27 - 11 - 2020 | 10:46
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home
Tag:Trường sa

Bài viết của PGS.TS Vũ Dương Huân phân tích bản chất các lập luận của Trung Quốc về cái gọi là "chủ quyền lịch sử”của họ đối với Hoàng Sa, Trường Sa và vùng biển nằm trong đường lưỡi bò.

 

Tóm tắt

Tranh chấp hiện nay ở Biển Đông[1] giữa các nước/bên có liên quan gần đây trở nên căng thẳng hơn khi mà các bên tranh chấp gia tăng hoạt động thực hiện quyền kiểm soát, quản lý của mình đối với các vùng biển, đảo mà họ yêu sách chủ quyền, dẫn đến nhiều vụ va chạm và đấu khẩu, đặc biệt là giữa Trung Quốc với Việt Nam và Phi-líp-pin. Đáng chú ý là trong số các nước/bên tranh chấp hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, thì Trung Quốc và Việt Nam đều khẳng định rằng mình đã khám phá, chiếm hữu và thực thi chủ quyền lâu đời tại các quần đảo này. Bài viết này tập trung phân tích bản chất các lập luận của Trung Quốc về cái gọi là "chủ quyền lịch sử”của họ đối với Hoàng Sa, Trường Sa và vùng biển nằm trong đường lưỡi bò.

Vài nét khái quát về Luật quốc tế liên quan đến thụ đắc lãnh thổ

"Thụ đắc lãnh thổ" là việc thiết lập ranh giới địa lý chủ quyền của một quốc gia đối với một vùng lãnh thổ mới theo những phương thức phù hợp với nguyên tắc của pháp luật quốc tế. Việc xác lập chủ quyền quốc gia đối với một vùng lãnh thổ phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định của luật pháp quốc tế, đặc biệt là các nguyên tắc về thụ đắc lãnh thổ.

Nguyên tắc thứ nhất là "bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia”. Đó là quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của mình và quyền tự chủ của quốc gia trong các quan hệ quốc tế, là thuộc tính chính trị pháp lý không tách rời của quốc gia.

Nguyên tắc thứ hai là "cấm sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực”.  Nguyên tắc này hình thành trong đấu tranh chống chủ nghĩa phát-xít và được khẳng định trong Hiến chương Liên Hợp Quốc (LHQ). Tiếp đó Nghị quyết 26/25 năm 1970 của Đại hội đồng LHQ về các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế đã quy định: “Lãnh thổ của một quốc gia không thể là đối tượng của việc thụ đắc bởi một quốc gia khác bằng việc đe dọa hoặc sử đụng vũ lực. Việc thụ đắc lãnh thổ bằng việc đe đoạ hoặc sử dụng vũ lực không được thừa nhận là hợp pháp”. Cùng  với sự phát triển các mối quan hệ quốc tế, nội dung của nguyên tắc này cũng được mở rộng, bao quát cả việc cấm sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực trong các quan hệ phi vũ trang. Định ước Hen-xin-ki năm 1975 viết: "Các quốc gia tham gia sẽ khước từ sử dụng mọi biện pháp mang tính cưỡng bức đối với các quốc gia thành viên khác, khước từ tiến hành hành vi về kinh tế".[2]

Nguyên tắc thứ ba là giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế. Nguyên tắc này được ghi nhận tại Khoản 2, Điều 2 Hiến chương LHQ, Điều 279, Điều 299 Công ước luật Biển năm 1982...

Nguyên tắc thứ tư là "dân tộc tự quyết”, được thể hiện trong nhiều văn bản pháp lý quốc tế quan trọng như Hiến chương LHQ, Tuyên bố của Đại hội đồng LHQ về các nguyên tắc điều chỉnh quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia (1970)...  Theo nguyên tắc này thì mọi sự thay đổi lãnh thổ phải phải dựa trên ý chí dân cư sinh sống trên lãnh thổ đó. Tuy nhiên, nguyên tắc này không loại trừ những phương thức xác lập chủ quyền lãnh thổ khác.

Nguyên tắc thứ năm là “chiếm hữu thật sự”. Vào thế kỷ VIII-XV, Đức Giáo hoàng có quyền ban quyền chiếm hữu. Vào thế kỷ XVI, nguyên tắc này bị phản đối và xuất hiện một phương thức mới đó là quyền khám phá. Sau này, người ta bổ sung một điều kiện nữa, là sự chiếm hữu tượng trưng. Quốc gia chiếm hữu phải để lại trên lãnh thổ một cái gì tượng trưng cho ý chí muốn chiếm hữu của mình như bia đá, cờ, cột mốc... Đến thế kỷ XVIII, tại Hội nghị Berlin 1885 về phân chia đất ở châu Phi, đã hình thành nguyên tắc chiếm hữu thực sự và thi hành chủ quyền trên lãnh thổ được chiếm hữu. "Nếu phát hiện mà không có những hành vi xác lập chủ quyền, không có hành động chứng tỏ vùng đất được quản lý bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì phát hiện chỉ là phôi thai tạo ra danh nghĩa ban đầu mà thôi. Vì vậy cần có những hành động xác lập, củng cố và thực hiện chủ quyền quốc gia một cách thực sự trên vùng đất đó bởi cơ quan nhà nước".[3]  Định ước Berlin[4] cũng đề ra quy định: quốc gia chiếm hữu phải thông báo sự chiếm hữu của mình cho các quốc gia khác. Nguyên tắc chiếm hữu thực sự và hành xử chủ quyền sau này đã trở thành tập quán quốc tế và là cơ sở cho sự chiếm hữu lãnh thổ vô chủ trong luật quốc tế hiện đại. Đó cũng là một phương pháp thụ đắc lãnh thổ Tuy nhiên, thông báo không phải là một tập quán quốc tế, chỉ áp dụng cho trường hợp chiếm hữu thuộc phạm vi của Định ước Berlin.

Như vậy, theo luật quốc tế, sự chiếm hữu lãnh thổ phải bao gồm cả hai yếu tố. Yếu tố vật chất được thể hiện qua việc chiếm hữu thực sự và hòa bình, đồng thời thực thi một cách liên tục chủ quyền trên lãnh thổ đó . Còn yếu tố tinh thần có nghĩa là quốc gia phải có ý định thực sự chiếm hữu vùng lãnh thổ đó. Ngoài ra, trong thực tiễn pháp lý quốc tế còn có khái niệm từ bỏ lãnh thổ. Sự từ bỏ lãnh thổ cũng phải hội đủ cả hai yếu tố vật chất và tinh thần.

Tuy nhiên, xuất phát từ đặc thù riêng của chế định lãnh thổ , không phải bất kỳ một sự thụ đắc lãnh thổ nào cùng đều phải tuân thủ tất cả các nguyên tắc của luật pháp quốc tế cũng như điều kiện chiếm hữu. Một sự chiếm hữu lãnh thổ hợp pháp phải có đủ ba điều kiện như sau:

Một là, đối tượng của sự chiếm hữu lãnh thổ phải là đất vô chủ (res nullius), hoặc là đã bị chủ từ bỏ (res derelicta).

Hai là, người chiếm hữu phải là một quốc gia, chứ không phải là tư nhân

Ba là, phải tuân thủ các phương pháp thụ đắc lãnh thổ sau: chiếm hữu thực sự và hành xử chủ quyền (occupation effectivité), qua chuyển nhượng (cession), do  tác động tụ nhiên (acretion), thời hiệu (acquisited prescription), củng cố chủ quyền  bằng danh nghĩa lịch sử. . . Phương pháp "củng cố chủ quyền bằng danh nghĩa lịch sử” được áp dụng nếu quốc gia đã sử dụng lâu đời một lãnh thổ khác mà không có phản đối của một quốc gia khác.

Những tiêu chuẩn trên đã được áp dụng thường xuyên bởi án lệ quốc tế, chẳng hạn như trong những bản án về tranh chấp đảo Palmas, đảo Groenland, đảo Minquier và Ecrehous . . .

Trung Quốc có "chủ quyền lịch sử" đối với Hoàng Sa và Trường Sa không?

Trung Quốc cho rằng họ có "chủ quyền lịch sử” đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Sách Trắng của Trung Quốc về chủ quyền đối với quần đảo Tây Sa (tức Hoàng Sa) và Nam Sa (tức Trường Sa), cũng như một số tài liệu nghiên cứu (tiêu biểu là cuốn Tổng hợp sử liệu các đảo Nam Hải của Trung Quốc của Hàn Chấn Hoa) đã đưa ra kết luận rằng Trung Quốc là nước đầu tiên phát hiện, khai thác và cai quản quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ hàng nghìn năm nay. Để chứng minh họ dựa vào một số sử liệu sau:

Thứ nhất, là cuốn Dị vật chí, có từ thời Đông Hán (từ năm 25 đến 220 sau Công nguyên) và nay đã thất truyền. Một số tác giả thuộc các triều đại Tống, Minh, Thanh đã trích dẫn như sau "Có những đảo nhỏ, cồn cát, đá ngầm, và băng cát tại Nam Hải, nơi đó nước cạn và đầy đá nam châm…”[5].  Nội dung này rất mơ hồ vì không nói rõ tên đảo. Học giả Hàn Chấn Hoa đã dựa vào đó cho là Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa).

Thứ hai, là cuốn Nam châu Dị Vật Chí (thời Tam Quốc 220-265) mô tả về các đảo đá và cát ở Biển Đông, trong đó có đoạn nói đến chỗ nước nông và có đá nam châm nguy hiểm cho tầu bè qua lại.[6]

Thứ ba, là cuốn Zuo Zhuan (thời Xuân Thu), có đoạn viết: "Triều đại vẻ vang của nhà Chu trấn an dân man di để viễn chinh vùng Nam Hải để làm sở hữu của Trung Hoa…”[7] Ờ đây chỉ nói Nam Hải chung chung, không nhắc đến đảo nào.

Thứ tư là cuốn Chư Phiên Chí (thế kỷ XIII), có đoạn mô tả vị trí địa lý đảo Hải Nam như sau: "Nam đối diện với Chiêm Thành, phía Tây nhìn sang Chân Lạp, Đông thì Thiên Lý Trường Sa và Vạn Lý Thạch Đường xa xôi không bờ đại dương vô tận…”[8]. Với đoạn mô tả này không thể khẳng định Thiên Lý Trường Sa và Vạn Lý Thạch Đường thuộc Trung Quốc.

Thứ năm, là cuốn Hải Lục (On the Sea) của tác giả Hoàng Chung thuộc đời Minh có đoạn chép như sau: "Vạn Lý Trường Sa nằm Ở Đông Nam của Vạn Lý Thạch Đường…”[9]. Ở đây cũng không nói lên điều gì liên quan đến chủ quyền của Trung Quốc. Hơn thế nữa, có tài liệu còn thừa nhận có sự liên quan giữa các quần đảo đó với Việt Nam. Thứ sáu, là cuốn Hải Lục của Vương Bình Nam (1820-1842), có đoạn viết: "Lộ trình phía ngoài được nối liền với lộ trình phía trong bởi Vạn Lý Trường Sa nằm giữa biển. Chiều dài của quân đảo khoảng vài ngàn dặm. Nó là bức màn phòng thủ phía ngoài của An Nam”[10].

Dựa vào các tài liệu nói trên, Trung Quốc khẳng định rằng họ đã khám phá ra hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ đời nhà Hán (năm 206 trước Công nguyên). Trong khi đó, cũng lại có một số tác giả người Hoa khác xác định là những tài liệu sớm nhất nói về sinh sống của người Trung Quốc trên những đảo này, thuộc đời nhà Tống (thế kỷ XIII)[11]. Các trích đoạn sử liệu mà Trung Quốc đã đưa ra mô tả không rõ ràng một số vị trí trong lộ trình đi ngang qua Biển Đông của các tầu thuyền Trung Hoa mà thôi. Mặt khác, các trích dẫn trước thế kỷ XIII cũng chỉ nói đến biển mà họ gọi là Nam Hải, không có bất kỳ tên đảo nào. Các tài liệu từ thế kỷ XIII mới bắt đầu nêu tên đảo, nhưng không có tài liệu nàn nói đến Hoàng Sa (Xisha) và Trường Sa (Nansha). Nhiều chỗ cho thấy rõ ràng Wanlishitang (Vạn Lý Thạch Đường) mà Trung Quốc nói là Nansha (Nam Sa) thực tế không phải là Nansha mà là đảo khác. Không có một tài liệu nào nói đến tên Xisha (Tây Sa) và Nansha (Nam Sa) và chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo này.[12] Những sách lịch sử và địa lý của Trung Quốc nhắc đến rất nhiều tên như Qizhou yang, Quianlishitang, Qianli  Chang sha, . Wanlishitang, Jiuruluozhou, Zizhousan Có không ít mâu thuẫn trong lập luận của các học giả Trung Quốc. Dựa vào câu trích dẫn trong sách Hải Lục, nếu chấp nhận hai cái tên Qizhou Yang và Wanlishitang lần lượt ám chỉ Trường Sa (Nansha) và Hoàng Sa (Xisha), thì Vạn Lý Trường Sa phải là Nansha, còn Vạn Lý Thạch Đường phải là Xisha. Song, cuốn Nguyên Sử thì lại giải thích Vạn Lý Thạch Đường (Wanlishitang) là Trường Sa (Nansha) và Qizhou Yang là Hoàng Sa (Xisha). Nếu đối chiếu với đoạn trích sau của cuốn sách Chư Phiên Chí “ phía Đông Hải Nam là Thiên Lý Trường Sa và Vạn Lý Thạch Đường", thì có thể xác định Vạn Lý Thạch Đường là Macclesfield Bank.[13] Một đoạn trích khác trong cuốn Nguyên Sử: " . . . thuyền đi qua Qizhou Yang và Wanlishitang, ngang Jiaozhi (Giao Chỉ) và Zhangcheng (Quy Nhơn),…” cho phép khẳng định Wanlishitang thực ra là Macclesfield Bank. Nếu theo thứ tự trước sau trong lộ trình thì Wanlishitang không thể là Trường Sa (Nansha), mà là Macclesfield Bank vì thuyền không thể đi ngang qua Nansha trước khi đi qua Giao Chỉ được. Vậy mà, giờ đây, Trung Quốc nói rằng tất cả những tên đó đều ám chỉ Xisha và Nansha? Nhận định đó quả thực rất khó thuyết phục. Một bộ chính sử lớn của Trung Quốc là Minh sử khẳng định dưới thời nhà Minh các đảo lớn như Đài Loan, Bành Hồ liên quan trực tiếp đến an ninh của đất nước vẫn chưa thuộc lãnh thổ Trung Quốc và tuyên bố duyên hải là phía Đông lục địa Trung Quốc và đảo Hải Nam. Những đảo nhỏ xa xôi, heo hút như quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa không thuộc Trung Quốc là điều dễ hiểu.[14]

Xét ở góc độ thực thi chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa, Trung Quốc đưa ra những dẫn chứng bao gồm các cuộc tuần tra, cuộc viễn chinh và những di vật đào bới được từ các đảo. Đoạn trích sau đã được phía Trung Quốc sủ dụng “Chính quyền nhà Chu thuộc thời Xuân Thu không những chinh phục những “dân man rợ” ở phía Nam, mà cũng tổ chức những cuộc viễn chinh trên những đảo của biển Nam Hải để chiếm làm đất Trung Hoa…”.[15] Đây không đoạn trích từ tài liệu lịch sử , mà là kết luận của giáo sư Wang Hengjie thuộc Trung tâm nghiên cứu các sắc tộc thiểu số, vào năm 1991. Kết luận của nhà nghiên cứu được rút ra dựa trên việc khảo cổ trên quần đảo Hoàng Sa. Nhận định thiếu cơ sở khoa học. Một đoạn trích khác của tác giả Shen trong Hậu Hán thư có ghi: “Chen Mao được bổ nhiệm làm quan Thái thú ở tỉnh Giao Chỉ (Jiaozchi) đã có những cuộc tuần tiễu và thám thính trên (các đảo của) biển Nam Hải”.[16] Đoạn trích này cũng không có chỗ nào nói đến Hoàng Sa và Trường Sa, mà chỉ là thám thính Nam Hải mà thôi. Trong cuốn Nam châu dị vật chí (Nanzhou Yiwu Zhi), Shen kể về những  lính thủy nhà Hán đi viễn chinh từ bán đảo Ma-lai-xi-a trở về Trung Hoa: “đi thuyền về phía Đông Bắc, người ta gặp rất nhiều đảo nhỏ, đã ngầm, bãi cát ngầm, trở nên rõ rệt tại biển Nam Hải, nơi đây nước cạn và có nhiều đã nam châm”.[17] Ở đây cũng không hề có chỗ nào nói đến viễn chinh hay đi tuần quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, mà chỉ nói chung chung là viễn chinh tại các vùng như Ma-lai-xi-a, Bornéo hoặc đi thuyền qua Biển Đông mà thôi. Ở một chỗ khác, dựa vào sách Quảng Đông tổng chí (General Record of Quangdong) của Hao Yu-lin, quan trông coi các vấn đề biển Nam Hải thời đó, có đi tuần tiễu và thám thính tại biển Nam Hải (xing bu ra hai), Shen kết luận: chính quyền địa phương thời nhà Tấn đã gửi tàu đi tuần tiễu trên vùng biển, thực hiện chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.[18] Cũng như trên, tác giả không trích trực tiếp đoạn nào từ Quảng Đông tổng chí ghi lại sự kiện trên, chỉ trích bốn chữ tiếng Trung được ghi trong dấu ngoặc là “xing bu ra hai”. Trung Quốc nêu rằng thế kỷ XV thời Minh, nhà thám hiểm Cheng Ho (Trịnh Hòa) đã đi quan Biển Đông 7 lần và khi trở về đã đưa Hoàng Sa và Trường Sa vào bản đồ.[19] Tuy nhiên, những chuyến đi này hoàn toàn không hề có sự chiếm hữu hai quần đảo nói trên.[20] Mục đích các chuyến đi của Trịnh Hòa là để biết địa hải, tìm mối giao thương và phô trương lực lượng với các quốc gia trong vùng, chư hầu của Trung Hoa.[21] Tác giả Samuels kết luận rằng ngay trong thời ấy các đảo vẫn không được Trung Hoa chú ý tới.[22]

Rõ ràng những trích đoạn sử liệu ở trên chỉ nói đến những chuyến đi thám thính biển Nam Hải chứ không phải là những chuyến đi thực hiện chủ quyền ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Như vậy, có thể kết luận rằng những trích dẫn sử liệu trước thế kỷ XIII của Trung Quốc cho thấy các thuyền của Trung Quốc có đi lại trên biển Nam Hải, song không nói đến một tên đảo nào trong hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Những tài liệu đầu tiên nêu tên đảo là những tài liệu cuối đời nhà Nguyên và dưới đời nhà Tống (thế kỷ XIII). Tuy nhữngtài liệu này nói đến Thiên Lý Trường Sa, Vạn Lý Thạch Đường, song không cho biết rõ được có phải là là Xisha và Nansha hay không, nhất là Vạn Lý Thạch Đường, được tả nằm ở phía Đông đảo Hải Nam, đương nhiên không phải là Nansha, mà có thể là Macclesfield Banh. Các sử liệu nói trên cũng chỉ cho thấy Trung Quốc đã thực hiện các cuộc thám thính và viễn chinh trên Biển Nam Hải, đặc biệt là tới vùng Borneo của Ma-lai-xi-a, không chứng minh được rằng họ đã thực sự tiến hành tuần tiễu và thực hiện chủ quyền tại các đảo ở Hoàng Sa và Trường Sa. Các lập luận dựa vào một số di chỉ khảo cổ trên đảo Hoàng Sa (gồm một số hiện vật đồ gốm . . . có tuổi khoảng từ năm 420 cho đến thời nhà Thanh) để kết luận chủ quyền của Trung Quốc trên các đảo đó cúng không đủ cơ sở chắc chắn cả về khoa học lẫn pháp lý. Những hiện vật đó nếu quả thật là có chỉ nói lên rằng đã có những cá nhân hoặc nhóm người có mặt trên đảo. Họ có thể là người Trung Quốc, nhưng cũng có thể là người từ Việt Nam tới đó để sinh sống hoặc chỉ ghé qua trên đường đi biển làm ăn mà thôi. Mặt khác, về mặt pháp lý chưa đủ cơ sở để khẳng định được đó là sự chiếm hữu lãnh thổ do một quốc gia thực hiện. Những gì họ đã làm là chỉ đi ngang, tình cờ thấy, không hề chiếm hữu và thực thi chủ quyền, để rồi mấy thế kỷ sau khi quốc gia khác chiếm, mới cho rằng mình đã khám. Thực ra, Trung Quốc chỉ mới “biết” chứ không phải khám phá.[23] Giả dụ rằng Trung Quốc đã khám phá thì điều này cũng chỉ tạo cho Trung Quốc cái quyền khám phá, một thứ quyền phôi thai (inchoatetitle), nhưng Trung Quốc đã không hề chiếm hữu các đảo, dù là chiếm hữu tượng trưng, không hề thực thi chủ quyền đối với các đảo. Tòa án quốc tế đã phán quyết nhiều lần rằng quyền khám phá phải được hoàn tất bởi sự chiếm hữu, trong một thời gian tương đối, thì mới có hiệu lực.[24] Giáo sư người Mỹ Marwyn Samuels nhận định rằng Trung Quốc cuối nhà Minh và nhà Thanh không quan tâm đến vùng biển ngoài khơi mà chi chú tâm đến việc trấn giữ biên cương nội địa, vùng Tân Cương, Mông Cổ và biên giới phía Bắc, nên lực lượng hải quân rất kém.[25] Mặc dù có lực lượng hải quân hùng mạnh vào thời Nguyên, song Trung Quốc cũng vẫn chưa để ý đến những đảo ngoài khơi biển Đông và không có ý định chiếm hữu chúng.[26] Thậm chí, các tầu thuyền của Trung Quốc không dám đến gần các đảo này vì sợ đá ngầm và mắc cạn. Đã có câu tục ngữ truyền trong thủy thủ người Hoa rằng: "Trên đường đi ra thì sợ Thất Châu (tức là Thất Châu Dương mà Trung Quốc bây giờ cho là Xisha), trên đường đi về thì hãi Côn Lôn".[27] Chính vì  vậy, trong một thời gian dài, Trung Quốc đã im lặng và không phản đối việc Việt Nam thực thi chủ quyền trên các đảo này, mặc dù biết rõ những hoạt động của Hải Đội Hoàng Sa và Hải Đội Bắc Hải của các triều đình phong kiến Việt Nam. Nó cũng được kiểm chứng bởi vụ đắm tàu La Bellona và Imeji Maru.[28]

Như vậy, thực tế lịch sử cho thấy rằng Trung Quốc không những đã không thực thi chủ quyền, mà gần như mặc nhiên công nhận  trên thực tế chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa.

Hiệp ước Pháp - Thanh ngày 26/6/1887

Trung Quốc còn dẫn chiếu Hiệp ước Pháp - Thanh, ký ngày 26/6/1887 tại Bắc Kinh, phân chia biên giới giữa Trung Quốc và miền Bắc Việt Nam để biện luận cho yêu sách chủ quyền của họ đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Điều 3 của bản Hiệp ước ghi: "Từ Quảng Đông, những điểm tranh chấp nằm từ phía Đông đến phía Tây Bắc của Móng Cái ngoài biên giới đã được hai phái bộ xác định, có thề coi là thuộc về Trung Quốc. Những hòn đảo nằm ở phía đông dọc đường kinh tuyến đông 105°43’ của Paris, có nghĩa là trục Bắc Nam đi qua điểm phía Đông của đảo Tch'a Kou hay Ouan-Chan (Trà Cổ) và làm thành đường biên giới, cũng thuộc về Trung Quốc. Các đảo Go-tho và các đảo khác nằm phía Tây của đường kinh tuyến thuộc về An Nam".[29] Dựa vào Điều khoản này, Trung Quốc cho rằng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở phía Đông của ranh giới ấy nên thuộc về Trung Quốc.

Giải thích như vậy của Trung Quốc là hoàn toàn không đúng với tinh thần của Hiệp ước. Thực tế, Hiệp ước 1887 được ký kết căn cứ vào Điều 3 của Hiệp ước Pháp-thanh ngày 6/9/1885 nhằm giải quyết xung đột giữa hai bên liên quan đến Việt Nam. Sau khi Pháp - Thanh ký Hiệp ước 1885 về việc Thanh công nhận ảnh hưởng của Pháp ở Việt Nam, chính quyền Quảng Đông, Quảng Tây và Vân Nam vẫn cho quân vượt biên giới - sang Bắc Việt Nam. Phía Pháp và nhà Thanh đã đi đến thỏa thuận sẽ lập một Ủy ban hoạch định biên giới để giải quyết tình hình trên. Sau đó, hai bên đã xác định đoạn biên giới với Quảng Tây ổn thỏa, song không nhất trí được hai đoạn biên giới Quảng Đông và Vân Nam. Từ đó mới có Hiệp ước 1887 với mục đích giải quyết bất đồng này. Ở Quảng Đông, có quân thổ phỉ từ Trưng Hoa sang tập trung ở vùng Bạch Long Vĩ và những đảo quanh đó, nên Pháp đã đưa quân đến chiếm đóng. Trung Hoa phản đổi, đòi vùng này là vùng cửa Trung Hoa, do đó, mới xảy ra sự tranh chấp[30]. Hiệp ước 1887  được ký chủ yếu liên quan đến ranh giới đất liền và ranh giới phân chia những đảo nhỏ không quan trọng ở gần bờ biển Việt Nam và Trung Quốc. Hiệp ước khẳng định rõ điểm khởi đầu của đường phân chia ranh giới đi qua mũi đông của đảo Trà Cổ, song không chỉ điểm cuối bởi vì bề dài của nó tuỳ thuộc vào sự hiện hữu của những đảo gần bờ biển: Nếu theo cách hiểu của Trung Quốc để kéo dài đường ranh giới tới giao điểm với bờ biển miền trung Việt Nam thì tất cả các đảo ở phía Nam của Huế đều thuộc chủ quyền của Trưng Quốc.[31] Trong lập luận của Trung Quốc có mâu thuẫn: một mặt nói Hiệp ước 1887 áp dụng cho Hoàng Sa và Trường Sa, là những đảo nằm xa ngoài khơi nhưng mặt khác, khi bàn về biên giới vùng Bắc Bộ, họ lại khẳng định rằng Hiệp ước này chỉ phân chia "những đảo ở vùng vịnh Bắc Bộ", chứ không phải là biên giới biển.

Như vậy, mục đích của Hiệp ước 1887 là hoạch định biên giới giữa Việt Nam với tỉnh Quảng Đông và Vân Nam của Trung Quốc và đường biên giới hoạch định theo Điều 2 của Hiệp ước 1887 chỉ giới hạn ở biên giới miền Bắc Việt Nam và Vịnh Bắc Bộ mà thôi. Tên Hiệp “Convention relative à délimination de la frontier entre la Chine et le Tonkin”[32] (Công ước phân định biên giới giữa Trung Quốc và Bắc Việt Nam)  cũng đã nói rõ mục đích này. Mối quan tâm lớn của Pháp và Nhà Thanh lúc đó thực ra là vấn đề thương mại.[33] Sự tranh chấp Pháp – Thanh không liên quan đến Hoàng Sa và Trường Sa.

Cái gọi là sự "khước từ chủ quyền" của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Trung Quốc đưa ra ba sự kiện sau đây để khẳng định cái gọi là Việt Nam đã "khước từ chủ quyền” trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa:

Sự kiện thứ nhất liên quan đến phát biểu ngày 15/6/1956 của ông Ung Văn Khiêm, Thư trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH), khi tiếp Đại biện lâm thời nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa tại Việt Nam, được phía Trung Quốc cho rằng đã thừa nhận Hoàng Sa và Trường Sa là "thuộc lãnh thổ Trung Quốc"'. 

Sự kiện thứ hai là bức Công hàm của Thủ tướng phạm Văn Đồng ngày 14/9/1958 liên quan đến việc Trung Quốc tuyên bố ngày 04/9/1958 nới rộng vùng lãnh hải của họ ra 12 hải lý.

Sự kiện thứ ba là Tuyên bố của Chính phủ VNDCCH ngày 09/05/1965 liên quan tới vùng chiến đấu của quân đội Hoa Kỳ tại Nam Việt Nam.

Vậy thực chất vấn đề này là thế nào và tính chất pháp lý của lập luận mà Trung Quốc nêu ra dựa vào các tuyên bố của phía Việt Nam nói trên đến đâu?

Trước hết, cần đặt các tuyên bố nói trên của đại diện chính phủ Việt Nam trong bối cảnh thực tế tình hình những năm 1950- 1960 để hiểu đúng ý nghĩa và giá trị của chúng. Cụ thể là vào thời điểm những năm đó, VNDCCH đang phải chiến đấu chống lại đế quốc Mỹ xâm lược. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (CHNDTH) đang đoàn kết và ủng hộ tích cực nhân dân Việt Nam tiến hành kháng chiến chống lại đế quốc Mỹ. Quan hệ giữa VNDCCH và CHNDTH lúc đó là quan hệ đồng minh giữa hai nước XHCN anh em. Trước sự biểu dương lực lượng của Hạm đội 7 Mỹ trên eo biển Đài Loan lúc đó, Công hàm của Thủ tướng phạm Văn Đồng ngày 14/9/1958 là một cử chỉ của Chính phủ Việt Nam ủng hộ Trung Quốc về mặt chính trị chống lại sự khiêu khích của Mỹ, bởi vì việc nới rộng lãnh hải từ 3 hải lý ra 12 hải lý sẽ đẩy tàu chiến Mỹ ra xa ngoài biên giới CHNDTH hơn và làm giảm bớt khả năng đe dọa của chúng đối với lãnh thồ CHNDTH.[34] Tuyên bố ngày 09/5/1965 liên quan đến vùng chiến đấu cũng vậy, nó xảy ra vào lúc cuộc chiến tranh ở Việt Nam đang bước vào giai đoạn khẩn trương, với sự can thiệp quân sự trực tiếp của hàng chục vạn quân Mỹ. Một cuộc chiến tranh khốc liệt bắt đầu lan rộng ra cả hai miền Nam - Bắc Việt Nam. Trong bối cảnh như vậy, Tuyên bố của VNDCCH nhằm hạn chế khả năng Mỹ có những hành động quân sự ngoài lãnh thổ Việt Nam và Đông Dương, xâm phạm vào Trung Quốc.

Thứ hai, vì tập trung tất cả cho cuộc kháng chiến giải phóng đất nước, nên chúng ta chưa quan tâm thích đáng đến vấn đề biền, đảo và biên giới lãnh thổ, đã quá tin cậy những người đồng chí anh em Trung Quốc và có phần thiếu cảnh giác trước mưu đồ lâu dài của họ.

Thứ ba, xét về mặt pháp lý, thì những tuyên bố nói trên của Việt Nam không phải là các cam kết quốc tế có tính ràng buộc.

Theo Hiệp Định Giơ-ne-vơ 1954, Việt Nam bị chia làm hai miền với ranh giới là vĩ tuyến 17. Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm ở Nam vĩ tuyến đó nên thuộc sự quản lý của chính quyền Việt Nam Cộng hòa (VNCH) và các hành vi xác lập và thực thi chủ quyền ở hai quần đảo này thuộc thẩm quyền của chính quyển Sài Gòn. Chính phủ VNDCCH lúc đó không có thẩm quyền và không hề thực thi chủ quyền đối với hai quần đảo này. Năm 1956, khi Chính phủ Trung Quốc cho quân chiếm một phần quần đảo Hoàng Sa, Chính phủ VNCH đã phản đối mạnh mẽ. Như vậy, Hoàng Sa và Trường Sa thời kỳ đó là thuộc chủ quyền của VNCH và trên thực tế vẫn do Chính quyền VNCH chiếm giữ và quản lý. Tuyên bố của Thủ tướng phạm Văn Đồng năm 1958 chỉ là ủng hộ việc Trung Quốc tuyên bố có vùng lãnh hải 12 hải lý và không thể bị giải thích là sự công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quân đảo Hoàng Sa và Trường Sa. 

Đối với lời nói miệng của ông Ung Vàn Khiêm thì đó chỉ là phát biểu của một cá nhân, không phải là đại diện của Nhà nước Việt Nam đang quản lý và thực thi chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa - lúc đó là VNCH. Hơn  nữa, nếu như ông Khiêm có đủ thẩm quyền đại diện Nhà nước đi chăng nữa thì theo thực tiễn pháp lý quốc tế, một lời tuyên bố miệng của cá nhân không có hiệu lực pháp lý quốc tế. Điều 38 Quy chế Toà án Quốc tế không công nhận lời tuyên bố trở thành luật quốc tế và do đó không thể coi lời nói đơn phương có hiệu lực ràng buộc như luật quốc tế. Các vấn đề lãnh thổ phải được ràng buộc bằng các điều ước quốc tế, được các cơ quan có thẩm quyền phê chuẩn. Cuối cùng, không thể cố áp dụng lý thuyết estoppel, tức là “đã nói ra thì không nói ngược lại được", bởi vì lời tuyên bố trên chỉ diễn ra có mộtlần, không "được thực hiện một cách rõ ràng và liên tục", không "khiến cho một hoặc nhiều quốc gia dựa vào đó mà thay đổi hoạt động và phải chịu thiệt hại".[35] Tiến sĩ Balazc Szalotai, nhà nghiên cứu nổi tiếng về châu Á, đang sống tại  Hung-ga-ry nhận xét: những tuyên bố "không có tác dụng ràng buộc",[36] dù có "làm cho quan điểm của Việt Nam bị yếu đi một chút”.[37]

Đường lưỡi bò

Đường lười bò (còn gọi là đường chữ U) ở Biển Đông được Hu Jinjie vẽ lần đầu tiên vào tháng 12 năm 1914, sau khi nước Trung Hoa Dân Quốc giành lại nhóm đảo Dongsha (Pratas) từ tay Nhật Bản (1909). Các bản đồ của Trung Quốc xuất bản những năm 1920 và 1930 sau đó đều dựa trên bản vẽ của Hu về vùng biển này. Đương chữ U được Bai Meichu, một viên chức Trung Hoa[38] sử dựng lại vào cuối năm 1947. Các vùng phía bên trong đường này được coi là các vùng nước lịch sử. Lập luận của Bai Meichu về việc vẽ đường này không thực sự rõ ràng. Một điều cũng chưa rõ đó là liệu Bai có đủ kiến thức về luật hàng hải quốc tế trong thời điểm ông vẽ hay không. Đường chữ U xác định vùng của Trung Quốc và vùng nước bên trong nó thành các "vừng nước lịch sử”. Các bài báo của Trung Quốc đã cáo buộc về việc các nước khác xâm lấn vừng này. Một số tính toán sơ bộ về diện tích vùng "lấn chiếm" như sau: Việt Nam 1.170.000 km2,  phi-líp-pin 620.000 km2. Ma-lai-xi-a 170.000 km2, Bru-nây 50.000 km2 và In-đô-nê-xi-a 35.000 km2.[39]

Ngày 6/5/2009, Ma-lai-xi-a và Việt Nam nộp báo cáo chung về ranh giới ngoài thềm lục địa mở rộng khu vực phía nam Biển Đông lên Ủy ban ranh giới thềm lục địa LHQ (CLCS). Ngày 7/5/2009, Trung Quốc gửi công hàm lên Tổng thư ký LHQ để phản đôi, trong đó có đính kèm bản đồ đường chữ U" hay "đường 9 khúc" chiếm khoảng 80% Biển Đông. Đây là lần đầu tiên Trung Quốc chính thức hóa "đường chữ U" mà Việt Nam gọi là “đường lưỡi bò”.

Đường chữ U này là đòi hỏi phi lý của Trung Quốc, vì nó hoàn toàn trái với các quy định của Công ước Luật biển 1982 mà Trung Quốc là một bên ký kết. Công ước không có quy định về vung nước lịch sử. Và đơn giản vì vùng biển mà đường lười bò ngoạm vào không thể nào là lãnh hải hoặc vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa của Trung Quốc. Đó chính là vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, Phi-lip-pin, Ma-lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a và Bru-nây. Đường lưỡi bò bị Việt Nam, Ma-lai-xi-a và Phi-líp-pin phản đối kịch liệt. Ngày 5/4/2011, sau gần hai năm, Phi-líp-pin mới “bác bỏ đường lưỡi bò”.  Và ngày 14/4/2011, Trung Quốc đã có công hàm chính thức phản đối Phi-líp-pin. Tuy nhiên, các lập luận của Trung Quốc rất mâu thuẫn nhau. Trong công hàm ngày 7/5/2009, Trung Quốc khẳng định "chủ quyền không thể tránh cãi của Trung Quốc trên các đảo trong Biển Đông và các vùng nước kế cận, cũng như các quyền chủ quyền và tài phán đối với các vùng nước, vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của chúng", tức là toàn bộ khu vực nằm trong đường lưỡi bò. Công hàm ngày 14/4/2011 thì lờ đường lưỡi bò đi nhưng lại cho rằng quần đảo Trường Sa (Nam Sa) có lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa theo Công ước Luật biển UNCLOS.

Nếu phạm vi địa lý của quần đảo Trường Sa là đường lưỡi bò thì có chuyện ngược đời là xác định các vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa bên trong vùng nước mà Bắc Kinh coi như là nội thủy. Hay các đảo trong  quần đảo Trường Sa mà Trung Quốc yêu sách có vùng lãnh hải, đặc quyền kinh tế và thềm lục địa nhưng không vượt quá phạm vi đường lưỡi bò? Hay cả quần đảo Trường Sa được coi là một tổng thể để đòi hỏi vùng lãnh hải, đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục địa như một quốc gia quần đảo? Hay phạm vi địa lý quần đảo Trường Sa là đường lưỡi bò và sẽ tiếp tục đòi hỏi từ đó 200 hải lý đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Cứ theo lập luận này thì cớ lẽ cả thành phố Hồ Chí Minh, Manila và Kuala Lumpur rồi tới Natura đều rơi vào vòng ảnh hưởng của đường lưỡi bò và “các vùng biển liên quan”. Đường lưỡi bò của Trung Quốc từ yêu sách gộp cả Tây Sa (Hoàng Sa của Việt Nam), Trung Sa (bất ngầm Macclefield), Nam Sa (Trường Sa của Việt Nam) bây giờ lại coi là phạm vi địa lý của quần đảo Nam Sa.[40]

Không chỉ có các nước liên quan phản đối quan điểm của Trung Quốc, mà In-đô-nê-xi-a, một nước không có tranh chấp ở Biển Đông cũng đã bác bỏ "đường chữ U" (ngày 8/7/2009). Tại các hội thảo quốc tế về Biển Đông tại Hà Nội (2009), thành phố Hồ Chí Minh (2010) cũng như các hội thảo quốc tế khác, nhiều học giả và chuyên gia quốc tế cho rằng "đường lười bò” là mơ hồ, không có cơ sở. Cho đến nay học giả và chính giới Trung Quốc vẫn chưa đưa ra được một lời giải thích thỏa đáng. Một nhà nghiên cứu nhận xét: Có lẽ Trung Quốc coi tất cả các đảo quần đảo ở Biển Đông là của mình vì thế giới đã gọi đó là "Biển Nam Trung Hoa”. Một sự nhầm lẫn tai hại.[41]

Về một số tài liệu được Trung Quốc viện dẫn như là sự "công nhận" đối với chủ quyền của Trung Quốc

Thời gian qua, Trung Quốc thường trích dẫn những tài liệu mà họ gọi là đã "thừa nhận” chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cần phải làm rõ thực hư về vấn đề này.

Trước hết, có một số tài liệu do người Trung Quốc biên soạn và xuất bản như "Tân Trung Quốc niên giám" do Trung Quốc xuất bản năm 1966  hay "Tân thế giới niêm giám" xuất bản năm 1972, trong đó ghi nhận chủ quyền của Trung Quốc. Điều này không có gì phải tranh luận đơn giản vì đó là những tài liệu của Trung Quốc."

Thứ hai, một thủ đoạn nguy hiểm đáng lưu ý mà Trung Quốc đã làm là họ tìm mọi cách đưa các chi tiết từ đó có thể dẫn giải về chủ quyền của Trung Quốc vào các công trình xuất bản ở nước ngoài. Rất đáng tiếc có một số nhà xuất bản hoặc tạp chí khoa học trên thế giới đã vô tình hoặc cố ý tiếp tay cho Trung Quốc. Chẳng hạn như Chuyên san Nature, một trong những tạp chí khoa học được trích dẫn nhiều nhất thế giới, vào ngày 2/9/2010  đã đăng bài "Những tác động của biến đổi khí hậu lên nguồn nước và ngành nông nghiệp tại Trung Quốc" của nhóm tác giả người Tnmg Quốc kèm bản đồ có cả hình đường lưỡi bò. Một loạt ấn phẩm của các nhà xuất bản Elsevier (Hà Lan), Springer (Đức), Wiley (Mỹ), tạp chí Journal of petroleum Science and Engineering…cũng đăng bản đồ đường lưỡi bò kèm theo các bài báo khoa học của tác giả Trung Quốc . Ngày 19/4/2011, tạp chí Journal of Waste Management đã đăng bài Thu gom phân loại chất thải rắn đô thị tại nguồn: Một phân tích so sánh của nhóm tác giả Trung Quốc, trong đó đính kèm bản đồ minh họa có in hình yêu sách đường lưỡi bò. Tuần san Science của Hiệp hội Mỹ vì sự phát triển khoa học (AAAS) là một trong những tạp chí học thuật uy tín nhất, được trích dẫn vào loại nhiều nhất thế giới, ngày 9/7/2011, đăng bài "Lịch sử dân số Trung Quốc và những thách thức trong tương lai" của tác giả Bành Hi Triết đã kèm theo bốn bản đồ đường lưỡi bò của Trung Quốc.[42]

Thứ ba, nhiều tài liệu khác cũng đã được Trung Quốc viện dẫn để dẫn chứng về sự "thừa nhận” chủ quyền của Trung Quốc bao gồm "Từ điển thế giới Columbia”,  Lippncott Gazetteer xuất bản năm 1961, "Bách khoa toàn thư các nước trên thế giới" xuất bản năm 1971 của Mỹ; "Bản đồ thế giới" do Cộng hòa Liên bang Đức xuất - bản năm 1954 , 1961, "Tập bản đồ" Oxford - Australia và  Tập bản đồ philip"do Anh xuất bản năm 1957, "Tập bản đồ” do Larousse xuất bản năm 1968, 1969; Quyết định của Hội nghị Hàng không khu vực Thái Bình Dương do Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế tổ chức (27/10/1955)... Có thể nói cái mà Trung Quốc gọi là sự "thừa nhận”  nói trên thực sự là những sai sót, hoặc nhầm lẫn của tác giả hoặc nhà xuất bản. Sai sót, nhầm lẫn như vậy có nhiều nguyên nhân. Một là, từ xa xưa đã có sự nhầm lẫn của các nhà địa lý thế giới gọi Biển Đông là Biển Nam Trung Hoa, mà thực chất có tên ban đầu là Giao Chỉ Dương, Đông Dương Đại Hải, Đông Hải hay Biền Đông. Người Bồ Đào Nha đi vòng qua Tây Phi, qua Mũi Hảo Vọng và ngược lên Đông Phi là đến Ấn Độ. Họ khám phá ra Đông Nam Á mà họ gọi là "Presqu’ile de l'inde en-deca du Gange", Ấn Độ bên kia sông Hằng. Lúc đó biển giữa Việt Nam và quần đảo Paracels (Hoàng Sa và Trường Sa) các bản đồ phương Tây đều ghi là "Golfe de la Cochinchine". Cochinchine nguyên là tên hai nước Giao Chỉ-việt Nam (Cochin) và nước Tần (Chine). Nước Giao Chỉ - Cochin trùng tên với một thị trấn ở Ấn Độ nên người Bồ Đào Nha gọi là Cochinchina cho dễ phân biệt. Đến thế kỷ XIX đã rõ miền này không thuộc Cochin của Ấn Độ nữa, nên họ chỉ lấy từ Chine để gọi Biển Đông. Các bản đồ cho đến thế kỷ XVIII vẫn còn gọi Đông Nam Á là "L'Inde de le Gange". Đến thế kỷ XIX thì họ mới gọi là bán đảo Đông Dương, tức là Indochine, là bán đảo bên kia sông Hằng. Danh xưng sai lầm còn tồn tại đến bây giờ.[43] Vì vậy, không ít nhà làm bản đồ, sách báo…ngộ nhận Biển Đông là Biển của Trung Quốc. Đó là nguyên nhân cơ bản nhất. Hai là, quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa gồm rất nhiều đảo nhỏ, nhất là quần đảo Trường Sa với 130 đảo và đá, nhiều đảo, đá, đá ngầm chưa có người ở, chưa có quân đồn trú và cũng chưa đặt được bia chủ quyền nên thông tin bị sai lệch, không đầy đủ dễ gây nhầm lẫn là điều dễ hiểu. Ngoài ra, một thời gian dài Việt Nam có chiến tranh, bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ đối nghịch nhau làm cho vấn đề chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thêm phức tạp Ba là, đối với không ít người có thể viết, vẽ và nói cũng chưa thật cẩn trọng trong vấn đề liên quan đến chủ quyền biển đảo ở Hoàng Sa và Trường Sa vì thời gian dài tranh chấp chưa bùng nổ. Liên quan đến sai sót khi làm bản đồ, ngay đến gần đây cũng vẫn còn xảy ra. Vào tháng 3 năm 2010, Hội Địa lý Mỹ (National Geographic) cũng vẫn còn nhầm lẫn khi ghi chú quần đảo Trường Sa là của Trung Quốc. Sau đó, Việt Nam đã yêu cầu National Geographic sửa lỗi này. National Geogaphic đã sửa: chỉ sử dụng tên quốc tế Paracel Islands và xóa bỏ chữ China, chú thích thêm chi tiết "Trung Quốc chiếm đóng từ năm 1974 và gọi là Xisha Qundao, Việt Nam vẫn đòi chủ quyền và gọi là Hoàng Sa”.

Tóm lại, Trung Quốc đưa ra các chứng cứ đã khám phá và thực thi chủ quyền đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trước tiên và từ lâu Tuy nhiên, những tài liệu chỉ cho thấy thuyền bè Trung Quốc có đi qua lại vùng Biển Đông, nhìn thấy nhiều đảo mang tên khác nhau. Song không có đảo nào mang tên Hoàng Sa hay Trường Sa cả. Đặt giả thiết là Trưng Quốc đã khám phá ra những đảo này thì Trung Quốc đã không thực hiện chủ quyền các đảo đó. Sự hiện diện người đánh cá,  hay một số đồ gốm, hiện vật khảo cổ được tìm thấy trên các đảo không đủ để khẳng định là hành xử chủ quyền của nhà nước. Phần lớn các luật gia trên thế giới, trừ luật gia Trung Quốc, đều thừa nhận điều này. Trung Quốc mới thật sự chiếm nhóm đảo phía đông quần đảo Hoàng Sa năm 1956 khi Pháp rút khỏi Việt Nam theo Hiệp định Giơ-ne-vơ, đánh chiếm bằng vũ lực từ tay Việt Nam phần còn lại của quần đảo Hoàng Sa tháng 1/1974. Đối với quần đảo Trường Sa, Trung Quốc mới chỉ có mặt bằng cách sử dụng lực lượng vũ trang để chiếm vào tháng 3/1988 và 1995 mà thôi. Trong khi Việt Nam đã phát hiện, hành xử chủ quyền liên tục hòa bình đối với các quần đảo trên từ trước đó vài thế kỷ. Với 3260 km bờ biển, hơn 3000 đảo lớn nhỏ trong đó có hai quần đảo xa bờ Hoàng Sa, Trường Sa, Biển Đông gắn bó món thịt với Việt Nam là điều dễ hiểu. Nếu quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa quan trọng đồi với an ninh của Trung Quốc sao họ lại có mặt muộn như vậy? Trước đây, Trung Quốc không thể quan tâm đến biển đảo ở Biền Đông vì còn lo trấn giữ và mở rộng biên cương nội địa ở vùng Tân Cương, Nội Mông và phía Bắc, nhiều lần bị nước Liêu, Kim, Tây Hạ đánh cho tả tơi, cuối cùng bị Mông Cổ nô dịch. Lập luận của Trung Quốc rằng theo Công ước 1887 Pháp - Thanh, quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Trung Quốc lại càng không có căn cứ vì Công ước chỉ liên quan đến giải quyết tranh chấp giữa các tỉnh Vân Nam, Quảng Đông, Quảng Tây và Bắc Việt Nam mà thôi. Ba kiện xảy ra trong những năm 50 và 60 thế kỷ trước về cái gọi là Việt Nam đã thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng không có “giá trị pháp lý ràng buộc", nhất là theo Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 thì quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc quyền quản lý của chính quyền Sài Gòn chứ không phải của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cái gọi là "đường chữ U chín đoạn” hay "đường lưỡi bò", chiếm khoảng 80% Biển Đông thực chất là vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của các quốc gia như Việt Nam, Phi-líp-pin, Ma-lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a và Bru-nây mà thôi. Đường chữ U rất mơ hổ, không có cơ sở, không theo Công ước Luật biển 1982, bị không ít nước và giới khoa học nhiều nước bác bỏ. Việc có những tài liệu "công.nhận” chủ quyền của Trung Quốc tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có nhiều nguyên nhân, trong đó có hai nguyên nhân quan trọng nhất là do sự nhầm lẫn của các nhà địa lý gọi Biển Đông là Biển Nam Trung Hoa và việc Trung Quốc ra sức tìm cách phổ biến lập luận sai trái của mình ra thế giới với phương châm "Tăng Sâm giết người",[44] "mưa lâu thấm đất”.

Như vậy, về tổng thể có thể thấy rằng lập luận của Trung Quốc về chủ quyền lịch sử của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là không khách quan, thiếu căn cứ khoa học và khó thuyết phục.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.  Tiến sỹ Balazc Szalotai, Trả lời phỏng vấn BBC, ngày 24/1/2008.

2.  Đặng Minh Thu, "Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”, Tạp chí Thời đại mới, số 11, tháng 7/2007.

3.  Đào Văn Thụy, "Lập trường của Trung Quốc trong tranh chấp chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và luật quốc tế", Tạp chí Thời đại mới, số 11 , tháng 7/2007.

4.  Hải Biên, "Vấn đề Biển Đông dưới ánh sáng của pháp luật quốc tế”, VietnamPlus, tháng 3/2011.

5.  Hoàng Việt, "Giải pháp nào cho tranh chấp Biển Đông” , Tạp chí Thời đại mới, số 19, tháng 7/2010.

6.  Hồ Bạch Thảo, "Lãnh hải Trung Quốc dưới thời Minh”, tại địa chỉ http://www.diendan.org/phe-binh-nghiencuu/lanh hai trung quoc.

7.  Hồ Bạch Thảo, "Phản biện tập luận của nhà nghiên cứu Hàn Chấn Hoa về lãnh vực sử địa cổ có liên quan đến Biển Đông", Tạp chí Thời đại mới, số 20, tháng 11/2010.

8.  Huỳnh phan, "Trung Quốc nợ thế giới lời giải thích về Biển Đông", Tuần Việt Nam, tại địa chỉ http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2010-11-14-trung-quoc-no-the-gioi-loi-giai-thich-ve-bien-dong

9.  Nguyễn Đình Đầu, Trả lời phỏng vấn Đài RFA, ngày 6/7/2011.

10.   Nguyễn Bá Diến, "Áp dụng các nguyên tắc về thụ đắc lãnh thổ trong luật quốc tế giải quyết hòa bình các tranh chấp Biển Đông”, www.nghiencuubiendong.vn, truy cập ngày 15/3/2010.

11.   Lưu Văn Lợi, Cuộc tranh chấp Việt - Trung về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 1995 .

12.   Phương Loan, "Học giả quốc tế phê phán đường lười bò của Trung Quốc", VietnamNet, ngày 31/11/2009.

13.   Tạ Văn Tài, "Giải pháp cho Biển Đông”', Tạp chí Thời đại mới,số 20, tháng 11/2010.

14.   Thủy Xuân, "Việt Nam có chủ quyền không thể tranh cãi đối với Hoàng Sa", VietnamNet, ngày 24/2/2011.

15.   Việt Long, "Vì sao Phi-lip-pin phản đối đường lưỡi bò", Tuần Việt Nam, http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-04-20-vi-sao-philippines-phan-doi-duong-luoi-bo-

16.   Vũ Quang Việt, "Tranh chấp biển Đông Nam Á: Đi trên giải pháp hòa bình và công lý dựa trên chứng cớ lịch sử và luật pháp quốc tế", Tạp chí Thời đại mới, số 19, tháng 7/2010.

17.   Xung đột Biển Đông không còn là nguy cơ (Tài liệu chọn lọc dịch từ tiếng Anh, Pháp, Trung Quốc - do Hồng Lê Thọ: chủ biên), Mỹ, 2009

18.   Một số trang Intemet  http://google.com.vn;  www.nghiencuubiendong.vn; www.vietnamnet.vn

PGS.TS Vũ Dương Huân

 


* Tổng lãnh sự Việt Nam tại Vladivostok. Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả

[1] Trung Quốc và thế giới thường gọi với một cái tên dễ gây hiểu lầm là Biển Nam Trung Hoa.

[2] Định ước Hen – xin – ki, Tài liệu Vụ châu Âu, Bộ Ngoại giao

[3] Nguyên Bá Diễn, "Ap dụng các nguyên tắc về thụ đắc lãnh thổ trong luật quốc tế giải quyết hòa bình các tranh chấp ở Biển Đống", xem tại www.nghiencuubiendong.vn, truy cập ngày 15/3/2010.

[4] Định ước Berlin ra đời năm 1885,  khoản XXIV qui định việc chiếm hữu lãnh thổ thực tế và thông báo cho các quốc gia khác về việc chiếm hữu  này. Nguồn: http://africanhistory. about.com/od/eracolonialism/l/bl-BerlinAct1885.htm.

[5] Xem Hồ Bạch Thảo, "Phản biện tập luận của nhà nghiên cứu Hàn Chấn Hoa về lãnh vực sử địa cổ có liên quan đến Biển Đông”, Tạp chí Thời đại mới, số 20, tháng 11/2010; Đặng Minh Thu, "Chủ quyền trên hai. quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”, Tạp chí Thời đại mới, số 11, tháng 7/2007.

[6] Xem Báo điện tử Báo Đất  Việt, ngày 21/7/2011     .

[7] Đặng Minh Thu, tlđd

[8] Hồ Bạch Thảo, tlđd

[9] Xem Đặng Minh Thu, tlđd

[10] Marwyn Samuels, Contest for the South China Sea, New York/London, 1982, tr.38.

[11] Tao Cheng, "The dispute over the South China Sea Islands", Texas International Law Journal, Vol. 10 (1975), tr. 272.

[12] Lưu Văn Lợi, Cuộc tranh chấp Việt – Trung về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội 1995, tr.10

[13] Đặng Minh Thu, tlđd, tr.37.

[14] Hồ Bạch Thảo, “Lãnh hải Trung Quốc dưới thời nhà Minh”, http://diendan.org.lanhhai trung quoc

[15] Jian-Minh Shen, “International Law Rules and Historical Evidence Supporting China’s Tille to South China Sea Islands”, Hastings International and Comparative Law Review, vol 21(1997), p.22-23

[16] Jian-Minh Shen, sđd, tr.18

[17] Như trên, sđd, tr.19.

[18] Như trên, sđd, tr.20.

[19] Đặng Minh Thu, tlđd, tr.37.

[20] Lưu Văn Lợi, sđd, tr.17

[21] Samuels, sđd, tr.21, 22.

[22] Như trên, tr.23.

[23] Lưu Văn Lợi, sđd, tr.14.

[24] Đặng Minh Thu, tlđd, tr.38.

[25] Samuels, sđd, tr.30-31, 42.

[26] Như trên, tr.20.

[27] Như trên, tr.17 và 21.

[28] Khi đó Trung Quốc đã từ chối trách nhiệm điều tra vụ cướp đồ do tàu bị đắm với lý do Hoàng Sa không phải lãnh thổ Trung Quốc, không thuộc quản lý hành chính đảo Hải  Nam; xem Lưu Văn Lợi, The Sino-vietnamese difference ơn Hoang Sa and Truong Sa archipelagoes, p. 52 ; Gendreau, Sovereignty over the Paracel and Spratly lslands, p. 98.

[29] Công ước Pháp – Thanh 1887, www.google.com.vn

[30] Đặng Minh Thu, tlđd, tr.42.

[31] Đào Văn Thụy, Lập trường của Trung Quốc trong tranh chấp chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và luật quốc tế, Tạp chí Thời đại mới, số 11, tháng 7/2007, tr.10

[32] Thời Pháp Việt Narn chia làm ba kỳ Nam Kỳ, Trung Kỳ và Bác Kỳ với ba quy chế

khác nhau. Le Tonkin là Bắc Kỳ.

[33] Đào Văn Thụy, tlđd

[34] Đào Văn Thụy, tlđd, tr.12.

[35] Phán quyết Tòa án Công lý quốc tế giải quyết tranh chấp giữa Mỹ và Ni-ca-ra-goa trong vụ NHững hoạt động quân sự và bán quân sự tại Ni-ca-ra-goa, Tuyển tập các phán quyết của Tòa án Công lý quốc tế, Hà Nội, 1984, tr.414

[36] Trả lời phỏng vấn BBC, ngày 24/1/2008

[37] Như trên

[38] Peter Kien - Hong Vu, "Đường chữ U (đứt khúc) của Trung Quốc (Việt Nam gọi 1à đường lưỡi bò) trên Biển Đông: Các điểm, đường và khu vực", Tạp chí Thời đại mới, số 15, tháng 3/2009, tr. 4.

[39] Peter Kien-Hong Vu, tlđd, tr.15.

[40] “Chiến thuật mập mờ của Trung Quốc”, Vietnamnet, ngày 26/4/2011.

[41] RFI phỏng vấn nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu, ngày 6/7/2011

[42] “Đường lưỡi bò núp bóng khoa học", Thanh Niên, ngày 27/9/2011 tại địa chi http://www.thanhnien.com.vn/pages/20110927/duong-luoi-bo-nup-bong-khoa-hoc.aspx

[43] Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu trả lời phỏng vấn đài RFA, ngày 7/6/2011.

[44] Đó là câu chuyện xưa của Tnmg Quốc. Bà mẹ Tăng Sâm nhận được tin sai trái rằng con bà giết người, lúc đầu bà không tin nhưng sau ba lần bà đã tin.

 

Bài viết của TS. Dư Văn Toán, Viện Nghiên cứu Quản lý biển và hải đảo, giới thiệu tổng quan các mô hình hợp tác quốc tế (HTQT) về các khu bảo tồn biển đa quốc gia trên thế giới. Từ việc phân tích những lợi ích của mô hình này, bài viết đề xuất phân chia khu vực biển Việt Nam thành bốn vùng: vịnh Bắc Bộ, vịnh Thái Lan, Hoàng Sa, Trường Sa và mô hình HTQT phù hợp qua đó đề xuất xây dựng khu vực Trường Sa thành Công viên biển hòa bình quốc tế.


Tóm tắt

 

Bài viết giới thiệu tổng quan các mô hình hợp tác quốc tế (HTQT) về các khu bảo tồn biển đa quốc gia (transboundary marine protected areas - TBMPA) trên thế giới. TBMPA là vùng biển nằm trên khu vực biển, đại dương có hai hoặc nhiều đường biên giới giữa các quốc gia, có vai trò giữ gìn đa dạng sinh học, các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bản sắc văn hóa địa phương, được hợp tác quản lý thông qua luật pháp hoặc các chính sách khác trên qui mô song phương hay đa phương. Lợi ích của TBMPA nhằm cải thiện trong quan hệ và công tác bảo tồn quốc tế, thực thi các công ước và điều ước quốc tế về biển. Có một số mô hình TBMPA thành công ở các vùng biển tranh chấp của nhiều quốc gia được gọi là Công viên biển hòa bình (MPP), mô hình xây dựng vùng biển đặc biệt nhậy cảm (PSSA IMO)… Biển Việt Nam có nhiều vùng biển có ranh giới với nhiều quốc gia như Trung Quốc, Phi-líp-pin, Cam-pu-chia, In-đô-nê-xi-a, là vùng biển có rất nhiều khu biển có giá trị sinh thái, lịch sử, văn hóa đã được bảo tồn cấp quốc gia và của một số tổ chức quốc tế như Cô Tô, Cát Bà, Vịnh Hạ Long, Trường Sa, Hoàng Sa, Phú Quốc. Bài báo đề xuất phân chia khu vực biển cận biên Việt Nam thành bốn vùng: vịnh Bắc Bộ, vịnh Thái Lan, Hoàng Sa, Trường Sa và mô hình HTQT phù hợp qua đó đề xuất xây dựng khu vực Trường Sa thành Công viên biển hòa bình quốc tế.

Theo định nghĩa của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN), Khu bảo tồn biển liên quốc gia (Transboundary Marine Proctected Area - TBMPA) là: “Vùng biển nằm trên khu vực biển, đại dương có hai hoặc nhiều đường biên giới giữa các quốc gia, các đơn vị lãnh thổ như tỉnh, vùng, vùng tự trị hoặc các vùng nằm ngoài giới hạn chủ quyền và phạm vi quốc gia, có vai trò giữ gìn đa dạng sinh học, các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bản sắc văn hóa, được hợp tác quản lý thông qua luật pháp hoặc các biện pháp khác”.

Thành lập khu bảo tồn biển liên quốc gia nhằm cải thiện quan hệ và thúc đẩy bảo tồn tài nguyên môi trường quốc tế. Các hệ sinh thái và động vật hoang dã không có ranh giới chính trị, đặc biệt trên biển và đại dương, do vậy, quản lý tài nguyên môi trường biển phải được coi là nhiệm vụ quốc tế của khu vực và của các quốc gia láng giềng.

Có một số cách tiếp cận hay mô hình HTQT trong việc thiết lập các khu bảo vệ - bảo tồn biển như các khu bảo tồn xuyên biên giới (hay liên quốc gia) có thể được gọi là TBMPA - khu bảo tồn xuyên biên giới, MPP - công viên biển hòa bình, hay PSSA - vùng biển đặc biệt nhậy cảm với nỗ lực chung là đạt được sự bảo tồn liên quốc gia dựa trên phương thức quản lý hệ sinh thái phục vụ phát triển biển bền vững.

Hiện trạng mô hình và các phương pháp tiếp cận TBMPA trên thế giới

Các tổ chức quốc tế đang tích cực thúc đẩy các mô hình TBMPA là IUCN, WWF, IMO và đã thực hiện được gần 30 năm với mục tiêu bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học biển xuyên quốc gia phục vụ phát triển bền vững biển và đại dương.

Khu bảo tồn biển xuyên biên giới là những vùng mà các quốc gia láng giềng đã có ranh giới chủ quyền được phân định rõ ràng.

Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) đã kiểm kê số lượng các khu vực bảo vệ phức hợp xuyên biên giới hiện đang tồn tại, cả trên cạn và dưới biển. Theo UNEP, hiện trên thế giới có 227 khu vực này.

Một số khu biển TBMPA hiện có trên thế giới:

1. Khu vực bảo vệ quốc tế Biển Wadden - bao gồm nhiều khu bảo tồn biển và bảo vệ khác nhau tại các quốc gia Đan Mạch, Đức, và Hà Lan - là một ví dụ hàng đầu về Mô hình quản lý bảo tồn và hợp tác quốc tế dựa vào hệ sinh thái. Từ năm 1982, chính phủ ba quốc gia này đã ký Hiệp ước hợp tác về bảo tồn biển. Đến nay khu này đã là di sản thiên nhiên thế giới UNESCO, PSSA.

2. Khu các dải san hô Trung Mỹ bao gồm 80 khu bảo vệ giữa các quốc gia Bê-li-xê, Goa-tê-ma-la và Mê-hi-cô.

3. Khu Pelagos có diện tích 100.000 km2 cho cá voi ở biển Liguria - hợp tác giữa các nước Pháp, I-ta-li-a và Mô-na-cô.

4. Vùng Đông Thái Bình Dương có Khu TBMPA gồm các đặc khu kinh tế của Cô-lôm-bi-a, Cô-xta-ri-ca, Ê-cu-a-đo Pa-na-ma.

5. Vùng Nam Đại Dương, được quản lý như một khu vực được bảo vệ rất lớn bởi Ủy ban bảo tồn tài nguyên sinh vật biển của Nam Cực.

6. Khu bảo tồn biển giữa Nam Phi và Mô-dăm-bích.

7. Đảo Rùa nằm trên đường biên giới của Ma-lai-xi-a và Phi-líp-pin là một ví dụ về khu bảo tồn biển liên quốc gia ở khu vực Đông Nam Á, được biết đến là nơi bảo tồn loài Rùa Xanh (Chelonia mydas). Đảo này hiện nay đã được công nhận là “Khu bảo tồn Di sản Đảo Rùa” được ký kết giữa Phi-líp-pin và Ma-lai-xi-a từ năm 1996.

Công viên biển hòa bình

Theo IUCN định nghĩa, Công viên biển hòa bình (MPP) là: Khu bảo vệ liên quốc gia được chính thức dành riêng cho việc bảo vệ và duy trì đa dạng sinh học, tài nguyên thiên nhiên và văn hóa có liên quan để thúc đẩy hòa bình và hợp tác quốc tế trên biển, hải đảo tại những nơi còn có xung đột, mâu thuẫn.

Công viên biển hòa bình có những lợi ích sau đây:

- Là biểu tượng của sự hợp tác đang diễn ra giữa các quốc gia với mục đích hòa bình;

- Là điểm nhấn cho các cuộc thảo luận giữa các nước láng giềng mặc dù các quốc gia có thể đang có chia rẽ sâu sắc về kinh tế, xã hội, môi trường, hoặc lợi ích khác;

- Tăng cường an ninh và kiểm soát các nguồn tài nguyên trong khu vực biên giới biển để các chủ sở hữu hợp pháp có thể có lợi hơn từ chúng;

- Phát triển cơ hội cho du lịch sinh thái biển và phát triển bền vững liên doanh quốc tế trên một khu vực qui mô rộng hơn;

- Một địa điểm phong phú và linh hoạt của các mối quan hệ đối với các nhà quản lý bảo tồn biển từ các quốc gia tham gia, các cơ quan chính phủ, địa phương và phi chính phủ quốc tế, và cộng đồng các nhà tài trợ.

Hiện  trạng Công viên biển Hòa bình - MPP

1. "Công viên biển hòa bình Hồng Hải" - một mô hình MPP điểm về hợp tác quốc tế - áp dụng theo đúng nghĩa đen với những gì I-xra-en Gioóc-đa-ni đã được công nhận trong phía Bắc Vịnh Aqaba, một vùng biển nửa kín được chia sẻ bởi các quốc gia này. Đây là một phần của hiệp ước hòa bình mà hai nước đã ký kết năm 1994 để bình thường hóa quan hệ. Hai quốc gia I-xra-en Gioóc-đa-ni đã phát triển MPP Hồng Hải thể hiện qua hai Khu bảo tồn biển: Aqaba của Gioóc-đa-ni khu Eilat của I-xra-en. Việc thành lập MPP Hồng Hải kêu gọi các quốc gia đối tác có những nỗ lực nghiên cứu về san hô và sinh vật biển, thực hiện các chính sách quy định phối hợp để bảo vệ các rạn san hô và tài nguyên sinh vật biển.

2. Công viên biển hòa bình Triều Tiên

Những bài học từ các MPP Hồng hải cũng như từ nhiều công viên hòa bình trên mặt đất đang được áp dụng trong các nỗ lực thành lập một công viên hòa bình biển trên bán đảo Triều Tiên. Năm 2005, chính phủ Hàn Quốc đã có kế hoạch bắt đầu xây dựng MPP với CHDCND Triều Tiên trong vùng biển phía tây bán đảo Triều Tiên -  nhằm mục đích giúp đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững và hòa bình trong khu vực, là biểu tượng của "3 chữ P": bảo vệ sinh thái toàn vẹn, hòa bình và thịnh vượng kinh tế.

Ngoài ra, các nhà nghiên cứu từ I-xra-en, Gioóc-đa-ni, Mỹ đề xuất một số MPP tiềm năng trên toàn Đại dương thế giới chủ yếu tại các vùng còn có các xung đột, khủng hoảng:

3. Phía Đông đảo quốc Ca-ri-bê;

4. Vùng biển Địa Trung Hải (Gaza/Gioóc-đa-ni/I-xra-en);

5. Vùng ven biển Pa-ki-xtan Ấn Độ (vùng ven đồng bằng sông Indus);

6. Vùng biển Adriatic (thuộc các nước cộng hòa Nam Tư cũ);

7. Vùng biển ở Cyprus (Hy Lạp Thổ Nhĩ Kỳ);

8. Các vùng biển đảo tranh chấp khu vực Biển Đông như Trường Sa, Hoàng Sa.

Khu biển đặc biệt nhậy cảm - PSSA

PSSA là một khu vực cần bảo vệ đặc biệt thông qua các hành động của tổ chức Hàng hải quốc tế (IMO). Đây là vùng biển có giá trị cao về sinh thái, kinh tế - xã hội, khoa học và có thể dễ bị tổn thương hoặc thiệt hại do các hoạt động hàng hải quốc tế.

PSSA được xem như là một công cụ chính trong chiến lược phát triển bền vững biển của IMO, phối hợp nhiều công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển và là một công cụ bảo vệ khu vực biển rộng có nhiều giá trị về tài nguyên môi trường khỏi các mối đe dọa hàng hải cụ thể. Nó cũng là sự lựa chọn của nhiều quốc gia, khu vực và toàn thế giới. Đã có 12 PSSA chính thức trên thế giới đã được công nhận từ năm 1990 và chứng minh được lợi ích của công cụ này trong quản lý môi trường biển - hàng hải quốc tế. Vùng thứ 13 - Bonifacio (Pháp - I-ta-li-a) đã được công nhận về nguyên tắc.

Trong số đó có các vùng:

- Wadden Sea (ba nước Đan Mạch, Hà Lan, Đức) năm 2002;

-  Biển Ban-tích (tám nước Lát-vi-a, Thụy điển, Ét-xtô-ni-a, Lít-va, Phần Lan, Đan Mạch, Đức, Ba Lan) năm 2005;

- Vùng ven các nước Tây Âu (bốn nước Bỉ, Pháp, Ai-len, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Anh) năm 2004;

- Eo Bonifacio (hai nước Pháp - I-ta-li-a) năm 2010;

- Eo biển Torres  (hai nước Ô-xtrây-li-a và Pa-pua Niu Ghi-nê) năm 2005.

Đánh giá hiện trạng, phân vùng và đề xuất mô hình HTQT các vùng cận biên của biển Việt Nam

Hiện nay vùng biển Việt Nam có một di sản thế giới, một khu RAMSAR, sáu khu dự trữ sinh quyển thế giới UNESCO, 16 khu bảo tồn biển MPA quốc gia (hình 1).

Việt Nam đã và đang tích cực hội nhập quốc tế toàn diện nên việc thiết lập các TBMPA là những bước đi đúng đắn trong công tác bảo vệ môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học. Khu Bảo tồn biển xuyên biên giới đầu tiên (TPA) đang được tiến hành trên đất liền - khu bảo tồn xuyên biên giới (Chư Mom Ray-Virachay - Dong Am Phan) - (Việt Nam - Lào - Cam-pu-chia) - bảo vệ thiên nhiên dãy Trường Sơn.

Các vùng biển cận biên của Việt Nam dựa theo các quyết định, chính sách về bảo tồn biển, đa dạng sinh học biển có thể được phân chia ra bốn khu vực cận biên:

Khu vực vịnh Bắc Bộ

Hiện có bốn khu bảo tồn biển quốc gia đã được thành lập gồm: Khu bảo tồn biển Đảo Trần (Quảng Ninh), Khu bảo tồn biển Cô Tô (Quảng Ninh), Khu bảo tồn Bạch Long Vỹ (Hải Phòng),  Khu bảo tồn biển Cồn Cỏ (Quảng Trị).

Các vùng biển cận biên tại vịnh Bắc Bộ hiện không còn tranh chấp về biên giới - lãnh thổ với Trung Quốc, bởi vậy ta có thể đề xuất với Trung Quốc một số hình thức hợp tác sau:

- Xây dựng một số TBMPA hoặc PSSA thí điểm phía Bắc vịnh;

Xây dựng TBMPA hay PSSA thuộc dải ven biển Việt Nam và Trung Quốc;

- Xây dựng toàn vịnh Bắc Bộ thành một TBMPA hay PSSA.

Khu vực biển quần đảo Hoàng Sa

Vùng này có tính đa dạng sinh học cao, tuy còn vấn đề tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc, nhưng Việt Nam có thể đề xuất xây dựng MPP tại khu vực này.


Các khu bảo tồn biển của Việt Nam


Khu vực quần đảo Trường Sa

Khu vực này gồm có: Khu bảo tồn biển Nam Yết, quần đảo Trường Sa (Khánh Hòa) và đang đề xuất thêm khu bảo tồn biển Đảo Thuyền Chài.

Vùng biển đảo Trường Sa đang có sự tham gia và chiếm giữ các đảo của nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ như Trung Quốc; Việt Nam, Phi-líp-pin, Ma-lai-xi-a, Bru-nây và Đài Loan. Các quốc gia ASEAN và Trung Quốc đã ký kết Tuyên bố ứng xử của các bên liên quan tại Biển Đông (DOC), tuy nhiên các xung đột, va chạm vẫn thường xuyên xảy ra và rất khó sớm có giải pháp chính trị để phân chia lãnh thổ biển rõ ràng. Trong bối cảnh đó, Việt Nam có thể đưa ra một đề xuất để các bên liên quan sớm xem xét: lồng ghép mô hình hợp tác MPP Trường Sa cho tiểu vùng hay toàn vùng biển quần đảo Trường Sa như là một bước tiến trong công tác bảo tồn thiên nhiên.

Khu vực vịnh Thái Lan

Gồm: Khu bảo tồn đảo Phú Quốc (Kiên Giang).

Vùng cận biên này có thể đề xuất với tất cả hay riêng rẽ từng quốc gia Cam-pu-chia, Ma-lai-xi-a, Thái Lan để xây dựng TBMPA hay PSSA.

Thảo luận và kiến nghị

Việt Nam chưa có kế hoạch xây dựng TBMPA, MPP, PSSA với các quốc gia láng giềng. Lợi ích của TBMPA là bảo vệ môi trường biển, đa dạng sinh học biển và hợp tác quốc tế vì hòa bình - hữu nghị, đặc biệt đối với các vùng biển cận biên. Công tác bảo tồn và bảo vệ tài nguyên biển của Việt Nam tại các vùng biển cận biên còn chưa có tính liên thông quốc tế. Môi trường biển lại không có biên giới như trên đất liền mà liên kết chặt chẽ với các vùng biển quốc gia lân cận. Vì vậy, để thúc đẩy HTQT, việc lựa chọn mô hình hợp tác phù hợp là rất quan trọng cho các vùng biển cận biên nhằm tuân thủ các công ước, điều ước quốc tế về biển, về môi trường và đa dạng sinh học. Từ đây, có thể xem xét một số gợi ý sau:

Một là, trên cơ sở chính sách chung, Việt Nam cần có sự cụ thể hóa chính sách sao cho phù hợp riêng với từng vùng: vịnh Bắc Bộ, Hoàng Sa, Trường Sa, vịnh Thái Lan nhằm định hướng cho công tác bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và khai thác tài nguyên biển hợp lý ở mỗi vùng này;

Hai là, nghiên cứu, cập nhật kinh nghiệm về hoạch định và triển khai chính sách cho các vùng biển cận biên trên thế giới làm cơ sở khoa học cho đàm phán ngoại giao song phương và đa phương về các vấn đề liên quan tới vùng lãnh hải của Việt Nam;

Ba là, các cơ quan quản lý về biển như Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và các bộ ngành liên quan thiết lập cơ chế HTQT để phục vụ nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc thiết lập các vùng TBMPA với các nước lân cận, lựa chọn và phát triển các mô hình, công cụ HTQT phù hợp trong bảo vệ chủ quyền và tài nguyên, môi trường biển. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.  Sandwith, T. and ext., Transboundary marine protected areas for Peace and Cooperation. IUCN, Cambridge, UK., 2001, www.iucn.org.

2.  WWF, Towards a framework for Transboundary marine protected areas, 2006, pp. 33.

3. IMO, PSSA guidelines, 2007.

4. Quyết định số 742/QĐ-TTg của Chính phủ ngày 26/5/2010 về việc Phê duyệt Quy hoạch hệ thống khu bảo tồn biển Việt Nam đến năm 2020. 

TS. Dư Văn Toán

Bài viết đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, Học viện Ngoại giao, số 3 (86), tháng 9/2011

 

 

Bài viết của Nguyễn Đăng Thắng*, Nghiên cứu sinh luật tại Anh, phân tích những cơ chế giải quyết tranh chấp trong Công ước luật biển, mối quan tâm chính trong tranh chấp tại Biển Đông của Phi-lip-pin, từ đó đưa ra những đánh giá triển vọng về việc nước này kiện (nếu có) Trung Quốc, những suy ngẫm và có thể là bài học để Việt Nam tham khảo và xem xét.

 

Tháng 7 vừa qua Ngoại trưởng Phi-líp-pin Albert del Rosario đã có một số tuyên bố về khả năng giải quyết tranh chấp với Trung Quốc liên quan đến quần đảo Trường Sa ở Biển Đông bằng các cơ quan tài phán quốc tế. Trước hết đó là đề nghị về việc Phi-líp-pin và Trung Quốc cùng đưa tranh chấp giữa hai nước ra giải quyết trước Tòa án quốc tế về luật biển. Sau khi phía Trung Quốc từ chối, khăng khăng giải quyết vấn đề song phương, Ngoại trưởng Phi-líp-pin lại mạnh bạo khẳng định rằng họ sẽ sử dụng các quy định của Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 (Công ước Luật biển) cho phép họ có thể đơn phương kiện Trung Quốc.[1] Ngoại trưởng Phi-líp-pin tuyên bố rằng Phi-líp-pin muốn sử dụng cơ chế trọng tài quy định trong Công ước Luật biển để “xác định rõ vùng biển nào có tranh chấp và vùng biển nào không”.

Cứ tạm coi rằng Phi-líp-pin và Trung Quốc có yêu sách chính đáng ở Trường Sa, việc phân tích xem làm sao Phi-líp-pin có thể kiện Trung Quốc để bảo vệ quyền lợi của mình sẽ là một vấn đề thú vị và có thể là bài học cho Việt Nam khi Việt Nam cũng gặp phải những sự việc mà như Người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Việt Nam miêu tả là “Trung Quốc đang cố tình làm dư luận hiểu nhầm khu vực không có tranh chấp thành khu vực tranh chấp”.[2] Để hiểu được Phi-líp-pin làm thế nào để kiện Trung Quốc, trước hết cần phải trả lời câu hỏi: Phi-líp-pin định kiện về điều gì? Khi Phi-líp-pin vẫn chưa “bật mí” cụ thể về vấn đề này nhưng lại tỏ ra khá tự tin về sự thành công trong nỗ lực của mình, câu trả lời có lẽ có thể tìm bằng cách xem xét mối quan tâm của Phi-líp-pin hiện nay ở Biển Đông, đối chiếu nó với cơ chế giải quyết tranh chấp trong Công ước Luật biển và đánh giá triển vọng giải quyết vấn đề.

Sự kiện Bãi Cỏ Rong – mối quan tâm đặc biệt gần đây của Phi-líp-pin

Tuyên bố liên quan đến việc sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp trong Công ước Luật Biển của Ngoại trưởng Phi-líp-pin dường như hướng đến những căng thẳng gần đây giữa Phi-líp-pin và Trung Quốc xuất phát từ tranh chấp ở quần đảo Trường Sa (mà Phi-líp-pin còn gọi là Kalayaan hay KIG) bắt đầu bằng sự kiện Bãi Cỏ Rong. Đây là vụ việc vào đầu tháng ba khi hai tàu tuần tra của Trung Quốc xua đuổi tàu thăm dò của Anh do Phi-líp-pin thuê để khảo sát khu vực Bãi Cỏ.[3] Phi-líp-pin ngay lập tức có phản ứng mạnh mẽ trên thực địa bằng cách phái hai máy bay ra nơi xảy ra sự việc đồng thời cử hai tàu hải quân hộ tống tàu khảo sát trong suốt thời gian còn lại của chuyến khảo sát. Trên phương diện ngoại giao, Phi-líp-pin cũng gửi công hàm phản đối và cử đại diện sang Bắc Kinh để “bàn về vấn đề”.

Cũng được coi là hệ quả của sự kiện Bãi Cỏ Rong đó là việc đầu tháng 4, Phi-líp-pin tiếp tục phản đối Trung Quốc tại Liên hợp quốc liên quan đến bản đồ vẽ đường chín đoạn của Trung Quốc mà Phi-líp-pin cho rằng thể hiện các vùng nước liên quan cũng như đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của quần đảo Trường Sa. Trong gửi công hàm đến Tổng thư ký Liên hợp quốc, Phi-líp-pin khẳng định rằng đường chín đoạn do Trung Quốc vẽ không có bất kỳ cơ sở nào theo luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Luật biển.[4] Đáp lại, Phái đoàn Trung Quốc cũng gửi Công hàm đến Tổng thư ký Liên hợp quốc, khẳng định chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Trường Sa và đặc biệt nhấn mạnh ‘quần đảo Trường Sa hoàn toàn có lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa’ theo quy định của Công ước Luật biển cũng như các văn bản pháp luật trong nước của Trung Quốc.[5]

Tiếp đó, tại Hội nghị các quốc gia thành viên Công ước Luật biển lần thứ 21 diễn ra tại New York tháng 6 vừa qua, Tổng thư ký Ủy ban các Vấn đề Biển và Đại đương của Phi-lí-pin nêu rõ những sự kiện gần đây ở Bãi Cỏ Rong dường như đã mở rộng khái niệm khu vực tranh chấp ở Biển Đông để gộp cả “những vùng biển và thềm lục địa rõ ràng chỉ thuộc chủ quyền và/hay quyền tài phán của Phi-líp-pin”.[6] Đối chiếu phát biểu này với tuyên bố của Ngoại trưởng Phi-líp-pin về việc sử dụng Tòa trọng tài để làm rõ giữa khu vực tranh chấp và khu vực không tranh chấp thì dường Phi-líp-pin có ý định để sử dụng Tòa trọng tài để khẳng định Bãi Cỏ Rong là nằm trên thềm lục địa của Phi-líp-pin, tách biệt với vùng biển liên quan đến quần đảo Trường Sa đang tranh chấp. Điều này là cần thiết khi Bãi Cỏ Rong giờ đã trở thành một vấn đề đặc biệt quan tâm của Phi-líp-pin do dự đoán khu vực này có tiềm năng lớn về dầu khí. Tổng thống Phi-líp-pin gần đây tuyên bố sẽ làm mọi cách để bảo vệ khu vực này[7] và Phi-líp-pin thực sự đang nỗ lực mua sắm trang thiết bị để tăng cường tiềm lực quân sự của mình. Tuy nhiên, thực tế là năng lực quân sự của Phi-líp-pin vẫn được coi là thuộc loại yếu kém nhất trong khu vực và không thể so sánh với Trung Quốc – quốc gia có tiềm lực quốc phòng vượt trội trong khu vực. Hơn nữa, trong bối cảnh hiện nay, việc sử dụng đến vũ lực chỉ là phương tiện cuối cùng và các biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp luôn là ưu tiên hàng đầu. Chính vì thế, việc sử dụng Tòa trọng tài quy định trong Công ước Luật biển của Phi-líp-pin để giải quyết bất đồng với Trung Quốc là một cách làm khôn ngoan. Vấn đề đặt ra đó là thực sự Phi-líp-pin có khả năng làm điều này hay không và để trả lời câu hỏi này, cần hiểu qua cơ chế và thủ tục giải quyết tranh chấp trong Công ước Luật biển, đặc biệt là về Tòa trọng tài.

Vài nét về cơ chế giải quyết tranh chấp trong Công ước Luật biển và khả năng áp dụng trong tranh chấp giữa Phi-líp-pin và Trung Quốc ở Biển Đông

Cơ chế giải quyết tranh chấp trong Công ước Luật biển được coi là một trong những cơ chế giải quyết tranh chấp tiến bộ nhất và là hình mẫu về cơ chế giải quyết tranh chấp trong các lĩnh vực chuyên ngành của luật pháp quốc tế. Trước khi xem xét thêm về cơ chế giải quyết tranh chấp trong Công ước Luật biển, một điều dường như là hiển nhiên nhưng cần phải nhấn mạnh đó là về nguyên tắc, đối tượng tranh chấp mà cơ chế giải quyết tranh chấp trong Công ước Luật biển áp dụng phải liên quan đến việc giải thích và áp dụng Công ước.

Cơ chế giải quyết tranh chấp trong Công ước Luật biển được quy định tại Phần XV và được cụ thể hóa bằng một số phụ lục. Phần XV trong Công ước có ba (03) mục, trong đó hai mục đầu quy định về trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp và mục thứ ba quy định về một số ngoại lệ cho việc áp dụng thủ tục giải quyết tranh chấp bắt buộc.

Mục 1 của Phần XV chứa đựng một số quy định chung về việc giải quyết tranh chấp, trong đó đáng chú ý nhất đó là nghĩa vụ các bên tranh chấp phải “trao đổi ý kiến” về cách thức giải quyết tranh chấp (Điều 283). Khi các bên tranh chấp áp dụng các quy định trong Mục 1 mà tranh chấp không được giải quyết thì một bất kỳ một bên tranh chấp nào cũng có thể đơn phương sử dụng thủ tục phù hợp trù định tại Mục 2 để tìm kiếm một phán quyết có giá trị ràng buộc đối với bên kia về tranh chấp (Điều 286). Nói cách khác, Công ước quy định tại Mục 2 Phần XV một thủ tục giải quyết tranh chấp bắt buộc (với bên kia) và thủ tục này sẽ đưa đến một phán quyết có giá trị ràng buộc và tối hậu đối với cả hai bên tranh chấp (Điều 296). Nhờ có quy định của Mục 2 này mà phần lớn các tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng Công ước đều sẽ được giải quyết. Đây chính là điểm tiến bộ và được đánh giá cao của Công ước Luật biển.

Có bốn thủ tục giải quyết tranh chấp bắt buộc (các cơ quan tài phán quốc tế) được trù định tại Điều 287, Mục 2 Phần XI của Công ước, đó là: (i) Tòa án quốc tế về Luật biển thành lập theo Phụ lục VI; (ii) Tòa án công lý quốc tế (cơ quan tư pháp chủ yếu của Liên hợp quốc); (iii) một tòa trọng tài quốc tế thành lập theo Phụ lục VII (thường gọi là Trọng tài Phụ lục VII) và (iv) một tòa trọng tài đặc biệt thành lập theo Phụ lục VIII để giải quyết một số loại tranh chấp cụ thể mang tính kỹ thuật. Để các quốc gia vẫn có sự độc lập tương đối trong việc lựa chọn các thủ tục giải quyết tranh chấp, theo quy định của Công ước nếu hai quốc gia thành viên bằng tuyên bố của mình lựa chọn cùng một thủ tục trong bốn thủ tục trên thì thủ tục đó sẽ được áp dụng để giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa hai quốc gia này. Tuy nhiên, trong trường hợp hai quốc gia tranh chấp lựa chọn thủ tục giải quyết tranh chấp khác nhau hay trong trường hợp một hoặc cả hai bên tranh chấp không đưa ra tuyên bố lựa chọn thủ tục giải quyết tranh chấp, thì thủ tục Trọng tài Phụ lục VII sẽ được áp dụng như là thủ tục “mặc định” được áp dụng cho tranh chấp giữa hai quốc gia (khoản 3 Điều 287). Do cả Phi-líp-pin và Trung Quốc đều không đưa ra tuyên bố về việc lựa chọn thủ tục nào trong bốn thủ tục nêu trên, Trọng tài Phụ lục VII sẽ là thủ tục được áp dụng để giải quyết tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng Công ước giữa hai quốc gia này.

Tuy nhiên, không phải tất cả các tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng Công ước đều có thể giải quyết bằng thủ tục giải quyết tranh chấp bắt buộc tại Mục 2. Mục 3 Phần XV của Công ước Luật biển đưa một số các ngoại lệ, hạn chế thẩm quyền của các cơ quan tài phán quy định tại Điều 287, hay cụ thể ở đây là Trọng tài Phụ lục VII. Đáng chú ý trong quan hệ tranh chấp giữa Phi-líp-pin và Trung Quốc ở Biển Đông đó là các ngoại lệ liệt kê tại Điều 298, cụ thể là việc loại các tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng các điều 15, 74 và 83 về phân định ranh giới biển ra khỏi phạm vi các đối tượng tranh chấp mà Trọng tài Phụ lục VII có thể thụ lý. Các ngoại lệ theo Điều 298 gọi là ngoại lệ “tùy chọn” do các quốc gia được quyền “chọn” xem có gạt các tranh chấp liệt kê tại Điều này ra khỏi thẩm quyền của các cơ quan tài phán nêu tại Điều 287 hay không. Quyết định của quốc gia thành viên về vấn đề này sẽ được thể hiện bằng một tuyên bố vào lúc ký, phê chuẩn, gia nhập hay bất kỳ lúc nào khác (tất nhiên là trước khi có tranh chấp xảy ra). Năm 2006, Trung Quốc đã ra tuyên bố coi tất cả các loại tranh chấp liệt kê trong Điều 298 là ngoại lệ, bao gồm cả tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng các điều 15, 74 và 83 về phân định ranh giới biển. Như vậy, để bảo đảm Tòa trọng tài Phụ lục VII sẽ thụ lý yêu cầu của mình, Phi-líp-pin cần “thể hiện” tranh chấp với Trung Quốc dưới dạng một tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng Công ước nhưng lại không được nằm trong các ngoại lệ mà mà Trung Quốc đã tuyên bố năm 2006.

Tranh chấp nào cho Trọng tài Phụ lục VII và triển vọng?

Như đã trình bày ở trên, dường như mối quan tâm lớn nhất hiện nay của Phi-líp-pin là tách Bãi Cỏ Rong, mà Phi-líp-pin cho là nằm trong phạm vi thềm lục địa của mình, khỏi phạm vi vùng biển thuộc Trường Sa. Để xem Phi-líp-pin có thể vận dụng điều khoản nào trong Công ước, trước hết cần xem đặc điểm của Bãi Cỏ Rong.

Bãi Cỏ Rong là một bãi chìm vĩnh viễn[8] nằm cách Palawan khoảng 80 hải lý, cách đảo Hải Nam gần 500 hải lý[9] và cách gần điểm nhất của quần đảo Trường Sa khoảng 35-40 hải lý.[10] Do là một bãi chìm vĩnh viễn và với khoảng cách như vậy, Bãi Cỏ Rong không thể là đối tượng chiếm hữu riêng biệt để trở thành lãnh thổ quốc gia mà chỉ có thể có quy chế thềm lục địa của một quốc gia theo Công ước Luật biển. Phạm vi thềm lục địa theo Công ước Luật biển tối thiểu là 200 hải lý và có thể có kéo dài hơn đến rìa ngoài của thềm lục địa nếu rìa ngoài này vượt quá 200 hải lý.[11] Tuy nhiên, với khoảng cách địa lý như trên và với thực tế địa mạo ở Biển Đông, bãi Cỏ Rong sẽ khó có thể nằm trên thềm lục địa kéo dài từ đảo Hải Nam của Trung Quốc. Mọi yêu sách của Trung Quốc đối với Bãi Cỏ Rong do vậy chỉ có thể bắt nguồn từ yêu sách của Trung Quốc đối với quần đảo Trường Sa. Thực tế, Trung Quốc cũng đã tuyên bố quan điểm của mình cho rằng Trường Sa có thềm lục địa khi tranh cãi với Phi-líp-pin về đường chín đoạn tại Liên hợp quốc như đã nói bên trên.

Mặt khác, do khoảng cách từ Bãi Cỏ Rong đến Palawan ít hơn 200 hải lý nên Bãi Cỏ Rong có thể sẽ là một phần thềm lục địa của Phi-líp-pin nếu như Trường Sa không có thềm lục địa. Như vậy, cách tốt nhất để Phi-líp-pin bác bỏ yêu sách của Trung Quốc đối với Bãi Cỏ Rong chính là bác bỏ lập luận của Trung Quốc cho rằng Trường Sa có thềm lục địa.

Vấn đề Trường Sa có thềm lục địa hay không phụ thuộc vào việc giải thích Điều 121 về Quy chế đảo. Điều 121 quy định một vùng đất nổi tự nhiên nhưng không thể cho người đến ở hoặc không có đời sống kinh tế riêng thì sẽ bị coi là “đá” không có thềm lục địa (khoản 3). Các vùng đất nổi tự nhiên không phải là “đá” sẽ là “đảo” và sẽ có thềm lục địa riêng của mình (khoản 2). Như vậy, với việc Trung Quốc đã công khai quan điểm của mình là Trường Sa có thềm lục địa – tức là có “đảo” ở đó, Phi-líp-pin hoàn toàn có thể “tạo” một tranh chấp với Trung Quốc bằng một tuyên bố ngược lại, cho rằng Trường Sa chỉ toàn “đá”. Giữa Phi-líp-pin và Trung Quốc như vậy sẽ nảy sinh một tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng Điều 121 với Trường Sa và Phi-líp-pin có thể đơn phương yêu cầu thành lập Tòa trọng tài Phụ lục VII để giải quyết tranh chấp với Trung Quốc. Do tranh chấp về Điều 121 không nằm trong các ngoại lệ tại Mục 3, Tòa trọng tài Phụ lục VII hoàn toàn có thẩm quyền để thụ lý vụ việc do Phi-líp-pin đưa ra và sẽ ra phán quyết có giá trị ràng buộc với Phi-líp-pin và Trung Quốc về vấn đề điều Điều 121 được giải thích và áp dụng ở Trường Sa như thế nào. Nếu Tòa trọng tài đồng ý với Phi-líp-pin cho rằng ở Trường Sa không có “đảo” mà chỉ có “đá” thì phán quyết của Tòa sẽ xóa bỏ mọi yêu sách của Trung Quốc về thềm lục địa ở Trường Sa. Nói cách khác, Tòa trọng tài sẽ “gián tiếp” khẳng định Bãi Cỏ Rong thuộc thềm lục địa của Phi-líp-pin. Có lẽ, đây chính là điều Ngoại trưởng Phi-líp-pin ngụ ý khi tuyên bố yêu cầu Tòa trọng tài xác định đâu là khu vực tranh chấp và đâu là khu vực không tranh chấp.

Tuy nhiên, việc đưa tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng Điều 121 đối với Trường Sa cũng không phải là không có rủi ro. Định nghĩa về “đá” theo tiêu chuẩn “cho phép con người đến ở” hoặc “có đời sống kinh tế riêng” tại Điều 121 vốn nổi tiếng là “khó hiểu” và có nhiều cách giải thích khác nhau. Thực tế, trong khi chưa có một án lệ nào về việc giải thích và áp dụng Điều 121 thì các thẩm phán Tòa án quốc tế về luật biển trong các ý kiến riêng của mình đã áp dụng điều khoản này một cách khác nhau đối với cùng một cấu trúc địa lý.[12] Ngay đối với quần đảo Trường Sa, các học giả cũng có quan điểm khác nhau về vấn đề này. Trong trường hợp Phi-líp-pin không thành công trong việc chứng minh rằng ở Trường Sa không có “đảo” mà chỉ có “đá” thì phán quyết ràng buộc của Tòa trọng tài về việc “đảo” ở Trường Sa có thềm lục địa riêng cũng có nghĩa là sẽ có thể có vùng thềm lục địa chồng lần tạo bởi một bên là Trường Sa và một bên là bờ biển Phi-líp-pin và vùng chồng lấn này sẽ bao trùm lên Bãi Cỏ Rong. Trong trường hợp này, để khẳng định dứt khoát Bãi Cỏ Rong là thuộc về mình (Phi-líp-pin), Phi-líp-pin sẽ lại phải yêu cầu tòa phân định vùng chồng lần này. Nhưng để làm việc này thì Tòa trọng tài sẽ phải áp dụng các nguyên tắc phân định biển. Tranh chấp giữa Phi-líp-pin và Trung Quốc lúc này sẽ có liên quan đến việc giải thích và áp dụng các Điều 15, 74 và 83 của Công ước và Tuyên bố của Trung Quốc theo Điều 298 năm 2006 sẽ “phát huy tác dụng”, ngăn cản Tòa trọng tài tiếp tục thụ lý vụ việc. Như vậy sẽ không thể có sự phân định rạch ròi giữa một bên là thềm lục địa của Phi-líp-pin và một bên là thềm lục địa của Trường Sa và Bãi Cỏ Rong sẽ trở thành khu vực tranh chấp, dù là tạm thời.

Một điểm cũng đáng quan tâm đó thái độ của Trung Quốc sẽ như thế nào khi Phi-líp-pin yêu cầu thành lập Tòa trọng tài Phụ lục VII. Ở đây có thể thấy là Phụ lục VII của Công ước quy định khá chặt chẽ và đầy đủ về các vấn đề thủ tục, bảo đảm một Tòa trọng tài chắc chắn sẽ được thành lập nếu một bên tranh chấp có yêu cầu. Cụ thể, Phụ lục quy định rằng trong trường hợp một bên không chỉ định trọng tài hay các bên không đạt được thỏa thuận về trọng tài tham gia Tòa thì Chánh án Tòa án quốc tế về luật biển sẽ là người chỉ định trọng tài viên thay cho các quốc gia (Điều 3 Phụ lục VII). Đặc biệt, ngay cả trong trường hợp một bên tranh chấp thiếu hợp tác, thì theo Điều 9 của Phụ lục VII, Tòa trọng tài vẫn sẽ ra phán quyết ngay cả khi một bên tranh chấp không tham gia tranh tụng. Trước những quy định chặt chẽ như vậy, có lẽ việc bất hợp tác trong quá trình chỉ định trọng tài hay tố tụng sẽ không đem lại lợi ích gì cho bên bị kiện. Vì thế, dường như khả năng nhiều đó là Trung Quốc sẽ khôn ngoan “tỏ thiện chí” bằng cách tham gia vào quá trình thành lập Tòa trọng tài cũng như trong suốt quá trình tố tụng để bảo vệ quan điểm của mình.

Nhìn người lại ngẫm đến ta?

Khi mà Trung Quốc khăng khăng giải quyết tranh chấp song phương và dường như không “lùi bước” trong việc “áp đặt” các yêu sách của mình, việc Phi-líp-pin đơn phương yêu cầu thành lập Tòa trọng tài Phụ lục VII để kiện Trung Quốc, qua đó bảo vệ quyền lợi của mình có lẽ là một những bước đi “táo bạo” nhưng “khôn ngoan”. Khi mà tương quan lực lượng giữa hai nước chênh lệch đáng kể thì việc bên yếu hơn viện dẫn đến luật pháp quốc tế để tìm công lý là điều không tránh khỏi. Phi-líp-pin dường như cũng đã đáp ứng các nghĩa vụ thủ tục trước khi thành lập Tòa trọng tài Phụ lục VII quy định tại Mục 1, cụ thể là “nghĩa vụ trao đổi quan điểm” thông qua việc cử đoàn sang đàm phán với Trung Quốc sau sự kiện Bãi Cỏ Rong cũng như bằng chính việc Ngoại trưởng Phi-líp-pin đề nghị với người đồng nhiệm Trung Quốc về việc sử dụng Tòa án quốc tế về luật biển để giải quyết tranh chấp.

Qua việc phân tích cơ chế giải quyết tranh chấp trong Công ước Luật biển cũng như bối cảnh tranh chấp ở Biển Đông, có thể thấy đối tượng tranh chấp phù hợp nhất mà Phi-líp-pin có thể mang ra trước Tòa trọng tài Phụ lục VII chính là tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng Điều 121 về Quy chế đảo đối với Trường Sa. Một phán quyết ràng buộc của Tòa trọng tài về việc ở Trường Sa không có đảo và do đó không có thềm lục địa sẽ giải quyết được mối quan tâm hiện nay của Phi-líp-pin đối với Bãi Cỏ Rong hay những bãi ngầm mà Phi-líp-pin cho rằng nằm trong phạm vi thềm lục địa của họ.

Tuy nhiên, việc Phi-líp-pin sử dụng Tòa trọng tài Phụ lục VII để giải thích và áp dụng Điều 121 đối với Trường Sa không phải là không có rủi ro khi mà chưa có một án lệ nào về điều khoản này cũng như quan điểm của các luật gia còn khác nhau. Dù gì đi chăng nữa, hiện nay Trung Quốc vẫn đang duy trì yêu sách là các đảo ở Trường Sa có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Một phán quyết của Tòa trọng tài bất lợi cho Phi-líp-pin, cho rằng ở Trường Sa có một hoặc một số “đảo” vẫn không nhất thiết là điều xấu, ít nhất nó không làm cho tình hình xấu hơn hiện nay. Ngược lại, một câu trả lời cho câu hỏi “Yêu sách của Trung Quốc đúng hay sai?” và qua đó giúp nội bộ Phi-líp-pin hiểu được ở Biển Đông họ có cái gì, chưa có cái gì và thậm chí có thể không có cái gì thực sự là rất cần thiết. Nó sẽ xóa tan sự “mơ hồ” về pháp lý như hiện nay liên quan đến yêu sách của Trung Quốc. Hơn nữa, việc chưa có một án lệ nào về việc giải thích và áp dụng Điều 121 cũng là một cơ hội nếu Phi-líp-pin có sự đầu tư thích đáng cho vấn đề này để xây dựng những lập luận thuyết phục về việc nên giải thích và áp dụng Điều 121 ở Trường Sa như thế nào trước Tòa.

Với Việt Nam, vùng thềm lục địa phía Đông Nam của Việt Nam, nơi cách xa đảo Hải Nam của Trung Quốc, cũng đang bị Trung Quốc yêu sách như đã thấy ở Vụ Vikking II và không loại trừ khả năng Trung Quốc cũng đưa yêu sách đối với khu vực này trên cơ sở yêu sách về thềm lục địa từ Trường Sa. Nếu như vậy, những bước đi và việc sử dụng thủ tục Trọng tài Phụ lục VII của Phi-líp-pin để bảo vệ yêu sách của họ ở Bãi Cỏ Rong là điều đáng để suy ngẫm và có thể là bài học để Việt Nam nghiên cứu áp dụng trong nỗ lực bảo vệ quyền lợi chính đáng đối với vùng thềm lục địa phía Đông Nam của mình.

Phân tích trên cũng cho thấy, nếu Phi-líp-pin quyết tâm kiện Trung Quốc về việc giải thích và áp dụng Điều 121 đối với Trường Sa thì khả năng Tòa trọng tài Phụ lục VII được thành lập là rất cao và sẽ sớm có phán quyết về việc áp dụng Điều 121 thế nào ở Trường Sa. Tuy về nguyên tắc, một phán quyết của cơ quan tài phán quốc tế chỉ có giá trị đối với các bên tranh chấp và như vậy phán quyết của Tòa trọng tài Phụ lục VII do Phi-líp-pin yêu cầu thành lập chỉ ràng buộc Phi-líp-pin và Trung Quốc. Tuy nhiên, là một bên có yêu sách về chủ quyền ở Trường Sa, một phán quyết về việc ở Trường Sa có đảo hay không rõ ràng có liên quan đến lợi ích của Việt Nam. Hơn nữa, ngay cả khi phán quyết của Tòa trọng tài không có giá trị ràng buộc đối với Việt Nam, ý kiến của các trọng tài viên - các luật gia có uy tín trong lĩnh vực luật biển - về việc ở Trường Sa có “đảo” hay chỉ toàn “đá” không thể nói là không có tác động đối với yêu sách về biển và thềm lục địa của các nước ven Biển Đông. Việt Nam sẽ tham gia thế nào trong một tranh chấp giữa Phi-líp-pin và Trung Quốc để bảo vệ lợi ích của mình? Ngoài Việt Nam, Bru-nây và Ma-lai-xi-a cũng có yêu sách đối với Trường Sa. Hai quốc gia này cùng với In-đô-nê-xi-a cũng là các quốc gia đối diện với Trường Sa nên việc vùng biển của họ cũng phụ thuộc vào việc Trường Sa có thềm lục đia hay không. Với lợi ích như vậy, phản ứng của các quốc gia này sẽ như thế nào khi một Tòa trọng tài Phụ lục VII được thành lập? Hơn nữa, do phạm vi yêu sách của Phi-líp-pin không bao trùm toàn bộ Trường Sa, các bên sẽ phải làm gì để phán quyết của Tòa trọng tài bao trùm lên tất cả các vị trí địa lý tranh chấp ở Biển Đông? Đây là những câu hỏi quan trọng, cần nghiên cứu nghiêm túc và có thể là chủ đề thích hợp cho một hoặc nhiều bài một bài viết riêng. Xin hẹn dịp khác!

Nguyễn Đăng Thắng, Nghiên cứu sinh luật tại Anh

 

* Nguyễn Đăng Thắng, Nghiên cứu sinh luật tại Anh; Thành viên không thường trú, Trung tâm Nghiên cứu Biển Đông, Học viện Ngoại giao Việt Nam. Tác giả cám ơn Tiến sỹ Dương Danh Huy, Thạc sỹ Nguyễn Thị Thanh Hà, Phó Giáo sư - Tiến sỹ Nguyễn Hồng Thao và Thạc sỹ Trần Lê Phương đã trao đổi quan điểm với tác giả, cung cấp những thông tin quan trọng cũng như góp ý trực tiếp vào bài viết.

 

[1] “Philippines to seek UN arbitration in South China Sea” Agence France Presse (19 July 2011) <http://globalnation.inquirer.net/6371/philippines-to-seek-un-arbitration-in-spratlys> .

[2]Thông báo tại cuộc họp báo ngày 29/05/2011 của Bộ Ngoại giao về việc tàu Hải giám Trung Quốc đã cắt cáp thăm dò của tàu Bình Minh 02 thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam” http://www.mofa.gov.vn/vi/tt_baochi/tcbc/ns110529201615/view#b1IpAlKkl3wz .

[3] Xem I Storey, 'China and the Philippines: Implications of the Reed Bank Incident' (2011) 11(8) China  Brief 6, 7.

[4] 'Note Verbale No. 000228 dated 05 April 2011 of the Permanent Mission of the Republic of the Philippines to the United Nations', có tại http://www.un.org/depts/los/clcs_new/submissions_files/mysvnm33_09/phl_re_chn_2011.pdf.

[5] 'Note Verbale No. CML/8/2011 dated 14 April 2010 of the Permanent Mission of the People's Republic of China to the United Nations', có tại http://www.un.org/depts/los/clcs_new/submissions_files/vnm37_09/chn_2011_re_phl_e.pdf .

[6] Trích trong Press Release NYPM 30-2011 ngày 22/06/2011 của Phái đoàn thường trực Cộng hòa Phi-líp-pin bên cạnh Liên hợp quốc, có tại http://www.un.int/philippines/news/20110622nypm30.htm .

[7] Xem 'Philippines vows to protect South China Sea assets' Agence France Presse (25 July 2011), có tại http://www.channelnewsasia.com/stories/afp_asiapacific/view/1142928/1/.html .

[8] Xem MJ Valencia, JM Van Dyke and NA Ludwig, Sharing the resources of the South China Sea (Martinus Nijhoff, The Hague, 1997), 232, tập hợp các nguồn khác nhau cho rằng chỗ cao nhất của Bãi Cỏ Rong nằm cách mặt nước biển 9 hoặc 16 mét.

[9] Thông tin theo các báo của Phi-líp-pin.

[10] Tác giả cám ơn Tiến sỹ Dương Danh Huy đã cung cấp thông tin này.

[11] Điều 76 Công ước Luật biển.

[12] Xem Tuyên bố của Thẩm phán Vukas và Phản đối của Thẩm phán Anderson, chú thích 3, về đảo Heard của Úc trong vụ “The ‘Volga’, Russian Federation v Australia, Prompt Release”, ITLOS Case No 11 (ITLOS 2002).

 

I.    Về một số địa danh cổ

Sách báo Trung Quốc gần đây thường viện dẫn các địa danh như Trướng Hải, Vạn Lý Trường Sa, Thiên Lý Thạch Đường, Thạch Đường, Cửu Nhũ Loa Châu, Thất Châu Dương... làm minh chứng cho chủ quyền của Trung Quốc trên các quần đảo giữa Biển Đông đã có từ hàng nghìn năm trước. Các địa danh Trướng Hải, Vạn Lý Trường Sa, Thiên Lý Thạch Đường, Thạch Đường, Cửu Nhũ Loa Châu thật ra chỉ là những địa danh phiếm chỉ một vùng biển đảo nguy hiểm, hư hư, ảo ảo nằm ngoài đảo Hải Nam và đương nhiên là không thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Riêng Thất Châu Dương là vùng biển đảo có thật, được ghi chép rất rõ ràng trong thư tịch và bản đồ cổ Trung Quốc, gần huyện Văn Xương của đảo Hải Nam, thì lại bị người ta cố tình mơ hồ hoá, huyền thoại hoá và đẩy nó ra tận giữa Biển Đông!.

Thư tịch và bản đồ cổ của Trung Quốc tính cho đến cuối thế kỷ XIX và thậm chí cả những năm cuối thập kỷ đầu của thế kỷ XX đều phản ánh một thực tế hết sức hiển nhiên là vùng lãnh thổ, lãnh hải truyền thống của Trung Quốc chưa bao giờ vượt quá đảo Hải Nam.

Bộ bản đồ có ảnh hưởng lớn nhất đến các nhà địa lý học Trung Quốc từ đầu thế kỷ XIV cho đến những năm cuối cùng của thế kỷ XIX là bộ Dư đồ của Chu Tư Bản (Chu Ssu Pen) năm 1320. Bản chính của Dư đồ không còn nữa, nhưng vẫn có thể hình dung được nó trên đại thể trong bộ bản đồ của La Hồng Tiên (Lo Hung-Hsien) ở vào khoảng giữa thế kỷ XVI với cái tên Quảng dư đồ. Trong Quảng dư đồ, từ tấm bản đồ giới thiệu chung về Trung Quốc cho đến tấm bản đồ Quảng Đông đều không có bản đồ nào vẽ lãnh thổ Trung Quốc bao gồm cả các đảo phía dưới đảo Hải Nam.

Khâm định Tứ khố toàn thư đề yếu Đại Thanh nhất thống chí là bộ sách đồ sộ gồm 500 quyển, được biên soạn dưới sự chỉ đạo trực tiếp của vua Thanh Càn Long. Theo sắc chỉ năm Càn Long thứ 21 (1764) thì sách này được soạn trên cơ sở tập hợp tư liệu của các Thống bộ quán các tỉnh, phủ địa phương và kịp thời bổ sung những tình hình mới nhất. Thế nhưng cũng như Quảng dư đồ, tất cả các địa danh huyền thoại như Vạn Lý Trường Sa, Thiên Lý Thạch Đường, Thạch Đường, Cửu Nhũ Loa Châu... đều không được nhắc tới và dĩ nhiên đều không được đặt trong bản đồ Trung Quốc.

Các sách bản đồ khác như Độc sử phương dư kỷ yếu, Quỳnh Châu phủ chí, Quảng Đông đồ thuyết, Quốc triều nhu viễn ký, Trung Quốc cận thế dư địa đồ thuyết... cũng đều không đề cập đến các địa danh này trong bản đồ. Riêng Dương phòng tập yếu và Lịch đại dư địa đồ mục lục tuy có đánh dấu các địa danh này nhưng lại không chứng minh chúng thuộc chủ quyền Trung Quốc. Mãi cho đến năm 1909 mà tấm bản đồ Đại Thanh đế quốc vị trí, khu hoạch cũng vẫn chỉ vẽ vùng lãnh thổ cực nam của Trung Quốc dừng lại ở đảo Hải Nam. Đây là loại bản đồ phản ánh khách quan thực tế và tôn trọng sự thật lịch sử.

Khảo toàn bộ lịch sử Trung Quốc từ thời kỳ tối cổ cho đến trước năm 1909, chúng tôi chưa từng thấy có một văn kiện của bất cứ một triều đại nào khẳng định một cách chính thức, rõ ràng và thực sự chủ quyền của Trung Quốc ở khu vực các quần đảo giữa Biển Đông. Khảo sát các công trình nghiên cứu, các bộ sưu tập tư liệu đồ sộ của người Trung Quốc trước sự kiện Lý Chuẩn ra Paracels vào năm 1909, chúng tôi cũng không thấy bất kỳ một tư liệu nào thuộc loại này xuất hiện. Người làm cuốn sách Điều tra Tây Sa quần đảo báo cáo thư cho biết vào năm 1928 khi đoàn đi tìm kiếm tư liệu mà: “Tra cứu về quần đảo Tây Sa không thấy sách xưa nào ghi chép, lại không có sách chuyên khảo nào chép rõ, nay soạn sách này cũng là một tác phẩm mở đầu”. Lục Đông á trong bài báo mang tên Nhận thức về quần đảo Tây Sa, không thể không thừa nhận một thực tế là: “Quần đảo Tây Sa được phát hiện từ thời kỳ nào, ở trong sách lịch sử, địa lý và bản đồ của Trung Quốc xưa thật không thể khảo cứu được”. Điều mà các nhà nghiên cứu Trung Quốc vào những thập kỷ đầu thế kỷ XX không tìm được bất cứ tài liệu gì nói đến các quần đảo này chỉ vì một lý do hết sức giản đơn là vùng lãnh thổ, lãnh hải truyền thống của Trung Quốc không vượt quá điểm cực nam đảo Hải Nam, tương đương với khoảng vĩ độ 18, và vốn chưa bao gồm những quần đảo xa xôi và hết sức nguy hiểm ở giữa Biển Đông.

II.    100 năm Trung Quốc đặt và đổi tên các quần đảo giữa Biển Đông

Lúc đầu trước sức ép của các nước tư bản phương Tây, chính quyền nhà Thanh chủ trương đóng cửa tự thủ. Dần dần họ mới bắt đầu ý thức được rằng để bảo vệ an toàn vùng lãnh thổ duyên hải, các cửa khẩu và các hải đảo quan trọng, Trung Quốc cần phải phòng thủ từ xa, phòng thủ vòng ngoài để hỗ trợ cho việc phòng thủ chủ yếu ở bên trong. Tuy thấy được sự cần thiết phải tiến ra biển khơi, song trong hoàn cảnh lúc đó Trung Quốc khó có thể giữ nổi vùng nội địa đất liền thì làm sao có thể vươn ra chiếm lĩnh đại dương được. Từ sự thức tỉnh muôn màng ý thức tiến ra biển khơi đến khi nhà Thanh bắt đầu có chủ trương chiếm lĩnh các hải đảo trên Biển Đông là cả một chặng đường trù tính, chuẩn bị lâu dài đến gần một thế kỷ.

Chắc chắn là nếu người Nhật chưa chiếm Đông Sa thì vấn đề chủ quyền của Trung Quốc ở ngay tại Đông Sa thôi cũng chưa được đặt ra. Nếu Đông Sa thuộc về người ngoại quốc thì quả thật đấy sẽ là mối nguy hiểm lớn đối với Trung Quốc nội địa, chí ít là ở khu vực tỉnh Quảng Đông. Việc nắm lại Đông Sa vì thế đã trở thành một mắt khâu trọng yếu trong toàn bộ kế sách phòng thủ vùng duyên hải phía đông nam của Trung Quốc. Trương Nhân Tuấn tập họp một nhóm các tác giả sưu tầm nghiên cứu tư liệu có liên quan, cố tìm cách chứng minh cho bằng được chủ quyền của Trung Quốc ở Đông Sa.

Giữa lúc đó, trước sức ép của hải quân Pháp, Trương Nhân Tuấn lệnh cho phó tướng Ngô Kính Vinh phải tổ chức tuần tra nắm tình hình các quần đảo trên để tìm phương án đối phó. Ngô Kính Vinh giao công việc này cho Quảng Đông Thuỷ sư Đề đốc Lý Chuẩn thực hiện. Lý Chuẩn tiến hành tuần tra khu vực Đông Sa, rồi sau đó tiến ra Paracels. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, Trung Quốc cử người ra Paracels với tư cách đại diện cho chính quyền địa phương tỉnh Quảng Đông. Có thể do không biết, mà cũng có thể là cố tình tảng lờ trước sự thật lịch sử hết sức rõ ràng là các nhà nước Việt Nam đã liên tục nhiều thế kỷ chính thức kinh dinh khu vực Paracels mà Lý Chuẩn tự đặt lại tên đảo là Tây Sa có lẽ với ý nghĩa nếu xuất phát từ Quảng Châu thì nó là các bãi cát nằm thiên về phía Tây (thực ra phải là Tây Nam) và xem mình là người có công khai sơn phá thạch ở đây!. Như thế cái tên Tây Sa (hay Tây Sa quần đảo) được đặt chồng lên cái tên Hoàng Sa của Việt Nam và Paracels của người phương Tây chỉ mới bắt đầu từ năm 1909 và người sáng tác ra nó, không ai khác, chính là Lý Chuẩn.

Tuy địa danh quần đảo Tây Sa vừa mới được đặt, hoàn toàn xa lạ đối với người Trung Quốc, nhưng với việc Lý Chuẩn tiến hành tuần tra và đặt tên Trung Quốc cho quần đảo cũng đã đánh dấu một bước ngoặt căn bản trong lịch sử vươn xuống chiếm lĩnh các đảo trên Biển Đông của Trung Quốc nói chung và chính quyền nhà Thanh ở những năm cuối cùng của triều đại nói riêng. Từ chỗ chỉ khoanh vùng lãnh thổ, lãnh hải của mình từ vĩ tuyến 18, nghĩa là từ cực nam của đảo Hải Nam ngược trở lên phía bắc, đến những ý tưởng muốn vươn ra biển khơi để phòng thủ tầm xa trước hiểm hoạ Trung Quốc trở thành miếng mồi của chủ nghĩa tư bản phương Tây của một số chiến lược gia, đến đây chính quyền nhà Thanh đã khẳng định chủ trương muốn kéo quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam vào trong vùng lãnh thổ, lãnh hải của Trung Quốc.   

Từ sau năm 1909, chính quyền tỉnh Quảng Đông Trung Quốc mặc dù có quan tâm đến việc tổ chức khai thác quần đảo Tây Sa, nhưng đó cũng mới chỉ là những chủ trương trên giấy mà không hề được thực hiện. Sự hiểu biết của người Trung Quốc về quần đảo Hoàng Sa khoảng gần hai chục năm sau vẫn chưa cải thiện được là bao. Vì thế, theo chúng tôi cuộc điều tra quần đảo Tây Sa của trường đại học Trung Sơn và bản báo cáo Điều tra Tây Sa quần đảo báo cáo thư của Thẩm Bằng Phi phải được xem là một cái mốc quan trọng đánh dấu sự hiểu biết của người Trung Quốc về quần đảo Tây Sa cũng như Biển Đông. Đây là cơ sở để chính quyền Trung Hoa dân quốc đẩy xa hơn nữa chủ trương chiếm lĩnh toàn bộ các quần đảo ở ngoài khơi Biển Đông của họ. Tuy thế cho mãi đến năm 1934, bản đồ Trung Quốc vẫn chưa vượt quá quần đảo Tây Sa. Người Trung Quốc lúc này gọi đảo Tri Tôn ở vĩ độ 15 độ 45 phút là đảo Nam Cực, với lời giải thích rằng đảo đó là cột mốc đánh dấu lãnh thổ cực nam của Trung Quốc (nguyên văn trong Tuần hải ký trang 73: Nhân tại Nam Hải cực nam, cố danh Nam Cực đảo). Khu vực phía đông quần đảo Tây Sa mà người phương Tây gọi là Macelesfield Bank vẫn chưa hề được người Trung Quốc quan tâm đến.

Từ năm 1934 trở về trước chưa có bản đồ nào của người Trung Quốc vẽ về vùng quần đảo này, trừ tấm bản đồ phiên dịch từ bản đồ hằng hải Anh được Quảng Nha thư cục khắc in trong Trung Quốc giang hải hiểm yếu đồ chí vào năm 1907. Cũng cần phải nói rõ là Trung Quốc giang hải hiểm yếu đồ chí hoàn toàn chỉ là tấm bản đồ phiên dịch từ nguyên bản Hải đồ của Hải quân Anh (Anh quốc Hải quân hải đồ quan cục nguyên bản) sang tiếng Trung Quốc. Lúc đó Paracels được phiên thành Bá Mỗi Lập Tây Nhĩ Liệt, Macelesfield Bank là Mã Thập Lực Sĩ Phi Nhĩ Đặc và đương nhiên China Sea được phiên thành Trung Quốc Hải (với ý nghĩa là biển của riêng người Trung Quốc?).

Đồng thời với việc xuất bản tấm bản đồ này là vào khoảng năm 1935, Trung Quốc đã tiến hành dịch nghĩa và phiên âm tên phương Tây cho một loạt đảo (Island), bãi cát (Sand, Bank), tiêu (Reef), bãi ngầm/ ám sa (Shoal)... Tấm bản đồ này và những địa danh mới được phiên dịch hoàn toàn không thể coi là bản đồ Trung Quốc, những địa danh trên các quần đảo mặc dù được viết chữ Trung Quốc nhưng không phải là địa danh Trung Quốc và tuyệt nhiên không có một chút giá nào trị minh chứng cho chủ quyền của Trung Quốc ở khu vực Biển Đông.

Trong khoảng thời gian 1935-1936, lần đầu tiên các địa danh quần đảo Nam Sa và Đoàn Sa xuất hiện trên bản đồ Trung Quốc. Chúng tôi nhận thấy trong sách Trung Quốc địa lý tân chí được Trung Hoa thư cục phát hành vào năm 1935 (và in lại vào năm 1940) có các tấm bản đồ Trung Hoa dân quốc và Trung Quốc thiên sản vật công bố đồ đều đặt cái tên Nam Sa quần đảo vào vùng Macelesfield Bank ở phía đông của Tây Sa quần đảo còn Đoàn Sa quần đảo ở phía dưới của Nam Sa quần đảo (khu vực Spratlys).

Năm 1936 Đồ Tư Thông và Vương Chấn biên soạn Hiện đại bản quốc địa đồ và Tân Trung Quốc phân tỉnh đồ (bản đồ được xuất bản vào năm 1939), hai bộ bản đồ này thực chất chỉ là một, trong đó bản đồ tỉnh Quảng Đông phần đặc tả các đảo Nam Hải được vẽ chi tiết hơn. Đặc biệt, tấm bản đồ mang tên Trung Quốc cương giới biến thiên đồ đã vẽ đường biên giới hình chữ U (hay còn được các nhà nghiên cứu quen gọi là đường hình lưỡi bò), không đứt đoạn chia đôi vịnh Bắc Bộ vòng theo bờ biển Việt Nam xuống phía bắc đảo Borneo rồi bám sát bờ biển Philippines và chạy vào phía trong của Đài Loan, khoanh gọn gần như toàn bộ Biển Đông vào trong lãnh hải Trung Quốc. Vị trí của các quần đảo Tây Sa, Nam Sa, Đoàn Sa chưa có gì thay đổi so với bản đồ Trung Hoa dân quốc (1935).  

Giai đoạn từ năm 1939 đến năm 1947 là giai đoạn Trung Quốc tập trung tìm mọi cách lý giải để hợp thức hoá chủ trương chiếm toàn bộ Biển Đông. Địa danh quần đảo Nam Sa bị đẩy sâu xuống vùng Spratlys thay cho quần đảo Đoàn Sa và nhường chỗ cho địa danh mới là quần đảo Trung Sa. Như thế đến đây bản đồ Trung Quốc xuất hiện địa danh Trung Sa quần đảo thay cho Nam Sa quần đảo ở khu vực Macelesfield Bank, còn Nam Sa quần đảo thì bị đẩy sâu xuống phía nam thay cho Đoàn Sa quần đảo ở khu vực Spratlys và như vậy địa danh Đoàn Sa quần đảo đã hoàn toàn biến mất. Đường ranh giới hình chữ U trước đây được vẽ liền thì bây giờ được thể hiện đứt đoạn với 9 khúc, nhưng hình dáng và vị trí không thay đổi. Có thể coi chủ trương đặt lại tên đảo ở Nam Hải theo cách đặt tên Trung Quốc vào năm 1947 và bộ bản đồ Trung Hoa nhân dân cộng hoà quốc phân tỉnh đồ (trong đó có tấm bản đồ Nam Hải các đảo dư, Trung Quốc chính thức công bố các đảo ở Nam Hải thành một bản đồ riêng), có thể được xem là một cái mốc đánh dấu sự hoàn thiện quá trình đặt và đổi tên, hoàn thiện bản đồ và hoàn thiện cả chủ trương chiếm lĩnh Biển Đông của các nhà nước Trung Quốc cận đại và hiện đại. Đến năm 1983, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa lấy danh nghĩa “tiêu chuẩn hoá địa danh toàn quốc” đã bổ sung nhiều tên đảo, đá, đá ngầm, bãi ngầm và các luồng lạch thuộc các quần đảo trên biển  Nam Hải. So sánh với các tên đã đặt năm 1947, chúng tôi thấy số địa danh thuộc khu vực quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam tăng từ 30 lên 49 (trong đó có 22 địa danh được giữ nguyên); số địa danh thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam tăng từ 97 lên 187, trong đó có 83 địa danh được giữ nguyên và 10 địa danh được giữ lại tên nhưng các đặc điểm địa hình là đảo, tiêu, thán hay ám sa thì được định lại.

III.    Bản chất của vấn đề

Các quần đảo giữa Biển Đông vốn thuộc chủ quyền của các nhà nước Việt Nam từ lâu đời. Địa danh đầu tiên xuất hiện trong dân gian, trong bản đồ và trong thư tịch cổ của Việt Nam là Bãi Cát Vàng, vì thực tế ở đó có bãi cát vàng mà bất cứ ai từng chứng kiến cũng phải coi là dấu ấn sâu sắc nhất. Có lẽ lúc đầu do những người dân ra làm ăn ở vùng này đăt ra, rồi sau trở thành địa danh chính thức của nhà nước quản lý. Bãi Cát Vàng là cách gọi thuần Việt, nôm na, khi đi vào văn bản phải viết bằng chữ Nôm thì thật không mấy tiện dụng. Trong khi đó các văn bản chính thức của các nhà nước Việt Nam thời kỳ này đều viết bằng chữ Hán, nên Bãi Cát Vàng được phiên ra theo âm Hán Việt là Hoàng Sa. Hoàng Sa như thế cũng chỉ là cách gọi theo âm Hán Việt của Bãi Cát Vàng mà thôi. Tuy nhiên khi đã gọi là Hoàng Sa rồi thì các nhà nước Việt Nam lúc đó quan niệm nó là cả một vùng rộng lớn bao gồm cả quần đảo Trường Sa nữa, chứ không chỉ riêng Bãi Cát Vàng cụ thể trước đây. Không chỉ người Việt Nam mà các nhà hằng hải phương Tây đương thời cũng quan niệm  Hoàng Sa bao gồm cả Trường Sa mà họ gọi chung là Paracels, còn Spratlys chỉ xuất hiện muôn sau này.

Thư tịch và bản đồ cổ Trung Quốc cho đến tận cuối thế kỷ XIX và những năm đầu thập kỷ đầu thế kỷ XX đã chép một cách rất lô gích và thống nhất rằng lãnh thổ, lãnh hải cực nam của nước Trung Hoa cổ truyền không vượt quá đảo Hải Nam. Vùng biển đảo ở giữa Biển Đông (mà Trung Quốc gọi là biển Nam Hải) chưa được các Nhà nước Trung Quốc quan tâm (hay nói cho đúng ra là chưa có điều kiện quan tâm) khai chiếm, mà chỉ được nhắc đến như những cái mốc vô cùng nguy hiểm, thuyền bè qua lại cần phải tránh xa. Trung Quốc suốt trong chiều dài lịch sử chỉ có duy nhất một ứng xử là tìm đường thuận lợi xuống phía nam sao cho không bao giờ chạm đến vùng biển đảo cực kỳ nguy hiểm này. Họ trong thực tế chưa từng có bất cứ một hoạt động chủ quyền nào với tư cách nhà nước chính thức ở đây. Một số địa danh cổ vừa hư ảo, vừa cho là thuộc vùng “Man Di”, hoàn toàn không có giá trị minh chứng cho chủ quyền của Trung Quốc trên vùng biển đảo này.

Chỉ từ đầu thế kỷ XX, khi Trung Quốc triển khai chủ trương chiếm đóng các quần đảo giữa Biển Đông, thì cái tên quần đảo Tây Sa là tên Trung Quốc mới xuất hiện vào năm 1909 và được đặt chồng lên địa danh quần đảo Hoàng Sa, vốn là địa danh chính thức, lâu đời của Việt Nam. Tuy nhiên những địa danh này cũng còn phải thay đi, đổi lại, điều chỉnh nhiều lần thì mới đi đến chính thức vào cuối những năm 1940 và được “tiêu chuẩn hoá” vào đầu những năm 1980.

Ngày nay cầm tấm bản đồ các đảo Nam Hải của Trung Quốc hẳn không còn mấy ai nhớ rằng Đông Sa, Tây Sa sớm nhất thì cũng chỉ xuất hiện lần đầu tiên trên bản đồ tỉnh Quảng Đông vào năm 1909, Nam Sa xuất hiện lần đầu tiên ở Macelesfield Bank vào khoảng năm 1935-1936, nhưng sau đó phải dời xuống vùng quần đảo Spratlys để nhường chỗ cho Trung Sa vào năm 1947. Đoàn Sa được đánh dấu trên vùng Spratlys khoảng những năm 1935-1936, nhưng chi hơn chục năm sau đã bị Nam Sa chiếm chỗ và mất hẳn vị trí trên bản đồ. Quá trình đặt và đổi địa danh các quần đảo giữa Biển Đông là quá trình Trung Quốc thực thi một chiến lược nhất quán nhằm mở rộng lãnh hải, lãnh thổ, biến toàn bộ Biển Đông thành cái ao riêng của mình. Vấn đề địa danh ở các quần đảo giữa Biển Đông từ đầu thế kỷ XX đã được các nhà nước Trung Quốc chính trị hoá và biến thành phương tiện giành giật chủ quyền quốc gia lãnh thổ và lãnh hải, chứ không còn là những địa danh tự nhiên, thông thường như trước nữa.

Đến cuối năm 2008, trên cơ sở 3 địa danh chính là quần đảo Tây Sa (đặt năm 1909), quần đảo Trung Sa (đặt năm 1947) và quần đảo Nam Sa (đặt năm 1947), Quốc vụ viện Trung Quốc đã phê chuẩn việc thành lập thành phố Tam Sa là thành phố cấp huyện thuộc tỉnh Hải Nam để trực tiếp quản lý cả 3 quần đảo kể trên. Như thế thành phố cấp huyện Tam Sa của Trung Quốc, trên thực tế đã được đặt chồng lên hai huyện của Việt Nam là Hoàng Sa thuộc thành phố Đà Nẵng và Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hoà.

Cũng cần phải khẳng định một cách tuyệt đối rằng lịch sử thực thi chủ quyền của Việt Nam ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trư­ờng Sa với tư­ cách Nhà nư­ớc, phát triển dần từ thấp đến cao, liên tục, thực sự và rõ ràng, muộn nhất là từ đầu thế kỷ XVII (dưới thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên), qua các thế kỷ XVII,  XVIII (dưới thời các chúa Nguyễn tiếp theo và vương triều Tây Sơn), thế kỷ XIX (dưới thời các vương triều Nguyễn, trong đó đặc biệt là các vua Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị) và cho mãi đến những năm đầu của thế kỷ XX vẫn ch­ưa hề gặp phải sự phản đối của bất cứ quốc gia nào. Vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và những đảo chính yếu của quần đảo Tr­ường Sa chí ít trong suốt 3 thế kỷ XVII, XVIII, XIX là hiển nhiên và trọn vẹn.

Lịch sử quá trình tranh chấp chủ quyền các vùng quần đảo giữa Biển Đông chỉ thực sự bất đầu từ năm 1909 khi Trung Quốc lần đầu tiên đặt tên quần đảo Tây Sa vào đúng vị trí quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Từ bấy đến nay vừa tròn 100 năm, Trung Quốc đã không chỉ khẳng định địa danh, khẳng định bản đồ, mà còn tìm mọi cách biến vùng biển đảo vô cùng xa lạ đối với họ trở thành một đơn vị hành chính chính thức của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, thành một thành phố cấp huyện của tỉnh Hải Nam, thành một vùng lãnh thổ, lãnh hải thân thương và máu thịt của Trung Quốc từ ngàn đời!!!. Lịch sử một thế kỷ đặt và thay đổi địa danh của Trung Quốc ở các vùng quần đảo giữa Biển Đông xét về thực chất chỉ là quá trình từng bước, từ thấp đến cao, từ bộ phận đến toàn thể cướp chiếm chủ quyền của Việt Nam, ngang nhiên hoán đổi thành chủ quyền của Trung Quốc, bất chấp sự phản đối của Việt Nam và cộng đồng quốc tế.

                        Hà Nội, tháng 3 năm 2009.

GS. TS. Nguyễn Quang Ngọc, Viện trưởng Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, ĐH Quốc gia Hà Nội

 

Trang mạng tiếng Việt www.tapchithoidai.org vừa đăng tải bài viết của Hồ Bạch Thảo phân tích về vấn đề chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, với nhan đề: "Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa) có được nói đến như là đất Trung Quốc trong Thanh Sử Cảo và Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ không?" Sau đây là những nội dung chính của bài viết:

 

 

 

 

 

Ðọc những lời tranh cãi về chủ quyền trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Trung Quốc thường đưa những chứng cớ vu vơ về lịch sử, qua những tài liệu không đáng tin cậy. Lý do là bởi trong thời gian dài gần cả ngàn năm, bờ biển Trung Quốc thường bị khống chế bởi Nhật Bản hoặc các nước phương Tây, triều đình nước này lo phòng thủ cũng đã đủ mệt mỏi, nên không còn thời gian để nhòm ngó và thực hiện chủ quyền tại các hải đảo ngoài biển. Bởi vậy, không có bằng chứng xác đáng trong chính sử Trung Quốc là nước này đã xác định chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa, và thời gian qua để biện minh cho thế đứng của mình trong tranh chấp, Trung Quốc đã đưa ra những lời nói vu vơ thiếu căn cứ để làm bằng chứng cho chủ quyền của mình ở phần đất họ chưa bao giờ làm chủ. Trung Quốc thường dùng các bản tường trình hoặc du ký của người Trung Quốc, và những bản đồ vẽ thế giới quanh họ thường có tên là thiên hạ toàn đồ, tất nhiên là những bản đồ có vùng đảo Hoàng Sa và Trường Sa để chứng minh hai vùng này thuộc Trung Quốc. Điều này chẳng khác gì nói Nhật Bản, Việt Nam , Lào, Thái Lan v.v. cũng là đất Trung Quốc. Chống lại luận điệu này, tôi (Hồ Bạch Thảo) đã dựa vào chính sử Trung Quốc để xem xét bằng chứng. Theo cách làm việc này, qua bài Lãnh hải Trung Quốc dưới thời nhà Minh, tôi đã cố gắng tìm kiếm các địa danh Tây Sa, Nam Sa trong Minh Sử nhưng không thấy.

Bài này tiếp tục dò xuống đời Thanh, là thời gần với thời hiện đại nhất, phản ánh rõ địa lý mà sử sách và bản đồ Trung Quốc coi là vùng đất thuộc cương vực Trung Quốc, tất nhiên là không bao gồm các quốc gia độc lập khác mà thường phải cống nộp lấy lệ cho Trung Quốc để tránh Trung Quốc mượn cớ gây chiến. Cần lưu ý là các bản đồ khác mang tên đại loại như “thiên hạ toàn đồ” hay các tên tương tự là bản đồ thế giới hoặc bản đồ bao gồm cả Trung Quốc và các nước xung quanh được Trung Quốc coi là chư hầu hay bản đồ ghi lại các chuyến du hành. Những bản đồ này không thể coi là bản đồ Trung Quốc nhưng đã được một số học giả dùng để chứng minh là Tây Sa và Nam Sa đã được vẽ vào bản đồ Trung Quốc.
Bài viết thực hiện qua việc đọc bộ chính sử viết về thời này nhan đề là Thanh Sử Cảo để tham khảo. Tại Trung Quốc, Tống Sử được soạn vào đời Nguyên, Nguyên Sử soạn vào triều Minh, Minh Sử soạn vào triều Thanh, rồi đến Thanh Sử được soạn vào thời Dân Quốc. Vào thời đầu Dân quốc năm 1914 cho lập Quốc Sử Quán, cử Triệu Nhĩ Tốn làm Quán trưởng, bắt đầu biên soạn Thanh Sử. Trải qua hàng chục năm mới hoàn thành, đây là bộ sử đồ sộ gồm 536 quyển, tài liệu rất phong phú, nên các học giả mệnh danh là 1 trong 25 bộ sử của Trung Quốc (Nhị thập Ngũ Sử), riêng phần địa lý gồm 28 quyển. Phải nói địa lý hành chính trong bộ sử này chép khá kỹ, mỗi tỉnh chia rõ ràng từng phủ, huyện; về khoảng cách và phương hướng tính từ huyện, châu đến phủ, hoặc từ phủ lỵ đến tỉnh lỵ. Qua sự tìm hiểu 28 quyển địa lý trong bộ sử, không hề thấy địa danh các quần đảo có tên là Tây Sa, Nam Sa.

Tham khảo thêm, chúng tôi đã sử dụng Ðại Thanh Nhất Thống Toàn Ðồ của Thư viện Quốc gia Ôxtrâylia để xác minh thêm Thanh Sử Cảo.

I. Đại Thanh Nhất Thống Toàn Ðồ:

Trước tiên nói về Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ, gồm 21 phần, xin liệt kê như sau:

- Phần 1: Ðại Thanh nhất thống toàn đồ (Bản đồ toàn thể nước Ðại Thanh)
- Phần 2: Ðịa Cầu chính điện toàn đồ (Bản đồ mặt chính của quả Ðịa cầu)
- Phần 3: Ðịa Cầu bối diện toàn đồ (Bản đồ mặt sau của quả Ðịa cầu)
- Phần 4: Thịnh kinh toàn đồ (Bản đồ kinh sư phồn thịnh)
- Phần 5: Trực Lệ toàn đồ (Bản đồ tỉnh Trực Lệ)
- Phần 6: Sơn Tây toàn đồ (Bản đồ tỉnh Sơn Tây)
- Phần 7: Sơn Ðông toàn đồ (Bản đồ tỉnh Sơn Ðông)
- Phần 8: Giang Nam toàn đồ (Bản đồ vùng Giang Nam )
- Phần 9: Chiết Giang toàn đồ (Bản đồ tỉnh Chiết Giang)
- Phần 10: Giang Tây toàn đồ (Bản đồ tỉnh Giang Tây)
- Phần 11: Phúc Kiến toàn đồ (Bản đồ tỉnh Phúc Kiến)
- Phần 12: Quảng Ðông toàn đồ (Bản đồ tỉnh Quảng Ðông)
- Phần 13: Quảng Tây toàn đồ (Bản đồ tỉnh Quảng Tây)
- Phần 14: Hà Nam toàn đồ (Bản đồ tỉnh Hà Nam )
- Phần 15: Hồ Nam toàn đồ (Bản đồ tỉnh Hồ Nam )
- Phần 16: Hồ Bắc toàn đồ (Bản đồ tỉnh Hồ Bắc)
- Phần 17: Tứ Xuyên toàn đồ (Bản đồ tỉnh Tứ Xuyên)
- Phần 18: Vân Nam toàn đồ (Bản đồ tỉnh Vân Nam )
- Phần 19: Quí Châu toàn đồ (Bản đồ tỉnh Quí Châu)
- Phần 20: Thiểm Tây toàn đồ (Bản đồ tỉnh Thiểm Tây)
- Phần 21: Cam Túc toàn đồ (Bản đồ tỉnh Cam Túc)

Bản đồ không ngày tháng biên soạn và được Thư viện Quốc gia Ôxtrâylia đánh giá là xuất bản vào khoảng 1800-1899, nhưng qua phần 2 và 3 thể hiện trái đất là một khối cầu, có phân biệt hai cực Bắc, Nam; chứng tỏ nhà biên soạn từng tham khảo môn địa lý phương Tây. Ðiều này chỉ có thể xảy ra dưới thời Quang Tự [1875- 1908] hoặc sau đó, lúc này phong trào cải cách của Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu nhiệt liệt cổ động nghiên cứu học thuật phương Tây, Trung Quốc mới được truyền bá kiến thức này. Riêng với mục đích rà soát cái gọi là Tây Sa [Hoàng Sa], Nam Sa [Trường Sa] trong bản đồ; hãy tìm hiểu kỹ phần 1 Ðại Thanh Nhất Thống Toàn Ðồ, và phần 12 Quảng Ðông Toàn Ðồ; xét về vị trí địa lý các đảo nêu trên nếu có, chỉ có thể thấy trên 2 bản đồ này:

1. Phần 1 Ðại Thanh Nhất Thống Toàn Ðồ:

Ðây là bản đồ tổng quát nước Trung Hoa thời nhà Thanh, tính từ Bắc chí Nam , ngoài biển có các đảo như sau:

- Phượng Mã đảo: phía Nam nước Triều Tiên.
- Ðại Lưu Cầu, Tiểu Lưu Cầu: phía Đông tỉnh Chiết Giang.
- Ðài Loan: phía Đông tỉnh Phúc Kiến.
- Quỳnh Châu, Nhai Châu: tức phủ Quỳnh Châu và châu Nhai thuộc đảo Hải Nam nằm phía Nam lục địa tỉnh Quảng Ðông.

2. Phần 12 Quảng Ðông Toàn Ðồ:

Dò tiếp phía Nam lục địa Quảng Ðông thấy đảo Hải Nam và một số đảo kế cận xung quanh, ngoài ra phía Nam Hải Nam không còn đảo nào khác.

II. Thanh Sử Cảo:

Ðiều thú vị là hầu hết địa danh nêu trên bản đồ đều được đề cập trong Thanh Sử Cảo. Nội dung hai công trình gắn bó với nhau, nên có thể cho rằng công trình sau đã tham khảo công trình trước. Ðể làm sáng tỏ điều này, xin lược dịch lại đoạn địa lý chí chép về đảo Hải Nam trong Thanh Sử Cảo, gặp địa danh có trên Quảng Ðông Toàn Ðồ thì đánh số để tiện tham khảo. Theo Thanh Sử Cảo, tỉnh Quảng Ðông được chia thành 6 đạo (đơn vị hành chính thời xưa, tương đương với tỉnh ngày nay), đảo Hải Nam nằm trong đạo Quỳnh Nhai, đạo này gồm phủ Quỳnh Châu và Châu Nhai, mục địa lý chí chép như sau:

A. Phủ Quỳnh Châu: Trụ sở đạo Quỳnh Nhai nằm trong phủ, cách tỉnh lỵ Quảng Châu 1.810 lý về phía Đông Bắc; có 1 châu, 7 huyện. Phủ và châu Nhai nằm trong đảo Hải Nam, ở giữa có núi Ngũ Chỉ phân cách; phía Nam núi thuộc châu Nhai, Bắc núi thuộc phủ Quỳnh Châu. Trong núi có giống dân Sinh Lê, ngoài núi có dân Thục Lê cùng các châu huyện. Tại núi các động thâm hiểm, dân Lê thường ra vào gây loạn. Năm Quang Tự thứ 15 [1889], Tổng đốc Trương Chi Ðồng bắt đầu cho cắt núi Ngũ Chỉ bằng 12 con đường, gồm: 3 đường phía Đông, 3 đường phía Tây, 1 đường phía Nam, 1 đường phía Bắc, 1 đường Đông Nam, 1 đường Đông Bắc, 1 đường Tây Nam, 1 đường Tây Bắc; nơi hoang dã âm u mở thành đất bằng, mọi người đều cho là thuận tiện. Vào năm Hàm Phong thứ 8 [1858], nước Anh mở thương ước đặt thương cảng Quỳnh Châu. [Phủ Quỳnh Châu gồm]:

- Huyện Quỳnh Sơn: phủ thành đặt trong huyện, phía Nam có núi Quỳnh Sơn nên lấy tên đặt. Phía Bắc là bờ biển; sông Bạch Thạch còn gọi là Kiến Giang từ huyện Trừng Mại nơi bờ biển phía Tây Bắc vòng sang phía Đông, chảy vào huyện Ðịnh An, đến đây gọi là sông Nam Ðộ, vòng phía Bắc gọi là Bắc Sa Hà, chuyển sang phía Tây Bắc đến cửa Bạch Sa ra biển. Viên Huyện thừa đóng tại thành ở cửa biển, có Tuần ty tại Thủy Vỉ, công trường muối tại Cảm Ân.

- Huyện Trừng Mại: phía Tây phủ 60 lý, phía Nam có núi Mại, phía Bắc giáp biển, sông Kiến Giang tại phía Tây Nam, lại có sông Tân An từ huyện Lâm Cao chảy vào theo phía Đông Nam qua Lê Mẫu hợp với khe Tân Ðiền rồi chảy vào huyện Quỳnh Sơn. Lại có sông Trừng phát nguyên từ núi Ðộc Chu tại phía Đông Nam huyện, chảy theo hướng Tây Bắc đến phía Tây huyện lỵ, hợp với sông Cửu Khúc, rồi theo phía Tây đến cảng Ðông Thủy thì ra biển. Sông Sảo Dương, phía trên nguồn gọi là khe Nam Cổn, chảy qua phía Bắc huyện hợp với sông Sa Ðịa qua Cù Lãnh đến cảng Cù, rồi ra biển.

- Huyện Ðịnh An: nằm về phía Nam phủ lỵ cách 80 lý; phía Tây Nam là núi Ngũ Chỉ còn có tên là núi Lê Mẫu chạy sang phía Đông thành núi Quang Loa, lại tiếp sang Đông thành núi Nam Lư, khe Viễn phát xuất tại phía Nam núi. Phía Bắc huyện, sông Kiến Giang tại Quỳnh Sơn đổ vào hướng Đông hợp với khe Viễn qua Đông Bắc huyện lỵ, các khe Ðàm Giám, Tiên Khách nhập vào theo hướng Đông Bắc vào huyện Quỳnh Sơn, được gọi là sông Nam Ðộ. Phía Tây Nam huyện có sông Vạn Toàn ra khỏi động Nam Bàng hướng phía Đông vào huyện Lạc Hội. Huyện có tuần ty Thái Bình.

- Huyện Văn Xương: [nay là Văn Xương thị] vị trí phía Đông Nam phủ lỵ cách 60 lý. Phía Bắc có núi Ngọc Dương, phía Nam núi Tử Bối, Đông Bắc là biển. Trên biển có núi Phù Sơn, dưới núi là Phân Dương châu. Phía Nam có khe Văn Xương phát nguyên từ núi Bạch Ngọc phía Tây huyện, rồi hướng phía Đông nhập các khe Bạch Thạch, Bạch Mang, lượn sang phía Đông có khe Bình Xương từ phía Tây Bắc đổ vào, rồi chảy về phía Nam đến cảng Thanh Lan thì ra biển. Phía Nam huyện, khe Bạch Diên chảy ra khỏi núi Bát Giác, hướng Đông Nam đến cảng Trường Kỳ rồi ra biển. Lại phía Bắc Tam Giang tức khe La Hán phát nguyên từ núi Bảo Hổ hướng Tây Bắc đến cảng Phố Tiền rồi ra biển. Huyện có hai ty tuần kiểm Phố Tiền và Thanh Lam và công trường muối Lạc Hội.

- Huyện Hội Ðồng: vị trí phía Đông Nam phủ lỵ cách 290 lý; phía Đông huyện có nhiều núi kỳ dị. Phía Tây có khe Long Giác phát nguyên từ núi Tây Nhai hướng Đông Nam tới chợ Tích Gia nên được gọi là khe Tích Gia, rồi khe Lê Bồn từ phía Tây hợp vào, chảy xuống Nam được gọi là khe Ngũ Loan, rồi vào huyện Lạc Hội.

- Huyện Lạc Hội: vị trí phía Đông Nam phủ lỵ cách 330 lý; phía Đông có núi Bạch Thạch, Tây Nam có núi Tung Hoành, phía Đông giáp biển. Phía Tây, sông Vạn Toàn từ huyện Ðịnh An chảy vào hướng Đông rồi đổi hướng Bắc hợp với sông Thái Bình tiếp tục chảy hướng Đông Nam hợp với sông Ngũ Loan qua núi Long Ma chia dòng bao quanh huyện lỵ, rồi hợp lại hướng Đông qua núi Liên Hoa, lượn Đông Nam qua cảng Bác Long rồi ra biển. Sông Lưu Mã phát nguyên từ núi Long Nham tại phía Tây Nam huyện, chảy sang Đông vào huyện Vạn, lại quẹo hướng Đông Bắc để trở về địa giới của huyện, được gọi là sông Gia Liêm, chảy về Đông Bắc gọi là sông Cửu Khúc, khe Liên Ðường nhập vào, rồi theo hướng Đông Bắc hợp với sông Vạn Toàn ra biển.

- Huyện Lâm Cao: nằm về phía Tây Nam phủ lỵ cách 180 lý; phía Nam có núi Na Bồn, phía Tây núi Tỷ Gia, phía Bắc giáp biển. Sông lớn Kiến Giang do Ðam Châu chảy vào từ phía Nam, hướng Bắc đến núi Yêu Bối ra phía Tây trước cửa huyện rồi uốn lượn theo hướng Đông Bắc đến thôn Văn Lan hợp với sông Thấu Than, lại còn được gọi là sông Nghênh Ân, hướng Bắc đến cảng Bác Phố rồi ra biển; một nhánh ngòi thuộc sông này hướng Đông Bắc qua núi Bạch Lãnh vào huyện Trừng Mại. Huyện có tuần ty Hòa Xả, công trường muối Ðảo Mã.

- Ðam Châu: [Hiện nay tại phía Tây Bắc Ðam Châu thị] nằm về phía Tây Nam phủ lỵ cách 300 lý; phía Bắc có núi Ðam Nhĩ, còn gọi là núi Tùng Lâm, hoặc Ðằng Sơn; Tây Bắc giáp biển, ngoài biển có núi Sư Tử. Trong châu có sông Kiến Giang, còn gọi là sông Lê Mẫu hướng Tây Nam qua núi Long Ðầu, chia làm hai: nhánh phía Đông gọi là Ðại Giang, hướng Đông Bắc vào huyện Lâm Cao; nhánh phía Tây gọi là sông Bắc Môn hoặc sông Luân hướng Tây Bắc, đến phía Đông Bắc châu uốn sang phía Tây tạo thành cảng Tân Anh, rồi sông Xương Giang từ phía Đông Nam gộp vào để chảy ra biển. Phía Đông Bắc châu có sông Dung Kiều, phía Tây Nam có sông Sa Cấu đều hướng Tây Bắc ra biển. Châu có tuần ty Bạc Sa, ty Trấn Nam , công trường muối Lan Hinh.

B. Nhai Châu:

Trước kia thuộc phủ Quỳnh Châu, đến năm Quang Tự 31 [1905] trực thuộc đạo Quỳnh Nhai, cách tỉnh lỵ Quảng Châu 2680 lý về phía Đông Bắc; [trị sở Nhai Châu tại Tam Á thị hiện nay] chiều rộng 242 lý, dọc 175 lý, có 4 huyện. Phía Đông Nhai Châu có núi Hồi Phong, Tây Nam núi Trừng Ðảo, Đông Nam giáp biển. Phía Đông Bắc sông An Viễn từ huyện Lăng Thủy chảy vào, hướng Tây Nam đến núi Lang Dõng chia làm hai: một nhánh chảy phía Tây, đến thôn Chí Ðại rồi ra biển, một nhánh hướng Tây Bắc gọi là sông Bảo Dạng qua phía Bắc châu lỵ, uốn theo hướng Bắc đến cảng Bảo Bình rồi ra biển. Phía Bắc châu có sông Lạc An hướng Tây Nam qua núi Ða Cảng, chuyển theo hướng Tây Bắc vào huyện Cảm Ân. Phía Đông có sông Ða Ngân còn gọi là sông Lâm Xuyên phát nguyên từ Lê Ðộng, hướng Đông hợp với sông Tam Á, rồi hướng Đông Nam đến cảng Du Lâm để ra biển. Châu có 2 ty tuần kiểm: Lạc An và Vĩnh Ninh; công trường muối Lâm Xuyên. Châu cai quản 4 huyện gồm:

- Huyện Cảm Ân: [nay thuộc phía Nam Ðông Phương thị] nằm về phía Tây Bắc châu lỵ Nhai Châu cách 195 lý, xưa thuộc phủ Quỳnh Châu, năm Quang Tự thứ 31 [1905] bắt đầu thuộc Nhai Châu. Phía Đông có núi Ðại Nhã, phía Đông Bắc núi Cửu Long, phía Tây giáp biển; phía Đông có Long Giang phát nguyên từ núi Lê Mẫu hướng Tây Nam còn gọi là sông Cảm Ân, chảy sang phía Tây đến phía Bắc huyện lỵ thành cảng Cảm Ân rồi ra biển, nhánh chính hướng Tây Bắc qua chợ Bắc Lê làm thành cảng Bắc Lê rồi hướng Tây Nam ra biển. Sông Lạc An hướng Tây Bắc ra khỏi châu, vào huyện Xương Hóa.

- Xương Hóa: [nay thuộc huyện Xương Giang Lê tộc tự trị], nằm về phía Tây Bắc châu lỵ cách 360 lý, xưa thuộc phủ Quỳnh Châu, năm Quang tự thứ 31 [1905] bắt đầu thuộc Nhai Châu. Phía Đông Bắc có núi Tuấn Linh, phía Đông Nam núi Cửu Phong, Tây Bắc giáp biển; phía Nam Xương Giang tức sông Lạc An từ huyện Cảm Ân chảy vào qua phía Đông Nam huyện lỵ thì chia làm hai: hướng Tây Nam gọi là sông Nam Nhai, hướng Bắc gọi là Bắc Giang, cả hai đều chảy ra biển. Lại có sông An Hài phát nguyên từ Ca Báng Lãnh phía Đông Bắc, hướng Tây Nam đến châu Ðam thì ra biển.

- Lăng Thủy: [nay thuộc huyện Lăng Thủy Lê tộc tự trị], nằm về phía Đông Bắc châu lỵ cách 210 lý, xưa thuộc phủ Quỳnh Châu, năm Quang Tự thứ 31 [1905] bắt đầu thuộc Nhai Châu. Phía Tây có núi Ðộc Tú, phía Nam núi Ða Vân, Đông Nam giáp biển, tại biển có đảo Gia Nhiếp, đảo Song Nữ; phía Tây Bắc có Ðại Hà phát nguyên từ núi Thất Chỉ chảy hướng Đông qua núi Bác Cổ, lượn phía Nam làm thành cảng Ðồng Khê rồi hướng Đông ra biển. Phía Nam có sông Thanh Thủy Ðường Thủy phát nguyên từ thôn Lang Nha phía Tây Bắc, chảy hướng Nam đến phía Tây huyện lỵ được gọi là sông Bút Giá Sơn hợp với Ðại Hà tạo thành cảng Táo Tử, lượn phía Tây Nam đến cảng Tân Thôn thì ra biển; huyện có Tuần ty Bảo Ðình.

- Huyện Vạn: [nay là Vạn Ninh thị] nằm về phía Đông Bắc châu lỵ cách 370 lý, xưa là châu Vạn thuộc phủ Quỳnh Châu, năm Quang Tự thứ 31 [1905] bị giáng thành huyện, lệ thuộc vào Nhai Châu. Phía Đông huyện có núi Ðông Sơn, phía Bắc núi Lục Liên, Đông Nam giáp biển, trên biển có núi Ðộc Châu, dưới là Ðộc Châu Dương; phía Tây Bắc có Long Cổn Hà phát nguyên từ động Tung Hoành, lượn xuống phía Nam rồi ra phía Đông hợp với Lưu Mã Hà, hướng Đông Bắc vào huyện Lạc Hội, lượn theo hướng Đông Nam trở lại phía Bắc huyện, riêng phía Đông có khe Liên Ðường, uốn sang phía Bắc vào huyện Lạc Hội hợp với sông Vạn Toàn, nhánh chính hướng Đông Nam qua núi Liên Chi rồi ra biển. Lại có sông Ðô Phong phát nguyên từ động Tung Hoành, chảy theo hướng Đông Nam rồi chia làm 4 nhánh: cảng Hòa Lạc, Cảng Bắc, khe Thạch Cẩu, sông Kim Tiên, đến phía Đông Bắc huyện lỵ rồi ra biển. Phía Nam Dương Dung Hà phát nguyên từ núi Giá Cô phía Tây Bắc, hướng Đông Nam đến thôn Sấu Ðiền thì chia dòng hợp với Thạch Qui Hà lại theo hướng Đông Nam ra biển. Huyện có Tuần ty Long Cổn, công trường muối Tân An.

Ðến thời Trung Hoa Dân Quốc, đảo Hải Nam được đặt tên là đạo Quỳnh Nhai, tức gộp tên cũ của phủ Quỳnh Châu và châu Nhai. Ðạo Quỳnh Nhai trực thuộc tỉnh Quảng Ðông, được chia làm 13 huyện, tên huyện tương tự như thời nhà Thanh trước kia, gồm: 1.Quỳnh Sơn, 2.Trừng Mại, 3.Ðịnh An, 4.Văn Xương, 5.Quỳnh Ðông (đời Thanh là Hội Ðồng), 6.Lạc Hội, 7.Ðam huyện (đời Thanh gọi là Ðam Châu), 8.Lâm Cao, 9.Vạn Ninh (đời Thanh là huyện Vạn), 10.Xương Giang (đời Thanh là Xương Hóa), 11.Lăng Thủy, 12.Cảm Ân, 13.Nhai huyện (năm 1920, Nhai Châu đổi thành Nhai huyện).

Trong giai đoạn đầu Dân Quốc, chính phủ Trung Hoa chưa đề cập đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; mãi đến thập niên 1930 nhận thức được tiềm lực kinh tế tại Biển Đông, mới bắt đầu lên tiếng. Sau Chiến tranh thế giới thứ II, nhân Nhật Bản đầu hàng đồng minh, chính phủ này cho mang quân chiếm một vài đảo trong 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thu nhận đảo Hải Nam vào tháng 5 năm 1950, thành lập Hải Nam Quân dân Ủy viên Hội. Tháng 3 năm 1955 đổi thành Quảng Ðông Tỉnh Hải Nam Hành chính Công Thự, sau cuộc Cách mạng Văn hóa nổ ra năm 1966, đình chỉ chức quyền của Công Thự, năm 1968 thiết lập Hải Nam Ðịa Khu Cách mạng Ủy viên Hội. Tháng 10 năm 1984, thành lập Hải Nam Hành chính Khu Nhân dân Chính phủ. Hải Nam Hành chính Khu quản hạt Hải Nam Lê tộc, Miêu tộc tự Trị Châu, cùng 9 huyện: 1. Quỳnh Xương, 2. Văn Sơn, 3. Lâm Cao, 4. Trừng Mại, 5. Quỳnh Hải, 6. Ðồn Xương, 7. Ðam huyện, 8.Vạn Ninh, 9. Ðịnh An; ngoài ra lại đặt các đảo Tây Sa [Hoàng Sa], Trung Sa, Nam Sa [Trường Sa] vào cái gọi là biện lý sự. Như vậy sau khi chiếm được một vài hải đảo do Trung Hoa Dân Quốc bỏ lại sau cuộc rút lui ra Ðài Loan, năm 1974 lại xâm lăng một số đảo do Việt Nam Cộng hòa làm chủ.

Năm 1988, thiết lập tỉnh Hải Nam . Ðến năm 2008, toàn tỉnh được chia như sau:

- Hai địa hạt cấp thị: Hải Khẩu thị, Tam Á thị.
- Bốn thị hạt khu: Quỳnh Sơn khu, Long Hoa khu, Tú Anh khu, Mỹ Lan khu.
- Sáu huyện cấp thị: Văn Xương thị, Quỳnh Hải thị, Vạn Ninh thị, Ðam Châu thị, Ðông Phương thị, Ngũ Chỉ Sơn thị.

- Bốn huyện: Ðịnh An huyện, Ðồn Xương huyện, Trừng Mại huyện, Lâm Cao huyện.
- Sáu tự trị huyện: Quỳnh Trung Miêu tộc Lê tộc tự trị huyện, Bảo Ðình Miêu tộc Lê tộc tự trị huyện, Bạch Sa Lê tộc tự trị huyện, Xương Giang Lê tộc tự trị huyện, Lạc Ðông Lê tộc tự trị huyện, Lăng Thủy Lê tộc tự trị huyện.

- Khai phát khu: Dương Phố kinh tế khai phát khu.
- Biện sự xứ: Tây Sa [Hoàng Sa] quần đảo, Nam Sa [Trường Sa] quần đảo, Trung Sa quần đảo.

III. Kết luận:

Bài viết này cho thấy tài liệu chính thức của Trung Quốc về thời nhà Thanh (1644-1911) như Thanh Sử Cảo và bản đồ soạn và in thời đó như Ðại Thanh Nhất Thống Toàn Ðồ đã không coi Tây Sa [Hoàng Sa], Nam Sa [Trường Sa] là thuộc lãnh thổ Trung Quốc. Ðại Thanh Nhất Thống Toàn Ðồ có thể không phải là bản đồ chính thức nhưng đã được thu thập, ghi chú và lưu giữ ở Hội Thừa Sai Luân Đôn và Thư viện Quốc gia Ôxtrâylia. Đây là tài liệu đáng tin cậy vì khi được soạn thảo dưới một triều đại mà vua chúa có quyền sinh sát với những người làm sai thì người soạn bản đồ đó không thể tự ý loại bỏ một phần đất trong lãnh thổ Trung Quốc. Thêm nữa, hai tài liệu này hoàn toàn không mâu thuẫn nhau. Nó cũng phù hợp với Minh Sử mà tác giả đã viết trong một bài khác. Ngoài ra kết luận ở đây cũng phù hợp với bản đồ nhà Thanh mà Đại học Cambridge ở Anh đã in vào năm 1910./.

 

 

 

Tranh chấp chủ quyền Biển Đông luôn đứng đầu bảng với tư cách là nguồn gây bất ổn định ở Đông Nam Á. Cuộc tranh chấp này có vẻ như sẽ không có lời giải đáp hay một biện pháp hữu hiệu nào trong tương lai gần, cho dù các bên đều mong muốn giải quyết một cách hòa bình, tuy nhiên bạo lực quân sự đã từng được sử dụng và có thể còn được sử dụng nữa!

 

Phần 1: TRANH CHẤP TRÊN BIỂN ĐÔNG QUA CÁI NHÌN CỦA NGƯỜI NGOÀI CUỘC

 

Tranh chấp về chủ quyền trên Biển Đông luôn đứng đầu bảng với tư cách là nguồn gốc gây bất ổn định ở Đông Nam Á. Quần đảo Trường Sa, với khoảng hơn 40 đảo và bãi đá lớn nhỏ[1], là nơi tranh chấp giữa Malaysia, Philippines, Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan, Indonesia và Brunei, trong đó chủ chốt nhất là 5 nước đầu tiên. Cuộc tranh chấp này có vẻ như sẽ không có lời giải trong tương lai gần. Mặc dù các bên đều mong muốn giải quyết vấn đề một cách hòa bình, bạo lực quân sự đã từng được sử dụng và có thể sẽ còn được sử dụng nữa – nhiều khả năng là với các hậu quả nghiêm trọng hơn nhiều[2]. Ngày nay, các bên đều có lợi từ sự ổn định trong khu vực và điều này khiến cho triển vọng xảy ra xung đột quân sự có vẻ thấp, nhưng tiềm năng xảy ra xung đột quân sự thì vẫn còn nguyên vẹn, thậm chí có thể ngày một lớn dần.

 

Những hòn đảo và bãi đá trên Trường Sa đều thuộc loại rất nhỏ, nhiều bãi đá lúc chìm lúc nổi theo sự lên xuống trong ngày của mực nước biển. Những hòn đảo và bãi đá này đều nằm rất xa đất liền và dân thường không thể sinh sống ở đó được. Vậy cái gì làm cho chúng trở nên hấp dẫn đến vậy? Dĩ nhiên là không phải đất đá ở đó quý hiếm hơn đất đá ở trong đất liền. Rowan[3] cho rằng có 3 lý do quan trọng ngoài cá và san hô:

 

A.Mở rộng biên giới quốc gia và vùng đặc quyền kinh tế:

 

Tất cả các nước đang tranh chấp trong vùng Trường Sa đều đã ký vào Công ước quốc tế về Luật biển. Nó quy định mỗi nước có quyền mở rộng biên giới lãnh thổ của mình tới 12 hải lý ra biển. Ngoài ra mỗi nước còn có được sở hữu Vùng Đặc quyền Kinh tế (EEZ) vượt khỏi phạm vi lãnh thổ tới 200 hải lý. Như vậy, sở hữu được các hòn đảo ở Trường Sa sẽ giúp các nước mở rộng vùng lãnh thổ và vùng đặc quyền kinh tế của mình. Tuy nhiên, công ước này quy định rằng không thể dùng các bãi đá để xác định biên giới và vùng đặc quyền kinh tế. Các bãi đá, theo định nghĩa, là những nơi con người không thể sống và thực hiện các hoạt động kinh tế. Một số nước như Trung Quốc đã khai thác vấn đề này và tìm cách biến các bãi đá nửa chìm nửa nổi thành những nơi con người có thể sinh sống bằng cách âm thầm vận chuyển đất đá – vật liệu xây dựng từ đất liền ra xây dựng các công trình kiên cố trên biển.

 

B.Dầu mỏ và Khí đốt:

 

Vùng đặc quyền kinh tế sẽ không có nhiều ý nghĩa cho lắm nếu nó thuộc vùng biển nghèo tài nguyên. Nhiều nguồn tin, đặc biệt là từ Trung Quốc, cho rằng trữ lượng dầu mỏ trong vùng Trường Sa lên tới 105 tỉ thùng và nếu tính cả vùng Biển Đông thì lên tới 213 tỉ thùng. Tuy nhiên, ước lượng của Bộ Năng lượng Mỹ cho rằng trữ lượng dầu mỏ của toàn bộ vùng Biển Đông chỉ vào khoảng 7 tỉ thùng mà thôi, rất thấp so với một số vùng biển khác trên thế giới (xem Bảng Một). Trung Quốc cũng ước lượng có khoảng 2000 ngàn tỉ cubic feet khí đốt dưới lòng Biển Đông trong khi Bộ Năng lượng Mỹ ước tính chỉ khoảng 150,3 ngàn tỉ cubic feet. Trên thực tế thì dầu mỏ và khí đốt chưa bao giờ được tìm thấy trong vùng Trường Sa cả[4]. Có vẻ như người Trung Quốc trong cơn khát năng lượng đã có cái nhìn quá lạc quan về tài nguyên dầu mỏ trên Biển Đông.

 

Bản 1: DẦU MỎ Ở BIỂN ĐÔNG SO VỚI CÁC KHU VỰC KHÁC TRÊN THẾ GIỚI

 

 

Trữ lượng dầu mỏ đo được (tỉ Barrels)

Trữ lượng khí đốt đo được (Ngàn tỉ Cubic Feet)

Mức độ khai thác dầu mỏ (Triệu Barrels/Ngày)

Mức độ khai thác khí đốt (Ngàn tỉ Cubic Feet/Year)

Caspian Sea Region

17.2-32.8

 

232

1.6

4.5

North Sea Region

16.8

178.7

6.4

9.4

Persian Gulf

674.0

1,923.0

19.3

8.0

Biển Đông

(ước tính) 7.0

(ước tính)150.3

2.

3.2

Số liệu về dầu mỏ của năm 2003 và khí đốt của năm 2002.

Nguồn: Bộ Năng Lượng, Hoa Kỳ

 

C.Địa chính trị:

 

Kiểm soát Biển Đông cũng đồng thời có nghĩa là kiểm soát tuyến giao thương lớn số 2 của thế giới. Hàng năm có khoảng hơn một nửa các tàu vận tải hạng nặng của thế giới đi qua các eo biển Malacca, Sunda và Lombok, phần lớn để tới Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan và Nhật Bản. Lượng dầu mỏ và khí hóa lỏng đi qua Biển Đông lớn gấp 3 lần lượng dầu khí đi qua kênh Suez và gấp 15 lần lượng dầu khí đi qua kênh Panama[5]. Nhiều nhà phân tích cho rằng Trung Quốc muốn kiểm soát Biển Đông một phần là muốn kiểm soát con đường vận chuyển này. Tất nhiên thay vì đi qua Biển Đông, các tàu vận tải có thể đi xuôi xuống phía Nam, qua vùng biển của Indonesia rồi ngược lên Đông Bắc Á. Tuy nhiên, nếu đi theo lộ trình này thì chi phí vận chuyển tăng lên khá nhiều (xem Bản Đồ Một).

 

Nếu Trung Quốc hoàn toàn kiểm soát khu vực này, thì theo cách gọi của nhiều người, Biển Đông sẽ chở thành cái ao nhà của Trung Quốc. Họ có thể gây khó khăn cho những tàu vận tải đi qua khu vực và vì thế có thể gây ra những tổn thất kinh tế cho Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và các nước khác cần tới tuyến đường này. Ngoài ảnh hưởng tới vùng Đông Bắc Á về mặt thương mại, việc kiểm soát vùng Biển Đông còn tạo ảnh hưởng và sức ép tới các nước trong ASEAN, tạo ra vùng cấm bay và hải phận cấm hoạt động (aerial and sea denial zone) trong đó các lực lượng đối phương không được sử dụng không phận và hải phận trong những khoảng thời gian nhất định[6]. Ngoài ra, sở hữu các đảo lớn trong nhóm đảo cũng có lợi về mặt quân sự. Thí dụ Đài Loan nắm giữ đảo Ba Bình – là một đảo lớn và có cả chỗ dùng để neo đậu tàu ngầm. Nhật Bản đã nhìn thấy lợi thế này và họ đã sử dụng Ba Bình trong thế chiến thứ 2.

 

Bản đồ 1: Luồng hàng hóa vận chuyển qua Biển Đông

 

Tóm lại, lợi ích của việc kiểm soát Trường Sa nằm ở việc mở rộng biên giới lãnh thổ và vùng đặc quyền kinh tế. Điều này trở nên quan trọng nếu dưới lòng Biển Đông có trữ lượng dầu mỏ lớn. Ngoài ra còn có các lợi ích về mặt địa chính trị khác, tuy nhiên có lẽ nó không có nhiều ý nghĩa lắm đối với nước kiểm soát Trường Sa trừ khi họ có lực lượng quân sự mạnh có khả năng hoạt động linh hoạt và rộng khắp trên biển.

 

Vì có những lợi ích nhất định như vậy, các nước trong khu vực đã không ngừng tìm cách chứng minh chủ quyền đối với Trường Sa. Tuy nhiên, ngay cả định nghĩa khu vực mang tên Trường Sa cũng không rõ ràng và liên tục thay đổi. Trong một nghiên cứu năm 1996, Dzurek[7] cũng chỉ ra Việt Nam đã mở rộng định nghĩa của mình về Trường Sa giữa các năm 1988 và 1992. Phía Trung Quốc cũng có những động thái tương tự. Để khẳng định chủ quyền, các bên đều sử dụng những bằng chứng lịch sử, đồng thời củng cố sự hiện diện của mình trên Trường Sa. Theo Vũ Quang Việt[8], các luận cứ mà mỗi bên đưa ra, trong đó có cả của Việt Nam và Trung Quốc, đều thiếu thuyết phục trong việc biện minh chủ quyền trên toàn bộ vùng lãnh hải này.

 

Phần 2: BÀN CỜ, NGƯỜI CHƠI VÀ NHỮNG NƯỚC ĐI

 

Như đã đề cập, Malaysia, Philippines, Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan, Indonesia và Brunei là các bên tham gia vào cuộc tranh chấp ở Trường Sa, trong đó chủ chốt nhất là 5 nước đầu tiên. Để xác định các chiến lược mà mỗi bên sử dụng, tôi đã thực hiện thống kê các động thái mỗi nước đã dùng trong vòng 3 thập kỷ trở lại đây và chia chúng làm 6 loại (xem Bảng Hai). Việc chia các chiến lược thành 6 nhóm là một việc làm đơn giản hóa cần thiết để giúp các phân tích sâu hơn về các tương tác chiến lược trong vùng biển này.

 

Theo Bảng Hai, các chiến lược sẽ có mức độ khiêu khích khác nhau từ rất thấp (C1) tới rất khiêu khích (C5) và đạt cực điểm là tiến hành chiến tranh (C6). Mỗi chiến lược khi thực hiện sẽ gây ra những tổn thất nhất định và đem lại những lợi ích nhất định kèm theo những rủi ro tiềm tàng. Một trong những sai lầm có ở nhiều phân tích về chiến lược trên Biển Đông của Việt Nam là tập trung vào phân tích cân bằng quân sự để xem ai thắng ai thua. Cách nhìn của tôi là không phân tích biệt lập dưới góc độ quân sự mà nhìn dưới góc độ lợi ích tổng quát. Câu hỏi ở đây không phải là nếu khiêu chiến thì có chiếm được các đảo trên Trường Sa hay không. Mà câu hỏi là với mỗi chiến lược cụ thể từ C1 tới C6, chi phí, lợi ích và rủi ro cho từng chiến lược là gì. Và như thế, nếu chỉ nhìn vào C6, thì câu hỏi sẽ là nếu khiêu chiến, thì lợi ích thực sự thu lại sau khi trừ hết đi các phí tổn (về kinh tế, quân sự, ngoại giao và hình ảnh quốc gia) có đáng giá hay không. Nếu câu trả lời là KHÔNG, thì chiến lược đó sẽ không được thực hiện cho dù về năng lực quân sự để cưỡng chiếm là dư thừa.Khi một bên tính toán chi phí, lợi ích và rủi ro cho mỗi chiến lược mà họ toan tính thực hiện, sau đây là ba yếu tố cốt lõi để họ dựa vào:

 

A.Tác động của bên thứ 3 có thuận lợi cho việc thực hiện chiến lược này hay không: Ví dụ, Trung Quốc đã rất khôn khéo trong việc lợi dụng các điều kiện quốc tế để thực hiện các chiến lược thích hợp. Điển hình nhất là việc họ chiếm Hoàng Sa vào năm 1974. Khi đó Mỹ đã bỏ rơi Miền nam Việt Nam và các quan tâm của thế giới nói chung còn đang đổ dồn về cuộc chiến trong đất liền giữa Nam và Bắc Việt. Tương tự như vậy, họ đã chiếm một số đảo ở Trường Sa từ tay Việt Nam năm 1988 khi mà Liên Xô và khối Đông Âu đang tan rã và là tâm điểm thu hút sự chú ý của thế giới. Trung Quốc đã KHÔNG chiếm Trường Sa vào năm 1979 trong khi họ thực hiện cuộc xâm lược trên đất liền. Lý do là nếu thực hiện cuộc chiến ở Trường Sa, họ sẽ thu hút hải đội cực mạnh của Liên Xô tới khu vực và nếu phải giao chiến với hải quân Liên Xô thì chắc chắn họ sẽ thua, thậm chí có thể sẽ mất luôn cả Hoàng Sa.

 

Trong điều kiện như hiện nay, xu thế chung của quốc tế là duy trì hòa bình để phát triển, vì thế thiệt hại về ngoại giao, kinh tế và lòng tin quốc tế sẽ lớn hơn rất nhiều so với vài thập kỷ trước. Điều này tạo ra một cản trở lớn cho việc thực hiện các chiến lược có mức độ khiêu khích cao trên Biển Đông. Vì thế, trong những năm cuối thập kỷ 90 đổ lại đây, Trung Quốc đã tỏ ra mềm dẻo hơn và thậm chí đã có lúc có những nhượng bộ nhất định. Thí dụ trong tranh chấp với Việt Nam vào năm 1997 và 1998 (xem thêm ở Bảng Bốn ở phụ lục)

 

Bảng 2: Chiến lược của các bên tham gia

 

 

B. Phản ứng dự tính từ phía đối phương: Trong một bàn cờ tương tác chiến lược, việc thực hiện nước đi nào sẽ phụ thuộc cực lớn vào dự đoán về hành vi trả đũa của đối phương. Nếu kỳ vọng bị trả đũa là lớn, thì dự tính chi phí gắn với chiến lược đó sẽ lớn và người chơi sẽ phải tính toán kỹ trước khi thực hiện nước đi. Khó khăn là ở chỗ các bên thường không biết thực tâm của nhau, vì thế việc dự đoán này đôi khi bị nhầm lẫn. Do đó, phương pháp thường được các bên sử dụng là thăm dò nhau. Thí dụ cố tình khiêu khích để kiểm tra mức độ phản ứng của bên kia. Nếu bên kia phản ứng mạnh thì bên này sẽ lùi bước, nếu bên kia phản ứng yếu thì họ sẽ lấn tới. Điển hình nhất là vụ đụng độ ở bãi đá Mischief của Philippines giữa hải quân Trung Quốc và hải quân Philippines. Phía Philippines đã tê liệt và không có hành vi đáp trả thích đáng. Trung Quốc đã lấn tới, chiếm Mischief từ tay người Philippines và xây dựng các công trình quân sự của họ ở đây. Sau sự kiện này người Philippines đã cứng rắn hơn và thể hiện thái độ sẵn sàng trả đũa, điển hình là cuộc giao tranh năm 1996 trên biển (xem ở Bảng Bốn).

 

Việc thể hiện thái độ sẵn sàng đáp trả bằng quân sự kể cả trên biển và đất liền là một việc đặc biệt quan trọng. Khác với nhiều nghiên cứu của Việt Nam cho rằng cần phải mềm mỏng vì Việt Nam đang ở thế yếu hơn, tôi nhấn mạnh lại là vấn đề không phải ai là người thắng hay thua vào phút cuối cùng. Mà vấn đề là khi một bên thể hiện thái độ quyết tâm sống mái tới cùng với bên kia, thì phía bên kia sẽ nhận thức được mức độ thiệt hại lớn hơn nhiều khi họ toan tính dùng các chiến lược khiêu khích, và vì thế, chắc chắn sẽ hạn chế dùng các chiến lược này. Ngụ ý này rất quan trọng và sẽ được nhắc lại ở phần cuối cùng của bài viết.

 

C.Đồng thuận và bất đồng thuận trong nước: Về mặt chính trị, mỗi bên tham gia thường có các khối lợi ích – chính trị khác nhau và có những quan điểm mâu thuẫn nhau. Vì thế, mặc dù khả năng quân sự có thể có thừa, việc không thống nhất trong nội bộ về cách hành xử có thể khiến cho các quyết định khiêu khích trở nên không khả thi.

 

Bảng Bốn dưới đây ghi lại các cuộc đụng độ quân sự và phi quân sự trên Biển Đông và Trường Sa nói riêng. Một điểm dễ nhận thấy là xu hướng sử dụng bạo lực quân sự đã giảm bớt, thế chỗ cho một xu hướng ít khiêu khích hơn. Các chiến lược từ C4-C6 được sử dụng nhiều trước năm 1996 nhưng từ cuối 1996 đã chuyển dần sang các chiến lược thuộc nhóm C1-C4.


Bảng 4: Đụng độ quân sự và phi quân sự trên Trường Sa

 

Năm

Quốc gia và chiến lược

Đụng độ và tranh chấp

1974

China (C6), Vietnam (C2)

Trung Quốc chiếm Hoàng Sa từ tay Việt Nam

1988

China (C6), Vietnam (C2)

Hải quân Trung Quốc và Việt Nam đụng độ ở  Johnson Reef  thuộc Trường Sa. Ba tàu VN bị chìm và 70 thủy thủ thiệt mạng. Trung Quốc chiếm một số đảo từ tay Việt Nam.

1992

China (C5), Vietnam (C1)

Việt Nam tố cáo Trung Quốc đổ quân lên Da Luc Reef. Trung Quốc bắt giữ khoảng 20 tàu trở hàng của Việt Nam đi từ Hồng Kông trong khoảng từ tháng 6 tới tháng 9.

 

China (C4), Vietnam (C1)

Trung Quốc ký hợp đồng cho phép Crestone, một công ty dầu mỏ Mỹ, thăm dò dầu mỏ gần Trường Sa. Việt Nam lên tiếng phản đối. 

1993

China (C4), Vietnam (C3)

Vào tháng 5, tàu do thám địa chất của Trung Quốc đi vào vùng biển nơi BP (có hợp đồng với VN) đang thăm dò dầu khí. Tàu Trung Quốc bỏ đi khi có 2 tàu hải quân VN xuất hiện.

1994

China (C4), Vietnam (C2)

Hải quân Trung Quốc và Việt Nam chạm chán nhau trên vùng biển thuộc lãnh hải Việt Nam được quốc tế công nhận – vùng  thăm dò dầu khí Tu Chinh, khối 133, 134, và 135. Trung Quốc khẳng định vùng này thuộc khối Wan' Bei-21 (WAB-21) của họ và cho phép Crestone thực hiện thăm dò dầu khí ở vùng biển này. 

 

 

China (C4) ,Vietnam (C2)

Vào tháng 8, tàu hải quân Việt Nam cưỡng bức tàu thăm dò dầu khí của Trung Quốc ra khỏi vùng biển VN khẳng định có chủ quyền..

1995

China (C6), Philippines(C2).

Trung Quốc chiếm đảo Mischief Reef từ tay Philippines.  

1995

Taiwan (C4), Vietnam (C1)

Hải quân Đài Loan bắn vào tàu vận tải Việt Nam.

1996

China (C5), Philippines (C3)

 

Vào tháng 1, chiến hạm Trung Quốc và Philippines giao chiến trong khoảng 90 phút gần đảo Capones của Philippine.

China (C1) Vietnam (C4)

Vào tháng 4, Việt Nam cho phép Conoco, một công ty dầu khí Mỹ thực hiện thăm dò dầu khí ở vùng tranh chấp; đồng thời không chấp nhận hợp tác với Crestone. Trung Quốc phản đối. 

1997

China (C5), Philippines (C3) 

 

Hải quân  Philippines  buộc tàu cao tốc của Trung quốc và 2 tàu đánh cá rời khỏi vùng biển Scarborough Shoal in April; Hải quân Philippines sau đó tháo dỡ các cọc mốc và cờ của Trung Quốc cắm.

China (C4) Vietnam (C3)

Vào tháng 3, Trung Quốc thực hiện cú khoan dầu ở mỏ dầu Kantan-3 gần Trường Sa. Việt Nam phản đối và cuối cùng Trung quốc nhượng bộ hủy bỏ dự án này.

China (C4) ,Vietnam (C3)

 

Vào tháng 12, Việt Nam phản đối tàu thăm dò Trung Quốc và hai tàu tiếp vận của họ đi vào vùng biển thuộc chủ quyền VN. Cả 3 tàu này đều được tàu chiến VN áp tải ra khỏi khu vực. 

1998

Philippines(C4),Vietnam(C3)

 

Vào tháng 1, tàu hải quân Việt Nam bắn vào tàu đánh cá Philippine trong vùng gần Tennent (Pigeon) Reef.

 

China (C4) ,Vietnam (C3)

Vào tháng 9, Việt Nam phản đối sau khi Trung Quốc ra báo cáo nói rằng Crestone và Trung Quốc sẽ tiếp tục thăm dò dầu khí  ở vùng Tu Chinh region (Wan' Bei in

Chinese).  Tranh chấp này  được giải quyết qua thương lượng vào tháng 12 năm 2000.

1999

China (C4), Philippines (C4)

Hai tàu đánh cá Trung Quốc bị chìm vào tháng 5 và tháng 6 khi đụng phải tàu chiến Philippines.

1999

China (C4), Philippines (C3)

Vào tháng 5,  Philippines tố cáo tàu chiến Trung Quốc khiêu khích tàu hải quân Philippines.

1999

Philippines(C4),Vietnam(C3)

Vào tháng 10, hải quân Việt Nam bắn máy bay Philipines trên vùng Trường Sa.

1999

Malaysia(C3),Philippines(C4). 

Vào tháng 10, hai máy bay chiến  đấu của Malaysia và 2 máy bay thám sát của Philippines gần như đụng độ nhau gần một bãi đá do Malaysia quản lý.

 
Số liệu cập nhật tới năm 2003. 
Nguồn: Bộ Năng Lượng, Hoa Kỳ

 

Phần 3: MỐI ĐE DỌA MANG TÊN TRUNG QUỐC

 

Năm 1994, Gallagher trong một nghiên cứu mang tên “Mối Đe Dọa Ảo của Trung Quốc ở Biển Đông” đăng trên tạp chí International Security[9] đã phân tích khả năng quân sự trên mặt biển của của nước này cùng các hạn chế về chính trị và quân sự của họ trong việc cưỡng đoạt Trường Sa bằng vũ lực. Dựa trên số liệu thu thập được tới thời điểm đó, ông cho rằng mặc dù về số lượng vũ khí - khí tài áp đảo các nước trong khu vực, khả năng quân sự của Trung Quốc không đủ mạnh để lấn át các loại vũ khí hiện đại được phương Tây bán cho các đồng minh ở ASEAN. Điều này khiến cho việc tấn công và cố thủ ở các đảo Trường Sa là một nhiệm vụ rất khó khăn. Tuy nhiên, kết luận của Gallagher có lẽ không còn chính xác nữa vì trong hơn 10 năm qua, Trung Quốc đã không ngừng đầu tư vào mua vũ khí - khí tài quân sự của các nước thuộc Liên Xô cũ, đồng thời tự sản xuất được nhiều loại vũ khí hiện đại. Các số liệu cập nhật nhất về tương quan lực lượng quân sự của ASEAN so với Trung Quốc dẫn trong báo cáo “Sức Mạnh Quân Sự Truyền Thống của Châu Á, 2006” của CSIS[10] được trình bày trong các bảng dữ liệu đính kèm trong phần phụ lục.

 

Thăng bằng quân sự ở Biển Đông có lẽ đã nghiêng nhiều hơn về phía Trung Quốc so với hồi 1994 không có nghĩa Trung Quốc sẽ dễ dàng sử dụng các chiến lược khiêu khích hoặc thôn tính. Có 3 lý do khiến cho các chiến lược này vẫn khó khăn

 

(1)   Các khối lợi ích trong nước ưu tiên mục tiêu cải cách và phát triển không ủng hộ cho các quyết định khiêu khích cực đoan và chiến tranh. Wu và Bueno de Mesquita trong một nghiên cứu định lượng rất thú vị năm 1994[11] đã cho thấy các mâu thuẫn lợi ích ở Trung Quốc đã dẫn tới một tình trạng độc đáo về khả năng tiến hành chiến tranh ở Biển Đông. Trong nghiên cứu của mình, hai ông đã khảo sát các khối lợi ích có ảnh hưởng nhất trong hệ thống quyền lực của Trung Quốc và đo mức độ sẵn sàng đánh đổi tăng trưởng kinh tế lấy việc mở rộng lãnh thổ ở Biển Đông. Rõ ràng những người ủng hộ cải tổ kinh tế thì muốn duy trì một môi trường ổn định và hòa nhã, còn những người thuộc phái cứng rắn (hardliners) thì sẵn sàng khiêu chiến hơn.

 

Tuy nhiên, nghiên cứu của các ông đã cho thấy xét về mặt quyền lực chính trị thực tế, mức độ sẵn sàng khiêu chiến của Trung Quốc ở Biển Đông khá cao. Tuy nhiên, các nhóm bảo thủ (như quân đội và các nhóm thủ cựu trong Đảng) lại thường không sẵn sàng sử dụng quyền lực của họ trong khi các nhóm đổi mới lại rất năng động trong việc này. Kết quả là nếu dựa trên quyền lực chính trị được sử dụng, thì khả năng chủ động khiêu chiến của Trung Quốc là thấp vì những nhóm cấp tiến không muốn bất ổn định và luôn sẵn sàng lên tiếng nhằm bảo vệ ổn định. Nói nôm na là nếu các khối lợi ích của Trung Quốc đều lên tiếng như nhau thì kết quả sẽ là nền chính trị Trung Quốc là một nền chính trị hiếu chiến. Tuy nhiên trên thực tế thì các nhóm đổi mới lại thường lên tiếng nhiều hơn và vì vậy đã giữ cho nền chính trị Trung Quốc ở tư thế một chính thể tương đối hòa nhã.

 

Có vẻ như kết luận năm 1994 này của Wu và Bueno de Mesquita vẫn còn nguyên giá trị vì các khối lợi ích của Trung Quốc không có chuyển dịch nhiều trong thời gian qua, hoặc nếu có thì là sự mạnh lên của các nhóm ủng hộ tăng trưởng kinh tế chứ không phải các nhóm quân sự cứng rắn (hardliners).

 

(2)Một điểm khác ràng buộc khả năng đơn phương khiêu chiến của Trung Quốc là các nước tranh chấp trong khối ASEAN đã trở nên cứng rắn hơn. Thí dụ trường hợp Philippines năm 1995 chỉ biết đứng nhìn hải quân Trung Quốc chiếm bãi Mischief thì vài năm sau họ đã sẵn sàng bắn trả hải quân Trung Quốc và không ngần ngại đánh chìm các tàu đánh cá của Trung Quốc trong vùng biển mà họ khẳng định chủ quyền (xem Bảng Bốn). Một điều đặc biệt đối với Philippines là họ có hiệp định an ninh tay đôi với Mỹ, theo đó nếu an ninh quốc gia của Philippines bị xâm hại thì Mỹ sẽ bảo vệ. Việc Philippines cần làm, và họ đã làm, là thể hiện cho Trung Quốc thấy việc khiêu chiến trên Biển Đông sẽ dễ dàng leo thang thành một cuộc xung đột vũ trang tổng thể với Phi và như thế Mỹ sẽ phải ra tay[12]. Có lẽ chính phản ứng mạnh mẽ từ các nước tranh chấp là sức ép lớn nhất buộc Trung Quốc phải xem xét lại các thiệt hại do một chiến lược khiêu khích gây ra và khiến cho họ nghiêng nhiều hơn theo hướng đàm phán – mua chuộc.

 

(3)Ngoài 2 lý do trực tiếp trên thì như tôi đã phân tích ở phần 2, xu thế chung của quốc tế là duy trì hòa bình để phát triển, vì thế thiệt hại về ngoại giao, kinh tế và lòng tin quốc tế sẽ lớn hơn rất nhiều so với vài thập kỷ trước. Điều này tạo ra một cản trở lớn cho việc thực hiện các chiến lược có mức độ khiêu khích cao trên Biển Đông.

 

Với các lý do trên, kịch bản xảy ra một cuộc chiến tranh trên Biển Đông là khó có thể xảy ra trong ngắn và trung hạn, nhất là giữa Trung Quốc và Philippines và giữa các nước ASEAN có tranh chấp. Riêng đối với Việt Nam – Trung Quốc, do không có lợi điểm về hợp tác quốc phòng với nước lớn như Philippines, cũng không có năng lực quân sự đủ mạnh để ít ra cũng làm cho cuộc xâm lược trên biển không kết thúc quá chóng vánh, Việt Nam phải đi theo một con đường khác nếu muốn bảo đảm rằng Trung Quốc không dùng vũ lực cưỡng chiếm Trường Sa.

 

Phần 4:CHI PHÍ VÀ LỢI ÍCH CỦA CHIẾN TRANH TRƯỜNG SA ĐỐI VỚI TRUNG QUỐC

 

Trong Phần 2, tôi đã có đề cập sơ bộ đến một cách nhìn duy lý về quan hệ chính trị giữa hai nước nói chung và về quyết định có tiến hành chiến tranh hay không nói riêng. Có một thực tế là trong lịch sử đã xảy ra nhiều trường hợp mà quyết định tiến hành chiến tranh không dựa trên phân tích duy lý (tính đến chi phí – lợi ích), hay ít ra cũng không dựa trên cách tính chi phí – lợi ích thông thường[13]. Những quyết định này nhiều khi dựa trên vấn đề ý thức hệ hay thậm chí cả những tham vọng kỳ quái của một vài lãnh tụ chính trị nào đó.

 

Điều đáng mừng là xu hướng chung của thế giới hiện nay không còn tạo điều kiện thuận lợi cho những quyết định không duy lý nữa, trừ một số quốc gia tự tách mình khỏi dòng chảy chung của nhân loại. Trung Quốc cũng là nước đang vận động theo xu hướng chung này. Nếu giờ đây có ai nhìn họ như là những kẻ đi theo chủ nghĩa bành trướng thời cổ xưa thì có lẽ là đã khinh thường họ. Giới lãnh đạo chính trị Trung Quốc hiện nay là một đội ngũ có bản lĩnh và trí tuệ[14]. Để lãnh đạo đất nước Trung Quốc đi những bước dài trong khoảng 30 năm qua, giới lãnh đạo Trung Quốc không thể là những kẻ ngông cuồng chỉ biết chạy theo mục tiêu bành trướng. Theo nhận định của tôi thì cỗ máy chính trị của họ là một cỗ máy thực dụng và triệt để duy lý. Vì vậy, để phân tích mối đe dọa của họ đến đâu và đối sách của các bên thì cách tiếp cận thích hợp dựa trên những suy luận duy lý.

 

Loại ra ngoài kịch bản Trung Quốc điên cuồng theo đuổi mục tiêu bành trướng bằng mọi giá, thì vấn đề còn lại sẽ là bài toán chi phí – lợi ích của Trung Quốc trong vấn đề biển Đông sẽ như thế nào. Có lẽ lợi ích trực tiếp nhất của họ sẽ là dầu khí. Tuy nhiên, tới giờ này thì vẫn chưa có bất cứ một phát hiện nào về dầu mỏ hoặc khí đốt ở vùng Trường Sa. Có quan điểm cho rằng nếu chiếm được Trường Sa thì Trung Quốc có thể mở rộng phạm vi đặc quyền kinh tế và lấy đi vùng biển có dầu mà Việt Nam đang khai thác. Tuy nhiên, hiện nay Trung Quốc đã thực hiện động thái này rồi chứ không chờ tới khi chiếm được Trường Sa. Trung Quốc từ lâu đã hợp tác với công ty Crestone của Mỹ để thực hiện việc thăm dò và khai thác dầu khí ngay tại khu Từ Chính của Việt Nam trên các lô 133, 134, và 135 (xem Bảng Bốn).

 

Như vậy, lợi ích gia tăng (increased benefit) của việc chiếm được Trường Sa tại thời điểm này là không rõ ràng, nếu không muốn nói là tương đối ảo. Đương nhiên có thể chính quyền Trung Quốc có nhiều thông tin tốt hơn là các nguồn thông tin mà tôi dựa vào[15]. Tuy nhiên, tôi nghi ngờ khả năng này.

 

Mặt chi phí của phương trình là vấn đề cực kỳ thú vị. Chi phí của phía Trung Quốc phụ thuộc vào việc Việt Nam sẵn sàng đi xa tới đâu trước các động thái gây hấn của họ. Vì khả năng phòng thủ của hải quân Việt Nam trên các đảo này không đáng kể so với năng lực tấn công hùng hậu của hải quân và không quân Trung Quốc, tôi cứ giả định một cách có lợi cho họ rằng chi phí quân sự trực tiếp liên quan đến cuộc chiến là bằng không. Vậy họ còn phải chịu các phí tổn gì khác?

 

Nếu Việt Nam thể hiện ra là một quốc gia bạc nhược với một chính phủ bạc nhược và sẽ không có phản ứng gì đáng kể thì quốc tế cũng sẽ không có phản ứng gì đáng kể. Cuộc xâm lược tiếp theo khi đó cũng chỉ như việc trao quyền kiểm soát từ tay nước này sang tay nước khác, và vì thế, cộng đồng quốc tế không có lý do gì phải bận tâm. Do đó, các khoản chi phí khác cũng sẽ bằng không hoặc gần bằng không. Trong trường hợp này, quyết định duy lý của Trung Quốc sẽ là tấn công và chiếm giữ các đảo của Việt Nam. Kịch bản này có lẽ gần gũi với bi kịch xảy ra cho Việt Nam vào năm 1988 khi chúng ta đánh mất một loạt các đảo ở Trường Sa vào tay Trung Quốc.

 

Trong trường hợp Việt Nam sẵn sàng phản ứng, thì chi phí của Trung Quốc sẽ tùy vào mức độ phản ứng của Việt Nam. Có nhiều mức độ phản ứng khác nhau, dưới đây tôi chỉ liệt kê ra 3 trong số đó:

 

Mức độ 1- phản đối về ngoại giao: Thí dụ cắt đứt quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, quyết liệt phản đối họ trên mọi mặt trận ngoại giao có thể. Tìm mọi cách cản đường Trung Quốc trong các vấn đề quốc tế. Tóm lại là biến mình thực sự trở thành một cái gai trong mắt Trung Quốc.

 

Mức độ 2- ngừng mọi hoạt động giao thương với Trung Quốc: Kim ngạch buôn bán giữa hai nước năm 2007 ước tính trên 10 tỉ USD, dự báo sẽ lên tới 15 tỉ vào năm 2010. Trong quan hệ này, Trung Quốc là nước xuất siêu. Năm 2006, Việt Nam xuất sang Trung Quốc 2,486 tỷ USD, ngược lại Trung Quốc xuất sang Việt nam 7,465 tỷ USD[16]. Trung Quốc hàng năm nhập khoảng 5 triệu tấn dầu thô từ Việt Nam. Giả sử sau quyết định khiêu chiến của Trung Quốc, Việt Nam có thể tuyên bố ngừng giao thương (và vì thế chấp nhận thiệt hại hết sức nặng nề về kinh tế) trong khoảng 10 năm, thì phía Trung Quốc sẽ thiệt hại một khoản giao thương trị giá khoảng 150 tỉ USD[17].

 

Mức độ 3 – thường xuyên tìm cách quấy nhiễu các vùng khai thác dầu của Trung Quốc ở gần thềm lục địa Việt Nam: Giả sử sau cuộc thôn tính, Việt Nam liên tục gửi hải quân tuần tiễu và quấy nhiễu các vùng khai thác dầu của Trung Quốc, khả năng là các công ty khai thác dầu của nước ngoài sẽ bỏ đi (giống trường hợp BP bỏ Việt Nam ra đi năm vừa rồi). Để bảo vệ các cơ sở thăm dò và khai thác của mình, Trung Quốc phải liên tục duy trì các tàu quân sự trong vùng biển khai thác. Điều này làm chi phí thăm dò – khai thác tăng lên rất nhiều. Tôi không có số liệu cụ thể để ước định khi đó liệu việc thăm dò khai thác dầu khí có còn là hoạt động có lợi nhuận đối với Trung Quốc nữa hay không.

 

Mức độ 4 – tiến hành cuộc chiến tranh ở biên giới trên đất liền: Chiến tranh biên giới giữa hai nước không phải là câu chuyện xa xưa và Trung Quốc hiểu điều này. Nếu phía Việt Nam quyết tâm gây tổn thất kinh tế cho Trung Quốc ở các thành phố gần biên giới thì họ hoàn toàn có thể làm được. Để bảo vệ các thành phố và cơ sở kinh tế, Trung Quốc sẽ phải thực hiện cuộc chiến tranh biên giới và như thế sẽ có những thiệt hại tiếp theo mà quy mô là chưa lường trước được.

 

Chốt lại của phần này là nếu Việt Nam có thể cho Trung Quốc thấy mình sẵn sàng thực hiện các hoạt động trả đũa đáng kể thì khi đặt lên bàn cân các chi phí và lợi ích của thôn tính Trường Sa, họ sẽ không muốn làm. Đương nhiên, phía Việt Nam không thể thuyết phục được Trung Quốc tin rằng Việt Nam sẽ trả đũa ở mức độ ghê gớm như vậy nếu chỉ thông qua vài phản ứng yếu ớt có tính ngoại giao mỗi khi họ có động thái thử thách phản ứng của Việt Nam.

 

Phần V: BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BẰNG TỰ VỆ CHỦ ĐỘNG

 

Để ngăn chặn Trung Quốc không tiếp tục đi quá xa trong vấn đề Biển Đông và phải tính đi tính lại (think twice) mỗi khi họ có những động thái tương tự như việc thông qua luật thành lập thành phố Tam Sa vừa rồi, thì không gì tốt hơn là thi hành chiến lược tự vệ chủ động. Nội dung chính của nó là chủ động làm cho người Trung Quốc thấy trước được các phí tổn mà họ sẽ phải đương đầu khi thực hiện một quyết định khiêu khích. Vế khác của chiến lược này là tự vệ - tức là không khiêu khích họ trước. Nhưng để thực thi chiến lược tự vệ chủ động thì cần làm những gì?

 

A.Thể hiện rõ quyết tâm bảo vệ nguyên trạng và quan điểm giải quyết tranh chấp bằng luật quốc tế: Làm cho người Trung Quốc nhận thấy mức độ phản ứng của Việt Nam nếu họ thực thi các chiến lược khiêu khích. Việc này trên thực tế có thể triển khai ở cả hai cấp độ:

 

(1) Chính phủ Việt Nam phản ứng cứng rắn hơn trước bất kỳ hành vi khiêu khích nào của Trung Quốc. Nguyễn An Nguyên gợi ý thêm rằng việc này có thể thực hiện thông qua các động thái như Quốc hội Việt Nam thông qua luật khẳng định phản ứng của chính quyền mỗi khi lãnh thổ bị xâm hại. Thí dụ luật có thể quy định rằng mỗi khi lãnh thổ bị xâm hại thì chính quyền sẽ ngăn cấm mọi hoạt động giao thương với nước xâm lăng. (2) Công chúng Việt Nam tỏ rõ thái độ của họ trước các động thái của Trung Quốc. Thí dụ tổ chức các cuộc tuần hành hòa bình cả ở trong nước và nước ngoài. Các cuộc tuần hành càng thu hút được đông đảo quần chúng thì càng chuyển tải được tinh thần sẵn sàng hi sinh để bảo vệ lãnh thổ của người Việt và vì thế Trung Quốc sẽ càng phải tin về một phản ứng cứng rắn của Việt Nam nếu họ xâm lược Trường Sa.

 

Trong trường hợp chính phủ Việt Nam ngăn cấm người dân bày tỏ ý kiến thì hậu quả sẽ là lòng yêu nước không được bày tỏ sẽ trở thành lòng oán hận nhà nước. Điều này chắc chắn sẽ có ảnh hưởng rất tiêu cực đối với uy tín của chính quyền và sẽ dễ bị những thế lực chống đối khai thác để thổi bùng lên ngọn lửa chống đối nhà nước. Một giải pháp thích hợp là cho phép tuần hành nhưng có kiểm soát và không để bùng nổ thành các vụ bạo động chống người Tàu ở Việt Nam.

 

B.Làm xói mòn tính chính đáng của Trung Quốc về tranh chấp trên Biển Đông trong con mắt quốc tế: Khẳng định chủ quyền của Trung Quốc không hề cơ sở thuyết phục hơn so với Việt Nam. Họ cũng là bên thường xuyên sử dụng vũ lực, giết người và gây hấn trên Biển Đông. Không có lý do gì Trung Quốc lại chính đáng hơn Việt Nam hay Philippines trong vấn đề Biển Đông, nếu không nói là tồi hơn. Tuy nhiên, Việt Nam chưa thành công lắm trong việc phổ biến những sự thực này ra toàn cầu. Trên thực tế, rất nhiều tổ chức quốc tế nghiễm nhiên coi Biển Đông và các đảo trên Biển Đông là của Trung Quốc. Thậm chí tệ hại như chính bản đồ Việt Nam do Việt Nam in cũng một thời gian dài không hề có hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

 

Để thực hiện chủ trương này, việc Việt Nam có thể làm làm là: (1) Nghiên cứu và xuất bản các bài nghiên cứu về Trường Sa – Hoàng Sa trên các tạp chí nghiên cứu quốc tế. Việc này có lợi về lâu dài và cũng đáng tiếc là các nghiên cứu của người Việt rất ít ỏi trong khi các tác giả người Trung đã có nhiều các nghiên cứu về chủ đề này. (2) Tuyên truyền qua phim ảnh, ấn phẩm văn học nghệ thuật, sản phẩm thương mại để hướng tới người nước ngoài. Hiện nay mỗi năm có tới hàng triệu khách du lịch quốc tế tới thăm, không có lý do gì không thực hiện được việc tuyên truyền này. (3) Vũ Quang Việt[18] có gợi ý mang ra tòa án quốc tế nhờ phân xử. Khả năng là Trung Quốc sẽ không chấp nhận để tòa án quốc tế giải quyết, và như vậy họ sẽ tự bộc lộ trong con mắt quốc tế về thái độ không hợp tác, và ở một chừng mực nào đấy, thiếu tự tin về tính chính nghĩa của họ trong tranh chấp ở Biển Đông.

 

C.Hợp tác với các nước ASEAN có tranh chấp và cô lập Trung Quốc: Về mặt này, Việt Nam đã có những thất bại đau đớn trong vài năm gần đây. Cần nhớ rằng Trung Quốc mới có mặt ở Trường Sa từ năm 1988 sau khi chiếm được một số đảo của Việt Nam (trước đó Đài Loan vẫn chiếm Đảo Ba Bình). Tuy nhiên, từ năm 2004, Philippines đã bị mua chuộc và ký kết hiệp định cùng thăm dò dầu khí với Trung Quốc ở Trường Sa, một động thái thừa nhận chính thức vị trí của Trung Quốc trong vùng quần đảo này[19]. Việt Nam phản đối yếu ớt và cuối cùng đành phải tham gia vào tháng Ba năm 2005[20]. Hồi đầu tháng Một năm 2007, Việt Nam đã chính thức đặt bút ký kết tiếp hiệp định khai thác dầu khí song phương với Trung Quốc trong vùng biển có tranh chấp ở Vịnh Bắc Bộ[21].

 

Một điều khá tệ hại là trong trường hợp các mỏ dầu được tìm thấy ngày một nhiều và với trữ lượng lớn thì động cơ thôn tính của Trung Quốc sẽ ngày càng lớn vì vế lợi ích của phương trình tăng lên trong khi vế chi phí thì vẫn vậy. Trong trường hợp giá dầu thô thế giới ngày một tăng cao và Trung Quốc thì luôn trong tình trạng thiếu nhiên liệu để phục vụ tăng trưởng, việc tìm ra trữ lượng dầu lớn trên Trường Sa chắc chắn sẽ đẩy mạnh tham vọng chiếm đóng và đơn phương kiểm soát khu vực này. Vì thế, hoạt động tìm kiếm, khai thác chung trong trước mắt thì có vẻ như là một việc có lợi cho các bên, về lâu dài thì nó có thể ảnh hưởng rất tiêu cực tới các nước nhỏ tham gia. Đúng ra, hoạt động tìm kiếm dầu ở Trường Sa không bao giờ nên xảy ra cho đến khi vấn đề chủ quyền đã được giải quyết xong. Đáng tiếc là việc này tới nay đã là chuyện đã rồi và không thể cứu vãn được nữa.

 

Dự Trần [22]

 

THAM KHẢO CHÍNH

[1] Austin G., 2003: “Unwanted Entanglement: The Philippines’ Spratly Policy as a Case Study in Conflict Enhancement?” Security Dialogue, Vol. 34, p.p 41-54.

[2] Cordesman A.H and Kleiber M., 2006: “The Asian Conventional Military Balance in 2006,” Special Report, Center for Strategic and International Studies (CSIS).

[3] Cossa R.A., 1988: “Security Implications of Conflict in the South China Sea: Exploring Potential Triggers of Conflict” A Pacific Forum CSIS Special Report.

[4] Gallagher M.G., 1994: “China's Illusory Threat to the South China Sea,” International Security, Vol. 19, No. 1., pp. 169-194.

[5] Katchen, M.H., 1977: “The SpartlyIslands and the Law of the Sea: “Dangerous Ground” for Asian Peace,” Asian Survey, Vol. 17, No. 12., pp. 1167-1181.

[6] Rowan J.P., 2005: “The U.S-Japan Security Alliance, Asean, and the South China Sea Dispute,” Asian Survey, Vol. XLV, p.p. 414-436.

[7] Senese P.D., 2005” “Chinese Acquisition of the Spratly Archipelago and Its Implications for the Future,” Conflict Management and Peace Science, Vol. 22, pp. 79–94.

[8] Wu S.S.G. and Bueno de Mesquita B., 1994: “Assessing the Dispute in the South China Sea: A Model of China's Security Decision Making,” International Studies Quarterly, Vol. 38, No. 3., pp. 379-403.

PHỤ LỤC

 

 


[1] Theo Vũ Quang Việt thì số đảo và bãi đá ở Trường Sa lên tới hơn 100. Xem Vũ Quang Việt “Đi tìm một giải pháp hoà bình hợp công lý cho Biển Đông Nam Á” http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai11/200711_VuQuangViet.htm

[2] Cordesman A.H and Kleiber M., 2006: “The Asian Conventional Military Balance in 2006,” Special Report, Center for Strategic and International Studies (CSIS).

[3] Rowan J.P., 2005: “The U.S-Japan Security Alliance, Asean, and the South China Sea Dispute,” Asian Survey, Vol. XLV, p.p. 414-436.

[4]Khẳng định của Bộ Năng lượng Mỹ vào đầu năm 2003. Chúng tôi không có con số update để tái khẳng định kết luận này vào năm 2007.

[5] Rowan, đã dẫn.

[6] Rowan, đã dẫn.

[7] Dzurek D.J.,1996: “Spratly Islands, Who’s on First?” book chapter in Maritime Briefing, published by IBRU.

[8] Vũ Quang Việt, đã dẫn.

[9] Gallagher M.G., 1994: “China's Illusory Threat to the South China Sea,” International Security, Vol. 19, No. 1., pp. 169-194.

[10] Cordesman A.H and Kleiber M., 2006: “The Asian Conventional Military Balance in 2006,” Special Report, Center for Strategic and International Studies (CSIS).

[11] Wu S.S.G. and Bueno de Mesquita B., 1994: “Assessing the Dispute in the South China Sea: A Model of China's Security Decision Making,” International Studies Quarterly, Vol. 38, No. 3., pp. 379-403.

[12] Austin G., 2003: “Unwanted Entanglement: The Philippines’ Spratly Policy as a Case Study in Conflict Enhancement?” Security Dialogue, Vol. 34, p.p 41-54.

[13] Thí dụ không xa là cuộc chiến của Việt Nam ở Campuchia hồi những năm cuối thập kỷ 70.

[14] Tôi đã đề cập đến vấn đề này trong bài viết về trí thức tinh hoa và nhà nước kỹ trị: http://www.minhbien.org/?p=51

[15] Báo cáo của Bộ Năng Lượng Mỹ cùng một loạt các nghiên cứu đã được xuất bản khác, đã dẫn.

[16] http://vietnamnet.vn/kinhte/2005/07/470263/

[17] Giả sử kim ngạch năm 2007 là 10 tỉ và tốc độ tăng trưởng kim ngạch hàng năm là 10%.

[18] Vũ Quang Việt, đã dẫn

[19] Theo Vũ Quang Việt, “ký kết này đạt được sau những hành động dụ dỗ của Trung Quốc, trong bối cảnh Mỹ sa lầy ở Iraq. Trung Quốc tăng cường đầu tư và thương mại với Phi, đưa thương mại hai bên từ $3.3 tỷ US năm 2000 lên $17,6 tỷ US năm 2005, với cán cân thương mại $8,1 tỷ US nghiêng về phía Phi. Sau ký kết, Hồ Cẩm Đào sang thăm Phi vào tháng 4 năm 2005, hứa đầu tư $1,1 tỷ US vào khai thác mõ kẽm và cho Phi mượn $542 triệu US với lãi suất ưu đãi. Hai bên hứa hẹn đưa ngoại thương hai bên lên $30 tỷ US vào năm 2010.”

[20] http://au.china-embassy.org/eng/xw/t204203.htm

[21] http://uk.reuters.com/article/oilRpt/idUKHAN29069220070105

[22] Gợi ý và tranh luận xin gửi về www.minhbien.org

 

 

Các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa có diện tích bề mặt chưa quá 15 km² là mục tiêu theo đuổi của những yêu sách và xung đột gia tăng kể từ những năm 1970. Những lợi ích từ yêu sách hai quần đảo này đối với các quốc gia là gì?

 

 

Dưới đây là một số nội dung chính trong bài phân tích Les îles Spratley et Paracels của tác giả Laurent Garnier đăng trên website Bộ Quốc Phòng Pháp.

Những thách thức

1- M rng vùng đc quyn kinh tế (EEZ):

Như chúng ta đã biết, theo luật quốc tế, việc một Nhà nước sở hữu một lãnh thổ trên biển sẽ cho phép có những đặc quyền đối với một phạm vi lãnh hải và EEZ. Việc các Nhà nước xung quanh Biển Đông tranh giành quyền sở hữu các đảo nhỏ và đảo san hô không có người ở và không thể sinh sống được tại Trường Sa và Hoàng Sa trước hết không phải nhằm giành chủ quyền các hòn đảo này mà là nhằm mở rộng EEZ. Chính vì lý do này, Trung Quốc, nước có EEZ rộng 880.000 km2 (Mỹ có EEZ rộng 12 triệu km2, Nhật 4,4 triệu km2, Pháp 11 triệu km2) đang dòm ngó 3,5 triệu km2 Biển Đông.

2- Các nguồn tài nguyên thiên nhiên và hải sản:

Hai quần đảo trên dồi dào các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Trữ lượng cá ước tính nhiều triệu tấn, các nguồn hải sản phong phú (các loài hải sản có giá trị cao như tôm hùm, rùa, đồi mồi, bào ngư quý hiếm…). Ngoài sự hiện diện của nguồn phốt phát trên các hòn đảo còn tiềm ẩn trữ lượng lớn các mỏ kim loại dưới đáy biển. 10% trữ lượng cá của thế giới nằm tại Biển Đông.

3- Kiểm soát các tuyến hàng hải thương mại quốc tế:

Biển Đông bao quát nhiều eo biển: Eo biển Malắcca nằm giữa bán đảo Malaixia và đảo Sumatra của Inđônêxia, nối biển Andaman ven Ấn Độ Dương với Biển Đông tại phía Nam; eo biển Sonde chia cắt các đảo Java của Inđônêxia với đảo Sumatra; eo biển Lombok nối biển Java và Ấn Độ Dương, chia cắt các đảo Bali và Lombok của Inđônêxia; eo biển Macassar chia cách phía Tây đảo Borneo và phía Đông đảo Sulawesi. Với chiều rộng trung bình 15 km và dài khoảng 800 km, eo biển này cho phép thông thương giữa biển Celebes và biển Java; eo biển Balabac nối biển Sulu với Biển Đông. Eo biển này chia cách đảo Balabac (thuộc tỉnh Palawan của Philíppin) với các đảo nằm ở phía Bắc của Borneo, thuộc bang Sabah của Malaixia, rộng 55 km; eo biển Luzon nằm giữa các đảo Luzon và Đài Loan; eo biển Đài loan, giao giữa quần đảo này với Trung Quốc đại lục.

Biển Đông là một ngã tư thông thương của các tuyến hàng hải thương mại quan trọng bởi đây là tuyến ngắn nhất nối giữa Bắc Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Trước tiên liên quan đến tuyến vận chuyển năng lượng, eo biển Malắcca vận chuyển nhiều dầu mỏ gấp 6 lần kênh đào Xuyê và nhiều hơn 17 lần kênh đào Panama. Biển Đông là nơi vận chuyển 2/3 nguồn năng lượng của Hàn Quốc, 60% nguồn năng lượng của Nhật Bản và Đài Loan, 80% nhập khẩu dầu thô của Trung Quốc, tức hơn một nửa nhập khẩu năng lượng của khu vực Đông Nam Á. Trong bối cảnh đó, việc nắm quyền kiểm soát hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa sẽ giúp kiểm soát hầu như một phần lớn EEZ và tuyến thương mại quan trọng hàng đầu thế giới.

4- Các nguồn tài nguyên dầu khí:

Theo tác giả Robert D. Kaplan, Biển Đông có trữ lượng dầu thô đạt 7 tỷ thùng (so với 1.383 tỷ thùng trên đất liền toàn thế giới theo tính toán của tập đoàn BP năm 2010, chiếm 0,5% trữ lượng dầu của thế giới) và có trữ lượng khí đốt đạt 25.000 tỷ m3 khí (so với 187.100 tỷ m3 khí trên đất liền toàn thế giới, chiếm 13,4% trữ lượng khí đốt toàn cầu).

5- Phạm vi triển khai một hạm đội tàu ngầm:

Biển Đông là tuyến hàng hải thương mại ưu tiên, thậm chí cốt yếu giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Không chỉ có tầm quan trọng về thương mại, Biển Đông còn chiếm một vị trí quan trọng trong chiến lược quân sự, đặc biệt đối với Trung Quốc. Chúng ta phải thừa nhận là Trung Quốc đang tăng cường khả năng của các đội tàu ngầm trong khu vực, đặc biệt là việc nước này xây dựng căn cứ tàu ngầm tại cảng hải quân Tam Á ở phía Nam đảo Hải Nam. Theo tướng Schaeffer, dường như tham vọng của Trung Quốc tại các quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa hay các quần đảo khác cũng như các vùng nước sâu tại Biển Đông không nhằm mục đích nào khác ngoài bảo đảm cho nước này một khu vực triển khai an toàn đội tàu ngầm tấn công. Dù bất kể thế nào Biển Đông vẫn là vùng biển xung quanh Trung Quốc có vùng nước sâu cho phép tàu ngầm nước này dễ dàng tiến ra Thái Bình Dương.

Tình trạng tranh chấp

1- Thiếu vng gii pháp đo đc?

Tính chất nghiêm trọng của cuộc xung đột này là thiếu một giải pháp đạo đức. Nếu cuộc Chiến tranh Thế giới thứ II là cuộc chiến không khoan nhượng chống chế độ cực quyền thì không một nước chủ chốt nào liên quan đến những căng thẳng tại Biển Đông có thể bị coi là hiện thân của sự xấu xa hoàn toàn. Do đó, cuộc chiến của cái tốt chống cái xấu đang dần thay thế bằng cuộc đối đầu giữa các chủ nghĩa dân tộc duy lý mà chúng ta có thể chứng kiến tại Biển Đông với câu nói: “Kẻ mạnh có thể làm điều mình muốn và kẻ yếu phải chịu điều cần phải chịu”. Nếu có khả năng xảy ra một cuộc tranh chấp thì cũng chỉ hạn chế ở một số cuộc đụng độ lẻ tẻ và không dẫn tới một cuộc chiến tranh quy mô lớn. Cũng cần phải thấy các cuộc đụng độ đó sẽ không gây ra nhiều lo ngại song chất lượng vũ khí sẽ quyết định cuộc đối đầu. Tình hình mong muốn nhất là duy trì quy chế nguyên trạng do sự cân bằng sức mạnh, nhất là giữa Mỹ và Trung Quốc, cũng như những gì Ôxtrâylia kêu gọi.

2- Một giải pháp pháp lý?

Mặc dù thiếu vắng giải pháp đạo đức song vẫn tồn tại một luật pháp quốc tế, đặc biệt như những gì Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982 ký ở Montego Bay mô tả. Công ước này không thể giải quyết toàn bộ mọi cuộc xung đột và đối đầu, xong đề ra một khung cảnh luật hợp pháp, trong đó mọi tranh chấp trên có thể được giải quyết theo các quy tắc lãnh hải và EEZ mà không phải cần tới đối đầu vũ trang. Công ước cũng là một tư liệu gốc về các luật lệ quy định các hoạt động ngoài khơi. Các nước có thể yêu cầu mở rộng EEZ trên thềm lục địa của mình. Đó là điều mà Malaixia và Việt Nam đã làm năm 2009. Nhưng do luật pháp quốc tế không đủ nên hành động phối hợp giữa Malaixia và Việt Nam đã làm Trung Quốc không hài lòng. Trung Quốc sau đó đã gửi một công hàm lên Tổng thư ký Liên hợp quốc nhằm chính thức hóa lập trường của nước này đối với yêu sách “đường lưỡi bò” trên Biển Đông, một quan điểm từ trước đến nay chưa được công nhận chính thức. Tướng Schaeffer xác nhận hành động của Trung Quốc đi ngược lại với điều 89 của UNCLOS, theo đó “không một Nhà nước nào có thể đòi hỏi một khu vực bất kỳ ngoài biển khơi làm chủ quyền riêng”. Cũng cần phải nhấn mạnh vai trò của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Tuy nhiên, các điều luật trong công ước của LHQ hay rộng hơn là hành động của cộng đồng quốc tế không đủ đề ngăn chặn mọi hành động hiếu chiến từ các đối tượng trong khu vực, ngay cả những nỗ lực của ASEAN. Chúng ta có thể nhắc đến Tòa án tư pháp quốc tế, song dù cố gắng cũng không thể triệu tập hết các nước liên quan đến tranh chấp. Tuy nhiên, dường như giải pháp của các nước liên quan Biển Đông sẽ mang tính chính trị hơn là tư pháp và có thể cả quân sự.

3- Các sự kiện mới đây cho thấy thái độ hiếu chiến gia tăng của Trung Quốc

Những cuộc xâm lược trên thực địa

Chúng ta thấy từ năm 2009 một sự gia tăng xâm lược của Trung Quốc trên Biển Đông. Không chỉ có vậy, Lực lượng hải quân của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLAN) không ngừng gia tăng các hành động hăm dọa, các hành động nhằm duy trì sự hiện diện tại Biển Đông. Cùng với đó là các đơn vị dân sự như lực lượng hải giám (CMS), được trang bị vũ khí từ PLAN, không ngừng quấy rối các tàu thăm dò dầu khí. Mọi hành động của Trung Quốc đều núp dưới vỏ bọc dân sự và được hải quân Trung Quốc hiện diện gần đó bảo vệ. Bên cạnh sự hiện diện hải quân, Trung Quốc còn thực hiện các vụ tấn công mạng. Đã có hơn 200 trang mạng của Việt Nam bị tin tặc tấn công vào tháng 6 năm 2011.

Những hành động hung hăng chống Mỹ

Những va chạm không chỉ diễn ra giữa Trung Quốc với các Nhà nước khu vực. Từ năm 2001 đã xảy ra 3 vụ va chạm giữa Mỹ và Trung Quốc: Tháng 4/2001, một máy bay trinh sát của Mỹ (EP3-Orion) đã va chạm với một báy bay quân sự Trung Quốc. Mặc dù vụ này xảy ra ngoài EEZ của Trung Quốc song người Trung Quốc lại quả quyết rằng người Mỹ đã vi phạm không phận nước mình. Người Trung Quốc cho rằng họ có quyền trên vùng không phận của EEZ. Điều này hoàn toàn đi ngược lại với luật pháp quốc tế.

Tháng 3/2009, 5 tàu của Trung Quốc đã ngăn cản tàu thăm dò đại dương USNS Impeccable của Mỹ. Tàu Impeccable khi đó đang thực hiện thăm dò tại khu vực gần căn cứ tàu ngầm Tam Á, song ở ngoài khơi (ngoài 12 dặm). Sự kiện này một lần nữa cho thấy tầm quan trọng chiến lược của khu vực đối với các tàu ngầm Trung Quốc và thể hiện sự bành trướng chủ quyền của Trung Quốc đối với EEZ.

Tháng 6/2009, một tàu ngầm Trung Quốc đã mắc vào đường cáp định vị sóng âm của tàu chiến Mỹ USS John McCain tại Scarborough Reef, một khu vực chiến lược mà các tàu ngầm Trung Quốc qua lại. Trung Quốc đã lợi dụng cơ hội này để gia tăng sức ép ngoại giao ngăn cản hải quân Mỹ hiện diện tại Biển Đông.

Một quan điểm ngoại giao mập mờ của Trung Quốc

Không hài lòng với việc chiếm biển, Trung Quốc cũng đang chiếm cả không gian ngoại giao. Không ngại mâu thuẫn với chính mình, Trung Quốc đang nuôi tham vọng đôi khi duy trì ý định hòa giải và hòa bình hơn trong khi vẫn khẳng định chủ quyền trên Biển Đông. Trong ý đồ chính thức hóa “đường lưỡi bò”, Bộ Ngoại giao Trung Quốc năm 2011 đã nói đến “chủ quyền không thể tranh cãi” của Trung Quốc tại Biển Đông. Đại sứ Trung Quốc tại Philíppin Lưu Kiến Siêu đã “khuyên các nước đòi hỏi chủ quyền tại Biển Đông” không tiếp tục khai thác dầu khí tại các “vùng lãnh hải của Trung Quốc” khi chưa được phép của Bắc Kinh.

Mặt khác, Trung Quốc lại thể hiện bộ mặt hòa bình. Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt ngày 5/6/2011 tại Hội nghị Shangri-La ở Xinhgapo đã tuyên bố: “Trung Quốc không có ý định đe dọa bất kỳ nước nào”. Qua quan điểm ngoại giao hai mặt này của Trung Quốc, rất thú vị khi theo dõi những tuyên bố của Trung Quốc khi mua tàu sân bay Varyag nhằm mục đích huấn luyện. Được đặt tên lại là Thi Lang, tàu này đã thực hiện các vụ thử nghiệm trên biển vào tháng 8/2011 và hải quân Trung Quốc đang xây dựng tàu sân bay thứ hai. Chúng ta thừa nhận rằng với việc đổi hướng luật pháp quốc tế một cách tranh cãi để có lợi cho mình, Trung Quốc đang tự cho mình quyền sở hữu phạm vi lãnh hải trong “đường lưỡi bò”.

4- Những lựa chọn của các Nhà nước Đông Nam Á trước sự bành trướng của Trung Quốc

Cần tới Oasinhtơn

Do hạn chế về phương tiện quốc phòng, ý định lớn của các “anh chàng David” Đông Nam Á là hướng về phía Mỹ trước “gã khổng lồ Goliah” Trung Quốc. Philíppin dựa vào Hiệp định phòng thủ chung năm 1951, theo đó Oasinhtơn cam kết cung cấp cho Philíppin thiết bị quân sự. Hải quân Mỹ cũng phối hợp với hải quân Philíppin tổ chức các cuộc tập trận chung hàng năm. Đối với Hà Nội thật không đơn giản. Do không thể công khai hướng tới Oasinhtơn, chiến lược của Việt Nam là công khai nhất có thể liên quan đến những hành động quấy rối mà mình là nạn nhân từ phía Trung Quốc để nhận được sự ủng hộ từ cộng đồng quốc tế. Ngày 9/6/2011, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố trước công chúng rằng chủ quyền của Việt Nam đối với các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa là không thể tranh cãi và “sẽ bảo vệ bằng các lực lượng vũ trang”. Những cuộc trao đổi giữa hải quân Mỹ và Việt Nam ngày càng gia tăng. Mỹ cũng hỗ trợ Xinhgapo, Thái Lan và ngày càng tăng cường quan hệ với Inđônêxia và Malaixia. Mỹ cũng đã quay trở lại Ôxtrâylia. Dường như Mỹ luôn có khả năng là đối trọng với hành động của Trung Quốc ngay cả khi Mỹ đang bước vào giai đoạn bị hạn chế ngân sách quốc phòng.

Hướng tới một cuộc chạy đua vũ trang

Trong bối cảnh này, các nước Đông Nam Á đang tìm cách tăng cường khả năng cho hải quân quốc gia. Từ năm 2000, nhập khẩu vũ khí của Inđônêxia đã tăng 84%, Xinhgapo tăng 146% và nước này đang tìm cách hiện đại hóa hạm đội tàu ngầm, Malaixia tăng 722% và vừa mới thiết lập một căn cứ tàu ngầm tại Borneo để hướng ra Biển Đông. Căn cứ này dành cho 2 tàu ngầm Scorpène mua của Pháp. Malaixia tháng 12/2011 đã mua của Pháp 6 tàu hộ tống Gowind. Việt Nam đã mua 6 tàu ngầm lớp Kilo trị giá 1,4 tỷ euro và các máy bay tiêm kích trị giá 700 triệu euro của Nga.

5- Thái độ của cộng đồng quốc tế

Quan điểm của Pháp

Đối với Pháp, mọi tranh chấp đều phải dựa vào luật pháp quốc tế. Pháp bày tỏ ủng hộ bộ quy tắc ứng xử do ASEAN đề xuất. Hơn nữa, trong nỗ lực giảm thiểu căng thẳng, Pháp đã đề xuất tổ chức hội thảo bao gồm cả Liên minh châu Âu và ASEAN dưới dạng các diễn đàn trao đổi kinh nghiệm quản lý các khu vực hàng hải chung.

Bước ngoặt cuối cùng là quan điểm của Mỹ

Ngoài những vụ va chạm của các tàu USNS Impeccable, USS John McCain, việc tháng 3/2010 Bắc Kinh coi Biển Đông là “lợi ích cốt lõi quốc gia”, ngang với Đài Loan và Tây Tạng đã làm gia tăng mâu thuẫn giữa Mỹ và Trung Quốc. Điều này đã đẩy người Mỹ chính thức cam kết sâu hơn vào khu vực với tuyên bố của Ngoại trưởng Hillary Clinton tại Hội nghị diễn đàn khu vực ASEAN ngày 23/7/2010 khi xác định: “Mỹ có lợi ích quốc gia trong tự do lưu thông hàng hải, tự do tiếp cận các hải phận chung tại châu Á, và tôn trọng luật pháp quốc tế tại Biển Đông”. Quan điểm của Mỹ là chính thức không tham gia những yêu sách lãnh hải song bày tỏ quan tâm đến nguy cơ dẫn đến các bên đối đầu làm ảnh hưởng tới tự do lưu thông hàng hải.

Kết luận

Trung Quốc tỏ thái độ phức tạp giữa lập trường xoa dịu và hành động gây hấn tại Biển Đông. Luật biển theo kiểu Trung Quốc và cách thể hiện của Bắc Kinh là những thách thức chiến lược. Trung Quốc đã hiểu rõ và đang sử dụng mưu đồ để mở rộng luật này phục vụ lợi ích riêng. Cách tiếp cận tư pháp liên quan các vấn đề Biển Đông phải được hoàn thiện từ cách đặt vấn đề ngoại giao và hàng hải. Trung Quốc có tham vọng giải quyết với các bên liên quan ở Biển Đông một cách song phương chứ không phải đa phương như phần lớn các đối tác và cộng đồng quốc tế mong muốn. Do đó, việc Mỹ quay trở lại khu vực đánh dấu một bước ngoặt trong các sự kiện. Cuộc chơi sẽ thận trọng hơn.

Bài gốc: Les îles Spratley et Paracels

Theo Cesm.marine.defense.gouv.fr

Viết Tuấn (gt)

 

 

Bài viết của GS. Baldas Ghoshal, Thành viên danh dự của Viện Nghiên cứu Hòa bình và Xung đột (Ấn Độ), nhìn vào cách tiếp cận của ASEAN đối với tranh chấp Biển Đông, kiểm định tính hiệu quả của ASEAN trong việc đối phó với các yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc, bên tranh chấp chính, và đánh giá triển vọng xoa dịu căng thẳng trong khu vực bằng những khuôn khổ pháp lý hiện hành.

Lời giới thiệu

Trọng tâm chính của bài viết là nhìn vào cách tiếp cận của ASEAN đối với tranh chấp Biển Đông, kiểm định tính hiệu quả của ASEAN trong việc đối phó với các yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc, bên tranh chấp chính, và đánh giá triển vọng xoa dịu căng thẳng trong khu vực bằng những khuôn khổ pháp lý hiện hành.

Tranh chấp quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa liên quan đến một số quốc gia thành viên của ASEAN, là Việt Nam, Ma-lai-xi-a, Philíppin và Bru-nei. In-đô-nê-xi-a không phải là một bên yêu sách trong tranh chấp, nhưng có một thời gian dài đóng góp tích cực vào việc thiết lập các phương thức xây dựng lòng tin với mục tiêu giảm bớt căng thẳng và tránh làm bùng phát bất cứ xung đột nào trong khu vực. Tuy nhiên, việc Trung Quốc gộp cả quần đảo Natura vào yêu sách của mình một vài năm trước đây đã khiến người In-đô-nê-xi-a thực sự bị sốc, họ đã tiến hành một cuộc tập trận lớn nhất xung quanh quần đảo Natura trong vòng ba tuần vào tháng 10 năm 1996 với sự góp mặt của hơn 19.000 binh sĩ, 50 tàu chiến và 41 máy bay bao gồm cả máy bay chiến đấu của ba quân chủng. Những thành viên còn lại của ASEAN dù không có bất kỳ sự liên quan nào đối với tranh chấp nhưng đều quan ngại về Biển Đông như một điểm bùng phát xung đột tiềm tàng ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.

Vì các quốc gia ASEAN tham gia ở các mức độ khác nhau vào tranh chấp và do vậy lợi ích của họ cũng không tương đồng, cho nên không có một cách tiếp cận chung của ASEAN đối với tranh chấp Biển Đông, mặc dù tất cả các quốc gia trong khối đều tán thành ý tưởng xây dựng lòng tin và lôi kéo Trung Quốc tham gia vào việc hạn chế tranh chấp và kiềm chế xung đột trong khu vực. Thực ra, mặc dù nói là đồng thuận và đoàn kết ASEAN, mỗi quốc gia thành viên đều theo đuổi chính sách riêng của mình, đặc biệt liên quan đến vấn đề Trung Quốc yêu sách gần như toàn bộ Biển Đông. Người ta thậm chí có thể lập luận rằng trên thực tế, các quốc gia ASEAN đã chia rẽ về cách tiếp cận của họ đối với Trung Quốc, cũng như về phương thức nhằm giảm bớt căng thẳng trong khu vực. Mỗi quốc gia thành viên nhìn nhận Trung Quốc từ góc độ lợi ích quốc gia của chính mình – do vậy Trung Quốc được đánh giá như một nguồn lợi ích kinh tế hoặc giả như một mối đe dọa. Kết quả là, vị thế của ASEAN trong vấn đề chiến lược và chính trị so với Trung Quốc là tương đối yếu. Để bù đắp sự yếu kém này, ASEAN thường xuyên sử dụng phương thức ngoại giao và cố gắng quốc tế hóa các vấn đề khu vực nhằm lôi kéo các cường quốc bên ngoài vào để cân bằng với một Trung Quốc đang trỗi dậy mạnh mẽ. Một chiến lược như vậy mang lại cho ASEAN một vị thế ngoại giao cao hơn như trong xung đột Cam-pu-chia trong thập niên 80 và đầu thập niên 90, giúp ASEAN có thể ngăn chặn được căng thẳng khu vực trong ngắn hạn; tuy nhiên ASEAN đã thất bại trong việc che dấu nhược điểm yếu cố hữu của mình trong việc đối phó với bá chủ khu vực - Trung Quốc.

Thứ hai, Trung Quốc hiểu sự chia rẽ của các quốc gia ASEAN trong cách tiếp cận đối với mình và tận dụng triệt để cơ hội này để khoét sâu thêm mâu thuẫn trong hàng ngũ ASEAN. Điều này thể hiện khá rõ từ sự chia rẽ sâu sắc trong quá khứ giữa Philíppin và Ma-lai-xi-a về đề xuất Bộ quy tắc ứng xử dành cho các thành viên của ASEAN và Trung Quốc bao gồm một loạt vấn đề từ tìm kiếm và cứu nạn cho tới khảo sát chung ở Biển Đông. Sau nhiều năm tin tưởng rằng không có gì đáng ngại về một Trung Quốc đang trỗi dậy, chính quyền Bắc Kinh quyết đoán hơn gần đây đang thực hiện chiến thuật chia để trị đối với các nước láng giềng ở Đông Nam Á của mình, tìm cách cô lập những bên yêu sách các quần đảo tranh chấp trong một khu vực nhiều dầu và khí đốt. Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì thừa nhận rằng “có những tranh chấp về lãnh thổ và quyền hàng hải” giữa Trung Quốc và một vài quốc gia láng giếng nhưng “những tranh chấp này không nên nhìn nhận như là một tranh chấp giữa Trung Quốc và cả khối ASEAN chỉ bởi vì các quốc gia có liên quan này là thành viên của ASEAN”. Phát biểu đó cho thấy Trung Quốc muốn chia cắt ASEAN thành một bên là các quốc gia có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc tại những đảo nhỏ trên Biển Đông là Philíppin, Việt Nam, Bru-nei và Ma-lai-xi-a, và bên kia là các quốc gia không có bất kỳ tranh chấp lãnh thổ nào như In-đô-nê-xi-a Thái lan, Lào, Cam-pu-chia, Mi-an-ma và Xinh-ga-po.

Thứ ba, vì các nước ASEAN không thống nhất trong lập trường của mình đối với Trung Quốc, tất cả các nước này dù là một cách riêng rẽ hay tập hợp đã đi trệch hướng vào các thời điểm khác nhau nhằm cố gắng theo đuổi một chính sách nhân nhượng lợi ích của Trung Quốc về vấn đề này. Trung Quốc chắc chắn có sức ép riêng của mình để đưa ra yêu sách đối với gần như toàn bộ Biển Đông và tiếp tục với “chính sách gặm nhấm dần dần” của mình, nhưng đồng thời cách tiếp cận có phần nhân nhượng của ASEAN có thể đã khuyến khích Trung Quốc theo đuổi điều mà cựu Bộ trưởng quốc phòng Philíppin Mercado những năm 90 gọi là chính sách “vừa đàm vừa chiếm”. Thậm chí thành công hạn chế ASEAN đạt được trong việc lôi kéo Trung Quốc tham gia vào các đối thoại khác nhau về vấn đề Biển Đông, như Đối thoại ASEAN – Trung Quốc, Hội thảo Biển Đông do In-đô-nê-xi-a tổ chức và sáng kiến Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), chủ yếu là vì Trung Quốc nhân nhượng các lợi ích thiết thân của ASEAN trong khi bảo lưu các vấn đề liên quan đến chủ quyền quốc gia và không can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác. Việc chuyển đổi công thức “quy trình ba bước” (xây dựng lòng tin, ngoại giao phòng ngừa và giải quyết xung đột) vốn được ghi nhận ban đầu trong mục tiêu của ARF để kiểm soát xung đột trong khu vực thành một mục tiêu cuối cùng mập mờ và hạn chế là “tìm hiểu thêm về các cách tiếp cận đối với xung đột” cũng như việc tái định nghĩa phương thức ngoại giao phòng ngừa trong hội nghị Nhóm công tác CSCAP tại Băng Cốc từ tháng 1-3 năm 1999 là những ví dụ minh họa cho thấy những nỗ lực của ASEAN trong việc đáp ứng sự nhạy cảm và lợi ích của Trung Quốc.

Trong bài viết này, chúng tôi muốn lập luận rằng chính sách của ASEAN trong việc lôi kéo sự can dự của Trung Quốc cũng như cách tiếp cận “mềm mỏng” và có phần nhượng bộ của họ đối với vấn đề Biển Đông chỉ đem lại những lợi ích tạm thời ở khía cạnh gác lại tranh chấp, nhưng không có hiệu quả trong việc kiểm soát xung đột hay kiềm chế xung đột leo thang trong tranh chấp ở Trường Sa. Những hành động của Trung Quốc ở Biển Đông trong hai thập kỷ qua chứng tỏ rằng Trung Quốc chỉ nói suông đối với tiến trình xây dựng lòng tin trên biển, điều mà ARF (Diễn đàn khu vực ASEAN), CSCAP (Hội đồng hợp tác an ninh khu vực Châu Á Thái Bình Dương), những tuyên bố và hoạt động ngoại giao khác nhau của ASEAN cũng như những hiệp định song phương với Trung Quốc đang cố gắng để đạt được. Trung Quốc từ lâu vẫn duy trì quan điểm không thỏa hiệp trong vấn đề chủ quyền đối với Biển Đông; nước này cũng không thật sự chân thành trong vấn đề khai thác chung các nguồn tài nguyên trong khu vực.

Căn nguyên của vấn đề là việc chồng chéo của hàng loạt yêu sách chủ quyền đối với hàng trăm hòn đảo và bãi đá. Việc kiểm soát khu vực đó có tác động quan trọng đối với tự do qua lại của tàu thuyền và rốt cuộc, việc triển khai các hoạt động đầu tư vào khí đốt tự nhiên và dầu sẽ không thể được thực hiện cho tới khi các vấn đề chủ quyền được giải quyết. Do đó, các bên tranh chấp đều cố gắng củng cố yêu sách của mình. Trong 53 đảo ở Trường Sa bị chiếm đóng bởi các bên yêu sách khác nhau, Trung Quốc chiếm 11; Philíppin chiếm 8, Ma-lai-xi-a chiếm 5, Đài loan chiếm 1, số đảo còn lại thuộc về Việt Nam. Các quốc gia yêu sách viện dẫn yếu tố lịch sử, địa lý và Công ước Luật biển của Liên Hiệp Quốc để hỗ trợ cho yêu sách của mình. Các nước yêu sách, dù không thường xuyên, đều cố gắng tăng cường khả năng phòng thủ trên các đảo mà mình chiếm đóng. Khi chưa có bất kỳ một giải pháp toàn vẹn nào, tranh chấp ở Trường Sa cuối cùng có thể sẽ dẫn đến những cuộc xung đột vũ trang, đặc biệt khi kết hợp với các vấn đề trên đất liền.

Tuy nhiên, các nhà phân tích quân sự cho rằng bất chấp sự tăng cường lực lượng đồn trú và triển khai các cơ sở hạ tầng để phòng thủ, không hòn đảo nào ở Trường Sa thực sự có khả năng phòng thủ xét về khía cạnh quân sự. Họ cũng chỉ ra rằng sự phối hợp quân sự giữa mỗi quốc gia yêu sách và các đảo mà họ chiếm đóng có thể bị gián đoạn bởi các vấn đề tiếp vận khá phức tạp. Do đó, việc phòng thủ ở các hòn đảo ở Trường Sa sẽ đặt các quốc gia chiếm đóng trước nhu cầu phải phát triển các năng lực triển khai sức mạnh. Điều này giải thích cho việc tại sao trong những năm gần đây, Trung Quốc đẩy mạnh phát triển năng lực hải quân viễn dương và xây dựng các hạm đội hiện đại phối hợp với các đơn vị trên bộ và trên không để chiến đấu bảo vệ chủ quyền trên biển của mình. Điều đó cũng phần nào giải thích tại sao Trung Quốc, kể từ năm 1994, tiến hành một số cuộc tập trận trên biển mặc dù nhiều lần biểu lộ ý định gác tranh chấp chủ quyền. Đối phó với những động thái này của Trung Quốc, các quốc gia ASEAN, một phần vì cân nhắc đến tình huống khủng hoảng có thể xảy ra do tranh chấp Trường Sa, đã chi tiêu cho quốc phòng và có các hoạt động hợp tác quân sự với phía Mỹ.

Chúng tôi cũng lập luận thêm rằng cách thức kiềm chế Trung Quốc không phải là  bằng việc bộc lộ những yếu kém của ASEAN và nhân nhượng những lợi ích thiết yếu của Trung Quốc ở Biển Đông, mà chỉ có thể là bằng một lập trường thống nhất và kiên định mà đã truyền tải một thông điệp như các ngoại trưởng ASEAN đã từng làm vào ngày 18 tháng 3 năm 1995 sau sự kiện Trung Quốc chiếm đóng Đảo Vành  Khăn bị phát hiện. Chỉ sau khi có tuyên bố đó, phía Trung Quốc đã không những đồng ý giải quyết đa phương với ASEAN mà còn thể hiện một chút linh hoạt đối với vấn đề. Chiến lược Châu Á của Trung Quốc là giải quyết song phương với tất cả các bên để qua đó có thể tối đa hóa lợi thế của một nước lớn trong những mối quan hệ không cân xứng. Nhưng mặt khác, với việc sử dụng lá chắn đoàn kết để thay thế cho sức mạnh quân sự, ASEAN đã buộc Trung Quốc phải giải quyết vấn đề với các thành viên của mình như với cả một khối thống nhất. Đồng thời Trung Quốc chấp nhận một cách tiếp cận mang tính hòa giải hơn. Ví dụ như, tháng 7 năm 1995, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc khẳng định rằng Trung Quốc không có lợi khi cản trở tự do lưu thông hàng hải ở khu vực Trường Sa và cho biết rằng nước này cảm thấy các vấn đề đều có thể được giải quyết mà không cần có trung gian hòa giải hoặc sự can thiệp nào từ bên ngoài. Thời gian sau đó, ASEAN đã không còn thể hiện được sự đoàn kết như trước đây bởi việc xung đột lợi ích quốc gia đã bắt đầu chia cắt ASEAN một lần nữa, đồng thời cuộc khủng hoảng kinh tế ở châu Á gây ra bất ổn trong các quốc gia thành viên cũng như bản thân ASEAN.

Tranh chấp Biển Đông và Chiếm đóng dần dần

Trước khi chúng ta đi sâu vào một số điểm đã nêu ở trên cần đề cập ngắn gọn về tranh chấp ở Biển Đông. Mặc dù Trung Quốc và Việt Nam là những bên tranh chấp chủ yếu trong cuộc chiến giành chủ quyền đối với các đảo cùng các bãi đá và đảo nhỏ ở xung quanh, Philíppin sau đó cũng đưa ra yêu sách đối với những hòn đảo giàu tài nguyên này, ngoài ra còn có những bên yêu sách khác như Đài Loan, Ma-lai-xi-a và Bru-nei. Tuy nhiên, trước những năm 1990, chỉ có Trung Quốc và Việt Nam đã từng đụng độ quân sự trong việc tranh chấp các đảo. Sử dụng các sự kiện lịch sử và những phát hiện khảo cổ để chứng minh cho những yêu sách của mình, hai nước có vụ đụng độ đầu tiên vào năm 1973 khi Trung Quốc chiếm đóng bằng vũ lực quần đảo Hoàng Sa từ một nước Việt nam cộng hòa đang rệu rã và yếu kém, đổi tên nó thành Tây Sa và sát nhập vào khu vực đảo Hải Nam. Tiếp theo vào năm 1988, đã diễn ra một cuộc đụng độ hải quân khốc liệt tại Đá Gạc Ma trong quần đảo Trường Sa. Tàu Trung Quốc đã bắn chìm một số tàu Việt Nam và gần 70 chiến sĩ hải quân Việt Nam đã hi sinh. Một vài năm trước sự kiện này, Trung Quốc phát động một cuộc tấn công trên bộ “để dạy cho người Việt Nam một bài học”. Năm 1992 Trung Quốc cũng đã thông qua luật về lãnh hải và vùng tiếp giáp của mình trong tuyên bố vào tháng 1 năm 1992 trong đó không chỉ nêu ra yêu sách đối với những quần đảo này mà Trung Quốc còn tự cho mình quyền đuổi bắt các tàu thuyền nước ngoài nếu bị bắt gặp vi phạm luật lệ và những quy định của Trung Quốc. Cũng trong năm đó, Việt nam đã cáo buộc Trung Quốc khai thác dầu bởi nước này đã nhượng quyền khai thác cho một công ty thăm dò dầu đến từ Denver, tập đoàn năng lượng Cretonne, trong một khu vực đang tranh chấp quanh Bãi Tư Chính, người Trung Quốc gọi là bãi Vạn An 21 (WAB 21). Thời điểm đưa ra thông báo về việc nhượng quyền của Trung Quốc đối với công ty Mỹ khá quan trọng bởi nó diễn ra cùng lúc khi mà đại diện của quốc gia yêu sách bao gồm những đại biểu từ Trung Quốc và các nước khác đang hội họp tại Jogjakarta dưới sự bảo trợ của Ngoại trưởng In-đô-nê-xi-a, để tìm ra một giải pháp khả dĩ cho vấn đề Biển Đông. Việc này đã khiến một học giả Ma-lai-xi-a bình luận rằng: “Dù hành động đó có ý làm mất mặt một vài bên nào đó hay không, nó đã để lại hệ quả rất xấu trong mối quan hệ giữa ASEAN và Trung Quốc”. Mặc dù phát sinh một số xung đột quân sự trong hai thập kỷ qua, vấn đề yêu sách chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa chưa đạt được bất kỳ kết quả rõ rệt nào. Khi thiếu vắng những đồng thuận khu vực rõ ràng, quy luật xa xưa “chân lý thuộc về kẻ mạnh” dường như đang thắng thế ở Biển Đông.

Việc Trung Quốc xâm phạm khắp Biển Đông dẫn đến xung đột trực tiếp với một quốc gia thành viên không thuộc phe cộng sản của ASEAN là Philíppin. Theo nguồn tin của Philíppin, ngày 8 tháng 1 năm 1995, lực lượng vũ trang Trung Quốc được tám tàu chiến yểm trợ đã chiếm Đá Vành Khăn, nằm cách khu vực Philíppin gọi là tỉnh Palawan 200 km, và cắm cờ Trung Quốc. Tháng 3 năm đó, quân đội Philíppin được huy động để đẩy lui và xóa bỏ mọi cột mốc của người Trung Quốc. Năm 1996, một tàu hải quân của Trung Quốc đã đấu pháo với một tàu chiến của Philíppin gần đảo Campones. Tháng 4 năm 1997 hải quân Philíppin phát hiện một tàu cao tốc và hai tàu cá của Trung Quốc trong khu vực Bãi Cạn Hoàng Nham, nơi mà Trung Quốc đang cố gắng thiết lập các công trình xây dựng. Trong năm 1998 và 1999, việc Trung Quốc một lần nữa xây dựng thêm các công trình trên Đá Vành Khăn đã làm gia tăng căng thẳng trong quan hệ giữa hai nước. Trung Quốc đã bác bỏ kháng nghị ngoại giao của Philíppin đối với các hoạt động xây dựng trên đảo, nhấn mạnh rằng đấy là một phần lãnh thổ của Bắc Kinh và đó là công việc sửa chữa đơn thuần nơi trú ẩn cho ngư dân bị hư hại bởi gió biển. Manila khẳng định đảo đá nằm bên trong khu vực đặc quyền kinh tế (EEZ) rộng 200 hải lý của mình theo Công ước Luật biển của Liên hiệp quốc đối với quốc gia quần đảo như Philíppin. Khu vực này nằm cách đảo Hải Nam, vùng lãnh thổ gần nhất của Trung Quốc khoảng 1100km. Trung Quốc đang làm mọi cách để giành được đất, cả về mặt thực tế lẫn chính trị, trong cuộc tranh giành Biển Đông.

Do vậy, dường như Trung Quốc đang theo đuổi một chính sách mà rất nhiều người hiện tại có thể mô tả là “gặm nhấm dần dần” – một chính sách từng bước thiết lập sự hiện diện lớn mạnh ở Biển Đông mà không cần đến sự đối đầu quân sự. Chính sách này tiến hành đồng thời hai chiến thuật chủ yếu để đạt được mục tiêu cuối cùng là ưu thế vượt trội ở Biển Đông. Chiến thuật đầu tiên là sử dụng phương thức ngoại giao trong đó Trung Quốc không ngần ngại nêu lập trường không thay đổi trong chủ quyền của mình đối với Trường Sa và chủ quyền đó không thể mang ra đàm phán, nhưng Trung Quốc cũng sẵn sàng tạm gác vấn đề chủ quyền, hợp tác với các bên yêu sách khác để tìm ra một giải pháp hòa bình cho tranh chấp dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế và cùng khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên với các bên khác. Chiến thuật thứ hai là sử dụng phương thức thiết lập sự hiện diện trên thực địa hoặc bản đồ đối với khu vực mà Trung Quốc yêu sách là của mình. Điều này bao gồm cắm các cột mốc lãnh thổ và, ở bất cứ nơi nào có thể, chiếm đóng những đảo đá chưa bị kiểm soát và xây dựng các công trình trên đó, giống điều họ đã từng làm trong vụ Đá Vành Khăn năm 1995 và 1999. Những cột mốc và công trình này được biểu thị trên bản đồ Trung Quốc để mô tả đường ranh giới của biển Trung Quốc và được viện dẫn như là điểm tham khảo trong các cuộc đàm phán song phương hoặc đa phương, kể cả trong hội thảo về Biển Đông được In-đô-nê-xi-a tổ chức. Để thể hiện cam kết của mình đối với luật pháp quốc tế, Trung Quốc cũng tuyên bố rằng nước này sẽ tuân thủ Công ước Liên hiệp quốc về luật biển (UNCLOS). Ví dụ, Tuyên bố chung giữa chủ tịch Trung Quốc và những người đứng đầu quốc gia/chính phủ của các nước thành viên ASEAN vào ngày 16 tháng 12 năm 1997 nói rõ “nhận thức rằng việc duy trì hòa bình và ổn định trong khu vực phục vụ cho lợi ích của tất cả các bên, họ cam kết giải quyết các bất đồng và tranh chấp thông qua các phương thức hòa bình, không viện đến đe dọa hoặc sử dụng vũ lực. Các bên liên quan đồng ý giải quyết tranh chấp liên quan đến Biển Đông thông qua phương thức thảo luận và đàm phán thiện chí theo luật pháp quốc tế đã được công nhận trên toàn cầu, bao gồm Công ước Luật biển 1982”. Điều thú vị là, khi bị các nước ASEAN gây sức ép chấp nhận một bộ quy tắc ứng xử để giảm bớt căng thẳng ở Biển Đông, Trung Quốc lập luận rằng tuyên bố chung này thích hợp đóng vai trò như chuẩn mực ứng xử. Tuy nhiên trên thực tế, kể từ năm 1982 Trung Quốc đã theo đuổi chiến thuật thứ hai với việc đặt các cột mốc lãnh thổ và chiếm đóng một số đảo đá.

Cách tiếp cận của ASEAN đối với tranh chấp Biển Đông

Đầu năm 1992, khi Trung Quốc đã là một đối tác đối thoại của ASEAN, ASEAN đưa ra vấn đề về Tuyên bố những quy tắc trên Biển Đông trong đó tổ chức ASEAN– chứ không phải là các quốc gia thành viên – thúc đẩy “tất cả các bên liên quan” có hành động kiềm chế nhằm tạo ra “một môi trường tích cực hình thành giải pháp cuối cùng cho mọi xung đột”. Mười năm sau đó, năm 2002, Trung Quốc ký,một văn kiện gọi là Tuyên bố về ứng xử giữa các bên ở Biển Đông với một khối ASEAN thống nhất, không phải chỉ riêng với những quốc gia có tranh chấp chưa được giải quyết với Trung Quốc. Kể từ đó, ASEAN và Trung Quốc xây dựng một “Bộ quy tắc ứng xử khu vực trên Biển Đông” nhưng một hiệp định dường như bị né tránh. Hiện tại, sau 19 năm đối thoại, cho rằng một khối ASEAN thống nhất không tham gia vào tiến trình là không đúng. Hơn nữa, Trung Quốc biết rằng các nước thành viên của ASEAN đã nhất trí rằng trước khi các quốc gia có tranh chấp lãnh thổ gặp gỡ để thảo luận với Trung Quốc về tranh chấp Biển Đông, tất cả 10 quốc gia thành viên sẽ gặp gỡ trước để tìm ra một lập trường chung. Các thành viên ASEAN nên biết rằng nếu riêng lẻ, sức mạnh của họ không đáng kể nhưng nếu đoàn kết lại thì họ sẽ có một sức mạnh chính trị ghê gớm. Hiệp định ký kết giữa Trung Quốc và ASEAN trong năm 2002 đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Năm ngoái, sau hội nghị thường niên của Diễn đàn khu vực ASEAN, với sự tham dự của các Ngoại trưởng từ 27 quốc gia, một tuyên bố được đưa ra trong đó các bộ trưởng “tái khẳng định tầm quan trọng của Tuyên bố cách ứng xử của các bên trên Biển Đông năm 2002 như là văn kiện mang dấu mốc quan trọng giữa ASEAN và Trung Quốc”. Bất chấp dấu ấn mang tính lịch sử này, ngoại trưởng Trung Quốc nhấn mạnh trong khi phản đối Bà Hillary Clinton rằng “Những quốc gia ASEAN không có yêu sách cho phía Trung Quốc biết rằng họ không phải là một phần của tranh chấp, họ không chọn bên và hy vọng rằng những tranh chấp này sẽ được giải quyết thông qua đàm phán song phương giữa các nước có liên quan”. Điều này giống như Trung Quốc đang cố gắng hướng một số nước thành viên của ASEAN chống lại chính tổ chức khu vực của mình, và chia cắt ASEAN thành hai khối.

Một khi các quốc gia ASEAN nhận ra rằng Trung Quốc đang quá khẳng định cái mà nước này mô tả là “lợi ích cốt lõi” và gộp cả Biển Đông vào trong đó thì họ sẽ không thờ ơ thêm nữa trước những vấn đề đang phá vỡ mối quan hệ của mình với Trung Quốc. Trước tiên, Ma-lai-xi-a và Việt Nam đưa ra một bản đệ trình chung vào mùng 6 tháng 5 năm 2009. Việt Nam đưa ra một bản đệ trình bổ sung vào mùng 7 tháng 5 năm 2009. Trung Quốc phản đối những bản đệ trình này. Philíppin phản đối bản đệ trình của Ma-lai-xi-a và Việt Nam, đưa ra một bản đệ trình một phần về một khu vực bên ngoài Biển Đông, cho rằng luật về đường cơ sở của mình phù hợp với các điều khoản của UNCLOS về đường cơ sở quần đảo. Trung Quốc và Bru-nei đã đệ trình thông tin sơ bộ. Bản đệ trình chung của Ma-lai-xi-a và Việt Nam kiến nghị rằng hai nước này có lập trường rằng quyền chủ quyền đối với những nguồn tài nguyên ở Biển Đông nên được xác định theo những nguyên tắc điều chỉnh thềm lục địa được tính từ bờ đất liền. Bằng cách không tính thềm lục địa hay khu EEZs của họ từ bất kỳ hòn đảo nào mà họ yêu sách trên Biển Đông, trên thực tế họ giữ lập trường rằng không hòn đảo nào ở Biển Đông được quyền có chiều rộng quá 12 hải lý – khoảng cách tối đa được cho phép theo UNCLOS. Thứ hai, các nhà lãnh đạo ASEAN đã vận động rất tích cực đối với phía Mỹ trong việc đảm nhận một vai trò tích cực trong việc duy trì an ninh cho các tuyến lưu thông hàng hải trên Biển Đông và do đó cũng là an ninh cho khu vực.

Sự quyết đoán của Trung Quốc và nỗ lực quốc tế hóa tranh chấp của ASEAN

Tranh chấp giữa Trung Quốc và ASEAN bùng phát công khai sau khi Ngoại trưởng Mỹ Bà Hilary Clinton, trong hội nghị thường niên của Diễn đàn khu vực ASEAN với sự tham dự của 27 quốc gia, bày tỏ sự ủng hộ của Mỹ đối với “quá trình ngoại giao hợp tác của tất cả các bên yêu sách nhằm giải quyết các tranh chấp lãnh thổ khác nhau trên tinh thần tự nguyện”. Kết quả là, rõ ràng có nhiều quốc gia, trong và ngoài ASEAN, hoan nghênh vai trò của Mỹ trong việc tạo ra đối trọng với Trung Quốc. Những nước phát biểu về vấn đề này không chỉ là những nước có yêu sách mà còn có cả các nước khác, như In-đô-nê-xi-a, Nhật Bản và Úc. Việc khẳng định rằng tranh chấp của Bắc Kinh chỉ với một số nước thành viên thay vì với cả khối ASEAN là rất khó phù hợp với những ghi nhận trong các văn kiện nêu trên. Trong khi yêu sách chủ quyền đối với gần như toàn bộ Biển Đông, Bắc Kinh đã đề xuất giải pháp hòa hoãn đối với tranh chấp thay vì thảo luận về khai thác chung các nguồn tài nguyên dưới biển. Để xoa dịu những quan ngại của khu vực, Trung Quốc đã ký một hiệp định bế tắc gọi là Tuyên bố về ứng xử của các bên trên Biển Đông với cam kết kiềm chế trong các hành động. Mục đích của việc làm này để hướng sự chú ý đi xa khỏi nỗ lực của Trung Quốc trong việc tăng cường kiểm soát quân sự đối với các vị trí mà nước này chiếm đóng và mở rộng đường ranh giới trên thực tế bằng việc ngăn cản các nước láng giềng đánh bắt cá trong các vùng biển tranh chấp hoặc khoan dầu ở vùng biển rất xa Trung Quốc. Trong năm 2007 và 2008, nước này thậm chí ngăn cấm BP và Exxon Mobil khoan dầu trong vùng biển ngoài khơi của Việt Nam. Trung Quốc thực hiện yêu sách bành trướng của mình đối với Biển Đông ở mức độ cao hơn bằng việc thách thức (năm 2009) một tàu khảo sát của hải quân Mỹ, tàu Impeccable, cách bờ biển của đảo Hải Nam Trung Quốc 75 dặm, mở rộng trên thực tế lãnh hải 12 hải lý của mình ra vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) 200 dặm. Phía Mỹ cho rằng theo Luật biển của Liên hiệp quốc, tàu hải quân của nước này có quyền tự do lưu thông qua vùng EEZ. Vào tháng ba, Trung Quốc nói với các quan chức cấp cao của Mỹ rằng chủ quyền của họ đối với Biển Đông là không phải bàn cãi và là một trong những vấn đề cốt lõi không được phép thỏa hiệp.

Sự khẳng định chủ quyền ngày càng tăng của Trung Quốc, cùng với việc tăng gấp đôi ngân sách quốc phòng càng làm gia tăng sự lo ngại ở Đông Á. Được khuyến khích bởi lợi ích mới mà chính quyền Obama đưa ra, các quốc gia trong khu vực đã lặng lẽ vận động Washington giữ một vai trò tích cực đối với các vấn đề của khu vực. Một phần bởi sự thúc giục từ ASEAN, phía Mỹ đã nối lại tiếp xúc với Mi-an-ma trong một thỏa thuận để thuyết phục nước này hướng tới cải cách dân chủ và thoát hẳn khỏi vòng tay của Trung Quốc. Kể từ khi giữ vai trò chủ tịch luân phiên ASEAN mùa hè năm ngoái, Việt nam đã có những cố gắng liên tục trong việc thu hút sự chú ý của Mỹ đối với mối đe dọa từ quyền lực Trung Quốc đang trỗi dậy ở Biển Đông; Ma-lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a, Philíppin cũng bày tỏ những quan ngại của mình với Washington. Một số nhà lãnh đạo Đông Nam Á tham dự hội nghị thượng đỉnh về An ninh Hạt nhân tại Washington tháng 3 năm 2010 đã tổ chức những cuộc hội đàm với Tổng thống Barack Obama và các quan chức cấp cao khác để bày tỏ những quan ngại của mình. Thượng nghị sĩ John Kerry, chủ tịch Ủy ban Quan hệ Đối ngoại của Thượng Viện, bày tỏ một cách công khai với Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng, người cũng tham gia cuộc gặp với Obama, rằng “Chúng tôi sẽ theo sát vấn đề một cách nghiêm túc. Nó liên quan trực tiếp đến tự do lưu thông hàng hải tại khu vực”.

Kết Luận

Những phân tích được đề cập ở trên cho thấy chính sách của ASEAN trong việc lôi kéo sự can dự của Trung Quốc và kìm chế cách hành xử của nước này ở Biển Đông chỉ thành công hạn chế trong phạm vi tạm gác lại xung đột. Cho đến nay, không một cơ chế nào trong ba cơ chế mà ASEAN áp dụng để chế ngự Trung Quốc – Đối thoại ASEAN - Trung Quốc, Hội thảo Biển Đông và ARF, mang lại một kết quả rõ ràng cho việc giải quyết vấn đề đã gây ra những căng thẳng trong khu vực. Như chúng tôi đã đề cập ở trên, căn nguyên của vấn đề là Trung Quốc và sự quyết đoán dần dần của nước này ở Biển Đông. Mục tiêu chính của ASEAN là khuyến khích Trung Quốc đồng ý giải quyết các tranh chấp một cách hòa bình và không chiếm đóng thêm các bãi đá và đảo ở khu vực tranh chấp Trường Sa. Đến nay, Trung Quốc chỉ nói suông với cả hai cam kết này. Nước này sử dụng cả phương thức ngoại giao và chiếm đóng thực địa để đẩy mạnh mục tiêu của mình ở Biển Đông. Trong khi thảo luận với ASEAN, nước này cũng đã chiếm các bãi đá và đảo ví dụ như Đá Vành Khăn. Với các quốc gia ASEAN, cách hành xử của Trung Quốc rõ ràng đã gây ra lo ngại, nhưng đồng thời, họ lại đi trệch hướng nhằm đáp ứng những lợi ích và quan ngại của Trung Quốc. Quả thực, phần lớn các đối thoại ASEAN – Trung Quốc hoặc những tương tác chỉ có thể thực hiện được dựa trên các điều khoản của Trung Quốc. Điều này, như chúng ta đã lập luận ở trên, cơ bản là vì sự yếu kém của ASEAN so với Trung Quốc, về mặt quân sự và mặt khác. Chúng tôi cũng tranh luận thêm rằng cách tiếp cận hiện nay của ASEAN đối với Trung Quốc là quá mềm mỏng và yếu ớt. Trung Quốc hiểu điều này rất rõ và đã theo đuổi mục tiêu của mình mà không bị ngăn cản. Trong khi thể hiện ra bên ngoài hình ảnh của một quốc gia biết lẽ phải và một người bạn quốc tế có trách nhiệm, Trung Quốc không thỏa hiệp về các vấn đề mà nước này coi là thiết yếu đối với lợi ích quốc gia. Vấn đề quần đảo Trường Sa là một trong lợi ích thiết yếu như vậy. Thay đổi trong văn hóa chính trị nội bộ của Trung Quốc và môi trường quốc tế có thể đã mang đến sự thay đổi trong lập trường của Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa, nhưng nhân tố quyết định cho sự thay đổi đó phải là sự thống nhất của chính ASEAN và một lập trường được xác định rõ ràng hơn nữa đối với vấn đề như họ đã từng làm vào tháng 3 năm 1995, ngay sau khi xảy ra sự kiện Đá Vành Khăn, và điều đó cũng đã lẫn đến tuyên bố của Bà Hilary Clinton tại hội nghị ở Hà Nội năm 2010. Giọng điệu hòa giải mà Trung Quốc thể hiện lúc đó là kết quả của một tuyên bố chung như vậy và của việc quốc tế hóa vấn đề.

Vấn đề đặt ra hiện nay đối với ASEAN không phải là đối đầu hay làm ngơ với Trung Quốc, mà tốt nhất là làm sao điều chỉnh mối quan hệ giữa ASEAN với Trung Quốc để yếu tố đe dọa trong việc mở rộng địa kinh tế của Trung Quốc bị loại bỏ hay ít nhất là giảm xuống một mức có thể chấp nhận hơn cũng như những khía cạnh tích cực trong mối quan hệ giữa hai bên được thực hiện mang tính xây dựng hơn và làm lợi cho tất cả. Vẫn chưa thể chắc là chiến thuật của ASEAN trong việc lôi kéo sự tham gia mang tính xây dựng của Trung Quốc có thành công hay không. Tuy nhiên trong lúc này, sẽ là hy vọng hão nếu cho rằng Trung Quốc một ngày nào đó có thể bị áp đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ. Trong khi không có bất kỳ lựa chọn khả thi nào khác, đây là một lựa chọn tốt nhất cho ASEAN để giải quyết thế tiến thoái lưỡng nan về an ninh của mình trước một Trung Quốc đang hồi sinh và tràn đầy tự tin. Tuy nhiên, một chiến thuật như vậy sẽ đòi hỏi ASEAN đóng một vài trò mang tính xây dựng trong mối quan hệ giữa Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ và Trung Quốc, những cường quốc chủ chốt sẽ quyết định tương lai của Châu Á – Thái Bình Dương. Chỉ bằng cách duy trì sự cân bằng thận trọng trong quan hệ của mình với những cường quốc trên thì ASEAN mới có thể đóng một vài trò hữu ích trong ngoại giao khu vực và tạo ra một không gian trong đó các quốc gia thành viên có thể theo đuổi công cuộc phát triển kinh tế và chính trị của riêng mình trong một trường hòa bình và ổn định. Mối quan hệ thân thiết của ASEAN với Ấn Độ có thể là nhân tố duy trì ổn định đặc biệt. Trên tất cả, chính sự đoàn kết của ASEAN sẽ không chỉ quyết định vị thế ngoại giao trong tương lai của cả khối, mà còn quyết định khả năng của ASEAN trong việc đối phó với một Trung Quốc quyết đoán./.

GS. Baldas Ghoshal

Tuấn Anh (dịch)

Đỗ Thủy (hiệu đính)

Tham luận của TS. Baladas Ghoshal tại Hội thảo Quốc tế “Triển vọng Hợp tác trong các vấn đề ở Biển Đông - Prospects of Cooperation and Convergence of the Issues and Dynamics in South China Sea” ngày 31 tháng 5 năm 2011, tại Jakarta, Indonesia do Trung tâm Nghiên cứu chiến lược Châu Á, Jakarta tổ chức.

Bản gốc tiếng Anh “ASEAN and the South China Sea Dispute

 

Bài viết “Đường đứt đoạn của Trung Quốc ở Biển Đông ra đời như thế nào” của Lý Kim Minh đăng trên Tạp chí “Tri thức thế giới” số ra 9/ 2011 trình bày quá trình ra đời của đường đứt quãng 9 đoạn, qua đó chứng minh chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các đảo cùng các quần đảo khác ở Biển Đông là có căn cứ pháp lý mang tính lịch sử.

 

Đường đứt đoạn ở biển Biển Đông là chỉ đường đứt đoạn hình chữ U đánh dấu trên bản đồ Biển Đông, cũng gọi là “đường chữ U’ hay “đường 9 đoạn”. Đường chữ U nói trên được công bố năm 1947, cộng đồng quốc tế lúc đó không hề có dị nghị, các nước Đông Nam Á ở xung quanh cũng chưa bao giờ phản đối về mặt ngoại giao, điều đó coi như đã được mặc nhận. Sau đó bản đồ xuất bản của rất nhiều nước cũng vẽ hình đánh dấu như vậy và chú thích rõ thuộc về Trung Quốc. Tuy nhiên sau khi “Viện lập pháp Đài Loan” thông qua “Cương lĩnh chính sách Biển Đông”, gọi vùng nước trong đường đứt đoạn là “vùng nước mang tính lịch sử” từ năm 1993, đường đứt đoạn này bắt đầu khiến quốc tế quan tâm rộng rãi, các nước Đông Nam Á xung quanh Biển Đông thậm chí lên tiếng thắc mắc về tính chất và địa vị pháp lý của đường đứt đoạn. Dưới đây sẽ trình bày bối cảnh ra đời, hiệu lực và tác dụng của đường đứt đoạn để làm rõ diện mạo lịch sử của đường đứt đoạn đó. 

Bắt đầu từ việc Pháp chiếm lĩnh 9 đảo nhỏ ở Trường Sa năm 1933. Từ khi chiếm Việt Nam làm thuộc địa năm 1885, Chính phủ Pháp luôn có dã tâm xâm chiếm các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Trung Quốc. Ngoài việc ngụy tạo ra những “sự thực lịch sử”, biên soạn ra tài liệu hoang đường như cái gọi là “đầu thế kỷ 19, vào thời vua Gia Long và vua Minh Mạng ở An Nam (nay là Việt Nam), đều đưa quân ra Hoàng Sa, An Nam hiện đã thuộc quyền sở hữu của Pháp nên quần đảo Hoàng Sa cũng thuộc quyền sở hữu của nước Pháp”, họ còn tỏ ý nghi ngờ tính hợp pháp của việc Thủy sư đề đốc Quảng Đông Lý Chuẩn thời nhà Thanh dẫn đầu đoàn tuần tra thị sát quần đảo Hoàng Sa vào năm 1909, mỗi lần ra đảo lại khắc đá đặt tên, làm nhà bằng gỗ, dựng cột buồm, treo cờ Hoàng Long khẳng định lãnh thổ Trung Quốc. Tháng 3/1930, Toàn quyền Đông Dương tại Hà Nội gửi thư cho Bộ trưởng thuộc địa Pháp viết rằng tỉnh Quảng Đông quyết định nhà đương cục Hoa Nam đứng ra tuyên bố họ có chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa. Sự kiện lớn diễn ra năm 1909 về việc tuần thú quần đảo Hoàng Sa là nghi thức chiếm lĩnh chính thức do Toàn quyền Lưỡng Quảng đề xướng, và việc tuyên bố của chính quyền tỉnh Quảng Đông hiện nay dường như căn cứ theo nghi thức này. Đối với nước Pháp, hành động chiếm lĩnh này chỉ là biểu hiện của vũ lực, từ trước đến nay chưa bao giờ được chính thức thừa nhận, nếu muốn có hiệu lực về mặt pháp luật thì chỉ có thể giả thiết quần đảo Hoàng Sa lúc đó là đất vô chủ.

Trước việc này, tháng 9/1932, Công sứ của Trung Hoa Dân quốc tại Pháp đã gửi công hàm đến Bộ Ngoại giao Pháp để phản đối, cho rằng “căn cứ theo luật pháp quốc tế và thông lệ quốc tế thì điều kiện chủ yếu để có được một đảo cách xa đất liền là trước tiên phải có sự chiếm lĩnh hữu hiệu, nói cách khác là có người của nước mình định cư ở đó trước tiên, khiến cho quốc gia có người ở đó có được những phần lãnh thổ này. Ngư dân Hải Nam định cư ở quần đảo Hoàng Sa, đồng thời làm nhà ở và đóng thuyền đánh cá để đáp ứng nhu cầu của họ, từ xưa đến nay chính là cách làm như vậy. Năm 1909, rõ ràng Chính phủ nhà Thanh đã đưa hải quân đến quần đảo khảo sát, đồng thời tuyên bố với các nước trên thế giới về sự chiếm đóng hữu hiệu của mình, liền ngay đó là kéo cờ của Trung Quốc, bắn 21 phát đại bác. Chính phủ Pháp lúc đó không kháng nghị phản đối. Năm 1908 có tổ chức quốc tế kiến nghị xây dựng cột đèn trên một đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa để bảo vệ tàu thuyền, đó là công trình quan cho hàng hải quốc tế. Tháng 4/1930, tại Hội nghị khí tượng họp ở Hồng Công, Trưởng đài khí tượng của Pháp ở Đông Dương, ngài Blouson và Trưởng đài thiên văn Từ Gia Hối ở Thượng Hải là Linh mục Frock (?) tham gia hội nghị lúc đó đã kiến nghị với đại biểu Trung Quốc xây dựng một đài khí tượng ở quần đảo Hoàng Sa”. 

Thấy không có chỗ nào có thể lợi dụng trong vấn đề Hoàng Sa, Pháp bèn chuyển ý đồ vươn đến quần đảo Trường Sa. Năm 1930, pháo hạm Pháp mang tên Malicieuse đã tự ý đến “đo đạc” ở đảo Nam Uy (Spratly) thuộc quần đảo Trường Sa, không nhìn nhận sự thực về việc ngư dân Trung Quốc đã định cư trên đảo này, và bí mật cắm cờ Pháp rồi bỏ đi. Tháng 4/1933, pháo hạm “Alerte và tàu đo đạc Astrolabe do Trưởng phòng nghiên cứu hải dương Sài Gòn dẫn đầu đã đến “khảo sát” tường tận trên khắp quần đảo Trường Sa để thể hiện sự “chiếm lĩnh”. Tháng 9/1930, Chính phủ Pháp đã thông qua một tờ Công báo tuyên bố với các nước khác rằng Pháp đã chiếm lĩnh quần đảo Trường Sa. Tháng 4/1933, Pháp còn chính thức tổ chức nghi thức chiếm lĩnh và công bố trên báo chí chính thức của Chính phủ vào ngày 26/7/1933. Tháng 12 cùng năm, Toàn quyền Pháp tại Đông Dương Giao Chỉ (tức miền Nam Việt Nam) Krautheimer đã ký pháp lệnh sáp nhập các đảo nhỏ thuộc quần đảo Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa của An Nam. Kỳ thực, mục đích của Pháp khi đó là thôn tính toàn bộ quần đảo Trường Sa chứ không chỉ vẻn vẹn mấy đảo nhỏ. Có thể thấy rõ điều này qua thư của Bộ Quốc phòng Pháp gửi Bộ Ngoại giao nước này ngày 30/3/1932 nói rằng “các ngài yêu cầu chúng tôi khi có khả năng phải chiếm lĩnh ngay quần đảo này, nhưng hành động như vậy cần phải được tiến hành trong điều kiện thời tiết thật tốt […], chúng tôi sẽ truyền đạt yêu cầu của các ngài đến Tư lệnh hải quân ở Đông Dương, yêu cầu họ đến, lập tức chiếm lĩnh quần đảo nói trên trong điều kiện thời tiết họ cho là thuận lợi nhất”. 

Trong tài liệu có tên “Trung Quốc địa lý tân chí” xuất bản ngày đó đã liệt kê các đảo nhỏ mà Pháp chiếm lĩnh gồm: 1) Đảo Trường Sa hay còn gọi đảo Storm (đảo bão gió), hiện nay gọi là đảo Nam Uy; 2) Đảo Itu Aba, nay gọi là đảo Thái Bình; 3) Đảo Amboyna Cay, nay gọi là bãi An Ba Sa; 4) Đảo North Danger North-east Cay, nay gọi là đảo Bắc Tử; 5) Bãi North Danger South-west Cay, nay gọi là bãi Nam Tử; 6) Đảo Loaita Is hay South Is., nay gọi là đảo Nam Thược; 7) Đảo Thitu, nay gọi là đảo Trung Nghiệp; 8) Đảo Nam Yet, nay gọi là đảo Hồng Ma; 9) Đảo West York, nay gọi là đảo Tây Nguyệt. Sự kiện Pháp chiếm 9 đảo ở Trường Sa đã gây tác động rất lớn đối với Chính phủ Dân quốc lúc đó. Ngày 4/8/1933, Bộ Ngoại giao Chính phủ Dân quốc gửi công hàm cho Sứ quán Pháp, yêu cầu điều tra rõ và trả lời chính thức về tên gọi, kinh độ, vĩ độ của các đảo. Bộ Ngoại giao Pháp đã thông qua Đại sứ Trung Quốc tại Pháp lúc đó là Cố Duy Quân gửi đi bức điện báo, nói “9 đảo nói trên nằm giữa An Nam và Philíppin, đều là nham thạch, được coi là tuyến đường biển quan trọng, tàu bè của Pháp thường lợi dụng chỗ hiểm yếu để tránh nạn nên đã chiếm giữ để xây dựng các thiết bị phòng chống rủi ro, đồng thời nói rõ trên bản đồ, thực tế không hề liên quan gì đến quần đảo Hoàng Sa”. Trước tình thế như vậy, Chính phủ Dân quốc cảm thấy cần phải xuất bản bản đồ chi tiết phạm vi lãnh thổ Biển Đông của Trung Quốc, thống nhất thẩm định lại tên bằng tiếng Trung Quốc và tiếng Anh của các đảo và bãi đá trong vùng lãnh thổ đó nên đã thành lập “Ủy ban thẩm định bản đồ biển và đất liền”. Hội nghị lần thứ 25 được tổ chức ngày 21/12/1934 đã thẩm định tên gọi tiếng Trung và tiếng Anh của các đảo ở Biển Đông. Trên tập san lần đầu tiên của Ủy ban phát hành tháng 1/1935 đã liệt kê tương đối rõ tên gọi của 132 đảo, mỏm đá, bãi đá, bãi cát. Tháng 4/1935 Ủy ban nói trên lại xuất bản “bản đồ các đảo ở Biển Đông”, xác định đường biên giới lãnh thổ của Trung Quốc ở Biển Đông cực Nam đến vĩ tuyến 4, đánh dấu bãi đã ngầm Tăng Mẫu vào phạm vi lãnh thổ. Năm 1936, bản đồ nói trên được đưa vào tập bản đồ do Bạch Mi Sơ chủ biên, gọi là tập “Bản đồ mới kiến thiết Trung Hoa” (Trung Hoa kiến thiết tân đồ), còn có tên gọi khác là “Bản đồ toàn Trung Quốc sau phát triển cương vực biển phía Nam” (Hải cương Nam triển hậu chi Trung Quốc toàn đồ). Trong lãnh thổ Biển Đông trên bản đồ có đánh dấu các quần đảo Đông Sa, Hoàng Sa, Trường Sa và Đoàn Sa, xung quanh các quần đảo này được đánh dấu rõ bằng đường ranh giới quốc gia để thể hiện rõ các đảo ở Biển Đôngđều đã có trong bản đồ Trung Quốc. Đường ghi dấu lãnh thổ quốc gia ở các đảo Biển Đông cực Nam nằm ở độ 4 vĩ tuyến Bắc, đồng thời đánh dấu rõ tiêu chí của bãi Tăng Mẫu ở đường ranh giới quốc gia. Đó là đường ranh giới lãnh thổ trên biển xuất hiện sớm nhất trên bản đồ của Trung Quốc, cũng là hình hài ban đầu của đường đứt quãng hình chữ U trên bản đồ Biển Đông của Trung Quốc hiện nay. 

Thu hồi các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa sau kháng chiến chống Nhật Sau khi xâm lược Trung Quốc vào thập niên 30 thế kỷ trước, Nhật Bản đã cưỡng chiếm quần đảo Trường Sa và đổi tên thành “quần đảo Tân Nam”, hoạch định quần đảo này thuộc quyền quản lý của Toàn quyền Đài Loan (lúc đó Đài Loan là thuộc địa của Nhật Bản). Sau kháng chiến chống Nhật, Chính phủ Trung Quốc lúc đó căn cứ theo “Tuyên ngôn Cairô” - do 3 nước Trung Quốc, Mỹ và Anh ký tháng 12/1943 quy định “tôn chỉ của 3 nước […] ở chỗ làm cho các phần lãnh thổ của Trung Quốc bị Nhật Bản cướp đọat như Mãn Châu, Đài Loan, quần đảo Bành Hồ được trả về cho Trung Hoa Dân quốc” - và “Thông cáo Potsdam” - hối thúc Nhật Bản đầu hàng do 3 nước Trung, Mỹ, Anh ký tháng 7/1945 về “điều kiện trong bản Tuyên ngôn Cairô sẽ phải thực thi, còn chủ quyền của Nhật Bản sẽ phải hạn chế trong phạm vi lãnh thổ Nhật Bản hiện có, Bắc Hải đạo, Cửu Châu, cùng các đảo nhỏ khác do 4 nước và người Ngô (một tộc người ở Thường Xuân thuộc tỉnh Cát Lâm?) - quyết định” thu hồi Đài Loan, sau đó chính thức thu hồi quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa ngày 25/10/1945. 

Mùa Thu năm 1946, Chính phủ Trung Quốc lúc đó quyết định Bộ tư lệnh hải quân đưa binh lính và tàu chiến ra đóng ở quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa, đồng thời Bộ Quốc phòng, Bộ Nội chính, Bộ tư lệnh không quân, Ban hậu cần cũng cử đại biểu ra thị sát; chính quyền tỉnh Quảng Đông cử nhân viên ra tiếp nhận. Những người ra tiếp nhận đi trên 4 tàu mang tên “Thái Bình”, Vĩnh Hưng”, “Trung Kiến”, “Trung Nghiệp”. Tháng 11 cùng năm, 2 tàu “Vĩnh Hưng”, “Trung Kiến” do Diêu Nhữ Ngọc dẫn đầu ra đến đảo chính trong quần đảo Hoàng Sa là đảo Vĩnh Hưng, dựng “Bia kỷ niệm hải quân thu hồi quần đảo Hoàng Sa” trên đó. Mặt chính của bia khắc 4 chữ lớn là “Biển ĐôngBình Phiên” (nghĩa là phên dậu Biển Đông), bắn pháo, kéo cờ tuyên bố công việc thu hồi quần đảo Hoàng Sa đã hoàn thành. Tháng 12, 2 tàu “Thái Bình” và “Trung Nghiệp” do Lâm Tuân dẫn đầu ra đến đảo chính trong quần đảo Trường Sa, đã đặt tên cho đảo là đảo “Thái Bình” để kỷ niệm tàu “Thái Bình” tiếp nhận đảo này, đồng thời dựng bia đá ở đầu phía Đông của đảo với tên gọi “Đảo Thái Bình quần đảo Trường Sa”, cử hành nghi thức tiếp nhận và kéo cờ bên cạnh bia đá. Sau đó nhân viên thu hồi lại đến đảo Trung Nghiệp, đảo Tây Nguyệt và đảo Nam Uy, lần lượt dựng bia để làm chứng cứ. Tại đảo Thái Bình đã thành lập Phòng quản lý quần đảo Trường Sa, thuộc quyền quản lý của chính quyền tỉnh Quảng Đông.

Tuy nhiên, Pháp với ý đồ khôi phục chế độ thống trị tại Đông Dương và Philíppin vừa thoát khỏi ách thống trị của Mỹ đều muốn kiểm soát hữu hiệu quần đảo. Trong khi quân đội Nhật đầu hàng còn chờ trao trả, Pháp đã tranh thủ đến chiếm ngay một số đảo trước khi bộ đội Trung Quốc đến đóng trên các đảo ở Biển Đông, đồng thời đưa tàu chiến tuần tra thường xuyên ở Biển Đông. Tháng 7/1946, một tàu không rõ quốc tịch đã xâm nhập vùng biển thuộc quần đảo Trường Sa, sau khi biết tin Tổng bộ hải quân Trung Quốc quyết định đưa tàu chiến đến tiếp nhận quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa mới tự động rút đi sau đó mấy ngày. Tháng 10, lại có tàu chiến Chevreud của Pháp đến chiếm đảo Nam Uy và đảo Thái Bình ở quần đảo Trường Sa, đồng thời dựng bia trên đảo Thái Bình. Trước việc Trung Quốc quyết định thu hồi quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Pháp lên tiếng phản đối và đưa tàu chiến Tonkinois đến quần đảo Hoàng Sa, trên đường đến đảo Vĩnh Hưng thấy có bộ đội Trung Quốc đóng giữ liền đổi hướng đi đến đảo San Hô, và thiết lập Trung tâm hành chính trên đảo. Philíppin cũng muốn nhân cơ hội Trung Quốc chưa hoàn toàn tiếp nhận các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, chiếm quần đảo Trường Sa làm của mình. Ngày 23/7/1946 Ngoại trưởng Philíppin lúc đó là Quirino tuyên bố: “Trung Quốc đã tranh chấp với Philíppin về quyền sở hữu đối với quần đảo Trường Sa, quần đảo này ở cách đảo Palawan 200 hải lý về phía Tây, Philíppin sẽ hợp nhất quần đảo này vào phạm vi quốc phòng của mình”. 

Trong hoàn cảnh phức tạp như vậy, để bảo vệ chủ quyền đối với các đảo ở Biển Đông, Chính phủ Trung Quốc khi đó đã kịp thời có một số biện pháp cần thiết. Trước hết, đã điều chỉnh lại tên gọi của các đảo theo vị trí địa lý của các đảo đó tại vùng biển Biển Đông, đổi lại tên gọi ban đầu của “Quần đảo Đoàn Sa” thành “Quần đảo Trường Sa”, đổi lại tên gọi cũ của “Quần đảo Trường Sa” thành “Quần đảo Trung Sa”. Thứ hai, ngày 14/4/1947, Bộ Nội chính đã mời các cơ quan hữu quan cử người đến thảo luận và ra quyết định: 1) Phạm vi lãnh thổ Biển Đôngcực Nam phải đến bãi Tăng Mẫu, phạm vi này trước kháng chiến Chính phủ, cơ quan, trường học và các ấn phẩm xuất bản của Thư cục Trung Quốc đều lấy đó làm chuẩn; Bộ Nội chính đã chịu trách nhiệm lập hồ sơ, vẫn giữ nguyên không thay đổi. 2) Việc công bố chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, sau khi Bộ Nội chính đặt tên, có bản đồ minh họa kèm theo, trình lên Chính phủ Dân quốc lập hồ sơ, vẫn do Bộ Nội chính thông báo cho cả nước biết. Trước khi công bố, Bộ tư lệnh hải quân cũng đồng thời cố gắng đưa quân ra đóng ở các đảo thuộc các quần đảo nói trên. 3) Các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa mùa cá đến nhanh, ngư dân đến các quần đảo do Bộ tư lệnh hải quân và chính quyền tỉnh Quảng Đông bảo vệ và tạo thuận lợi  trong việc chuyên chở và thông báo tin tức. Thứ ba, để cụ thể hóa phạm vi lãnh thổ đã xác định ở Biển Đông, năm 1947, Vụ quản lý địa phương thuộc Bộ Nội chính khi đó đã in ấn “Bản đồ vị trí các đảo ở Biển Đông”. Bản đồ này có đánh dấu các quần đảo Đông Sa, Hoàng Sa, Trung Sa và Trường Sa, đồng thời có vẽ đường đứt quãng hình chữ U ở xung quanh, vị trí cực Nam của đường đứt quãng ở vị trí khoảng 4 độ vĩ Bắc. Tháng 2/1948, bản đồ nói trên được đưa vào “Bản đồ khu vực hành chính Trung Hoa Dân quốc” do Phó Giác Kim thuộc Vụ Phương vực Bộ Nội chính chủ biên, Vương Tích Quang vẽ và biên tập, Thương vụ ấn thư quán phát hành đối ngoại công khai. Đây chính là đường đứt quãng hình chữ U được đánh dấu chính thức trên bản đồ Biển Đôngcủa Trung Quốc. 

“Hòa ước San Francisco ” và đường đứt quãng Biển Đông

Về ý kiến của Mỹ và Anh liên quan việc xử lý các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa sau Chiến tranh thế giới thứ Hai, gần đây trong cuốn “Biên giới châu Á-Thái Bình Dương thời Chiến tranh Lạnh: Lãnh thổ chia rẽ hệ thống San Francisco”, nghiên cứu viên Kimi Sahara thuộc Trung tâm quản lý cải cách quốc tế Canađa đã tiết lộ một số dự thảo hiệp ước hòa bình mà ông đã được đọc trong mấy nơi như Nhà lưu giữ hồ sơ quốc gia Mỹ và Phòng quản lý hồ sơ Học viện Park ở Maryland. Xin được trình bày một số tư liệu liên quan trong đó như sau: 

1. Trong văn kiện mà Bộ Ngoại giao Mỹ đã trù định sẵn ở thời kỳ đầu Chiến tranh thế giới thứ Hai, văn kiện T-324 về “đảo Nam Uy và quần đảo khác (quần đảo Tân Nam)” được phác thảo ngày 25/5/1943, mục đích là để chuẩn bị cho công tác kiểm tra của Tiểu ban lãnh thổ. Văn kiện xuất phát từ góc độ địa lý, chiến lược, lịch sử Nhật Bản chiếm đóng, tuyên bố của các nước tranh chấp – tên gọi chung của các nước Nhật Bản, Pháp cùng với Trung Quốc và thái độ của Mỹ để thảo luận về các quần đảo này. Vấn đề đặc biệt cần chú ý là văn kiện nói trên đã tuyên bố về việc Philíppin tuyên bố chủ quyền sau chiến tranh: “Quần đảo Tân Nam chắc chắn là nằm ngoài phạm vi giới hạn mà Philíppin hoạch định ngày 10/12/1898”.

 2. Ngày 19/12/1944, trước Hội nghị Yalta, Ủy ban Phân khu Viễn Đông đã chuẩn bị văn kiện CAC-301 về “Đảo Nam Uy và quần đảo khác (quần đảo Tân Nam)”. Nội dung văn kiện cũng đề cập đến khu vực giống như khu vực được đề cập trong Văn kiện T-324 nói trên. Cả hai văn kiện đều có câu nói giống nhau: “Quần đảo Tân Nam là ở ngoài phạm vi giới hạn của Philíppin”. Phía trước câu nói như trên, văn kiện CAC-301 còn ghi thêm: “Nước Mỹ không tuyên bố chủ quyền cho mình, cũng không tuyên bố chủ quyền cho Philíppin ở quần đảo”. 

3. Văn kiện CAC-308 theo bản thảo chính thức tháng 12/1944 về “quần đảo Hoàng Sa” là chuẩn bị riêng cho quần đảo Hoàng Sa. Trong khi xem xét tình hình xung đột giữa các nước tranh chấp lúc đó – tức Pháp và Trung Quốc (Nhật Bản chưa bao giờ tuyên bố chính thức chủ quyền ở Hoàng Sa), văn kiện nói trên đã rõ ràng thừa nhận rằng tuyên bố của Trung Quốc là chiếm ưu thế về tính chất hợp pháp lịch sử.

Từ các văn kiện nói trên có thể thấy Mỹ cho rằng quần đảo Trường Sa chắc chắn nằm ngoài phạm vi giới hạn của Philíppin, đồng thời Mỹ cũng không tin vào tuyên bố của Pháp, cho rằng tuyên bố của Pháp về chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa là yếu ớt, không có sức mạnh. Nước Anh cũng giữ quan điểm tương tự như vậy đối với tuyên bố của Pháp về 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Tuy vậy, trong giai đoạn soạn thảo cuối cùng của “Hòa ước San Francisco đối với Nhật Bản” năm 1951, cả Mỹ và Anh lại đưa vấn đề xử lý quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa vào hiệp ước theo yêu cầu của Pháp, hơn nữa cũng đồng ý cho Pháp đưa cả các đồng minh của họ là Lào, Campuchia và Việt Nam đến hội nghị, trong khi Trung Quốc đại lục và Đài Loan Trung Quốc lại không đuợc mời tham gia. Ngày 23/8/1951, một bức điện báo gửi từ Pari đến Bộ Ngoại giao ở Luân Đôn viết rằng “các nước đồng minh Lào, Campuchia và Việt Nam tham gia hội nghị San Francisco đã được đảm bảo, họ sẽ ký vào bản hiệp ước. Tại San Francisco, vấn đề Nhật Bản bồi thường chiến tranh do chiếm đóng sẽ được nêu lên, Pháp cần phải bảo vệ quyền lợi đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa”.

Điều nghiêm trọng hơn nữa là “Hòa ước” chỉ viết Nhật Bản từ bỏ tất cả mọi quyền lợi ở Hoàng Sa và Trường Sa nhưng không nêu rõ sẽ trả lại những quyền lợi đó về cho Trung Quốc. Chính điều này đã để lại mầm họa cho việc tranh chấp lãnh thổ, khiến cho vấn đề tranh chấp giữa Trung Quốc và 2 thế lực thực dân là Nhật Bản và Pháp trước Chiến tranh thế giới thứ Hai chuyển thành tranh chấp giữa Trung Quốc với các nước láng giềng Đông Nam Á mới giành độc lập sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Vì thế, Bộ trưởng Ngoại giao nước CHND Trung Hoa lúc đó là Chu Ân Lai đã nghiêm túc tuyên bố: “Dự thảo văn kiện đã cố ý quy định Nhật Bản từ bỏ mọi quyền lợi ở đảo Nam Uy và quần đảo Hoàng Sa nhưng không đề cập đến vấn đề hoàn trả chủ quyền. Trên thực tế, quần đảo Hoàng Sa và đảo Nam Uy cũng như toàn bộ quần đảo Trường Sa, quần đảo Trung Sa và quần đảo Đông Sa, từ trước đến nay đều thuộc lãnh thổ của Trung Quốc. Trong thời kỳ đế quốc Nhật Bản phát động chiến tranh, tuy có lúc thất thủ nhưng sau khi Nhật Bản đầu hàng đã được Chính phủ Trung Quốc lúc đó thu hồi toàn bộ. Vì thế, Chính phủ Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tuyên bố: Chủ quyền không thể xâm phạm của Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại đảo Nam Uy (Trường Sa) và quần đảo Hoàng Sa, dù Mỹ và Anh có quy định hay không quy định và quy định như thế nào trong dự thảo hòa ước với Nhật Bản, cũng đều không chịu bất cứ ảnh hưởng gì”.

Mặc dù Mỹ-Anh khi soạn thảo “hòa ước” đều biết rõ, bất luận là tuyên bố của nuớc tranh chấp trước chiến tranh – Pháp, hay là tuyên bố của nước tranh chấp mới sau chiến tranh – Philíppin, cũng đều không có lý do đầy đủ. Nhưng cùng với Chiến tranh Lạnh từng bước leo thang và Chủ nghĩa cộng sản phát triển ở châu Á, mục tiêu quan trọng của Mỹ đã biến thành mục tiêu không để cho nước Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản được hưởng lợi trong vấn đề lãnh thổ mà Nhật Bản phải hoàn trả. Tháng 1/1950, Mỹ tuyên bố cực Nam của “Phòng tuyến Acheson” ở Tây Thái Bình Dương kéo dài đến Philíppin, đảm bảo an ninh cho Philíppin đã trở thành mục tiêu chủ yếu trong chính sách Đông Nam Á của Mỹ. Vấn đề xử lý lãnh thổ theo “Hòa ước với Nhật Bản” đã đem lại cơ hội không chỉ cho Philíppin, mà cho cả các nước láng giềng xung quanh Biển Đôngmới độc lập tham gia cạnh tranh lãnh thổ ở Biển Đông, đồng thời dựa vào đó đã để lại “mảnh chêm” lợi hại như một nhân tố tiềm tàng đối phó với Trung Quốc.

Báo “Quốc phòng Trung Quốc” ra ngày 10/5/2011 có bài viết xung quanh câu hỏi đặt ra về việc “Đài Loan - Đại lục cùng giữ đảo Thái Bình?” với mọi khả năng có thể đặt ra của tác giả Mai Phong, nội dung như sau:

Gần đây có báo đưa tin nhà cầm quyền Đài Loan sẽ tổ chức “Hội nghị chống khủng bố quốc tế” trên đảo Thái Bình (Ba Bình) ở Biển Đông, Mã Anh Cửu sẽ đích thân tham gia “tuyên bố chủ quyền” để đối phó với nước xung quanh có mưu đồ đánh chiếm đảo Thái Bình. Nhà cầm quyền Đài Loan tuy đã phủ nhận tin này nhưng đảo Thái Bình và tình hình Biển Đôngmột lần nữa lại trở thành đề tài cho dư luận trên đảo. Ngày 5/5, Trung tướng nghỉ hưu ở Đài Loan, Ủy viên thường vụ Hội chiến lược Trung Hoa Truyền Ứng Xuyên có bài viết cho biết hiện nay hai bờ tuy không có đối thoại hay thỏa thuận chính thức về vấn đề Biển Đông, nhưng trong vấn đề chủ quyền ở Biển Đông, lợi ích hai bờ là thống nhất. Hai bờ cùng không thể vì lập trường chính trị bất đồng mà gây tổn hại cho lợi ích chung của dân tộc, tin tưởng chắc chắn rằng Quân giải phóng quyết không thể ngồi nhìn. 

Tin đồn bên ngoài làm khuấy động Đài Loan

Đối với hai bờ, những năm gần đây Biển Đông đều là vấn đề “cây muốn lặng nhưng gió chẳng đừng”. Một số học giả người Hoa khi phân tích tình hình Biển Đôngđều cho rằng lực lượng phòng thủ của Đài Loan ở đảo Thái Bình mỏng yếu, nước xung quanh có thể có mưu toan đối với đảo Thái Bình. Một số người như học giả Bao Thuần Lượng thuộc Chương trình nghiên cứu toàn cầu, Phân hiệu Riverside, Đại học California và Tiết Lý Thái, Nghiên cứu viên thuộc Trung tâm an ninh và hợp tác quốc tế, Đại học Stanford, cho rằng nếu đảo Thái Bình thất thủ, không chỉ quyền và lợi ích ở Biển Đông sẽ mất đi mà cũng đồng thời có nghĩa trắc trở về mặt chính trị. 

Tin đồn từ hải ngoại đã làm khuấy động dư luận Đài Loan dẫn đến lo ngại cho các giới trên đảo về sự an nguy ở đảo Thái Bình. Trong một đợt thảo luận, có học giả Đài Loan lên tiếng nói rằng thực lực của Đại lục là nhân tố quan trọng đảm bảo cho nước xung quanh không dám manh động ra tay ở đảo Thái Bình. Trợ lý giáo sư Lý Đại Trung tại Viện nghiên cứu quốc tế và chiến lược, Đại học Đạm Giang khi trả lời phỏng vấn của báo chí có nói đến Biển Đôngliên quan đến lợi ích quốc gia của Trung Quốc đại lục, nước xung quanh nếu có mạo muội hành động e sẽ không thể có được giá hời gì mà chỉ giúp quân đội Trung Quốc đại lục “luyện binh” mà thôi. Lý Đại Trung đồng thời cho rằng ngoài lãnh thổ, vấn đề Biển Đôngcòn bao gồm tranh giành nguồn năng lượng. Nhà cầm quyền Đài Loan cần chọn thời điểm thích hợp để đàm phán với Đại lục, cùng phát triển nguồn năng lượng ở Biển Đông. Một số học giả Đài Loan cũng nói rằng nhà cầm quyền chi bằng liên kết với Đại lục phối hợp phòng thủ đảo Thái Bình. 

Không ít dân chúng Đài Loan đều tin rằng Biển Đông khi có sự cố, hai bờ nhất định sẽ liên kết giữ đảo Thái Bình. Ngay đến nhà cầm quyền Đài Loan cũng còn xem xét việc đưa hợp tác với Đại lục bảo vệ đảo Thái Bình vào trong chính sách. Phó giám đốc Sở bảo vệ môi trường Đài Loan Khâu Văn Ngạn cũng đã phát biểu tại “Diễn đàn hải dương hai bờ eo biển” rằng có thể mời chuyên gia, học giả Đại lục đến khảo sát kế hoạch phối hợp, hỗ trợ ban lãnh đạo Đài Loan xây dựng đảo Thái Bình thành “công viên hòa bình quốc tế”. 

Đảo Thái Bình đã mấy lần bị chiếm 

Sở dĩ đảo Thái Bình có thể trở thành vấn đề Biển Đông, thậm chí là một điểm nóng trong quan hệ giữa hai bờ là do tính chất chiến lược quan trọng của bản thân hòn đảo này. Một đảo nhỏ hình bầu dục dài và hẹp nằm trên vị trí cốt tử ở Biển Đông, có diện tích lớn nhất trong quần đảo Trường Sa, khoảng 0,5 Km vuông, cũng là đảo duy nhất có nguồn nước ngọt, vừa có thể trở thành cơ sở của nghề cá lại vừa có thể phát huy vai trò quân sự quan trọng. Có thể nói, có được đảo Thái Bình sẽ có được cả Biển Đông. Chính vì thế, từ thời cận đại khi thế lực các nước đã xâm nhập Biển Đông, đảo Thái Bình liền biến thành nơi tranh giành tất yếu của nhà binh, lịch sử từng ghi nhận đã 7 lần sang tên đổi chủ ở đảo này. Cuối đời nhà Thanh, đội quân lớn thương nhân và ngư dân người Nhật Bản đã kéo đến Trường Sa cướp đoạt tài nguyên, đảo Thái Bình cũng bị họ chiếm cứ lâu dài. Vào những năm 20 thế kỷ trước, quân đội thực dân Pháp chiếm đóng Đông Nam Á cũng xâm nhập quần đảo Trường Sa. Năm 1933, quân Pháp đã đuổi thương nhân Nhật Bản trên đảo Thái Bình, trở thành kẻ chiếm đóng mới ở đây. Năm 1939 quân đội Nhật Bản tràn đến Biển Đông, tháng 3 chiếm đóng đảo Thái Bình. Máy bay trinh sát của hải quân Nhật cũng từng đóng tại đảo Thái Bình, thi hành nhiệm vụ, những tin tức tình báo thu thập lúc đó đều được quân đội Nhật sử dụng để phát động cuộc chiến tranh Thái Bình Dương sau này. Kháng chiến chống Nhật vừa kết thúc, thực dân Pháp nhảy vào, đảo Thái Bình lại tiếp tục đổi chủ. Tuy nhiên do sức ép quốc tế, không lâu sau nước Pháp lại tự rút quân. Năm 1946 hải quân của Quốc dân đảng đã đưa tàu chiến “Thái Bình” ra tuần tra ở tận Trường Sa, đồng thời tiếp nhận các đảo ở Biển Đông. Chính phủ Quốc dân đảng lúc đó đã lấy tên của tàu chiến chính thức đặt tên cho đảo là đảo “Thái Bình”. Hải quân Quốc dân đảng đã thành lập “Phòng quản lý Trường Sa” và tiến hành thực thi công việc quản lý. Đầu những năm 50 thế kỷ trước, tất cả bộ đội Quốc dân đảng đóng trên đảo rút về Đài Loan. Một số người dân Philíppin còn cố tình đổ bộ lên đảo. Năm 1956 hải quân Quốc dân đảng đưa quân ra đuổi người Philíppin, đồng thời đội lục chiến trở lại đảo để trấn thủ. Từ đó đảo Thái Bình do nhà cầm quyền Đài Loan kiểm sát trên thực tế. Sau khi Lý Đăng Huy lên nắm quyền trên đảo, được ông này gợi ý, năm 1999 đội hải quân lục chiến của Đài Loan đã kết thúc nhiệm vụ đóng giữ ở đảo Thái Bình mấy chục năm, đến năm 2000, nhà cầm quyền Đài Loan thành lập “Sở tuần tra phòng vệ bờ biển”, tiếp quản đảo Thái Bình.

Phối hợp phòng vệ đảo Thái Bình ảnh hưởng tình hình Trường Sa 

Trong thời gian nắm quyền, Trần Thủy Biển đã từng làm to chuyện trong vấn đề đảo Thái Bình, cho xây dựng đường băng sân bay, còn lên cả đảo để ra oai nhằm dựa vào vấn đề Biển Đông phục vụ cho “Đài Loan độc lập”, bị báo chí trên đảo chế giễu, nói Trần Thủy Biển muốn mượn sân bay ở đảo Thái Bình để di chuyển tiền của tham nhũng, chuẩn bị sẵn khi vụ án vỡ lở chạy ra nước ngoài. Sau khi Mã Anh Cửu trở thành người lãnh đạo khu vực Đài Loan, quan hệ hai bờ đi vào thời đại mới, giao lưu hai bờ ngày càng mật thiết, cũng khiến cho rất nhiều vấn đề vốn nhạy cảm có được môi trường thảo luận rất tốt. Tình hình Biển Đông chính là một trong những vấn đề nhạy cảm nói trên. Đặc biệt sau khi “Hiệp định khung về hợp tác kinh tế hai bờ” (ECFA) được ký kết, hợp tác hai bờ trong vấn đề Biển Đôngcó được căn cứ pháp lý. Đây cũng là điều kiện quan trọng cho học giả hai bờ dồn dập lên tiếng đề nghị hai bờ hợp tác phòng thủ đảo Thái Bình, thậm chí cùng bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông hiện nay. Trên thực tế, nếu việc hai bờ phối hợp phòng thủ trở thành sự thực, thì điều này sẽ không chỉ là bảo vệ được một đảo Thái Bình mà sẽ còn có ảnh hưởng chiến lược tích cực đối với cả tình hình Biển Đông. Rất nhiều chuyên gia quân sự Đại lục cho rằng đảo Thái Bình hoàn toàn có thể dựa vào vị trí địa lý tuyệt vời và nguồn nước ngọt tại đó để xây dựng thành căn cứ tiếp tế hậu cần cho tàu chiến, khiến cho hải quân hai bờ có thể hợp tác tốt hơn trong khi bảo vệ Biển Đông. Ngoài ra, đảo Thái Bình chỉ cách quần đảo Hoàng Sa mà Quân giải phóng đang đóng giữ mấy trăm hải lý, khi cần thiết có thể kịp thời phối hợp nhịp nhàng từ xa, thống nhất xử lý với bên ngoài. Thiếu tướng La Viện thuộc Học viện khoa học quân sự có lần đề xuất quân nhân hai bờ cần cùng nhau bảo vệ cương vực vốn có của dân tộc Trung Hoa, Biển Đôngkhi có tình hình, quân đội Đài Loan trên đảo Thái Bình có thể tạo điều kiện thuận lợi về hậu cần cho Đại lục. Về việc thảo luận phối hợp phòng vệ đảo Thái Bình và cùng bảo vệ Biển Đông giữa hai bờ, tại đảo Đài Loan đã có môi trường dư luận nhất định nhưng vẫn còn rất nhiều khó khăn so với thực tế, trong đó chủ yếu do lãnh đạo Đài Loan vẫn còn cảm thấy rất “vướng víu” trong một số vấn đề sâu xa giữa hai bờ, nhất là trong lĩnh vực chính trị và quân sự. Nếu không xây dựng được lòng tin lẫn nhau cao độ về chính trị, hai bờ sẽ rất khó đi đến hợp tác quân sự. Ngoài ra, việc thế lực nước lớn can thiệp, phản ứng của nước xung quanh cũng khiến cho vấn đề Biển Đônghoàn toàn không chỉ hạn chế ở cấp độ hai bờ, mà còn là cuộc chơi đa phương, không thể không thận trọng theo đuổi. Tuy nhiên, nếu hai bờ đều lấy đại nghĩa dân tộc làm trọng, không ngừng làm sâu sắc thêm giao lưu hợp tác sẽ nhất định có thể bảo vệ chủ quyền Biển Đông, cũng có thể bảo vệ thái bình lâu dài trên đảo Thái Bình.   

Theo Tri thức thế giới

Đinh Anh (gt)

 

Ngôn ngữ