25 - 5 - 2013 | 1:57
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home
Tag:Scarborough

Cách hành xử quyết đoán của Trung Quốc trong các vấn đề liên quan đến chủ quyền sẽ còn tiếp tục sau quá trình chuyển giao lãnh đạo tại Đại hội Đảng lần thứ 18 diễn ra vào mùa thu năm nay và Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc vào mùa xuân năm sau.

 

Trình bày tại Ủy ban Đối ngoại Hạ viện

  Trung Quốc - một cường quốc đang trỗi dậy tại Biển Đông

Người trình bày:

Bonnie S. Glaser

Chuyên gia cấp cao về Nghiên cứu Trung Quốc tại

Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế Mỹ (CSIS)

Ngày 12 tháng 09 năm 2012

2172  Tòa nhà Hạ viện Rayburn

Thưa bà Chủ tọa, thành viên cao cấp Berman và các quý vị đại biểu, tôi xin cám ơn quý vị đã mời tôi phát biểu điều trần trước Ủy ban về Trung Quốc với tư cách là một cường quốc đang trỗi dậy tại Biển Đông

Biển Đông là một phần của Thái Bình Dương kéo dài từ Xinh-ga-po và eo biển Malacca ở phía tây nam cho tới eo biển Đài Loan ở phía đông bắc. Nước Mỹ có lợi ích rất lớn tại Biển Đông. Trung Quốc, Đài Loan, In-đô-nê-xi-a, Phi-líp-pin và Việt Nam đều có tuyên bố chủ quyền chồng lấn đối với các đảo và vùng nước liền kề tại khu vực này. Thất bại trong quản lý hòa bình và giải quyết triệt để các yêu sách mâu thuẫn này có thể dẫn đến căng thẳng kéo dài và xung đột quân sự.

Các vùng nước của Biển Đông là một trong những tuyến huyết mạch thương mại quan trọng của thế giới. Tính theo khối lượng trọng tải, mỗi năm hơn một nửa lượng tàu thương mại trên thế giới chạy qua các tuyến đường biển tại đây. Hơn nữa, Biển Đông cũng chứa đựng nguồn tài nguyên cá dồi dào và tiềm năng lớn về trữ lượng dầu mỏ và khí đốt, có vị trí chiến lược gần với các quốc gia tiêu thụ năng lượng lớn trên thế giới.

Những cuộc chạm trán xảy ra khá thường xuyên ở Biển Đông từ giữa những năm 1970 cho đến giữa những năm 1990. Một thập kỷ sau đó trôi qua khá bình yên, nhưng căng thẳng đã bùng lên từ năm 2007 với sự gia tăng rõ rệt các vụ đụng độ và tranh cãi. Những nguyên nhân chính của tình trạng căng thẳng leo thang bao gồm: 1) gia tăng lợi ích trong việc thăm dò và khai thác trữ lượng dầu và khí đốt tại Biển Đông; 2) cạnh tranh quyết liệt về nguồn cá khi nguồn cá gần bờ đã dần cạn kiệt; 3) hạn chót tháng 5/2009 để các quốc gia ven biển đệ trình yêu cầu về quyền thềm lục địa mở rộng nằm ngoài 200 hải lý cho Ủy ban Ranh giới thềm lục địa của Liên hợp quốc; 4) gia tăng sức ép chủ nghĩa dân tộc đối với các chính phủ trong việc bảo vệ yêu sách chủ quyền lãnh thổ và hàng hải của họ.

            Dưới đây là một số ví dụ về các hoạt động gây bất ổn vài năm gần đây[1]:

  • Trung Quốc thách thức và đôi lúc đe dọa các công ty dầu khí nước ngoài kể cả các công ty Mỹ đầu tư vào các lô dầu mỏ và khí đốt ngoài khơi Việt Nam
  • Trung Quốc bắt giữ hàng trăm ngư dân Việt Nam và được cho là đã bắn vào các thuyền cá Việt Nam gần các đảo Trung Quốc đang chiếm giữ tại Hoàng Sa.
  • Tàu hải giám Trung Quốc cắt cáp tàu thăm dò dầu khí Việt Nam khi các tàu này đang thực hiện thăm dò địa chấn trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) 200 hải lý của Việt Nam (tháng 5 và 6/2011).
  • Công ty khai thác dầu khí xa bờ Trung Quốc (CNOOC) mời thầu 9 lô dầu nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và chồng lấn với các lô được PetroVietnam mời các tập đoàn năng lượng nước ngoài khai thác (tháng 6/2012).
  • Việt Nam thực hiện các chuyến bay tuần tra trên khu vực quần đảo Trường Sa (tháng 6/2012).
  • Quân đội Trung Quốc tuyên bố triển khai tuần tra hải quân và không quân sẵn sàng chiến đấu quanh khu vực quần đảo Trường Sa để “bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và lợi ích an ninh phát triển của Trung Quốc.” (tháng 6/2012)
  • Trung Quốc đưa một đội gồm 30 tàu đánh cá được hộ tống bởi tàu Hải giám trọng tải 3000 tấn tới vùng biển tranh chấp tại Trường Sa (tháng 7/2012)
  • Quốc hội Việt Nam thông qua Luật biển khẳng định đường cơ sở, vùng nội thủy, lãnh hải, vùng nước kế cận, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và các khu vực yêu sách khác. (tháng 6/2012)
  • Đáp trả lại hành động của Việt Nam, Trung Quốc đã nâng cấp đơn vị hành chính cho thành phố Tam Sa ở đảo Hải Nam (tháng 6/2012) đồng thời thiết lập một căn cứ đồn trú quân sự tại đảo Phú Lâm (tháng 7/2012)
  • Hải quân Phi-líp-pin điều tàu chiến đến khu vực Bãi cạn Scarborough để điều tra sự hiện diện của 8 tàu đánh cá Trung Quốc (tháng 4/2012)
  • Đáp trả lại hành động này của Phi-líp-pin ở Bãi cạn Scarborough, Trung Quốc đã: a) triển khai tàu có lúc lên đến gần 100 chiếc bao gồm tàu hải giám, tàu cá, tàu phục vụ ở khu vực bãi cạn; b) mở rộng lệnh cấm đánh bắt cá đơn phương của Trung Quốc đến vùng biển quanh Bãi cạn Scarborough; c) kiểm dịch hoa quả nhập khẩu từ Phi-líp-pin; d) không tuân thủ thỏa thuận với Manila về việc rút các tàu khỏi khu vực; và e) bao vây ngăn chặn để ngư dân không vào được khu vực bãi cạn (tháng 4-8/2012)
  • Bắc Kinh đã sử dụng ảnh hưởng của mình đối với Cam-pu-chia, hiện là Chủ tịch luân phiên của ASEAN để ngăn việc đưa các vấn đề Bãi cạn Scarborough và vùng đặc quyền kinh tế vào thông cáo chung của Hội nghị thường niên của các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN. Điều này đã dẫn đến việc lần đầu tiên trong lịch sử 45 năm ASEAN không đưa ra được tuyên bố chung.

Rõ ràng một chu kỳ các hành động-phản ứng (action-reaction cycle) theo xu hướng tiêu cực đang diễn ra ở Biển Đông. Tuy nhiên, có thể thấy rằng những yêu sách, chính sách, tham vọng, hành vi và năng lực của Trung Quốc vượt xa so với các bên tranh chấp khác. Yêu sách đường 9 đoạn của Trung Quốc chỉ dựa vào những cơ sở như phát hiện đầu tiên, bằng chứng lịch sử và luật pháp quốc tế là rất mập mờ và có khuynh hướng bành trướng. Bắc Kinh luôn từ chối tham gia đàm phán đa phương đối với các tranh chấp biển và lãnh thổ trong khu vực và mong muốn dàn xếp thông qua các cơ chế song phương để từ đó Trung Quốc dễ bề sử dụng lợi thế của mình ép các bên nhỏ và yếu hơn. Trung Quốc phản đối vai trò của Toà án Công lý Quốc tế (ICJ) hay Toà án Quốc tế về Luật biển (ITLOS) trong việc giải quyết tranh chấp biển và lãnh thổ ở Biển Đông. Dù Bắc Kinh cuối cùng đã đồng ý đàm phán để tiến tới Bộ Quy tắc ứng xử tại Biển Đông (COC), nhưng quan chức cao cấp Trung Quốc gần đây lại tuyên bố việc thảo luận chỉ có thể tiến hành được khi “các điều kiện đã chín muồi.”[2] Thay vào đó quan chức Trung Quốc luôn nhấn mạnh Tuyên bố năm 2002 về ứng xử của các bên tại Biển Đông (DOC) - một tuyên bố không có cơ chế giải quyết tranh chấp và không ràng buộc pháp lý.

Hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông là có chủ ý và hệ thống; những hành động này không phải là kết quả vô ý của nền chính trị quan liêu và sự hợp tác lỏng lẻo. Nói đúng hơn, hàng loạt hành động của Trung Quốc những tháng gần đây cho thấy điển hình về sự phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan, kiểm soát dân-quân sự và sự hài hòa các mục tiêu chính trị, kinh tế và quân sự.[3] Cách hành xử ngang ngược và đe dọa các bên yêu sách khác là bằng chứng về quyết định đẩy mạnh ngoại giao uy hiếp của những nhà lãnh đạo cấp cao Trung Quốc. Điều này không chỉ ảnh hưởng đối với Phi-líp-pin và Việt Nam, những đối tượng uy hiếp chính của Trung Quốc, mà còn tác động sâu rộng đến khu vực và thế giới.

Thứ nhất, khuynh hướng xem thường quy tắc ứng xử và luật pháp quốc tế của Trung Quốc là rất đáng lo ngại và có thể tạo nên tiền lệ xấu. Việc Bắc Kinh cố tình từ chối tuân thủ thỏa thuận miệng với Manila rút toàn bộ tàu từ khu vực xung quanh Bãi cạn Scarborough đã tạo nên một hiện trạng có lợi hơn cho Bắc Kinh. Trung Quốc vẫn tuần tra thường xuyên và ngăn chặn ngư dân Phi-líp-pin đánh bắt cá tại những khu vực đó. Không nước nào công khai chỉ trích hành động này. Đây là một tiền lệ rất nguy hiểm ở Biển Đông.

Thứ hai, việc Trung Quốc ngày càng sẵn sàng sử dụng lợi thế kinh tế để buộc các quốc gia phải thay đổi chính sách phù hợp với mong muốn của Bắc Kinh là một xu hướng đáng quan ngại.[4] Hành động Trung Quốc sử dụng lý do kiểm dịch ngăn chặn hoa quả nhập khẩu từ Phi-líp-pin nhằm gây sức ép buộc Phi-líp-pin nhường quyền kiểm soát khu vực Bãi cạn Scarborough là một sự vi phạm trắng trợn các chuẩn mực quốc tế. Các quan chức hải quan Trung Quốc đã đưa ra những luận điệu không có cơ sở rằng hoa quả từ Phi-lip-pin bị nhiễm sâu. Ngay lập tức nền kinh tế Phi-líp-pin bị thiệt hại bởi Phi-líp-pin xuất khẩu gần 1/3 sản lượng chuối cho Trung Quốc, cũng như đu đủ, dứa, xoài và dừa. Thêm vào đó các hãng du lịch Trung Quốc đã hủy bỏ các chuyến bay tới Phi-líp-pin với lý do rằng an ninh của khách du lịch Trung Quốc không được bảo đảm.

Đây chỉ mới là một ví dụ trong hàng loạt trường hợp Trung Quốc sử dụng kinh tế để gây sức ép và xu hướng này ngày càng gia tăng. Tháng 9/2010, Trung Quốc đã ngừng xuất khẩu đất hiếm cho Nhật Bản để trả đũa việc Tokyo bắt giữ thuyền trưởng của tàu cá của Trung Quốc trong vu việc xảy ra gần đảo Senkaku. Cuối năm đó, sau khi giải Nô-ben hoà bình được công bố trao cho Liu Xiaobo  - một người bất đồng chính kiến, Trung Quốc đã tiến hành một loạt hành động nhằm trừng phạt Na-uy, mặc dù việc quyết định trao giải thưởng được thực hiện bởi Ủy ban Nô-ben, hoạt động hoàn toàn độc lập với chính phủ Na-uy. Trung Quốc đã ngưng đàm phán Hiệp định Thương mại Tự do với Na-uy và áp dụng các quy định kiểm tra thú y mới với cá hồi nhập khẩu từ Na-uy, dẫn đến việc giảm 60% lượng nhập khẩu cá hồi từ Na-uy năm 2011 khi mà nhu cầu thị trường cá hồi trong nước vẫn tăng 30%. Bắc Kinh cũng đã dừng quan hệ ngoại giao bình thường với Na-uy kể từ đó và cho đến nay vẫn chưa được nối lại.

Bắc Kinh xem những vụ việc này như là thành công ngoại giao của họ. Nếu sự uy hiếp kinh tế của Trung Quốc vẫn tiếp tục không bị ngăn chặn, chắc chắn chiến thuật này sẽ còn được lặp đi lặp lại. Các nước khó chống đỡ trước sức ép này có thể buộc phải thay đổi chính sách theo hướng bất lợi cho mình; Trung Quốc vì thế có thể tác động đến ngày càng nhiều các nước trên thế giới có nền kinh tế phụ thuộc vào giao thương với Trung Quốc.

Thứ ba, việc Trung Quốc không thể hiện thiện chí tiến hành các nỗ lực ngoại giao một cách nghiêm túc để giải quyết tranh chấp sẽ là điều đáng lo, nhất là khi Trung Quốc từ chối chấp nhận một khuôn khổ dựa trên luật pháp để kiềm chế hành vi của tất cả các bên. Bắc Kinh cho rằng thời gian đang về phe họ; rằng họ không muốn bị kiềm chế bởi những thỏa thuận mang tính ràng buộc. Trong tương lai, Trung Quốc sẽ không chỉ trở thành một cường quốc kinh tế trên thế giới mà còn là một cường quốc quân sự và chính trị. Các quốc gia khác, dù là lớn hay nhỏ, cũng buộc phải thích nghi với sự trỗi dậy của Trung Quốc và tôn trọng “lợi ích cốt lõi và những quan tâm chính” của Trung Quốc. Tuy nhiên, Bắc Kinh sẽ không xem trọng lợi ích và quan tâm của các nước khác. Thiếu vắng một Bộ Quy tắc ứng xử (COC) có hiệu lực ở Biển Đông, căng thẳng sẽ tiếp tục gia tăng. Khả năng các bên yêu sách sử dụng lực lượng quân sự để bảo vệ lợi ích của họ đi kèm với nguy cơ căng thẳng leo thang không thể bị loại trừ

Hiện đại hóa hải quân và tham vọng của Trung Quốc

Các cường quốc trỗi dậy về kinh tế và chính trị trên thế giới thường sẽ trở thành những cường quốc hải quân thế giới. Trung Quốc cũng không phải một ngoại lệ. Sự phụ thuộc của nền kinh tế Trung Quốc vào thương mại và nguồn năng lượng nhập khẩu đã buộc Trung Quốc phải phát triển năng lực hải quân và theo thời gian, sẽ phải phát triển khả năng triển khai lực lượng tại các vùng biển xa. Tuy nhiên, trong tương lai gần, do ưu tiên của Trung Quốc là các tranh chấp vùng lãnh thổ và tranh chấp tài nguyên, cũng như ngăn chặn sự độc lập của Đài Loan nên nhiều khả năng  Trung Quốc chỉ tập trung chủ yếu vào các vùng biển trong khu vực. Các “vùng biển gần” của Trung Quốc – gồm Biển Hoàng Hải, Biển Hoa Đông và Biển Đông – là những khu vực có tầm quan trọng chiến lược đặc biệt đối với Trung Quốc. Những vùng biển này, ngoài việc là vùng có nguồn tài nguyên dầu và khí đốt, còn được xem như là vùng đệm an ninh của Trung Quốc.

Trung Quốc đang đầu tư phát triển một loạt các năng lực không chỉ trong lĩnh vực hải quân mà còn trong các lĩnh vực khác để hỗ trợ nhiệm vụ được họ gọi là “chống can thiệp”. Bộ Quốc phòng Mỹ mô tả đây như là năng lực “chống tiếp cận” và “phong tỏa khu vực”. Mục tiêu là nhằm sở hữu các phương tiện có thể tấn công, tại một vị trí ở một khoảng cách xa bờ biển Trung Quốc, các lực lượng quân sự được triển khai và hoạt động trong khu vực Tây Thái Bình Dương. Theo như báo cáo của Bộ Quốc phòng Mỹ với Quốc hội về năng lực của quân đội Trung Quốc (PLA) năm 2011, sự cải thiện khả năng triển khai lực lượng của Trung Quốc trong hiện tại và tương lai sẽ cung cấp cho PLA những hệ thống có thể giao tranh với các tàu nổi của đối phương trong khoảng cách 1850 km tính từ bờ biển của Trung Quốc. Những hệ thống này bao gồm các tên lửa đạn đạo dùng để chống lại tàu, tàu ngầm thông thường và tàu ngầm vận hành bằng năng lượng hạt nhân, các tàu tấn công trên mặt nước, và máy bay tấn công trên biển. Trong tương lai, những năng lực này sẽ được tăng cường bằng các hệ thống mới hơn bao gồm máy bay tàng hình J-20 và các tên lửa đạn đạo thông thường tầm xa, các máy bay không người lái (UAV), các tên lửa hành trình tấn công mặt đất được phóng từ trên không và trên mặt đất và năng lực tiến hành chiến tranh mạng.[5]

Tàu sân bay đầu tiên của Trung Quốc (một tàu thuộc lớp KUZNETSOV được mua lại từ Ucraina) đã bắt đầu các chuyến đi thử nghiệm vào năm 2011. Đây sẽ là bước huấn luyện và thử nghiệm quan trọng, để cuối cùng giúp Trung Quốc có thêm kinh nghiệm trong vận hành các hoạt động trên không dựa vào tàu sân bay. Các nhà phân tích quân sự của Trung Quốc dự tính rằng tàu sân bay này được đặt tại căn cứ hải quân mới tại Yalong ở mũi phía nam của đảo Hải Nam, gần với nhóm đảo tranh chấp Trường Sa và Hoàng Sa.[6] Trung Quốc đang nỗ lực xây dựng tàu sân bay đầu tiên của Trung Quốc, có khả năng hoàn tất và đi vào hoạt động trước năm 2015, và tiếp sau đó sẽ là “nhiều tàu sân bay và các tàu hỗ trợ liên quan trong vòng một thập kỷ tới.”[7]

            Cho dù Trung Quốc đang quyết liệt hiện đại hóa quân đội, trong đó có cả lực lượng hải quân, thì nước này vẫn hạn chế việc sử dụng sức manh quân đội. Chẳng hạn, trên Biển Đông, Trung Quốc dựa chủ yếu vào các cơ quan hàng hải dân sự chứ không phải lực lượng hải quân để khẳng định và bảo vệ các yêu sách chủ quyền. Các cơ quan này bao gồm Cảnh sát biển, Cục quản lý biên giới, Cục quản lý hải dương học, Cơ quan ngư chính và Lực lượng tuần duyên. Tuy vậy, hải quân Trung Quốc đã tăng cường triển khai quân và tuần tra, luôn đứng sau hỗ trợ các tàu “vỏ trắng” này và sẵn sàng can thiệp nếu các biện pháp khác không thể bảo vệ chủ quyền, an ninh, quyền và lợi ích hàng hải của Trung Quốc.

Chuyển giao thế hệ lãnh đạo và sự quyết đoán của Trung Quốc trong tương lai

Theo đánh giá của tôi, cách hành xử quyết đoán của Trung Quốc trong các vấn đề liên quan đến chủ quyền sẽ còn tiếp tục sau quá trình chuyển giao lãnh đạo tại Đại hội Đảng lần thứ 18 diễn ra vào mùa thu năm nay và Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc vào mùa xuân năm sau bởi những lý do sau:

            1. Do tính hợp pháp của Đảng Cộng sản dựa phần lớn vào sự tín nhiệm của nhân dân, nên không một nhà lãnh đạo Trung Quốc nào, trong thời gian mới nhậm chức, dám vội vã thực hiện các biện pháp làm giảm làn sóng từ các tầng lớp nhân dân yêu cầu bảo vệ vững chắc chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Trung Quốc. Tâm lý chung của nhân dân thiên về lập trường cứng rắn hơn của Bắc Kinh trong vấn đề Biển Đông đã được nhen nhóm từ trước. Các nhà lãnh đạo tương lai nhận thức rõ nguy cơ của việc kích động thêm những tình cảm này, nhưng sẽ khó cưỡng lại khuynh hướng đó khi mà làm vậy sẽ có lợi cho họ, giúp tính hợp pháp của họ trở nên vững chắc hơn.

2. Ông Tập Cận Bình, người nhiều khả năng sẽ kế nhiệm ông Hồ Cẩm Đào, được cho là một người có sự tự tin cao - chắc chắn cao hơn ông Hồ vào thời điểm ông lên nắm quyền 10 năm trước đây. Trong khi nhiệm kỳ của ông Hồ Cẩm Đào phải tập trung vào giải quyết các yếu kém của Trung Quốc, thì ông Tập lại xuất thân từ một thế hệ mới, lớn lên trong thời kỳ cải cách và mở cửa với thế giới bên ngoài và luôn tin rằng Trung Quốc đang trôi dậy mạnh mẽ. Tin tưởng vào sức mạnh đang lên của Trung Quốc và sự thu hẹp quyền lực giữa Mỹ và Trung Quốc, ông Tập có thể sẵn sàng bảo vệ các lợi ích của Trung Quốc trên đấu trường quốc tế, đặc biệt đối với những lợi ích được xem là “lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc, bao gồm các vấn đề liên quan đến chủ quyền.

3. Trong chừng mực nào đó, các cuộc tranh luận học thuật ở Trung Quốc đã bị hạn chế trong thời điểm chuẩn bị diễn ra chuyển giao thế hệ lãnh đạo. Các cuộc tranh luận sẽ sôi nổi trở lại vào năm sau xung quanh việc: a) liệu Mỹ có đang thực sự đi xuống và cán cân quyền lực thế giới có dịch chuyển theo chiều hướng có lợi cho Trung Quốc hay không; và b) liệu giai đoạn thời cơ chiến lược 20 năm của Trung Quốc - bắt đầu vào thời điểm chuyển giao thế kỷ - có đang sớm đi đến kết thúc hay không. Những cuộc tranh luận như vậy sẽ càng đặt thêm áp lực lên vai các nhà lãnh đạo của Trung Quốc, phải kiên quyết bảo vệ các lợi ích của nước này.

4. Theo các chuyên gia phân tích có uy tín của Trung Quốc, Bắc Kinh đã kết luận rằng chính sách của Đặng Tiểu Bình trong quản lý các tranh chấp tại Biển Đông đã thất bại. Chính sách này nêu rằng: a) chủ quyền thuộc về Trung Quốc; b) các tranh chấp có thể gác sang một bên; c) có thể tiến hành hợp tác khai thác chung. Người Trung Quốc cho rằng Trung Quốc đã tự kiềm chế không khai thác dầu và khí đốt trong các vùng biển tranh chấp nhưng các nước khác lại không làm như vậy. Một chính sách mới vẫn chưa ra đời và có thể sẽ được hoãn lại cho đến sau khi chuyển giao quyền lực. Nhiều khả năng chính sách mới sẽ càng cứng rắn hơn.

Khuyến nghị chính sách

Chính quyền Obama đã đúng đắn khi đề ra một số nguyên tắc định hướng hành vi ở Biển Đông. Tháng 7/2010, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã kêu gọi  “một tiến trình ngoại giao hợp tác của tất cả các bên yêu sách nhằm giải quyết các hòa bình tranh chấp lãnh thổ, không sử dụng đến các biện pháp đe dọa.” Bà Clinton cũng nêu rõ rằng Mỹ phản đối việc sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực bởi bất kỳ bên yêu sách nào và nhấn mạnh đến vấn đề thương mại không bị cản trở, tự do hàng hải và mở cửa tiếp cận đến các vùng hàng hải chung của châu Á. Ngoại trưởng Clinton khẳng định rằng các bên nên yêu sách chủ quyền lãnh thổ và các quyền đi kèm trên biển dựa theo Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển. Bà Clinton cũng hối thúc các bên sớm đạt được thỏa thuận về Bộ Quy tắc ứng xử và sẵn sàng hỗ trợ các sáng kiến và biện pháp xây dựng lòng tin.[8]

Điều quan trọng là Mỹ phải tuân thủ những nguyên tắc này và lên án bất cứ bên nào có hành vi không phù hợp với các nguyên tắc trên. Thái độ khách quan và công bằng sẽ tăng thêm uy tín cho chính sách của Mỹ. Một ví dụ điển hình về sự công bằng của Mỹ là tuyên bố đưa ra bởi Bộ trưởng Quốc phòng Leon Panetta tại Đối thoại Shangri-La tại Singapore vào tháng 6. Sau khi nhắc lại các nguyên tắc của Mỹ, ông Panetta khẳng định đã “làm rõ các quan điểm của Mỹ với các nước đồng minh hiệp ước thân thiết, với Phi-líp-pin, cũng như làm rõ quan điểm với Trung Quốc và các nước khác trong khu vực.”[9]

Vào ngày 3/8/2012, tuyên bố của Bộ Ngoại giao Mỹ về Biển Đông đã dường như đã đi chệch hướng so với cách tiếp cận công bằng và khách quan trên. Tuyên bố của Bộ Ngoại giao ghi nhận một cách đúng đắn sự gia tăng căng thẳng trong những tháng gần đây, dẫn ra một loạt các hành động đe dọa kinh tế, sử dụng các rào chắn để ngăn cản tiếp cận Bãi cạn Scarborough, và việc thiết lập cơ sở đồn trú quân sự của Trung Quốc nhằm giám sát các khu vực tranh chấp ở Biển Đông.[10] Tuy nhiên, bằng việc đích danh chỉ trích Trung Quốc và không đề cập đến hành vi kích động từ các bên yêu sách khác, Mỹ đã tạo cho Bắc Kinh cái cớ để khẳng định rằng Washington đã đứng về phía chống Trung Quốc và làm yếu đi lập trường của Mỹ rằng các tranh chấp Biển Đông phải được quản lý dựa trên cách tiếp cận có nguyên tắc. Tuy không có gì phải bàn cãi rằng hành động của Trung Quốc là nghiêm trọng nhất trong số các bên ở Biển Đông; nhưng Mỹ có thể làm giảm uy tín của mình nếu không nhắc đến những hành động vi phạm của các bên liên quan khác.[11]

Trong thời gian tới, Mỹ nên bám sát cách tiếp cận có nguyên tắc trong việc quản lý các tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông và duy trì quan điểm trung lập xưa nay trong các tranh chấp này. Đồng thời, Mỹ nên nhấn mạnh đến những lợi ích chung của Mỹ và các quốc gia khác trong các chuẩn mực quốc tế, vốn đang bị đe dọa bởi chính sách cứng rắn của Trung Quốc.

Thứ hai, Mỹ nên hối thúc tất cả các bên tranh chấp tại Biển Đông phải đưa các yêu sách hàng hải của mình phù hợp với Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS). Mỹ cũng nên khuyến khích các thỏa thuận khai thác chung để khai thác tài nguyên.

Thứ ba, Mỹ nên tiếp tục hối thúc Trung Quốc và ASEAN bắt đầu đàm phán về một Bộ Quy tắc ứng xử có tính ràng buộc pháp lý và chứa đựng các cơ chế giải quyết tranh chấp. Một khi quá trình đàm phán bắt đầu, nó có thể giúp làm hòa dịu tình hình và giảm bớt căng thẳng.

Thứ tư, các nước nhỏ trong khu vực đang lo ngại về một kiểu quan hệ nước lớn mới đang được bàn bạc giữa Washington và Bắc Kinh, có thể dẫn đến việc tăng cường hợp tác Mỹ - Trung trên lưng các nước khác, kể cả các thành viên của ASEAN.  Những mối quan ngại này phải nhanh chóng được loại bỏ và Mỹ nên tiếp tục thúc đẩy vai trò trung tâm của ASEAN như là một điểm tựa cho sự ổn định khu vực.

Thứ năm, Mỹ cần phải tiếp tục tăng cường các cam kết về kinh tế, ngoại giao và quân sự tại Đông Á. Chiến lược tái cân bằng của Mỹ với trọng tâm hướng về châu Á là cần thiết để bảo đảm duy trì hòa bình và ổn định - những điều kiện đã tồn tại ở khu vực trong vòng hai thập kỷ qua và đem lại lợi ích cho tất cả các quốc gia khu vực.

Thứ sáu, Mỹ nên phê chuẩn UNCLOS để tăng thêm tính hiệu quả của các nỗ lực theo đuổi cách tiếp cận dựa trên luật pháp giúp quản lý và giải quyết các tranh chấp về quyền tài phán trên biển.

Nguồn: Tại đây

Người dịch: Tiến Tiệp

Hiệu đính: Minh Ngọc 


[1] Xem Carlyle A. Thayer, “A New Wave of Chinese Assertiveness: Roping off Scarborough Shoal, Oil

Leases in Vietnam’s EEZ, Military Garrison on Land, and Fishing Armada at Sea, paper presented to the 2nd South China Sea Conference Geo-Strategic Developments and Prospects for Disputes Management, Kuala Lumpur, Malaysia, 4-5 tháng 9, 2012.

[2] “South China Sea Issue Should Only be Resolved by Concerned Parties,” Xinhua, 5 tháng 8, 2012,

http://english.sina.com/china/2012/0805/493210.html.

[3] Oriana Skylar Mastro, “The Sansha Garrison: China’s Deliberate Escalation in the South China Sea,”

Center for a New American Security, tháng 9 2012.

[4] Bonnie S. Glaser, “China’s Coercive Economic Diplomacy – A New and Worrying Trend,” PacNet no.

46, Pacific Forum, CSIS, 23 tháng 7, 2012, http://csis.org/publication/pacnet-46-chinas-coercive-economic-diplomacy-new-and-worrying-trend.

[5] Military and Security Developments Involving the People’s Republic of China 2011, Department of Defense, http://www.defense.gov/pubs/pdfs/2011_cmpr_final.pdf.

[6] David Lague, “Analysis: China’s Aircraft Carrier: in Name Only,” Reuters, 28 tháng 8, 2012.

[7] Military and Security Developments Involving the People’s Republic of China 2012, Department of

Defense, http://www.defense.gov/pubs/pdfs/2012_CMPR_Final.pdf.


[8] Remarks at Press Availability, Hillary Rodham Clinton, Hanoi, Vietnam, 23 tháng 7, 2010,

http://www.state.gov/secretary/rm/2010/07/145095.htm.

[9] Speech by Secretary of Defense Leon E. Panetta, Shangri La Dialogue, Singapore, 2 tháng 6, 2012,

http://www.defense.gov/speeches/speech.aspx?speechid=1681.

[10] Press Statement on South China Sea, 3 tháng 8, 2012, http://www.state.gov/r/pa/prs/ps/2012/08/196022.htm.

[11] Xem Douglas H. Paal, “Dangerous Shoals: U.S. Policy in the South China Sea,”  Carnegie Endowment for International Peace, 11 tháng 8, 2012, http://www.carnegieendowment.org/2012/08/11/dangerous-shoals-u.s.-policy-in-south-china-sea/dc0d.

 

 

 

Những căng thẳng tại Đông Bắc Á đang ngày càng gia tăng mạnh mẽ. Những đảo nhỏ, hầu như không thể cư trú, đang là những điểm gây mâu thuẫn, xung đột và tạo ra tranh chấp dài hạn, cụ thể như chuỗi đảo Senkaku/Điếu Ngư mà cả Nhật Bản và Trung Quốc tuyên bố chủ quyền hay như đảo Dokdo/Takeshima đang tranh chấp giữa Hàn Quốc và Nhật Bản.

 

Những lãnh thổ đang tranh chấp không có liên quan tới đầu tư và thương mại giữa Trung – Nhật – Hàn, vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nền kinh tế châu Á. Liệu quan hệ giữa các nước này có không bị ảnh hưởng trực tiếp từ sự trở lại châu Á của Mỹ và sự cạnh tranh ngày càng tăng với Trung Quốc hay không.

Tuy nhiên, nếu căng thẳng tiếp tục và gia tăng thì sẽ có nhiều hệ lụy đối với an ninh và hợp tác kinh tế khu vực. Những căng thẳng diễn ra xung quanh lễ kỷ niệm kết thúc chiến tranh Thái Bình Dương đã khiến quan hệ giữa Nhật Bản và các nước láng giềng đang có nhiều khác biệt sâu sắc. Do đó, các nước Đông Bắc Á cần bình tĩnh. Tuy nhiên, các nền chính trị nội bộ cũng đang đóng vai trò lớn hơn với việc lãnh đạo các quốc gia này đang cần tìm kiếm sự ủng hộ và các tuyên bố mang tính chủ nghĩa dân tộc sẽ khó tạo ra các nguyên tắc.

(1) Căng thẳng đang leo thang

Các biện pháp trả đũa đã thực sự làm căng thẳng leo thang trong tranh chấp đảo Senkaku/Điếu Ngư. Ngay sau khi các nhà hoạt động Trung Quốc lên đảo Điếu ngư và bị bắt, các nhà dân túy đảng cánh tả Nhật đã phản ứng bằng cách treo cờ trên các đảo mà Nhật Bản nắm giữ. Điều này sau đó đã châm ngòi cho các sự kiện xuống đường biểu tình tại một số thành phố của Trung Quốc và những người biểu tình tẩy chay tiêu dùng hàng Nhật và các ô tô sản xuất của Nhật. Nhớ lại năm 2005 khi những người biểu tình chống Nhật đã trở thành bạo động và gây ra tổn thất trên diện rộng.

Điều này cũng không giúp ích gì khi Nội các Nhật lại lần nữa thăm khu đền gây tranh cãi Yasukuni, để tưởng nhớ những binh lính Nhật đã ngã xuống trong thế chiến thứ 2. Thủ Tướng Nhật Yoshihiko Noda tuy không tán thành nhưng cũng không thể ngăn được chuyến viếng thăm này. Nếu xét tới cuộc tổng tuyển cử sẽ diễn ra vào tháng 8/2013, Đảng Dân chủ Nhật Bản đang ở thế yếu và rạn nứt hiện nay sẽ gặp khó khăn trong việc kiềm chế những nhà dân tộc cánh tả.

Đối với Hàn Quốc, chuyến thăm chưa có tiền lệ của Tổng Thống HQ Lee Myung Bak tới đảo tranh chấp cũng thực sự làm tăng căng thẳng trong quan hệ giữa Hàn Quốc và Nhật Bản. Tokyo đã phản ứng lại bằng cách triệu hồi ĐS và hủy chuyến thăm của Bộ trưởng Tài chính Nhật tới Seoul.

(2) Đàm phán thương mại có thể bị trì hoãn.

Chỉ trong tháng 5/2012, chính phủ ba nước Trung – Nhật – Hàn đã ký vào hiệp định đầu tư để bắt đầu khởi động đàm phán FTA. Tuy nhiên, có thể những căng thẳng hiện nay sẽ trì hoãn những nỗ lực này.

Thay vì quan hệ ba bên, Bắc Kinh và Seoul có thể tìm thấy nhiều điểm chung hơn với nhiều vấn đề về lịch sử và lãnh thổ củng cố thêm cho sự phụ thuộc kinh tế chặt chẽ hơn với hai bên. Khi hợp tác Đông Bắc Á yếu đi trong những năm gần đây thì chính ASEAN lại đi đầu trong nỗ lực xây dựng khu vực.

Tuy nhiên, hiện nay, những tranh chấp đảo tương tự như vậy tại biển Đông đang nổi lên giữa một số nước ASEAN và Trung Quốc. Vụ bế tắc trong tranh chấp giữa Trung Quốc – Philippines đối với đảo Hoàng Nham/Scarborough đã kéo dài sang tận tháng 7 và cuộc họp cấp BTNG ASEAN tại Phnom Penh đã bị sa lầy về vấn đề này. Câu hỏi đặt ra đối với sự đoàn kết của khối ngày càng tăng và ASEAN phải chứng minh rằng khối này có giữ được vai trò trung tâm không.

Trong khi đó, Mỹ không phải là bên tuyên bố chủ quyền đối với bất kỳ đảo nào trong khu vực nhưng lại cũng có nhiều ảnh hưởng do chính sách quay trở lại khu vực của chính quyền Obama.

(3) Các liên minh tam giác

Một số nhà phân tích đang dự báo rằng Seoul và Tokyo, những đồng minh hiệp ước của Mỹ sẽ có thể có quan hệ chặt chẽ hơn. Nhưng những sự kiện diễn ra hiện nay khiến cho các tam giác quan hệ này trở nên khó khăn hơn.

Nếu quan hệ giữa Nhật Bản và Hàn Quốc xấu đi, sự hiện diện của Mỹ tại châu Á có thể cần thêm các trụ cột mới hỗ trợ. Vì những lý do này, Bắc Kinh đang được một số nước xem xét để dành cơ hội phát triển các liên minh chiến lược.

Trong khi đang tranh luận về việc ai được lợi thì nạn nhân đầu tiên của những căng thẳng tại châu Á lại chính là toàn thể cộng đồng châu Á. Khi các cuộc gặp thượng đỉnh và liên chính phủ sắp diễn ra trong những tháng tới, sẽ vẫn còn câu hỏi là liệu nước nào có thể lãnh đạo và góp phần hữu ích đối với chủ nghĩa dân tộc châu Á.

Trong khi toàn thế giới đang quan ngại về tình hình khu vực đồng euro, kinh tế Mỹ ốm yếu và hy vọng về khu vực châu Á có thể duy trì ổn định và tăng trưởng thì những sự kiện gần đây đang nhắc chúng ta về sự bất ổn, mong manh và nhiều vấn đề cần tiếp tục giải quyết. Cuối cùng, nhiều nước tại châu Á cần phải nghĩ về khu vực hơn là giương cao ngọn cờ dân tộc đối với các đảo và khiến cho những khác biệt ngày càng kéo dài và mạnh mẽ hơn./.

Tác giả Simon Tay, Chủ tịch Viện các vấn đề Quốc tế Singapo kiêm giảng viên khoa Luật, ĐH Quốc gia Singapo.

Theo Todayonline (ngày 22/8)

Hương Trà (gt)

 

Lệnh cấm đánh bắt cả của Philippin và Trung Quốc tại Scarborough được một số nhà quan sát coi là dấu hiệu muốn giảm căng thẳng của cả hai bên, mặc dù có không ít tiếng nói, quan điểm cứng rắn từ phía Trung Quốc.

 

 

 

 

Trang tin Đa Chiều cho rằng lệnh cấm đánh bắt cá sẽ tạo bước chuyển cho sự kiện đối đầu Trung Quốc, Philíppin tại Biển Đông. Từ 12 giờ ngày 16/5, lệnh cấm đánh bắt cá do Trung Quốc áp đặt đối với đại bộ phận Biển Đông, gồm cả một số khu vực tranh chấp như đảo Scarborough bắt đầu có hiệu lực và sẽ kéo dài tới 12 giờ ngày 1/8. Theo trang tin "Đa chiều", tuy Bắc Kinh tuyên bố lệnh cấm đánh bắt cá là nhằm bảo vệ tài nguyên biển, nhưng trong bối cảnh căng thẳng Trung Quốc và Philíppin gia tăng sau sự kiện đối đầu tại đảo Scarborough, lệnh cấm đánh bắt cá lần này có ý nghĩa tuyên bố chủ quyền mạnh mẽ. Và rõ ràng, từ khi sự kiện đối đầu tại đảo Scarborough diễn ra tới nay, Bắc Kinh có ý mượn Philíppin để lập uy tại Biển Đông, đề ra tiêu chuẩn giải quyết tranh chấp Biển Đông từ nay về sau.

 

Theo "Đa chiều", hành động của Trung Quốc một là nhằm tạo cho hai bên cái cớ có thể giúp hòa hoãn tình hình căng thẳng hiện nay. Hai là có thể dọn sạch "chiến trường", tránh để ngư dân và tàu cá của Trung Quốc bị cuốn vào một cuộc chiến tranh có thể xảy ra. Nếu thực sự tình hình bị đẩy tới mức “không thể chịu đựng được nữa”, Trung Quốc có thể “vung tay” làm một trận lớn. Vì thế, sau khi Trung Quốc đưa ra một loạt biện pháp nhằm vào Philíppin trong các lĩnh vực kinh tế, ngoại giao, dư luận, thậm chí cả quân sự, hôm nay chắc chắn sẽ trở thành bước chuyển cho sự kiện đối đầu Trung Quốc và Philíppin tại đảo Scarborough.

 

Trả lời phỏng vấn báo điện tử "Liên hợp Buổi sáng" (Xinhgapo), một chuyên gia quân sự Trung Quốc cũng cho rằng lệnh cấm đánh bắt cá trên thực tế là một biện pháp thực hiện chủ quyền. Chỉ cần tàu cá hai bên tạm thời không đi vào khu vực biển thuộc đảo Scarborough, không làm gia tăng hơn nữa mâu thuẫn giữa hai nước, Trung Quốc và Philíppin sẽ có cơ hội ngồi vào bàn đàm phán hòa bình. Theo chuyên gia này, đối với Trung Quốc, lệnh cấm đánh bắt cá có thể trở thành một lý do để nước này tiến hành xua đuổi tàu cá của Philíppin, nhưng đây là một biện pháp mềm dẻo, chí ít còn tốt hơn việc trực tiếp cử tàu ngư chính, dùng dao dùng súng xua đuổi tàu cá của Philíppin. Việc này cũng có thể trở thành nấc thang đi xuống giúp tình hình căng thẳng tại đảo Scarborough trở nên lắng dịu.

 

Tuy nhiên, do thừa nhận lệnh cấm đánh bắt cá của Trung Quốc đồng nghĩa với việc thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với đảo Scarborough, cho nên, theo chuyên gia trên, việc yêu cầu Philíppin tuân thủ lệnh cấm đánh bắt cá kỳ thực không đơn giản. Trên thực tế, sau khi Trung Quốc đưa ra lệnh cấm đánh bắt cá, Ngoại trưởng Philíppin Albert del Rosario đã tuyên bố “không thừa nhận” và kiến nghị ngư dân Philíppin “tiếp tục đánh bắt cá trên địa bàn của mình”. Nhưng về phần mình, Tổng thống Philíppin Aquino lại biểu thị sự hoan nghênh đối với lệnh cấm đánh bắt cá của Trung Quốc và kiến nghị để bảo vệ nguồn tài nguyên biển đang bị khô kiệt, Philíppin cũng có thể đưa ra lệnh cấm đánh bắt cá. Chuyên gia trên cho rằng việc Philíppin đưa ra lệnh cấm đánh bắt cá là một kế sách uyển chuyển.

 

Hiện nay, khách quan mà nói, các biện pháp mang tính thực chất của Trung Quốc đã cho thấy hiệu quả, phía Philíppin cũng biểu thị mong muốn kết thúc tình hình căng thẳng hiện nay ở đảo Scarborough. Tuy nhiên, theo "Đa chiều", dù trong ngắn hạn sự kiện đối đầu Trung Quốc và Philíppin tại đảo Scarborough sẽ giảm nhiệt, nhưng điều đó không có nghĩa Philíppin sẽ “bó tay”. Trong tương lai, cuộc đấu tranh giữa Trung Quốc và Philíppin trong vấn đề Biển Đông sẽ còn tiếp tục, hơn nữa có thể sẽ quyết liệt hơn. Vì vậy, Trung Quốc cần phải nắm chắc ưu thế chủ động giành được hiện nay về mặt ngoại giao, đề ra quy hoạch trung hạn và dài hạn cho việc giải quyết vấn đề đảo Scarborough, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh ngoại giao sau này. 

 

Nhằm tìm kiếm một mẫu số chung cho giải quyết vấn đề tranh chấp Biển Đông về lau dài, ngày 15/5, “Thời báo Hoàn cầu” đăng bài xã luận trong đó cho rằng có nhiều học giả Trung Quốc đánh giá nếu Philíppin có thể duy trì hiện trạng tại đảo Scarborough, các quốc gia xung quanh Biển Đông khác sẽ lần lượt bắt chước. Điều này sẽ gây bất lợi cho Trung Quốc trong việc giải quyết vấn đề Biển Đông.

 

Một số học giả chỉ ra rằng trong xử lý vấn đề đảo Scarborough, Trung Quốc cần tạo ra một khuôn mẫu hoặc tiêu chuẩn vững chắc, để sau này có thể đối chiếu giải quyết vấn đề Biển Đông. Cụ thể, một là Trung Quốc phải xây dựng cơ chế phản ứng nhanh, khi các quốc gia xung quanh Biển Đông xâm nhập lãnh hải hoặc Vùng Đặc quyền Kinh tế của Trung Quốc, lực lượng chấp pháp của Trung Quốc cần nhanh chóng đến hiện trường trong thời gian sớm nhất, áp dụng phương thức xua đuổi cảnh cáo, yêu cầu đội tàu tác nghiệp hoặc tàu vũ trang của nước ngoài rời khỏi khu vực này. Một số học giả Trung Quốc cũng kiến nghị chủ trương Chính phủ Trung Quốc cần nhanh chóng thành lập lực lượng cảnh sát biển thuộc quân đội, nhằm tăng cường công tác thực hiện bảo vệ quyền lợi biển của Trung Quốc.

 

Hai là, trong trường hợp biện pháp cảnh cáo không có hiệu quả, có thể áp dụng sách lược đánh đòn phủ đầu, vì tàu thuyền nước ngoài dừng lại phi pháp trong vùng biển Trung Quốc trong thời gian dài sẽ không có lợi cho việc xây dựng hình ảnh nước lớn của Trung Quốc, cũng không có lợi cho hòa bình, ổn định của khu vực này.

 

Ba là, bất cứ lúc nào cũng mở cánh cửa cho đàm phán ngoại giao, nhưng nếu các nước xung quanh đóng cánh cửa đàm phán ngoại giao, như vậy Trung Quốc cần buộc các nước này phải trả giá đắt cho hành động trên.

 

Bài viết cho rằng trong giải quyết vấn đề Biển Đông, Trung Quốc cần kiên trì nguyên tắc chủ quyền thuộc về ta, quyền chủ đảo thuộc về ta, quyết không cho phép mặc cả, trả giá trong vấn đề chủ quyền, càng không cho phép các nước tùy tiện thách thức trong phạm vi chủ quyền của Trung Quốc. Trung Quốc là một nước lớn đang trỗi dậy, phải nắm chắc quyền xây dựng tiêu chuẩn trong giải quyết vấn đề Biển Đông, quyết không cho phép các nước xung quanh Biển Đông gây rắc rối, chủ động thiết lập chương trình nghị sự, dẫn dắt bước đi của Trung Quốc.

 

Bài xã luận cho rằng hiện nay, vấn đề chủ quyền không cho phép đàm phán, đây là giới hạn thấp nhất trong ngoại giao của Trung Quốc. Nếu Philíppin cố tình làm bậy, Trung Quốc cần áp dụng một số biện pháp cứng rắn trục xuất khỏi khu vực này. Mục tiêu quan trọng hàng đầu về chính trị, quân sự, ngoại giao của Trung Quốc hiện nay là loại bỏ sự tồn tại về thương mại và quân sự của Philíppin tại vùng biển phụ cận của đảo Scarborough. Nếu không làm được điều này, mọi biện pháp mà Trung Quốc áp dụng tại khu vực đảo Scarborough đều trở nên vô nghĩa. 

Văn Cường (gt)

 

Hai sai lầm của Trung Quốc (chỉ lặp đi lặp lại các tuyên bố ngoại giao mà không đưa ra được giải pháp giải quyết thực chất vấn đề; và không nắm bắt tốt cơ hội để chiếm ưu thế) đã khiến cho tình hình căng thẳng Scarborough dai dẳng đến nay. Trung Quốc có trách nhiệm khi để tình hình leo thang và cần phải nhân cơ hội này để “dứt điểm” vấn đề.

 

Theo trang tin “Đa Chiều” (Hồng Công) ngày 13/5, sự kiện đảo Scarborough đã kéo dài hơn 1 tháng, Chủ tịch Thượng viện Philíppin Juan Ponce Enrile vẫn kích động dân chúng dùng vũ lực chống lại Trung Quốc. Phát ngôn viên của Chính phủ Philíppin vẫn kiên quyết kiến nghị đưa vụ tranh chấp bãi đá ngầm Scarbourough ra trọng tài quốc tế như là biện pháp tốt nhất để giải quyết vấn đề. Bất chấp Bộ Ngoại giao Trung Quốc ra “thông điệp cuối cùng”, tình hình vẫn không có gì thay đổi, đối đầu vẫn dai dẳng.

Giới quan sát cho rằng những “động tác nhỏ” không ngừng của Philíppin là nguyên nhân chủ yếu khiến đối đầu không được giải quyết đến nơi đến chốn, song phải thừa nhận rằng hành vi của Trung Quốc trong 1 tháng qua chưa hoàn toàn đúng, Bắc Kinh cũng phải chịu trách nhiệm nhất định khi để tình hình diễn biến như hiện nay. 

Thứ nhất, từ khi Trung Quốc và Philíppin đối đầu ngày 10/4, Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã 16 lần ra thông cáo báo chí trả lời về vụ việc. Xét về ngôn từ, nội dung chủ yếu mà Trung Quốc đề cập chẳng qua chỉ là cách nhìn đối với các động tác của Philíppin hiện nay, đồng thời thể hiện lập trường và hy vọng của Trung Quốc. Trong số đó, Trung Quốc có 9 lần chỉ ra rằng nguyên nhân vụ việc là do Philíppin gây ra, 8 lần nhắc lại Trung Quốc có chủ quyền, 4 lần giải thích Trung Quốc tại sao có chủ quyền. Ngoài việc phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc ngày 18/4 yêu cầu Philíppin rút tàu thuyền về, Trung Quốc chưa hề đưa ra biện pháp của mình trong việc giải quyết thực chất vấn đề. 

Đối mặt với những “động tác nhỏ” nhất quán của Philíppin, thái độ của Trung Quốc lặp đi lặp lại quá nhiều mà không mang ý nghĩa mới mẻ nào, càng không có biệp pháp đối phó với việc Philíppin không thực hiện cam kết hoặc không đáp ứng yêu cầu của Trung Quốc. 

Ngược lại, trong cuộc tranh giành bãi đá ngầm Scarbourough, Philíppin có rất nhiều biện pháp, cầu cứu viện trợ từ Mỹ, thay tên, loại bỏ tiêu chí của Trung Quốc trên đảo, đưa vụ việc ra Tòa án quốc tế… Đối mặt với thách thức từ Philíppin, sự đáp trả của Trung Quốc luôn là “không chấp nhận”, song lại không có biện pháp “không chấp nhận” nào được thực thi cụ thể. Theo thông lệ, Trung Quốc từ sớm nên có phương án dự phòng xung đột trong tranh chấp bãi đá ngầm Scarbourough, trong đó bao gồm cả đối đầu và chiến tranh. 

Thứ hai, Trung Quốc đã bỏ lỡ thời cơ tốt để giải quyết xung đột khi Philíppin đụng chạm đến giới hạn cuối cùng của Trung Quốc. Thái độ của Trung Quốc trong tháng qua không chỉ là lặp đi lặp lại những cái cũ mà thái độ này không hề có sự phân biệt khác nhau trước mỗi hành động của Philíppin. Có thể khẳng định rằng khi bắt đầu đối đầu với Trung Quốc, Philíppin trên thực tế đã sớm biết lập trường của Bắc Kinh. Giới hạn đỏ về chủ quyền mà Trung Quốc tuyên bố không phải là được vạch ra sau khi hai bên đối đầu. Cũng như vậy, cách nói của Philíppin trong việc yêu cầu Tòa án quốc tế giải quyết vụ tranh chấp cũng không phải bây giờ mới đưa ra lần đầu. Sau khi xảy ra đối đầu, Philíppin không hề nói cần giải quyết đối đầu thế nào, mà một mực yêu cầu Tòa án quốc tế giải quyết, đồng thời tuyên truyền Trung Quốc là bên chịu trách nhiệm. Có thể thấy Philíppin đang muốn đi đến cùng, nói cách khác là nếu Tòa án quốc tế không đứng ra giải quyết, Philíppin sẽ đối đầu đến cùng. 

Cuộc đối đầu này cho thấy Philíppin rõ ràng không muốn “hợp xướng” với Trung Quốc, song tại sao Trung Quốc vẫn cứ muốn phối hợp với Philíppin? Trung Quốc nhiều lần nhấn mạnh Philíppin không được mở rộng vụ việc, song Philíppin vẫn không ngừng có “động tác nhỏ”. Trong vụ đối đầu hiện nay, Trung Quốc trước sau yêu cầu Philíppin rút tàu thuyền về, việc làm này giống như yêu cầu khách ra khỏi nhà mình. Trước việc Philíppin tái điều tàu thuyền tăng viện, Trung Quốc lẽ ra cần quyết đoán ngăn chặn các tàu thuyền công vụ của Philíppin tới vùng biển của Trung Quốc. 

Phát ngôn viên báo chí của Trung Quốc luôn bày tỏ hy vọng rằng Philíppin sẽ không để vụ việc phức tạp hóa hay quốc tế hóa, điều này cho thấy mục tiêu ban đầu của Trung Quốc trong vụ việc này là không muốn mở rộng vấn đề. Ngược lại, Philíppin ngay từ đầu đã điều tàu hải quân tới đối đầu, Trung Quốc lẽ ra cần phải nắm bắt sai lầm này của Philíppin, nắm chắc tất cả cơ hội tốt để giải quyết vấn đề, kết thúc đối đầu. 

Cuộc đối đầu Trung Quốc-Philíppin hiện đã kéo dài hơn 1 tháng. Vụ việc đã xảy ra, điều mà Trung Quốc lẽ ra có thể làm được là kịp thời ngăn chặn, không thể bị Philíppin dắt đi. Có thể nói rằng Trung Quốc vừa không có phương án mới, vừa không chủ động trong giải quyết vấn đề. Là bên chủ động có đầy đủ lý lẽ, Trung Quốc có trách nhiệm không thể chối bỏ khi để tình hình leo thang như hiện nay. 

Theo Đa Chiều

 

Sự kiện Scarborouhg đang thu hút sự chú ý quan tâm của cộng đồng quốc tế. Mọi hành động của các bên liên quan đều được giới phân tích, báo chí mổ xẻ và đưa ra những bình luận về tương lai của vấn đề.

 

Nhật báo The Philippines Star ngày 13/5 trích dẫn AFP đưa tin Trung Quốc hiện đang diễn tập quân sự và huấn luyện trực thăng của nước này tại hải phận quốc tế tiếp giáp với đảo Luzon và Đài Loan.

Đại tá Arnulfo Marcelo Burgos, NFN quân đội PLP, cho biết “Diễn tập hải quân trong các vùng biển quốc tế là quyền của quân đội bất cứ quốc gia nào. Không có ảnh hưởng gì đến chúng tôi miễn là TQ không tập trận trong lãnh hải của chúng tôi. Chúng tôi không thấy có vấn đề gì cả”. Theo lời ông Burgos, cũng giống như quân đội PLP, quân đội TQ cũng phải thường xuyên rèn luyện và cải thiện khả năng phối hợp tác chiến và đó là hoạt động bình thường của bất kỳ quân đội nào trên thế giới.

Tuy nhiên, các quan chức an ninh của PLP cũng như của Nhật Bản và ĐL đang theo dõi chặt chẽ việc dàn quân của hạm đội TQ.

Mặc dù cuộc tập trận này của hải quân TQ không đe dọa trực tiếp đến an ninh ĐL, nhưng nó được cho là có vai trò quan trọng trong các chiến dịch quân sự của TQ tấn công PLP và Việt Nam trên Biển Đông vào bất cứ lúc nào.

CCTV (TQ) đưa tin ngày 11/5, PLP kích động tinh thần người dân, khuyến khích người dân trong nước và kiều dân ở nước ngoài tổ chức biểu tình chống TQ. Theo CCTV, mỗi người dân PLP đi biểu tình phản đối TQ được chính phủ PLP phát cho 300 peso. Còn Phó NFN của TTh PLP Walter ngày 10/5 cho biết hoạt động biểu tình là do người dân PLP tự phát triển khai, chính phủ PLP không xúi giục người dân.

Ngày 12/5 đã diễn ra biểu tình của kiều dân PLP tại Mỹ, Hongkong, Canada, Australia, Thailand, Nam Phi, Đức và Arab để phản đối hành động của TQ. Ngày 12/5, NT/PLP thông báo với giới truyền thông rằng TQ và PLP đã bắt đầu nối lại đối thoại ngoại giao về vấn đề Scarborough, tuy nhiên cho dù đối thoại có đạt kết quả gì thì cũng chỉ là một thỏa thuận mang tính chất tạm thời chứ không phải là cách giải quyết tranh chấp cuối cùng, PLP vẫn muốn tìm kiếm một biện pháp giải quyết toàn diện.

Tại Bắc Kinh, NFN/BNG/TQ Hồng Lỗi cho biết PLP kích động dân chúng tiến hành biểu tình nhằm vào TQ là hành động sai lầm làm phức tạp và mở rộng vụ việc, mong PLP áp dụng hành động thực tế, thiết thực tôn trọng chủ quyền lãnh thổ của TQ, không áp dụng bất cứ hành động nào làm leo thang tình hình. TQ quan tâm môi trường an ninh đối với công dân TQ tại PLP, yêu cầu PLP áp dụng biện pháp hữu hiệu, thiết thực giữ gìn an toàn và quyền lợi hợp pháp của công dân và cơ quan TQ tại PLP.

Cũng trong ngày 11/5, TQ đã bác bỏ tin nói quân đội của họ đang chuẩn bị một cuộc chiến trong khi có căng thẳng liên quan tới tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông. Trước đó, tin tức nói rằng Quân khu Quảng Châu, hạm đội Biển Đông và các đơn vị khác đã được đặt trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu. Các nhà phân tích gia cho biết chính phủ trung ương có thể thấy có cơ hội để chuyển hướng sự chú ý ra khỏi các vấn đề nội bộ của TQ. Tuy nhiên, không rõ chủ định của họ là gì và những lợi ích có tính cạnh tranh của các cơ quan hàng hải và của quân đội cũng có nghĩa khó có thể đoán được TQ sẽ làm gì tiếp theo?

Trong một diễn biến liên quan, Bộ Nông nghiệp TQ cho biết từ ngày 16/5 sẽ bắt đầu vào kỳ nghỉ đánh bắt cá tại một số vùng biển tại Biển Đông, bao gồm vùng biển đảo Scarborough, các tàu cá của TQ đều bị cấm đến khu vực này đánh bắt cá.

Ngày 12/5, phát biểu trong chuyến thăm TQ, NT Australia Bob Carr đã kêu gọi các nước trong khu vực hãy giải quyết các tuyên bố chủ quyền của mình thông qua luật pháp quốc tế.

Trước đó, ngày 11/5, BTNG Ấn Độ đã cho biết lập trường của ẤĐ trước cuộc xung đột lãnh thổ giữa TQ và PLP tại Biển Đông, kêu gọi hai bên kiềm chế và giải quyết các vấn đề tranh chấp bằng con đường ngoại giao. Còn NFN/BNG ẤĐ nói “Duy trì hoà bình và an ninh trong khu vực là lợi ích sống còn đối với cộng đồng quốc tế. ẤĐ thúc giục hai nước thể hiện sự kiềm chế và giải quyết vấn đề theo con đường ngoại giao, phù hợp với các quy định của luật pháp quốc tế. Theo các nhà phân tích, Trong bối cảnh này, lập trường của ẤĐ là hết sức ý nghĩa. Mâu thuẫn TQ - ẤĐ ngày càng nổi rõ. Trong đó, cả hai bên còn rất nhiều vấn đề tranh cãi trong quan hệ chưa được tháo gỡ, nhưng đều cố dùng mọi cách để tránh đối đầu trực tiếp, phô trương lòng trung thành với cam kết hợp tác và thân thiện. Tuy nhiên, mâu thuẫn vẫn không triệt tiêu, mà chuyển tới những "vùng sâu vùng xa" và bộc lộ ở đó với tất cả sức mạnh. Cần tính rằng khoảng cách tiềm năng kinh tế và quân sự của TQ và ẤĐ là rất lớn, khiến cho hiện nay không ai nói về sự đồng đẳng hay cân bằng và trong tương lai ẤĐ cũng sẽ tiếp tục chủ động biểu thị sự hiện diện của mình ở những khu vực quan trọng sống còn để đảm bảo lợi ích, nhưng sẽ không đi tới đối đầu trực tiếp với TQ.

Còn các chiến lược gia Mỹ rất muốn thấy New Delhi ở tư cách một đồng minh gần gũi nhất trong chính sách kiềm chế TQ. Tuy nhiên, hiện thời những cân nhắc thực dụng trong chính sách đối ngoại của ẤĐ đang thắng thế. Washington khó lòng trông đợi viễn cảnh New Delhi hỗ trợ chính sách của người Mỹ.

Theo Mạng China.org.cn, giải thích về quan điểm cứng rắn của PLP trong vấn đề Biển Đông, Tướng La Viện, Phó Tổng Thư ký Hiệp hội khoa học Quân sự TQ cho rằng PLP hiện đang thực hiện “bài thử chiến lược” với TQ trên 3 khía cạnh: (i) PLP muốn thử xem liệu cộng đồng quốc tế có chấp nhận hành động của PLP không và liệu TQ sẽ làm thế nào. Nếu PLP thành công, họ sẽ mở rộng tuyên bố tới các Reed Tablemount và Thitu Island (Đảo Thị Tứ). Tồi tệ hơn nữa là VN, Indonesia, Malaysia, Brunây và các nước láng giềng khác sẽ học tập PLP. Trong tình huống đó, TQ sẽ mất nhiều hơn nữa các đảo và bãi đá ngầm. (ii) PLP muốn xem liệu TQ sẽ hoàn toàn loại bỏ các hành động quân sự trong bất kỳ sự kiện nào trong giai đoạn cơ hội chiến lược và thậm chí trao đổi đảo trong giải quyết hòa bình; (iii) PLP muốn thử sức mạnh đồng minh Mỹ và xem liệu Mỹ có ủng hộ hành động hiếu chiến hơn để giành lại đảo này. Tuy nhiên, dưới ảnh hưởng của căng thẳng leo thang, không thể nói Mỹ sẽ không liên qua nhưng Mỹ sẽ cân nhắc lợi hại trước khi có bất kỳ hành động thực tế nào và Mỹ biết rằng việc xung đột với TQ sẽ là không đáng.

Cũng liên quan đến xung đột PLP - TQ, các chuyên gia phân tích của PLP cho rằng TQ sẽ không làm hại đến “một sợi tóc” của PLP. Ngược lại, TQ đang cân nhắc đến những tình huống khó xử, bởi vì TQ đang muốn phát triển kinh tế và ổn định chính trị nên không thể áp dụng các biện pháp quân sự tại biển Đông. Mặt khác, TQ muốn điều quân đội tới vùng biển tranh chấp sẽ lại gặp bất lợi về địa lý hơn so với PLP vì căn cứ hải quân Trạm Giang (TQ) 1000 hải lý, nhanh nhất phải trong 2 ngày tàu chiến của TQ mới đến được Scarborough, khi đó quân đội PLP và đồng minh đã chuẩn bị sẵn sàng mọi thứ để chờ tàu chiến của TQ. Hơn nữa, TQ chưa chuẩn bị gì cho việc sẽ xuất binh để giải quyết tranh chấp với PLP vì vấn đề chính đối với TQ lúc này vẫn là việc Mỹ có thể tham gia bảo vệ PLP nếu xung đột nổ ra. TQ đang cảm thấy không chắc chắn về chiến thắng của mình nên chưa dám “động thủ”. Chuyên gia quân sự PLP đã kiến nghị PLP giữ một thái độ cứng rắn và phát động một phong trào phản đối TQ qua các phương tiện truyền thông để công đồng quốc tế lên án hành vi của nước này. Thế chủ động của TQ tự nhiên vì thế sẽ bị thu hẹp.

Trong một tin khác liên quan, Minh báo HK thì cho rằng chỉ sau khi tầu chiến của TQ được đưa xuống phía Nam, cộng thêm với sự kiên quyết của ngoại giao và dư luận chính thống của TQ bày tỏ kiên quyết không thể mất một tấc đất lãnh thổ, “chỉ cần PLP nổ súng, tầu chiến của họ sẽ bị chôn vùi xuống đáy biển”, PLP mới khôi phục đối thoại với ĐSQ TQ tại Manila, tình hình căng thẳng mới có dấu hiệu giảm nhiệt. Vụ việc này lắng xuống liệu có phải do Bắc Kinh chủ động “tấn công bằng ngoại giao, uy hiếp bằng quân sự” hay không còn cần có chứng cứ xác thực, nhưng cần phải chú ý những phát triển tiếp theo của tình hình, đặc biệt là những diễn biến tiếp theo bao gồm cả biểu hiện của Mỹ thì mới có thể khẳng định sự kết thúc của sự kiện Scarborough. Là một thành viên trong khu vực, đương nhiên TQ không mong muốn Biển Đông bị bao phủ bởi khói súng, nhưng điều đáng để lo ngại là các tranh chấp về chủ quyền tại các hòn đảo khác ở Biển Đông và Đông Hải vẫn còn tồn tại, xung đột vừa qua chưa thể là sự kiện cuối cùng.

Lập trường nhất quán của TQ tại Biển Đông không phải là không thể đàm phán, nhưng phải là đàm phán trong khuôn khổ song phương. Về vấn đề khai thác Biển Đông, TQ luốn giữ thái độ kiềm chế, dĩ hòa vi quý, “cùng khai thác, cùng phồn vinh” nhưng trong bối cảnh Mỹ tuyên bố quay trở lại châu Á, sự kiềm chế đã bị coi là mềm yếu, VN và PLP liên tiếp có các hành động khiêu chiến với TQ.

Việc PLP đồng ý đối thoại với TQ có lợi cho việc giải quyết tình hình khó khăn hiện nay, vì nếu tiếp tục đối kháng, chỉ cần có nổ súng, Hải quân PLP sẽ phải đối mặt với sự phản công mang tính hủy diệt. Xử lý sự kiện Scarborough lần này, trong một chừng mực nào đó đã làm hé lộ phương thức để xử lý các vấn đề tranh chấp sau này, từ cục diện “TQ không thể tuyên chiến” điều chỉnh thành “trong một số điều kiện đặc biệt, TQ có thể nổ súng”. Sự kiện Scarbourough lần này cũng tương tự sự kiện TQ tấn công VN năm 1979, BTQP TQ Lương Quang Liệt thăm Mỹ, phía Mỹ bày tỏ không đứng về bên nào trong tranh chấp tại Biển Đông, sau đó báo quân đội phát biểu bình luận với lời lẽ hết sức cứng rắn, chỉ thiếu là chưa có pháo kích.

Việc xử lý sự kiện Scarborough lần này của Bắc Kinh có 2 điểm đáng chú ý: (i), trong khu vực TQ có chủ quyền tuyệt đối, Bắc Kinh sẽ đứng yên nhìn người khác xâm phạm; (ii), chỉ cần đối phương nổ súng, Bắc Kinh sẽ đáp trả.

Sự kiện Scarborough là công việc giữa TQ và PLP, nhưng VN và NB đang theo dõi, quan sát hết sức chặt trẽ. Với tư cách là đồng minh và là một bên trong “Hiệp ước phòng thủ chung Mỹ - PLP”, trong lúc TQ và PLP “gươm tuốt, cung giương”, Mỹ đã bày tỏ rõ ràng “không đứng về bất cứ bên nào”, tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông và Đông Hải sẽ diễn biến ra sao, quan hệ đồng minh quân sự Mỹ Nhật sẽ phát triển như thế nào là điều rất đáng quan tâm.

 

 

Tổng hợp

 

 

Truyền thống báo chí Trung Quốc liên tục “dọa dẫm” Philippin trong vấn đề Scarborough, và tất nhiên cũng không quên gửi lời “nhắc nhở” đến Mỹ - quốc gia hiện nay Philippin đang trông chờ có những động thái ủng hổ tích cực về mọi mặt nhằm cân bằng và đối chọi lại với Trung Quốc trong tranh chấp Scarborough.

 

Tờ "Bưu điện Hoa Nam Buổi sáng" của Hồng Công ngày 9/5 cho biết hôm 7/5 vừa qua, Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Phó Oánh đã triệu kiến Đại biện lâm thời Philíppin tại Bắc Kinh Alex Chua và đưa ra cảnh báo nghiêm khắc về sự kiện Bãi đá ngầm Scarborough (Philíppin gọi là Bãi đá ngầm Panatag, Trung Quốc gọi là Bãi đã ngầm Hoàng Nham). Đây là lần thứ ba trong vòng một tháng, bà Phó Oánh triệu kiến ông Alex Chua. 

Tại cuộc gặp hôm 7/5, bà Phó Oánh nói: “Rõ ràng là phía Philíppin đã không nhận ra được rằng mình đang phạm sai lầm nghiêm trọng, ngược lại còn có hành động làm căng thẳng leo thang” và “phía Trung Quốc đã chuẩn bị sẵn sàng đáp trả bất cứ sự leo thang căng thẳng nào gây ra bởi phía Philíppin”. Đây được coi là tuyên bố cứng rắn nhất của phía Trung Quốc liên quan tới sự kiện đối đầu giữa nước này và Philíppin tại Scarborough kéo dài một tháng nay. 

Điều đáng chú ý là nó được tiếp nối bởi một bài bình luận với những ngôn từ mạnh mẽ đăng trên tờ "Nhân dân Nhật báo" bản phát hành ở nước ngoài vào ngày hôm qua (8/5). Bài bình luận viết: “Mặc dù Trung Quốc sẽ cố gắng hết sức để giải quyết căng thẳng qua con đường ngoại giao…, nhưng thiện ý sẽ hết khi ai đó đã làm tất cả những gì để tròn bổn phận và không cần phải khoan dung thêm nữa khi mà tình hình không nên được hưởng sự khoan dung”. Việc này đã làm gia tăng những đồn đoán về việc Trung Quốc sử dụng biện pháp mạnh đối với Philíppin, nhất là khi mới đây Trung tâm Điều tra Tình hình Dư luận Hoàn Cầu thuộc "Thời báo Hoàn Cầu" công bố kết quả điều tra cho thấy có gần 80% số người được hỏi ủng hộ việc sử dụng hành động quân sự đáp trả những khiêu khích và xâm phạm tại Biển Đông. 

Trong một diễn biến liên quan, Giáo sư Chu Vĩnh Sinh thuộc Viện Nghiên cứu Quan hệ Quốc tế, Học viện Ngoại giao Trung Quốc được tờ "Minh báo" của Hồng Công ngày 9/5 dẫn lời cho rằng nếu (Trung Quốc) bị ép phải ra đòn đánh trả, phạm vi sẽ không chỉ bó hẹp ở Scarborough, tất cả những hòn đảo khác mà phía Philíppin chiếm giữ có thể thu hồi sẽ được thu hồi toàn bộ. Và sự kiện đối đầu ở Scarborough nếu tiếp tục kéo dài sẽ gây bất lợi cho Trung Quốc. Một khi Trung Quốc đã xác nhận rằng bãi đã ngầm Scarborough thuộc về Trung Quốc, cần cử lực lượng vũ trang trực tiếp chiếm lĩnh, xây dựng căn cứ trên đó, hình thành “mô hình Hoàng Nham” trong vấn đề Biển Đông để giải quyết tranh chấp các đảo khác tại Biển Đông. 

Theo Giáo sư Chu Vĩnh Sinh, “mô hình Hoàng Nham” chính là việc Trung Quốc trực tiếp đưa lực lượng vũ trang chiếm lĩnh các đảo thuộc về Trung Quốc, “đứng thẳng lưng thực hiện quyền quản lý thực tế đối với lãnh thổ của Trung Quốc và đưa lực lượng ra đóng giữ”. Việc này cần phải xem quyết tâm của Chính phủ và thời cơ ra sao. Nhưng sự kiện Scarborough rõ ràng “đã tới lúc phải giương cao chính nghĩa và không thể tiếp tục nhượng bộ nữa”. Phát biểu trên tạp chí "Cửa sổ Nam Phong", Phó Tổng thư ký Ủy ban Nghiên cứu Chính sách An ninh Quốc gia Trung Quốc, Thiếu tướng Kiều Lương, thì cho rằng trong xử lý vấn đề Biển Đông, Bắc Kinh nên học Oasinhtơn: “Ném bom vào sứ quán người ta rồi bảo là nhầm”. 

Theo báo Hồng Công “Văn Hối” ngày 9/5, căng thẳng giữa Trung Quốc và Philíppin xung quanh sự kiện đảo Scarborough không ngừng leo thang, Philíppin không đếm xỉa gì tới phản ứng của Trung Quốc, tiếp tục điều tàu thuyền đến khu vực đảo Scarborough, đồng thời không ngừng phát đi những lời lẽ gây hấn khiến quan chức và dân chúng Trung Quốc bất mãn.Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Phó Oánh ngày 8/5 đã lần thứ ba hẹn gặp với Đại biện lâm thời Philíppin tại Trung Quốc, trong công hàm nói rõ Trung Quốc đã làm tốt các công tác chuẩn bị ứng phó với khả năng Philíppin làm to vụ việc… Bắc Kinh một lần nữa hối thúc Philíppin nhanh chóng trở lại con đường đúng đắn. 

Bình luận về sự kiện này, chuyên gia các vấn đề quyền hải dương của Trung Quốc Lí Kim Minh cho biết, việc Philíppin không ngừng khiêu khích Trung Quốc đã vượt qua giới hạn cuối cùng của Bắc Kinh, thái độ của bà Phó Oánh chính là “thông điệp cuối cùng” gửi tới Philíppin. Theo Lí Kim Minh, sở dĩ lần này phía Trung Quốc đưa ra thái độ cứng rắn như vậy chủ yếu là bởi Philíppin không ngừng có những động thái nhỏ, đồng thời lần đầu tiên đã đóng chặt cánh cửa giải quyết vấn đề theo các kênh ngoại giao và hòa bình và việc Philíppin muốn phá hủy vật đánh dấu (chủ quyền) của Trung Quốc trên đảo Scarborough là đã vượt quá giới hạn cuối cùng của Trung Quốc. Nếu như Philíppin tiếp tục không tính tới hậu quả, thúc đẩy sự vụ leo thang thì sẽ không tránh khỏi họa “binh đao súng đạn”. 

Hứa Lợi Bình - Nghiên cứu viên Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược châu Á-Thái Bình Dương và toàn cầu thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc - cho rằng một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến việc Philíppin “quá quắt” như hiện nay là vì nước này cho rằng Trung Quốc tạm thời sẽ không áp dụng hành động quân sự tại Biển Đông, song rất rõ ràng là Philíppin đã tính toán sai quyết tâm và ý chí của Trung Quốc trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, coi thái độ “vì đại cục” của Trung Quốc thành sự mềm yếu và thỏa hiệp. Hứa Lợi Bình cho rằng nếu Philíppin ép thêm nữa, Trung Quốc không thể không đáp trả, không loại trừ khả năng xảy ra xung đột vũ trang quy mô nhỏ.

Về thái độ của Bộ Ngoại giao Trung Quốc khi nói rằng “Trung Quốc đã làm tốt công tác chuẩn bị ứng phó với khả năng Philíppin làm to vụ việc”, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu các vấn đề quốc tế Trung Quốc Khúc Tinh cho biết điều này cho thấy rõ rằng Chính phủ Trung Quốc đã làm tốt công tác chuẩn bị, trong đó bao gồm cả hành động quân sự đối phó với Philíppin, song Trung Quốc không chủ động áp dụng hành động quân sự vì đây là nguyên tắc cơ bản của ngoại giao Trung Quốc (trong thực tiễn ngoại giao của Trung Quốc xưa nay chưa từng có tiền lệ sử dụng vũ lực trước). Nhà phân tích này nói: “Tuy Trung Quốc không chủ động áp dụng hành động quân sự, song nếu Philíppin muốn áp dụng hành động quân sự, Trung Quốc khẳng định sẽ đáp trả”. 

Tuy nhiên, việc sử dụng vũ lực trước cũng có giới hạn của nó. Theo Thiếu tướng La Viện - Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Khoa học Quân sự Trung Quốc - trong sự kiện đảo Hoàng Nham, Trung Quốc nhất quán kiên trì thông qua các biện pháp ngoại giao và đàm phán hòa bình để giải quyết, song nếu Philíppin coi sự kiềm chế và nhân nhượng của Trung Quốc là sự mềm yếu có thể ức hiếp, cuối cùng chiến tranh sẽ nổ ra. La Viện nói: “Sự kiện đảo Hoàng Nham xét từ cấp độ chiến lược thì Philíppin đã nổ ‘phát súng đầu tiên’: xâm phạm lãnh hải Trung Quốc, điều tàu hải quân tới và cho quân lên tàu đánh cá hòng bắt bớ ngư dân Trung Quốc”. 

La Viện cho rằng căn cứ sự phát triển của tình hình, nếu như Philíppin xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc, gây nguy hại cho ngư dân Trung Quốc, thậm chí là an toàn sinh mạng con người và tài sản của các tàu hải giám và ngư chính Trung Quốc, Trung Quốc không cần hoàn toàn tuân thủ nguyên tắc không nổ “phát súng đầu tiên”, Trung Quốc cũng có thể áp dụng một biện pháp quân sự quyết đoán. 

Có thể nói trong việc xử lý sự kiện đối đầu tại đảo Scarborough, Bắc Kinh đã tỏ rõ xu hướng cứng rắn hơn. Dẫu vậy, chuyên gia quân sự Nghê Lạc Hùng được tờ "Bưu điện Hoa Nam Buổi sáng" dẫn lời vẫn tin rằng vào thời điểm này Trung Quốc không chắc sẽ thực hiện hành động quân sự do sự thúc ép của những mối quan tâm trong nước mà sự thay đổi lãnh đạo là một ví dụ.

Ngoài việc “nhắc nhở” Philippin, Trung Quốc cũng không quên gửi lời “cảnh báo” đến Mỹ. Thời báo Hoàn Cầu ngày 6/5 có bài xã luận với những lời lẽ chỉ trích, mang tính chất “dằn mặt” Mỹ, nhận định rằng, chính Biển Đông sẽ trở thành viên đá thử vàng cho sự tin cậy lẫn nhau trong quan hệ quân sự Trung - Mỹ. Bài báo cho rằng sự tin cậy lẫn nhau trong quan hệ quân sự Trung Mỹ cần được “tích lũy từng tí” trong bối cảnh xuất hiện ngày càng nhiều những va chạm phức tạp trên các vùng biển Hoa Đông và Biển Đông, đồng thời cần giảm dần những “hành động lạ”, tăng dần “không gian thích nghi”, đó là nền tảng giúp hai bên tránh hiểu nhầm ý đồ của nhau, tránh phát sinh xung đột. Bài báo nhấn mạnh rằng TQ và Mỹ đều cần định vị chính xác chiến lược của đối phương, Mỹ đừng cho rằng TQ chỉ là kẻ “yêng hùng mới nổi” ở các vùng biển gần bờ.

Trong bối cảnh lợi ích của TQ “rải khắp thiên hạ” thì việc năng lực hải quân TQ ngày càng vươn xa là điều tất yếu. TQ không nên coi việc hiện diện quân sự của Washington ở châu Á là điều gì đó “phi pháp”, ngược lại nên chấp nhận một hiện thực rằng Mỹ là một lực lượng quan trọng ở châu Á từ đó có cách tiếp cận phù hợp. Mỹ, PLP tăng cường quan hệ hợp tác là nhằm “đối đầu” với TQ trên Biển Đông. Nếu như TQ quyết tâm lãnh đạo châu Á và xua đuổi thế lực Mỹ, hoặc nếu như Mỹ tìm cách ngăn chặn sự tăng trưởng sức mạnh quân sự của TQ bằng mọi giá thì coi như sự tin cậy lẫn nhau về mặt quân sự giữa hai nước trở nên vô vọng. Vấn đề là, cả Mỹ và TQ đều không có ý tưởng này.

Bài báo nhấn mạnh TQ và Mỹ nên tách bạch giữa những cái mà hai bên cần ở Biển Đông với những tranh chấp giữa TQ với VN và PLP. Tranh chấp chủ quyền Biển Đông giữa các quốc gia là một hiện thực. Bài báo còn nhận định rằng các quốc gia láng giềng ở Biển Đông so với TQ chỉ là những quốc gia bé nhỏ, đồng thời, cho rằng TQ kiên quyết không chấp nhận việc Mỹ can dự, hỗ trợ, hợp tác với các quốc gia này ở bất cứ hình thức nào. Bài báo cũng lên giọng “nhắc nhở” Mỹ: Nếu như Mỹ phát đi tín hiệu, bất luận các quốc gia ở Biển Đông làm gì, chỉ cần có sự hiện diện quân sự của Mỹ trên Biển Đông thì họ (các nước có tranh chấp chủ quyền) sẽ “trực tiếp xâm phạm” cái gọi là “lợi ích” của TQ, thì đó là đòn đánh vỗ mặt vào quan hệ quân sự Trung - Mỹ. Lúc đó, dù lãnh đạo cấp cao hai nước Trung - Mỹ có ngồi khách sạn 5 sao giữa thủ đô hai nước mà nói chuyện hợp tác, minh bạch hay gì đi chăng nữa cũng không còn ý nghĩa gì nữa.

Ưu thế quân sự tuyệt đối của Mỹ trên toàn cầu trong một khoảng thời gian dài trước mắt là điều khó có thể thay đổi, nó sẽ được dùng vào việc bảo vệ duy trì sức ảnh hưởng của Mỹ trên toàn cầu và ngăn chặn các “dã tâm quân sự” đang lớn dần, thậm chí nó còn được dùng để bảo vệ quan hệ giữa Mỹ với một số nước trong bối cảnh kinh tế Mỹ đang suy thoái. Tuy nhiên, sức mạnh quân sự của Mỹ không thể trực tiếp can dự vào những tranh chấp trên biển giữa các quốc gia Tây TBD, càng không thể dùng nó để các quốc gia tranh chấp ở Biển Đông gây hấn với TQ.

Cuối cùng, bài báo kết luận, Biển Đông đang thực sự trở thành viên đá thử vàng thái độ của Mỹ đối với TQ. Sự thiếu đối thoại hay bất cứ hành động nào làm phức tạp tình hình trên Biển Đông của TQ hay Mỹ đều để lại những hậu quả nghiêm trọng.

Văn Cường (gt)

 

Khủng hoảng đảo Hoàng Nham có leo thang thành xung đột quân sự hay không thì Philippines đều muốn đồng minh mạnh nhất của mình là Mỹ ủng hộ nước này chống Trung Quốc, cũng như nhận được sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế với hình ảnh một đất nước bé nhỏ đang bị bắt nạt bởi một Trung Quốc lớn mạnh.

Chắc chắn điều đó sẽ khiến Philippines ngày càng cứng rắn hơn. Trong khi Mỹ muốn sử dụng tranh chấp của Trung Quốc với các nước láng giềng để kiềm chế và cân bằng với Trung Quốc nhưng không muốn dính líu vào bất kỳ xung đột quân sự trực tiếp nào với Trung Quốc. Việc thiếu sự ủng hộ của Mỹ đã đặt Philippines vào tình thế khó xử nếu Philippines khiêu khích xung đột quân sự, nước này sẽ phải gánh lấy hậu quả một mình, còn nếu Philippines quay đầu thì Philippines sẽ bị mất mặt. Hiện nay, tất cả những gì Philippines có thể làm là chờ Mỹ và các đồng minh khác làm giảm căng thẳng.

Qua khủng hoảng, Trung Quốc đã áp dụng chính sách rất khôn ngoan. Một mặt, Trung Quốc đã bảo vệ chủ quyền bằng việc cử các tàu chấp pháp và mặt khác Trung Quốc tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc không châm ngòi trước, đồng thời tránh cho các tàu chiến trực tiếp tham gia vào các vụ va chạm. Trong tương lai, Trung Quốc có thể tiếp tục chính sách này vừa cứng rắn và hợp lý. Theo đó, Trung Quốc cần tuân thủ 4 nguyên tắc sau: (1) Thái độ cứng rắn liên quan đến chủ quyền của Trung Quốc đối với các đảo; (2) Thông tin tốt với các hãng truyền thông thế giới để nhiều nước biết Trung Quốc đang bảo vệ lãnh thổ của mình; (3) Duy trì thông tin hiệu quả với cộng đồng quốc tế để thế giới biết đường giới hạn cuối cùng của Trung Quốc; (4) Ủng hộ việc giải quyết vấn đề thông qua biện pháp hòa bình và kêu gọi các bên tuân thủ DOC tại Biển Đông, nguyên tắc cơ bản để giải quyết tranh chấp.

Đối với Trung Quốc, khủng hoảng đảo Hoàng Nham vừa là thách thức và là cơ hội. Hy vọng khủng hoảng này sẽ chấm dứt thành công và tạo hình mẫu cho việc giải quyết các tranh chấp khác sau này. Tuần san thời cuộc (kỳ 16) đăng bài “Quân đội sẽ phối hợp với tàu hải giám bảo vệ quyền và lợi ích quốc gia”, phân tích việc ngày 22/4, tàu Ngư chính 310 và tàu Hải giám 084 rời vùng biển Scarborough là một hành động thể hiện chiến lược trí tuệ Trung Quốc trong xử lý vấn đề Biển Đông. Việc đưa tàu phi quân sự vùng biển nói trên đã truyền đi một thông điệp ngoại giao của Trung Quốc, chứng tỏ Trung Quốc đang duy trì trị an ở vùng biển thuộc chủ quyền của mình, không muốn để ASEAN có cơ hội nghĩ rằng Trung Quốc cậy lớn bắt nạt bé bằng cách đưa các tàu trang bị tối tân ra đụng độ với Philippines, Trung Quốc đang kiểm soát rất tốt tranh chấp, tránh để cục diện leo thang. Thông qua sự việc này, báo Trung Quốc nhận định việc Trung Quốc giải quyết hòa bình tranh chấp ở Biển Đông đã dạy cho cả thế giới một bài học.

Tác giả Yang Yi là đô đốc hải quân và cựu giám đốc Viện Nghiên cứu Chiến lược, Học viện Quốc phòng Trung Quốc

Theo “Nhân dân Nhật Báo” (ngày 7/5)

Quang Sáng (gt)

 

Thiếu tướng Chu Thành Hổ,  Đại học Quốc phòng TQ: Tuy quan hệ Trung-Phi hiện nay rất căng thẳng, nhưng khả năng Trung-Phi nổ ra chiến tranh không lớn.  Báo chí vô trách nhiệm đẩy kỳ vọng của dân chúng lên quá cao, làm cho rất nhiều người không rõ đại cục, hy vọng chính phủ sẽ sử dụng vũ lực. Giải pháp cuối cùng cho vấn đề Trung-Phi vẫn phải dựa vào nỗ lực ngoại giao.

 

Sự kiện đối đầu giữa Philíppin và Trung Quốc tại bãi cạn Scarborough (Trung Quốc gọi là đảo Hoàng Nham) tới nay đã kéo dài được gần 1 tháng, nhưng tình hình căng thẳng vẫn tiếp tục. Cùng với việc Trung tâm Điều tra Tình hình Dư luận Hoàn cầu thuộc "Thời báo Hoàn cầu" mới đây công bố kết quả điều tra dư luận cho thấy có tới gần 80% số người được hỏi ủng hộ đáp trả quân sự với khiêu khích và xâm phạm tại Biển Đông, vấn đề được nhiều người quan tâm là khả năng Trung Quốc khai chiến với Philíppin tại Biển Đông. Theo Chu Thành Hổ, tuy quan hệ Trung-Phi hiện nay rất căng thẳng, nhưng khả năng Trung-Phi nổ ra chiến tranh trong tương lai gần là không lớn. Bởi chiến tranh sẽ đưa người Mỹ vào Philíppin và vấn đề sẽ càng trở nên phức tạp. Sở dĩ Philíppin dám đối kháng với Trung Quốc là do một số nguyên nhân. Một là nước này đã sai lầm trong đánh giá tình hình. Trung Quốc nhẫn nhịn trong vấn đề Biển Đông, nhưng bị Philíppin hiểu nhầm là mềm yếu và có thể bắt nạt được. Hai là Philíppin phán đoán sai lầm rằng các nước Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) sẽ đứng về phía Philíppin trong vấn đề Biển Đông, nhưng kỳ thực không phải như vậy. Nếu Trung-Phi nổ ra chiến tranh, toàn bộ ASEAN chưa chắc đã có lập trường giống như Philíppin. Ba là Philíppin đã phán đoán sai lầm về sự ủng hộ của Mỹ. Philíppin cho rằng một khi Trung-Phi khai chiến, người Mỹ nhất định sẽ cầm vũ khí cùng Philíppin chiến đấu với Trung Quốc. Kỳ thực, khả năng này hoàn toàn không có. Thử xem Mỹ có bao nhiêu lợi ích ở Trung Quốc và có bao nhiêu lợi ích ở Philíppin? Mỹ có thể vì Philíppin mà hy sinh lợi ích của mình ở Trung Quốc hay sao? 

Chu Thành Hổ cho rằng giải pháp cuối cùng cho vấn đề Trung-Phi vẫn phải dựa vào nỗ lực ngoại giao. Thứ nhất, xuất phát từ góc độ của Trung Quốc, Bắc Kinh vẫn cần phải bảo vệ hòa bình và ổn định tại khu vực Biển Đông. Thứ hai, với thực lực quân sự của mình, Philíppin không thể nào đối kháng với Trung Quốc. Thứ ba, do lợi ích thúc đẩy, Mỹ sẽ không ủng hộ việc Philíppin và Trung Quốc nổ ra chiến tranh. Thứ tư, các nước ASEAN không mong muốn nhìn thấy chiến tranh ở Biển Đông bởi chiến tranh sẽ là đòn giáng nặng nề đối với hòa bình ổn định và phát triển kinh tế của toàn khu vực. Do vậy, cuối cùng, việc giải quyết vấn đề này sẽ trở lại với các nỗ lực ngoại giao, thông qua đàm phán để giải quyết vấn đề và đây mới là lựa chọn sáng suốt. Chu Thành Hổ nhận định nguyên nhân quan trọng nhất của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông hiện nay là thực lực quân sự chưa đủ lớn mạnh, không đủ để răn đe các nước xung quanh. Nếu Trung Quốc có thực lực quân sự như Mỹ, liệu các nước xung quanh có dám “gây chuyện” với Trung Quốc? Theo Chu Thành Hổ, hiện nay, rất nhiều cơ quan truyền thông “gây sóng tạo gió” trong vấn đề Biển Đông có thể là nhằm thêm cách nhìn. Tuy nhiên cũng có cơ quan truyền thông vô trách nhiệm đẩy kỳ vọng của dân chúng lên quá cao, làm cho rất nhiều người không rõ đại cục, hy vọng chính phủ sẽ sử dụng vũ lực dạy cho nước xâm phạm chủ quyền Trung Quốc tại Biển Đông. Nhưng hiện nay, Trung Quốc đang trong thời kỳ phát triển rất quan trọng, đòi hỏi phải thận trọng trong xử lý một số vấn đề quốc tế, đương nhiên, càng không thể vì vấn đề với các nước xung quanh mà gây ra mâu thuẫn nội bộ, dẫn tới bất ổn. 

Theo "Báo Đông Bắc Á" (ngày 2/5)

Lê Sơn (gt)

 

Trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng tỏ ra quyết đoán trong tranh chấp lãnh thổ và lãnh hải tại Biển Đông, chủ yếu do tham vọng kinh tế, các nước trong khu vực đang coi việc "xích lại gần hơn" với Nhật Bản và Mỹ như một chiến lược nhằm ngăn chặn việc Trung Quốc thôn tính toàn bộ Biển Đông.

Mỹ và Nhật Bản bắt đầu can dự vào những tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông nhằm kiềm chế Trung Quốc. Mới đây, Mỹ và Nhật Bản đã đạt được một thỏa thuận mới về việc cùng sử dụng các căn cứ quân sự của Mỹ tại khu vực Thái Bình Dương. Theo các tin tức truyền thông, Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản dự kiến triển khai lực lượng cùng quân đội Mỹ tại Philíppin. Nếu được Manila phê chuẩn, Nhật Bản, Mỹ và Philíppin sẽ cùng nhau thực hiện huấn luyện quân sự đặc biệt tại các căn cứ quân sự của Philíppin. Trong những năm gần đây, Việt Nam và Philíppin đã giành được những lợi ích kinh tế lớn thông qua khai thác tài nguyên dầu khí tại Biển Đông. Trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng tỏ ra quyết đoán trong tranh chấp lãnh thổ và lãnh hải tại Biển Đông, chủ yếu do tham vọng kinh tế, các nước trong khu vực đang coi việc "xích lại gần hơn" với Nhật Bản và Mỹ như một chiến lược nhằm ngăn chặn việc Trung Quốc thôn tính toàn bộ Biển Đông. Đây chính là điều kiện thuận lợi và là thời điểm tốt để Mỹ và Nhật Bản cùng can dự vào những tranh chấp tại Biển Đông. Trong tiến trình tái tập trung chú ý chiến lược tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương, Đông Nam Á là một trọng tâm quan trọng của Mỹ. Trong hai năm qua, Mỹ đã gia tăng đầu vào chiến lược vào khu vực này. Về quân sự, Mỹ đang tìm kiếm sự đồn trú lâu dài tại một số căn cứ quân sự trong khu vực. Hiện nay, Mỹ đang đề nghị được trở lại căn cứ quân sự Vịnh Subic của Philíppin và cử tàu tuần duyên chiến đấu hiện đại nhất đến đó. Mỹ cũng đang tăng cường các cuộc tập trận tại các khu vực và vùng biển xung quanh Trung Quốc. Mặc dù không phải tất cả các cuộc tập trận trên đều nhằm vào Trung Quốc, nhưng một số cuộc tập trận thực sự nhằm răn đe Trung Quốc và tăng cường uy tín của Mỹ tại châu Á.

Không giống với Mỹ, Nhật Bản hành động một cách khôn ngoan hơn trong việc can thiệp vào các tranh chấp tại Biển Đông. Nhật Bản đã dỡ bỏ chính sách hạn chế xuất khẩu vũ khí sau khi Thủ tướng Yoshihiko Noda lên nắm quyền. Về bản chất, đây là sự chuẩn bị để hỗ trợ các nước Đông Nam Á có liên quan đến những tranh chấp tại Biển Đông thông qua việc xuất khẩu vũ khí cho những nước này. Ngoài ra, Nhật Bản cũng có kế hoạch cung cấp tàu tuần tra cho Philíppin và hỗ trợ nước này trong việc huấn luyện lực lượng tuần duyên. Những hành động trên cho thấy Nhật Bản đang mở rộng tầm với quân sự tại Biển Đông và xu hướng này sẽ tiếp tục phát triển trong tương lai. Tình hình lộn xộn tại Biển Đông có lợi cho Nhật Bản. Khi những tranh chấp chủ quyền giữa Nhật Bản và Trung Quốc tại quần đảo Điếu Ngư ngày một tăng, Nhật Bản hy vọng những "mối quan tâm" khác của Trung Quốc tại Biển Đông có thể làm xao lãng sự chú ý của Trung Quốc tại quần đảo Điếu Ngư. Sự can thiệp của các nước bên ngoài tại Biển Đông đang làm phức tạp thêm tình hình khu vực. Khi được Mỹ và Nhật Bản ủng hộ, các nước như Philíppin và Việt Nam dường như có thái độ cứng rắn hơn. Philíppin và Trung Quốc đối đầu nhau suốt hơn nửa tháng qua tại bãi đá cạn Scarborough (phía Trung Quốc gọi là đảo Hoàng Nham), có tiềm năng châm ngòi cho một cuộc chiến khu vực. Các nước Đông Nam Á cũng đang tăng cường hiện đại hóa quân sự thông qua việc nhập khẩu thêm các loại vũ khí hiện đại, đe dọa sự ổn định khu vực và có nguy cơ châm ngòi một cuộc chạy đua vũ trang.

Việc Mỹ và Nhật Bản hoàn toàn ủng hộ các nước Đông Nam Á trong tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông nhằm ngăn chặn Trung Quốc là một chiến lược thiển cận vì chiến lược này không những làm xáo trộn an ninh khu vực mà còn đe dọa sự tin tưởng lẫn nhau giữa Trung Quốc với Mỹ và Nhật Bản. Các nước Đông Nam Á như Việt Nam và Philíppin có thể đóng vai trò hiệu quả trong việc cân bằng Trung Quốc, nhưng không nên khuyến khích hai nước này nuôi tham vọng bá chủ khu vực. 

Tác giả Zhou Yongsheng là phó giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Nhật Bản, Đại học Ngoại giao Trung Quốc

Theo Globalresearch (ngày 5/5)

Hương Trà (gt)

 

Bình luận của Nhân dân Nhật báo: Trong tranh chấp tại đảo Hoàng Nham, đâu là giới hạn cuối cùng của Trung Quốc? Chỉ bằng các biện pháp cứng rắn sẽ dạy cho những kẻ xâm phạm quyền chủ quyền Trung Quốc chơi theo luật và khiến Biển Đông thực sự thành vùng biển hòa bình.

 

 

Trong tranh chấp tại đảo Hoàng Nham, đâu là giới hạn cuối cùng của Trung Quốc và điều này trước hết phụ thuộc vào bản chất của tranh chấp? Các học giả đều ghi nhận rằng chủ quyền của Trung Quốc tại đảo Hoàng Nham có cả căn cứ lịch sử và pháp lý vững chắc. Trung Quốc là nước đầu tiên phát hiện, chiếm đóng và thực hiện quyền tài phán đối với hòn đảo này. Chủ quyền của Trung Quốc đối với đảo này đã được công nhận bởi hệ thống Yalta, vốn được thành lập sau Chiến tranh thế giới thứ 2. Ngược lại, tuyên bố chủ quyền của Philippines đối với đảo Hoàng Nham là hoàn toàn không vững chắc. Philippines tuyên bố chủ quyền đối với một số hòn đảo tại Biển Đông chỉ dựa vào một phần trong Công ước Luật Biển Quốc tế của Liên Hiệp Quốc trong đó xác định vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa.

Tuy nhiên, một số học giả đã lưu ý mặc dầu vùng đặc quyền kinh tế EEZ mở rộng trong khoảng cách 200 hải lý so với đường cơ sở biển theo luật biển ngoại lệ nếu luật này diễn ra khi EEZ xâm lấn hoặc chồng lấn vào lãnh thổ nước khác. Hơn nữa, đáng chú ý là luật biển cũng có hiệu lực pháp lý thấp hơn so với quyền lịch sử và nguyên tắc của luật hiện hành. Không giống như việc mở rộng sức mạnh, bảo vệ quyền chủ quyền liên quan tới nguyên tắc và lợi ích sống còn của một quốc gia và điều này hoàn toàn là tự nhiên khi một quốc gia có chủ quyền bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của mình.

Một số chuyên gia lo ngại rằng quan điểm cứng rắn của Trung Quốc trên biển Đông có thể ảnh hưởng tới sự trỗi dậy hòa bình và phá hoại nền hòa bình tại vùng biển này. Những lo lắng như vậy hoàn toàn không cần thiết bởi hòa bình có thể đạt được bất chấp tính phức tạp của tranh chấp. Câu hỏi duy nhất là: chúng ta muốn loại hòa bình nào? Nếu các nước láng giềng không chơi theo luật hoặc không tỏ đủ sự tôn trọng cần thiết đối với quyền chủ quyền của Trung Quốc thì hòa bình đạt được chỉ là sự hy sinh lợi ích đơn phương của Trung Quốc và hòa bình không công bằng như vậy sẽ không tồn tại lâu. Ngạn ngữ cổ có câu “Hàng rào tốt tạo láng giềng tốt”. Chỉ bằng các biện pháp cứng rắn sẽ dạy cho những kẻ xâm chiếm, xâm phạm quyền chủ quyền Trung Quốc chơi theo luật và khiến Biển Đông thực sự thành vùng biển hòa bình.

Theo Peopledaily (ngày 2/5)

Lê Sơn (gt)

 

Ngôn ngữ

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

         

CHUYÊN ĐỀ ĐẶC BIỆT

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

Đăng nhập



Bản đồ - Hình ảnh

TỔNG QUAN VỀ BIỂN ĐÔNG