19 - 9 - 2019 | 19:28
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home
Tag:Quân sự

Ở phần này bài viết sẽ đi vào phân tích đánh giá những tác nhân đằng sau những thay đổi trong các tiếp cận của Trung Quốc đối với Biển Đông kể từ năm 2007 đến nay. Bài viết đánh giá việc Trung Quốc duy trì chính sách mập mờ về “lợi ích cốt lõi” của mình đối với Biển Đông là để nhằm tránh việc đa phương hóa vấn đề tranh chấp Biển Đông nhằm hạn chế sự can thiệp của quốc tế đặc biệt là Mỹ, và hơn nữa là nhằm tạo điều kiện có lợi cho mình trong việc sử dụng “sức mạnh mềm” trong giải quyết tranh chấp với các nước trong khu vực này.

 

(Phần 1)

Dễ nhìn thấy rằng tuyên bố và hành động của Trung Quốc đối với Biển Đông trong thời gian từ năm 2007 trở lại đây có yếu tố tiếp biến chính sách giai đoạn trước. Sự tiếp biến thể hiện dưới hình thức sử dụng tuyên bố của người phát ngôn Bộ Ngoại giao khẳng định chủ quyền của Trung Quốc trong phạm vi đường lưỡi bò, triển khai các hoạt động thăm dò, chủ trương giải quyết tranh chấp thông qua đàm phán song phương, phản đối quốc tế hóa, trong khi đó chủ động khai thác dầu khí ở Biển Đông, nhưng lại phản đối hành động thăm dò và khai thác của các quốc gia khác trong phạm vi đường đứt khúc chín đoạn, đơn phương áp đặt lệnh cấm bắt cá, ngăn cản và bắt giữ tàu thuyền và ngư dân của các quốc gia khác hoạt động tại vùng biển, tiến hành các hoạt động nhằm củng cố các công trình dân sự và quân sự của Trung Quốc tại các đảo đã chiếm đóng… Các quan chức và học giả Trung Quốc tiếp tục cổ súy, vận động các quốc gia tranh chấp khác ủng hộ chủ trương “gác tranh chấp, cùng khai thác” ở những vùng biển nằm trong phạm vi thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của các bên tranh chấp khác.

Theo Joshua Kurlantzick, trong những năm đầu của thập kỷ vừa qua, Trung Quốc đã ít đả động đến yêu sách về chủ quyền ở Biển Đông, trong khi đẩy mạnh thực hiện cuộc tấn công quyến rũ bằng “sức mạnh mềm”, phát triển mối quan hệ kinh tế, ngoại giao và kể cả an ninh gần gũi với các quốc gia Đông Nam Á. Thế nhưng gần đây, cách tiếp cận “mềm mỏng” đó dường như đã bị bỏ qua.[1] Bên cạnh việc vừa tiếp tục các tranh cãi về chủ quyền, vừa chủ động đàm phán song phương, Bắc Kinh đồng thời đẩy mạnh xây dựng lực lượng hải quân tác chiến, tranh thủ mọi cơ hội biểu dương sức mạnh, phớt lờ việc thực hiện DOC và đẩy mạnh triển khai các biện pháp nhằm kiểm soát thực tế trên các vùng biển mà Trung Quốc yếu sách chủ quyền theo hướng chính thức, khẳng định và thách thức hơn. Hành động của Trung Quốc mang tính chủ động, tự tin hơn, một mặt khoanh vùng và phát huy ảnh hưởng ở Biển Đông, ngăn chặn ảnh hưởng, sự can dự của các nước lớn khác, mặt khác sử dụng “nắm đấm thép bọc nhung” để hăm dọa các bên khác trong tranh chấp. Trung Quốc đã cho cải hoán các tàu quân sự thành tàu tuần tra dân sự, điều một số tàu này đến hoạt động ở Biển Đông.[2] Việc Trung Quốc tăng cường hiện diện trên Biển Đông đồng nghĩa với việc các ngư dân và tàu khảo sát của các nước khác trong khu vực hoạt động ở Biển Đông sẽ đụng độ nhiều hơn với các tàu Trung Quốc lớn hơn và được trang bị tốt hơn, trong đó có tàu Ngư Chính 311 (Yuzheng 311).[3] Thực tế cho thấy, các tàu tuần ngư khổng lồ của Trung Quốc không ngại đụng độ trên biển. Bên cạnh đó, các hoạt động mạnh mẽ và quy mô chưa từng thấy của các lực lượng Hải quân Trung Quốc tại Biển Đông cho thấy Hải quân Trung Quốc luôn sẵn sàng chiến đấu, khiến các quốc gia khác không khỏi e dè.[4]

Điều đáng chú ý là từ năm 2007 đến nay, các bên tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông khác cũng tiếp tục có các động thái củng cố cơ sở hạ tầng, tuyên truyền về yêu sách chủ quyền, đẩy mạnh tuần tra, trinh sát trên biển... Có thể kể đến việc Đài Loan đã hoàn thành công trình đường băng trên đảo Ba Bình, cựu lãnh đạo Đài Loan Trần Thủy Biển ra thăm đảo và nêu “Đề xướng Nam Sa”. Trong năm 2008, Phi-lip-pin từng bước hoàn tất các thủ tục nội bộ để thông qua Dự luật về đường cơ sở mới, và ngày 10/3/2009, Tổng thống nước này ký ban hành Luật đường cơ sở mới của Phi-lip-pin (RA9522) trong đó quy thuộc các đảo thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam vào lãnh thổ Phi-lip-pin. Ma-lai-xi-a khẳng định yêu sách chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa bằng chuyến thăm của Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Quốc phòng (ngày 12/8/2008) và của Thủ tướng nước này (ngày 05/03/2009) đến đảo đá Hoa Lau.

Thực trạng đó đặt ra câu hỏi: Thái độ cứng rắn, hành động tự tin và quyết liệt của Trung Quốc tại Biển Đông từ năm 2007 đến nay là kết quả của (i) việc điều chỉnh chủ động trong chiến lược biển và chính sách của Trung Quốc với tranh chấp tại Biển Đông hay không, hay đó chỉ là (ii) những phản ứng của Trung Quốc đối với động thái của các quốc gia khác trong tranh chấp, hay là (iii) “động thái ném đá dò đường”, phép thử đối với phản ứng của các quốc gia khác, hay chỉ là (iv) hành động vượt quá thẩm quyền, có tính nhất thời của các lực lượng hải quân hoặc tuần duyên của Trung Quốc? Đáng chú ý, trong các cuộc trao đổi gần đây với học giả Việt Nam, học giả Trung Quốc khẳng định chính sách của Trung Quốc đối với các nước láng giềng nói chung và với các tranh chấp ở Biển Đông không hề thay đổi, rằng có sự hiểu nhầm do báo chí phương Tây.

Diễn biến ủng hộ cho lập luận thứ hai là việc Trung Quốc công khai “đường lưỡi bò” để phản đối báo cáo về ranh giới ngoài của thềm lục địa của Việt Nam và Ma-lai-xi-a (2009). Tuy nhiên, khó có thể tìm thấy mối liên hệ nhân quả giữa các hành động khác của các quốc gia khác và sự hung hăng bất thường của Trung Quốc từ cuối năm 2007 đến nay. Khả năng thứ tư vẫn còn để ngỏ bởi Trung Quốc chưa bao giờ công khai quy trình hoạch định chính sách và chính trị nội bộ của họ. Trong phát biểu của mình tại Hội thảo quốc tế lần thứ hai về Biển Đông, học giả Leszek Buszynski bày tỏ lo ngại về sự không minh bạch trong quá trình ra quyết sách trong chính trị nội bộ của Trung Quốc, thế áp đảo của phe quân sự trong nền chính trị ở Bắc Kinh, và ảnh hưởng của chủ nghĩa dân tộc cực đoan.[5] Khả năng thứ ba có thể được loại bỏ vì hành động của Trung Quốc có vẻ ngày càng mạnh mẽ và quyết liệt hơn bất chấp sự phản đối, nghi ngại của cộng đồng quốc tế và các nước trong khu vực.

Xem xét kỹ những hoạt động của Trung Quốc ở Biển Đông từ năm 2007 đến nay cho thấy khả năng thứ nhất (i) hợp lý hơn cả. Lý do đơn giản là các biện pháp mà Trung Quốc triển khai có cường độ mạnh và thái độ quyết liệt “bất bình thường”, có sự phối hợp đồng bộ chặt chẽ của nhiều ngành, nhiều lực lượng, và được đưa tin, phổ biến rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng. Nhiều dấu hiệu cho thấy với sức mạnh kinh tế và quân sự tăng lên nhanh chóng, Trung Quốc đang phấn đấu vươn lên trở thành một cường quốc toàn cầu, trong đó coi Biển Đông vừa là mắt xích quan trọng trong tuyến phòng thủ hải quân chiến lược và nằm trong phạm vi ảnh hưởng sống còn của Trung Quốc, vừa là cửa ngõ chiến lược để đi ra thế giới. Thêm nữa, sự mạnh bạo của Trung Quốc ở Biển Đông diễn ra đồng thời với thái độ và hành động hung hăng của Trung Quốc ở Biển Hoa Đông, mở rộng hoạt động của hải quân Trung Quốc ở biển E-den…

Bằng chứng rõ rệt nhất là giới tinh hoa chính trị của Trung Quốc “đánh tiếng” nâng cấp Biển Đông trở thành khu vực “lợi ích cốt lõi”[6] (hạch tâm quyền lợi) của Trung Quốc.[7] Theo tin tức báo chí quốc tế, Trung Quốc lần đầu tiên coi vấn đề Biển Đông thuộc “lợi ích cốt lõi” trong chuyến thăm Trung Quốc của Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ Steinberge vào tháng 3/2010. Tuy từ đó đến nay, chưa thấy lãnh đạo Trung Quốc có phát biểu công khai nói Biển Đông là “lợi ích cốt lõi” và học giả Trung Quốc tham dự Hội thảo Quốc tế về Biển Đông lần hai cũng khẳng định điều này,[8] nhưng khi báo chí trong và ngoài Trung Quốc rầm rộ đưa tin,[9] các kênh nhà nước của Trung Quốc cũng không có phản đối hay đính chính chính thức. Liệu điều đó có hàm ý rằng giới lãnh đạo và tinh hoa chính trị của Trung Quốc ngầm ủng hộ một quan niệm như vậy?  

Ngụ ý của việc quan chức Trung Quốc mập mờ phổ biến khái niệm lợi ích quốc gia cốt lõi đối với Biển Đông là Bắc Kinh sẽ không cho phép thảo luận hay đặt vấn đề đối với những chính sách của họ và có lẽ sẽ đẩy lùi sự hiện diện của quân đội của các cường quốc khác ở ngoài khơi mạnh hơn bao giờ hết. Trong những năm gần đây, Bắc Kinh cũng đã cảnh báo những công ty dầu lửa của Hoa Kỳ không được tham gia các thỏa thuận thăm dò hỗn hợp ở Biển Đông với Việt Nam. Và cũng có tin là họ đã nói với các quốc gia Đông Nam Á không thảo luận những vấn đề liên quan đến biển Đông với nhau.[10]

Việc Trung Quốc có ý duy trì khái niệm mơ hồ về lợi ích cốt lõi có thể khiến các nước trong tranh chấp lo sợ rằng: (i) có phải Bắc Kinh vừa tạo không gian để áp dụng tiêu chuẩn kép, một mặt đòi các cường quốc khác tuân thủ cái gốc là vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý, mặt khác lại duy trì đòi hỏi phi lý về đường lưỡi bò đối với các nước trong tranh chấp trực tiếp?; (ii) liệu có phải Bắc Kinh tạo tâm lý răn đe dùng vũ lực, ép các nước liên quan chấp nhận giải pháp “gác tranh chấp, cùng khai thác” có lợi cho Trung Quốc.

Không thể phủ nhận Trung Quốc có những lợi ích hữu hình quan trọng ở Biển Đông như: (i) đường biển quan trọng vận chuyển hàng hóa phục vụ phát triển kinh tế: số lượng dầu nhập khẩu chiếm 50% nhu cầu trong nước, trong đó 70% số dầu nhập khẩu này phải vận chuyển qua Biển Đông; (ii) các nguồn tài nguyên biển, trong đó quan trọng nhất là dầu khí và hải sản để phục vụ cho phát triển kinh tế. Tuy nhiên, thái độ và hành động của Trung Quốc ở Biển Đông từ năm 2007 đến nay cho thấy giới chính trị - quân sự Bắc Kinh nhìn nhận Biển Đông chủ yếu ở góc độ địa chính trị và địa chiến lược. Theo đó, Biển Đông là không gian lợi ích sống còn, là cửa ngõ để tiến xuống khu vực Đông Nam Á, và vươn xa hơn trở thành cường quốc đại dương. Một loạt hành động như trên trong thời gian gần đây có thể được hiểu là nỗ lực của Bắc Kinh nhằm đặt toàn bộ Biển Ðông dưới quyền kiểm soát của Trung Quốc, không chỉ để bảo vệ quyền lợi về dầu lửa và tài nguyên biển của họ, mà còn vì lý do chiến lược và quân sự, chẳng hạn như để ngăn chặn bất kỳ hành động can thiệp nào của lực lượng Mỹ trong trường hợp khẩn cấp liên quan đến Đài Loan.[11]

Mong muốn kiểm soát Biển Đông, biến khu vực này trở thành “ao nhà” ngày càng trở nên rõ ràng qua nhiều tuyên bố, biện pháp và hành động mạnh bạo có tính áp đặt và mạnh bạo nhằm khẳng định chủ quyền pháp lý cùng khả năng kiểm soát biển trên thực tế. Tuy nhiên, Biển Đông còn có ý nghĩa là khu vực ảnh hưởng sống còn, và là cửa ngõ chiến lược đầu tiên để Trung Quốc đi ra thế giới. Việc các lực lượng quân sự của Trung Quốc mạnh dạn chặn các tàu của Mỹ, thử phản ứng của Mỹ với đề nghị chia khu vực ảnh hưởng ở Thái Bình Dương, đe dọa và bắt bớ các tàu thuyền của các nước tranh chấp, xây dựng căn cứ tàu ngầm chiến lược ở Tam Á là những minh chứng rõ ràng về quan niệm của giới chính trị và quân sự Bắc Kinh về tầm quan trọng của Biển Đông và tương lai của vùng biển này trong chiến lược cường quốc của Trung Quốc.

Sự điều chỉnh cách tiếp cận của Trung Quốc là nguyên nhân cơ bản khiến quan hệ giữa Trung Quốc và các nước tranh chấp khác trở nên căng thẳng. Sau năm năm ra đời, Tuyên bố về Ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) giữa Trung Quốc và các nước ASEAN không đủ để ngăn tranh chấp Biển Đông ngày càng nóng và trở thành nguy cơ hiện hữu đối với hòa bình, ổn định ở khu vực và tình hữu nghị giữa các quốc gia trong khu vực. Tuy nhiên, rõ ràng là Trung Quốc vẫn chưa đủ sức mạnh chính trị và quân sự để kiểm soát toàn bộ Biển Đông và không muốn căng thẳng biến thành bất ổn, xung đột quân sự. Do đó, lãnh đạo Trung Quốc luôn trấn an các nước trong khu vực và kêu gọi cần phải có hòa bình, ổn định, và hợp tác. Tại buổi họp báo sáng ngày 6/01/2010 ở Hà Nội, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Trung Quốc tại Việt Nam Tôn Quốc Tường nói rằng “chúng ta đã thiết lập cơ chế đàm phán về vấn đề trên biển, thực hiện nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước, thúc đẩy tiến trình đàm phán. Để giải quyết tranh chấp, hai bên cần xuất phát từ đại cục, toàn cục và lợi ích căn bản của nhân dân hai nước, tạm gác lại tranh chấp, không làm ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường, thuận lợi của quan hệ hai nước. Tôi nghĩ đây là cách làm phù hợp nhất”.[12] Thông điệp “giữ đại cục” này cũng được nhắc đi nhắc lại trong nhiều cuộc trao đổi giữa học giả Trung Quốc và Việt Nam, với lập luận Trung Quốc còn phải đối phó với nhiều khó khăn trong nội bộ của nước này, đặc biệt là các vấn đề phát triển và xã hội.

Nghịch lý là, Trung Quốc trước hết sử dụng luận điểm “giữ đại cục” để trấn an các nước vừa và nhỏ trong khu vực, trong khi tiếp tục duy trì sự mập mờ trong chính sách an ninh biển và sử dụng nhiều chiến thuật khác nhau để giành thế chủ động và quyền kiểm soát thực tế ở Biển Đông. Giáo sư Carlyle A. Thayer cho rằng Trung Quốc đang cố tình theo đuổi một chính sách mập mờ có tính toán trong vấn đề này và sẽ trì hoãn việc giải quyết các tuyên bố chủ quyền trái ngược nhau cho đến thời điểm mà Bắc Kinh cảm thấy thích hợp.[13] Thứ hai, đó là chiến thuật “salami”, thực hiện chính sách “lấn dần từng bước”, đảm bảo đạt được sự kiểm soát tình hình, mà không làm cho các bên yêu sách cùng dư luận quốc tế phản ứng thái quá. Bắc Kinh luôn kết hợp cứng và mềm, sẵn sàng đàm phán khi cần thiết, nhưng cũng sẵn sàng vứt bỏ “cam kết” khi cần. Thứ ba, Trung Quốc kiên trì đàm phán song phương, phản đối đa phương hóa và quốc tế hóa. Theo cách đó, Trung Quốc có thể “chia để trị” và luôn duy trì được thế áp đảo đối với đối phương. Ít có khả năng Trung Quốc tham gia các cơ chế an ninh hợp tác, nơi đó Trung Quốc phải chấp nhận vị thế và lợi ích ngang bằng với các quốc gia khác. và yếu hơn mình, tránh được sự nhòm ngó của quốc tế.[14]

Đọc phần tiếp theo “Những điều chỉnh trong chiến lược của Trung Quốc đối với Biển Đông

Đỗ Thanh Hải & Nguyễn Thùy Linh, Chương trình Nghiên cứu Biển Đông

Đề nghị chỉ được dẫn đường link mọi thông tin, bài viết  trên www.nghiencuubiendong.vn, không đăng lại khi chưa có sự đồng ý của Ban Biên tập NCBĐ.



[1] Joshua Kurlantzick, “Avoiding a Tempest in the South China Sea”, Expert Brief, Council on Foreign Relations, September 2, 2010, xem tại: http://www.cfr.org/china/avoiding-tempest-south-china-sea/p22858.

[2] Yuzheng 311, 303 start escort in South China Sea, Sina English, 26 November 2009, xem tại: http://english.sina.com/china/p/2009/1126/288553.html,

[3] Peter Brown, Calculated ambiguity in the South China Sea, Asia Times, 8 December 2009, xem tại: http://www.atimes.com/atimes/Southeast_Asia/KL08Ae01.html

[4] xem thêm: Bước phát triển mới của Hải quân Trung Quốc, BBC Vietnamese, ngày 12/5/2010, xem tại: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2010/05/100512_china_navy_strategy.shtml

[5] Leszek Buszynski, “Rising Tensions in the South China and Implications for Regional Security”, Tham luận tại Hội thảo quốc tế: “Biển Đông: Hợp tác vì An ninh và Phát triển ở khu vực”, tổ chức tháng 11/2010 tại thành phố Hồ Chí Minh.

[6] Một thuật ngữ mà nước này thường dùng trong quá khứ để đề cập đến vấn đề Đài Loan, Tây Tạng, và Tân Cương.

[7] Cary Huang, “A bolder China asserts 'core' interests - but will it act?”, South China Morning Post, August 12, 2010, xem tại: http://www.viet-studies.info/kinhte/china_asserts_core_interest.htm,

[8] GS. Tô Hạo khẳng định tại Hội thảo Quốc tế về Biển Đông tại thành phố Hồ Chí Minh (11/2010): Trung Quốc chưa bao giờ sử dụng thuật ngữ “lợi ích cốt lõi” trong các tài liệu chính thức.

[9] Các báo China Daily, Global Times, và một số tạp chí của Trung Quốc đều có tin bài của học giả Trung Quốc nêu nội dung này. Báo China Daily ngày 30/7/2010 đăng bài của Ai Yang nhấn mạnh “Nam Hải là một trong những lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc. Tạp chí Thế giới Tri thức (thuộc Bộ Ngoại giao Trung Quốc) số ngày 16/8 đăng bài của học giả Trung Quốc khẳng định vào tháng 3 năm 2010, Trung Quốc đã nêu rõ với phía Mỹ rằng Nam Hải liên quan đến “lợi ích cốt lõi” về chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc.

[10] Joshua Kurlandtzick, “Avoiding a Tempeset in the South China Sea”, Expert Brief on Council on Foreign Relations Website, September 2, 2010, retrieved on October 10, 2010 at http://www.cfr.org/publication/22858/avoiding_a_tempest_in_the_south_china_sea.html

[11] Trọng Nghĩa, “Nhìn từ Nhật Bản: Phải buộc Trung Quốc đàm phán đa phương về Biển Đông”, RFI, ngày 11/10/2010, xem tại: http://www.viet.rfi.fr/tong-hop/20100827-nhin-tu-nhat-ban-phai-buoc-trung-quoc-dam-phan-da-phuong-ve-bien-dong.

[12] “Chờ điều kiện chín muồi để giải quyết tranh chấp Biển Đông”, VNN phỏng vấn Đại sứ Trung Quốc Tôn Quốc Tường, xem tại http://www.vietnamnet.vn/chinhtri/201001/Cho-dieu-kien-chin-muoi-giai-quyet-tranh-chap-bien-Dong-888092/ ngày 11/9/2010.

[14] “Trung Quốc chống quốc tế hóa tranh chấp Biển Đông”, RFI, ngày 25/7/2010, xem tại: http://www.viet.rfi.fr/chau-a/20100725-trung-quoc-chong-viec-quoc-te-hoa-tranh-chap-bien-dong, ngày 19/9/2010.

 

Bài viết của hai tác giả Đỗ Thanh Hải & Nguyễn Thùy Linh*, Chương trình Nghiên cứu Biển Đông  đánh giá những thay đổi về chính sách của Trung Quốc đối với tranh chấp Biển Đông từ năm 2007 đến nay, giải mã những căng thẳng ở khu vực Biển Đông nhìn từ khía cạnh chính sách và động thái của Trung Quốc.

 


Tháng 11/2002, tại Phnôm Pênh, các nước ASEAN và Trung Quốc ký kết Tuyên bố về Ứng xử của các bên ở Biển Đông, mở ra hy vọng mới về khả năng quản lý xung đột, thúc đẩy hợp tác, và sự hình thành cơ sở chính trị pháp lý mới nhằm đảm bảo hòa bình và ổn định ở Biển Đông nói riêng và khu vực Đông Nam Á nói chung. Tuyên bố này về cơ bản giúp xoa dịu căng thẳng giữa các quốc gia liên quan sau tranh chấp Vành Khăn, góp phần ổn định tình hình Biển Đông trong suốt bốn năm sau đó. Tuy nhiên, kể từ giữa năm 2007 đến nay, tranh chấp ở Biển Đông trở nên căng thẳng và nóng bỏng hơn với một số va chạm xảy ra liên quan đến xác lập và bảo vệ chủ quyền, khai thác và bảo tồn tài nguyên biển cùng những tranh cãi gay gắt trên các diễn đàn ngoại giao khu vực. Đỉnh cao là việc vấn đề Biển Đông được đưa ra tại Hội nghị ARF 17 (Hà Nội), trong đó 11 trong tổng số 28 nước tham dự hội nghị thể hiện quan ngại về những diễn biến mới ở Biển Đông, đặc biệt là thái độ cứng rắn và hành động quyết liệt từ phía Trung Quốc. Việc tranh chấp Biển Đông được đưa ra thảo luận tại ARF là một sự kiện mang tính lịch sử của Diễn đàn này.

Là quốc gia mạnh nhất trong số các bên tranh chấp, hành vi của Trung Quốc là yếu tố quan trọng nhất, quyết định “nhiệt độ” của tranh chấp này, và từ giai đoạn 2007-2008 các động thái của Trung Quốc trở nên cứng rắn hơn. Vậy Trung Quốc đã có những điều chỉnh gì trong việc giải quyết tranh chấp Biển Đông thời gian vừa qua và liệu đó có phải là nguyên nhân chính tạo ra những căng thẳng ở vùng biển này? Hành động của Trung Quốc bắt nguồn từ những thay đổi trong tư duy chiến lược và chính sách hay chỉ là những phản ứng nhất thời đối với hành động của các quốc gia khác và những chuyển biến trong môi trường chiến lược? Các quốc gia khác nhìn nhận và phản ứng thế nào với hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông trong thời gian vừa qua? Bài viết này sẽ tìm cách giải mã những căng thẳng ở khu vực Biển Đông nhìn từ khía cạnh chính sách và động thái của Trung Quốc.

Nhìn lại hành động của Trung Quốc tại Biển Đông từ năm 2007 đến nay

 

Từ đầu năm 2007 đến giữa năm 2010, Trung Quốc triển khai nhiều biện pháp để củng cố cơ sở pháp lý của các yêu sách và đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền về chủ quyền ở Biển Đông, phê phán hành vi của các quốc gia khác cùng với việc nhấn mạnh thái độ kiềm chế và hành vi tự vệ của Trung Quốc. Tiếp theo Luật Lãnh hải và Vùng tiếp giáp (1992),[1] Luật về Vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa (1998),[2] Trung Quốc đi thêm một bước nhằm thiết lập cơ quan quản lý hành chính đối với các quần đảo tranh chấp. Ngày 3/7/2007, Quốc Vụ Viện Trung Quốc phê chuẩn việc thành lập thành phố hành chính cấp huyện Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam để trực tiếp quản lý ba quần đảo: Hoàng Sa, Trung Sa và Trường Sa (Trung Quốc gọi là Tây Sa, Trung Sa và Nam Sa).[3] Hành động này dẫn đến nhiều cuộc biểu tình phản đối chống Trung Quốc ở Việt Nam. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng thông qua hàng loạt văn bản pháp lý nhằm kiện toàn bộ máy nhà nước quản lý về biển, hải đảo như Cương yếu phát triển hải dương với Tầm nhìn 2020 (tháng 6/2010), Kế hoạch xây dựng khu kinh tế Quảng Tây, Chương trình hỗ trợ công dân sử dụng các đảo không người nhằm vào Trường Sa và Hoàng Sa).

Trên thực địa, trong các nỗ lực nhằm khẳng định chủ quyền và quyền kiểm soát, Trung Quốc liên tục ngăn cản các hoạt động khai thác tài nguyên của các nước khác bất chấp các hoạt động đó nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của họ.

Thứ nhất, Trung Quốc tăng cường sức ép, buộc các công ty nước ngoài rút khỏi các dự án thăm dò và khai thác dầu khí mặc dù các dự án đó nằm trong vùng nước thuộc phạm vi quyền chủ quyền của Việt Nam. Từ giữa năm 2007, Trung Quốc đã nhiều lần phản đối và gây sức ép về dự án xây dựng đường ống khí đốt do tập đoàn BP của Anh thực hiện. Tháng 6/2007, trước áp lực của Trung Quốc, BP đã phải quyết định ngừng một dự án thăm dò dầu khí trong vùng biển có tranh chấp ngoài khơi Việt Nam (lô 5.2 nằm giữa Việt Nam và quần đảo Trường Sa, cách bờ biển Việt Nam khoảng 370 km).[4] Tháng 7/2008, giới ngoại giao Trung Quốc tại Mỹ liên tiếp phản đối Exxon Mobil và công khai đe dọa trả đũa công việc kinh doanh của công ty này ở Trung Quốc đại lục nếu công ty hợp tác với Petro Vietnam trong các dự án thăm dò và khai thác dầu khí ở khu vực ngoài khơi miền Trung và miền Nam Việt Nam.[5] Trong khi đó, ngày 24/11/2008, theo hãng tin Bloomberg, Tập đoàn dầu khí quốc gia Trung Quốc (CNOOC) công bố dự án 30 tỷ USD để khoan tìm dầu khí trong các khu vực nước sâu ở Biển Đông. Từ cuối tháng 5/2010 đến nay, Trung Quốc đã sử dụng tàu khảo sát M/V Western Spirit cùng nhiều tàu bảo vệ tiến hành khảo sát địa chấn tại khu vực đảo Tri Tôn, quần đảo Hoàng Sa và tại các lô dầu khí 141, 142 và 143 trên thềm lục địa Việt Nam, cách đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi khoảng 90-116 hải lý. Trung Quốc còn tiến hành san lấp, mở rộng đảo Tri Tôn với mục đích xây dựng công trình trên đảo này.[6]

Thứ hai, Trung Quốc tiếp tục đơn phương áp đặt các lệnh cấm đánh bắt cá ở Biển Đông vào mùa đánh bắt cao điểm. Trong năm 2009 và 2010, Trung Quốc công bố lệnh cấm đánh bắt trong ba tháng, từ giữa tháng Năm đến giữa tháng Tám, mùa đánh bắt cao điểm của ngư dân Việt Nam. Trong một sự vụ nghiêm trọng, tàu hải quân Trung Quốc ngày 9/7/2007 đã nã súng vào một số thuyền đánh cá của ngư dân Việt Nam trong vùng biển gần Trường Sa, cách Thành phố Hồ Chí Minh 350km. Trong nhiều trường hợp, tàu ngư chính và tuần duyên của Trung Quốc cố tình va chạm trực tiếp làm chìm các tàu cá của ngư dân Việt Nam, bắt giữ và đòi tiền chuộc nhiều tàu cá của Việt Nam.[7] Trong một số sự vụ khác, các lực lượng của Trung Quốc đã bắt giữ các tàu cá và ngư dân vào tránh bão trong quần đảo Hoàng Sa, bắt họ ký vào các biên bản thừa nhận vi phạm chủ quyền của Trung Quốc và buộc gia đình họ phải nộp tiền phạt.[8] Ngư dân Phi-lip-pin và Ma-lai-xi-a cũng chịu chung các tình cảnh tương tự.[9]

Mặc dù lệnh cấm đánh bắt cá được Trung Quốc đơn phương áp đặt từ năm 1999, nhưng từ năm 2007 đến nay hành động của Trung Quốc mang tính hăm dọa quyết liệt hơn với thời gian cấm biển ngày một dài hơn,các hoạt động tuần tra, bắt giữ và cản phá ngư dân của các nước liên quan với quy mô lớn hơn, thường xuyên hơn và mạnh bạo hơn. Gary Li, một chuyên gia về Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Hoa (PLA) cho rằng lệnh cấm đánh bắt cá của Trung Quốc thực sự nhằm tạo ra quyền cai quản trên thực tế [de facto jurisdiction], và tiền lệ lịch sử nhằm khẳng định chủ quyền.[10]

Quan chức Trung Quốc tuyên bố mục đích của lệnh cấm đánh bắt cá là nhằm bảo vệ nguồn cá, ngăn chặn đánh bắt cá trái phép và bảo vệ ngư dân Trung Quốc. Tuy nhiên, có ba điểm đáng chú ý trong lệnh cấm đánh bắt hàng năm của Trung Quốc. Một là, lệnh cấm của Trung Quốc có hiệu lực trong phạm vi một vùng biển lớn nằm trong đường đứt khúc chín đoạn mà các nước khác bác bỏ, bao gồm cả những ngư trường truyền thống của ngư dân Việt Nam và các nước khác. Hai là, thời gian của các lệnh cấm đánh bắt cá ngày càng được kéo dài một cách tùy tiện và vô lý, không tham khảo ý kiến và không có được sự đồng thuận từ các quốc gia khác. Ba là, Trung Quốc sử dụng các loại chiến hạm cải tiến thành các tàu tuần ngư quy mô lớn, không ngại va chạm để xua đuổi, hăm dọa ngư dân các nước. Lyle Goldstein, một nhà nghiên cứu của Trường Chiến tranh Hải quân Hoa Kỳ, chỉ ra đó là cách Trung Quốc sử dụng các tàu dân sự để phát huy sức mạnh mềm, nhưng cũng nhằm củng cố các yêu sách về lãnh thổ biển rộng lớn của Trung Quốc. Giáo sư Carlyle A. Thayer thì cho rằng “việc sử dụng các tàu tuần ngư là một chiến thuật tuyệt vời bởi chúng không phải là tàu chiến, chúng được sơn với màu trắng chứ không phải màu xám, nhưng chắc chắn, chúng được trang bị tận răng”.[11] Vấn đề ở đây là những hành động như vậy hoàn toàn đi ngược lại những cam kết của Trung Quốc được ghi trong Tuyên bố về Ứng xử ở Biển Đông năm 2002.

Thứ ba, không chỉ hăm dọa, xua đuổi và bắt bớ tàu bè của các quốc gia khác, Trung Quốc còn công khai xác định phạm vi ảnh hưởng. Đô đốc Timothy Keating, chỉ huy trưởng Hải quân Mỹ tại Thái Bình Dương, trong cuộc họp báo ngày 18/12/2008 tại Washington, đã đề cập đến ý định của Trung Quốc chia Thái Bình Dương làm hai, theo đó, Hải quân Hoa Kỳ sẽ giới hạn sự hiện diện của mình về phía Đông Hawaii và Hải quân Trung Quốc sẽ kiểm soát từ phía Tây đảo Haiwaii.[12] Tháng 3/2009, một số tàu của Trung Quốc đã đụng độ với tàu khảo sát Impeccable của Hải quân Mỹ tại vùng biển cách đảo Hải Nam 75 dặm. Trong tháng 6/2009, một tàu ngầm của Trung Quốc đã va chạm với thiết bị định vị kéo theo sau tàu khu trục Hải quân Mỹ. Phản ứng của Mỹ tỏ ra khá ôn hòa khi tuyên bố vụ va chạm là do vô ý. Nhưng phía Trung Quốc lại phản ứng mạnh mẽ. Phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao Trung Quốc tuyên bố sau sự kiện tàu Impeccable rằng các tàu Mỹ cần phải xin phép trước khi đi vào Vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc.

Ngày 26/8/2010, ngay sau chuyến thăm Trung Quốc của Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam, chính quyền Trung Quốc thông báo họ đã sử dụng tàu lặn nhỏ có người lái cắm cờ tại đáy Biển Đông ở độ sâu 3.759m.[13] Dù phía Trung Quốc không nói rõ vị trí cắm cờ của tàu ở đâu và nó có vào vùng biển tranh chấp hay không, hành động mập mờ đó của Trung Quốc dường như ngụ ý biểu dương sự tiến bộ của Hải quân Trung Quốc, đồng thời khẳng định chủ quyền của Trung Quốc ở vùng biển. Các nước liên quan không thể không nghi ngại của về động thái đó của Trung Quốc.

Thứ tư, để hỗ trợ các hoạt động kiểm soát trên thực tế và tạo dựng tiền đề cho việc khống chế Biển Đông trong tương lai, Trung Quốc ra sức hiện đại hóa lực lượng hải quân và không quân, củng cố và phát triển các căn cứ, cơ sở quân sự và dân sự ở vùng duyên hải và ở nhiều vị trí trong quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Năm 2008, một vệ tinh thương mại phát hiện Trung Quốc xây dựng một căn cứ hải quân ở Tam Á trên đảo Hải Nam. Trong số ra ngày 15/04/2008, tạp chí Jane's Intelligence Review của Anh đã phân tích các tấm ảnh vệ tinh nói trên trong bài viết mang tựa đề “Tiết lộ bí mật về Tam Á, căn cứ hải quân nguyên tử mới của Trung Quốc”. Theo chuyên gia phân tích Richard D. Fisher Junior, tác giả bài báo, thì Tam Á là một căn cứ quan trọng có thể dùng cho loại tàu ngầm nguyên tử 094 thuộc thế hệ mới của Trung Quốc, có khả năng mang tên lửa đạn đạo có đầu đạn hạt nhân. Tháng 12/2007, Hải quân Trung Quốc đã đưa chiếc tàu ngầm nguyên tử 094 đầu tiên của họ về căn cứ này. Hàng không mẫu hạm hay các loại tàu khác có khả năng tung lực lượng tác chiến đi xa cũng có thể đặt bản doanh tại Tam Á.[14]

Theo giáo sư Carlyle A. Thayer, tương quan lực lượng quân sự ở vùng Biển Đông và Thái Bình Dương có khả năng thay đổi một khi công trình được Bắc Kinh hoàn tất. Với căn cứ này, Trung Quốc tăng cường sức mạnh để thực thi các tuyên bố chủ quyền của họ ở Biển Đông, bảo vệ các tuyến hàng hải trọng yếu qua eo biển Ma-lắc-ca và phát triển các khả năng hậu cần cho lực lượng hải quân triển khai ở Biển Đông. Cùng lúc đó, Trung Quốc cũng mở rộng sân bay ở đảo Phú Lâm trong quần đảo Hoàng Sa, củng cố căn cứ quân sự ở Bãi Chữ Thập trong quần đảo Trường Sa với hệ thống ra-đa cảnh báo sớm, duy trì sự hiện diện liên tục tại Bãi đá ngầm Vành Khăn ngoài khơi bờ biển phía Tây của Phi-lip-pin.[15] Cũng cần phải nói thêm, không chỉ có Trung Quốc, các quốc gia khác trong tranh chấp cũng có các hành động củng cố sự chiếm giữ của họ.

Điều đáng nói hơn, khi căn cứ hải quân Tam Á hoàn tất, cục diện chiến lược sẽ có những chuyển biến quan trọng vì cơ sở này sẽ cho phép quân đội Trung Quốc vươn xuống Biển Đông và vươn ra Thái Bình Dương. Một phần căn cứ xây ngầm dưới lòng đất gây khó khăn cho việc theo dõi. Tàu ngầm nguyên tử Trung Quốc sẽ có điều kiện tuần tra và tấn công từ những vị trí khó phát hiện sâu dưới lòng biển ngoài khơi Hải Nam nếu Bắc Kinh phát triển được năng lực tác chiến cần thiết. Hiện thời, người ta chưa rõ là bao nhiêu trong số năm chiếc tàu ngầm nguyên tử của Trung Quốc sẽ đặt bản doanh tại Tam Á. Các hoạt động xây dựng hiện nay chứng tỏ rằng Tam Á sẽ trở thành một căn cứ quân sự trọng yếu với nhiều tác động trên cán cân lực lượng trong khu vực. Trung Quốc có thể lưu trữ tại đấy một phần đáng kể các loại tên lửa răn đe hạt nhân phóng đi từ tàu ngầm.[16]

Cùng với căn cứ tàu ngầm ở Tam Á, Trung Quốc cũng thiết lập một căn cứ tên lửa ở Quảng Đông, nơi đơn vị 96166 thuộc Lực lượng Hỏa tiễn thứ hai của Quân đội Giải phóng nhân dân Trung Hoa (PLA) đóng quân. Các chuyên gia quân sự cho rằng căn cứ này sẽ được trang bị tên lửa đạn đạo DF-21C hoặc tên lửa tầm xa CJ-10. Cả hai loại này đều có khả năng tấn công chính xác các mục tiêu trong phạm vi 2000 km, bao trùm cả khu vực Đài Loan cũng như quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.[17]

Trên mặt trận ngoại giao, Trung Quốc tiếp tục phản đối yêu sách của các quốc gia khác cùng với các nỗ lực nhằm đa phương hóa và quốc tế hóa tranh chấp. Ủy ban Ranh giới thềm lục địa của Liên Hợp Quốc (UNCLOS) quy định ngày 13/5/2009 là hạn chót để các nước đăng ký đường ranh giới ngoài của thềm lục địa. Ngày 6/5/2009, Ma-lai-xi-a và Việt Nam nộp bản đề xuất chung và ngay ngày hôm sau, Việt Nam nộp một tuyên bố riêng.[18] Ngay lập tức, Trung Quốc phản đối nhưng không nộp văn bản công khai. Theo quy định của Ủy ban Ranh giới thì những yêu cầu bị phản đối sẽ không thể được xem xét. Trung Quốc đã tư liệu hóa những yêu sách biển của mình bằng việc đính kèm một bản đồ vẽ “đường đứt khúc chín đoạn” (hay đường lưỡi bò) tạo thành một chữ U bao vây toàn bộ Biển Đông. Đây là lần đầu tiên Trung Quốc công khai yêu sách này và điều đáng nói là không có một bản đồ nào được đính kèm với những tuyên bố quan trọng như Tuyên bố về Lãnh hải (1958), Tuyên bố về Lãnh hải và tiếp giáp lãnh hải (1992), Tuyên bố về Đường cơ sở để xác định lãnh hải, và Luật về Vùng đặc quyền kinh tế và Thềm lục địa (1998) của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.[19]

Trung Quốc tiếp tục kiên định lập trường giải quyết tranh chấp với từng nước ASEAN và không muốn các nước chia sẻ thông tin về các cuộc đàm phán liên quan tới Biển Đông giữa từng nước với Trung Quốc.[20] Trung Quốc đã sử dụng khái niệm “quyền lợi cốt lõi” liên quan đến chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ của họ khi đề cập đến Đài Loan và Tây Tạng. Trong cuộc đối thoại chiến lược giữa hai nước, quan chức Bắc Kinh tuyên bố với quan chức Mỹ rằng họ coi Biển Đông thuộc phạm vi “lợi ích cốt lõi” của họ, một động thái càng làm tăng những mối lo ngại về động cơ của Trung Quốc sau những diễn biến gần đây nhất.

Tại Hội nghị ARF Hà Nội tháng 7/2010, dường như bất ngờ trước việc Ngoại trưởng Mỹ Clinton tuyên bố Mỹ có lợi ích thiết thực ở Biển Đông,[21] Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì đã có những lời lẽ mạnh mẽ nhằm phản đối sự can dự của các cường quốc bên ngoài và cho rằng đối thoại song phương là phương thức hiệu quả duy nhất để giải quyết tranh chấp. Sau diễn đàn ARF 17 tại Hà Nội, trong một thông cáo đăng trên mạng của Bộ Ngoại giao Trung Quốc ngày 26/7, Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì nói: “Nếu Biển Đông trở thành một vấn đề quốc tế hoặc đa phương, sẽ chỉ khiến cho vấn đề này trở nên tồi tệ hơn và giải pháp sẽ khó khăn hơn... Thực tiễn quốc tế cho thấy cách tốt nhất để giải quyết các bất đồng, tranh chấp đó là các bên liên quan đàm phán song phương trực tiếp”. Bên cạnh đó, báo chí Trung Quốc có một chiến dịch phê phán mạnh mẽ Việt Nam và Mỹ “thông đồng” với mục tiêu quốc tế hóa tranh chấp Biển Đông. Thậm chí, nhiều tờ báo còn cho rằng Việt Nam tìm cách liên minh với Mỹ để hạn chế ảnh hưởng của Trung Quốc.[22] Theo giới phân tích, thái độ sẵn sàng can dự của Hoa Kỳ, kèm theo với chủ trương quốc tế hóa và đa phương hóa hồ sơ Biển Đông đã đi ngược lại với chủ trương muốn giải quyết vấn đề trên cơ sở song phương của Trung Quốc nhằm dễ bề gây sức ép lên các nước nhỏ và yếu hơn mình, tránh được sự nhòm ngó của quốc tế.[23]

Đọc phần tiếp theoĐằng sau những thay đổi trong cách tiếp cận của Trung Quốc đối với Biển Đông

 

 

Đỗ Thanh Hải & Nguyễn Thùy Linh,  Chương trình Nghiên cứu Biển Đông

 

Đề nghị chỉ được dẫn đường link mọi thông tin, bài viết  trên www.nghiencuubiendong.vn, không đăng lại khi chưa có sự đồng ý của Ban Biên tập NCBĐ.

 



* Mọi quan điểm nêu trong bài viết là của riêng các tác giả.

[1] Luật này quy định lãnh hải rộng 12 hải lý, áp dụng cho cả bốn quần đảo ở Biển Đông trong đó có quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa).

[2] Luật này một lần nữa chính thức thể hiện quan điểm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đều có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng mà họ thường gọi là “vùng nước phụ cận”.

[3] “Việt Nam lên tiếng về Trường Sa”, BBC Tiếng Việt, ngày 07/12/2007, tại địa chỉ http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2007/12/071203_viet_china_spratlys.shtml

[4] “BP ngừng thăm dò ở Trường Sa”, BBC Tiếng Việt, ngày 14/06/2007, tại địa chỉ http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2007/06/070614_bp_china.shtml

[5] Greg Torode, “Tussle for Oil in the South China Sea”, South China Morning Post, 20 July 2008.

[6] “Yêu cầu Trung Quốc chấm dứt khảo sát đảo Tri Tôn”, Báo Công an Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 05/08/2010, xem tại:  http://www.congan.com.vn/?mod=detnews&catid=681&id=127115.

[7] “Hanoi protests China fishing ban”, BBC, June 8, 2009, xem tại: http://news.bbc.co.uk/2/hi/asia-pacific/8089654.stm; “Controversial Chinese Ban affects more Vietnamese Fishing Vessels”, Thanh Nien News 5/6/2009, “Fishmen Intimidated and Harrassed by Chinese Patrol Boats”, Thanh Nien News, 8/6/2009.

[8] Xem: “Phản đối Trung Quốc bắt giữ ngư dân Việt Nam”, Tuổi trẻ, 15/12/2009, tại http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/353329/Phan-doi-Trung-Quoc-bat-giu-ngu-dan-VN.html, “Trung Quốc lại bắt giữ ngư dân Việt Nam”, BBC Việt ngữ, ngày 28/3/2010, xem tại: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2010/03/100328_viet_fishermen.shtml, và “Ngư dân Việt Nam lại bị Trung Quốc bắt giữ”, Vnexpress, ngày 7/5/2010, xem tại:

http://vnexpress.net/GL/Xa-hoi/2010/05/3BA1B97A/

[9] Greg Torode, “China ban on fishing as tension runs high”, South China Morning Post, 16/5/2010, xem tại: http://www.viet-studies.info/kinhte/china_ban_on_fishing_SCMP.htm

[10] Greg Torode, tlđd.

[11] Greg Torode, tlđd.

[12] Linh Huơng, “Hải quân Trung Quốc và dự tính chia đôi Thái Bình Dương”, Tuần Vietnamnet, ngày 28/2/2009, xem tại:

http://www.tuanvietnam.net/hai-quan-trung-quoc-va-du-tinh-chia-doi-thai-binh-duong.

[13] “Trung Quốc cắm cờ ở dưới đáy Biển Đông”, Thanh Niên, ngày 28/8/2010, xem tại:

http://www.thanhnien.com.vn/News/Pages/201035/20100828003929.aspx, ngày 11/10/2010.

[14] “Căn cứ hải quân Tam Á: Chủ bài trong chiến lược khống chế biển Đông”, RFI, ngày 15/09/2008, xem tại: http://www.rfi.fr/actuvi/articles/101/article_34.asp, xem ngày 1/9/2010.

[15] Carlyle A. Thayer, “The United States and Chinese Assertiveness in the South China Sea”, Security Challenge, Vol. 6, No. 2, 2010, tr. 73.

[16] “Căn cứ hải quân Tam Á: Chủ bài trong chiến lược khống chế biển Đông”, RFI, 15/09/2008, xem tại:  http://www.rfi.fr/actuvi/articles/101/article_34.asp, xem ngày 1/9/2010.

[17] Minnie Chan and Greg Torode, “PLA opens Guangdong missile base; South China Sea in range”, South China Morning Post, August 7, 2010 Saturday, xem tại: http://www.viet-studies.info/kinhte/pla_opens_guangdong_missile_base.htm.

[19] Carlyle A.Thayer, “Những diễn biến gần đây ở Biển Đông : Hệ lụy đối với hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực” trong Đặng Đình Quý (Chủ biên), Biển Đông : Hợp tác vì An ninh và Phát triển trong Khu vực, Nxb. Thế Giới, Hà Nội, 2010, tr. 160.

[20] “Foreign Minister warns South China Sea issue”,

http://www.chinadaily.com.cn/china/2010-07/26/content_11046544.htm, xem ngày 10/9/2010.

[21] Ngày 23/7/2010, tại Diễn đàn An ninh Khu vực ARF tại Hà Nội, Ngoại trưởng Mỹ H. Clinton đã tuyên bố rằng “Lợi ích quốc gia của Mỹ bao hàm quyền tự do hàng hải, quyền tiếp cận các vùng biển chung của châu Á, và sự tôn trọng luật lệ quốc tế tại khu vực Biển Đông”.  Lo ngại về tác hại của các tranh chấp chủ quyền lãnh thổ giữa 6 quốc gia và vùng lãnh thổ trong khu vực là Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan, Brunei, Ma-lai-xi-a và Phi-lip-pin, Ngoại trưởng Mỹ xác định việc giải quyết tranh chấp Biển Đông là một “ưu tiên ngoại giao hàng đầu của Hoa Kỳ”.

[22] “Giới phân tích Bắc Kinh coi tập trận Mỹ-Việt là chống lại Trung Quốc”, RFI, ngày 12/8/2010, xem tại: http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20100812-gioi-phan-tich-bac-kinh-coi-tap-tran-my-viet-la-chong-lai-trung-quoc, ngày 19/9/2010.

[23] “Trung Quốc chống quốc tế hóa tranh chấp Biển Đông”, RFI, ngày 25/7/2010, xem tại: http://www.viet.rfi.fr/chau-a/20100725-trung-quoc-chong-viec-quoc-te-hoa-tranh-chap-bien-dong, ngày 19/9/2010.


 

Đề cập đến mối quan hệ nước lớn - nước nhỏ trong quan hệ quốc tế, PGS.TS Nguyên Vũ Tùng cho rằng "Đối với nước nhỏ, quan hệ với nước lớn chung biên giới luôn là một mối quan hệ khó khăn". Bài nghiên cứu nêu lên nguồn gốc của những khó khăn trong mối quan hệ này, từ đó đưa ra một số khuyến nghị về chính sách đối ngoại của các nước nhỏ đối với nước lớn láng giềng.

 

 

Đối với nước nhỏ, quan hệ với nước lớn chung biên giới luôn là một mối quan hệ khó khăn. Các khó khăn này có những nguồn gốc từ (i) sự chênh lệch rõ rệt về tầm vóc - vốn là kết quả của cả một quá trình lịch sử phát triển lâu dài liên quan tới các mặt kinh tế, văn hoá, xã hội, quân sự, chính trị, ngoại giao… dẫn đến (ii) quan niệm về bản sắc nước lớn - nước nhỏ và từ đó đưa ra những đặc thù về hành vi nước lớn - nước nhỏ, theo đó nước lớn thường có tâm lý “đại quốc” và do vậy có hành vi coi thường, chèn ép “tiểu quốc”. Trong tất cả các cặp quan hệ nước lớn - nước nhỏ, có hai yếu tố song hành tạo nên sự khó khăn trong quan hệ nước lớn - nước nhỏ: Sự vượt trội về tầm vóc của một nước thường đi cùng với tâm lý và hành vi nước lớn của nước đó so với các nước khác. Nga (cũng như Liên Xô trước kia), Mỹ, Nhật, Trung Quốc luôn thường trực tâm lý mình là nước lớn và từ đó có hành vi nước lớn thể hiện qua cách xác định lợi ích và cách thức đạt tới lợi ích của mình trong mối giao tiếp với các nước khác. Bài viết này tập trung phân tích (i) vai trò của yếu tố địa lý trong mối quan hệ phức tạp này, và (ii) tìm hiểu và đánh giá một số chiến lược ứng phó của nước nhỏ đối với nước lớn láng giềng.

 

Bài đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số 2 (81, 6/2010: 169-183), Học viện Ngoại giao

 

Đọc toàn bộ bài nghiên cứu của của tác giả tại đây

 

 

"Nếu như bất kỳ nước nào hay tổ chức nào vi phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc, quân đội có quyền "bắn phát súng đầu tiên". Điều này nghĩa là cho phép quân đội Trung Quốc tiến hành đòn đánh phủ đầu ở cấp độ chiến thuật! Sau đây là toàn bộ nội dung bài viết:

 


Chiến tranh nhân dân không phải là một học thuyết "tĩnh" hay "đã chết". Khi Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) tiến hành hiện đại hóa thông qua các tiến trình cơ giới hóa và thông tin hóa, "Trung Quốc đã cố gắng tiến hành các đổi mới về nội dung và hình thức của chiến tranh nhân dân" (Sách Trắng Quốc phòng năm 2008 của Trung Quốc). Trái với nhận thức cho rằng chiến tranh nhân dân phụ thuộc vào 'súng trường và hạt kê' và với số lượng áp đảo (ví dụ các cuộc tấn công dùng biển người), với trọng tâm là chiến tranh du kích và cuộc chiến trường kỳ, theo Khoa học Chiến lược Quân sự, chiến tranh nhân dân là "một hình thức tổ chức chiến tranh, và vai trò của nó không có gì liên quan đến mức độ công nghệ quân sự". Để bù lại một phần cho điểm yếu về công nghệ, việc huy động nhân dân là chìa khóa để ủng hộ các nỗ lực chiến tranh của đất nước với các phương tiện chính trị, kinh tế, kỹ thuật, văn hóa và đạo đức. Cuộc họp thường niên mới kết thúc gần đây của Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc (Quốc hội Trung Quốc) đã ký Luật huy động phòng thủ quốc gia, đạo luật đưa ra các cơ sở pháp lý cho việc kết hợp các nguồn lực dân sự vào các hoạt động quân sự khi mà "chủ quyền, sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ hay an ninh của dân tộc bị đe dọa". Luật này đã đề ra các nguyên tắc và cơ chế tổ chức đối với việc huy động phòng thủ quốc gia, dự trữ nhân sự và tài sản chiến lược, và sẽ bắt đầu có hiệu lực vào ngày 1/7/2010. Văn bản của bộ luật này đã được phổ biến một cách rộng rãi bằng tiếng Trung Quốc trên mạng Internet. Việc thông qua luật huy động phòng thủ quốc gia đã nhấn mạnh đến sự tiếp tục gắn kết của hình thức chiến tranh nhân dân trong tư duy chiến lược của Trung Quốc. Để hiểu rõ được các lực lượng vũ trang của Trung Quốc chiến đấu như thế nào trong các cuộc chiến tranh cục bộ với các điều kiện thông tin hóa, cần phải xem xét khái niệm chiến tranh nhân dân trong các điều kiện hiện đại ngày nay.

 

 Chiến tranh nhân dân

Từ năm 1998 đến nay, tất cả các Sách Trắng Quốc phòng của Trung Quốc đều tuyên bố rằng PLA tuân thủ "khái niệm chiến lược" của chiến tranh nhân dân như là một phần của "chiến lược quân sự" phòng thủ chủ động. Thậm chí sau khi một học thuyết cập nhật về tác chiến trong chiến tranh được đưa ra vào năm 1999, chiến tranh nhân dân vẫn là nguyên lý trong tư duy quân sự của Trung Quốc. Khái niệm này càng được nêu bật trong các tác phẩm như Kiến thức Chiến dịch và Kiến thức Chiến lược Quân sự, trong đó chiến tranh nhân dân được miêu tả như là "một chiến lược cơ bản...để giành chiến thắng trong cuộc chiến tranh hiện đại". Về bản chất, chiến tranh nhân dân là một chiến lược nhằm tối đa hóa sức mạnh của Trung Quốc (quy mô và con người) để bảo vệ lục địa khỏi các cuộc tấn công của kẻ thù trong nước và nước ngoài. Trong nhiều thập kỷ, chiến lược quân sự của Trung Quốc tập trung vào việc phòng thủ lục địa. Vào giữa những năm 1980, PLA bắt đầu đẩy mạnh phạm vi phòng thủ ra bên ngoài và thông qua "chiến lược phòng thủ ngoài khơi". Mặc dù không có khoảng cách cụ thể nào được xác định trong những tài liệu chính thức, "phòng thủ ngoài khơi" thường chồng lấn với các cuộc thảo luận về việc bảo vệ các vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc (EEZ) ra xa 200 hải lý. Trong một sự tiết lộ đáng chú ý, Sách trắng Quốc phòng năm 2006 tuyên bố: "Hải quân Trung Quốc... đang xem xét chiến lược và các chiến thuật của chiến tranh nhân dân trên biển trong các điều kiện hiện đại". Chỉ vài tuần sau một loạt vụ đụng độ trên biển giữa các tàu dân sự và quân sự của Trung Quốc với các tàu thăm dò USNS Impeccable và Victorious của Mỹ vào mùa Xuân năm 2009, mà được coi là một ví dụ về hình thức chiến tranh nhân dân trên biển, hãng thông tấn chính thức của Trung Quốc Tân Hoa Xã nói rằng: "Trung Quốc sẽ không xây dựng một lực lượng hải quân tấn công tuần tiễu khắp toàn cầu, mà chỉ tập trung vào khu vực ngoài khơi của nước này. Thậm chí nếu như hải quân được hiện đại hóa trong tương lai, bản chất phòng thủ của chiến lược hải quân cũng sẽ không thay đổi". Các giới hạn địa lý được đề ra bởi các tuyên bố truyền thống về chủ quyền Trung Quốc: "nhằm bảo vệ chủ quyền và lãnh thổ của Trung Quốc, đảm bảo các lợi ích và quyền hàng hải, hải quân quyết định đề ra phạm vi phòng thủ là Hoàng Hải, Đông Hải (Hoa Đông) và Nam Hải (Biển Đông). Phạm vi này sẽ bao phủ vùng lãnh thổ trên biển cần phải được quản lý bởi Trung Quốc, theo như Công ước Liên hiệp quốc về Luật Biển.



Phòng thủ chiến lược, nhưng tấn công là quyết định

Mặc dù chiến tranh nhân dân bắt đầu từ một vị thế phòng thủ chiến lược, các nhà hoạch định quân sự của Trung Quốc hiểu rõ bản chất quyết định của cuộc tấn công. Học thuyết của Trung Quốc tìm cách nắm thế chủ động và tiến hành tấn công sau khi kẻ thù tấn công trước. Tuy nhiên, học thuyết này cũng cho phép Trung Quốc tiến hành đòn đánh phủ đầu ở cấp độ chiến thuật: "Nếu như bất kỳ nước nào hay tổ chức nào vi phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc, quân đội có quyền "bắn phát súng đầu tiên". Sau khi cuộc xung đột bắt đầu, các lực lượng vũ trang của Trung Quốc sẽ tìm cách chuyển sang thế tấn công bất cứ khi nào có thể. Kiến thức Chiến lược Quốc sự của Trung Quốc đã vạch ra 10 nguyên tắc của chiến tranh nhân dân, mô tả một khuôn khổ tìm cách hợp nhất tất cả các hình thức lực lượng (quân sự, bán quân sự và dân sự) trong các hoạt động mạnh mẽ và linh hoạt phù hợp với hoàn cảnh. Trong khi tìm cách sớm giành chiến thắng, PLA cũng thừa nhận rằng "một cuộc chiến quy mô lớn không thể giành chiến thắng với một trận chiến quyết định đơn lẻ" và kêu gọi thận trọng trước khi bắt đầu cuộc xung đột. Trong chiến đấu, năm sự kết hợp giữa lực lượng thường trực và không thường trực sẽ bao gồm:

(1) các binh lính thường trực với số lượng lớn;

(2) kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy trên biển;

(3) các vũ khí quyết định với các chiến thuật và chiến lược linh hoạt;

(4) vũ khí công nghệ cao với vũ khí thông thường;

(5) chiến tranh quân sự với chiến tranh kinh tế và chính trị.

Các phương pháp chiến đấu nhấn mạnh đến sự can dự cự ly gần, chiến đấu ban đêm và các cuộc tấn công bất ngờ. Ngày nay, các nguyên tắc của chiến tranh nhân dân có thể thấy trong nhiều sự kiện huấn luyện được thực hiện bởi các lực lượng dân sự và vũ trang của Trung Quốc, đặc biệt trong các cuộc tập trận chống khủng bố, phòng thủ chống tấn công hạt nhân hay hóa học. Chiến tranh nhân dân cũng được biểu lộ trong việc xã hội hóa sâu rộng hoặc tận dụng nhiều chức năng hậu cần của khu vực dân sự. Sự hỗ trợ dân sự là đặc biệt cần thiết đối với việc vận chuyển đường biển và đường không con người và trang thiết bị trên một khoảng cách xa.

 

Chiến tranh nhân dân và cơ cấu lực lượng

Phân tích gần đây nhất của nước ngoài về quá trình hiện đại hóa PLA tập trung vào những cải thiện quan trọng trong các đơn vị lực lượng chính, được trang bị với các loại tên lửa và trang thiết bị điện tử hiện đại, tàu chiến và tàu ngầm và các máy bay chiến đấu hiện đại. Phân tích này chỉ đề cập rất ít về khoảng 200 nghìn hoặc hơn tổng quân số trong các đơn vị bộ binh, phòng thủ biên giới và bờ biển của PLA. Hải quân của PLA (PLAN) chỉ huy sáu trung đoàn pháo phòng không và tên lửa đất đối hạm và các tiểu đoàn độc lập trong lực lượng phòng thủ bờ biển. Hải quân cũng duy trì khoảng 253 tàu tuần tra được chia thành năm đơn vị cấp sư đoàn. Lực lượng Không quân của PLA (PLAAF) có ba sư đoàn tên lửa đất đối không, một sư đoàn phòng thủ hỗn hợp, chín lữ đoàn tên lửa đất đối không và hai lữ đoàn pháo phòng không và tên lửa đất đối hạm. Trong tổng số hơn 1.600 máy bay chiến đấu có khoảng 800 chiếc thuộc xêri J-7 và J-8 dành cho việc phòng không địa phương. Khoảng 1/3 trong tổng số lực lượng dự bị của PLA (khoảng 40 sư đoàn và 25 lữ đoàn) được giao nhiệm vụ phòng thủ trên không địa phương. Kể từ năm 1998, các đơn vị dự bị và dân quân của PLA đã được tái tổ chức và hiện đại hóa giống như các đơn vị thường trực. Hầu hết việc hiện đại hóa này tập trung vào việc đem lại an ninh khu vực hậu phương đặc biệt là phòng thủ trên không, cho các đơn vị thường trực cũng như lực lượng dân sự; hỗ trợ hậu cần; sửa chữa cơ sở hạ tầng bị hư hại do các cuộc tấn công tầm xa nhằm vào Trung Quốc. Một số đơn vị dân quân sẽ được huy động vào việc thực hiện hình thức chiến tranh thông tin (IW). Các lực lượng đã kể ở trên là một bộ phận quan trọng trong lực lượng vũ trang của Trung Quốc. Mặc dù, các đơn vị này sẽ được hợp nhất vào các kế hoạch chiến tranh của PLA đối với việc phòng thủ khu vực duyên hải và lục địa, đại đa số các đơn vị này không được tính vào năng lực sức mạnh của PLA, trừ việc bảo vệ các khu vực hậu phương cho việc triển khai lực lượng chính quy, và trong một phạm vi nhỏ là thực hiện các hoạt động tin tức.

 

Chiến tranh nhân dân và chiến tranh thông tin

Các nhà chiến lược của Trung Quốc coi các hoạt động thông tin là một phương tiện đặc biệt hữu ích để triển khai các phương pháp tác chiến truyền thống như gây bất ngờ, dùng mưu hay lừa đối phương. Ông Thẩm Vĩ Quang, thường được coi là cha đẻ của chiến tranh thông tin của Trung Quốc, đã gọi IW (Internet War – Chiến tranh thông tin) là một hình thức chiến tranh nhân dân theo nghĩa đích thực của nó. Thiếu tướng Đới Thanh Dân, cựu Cục trưởng Cục Thông tin liên lạc của Bộ Tổng tham mưu Trung Quốc, lưu ý rằng việc đạt được ưu thế về thông tin là rất quan trọng đối với việc sử dụng mưu và lừa đối phương trong chiến tranh nhân dân. Trong khi một số nhân tố của các hoạt động thông tin được coi là các loại vũ khí "giữ vị trí chủ đạo" thì chiến tranh thông tin vẫn chỉ được coi là một phương tiện chứ không phải mục đích. Vì vậy, PLA có kế hoạch kết hợp các hoạt động thông tin với hỏa lực và các hoạt động đặc biệt khi tiến hành các chiến dịch. Các lực lượng thường trực của PLA có nhiều đơn vị tình báo và tác chiến điện tử khác nhau mà có cả khả năng phòng thủ và tấn công, bao gồm cả các hoạt động tác chiến mạng. Trong những năm gần đây, huấn luyện trong các môi trường điện từ phức tạp là nhiệm vụ chính của tất cả các đơn vị PLA. Trong vòng một thập kỷ qua, rất nhiều đơn vị tác chiến thông tin dân quân, bao gồm có cả năng lực phòng thủ và tấn công mạng và điện tử, được thành lập. Tuy nhiên, do khó khăn trong việc kiểm soát những tin tặc bên ngoài lực lượng quân sự và khả năng những tên này can thiệp vào chiến lược của Trung Quốc, nên khó có khả năng Chính phủ Trung Quốc sẽ triển khai một đội quân gồm các nhân viên dân sự trong chiến trang mạng nhân dân.

 

Kết luận

Các nguyên tắc của chiến tranh nhân dân vẫn là một nền tảng quan trọng trong tư duy quân sự của Trung Quốc về cả hòa bình và chiến tranh. Chiến tranh nhân dân cũng là một nhân tố quan trọng trong vị thế răn đe tổng hợp, nhiều tầng của Trung Quốc. Như đã mô tả trong Kiến thức Chiến lược Quân sự: "Hiện nay Trung Quốc có khả năng răn đe hạt nhân hạn chế nhưng hiệu quả, một năng lực sức mạnh tương đối của khả năng răn đe thông thường và khả năng răn đe to lớn của chiến tranh nhân dân. Với việc kết hợp các phương tiện răn đe này sẽ tạo thành một khả năng răn đe chiến lược tổng hợp, với sức mạnh quốc gia toàn diện là nền tảng, lực lượng thông thường là trụ cột chính, lực lượng hạt nhân là sức mạnh hỗ trợ". Là một nhân tố của khả năng răn đe, chiến tranh nhân dân cũng là một phương tiện để Bắc Kinh đánh bại kẻ địch mà không cần chiến đấu và đạt được các mục tiêu chiến lược. Tuy nhiên, như đã được thể hiện ngoài khơi Trung Quốc năm 2009, các chiến thuật chiến tranh nhân dân không phải lúc nào cũng dẫn đến thành công. Một giả thuyết có thể được rút ra từ các vụ đụng độ trên biển là để chiến tranh nhân dân có thể thành công, nó phải được tiến hành trên quy mô lớn để có thể kết hợp đầy đủ với lợi thế về quy mô của Trung Quốc. Về bản chất, chiến tranh nhân dân có cơ hội lớn hơn để thành công khi diễn ra ở trên hoặc gần Trung Quốc lục địa. Hình thức này sẽ trở nên kém hiệu quả hơn khi PLA tác chiến ra xa ngoài lục địa./.


Trung tá
Dennis J. Blasko*

Theo Jamestown  Foundation


* Trung tá Dennis J. Blasko, đã nghỉ hưu và trước đây là Tùy viên Lục quân của Mỹ ở Bắc Kinh và Hồng Công về hình thức chiến tranh nhân dân của Trung Quốc

 

 

Năng lực hải quân Trung Quốc đang ngày càng phát triển, tuy nhiên tương quan giữa năng lực tác chiến gần bờ và xa bờ của Trung Quốc lại tồn tại khoảng cách khác biệt rất lớn, và sẽ còn một khoảng cách rất dài để theo kịp Mỹ. Giải quyết và hiểu thực sự bản chất của vấn đề này sẽ góp phần tránh xung đột đối đầu quân sự Mỹ - Trung cũng như sự xuất hiện của chủ nghĩa bá quyền.

 

Theo chuyên gia nghiên cứu hải quân Mỹ Andrew Erickson và Gabe Collins (bài nghiên cứu được dịch và đăng trên báo Trung Quốc ngày 15/03/2012) đã nhấn mạnh, sức mạnh lực lượng hải quân Trung Quốc trong những năm gần đây đã đạt được sự phát triển nhanh chóng, tuy nhiên tương quan giữa năng lực tác chiến gần bờ và xa bờ của Trung Quốc lại tồn tại khoảng cách khác biệt rất lớn. "Hải quân xa bờ" được thiết kế với mục đích tác chiến xa bờ phải mất rất nhiều năm nữa mới đủ để có thể trở thành mối đe dọa thực sự đối với Mỹ. Ông nhấn mạnh, nếu có thể giải quyết tốt vấn đề này một cách khôn ngoan, sẽ có khả năng góp phần giảm tránh những cuộc đối đầu về quân sự cũng như sự xuất hiện của chủ nghĩa bá quyền; còn nếu ngược lại, ắt sẽ khiến cho cục diện căng thẳng lại ngày một leo thang.

Trong bài viết của mình ông nhấn mạnh, thế kỷ 21, cùng với sự tồn tại đan xen trong quá trình triển khai giữa cạnh tranh và hợp tác về các lĩnh vực xuất phát từ năng lực sức mạnh quốc gia của hai cường quốc Trung - Mỹ tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, quan hệ giữa hai nước Mỹ - Trung càng trở nên vô cùng quan trọng trong hệ thống quan hệ quốc tế. Mặc dù giữa hai nước có vô số các lợi ích chung quan trọng, đồng thời ngày càng ảnh hưởng tác động qua lại lẫn nhau (đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế), tuy nhiên trong vấn đề an ninh mang tính chất quan trọng giữa hai nước lại tồn tại những khác biệt vô cùng lớn. Mặc dù song phương đã cố gắng nỗ lực cũng như có những sự nhẫn nại kiềm chế hết sức có thể, có khả năng bài trừ được những khoảng cách khác biệt này, thế nhưng giữa hai nước Mỹ - Trung vẫn tồn tại những khả năng về những nguy cơ đe dọa đôi khi có thể phát sinh (tương tự như sự kiện máy bay trinh thám EP-3 xảy ra vào năm 2001), đồng thời không có biện pháp nào có thể hoàn toàn bài trừ khả năng xảy ra xung đột. Nếu muốn tránh những xung đột này, phương pháp tốt nhất chính là tìm hiểu bản chất và cái giá phải trả cho những mầm mống xung đột đó.

Cần thiết phải chỉ ra rằng, năng lực sức mạnh, nền chính trị và lối hành xử của Mỹ đều là những bộ phận chủ đạo đại diện cho các bước đi chiến lược của nước này. Cách lý giải và những lo lắng đối với bộ phận chủ đạo này của chính phủ Bắc Kinh sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lối hành xử của toàn Trung Quốc, tuy nhiên nó lại ảnh hưởng ngược lại đến chính quyết sách của Mỹ.

Gần bờ: Từ chiến lược Trung - Mỹ đến động thái quân sự

Xuất phát từ góc độ về những tiềm năng tiến bộ đạt được trong các lĩnh vực khác của hai nước Trung - Mỹ, trong một tương lai có thể tiên đoán được, đối với các vấn đề liên quan đến khu vực gần bờ (bao gồm Hoàng Hải, Biển Hoa Đông, Biển Đông) hay các chuẩn mực được đặt ra đối với nhiều vấn đề thì Trung Quốc và Mỹ không thể có khả năng đạt được sự thông cảm tương hỗ cho nhau. Những đối tượng liên quan đến đại bộ phận lãnh thổ mà Trung Quốc tuyên bố cũng như những tuyên bố chủ quyền liên quan đến các khu vực xảy ra tranh chấp đều thuộc phạm vi các khu vực lãnh hải gần bờ. Ở nơi đó, chính phủ Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền đối với các quần đảo bao gồm đảo Đài Loan, đảo Điếu Ngư của biển Hoa Đông hay quần đảo Trường Sa của Biển Đông cũng như các loại đảo và bãi đá khác thuộc quần đảo Hoàng Sa. Trung Quốc đã dẫn chứng quy định từ "Công ước Luật Biển của Liên Hợp Quốc" (UNCLOS) năm 1982, tuyên bố khu vực lãnh hải 200 hải lý nằm bao quanh các loại đảo này gọi là các vùng đặc quyền kinh tế (EEZ). Trong thời điểm hiện tại, các bên tham gia ký kết ủng hộ công ước này đã lên tới 161 nước, tuy nhiên trong số các nước này lại không bao gồm Mỹ. Chính điều này đã hạn chế đến mức nghiêm trọng tầm ảnh hưởng cũng như năng lực lãnh đạo của Mỹ đối với lĩnh vực mang tính chất quan trọng về các luật biển quốc tế.

Các tuyên bố đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc luôn luôn hoặc là tồn tại những tranh chấp, hoặc là xuất hiện một cách trùng lặp chồng chất lên nhau cùng với những tuyên bố chủ quyền của các nước láng giềng khác. Điều này càng dẫn đến việc tăng thêm những mâu thuẫn của các bên xung quanh các vấn đề liên quan đến sự lý giải và cách giải thích đối với những lối hành xử như thế nào trong việc triển khai phạm vi các vùng đặc quyền kinh tế dưới sự cho phép của pháp luật. Ví dụ, 23 tập đoàn do 23 quốc gia tổ hợp thành trong 192 nước thành viên của Liên Hợp Quốc đều cùng nằm dưới bàn tay lãnh đạo dẫn dắt của Trung Quốc, các nước thuộc quần thể thiểu số này muốn tiến hành lý giải về "Công ước Luật biển của Liên Hợp Quốc", để từ đó hạn chế các lực lượng quân sự nước ngoài xâm nhập vào Trung Quốc và tuyên bố phạm vi địa phận vùng đặc quyền kinh tế cũng như khu vực biên giới trên không. Nếu như biện pháp đưa ra này được thực thi, thì Trung Quốc sẽ có khả năng ngăn cấm được các lực lượng quân sự nước ngoài tiến hành triển khai các hoạt động quân sự trong các khu vực hải phận chủ yếu của toàn bộ Biển Đông. Từ đó, sẽ tạo ra sự uy hiếp đe dọa đối với một số quá trình tự do vận chuyển hàng hải của các nguồn tài nguyên năng lượng cũng như sự lưu thông các phương tiện tàu thuyền mang tính chất quan trọng nhất trên toàn thế giới. Nếu tiếp nhận quan điểm về quyền sử dụng các vùng đặc quyền kinh tế của bộ phận thiểu số đưa ra này, sẽ có khả năng xuất hiện những tiền lệ mới, khiến cho 38 % toàn bộ vùng biển và đại dương sẽ đều được gọi thành vùng đặc quyền kinh tế, từ đó kéo theo việc xuất hiện những mặt hạn chế kìm hãm tương tự như vậy.

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây

Andrew Erickson, Chuyên gia nghiên cứu Hải quân Mỹ

Người dịch: Đinh Thị Thu

Bản gốc tiếng Anh “Near Seas ‘Anti-Navy’ Capabilities, not Nascent Blue Water Fleet, Constitute China’s Core Challenge to U.S. and Regional Militaries

Bản dịch tiếng Trung: “中国近海远海战力差距巨大 蓝水尚远

 

 

Báo Lực lượng không trung của Australia (www.ausairpower.net) ngày 30/3 đăng bài mô tả về cuộc không chiến giữa Mỹ và Trung Quốc ở Biển Đông năm 2018, Trung Quốc với lực lượng máy bay chiến đấu Su-35 đã giành thắng lợi lớn với tỷ lệ chiến thắng 7:1 trước đội hình máy bay chiến đấu F-35, F/A-18E/F của Mỹ. (Xem chi tiết tại đây. ) "Thời báo hoàn cầu" ngày 2/4 của Trung Quốc cho rằng: “Chuyên gia Australia hư cấu cuộc không chiến giữa Mỹ và Trung Quốc ở Biển Đông năm 2018”.

Trong tình hình Trung Quốc tăng cường khai thác dầu khí ở Biển Đông, điều động quân đến đảo Vĩnh Hưng (Phú Lâm) tiến hành phong toả các tuyến đường trên Biển Đông, Mỹ quyết tâm sử dụng vũ lực truy quét quân Trung Quốc ở đảo Vĩnh Hưng (Phú Lâm). Cuộc chiến diễn biến như sau: khi máy bay Su-35 bay đến còn cách 60 hải lý, máy bay F-35C nhằm mỗi chiếc Su-35 phóng 2 quả tên lửa để tiêu diệt, nhưng chỉ có 1 chiếc Su-35 bị trúng đạn, máy bay Su-35 có tính năng cơ động cao đã tránh được các tên lửa khác và bắt đầu tấn công lại, 3 chiếc Su-35 phóng 12 quả tên lửa R-77 tiêu diệt 4 chiếc F-35C và 3 chiếc máy bay khác của Mỹ, giành thắng lợi với tỷ lệ 7:1.

 

"Thời báo hoàn cầu" ngày 2/4 của Trung Quốc đăng bài: “Chuyên gia Australia hư cấu cuộc không chiến giữa Mỹ và Trung Quốc ở Biển Đông năm 2018”. Bài báo cho rằng, gần đây Phương Tây liên tục đăng các bài liên quan đến quân đội Trung Quốc , tuyên truyền sự hiện đại hoá quân đội Trung Quốc đã tạo thành mối đe doạ đối với chiến lược an ninh của Mỹ và đồng minh, nhấn mạnh chỉ có máy bay F-22 mới chống lại được máy bay chiến đấu thế hệ mới của Trung Quốc , máy bay F-35 với tốc độ 1,5Mach sẽ không đối phó được với máy bay Su-35S tốc độ 2,25 Mach. Để đối phó với tốc độ hiện đại hoá quân đội của Trung Quốc và Nga, Mỹ cần xem xét lại quyết định ngừng trang bị máy bay F-22 quy mô lớn và cân nhắc khả năng bán máy bay F-22 cho các đồng minh thân cận.


 

 

Lệnh cấm đánh bắt cả của Philippin và Trung Quốc tại Scarborough được một số nhà quan sát coi là dấu hiệu muốn giảm căng thẳng của cả hai bên, mặc dù có không ít tiếng nói, quan điểm cứng rắn từ phía Trung Quốc.

 

 

 

 

Trang tin Đa Chiều cho rằng lệnh cấm đánh bắt cá sẽ tạo bước chuyển cho sự kiện đối đầu Trung Quốc, Philíppin tại Biển Đông. Từ 12 giờ ngày 16/5, lệnh cấm đánh bắt cá do Trung Quốc áp đặt đối với đại bộ phận Biển Đông, gồm cả một số khu vực tranh chấp như đảo Scarborough bắt đầu có hiệu lực và sẽ kéo dài tới 12 giờ ngày 1/8. Theo trang tin "Đa chiều", tuy Bắc Kinh tuyên bố lệnh cấm đánh bắt cá là nhằm bảo vệ tài nguyên biển, nhưng trong bối cảnh căng thẳng Trung Quốc và Philíppin gia tăng sau sự kiện đối đầu tại đảo Scarborough, lệnh cấm đánh bắt cá lần này có ý nghĩa tuyên bố chủ quyền mạnh mẽ. Và rõ ràng, từ khi sự kiện đối đầu tại đảo Scarborough diễn ra tới nay, Bắc Kinh có ý mượn Philíppin để lập uy tại Biển Đông, đề ra tiêu chuẩn giải quyết tranh chấp Biển Đông từ nay về sau.

 

Theo "Đa chiều", hành động của Trung Quốc một là nhằm tạo cho hai bên cái cớ có thể giúp hòa hoãn tình hình căng thẳng hiện nay. Hai là có thể dọn sạch "chiến trường", tránh để ngư dân và tàu cá của Trung Quốc bị cuốn vào một cuộc chiến tranh có thể xảy ra. Nếu thực sự tình hình bị đẩy tới mức “không thể chịu đựng được nữa”, Trung Quốc có thể “vung tay” làm một trận lớn. Vì thế, sau khi Trung Quốc đưa ra một loạt biện pháp nhằm vào Philíppin trong các lĩnh vực kinh tế, ngoại giao, dư luận, thậm chí cả quân sự, hôm nay chắc chắn sẽ trở thành bước chuyển cho sự kiện đối đầu Trung Quốc và Philíppin tại đảo Scarborough.

 

Trả lời phỏng vấn báo điện tử "Liên hợp Buổi sáng" (Xinhgapo), một chuyên gia quân sự Trung Quốc cũng cho rằng lệnh cấm đánh bắt cá trên thực tế là một biện pháp thực hiện chủ quyền. Chỉ cần tàu cá hai bên tạm thời không đi vào khu vực biển thuộc đảo Scarborough, không làm gia tăng hơn nữa mâu thuẫn giữa hai nước, Trung Quốc và Philíppin sẽ có cơ hội ngồi vào bàn đàm phán hòa bình. Theo chuyên gia này, đối với Trung Quốc, lệnh cấm đánh bắt cá có thể trở thành một lý do để nước này tiến hành xua đuổi tàu cá của Philíppin, nhưng đây là một biện pháp mềm dẻo, chí ít còn tốt hơn việc trực tiếp cử tàu ngư chính, dùng dao dùng súng xua đuổi tàu cá của Philíppin. Việc này cũng có thể trở thành nấc thang đi xuống giúp tình hình căng thẳng tại đảo Scarborough trở nên lắng dịu.

 

Tuy nhiên, do thừa nhận lệnh cấm đánh bắt cá của Trung Quốc đồng nghĩa với việc thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với đảo Scarborough, cho nên, theo chuyên gia trên, việc yêu cầu Philíppin tuân thủ lệnh cấm đánh bắt cá kỳ thực không đơn giản. Trên thực tế, sau khi Trung Quốc đưa ra lệnh cấm đánh bắt cá, Ngoại trưởng Philíppin Albert del Rosario đã tuyên bố “không thừa nhận” và kiến nghị ngư dân Philíppin “tiếp tục đánh bắt cá trên địa bàn của mình”. Nhưng về phần mình, Tổng thống Philíppin Aquino lại biểu thị sự hoan nghênh đối với lệnh cấm đánh bắt cá của Trung Quốc và kiến nghị để bảo vệ nguồn tài nguyên biển đang bị khô kiệt, Philíppin cũng có thể đưa ra lệnh cấm đánh bắt cá. Chuyên gia trên cho rằng việc Philíppin đưa ra lệnh cấm đánh bắt cá là một kế sách uyển chuyển.

 

Hiện nay, khách quan mà nói, các biện pháp mang tính thực chất của Trung Quốc đã cho thấy hiệu quả, phía Philíppin cũng biểu thị mong muốn kết thúc tình hình căng thẳng hiện nay ở đảo Scarborough. Tuy nhiên, theo "Đa chiều", dù trong ngắn hạn sự kiện đối đầu Trung Quốc và Philíppin tại đảo Scarborough sẽ giảm nhiệt, nhưng điều đó không có nghĩa Philíppin sẽ “bó tay”. Trong tương lai, cuộc đấu tranh giữa Trung Quốc và Philíppin trong vấn đề Biển Đông sẽ còn tiếp tục, hơn nữa có thể sẽ quyết liệt hơn. Vì vậy, Trung Quốc cần phải nắm chắc ưu thế chủ động giành được hiện nay về mặt ngoại giao, đề ra quy hoạch trung hạn và dài hạn cho việc giải quyết vấn đề đảo Scarborough, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh ngoại giao sau này. 

 

Nhằm tìm kiếm một mẫu số chung cho giải quyết vấn đề tranh chấp Biển Đông về lau dài, ngày 15/5, “Thời báo Hoàn cầu” đăng bài xã luận trong đó cho rằng có nhiều học giả Trung Quốc đánh giá nếu Philíppin có thể duy trì hiện trạng tại đảo Scarborough, các quốc gia xung quanh Biển Đông khác sẽ lần lượt bắt chước. Điều này sẽ gây bất lợi cho Trung Quốc trong việc giải quyết vấn đề Biển Đông.

 

Một số học giả chỉ ra rằng trong xử lý vấn đề đảo Scarborough, Trung Quốc cần tạo ra một khuôn mẫu hoặc tiêu chuẩn vững chắc, để sau này có thể đối chiếu giải quyết vấn đề Biển Đông. Cụ thể, một là Trung Quốc phải xây dựng cơ chế phản ứng nhanh, khi các quốc gia xung quanh Biển Đông xâm nhập lãnh hải hoặc Vùng Đặc quyền Kinh tế của Trung Quốc, lực lượng chấp pháp của Trung Quốc cần nhanh chóng đến hiện trường trong thời gian sớm nhất, áp dụng phương thức xua đuổi cảnh cáo, yêu cầu đội tàu tác nghiệp hoặc tàu vũ trang của nước ngoài rời khỏi khu vực này. Một số học giả Trung Quốc cũng kiến nghị chủ trương Chính phủ Trung Quốc cần nhanh chóng thành lập lực lượng cảnh sát biển thuộc quân đội, nhằm tăng cường công tác thực hiện bảo vệ quyền lợi biển của Trung Quốc.

 

Hai là, trong trường hợp biện pháp cảnh cáo không có hiệu quả, có thể áp dụng sách lược đánh đòn phủ đầu, vì tàu thuyền nước ngoài dừng lại phi pháp trong vùng biển Trung Quốc trong thời gian dài sẽ không có lợi cho việc xây dựng hình ảnh nước lớn của Trung Quốc, cũng không có lợi cho hòa bình, ổn định của khu vực này.

 

Ba là, bất cứ lúc nào cũng mở cánh cửa cho đàm phán ngoại giao, nhưng nếu các nước xung quanh đóng cánh cửa đàm phán ngoại giao, như vậy Trung Quốc cần buộc các nước này phải trả giá đắt cho hành động trên.

 

Bài viết cho rằng trong giải quyết vấn đề Biển Đông, Trung Quốc cần kiên trì nguyên tắc chủ quyền thuộc về ta, quyền chủ đảo thuộc về ta, quyết không cho phép mặc cả, trả giá trong vấn đề chủ quyền, càng không cho phép các nước tùy tiện thách thức trong phạm vi chủ quyền của Trung Quốc. Trung Quốc là một nước lớn đang trỗi dậy, phải nắm chắc quyền xây dựng tiêu chuẩn trong giải quyết vấn đề Biển Đông, quyết không cho phép các nước xung quanh Biển Đông gây rắc rối, chủ động thiết lập chương trình nghị sự, dẫn dắt bước đi của Trung Quốc.

 

Bài xã luận cho rằng hiện nay, vấn đề chủ quyền không cho phép đàm phán, đây là giới hạn thấp nhất trong ngoại giao của Trung Quốc. Nếu Philíppin cố tình làm bậy, Trung Quốc cần áp dụng một số biện pháp cứng rắn trục xuất khỏi khu vực này. Mục tiêu quan trọng hàng đầu về chính trị, quân sự, ngoại giao của Trung Quốc hiện nay là loại bỏ sự tồn tại về thương mại và quân sự của Philíppin tại vùng biển phụ cận của đảo Scarborough. Nếu không làm được điều này, mọi biện pháp mà Trung Quốc áp dụng tại khu vực đảo Scarborough đều trở nên vô nghĩa. 

Văn Cường (gt)

 

Báo Le Monde ngày 14/5 trong chuyên đề về địa chính trị đã dẫn lời các chuyên gia phân tích cho rằng hiện tại TQ dường như không muốn thay đổi nguyên trạng việc chiếm cứ các đảo ở Biển Đông, mà chủ yếu là muốn chiếm lấy những vùng biển thích hợp.

 

 

 


Chính sách hiện nay của TQ là "việc đã rồi", đồng thời hết sức tránh sử dụng lực lượng quân sự. Thực tế là hải quân TQ chưa bao giờ can thiệp vào các vụ việc, ngược lại, TQ đẩy các lực lượng bán quân sự lên tuyến trước, như hải giám, kiểm ngư, cảnh sát biển, an toàn hàng hải… Báo Le Monde trích đánh giá của International Crisis Group trong báo cáo ngày 23/4 cho rằng việc tăng cường sử dụng các lực lượng bán quân sự và cảnh sát trong tranh chấp chủ quyền này càng làm tăng nguy cơ xung đột, vì một tàu quân sự thực sự bao giờ cũng tỏ ra kiềm chế hơn các lực lượng bán quân sự, và do các lực lượng bán quân sự này thường không cân nhắc đến những hệ lụy đối ngoại nhiều như lực lượng quân sự.

Các lực lượng bán quân sự cho phép TQ có một lớp đệm và chính quyền trung ương từ đó dễ dàng thoái thác trách nhiệm khi cần thiết. Chính sách này tuy nhiên cũng thể hiện một yếu điểm của TQ là sự phối hợp giữa các cơ quan về biển của TQ khá kém và thậm chí TQ đang phải yêu cầu nước ngoài trợ giúp để tăng cường năng lực phối hợp giữa các cơ quan quản lý biển với nhau.

Một cấu thành khác trong chiến lược của TQ là triển khai ngư dân đi khắp nơi. Các tỉnh ven biển TQ có chính sách trợ cấp rộng rãi cho ngư dân để hiện đại hóa tầu thuyền và tăng cường đánh bắt càng ngày càng xa, tạo cho TQ năng lực đánh bắt vượt xa các nước láng giềng, ví dụ như tỉnh Hải Nam có tầu đánh bắt chế biến liên hoàn xa bờ trọng tải 32.000 tấn với 600 người làm việc trên tàu.

Trên tất cả các hồ sơ hiện nay, TQ đều cố gắng giữ thương lượng ở khuôn khổ song phương, tránh đưa ra các thể chế đa phương. TQ cũng rất hạn chế trong sử dụng các ngôn từ luật pháp phù hợp, chỉ hạn chế ở điều mà họ gọi là “quyền lịch sử”. Quyền lịch sử này dẫn dụ đến một khái niệm rất mơ hồ về luật pháp. Nó gắn với huyền thoại của một Trung Hoa đế chế siêu cường mà tuyên truyền TQ không ngừng tán dương “thế hệ vĩ đại” của thời đó, tiếp sau giai đoạn bị phương Tây sỉ nhục, giống như Mussolini luôn có tham vọng tái khẳng định Đế chế La mã cũ. Một blogger TQ nói cần phải hiểu là TQ không coi khu vực này là phải chịu theo luật pháp quốc tế: luật lệ không được nói ra ở đây chính là khái niệm Thiên Hạ, nghĩa là một hệ thống lệ thuộc vào trung tâm mà ở đó chính là Trung Hoa. Năm 2010, các chuyến gia Mỹ đã coi lập trường của TQ như là một dạng của học thuyết Monroe áp dụng cho các vùng biển trong khu vực, giống như TTh Mỹ thời bấy giờ muốn ngăn cấm mọi sự can thiệp của Châu Âu vào Tây Bán Cầu.

Nhưng liệu có thể có một cuộc va chạm nghiêm trọng ở Biển Đông được không? Chiến lược duy trì căng thẳng của TQ cũng có những giới hạn do phải cẩn trọng và thực tế. Sự mở cửa và phát triển kinh tế của TQ vẫn là ưu tiên hàng đầu của TQ hiện nay, và Đảng CS TQ cũng không muốn có xáo trộn trước thềm Đại hội 18 vào tháng 10 tới. Tuy nhiên, với một dư luận bên trong TQ gắn bó sâu sắc với "quyền lịch sử" của TQ trên biển, thì mọi tính toán sai lầm đều có thể dẫn đến những hậu quả không thể lường trước được. Và với những biến động hiện nay trong quân đội và chính quyền ở TQ, không thể coi nhẹ tác động của một va chạm dù nhỏ nhất.

Theo Le Monde

Trần Quang (gt)

 

Mạng Đông phương ngày 29/3 dẫn nguồn từ Mạng hoàn cầu đưa tin, Tư lệnh Thái Bình Dương của Mỹ Robert Willard ngày 25/3 khi trả lời chất vấn Ủy ban quân sự Hạ viện Mỹ cho biết, hàng không mẫu hạm Varyag của Trung Quốc dự kiến năm 2012 sẽ được đưa vào huấn luyện sử dụng.

  Hiện nay Trung Quốc đang đẩy nhanh việc hiện đại hóa quân sự trong toàn quân. Giải phóng quân đang tiếp tục phát triển khả năng tác chiến tàu ngầm và tác chiến tàu nổi bao gồm cả ở các vùng biển xa bờ biển đại lục Trung Quốc . Các hạng mục hiện đại hóa bao gồm cả hệ thống phòng không trên tàu và tên lửa hành trình chống hạm tốc độ siêu âm. Giải phóng quân cũng đang bố trí ngày càng nhiều hệ thống tên lửa đất đối không tầm xa đã được nâng cấp SA-20PMU2 ở đối diện Đài Loan, phát triển và thử tên lửa đạn đạo chống hạm thông thường để đối phó với hàng không mẫu hạm trên cơ sở tên lửa đạn đạo tầm trung DF-21/CSS-5. Giải phóng quân cũng tăng cường tần xuất tuần tra trên khu vực biển Đông. Trung Quốc luôn duy trì lực lượng hạt nhân bao phủ nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Mỹ. Trung Quốc tiếp tục tuyên bố chủ quyền đối với phần lớn khu vực biển Đông, trong đó bao gồm cả quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, củng cố địa vị của họ ở khu vực. Hải quân Trung Quốc đã tăng cường tần xuất tuần tra ở khu vực này và ngày càng mạnh bạo hơn trong việc đối đầu với các nước khác trong vùng biển quốc tế và vùng biển đang tranh chấp. Ngoài ra, Trung Quốc còn tuyên bố chủ quyền đối với đảo Điếu Ngư và tranh chấp biên giới với Ấn Độ.

 

 

 

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 7272 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin