietnam sẽ hợp tác với Công ty Talisman Energy và sẽ bắt đầu khoan tại khu vực mà Trung Quốc đã trao quyền cho Crestone Corporation vào năm 1992, dự án giờ đây đang do Harvest Natural Resources tiến hành. ExxonMobil cũng có kế hoạch khoan thăm dò ngoài khơi Việt Nam, trong khi Philipin dự định khoan tại mỏ dầu tại nơi tàu Trung Quốc đã quấy rối tàu khảo sát của nước này vào tháng 3 năm 2011.[13] 

Trong khi đó, Ấn Độ cũng bắt đầu dính líu với tư cách là người ngoài cuộc, điều này làm phức tạp vấn đề. Trung Quốc có thể có những ảnh hưởng đối với các quóc gia yêu sách ASEAN do sự gần gũi về không gian và kích thước của Trung Quốc, nhưng Ấn Độ lại có vị thế và sức mạnh để chống lại Trung Quốc. Hơn nữa, Ấn Độ nuôi dưỡng sự oán giận đối với Trung Quốc vì sự hỗ trợ của nước này đối với Pakistan và những yêu sách dọc theo biên giới chung hai nước điều sẽ gây thêm nhiều khó khăn cho Trung Quốc trong việc kiểm soát. Mối quan hệ của Ấn Độ đối với Việt Nam có từ thời Tổng thống Indira Gandhi, chính phủ Ấn Độ lúc đó đã công nhận chính phủ bảo trợ Việt Nam tại Cambuchia năm 1984.  Nhiều người tại Ấn Độ xem Việt Nam là đồng minh của Ấn Độ trong việc chống lại Trung Quốc.

Tàu hải quân Ấn Độ INS Airavat, trên đường đi vào Nha Trang, phía nam Việt Nam vào ngày 22 tháng 7 năm 2011, đã bị phía Trung Quốc gửi tin nhắn rada cảnh báo rời khỏi khu vực “vùng biển Trung Quốc”. Bộ Ngoại giao Ấn Độ đã đáp trả lại rằng “Ấn Độ ủng hộ tự do hàng hải trong vùng biển quốc tế, bao gồm cả khu vực Biển Đông, và quyền qua lại phù hợp với những nguyên tắc được phép của luật pháp quốc tế”.[14] Trong khi đó, Trung Quốc phản đối những hoạt động thăm dò của công ty dầu khí Ấn Độ Oil and Natural Gas Corp (ONGC) xung quanh quần đảo Hoàng Sa, khu vực mà Trung Quốc đặc biệt nhạy cảm. ONGC đưa ra quan điểm rằng yêu sách của Việt Nam là phù hợp với luật pháp quốc tế, và công ty này sẽ tiếp tục những dự án khai thác tại hai lô gần quần đảo Hoàng Sa. [15]

Tiếp tục sau đó, trong khi Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang thăm New Delhi, một hợp đồng có thời hạn 3 năm về hợp tác khai thác, sản xuất dầu, khí đã được ký kết giữa ONGC và PetroVietnam vào ngày 12 tháng 10 năm 2011 bất chấp sự phản đối của Trung Quốc.[16] Đáng chú ý, hợp đồng này được ký trong khi Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam, Nguyễn Phú Trọng đang trong chuyến thăm Bắc Kinh và bày tỏ tình hữu nghị với Trung Quốc.[17] Việt Nam lúc này đã sử dụng lại cách thức truyền thống trong vấn đề giải quyết với Trung Quốc – nhấn mạnh sự tương đồng và tình hữu nghị, đây là nhiệm vụ của Tổng bí thư, trong khi tìm kiếm một đối trọng hiệu quả tại Ấn Độ. Có thể sẽ có thêm nhiều sự việc xảy ra khi Trung Quốc vạch ra đường lối chống lại đối thủ cường quốc Châu Á này.

Tranh chấp đánh bắt cá

Dường như những tranh chấp năng lượng vẫn chưa đủ, những cuộc cạnh tranh đối với nguồn tài nguyên biển và cá tại Biển Đông cũng góp phần làm gia tăng căng thẳng. Trước đây, những thuyền đánh bắt cá thường xuyên di chuyển ra vào khu vực chồng lấn yêu sách, nhưng tần suất gia tăng của những hoạt động như vậy đã gây nên những mối quan ngại. Việt Nam tuyên bố rằng có 63 tàu đánh bắt cá cùng với 725 thủy thủ đoàn đã bị Trung Quốc bắt giữ tại Biển Đông từ năm 2005;[18] và sau đó họ bị buộc yêu cầu phải trả những khoản tiền cao ngất ngưởng để được thả. Trong một vụ việc đã được công khai rộng rãi tại Việt Nam, một tàu tuần tra Trung Quốc đã bắt giữ một tàu đánh cá cùng 12 thủy thủ đoàn xung quanh quần đảo Hoàng Sa vào tháng 3 năm 2010.[19] Đây không phải là lần đầu tiên Trung Quốc làm điều này, và Bộ ngoại giao Việt Nam đã phản đối mạnh mẽ - đây là trường hợp không nên tái diễn thêm.

Trung Quốc ban hành lệnh cấm đánh bắt cá hàng năm tại Biển Đông, được xem là việc Trung Quốc bảo tồn nguồn cá cho nước này. Lần đầu tiên Bắc Kinh tuyên bố lệnh cấm đánh bắt cá là vào năm 1999, thời gian từ tháng 6 đến tháng 7 hàng năm, và đến năm 2009 lệnh được kéo dài bắt đầu từ ngày 16 tháng 5 đến 1 tháng 8 hàng năm. Quy mô của lệnh cấm rất mơ hồ, mặc dù lệnh cấm bao phủ khu vực xung quanh Hoàng Sa nhưng lại không quá xa về phía nam quần đảo Trường Sa[20]. Việt Nam kiên quyết phản đối vì những tác động của lệnh cấm đối với kế sinh nhai của ngư dân Việt Nam. Để lệnh cấm có hiệu lực và bảo vệ tàu cá của Trung Quốc, nước này đã cử những tàu “ngư chính” mà thực chất được chuyển đổi từ những tàu hải quân. Trung Quốc thông báo kế hoạch tăng cường sức mạnh của lực lượng hải giám của nước này lên tới 16 máy bay và 350 tàu vào năm 2015, lực lượng này sẽ được sử dụng để giám sát hàng hải, thực hiện những nhiệm vụ khảo sát, “bảo vệ an ninh biển,” và kiểm tra tàu nước ngoài hoạt động trong “vùng biển của Trung Quốc”[21]. 

Một vấn đề khác đó là tàu Việt Nam cũng xâm nhập vào khu vực các quốc gia ASEAN khác có yêu sách chủ quyền. Vào tháng 2 năm 2011 hai tàu cá Việt Nam dưới tên của Indonesia đã bị tàu tuần tra Indonesia bắt giữ gần đảo Natuna.[22]  Indonesia đã thông báo rằng vào năm 2009, có khoảng 180 tàu cá (không hoàn toàn là của Việt Nam – một số từ Malaysia) đã bị Indonesia bắt giữ khi đánh bắt cá trái phép tại vùng biển nước này.[23] Do nhu cầu tăng cao và nguồn dự trữ có hạn, những tranh chấp về đánh bắt cá có vẻ sẽ gia tăng tại Biển Đông, đặc biệt là khi các bên tranh chấp nâng cấp lực lượng bờ biển và hải quân của mình.

CẠNH TRANH GIỮA CÁC CƯỜNG QUỐC

Năng lượng và đánh bắt cá không phải là những nhân tố duy nhất trong tranh chấp này. Biển Đông đang trở thành điểm hội tụ cạnh tranh chiến lược của Trung Quốc đối với Mỹ khi Trung Quốc phát triển chiến lược hải quân hiện đại và triển khai những năng lực hải quân mới. ASEAN đã thừa nhận rằng yêu sách rộng lớn của Trung Quốc lên toàn bộ Biển Đông có thể được thương lượng, rằng Trung Quốc sẽ chấp nhận một thỏa thuận khu vực có lợi, trong đó những yêu sách lãnh thổ sẽ được điều chỉnh và những nguồn dữ trữ dầu, khí cũng như cá sẽ được chia sẻ. Trên cơ sở này, ASEAN đã đưa Trung Quốc vào đối thoại chính thức với hy vọng rằng những lãnh đạo của Trung Quốc có thể tin tưởng về giá trị của cơ chế của những quy tắc sẽ quản lý hành vi tại Biển Đông. ASEAN thường cẩn trọng nhằm tránh gây ra bất kỳ hành động khiêu khích Trung Quốc với mong muốn rằng Trung Quốc sẽ đáp lại và phương cách ASEAN trong việc khuyến khích một thỏa thuận thông qua sự đồng thuận sẽ được Bắc Kinh chấp nhận trong tương lai.

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây

Leszek Buszynski

Văn Cường (dịch)

Thái Giang (hiệu đính)

Bản gốc tiếng Anh The South China Sea: Oil, Maritime Claims and U.S. – China Strategic Rivalry, The Washington Quarterly 35(2), 2012



[1] Về tính pháp lý của những yêu sác, xem Mark J. Valencia, Jon M. Van Dyke, and Noel A. Ludwig, Sharing the Resources of the South China Sea (University of Hawaii Press, 1999), tr. 39-59; và R. Haller-Trost, The Spratly Islands: A Study on the Limitations of International Law, Trung tâm Nghiên cứu Đông Nam Á, Đại học Kent, Canterbury, Occasional Paper No. 14, tháng 10, 1990.

[2] U.S. Energy Information Administration, ‘‘China,’’ tháng 5, 2011, http://205.254.135.7/countries/cab.cfm?fips[2]CH; and ‘‘BP Energy Outlook 2030,’’ tháng 1, 2011,

http://www.bp.com/liveassets/bp_internet/globalbp/globalbp_uk_english/reports_and_publications/statistical_energy_review_2011/STAGING/local_assets/pdf/2030_energy_outlook_booklet.pdf.

[3] ‘‘Vietnam: Vietsovpetro finds more oil at Bach Ho field offshore Vietnam,’’Energy-Pedia News, 29,  tháng 6, 2011, http://www.energy-pedia.com/news/vietnam/vietsovpetro-finds-more-oil-at-bach-ho-field-offshore-vietnam

[4] ‘‘Vietnam Market for Oil and Gas Machinery and Services,’’ U.S. CommercialService-Vietnam, tháng 3, 2011, http://export.gov/vietnam/static/BP-Oil%20and%20Gas%20Machinery%20and%20Services_Latest_eg_vn_030123.pdf.

[5] Alex Watts, ‘‘Tensions rise as Vietnam accuses China of sabotage,’’ The Sydney Morning Herald, ngày 2, tháng 6, 2011, http://www.smh.com.au/world/tensions-rise-as-vietnam-accuses-china-of-sabotage-20110601-1fgno.html.

[6] ‘‘China reprimands Vietnam over offshore oil exploration,’’ Reuters, 28, tháng 5, 2011,

http://af.reuters.com/article/energyOilNews/idAFL3E7GS07E20110528.

[7] ‘Philippines to seek more oil in West Philippine Sea,’’ Agence France-Presse,29, tháng 6,  2011, http://globalnation.inquirer.net/5034/philippines-to-seek-more-oil-in-west-philippine-sea

[8] ‘‘Philippines protests China’s Spratly claim at UN,’’ Agence France-Presse, 14, tháng 4, 2011,

http://globalnation.inquirer.net/news/breakingnews/view/20110414-331090/Philippines-protests-Chinas-Spratly-claim-at-UN.

[9] Teresa Cerojano, ‘‘Beijing counters Manila’s UN protest, says Philippines ‘started toinvade’ Spratlys in 1970s,’’ Associated Press,  19, tháng 4,  2011, http://arabnews.com/world/article366262.ece.

[10] TJ Burgonio, ‘‘Navy flagship to patrol PH waters only, says Palace,’’ Philippine Daily Inquirer,  21, tháng 6,  2011, http://newsinfo.inquirer.net/16678/navy-flagship-to-patrol-ph-waters-only-says-palace.

[11] ‘‘Philippines pulls markers from disputed waters,’’ channelnewsasia.com, 15, tháng 6, 2011,

http://www.channelnewsasia.com/stories/afp_asiapacific/view/1135238/1/.html

[12] ‘‘Philippines to boost Spratly patrols,’’ channelnewsasia.com, 15, tháng 4, 2011, http://www.channelnewsasia.com/stories/afp_asiapacific/view/1122961/1/.html.

[13] Daniel Ten Kate, ‘‘South China Sea Oil Rush Risks Clashes as U.S. Emboldens

Vietnam on Claims,’’ Bloomberg, 27, tháng 5, 2011, http://www.bloomberg.com/news/2011-05-26/s-china-sea-oil-rush-risks-clashes-as-u-s-emboldens-vietnam.html.

[14] Indrani Bagchi, ‘‘China harasses Indian naval ship on South China Sea,’’ Times of India,2, tháng 9, 2011, http://articles.timesofindia.indiatimes.com/2011-09-02/india/30105514_1_south-china-sea-spratly-ins-airavat.

[15] Ananth Krishnan, ‘‘South China Sea projects an infringement on sovereignty, says China,’’ The Hindu,  19, tháng 9,  2011, http://www.thehindu.com/news/international/article2468317.ece?css[15]print.

[16] ‘‘India, Vietnam sign oil exploration agreement, ignoring China’s objections,’’Associated Press, 12, tháng 10,  2011, http://maritimesecurity.asia/free-2/south-china-sea-2/india-vietnam-sign-oil-exploration-agreement-ignoring-china%E2%80%99s-objections/.

[17] Sachin Parashar, ‘‘New Delhi tries to snap Beijing’s string of pearls,’’ The Times ofIndia, 20, tháng 10,  2011, http://articles.timesofindia.indiatimes.com/2011-10-20/india/30302032_1_nguyen-phu-trong-thein-sein-naypyidaw.

[18] Seth Mydans, ‘‘U.S. and Vietnam Build Ties With an Eye on China,’’ The New YorkTimes, 12, tháng 10,  2010, http://www.nytimes.com/2010/10/13/world/asia/13vietnam.html.

[19] Will Clem, ‘‘Patrol boats to escort fishing vessels in disputed Spratlys,’’ South China Morning Post,  3, tháng 4,  2010, http://www.viet-studies.info/kinhte/patrol_boats_to_escort_fishing.htm.

[20] ‘‘Unilateral fishing ban likely to fuel tension,’’ South China Morning Post, 17, tháng 5, 2010.

[21] Wang Qian, ‘‘Maritime Forces to be Beefed up Amid Disputes,’’ China Daily, 17, tháng 6, 2011, http://www.chinadaily.com.cn/china/2011-06/17/content_12718632.htm.

[22] ‘‘Navy arrests illegal Vietnamese fishing boats,’’ Antaranews.com, 12, tháng 2,  2011,

http://www.antaranews.com/en/news/67994/navy-arrests-illegal-vietnamese-fishing-boats.

[23] ‘‘Ten Vietnamese fishing boats caught poaching in RI waters,’’ Antaranews.com, 23,  tháng 4, 2010, http://www.antaranews.com/en/news/1272030822/ten-vietnamese-fishing-boats-caught-poaching-in-ri-waters.

 

 

Việc thiếu sự chỉ đạo nhất quán và phối hợp chặt chẽ về vấn đề Biển Đông trong nội bộ Trung Quốc, thêm vào đó là sự mơ hồ trong chính sách Biển Đông của chính quyền trung ương, các cơ quan, lực lượng liên quan đã lợi dụng điều này nhằm gia tăng lợi ích cục bộ của mình. Tất cả các nhân tố trên là nguyên nhân dẫn đến tình hình căng thẳng tại Biển Đông hiện nay

 

 

Ngày 23 tháng 4 năm 2012, Nhóm Khủng hoảng Quốc tế (International Crisis Group - ICG) đã có báo cáo tiêu đề “Khuấy động Biển Đông” đăng trên website của tổ chức này. Báo cáo dài 46 trang, bao gồm 7 chương do các học giả hàng đầu của ICG thực hiện, bàn về các nhân tố nội bộ Trung Quốc làm khuấy động Biển Đông trong 2-3 năm gần đây. ICG là một tổ chức nghiên cứu độc lập phi chính phủ, phi lợi nhuận có khoảng 130 thành viên từ các Châu lục khác nhau thực hiện các nghiên cứu các điểm nóng nhằm ngăn chặn và xử lý các xung đột có thể gây đến thiệt hại về người.

Nhận định của báo cáo cho rằng tình hình căng thẳng trên Biển Đông hiện nay chủ yếu do trong nội bộ Trung Quốc thiếu sự chỉ đạo nhất quán và phối hợp chặt chẽ giữa: (i) các cơ quan ra chính sách và các cơ quan thi hành luật; (ii)giữa các cơ quan chấp pháp ở Biển Đông; (iii) giữa chính quyền trung ương với chính quyền địa phương. Nguyên nhân chính do Trung Quốc hiện đang thiếu một cơ chế tập trung trong việc quản lý các vấn đề liên quan đến Biển Đông. Bên cạnh đó, sự yếu kém của các cơ quan quản lý dẫn đến có nhiều cơ quan cùng đưa ra chính sách tại Biển Đông, nhiều cơ quan cùng chấp pháp tại Biển Đông (9 con rồng) theo đuổi các lợi ích cục bộ khác nhau. Các cơ quan này trục lợi từ sự thiếu rõ ràng minh bạch trong chính sách quản lý Biển Đông của chính quyền Trung ương. Ngay cả chính quyền trung ương cũng trục lợi từ sự thiếu minh bạch này, điều này đang gây ra sự bất ổn định tại Biển Đông. Các nội dung cụ thể là:

1)            Nguyên nhân tình hình căng thẳng tại Biển Đông:

Báo cáo chỉ ra các nguyên nhân chính từ nội bộ Trung Quốc dẫn đến căng thẳng Biển Đông gần đây là:

-Thiếu cơ chế điều phối tập trung từ trung ương, năng lực yếu kém và lợi ích cục bộ của các cơ quan chức năng chấp pháp ở Biển Đông: Do thiếu sự điều phối tập trung từ Trung ương, nhiều cơ quan chức năng liên quan tới Biển Đông cố gắng gia tăng sức mạnh và ngân sách, đã gián tiếp gây ra những căng thẳng tại Biển Đông. Bộ Ngoại giao Trung Quốc là cơ quan có vai trò điều phối, nhưng Bộ này lại không có nguồn lực cần thiết và khả năng chỉ đạo được các bộ ngành khác có liên quan. Hải quân Trung Quốc lợi dụng tinh thần dân tộc để tuyên bố chủ quyền lãnh thổ làm căng thẳng phức tạp thêm tình hình, đồng thời lợi dụng các căng thẳng trên Biển Đông để biện minh cho việc hiện đại hóa lực lượng. Việc gia tăng nhanh chóng số lượng và vai trò của các lực lượngbán quân sự chấp pháp trên Biển Đông, kể cả tại các khu vực có tranh chấp lãnh thổ, trong khi chưa có khuôn khổ pháp lý đầy đủ cho hoạt động của lực lượng này cũng gây gia tăng nguy cơ xung đột trên biển. Các lực lượng chấp pháp này có liên quan đến hầu hết các vụ việc căng thẳng gần đây, bao gồm cả sự kiện giữa Trung Quốc và Philippin tại Bãi Hoàng Nham (Scarborough Reef) trong tháng 4 năm 2012. Bất cứ một giải pháp trong tương lai nào đối với các tranh chấp tại Biển Đông đều cần có một chính sách nhất quán từ phía các cấp quản lý của chính phủ trung ương Trung Quốc và các lực lượng chấp pháp trên thực địa.

Báo cáo sử dụng thuật ngữ “Chín con rồng khuấy động biển khơi” để miêu tả việc thiếu sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan chấp pháp khác nhau thuộc chính phủ ở Biển Đông, nhưng trên thực tế báo cáo cho biết có nhiều hơn 9 con rồng, đó là: 1) Cục quản lý đánh bắt cá; 2) Hải giám; 3) Chính quyền địa phương; 4) Hải quân Giải phóng Nhân dân (PLAN); 5) Bộ Ngoại giao; 6) Các công ty năng lượng; 7) Tổng cục Quản lý Du lịch Quốc gia, 8) Bộ quản lý Môi trường, 9) Lực lượng tuần duyên thuộc Bộ Công An, 10) Cục chống Buôn lậu và Thuế quan thuộc Tổng cục Hải quan; 11) Cơ quan quản lý An toàn Hàng hải (MSA). Trong các con rồng này có 5 con rồng hoạt động mạnh nhất đó là Cục quản lý đánh bắt cá, Hải giám, chính quyền địa phương, PLAN và Bộ Ngoại giao. Hầu hết các cơ quan này không có kinh nghiệm về đối ngoại. Một số cơ quan thường có hành động hiếu chiến để cạnh tranh với các cơ quan khác trong việc xin phân bổ ngân sách. Một số cơ quan khác (chủ yếu là chính quyền địa phương) cố gắng mở rộng các hoạt động kinh tế trong các vùng tranh chấp nhằm mục tiêu tập trung vào tăng trưởng kinh tế. Mặc dù động cơ của các bộ ngành chỉ là tranh giành lợi ích cục bộ nhưng lại có tác động lớn đến đối ngoại.

- Sự thiếu minh bạch trong chính sách của chính quyền trung ương trong vấn đề Biển Đông: Vì Trung Quốc không có mục tiêu rõ ràng cái gì cần được bảo vệ ở Biển Đông nên việc điều hành các cơ quan chấp pháp ở Biển Đông cũng gặp nhiều khó khăn. Mặc dù Trung Quốc đã có nhiều biện pháp trấn an các nước láng giềng như công khai giải thích đường chín đoạn, nói không yêu sách toàn bộ Biển Đông và sẽ tuân theo Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển (UNCLOS) nhưng Trung Quốc cũngkhông thể dễ dàng nhượng bộ trong các tuyên bố chủ quyền của mình đối với các khu vực quan trọng trên biển và biện minh cho các tuyên bố này bằng lập luận lịch sử (người Trung Quốc đã hiện diện ở các đảo từ lâu đời). Chính quyền địa phương lợi dụng sự thiếu minh bạch này để thực hiện các hoạt động có lợi cho mình trong khu vực có tranh chấp.

- Chủ nghĩa dân tộc tại Trung Quốc:Trung Quốc đã có chủ ý sử dụng chủ nghĩa dân tộc trong tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông bằng cách nhấn mạnh khía cạnh lịch sử trong các tuyên bố chủ quyền của mình. Chính sách này đã dẫn đến việc gia tăng áp lực trong nước đối với chính quyền phải thực hiện các hoạt động khẳng định chủ quyền. Chính quyền trung ương Trung Quốc đã có thể kiềm chế chủ nghĩa dân tộc trong vấn đề Biển Đông nhưng tình hình nóng bỏng tại Biển Đông đã làm cho chính quyền trung ương ít có sự lựa chọn chính sách khác trong quản lý tranh chấp tại Biển Đông mà buộc phải nghiêng theo chủ nghĩa dân tộc.

2) Trung Quốc điều chỉnh chiến thuật mềm mỏng hơn trong xử lý các vấn đề tại Biển Đông từ giữa năm 2011: Giữa năm 2011, khi các căng thẳng trên biển dẫn đến việc các quốc gia láng giềng tìm cách tăng cường hợp tác quân sự với Mỹ, Trung Quốc đã điều chỉnh chính sách theo hướng mềm mỏng hơn trong vấn đề Biển Đông. Trung Quốc giảm tần suất các tuyên bố chủ quyền quá mạnh bạo, nhấn mạnh hơn vào việc duy trì nguyên trạng trên Biển Đông, nhưng vẫn cương quyết chỉ đàm phán song phương với các nước có yêu sách chủ quyền có liên quan. Trung Quốc chủ động hàn gắn quan hệ ngoại giao với các nước trong khu vực thông qua các chuyến thăm cấp cao song phương,và tăng cường tham dự vào các hoạt động đa phương, có các động thái như ký với ASEAN thỏa thuận Hướng dẫn triển khai Tuyên bố Ứng xử của các bên tại Biển Đông  (DOC).

Về đối nội, Trung Quốc đã có các biện pháp giảm bớt tâm lý chủ nghĩa dân tộc và kiềm chế các hành động hiếu chiến do chính quyền địa phương thực hiện. Tuy có chú ý hơn tới Biển Đông, chính sách Biển Đông của chính quyền Trung ương vẫn không có sự điều phối hiệu quả từ trên xuống dưới. Nhiều nỗ lực không thành trong việc thành lập một cơ chế tập trung trong quản lý các vấn đề tranh chấp trên biển chứng tỏ lãnh đạo Trung Quốc hoặc chưa thực sự muốn xử lý vấn đề,hoặc vẫn chưa đủ tập trung vào vấn đề này, hoặc cũng có thể chính quyền trung ương Trung Quốc muốn duy trì sự mơ hồ thiếu rõ ràng này để trục lợi. Nếu như tình trạng này còn tiếp tục, việc tìm cách hàn gắn quan hệ ngoại giao của Trung Quốc với các nước trong khu vực sẽ khó có thể thực hiện được.

Báo cáo đi đến nhận xét rằng khả năng quản lý các mối quan hệ và giải quyết các tranh chấp tại Biển Đông sẽ là phép thử liệu sự trỗi dậy của Trung Quốc có hòa bình hay không.

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây

Thái Giang (dịch)

 

 

Trong bài viết trên trang Hội đồng Quan hệ Đối ngoại (Mỹ), Bonnie Glaser (CSIS) đánh giá rằng khả năng xảy ra xung đột vũ trang ở Biển Đông là hoàn toàn có thể. Tác giả đề cập đến 3 trường hợp Mỹ có thể bị cuốn vào cuộc xung đột đó đồng thời khuyến nghị một số biện pháp ngoại giao phòng ngừa.

 

- Trường hợp có khả năng xảy ra và nguy hiểm nhất là xung đột phát sinh từ hoạt động quân sự của Mỹ trong khu vực đặc quyền kinh tế của Trung Quốc (EEZ). Mỹ cho rằng UNCLOS cho phép các nước tiến hành các hoạt động quân sự trong vùng EEZ mà không cần phải có sự đồng ý của nước ven biển đó. Còn Trung Quốc cho rằng các hoạt động trinh sát tiến hành không có sự thông báo và chấp thuận của Trung Quốc là vi phạm luật pháp Trung Quốc và luật pháp quốc tế. Trong những năm gần đây, Trung Quốc thường xuyên ngăn chặn máy bay trinh sát của Mỹ trong vùng EEZ như giữa máy bay trinh sát Mỹ và máy bay chiến đấu của Trung Quốc năm 2001, tàu chiến Trung Quốc quấy rối tàu tuần dương của Mỹ năm 2009. Trong bối cảnh ngày càng có nhiều tàu của Trung Quốc hoạt động trong vùng biển Đông, khả năng xảy ra va chạm với Trung Quốc ngày càng tăng cao.

- Trường hợp thứ hai liên quan đến xung đột giữa Trung Quốc và Phi-líp-pin, đặc biệt là tranh chấp liên quan đến bãi Cỏ Rong, 80 dặm từ bờ biển của Phi-líp-pin mà cả hai bên đều nhận có chủ quyền. Phi-líp-pin hiện đang hợp tác với nước ngoài tiến hành các hoạt động thăm dò và khoan dầu khí ở khu vực này và trong trường hợp Trung Quốc quyết định can thiệp sẽ dẫn đến tranh chấp giữa Trung Quốc và Phi-líp-pin. Mỹ có thể bị cuốn vào cuộc tranh chấp này vì Hiệp ước Phòng thủ chung năm 1951. Mặc dù Mỹ không nói rõ khả năng can thiệp của Mỹ trong trường hợp xảy ra xung đột giữa Phi-líp-pin và Trung Quốc, Phi-líp-pin đã nói rằng trong trường hợp xảy ra xung đột vũ trang với Trung Quốc, Phi-líp-pin mong muốn có sự hỗ trợ của Mỹ theo Hiệp định này.

- Trường hợp thứ ba là xung đột giữa Việt Nam và Trung Quốc. Mặc dù khả năng Mỹ bị cuốn vào xung đột giữa Việt Nam và Trung Quốc thấp hơn so với Phi-líp-pin, tuy nhiên trong trường hợp Trung Quốc gây hấn, Mỹ có thể quyết định điều tàu hải quân đến khu vực và Việt Nam có thể đề nghị Mỹ trợ giúp. Nếu Trung Quốc tấn công vào các tàu chở dầu hoặc giàn khoan của các công ty Mỹ đang khai thác dầu ở khu vực biển Đông, khả năng Mỹ tham gia vào xung đột sẽ càng cao hơn.

Các biện pháp ngoại giao phòng ngừa khả năng xảy ra xung đột giữa Mỹ và Trung Quốc, cụ thể là:

- Hỗ trợ xây dựng các biện pháp giảm nguy cơ xung đột giữa Mỹ và Trung Quốc thông qua việc thiết lập các cơ chế thông tin giữa hai bên.

- Hỗ trợ nâng cao năng lực cho các nước trong khu vực để có thể nâng cao khả năng phòng thủ của các nước và qua đó răn đe Trung Quốc không có những hành động quá khích.

- Khuyến khích việc giải quyết các tranh chấp thông qua Tòa án Quốc tế, Tòa án Luật Biển hoặc thông qua bên thứ ba khác.

- Thúc đẩy các biện pháp giảm thiểu nguy cơ xung đột ở cấp độ khu vực như việc tuân thủ DOC, thúc đẩy các cơ chế khu vực về an ninh biển.

- Khuyến khích cùng phát triển/ hợp tác đa phương trong lĩnh vực khai thác dầu khí, tài nguyên biển...

- Làm rõ những cam kết của Mỹ, tránh tạo cơ hội khuyến khích các nước có những hành động đối đầu.

Các khuyến nghị đối với chính quyền Mỹ để ngăn chặn khả năng xung đột và giảm hậu quả nếu xung đột xảy ra:

Một là, Mỹ cần phê chuẩn UNCLOS. Mặc dù Mỹ tự nguyện tuân thủ các nguyên tác của UNCLOS và đã cam kết sẽ phê chuẩn nhưng việc Mỹ chưa phê chuẩn UNCLOS làm cho các nước khác nghi ngờ là Mỹ sẽ chỉ tuân thủ các công ước quốc tế nếu phù hợp với lợi ích quốc gia. Hai là, các nước có lợi ích ở Biển Đông cần sử dụng các biện pháp và quy trình đảm bảo an toàn để giảm thiểu sự bất ổn và tăng cường thông tin liên lạc trong trường hợp có sự cố xảy ra. Các nước có thể thông qua một quy trình chuẩn cần phải tuân thủ để giảm thiểu khả năng xung đột bùng phát. Ba là, Mỹ cần khuyến khích với các biện pháp giảm thiểu nguy cơ và xây dựng lòng tin giữa các nước. Mỹ cần nêu rõ sự ủng hộ của Mỹ đối với việc thực hiện DOC và tiến tới COC. Bốn là, thiết lập cơ chế đối thoại mới trong khu vực như Diễn đàn Biên phòng biển, trung tâm chia sẻ thông tin, ủy ban điều phối hoạt động đánh cá.. để tạo cơ hội cho việc tăng cường thông tin và điều phối chung. Năm là, Mỹ cần xem xét lại các hoạt động trinh sát trong không trung cũng như trên biển ở gần khu vực lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc, giảm tần xuất hoặc tiến hành các hoạt động ở khu vực ngoài khơi cách xa vùng lãnh hải của Trung Quốc hơn. Sáu là, cần tăng cường hiệu quả của Thỏa thuận tham vấn về các vấn đề quân sự trên biển giữa Mỹ và Trung Quốc; Mỹ và Trung Quốc cần thống nhất về những quy tắc an toàn để giảm thiểu khả năng sảy ra xung đột trong tương lai; có thể nghiên cứu xây dựng thỏa thuận về "giải quyết các vụ việc trên biển". Bảy là, Mỹ cần phải nói rõ trong các cuộc đối thoại giữa Phi-líp-pin và Việt Nam về trách nhiệm và cam kết của Mỹ cũng như giới hạn của khả năng can thiệp của Mỹ trong các tranh chấp trong tương lai để tránh việc các nước trong khu vực được khuyến khích đứng lên đối đấu với Trung Quốc./.

Theo Cfr

Viết Tuấn (gt)

 

Trì hoãn là chiến lược mà Trung Quốc đã sử dụng đối với Biển Đông từ giữa những năm 90 đến nay. Bài viết sẽ đi sâu phân tích vì sao Trung Quốc lại sử dụng chiến lược này và một số kết quả mà Trung Quốc đạt được cũng như tác động như thế nào đối với khu vực

 

Bài viết phân tích cách ứng xử của Trung Quốc trong tranh chấp Biển Đông thông qua lăng kính chiến lược của Trung Quốc quản lý các tuyên bố chủ quyền. Từ giữa những năm 1990, Trung Quốc đã theo đuổi chính sách trì hoãn giải pháp cho tranh chấp. Mục tiêu của chiến lược này là củng cố các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc, đặc biệt là các tuyên bố về chủ quyền các vùng biển hay quyền tài phán đối với các vùng nước này, và răn đe các nước khác củng cố tuyên bố chủ quyền của họ mà gây tổn hại đến lợi ích của Trung Quốc, bao gồm các dự án phát triển nguồn tài nguyên mà Trung Quốc không được tham gia. Kể từ giữa những năm 2000, mức độ các nỗ lực của Trung Quốc nhằm củng cố các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc và răn đe các bên tuyên bố chủ quyền khác đã tăng lên thông qua các biện pháp về ngoại giao, hành chính và quân sự. Mặc dù chiến lược của Trung Quốc là tìm cách củng cố các tuyên bố chủ quyền của mình, nhưng Trung Quốc cũng đe dọa các quốc gia yếu hơn trong tranh chấp và theo đó Trung Quốc đang làm bất ổn định khu vực. Kết quả là, chiến lược trì hoãn bao gồm các nỗ lực ngăn cản leo thang căng thẳng tuy nhiên trong khi đó Trung Quốc vẫn tiếp tục tìm cách củng cố chủ quyền của mình.

Trong những năm gần đây, không một tranh chấp vùng biển nào gây ra sự chú ý nhiều hơn tranh chấp về đảo, đá ngầm và các vùng nước tại Biển Đông. Tranh chấp bao gồm các tuyên bố chồng chéo của sáu chính phủ đối với chủ quyền lãnh thổ và các quyền chủ quyền các vùng biển, bao gồm các tuyến đường biển chính kết nối từ Đông Nam Á với Đông Bắc Á, bao gồm các khu vực đánh bắt cá rộng lớn và có thể chứa đựng lượng dự trữ dầu và khí ga lớn. Trong tranh chấp Biển Đông không một quốc gia nào gây ra sự chú ý nhiều hơn nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (PRC) do tuyên bố chủ quyền một vùng rộng lớn, trong quá khứ đã sử dụng vũ lực để đánh chiếm các đảo và vùng nước và năng lực hải quân ngày càng mạnh lên.

Bài viết này phân tích cách ứng xử của Trung Quốc trong tranh chấp tại Biển Đông thông qua lăng kính chiến lược của Trung Quốc quản lý các tuyên bố chủ quyền. Từ giữa những năm 1990, Trung Quốc đã theo đuổi chính sách trì hoãn giải pháp cho tranh chấp. Mục tiêu của chiến lược này là củng cố các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc, đặc biệt là các tuyên bố về chủ quyền các vùng biển hay quyền tài phán đối với các vùng biển này, và răn đe các nước khác củng cố tuyên bố chủ quyền của họ gây tổn hại đến lợi ích của Trung Quốc, bao gồm các dự án phát triển nguồn tài nguyên mà Trung Quốc không được tham gia. Kể từ giữa những năm 2000, mức độ các nỗ lực của Trung Quốc nhằm củng cố các tuyên bố chủ quyền và răn đe các nước khác đã tăng nhanh thông qua các biện pháp ngoại giao, hành chính và quân sự. Mặc dù chiến lược của Trung Quốc là nhằm củng cố các tuyên bố chủ quyền của mình nhưng Trung Quốc cũng tìm cách đe dọa các nước yếu hơn trong tranh chấp và như vậy đã đang tạo ra sự bất ổn tại khu vực. Đây à kết quả là chiến lược trì hoãn bao gồm các nỗ lực ngăn chặn leo thang căng thẳng giữa các bên tuyên bố chủ quyền.

Bài viết được trình bày như sau. Các tuyên bố chủ quyền và lợi ích của Trung Quốc tại Biển Đông, mà xác định các mục tiêu và bối cảnh cho chiến lược của Trung Quốc, được phân tích trong phần tiếp theo. Tiếp theo, bài viết miêu tả việc sử dụng chiến lược trì hoãn từ những năm 1949 và hai giai đoạn Trung Quốc sử dụng vũ lực là vào năm 1974 tại Nhóm đảo Lưỡi liềm (Cresent Group) tại quần đảo Hoàng Sa và vào năm 1988 đối với dải đá ngầm Johnson (Johnson Reef) tại quần đảo Trường Sa. Hai phần tiếp theo này phân tích các hợp phần quân sự, hành chính và ngoại giao trong chiến lược trì hoãn của Trung Quốc và các nỗ lực quản lý căng thẳng kể từ mùa hè năm 2011. Cuối cùng, bài viết phân tích các tác động đối với hợp tác và xung đột trong tranh chấp.

Các tuyên bố chủ quyền và Lợi ích tại Biển Đông của Trung Quốc

Đối với Biển Đông, Trung Quốc tuyên bố chủ quyền lãnh thổ đối với hai nhóm đảo và các quyền chủ quyền các vùng biển đối với các vùng nước liên quan. Cơ sở hiện nay cho tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc là bài phát biểu của Thủ tướng Chu Ân Lai vào tháng 8 năm 1951 trong các cuộc đàm phán ký hòa ước của Đồng minh với Nhật Bản. Trong bài phát biểu này, Chu Ân Lai đã tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa[1]. Tháng 9 năm 1958, Trung Quốc tái khẳng định tuyên bố chủ quyền đối với các đảo này khi Trung Quốc khẳng định quyền chủ quyền đối với các vùng nước trong thời gian khủng hoản Kim Môn. Tuyên bố năm 1958 đánh dấu lần đầu tiên Trung Quốc gắn tuyên bố chủ quyền lãnh thổ với đòi hỏi quyền chủ quyền các vùng biển, trong trường hợp này, quyền chủ quyền với các vùng lãnh hải. Từ giữa những năm 1970 cho đến nay, các phát biểu chính thức của chính phủ đã được sử dụng chủ yếu là cùng một ngôn ngữ để thể hiện tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc. Tuyên bố thường được diễn đạt: “Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với quần đảo Trường Sa (hay là các đảo ở Biển Đông) và các vùng nước liền kề.”

Khi thể chế luật pháp quốc tế về vùng biển đã phát triển, Trung Quốc bắt đầu pháp điển hóa các tuyên bố chủ quyền của mình đối với các quyền chủ quyền các vùng biển thông qua việc đưa ra nội luật của mình.  Các luật này hòa hợp hệ thống pháp luật của Trung Quốc với các yêu cầu của Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS). Năm 1992, Quốc hội (NPC) thông qua Luật về Lãnh Hải Vùng Tiếp giáp của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, trong đó tái khẳng định nội dung của tuyên bố 1958 nhưng ngôn ngữ thì cụ thể hơn. Tiếp sau luật này, Trung Quốc thông qua đường cơ sở cho các vùng nước của mình vào năm 1966. Năm 1998, Quốc hội Trung Quốc thông qua luật về Vùng Đặc quyền kinh tế và Thềm lục địa của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, trong đó Trung Quốc tuyên bố thêm quyền các vùng biển nhiều hơn  được ghi trong luật năm 1992.[2] Luật vùng đặc quyền kinh tế không đề cập đến quần đảo Hoàng Sa hay Trường Sa, nhưng khi kết hợp với luật lãnh hải năm 1992, nó cung cấp cơ sở cho tuyên bố các quyền chủ quyền các vùng biển tại Biển Đông. Tháng 4 năm 2011, Trung Quốc  xác nhận việc diễn dịch luật này trong công hàm gửi đến Ủy ban của Liên Hợp Quốc về Giới hạn thềm lục địa (CLCS) nói rằng các đảo thuộc quần đảo Trường Sa hoàn toàn “có quyền” tạo ra vùng lãnh hải, đặc quyền kinh tế và thềm lục địa[3].

Phạm vi của các tuyên bố của Trung Quốc là các quyền chủ quyền chủ quyền các vùng biển hay quyền tài phán, tuy nhiên, vẫn còn nhiều mập mờ. Trước tiên, nhiều trong số các vùng đất Trung Quốc tuyên bố chủ quyền không đáp ứng được yêu cầu là đảo theo như điều 121(3) của UNCLOS và theo đó không thể tạo ra vùng đặc quyền kinh tế. Trung Quốc có lẽ có thể tuyên bố phần lớn các đảo của Quần đảo Trường Sa cũng như là đảo Phú Lâm của Hoàng Sa và đảo Ba Bình (hiện đang bị Đài Loan chiếm đóng)[4]. Các tuyên bố chủ quyền như vậy, tuy nhiên, chỉ cho thấy thái độ mở rộng tối đa với lãnh thổ, trong khi UNCLOS yêu cầu các quốc gia giải quyết tranh chấp khi các tuyên bố vùng đặc quyền kinh tế chồng lấn.

Điều mập mờ thứ hai liên quan đến câu hỏi chủ quyền lịch sử mà Trung Quốc có thể tuyên bố tại Biển Đông. Điều 14 của luật vùng đặc quyền kinh tế năm 1998 của Trung Quốc  quy định “luật biển sẽ không ảnh hưởng đến các quyền lịch sử mà Cộng hòa Nhân đân Trung hoa có”. Mặc dù một số nhà nghiên cứu chính sách đã gợi ý rằng Biển Đông là vùng nước lịch sử, luật năm 1998 không xác định nội dung hay phạm vi của chủ quyền lịch sử này[5]. Hơn thế nữa, không có luật nào của Trung Quốc miêu tả những cái quyền này có thể bao gồm[6].

“Đường chín đoạn” xuất hiện trên các bản đồ chính thức của Trung Quốc trong khu vực tạo ra sự mơ hồ thứ ba. Đường chín đoạn này ban đầu được vẽ vào những năm 1930, bắt đầu xuất hiện trên bản đồ chính thức của Cộng hòa Trung Hoa (ROC) năm 1947 và đã xuất hiện trên các bản đồ của PRC kể từ năm 1949. Cả ROC và PRC đều đã không từng định nghĩa dạng tuyên bố chủ quyền nào đường chín đoạn này thể hiện. Đến ngày nay, đường chín đoạn vẫn không được xác định. Ví dụ, mặc dù Trung Quốc đã bao gồm một bản đồ đường chín đoạn trong công hàm gửi CLCS vào tháng 5 năm 2009, Trung Quốc chưa bao giờ định nghĩa đường này hay tuyên bố các chủ quyền lịch sử mà một số học giả đã thảo luận là đường chín đoạn ám chỉ[7].

Nếu các tuyên bố chính thức và luật của Trung Quốc được xác định giá trị, thì chỉ có một cách giải thích về đường này có thể được: đường miêu tả tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc với các đảo và các vùng khác nằm trong đường này, có thể kể tên như là quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Khi Trung Quốc công bố đường cơ sở vào nằm 1996, Trung Quốc vẽ đường cơ sở xung quanh quần đảo Hoàng Sa nhưng không vẽ tại quần đảo Trường Sa. Đạo luật này cho thấy Trung Quốc có ý định sẽ tiếp tục tuyên bố chủ quyền của mình đối với các quyền các vùng biển (chứ không phải là chủ quyền với các đảo) tại Biển Đông thông qua UNCLOS, theo như cam kết của Qichen năm 1995[8]. Nếu như đường chín đoạn đại diện cho bất cứ điều gì khác với tuyên bố chủ quyền cho các đảo kèm theo từ đó Trung Quốc tuyên bố các quyền vùng biển, sau đó Trung Quốc sẽ không cần thiết phải tuyên bố các vùng lãnh hải vào năm 1958 hay vẽ đường cơ sở xung quanh quần đảo Hoàng Sa đã nằm trong đường chín đoạn. Như Daniel Dzurek đã quan sát, việc phân định đường cơ sở xung quanh Hoàng Sa là “không nhất quán về mặt lô gic” với tuyên bố chủ quyền các vùng nước hay các cách giải thích khác của đường chín đoạn này[9].

Sự không sẵn lòng hay không có khả năng của chính quyền Trung Quốc trong việc định nghĩa đường chín đoạn, tuy nhiên, tạo ra khoảng trống cho nhiều các diễn viên đề xuất các cách diễn dịch cạnh tranh khác nhau về đường này[10]. Cục quản lý Đánh bắt cá Khu vực Biển Đông (SSRFAB), ví dụ, miêu tả các hoạt động của mình là nhằm bảo vệ các ngư dân Trung Quốc khi họ hoạt động trong “đường biên giới truyền thống”[11]. Báo chính thức của Quân đội Giải phóng Nhân dân (PLA), tờ Jiefangjun Bao, đôi khi đề cập đến “đường biên giới lãnh hải truyền thống” tại Biển Đông[12]. Từ những năm 1980, có nhiều chủ thể liên quan đến vùng biển như Hải quân Giải phóng Nhân dân (PLAN) và Lực lượng Hải giám thuộc Cơ quan quản lý Biển, đều cử tầu đến bãi đá Johnson, một vùng đá chìm dưới nước được cho như là vùng đầu phía Nam tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc tại biển Đông. Trên thực tế, các quốc gia theo như UNLCOS không thể tuyên bố chủ quyền đối với các vùng chìm dưới không gắn kết với đất liền. Tuy nhiên, tính biểu tượng của hành động này là nhất quán với cách diễn dịch rộng về “đường chín đoạn”.

Trung Quốc theo đuổi nhiều lợi ích thông qua các tuyên bố đối với chủ quyền lãnh thổ và quyền chủ quyền các vùng biển tại Biển Đông. Như chỉ huy trưởng của PLAN Đô đốc Liu Huaqing (Lưu Hoa Thanh) đã nhận xét, “bất cứ ai kiểm soát quần đảo Trường Sa sẽ thu được lợi ích to lớn về kinh tế và quân sự”[13]. Về mặt kinh tế, tài phán đối với các vùng nước này sẽ cho phép Trung Quốc quyền tiếp cận đối với các nguồn tài nguyên biển trên Biển Đông, đặc biệt là nguồn khí hydrocarbons và cá. Các nguồn số liệu từ Trung Quốc cho biết có khoảng 105 tỉ thùng dự trữ khí hydrocarbon quanh khu vực quần đảo Trường Sa. Trong khi đó Biển Đông đóng góp một số lượng lớn lượng cá đánh bắt hàng năm của Trung Quốc[14].  Phần lớn thương mại của Trung Quốc cũng được đưa qua vùng biển này, bao gồm 80% nhập khẩu dầu của Trung Quốc[15]. Về mặt quân sự, Biển Đông tạo nên vùng biển đệm cho các tỉnh phía Nam Trung Quốc và sẽ là sân chơi quyết định cho các hoạt động trong một cuộc xung đột về vấn đề Đài Loan với Mỹ. Bất cứ nỗ lực nào nhằm phong tỏa Trung Quốc trong thời chiến cũng sẽ xảy ra tại các vùng nước này.

Liệu cách Trung Quốc gọi Biển Đông là “lợi ích cốt lõi” có tương ứng với Tây Tạng hay Đài Loan hay không đã thu hút nhiều sự chú ý vào năm 2010. Tờ New York Times báo cáo vào tháng 4 năm 2010 rằng Trung Quốc đã miêu tả Biển Đông như là “lợi ích cốt lõi”[16] . Mặc dù vấn đề này đã được thảo luận nhiều trong các cuộc họp riêng giữa các quan chức của Mỹ và Trung Quốc, không một nhà lãnh đạo cao cấp nào của Trung Quốc đã từng công khai nói rằng Biển Đông là lợi ích cốt lõi của Trung Quốc, không giống như Tây Tạng hay Đài Loan[17]. Ngoại lệ duy nhất dường như là xuất hiện một bài báo tiếng Anh đăng trên Hãng tin Tân hoa xã vào tháng 8 năm 2011[18]. Bài viết miêu tả chủ quyền của Trung Quốc đối với các đảo tại Biển Đông và các vùng nước lãnh hải như là “một phần lợi ích cốt lõi của Trung Quốc”, nhưng không phải là chỉ riêng bản thân Biển Đông.

Liệu các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc có chỗ cho đàm phán? Theo quan điểm của tác giả thì câu trả lời là có. Khi Trung Quốc công bố các đường cơ sở vào năm 1996, Trung Quốc không vẽ đường cơ sở xung quanh bất cứ đảo nào của quần đảo Trường Sa. Trung Quốc cũng không vẽ đường cơ sở xung quanh các vùng tranh chấp, bao gồm Đảo Điếu Ngư và Đài Loan. Điều này cho thấy sự công nhận tranh chấp và khả năng Trung Quốc có thể thỏa hiệp trong một số bối cảnh trong tương lai. Trung Quốc, do đó, “không trói tay” hay “đốt cầu” bằng cách công bố các đường cơ sở xung quanh các vùng hay khu vực đàm phán có thể cần đàm phán. Nói chung, Trung Quốc cũng đã thỏa hiệp trong các tranh chấp lãnh thổ khác và trong phân định biên giới vùng biển với Việt Nam tại Vịnh Bắc Bộ.

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây

M. Taylor Fravel

Thái Giang (dịch)

Quang Hưng (hiệu đính

Bản gốc tiếng Anh “China’s Strategy in the South China Sea” đăng trên Contemporary Southeast Asia, Vol. 33, No. 3 (2011).



[1] Zhou Enlai Waijiao Wenxuan (Zhou Enlai’s Selected Works on Diplomacy) (Beijing: Zhongyang wenxian chubanshe, 1990), p.40.

[2] Bản sao của các tài liệu này, xem Guojia haiyangju zhengce fagui bangongshi (State Oceanographic Adiministration Office ò Policy, Law, and Regulation), ed., Zhonghua Renmin Gongheguo Haiyang Fagui Xuanbian (Tuyển tập luật biển và các quy định của PRC) (Beijing: Haiyang chubanshe, 2001), pp.1-14.

[3] Công hàm của Trung Quốc gửi Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc, ngày 14/4/2011, (http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submission_files/vnm37_09/chn_2001_re_phl_e.pdf)

[4] These are Taiping (Taiwan), Thitu (Philippines), West  York (Philippines), Spratly (Vietnam) and   Northeast Cay  (Philippines).

[5] For  an  examination  of  these  Chinese  views,  see  Peter  Dutton,  “Through  a Chinese  Lens”,   Proceedings 136,  no.  4  (April 2010):  24–29.


[6] Based   on  a  full-text  search  of  database.


[7] Zou Keyuan, “The  Sino-Vietnamese Agreement on Maritime Boundary Delimitation in  the   Gulf  of  Tonkin”,  Ocean  Development and   International Law  36,  no.  1 (2005):  74.


[8] “Qian  Qichen explains China’s   ‘clear-cut’ position  on  Spratlys  issue,” Xinhua

News   Agency,   1  August 1995.


[9] Daniel Dzurek, “The  People’s Republic of China Straight Baseline Claims”, IBRU Boundary and   Security Bulletin 4,  no.  2  (Summer 1996):  85.


[10] In  a  recent   book,  one   prominent  Chinese analyst  describes  four   different interpretations of the line, including maritime sovereignty, historic waters, historic rights, and  sovereignty over  land features. See  Wu  Shicun, Nansha Zhengduan de  Qiyuan  yu  Fazhan [The  Origins and   Development of  the  Spratlys  Dispute] (Beijing:  Zhongguo jingji  chubanshe, 2010),  pp.   32–39.


[11] “Malaixiya wuli zhuakou wo yi GangAo  liudong yuchuan [Malaysia’s unjustifiable seizure of  a  fishing boat   from   Hong  Kong  and   Macau]”, Nongyebu Nanhaiqu yuzhengju, 30  August  2006,  1459_2006_08_30_1916.html>.


[12] “Haijun diqipi  huhang   biandui  jiaru   zuguo  chuantong  haijiang  xian   [The Navy’s  Seventh Escort  Task  Force  Enters  the  Motherland’s Traditional  Maritime Boundary]”, Jiefangjun  Bao,  3  May  2011,  p.  4


[13] Liu  Huaqing, Liu  Huaqing Huiyilu [Liu  Huaqing’s Memoirs]  (Beijing:  Jiefangjun chubanshe,  2004),  p.  538.


[14] Bernard  D.  Cole,   The   Great  Wall   At   Sea:  China’s  Navy   in  the  Twenty-First Century, 2nd   ed.  (Annapolis: Naval   Institute Press,   2010),  p.  49.


[15] Michael  Lelyveld,  “Mideast  oil  drives  China  disputes”,  Radio  Free   Asia,18  July  2011.


[16] Edward  Wong,   “Chinese military seeks   to  extend its  naval  power”, New   York

Times, 24  April 2010.

[17] Michael D. Swaine, “China’s Assertive Behavior—Part One:  On  ‘Core  Interests’”,China   Leadership  Monitor, no.  34  (Winter 2011).

[18] “China-Philippines  cooperation  depends  on  proper  settlement  of  maritime disputes”,  Xinhua News   Agency,   31  August 2011.


 

Tuyên bố của NPNBNG/TQ vào ngày 1/3 về vấn đề Biển Đông rằng “không có quốc gia nào, kể cả Trung Quốc, đưa ra tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ Biển Đông”. Tuyên bố này được giới phân tích cho rằng quan điểm của Trung Quốc đã “mềm hóa”, nhưng sự thực về lập trường và thái độ của Trung Quốc là như thế nào?

Bài viết của Lý Quốc Cường, chuyên gia về vấn đề Biển Đông thuộc Trung tâm Nghiên cứu Sử địa biên giới, Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc đăng trên trang Chiến lược Trung Quốc

 

Tuyên bố ngày 01/3 vừa qua của Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi về vấn đề Biển Đông khiến dư luận quốc tế quan tâm cao độ, ông Hồng Lỗi nói “không có quốc gia nào, kể cả Trung Quốc, đưa ra tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ Biển Đông”. Giới phân tích bên ngoài căn cứ vào phát biểu này cho rằng, lập trường của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông đã “mềm hóa”.

Thực tế, lập trường và thái độ của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông là nhất quán và rõ ràng, hoàn toàn không tồn tại cái gọi là “mềm hóa lập trường” hay “bắt đầu trở nên rõ ràng”. Dư luận phân tích như vậy thực chất là vô tình hiểu sai hoặc cố ý làm sai lệch lập trường của Chính phủ Trung Quốc.

Ngày 06/3, tại buổi họp báo bên lề Kỳ họp lần thứ 5 Quốc hội Trung Quốc khóa 11, Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì một lần nữa phát biểu về vấn đề Biển Đông, nhấn mạnh “Trung Quốc nhất quán chủ trương lấy sự thực làm nền tảng, căn cứ vào chuẩn mực cơ bản của quan hệ quốc tế, các nước liên quan trực tiếp đàm phán giải quyết thỏa đáng tranh chấp Biển Đông. Trong khi tranh chấp chưa được giải quyết, các bên có thể gác tranh chấp, cùng khai thác”.

Lập trường của Trung Quốc đã hết sức rõ ràng, cái cớ “bảo vệ tự do hàng hải Biển Đông” của quốc gia liên quan là không đủ thuyết phục. Người phát ngôn Hồng Lỗi ngày 29/02 nói “sự thật chứng minh, an toàn và tự do hàng hải trên Biển Đông chưa bao giờ là vấn đề, và không bị bất kỳ ảnh hưởng nào do tranh chấp Biển Đông. Hy vọng các bên, kể cả bên không liên quan trực tiếp đến tranh chấp, sẽ làm những việc có lợi cho gìn giữ hòa bình và ổn định của khu vực”.

Nhưng có một hiện thực là, một số nước có yêu sách chủ quyền lôi kéo một số nước không có yêu sách chủ quyền nhúng tay vào vấn đề Biển Đông, hoặc luân phiên tổ chức diễn tập quân sự liên hợp, hoặc tìm cách mời thầu thăm dò khai thác dầu khí Biển Đông, cố ý tạo ra bầu không khí mất ổn định tại khu vực.  

Với phát biểu ngày 01/3 của Người phát ngôn Hồng Lỗi cho rằng “không có quốc gia nào kể cả Trung Quốc đưa ra yêu sách chủ quyền đối với toàn bộ Biển Đông”, vậy thì yêu sách chủ quyền của Trung Quốc đối với Biển Đông rốt cục là gì? Khu vực tranh chấp Biển Đông rốt cục như thế nào?

Toàn bộ Biển Đông có diện tích 3,5 triệu km2, trong đó Trung Quốc chủ trương có chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng biển nằm trong khu vực “đường 9 đoạn” (đường lưỡi bò), với diện tích hơn 2 triệu km2. Nói cách khác, Trung Quốc có chủ quyền và quyền tài phán không thể xâm phạm đối với vùng biển rộng hơn 2 triệu km2 thuộc Biển Đông cùng các đảo, bãi, bãi ngầm nằm trong phạm vi này.

Trung Quốc chưa công bố đường cơ sở lãnh hải Biển Đông

“Cương vực Nam Hải” của Trung Quốc đã trải qua quá trình hình thành và phát triển lâu dài trong lịch sử. Trải qua các triều đại từ Hán, Đường cho đến Tống, Nguyên, Minh, Thanh... phạm vi sinh sống và hoạt động của người Trung Quốc đã phát triển mở rộng ra tới hầu hết các đảo ở Biển Đông, chính quyền qua các triều đại đã hình thành sự quản lý đối với các đảo ở Biển Đông và vùng biển phụ cận. Kể từ thời kỳ cận đại, chính phủ Trung Quốc đã tăng cường và thực hiện hiệu quả chủ quyền và quyền quản lý đối với các đảo thuộc Biển Đông; đến năm 1947 bằng việc quy phạm các tên gọi địa lý và vẽ bản đồ các đảo, một lần nữa xác định rõ điểm cực nam của Trung Quốc là bãi ngầm Tăng Mẫu (bãi James), đồng thời lấy đường đứt đoạn làm giới hạn, từ đó hình thành phạm vi thực chất về “cương vực Nam Hải” của Trung Quốc.   

Kể từ khi chính thức công bố bản đồ “đường đứt đoạn” năm 1948 đến nay, Trung Quốc luôn kiên trì chủ quyền đối với vùng biển và các đảo trong phạm vi “đường đứt đoạn”. Lập trường này không chỉ được phản ánh trong tuyên bố của chính quyền các thời kỳ, trong các bản đồ cũng như trong thực tiễn lâu dài Trung Quốc thực thi quyền quản lý của mình, mà còn được thể hiện rõ ràng và đầy đủ trong các văn bản pháp lý và nội luật của Trung Quốc, như “Tuyên bố về Lãnh hải 1958”, “Luật về Lãnh hải và vùng tiếp giáp” năm 1992, “Luật về Vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa” năm 1998.   

Liên quan đến vấn đề thụ đắc lãnh thổ, luật pháp quốc tế hiện nay có các nguyên tắc cơ bản như “luật đương đại”, “phát hiện”, “chiếm trước”, “quản lý hữu hiệu” v.v.. Căn cứ vào nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, xét đến các chứng cứ lịch sử cho thấy Trung Quốc đã phát hiện sớm nhất, đặt tên sớm nhất, khai thác và quản lý đầu tiên, thực hiện quyền quản lý hành chính đầu tiên và liên tục không gián đoạn đối với Biển Đông... có thể xác định rõ ràng là, sự hình thành “biên giới Nam Hải” của Trung Quốc không chỉ là sự phát triển tất yếu của lịch sử, mà còn có tính duy nhất và liên tục, hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế. Về việc này, trong một thời kỳ dài, các nước trên thế giới không có nước nào đưa ra ý kiến bất đồng, ngược lại họ còn thừa nhận hoặc là mặc nhiên công nhận sự thực Trung Quốc có chủ quyền đối với các đảo ở Biển Đông.

Ngày 15/05/1996, Chính phủ Trung Quốc ra tuyên bố về một phần đường cơ sở lãnh hải lục địa và đường cơ sở lãnh hải quần đảo Hoàng Sa, xác định rõ đường cơ sở lãnh hải của Trung Quốc tại quần đảo Hoàng Sa, từ đó xác định rõ phạm vi chiều rộng lãnh hải 12 hải lý tính từ đường cơ sở lãnh hải của quần đảo Hoàng Sa là bộ phận cấu thành của lãnh thổ Trung Quốc, chủ quyền của Trung Quốc bao gồm vùng biển, bầu trời, lòng biển và đáy biển trong phạm vi lãnh hải.

Mặc dù trong tuyên bố này đã bảo lưu quyền “sẽ tiếp tục tuyên bố đường cơ sở lãnh hải của các vùng biển khác của nước CHND Trung Hoa”, nhưng để gìn giữ hòa bình ổn định của Biển Đông, Chính phủ Trung Quốc chưa công bố đường cơ sở lãnh hải của quần đảo Trường Sa. Tuy nhiên một điều chắc chắn là, thứ nhất Trung Quốc chưa bao giờ thay đổi lập trường của mình về chủ quyền và quyền tài phán đối với quần đảo Trường Sa và vùng biển phụ cận, thứ hai là chưa bao giờ mở rộng chủ trương “đường đứt đoạn”, luôn lấy “đường đứt đoạn” làm chủ trương phạm vi chủ quyền và quyền tài phán.   

Hiệu lực của “đường đứt đoạn” tối ưu hơn “Công ước luật Biển”

Công ước Luật biển LHQ được ký kết năm 1982, năm 1994 chính thức có hiệu lực. Công ước này đã xác định một loạt chế độ luật pháp quốc tế về biển, cho phép các nước ven biển chủ trương vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa mở rộng. Các nước khu vực Biển Đông như Việt Nam, Philippines, Malaysia, Indonesia, Bruney dựa vào đó lần lượt đưa ra yêu sách của mình về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, đồng thời “xâm phạm” vào phạm vi đường đứt đoạn của Trung Quốc với các mức độ khác nhau, gây ra chồng lấn về chủ quyền và quyền tài phán, từ đó hình thành vấn đề phân định ranh giới trên Biển Đông.

Một điều dễ thấy là, lập trường Biển Đông của Trung Quốc có chứng cứ lịch sử và bằng chứng pháp lý đầy đủ và rõ ràng, “đường đứt đoạn” là một trong những cơ sở căn bản để xác lập chủ quyền và quyền tài phán của Trung Quốc ở Biển Đông. Cơ sở để các nước ven Biển Đông nêu ra yêu sách chủ quyền là dựa trên Công ước luật Biển của LHQ, riêng Việt Nam còn đưa ra bằng chứng lịch sử, nhưng những bằng chứng này đều không thuyết phục, bất luận là từ góc độ lịch sử hay là từ lý luận và thực tiễn luật pháp quốc tế.

Cần phải nhấn mạnh là, trước hết, “đường đứt đoạn” ra đời từ rất sớm so với Công ước luật Biển 1982, là sự thực khách quan đã tồn tại gần 100 năm, công bố chính thức cũng đã hơn 60 năm, bởi vậy yêu cầu “đường đứt đoạn” phải phù hợp với Công ước luật Biển không chỉ là đảo ngược vấn đề, mà còn là không tôn trọng sự thật lịch sử và luật pháp. Mặt khác, Công ước luật biển chỉ là một bộ luật trong luật pháp quốc tế, không thể thay thế cho các luật quốc tế khác; bản thân Công ước không quy phạm và không ảnh hưởng đến vấn đề chủ quyền của các quốc gia, do đó không thể lấy Công ước này làm căn cứ chủ yếu hoặc duy nhất để phán xét tính hợp pháp của chủ trương chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông. Thứ ba, bản thân Công ước không phủ nhận các chủ trương quyền lợi đã hình thành và kéo dài liên tục trước khi Công ước ra đời, càng không thể mang lại “tính hợp pháp” cho bất kỳ quốc gia nào xâm phạm và làm tổn hại chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc./.

Bản gốc tiếng Trung “际先驱导报:中国的南海诉求究竟是什么

Quốc Trung, cộng tác viên tại Hồng Công (gt)

 

 

Lợi ích của Mỹ đang bị đe dọa trước sự trỗi dậy của Trung Quốc. Những luật chơi mà Mỹ đã thiết lập đang có nguy cơ “bị xem xét lại”, điển hình lại tại Biển Đông. Mỹ cần làm gì? Các khuyến nghị đầy đủ của think-tank hàng đầu của Mỹ CNAS.

 

I.              KHÁI QUÁT CHUNG

Lợi ích của Hoa Kỳ tại Biển Đông ngày càng bị đe dọa bởi sự tăng trưởng kinh tế và quân sự của Trung Quốc và những lo ngại về thiện chí thực hiện các quy chuẩn pháp luật hiện hữu của nước này. Mỹ và các nước trong khu vực có lợi ích sâu sắc và vĩnh cửu đối với các tuyến đường biển, mở cho tất cả nước cả về thương mại cũng như các hoạt động quân sự hòa bình như can thiệp nhân đạo hay bảo vệ bờ biển. Tuy nhiên, Trung Quốc vẫn tiếp tục thách thức sự tự do này bằng cách đặt nghi ngờ đối với các quy phạm hàng hải truyền thống và phát triển tiềm lực quân sự nhằm cho phép nước này đe dọa sự tiếp cận của các nước với khu vực biển này.

Ý nghĩa địa chiến lược của Biển Đông thật khó để phóng đại. Biển Đông có chức năng như cổ họng của Tây Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương - phần lớn mạng lưới liên kết kinh tế nơi mà các tuyến đường biển toàn cầu hợp nhất, chiếm 1,2 tỷ USD thương mại Mỹ hàng năm. Vùng biển này là trung tâm của nền kinh tế thế giới thế kỉ 21, nơi mà 1,5 tỷ người Trung Quốc, gần 600 triệu người Đông Nam Á và 1,3 tỷ cư dân của tiểu lục địa Ấn Độ vận chuyển các tài nguyên thiết yếu và trao đổi hàng hóa trong khu vực và trên toàn cầu. Biển Đông là một khu vực có hơn nửa tá các nước chồng lấn yêu sách lãnh thổ đối với một khu vực đáy biển có trữ lượng dầu đã được xác định là ít nhất 7 tỷ thùng và 900 nghìn tỷ feet khối khí tự nhiên.

 Bảo vệ lợi ích của Mỹ và thúc đẩy việc giữ nguyên trạng (status quo) không cần và không nên dẫn đến xung đột với Trung Quốc. Cả Mỹ và Trung Quốc sẽ tiếp tục hưởng lợi từ hợp tác và thực tế là, không một quốc gia châu Á nào hưởng lợi từ trật tự quốc tế do Mỹ dẫn đầu nhiều hơn Trung Quốc. Tuy nhiên, quản lý căng thẳng và thúc đẩy hợp tác ở Biển Đông đòi hỏi một sự quan tâm lớn bền bỉ và thận trọng từ Washington.

Trong những thập niên tới, thách thức cho Hoa Kỳ sẽ là làm thế nào để duy trì những quy tắc truyền thống về tự do hàng hải, trong khi thích ứng với sức mạnh các hoạt động ngày càng tăng của các nước trong khu vực, bao gồm cả Trung Quốc. Mục tiêu là hợp tác, nhưng hợp tác có thể được thúc đẩy một cách tốt nhất từ vị trí sức mạnh. Điều này đòi hỏi Mỹ phải duy trì sức mạnh và mở rộng hợp tác khu vực, một quan niệm có thể được gọi là "ưu tiên hợp tác”.

Để bảo vệ quyền lợi của Mỹ và các đồng minh ở Biển Đông và duy trì những quy tắc pháp lý đã tồn tại từ lâu, các nhà hoạch định chính sách Mỹ nên thực hiện năm bước sau:

Đầu tiên, Mỹ cần tăng cường sự hiện diện của hải quân trong dài hạn bằng cách xây dựng một hạm đội gồm 346 tàu thay vì giảm xuống 250 tàu do cắt giảm ngân sách và thu hồi các tàu chiến cũ trong thập kỷ tới. Quan hệ ngoại giao và kinh tế với Trung Quốc và các nước khác sẽ đạt hiệu quả hơn khi nó được hỗ trợ bởi một vị thế quân sự có thể tin tưởng. Tuy nhiên, phát triển Hải quân phải dựa trên tăng trưởng kinh tế lành mạnh trong tương lai – đây là ưu tiên chiến lược của Mỹ.

Thứ hai, Mỹ nên thúc đẩy một mạng lưới đối tác an ninh. Mô hình liên minh “trục bánh xe và nan hoa” giữa Mỹ và các đối tác Đông Á đang bị lấn át bởi một mạng lưới các quan hệ rộng hơn, phức tạp hơn và có sức lan tỏa hơn, trong đó các nước Châu Á là những nhân tố thúc đẩy chính. Xây dựng một mạng lưới các đối tác và đồng minh mạnh hơn trong khu vực Đông Nam Á phải là một mục tiêu dài hạn và quan trọng của Mỹ.

Thứ ba, Mỹ cần phải đảm bảo rằng hòa bình và an ninh ở Biển Đông phải được đặt lên hàng đầu trong chương trình nghị sự ngoại giao và an ninh của nước này. Tự do hàng hải là một mối quan tâm phổ quát, hợp tác hàng hải và các cơ chế giải quyết tranh chấp một cách hòa bình nên tiếp tục được thảo luận trong các diễn đàn khu vực. Mỹ cũng cần xây dựng các thể chế đa phương về lâu dài nhưng cũng thừa nhận rằng trong thực tế Mỹ có thể cần phải tập trung vào các cách tiếp cận song phương hoặc tiểu đa phương để tránh khiêu khích Trung Quốc.

Thứ tư, Mỹ cần thúc đẩy hơn nữa hội nhập kinh tế trong khu vực cũng như giữa Mỹ với khu vực, với sự tập trung đặc biệt về thương mại. Thương mại chính là đồng tiền ở khu vực Châu Á và có thể giúp kết nối các đầu tư chiến lược của Mỹ với khu vực năng động nhất trên thế giới này.

Thứ năm và cuối cùng, Mỹ cần có chính sách đúng với Trung Quốc. Điều này đòi hỏi quan hệ ngoại giao và kinh tế năng động phải được hỗ trợ bởi một vị thế quân sự mạnh mẽ và một nền kinh tế phát triển. Một chính sách thực tế bắt đầu bằng việc củng cố sức mạnh của Mỹ sau đó tích cực ủng hộ hợp tác dựa trên luật pháp; chính sách này tránh xung đột vũ trang nhưng không tránh đối đầu ngoại giao.

II.            GIỚI THIỆU

Lợi ích của Mỹ tại Biển Đông ngày càng bị đe dọa. Bảo vệ những lợi ích này không cần - và không nên - dẫn đến xung đột với Trung Quốc. Tuy nhiên, quản lý căng thăng và thúc đẩy hợp tác ở Biển Đông đòi hỏi một sự quan tâm lớn bền bỉ và thận trọng từ Washington.

Tầm quan trọng của Biển Đông vẫn còn bị định giá thấp, được thảo luận chủ yếu giữa các chuyên gia về khu vực chứ không phải là một bộ phận tiêu biểu rộng lớn của cộng đồng an ninh quốc gia. Nhưng Biển Đông xứng đáng nhận được sự ưu tiên quan tâm. Khi mà hệ thống dựa trên luật pháp đã tồn tại hàng thế kỷ do Mỹ thúc đẩy bị thách thức bởi một Trung Quốc đang trỗi dậy thì Biển Đông sẽ là chỉ dấu chiến lược để xác định tương lai khả năng lãnh đạo của Mỹ trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Vấn đề liệu Tây Thái Bình Dương có duy trì là một khu vực hàng hải mở cửa, ổn định và thịnh vượng hay đang dần trở thành lò lửa của sự tranh cãi phân cực như thời Chiến tranh lạnh hay không có thể sẽ được giải quyết tại khu vực biển quan trọng này. Biển Đông là nơi mà các nước như Việt Nam, Malaysia và Philippines phải đối mặt với hiện tượng “Phần Lan hóa” của Trung Quốc nếu sức mạnh hải quân và không quân của Mỹ suy giảm. Tóm lại, Biển Đông là nơi mà toàn cầu hoá xung đột với địa chính trị.

Nếu kinh tế thế giới có một trung tâm địa lý, thì đó là Biển Đông. Khoảng 90% hàng hoá thương mại vận chuyển từ lục địa này qua lục địa khác đều bằng đường biển, khoảng một nửa số hàng hóa này về mặt tổng chi phí vận chuyển (một phần ba về giá trị tiền) đi qua Biển Đông[1]. Biển Đông có chức năng như cổ họng của Tây Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương - phần lớn mạng lưới liên kết kinh tế nơi mà các tuyến đường biển toàn cầu hợp nhất, chiếm 1,2 tỷ USD thương mại Mỹ hàng năm.[2] Sự phụ thuộc quá mức của Trung Quốc và ở một mức độ nào đó, của tất cả các nước công nghiệp, vào một eo biển Malacca an toàn được gọi là “tình thế tiến thoái lưỡng nan ở Malacca”.[3] Ở các mức độ khác nhau, tất cả các quốc gia đều phụ thuộc vào eo biển hẹp kết nối Ấn Độ Dương với Tây Thái Bình Dương - Vịnh Bengal với Biển Đông - qua đó dầu và khí tự nhiên từ Trung Đông có thể được vận chuyển một cách an toàn qua biển tới tầng lớp trung lưu mới nổi ở Đông Á, bộ phận rất quan trọng đối với nền kinh tế thế giới.

Địa chính trị là thế lực đối kháng lại toàn cầu hóa, phân chia thế giới thay vì hợp nhất nó. Biển Đông là nơi mà một Trung Quốc đang trỗi dậy về quân sự  ngày càng thách thức tính ưu việt của hải quân Mỹ - một xu hướng mà nếu cứ để đi theo quỹ đạo hiện tại, có thể phá vỡ sự cân bằng quyền lực đã tồn tại từ cuối Chiến tranh thế giới thứ II và đe dọa các tuyến đường biển (SLOCs). Là người bảo lãnh chủ yếu của tự do hàng hải toàn cầu, Hoa Kỳ có lợi ích sâu sắc và vĩnh cửu trong việc bảo đảm rằng SLOCs vẫn mở cửa với tất cả các nước, không chỉ về thương mại mà cả các hoạt động quân sự hòa bình như can thiệp nhân đạo và bảo vệ bờ biển.

Mỹ có thể bảo vệ một trật tự khu vực hoà bình và thịnh vượng tốt nhất bằng cách bảo toàn quyền tiếp cận các SLOCs quan trọng. Sự bất lực của Mỹ trong việc triển khai đủ sức mạnh cần thiết vào Biển Đông sẽ làm thay đổi những tính toán an ninh của tất cả các nước trong khu vực. Nếu  Mỹ không những mất khả năng làm phức tạp kế hoạch của kẻ thù mà còn ngày càng trở nên dễ bị tấn công trước một Trung Quốc liên tục hiện đại hóa quân sự thì các nước khác trong khu vực có thể sẽ ngả về một Trung Quốc hùng mạnh.

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây

Patrick M. Cronin, Robert D. Kaplan

Quách Huyền (dịch)

Quang Hưng (hiệu đính)

Bản dịch chương I: Cooperation from Strength: U.S. Strategy and the South China Sea trong báo cáo: Cooperation from Strenth: The United States, China and the South China Sea của Trung tâm An ninh mới (CNAS) của Mỹ.



[1]U.S. Energy Information Administration, South China Sea: Oil & Natural Gas (March 2008); và  Robert D. Kaplan, “China’s Caribbean,”  Tờ The Washington Post, ngày  26 tháng  9, 2010.

[2] Số liệu này được các quan chức  Mỹ tại Hội nghị Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương at the Asia-Pacific vào tháng 11 năm 2011. Xem David Nakamura, “Global Security Trumps Economics at APEC,” Tờ The Washington Post, 14 tháng 11, 2011, 10.

[3] Juli A. MacDonald, Amy Donahue and Bethany Danyluk, “Energy Futures in Asia: Final Report,” (Booz Allen Hamilton, November 2004). Đoạn trích dẫn được lần đầu được tuyên bố bởi chuyên gia Mỹ Trung Quốc Ross Munro.

 

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 7851 khách và 2 thành viên Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin