26 - 8 - 2019 | 0:39
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home
Tag:Trung Quốc
I.                  Đặt vấn đề

Cuộc tranh chấp biển Đông vẫn đang là một “nguy cơ” gây bất ổn trong khu vực. Tranh chấp biển Đông đã trở thành một trong những cuộc tranh chấp phức tạp bậc nhất trên thế giới. Sự phức tạp của tranh chấp biển Đông đến từ các yêu sách phức tạp về chủ quyền của nhiều quốc gia đối với các khu vực chồng lấn, vả lại, nó không chỉ đơn thuần là tranh chấp về mặt luật pháp quốc tế về biên giới biển, lãnh thổ trên biển mà hơn thế nữa nó còn được đan xen với những lợi ích về địa – chính trị, về kiểm soát con đường vận tải biển chiến lược, và về khai thác các nguồn tài nguyên biển, đặc biệt là dầu mỏ.

 

Cuộc va chạm mới đây giữa một chiếc tàu nghiên cứu hải dương của Mỹ với 5 tàu chiến Trung Quốc, sau đó là cuộc khẩu chiến trên các báo của hai bên, phía Mỹ giải thích vùng biển này là biển quốc tế, tàu Mỹ có quyền thực hiện các nghiên cứu biển trong vùng đó, còn Trung Quốc khẳng định đây là vùng biển thuộc chủ quyền của họ. Vấn đề này lại làm nóng lên yêu sách của Trung Quốc về các đảo, đá và vùng nước nằm trong “đường lưỡi bò” gây nhiều tranh cãi.

 

Thực tế cho thấy tranh chấp các đảo trong biển Đông đã trở thành một trong những vấn đề an ninh quan trọng nhất trong khu vực do Trung Quốc yêu sách gần 80% biển Đông là vùng nước lịch sử của họ sẽ có tác động rất lớn đến việc phân định các đường biên giới biển của khu vực này trong tương lai, và cũng ảnh hưởng nghiêm trọng đến chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ cũng như quyền lợi trên biển của Việt Nam. Do đó, nhu cầu nghiên cứu vấn đề này là một vấn đề cần thiết.

 

II.               Các yêu sách về “đường lưỡi bò”

 

Yêu sách về “đường lưỡi bò” được đưa ra một cách không chính thức từ hai chính quyền: một là Cộng Hòa Trung Hoa, sau thất bại năm 1949 phải chạy ra Đài Loan (từ thời điểm này gọi là chính quyền Đài Loan), và từ chính quyền Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa được thành lập từ năm 1949 tới nay (gọi tắt là chính quyền Trung Quốc).

 

1.                 Yêu sách về đường lưỡi bò của Cộng Hòa Trung Hoa

 

Theo một số học giả cả ở Trung Quốc và ở Đài Loan[1] thì năm 1935, để đối phó với yêu sách của Pháp đối với chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa, Cộng hòa Trung hoa đã cho xuất bản một bản đồ chính thức đầu tiên là Zhongguo Nanhai gedao yu tu (Bản đồ các đảo trên Nam Hải), bản đồ này chưa thể hiện “đường lưỡi bò”. Tháng 2 năm 1947, Bộ nội vụ  đã tiếp tục cho xuất bản Bảng tài liệu tra cứu tên cũ của các đảo biển ở biển Đông, trong đó liệt kê 159 đảo, đá.  Sau đó, tháng 1 năm 1948,  Bộ Nội Vụ nước Cộng Hòa Trung Hoa chính thức công bố một bản đồ có tên Nanhai zhudao weizhi tu (Bản đồ các đảo trên Nam Hải), tháng 2 năm 1948 bản đồ này được xuất bản chính thức,  trên bản đồ này có xuất hiện một đường mà Trung Hoa gọi là đường hình chữ “U”, một số học giả gọi nó là “đường lưỡi bò” bởi nó nhìn giống một cái lưỡi bò liếm xuống biển Đông[2], đường này được thể hiện trên bản đồ lúc này là một đường đứt khúc bao gồm 11 đoạn. Trong bản đồ đó đường chữ “U” hay “đường lưỡi bò” này được thể hiện bao trùm xung quanh cả bốn nhóm quần đảo, bãi ngầm lớn trên biển Đông, đó là các quần đảo Hoàng Sa (Paracels), Trường Sa (Spratlys) và Pratas (Trung Quốc gọi là Đông Sa) và bãi cạn Macclesfield (Trung quốc gọi là Trung Sa).

 

   

 

Hình 1: Bản đồ vẽ đường lưỡi bò của Đài Loan năm 1988[3]

 

“Đường lưỡi bò” này xuất phát từ biên giới đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc trong vịnh Bắc Bộ, chạy xuống phía Nam tương tự như hình dáng của bờ biển Đông và Đông Nam Việt Nam tới cực Nam của bãi đá san hô Scaborough Shoal (Tăng Mẫu) và sau đó quay ngược lên phía Bắc theo hướng đi song song với đường bờ biển phía Tây Sabah của Malaysia và Palawan của Philippines và quần đảo Luzon, kết thúc tại khoảng giữa eo Bashi nằm giữa Đài Loan và Philippines. Đường này được vẽ tùy tiện và không có tọa độ xác định chính xác[4].

 

Năm 1988, sau cuộc đụng độ giữa hải quân của Trung Quốc và Việt Nam, một nhóm học giả của Đài Loan đã được tập trung lại để nghiên cứu về vấn đề “vùng nước lịch sử” và bản chất pháp lý của “đường lưỡi bò”.

 

Một học giả của Đài Loan là Yann Huei Song sau khi tổng kết các quan điểm của các học giả Đài Loan trong nhóm nghiên cứu cho biết có hai nhóm ý kiến của các học giả Đài Loan về vấn đề này: Một nhóm cho rằng vùng nước được bao bọc trong “đường lưỡi bò” được coi như là “vùng nước lịch sử” của Cộng Hòa Trung Hoa. Lập luận này được chứng tỏ bởi hai lý do, thứ nhất, khi bản đồ được xuất bản vào năm 1948, không có sự phản đối cũng như không có phản ứng nào được đưa ra, thứ hai, việc yêu sách các vùng nước bị bao bọc như là vùng nước lịch sử đã không vi phạm Điều 4(1) của UNCLOS (Công ước Luật biển của Liên Hợp Quốc năm 1982). Nhóm thứ hai thì chống lại quan điểm này, họ cho rằng yêu sách vùng nước lịch sử của Cộng Hòa Trung Hoa khó có thể biện minh được: đó là “đường lưỡi bò” được vạch ra một cách tùy tiện, không thể định vị đường này trên biển vì thiếu hệ thống tọa độ cũng như khái niệm về vùng nước lịch sử đã trở nên lỗi thời, khó có thể sử dụng để trợ giúp cho yêu sách của chính quyền Đài Loan.

 

Tuy nhiên, cuối cùng Ủy ban nghiên cứu về vấn đề này của Đài Loan đã chấp thuận với quan điểm của nhóm đầu tiên.

 

2.                 Yêu sách về đường lưỡi bò của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa

 

Trung quốc đưa ra những yêu sách về đường lưỡi bò dựa theo quan điểm của bản đồ xuất hiện đường lưỡi bò đầu tiên của Cộng Hòa Trung Hoa năm 1948.

 

Năm 1949, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời, quốc gia này sau đó thay thế  Cộng Hòa Trung Hoa trở thành thành viên thường trực của Hội đồng Bảo An Liên Hợp Quốc. Năm 1949, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa cũng cho ấn hành một bản đồ, trong đó “đường lưỡi bò” được thể hiện giống như trên bản đồ trước đó gồm 11 đoạn.

 

Tuy nhiên, đến năm 1953, bản đồ vẽ “đường lưỡi bò” của Trung Quốc xuất bản chỉ còn 9 đoạn. Trong suốt một thời gian dài, mặc dù cho xuất bản bản đồ có thể hiện “đường lưỡi bò” như trên, nhưng cả Chính phủ Cộng Hòa Trung Hoa lẫn Chính Phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa chưa bao giờ đưa ra lời tuyên bố hoặc giải thích chính thức gì về “đường lưỡi bò” đó.

 

 Còn về phía Trung Quốc thì tháng 7 năm 1996, nhà xuất bản Thông tin kinh tế Hồng Kông cho xuất bản cuốn “The petropolitics of the Nansa islands – China’s indisputable  legal case” của Phan Thạch Anh (Pan Shi Ying)[5], theo lời của ông ta thì “chính phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa thông qua việc ấn bản các bản đồ này muốn gửi ba thông điệp tới cộng đồng quốc tế:

 

a. Khu vực nằm trong đường biên giới này là các đảo, đá và các vùng nước kế cận của chúng đã thuộc chủ quyền và quyền tài phán của Trung Quốc trong lịch sử.

b. Phù hợp với các công ước quốc tế, vị trí và hướng đi của con đường đứt khúc 11 đoạn này (sau thay bằng 9 đoạn) đã được vạch ra theo cách gần như là đường cách đều giữa rìa ngoài của bốn quần đảo trong biển Nam Trung Hoa và đường bờ biển của các quốc gia kế cận. Điều này đã và đang là hợp pháp vào thời gian đó của chiếm cứ, chiếm hữu và quản lý.

c. Thực tiễn sử dụng các đường đứt khúc hơn là một đường liên tục để đánh dấu một số các khu vực chủ chốt đã chỉ ra thực chất của việc “chưa dứt điểm” để lại những khả năng đưa ra những điều chỉnh cần thiết trong tương lai.

 

Năm 2003,Li Jin Ming và Li De Xia của Trường Đại học Hạ Môn (Trung Quốc) đã công bố một bài viết đăng trên tạp chí Ocean Development and International Law, tiếp tục trình bày và làm rõ về lập luận đối với “đường lưỡi bò” này. Hai học giả này đã tổng kết một số quan điểm của các học giả Trung Quốc, trong đó hầu hết là khẳng định về chủ quyền của Trung Quốc đối với các đảo và các vùng nước xung quanh các đảo đó nằm trong “đường lưỡi bò”. Các học giả Trung Quốc này được hai học giả trích dẫn đã đưa ra quan điểm là “đường lưỡi bò”bao trùm hầu như toàn bộ biển Đông này thể hiện “danh nghĩa lịch sử” của Trung Quốc, và vùng nước bên trong, do con đường này bao bọc xung quanh là vùng nước lịch sử theo chế độ nội thủy của Trung Quốc. Mặc dù “Trung Quốc chưa bao giờ yêu sách toàn bộ các cột nước của vùng biển Đông”, nhưng “tất cả các đảo và vùng nước kế cận trong đường biên giới này phải thuộc quyền tài phán và kiểm soát của Trung Quốc”.

 

Như vậy, lập luận về chủ quyền đối với các đảo, đá, bãi nằm trong “đường lưỡi bò” cũng như bản chất pháp lý của “đường lưỡi bò” của Cộng Hòa Nhân dân Trung Hoa cũng có nhiều điểm tương tự và bắt nguồn từ bản đồ đầu tiên thể hiện đường này của Cộng Hòa Trung Hoa trước đó.

 

 

 

Hình 2: Bản đồ vẽ đường lưỡi bò của Trung Quốc năm 1999[6]

 

III.           Phân tích các yêu sách về “đường lưỡi bò”theo luật quốc tế

 

1.                 Yêu sách của Cộng hòa Trung Hoa

 

Khái niệm “vịnh lịch sử” hay “vùng nước lịch sử” mà ở đó một quốc gia thực hiện quyền lực thuộc chủ quyền của mình đã được luật pháp quốc tế chấp nhận trong một số hoàn cảnh hạn chế. Điều 10 (6) của UNCLOS thừa nhận sự tồn tại của một vùng nước như vậy, và một số các vịnh biển mà không đáp ứng được các tiêu chuẩn chính thức của một “vịnh” theo Điều 10 đã được trao cho quy chế này theo thời gian. Tuy vậy, các cường quốc trên biển, đặc biệt là Mỹ, đã nỗ lực giữ cho khái niệm này không được chấp nhận rộng rãi nhằm duy trì sự tự do hàng hải.

 

Khái niệm về yêu sách lịch sử được chấp nhận vào năm 1951 bởi Tòa án quốc tế (ICJ) khi phán xét về yêu sách của Na uy về vùng nước nằm tiếp liền bờ biển của nước này. Những yêu sách về chủ quyền lịch sử cũng được chấp nhận trong những hoàn cảnh thích hợp tại Công ước 1958 về Lãnh hải và Vùng tiếp giáp lãnh hải. Gần đây, trong vụ án Vịnh Fonseca, Tòa án quốc tế đã chấp nhận vịnh Fonseca là một vịnh lịch sử và vùng nước của nó là vùng nước lịch sử.

 

Năm 1962, Ủy ban pháp luật quốc tế đã thực hiện một  nghiên cứu với tựa đề: “Quy chế pháp lý của vùng nước lịch sử, bao gồm cả vịnh lịch sử”, trong nghiên cứu này đã có những câu trả lời cho câu hỏi những tiêu chuẩn nào sẽ được áp dụng để xác định tính hợp pháp của một yêu sách chủ quyền lịch sử.

 

Theo đó thì một vịnh hay một vùng nước được coi là lịch sử, căn cứ theo tập quán quốc tế và các phán quyết của tòa án phải thỏa mãn ít nhất là hai điều kiện sau: 1) Quốc gia ven biển thực thi chủ quyền của mình đối với vùng được yêu sách; 2) Sự liên tục của việc thực thi quyền lực đó theo thời gian; 3) Quan điểm của các quốc gia khác với yêu sách đó. Ngoài ra, một quốc gia yêu sách danh nghĩa lịch sử phải có trách nhiệm đưa ra bằng chứng đối với các vùng nước có vấn đề đang tranh cãi này.

 

Bất cứ chính quyền nào yêu sách vùng nước nằm trong “đường lưỡi bò” là vùng nước lịch sử thì quy chế pháp lý đối với vùng nước này như thế nào, nếu các vùng nước này được yêu sách như vùng nội thủy thì các chính quyền yêu sách đó phải chứng minh được là họ đã thực thi chủ quyền một cách liên tục đối với các vùng nước bao bọc trong “đường lưỡi bò” qua một thời gian tương đối giống như đã thực thi chủ quyền đối với các vùng nội thủy khác. Nếu các vùng nước này được yêu sách như lãnh hải thì quốc gia yêu sách phải chỉ ra được rằng họ đã thực thi chủ quyền một cách liên tục đối với các vùng nước bị bao bọc này trong một thời gian dài như họ đã thực thi chủ quyền đối với các vùng lãnh hải khác. Cũng tương tự như vậy nếu họ muốn yêu sách các vùng nước bị bao bọc như là vùng nước lịch sử.

 

a.            Đối với yêu sách như các vùng nội thủy

 

Theo chế độ pháp lý của các vùng nội thủy, một quốc gia ven biển thực thi chủ quyền đầy đủ đối với vùng nước nằm phía bên trong đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải, tàu nước ngoài không có quyền đi qua không gây hại trong vùng nội thủy của quốc gia ven biển, trừ khi được sự đồng ý của quốc gia đó.

 

Vậy vùng nước bị bao bọc bởi “đường lưỡi bò”có thể được coi là vùng nội thủy không? Câu trả lời đến ngay từ một học giả Đài Loan là không[7], bởi những lý do sau đây: thứ nhất, chính quyền Cộng hòa Trung Hoa chưa bao giờ yêu sách vùng nước bên trong “đường lưỡi bò” như là vùng nội thủy. Thứ hai, tàu nước ngoài, trong đó có cả tàu chiến vẫn thực hiện quyền đi lại trên vùng nước nằm trong “đường lưỡi bò” này từ khi “đường lưỡi bò” này xuất hiện trên bản đồ do Cộng Hòa Trung Hoa xuất bản năm 1948, và chính quyền Cộng Hòa Trung Hoa đã không có một hành động nào ngăn cản các tàu nước ngoài qua lại vùng này.

 

b.            Đối với yêu sách như “lãnh hải”.

 

Theo quy định tại Điều 3 Công ước Luật biển của Liên Hợp Quốc năm 1982 (UNCLOS) thì: “Mọi quốc gia đều có quyền ấn định chiều rộng lãnh hải của mình; chiều rộng này không vượt quá 12 hải lý kể từ đường cơ sở được vạch ra theo đúng Công ước”. Mọi quốc gia có quyền thực thi chủ quyền đối với vùng lãnh hải của mình. Tàu thuyền nước ngoài chỉ được hưởng quyền đi qua không gây hại cho trong vùng lãnh hải của các quốc gia ven biển, trừ khi có các điều khoản, điều ước chuyên môn khác. Đối với vùng trời phía trên lãnh hải, các máy bay nước ngoài được quyền bay qua không gây hại.

 

Vậy thì câu hỏi tiếp theo là các vùng nước bên trong “đường lưỡi bò” có thể được coi là lãnh hải của Trung Quốc không? Câu trả lời của Yann Huei Song cũng là không. Máy bay nước ngoài đã bay qua vùng trời phía trên của vùng nước này từ năm 1948 khi bản đồ được xuất bản. Như đã trình bày ở trên, máy bay của nước ngoài không được phép bay qua không gây hại trên vùng trời phía trên của lãnh  hải quốc gia ven biển.

 

c.             Đối với yêu sách như các vùng nước quần đảo.

 

Khái niệm về các vùng nước quần đảo là một khái niệm mới trong luật biển quốc tế, được đưa ra trong Hội nghị Liên Hợp Quốc về Luật biển lần III (UNCLOS III), theo đó, các vùng nước nằm bên trong đường cơ sở thẳng của quần đảo là vùng nước quần đảo, nó không phải là nội thủy, cũng không phải là lãnh hải. Một quốc gia quần đảo có quyền thực thi chủ quyền đối với vùng nước quần đảo của mình. Chủ quyền quốc gia “được mở rộng đến vùng trời phía trên của vùng nước quần đảo cũng như đến đáy của vùng nước đó và lòng đất tương ứng và đến các nguồn tài nguyên ở đó”. Tàu nước ngoài được quyền đi qua không gây hại tại vùng nước quần đảo, tàu biển và máy bay nước ngoài được quyền có đường hàng hải, đường hàng không đi qua vùng nước quần đảo.

 

Do chế độ pháp lý của “các vùng nước quần đảo” được phát triển trong giai đoạn hội nghị lần thứ III của UNCLOS (từ năm 1973 – 1982) và bản đồ thể hiện “đường lưỡi bò” xuất bản lần đầu năm 1948, nên khó có thể chứng minh được vùng nước bên trong “đường lưỡi bò” đó có được quy chế pháp lý của các vùng nước quần đảo, Cộng Hòa Trung Hoa đã không thực thi chủ quyền và quyền tài phán của mình đối toàn bộ các vùng nước bên trong “đường lưỡi bò” này, tàu và máy bay nước ngoài vẫn tiếp tục được hưởng quyền tự do hàng hải và hàng không trong vùng nước nằm trong đường này, thay cho quyền đi qua không gây hại và quyền được qua lại các tuyến hàng hải và hàng không đã được ấn định của vùng nước quần đảo. Vì thế, có thể kết luận là toàn bộ các vùng nước bên trong “đường lưỡi bò” không thể được xem là các vùng nước quần đảo của Cộng hòa Trung Hoa.

 

2.                 Yêu sách của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa

 

Theo các tiêu chí để thỏa mãn một vùng nước được coi là vùng nước lịch sử, thì Trung Quốc cũng phải chứng minh được họ đã thực thi chủ quyền trên toàn bộ vùng nước trong đường lưỡi bò này một cách thật sự và liên tục trong một thời gian dài. Điều này thật không đơn giản, bởi vì:

 

Thời điểm mà Trung Quốc thực sự đặt chân lên quần đảo Hoàng Sa là năm 1909, với hành động của Lý Chuẩn, tuy nhiên lúc này Hoàng Sa đã không còn là một lãnh thổ vô chủ nữa. Việt Nam đã thực thi chủ quyền của mình từ ít nhất là năm 1816.

 

Đường lưỡi bò không phải là con đường có tính ổn định và xác định. Từ 11 đoạn, năm 1953, Trung Quốc đã phải bỏ đi hai đoạn trong vịnh Bắc Bộ vì quá vô lý. Tính chất không liên tục của con đường này được các tác giả Trung Quốc giải thích là để cho “những điều chỉnh cần thiết trong tương lai”. Đặc tính quan trọng nhất của một đường biên giới quốc tế là sự ổn định và dứt khoát [8]. “Đường lưỡi bò” không thể hiện được đặc tính đó, thêm nữa, vị trí của nó lại không được xác định tọa độ rõ ràng, vì thế khó mà biểu thị là một đường biên giới được.

 

Vấn đề thứ hai theo Yann Huei Song thì mặc dù “đường lưỡi bò” đã xuất hiện trên các bản đồ xuất bản ở Trung Hoa lục địa từ năm 1949, nhưng chưa bao giờ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa yêu sách chính thức các vùng nước nằm trong đường này như các vùng nước lịch sử. Đại diện của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa đã không tuyên bố như vậy trong Hội nghị Công ước Luật biển lần III[9]. Theo luật pháp quốc tế, các hành vi mà quốc gia thể hiện phải mang tính công khai ý chí thực thi chủ quyền trên lãnh thổ đó. Những hành vi bí mật không thể tạo nên cơ sở cho quyền lịch sử, ít nhất các quốc gia phải có cơ hội được biết những gì đang diễn ra.

 

Như vậy, kể cả Cộng Hòa Trung Hoa lẫn Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa đều chưa bao giờ công bố chính thức yêu sách về vùng biển bên trong “đường lưỡi bò” đó.

 

Đặc biệt, Điều 1 Tuyên bố năm 1958 về lãnh hải của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã nhấn mạnh rằng:

 

“Chiều rộng lãnh hải nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa là 12 hải lý. Điều khoản này áp dụng cho tất cả các lãnh thổ của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, bao gồm lục địa Trung Quốc và các đảo ven bờ của lục địa cũng như các đảo Đài Loan và xung quanh đó, quần đảo Penghu (Bành Hồ) và tất cả các đảo khác thuộc Trung Quốc bị phân cách với đất liền và các đảo ven bờ biển của nó bởi biển cả”[10].

 

Như vậy, Tuyên bố 1958 của Trung Quốc xác định rõ ràng các đảo bị tách biệt với lục địa bởi biển cả, chứ không phải là vùng nước lịch sử. Chẳng lẽ lại tồn tại vùng biển cả nằm trong nội thủy của Trung Quốc? Không thể có điều vô lý đó. Do vậy, Tuyên bố và các đạo luật của các nhà chức trách Trung Quốc, đặc biệt Tuyên bố năm 1958 của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là không phù hợp với yêu sách lịch sử được phân định bởi “đường lưỡi bò”[11].

 

Tuyên bố về đường cơ sở của Trung Quốc ngày 15/5/1996 càng làm cho sự mập mờ này của họ bởi họ yêu sách một đường cơ sở nối cả Hoàng Sa nhưng lại không đề cập gì đến Trường Sa.

 

Hơn nữa, tại hội nghị San Francisco tháng 9 năm 1951, các quốc gia tham gia đã khước từ đề nghị trao trả cho Trung Quốc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa[12], và thực tế tranh chấp về chủ quyền trên Hoàng Sa giữa Việt Nam và Trung Quốc hay tranh chấp chủ quyền đối với toàn bộ hay một phần quần đảo Trường Sa giữa Việt Nam, Malaysia, Philippines và Trung Quốc cho thấy không thể nói là “đường lưỡi bò” được các quốc gia khác công nhận. Như vậy, có thể nói là yêu sách này chưa bao giờ có được sự thừa nhận của cộng đồng quốc tế.

 

IV.            Kết luận

 

Yêu sách về “đường lưỡi bò” bắt đầu từ một bản đồ của Cộng Hòa Trung Hoa xuất bản lần đầu tiên vào năm 1948. Sau này, cả Đài Loan và Bắc Kinh đều đã dựa vào bản đồ đó để biện minh cho yêu sách về vùng biển này trên biển Đông.

 

Bản chất thực sự của yêu sách này vẫn đang bị bao phủ bởi sự bí ẩn, cả Trung Quốc và Đài Loan đều mập mờ với các tuyên bố không rõ ràng. Tuy nhiên, những hoạt động của Trung Quốc cho thấy Trung Quốc thực tế đang yêu sách tất cả các vùng nước và tài nguyên nằm trong vùng biển này.

 

Những phân tích về yêu sách này theo luật pháp quốc tế cho thấy vì cơ sở pháp lý thiếu thuyết phục cho nên “Cộng hòa nhân dân Trung Hoa không đưa ra những yêu sách lịch sử của mình với các tọa độ rõ ràng, và giữ im lặng về bản chất của đường lưỡi bò và chế độ pháp lý của vùng biển được bao bọc bởi đường đó”. Ngay cả các học giả Trung Quốc cũng không nhất trí được với nhau về chế độ pháp lý của vùng biển bị bao bọc bởi đường lưỡi bò này[13].

 

Các học giả Trung Quốc đã nỗ lực tìm mọi luận cứ biện minh cho yêu sách này của họ, còn các học giả nước ngoài thì đưa lại những ý kiến khách quan hơn. Nhóm Mark J Valencia cho rằng: “ một yêu sách của Trung Quốc coi biển Nam Trung Hoa là một vùng nước lịch sử không thể đứng vững được dưới góc độ pháp luật quốc tế hiện đại”[14].

 

Xa hơn nữa, Hamzah cho rằng: “ Một số nước yêu sách toàn bộ biển Nam Trung Hoa như là của riêng họ dựa trên cơ sở lịch sử. Các yêu sách như vậy chẳng có gì là lạ và chẳng đáng đề cập đến… Yêu sách đơn phương đối với toàn bộ biển Nam Trung Hoa của một quốc gia sẽ chẳng có gì chú ý đến.. Dù suy diễn như thế nào chăng nữa cũng không thể coi biển Nam Trung Hoa như là vùng nội thủy hoặc hồ lịch sử để làm cơ sở khẳng định yêu sách. Vì vậy, khu vực yêu sách này là phù phiếm, không có căn cứ và không hợp lý…Tôi cố gắng thuyết phục tất cả các quốc gia bác bỏ các yêu sách đối với toàn bộ biển Nam Trung Hoa (hay đòi hỏi một khu vực có liên quan) vì không có cơ sở nào trong luật cũng như trong lịch sử”[15].

 

Dựa trên pháp luật quốc tế hiện đại, chúng ta có thể kết luận về yêu sách về “đường lưỡi bò”này của Trung quốc “không có cơ sở yêu sách nào trong luật quốc tế cho yêu sách lịch sử đó[16]”, “yêu sách của Trung Quốc về chủ quyền lịch sử và quyền đối với hầu hết biển Đông và/hoặc đối với đáy biển và lòng đất của nó là trái với sự phát triển toàn diện của luật biển quốc tế hiện đại và không thể coi là một vấn đề pháp luật nghiêm chỉnh”[17]. “Các yêu sách về khu vực như thế là mơ hồ và lố bịch giống như Sắc chỉ của Giáo Hoàng ngày 4/5/1993, chia đại dương thế giới cho Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha”[18].

 

 Hoàng Việt, Giảng viên Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh




[1] Xem Li Jin Ming và Li De Xia , The Dotted Line on the Chinese Map

of the South China Sea: A Note , Ocean Development & International Law, 34:287–295, 2003, p 289; Yann Huei Song, china's "historic waters"in the south china sea:an analysis from taiwan, American Asian Review Vol. 12, N.. 4, Winter, 1994 (tr. 83-101)

[2] Chi Kin Lo, China’s policy towards territorial disputes, tr. 43.

[3]Nguồn:http://www.southchinasea.org/maps/Taiwan%27s%20Nine-dash%20Line%20Map%20of%20the%20South%20China%20Sea.jpg

[4] Yann Huei Song, đã dẫn, xem chú thích trên

[5] Xem  Lưu Văn Lợi,  Những điều cần biết về đất, biển, trời Việt Nam, nxb Thanh Niên, 2007

[6] Nguồn: http://www.southchinasea.org/9-dotted%20map/map_small.gif

[7] Yann Huei Song, đã dẫn, xem chú thích trên

[8] Tuyển tập các phán quyết , sắc lệnh của Tòa án công lý quốc tế (ICJ), 1962, vụ đền Preáh Viheár,Tài liệu dịch của Ban Biên giới chính phủ, tr. 34

[9] Yann huei Song, đã dẫn

[10] Daniel J. Dzurek, The Spratly Islands Dispute:Who's On First? International Boundaries Research Unit, Volume 2 Number 1, tr. 14

[11] Daniel J. Dzurek, đã dẫn, tr. 15

[12] Monique Chemillier- Gendreau, Sovereignty over Paracel and Spratly Islands, Kluwer Law International, 2000, 208, tr. 41

[13] Daniel Dzurek, đã dẫn, p. 13

[14] Mark J. Valencia, John M. Van Dyke,  and Noel A. Ludwig, Sharing the resouces of the South China Sea, University of Hawaii’s Press, 1997, 278, tr. 28

[15] Yann Huei Song, đã dẫn

[16] Yann Huei Song, đã dẫn

[17] Brice M. Claget, Những yêu sách đối kháng của Việt Nam và Trung Quốc ở khu vực bãi ngầm Tư Chính và Thanh Long trong biển Đông, nxb Chính trị Quốc gia, Hà nội, 1996, tr. 99

[18] Yann Huei Song, đã dẫn.

 

 

 

Trang mạng tiếng Việt www.tapchithoidai.org vừa đăng tải bài viết của Hồ Bạch Thảo phân tích về vấn đề chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, với nhan đề: "Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa) có được nói đến như là đất Trung Quốc trong Thanh Sử Cảo và Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ không?" Sau đây là những nội dung chính của bài viết:

 

 

 

 

 

Ðọc những lời tranh cãi về chủ quyền trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Trung Quốc thường đưa những chứng cớ vu vơ về lịch sử, qua những tài liệu không đáng tin cậy. Lý do là bởi trong thời gian dài gần cả ngàn năm, bờ biển Trung Quốc thường bị khống chế bởi Nhật Bản hoặc các nước phương Tây, triều đình nước này lo phòng thủ cũng đã đủ mệt mỏi, nên không còn thời gian để nhòm ngó và thực hiện chủ quyền tại các hải đảo ngoài biển. Bởi vậy, không có bằng chứng xác đáng trong chính sử Trung Quốc là nước này đã xác định chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa, và thời gian qua để biện minh cho thế đứng của mình trong tranh chấp, Trung Quốc đã đưa ra những lời nói vu vơ thiếu căn cứ để làm bằng chứng cho chủ quyền của mình ở phần đất họ chưa bao giờ làm chủ. Trung Quốc thường dùng các bản tường trình hoặc du ký của người Trung Quốc, và những bản đồ vẽ thế giới quanh họ thường có tên là thiên hạ toàn đồ, tất nhiên là những bản đồ có vùng đảo Hoàng Sa và Trường Sa để chứng minh hai vùng này thuộc Trung Quốc. Điều này chẳng khác gì nói Nhật Bản, Việt Nam , Lào, Thái Lan v.v. cũng là đất Trung Quốc. Chống lại luận điệu này, tôi (Hồ Bạch Thảo) đã dựa vào chính sử Trung Quốc để xem xét bằng chứng. Theo cách làm việc này, qua bài Lãnh hải Trung Quốc dưới thời nhà Minh, tôi đã cố gắng tìm kiếm các địa danh Tây Sa, Nam Sa trong Minh Sử nhưng không thấy.

Bài này tiếp tục dò xuống đời Thanh, là thời gần với thời hiện đại nhất, phản ánh rõ địa lý mà sử sách và bản đồ Trung Quốc coi là vùng đất thuộc cương vực Trung Quốc, tất nhiên là không bao gồm các quốc gia độc lập khác mà thường phải cống nộp lấy lệ cho Trung Quốc để tránh Trung Quốc mượn cớ gây chiến. Cần lưu ý là các bản đồ khác mang tên đại loại như “thiên hạ toàn đồ” hay các tên tương tự là bản đồ thế giới hoặc bản đồ bao gồm cả Trung Quốc và các nước xung quanh được Trung Quốc coi là chư hầu hay bản đồ ghi lại các chuyến du hành. Những bản đồ này không thể coi là bản đồ Trung Quốc nhưng đã được một số học giả dùng để chứng minh là Tây Sa và Nam Sa đã được vẽ vào bản đồ Trung Quốc.
Bài viết thực hiện qua việc đọc bộ chính sử viết về thời này nhan đề là Thanh Sử Cảo để tham khảo. Tại Trung Quốc, Tống Sử được soạn vào đời Nguyên, Nguyên Sử soạn vào triều Minh, Minh Sử soạn vào triều Thanh, rồi đến Thanh Sử được soạn vào thời Dân Quốc. Vào thời đầu Dân quốc năm 1914 cho lập Quốc Sử Quán, cử Triệu Nhĩ Tốn làm Quán trưởng, bắt đầu biên soạn Thanh Sử. Trải qua hàng chục năm mới hoàn thành, đây là bộ sử đồ sộ gồm 536 quyển, tài liệu rất phong phú, nên các học giả mệnh danh là 1 trong 25 bộ sử của Trung Quốc (Nhị thập Ngũ Sử), riêng phần địa lý gồm 28 quyển. Phải nói địa lý hành chính trong bộ sử này chép khá kỹ, mỗi tỉnh chia rõ ràng từng phủ, huyện; về khoảng cách và phương hướng tính từ huyện, châu đến phủ, hoặc từ phủ lỵ đến tỉnh lỵ. Qua sự tìm hiểu 28 quyển địa lý trong bộ sử, không hề thấy địa danh các quần đảo có tên là Tây Sa, Nam Sa.

Tham khảo thêm, chúng tôi đã sử dụng Ðại Thanh Nhất Thống Toàn Ðồ của Thư viện Quốc gia Ôxtrâylia để xác minh thêm Thanh Sử Cảo.

I. Đại Thanh Nhất Thống Toàn Ðồ:

Trước tiên nói về Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ, gồm 21 phần, xin liệt kê như sau:

- Phần 1: Ðại Thanh nhất thống toàn đồ (Bản đồ toàn thể nước Ðại Thanh)
- Phần 2: Ðịa Cầu chính điện toàn đồ (Bản đồ mặt chính của quả Ðịa cầu)
- Phần 3: Ðịa Cầu bối diện toàn đồ (Bản đồ mặt sau của quả Ðịa cầu)
- Phần 4: Thịnh kinh toàn đồ (Bản đồ kinh sư phồn thịnh)
- Phần 5: Trực Lệ toàn đồ (Bản đồ tỉnh Trực Lệ)
- Phần 6: Sơn Tây toàn đồ (Bản đồ tỉnh Sơn Tây)
- Phần 7: Sơn Ðông toàn đồ (Bản đồ tỉnh Sơn Ðông)
- Phần 8: Giang Nam toàn đồ (Bản đồ vùng Giang Nam )
- Phần 9: Chiết Giang toàn đồ (Bản đồ tỉnh Chiết Giang)
- Phần 10: Giang Tây toàn đồ (Bản đồ tỉnh Giang Tây)
- Phần 11: Phúc Kiến toàn đồ (Bản đồ tỉnh Phúc Kiến)
- Phần 12: Quảng Ðông toàn đồ (Bản đồ tỉnh Quảng Ðông)
- Phần 13: Quảng Tây toàn đồ (Bản đồ tỉnh Quảng Tây)
- Phần 14: Hà Nam toàn đồ (Bản đồ tỉnh Hà Nam )
- Phần 15: Hồ Nam toàn đồ (Bản đồ tỉnh Hồ Nam )
- Phần 16: Hồ Bắc toàn đồ (Bản đồ tỉnh Hồ Bắc)
- Phần 17: Tứ Xuyên toàn đồ (Bản đồ tỉnh Tứ Xuyên)
- Phần 18: Vân Nam toàn đồ (Bản đồ tỉnh Vân Nam )
- Phần 19: Quí Châu toàn đồ (Bản đồ tỉnh Quí Châu)
- Phần 20: Thiểm Tây toàn đồ (Bản đồ tỉnh Thiểm Tây)
- Phần 21: Cam Túc toàn đồ (Bản đồ tỉnh Cam Túc)

Bản đồ không ngày tháng biên soạn và được Thư viện Quốc gia Ôxtrâylia đánh giá là xuất bản vào khoảng 1800-1899, nhưng qua phần 2 và 3 thể hiện trái đất là một khối cầu, có phân biệt hai cực Bắc, Nam; chứng tỏ nhà biên soạn từng tham khảo môn địa lý phương Tây. Ðiều này chỉ có thể xảy ra dưới thời Quang Tự [1875- 1908] hoặc sau đó, lúc này phong trào cải cách của Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu nhiệt liệt cổ động nghiên cứu học thuật phương Tây, Trung Quốc mới được truyền bá kiến thức này. Riêng với mục đích rà soát cái gọi là Tây Sa [Hoàng Sa], Nam Sa [Trường Sa] trong bản đồ; hãy tìm hiểu kỹ phần 1 Ðại Thanh Nhất Thống Toàn Ðồ, và phần 12 Quảng Ðông Toàn Ðồ; xét về vị trí địa lý các đảo nêu trên nếu có, chỉ có thể thấy trên 2 bản đồ này:

1. Phần 1 Ðại Thanh Nhất Thống Toàn Ðồ:

Ðây là bản đồ tổng quát nước Trung Hoa thời nhà Thanh, tính từ Bắc chí Nam , ngoài biển có các đảo như sau:

- Phượng Mã đảo: phía Nam nước Triều Tiên.
- Ðại Lưu Cầu, Tiểu Lưu Cầu: phía Đông tỉnh Chiết Giang.
- Ðài Loan: phía Đông tỉnh Phúc Kiến.
- Quỳnh Châu, Nhai Châu: tức phủ Quỳnh Châu và châu Nhai thuộc đảo Hải Nam nằm phía Nam lục địa tỉnh Quảng Ðông.

2. Phần 12 Quảng Ðông Toàn Ðồ:

Dò tiếp phía Nam lục địa Quảng Ðông thấy đảo Hải Nam và một số đảo kế cận xung quanh, ngoài ra phía Nam Hải Nam không còn đảo nào khác.

II. Thanh Sử Cảo:

Ðiều thú vị là hầu hết địa danh nêu trên bản đồ đều được đề cập trong Thanh Sử Cảo. Nội dung hai công trình gắn bó với nhau, nên có thể cho rằng công trình sau đã tham khảo công trình trước. Ðể làm sáng tỏ điều này, xin lược dịch lại đoạn địa lý chí chép về đảo Hải Nam trong Thanh Sử Cảo, gặp địa danh có trên Quảng Ðông Toàn Ðồ thì đánh số để tiện tham khảo. Theo Thanh Sử Cảo, tỉnh Quảng Ðông được chia thành 6 đạo (đơn vị hành chính thời xưa, tương đương với tỉnh ngày nay), đảo Hải Nam nằm trong đạo Quỳnh Nhai, đạo này gồm phủ Quỳnh Châu và Châu Nhai, mục địa lý chí chép như sau:

A. Phủ Quỳnh Châu: Trụ sở đạo Quỳnh Nhai nằm trong phủ, cách tỉnh lỵ Quảng Châu 1.810 lý về phía Đông Bắc; có 1 châu, 7 huyện. Phủ và châu Nhai nằm trong đảo Hải Nam, ở giữa có núi Ngũ Chỉ phân cách; phía Nam núi thuộc châu Nhai, Bắc núi thuộc phủ Quỳnh Châu. Trong núi có giống dân Sinh Lê, ngoài núi có dân Thục Lê cùng các châu huyện. Tại núi các động thâm hiểm, dân Lê thường ra vào gây loạn. Năm Quang Tự thứ 15 [1889], Tổng đốc Trương Chi Ðồng bắt đầu cho cắt núi Ngũ Chỉ bằng 12 con đường, gồm: 3 đường phía Đông, 3 đường phía Tây, 1 đường phía Nam, 1 đường phía Bắc, 1 đường Đông Nam, 1 đường Đông Bắc, 1 đường Tây Nam, 1 đường Tây Bắc; nơi hoang dã âm u mở thành đất bằng, mọi người đều cho là thuận tiện. Vào năm Hàm Phong thứ 8 [1858], nước Anh mở thương ước đặt thương cảng Quỳnh Châu. [Phủ Quỳnh Châu gồm]:

- Huyện Quỳnh Sơn: phủ thành đặt trong huyện, phía Nam có núi Quỳnh Sơn nên lấy tên đặt. Phía Bắc là bờ biển; sông Bạch Thạch còn gọi là Kiến Giang từ huyện Trừng Mại nơi bờ biển phía Tây Bắc vòng sang phía Đông, chảy vào huyện Ðịnh An, đến đây gọi là sông Nam Ðộ, vòng phía Bắc gọi là Bắc Sa Hà, chuyển sang phía Tây Bắc đến cửa Bạch Sa ra biển. Viên Huyện thừa đóng tại thành ở cửa biển, có Tuần ty tại Thủy Vỉ, công trường muối tại Cảm Ân.

- Huyện Trừng Mại: phía Tây phủ 60 lý, phía Nam có núi Mại, phía Bắc giáp biển, sông Kiến Giang tại phía Tây Nam, lại có sông Tân An từ huyện Lâm Cao chảy vào theo phía Đông Nam qua Lê Mẫu hợp với khe Tân Ðiền rồi chảy vào huyện Quỳnh Sơn. Lại có sông Trừng phát nguyên từ núi Ðộc Chu tại phía Đông Nam huyện, chảy theo hướng Tây Bắc đến phía Tây huyện lỵ, hợp với sông Cửu Khúc, rồi theo phía Tây đến cảng Ðông Thủy thì ra biển. Sông Sảo Dương, phía trên nguồn gọi là khe Nam Cổn, chảy qua phía Bắc huyện hợp với sông Sa Ðịa qua Cù Lãnh đến cảng Cù, rồi ra biển.

- Huyện Ðịnh An: nằm về phía Nam phủ lỵ cách 80 lý; phía Tây Nam là núi Ngũ Chỉ còn có tên là núi Lê Mẫu chạy sang phía Đông thành núi Quang Loa, lại tiếp sang Đông thành núi Nam Lư, khe Viễn phát xuất tại phía Nam núi. Phía Bắc huyện, sông Kiến Giang tại Quỳnh Sơn đổ vào hướng Đông hợp với khe Viễn qua Đông Bắc huyện lỵ, các khe Ðàm Giám, Tiên Khách nhập vào theo hướng Đông Bắc vào huyện Quỳnh Sơn, được gọi là sông Nam Ðộ. Phía Tây Nam huyện có sông Vạn Toàn ra khỏi động Nam Bàng hướng phía Đông vào huyện Lạc Hội. Huyện có tuần ty Thái Bình.

- Huyện Văn Xương: [nay là Văn Xương thị] vị trí phía Đông Nam phủ lỵ cách 60 lý. Phía Bắc có núi Ngọc Dương, phía Nam núi Tử Bối, Đông Bắc là biển. Trên biển có núi Phù Sơn, dưới núi là Phân Dương châu. Phía Nam có khe Văn Xương phát nguyên từ núi Bạch Ngọc phía Tây huyện, rồi hướng phía Đông nhập các khe Bạch Thạch, Bạch Mang, lượn sang phía Đông có khe Bình Xương từ phía Tây Bắc đổ vào, rồi chảy về phía Nam đến cảng Thanh Lan thì ra biển. Phía Nam huyện, khe Bạch Diên chảy ra khỏi núi Bát Giác, hướng Đông Nam đến cảng Trường Kỳ rồi ra biển. Lại phía Bắc Tam Giang tức khe La Hán phát nguyên từ núi Bảo Hổ hướng Tây Bắc đến cảng Phố Tiền rồi ra biển. Huyện có hai ty tuần kiểm Phố Tiền và Thanh Lam và công trường muối Lạc Hội.

- Huyện Hội Ðồng: vị trí phía Đông Nam phủ lỵ cách 290 lý; phía Đông huyện có nhiều núi kỳ dị. Phía Tây có khe Long Giác phát nguyên từ núi Tây Nhai hướng Đông Nam tới chợ Tích Gia nên được gọi là khe Tích Gia, rồi khe Lê Bồn từ phía Tây hợp vào, chảy xuống Nam được gọi là khe Ngũ Loan, rồi vào huyện Lạc Hội.

- Huyện Lạc Hội: vị trí phía Đông Nam phủ lỵ cách 330 lý; phía Đông có núi Bạch Thạch, Tây Nam có núi Tung Hoành, phía Đông giáp biển. Phía Tây, sông Vạn Toàn từ huyện Ðịnh An chảy vào hướng Đông rồi đổi hướng Bắc hợp với sông Thái Bình tiếp tục chảy hướng Đông Nam hợp với sông Ngũ Loan qua núi Long Ma chia dòng bao quanh huyện lỵ, rồi hợp lại hướng Đông qua núi Liên Hoa, lượn Đông Nam qua cảng Bác Long rồi ra biển. Sông Lưu Mã phát nguyên từ núi Long Nham tại phía Tây Nam huyện, chảy sang Đông vào huyện Vạn, lại quẹo hướng Đông Bắc để trở về địa giới của huyện, được gọi là sông Gia Liêm, chảy về Đông Bắc gọi là sông Cửu Khúc, khe Liên Ðường nhập vào, rồi theo hướng Đông Bắc hợp với sông Vạn Toàn ra biển.

- Huyện Lâm Cao: nằm về phía Tây Nam phủ lỵ cách 180 lý; phía Nam có núi Na Bồn, phía Tây núi Tỷ Gia, phía Bắc giáp biển. Sông lớn Kiến Giang do Ðam Châu chảy vào từ phía Nam, hướng Bắc đến núi Yêu Bối ra phía Tây trước cửa huyện rồi uốn lượn theo hướng Đông Bắc đến thôn Văn Lan hợp với sông Thấu Than, lại còn được gọi là sông Nghênh Ân, hướng Bắc đến cảng Bác Phố rồi ra biển; một nhánh ngòi thuộc sông này hướng Đông Bắc qua núi Bạch Lãnh vào huyện Trừng Mại. Huyện có tuần ty Hòa Xả, công trường muối Ðảo Mã.

- Ðam Châu: [Hiện nay tại phía Tây Bắc Ðam Châu thị] nằm về phía Tây Nam phủ lỵ cách 300 lý; phía Bắc có núi Ðam Nhĩ, còn gọi là núi Tùng Lâm, hoặc Ðằng Sơn; Tây Bắc giáp biển, ngoài biển có núi Sư Tử. Trong châu có sông Kiến Giang, còn gọi là sông Lê Mẫu hướng Tây Nam qua núi Long Ðầu, chia làm hai: nhánh phía Đông gọi là Ðại Giang, hướng Đông Bắc vào huyện Lâm Cao; nhánh phía Tây gọi là sông Bắc Môn hoặc sông Luân hướng Tây Bắc, đến phía Đông Bắc châu uốn sang phía Tây tạo thành cảng Tân Anh, rồi sông Xương Giang từ phía Đông Nam gộp vào để chảy ra biển. Phía Đông Bắc châu có sông Dung Kiều, phía Tây Nam có sông Sa Cấu đều hướng Tây Bắc ra biển. Châu có tuần ty Bạc Sa, ty Trấn Nam , công trường muối Lan Hinh.

B. Nhai Châu:

Trước kia thuộc phủ Quỳnh Châu, đến năm Quang Tự 31 [1905] trực thuộc đạo Quỳnh Nhai, cách tỉnh lỵ Quảng Châu 2680 lý về phía Đông Bắc; [trị sở Nhai Châu tại Tam Á thị hiện nay] chiều rộng 242 lý, dọc 175 lý, có 4 huyện. Phía Đông Nhai Châu có núi Hồi Phong, Tây Nam núi Trừng Ðảo, Đông Nam giáp biển. Phía Đông Bắc sông An Viễn từ huyện Lăng Thủy chảy vào, hướng Tây Nam đến núi Lang Dõng chia làm hai: một nhánh chảy phía Tây, đến thôn Chí Ðại rồi ra biển, một nhánh hướng Tây Bắc gọi là sông Bảo Dạng qua phía Bắc châu lỵ, uốn theo hướng Bắc đến cảng Bảo Bình rồi ra biển. Phía Bắc châu có sông Lạc An hướng Tây Nam qua núi Ða Cảng, chuyển theo hướng Tây Bắc vào huyện Cảm Ân. Phía Đông có sông Ða Ngân còn gọi là sông Lâm Xuyên phát nguyên từ Lê Ðộng, hướng Đông hợp với sông Tam Á, rồi hướng Đông Nam đến cảng Du Lâm để ra biển. Châu có 2 ty tuần kiểm: Lạc An và Vĩnh Ninh; công trường muối Lâm Xuyên. Châu cai quản 4 huyện gồm:

- Huyện Cảm Ân: [nay thuộc phía Nam Ðông Phương thị] nằm về phía Tây Bắc châu lỵ Nhai Châu cách 195 lý, xưa thuộc phủ Quỳnh Châu, năm Quang Tự thứ 31 [1905] bắt đầu thuộc Nhai Châu. Phía Đông có núi Ðại Nhã, phía Đông Bắc núi Cửu Long, phía Tây giáp biển; phía Đông có Long Giang phát nguyên từ núi Lê Mẫu hướng Tây Nam còn gọi là sông Cảm Ân, chảy sang phía Tây đến phía Bắc huyện lỵ thành cảng Cảm Ân rồi ra biển, nhánh chính hướng Tây Bắc qua chợ Bắc Lê làm thành cảng Bắc Lê rồi hướng Tây Nam ra biển. Sông Lạc An hướng Tây Bắc ra khỏi châu, vào huyện Xương Hóa.

- Xương Hóa: [nay thuộc huyện Xương Giang Lê tộc tự trị], nằm về phía Tây Bắc châu lỵ cách 360 lý, xưa thuộc phủ Quỳnh Châu, năm Quang tự thứ 31 [1905] bắt đầu thuộc Nhai Châu. Phía Đông Bắc có núi Tuấn Linh, phía Đông Nam núi Cửu Phong, Tây Bắc giáp biển; phía Nam Xương Giang tức sông Lạc An từ huyện Cảm Ân chảy vào qua phía Đông Nam huyện lỵ thì chia làm hai: hướng Tây Nam gọi là sông Nam Nhai, hướng Bắc gọi là Bắc Giang, cả hai đều chảy ra biển. Lại có sông An Hài phát nguyên từ Ca Báng Lãnh phía Đông Bắc, hướng Tây Nam đến châu Ðam thì ra biển.

- Lăng Thủy: [nay thuộc huyện Lăng Thủy Lê tộc tự trị], nằm về phía Đông Bắc châu lỵ cách 210 lý, xưa thuộc phủ Quỳnh Châu, năm Quang Tự thứ 31 [1905] bắt đầu thuộc Nhai Châu. Phía Tây có núi Ðộc Tú, phía Nam núi Ða Vân, Đông Nam giáp biển, tại biển có đảo Gia Nhiếp, đảo Song Nữ; phía Tây Bắc có Ðại Hà phát nguyên từ núi Thất Chỉ chảy hướng Đông qua núi Bác Cổ, lượn phía Nam làm thành cảng Ðồng Khê rồi hướng Đông ra biển. Phía Nam có sông Thanh Thủy Ðường Thủy phát nguyên từ thôn Lang Nha phía Tây Bắc, chảy hướng Nam đến phía Tây huyện lỵ được gọi là sông Bút Giá Sơn hợp với Ðại Hà tạo thành cảng Táo Tử, lượn phía Tây Nam đến cảng Tân Thôn thì ra biển; huyện có Tuần ty Bảo Ðình.

- Huyện Vạn: [nay là Vạn Ninh thị] nằm về phía Đông Bắc châu lỵ cách 370 lý, xưa là châu Vạn thuộc phủ Quỳnh Châu, năm Quang Tự thứ 31 [1905] bị giáng thành huyện, lệ thuộc vào Nhai Châu. Phía Đông huyện có núi Ðông Sơn, phía Bắc núi Lục Liên, Đông Nam giáp biển, trên biển có núi Ðộc Châu, dưới là Ðộc Châu Dương; phía Tây Bắc có Long Cổn Hà phát nguyên từ động Tung Hoành, lượn xuống phía Nam rồi ra phía Đông hợp với Lưu Mã Hà, hướng Đông Bắc vào huyện Lạc Hội, lượn theo hướng Đông Nam trở lại phía Bắc huyện, riêng phía Đông có khe Liên Ðường, uốn sang phía Bắc vào huyện Lạc Hội hợp với sông Vạn Toàn, nhánh chính hướng Đông Nam qua núi Liên Chi rồi ra biển. Lại có sông Ðô Phong phát nguyên từ động Tung Hoành, chảy theo hướng Đông Nam rồi chia làm 4 nhánh: cảng Hòa Lạc, Cảng Bắc, khe Thạch Cẩu, sông Kim Tiên, đến phía Đông Bắc huyện lỵ rồi ra biển. Phía Nam Dương Dung Hà phát nguyên từ núi Giá Cô phía Tây Bắc, hướng Đông Nam đến thôn Sấu Ðiền thì chia dòng hợp với Thạch Qui Hà lại theo hướng Đông Nam ra biển. Huyện có Tuần ty Long Cổn, công trường muối Tân An.

Ðến thời Trung Hoa Dân Quốc, đảo Hải Nam được đặt tên là đạo Quỳnh Nhai, tức gộp tên cũ của phủ Quỳnh Châu và châu Nhai. Ðạo Quỳnh Nhai trực thuộc tỉnh Quảng Ðông, được chia làm 13 huyện, tên huyện tương tự như thời nhà Thanh trước kia, gồm: 1.Quỳnh Sơn, 2.Trừng Mại, 3.Ðịnh An, 4.Văn Xương, 5.Quỳnh Ðông (đời Thanh là Hội Ðồng), 6.Lạc Hội, 7.Ðam huyện (đời Thanh gọi là Ðam Châu), 8.Lâm Cao, 9.Vạn Ninh (đời Thanh là huyện Vạn), 10.Xương Giang (đời Thanh là Xương Hóa), 11.Lăng Thủy, 12.Cảm Ân, 13.Nhai huyện (năm 1920, Nhai Châu đổi thành Nhai huyện).

Trong giai đoạn đầu Dân Quốc, chính phủ Trung Hoa chưa đề cập đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; mãi đến thập niên 1930 nhận thức được tiềm lực kinh tế tại Biển Đông, mới bắt đầu lên tiếng. Sau Chiến tranh thế giới thứ II, nhân Nhật Bản đầu hàng đồng minh, chính phủ này cho mang quân chiếm một vài đảo trong 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thu nhận đảo Hải Nam vào tháng 5 năm 1950, thành lập Hải Nam Quân dân Ủy viên Hội. Tháng 3 năm 1955 đổi thành Quảng Ðông Tỉnh Hải Nam Hành chính Công Thự, sau cuộc Cách mạng Văn hóa nổ ra năm 1966, đình chỉ chức quyền của Công Thự, năm 1968 thiết lập Hải Nam Ðịa Khu Cách mạng Ủy viên Hội. Tháng 10 năm 1984, thành lập Hải Nam Hành chính Khu Nhân dân Chính phủ. Hải Nam Hành chính Khu quản hạt Hải Nam Lê tộc, Miêu tộc tự Trị Châu, cùng 9 huyện: 1. Quỳnh Xương, 2. Văn Sơn, 3. Lâm Cao, 4. Trừng Mại, 5. Quỳnh Hải, 6. Ðồn Xương, 7. Ðam huyện, 8.Vạn Ninh, 9. Ðịnh An; ngoài ra lại đặt các đảo Tây Sa [Hoàng Sa], Trung Sa, Nam Sa [Trường Sa] vào cái gọi là biện lý sự. Như vậy sau khi chiếm được một vài hải đảo do Trung Hoa Dân Quốc bỏ lại sau cuộc rút lui ra Ðài Loan, năm 1974 lại xâm lăng một số đảo do Việt Nam Cộng hòa làm chủ.

Năm 1988, thiết lập tỉnh Hải Nam . Ðến năm 2008, toàn tỉnh được chia như sau:

- Hai địa hạt cấp thị: Hải Khẩu thị, Tam Á thị.
- Bốn thị hạt khu: Quỳnh Sơn khu, Long Hoa khu, Tú Anh khu, Mỹ Lan khu.
- Sáu huyện cấp thị: Văn Xương thị, Quỳnh Hải thị, Vạn Ninh thị, Ðam Châu thị, Ðông Phương thị, Ngũ Chỉ Sơn thị.

- Bốn huyện: Ðịnh An huyện, Ðồn Xương huyện, Trừng Mại huyện, Lâm Cao huyện.
- Sáu tự trị huyện: Quỳnh Trung Miêu tộc Lê tộc tự trị huyện, Bảo Ðình Miêu tộc Lê tộc tự trị huyện, Bạch Sa Lê tộc tự trị huyện, Xương Giang Lê tộc tự trị huyện, Lạc Ðông Lê tộc tự trị huyện, Lăng Thủy Lê tộc tự trị huyện.

- Khai phát khu: Dương Phố kinh tế khai phát khu.
- Biện sự xứ: Tây Sa [Hoàng Sa] quần đảo, Nam Sa [Trường Sa] quần đảo, Trung Sa quần đảo.

III. Kết luận:

Bài viết này cho thấy tài liệu chính thức của Trung Quốc về thời nhà Thanh (1644-1911) như Thanh Sử Cảo và bản đồ soạn và in thời đó như Ðại Thanh Nhất Thống Toàn Ðồ đã không coi Tây Sa [Hoàng Sa], Nam Sa [Trường Sa] là thuộc lãnh thổ Trung Quốc. Ðại Thanh Nhất Thống Toàn Ðồ có thể không phải là bản đồ chính thức nhưng đã được thu thập, ghi chú và lưu giữ ở Hội Thừa Sai Luân Đôn và Thư viện Quốc gia Ôxtrâylia. Đây là tài liệu đáng tin cậy vì khi được soạn thảo dưới một triều đại mà vua chúa có quyền sinh sát với những người làm sai thì người soạn bản đồ đó không thể tự ý loại bỏ một phần đất trong lãnh thổ Trung Quốc. Thêm nữa, hai tài liệu này hoàn toàn không mâu thuẫn nhau. Nó cũng phù hợp với Minh Sử mà tác giả đã viết trong một bài khác. Ngoài ra kết luận ở đây cũng phù hợp với bản đồ nhà Thanh mà Đại học Cambridge ở Anh đã in vào năm 1910./.

 

 

 


TTXVN (GIƠ-NE-VƠ 25/2)--Đề cập tới sách lược trong tranh chấp chủ quyền biển đảo của Trung Quốc, tiến sỹ Hồng Lê Thọ, Việt kiều tại Nhật Bản đã có bài viết “Từ Gác lại đến Cưỡng đoạt: Sách lược trong tranh chấp chủ quyền biển đảo của Trung Quốc” đăng trên tạp chí hải ngoại “Cộng đồng người Việt” ngày 24/2/2010. Nội dung bài viết như sau:

 

Trong lần trả lời phỏng vấn vào đầu năm 2010, đại sứ TQ tại VN Tôn Quốc Tường đã nhắc lại chủ trương “gác lại tranh chấp, cùng nhau khai thác” trên biển đông của chính phủ TQ, chờ đến một thời điểm “chín muồi” sau này. Phát biểu nầy không có gì mới, thường được lập đi lập lại có vẻ như lãnh đạo TQ muốn hợp tác hòa bình, không muốn tranh cãi hay tranh chấp về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bên cạnh những lời nói êm tai này, vấn đề tăng cường tuần tra, kiểm tra bằng các loại tàu “Ngư Chính” cải trang, lực lượng hải quân, cảnh sát biên phòng và tuần tra ngư nghiệp không ngớt quần thảo và ngày càng gay gắt trên biển Đông. Động thái tăng cường khả năng chiến đấu, hiện đại hóa lực lượng hải-không quân bằng khí tài hiện đại với tầm hoạt động vươn ra vùng biển Ấn Độ Dương và xa hơn nữa trong suốt một thập niên 2000…cho thấy sách lược hai mặt của nhà cầm quyền TQ với thái độ khăng khăng của TQ trong vấn đề chủ quyền đối với Hoàng Sa-Trường Sa (HS-TS) với chiếc lưỡi bò chiếm 80% diện tích biển Đông.


Bài viết nầy với mục đích tìm hiểu sáng kiến “gác lại” nêu trên được phía TQ đề xuất từ lúc nào và thể hiện trên thực tế ra sao, liệu chúng ta có thể tin tưởng được “thiện chí” của phía TQ đến đâu và có thể chấp nhận giải pháp “gác lại” để cùng khai thác trên vùng biển và quần đảo vốn từ xưa thuộc về chủ quyền của nước ta ?


Thử đặt vấn đề nếu như HS và TS vốn thuộc lãnh thổ của TQ, “không thể tranh cãi được” như TQ khẳng định thì liệu nhà cầm quyền TQ có đưa ra chủ trương này hay dứt khoát bảo vệ “lãnh thổ thần thánh” (Senkaku ở biển Đông Trung Hoa, HS-TS ở biển Nam Trung Hoa, Đài Loan và nhiều đảo khác trên biển Đông và Nam Trung Hoa) như tuyên bố của Đặng Tiểu Bình cũng như các lãnh đạo khác của TQ. Nói khác đi, TQ chỉ bày tỏ thái độ “thiện chí” hợp tác “mềm dẻo” trên vùng biển thuộc lãnh thổ của nước khác như Việt Nam (VN), Nhật Bản… để lấn lướt và xâm thực trong lúc chưa thể dùng sức mạnh quân sự để chiếm đoạt như đã xảy ra đối với quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974 hay đối với một số đảo nhỏ ở Trường Sa năm 1988.


Trong cuộc hội đàm kéo dài 3 ngày tại Bắc Kinh nhằm tiến đến việc bình thường hóa quan hệ Trung-Nhật sau khi quan hệ Trung-Mỹ đã được Tổng thống Nixon và Mao Trạch Đông khai thông trước đó vào tháng 2/1972, Cựu Thủ tướng Nhật bản Tanaka Kakuei trong phiên họp cuối cùng vào ngày 27/9/1972, đã đặt vấn đề chủ quyền của Nhật Bản đối với dãy đảo Senkaku với người đồng nhiệm, Thủ tướng Chu Ân Lai thì ông ta đã gạt phăng “tôi không muốn đề cập đến vấn đề nầy”, tỏ thái độ tránh né, cho rằng hai bên phải xuất phát từ “đại cục” trên cơ sở “đại đồng tiểu dị”, không để cho vấn đề chủ quyền “Senkaku”(hay đảo Điếu Ngư) trở thành vật cản trong cuộc đàm phán mà mục tiêu trước mắt là bình thường hóa quan hệ Trung-Nhật là tối thượng. Phía Nhật cũng đã ngầm hiểu ý đồ của Chu Ân Lai, tỏ ra “đồng tình” vì cho rằng Nhật bản đã sáp nhập các đảo ở Senkaku vào lãnh thổ của Nhật bản từ ngày 14/1/ 1895 (Minh Trị thứ 14), tuyên bố có chủ quyền và quản lý kể từ ngày đó đến năm 1969, tức trong 74 năm đã trôi qua phía TQ chưa hề lên tiếng phản đối. Nhưng từ khi Ủy Ban Kinh Tế Viễn Đông (ECAFE) công bố kết quả thăm dò thềm lục địa ở biển Đông Trung Hoa năm 1969, cho biết có khả năng trữ lượng dầu mỏ ở vùng biển quanh các đảo Senkaku vô cùng phong phú thì Đài Loan và TQ lần lượt lên tiếng đưa ra yêu sách về chủ quyền vào tháng 5/1969. Ngầm hiểu ý kiến của Chu Ân Lai trước đề xuất của Tanaka, Nhật Bản càng không muốn gây cãi vã căng thẳng có thể đưa đến đổ vỡ cuộc đàm phán này khi tình hình kinh tế trong nước đang đứng trước nạn lạm phát phi mã, nhu cầu về dầu mỏ của Nhật Bản ngày càng khó khăn vì phản ứng của các nước Trung Đông đối với thái độ ủng hộ Israel của Mỹ và chính sách theo đuôi của NB, và sức hấp dẫn của thị trường TQ đang khát vốn và kĩ thuật của phương tây mà Nhật bản là nước có nhiều thuận lợi nhất. Hơn thế nữa, kể từ khi chiến tranh thứ hai kết thúc, chính quyền Nhật Bản vốn thuộc về phe bảo thủ thân Đài Loan trong đảng cầm quyền LDP(Tự do dân chủ) và nằm dưới sự bảo trợ của chiếc ô hạt nhân của Hoa Kỳ, Nhật bản không thể thực hiện việc chủ động mở ra quan hệ với Trung Quốc suốt một thời gian dài, mãi đến khi Tanaka Kakuei lên nắm quyền vào tháng 7/1972 với thế lực chính trị ủng hộ hùng hậu (của các phe phái khác trong Đảng như Phe cánh Ohira Masayoshi, Miki Takeo chiếm đa số, lấn lướt các phe phái thân Đài Loan như Fukuda Takeo, Nakasone Yasuhiro trong đảng LDP là người đang nắm đa số tại thượng-hạ viện trong quốc hội Nhật bản. Ông Tanaka Kakuei đã đưa ra hai chủ trương lớn trong cuộc tranh dành chức Chủ Tịch Đảng này, về đối nội là thực hiện chương trình “Cải tạo quần đảo Nhật bản”(Nihon Retto cazoron) để đẩy mạnh việc xây dựng cơ sở hạ tầng hòng tạo ra sức bật mới cho nền kinh tế trước nguy cơ khủng hoảng và về đối ngoại là nhanh chóng khôi phục quan hệ Nhật-Trung, không chậm chân, bị nhỡ “cơ hội” nhảy vào thì trường béo bỡ mà tư bản phương tây đang chực chờ sau khi quan hệ Trung-Mỹ được cải thiện. Vì vậy, khi bản tuyên bố Thượng Hải Mỹ-Trung năm 1972 ra đời, được công bố rộng rãi trên các phương tiện truyền thông trước khi Nixon kết thúc chuyến thăm lịch sử ở TQ, các nhà lãnh đạo chính trị, tài phiệt và tư bản công nghiệp của Nhật bản không giấu nổi sự bàng hoàng và ngỡ ngàng vì phía Nhật Bản không hề được phía đồng minh Hoa Kỳ thông báo hay hé lộ khả năng bình thường hóa với TQ trước và vì bản thân Nhật Bản cũng đã chuẩn bị một kịch bản tương tự đối với TQ từ khi có cuộc tiếp xúc qua “ngoại giao bóng bàn” (thi đấu bóng bàn quốc tế có tuyển thủ TQ tham dự tại Yokohama) như Mỹ đã thực hiện trước đó.


Về phía TQ, sau một thời gian dài đấu đá thanh trừng nội bộ khốc liệt, điên cuồng chạy theo Cách Mạng Văn Hóa(1966-1976) theo chỉ đạo của Chủ tịch Mao Trạch Đông, thất bại của “Đại Nhảy Vọt”(1958-1960) trước đó đã đẩy nền kinh tế của TQ khốn đốn lại càng kiệt quệ hơn, sản xuất công-nông nghiệp suy sụp toàn diện, trước mối lo sợ bị Liên Xô vây hãm và thôn tính ở biên giới ám ảnh, vào những năm cuối đời, Mao Trạch Đông đã phải chuyển hướng chiến lược đối ngoại, chấm dứt thời kỳ xem Mỹ là cừu địch, có chủ trương cải thiện quan hệ với các nước phương tây trong đó xác định mục tiêu tối thượng là vấn đề Đài Loan phải được công nhận thuộc lãnh thổ của một nước TQ, duy nhất, không can thiệp nội bộ lẫn nhau và chung sống hòa bình với hàm ý chống lại giặc thù con gấu bắc cực (Liên Xô). Từ đó, trước khi qua đời, Mao Trạch Đông sắp xếp lại bộ máy lãnh đạo cấp cao trong đó giao cho người kế thừa là Hoa Quốc Phong điều hành ,trấn áp “bè lũ 4 tên” cầm đầu “Hồng Vệ Binh” trong cuộc Cách Mạng Văn Hóa (Giang Thanh, Trương Xuân Kiều, Diệp Văn Nguyên và Vương Hồng Văn) cất nhắc Đặng Tiểu Bình (ĐTB)– sau một thời gian dài trấn áp và giam lỏng– trở lại vị trí lãnh đạo cùng với Thủ tướng Chu Ân Lai xây dựng kinh tế và triển khai công tác đối ngoại của Đảng CS TQ.


Với một bối cảnh chính trị các nước Nhật-Mỹ-Trung như trên , chúng ta có thể thấy được rằng Chu Ân Lai đã chọn cách đối phó cực kỳ khôn khéo trước đối thủ Nhật bản, gạt phăng vấn đề xác định chủ quyền một số hòn đảo trên biển Đông TH như đã nói ở trên của Thủ tướng Tanaka, gây cảm tưởng cho phía Nhật bản rằng TQ không quan tâm đến những hòn đảo nhỏ nhặt trên biển Đông TH. Nhưng trên thực tế vào 2 năm sau đó, lợi dụng tình hình Mỹ thất bại trong cuộc chiến ở VN, bắt đầu rút quân khỏi bán đảo Đông dương, chính quyền Nixon lún sâu vào cuộc khủng hoảng chính trị (Vụ Watergate) và nền kinh tế của Hoa Kỳ rơi vào thời kỳ suy thoái nghiêm trọng, TQ đã nhanh tay cướp lấy thời cơ, cưỡng đoạt bằng vũ lực quần đảo Hoàng Sa bất chấp quần đảo này vốn thuộc về lãnh thổ chủ quyền của Việt nam. Hay nói khác đi, không phải Chu Ân Lai đã từ bỏ vấn đề yêu sách chủ quyền của họ đối với Senkaku như chúng ta đã thấy, chỉ vài năm sau đó, tức vào năm 1978, ĐTB vẫn nhắc đi nhắc lại các đảo Senkaku là “thuộc” chúng ta, nhấn mạnh vấn đề chủ quyền của TQ đối với các quần đảo trên biển Đông TH và Nam TH là “không thể tranh cãi” và TQ chỉ chấp nhận đàm phán trên tiền đề này.


Thực ra, hành động tránh né này của Chu Ân Lai không phải là không được báo trước, vì vào ngày tháng 28/7/1972 trước đó, trong lần gặp Chủ tịch Đảng Kômei (Nhật Bản) , Ông Takeiri Yoshikatsu thuộc phe thiểu số trong quốc hội nhưng là người tích cực ủng hộ chủ trương bình thường hóa quan hệ Nhật-Trung , Thủ tướng Chu Ân Lai cũng đã cho biết ý đồ này của phía TQ, rằng “Phía TQ không muốn đụng chạm đến vấn đề quần đảo Senkaku, một việc quá nhỏ so với việc khôi phục quan hệ Trung –Nhật. Theo ghi chép của Takeiri “Chu nói rằng không quan tâm đến vấn đề Senkaku, chỉ có mấy ông nghiên cứu lịch sử đặt chuyện từ khi có vấn đề dầu mỏ…không cần phải xem nặng đến vậy”. Có phải thực tâm Chu Ân Lai nghĩ như vậy hay chủ quan cho rằng TQ có nguồn dầu mỏ phong phú, có thể cung cấp cho Nhật bản về lâu dài vì vậy khuyên phía đối tác Nhật không nên đem vấn đề Senkaku ra tranh luận hay chọn môt cách nói mà phía NB không thể phản bác, yên lòng trước thái độ mềm dẻo của ông ta ? Hoặc có thể bản thân Ông Chu cũng không hình dung được rằng không đầy 20 năm sau khi TQ bước vào thời kì “cải cách và mở cửa”, từ năm 1978 để phát triển kinh tế thì nước nầy đã trở thành nước nhập khẩu dầu mỏ từ năm 1993 và ngày nay đứng vào vị trí nước lớn thứ hai về số lượng dầu mỏ nhập khẩu và kèm theo đó biết bao hệ lụy trong chính sách “phú quốc cường binh” theo chủ nghĩa bành trướng ngày nay mà VN là nạn nhân gần nhất.


Ý đồ xem TQ vừa là nơi cung ứng dầu mỏ vừa là thị trường tiêu thụ sản phẩm và công nghệ của NB thể hiện rất rõ trong thái độ háo hức, tạo ra “China boom” trỗi dậy mạnh mẽ, nhất là khi Nhật bản nằm trong vòng xoáy của “Nixon Shock”( Cú choáng Nixon) xảy ra vào năm 1971 và tiếp đến là “Oil Shock”(Cú choáng Dầu mỏ lần thứ nhất) sau khi chiến tranh Trung Đông lần thứ 4 bộc phát vào năm 1973 khi các nước xuất khẩu dẩu mỏ ở Trung Đông xếp Nhật bản thân Mỹ vào đối tượng những nước cần hạn chế xuất khẩu dầu mỏ vì có chính sách thù địch ở Trung Đông trong khi hơn 90 % dầu mỏ nhập khẩu của Nhật Bản phải dựa vào các nước xuất khẩu dầu mỏ từ khu vực nầy. Mặt khác, với giá cả dầu mỏ nhập khẩu tăng vọt đẩy nền kinh tế Nhật bản vào tình trạng suy thoái và lạm phát triền miên với tốc đó 23% trong năm 2004, kết thúc thời kì kinh tế phát triển tốc độ cao trong hơn một thập niên. Cho nên niềm hi vọng của nước này vào nguồn dầu mỏ của TQ rất lớn (tuy rằng chất lượng dầu mỏ của TQ không tốt). Nhật Bản đã tranh thủ nhập khẩu nguồn “dầu mỏ vừa gần lại vừa rẽ” của TQ, rất cần cho công nghiệp đồng thời đẩy mạnh mậu dịch, xuất khẩu trang thiết bị gang thép ồ ạt sang nước này bên cạnh việc cho vay ODA và viện trợ kĩ thuật, xây dựng cơ sở hạ tầng như cầu đường, bến cảng… phục vụ xuất khẩu của TQ.


Ở thời điểm tuyên bố bình thường hóa Trung-Nhật năm 1972, chưa có nhà lãnh đạo TQ nào đưa ra giải pháp sâu hơn một bước như “gác lại tranh chấp cùng nhau khai thác” vì lúc ấy như đã nói ở trên, Chu Ân Lai chưa vội tỏ rõ thái độ TQ trong vấn đề chủ quyền đối với các đảo Senkaku. Như đề cập trong chú thích ở dưới, quan hệ kinh tế Nhật-Trung đã phát triển cực nhanh sau khi TQ có chính sách “cải cách và mở cửa” vào năm 1978 và tham gia vào WTO năm 1991 sau này, xem phát triển kinh tế là ưu tiên hàng đầu.


Để triển khai việc hợp tác kinh tế toàn diện với Nhật Bản, ngày 8/10/1978, trước khi sang thăm Nhật Bản để kí kết “Hiệp Ước Hòa Bình và hữu nghị Trung-Nhật”, Phó thủ tướng Đặng Tiểu Bình (ĐTB) đã nói với ngoại trưởng Nhật bản Sonoda Sunao tại Bắc Kinh rằng “giữa hai nước Trung Nhật không phải là chẳng có vấn đề gì. Thí dụ như vấn đề đảo Điếu Ngư (Nhật gọi là Senkaku), vấn đề thềm lục địa nhưng chẳng cần lôi ra ngay bây giờ. Hãy để yên bên cạnh. Rồi từ từ hai bên thảo luận một cách bình tĩnh, trao đổi tìm ra phương cách mà bên nào cũng có thể chấp nhận được. Thế hệ chúng ta không tìm ra phương cách giải quyết thì thế hệ kế tiếp, hoặc kế tiếp nữa cũng sẽ tìm thấy một giải pháp thỏa đáng”. Điều nầy cho thấy ĐTB đã khôn khéo đưa ra vấn đề về chủ quyền “Điếu Ngư” với hàm ý “đây là một vấn đề còn tồn tại, chưa được giải quyết”– ngược lại với chủ trương của Nhật Bản cho rằng “không có vấn đề tranh chấp chủ quyền”– thay vì tránh né nhưng lại áp dụng một chiêu bài cao cấp và thực tế hơn Chu Ân Lai, rõ ràng nhất là nội dung họp báo của ĐTB tại Tokyo sau đó 2 tuần lễ, vào ngày 23/10/1978, rằng: “Các đảo Senkaku ở TQ gọi là đảo Điếu Ngư. Từ cái tên gọi cũng đã khác nhau. Rõ ràng là chủ trương về chủ quyền các đảo Senkaku giữa Trung Quốc và Nhật bản khác nhau. Hai bên đã cam kết là sẽ không đụng đến vấn đề nầy khi bình thường hóa quan hệ và lần kí kết hiệp ước hòa bình và hữu nghị cũng nhất trí là sẽ không đề cập đến nó. Với trí tuệ của người TQ thì chúng tôi chỉ nghĩ ra phương pháp nầy. Có nghĩa là nếu đụng đến vấn đề nầy thì sẽ không nói gì thêm được rõ ràng. Treo lại vấn đề nầy cũng chẳng sao, thế hệ kế tiếp sẽ thông minh hơn chúng ta, chúng sẽ tìm ra được giải pháp mà mọi người có thể chấp nhận được”. Theo Hiramatsu Shigeo thì “Việc gác lại nầy đối với TQ là cần thiết ở thời điểm mà việc giải quyết vấn đề này không thích hợp. Khi TQ thấy có lợi thì họ sẽ lôi xuống một cách dễ dàng” vì ‘TQ không bao giờ thỏa hiệp với bất cứ ai về vấn đề chủ quyền họ cho là thuộc TQ như ĐTB vẫn thường nhấn mạnh”. Đây là một điểm quan trọng trong sách lược ngoại giao “thực dụng” của nhà lãnh đạo TQ trong khi đàm phán với đối tác “đang có vấn đề tranh chấp lãnh thổ” với nước nầy và cũng là mặt trái của nhà cầm quyền TQ đối với Nhật Bản là nước đang thèm khát thị trường và dầu mỏ TQ như đã nói ở trên.


“Cùng nhau khai thác”—một thủ đoạn tinh vi


Ngày 31/5/1979 trong lần gặp gỡ Cựu Thủ tướng Suzuki Zenko, người kế tục Tanaka Kakuei, ĐTB nói rõ chủ trương của TQ là khai thác chung tài nguyên dầu khí ở vùng biển này không đụng chạm đến chủ quyền lãnh thổ trên các đảo Senkaku và sang tháng 6/1979 tức 1 tháng sau, qua con đường ngoại giao, phía Bắc Kinh chính thức công bố đề án “gác lại tranh chấp, cùng nhau khai thác” trên tiền đề là chủ quyền các đảo này thuộc về TQ, cho đây là giải pháp hữu hiệu để tránh “đụng chạm” về vấn đề chủ quyền lãnh thổ và tăng cường hiểu biết lẫn nhau. Phương sách này sau đó cũng đã được Đặng Tiểu Bình, Chủ tịch Giang Trạch Dân và Thủ tướng Lý Bằng đề xuất với các nước ASEAN trong giải pháp hợp tác về nghề Cá trên biển Đông.


Tóm lại, từ những năm cuối thập niên 1970, TQ đã đưa ra và luôn kiên trì chủ trương chính sách “chủ quyền thuộc ta, gác tranh chấp, cùng khai thác” trên cơ sở bảo đảm chủ quyền thuộc về TQ. Trong bức điện trả lời phỏng vấn của báo chí Nhật bản ngày 12/10/1996, Ngoại trưởng TQ, Tiền Kỳ Tham nhấn mạnh “Hai bên đã nhất trí giao lại việc giải quyết vấn đề quần đảo Senkaku cho tương lai khi đàm phán để bình thường hóa quan hệ cũng như kí kết Hiệp ước hòa bình và hữu nghị Trung-Nhật. Đó là một sự thật lịch sử” và còn nói thêm “dựa trên tiền đề này, chúng tôi đã nhiều lần gạt sang một bên và đề nghị cùng nhau khai thác tài nguyên. Chủ trương nầy xuất phát từ đại cục của quan hệ giữa hai nước, và quan điểm chiến lược có lợi hòa bình và ổn định của khu vực”. Gần đây Ngoại trưởng Dương Khiết Trì cũng đã lập lại chủ trương nầy vào ngày 12/3/2008 trong cuộc họp báo nhân kỳ họp thứ nhất quốc hội khóa 11 TQ, rằng “TQ có chủ quyền không thể tranh cãi đối với quần đảo Nam Sa và vùng biển phụ cận, TQ tích cực chủ trương thông qua phương thức ‘gác lại tranh chấp, cùng nhau khai thác’ để giải quyết những vấn đề liên quan” chứ không bao giờ rút lại yêu sách về “chủ quyền” như phương châm chỉ đạo “chủ quyền tại ngã”(chủ quyền là của chúng ta) trước đây của ĐTB.


Nói khác đi, TQ sử dụng chiến lược “tằm ăn dâu”, tạo ra “sự thật đã rồi” bằng cách đi từ chỗ đơn phương tuyên bố chủ quyền lãnh thổ đối với các đảo ở biển Đông TH vốn thuộc Nhật bản hay quần đảo HS-TS trên biển Nam TH xưa nay vốn thuộc VN, sang đến chỗ tranh chấp để chứng minh vấn đề yêu sách của TQ là có thật, xem đó là “vấn đề do lịch sử để lại” tồn tại chưa được giải quyết thỏa đáng và tiến dần đến chỗ “gác lại tranh chấp “ để “cùng khai thác” trên một tiền đề là Nhật Bản hay các nước có yêu sách chủ quyền trên biển Đông như VN, Malaysia, Indonesia, Brunei và Philippines phải công nhận “chủ quyền” của TQ theo chủ trương của họ trong khi TQ chưa đủ khả năng khống chế như trường hợp đảo Senkaku hay tình hình chính trị quốc tế chưa đủ chín muồi (lời của Đại Sứ Tôn Quốc Cường) cho phép TQ có thể sử dụng vũ lực chiếm đoạt một cách mạo hiểm như đã hành động ở biển Đông đối với quần đảo Hoàng Sa năm 1974.


Ba bước đột phá theo thứ tự và có hệ thống nầy luôn được hệ thống tuyên truyền của TQ rao giảng, lớn tiếng la lối và được hổ trợ bằng cách kích động tinh thần dân tộc dư luận trong nước theo chủ nghĩa Đại Hán qua việc công bố kết quả thăm dò dư luận, rằng 92 % người dân tán thành biện pháp vũ lực để “khôi phục chủ quyền của TQ trên quần đảo Trường Sa. Mặt khác, về pháp lý, TQ củng cố chủ trương bằng những luật pháp do nước nầy nhào nặn như “Luật về lãnh hải” được Hội nghị đại biểu toàn quốc thông qua vào tháng 2/1992. Thật vậy, Điều 2 về lãnh thổ trên đất liền của bộ luật nầy xác định “tất cả đại lục TQ, các đảo ven biển, Đài Loan và các đảo phụ thuộc bao gồm đảo Điếu Ngư, quần đảo Bành Hồ, các quần đảo Đông Sa, Tây Sa(Hoàng Sa ), Trung Sa, Nam Sa(Trường Sa) kể cả các đảo nhỏ khác được TQ tự ý ghi rõ tên gọi để khẳng định phạm vi chủ quyền của TQ”. Hành động này đã nảy sinh mâu thuẩn nghiêm trọng trên vùng biển Đông Trung Hoa với Nhật Bản và với các nước Đông Nam Á khác như VN, Malaysia…về vấn đề chủ quyền ở quần đảo Trường Sa ở biển Đông. Đồng thời những điều khoản của Luật lãnh hải của TQ còn đe dọa đến sự tự do đi lại của tàu bè trên biển đông, TQ tự cho phép mình có quyền truy đuổi, bắt bớ các tàu thuyền “xâm phạm” lãnh hải TQ hay khu vực đặc quyền kinh tế (EEZ) trên vùng biển 200 hải lí (370 km) tính từ đường phân định lãnh hải của các hòn đảo mà TQ tự nhận là của mình trên biển Đông.


Trong khi ĐTB không ngừng luôn miệng, rằng “TQ xem trọng việc phát triển quan hệ lâu dài với Nhật bản đến đời đời con cháu mai sau, từ thế kỷ 21 sang đến thế kỷ 22, 23 vĩnh viễn. Đây là điều quan trọng hơn mọi vấn đề quan trọng khác…”( phát biểu với Thủ tướng Nakasone Yasuhiro vào 25/3/1984) thì những gì đã xảy ra trên thực tế ở biển Đông TH với Nhật Bản trong những tháng năm sau đó đã phủ nhận, chứng minh ý đồ ngang ngược này của nhà cầm quyền TQ trong chủ trương “gác lại tranh chấp”.


GS Hiramatsu Shigeo cho biết “từ đầu tháng 12/1995 đến trung tuần tháng 2/1996, trong khoảng 60 ngày, TQ đã xâm nhập vào vùng biển EEZ để khoan đào thăm dò ở các điểm cách 570 mét nằm sâu trong đường trung tuyến của Nhật bản mặc dù Cục an ninh trên biển của Nhật bản đã nhiều lần yêu cầu chấm dứt nhưng các tàu điều tra hải dương của TQ vẫn tiếp tục…thử hỏi hành động như là nhảy vào sân nhà của người khác để đào bới và sau đó còn bước sâu vào tận cửa nhà người ta tìm của cải…như vậy có ngang ngược hay không ?”. Cách thức này TQ cũng đã áp dụng với vùng biển Tư Chính hay trên Vịnh Bắc Bộ của VN , ngang nhiên kí kết hợp đồng cho công ty nước ngoài thăm dò để khai thác ở vùng biển bên trong khu vực đặc quyền kinh tế Việt Nam theo UNCLOS(Công ước về Biển của LHQ) mặc dù TQ đã nhiều lần cam kết tôn trọng hiệp ước nầy trong vấn đề lãnh hải và qui định về khu vực EEZ hay thỏa thuận về việc phân định đường lãnh hải trên Vịnh Bắc Bộ. Nói khác đi, trong khi kêu gọi “gác lại tranh chấp” thì phía TQ lấy “Luật biển” của mình để lật ngược, khẳng định chủ quyền, xác định đó là lãnh thổ của họ là một thủ đoạn xảo trá (“deception”—chữ dùng của TS Ota Fumio) thì liệu những lời kêu gọi của các nhà lãnh đạo TQ có thể làm cho các nước láng giềng và cộng đồng quốc tế yên tâm tin tưởng vào cái gọi là “thiện chí” như việc “gác lại tranh chấp cùng nhau khai thác” được hay không. Cựu Đề Đốc Ota Fumio phân tích “Mô hình chiến thuật dùng vào việc xâm lấn lãnh hải của TQ như sau: một là TQ tuyên bố chủ quyền lãnh thổ. Luật Lãnh hải năm 1992 trong đó TQ khẳng định quần đảo Senkaku thuộc lãnh thổ của mình và Luật chống ly khai đối với Đài loan trong năm 2005. Hai, thế rồi TQ thường xuyên thực hiện việc tuần tra biển trong khu vực mà họ khẳng định chủ quyền lãnh thổ. Ba, TQ chứng tỏ sự hiện diện của mình khi mọi người biết bằng cách điều lực lượng/quân lính hải quân đến khu vực ấy. Bước cuối cùng, TQ biến việc chiếm đóng tạo thành môt sự thật đã rồi. TQ theo đuổi mô hình này trong biển nam TH. Đối với biển Đông TH, TQ đã tiến đến bước thứ ba”.


Sau một thời gian nguội lạnh trong quan hệ Nhật-Trung dưới thời Thủ tướng Koiizumi Junichiro (26/4/2001-31/10/2005), tháng 6/2008 thủ tướng Fukuda Yasuo cải thiện quan hệ hai nước, ra tuyên bố chung xác nhận thỏa thuận “việc gác lại tranh chấp và cùng khai thác chung giếng khí đốt nằm trong vùng biển tiếp cận đường trung tuyến của hai bên thuộc vùng biển Đông TH, biến vùng biển này thành “biển của hữu nghị, hòa bình và hợp tác giữa hai nước trong quan hệ chiến lược bình đẳng và hai bên cùng có lợi”, nhưng cũng từ tháng 12/2008, lực lượng vũ trang TQ lại bắt đầu hàng loạt hoạt động điều tra quần thảo trên vùng biển Nhật bản nhằm tái khẳng định chủ quyền của họ đối với các đảo Senkaku và người phát ngôn phía TQ luôn tuyên bố phía TQ không bao giờ nhân nhượng trong vấn đề chủ quyền biển đảo trong đàm phán.


Những hành động và lời nói với phía Nhật Bản trong vấn đề chủ quyền và khai thác vùng biển các đảo Senkaku cũng đã diễn ra tương tự nhưng cường độ mạnh mẽ và thô bạo hơn trên biển Đông trong khi lãnh đạo hai nước Trung –Việt đều tán thành “phương châm 16 chữ vàng”– và sau này thêm “tinh thần 4 tốt”– của Chủ Tịch Giang Trạch Dân, xác nhận việc xây dựng quan hệ hợp tác chiến lược và toàn diện giữa hai nước vào năm 1999.


TQ hiện nay đang cố gắng dùng lời lẽ ngọt ngào trong đàm phán ngoại giao, với những thông điệp rất êm tai như “hòa bình”, “hữu nghị”, “láng giềng thân thiện”… hay gần đây nhất là “sơn thủy tương liên, văn hóa tương thông, lý tưởng tương đồng, vận mệnh tương quan” của Chủ tịch Hồ Cẩm Đào khi đề cập đến quan hệ Trung-Việt nhưng bên trong và hành động trên thực tế hoàn toàn trái ngược, áp đặt “một chiều” để lấn át và răn đe thô bạo kiểu Trung Quốc. Nhìn hạm đội của TQ trong tư thế vũ trang sẵn sàng chiến đấu, thao dượt rầm rộ trên biển Đông và liên tục bắt bớ tàu đánh cá, đánh đập ngư dân Việt Nam trong vùng biển Hoàng Sa, xem biển Đông và Nam TH như ao nhà, người ta không thể không cảnh giác trước uy hiếp về quân sự của TQ. Tư tưởng biên giới lãnh thổ mở rộng và luôn biến động theo tầm địa lý của lợi ích quốc gia trong một số nhà lãnh đạo quân sự TQ càng kích động những người quá khích chạy theo chủ nghĩa dân tộc ích kỷ và bành trướng, đưa nguy cơ xung đột ngày càng có điều kiện bùng nổ bất cứ lúc nào.


Không thể xây dựng niềm tin trên sự giả dối và càng không thể thương thảo khi đối tác lăm lăm gươm giáo, đằng đằng sát khí, với mùi khét của khói súng lãng vãng bên cạnh. Lời nói phải đi đôi với việc làm với thái độ tự trọng và biết kiềm chế, tương kính lẫn nhau là điều kiện tiên quyết để tìm lối thoát hợp lý và công bằng vì một nền hòa bình và ổn định dài lâu để cùng phát triển phải chăng là một đòi hỏi quá đáng hay ngược lại đang nằm trong tầm tay của các nhà lãnh đạo TQ nếu họ chấp nhận từ bỏ tư tưởng Đại Hán? ./.

 

 

Những thay đổi sâu sắc của hệ thống quốc tế (cũng có thể gọi là “sự chuyển đổi của hệ thống quốc tế”) là đề tài lớn nhất thời đại ngày nay. Một loạt sự kiện lớn trong năm 2008-2009 cho thấy, hệ thống quốc tế đang trải qua quá trình chuyển đổi từ biến đổi lượng đến biến đổi chất, các nước lớn đều đang khẩn trương thích ứng, tiến hành điều chỉnh chiến lược. Trung Quốc là lực đẩy quan trọng trong những thay đổi này, đồng thời cũng bị ảnh hưởng sâu sắc bởi những thay đổi ấy. Làm thế nào xác định chuẩn xác vai trò đa dạng của Trung Quốc trong thời kỳ mới, để đưa ra những lựa chọn chiến lược hợp lí, đa nguyên hơn, trở thành đề tài lớn mà Trung Quốc không thể lẩn tránh trên đường phát triển. 



1. Bốn mốc sự kiện lớn trong thay đổi hệ thống quốc tế 


Hệ thống quốc tế xưa nay là tiền đề quan trọng để nắm bắt thời cuộc. Nó bao gồm nhiều yếu tố như đặc trưng thời đại, cục diện thế giới, trật tự quốc tế, chiến lược phát triển. Cũng chính vì vậy, hệ thống quốc tế thường mang tính ổn định tương đối, quá trình hình thành, phát triển, phong phú, suy yếu, sụp đổ hoặc chuyển đổi đều tương đối dài. Một khi hệ thống quốc tế thay đổi, thì so sánh lực lượng, lựa chọn chiến lược, quan hệ quốc tế, thậm chí vấn đề điểm nóng đều nảy sinh những thay đổi lớn, thường nói là “dứt dây động rừng”. 

Từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc đến nay, vấn đề thay đổi hệ thống quốc tế đã trở thành đề tài bàn tán sôi nổi. Mọi người luôn tìm cách từ mỗi một “mốc sự kiện” hoặc giai đoạn đặc biệt nào đó nắm bắt một chút manh mối dấu ấn của thay đổi hệ thống, thử lấy những danh từ mới để định nghĩa, từ đó ra đời rất nhiều cách nêu vấn đề như “hậu Chiến tranh Lạnh”, “hậu hậu Chiến tranh Lạnh”.... Nhưng Chiến tranh Lạnh kết thúc nhiều năm, vẫn chưa có đánh giá chung về hệ thống quốc tế mới đã hình thành chưa, mối quan tâm và các cuộc bàn luận về sự thay đổi hệ thống quốc tế cũng không liên tục. Những cuộc thảo luận này trở nên sôi nổi sau “sự kiện 11/9” năm 2001, và cuộc khủng hoảng tiền tệ “15/9” năm 2008 được đẩy lên cao trào, trở thành chủ đề các nhà chiến lược quốc tế cùng quan tâm. Các chiến lược gia nổi tiếng quốc tế như Kissinger, Brzezinski, Richard Haass, Zakaria, Kishore Mahbuba đều cho rằng hệ thống quốc tế đã nảy sinh những biến đổi căn bản. 


Nếu những thay đổi hệ thống quốc tế trước đây nảy sinh qua một cuộc chiến tranh thế giới, nên tương đối dễ nhận ra tiêu chí hoặc ranh giới của sự thay đổi, thì những thay đổi hệ thống hiện nay nảy sinh trong bối cảnh thời đại phát triển hòa bình, do đó giới hạn từ biến đổi lượng đến biến đổi chất tỏ ra không rõ ràng. Nhưng bốn mốc sự kiện quốc tế lớn nảy sinh trong năm 2008-2009 và biến đổi mới của cục diện kinh tế chính trị quốc tế bộc lộ đằng sau những sự kiện đó đã từ nhiều góc độ thể hiện rõ một thời đại và hệ thống quốc tế hoàn toàn mới đang đến gần. 


Trước tiên là cuộc xung đột Nga - Grudia bùng nổ ngày 8/8/2008.

 

Nga dám dùng vũ lực trên quy mô lớn đối với Grudia, vậy mà Mỹ - Châu Âu “dám phẫn nộ và dám lên tiếng phản đối” mà không dám thực thi trừng phạt với Nga, chí ít phản ánh hai sự thật quan trọng. Thứ nhất, trải qua gần 20 năm thăng trầm và biến đổi, dưới sự chỉ dẫn của “đường lối Putin”, Nga một lần nữa nổi lên là một thế lực mạnh, cao giọng trở lại trung tâm vũ đài chính trị kinh tế quốc tế. Thứ hai, Mỹ và Châu Âu bị hạn chế bởi những khó khăn ở trong và ngoài nước, lại phải dựa vào nguồn năng lượng của Nga, chẳng biết làm cách gì trước hành động quân sự của Nga, muốn giúp Grudia mà lực bất tòng tâm. Nếu như Liên Xô tan rã đánh dấu Chiến tranh Lạnh kết thúc, thì sự phục hưng của nước Nga đang đánh dấu chấm dứt “thời đại hậu Chiến tranh Lạnh” kéo dài 20 năm . 

Dường như sự kiện lớn thứ hai nảy sinh cùng khoảng thời gian trên là việc tổ chức thành công Thế Vận Hội Bắc Kinh.

 

Sự kiện này nhìn nhận riêng rẽ thì không thể nói lên điều gì, nhưng nếu từ góc nhìn Phương Tây để nhận định sự vươn lên của Trung Quốc, thì việc tổ chức thành công Thế Vận Hội Bắc Kinh mang ý nghĩa cột mốc. Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, nhận định của Phương Tây đối với Trung Quốc trải qua mấy giai đoạn. Năm 1992 là năm kết thúc của giai đoạn thứ nhất, cùng với việc Đại hội 14 Đảng Cộng sản Trung Quốc đưa tinh thần những bài phát biểu của Đặng Tiểu Bình trong chuyến tuần tra phía nam và nội dung xây dựng kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa vào đường lối chung của Đảng, “thuyết về sự sụp đổ của nền kinh tế Trung Quốc” cơ bản không còn chỗ đứng trong các học giả có lý trí. Điểm kết thúc của giai đoạn thứ hai là Đại hội 16 Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 2002. Cơ quan quyền lực chính trị cao nhất của Trung Quốc đã thực hiện sự chuyển giao hòa bình, chỉnh thể và toàn diện, báo trước sự phá sản của một luận điệu khác của Phương Tây là “thuyết về sự sụp đổ của chính trị Trung Quốc”. Năm 2008, trên thực tế Phương Tây đã rút ra kết luận thứ ba, là xã hội Trung Quốc không thể tan vỡ. Bởi trong năm 2008 Trung Quốc phải đương đầu với hàng loạt sự kiện lớn nối tiếp nảy sinh, như bạo loạn Tây Tạng 14/3, động đất Vấn Xuyên 12/5, Thế Vận Hội Bắc Kinh 8/8 và xoay quanh cuộc truyền rước đuốc bên ngoài, Trung Quốc chẳng những không loạn, mà còn thể hiện sức hội tụ dân tộc, khả năng động viên xã hội và thực lực kinh tế hùng hậu, cộng thêm tinh thần yêu nước đầy lý trí của thế hệ trẻ ra đời ở thập kỷ 80 và 90 thể kỷ 20 khiến cho người Phương Tây không sao hiểu nổi thậm chí hết sức kinh ngạc. Và trong cuộc khủng hoảng tiền tệ ngay sau đó, Trung Quốc chẳng những không xuất hiện khủng hoảng lớn, mà còn dám tuyên bố tỉ lệ đảm bảo tăng trưởng GDP 8%, trong khi tất cả các nước lớn đều xuất hiện suy thoái kinh tế. Do vậy, một thời kỳ gần đây nổi lên thuyết “tập đoàn hai nước”, “Trung - Mỹ cùng cai trị”, gọi đây là dự báo tương lai của một số người, không bằng gọi đây là kết luận lôgíc rút ra qua việc quan sát lâu dài sự phát triển của Trung Quốc. Nói tóm lại, Thế Vận Hội Bắc Kinh thể hiện tập trung một sự thật cơ bản đó là, sự vươn lên của Trung Quốc đã từ thời tương lai trở thành thời hiện tại. Và với sự vươn lên của Trung Quốc làm đại biểu, các nước lớn ngoài Phương Tây như Ấn Độ, Braxin, Nam Phi, Nga cũng đồng bộ vươn lên. Từ đó tạo thành một bức tranh hùng vĩ các nước lớn mới trỗi dậy đồng loạt vươn lên, quyền lực thế giới đang di chuyển mang tính lịch sử sang phía đông”, đây chính là ý nghĩa thật sự trong câu nói của Kissinger “Cục diện thay đổi lớn bốn trăm năm chưa từng có”. 

Sự kiện thứ 3 là khủng hoảng tiền tệ ngày 15/9/2008.

 

Nếu như sự kiện 11/9/2001 đã phá vỡ phòng tuyến an ninh, phòng tuyến tâm lý hình thành từ lâu của người Mỹ, bởi Mỹ được hai đại dương bao bọc, tác động nghiêm trọng đến quan điểm chiến lược và quan điểm an ninh của Mỹ, thì sự kiện 15/9/2008 đã lật nhào cách nhìn nhận truyền thống của người Mỹ và cộng đồng quốc tế đối với Phố Wall, thách thức tận gốc rễ bá quyền tiền tệ của Mỹ, cũng vì thế đã tác động đến quan điểm thực lực và thế giới quan của Mỹ. Cuộc khủng hoảng lần này bắt nguồn từ những vấn đề mang tính kết cấu tích lũy qua những biến đổi mang tính thể chế sau Chiến tranh Lạnh nên không thể một bước mà khôi phục được. Coi việc Obama được bầu làm Tổng thống là thắng lợi của hòa hợp chủng tộc ở Mỹ, không bằng nói đây là kết quả đấu tranh giữa hai đường lối, cho thấy đối mặt với những khó khăn ở trong và ngoài nước, người Mỹ không còn quá để ý đến lai lịch và màu da của một người nào đó, mà quan tâm xem ai có thể thuận theo ý dân, hăng hái biến đổi xã hội, chấn hưng bá quyền của nước Mỹ. Ngược lại, nó cho thấy mức độ khó khăn nước Mỹ đang chịu đựng. Khủng hoảng tiền tệ ngày 15/9/2008 từ một ý nghĩa nào đó, đang đánh dấu thời đại bá quyền đơn cực của Mỹ đã kết thúc và “ thời đại sau Mỹ” đang đến gần. 


Dấu mốc quan trọng thứ tư là cao trào mới của chủ nghĩa khủng bố, dịch H1N1 lan tràn trên toàn cầu, hiệu ứng thay đổi khí hậu lan nhanh, những lo lắng về tài nguyên năng lượng do giá dầu tăng lên liên tiếp nảy sinh từ 2008 đến cuối năm 2009, và những thay đổi mang tính lịch sử của cơ cấu dân số toàn cầu, các vấn đề tài nguyên nước, di dân, phổ biến vũ khí hủy diệt… Những vấn đề trên khiến “toàn cầu cùng nóng lạnh” - các nước trên thế giới cùng đối phó với những vấn đề mang tính toàn cầu trở thành một trong những nét đặc sắc rõ ràng nhất trong thời đại này. 

 

Thời đại hậu Chiến tranh Lạnh đại thể kết thúc, các nước lớn mới trỗi dậy đồng loạt vươn lên, thời đại sau Mỹ đang đến, đề tài thảo luận mang tính toàn cầu được nổi rõ, những điều này cho thấy rõ chúng ta đang chia tay thời đại cũ, bước sang thời đại mới, chia tay hệ thống cũ, xây đắp hệ thống mới. Mặc dù giới hạn của sự thay đổi còn chưa rõ ràng, nhưng chắc chắn là, một cuộc thay đổi hệ thống quốc tế mới đã ở ngay trước mắt. 


2. Năm biểu hiện chủ yếu của thay đổi hệ thống quốc tế 


Những thay đổi trong hệ thống quốc tế chủ yếu thể hiện trên năm mặt.

 

Một là thay đổi cục diện chính trị quốc tế. Tuy trước mắt cục diện chính trị quốc tế vẫn đang trong diễn biến, nhưng dường như có thể rút ra mấy kết luận cơ bản: Thứ nhất, thực lực tuyệt đối của Mỹ vẫn là số một, thực lực tương đối đang giảm sút, thời đại bá quyền đơn cực của Mỹ có thể một đi không trở lại, cho dù “chính sách mới” của Tổng thống Obama có thể chấn hưng thực lực cứng và thực lực mềm của Mỹ, Mỹ cũng rất khó tái hiện hình ảnh vinh quang của giai đoạn giữa và sau thập kỷ 90 thế kỷ 20. Mỹ vẫn là “nhất siêu”, nhưng đã rất khó mà “độc bá”. Thứ hai, thời đại hai cực trong thời gian ngắn sẽ không xuất hiện. Mặc dù người Mỹ đưa ra và toàn thế giới tuyên truyền cái gọi là nhóm G-2, nhưng với tiền đề Mỹ làm anh cả, Trung Quốc làm anh hai, không coi Trung Quốc là một cực đối đẳng. Đồng thời, về khách quan, khoảng cách thực lực giữa Trung Quốc và Mỹ còn rất lớn, về chủ quan Trung Quốc cũng không hy vọng xuất hiện cục diện hai cực. Các cường quốc khác càng thiếu sức mạnh quốc gia tổng hợp sánh ngang Mỹ. Thứ ba, tiến trình đa cực hóa tăng tốc rõ rệt, càng có thể hy vọng ở tương lai đa cực hóa. Cơ chế hóa của nhóm G-20 là sự kiện lớn đánh dấu thời đại. Nếu nói cục diện quốc tế từ khi Chiến tranh Lạnh chấm dứt đến nay là “nhất siêu đa cường”, thì cục diện trong 5-10 năm tới càng giống như “đa cường nhất siêu”, trước kia nước Mỹ là siêu cường duy nhất nắm quyền chi phối thế giới, các nước tranh nhau quan hệ tốt với Mỹ, ngày nay các nước lớn hợp tác nắm quyền chi phối thế giới, Mỹ làm gì cũng phải chú ý phản ứng của các nước lớn. Trung Quốc từ vị thế yếu nhất trong các nước lớn đang nhanh chóng mạnh bước tới vị trí đứng đầu các nước này. 


Hai là biến đổi cục diện kinh tế quốc tế, chủ yếu biểu hiện trên mấy mặt sau: Thứ nhất, trung tâm kinh tế thế giới đang chuyển dịch từ Phương Tây sang các nước không thuộc Phương Tây. Thứ hai, trọng tâm phát triển kinh tế đang chuyển dịch từ nước lớn truyền thống sang nước lớn mới trỗi dậy. Thứ ba, trật tự tiền tệ kinh tế quốc tế đang từ chủ yếu do nước lớn Phương Tây chi phối, phát triển sang hướng phối hợp giữa Phương Tây với các nước không thuộc Phương Tây, các nước phát triển với các nước đang phát triển, vai trò của nhóm G-8 giảm bớt, tầm quan trọng của nhóm G-20 tăng lên. Thứ tư, tương lai của nền kinh tế thế giới được quyết định bởi việc sắp đặt lại kết cấu ngành nghề, khai thác điểm tăng trưởng kinh tế, và xây dựng lại trật tự tiền tệ kinh tế quốc tế mới. Công cuộc đổi mới kỹ thuật với nguồn năng lượng và mạng lưới mới làm trọng tâm, có khả năng dẫn đến một cuộc tổ chức lại quan hệ sản xuất trên qui mô lớn và đại giải phóng sức sản xuất. 


Ba là cục diện an ninh quốc tế bộc lộ một số đặc điểm mới. Trước tiên, công cuộc cắt giảm vũ khí hạt nhân ở các nước lớn với khẩu hiệu “thế giới không có hạt nhân” được tiến hành rầm rộ, nhưng công cuộc phát triển vũ khí hạt nhân ở các nước nhỏ cũng khiến toàn thế giới lo ngại, hai xu thế cùng tồn tại, tạo thành một cặp mâu thuẫn. Thứ hai, các cuộc chạy đua vũ trang giữa các nước lớn và sự hợp tác giữa các nước lớn để ứng phó với mối đe dọa an ninh phi truyền thống hai trạng thái trên, song song tồn tại khiến hình thái an ninh quốc tế “phía đông mặt trời mọc, phía tây mưa”, khi sáng sủa lúc âm u, khi tròn lúc khuyết. Tuy có thể tránh được chiến tranh thế giới nhưng khó mà kiểm soát được các cuộc xung đột cục bộ. Thứ ba, hành động quân sự phi chiến tranh ngày càng trở thành vấn đề thảo luận chủ yếu trong hiện đại hóa quân sự, quan hệ an ninh quân sự trở thành nhân tố then chốt trong phát triển quan hệ nước lớn. 

Bốn là cạnh tranh mô hình phát triển, nhiều loại mô hình cùng tồn tại trở thành xu thế mới. Cuộc khủng hoảng tiền tệ đã làm cho mọi người nhận thức sâu sắc hơn việc đa dạng hóa mô hình phát triển. Mô hình “tự do dân chủ + kinh tế thị trường” của Mỹ-Anh bị nghi ngờ. Mô hình đại lục Châu Âu đại diện là Pháp-Đức, mô hình Trung Quốc, mô hình Nga, mô hình vùng Vịnh, mô hình châu Mỹ Latinh, mô hình Đông Nam Á, mỗi mô hình có chỗ mạnh riêng. Mặc dù thời đại “sau khủng hoảng tiền tệ” đãi cát tìm vàng, sẽ kiểm nghiệm hơn nữa tính hiệu quả và sức sống của các loại mô hình, nhưng xu thế lớn mô hình Mỹ-Anh chi phối sự phát triển của thế giới được xoay chuyển, các mô hình cạnh tranh và hòa hợp trở thành trào lưu mới, sự phát triển mạnh mẽ và va đập của các trào lưu tư tưởng và quan điểm cũng được triển khai sâu. 


Năm là những vấn đề mới đang thay đổi diện mạo quan hệ quốc tế. Những vấn đề không chủ yếu trước đây như đường hàng hải, hải tặc, quyền lợi biển, Bắc Băng Dương ấm dần, biến đổi cơ cấu dân số thế giới, nguồn năng lượng mới, thay đổi khí hậu đang trở thành trọng điểm của quan hệ quốc tế hiện nay. Những vấn đề hoặc đề tài thảo luận này không chỉ dẫn đến biến đổi mẫu hình quan hệ quốc tế, mà còn đòi hỏi mọi người phải đổi mới tư duy, cập nhật tri thức, điều chỉnh góc nhìn nghiên cứu, thay đổi biện pháp nghiên cứu, nếu không sẽ không theo kịp nhịp bước của thời đại mới.

 


3. Các nước lớn tăng cường điều chỉnh chiến lược 


“Chỉ có vịt bơi trong nước mới biết, nước sông đã ấm chưa khi mùa xuân đến.” Những người nhạy cảm với thời thế, đắm chìm trong hoạn nạn, dũng cảm biến đổi, thường “ở chốn vô thanh nghe sấm động”, càng giỏi nắm động tĩnh, ứng phó kịp thời. Các nước lớn Phương Tây vốn chiếm ưu thế trên phương diện này. Lấy Châu Âu làm ví dụ, “cỗ xe tam mã” mới Sarkory, Brown, Merke ngồi luận bàn, đánh giá sự thay đổi của hệ thống quốc tế, tính toán nước cờ tiếp theo. Sarkory đưa ra thuyết “thời đại nước lớn tương đối”, ông cho rằng thời đại một nước lớn chi phối toàn cầu đã một đi không trở lại, bất kỳ nước lớn nào cũng chỉ có thực lực tương đối, giữa các nước lớn với nhau chắc chắn chỉ có thể hợp tác, không thể làm theo học thuyết đơn phương. Brown đưa ra thuyết “Châu Âu mang tính toàn cầu”, ông cho rằng trong một thế giới cùng tồn tại “nhất siêu và đa cường”, Châu Âu chỉ có hướng tới toàn cầu mới có thể tránh khỏi bị gạt sang bên lề. Merkel đưa ra tư duy mới “NATO kinh tế”, hy vọng cùng Mỹ thực hiện ràng buộc toàn diện, ứng phó với những thách thức sâu xa do thay đổi hệ thống gây ra. Các nước lớn ở Châu Âu còn thừa thế đưa ra báo cáo chiến lược “đánh dấu thời đại”. Lần đầu tiên trong 14 năm qua, Pháp công bố chiến lược an ninh quốc gia, Anh đưa ra “Báo cáo chiến lược an ninh quốc gia” đầu tiên trong lịch sử, Đảng Liên minh Đức công bố báo cáo quan trọng “Cơ hội và thách thức chiến lược của Châu Âu-Đức-Châu Á”, mưu toan chiếm được cơ hội trước tiên trong sự thay đổi hệ thống quốc tế. Sarkozy còn mượn các hành động như “ quay trở lại NATO”, xây dựng “Liên minh Địa Trung Hải” để định vị tọa độ cho tương lai. Sau khủng hoảng tiền tệ 15/9/2008, các nhà lãnh đạo Đức, Pháp đề xướng cải tạo thể chế tiền tệ quốc tế hiện có, xây dựng “hệ thống Bretton Woods 2”, giới giáo dục bắt đầu xem xét một cách hệ thống những khuyết tật của “mô hình Anglo-Saxon”. Đồng thời từ tầng sâu chế độ, văn minh, nghiên cứu về phương hướng phát triển hệ thống quốc tế. Hiệp ước Lisbon cuối cùng được thông qua trên ý nghĩa nào đó là kết quả cùng mong muốn của các nước Châu Âu trong bối cảnh lớn thay đổi hệ thống. 


Các nước lớn như Nga, Nhật Bản, Ôxtrâylia cũng đang suy tính thay đổi chiến lược để thích ứng với thay đổi hệ thống quốc tế. Tổng thống Nga Medvedev nói “thời đại đa cực hóa đang đến”, công bố “Tư duy chính sách đối ngoại mới”, nêu bật nguyên tắc, bảo vệ lợi ích, đề cao thực lực trong các cuộc xung đột Nga-Grudia, đọ sức Nga-Châu Âu, trò chơi Nga-Mỹ. Ông Fukuda đưa ra “ngoại giao cộng hưởng”. Thủ tướng Nhật Yukiô Hatôyama đưa ra “Cộng đồng Đông Á”, mong đợi Nhật Bản thực hiện cân bằng trong quan hệ ngoại giao với Mỹ và Châu Á-Thái Bình Dương, vừa xây dựng quan hệ vững chắc với Mỹ, vừa liên kết với Châu Á-Thái Bình Dương, tìm cách giành chủ động trong tam giác Trung-Mỹ-Nhật, đảm bảo tiếp tục giữ vững địa vị thực lực và lợi ích chiến lược trong thay đổi hệ thống. Kevin Michael Rudd đề xướng “Cộng đồng Châu Á-Thái Bình Dương”, mong đợi mượn sự thay đổi hệ thống để thực hiện lợi ích quốc gia lớn nhất của Ôxtrâylia. Ấn Độ thì mọi việc thuận chiều, nắm chặt Mỹ, lôi kéo Nga, Đông tiến Châu Á-Thái Bình Dương, đồng thời dựa vào sức mạnh quân sự nêu bật vị thế một cực mới trong nền chính trị quốc tế. 


Điều đáng quan tâm là, các nước đang phát triển như Ấn Độ, Braxin, Nam Phi cũng đang nảy sinh “cách nghĩ mới” trong bước ngoặt thay đổi hệ thống. Giới báo chí tiết lộ, ba nước trên đang thành lập một tổ chức được gọi là “Tập đoàn IBSa” (viết tắt bằng chữ cái đầu tiên trong tên tiếng Anh của ba nước), mưa toan gạt Trung Quốc ra khỏi khối “các nước đang phát triển”, để ba nước đảm nhiệm vai trò “người lãnh đạo” mới của các nước này, chiếm lĩnh đầu cầu trong công cuộc thay đổi hệ thống quốc tế mới. 


Với tư cách “siêu cường duy nhất”, đang gặp khó khăn ở bên trong và bên ngoài, Mỹ nhạy cảm hơn và gặp nhiều khó khăn hơn các nước khác trong thay đổi hệ thống. Những lo ngại về “hai cuộc chiến tranh, một cuộc khủng hoảng” khiến mối quan tâm của giới chiến lược Mỹ đối với hệ thống quốc tế phát triển thành việc cả nước Mỹ xem xét lại, những cuộc thảo luận liên quan thường gắn liền với việc đánh giá thành công và thất bại của chính sách Bush, quy hoạch chiến lược lớn “thời đại sau Bush”, và được thể hiện càng sâu sắc hơn. Kissinger, Brzezinski lần lượt dùng “biến đổi lớn 400 năm chưa từng có”, “biến đổi lớn lần thứ tư trong lịch sử” để miêu tả chiều sâu thay đổi hệ thống, chỉ ra, thay đổi hệ thống trước mắt là thay đổi lớn nhất từ khi xây dựng hệ thống Westphalia trở lại đây, phải lấy tầm nhìn vĩ mô thời gian và không gian để quan sát. Chủ tịch Ủy ban đối ngoại Richard N. Haass, và Zakaria chủ biên trang quốc tế của tờ Newsweek đã dùng “thời đại vô cực” và “thời đại sau Mỹ” để xác định phạm vi cục diện thế giới ngày nay, họ lo ngại thế giới sẽ rơi vào trạng thái không trật tự nào đó. Tác giả cuốn “Sự kết thúc của lịch sử” Fukuyama đã sửa đổi quan điểm trước đây, ông thừa nhận “lịch sử chưa kết thúc”, cái kết thúc chỉ là giấc mơ “đế quốc mới” của Mỹ. Nhà Lãnh đạo “Phái bảo thủ mới” thừa nhận “thời đại đơn cực” kết thúc, ông cho rằng thế giới đang đi vào “thời đại đối kháng ý thức hệ mới” giữa thế giới tự do Phương Tây với thế giới tập quyền Trung Quốc và Nga. Albright giữ tin tức từ lâu đã lên tiếng đầy cảm xúc, thế sự không giống một “ván cờ”, mà như chiếc bàn “Bi-a” sắc màu rực rỡ nhưng hỗn loạn. Trong bài “Xem xét lại lợi ích quốc gia” công bố trước khi rời chức, bà Rice nêu rõ, thông lệ quốc tế mấy trăm năm phần lớn đã bị lật nhào, “Các mối de dọa đến từ nội bộ một quốc gia thất bại, đúng hơn là từ giữa các quốc gia với nhau”. Trong một ý kiến hiếm thấy Cựu Giám đốc CIA Michael Hayden cho rằng “thay đổi của phân bố dân số thế giới” đứng đầu ba xu thế lớn ảnh hưởng cục diện thế giới thế kỷ 21. 


Nhìn tổng thể, các mệnh đề như “quyền lực thế giới đang di chuyển sang Phương Đông ” và “cuộc khủng hoảng thể chế ở Phương Tây”, “các nước mới trỗi dậy đang vươn lên” và “ bá quyền của Mỹ đang lụi tàn”, “quy tắc thế giới thay đổi” và “đề tài thảo luận toàn cầu đang chuyển dời”, tạo thành nội dung trung tâm của các cuộc thảo luận ở Mỹ về thay đổi hệ thống quốc tế. Để thích ứng với biến động của hệ thống, các tổ chức nghiên cứu và các cố vấn của hai đảng ở Mỹ đang xem xét đối sách, tiêu biểu là các văn kiện như “Báo cáo của Princeton” do chiến lược gia thế hệ mới Đảng Dân chủ Ikenberry chủ trì, “Báo cáo thực lực khôn khéo” được chủ trì bởi Joseph Nye và Richard Lee Armitage, hàng loạt báo cáo “Xu thế toàn cầu” của Ủy ban tình báo quốc gia, “Báo cáo chiến lược an ninh quốc gia mới” do Campbell chủ trì. Các báo cáo như “các nước mới trỗi dậy”, “Chiến lược mới ở Châu Á-Thái Bình Dương”, “Chiến lược Trung Đông mới”, “Biến đổi khí hậu và an ninh quốc gia” liên tiếp ra đời, biểu hiện rõ Mỹ muốn giành quyền chủ động trong thay đổi hệ thống. Tổng thống Obama vào làm chủ Nhà Trắng, có thể nói là thời thế tạo anh hùng. Vừa nhậm chức Obama liền thực hiện nghiêm ngặt “chính sách mới”. Quan điểm chiến lược “thực lực khôn khéo” và thế giới quan “nhiều bạn” được thể hiện trong chính sách đối ngoại, chính là tư duy mới nảy sinh trên cơ sở tiếp thu đầy đủ các chủ trương cơ bản trên, kết hợp hai cục diện lớn trong và ngoài nước. Xét về bản chất, đây là sự biến thông thiết thực để Mỹ giữ vững vị trí “siêu cường duy nhất” trong bối cảnh hệ thống quốc tế thay đổi. 


4. Trung Quốc: chuyển đổi vai trò và lựa chọn chiến lược 


Trong thời đại mới thay đổi hệ thống, rốt cuộc Trung Quốc ở vị trí nào? Cần lựa chọn chiến lược nào? Có thể coi đây là vấn đề bàn luận sôi nổi nhất ngày nay. Phải nói là trong thay đổi hệ thống, Trung Quốc vừa đang “tự xoay chuyển”, cũng đang “cùng xoay chuyển”, Trung Quốc trỗi dậy vừa là lực đẩy quan trọng, vừa là kết quả chủ yếu trong thay đổi hệ thống. Những biến đổi của cục diện chính trị, kinh tế, quốc tế trên mức độ rất lớn là do biến đổi lượng nảy sinh khi Trung Quốc vươn lên. Đồng thời, kết quả của diễn biến cục diện thế giới là, Trung Quốc đứng mũi chịu sào. Trung Quốc vừa phải tiếp tục kiên trì cải cách mở cửa thực hiện “tự chuyển động”, giữ cho chính trị, kinh tế, xã hội trong nước ổn định, vừa phải theo sát nhịp bước thời đại thực hiện “cùng chuyển động” , gắn với vận mệnh thế giới trong điều kiện toàn cầu hóa, do đó so với các nước khác, Trung Quốc cần nhạy cảm hơn và nhanh chóng thích ứng với thay đổi hệ thống.

 
Trước mắt, một vấn đề đang được giới học thuật Trung Quốc thảo luận rất nhiều là xác định vai trò của Trung Quốc trong thời đại mới, do tư duy quá nhiều chiều, góc nhìn đa dạng, đến ngày nay vẫn thiếu một đáp án thống nhất. Chúng tôi cho rằng xét từ góc độ, địa vị thực lực biến đổi hệ thống và quan hệ quốc tế, Trung Quốc đồng thời có bốn thân phận khác nhau, là một quốc gia “bốn hợp một”. Trung Quốc trước tiên là nước lớn đang phát triển, bất luận từ nguyên tắc chính trị, chiến lược phát triển, phương châm ngoại giao hay từ thực lực khách quan, Trung Quốc vẫn trong giai đoạn quốc gia đang phát triển. Trung Quốc vừa là nước lớn đang vươn lên, vừa là một trong “bốn nước BRIC” (bao gồm: Braxin, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc), là cột mốc quyền lực thế giới đang di chuyển sang phía đông và sự vươn lên của các nước lớn mới trỗi dậy. “Trung Quốc vươn lên” trở thành ký hiệu mới mẻ nhất của Trung Quốc ngày nay. Trung Quốc còn là cường quốc cấp thế giới, mặc dù phạm vi hoạt động và phạm vi lợi ích của Trung Quốc còn hạn chế ở Đông Á, các học giả Trung Quốc phần nhiều định vị Trung Quốc là “nước lớn khu vực có ảnh hưởng toàn cầu nhất định”, nhưng bất luận từ vị thế một trong 5 ủy viên thường trực Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc, hay tổng lượng kinh tế, dự trữ ngoại hối, quy mô dân số, quy mô địa lý và ảnh hưởng quốc tế, tình thế phát triển, Trung Quốc đều xứng đáng với danh hiệu cường quốc cấp thế giới. Trung Quốc là “bán siêu cường”, dù thích hay không, Trung Quốc đã được rất nhiều quốc gia coi là nước lớn thứ hai thế giới chỉ sau Mỹ. Xác định thân phận của quốc gia được quyết định bởi tự mình đánh giá mình, còn được quyết định bởi người khác đánh giá mình, nếu các nước khác coi Trung Quốc là “bán siêu cường”, thì Trung Quốc không thể né tránh hiện thực này, nếu không sẽ dẫn đến những nhận thức lệch lạc rất lớn, ảnh hưởng đến phán đoán chiến lược. 


Trung Quốc đồng thời ở trong cục diện nhiều thay đổi phức tạp. Một là cùng tồn tại “lục hóa”. Trung Quốc vừa ở giữa đường công nghiệp hóa, vừa bước mạnh vào tin học hóa; vừa ở giai đoạn đầu của đô thị hóa, vừa bộ phận bước tới quốc tế hóa; vừa chưa hoàn thành bố cục khu vực hóa, vừa phải đối mặt với áp lực toàn cầu hóa. Cái hay là có nhiều không gian phát triển, ăn cả gói; chỗ dở là phải đồng thời đối mặt với nhiều vấn đề khó khăn, rủi ro tăng mạnh. Hai là “hai chủ nghĩa lớn” nổi rõ. Đối nội, “chủ nghĩa nhà nước” kiểu mới đang hình thành, chuyển khí đốt từ Tây sang Đông, đưa nước từ Nam lên Bắc, tuyến đường sắt Thanh Tạng, khai phá miền Tây, chấn hưng Đông Bắc, Miền Trung vươn lên, các mảng khu vực ở Trung Quốc bắt đầu được kinh tế thị trường thực sự nối liền thành một khối. Ý thức “người Trung Quốc”, quan niệm nhà nước dân tộc hiện đại, “ý thức công dân” ngày càng trở thành nhu cầu tự giác của mọi người, vượt trên ý nghĩa chính trị và ý thức hệ trước đây. Từ đó dẫn đến các vấn đề phức tạp như mất cân bằng khu vực, xung đột dân tộc. Về đối ngoại, chủ nghĩa dân tộc mới phát triển mạnh, vừa có chủ nghĩa dân tộc lý tính lành mạnh, vừa pha trộn chủ nghĩa dân túy phi lý tính. Chủ nghĩa quốc gia mới và chủ nghĩa dân tộc mới đem lại “nhân khí” không thể thiếu để Trung Quốc trỗi dậy, thể hiện tinh thần một lòng vươn lên, đồng thời cũng nảy sinh những “tính cách” không bình thường. Ba là, hai cục diện lớn trong và ngoài nước chưa bao giờ gắn chặt với nhau như ngày nay. Tình hình Ápganixtan-Pakixtan với Tân Cương, Ấn Độ với Tây Tạng, Mianma với Vân Nam-Tứ Xuyên-Quý Châu, Triều Tiên với Đông Bắc, Nội Mông với Ngoại Mông cấu kết với nhau. Cái hay là có thể “từ đối nội ra đối ngoại”, thừa thế mở rộng lợi ích quốc gia của Trung Quốc; cái dở là rủi ro từ bên ngoài cũng có thể “đổ vào trong nước”, làm cho lợi ích quốc gia càng dễ chịu ảnh hưởng của môi trường bên ngoài. Bốn là cục diện lớn ổn định và cục diện nhỏ hỗn loạn, cây chưa to đã đón gió trước, nay cây đã lớn càng đón gió mạnh hơn. Nhìn ra xung quanh, cục diện hỗn loạn ở Ápganixtan-Pakixtan, khủng hoảng hạt nhân ở Triều Tiên, cục diện nguy hiểm ở Mianma, cộng thêm những trục trặc giữa Trung Quốc-Ấn Độ, sóng gió ở biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), xung quanh Trung Quốc “mây mù bao phủ”. Nhưng nhìn từ góc độ khác, tổng thể quan hệ Trung-Nga ổn định, quan hệ Trung-Nhật ấm dần trở lại và tốt lên, quan hệ hai bờ Eo biển Đài Loan phát triển hòa bình. Chỉ cần ba trục Nga, Nhật Bản, Đài Loan ổn định thì xung quanh Trung Quốc không còn trở ngại lớn nào nữa. Tình hình này ngược lại đòi hỏi Trung Quốc phải biết nhìn nhận môi trường xung quanh, một cách biện chứng, đừng vì hỗn loạn nhỏ mà tự làm rối loạn thế trận của mình, cũng không vì tình hình chung ổn định mà coi nhẹ kế hoạch chiến lược. 

Nhiều thân phận và nhiều tiến trình cùng tồn tại đã quyết định tình hình Trung Quốc phức tạp và lợi ích quốc gia đa nguyên, đòi hỏi chúng ta lấy đa dạng hóa ngoại giao để thể hiện đặc điểm nhiều thân phận, như: trong lĩnh vực thay đổi khí hậu, Trung Quốc là nước đang phát triển, lại là một nước lớn trên thế giới. Trung Quốc không thể gánh vác trách nhiệm giảm khí thải theo tiêu chuẩn Mỹ-Âu. Mỹ và Châu Âu đã hoàn thành giai đoạn công nghiệp hóa, bắt đầu đi vào thời đại hậu công nghiệp hóa và tin học hóa, trong khi Trung Quốc còn đang ở giữa thời kỳ công nghiệp hóa. Cho nên Trung Quốc nhấn mạnh tiêu chuẩn lịch sử, tiêu chuẩn bình quân đầu người người. Nhưng Trung Quốc quả thực lại không thể lẩn tránh nghĩa vụ cần gánh vác của một nước lớn trên thế giới, do vậy kiên trì đảm nhận “trách nhiệm chung nhưng có phân biệt”, cho thấy nguyện vọng chính trị và ý thức hợp tác. Trên các phương diện như lĩnh vực kinh tế, quyền lợi biển, Trung Quốc là một nước lớn đang trỗi dậy, chiều rộng lợi ích quốc gia tất phải đi vào vũ trụ, đặt chân tới biển sâu, kinh tế phải “hướng ra ngoài”, quân sự phải hiện đại hóa, đây là xu thế khách quan không chuyển dịch theo ý chí con người. Phản ứng của thế giới bên ngoài là điều khó tránh khỏi, nhưng phần nhiều là phản ứng tâm lý bình thường, phải nhạy cảm nắm bắt và ứng phó thỏa đáng, cũng không nên vì thế mà tự trói buộc tay chân mình. Trong lĩnh vực tiền tệ quốc tế, Trung Quốc càng nổi rõ thân phận “một nước lớn trên thế giới”, không những vì mức dự trữ ngoại hối rất lớn, mà còn vì Trung Quốc bắt đầu trở thành lực lượng quan trọng để ổn định thị trường tiền tệ quốc tế, thuyết “cân bằng khủng hoảng tiền tệ” Trung-Mỹ nói từ một khía cạnh khác cho thấy vị thế rất quan trọng của Trung Quốc trong lĩnh vực này. Cũng vì thế, Trung Quốc không những cần tăng tốc cải tạo và tái tạo thể chế tiền tệ trong nước, mà còn phải phát huy vai trò trong cuộc xây dựng lại trật tự tiền tệ quốc tế, trong đó cơ chế nhóm G-20 vừa thành lập là một vũ đài quan trọng. 


Với nhiều lợi ích kể trên tất phải điều chỉnh một số quan niệm chiến lược, như nhất định phải kiên trì, nguyên tắc không can thiệp công việc nội chính, nhưng đồng thời cũng cần tiến cùng thời đại, bổ sung nội dung. Trên thực tế, giữa không can thiệp nội chính và đảm nhận trách nhiệm quốc tế, mở mang phát triển lợi ích hải ngoại có không gian vận hành rất lớn, chỉ cần Liên Hợp Quốc ủy quyền, nước đương sự hoan nghênh, có lợi cho sự ổn định trong khu vực và trên thế giới, hành động đó không trái nguyên tắc không can thiệp nội chính. Còn nữa, vấn đề ý thức hệ trong ngoại giao Trung Quốc, như chính sách đối với Triều Tiên, rốt cuộc là lấy lợi ích quốc gia làm thước đo, hay là xem xét nhiều hơn đến nhân tố ý thức hệ? Ngoài ra, còn có một số vấn đề quan niệm sơ cứng, như: Cùng với trọng điểm đọ sức trong thế kỷ 21 dần dần chuyển sang Ấn Độ Dương, cùng với việc hộ tống tàu bè ở vịnh Aden dẫn đến vấn đề sự có mặt của Trung Quốc ở Ấn Độ Dương, xử lý thế nào quyền lợi hợp pháp của Trung Quốc ở đại dương này? Xác định thế nào vai trò của Trung Đông trong nền ngoại giao Trung Quốc? Rốt cuộc Trung Đông là mảng chính trị độc lập hay là “Trung Đông của châu Á”? Trung Quốc vào Trung Đông là chia sẻ miếng pho mát của Phương Tây, hay là nhu cầu lợi ích hợp lý của một nước lớn ở Châu Á? Những sai lầm trong nhận biết và quan niệm trên đã gây khó khăn cho sự lựa chọn ngoại giao của Trung Quốc trong một thời gian dài, cũng thường trở thành cái cớ để Phương Tây ràng buộc Trung Quốc, cần suy ngẫm lại và điều chỉnh. 

Khi điều chỉnh những quan niệm trên, trước tiên Trung Quốc cần xử lý quan hệ Trung-Mỹ, vì Mỹ vẫn là siêu cường quốc duy nhất, hơn nữa là nước lớn duy nhất có liên quan toàn diện đến lợi ích chủ yếu của Trung Quốc. Trước mắt, tổng thể quan hệ Trung-Mỹ đang tốt, song những vấn đề mang tính kết cấu ở tầng sâu vẫn nghiêm trọng, như: quan hệ chiến lược không tồi, nhưng thiếu tin cậy nhau về chiến lược; quan hệ kinh tế thương mại phát triển sâu, nhưng giao lưu quân sự đình trệ nghiêm trọng; mối quan hệ giữa tầng lớp tinh hoa với nhau hoàn toàn thông thuận, nhưng giao lưu quần chúng rất kém; vấn đề Đài Loan được khống chế, nhưng xung đột Biển Nam Trung Hoa từng bước leo thang. Cùng với sự phát triển của Trung Quốc, tính chất quan hệ Trung-Mỹ có thể sẽ dần dần từ “quan hệ giữa một thành viên đa cường và siêu cường duy nhất” diễn biến thành “quan hệ anh cả và anh hai”, mâu thuẫn hai bên có thể sẽ càng thêm sâu sắc. Một vấn đề chiến lược lớn cần suy nghĩ là làm thế nào nắm chắc thời cơ sau khi Obama lên cầm quyền, tổng thể quan hệ Trung-Mỹ tích cực, cùng nỗ lực ứng phó với khủng hoảng tiền tệ, vấn đề biến đổi khí hậu và an ninh khu vực, tăng cường đề phòng, khống chế khủng hoảng, tăng thêm tin cậy lẫn nhau về chiến lược, mở rộng không gian hợp tác, tạo dựng khung quan hệ kiểu mới, từ đó hóa giải mâu thuẫn sâu sắc có thể nảy sinh trong tương lai. 


Thứ hai, làm thế nào giải quyết quan hệ với các nước lớn Nga, Châu Âu, Nhật Bản, Ấn Độ. Trung Quốc không nhất thiết trở thành “anh hai”, các nước lớn đều có tiềm lực “nổi trội”. Làm thế nào xóa bỏ ghen ghét, đố kỵ, hóa giải lòng hận thù, ác ý, Trung Quốc và các nước lớn cùng phát triển, cùng vươn lên, phải là phương hướng nỗ lực của ngoại giao Trung Quốc trong tương lai. Xét từ ý nghĩa đó việc tiếp tục củng cố quan hệ Trung-Nga, phát triển sâu quan hệ Trung-Âu, tăng cường quan hệ Trung-Nhật, ổn định quan hệ Trung-Ấn, là những việc quan trọng hơn so với bất cứ thời kỳ nào trong lịch sử. Những việc đó cũng có ý nghĩa chiến lược như thúc đẩy quan hệ Trung-Mỹ. Giữa ngoại giao hai bên và ngoại giao nhiều bên, giữa Mỹ và các nước lớn, thúc đẩy một loạt quan hệ ba bên phát triển (như: Trung-Mỹ-Nga, Trung-Mỹ-Nhật, Trung-Mỹ-Âu, Trung-Mỹ-Ấn), dường như có thể trở thành điểm tựa cho ngoại giao Trung Quốc giai đoạn tới. 

Thứ ba là làm thế nào tiếp tục tăng cường quan hệ với các nước đang phát triển. Trước mắt, đã có dấu hiệu Trung Quốc bị các nước đang phát triển gạt bỏ, các nước Ấn Độ, Braxin, Nam Phi muốn giành quyền chi phối hoặc quyền đại diện trong các nước đang phát triển. Dưới chiến lược trợ giúp phát triển mới của Mỹ và Phương Tây cùng tình trạng giành giật giữa các nước lớn, nhận thức của một số quốc gia Mỹ Latinh và Châu Phi đối với Trung Quốc cũng đang lặng lẽ biến đổi. Quan hệ với các nước đang phát triển có thể nói là “không tiến thì lùi”, tình thế buộc chúng ta phải chuyển biến ý thức tư tưởng, mở rộng đầu tư chiến lược, tăng cường hợp tác quốc tế. 


Thứ tư, lựa chọn chiến lược quan trọng nhất của Trung Quốc trong tương lai phải là tăng cường xây dựng năng lực bản thân. Cải cách mở cửa 30 năm, nhiệm vụ căn bản của ngoại giao Trung Quốc là tạo dựng môi trường quốc tế hòa bình ổn định, phục vụ công cuộc cải cách mở cửa ở trong nước, nay đã đến lúc lợi dụng tổng thể môi trường quốc tế ổn định để tăng tốc phát triển trong nước. Những sự kiện mang tính quần thể ở trong nước năm 2008 cũng như các vấn đề dân tộc và tôn giáo năm 2009 cho thấy “hội chứng trỗi dậy” đã đến Trung Quốc sớm hơn dự tính. Ngoại giao là tiếp tục của nội chính, những rủi ro bên ngoài tác động được nhờ môi trường bên trong và hình ảnh bên ngoài phản ánh sự phát triển bên trong, bởi vậy, gốc rễ Trung Quốc vươn lên hòa bình được quyết định bởi sự ổn định và hài hòa của tình hình chính trị, kinh tế, xã hội trong nước, và bởi cuộc phục hưng vĩ đại của nền văn minh Trung Hoa./.

 

Bài đăng trên Tạp chí “Quan hệ quốc tế hiện đại”, Trung Quốc số 11/2009

 

 

Báo Hồng Công “Bưu điện Hoa Nam buổi sáng” ngày 14/5 đăng tải những tiết lộ trong số “Lịch sử tham khảo” mới đây của tờ “Nhân dân nhật báo” về 5 lần trong giai đoạn sau năm 1949, Trung Quốc bị đe dọa tấn công hạt nhân. Dưới đây là nội dung bài viết: 


Mao Trạch Đông tới Vũ Hán, Lâm Bưu đến Tô Châu còn Bộ tham mưu chuyển về một hầm ngầm chống bom nguyên tử ở các ngọn đồi phía Tây bên ngoài Bắc Kinh. Các máy bay chiến đấu của Trung Quốc phân tán xung quanh miền Bắc, các tuyến đường đến những sân bay chính bị phong tỏa và công nhân được trang bị vũ khí để bắn các phi công Liên Xô khi họ nhảy dù xuống. 


Đó là tháng 10/1969: Trung Quốc đang chuẩn bị chống lại một cuộc tấn công hạt nhân từ Liên Xô. Lâm Bưu, nhân vật số 2 sau Mao Trạch Đông, hạ lệnh điều 940.000 binh lính, 4.000 máy bay và 600 tàu rời khỏi các căn cứ đồng thời vận chuyển nhiều trang thiết bị quan trọng từ Bắc Kinh đến Tây Bắc. 


Sau đó, Tổng thống Mỹ Richard Nixon can thiệp. Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger nói với đại sứ Liên Xô tại Oasinhtơn rằng ngay sau khi Liên Xô bắn tên lửa đầu tiên vào Trung Quốc, Mỹ cũng sẽ bắn các tên lửa hạt nhân nhằm vào 130 thành phố của Liên Xô. 


Đó là một mô tả kịch tính trên một tạp chí chính thức về lần mà Trung Quốc suýt rơi vào chiến tranh hạt nhân. Số “Lịch sử tham khảo” mới đây của tờ “Nhân dân nhật báo”, cơ quan tuyên truyền của Đảng Cộng sản Trung Quốc, đã mô tả chi tiết 5 lần trong giai đoạn sau năm 1949 mà Trung Quốc bị đe dọa bởi tấn công hạt nhân. 


Đó là một mô tả hiếm hoi của một cơ quan truyền thông chính thống về những thời khắc nguy hiểm nhất mà Trung Quốc từng phải đối mặt. Nó rất khác với hội nghị thượng đỉnh về an ninh hạt nhân hồi giữa tháng 4 tại Oasinhtơn, nơi mà Chủ tịch Hồ Cẩm Đào được đón tiếp như là một vị khách danh dự đồng thời là một người đối thoại chủ chốt. 


Trong 5 lần đe dọa hạt nhân mà “Lịch sử tham khảo” thuật lại thì 4 lần là từ Mỹ và 1 lần từ Liên Xô. Lần nghiêm trọng nhất vào năm 1969, sau những đụng độ quân sự tháng 3 năm đó tại đảo Trần Bảo (Liên Xô gọi là Damansky) trên sông Ussuri, Hắc Long Giang – biên giới Đông Bắc của Trung Quốc. Ngày 2/3, quân Trung Quốc phục kích lính biên phòng Liên Xô. Liên Xô trả đũa ngày 15/3 bằng việc oanh tạc những điểm tập trung quân sự của Trung Quốc và tấn công đảo trên. Theo số liệu của Trung Quốc, 58 lính Liên Xô thiệt mạng và 97 người bị thương. 


Xung đột đó châm ngòi cho phản ứng giận dữ công khai từ cả hai bên. Ở Trung Quốc, khoảng 150 triệu binh lính và dân thường tham gia các cuộc biểu tình chống Liên Xô, truyền thông chính thống thì gọi “đã đến lúc đánh bại Sa hoàng mới” và chuẩn bị tâm lý cho dư luận về một cuộc chiến tranh (bao gồm cả những vũ khí hạt nhân), đe dọa rằng “sẽ giết bất cứ binh lính nước ngoài nào xâm phạm lãnh thổ Trung Quốc”. 


Chính quyền Liên Xô cũng tổ chức những cuộc biểu tình lớn chống Trung Quốc ở Mátxcơva. Những người tham dự bao vây đại sứ quán Trung Quốc, đốt xe cộ phía trước tòa nhà. Liên Xô điều hàng nghìn quân đến vùng Viễn Đông và chuẩn bị tên lửa trang bị đầu đạn hạt nhân. Mátxcơva nói với các đồng minh của họ ở Đông Âu rằng Liên Xô dự định thực hiện một cuộc tấn công hạt nhân “để quét sạch mối đe dọa Trung Quốc và loại bỏ kẻ gian hùng hiện đại này”. 


Ngày 20/8/1969, đại sứ Liên Xô tại Oasinhtơn thông báo với Kissinger về các kế hoạch của họ và yêu cầu Mỹ giữ trung lập. Mong muốn chặn cuộc tấn công này, Nhà Trắng để lộ câu chuyện cho tờ “Bưu điện Oasinhtơn”. Số ra ngày 28/8 của tờ này đưa tin Liên Xô dự định phóng các tên lửa mang hàng trăm tấn nguyên liệu hạt nhân nhằm vào Bắc Kinh, Trường Xuân, Yên Sơn và các trung tâm phóng tên lửa của Trung Quốc như Tây Xương, Lop Nor. 


Cuối tháng 9 và trong tháng 10 năm đó, cơn sốt chiến tranh ở Trung Quốc lên đến đỉnh điểm. Lâm Bưu hạ lệnh cho quân đội rời khỏi các căn cứ còn người dân ở các thành phố lớn đào hầm trú ẩn, tích trữ lương thực.

 
Trong bước đi cuối trước cuộc tấn công, Mátxcơva hỏi ý kiến của Oasinhtơn. Nixon coi Liên Xô là mối đe dọa chính của ông ta và muốn một Trung Quốc mạnh hơn để chống lại; đồng thời vị Tổng thống Mỹ này cũng lo ngại ảnh hưởng của một cuộc chiến tranh hạt nhân tới 250.000 lính Mỹ đóng ở châu Á-Thái Bình Dương. Ngày 15/10/1969, Kissinger nói với đại sứ Liên Xô ở Oasinhtơn rằng Mỹ sẽ không trung lập và sẽ tấn công các thành phố Liên Xô để trả đũa.

 
Dù đó là cảnh báo thực sự hay chỉ dọa suông, nó vẫn hiệu quả. Đại sứ Liên Xô tuyên bố: “Người Mỹ phản lại chúng ta”. Họ hủy bỏ cuộc tấn công và bắt đầu đàm phán với Trung Quốc tại Bắc Kinh. Cuộc khủng hoảng chấm dứt. 


Việc Mỹ phản đối là một phần để “báo thù” lại những gì xảy ra 5 năm trước, khi Liên Xô từ chối tham gia một cuộc tấn công mà Oasinhtơn muốn phát động nhằm vào chương trình hạt nhân mới bắt đầu của Trung Quốc. Tháng 1/1955, Mao Trạch Đông quyết định phát triển bom hạt nhân đầu tiên của quốc gia này. Việc đó đòi hỏi phải có một sự đầu tư khổng lồ tiền bạc, nguyên vật liệu và công nghệ đối với một nước vẫn chỉ đang trong quá trình hồi phục sau gần 20 năm chiến tranh. 


Bắc Kinh chọn Lop Nor ở vùng sa mạc phía Đông Nam Tân Cương là trung tâm cho chương trình hạt nhân của mình, chủ yếu vì địa điểm này hẻo lánh và cách xa các căn cứ không quân của Mỹ và Đài Loan tại Thái Bình Dương. 


Các máy bay do thám U-2 từ Đài Loan chụp được các hình ảnh về Lop Nor và những cơ sở hạt nhân khác. Tháng 1/1961, Chỉ huy Thái Bình Dương của Mỹ nói rằng Trung Quốc sẽ kích nổ thiết bị hạt nhân đầu tiên của mình vào cuối năm 1962 và sau đó đến 1965 là có thể thử bom hạt nhân. 


Tháng 10/1961, Tổng thống Mỹ John Kennedy nhận xét rằng nếu trang bị thêm vũ khí hạt nhân, Trung Quốc sẽ “nuốt chửng” Đông Nam Á. Mỹ muốn tấn công các cơ sở hạt nhân Trung Quốc trước khi họ phát triển được bom hạt nhân và xem việc quan hệ Xô-Trung chia rẽ trong năm 1961 là cơ hội hoàn hảo cho một chiến dịch chung. 


Ngày 14/7/1963, một phái viên Mỹ tại Mátxcơva đưa ra một giới thiệu chi tiết về chương trình hạt nhân của Trung Quốc đồng thời đề xuất một chiến dịch chung Mỹ-Liên Xô nhằm ngăn chặn tham vọng trên. Nhưng Nikita Khruschev nói rằng chương trình đó không gây đe dọa gì. 


Oasinhtơn cũng xem xét những giải pháp khác như tấn công bằng lính Mỹ và Đài Loan, nhảy dù đổ bộ, ném bom thông thường hoặc bom hạt nhân. Tháng 8/1964, Oasinhtơn dự đoán Trung Quốc sẽ kích nổ quả bom đầu tiên vào năm sau đó. Nhưng chưa đầy 2 tháng sau, ngày 16/10/1964, Trung Quốc đã thử thành công quả bom hạt nhân đầu tiên của mình. Tổng thống Mỹ Lyndon Johnson gọi đó là “ngày bi kịch và đen tối nhất cho thế giới tự do”. 


Ba mối đe dọa hạt nhân trước đó đối với Trung Quốc đều đến từ Mỹ. Lần đầu tiên là trong Chiến tranh Triều Tiên. Trước khi Trung Quốc can thiệp vào cuộc chiến, tháng 10/1950, Mỹ và quân đội Nam Triều Tiên đang di chuyển thoải mái hướng về biên giới Trung Quốc và binh lính còn hy vọng về nhà kịp Giáng sinh. Nhưng sự can thiệp của Trung Quốc, với cái giá khủng khiếp về con người, đã đẩy lùi Mỹ. Cuối tháng 11 năm đó, Quốc hội Mỹ đề xuất xem xét mở các cuộc tấn công hạt nhân nhằm vào Bắc Triều Tiên, Đông Bắc Trung Quốc và các thành phố khác. Đề xuất đó được quân đội Mỹ ủng hộ. Ngày 30/11, Tổng thống Mỹ Harry Truman nói rằng ông đang xem xét giải pháp sử dụng hạt nhân. 
Kế hoạch này gây giận dữ ở nhiều thủ đô phương Tây. Anh bực bội vì không được tham khảo ý kiến đồng thời lo ngại rằng quân Mỹ đóng trên đất Anh sẽ trở thành mục tiêu cho các cuộc tấn công trả đũa từ Liên Xô. Luân Đôn và Pari dẫn đầu trong việc phản đối kế hoạch trên. Trong khi đó, không quân Mỹ thực hiện một cuộc diễn tập giả định tấn công hạt nhân nhằm vào Bình Nhưỡng. 


Tháng 3/1951, Truman điều 9 máy bay B-29 trang bị vũ khí hạt nhân đến đảo Guam . Đầu tháng 4, các máy bay trinh thám Mỹ bay qua Đông Bắc Trung Quốc và tỉnh Sơn Đông để lựa chọn những mục tiêu. Tuy nhiên, cuối cùng, Truman đổi ý cho rằng sử dụng vũ khí hạt nhân là quá nguy hiểm và cuối tháng 6 năm đó, những máy bay B-29 được triệu tập trở lại. 


Hai mối đe dọa hạt nhân còn lại là hậu quả từ những xung đột quân sự giữa Trung Quốc với Đài Loan. Chúng diễn ra sau khi Oasinhtơn và Đài Bắc ký một hiệp ước phòng thủ chung vào tháng 12/1954. 


Trong tháng Giêng và tháng 2/1955, Quân Giải phóng nhân dân (PLA) chiếm 3 đảo ngoài khơi tỉnh Phúc Kiến. Với sự trợ giúp của hải quân Mỹ, quân đội Đài Loan sơ tán 25.000 lính và 15.000 dân trên các đảo này về Đài Loan và tập trung phòng thủ ở các đảo Quemoy và Matsu. 


Ngày 6/3, Ngoại trưởng Mỹ John Foster Dulles nói rằng nếu PLA buộc Quemoy và Matsu phải sơ tán nữa, đó sẽ là một thảm họa cho phòng thủ của Đài Loan và các nơi khác ở châu Á. Dulles cho biết Mỹ sẽ xem xét sử dụng vũ khí hạt nhân để bảo vệ các đảo này. Đến cuối tháng 3, các máy bay B-36 ở Guam được trang bị vũ khí hạt nhân và sẵn sàng hành động. Nhưng, cũng như 4 năm trước, lời đe dọa đó vấp phải chỉ trích rộng rãi trên thế giới rằng việc bảo vệ hai hòn đảo nhỏ không đáng phải sử dụng vũ khí hạt nhân. Mỹ bỏ ý tưởng đó và tổ chức các cuộc đàm phán cấp đại sứ với Trung Quốc ở Giơnevơ trong tháng 8 năm đó. 


Mối đe dọa cuối được điểm lại là vào năm 1958, sau các vụ không kích của PLA vào Quemoy ngày 23/8 năm đó (trong 2 tiếng đồng hồ buổi tối, đã có 45.000 đạn pháo bắn vào hòn đảo này). Ngày kế tiếp, các tàu PLA tấn công những tàu rời đảo hướng về Đài Loan và bao vây Quemoy . 


Từ các căn cứ ở Guam và Nhật Bản, không quân Mỹ thực hiện hỗ trợ quân sự và dân sự cho Quemoy . Quân đội Mỹ đề xuất sử dụng bom hạt nhân đánh Trung Quốc. Đã có 5 máy bay B-47 ở Guam được đặt trong tình trạng sẵn sàng chờ lệnh ném bom xuống sân bay Hạ Môn với khả năng công phá không khác gì những trái bom nhằm vào Hiroshima hồi tháng 8/1945. 


Nhưng cũng như người tiền nhiệm Truman, Tổng thống Mỹ lúc đó Dwight Eisenhower quyết định rằng rủi ro là quá cao. Mỹ sẽ chỉ giúp Đài Loan bảo vệ Quemoy và Matsu bằng những vũ khí thông thường, và Trung Quốc một lần nữa thoát khỏi nguy cơ bị tấn công hạt nhân./.

 

 

 

Ramesh Thakur, Hiệu trưởng Trường quan hệ quốc tế Balsillie, Giáo sư khoa học chính trị Đại học Waterloo (Canađa), vừa có bài viết trên báo "Công dân Ốttaoa" đánh giá về vị thế của Trung Quốc hiện nay như sau:

 

 

 
Quan hệ Mỹ - Trung sẽ trở thành trục then chốt của trật tự thế giới hậu đơn cực. Quan điểm của Phương Tây về Trung Quốc có xu hướng dao động giữa đối đầu và thân thiện dẫu ngày càng thổi phồng lên hoặc làm giảm đi tầm quan trọng của Trung Quốc. Đánh giá ôn hòa cho rằng Trung Quốc đang nắm giữ vị trí quan trọng, đầy trách nhiệm trong việc quản lý trật tự thế giới và khu vực. Trong khi đó, các đánh giá bi quan thì lo ngại về sự cứng đầu cứng cổ tiềm tàng của Trung Quốc trong một loạt các vấn đề trên thế giới.


Các cuộc chiến tranh trị giá 3.000 tỷ USD tại Irắc và Ápganixtan đã làm Mỹ vỡ nợ. Và việc Mỹ chấp nhận nhập hàng hóa sản xuất từ Trung Quốc cũng như dịch vụ của Ấn Độ cũng làm suy giảm khả năng của Mỹ trong việc cung cấp đủ hàng hóa và dịch vụ để thanh toán các chi phí Mỹ đã trang trải.


Nền kinh tế Mỹ vốn là nền kinh tế lớn nhất, cân bằng nhất, hiệu quả nhất và sáng tạo nhất. Nhưng hiện nay, kinh tế Mỹ chất đầy gánh nặng nợ nần, thâm hụt và bất ổn. Thâm hụt của Mỹ, dự kiến chiếm khoảng 11% sản lượng kinh tế trong năm 2011, sẽ vẫn chiếm khoảng 5% Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong năm 2020. Hệ thống chính trị dường như hoạt động bất bình thường của Mỹ làm thất bại tất cả các nỗ lực giải quyết các vấn đề về cấu trúc. Nếu vào cuối thập kỷ này, Mỹ vẫn còn là con nợ lớn nhất thế giới (như dự báo kinh tế Mỹ thiếu độ tin cậy trong 10 năm tới), liệu Mỹ sẽ vẫn còn là cường quốc lớn nhất thế giới?


Trung Quốc là thị trường ô tô lớn nhất thế giới tính theo số lượng, nước xuất khẩu hàng hóa lớn nhất thế giới và sẽ có tốc độ tăng trưởng lớn nhất trong thương mại thế giới trong một thời gian. Mỹ vẫn là trung tâm tài chính và tiêu thụ của thế giới nhưng trung tâm sản xuất mới của thế giới lại là Trung Quốc. Trung Quốc không còn phụ thuộc vào thị trường, bí quyết quản lý và công nghệ của Mỹ và cũng không phụ thuộc vào sức mạnh của Mỹ làm đối trọng trước mối đe dọa Liên Xô cũ. Là một quốc gia có ảnh hưởng lớn tới việc định giá năng lượng, khoáng sản và các loại hàng hóa khác, Trung Quốc cũng là quốc gia thải khí CO2 gây hiệu ứng nhà kính lớn của thế giới (không tính trên đầu người), một thủ phạm chính gây biến đổi khí hậu toàn cầu.


Các nhà phân tích tại Mỹ lập luận rằng sự mất lòng tin về quan điểm của phương Tây đang dẫn đến sự mất uy tín đối với Oasinhtơn về các chính sách thị trường tự do, ủng hộ thương mại và toàn cầu hóa và được thay thế bằng sự nhất trí đối với Bắc Kinh về một quốc gia có thị trường vốn được kiểm soát chặt chẽ theo chỉ đạo của nhà nước và có quá trình đưa ra quyết định độc đoán có thể gây khó khăn cho việc lựa chọn chiến lược và việc đầu tư dài hạn nhưng không bị bối rối bởi các cuộc thăm dò hàng ngày.


Mỹ càng thể hiện thiện chí bao nhiêu thì Trung Quốc càng cứng rắn bấy nhiêu. Chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống Barack Obama hồi tháng 11/2009 thể hiện điều đó. Việc ông Obama từ chối gặp lãnh tụ tôn giáo Đạtlai Lạtma trước chuyến thăm Trung Quốc đã củng cố thái độ tượng trưng của Mỹ. Cuộc gặp giữa Tổng thống Obama và Đạtlai Lạtma sau đó tại Nhà Trắng đã nhận được sự cảnh báo mạnh mẽ từ Bắc Kinh.


Tuy nhiên, khi Mỹ cần Trung Quốc cung cấp tài chính cho các khoản nợ khổng lồ, thì sự suy thoái của kinh tế Mỹ đã làm giảm mạnh việc bán các sản phẩm sản xuất tại Trung Quốc tại thị trường tiêu dùng lớn nhất thế giới và cũng có thể giảm dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc.


Việc Trung Quốc vốn tin rằng trật tự thế giới với một siêu cường và nhiều cường quốc khác sẽ vẫn tiếp tục. Các cuộc chiến tranh Irắc và Ápganixtan đẩy nhanh sự suy thoái về quân sự, tài chính và đạo đức đối với Mỹ. Để bảo vệ lợi ích của mình, một số người Trung Quốc đã cân nhắc làm thế nào họ có thể bắt kịp tốc độ phát triển của Mỹ. Kể từ cuộc khủng hoảng tài chính vốn đã cho thấy sự vượt trội của Trung Quốc về khả năng phục hồi, các nhà phân tích Trung Quốc đã có hàng loạt các bình luận về sự suy thoái của Mỹ.


Lần đầu tiên trong 200 năm qua, thế giới phải can dự với một cường quốc Trung Quốc thống nhất đã trở nên mạnh mẽ hơn trong nhiều vấn đề, bao gồm vấn đề biến đổi khí hậu, tự do Internet và tranh chấp biên giới với Ấn Độ. Nhưng như vậy có phải Trung Quốc đã vượt quá các điều kiện so với vị thế mới của Trung Quốc. Đế chế Trung Hoa không có thời kỳ quá độ lịch sử, triết học hay văn học về quan hệ ngoại giao như là một cường quốc trong một hệ thống các cường quốc của thế giới. Điều này sẽ trở thành vấn đề đặc biệt liên quan khi ảnh hưởng của Trung Quốc đối với toàn cầu ngày càng tăng và các lợi ích, sự hiện diện, hoạt động của Trung Quốc phát triển khắp thế giới.


Việc đối xử với Trung Quốc như một kẻ thù có thể biến thực thể này thành một quốc gia đoàn kết. Nhưng liệu Mỹ có đảm bảo cho sự trỗi dậy của một quốc gia độc đảng - đối thủ địa chính trị xứng đáng duy nhất của Mỹ hay không?


Chính sách Trung Quốc của các chính quyền cựu Tổng thống Clinton và cựu Tổng thống Bush đã cho thấy giả định rằng việc hướng tới thương mại tự do và thời đại thông tin sẽ tạo ra và tăng cường sức mạnh các lực lượng tự do và thay đổi chính trị. Nếu như giả định này sai? Các bằng chứng cho đến nay chủ yếu cho thấy theo chiều hướng ngược lại.


Việc Oasinhtơn đã thông qua việc bán vũ khí cho Đài Loan trị giá 6 tỷ USD với tính toán rằng với hơn 1.300 tên lửa của Trung Quốc hướng tới Đài Loan, việc thúc đẩy chuẩn bị quân sự cho sau này có thể là một tuyến phòng hộ khôn ngoan hơn là phải bảo vệ Đài Loan khỏi bị tấn công. Nó đồng thời làm tăng nguy cơ thất bại và chi phí để thành công đối với Bắc Kinh khi tiến hành cuộc chiến. Bắc Kinh đã trả đũa ngay lập tức, đình chỉ trao đổi quân sự song phương và áp đặt lệnh trừng phạt các công ty bán vũ khí cho Đài Loan.


Tuy nhiên, các tính toán về sự suy giảm tương đối của Mỹ nhiều khả năng thúc đẩy Bắc Kinh hướng tới việc thực hiện biện pháp đòn bẩy đối với chính sách quốc tế của Mỹ hơn là đối đầu trực tiếp. Trung Quốc sẽ muốn xác định lại trật tự đa phương theo các điều kiện của Trung Quốc, gạt sang một bên các vấn đề về nhân quyền, các giá trị chính trị thay vào đó tập trung vào giải quyết các vấn đề thường gặp. Trung Quốc sẽ có thiện chí hơn, có khả năng hơn trước kia trong việc định hình môi trường quốc tế và trật tự thế giới theo hướng chủ động hơn là phản ứng thụ động..


Sự phát triển của Trung Quốc được người ta chào đón như là một đối trọng với sức mạnh quân sự và sự kiêu ngạo chính trị của Mỹ. Trung Quốc cũng có thể là động lực tăng trưởng của thế giới. Tuy nhiên, nếu Trung Quốc không thận trọng, họ có thể phải đối phó với sự chống đối mạnh mẽ vì nhiều quốc gia, các tổ chức đa quốc gia và các tổ chức phi chính phủ bắt đầu chống lại sự độc đoán gay gắt của Trung Quốc.


Việc Google đe dọa rời khỏi Trung Quốc có thể là một điềm báo trước về tình trạng quốc tế đang thay đổi. Cuộc chiến của Google với Trung Quốc nhiều khả năng được thúc đẩy bởi tính toán thương mại hơn là sự lo ngại về tự do thông tin.


Vì hầu hết các công ty nước ngoài đã phát hiện ra không phải dễ dàng để chuyển từ tiềm năng to lớn của Trung Quốc thành lợi nhuận to lớn. 1/3 cổ phần của Google tại thị trường Trung Quốc chỉ mang lại 5 % doanh thu toàn cầu của Google. Nếu có một sân chơi bình đẳng, Google có khả năng giành thị phần tại thị trường lớn hơn từ Baidu – đối thủ cạnh tranh chính tại Trung Quốc. Việc đánh giá rủi ro về chiến lược phát triển của Bắc Kinh có thể phản ánh phân tích đắt giá này.


Trong khế ước xã hội ngầm tại Trung Quốc, các công dân ngầm bằng lòng với sự kiểm soát chính trị để đổi lại chính phủ tiếp tục đem lại sự thịnh vượng, đem lại cho họ hàng hoá và dịch vụ giống như phương Tây. Do chủ nghĩa cộng sản mất uy tín, chính phủ thiếu một hệ tư tưởng hợp pháp để tăng trưởng kinh tế. Nếu điều này đang bị đe dọa bởi sự rút khỏi Trung Quốc của Google và các công ty đa quốc gia lớn khác, sự thất bại về chiến lược đối với Chính quyền Trung Quốc có thể lớn hơn khoản thất thu từ các nguồn lợi kiếm được của các công ty.


Trung Quốc đang đắm mình trong sự thừa nhận ngày càng tăng về vị thế của họ. Trung Quốc hạnh phúc với những lợi ích thu được từ vị thế của họ hiện nay, chấp nhận gánh nặng của việc trở thành một cường quốc.


Suy nghĩ đó giúp giải thích về sự kiểm soát tiền tệ nhằm bảo vệ xuất khẩu của Trung Quốc trong khi các quốc gia khác lại chịu thiệt, cũng như việc Bắc Kinh không có thiện chí cam kết việc cắt giảm có sự kiểm chứng của quốc tế về khí thải gây hiệu ứng nhà kính và tranh thủ các chế độ độc tài bị quốc tế cô lập để tiếp cận nguồn nguyên vật liệu và các nguồn tài nguyên./.

 

 

 

 

Bài viết đề cập đến 3 đặc điểm chính về nghiên cứu hiện tại của cộng đồng nghiên cứu chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông. Từ đó nêu bật nhiệm vụ của 4 cơ quan và viện nghiên cứu hàng đầu của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông.

 

 

Những căng thẳng tại Biển Đông gia tăng vào năm 2011, khu vực mang ý nghĩa quan trọng về chiến lược và giàu tài nguyên dầu mỏ đang dấy lên những quan ngại thực sự về mối nguy xung đột quân sự giữa Trung Quốc và các quốc gia yêu sách. Không chỉ sự hiện diện đang gia tăng của Trung Quốc tại quần đảo Trường Sa dẫn đến những va chạm trong năm tháng đầu năm nay trong vùng biển mà Philippin yêu sách,[1] mà ngoài ra hai sự kiện về việc tàu Trung Quốc cắt cáp đã làm gia tăng đối đầu giữa Trung Quốc và Việt Nam, dẫn tới cuộc tập trận bắt đạn thật của Việt Nam và 6 cuộc tập trận do Hạm đội Nam hải thực hiện vào tháng 6.[2] Thêm vào đó là sự gia tăng sức mạnh của hải quân Trung Quốc tại Biển Đông đang thay đổi nhanh chóng cấu trúc quyền lực vốn đã không cân bằng tại đây. Từ quan điểm của Bắc Kinh, sự can dự của Mỹ tại Biển Đông đang làm tăng thêm căng thẳng khu vực.

Biển Đông hàm chứa 4 trụ cột cơ bản trong chiến lược chính sách ngoại giao của Trung Quốc: quan hệ với cường quốc lớn (Mỹ); quan hệ với các quốc gia láng giềng (các quốc gia thành viên ASEAN, Nhật Bản,Ấn Độ và các quốc gia khác); mối quan hệ với các quốc gia đang phát triển (gồm các quốc gia thành viên ASEAN và Ấn Độ); ngoại giao đa phương (tại ASEAN và Diễn đàn Khu vực ASEAN ARF).[3] Do đó, căng thẳng leo thang đặt ra cho giới nghiên cứu chính sách đối ngoại Trung Quốc áp lực nghiên cứu đưa ra những khuyến nghị chính sách và phân tích hiệu quả, kịp thời [cho chính phủ Trung Quốc].

Thực ra, đa số các viện nghiên cứu chính sách ngoại giao Trung Quốc được giao nhiệm vụ phân tích những tác động của Biển Đông và đưa ra những khuyến nghị chính sách làm thế nào giải quyết vấn đề với cả Mỹ và các chủ thể trong khu vực.[4] Vào cuối năm 2010, giáo sư Phó Côn Thành (Fu Kuncheng), chuyên gia luật quốc tế, thành viên của hai trường luật, Đại học Giao thông Thượng hải và Đại học Hạ Môn, được Quỹ Khoa học Xã hội Quốc gia trao một “Công trinh Quan trọng” có tên “Những chiến lược bảo vệ Lợi ích Quốc gia Cốt lõi của Trung Quốc tại khu vực Biển Đông”.[5] Vào năm 2011, Viện Nghiên cứu Quốc tế Trung Quốc (CIIS), liên kết với Bộ Ngoại giao, được trao dự án nghiên cứu với tiêu đề “Những nhân tố Mỹ trong Tranh chấp Hàng hải của Trung Quốc”[6]

Bài luận này đề cập đến 3 đặc điểm chính về nghiên cứu hiện tại của cộng đồng nghiên cứu chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông. Từ đó nêu bật nhiệm vụ của 4 cơ quan và viện nghiên cứu hàng đầu của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông. Cuối cùng, bài luận đưa ra những nguồn trực tuyến từ truyền thông, học giả và các tổ chức của Trung Quốc.

Nghiên cứu Biển Đông tại Trung Quốc

Nghiên cứu về vấn đề Biển Đông của các viện nghiên cứu Trung Quốc có 3 đặc điểm khác biệt. Thứ nhất, nghiên cứu chủ yếu được chia làm hai loại: nghiên cứu pháp lý về luật biển quốc tế và áp dụng đối với Biển Đông; và nghiên cứu các quốc gia về chính sách của các bên và những ảnh hưởng đối với Trung Quốc. Ví dụ, Viện Các Vấn đề Hàng hải Trung Quốc (CIMA), liên kết với Cục Hải dương Quốc gia, chủ yếu tập trung vào những khía cạnh pháp lý và đưa ra lời khuyên đối với chính phủ trong vấn đề lập luận pháp lý về quyền và chủ quyền lịch sử của Trung Quốc tại Biển Đông. Mặt khác, Viện Quan hệ Quốc tế Đương đại Trung Quốc (CICIR), think tank hàng đầu Trung Quốc liên kết với Bộ An ninh Quốc gia, nghiên cứu về Biển Đông thông qua những phân tích về chính sách đối ngoại và tư duy chiến lược của các quốc gia liên quan.

Thứ hai, trong cộng đồng nghiên cứu chính sách, có sự thừa nhận rộng rãi nhưng không công khai về bản chất mơ hồ trong chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông, chẳng hạn như sự nhập  nhằng chiến lược của Trung Quốc đối với các yêu sách, tình trạng của “đường 9 đoạn” (luôn được các chuyên gia đề cập nhưng không bao giờ được chính phủ thừa nhận hoặc bị chối bỏ), tính khả thi của đàm phán song phương trong tranh chấp đa phương, cũng như sự áp dụng UNCLOS. Tuy nhiên, sự công nhận đó đều không được công khai. Theo một nhà phân tích của chính phủ, vấn đề Biển Đông là “vấn đề chính trị” và việc tuân thủ hoàn toàn UNCLOS sẽ buộc Trung Quốc phải từ bỏ đường 9 đoạn và “chủ quyền lịch sử” tại các vùng biển tranh chấp.[7] Hơn nữa, đàm phán đa phương đối với các đảo, đá, đá ngầm đang tranh chấp “hầu như sẽ dẫn đến kết quả là Trung Quốc mất ít nhất là một phần những quyền về biển và lãnh thổ mà họ yêu sách.[8] Bắc Kinh không thể cho phép viễn cảnh mất đi lãnh thổ cho ngoại bang. Do đó, giữa thính giả nước ngoài và dư luận trong nước, Bắc Kinh đã chọn bám víu vào những yêu sách và sự quyết đoán hiện tại, kể cả khi phải trả giá cao về chính sách ngoại giao.

Thứ 3, các nhà phân tích chính sách ở Trung Quốc đã đồng loạt đổ lỗi cho Mỹ đã làm gia tăng căng thẳng tại Biển Đông. Trong quan điểm của họ, Mỹ đã lợi dụng vấn để Biển Đông để phá hoại tình hữu nghị của Trung Quốc với các quốc gia láng giềng, thắt chặt mối liên minh của sự của Mỹ với Philippin, phát triển đối tác chiến lược với Việt Nam nhằm kìm hãm sự ảnh hưởng đang gia tăng của Trung Quốc và duy trì vị thế siêu cường của Mỹ tại khu vực.[9] Các nhà phân tích Trung Quốc đều không tin rằng các quốc gia nhỏ dám thách thức Trung Quốc tại Biển Đông mà không có sự can thiệp của Mỹ. Theo Viên Bằng (Yuan Peng), Giám đốc Viện nghiên cứu Mỹ của CICIR, sự ủng hộ của Washington đã hình thành nên sự phán đoán về chiến lược và những quyết định của các quốc gia khu vực, thúc đẩy các quốc gia này tăng cường sự quyết đoán chống lại Trung Quốc.[10]

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây.

Yun Sun là Nghiên cứu sinh tại Trung tâm Nghiên cứu Đông Bắc Á, Viện Brookings, nguyên là nhà phân tích Trung Quốc của Dự án Đông Bắc Á, Nhóm Khủng hoảng Quốc tế, trụ sở tại Bắc Kinh.

Theo CNAS

Văn Hùng (dịch)

Bản gốc tiếng Anh Studying the South China Sea: The Chinese Perspective, đăng trên Center for a New American Security, ngày 9/01/2012.



[1] Carlyle A. Thayer, “China’s New Wave of Aggressive Assertiveness in the South China Sea,” Tham luận tại Hội thảo An ninh biển tại Biển Đông, do Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế và Chiến lược (CSIS) tổ chức, Washington, ngày 20-21 tháng 6 năm 2011: 5

[2] Tanie Branigan, “Vietnam holds live-fire exercises as territorial disputes with China escalates,” The Guardian, 14, tháng 6 năm 2011 và Họp báo của Bộ Quốc phòng Trung Quốc, 29 tháng 6 năm 2011. Mặc dù người phát ngôn bác bỏ sự liên quan giữa 6 cuộc tập trận và sự gia tăng căng thẳng, nhưng các nhà phân tích chính sách đối ngoại trong các cuộc trao đổi riêng đều cho rằng những cuộc tập trận gửi đi một thông điệp cảnh báo đến Việt Nam rất rõ ràng.

[3] Bốn nhân tố chính trong chiến lược chính sách đối ngoại Trung Quốc lần đầu tiên được đưa ra và khẳng định tại Hội thảo Ambassadorial Working Conference lần thứu 10 năm 2004: “For China’s foreign policy, major power relations are the key; relations with neighboring countries are primary; relations with developing countries are the foundation, and multilateral diplomacy is the important platform.” Zhang Hong, “China Marches towards ‘Grand Diplomacy,’” People’s Daily, 8 tháng 2 năm 2011, http://theory.people.com.cn/GB/13871972.html.

[4] Tranh luận với các nhà phân tích Trung Quốc, Bắc Kinh, 2011

[5] “Public Notice on the Result of Bidding for Significant Projects under National Social Sciences Fund, 2010,” GuangMing Daily, 28 tháng 4, 2011, http://cpc.people.com.cn/GB/219457/219543/14655331.html.

[6] Theo dự án, CIIS đã tổ chức đưa đoàn đại biểu về vấn đề biển tới New York và Washington vào tháng 11 năm 2011. Đoàn do Đại sứ Wang Xiaodu, Cố vấn đặc biệt của Vụ Biển và Biên giới, Bộ Ngoại giao.

[7] Trao đổi riêng, Washington, tháng 6 năm 2011.

[8] Như trên

[9]  Wang Liang, “Liu Xuecheng: Diplomatic Negotiation Remains the Top Solution to the Rising Tensions in South China Sea,” Liaoning Daily, 24 tháng 6, 2011, http://news.qq.com/a/20110624/000203.htm

[10] Guo Fang, “Experts say the U.S. will not Fight China over other Countries’ Maritime Disputes,” Global Times, 16 tháng 6 , 2011, http://world.huanqiu.com/roll/2011-06/1761673.html.

 

 

"Nếu như bất kỳ nước nào hay tổ chức nào vi phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc, quân đội có quyền "bắn phát súng đầu tiên". Điều này nghĩa là cho phép quân đội Trung Quốc tiến hành đòn đánh phủ đầu ở cấp độ chiến thuật! Sau đây là toàn bộ nội dung bài viết:

 


Chiến tranh nhân dân không phải là một học thuyết "tĩnh" hay "đã chết". Khi Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) tiến hành hiện đại hóa thông qua các tiến trình cơ giới hóa và thông tin hóa, "Trung Quốc đã cố gắng tiến hành các đổi mới về nội dung và hình thức của chiến tranh nhân dân" (Sách Trắng Quốc phòng năm 2008 của Trung Quốc). Trái với nhận thức cho rằng chiến tranh nhân dân phụ thuộc vào 'súng trường và hạt kê' và với số lượng áp đảo (ví dụ các cuộc tấn công dùng biển người), với trọng tâm là chiến tranh du kích và cuộc chiến trường kỳ, theo Khoa học Chiến lược Quân sự, chiến tranh nhân dân là "một hình thức tổ chức chiến tranh, và vai trò của nó không có gì liên quan đến mức độ công nghệ quân sự". Để bù lại một phần cho điểm yếu về công nghệ, việc huy động nhân dân là chìa khóa để ủng hộ các nỗ lực chiến tranh của đất nước với các phương tiện chính trị, kinh tế, kỹ thuật, văn hóa và đạo đức. Cuộc họp thường niên mới kết thúc gần đây của Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc (Quốc hội Trung Quốc) đã ký Luật huy động phòng thủ quốc gia, đạo luật đưa ra các cơ sở pháp lý cho việc kết hợp các nguồn lực dân sự vào các hoạt động quân sự khi mà "chủ quyền, sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ hay an ninh của dân tộc bị đe dọa". Luật này đã đề ra các nguyên tắc và cơ chế tổ chức đối với việc huy động phòng thủ quốc gia, dự trữ nhân sự và tài sản chiến lược, và sẽ bắt đầu có hiệu lực vào ngày 1/7/2010. Văn bản của bộ luật này đã được phổ biến một cách rộng rãi bằng tiếng Trung Quốc trên mạng Internet. Việc thông qua luật huy động phòng thủ quốc gia đã nhấn mạnh đến sự tiếp tục gắn kết của hình thức chiến tranh nhân dân trong tư duy chiến lược của Trung Quốc. Để hiểu rõ được các lực lượng vũ trang của Trung Quốc chiến đấu như thế nào trong các cuộc chiến tranh cục bộ với các điều kiện thông tin hóa, cần phải xem xét khái niệm chiến tranh nhân dân trong các điều kiện hiện đại ngày nay.

 

 Chiến tranh nhân dân

Từ năm 1998 đến nay, tất cả các Sách Trắng Quốc phòng của Trung Quốc đều tuyên bố rằng PLA tuân thủ "khái niệm chiến lược" của chiến tranh nhân dân như là một phần của "chiến lược quân sự" phòng thủ chủ động. Thậm chí sau khi một học thuyết cập nhật về tác chiến trong chiến tranh được đưa ra vào năm 1999, chiến tranh nhân dân vẫn là nguyên lý trong tư duy quân sự của Trung Quốc. Khái niệm này càng được nêu bật trong các tác phẩm như Kiến thức Chiến dịch và Kiến thức Chiến lược Quân sự, trong đó chiến tranh nhân dân được miêu tả như là "một chiến lược cơ bản...để giành chiến thắng trong cuộc chiến tranh hiện đại". Về bản chất, chiến tranh nhân dân là một chiến lược nhằm tối đa hóa sức mạnh của Trung Quốc (quy mô và con người) để bảo vệ lục địa khỏi các cuộc tấn công của kẻ thù trong nước và nước ngoài. Trong nhiều thập kỷ, chiến lược quân sự của Trung Quốc tập trung vào việc phòng thủ lục địa. Vào giữa những năm 1980, PLA bắt đầu đẩy mạnh phạm vi phòng thủ ra bên ngoài và thông qua "chiến lược phòng thủ ngoài khơi". Mặc dù không có khoảng cách cụ thể nào được xác định trong những tài liệu chính thức, "phòng thủ ngoài khơi" thường chồng lấn với các cuộc thảo luận về việc bảo vệ các vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc (EEZ) ra xa 200 hải lý. Trong một sự tiết lộ đáng chú ý, Sách trắng Quốc phòng năm 2006 tuyên bố: "Hải quân Trung Quốc... đang xem xét chiến lược và các chiến thuật của chiến tranh nhân dân trên biển trong các điều kiện hiện đại". Chỉ vài tuần sau một loạt vụ đụng độ trên biển giữa các tàu dân sự và quân sự của Trung Quốc với các tàu thăm dò USNS Impeccable và Victorious của Mỹ vào mùa Xuân năm 2009, mà được coi là một ví dụ về hình thức chiến tranh nhân dân trên biển, hãng thông tấn chính thức của Trung Quốc Tân Hoa Xã nói rằng: "Trung Quốc sẽ không xây dựng một lực lượng hải quân tấn công tuần tiễu khắp toàn cầu, mà chỉ tập trung vào khu vực ngoài khơi của nước này. Thậm chí nếu như hải quân được hiện đại hóa trong tương lai, bản chất phòng thủ của chiến lược hải quân cũng sẽ không thay đổi". Các giới hạn địa lý được đề ra bởi các tuyên bố truyền thống về chủ quyền Trung Quốc: "nhằm bảo vệ chủ quyền và lãnh thổ của Trung Quốc, đảm bảo các lợi ích và quyền hàng hải, hải quân quyết định đề ra phạm vi phòng thủ là Hoàng Hải, Đông Hải (Hoa Đông) và Nam Hải (Biển Đông). Phạm vi này sẽ bao phủ vùng lãnh thổ trên biển cần phải được quản lý bởi Trung Quốc, theo như Công ước Liên hiệp quốc về Luật Biển.



Phòng thủ chiến lược, nhưng tấn công là quyết định

Mặc dù chiến tranh nhân dân bắt đầu từ một vị thế phòng thủ chiến lược, các nhà hoạch định quân sự của Trung Quốc hiểu rõ bản chất quyết định của cuộc tấn công. Học thuyết của Trung Quốc tìm cách nắm thế chủ động và tiến hành tấn công sau khi kẻ thù tấn công trước. Tuy nhiên, học thuyết này cũng cho phép Trung Quốc tiến hành đòn đánh phủ đầu ở cấp độ chiến thuật: "Nếu như bất kỳ nước nào hay tổ chức nào vi phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc, quân đội có quyền "bắn phát súng đầu tiên". Sau khi cuộc xung đột bắt đầu, các lực lượng vũ trang của Trung Quốc sẽ tìm cách chuyển sang thế tấn công bất cứ khi nào có thể. Kiến thức Chiến lược Quốc sự của Trung Quốc đã vạch ra 10 nguyên tắc của chiến tranh nhân dân, mô tả một khuôn khổ tìm cách hợp nhất tất cả các hình thức lực lượng (quân sự, bán quân sự và dân sự) trong các hoạt động mạnh mẽ và linh hoạt phù hợp với hoàn cảnh. Trong khi tìm cách sớm giành chiến thắng, PLA cũng thừa nhận rằng "một cuộc chiến quy mô lớn không thể giành chiến thắng với một trận chiến quyết định đơn lẻ" và kêu gọi thận trọng trước khi bắt đầu cuộc xung đột. Trong chiến đấu, năm sự kết hợp giữa lực lượng thường trực và không thường trực sẽ bao gồm:

(1) các binh lính thường trực với số lượng lớn;

(2) kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy trên biển;

(3) các vũ khí quyết định với các chiến thuật và chiến lược linh hoạt;

(4) vũ khí công nghệ cao với vũ khí thông thường;

(5) chiến tranh quân sự với chiến tranh kinh tế và chính trị.

Các phương pháp chiến đấu nhấn mạnh đến sự can dự cự ly gần, chiến đấu ban đêm và các cuộc tấn công bất ngờ. Ngày nay, các nguyên tắc của chiến tranh nhân dân có thể thấy trong nhiều sự kiện huấn luyện được thực hiện bởi các lực lượng dân sự và vũ trang của Trung Quốc, đặc biệt trong các cuộc tập trận chống khủng bố, phòng thủ chống tấn công hạt nhân hay hóa học. Chiến tranh nhân dân cũng được biểu lộ trong việc xã hội hóa sâu rộng hoặc tận dụng nhiều chức năng hậu cần của khu vực dân sự. Sự hỗ trợ dân sự là đặc biệt cần thiết đối với việc vận chuyển đường biển và đường không con người và trang thiết bị trên một khoảng cách xa.

 

Chiến tranh nhân dân và cơ cấu lực lượng

Phân tích gần đây nhất của nước ngoài về quá trình hiện đại hóa PLA tập trung vào những cải thiện quan trọng trong các đơn vị lực lượng chính, được trang bị với các loại tên lửa và trang thiết bị điện tử hiện đại, tàu chiến và tàu ngầm và các máy bay chiến đấu hiện đại. Phân tích này chỉ đề cập rất ít về khoảng 200 nghìn hoặc hơn tổng quân số trong các đơn vị bộ binh, phòng thủ biên giới và bờ biển của PLA. Hải quân của PLA (PLAN) chỉ huy sáu trung đoàn pháo phòng không và tên lửa đất đối hạm và các tiểu đoàn độc lập trong lực lượng phòng thủ bờ biển. Hải quân cũng duy trì khoảng 253 tàu tuần tra được chia thành năm đơn vị cấp sư đoàn. Lực lượng Không quân của PLA (PLAAF) có ba sư đoàn tên lửa đất đối không, một sư đoàn phòng thủ hỗn hợp, chín lữ đoàn tên lửa đất đối không và hai lữ đoàn pháo phòng không và tên lửa đất đối hạm. Trong tổng số hơn 1.600 máy bay chiến đấu có khoảng 800 chiếc thuộc xêri J-7 và J-8 dành cho việc phòng không địa phương. Khoảng 1/3 trong tổng số lực lượng dự bị của PLA (khoảng 40 sư đoàn và 25 lữ đoàn) được giao nhiệm vụ phòng thủ trên không địa phương. Kể từ năm 1998, các đơn vị dự bị và dân quân của PLA đã được tái tổ chức và hiện đại hóa giống như các đơn vị thường trực. Hầu hết việc hiện đại hóa này tập trung vào việc đem lại an ninh khu vực hậu phương đặc biệt là phòng thủ trên không, cho các đơn vị thường trực cũng như lực lượng dân sự; hỗ trợ hậu cần; sửa chữa cơ sở hạ tầng bị hư hại do các cuộc tấn công tầm xa nhằm vào Trung Quốc. Một số đơn vị dân quân sẽ được huy động vào việc thực hiện hình thức chiến tranh thông tin (IW). Các lực lượng đã kể ở trên là một bộ phận quan trọng trong lực lượng vũ trang của Trung Quốc. Mặc dù, các đơn vị này sẽ được hợp nhất vào các kế hoạch chiến tranh của PLA đối với việc phòng thủ khu vực duyên hải và lục địa, đại đa số các đơn vị này không được tính vào năng lực sức mạnh của PLA, trừ việc bảo vệ các khu vực hậu phương cho việc triển khai lực lượng chính quy, và trong một phạm vi nhỏ là thực hiện các hoạt động tin tức.

 

Chiến tranh nhân dân và chiến tranh thông tin

Các nhà chiến lược của Trung Quốc coi các hoạt động thông tin là một phương tiện đặc biệt hữu ích để triển khai các phương pháp tác chiến truyền thống như gây bất ngờ, dùng mưu hay lừa đối phương. Ông Thẩm Vĩ Quang, thường được coi là cha đẻ của chiến tranh thông tin của Trung Quốc, đã gọi IW (Internet War – Chiến tranh thông tin) là một hình thức chiến tranh nhân dân theo nghĩa đích thực của nó. Thiếu tướng Đới Thanh Dân, cựu Cục trưởng Cục Thông tin liên lạc của Bộ Tổng tham mưu Trung Quốc, lưu ý rằng việc đạt được ưu thế về thông tin là rất quan trọng đối với việc sử dụng mưu và lừa đối phương trong chiến tranh nhân dân. Trong khi một số nhân tố của các hoạt động thông tin được coi là các loại vũ khí "giữ vị trí chủ đạo" thì chiến tranh thông tin vẫn chỉ được coi là một phương tiện chứ không phải mục đích. Vì vậy, PLA có kế hoạch kết hợp các hoạt động thông tin với hỏa lực và các hoạt động đặc biệt khi tiến hành các chiến dịch. Các lực lượng thường trực của PLA có nhiều đơn vị tình báo và tác chiến điện tử khác nhau mà có cả khả năng phòng thủ và tấn công, bao gồm cả các hoạt động tác chiến mạng. Trong những năm gần đây, huấn luyện trong các môi trường điện từ phức tạp là nhiệm vụ chính của tất cả các đơn vị PLA. Trong vòng một thập kỷ qua, rất nhiều đơn vị tác chiến thông tin dân quân, bao gồm có cả năng lực phòng thủ và tấn công mạng và điện tử, được thành lập. Tuy nhiên, do khó khăn trong việc kiểm soát những tin tặc bên ngoài lực lượng quân sự và khả năng những tên này can thiệp vào chiến lược của Trung Quốc, nên khó có khả năng Chính phủ Trung Quốc sẽ triển khai một đội quân gồm các nhân viên dân sự trong chiến trang mạng nhân dân.

 

Kết luận

Các nguyên tắc của chiến tranh nhân dân vẫn là một nền tảng quan trọng trong tư duy quân sự của Trung Quốc về cả hòa bình và chiến tranh. Chiến tranh nhân dân cũng là một nhân tố quan trọng trong vị thế răn đe tổng hợp, nhiều tầng của Trung Quốc. Như đã mô tả trong Kiến thức Chiến lược Quân sự: "Hiện nay Trung Quốc có khả năng răn đe hạt nhân hạn chế nhưng hiệu quả, một năng lực sức mạnh tương đối của khả năng răn đe thông thường và khả năng răn đe to lớn của chiến tranh nhân dân. Với việc kết hợp các phương tiện răn đe này sẽ tạo thành một khả năng răn đe chiến lược tổng hợp, với sức mạnh quốc gia toàn diện là nền tảng, lực lượng thông thường là trụ cột chính, lực lượng hạt nhân là sức mạnh hỗ trợ". Là một nhân tố của khả năng răn đe, chiến tranh nhân dân cũng là một phương tiện để Bắc Kinh đánh bại kẻ địch mà không cần chiến đấu và đạt được các mục tiêu chiến lược. Tuy nhiên, như đã được thể hiện ngoài khơi Trung Quốc năm 2009, các chiến thuật chiến tranh nhân dân không phải lúc nào cũng dẫn đến thành công. Một giả thuyết có thể được rút ra từ các vụ đụng độ trên biển là để chiến tranh nhân dân có thể thành công, nó phải được tiến hành trên quy mô lớn để có thể kết hợp đầy đủ với lợi thế về quy mô của Trung Quốc. Về bản chất, chiến tranh nhân dân có cơ hội lớn hơn để thành công khi diễn ra ở trên hoặc gần Trung Quốc lục địa. Hình thức này sẽ trở nên kém hiệu quả hơn khi PLA tác chiến ra xa ngoài lục địa./.


Trung tá
Dennis J. Blasko*

Theo Jamestown  Foundation


* Trung tá Dennis J. Blasko, đã nghỉ hưu và trước đây là Tùy viên Lục quân của Mỹ ở Bắc Kinh và Hồng Công về hình thức chiến tranh nhân dân của Trung Quốc

 

 

Bộ phận dự báo, phân tích và tư vấn rủi ro (EIU) thuộc Tạp chí Nhà Kinh tế (Anh) ngày 16/5 đưa ra nhận định của cơ quan nghiên cứu uy tín này về khả năng bùng phát xung đột tại Biển Đông sau những đụng độ mới đây giữa Trung Quốc và Philíppin, đồng thời đánh giá về khả năng hợp tác cùng khai thác giữa Philíppin và Trung Quốc.

 

Những căng thẳng giữa Trung Quốc và Philíppin về vùng lãnh thổ tranh chấp tại Biển Đông một lần nữa lại nổi lên trong những tuần gần đây. Thảo luận về khu vực phát triển chung (JDA) và các lệnh cấm đánh cá chồng lấn có thể sẽ giúp xóa bỏ một phần sự mất tin cậy lẫn nhau. Thêm vào đó, những khó khăn chính trị mà ông Chu Vĩnh Khang, người đứng đầu ngành an ninh theo đường lối cứng rắn của Trung Quốc, đang phải đối mặt có thể sẽ mang lại một tia sáng le lói về khả năng của một cách tiếp cận bớt đối đầu hơn đối với cuộc xung đột. Tuy nhiên, khi những lợi ích của việc kiểm soát Biển Đông vốn quan trọng cả về chiến lược và kinh tế gia tăng, nguy cơ về các cuộc va chạm nhỏ dẫn tới một cuộc xung đột toàn diện vẫn còn đáng kể.

Những cuộc tranh cãi giữa các bên tuyên bố chủ quyền vùng lãnh thổ tranh chấp tại Biển Đông - trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, bãi đá ngầm Scarborough - đã nổ ra thường xuyên trong những năm gần đây. Cuộc tranh cãi mới nhất, bắt đầu từ ngày 8/4, nổi lên khi tàu chiến Philíppin phát hiện các tàu đánh cá Trung Quốc hoạt động bất hợp pháp tại khu vực bãi đá ngầm (Trung Quốc gọi là đảo Hoàng Nham), cách đảo Luzon của Philíppin 220 km về phía Tây, và cả hai nước đều tuyên bố chủ quyền. Tàu hải giám Trung Quốc đã được điều động tới để ngăn cản Hải quân Philíppin bắt giữ các ngư dân Trung Quốc, tạo ra một sự bế tắc. Sau sự náo động ban đầu của những sự phản đối lẫn nhau, Bắc Kinh và Manila bắt đầu các cuộc đàm phán, dẫn tới việc Philíppin rút tàu chiến và thay thế bằng tàu bảo vệ bờ biển dân sự. Các tàu đánh cá Trung Quốc sau đó rút đi mà không bị cản trở. Các tàu tuần tra dân sự của Trung Quốc và Philíppin sau đó tiếp tục "gằm ghè" nhau dọc bãi đá ngầm trong khi các ngư dân hai nước vẫn miệt mài làm ăn ở vùng nước xung quanh.

Phản ứng của Trung Quốc đối với sự cố này đã và đang trở nên phức tạp bởi môi trường chính trị chưa ổn định tại Bắc Kinh trong bối cảnh chính phủ chuyển giao quyền lực cho thế hệ lãnh đạo mới - một tình huống có thể tạo ra nhiều không gian hơn cho một loạt các cơ quan của Trung Quốc có liên quan khích bác chống lại nhau. Tuy nhiên, phản ứng cơ bản của Trung Quốc đối với sự cố này, như thường lệ, được tô điểm bằng quan điểm dân tộc chủ nghĩa, cứng rắn của chính phủ phản đối bất kỳ hành động nào thách thức những tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc. Những ngày gần đây, Trung Quốc đã dừng các chuyến du lịch sang Philíppin và khám xét nghiêm ngặt hơn các hoa quả nhập từ Philíppin, chẳng hạn như chuối, sản phẩm mà Trung Quốc là khách hàng lớn nhất. Bắc Kinh cũng đã cảnh báo Manila rằng nước này đã sẵn sàng phản ứng với "bất kỳ một sự leo thang" nào của tình hình.

Đặt cược lớn

Đối với cả Trung Quốc và Philíppin, triển vọng về việc vùng biển tranh chấp có trữ lượng tài nguyên thiên nhiên đáng kể đồng nghĩa với việc hai nước đều đặt cược lớn vào canh bạc này. Ủy ban Thông tin Năng lượng Mỹ ước tính trữ lượng dầu khí được chứng minh và chưa khai thác tại khu vực này lên tới 213 tỷ thùng. Ngày 9/5, Tập đoàn dầu khí ngoài khơi quốc gia Trung Quốc (CNOOC) tuyên bố rằng đã sẵn sàng bắt đầu khai thác dầu sử dụng giàn khoan dầu nước sâu đầu tiên của mình tại Biển Đông. Mặc dù giàn khoan này không đặt bên trong vùng tranh chấp nhưng CNOOC mô tả nó không chỉ là phương tiện để gia tăng sản xuất khí đốt và dầu mỏ quốc gia mà còn là "công cụ chiến lược" để thúc đẩy các lợi ích lớn hơn của Trung Quốc ở tại khu vực này.

Cách tiếp cận của Philíppin đối với tranh chấp cũng phản ánh sự mong muốn đạt được các lợi ích kinh tế từ nguồn tài nguyên thiên nhiên dưới đáy Biển Đông. Cuối tháng 4, Forum Enerny, một bộ phận đặt trụ sở tại Anh của Tập đoàn Philex Mining do Philíppin sở hữu, tuyên bố rằng nguồn khí đốt tự nhiên đã phát hiện năm 2006 tại một khu vực tranh chấp lớn hơn so với ước tính trước đây. Trữ lượng này nằm tại mỏ khí đốt Sampaguita ở Bãi Cỏ Rong. Tuy nhiên, tranh chấp lãnh thổ giữa hai nước tới nay vẫn cản trở việc khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên của khu vực. Philex Mining nói rằng các xung đột lãnh thổ đã làm trì hoãn các kế hoạch khai thác khí tại Bãi Cỏ Rong, nơi các tàu Trung Quốc đã quấy nhiễu một trong những tàu khảo sát của Forum Energy trong năm 2011.

Những triển vọng hợp tác cùng khai thác

Các khu vực phát triển chung (JDA) trong một số bối cảnh khác đã được sử dụng để cho phép các quốc gia cùng thu lợi ích từ những nguồn lực kinh tế chung trong khi gạt ra một bên các vấn đề về chủ quyền gây tranh cãi. Những tiền lệ bao gồm việc phát triển các nguồn tài nguyên thiên nhiên ở một số khu vực khác của châu Á, chẳng hạn giữa Malaixia và Việt Nam, và giữa Malaixia với Thái Lan. Trung Quốc bấy lâu nay vẫn muốn thực hiện các JDA song phương, nhưng Philíppin vẫn cẩn trọng hơn. Năm ngoái, Chính phủ Philíppin lặp lại rằng nước này sẽ mở cửa cho nước ngoài tham gia khai thác tại Bãi Cỏ Rong, nhưng việc khai thác đó phải tuân thủ luật pháp của Philíppin (Philíppin nhiệt tình hơn đối với việc cùng khai thác tại các vùng tranh chấp ở Biển Đông nằm ngoài EEZ của nước này). Ngày 4/5, Tổng thống Philíppin Benigno Aquino nói rằng ông để ngỏ khả năng các công ty cùng tham gia khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên tại các khu vực tranh chấp ở Biển Đông, cùng với các chính phủ có liên quan giải quyết tranh chấp lãnh thổ riêng rẽ của họ. Ngay sau đó, Philex Mining nói rằng tập đoàn này đã thảo thuận về khả năng thiết lập đối tác với CNOOC để khai thác khí đốt tự nhiên tại Bãi Cỏ Rong.

Trong khi tăng cường phát triển các thực lực quân sự của mình, cả Trung Quốc và Philíppin đều tiếp tục lên tiếng ủng hộ một giải pháp hòa bình đối với các tranh chấp giữa hai bên tại Biển Đông. Tuy nhiên, hai nước lại ưu tiên các con đường khác nhau hướng tới một giải pháp hòa bình. Philíppin, giống như các nước có tuyên bố chủ quyền khác ở Đông Nam Á, muốn cách tiếp cận đa phương dựa trên Công ước LHQ về Luật Biển (UNCLOS). Chính phủ Philíppin đã đưa tranh chấp với Trung Quốc tại bãi đá ngầm Scarborough ra Tòa án Quốc tế về Luật Biển (ITLOS) để phân xử, mặc dù thể chế này không có quyền áp đặt các giải pháp. Mặc dù Trung Quốc phản đối đề nghị này, song các nhà chức trách Philíppin đã tỏ dấu hiệu cho thấy họ có ý định đơn phương đệ trình vấn đề này lên ITLOS. Trung Quốc kiên định muốn giải quyết tranh chấp trên biển theo con đường song phương theo cách thức "đóng cửa bảo nhau", theo đó sẽ mang lại cho nước này ưu thế hơn khi đương đầu với các nước láng giềng có tranh chấp.

Một giải pháp hòa bình đối với tranh chấp Biển Đông chắc chắn sẽ nằm trong lợi ích của cả hai nước, và có những lý do đúng đắn để tránh những căng thẳng leo thang. Đối với Trung Quốc, khả năng can dự quân sự của Mỹ là một nguy cơ rất lớn. Đối với Philíppin, hiện vẫn còn tồn tại một sự không rõ ràng về quan điểm của Mỹ đối với tranh chấp, và vì thế nước này không thể chắc chắn về mức độ hỗ trợ của Mỹ trong trường hợp căng thẳng leo thang với Trung Quốc.

Mặc dù vậy, một giải pháp hòa bình khó có thể sớm đạt được. Việc thiết lập vùng khai thác chung có thể giúp giảm căng thẳng, nhưng tranh chấp Biển Đông không chỉ đơn thuần là về nguồn tài nguyên thiên nhiên như dầu mỏ và trữ lượng cá, mà còn liên quan tới các vấn đề chủ quyền cơ bản, việc kiểm soát các tuyến đường biển chiến lược và nỗ lực của Philíppin củng cố an ninh chống lại nền tảng quyền lực ngày càng gia tăng của Trung Quốc. Các vấn đề này sẽ khó có thể mất đi một cách nhanh chóng, và khi những sự đối đầu trở nên thường xuyên hơn thì nguy cơ các đụng độ quy mô nhỏ phát triển thành xung đột toàn diện vẫn tồn tại.

Một động thái có thể mang lại một chút hy vọng cho một bước chuyển trong những hướng đi của các sự kiện hiện nay là khả năng mất quyền lực của "Sa hoàng an ninh" Trung Quốc Chu Vĩnh Khang sau vụ bê bối của Bạc Hy Lai. Ông Chu Vĩnh Khang hiện vẫn tại vị, nhưng tin tức trên tờ "Thời báo Tài chính" của Anh và một số phương tiện truyền thông Trung Quốc cho thấy ông có thể sẽ phải từ bỏ phần lớn quyền lực của mình. Với việc ông Chu Vĩnh Khang được coi là một nhà bảo thủ theo đường lối cứng rắn và là một trong những động lực chính phía sau cách tiếp cận hiếu chiến của Trung Quốc đối với các vấn đề như Biển Đông, nhiều khả năng các nhân vật khác có thể sẽ áp đặt thực hiện một đường lối ít đối đầu hơn. Bản chất liên kết ứng phó của nền chính trị Trung Quốc - và thực tế là người kế nhiệm ông Chu Vĩnh Khang cũng có thể xuất thân từ phe bảo thủ trong Đảng Cộng sản Trung Quốc - khiến việc chuyển đổi mạnh trong chính sách là điều khó có thể xảy ra. Lập trường của Trung Quốc phản ánh những quan điểm ý thức hệ và chiến lược lâu đời và vượt ra ngoài khả năng của một cá nhân nhất định. Mặc dù vậy, trong tranh chấp này thì chỉ cần một thay đổi nhỏ về quan điểm cũng có thể mở ra con đường cho một cách tiếp cận triển vọng hơn.

Theo The Economist

Trần Quang (gt)

 

Một tỷ phú bỏ ra 670 triệu USD để mua 13 hécta đất, luôn đi lại trên một chiếc Bentley và sống trong một khu dinh cơ trị giá 60 triệu USD. Một ngôi làng với hơn 600 gia đình mặc trên mình những bộ quần áo có từ thời ông bà cụ của họ, những ngôi nhà cũ kĩ và lụp xụp, đàn ông thì vẫn mang kiếm! Đó là hai mặt trái của Trung Quốc hiện nay! Dưới đây là bài viết của nhật báo La Repubblica (Italia) số ra gần đây về vấn đề này.

 

 

 

 
Dường như ngôi làng nghèo nhất Trung Quốc ở một thế giới khác, không nằm trên đất Trung Hoa đang ngày một giàu lên. Hơn 600 gia đình của dân tộc "Đông" mặc trên mình những bộ quần áo có từ thời ông bà cụ của họ và đàn ông thì vẫn mang kiếm. Chỉ có những người ốm yếu được ăn thịt. Ở Zhaoxing, người ta nghĩ rằng Bắc Kinh không hề tồn tại. Trước khi đến được ngôi làng với những ngôi nhà cũ kĩ và lụp xụp, qua những cây cầu vắt vẻo trên sông, cần phải bay 2 chuyến bay, sau đó đi xe hơi 5 tiếng nữa, thêm 10 tiếng trên 3 chuyến xe chở thư báo và các nhu yếu phẩm, cuối cùng là 2 giờ đi bộ. Nhưng chuyến đi ấy là hoàn toàn xứng đáng, vì cuối cùng, khi đến được nơi này, người ta sẽ cảm thấy thú vị khi được gặp những con người thậm chí không phân biệt nổi nước Trung Hoa của Mao Trạch Đông với nước Trung Hoa của Triển lãm thế giới sắp tới tại Thượng Hải. Những người lớn vào buổi tối thường xuyên tụ tập xung quanh một chiếc radio cũ rích để nghe tin tức từ những nơi rất xa. Những thành công lớn của đất nước trong công cuộc chinh phục thế giới họ cũng chưa bao giờ được chứng kiến. Những lời hứa hẹn của các nhà kỹ trị hôm nay được coi như những câu chuyện cổ tích kỳ ảo, hệt như những kế hoạch cộng sản bị Đặng Tiểu Bình xóa bỏ cách đây 30 năm.

 

Zhaoxing nằm ở Đông Nam Trung Quốc, giữa những ngọn núi và các cánh đồng lúa của tỉnh Quý Châu, tỉnh nghèo nhất Trung Quốc. Cánh đàn ông trong làng giờ chỉ toàn hoặc là những người già, hoặc những đứa trẻ sơ sinh, vì những người đàn ông trong độ tuổi lao động đều đã hoặc đi làm nông, hoặc làm việc trong các nhà máy ở tỉnh Quảng Đông. Họ sống với thu nhập chỉ nửa đôla Mỹ một ngày, các trường học trống rỗng và những ai ốm đau hầu như không được chữa trị. Năm nay, cơn hạn hán kéo dài từ tháng 10/2009 đến giờ đã làm cho tình hình càng trở nên nghiêm trọng. Những mương nước ở nhiều nơi đã cạn khô trơ cả đáy và ở những nơi có nước, lượng nước đọng lại chỉ đủ dùng. Chính quyền khuyến cáo người dân hãy đợi cho váng lắng xuống vài ngày sau mới được uống. Trưởng làng, Xiong Jinlong, chỉ có thể lên nắm quyền sau khi những nhà lãnh đạo già trong làng chết đi. Vấn đề quan trọng đối với ông là "làm gì". Lần đầu tiên kể từ nhiều năm nay, từ ngữ ấy trở thành một khái niệm gì đó ám ảnh khôn nguôi, khi đất nước đang dần trở thành một cường quốc về kinh tế và ngày càng chiếm vai trò chủ đạo trong các vấn đề quốc tế. Nỗi sợ hãi của việc "không làm gì" chế ngự cả những vùng đất giàu có ở phía Nam , tại trung tâm của chủ nghĩa tư bản phương Đông. Ngay cả ở Hồng Công, 13 năm sau khi được chuyển giao cho Trung Quốc, dường như không hề thuộc về Trung Quốc. Người ta bây giờ có thói quen sử dụng một thuật ngữ mới, "Hồng Công hóa", nhằm chỉ mốt chuyển các đô thị theo hướng phương Tây, xây nên những ngôi nhà chọc trời, mở rộng các ngân hàng và trung tâm thương mại.

 

Ánh sáng từ những cây đèn neon và thủy tinh sáng chói từ những tòa nhà cao ngất phản chiếu lên mặt nước lạnh lẽo của vịnh Hồng Công. Làm ăn vẫn luôn là làm ăn. 25 tỷ phú của bán đảo giàu nhất Trung Hoa lục địa vẫn sống ổn ở những khu sang trọng thuộc "đất mới", Bắc Kinh hoặc Thượng Hải. Tỷ phú Li Ka-Shing vừa bỏ ra 670 triệu USD để mua 13 hécta đất, luôn đi lại trên một chiếc Bentley và sống trong một khu dinh cơ trị giá 60 triệu USD. Li không uống chè của mình, vì nói rằng có thể nó không ngon. Cả những người dân của cái làng nghèo đói và hẻo lánh Zhaoxing cũng hàng nghìn hàng vạn gia đình nghèo khác ở Trung Quốc cũng nghĩ như thế. Những ngôi nhà rách nát và nghèo đói ở Quý Châu và những tòa nhà chọc trời ở VictoriaPeak là mặt thất bại của một thành công lớn. Người ta nhìn thấy được điều ấy, nhưng chính việc "không biết phải làm gì" vì không thể ngừng lại được quá trình tăng trưởng liên tục đã trở thành một nỗi ám ảnh lớn lao ở một nước Trung Hoa hai mặt. Một bức Vạn lý trường thành lớn đang ngăn cách những siêu đô thị giàu có chạy dọc bờ biển phía Đông với các vùng nông thôn lục địa, vài nghìn người giàu nứt đố đổ vách với 1 tỷ người nghèo khổ, những người sinh ra ở thành phố và những người chào đời ở nông thôn. Hơn 20 năm qua đã như thế rồi. Bây giờ, người dân bắt đầu cảm thấy hoảng hồn trước một quá trình tăng tốc kinh tế trước nay chưa từng thấy, càng tạo ra hố ngăn cách lớn thêm nữa. Nước Trung Hoa hai mặt thực ra giờ đã tách làm ba.

 

Nước Trung Hoa đầu tiên có 800 triệu dân và 200 triệu người di cư không có bất cứ quyền lợi gì với mức thu nhập chỉ 25 USD một ngày. Nước Trung Hoa thứ hai có 250 triệu công nhân và doanh nghiệp nhỏ với một vài đặc quyền đặc lợi, sống với thu nhập tổng cộng khoảng 3.000 USD/năm sống trong các khu đô thị. Nước Trung Hoa thứ ba có 50 triệu đảng viên của Đảng Cộng sản Trung Quốc, các nhà lãnh đạo chính trị và 89 tỷ phú cùng nhau nắm vận mệnh chính trị và kinh tế của quốc gia. Trung Quốc hiện đang đứng thứ 2 trên thế giới về số lượng người nghèo, sau Ấn Độ, đứng sau châu Âu về giai cấp trung lưu và còn thua xa Mỹ về số người giàu. Trong vòng 5 năm tới, Trung Quốc sẽ đứng đầu thế giới trong tất cả các lĩnh vực này và đạt một kỷ lục mà trên thực tế chẳng có gì vui vẻ lắm. Đấy sẽ không chỉ là quốc gia có số lượng người giàu và nghèo cao nhất thế giới mà còn là quốc gia duy nhất thế giới trong 20 năm qua không những giảm được số lượng người nghèo mà còn làm cho con số đó tăng gấp đôi. Đối với những ai sống trong cảnh đói nghèo, thì kể từ năm 1995, mức độ nghèo đói của họ đã tăng gấp đôi, trong khi số người giàu tăng gấp 8 lần. Thế hệ đầu tiên, những người đã hoàn thành xong ý nguyện xây dựng đất nước của các bậc ông cha, đang già đi. Họ gồm 170 triệu người trên 65 tuổi và giờ gần như đã bị gạt ra ngoài guồng quay của xã hội. Nền kinh tế lớn thứ ba toàn cầu lại không có đủ khả năng thay đổi để nắm lấy vai trò mới. Yan Chengzhong, Giám đốc Viện phát triển kinh tế của Đại học tổng hợp Donghua cho rằng "Lần đầu tiên, thế giới được lãnh đạo bởi một quốc gia có sự hòa trộn giữa chủ nghĩa cộng sản theo chính sách tập trung một đảng với nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Nó là sản phẩm của sự kết thúc Chiến tranh Lạnh. Nhưng chính toàn cầu hóa lại đòi hỏi mô hình ấy cần những sáng tạo mới".

 

Trong vòng 2 năm tới, Chủ tịch nước Hồ Cẩm Đào và Thủ tướng Ôn Gia Bảo sẽ rời khỏi vũ đài chính trị. Những hình ảnh của Zhaoxing và Hồng Công không chỉ đại diện cho 2 mặt của nước Trung Quốc mà còn phản ánh sự bất lực của quyền lực và những hạn chế của Trung Quốc. Hạn chế đầu tiên, cùng với chính sách một con, là hộ khẩu. Chính sách cư trú được đưa ra vào năm 1958 này là để đảm bảo cho các công dân, ở đây là người vô sản, thể hiện sự vượt trội của mình so với nông dân. Điều ấy giờ vẫn còn có ảnh hưởng trong cả thời đại của Internet. Đối với nhà nước, con cháu của những người nhập cư nông thôn ra thành thị cũng vẫn cứ là nông dân, trong khi bản thân những người ấy có khi cả đời chưa nhìn thấy cái cày là gì. Nhưng sự tăng trưởng kinh khủng của Trung Quốc, động lực phát triển đối với cả phương Tây, được dựa trên việc vắt kiệt sức lực của hơn 200 triệu "lao động", những người thậm chí không có cả quyền được sống ở nơi mà họ có thể sống, ngay trong đất nước của mình. Điều đáng lo ngại là thế hệ thứ hai, giờ đã tỉnh ngộ. Trước khi diễn ra Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc của Trung Quốc, 13 tờ nhật báo đã đồng loạt đăng một xã luận nhằm chống lại chính sách hộ khẩu. Thế nhưng bài báo ấy đã bị kiểm duyệt trên Internet, còn tác giả của nó, Phó Tổng biên tập tờ "Người quan sát kinh tế", bị sa thải. Giữa Zhaoxing và Hồng Công đã bắt đầu mọc lên một sa mạc xã hội, với 37 triệu công nhân mất việc làm khi mùa Xuân đến, 20 triệu "phụ nữ mất việc", 58 triệu trẻ em sống ở các thành phố nhưng không đủ điều kiện để đến trường, 1 triệu cử nhân ra trường không kiếm được việc làm.

 

Nước Trung Quốc già nua của chủ nghĩa tư bản, vô địch trong việc bán ra các sản phẩm nhưng lại bất lực trong việc tạo ra những ý tưởng mới mẻ cho riêng nó và cho thế giới, đang lâm vào hoàn cảnh giống hệt châu Âu và nước Mỹ hiện tại. Đấy là một tin rất xấu và Xie Jianshe, nhà phân tích tài chính đã rời Hồng Công đến Thượng Hải để làm chuyên gia tài chính, có thể giải thích điều đó một cách rất đơn giản. Theo anh, Trung Quốc vẫn là một nước cộng sản và điều đó thể hiện ra trong cuộc khủng hoảng kinh tế vừa qua. Để vượt qua cuộc khủng hoảng ấy, Bắc Kinh đã bỏ ra 586 tỉ USD ngân sách để hỗ trợ nền kinh tế. Số tiền ấy chảy vào các hệ thống đường sá giao thông, các nhà máy cũ kĩ và những tòa nhà chọc trời vốn là của chính họ. Ngay cả đất đai cũng thuộc nhà nước quản lý, cũng như các ngân hàng vốn thường đưa ra các khoản vay. Để kiếm tiền và sự nghiệp, 45 triệu quan chức địa phương đã đem bán các lô đất của mình. Cùng với những hợp đồng kếch xù và các khoản vay thế chấp, 75 triệu đảng viên sống ung dung. 70% GDP của Trung Quốc, với mức tăng trưởng kỳ ảo trong suốt 10 năm liên tiếp ở mức 8%, chính là khoản tiền mà nhà nước chuyển sang cho chính họ. Xie Jianshe nói: "Nhưng theo cách ấy, số người tiêu dùng trong nước không hề tăng lên trong khi giá đất và các bất động sản bắt đầu tăng, đồng nhân dân tệ không thể phá giá. Việc đô thị hóa và xuất khẩu hàng hóa là 2 trụ cột phát triển của Trung Quốc. Quá trình đô thị hóa là giả tạo, cũng như bong bóng bất động sản mà các ngân hàng kích thích và điều khiển là theo sự chỉ đạo của chính phủ. Quá trình thứ hai chủ yếu nhằm vào các hàng hóa ít giá trị công nghệ nhằm làm giảm áp lực lạm phát từ phía bên ngoài".

 

Nhiều triệu phú Trung Quốc, tập trung chủ yếu ở Hồng Công và Thượng Hải, cho rằng đất nước Trung Hoa hai mặt này vẫn sẽ chia rẽ làm ba, bởi "nó cần phải tồn tại như vậy". Nó tồn tại bởi nó cần phải sản xuất hàng hóa cho phương Tây, nhờ hàng triệu người Trung Quốc bị ám ảnh bởi nỗi sợ hãi không có đủ tiền tiết kiệm để mua nhà cửa và các đồ tiêu dùng khác. Nhưng còn một điều nguy hiểm hơn nữa đang tồn tại: thiếu những cải cách cần thiết. Theo Xie Jianshe: "Sự ổn định luôn là điều được các nhà lãnh đạo dưới ảnh hưởng của Mao Trạch Đông nhấn mạnh và họ chết già mà không hề hiểu được Warren Buffet (tỷ phú người Mỹ). Chưa bao giờ cái gọi là những người "bán hàng phương Đông" lại phải nai lưng ra làm việc nhằm giải quyết vấn đề nợ nần của những cái gọi là "khách hàng phương Tây" đến như thế. Đối với những người nông dân bị quên lãng của tỉnh Quý Châu, tình trạng "hỗn loạn về lợi ích" như thế đơn giản chỉ là "chiếc áo pijama đã được giặt sạch của sự bất công xã hội". Trong vòng 6 tháng qua, hơn 60 nghìn công nhân đã bị sa thải khi các nhà máy lần lượt đóng cửa. Nước Trung Quốc của những công xưởng và nhà máy sản xuất hàng hóa cho thế giới giờ đang đứng trước nguy cơ "mất giá", khi lần đầu tiên các nhà đầu tư rời bỏ Quảng Đông, Phúc Kiến, Chiết Giang, những mỏ vàng của thế giới toàn cầu hóa những năm đầu thế kỷ 21, để sang Việt Nam, Campuchia và Thái Lan. Nhà văn Han Han, người đã bán được hơn 2 triệu cuốn tiểu thuyết của mình và blog của anh được hơn 300 nghìn người truy cập mỗi ngày, nói: "Các nhà lãnh đạo của chúng tôi là những kẻ mơ mộng. Chúng tôi muốn trở thành Nhật Bản và Hàn Quốc. Sau 10 năm, chúng tôi trở lại với gấu trúc và trà xanh". Một so sánh kỳ quặc, nhưng đầy thực tế. Trung Quốc cho rằng quá trình tăng trưởng của họ là hoàn hảo và khi đã gần đạt được mục tiêu, họ nhận ra rằng cỗ máy đang trục trặc. Xie Jianshe kết luận: "Nếu không có những cải cách, thời kì quá độ sẽ trở thành một quá trình đi sửa chữa những sai lầm".

 

Vào thời điểm chúng tôi chia tay, những người dân ở làng Zhaoxing bắt đầu hát bài hát đang phổ biến ở thủ đô: "Chúng ta đã chất lên lưng những con lừa hàng túi vàng". Trong khi ấy, tỉ phú Li Ka-shing qua đêm một cách yên ả ở Hồng Công, sau khi nhảy và hát theo điệu nhạc của Michael Jackson. Điều ấy chẳng có gì mới. Nhưng trong cái thế giới mà họ gọi là phát triển hài hòa ấy, 2 nước Trung Hoa cũ kĩ giờ đây đang sống trong sự lo ngại và không biết họ có thể "hoàn thành" sứ mệnh xây dựng đất nước của mình không./.

 

 

 

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 5246 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin