19 - 9 - 2020 | 5:57
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home
Tag:Nhật Bản

Trong bài viết trên Tạp chí “Tri thức thế giới” của Bộ Ngoại giao Trung Quốc, tác giả Chương Địch Vũ cho rằng theo quy luật thông thường thì nước lớn chi phối nước nhỏ nhưng trong vấn đề Biển Đông, nước nhỏ lại chi phối nước lớn, tích cực chủ động, Việt Nam và Philíppin là các nước “nổ phát súng đầu tiên” trong khi Mỹ “trở lại châu Á-Thái Bình Dương”

I- Tranh giành Biển Đông, nước nhỏ chủ đạo nước lớn? 

Tranh chấp Biển Đông khởi nguồn đã lâu nhưng chưa bao giờ gay gắt như hiện nay. Lịch sử chính trị quốc tế thông thường là lịch sử chính trị nước lớn, nhưng hoàn toàn không phải “nước nhỏ” lúc nào cũng đều im tiếng. Người Trung Quốc phát hiện ra rằng khi Trung Quốc trỗi dậy, áp lực quốc tế đột ngột tăng lên, không chỉ có nước lớn đề phòng hơn, mà những phiền phức từ các nước nhỏ xung quanh cũng ngày càng nhiều thêm, hơn nữa áp lực từ hai phương diện nói trên cũng gặp nhau, trong đó điểm gây áp lực ban đầu chính là Biển Đông. Vấn đề đặc biệt rõ ràng là hoàn toàn không chỉ có nước chủ đạo thế giới hiện nay là Mỹ mới tiến hành kiềm chế Trung Quốc, mà các nước nhỏ xung quanh cũng lo sợ trước thực lực Trung Quốc lớn mạnh nên cũng đề phòng, cảnh giác với Trung Quốc. Trong vấn đề Biển Đông, những người “nổ phát súng đầu tiên” chính là Việt Nam và Philíppin. Việt Nam  năm 2010 với vai trò là Chủ tịch luân phiên ASEAN, đã lôi kéo thành công nước Mỹ vào cuộc. Phó viện trưởng Viện nghiên cứu quan hệ quốc tế và sự vụ công cộng thuộc Đại học Phúc Đán, Giáo sư Ngô Tâm Bá cho biết hành vi của các nước này đã phản ánh một cách tập trung tâm trạng lo lắng và bất an của họ khi sức mạnh của Trung Quốc tăng lên, nhất là lo sợ việc Trung Quốc phát triển hải quân và phương hướng phát triển hải quân của Trung Quốc. Ngày 9/6/2011, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố Việt Nam có “chủ quyền không thể tranh cãi” đối với “quần đảo Hoàng Sa” và “quần đảo Trường Sa”, “chúng ta sẽ tiếp tục kiên trì tuyên bố và cho thấy quyết tâm mạnh mẽ nhất của toàn đảng, toàn dân và toàn quân ta bảo vệ vùng biển và các đảo của quốc gia”. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Phương Nga cũng tuyên bố: “Hải quân Việt Nam sẽ áp dụng mọi biện pháp cần thiết, kiên quyết bảo vệ hòa bình, độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam . Ngày hôm sau, Việt Nam lớn tiếng tuyên bố sẽ tổ chức diễn tập bắn đạn thật trong 6 tiếng đồng hồ ở Biển Đông, đồng thời cảnh báo cho tàu thuyền các nước tránh xa vùng biển này. Hãng tin AP của Mỹ bình luận, việc làm nói trên của Việt Nam rõ ràng là nhằm “đáp lại” Trung Quốc. Trong ngày diễn tập bắn đạn thật thứ hai, ông Nguyễn Tấn Dũng ký sắc lệnh về việc tuyển quân. Có báo chí cho rằng đây là lần đầu tiên sau 32 năm xảy ra cuộc chiến phản kích tự vệ của Trung Quốc đối với Việt Nam  Chính phủ Việt Nam ban bố lệnh tuyển quân. Tuy nhiên, Việt Nam hoàn toàn không dừng lại ở đó. Từ cuối tháng 7 cho đến giữa tháng 8, trong vòng chưa đầy một tháng, Việt Nam đã cùng với Mỹ tổ chức hai lần diễn tập quân sự chung. Mặc dù Việt Nam tuyên bố việc làm đó hoàn toàn không nhắm vào Trung Quốc nhưng chỉ cần nhìn qua sẽ thấy trong chiếc hồ lô của Việt Nam cuối cùng sẽ có thứ thuốc gì để bán. 

Cũng trong tháng 6, một vai chính nữa có tranh chấp Biển Đông với Trung Quốc là Philíppin tuyên bố “các tàu của Trung Quốc ngày càng gia tăng hoạt động ở Biển Đông..., đã gây nguy hại cho ổn định khu vực, xâm phạm chủ quyền và quyền quản lý biển của Philíppin, vi phạm “Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông”. Hai tháng trước đó, Philíppin đã trình Liên hợp quốc “thư phản đối đường 9 đoạn” về biên giới Biển Đông của Trung Quốc. Trong tháng 5 Philíppin lại lớn tiếng nói rằng “người Trung Quốc xâm phạm Trường Sa”. Ngày 13/6, cùng ngày với Việt Nam diễn tập bắn đạn thật, Bộ trưởng Quốc phòng Philíppin tuyên bố diễn tập quân sự của Việt Nam là phù hợp với “quyền lợi chủ quyền của Việt Nam”, trong khi người phát ngôn của Tổng thống Philíppin cho biết Philíppin đã đổi tên gọi Biển Đông là “biển Tây Philíppin”. Tiếp theo đó, vào cuối tháng 6, Philíppin cũng diễn tập quân sự chung với Mỹ. Vào đầu tháng 7, Ngoại trưởng Philíppin đi thăm Trung Quốc, đề nghị Trung Quốc đưa vấn đề tranh chấp Biển Đônggiữa hai nước lên Tòa án luật biển quốc tế để giải quyết. Trong nửa năm sau đó, những va chạm giữa Philíppin và Trung Quốc trong vấn đề Biển Đôngdường như không hề dừng lại. Ngày 18/10, ở khu vực gần bãi Lễ Nhạc, một tàu được trang bị pháo của Philíppin đã đâm vào một tàu cá cỡ lớn kéo theo 25 chiếc xuồng nhỏ của Trung Quốc đang trong hành trình. Sự kiện nói trên lập tức lan ra thành đề tài nóng được báo chí quốc tế quan tâm. Mặc dù phía quân đội và ngoại giao Philíppin đều cho biết đây là sự kiện “va chạm nhỏ ngẫu nhiên”, Philíppin đã thông báo và tỏ ý xin lỗi Trung Quốc nhưng đồng thời Philíppin vẫn tiếp tục diễn tập quân sự chung. 

Nhìn bề ngoài, dù là diễn tập quân sự của Việt Nam hay của Philíppin, dường như không có gì khác so với các lần diễn tập quân sự chung với Mỹ trước đây, nhưng về thực chất, những cuộc diễn tập này lại có sự khác biệt lớn nhất ở chỗ các cuộc diễn tập này không phải do Mỹ chủ đạo, mà do các nước này chủ động tổ chức và mời gọi Mỹ, hay nói cách khác, Mỹ đã từ vai trò của bên chủ đạo trước đây trở thành bên tham gia. Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã nói: Nước Mỹ lần đầu tiên từ chỗ là bên khởi xướng trở thành bên tham gia trong vấn đề Biển Đông, hoàn toàn không phải Mỹ yêu cầu các nước đó kiềm chế Trung Quốc, mà tự họ ban đầu đã có phần kiềm chế nhắm vào Trung Quốc. Rõ ràng, sự chuyển biến của hiện tượng nói trên là do thực lực Trung Quốc tăng lên nhanh chóng. Như vậy, một số vấn đề âm ỉ từ lâu nay đã dễ dàng bộc lộ ra, vì các nước xung quanh ngày càng lo sợ người khổng lồ bên cạnh, cuối cùng, trong hệ thống triều cống ở Đông Á do Trung Quốc chủ đạo từ hàng trăm, hàng nghìn năm nay và các nước xung quanh chỉ biết cúi đầu xưng thần. Giữa quốc gia với quốc gia lại luôn vì không hiểu rõ ý đồ của nhau mà nảy sinh mâu thuẫn, đồng thời khả năng quân sự mà nước lớn có được lại trở thành công cụ để nước lớn đó lợi dụng nhằm bành trướng sức mạnh của mình bất cứ lúc nào, vì thế việc các nước nhỏ phải liên kết lại kiềm chế nước lớn đã trở thành cách lựa chọn của nhiều nước trong lịch sử. Chính các nước như Việt Nam và Philíppin ngày nay đang áp dụng kiểu lý luận như vậy trong việc giải thích thực tiễn, vẫn phỏng theo thông lệ lịch sử chứ không nhìn vào tình hình thực tế đã thay đổi. Tại phiên họp lần thứ nhất quốc hội khóa 13 của Việt Nam khai mạc ngày 21/7, Phó Thủ tướng thường trực Việt Nam Nguyễn Sinh Hùng phát biểu Chính phủ Việt Nam sẽ “áp dụng biện pháp bảo vệ chủ quyền quốc gia, bảo vệ các hoạt động của ngư dân, các hoạt động kinh tế, thương mại cũng như hoạt động khai thác và sử dụng dầu khí trong vùng biển thuộc chủ quyền của mình”.

Trong khi đó các cuộc biểu tình chống Trung Quốc ở Việt Nam cũng đồng thời diễn ra nóng bỏng liên tục. Báo chí phương Tây đã nói: Tại Việt Nam nếu không được nhà nước cho phép, những cuộc biểu tình như vậy về cơ bản là điều không thể tưởng tượng được. Thái độ của chính phủ và biểu tình của dân chúng cũng đủ nói lên rằng trước sự lớn mạnh của Trung Quốc, Việt Nam đã cảm thấy áp lực, đặc biệt lại càng cần có được cảm giác an toàn hơn so với trước đây khi Trung Quốc còn chưa có được thực lực như hiện nay. Vì thế, Việt Nam cần có “bạn” để tăng thêm cảm giác an toàn. Vậy là Việt Nam không chỉ diễn tập quân sự chung với Mỹ mà đồng thời còn mời cả Hải quân Ấn Độ - tàu đổ bộ xe tăng “INS Airavat” của Ấn Độ hồi cuối tháng 7 đã cập cảng Nha Trang thực hiện chuyến thăm Việt Nam. Ngày 12/10 tại Niu Đêli, Thủ tướng Ấn Độ M. Singh đã hội đàm với Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang đang ở thăm Ấn Độ, hai bên đã ký hiệp định về khai thác dầu thô ở Biển Đông. Có dư luận nói rằng Việt Nam thông qua nguồn dầu khí ở 29 đảo bãi đã chiếm được ở Biển Đông nên đã thu được lợi nhuận hơn 20 tỉ USD. Rõ ràng Việt Nam sẽ không khoanh tay nhượng bộ về nguồn lợi nhuận này mà càng tiến thêm một bước nói rằng những lợi ích này cũng lại trở thành một lý do nữa để họ phải kiềm chế Trung Quốc. Việt Nam thậm chí không hề e dè, tránh né khó khăn về mặt thời gian và lịch trình như đã sắp đặt sẵn để thực hiện: Chủ tịch nước Việt Nam đi thăm Ấn Độ đồng thời với Tổng bí thư Việt Nam đi thăm Trung Quốc, ký thỏa thuận giải quyết tranh chấp lãnh thổ trên biển Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc vào ngày 11/10. Việt Nam hợp tác với Ấn Độ, trong khi Philíppin cấu kết với Nhật Bản.

Ngày 9/9, chính phủ hai nước Nhật Bản và Philíppin lần đầu tiên đã tổ chức thảo luận, bàn bạc cấp vụ phó về vấn đề an ninh biển ở khu vực châu Á, trong đó một chủ đề quan trọng là đối phó thế nào với chủ trương của Trung Quốc về chủ quyền ở Đông Hải (Biển Hoa Đông) và Biển Đông. Hai nước quyết định sẽ tổ chức thảo luận định kỳ, phối hợp hành động, thúc đẩy hợp tác và đảm bảo tự do và an ninh hàng hải cho tàu thuyền của Nhật Bản ở Đông Hải và Biển Đông. Nhật Bản còn đồng ý chi tiền huấn luyện cho lực lượng cảnh sát bảo vệ bờ biển của Philíppin. Ngày 26/9, Tổng thống Philíppin Aquino 3 đi thăm Nhật Bản, hai bên đã thảo luận vấn đề tự do và an ninh hàng hải ở Biển Đông. Rõ ràng là do có bất đồng với Trung Quốc trong vấn đề Đông Hải nên Nhật Bản đã ủng hộ Philíppin trong vấn đề Biển Đông. Tuy nhiên, đối với Nhật Bản, dù không có vấn đề về lãnh thổ nhưng đã đề cập đến vấn đề biên giới lợi ích quan trọng của họ. Một quốc gia lớn mạnh lại giàu có, biên giới lợi ích mà họ cần bảo vệ lại càng rộng. Bản thân diện tích lãnh thổ của Nhật Bản quá nhỏ, cần nhiều tài nguyên cũng đòi hỏi phải nhập từ bên ngoài nên an toàn vận chuyển tài nguyên đã trở thành việc cần quan tâm nhất đối với Nhật Bản. Vì thế có thể nói Eo biển Malắcca và tuyến đường vận tải biển ở Biển Đông là liên quan đến lợi ích của Nhật Bản. Đồng thời Nhật Bản luôn có ý thức đấu tranh tế nhị với thực lực và ý đồ của Trung Quốc sau khi trỗi dậy. Xét từ góc độ này thì Nhật Bản sẽ không hề do dự can thiệp tình hình tranh chấp Biển Đông, và đã ủng hộ các nước có tranh chấp với Trung Quốc như Philíppin và Việt Nam . 

II- Vì sao họ đều có tính hai mặt? 

Tranh chấp ở Biển Đông cũng đã chứng kiến rất nhiều hành vi tự mâu thuẫn nhau ở các nước đương sự. Ví dụ, Việt Nam tuy lời nói và việc làm không dè dặt nhưng cũng còn nhiều mặt khác: Ngày 27/6, Việt Nam cho biết sẵn sàng giải quyết hòa bình tranh chấp với Trung Quốc ở Biển Đông. Ngày 3/8, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam cho biết hai nước Trung-Việt sẽ thông qua đàm phán và hiệp thương hữu nghị giải quyết hòa bình tranh chấp trên biển giữa hai nước. Ngày 11/10, hai nước đã ký Thỏa thuận về hiệp thương giải quyết tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông. Những biểu hiện như trên được xem như hành vi mâu thuẫn trong chủ trương chính của họ, điều không hiếm gặp với chỉ riêng nước nào. Mặc dù Trung Quốc và Việt Nam ký kết Thỏa hiệp giải quyết hòa bình vấn đề Biển Đông, nhưng Tổng thống Philíppin Aquino liền kháng nghị, cho biết tranh chấp lãnh thổ ở khu vực này liên quan đến nhiều nước, cần thông qua hiệp thương đa phương để giải quyết trong khuôn khổ ASEAN, Thỏa thuận song phương giữa Trung Quốc và Việt Nam không “giải quyết toàn diện vấn đề tranh chấp”. Tuy nhiên, trong chuyến thăm Trung Quốc hồi cuối tháng 8 chính ông này cũng hoàn toàn nhận lời, cam kết vấn đề Biển Đông liên quan giữa Trung Quốc và Philíppin cần thông qua hiệp thương để giải quyết chứ không thể dùng vũ lực. Tuy vậy trong chuyến thăm Trung Quốc lần này, Aquino 3 còn đem về nhiều hợp đồng thương mại lớn, hy vọng thông qua mở rộng quan hệ kinh tế thương mại để làm gia tăng lợi ích thực tế. Rõ ràng, giữa Việt Nam và Philíppin không chỉ đặt trọng tâm vào việc quốc tế hóa vấn đề Biển Đôngđể tìm kiếm sự bảo hộ lợi ích của mình, mà hai nước này cũng không muốn chọc giận Trung Quốc đến cùng. Năm 1987, Tổng thống Philíppin bà Aquino đi thăm Trung Quốc, khi bàn đến vấn đề Biển Đông với Đặng Tiểu Bình, bà Aquino nói: “Ít nhất về mặt địa lý, các đảo này gần Philíppin hơn”. Đặng Tiểu Bình mỉm cười, đáp: “Về mặt địa lý, Philíppin cũng rất gần Trung Quốc”. Vì thế, sự thực về địa chính trị làm cho Philíppin và Việt Nam không dám hoàn toàn quyết liệt với Trung Quốc, vì như thế không chỉ làm cho họ mất đi lợi ích kinh tế không thể lường trước, mà về khả năng quân sự khoảng cách giữa hai nước này với Trung Quốc cũng cách nhau một trời một vực. Vì vậy, đó vừa là nguyên nhân căn bản khiến hai nước này kiềm chế Trung Quốc, vừa là nguyên nhân thực tế khiến các nước này chỉ có thể là “cáo mượn oai hùm”. 

Trên thực tế, những nước chủ động tỏ ra thân thiện với Trung Quốc không chỉ có Philíppin và Việt Nam. Tại Hội nghị cấp cao Đông Á họp ở Bali của Inđônêxia mới đây, sau khi nghe nói Mỹ và Ôxtrâylia diễn tập quân sự liên hợp, chủ tịch luân phiên ASEAN là Inđônêxia đã tuyên bố hy vọng diễn tập quân sự nói trên sẽ mời Trung Quốc và tất cả các nước Đông Nam Á cùng tham gia. Brunây cũng đã ký thỏa thuận với Trung Quốc về hợp tác dầu khí ngoài khơi. Thậm chí cả Ấn Độ gần đây cũng đề nghị ba nước Trung Quốc-Mỹ-Ấn Độ tổ chức hội nghị hiệp thương giải quyết tranh chấp Biển Đông. Nói cho cùng thì mỗi nước đều có cách tính toán riêng của mình. Các nước Philíppin và Việt Nam vừa muốn được lợi kinh tế từ Trung Quốc, lại vừa hy vọng thông qua liên kết với Mỹ, Ấn Độ và Nhật Bản để kiềm chế Trung Quốc, đề phòng Trung Quốc chủ đạo tình hình Biển Đông, từ đó gia tăng cảm giác an toàn của mình. Nhưng đồng thời cũng sợ đi quá xa, vừa làm cho Trung Quốc tức giận, lại vừa “rước sói vào nhà”, cuối cùng khiến Biển Đông một lần nữa trở thành vũ đài để các nước lớn đấu nhau, còn những nước nhỏ như họ sẽ làm vật hy sinh. Chính mâu thuẫn tâm lý như vậy là nguyên nhân thực sự khiến cho hành vi của họ xem ra mâu thuẫn nhau. Tuy nhiên, không phải cách suy nghĩ của tất cả các nước Đông Nam Á đều chỉ như thế. Inđônêxia là nước Hồi giáo lớn nhất thế giới, cũng coi là nước lớn ở khu vực Đông Nam Á. Sở dĩ Inđônêxia muốn Trung Quốc và các nước Đông Nam Á đều có thể tham gia diễn tập quân sự hỗn hợp Mỹ-Ôxtrâylia vì đó cũng là dịp để nước này thể hiện địa vị của mình, hy vọng có được quyền phát ngôn lớn nhất ở khu vực Đông Nam Á. Về phương diện này Philíppin có biểu hiện hết sức rõ rệt, thông qua hội nghị về vấn đề Biển Đôngdo Philíppin tự tổ chức, hy vọng có thể chủ đạo việc giải quyết tình hình Biển Đông, đồng thời đưa ra dự thảo nghị quyết về vấn đề Biển Đông tại Hội nghị cấp cao ASEAN. Qua đó có thể thấy được tính hai mặt của các nước này. Sự việc bề ngoài xem ra “cần phải” như vậy thì trên thực tế lại luôn chưa ra hàng ra lối, đó là khó khăn trong hành động tập thể. Ý muốn liên kết kiềm chế Trung Quốc sẽ bị ảnh hưởng bởi sự khác nhau về lợi ích giữa các nước. Xây dựng liên minh là bởi có kẻ thù chung, biện pháp an ninh tập thể được cho là có khả năng bảo vệ sự tồn tại của chính mình được tốt hơn, nhưng trên thực tế lợi ích của mỗi quốc gia với quốc gia khác trong cùng liên minh lại chưa bao giờ thống nhất với nhau, kể cả áp lực an ninh mà mỗi nước phải đối mặt cũng không hoàn toàn giống nhau. 

Ví dụ, Việt Nam giáp giới với Trung Quốc, lại có không biết bao nhiêu mối liên hệ khác trong lịch sử, tiếp nữa là cuộc chiến tranh giữa Trung Quốc và Việt Nam, tất cả đều có ảnh hưởng rất lớn đối với Việt Nam. Vì thế áp lực mà Việt Nam cảm nhận trong nội tâm phải lớn hơn các nước khác. Cũng như vậy, do bóng đen của chiến tranh, trong phản ứng của Việt Nam với nước Mỹ cũng tự nhiên có theo bao nhiêu mối lo. Đồng thời trong vấn đề Biển Đông, Việt Nam đã chiếm được 29 đảo bãi, đó vừa là quốc gia được lợi lớn nhất, cũng vừa là quốc gia có bất đồng lớn nhất với Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông. Một thời kỳ gần đây tình hình kinh tế Việt Nam xấu đi nhiều, xét trong ngắn hạn sẽ vẫn còn xấu đi. Trong khi đó dầu thô đã trở thành mặt hàng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam , phát triển dầu khí là trụ cột quan trọng của nền kinh tế Việt Nam. Trong tổng số lượng dầu xuất khẩu hàng năm của Việt Nam có 27% là từ khu vực đang có tranh chấp ở Biển Đông. Đối với Inđônêxia, tranh chấp với Trung Quốc trong lịch sử ít, vị trí cách Trung Quốc cũng xa, liên lụy với Trung Quốc trong vấn đề Biển Đôngcũng không nhiều nên áp lực cảm nhận về thực tế Trung Quốc trỗi dậy và bất đồng với Trung Quốc trong vấn đề Biển Đôngđều nhỏ, hiển nhiên phương thức hành động của Inđônêxia và Việt Nam có phần khác nhau. Sự thực cũng đã kiểm nghiệm cách lập luận này, Việt Nam tích cực liên kết với nước khác kiềm chế cân bằng Trung Quốc, trong khi Inđônêxia chỉ phụ họa đi theo. Giữa các nước không nhất định cứ vì đe dọa lợi ích chung mới hợp tác, hơn nữa không nhất thiết cứ phải hợp tác để tranh thủ lợi ích chung. Trong một thế giới “hỗn mang”, người bạn hôm nay có thể trở thành kẻ thù vào ngày mai, vấn đề mà quốc gia quan tâm hơn là lợi ích tương đối chứ không phải tuyệt đối, nếu một nước cho rằng nước khác có thể có được nhiều lợi ích hơn thì rất có khả năng sẽ từ bỏ hợp tác. Đó chính là nguyên nhân giải thích vì sao chính sách đối ngoại của những nước này lại có tính hai mặt. 

III- Ai có thể kiềm chế, cân bằng Trung Quốc ở Biển Đông? 

Cách nghĩ của các nước Đông Nam Á trong vấn đề Biển Đông kỳ thực là gặp nhau trong việc mở rộng thành viên của ASEAN, đều không muốn bị chính trị nước lớn chôn vùi. Bộ trưởng cao cấp Xinhgapo Lý Quang Diệu đã nói Trung Quốc và Mỹ xảy ra xung đột, đó là việc mà các nước Đông Nam Á lo lắng nhất. Các nước này không muốn gặp cảnh buộc phải lựa chọn hoặc nước này hoặc nước kia. Vì thế, trong khi Việt Nam và Philíppin lôi kéo Mỹ, Nhật Bản và Ấn Độ thì đồng thời, Philíppin gần đây lại cũng lôi kéo Liên minh châu Âu vào vấn đề Biển Đông. Các nước này muốn các nước lớn đó kiềm chế lẫn nhau, lo ngại cục diện chỉ một nước lớn độc chiếm làm chủ tất cả. Nhưng các nước này đã bỏ qua một vấn đề căn bản nhất, đó là nước nhỏ dù có “đục nước béo cò” đến đâu thì việc đảm bảo cơ bản đối với họ vẫn phải dựa vào nước lớn để thực hiện. Nói cách khác, họ tuy có ý đồ “tránh sói” thế nào ở cửa trước cũng không tránh được phải “rước hổ” từ phía cửa sau. Hành động hiện nay của họ rất có thể dẫn đến hậu quả như vậy, cho dù bản thân họ cũng có phần cảnh giác. Xét tình hình trước mắt thì các nước lớn xen vào vấn đề Biển Đông có Nhật Bản, Ấn Độ và Mỹ. Nhật Bản coi Eo biển Malắcca là tuyến đường biển huyết mạch, nhưng Nhật Bản không có đòi hỏi lãnh thổ ở Biển Đông nên bản thân lý do Nhật Bản nhảy vào Biển Đông là rất khiên cưỡng, lộ liễu. Không lâu sau khi Nhật Bản thành lập nội các mới nhiệm kỳ hiện nay, Ngoại trưởng Nhật Koichiro Gemba ngày 11/10 đã bắt đầu thực hiện chuyến thăm Đông Nam Á 5 ngày, trong đó vấn đề quan tâm nhất là thảo luận bàn bạc thống nhất và hiệp thương với Inđônêxia và các nước các nước Đông Nam Á khác về “vấn đề đảm bảo an ninh biển”. Báo chí Nhật Bản đưa tin Chính phủ Nhật Bản đang có kế hoạch cùng với Việt Nam và Philíppin thành lập một cơ quan phối hợp về vấn đề chủ quyền và đảm bảo an ninh hàng hải ở Biển Đông.

Giữa tháng 11, Thủ tướng Nhật Bản Noda đã tham gia loạt hội nghị cấp cao các nhà lãnh đạo Đông Á, đề xuất ý tưởng về một “hành lang kinh tế biển ASEAN”, hy vọng đạt được nhận thức chung cùng thành lập hành lang nói trên với các nước Đông Nam Á. Trên thực tế “Hành lang kinh tế” nói trên là “hành lang kinh tế vòng quanh Biển Đông”, cho thấy rõ lập trường của Nhật Bản can thiệp toàn diện vào vấn đề Biển Đông để đảm bảo chắc chắn quyền và lợi ích của Nhật Bản trong vùng biển Biển Đôngcũng như giao thông hàng hải của Nhật Bản ở vùng biển này. Giáo sư Ngô Tâm Bá cho rằng Nhật Bản can thiệp Biển Đông trước hết là phối hợp với Mỹ. Mỹ khi có ưu thế, nói chung đều tự can thiệp vào khu vực có vấn đề, khi thế của họ yếu đi thì kích động các bên khác kiềm chế. Vì thế trong vấn đề Biển Đông, Mỹ đặc biệt cổ vũ Nhật Bản và Ấn Độ kiềm chế Trung Quốc. Sau nữa, để có được lợi thế trong tranh chấp ở biển Hoa Đông, Nhật Bản rõ ràng kiềm chế Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông, khiến Trung Quốc phải phân tán lực lượng. Cuối cùng, một bộ phận người Nhật Bản cho rằng Trung Quốc về mặt chiến lược ngày càng coi thường Nhật Bản nên biểu hiện của Nhật Bản ở Đông Nam Á cũng đáp lại Trung Quốc bằng cách nhìn nhận như vậy. Tuy nhiên, một số nước như Philíppin tích cực lôi kéo Nhật Bản can thiệp vấn đề Biển Đông nhưng không phải tất cả các nước ASEAN đều tán thành cách làm như vậy. Ngay từ tháng 1, Ngoại trưởng Inđônêxia đã thể hiện sự lo lắng đối với việc Nhật Bản can thiệp Biển Đông. Trong tháng 6 và tháng 11, Inđônêxia lại cho biết vấn đề Biển Đông cần phải do các nước đương sự giải quyết với nhau. Inđônêxia không chỉ xem xét vấn đề từ phương diện lịch sử của Nhật Bản mà cũng không muốn nước lớn khác can thiệp quá nhiều vào vấn đề Biển Đông. Từ đó có thể thấy Nhật Bản dù có ý định can thiệp vấn đề Biển Đôngđể kiềm chế Trung Quốc nhưng “không ở địa vị sẽ khó mưu việc chính sự”.

Nhật Bản có rất nhiều cách nghĩ trong vấn đề Biển Đông nhưng rất khó áp dụng được trong thực tiễn. Đồng thời xét những hạn chế trong hiến pháp Nhật Bản cũng như kinh tế Nhật Bản nhiều năm nay suy yếu, lại gặp nhiều rủi ro không lường trước, cộng thêm điều kiện địa lý làm hạn chế khả năng của bản thân Nhật Bản thì ảnh hưởng của Nhật Bản đối với vấn đề Biển Đông là không nhiều. Ấn Độ là nước hết sức hăng hái trong năm nay, từ báo chí đến chính phủ lúc nào cũng chĩa mũi dùi vào Trung Quốc, thường xuyên tỏ rõ địa vị nước lớn của mình trong các nước láng giềng của Trung Quốc. Tuy nhiên, cuối cùng khu vực lợi ích trung tâm của Ấn Độ không phải nằm ở Biển Đông. Một loạt tài liệu của Ấn Độ đều xác định khu vực lợi ích trung tâm của Ấn Độ là ở vùng biển Ấn Độ Dương. Đối với mục tiêu kiềm chế Trung Quốc, mặc dù Ấn Độ hài lòng với việc mình làm, một mặt có thể hạn chế Trung Quốc mở rộng ảnh hưởng khi tham gia các công việc ở Nam Á, đặc biệt coi đó là biện pháp để đáp lại quan hệ đặc biệt giữa Trung Quốc và Pakixtan, mặt khác có thể có được một số lợi ích kinh tế, ví dụ như hợp tác phát triển dầu khí với Việt Nam ở Biển Đông. Nhưng nếu có hành động trong vấn đề Biển Đông thì Ấn Độ phải xem xét đến giá phải trả về trách nhiệm kiềm chế Trung Quốc trỗi dậy, càng chưa nói đến lĩnh vực này không hề có vai trò quan trọng đối với Ấn Độ. Thêm nữa là đặc tính truyền thống về tôn giáo và văn hóa của Ấn Độ, rất khó nói được rằng Ấn Độ có điều kiện cơ bản để kiềm chế Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông. Vì thế, có thể thấy được rằng trong vấn đề Biển Đông, các nước Đông Nam Á, Ấn Độ và Nhật Bản đều không thể trở thành bên kiềm chế Trung Quốc hữu hiệu, nên lần này Mỹ đã quyết tâm phải tự mình ra tay. Trong khi bà Clinton lại lớn tiếng tuyên bố “trở lại châu Á”, hành động của Mỹ một lần nữa cũng đồng thời nhắm đúng vào khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

IV- Mỹ ra tay, phải để Trung Quốc tin được Mỹ có khả năng sử dụng vũ lực 

“Tay cân bằng xa bờ”, đó là cách miêu tả về vai trò của nước Anh khi đứng trước những đối thủ cạnh tranh có thể xuất hiện ở lục địa châu Âu lúc ban đầu: Dựa vào đặc điểm cách biệt của vùng nước, thúc đẩy các nước châu Âu khác đối kháng với nước trỗi dậy, duy trì thế cân bằng ở châu Âu, đề phòng xuất hiện kẻ thách thức lớn mạnh, còn mình thì thờ ơ như kẻ ngoài cuộc để hưởng lợi. “Tay cân bằng xa bờ” chỉ có một nguyên tắc là tránh cho một khu vực nào đó xuất hiện một nước bá quyền, còn nước chủ đạo hiện hữu đầu tiên là trút bỏ trách nhiệm, sau đó đứng về bên của nước chống lại nước trỗi dậy để loại bỏ mầm họa. Sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai, Mỹ triệt để tiếp nhận chiếc gậy quyền lực của nước Anh, bắt đầu đóng vai trò của “tay cân bằng xa bờ” trong phạm vi thế giới: Thi hành “Kế hoạch Marshall” ở châu Âu, hy vọng châu Âu có thể tự đảm nhận trách nhiệm cân bằng với Liên Xô; Ở châu Á, Mỹ một thời muốn lợi dụng Trung Quốc thời chính phủ Quốc dân đảng để kiềm chế, cân bằng Liên Xô, sau đó Tưởng Giới Thạch bị lật đổ, Mỹ mới bắt đầu coi trọng địa vị của Nhật Bản, đồng thời không tiếc sức đóng quân tại nhiều địa điểm ở châu Á-Thái Bình Dương. Vì nguồn lực chiến lược của Nhật Bản rất có hạn nên Mỹ không thể thoái thác trách nhiệm, đành phải tự mình đứng ra cân bằng. Nước bá quyền và nước trỗi dậy tranh giành thiên hạ đã xuyên suốt lịch sử thế giới. Trong khi thực lực tương đối của Trung Quốc và Mỹ có sự thay đổi nhất định, Mỹ phải kiềm chế Trung Quốc để giữ địa vị chủ đạo của mình. Như đã nói trên, hiện nay ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương chưa có được nước cân bằng thích hợp, Mỹ cần phải tạo nên một “cây cầu lớn” như vậy. Từ lâu nay Mỹ đã duy trì trạng thái đóng quân với số lượng lớn ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Các liên minh quân sự Mỹ-Nhật Bản, Mỹ-Hàn Quốc, Mỹ-Philíppin, Mỹ-Ôxtrâylia đã đe dọa Liên Xô (Nga) và Trung Quốc. Người Mỹ tự cho mình là người bảo vệ hòa bình thế giới, nhưng sự thực là việc Mỹ đóng quân luôn trở thành người bảo vệ cho lợi ích của Mỹ ở khu vực, bất luận biện pháp bảo vệ là đe dọa hay là sử dụng vũ lực.

Lần này Mỹ tuyên bố đóng quân lâu dài ở Ôxtrâylia, số quân sẽ tăng lên đến 2.500 người trong vòng 5 năm, tàu sân bay chạy bằng động cơ hạt nhân của Mỹ cũng sẽ tuần tiễu ở vùng biển thuộc Ôxtrâylia, hơn nữa Mỹ gần đây đã đề xuất chiến lược mới về “nhất thể hóa không quân và hải quân”. Quan chức Bộ Quốc phòng Mỹ khi giới thiệu chiến lược nói trên tuy không nhắc đến tên “Trung Quốc” nhưng có quan chức cao cấp nói: “Xét đến vũ khí mang tính tấn công kiểu mới của Trung Quốc có thể tạo nên mối đe dọa đối với tự do hàng hải ở Biển Đông và Hoàng Hải nên Bộ mới định ra chiến lược nói trên”. Còn có quan chức quân sự cấp cao Mỹ nói: “Chiến lược này đánh dấu một bước chuyển ngoặt lớn của nước Mỹ đối với xu hướng quân sự của Trung Quốc đang chuyển sang phong cách chiến tranh lạnh của phương Đông đối với phương Tây”. Có nhà lý luận cho rằng Mỹ đóng quân ở Ôxtrâylia là chuyển dịch từ Okinawa, theo vị trí đối thẳng với Trung Quốc thì đó là cách xa chứ không phải đến gần, hơn nữa máy bay chiến đấu F16C/D mà Mỹ bán cho Inđônêxia cũng không nhiều, xét về căn bản thì không đáng để Trung Quốc phải ngạc nhiên. Quan điểm này đã lẫn lộn về điều kiện đe dọa. Đe dọa có được thành công phải có hai điều kiện, một là bên đe dọa có thực lực, hai là bên bị đe dọa tin là bên đe dọa có thể sử dụng vũ lực. Thực lực của nước Mỹ không nói ai cũng biết, nhưng trước khi Mỹ bố trí quân sự cụ thể theo cách gọi “trở lại châu Á-Thái Bình Dương” mới đây thì Trung Quốc có thể không cảm nhận được áp lực mạnh như thế. Nói ngắn gọn thì Mỹ đang thỏa mãn điều kiện thứ hai trong hai điều kiện đe dọa, nghĩa là Mỹ phải làm cho Trung Quốc tin chắc rằng Mỹ có thể sử dụng vũ lực. Giáo sư Ngô Tâm Bá cho biết Mỹ trở lại châu Á-Thái Bình Dương, bề ngoài xem như quan tâm sâu sắc hơn đến khu vực Đông Nam Á nhưng thực tế là hành vi kiềm chế Trung Quốc trỗi dậy. 

Ngoài lĩnh vực quân sự, Mỹ còn có hành động trong các lĩnh vực ngoại giao và kinh tế. Từ lâu nay Mianma trên tổng thể luôn ủng hộ Trung Quốc. Gần đây Ngoại trưởng Mỹ H. Clinton đi thăm Mianma, đó là chuyến thăm Mianma đầu tiên của chính khách quan trọng Mỹ từ hơn 50 năm qua. Rất rõ ràng, Mỹ ủng hộ lãnh tụ phe đối lập Aung San Suu Kyi tham gia bầu cử, trên danh nghĩa là thúc đẩy tiến trình dân chủ ở Mianma nhưng trên thực tế còn giành giật đồng minh với Trung Quốc. Điều rõ ràng hơn nữa là phía sau việc Mỹ thúc đẩy tiến trình dân chủ là vực dậy chính quyền thân Mỹ và làm cho chính quyền này có tác dụng đối với Mỹ. Điều đặc biệt quan trọng là Mianma sẽ trở thành nước Chủ tịch luân phiên ASEAN vào năm 2014, ảnh hưởng của Mianma sẽ không ngừng mở rộng, không thể nói Mỹ không có tính toán gì về phương diện này. Ngày 10/11/2011, trước khi diễn ra Hội nghị không chính thức các nhà lãnh đạo của Tổ chức hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương lần thứ 19, H. Clinton tuyên bố khu vực châu Á-Thái Bình Dương sẽ là trọng tâm chiến lược ngoại giao của Mỹ tới đây, thế kỷ 21 sẽ là thế kỷ Thái Bình Dương của nước Mỹ. Tại hội nghị, Obama đã thúc đẩy “Hiệp định quan hệ đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương” (TPP) do Mỹ chủ đạo, trở thành một bộ phận quan trọng về phương diện kinh tế trong chiến lược trở lại châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ. Rõ ràng, Mỹ muốn thông qua hiệp định này để ngăn chặn châu Á hình thành một tập đoàn thương mại thống nhất, đồng thời can thiệp toàn diện vào tiến trình nhất thể hóa khu vực Đông Á, đảm bảo chắc chắn lợi ích địa chính trị, kinh tế và an ninh, cuối cùng là tạo dựng lại và chủ đạo tiến trình củng cố kinh tế khu vực châu Á-Thái Bình Dương, làm tiêu tan ảnh hưởng của Trung Quốc ở khu vực này. 

Có nhà lý luận đã chỉ ra rằng cụm từ Mỹ “trở lại châu Á-Thái Bình Dương” là không chuẩn xác, vì Mỹ từ trước đến nay chưa bao giờ rời khỏi châu Á. Đúng như thế nhưng trọng tâm chiến lược của Mỹ từ khi kết thúc Chiến tranh Lạnh đến nay chưa bao giờ ngả về châu Á-Thái Bình Dương như vậy, lại càng chưa bao giờ coi trọng Biển Đông đến vậy. Sự thực cơ bản ở đây là dù các nước Đông Nam Á có ý đồ kiềm chế, cân bằng Trung Quốc như thế nào cũng đều không có thực lực. Vì thế, dù một số nước có lo ngại và bài trừ việc Mỹ hoàn toàn chủ đạo Biển Đông, các nước này cũng vẫn phải lựa chọn theo cách hợp tác với Mỹ. Thực tế cho thấy diễn tập quân sự của Việt Nam, Philíppin, Ấn Độ, Ôxtrâylia đều không thiếu sự tham gia của Mỹ. Hành vi của các nước Đông Nam Á, ở mức độ rất lớn dù là ý muốn của chính họ nhưng các nước này vẫn cần thực lực của Mỹ để làm cơ sở, cần Mỹ lớn tiếng nói về chính sách “trở lại châu Á-Thái Bình Dương” để làm bối cảnh. Thực chất việc Mỹ trở lại châu Á-Thái Bình Dương chính là thông qua liên kết với nước láng giềng của Trung Quốc để kiềm chế Trung Quốc, làm giảm nhẹ áp lực của bản thân và cuối cùng duy trì địa vị chủ đạo, cũng là chiến lược “tay cân bằng xa bờ” mà Mỹ đang sử dụng. Trương Hạo, Chủ nhiệm Phòng ngoại giao an ninh, Ban châu Á-Thái Bình Dương thuộc Viện khoa học xã hội Trung Quốc cho biết nói đến việc Philíppin và Việt Nam có lập trường cứng rắn trong vấn đề Biển Đông, ngoài yêu cầu chính trị và nhu cầu lợi ích kinh tế ở trong nước thì đó là tâm lý lo sợ do chênh lệch về thực lực của quốc gia so với sức mạnh quốc gia tổng hợp của Trung Quốc đang tăng lên. Do bị hạn chế bởi quy mô và tốc độ phát triển kinh tế trong nước, Việt Nam và Philíppin chỉ dựa vào thực lực bản thân, rõ ràng không thể kiềm chế được Trung Quốc nên hai nước vừa phải tăng cường xây dựng quân bị của mình, lại vừa phải tăng cường hợp tác với Mỹ, trở thành biện pháp hữu hiệu kiềm chế Trung Quốc của họ. Việc Mỹ lớn tiếng trở lại đã được Philíppin và Việt Nam hoan nghênh, hy vọng lợi dụng mâu thuẫn Trung- Mỹ để được lợi. 

Mặt khác, nguyên nhân căn bản của việc Mỹ “trở lại châu Á-Thái Bình Dương” là sự thay đổi thực lực tương đối giữa Trung Quốc và Mỹ. Diêm Học Thông, Giám đốc Học viện Quan hệ quốc tế đương đại thuộc Đại học Thanh Hoa nói hiện nay khoảng cách giữa Mỹ với tất cả các nước ngoài Trung Quốc đều đang giãn rộng ra, khoảng cách giữa Trung Quốc với tất cả các nước ngoài Mỹ cũng đang giãn rộng ra, đồng thời khoảng cách giữa Mỹ và Trung Quốc lại đang thu hẹp lại. Như vậy cũng là nói cục diện thế giới phát triển rất có thể là một xu thế hai cực, vì thế khi thực lực của bản thân nước Mỹ ở mức độ nào đó giảm đi thì hơn lúc nào hết Mỹ phải thể hiện thực lực của mình. Diêm Học Thông cho rằng sở dĩ Mỹ có được địa vị chủ đạo trong thế giới hiện nay vì ngoài thực lực của bản thân, còn có danh tiếng đang phát huy vai trò của Mỹ. Cũng có thể nói khi người khác đều tin tưởng rằng Mỹ có thực lực tương đối mạnh thì, dù thực lực có giảm đi Mỹ vẫn là nước chủ đạo, nhưng khi nước Mỹ thể hiện ra dấu hiệu suy thoái nào đó, dần dần nước khác sẽ nghi ngờ, cuối cùng Mỹ “đi cũng dở, ở không xong”. Đó chính là việc Mỹ đưa tàu sân bay đến khu vực Trung Đông, đối đầu với Xyri và Iran được Nga đứng phía sau, đồng thời tuyên bố tại châu Á thế kỷ 21 sẽ là thế kỷ Thái Bình Dương của Mỹ, chắc chắn đã thể hiện rõ nguyên nhân kiềm chế Trung Quốc trỗi dậy. Tuy nhiên, như Ngô Tâm Bá đã nói, biện pháp để Mỹ giữ địa vị bá quyền ở khu vực Đông Á thậm chí trên thế giới không hoàn toàn là cân bằng xa bờ, vì Mỹ trước sau chưa bao giờ thực sự “xa bờ”, ví dụ như Mỹ đã duy trì đóng đến 100 nghìn quân ở khu vực Đông Á. Theo Ngô Tâm Bá, phải nói là Mỹ “tham gia cân bằng” hoặc “tiếp xúc cân bằng” sẽ đúng hơn. Hơn nữa, Mỹ không chỉ nhằm cân bằng mà còn giữ ưu thế. Ngô Tâm Bá nói Mỹ luôn cố gắng để giữ được ưu thế về sức mạnh tuyệt đối của mình ở bất cứ khu vực quan trọng nào. Trước mắt Trung Quốc phát triển quân sự, Mỹ đã bắt đầu cảm nhận được thách thức ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Mục đích bố trí quân sự ở châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ là để có khả năng can thiệp vào tất cả mọi vấn đề liên quan mà trọng tâm là bán đảo Triều Tiên và eo biển Đài Loan.Hiện nay, sau khi Bắc Triều Tiên có vũ khí hạt nhân, khả năng và ý muốn can thiệp vấn đề Triều Tiên đã giảm mạnh, đồng thời khả năng quân sự của Trung Quốc lớn mạnh cũng làm cho Mỹ cảm thấy cái giá phải trả để can thiệp vấn đề Đài Loan tăng lên, vì thế Mỹ phải có thay đổi. Lần này, Mỹ lớn tiếng tuyên bố “trở lại châu Á-Thái Bình Dương”, một là phát đi tín hiệu với nước đồng minh của mình rằng “Mỹ chưa yếu đi”, tỏ cho thấy họ sẽ tiếp tục đảm bảo an ninh cho các nước này, hơn nữa Mỹ có khả năng như vậy, đồng thời cũng cảnh cáo Trung Quốc rằng nước Mỹ chưa yếu đi, Trung Quốc không được có hành động sai lầm; hai là tập hợp lại, có sự điều chỉnh về bố trí lực lượng, ba là muốn tìm lại khả năng kiểm soát toàn cục. Vì thế tất cả mọi việc làm của Mỹ hoàn toàn không phải là một điểm hoặc một tuyến đơn nhất, mà phải xem xét đến toàn cục ở Đông Á và châu Á-Thái bình Dương, cũng tuyệt đối không chỉ nhằm vào vấn đề Biển Đông. 

V- Áp lực và đối sách để Trung Quốc trỗi dậy 

Phó giáo sư Tôn Học Phong, Học viện quan hệ quốc tế đương đại thuộc Đại học Thanh Hoa cho rằng xét từ kinh nghiệm lịch sử trong quan hệ quốc tế thì khó khăn lớn nhất trong quan hệ đối ngoại của nước lớn trỗi dậy là làm dịu bớt được khó khăn trong quá trình trỗi dậy. Cái gọi là khó khăn trỗi dậy ở đây là cục diện lưỡng nan, theo đó nước lớn trỗi dậy vừa phải duy trì xu hướng tăng trưởng thực lực, chuyển hóa thực lực quốc gia thành ảnh hưởng đối với hệ thống, đồng thời lại phải cố gắng hết khả năng kiểm soát được áp lực an ninh trong hệ thống. Các quốc gia trỗi dậy khác nhau hoặc cùng một quốc gia nhưng trong các giai đoạn trỗi dậy khác nhau thì cường độ khó khăn trỗi dậy của nước đó hoàn toàn không giống nhau. Ngoài nhân tố địa lý và nhân tố kết cấu hệ thống, sự lựa chọn chiến lược của nước trỗi dậy cũng sẽ có ảnh hưởng quan trọng đối với khả năng nước đó có làm dịu được khó khăn trỗi dậy một cách hữu hiệu hay không. Thông thường, trong giai đoạn mà thực lực của nước trỗi dậy còn yếu hơn thực lực của nước chủ đạo hệ thống, nếu hành động chiến lược của nước trỗi dậy xung đột với lợi ích an ninh cốt lõi của nước chủ đạo và nước láng giềng càng nhỏ, thì thành công làm dịu khó khăn của nước trỗi dậy sẽ càng lớn; mức độ ép buộc trong hành động chiến lược của nước trỗi dậy càng thấp thì khả năng thành công của nước trỗi dậy cũng sẽ càng lớn. Ví dụ, sau khi nước Đức thống nhất, trọng tâm chiến lược đối ngoại của Bismarck là thông qua thành lập liên minh để duy trì thế cân bằng ở châu Âu, đem hết khả năng làm yếu đi thách thức của nước Đức đối với lợi ích an ninh trung tâm của nước chủ đạo là nước Anh và các nước lớn châu Âu khác. Đồng thời Đức cố gắng tránh sử dụng vũ lực, nhất là sử dụng vũ lực ở khu vực lợi ích trung tâm của nước chủ đạo. Kết quả là, nước Đức trỗi dậy đã tạo ra môi trường an ninh xung quanh rất tốt, làm dịu tình trạng khó khăn trỗi dậy mà nước Đức đang phải đối mặt ở thời kỳ đầu. 

Năm 2011 là năm mà mức độ phản ứng của Mỹ và các nước khác đối với Trung Quốc trỗi dậy đã mạnh thêm một cấp. Áp lực đối với Trung Quốc trong năm cũng không ngừng tăng lên, kích hoạt cho những vấn đề xung quanh Biển Đông có thể xuất hiện. Trung Quốc đã đặc biệt phải làm tốt công tác hoạch định chiến lược đối ngoại. Tôn Học Phong cho rằng từ những năm 90 của thế kỷ trước đến nay, Trung Quốc luôn cố gắng thử nghiệm chính sách vỗ về triệt để trong ngoại giao láng giềng, nhằm làm dịu bớt khó khăn trỗi dậy của bản thân. Chiến lược này tuy có thể làm dịu mâu thuẫn an ninh giữa Trung Quốc với các nước xung quanh nhưng lại khó có được hiệu quả lâu dài. Nguyên nhân xảy ra hiện tượng nói trên là do trong hệ thống Đông Á đã xuất hiện hệ thống an ninh theo đẳng cấp của nước Mỹ. Theo phương thức bảo vệ sự sống còn của quốc gia thì các nước Đông Á về cơ bản có thể chia thành hai loại, một loại là quốc gia tự lực, như Trung Quốc, Việt Nam, chủ yếu dựa vào lực lượng của bản thân để duy trì an ninh sống còn của mình. Loại quốc gia thứ hai là dựa vào nước khác, ví dụ như Nhật Bản, Philíppin, Hàn Quốc. Các nước này tuy có lực lượng quân sự riêng nhưng an ninh sinh tồn của quốc gia luôn phải nhờ vào viện trợ và giúp đỡ của nước đồng minh bên ngoài như Mỹ để được đảm bảo. Cũng có thể nói giữa các nước này với Mỹ đã hình thành một hệ thống an ninh đẳng cấp, trong đó Mỹ là nước cung cấp an ninh, nước đồng minh ở khu vực là nước tiêu thụ an ninh. Chính yếu tố này đã khiến cho chiến lược vỗ về của Trung Quốc không có được hiệu quả lâu dài. 

Tôn Học Phong còn làm rõ thêm rằng trong khi làm hòa hoãn mâu thuẫn an ninh với Trung Quốc, nước được giúp đỡ và bảo hộ trong hệ thống an ninh của nước Mỹ sẽ dựa vào Mỹ, tiếp tục tỏ rõ sức mạnh với Trung Quốc nhằm có được ưu thế trong cạnh tranh lợi ích an ninh, vì hoà hoãn tạm thời trong tranh chấp cuối cùng không đồng nghĩa với mâu thuẫn an ninh song phương cuối cùng được giải quyết. Còn Mỹ lại có thể đem lại sự bảo hộ an ninh hữu hiệu hơn. Ngoài ra, song song với việc Trung Quốc triển khai chính sách lợi dụng hợp tác kinh tế vỗ về các nước láng giềng Đông Á, quan hệ thương mại giữa các nước nói trên với Trung Quốc phần lớn đều trở nên chặt chẽ hơn, mức độ lệ thuộc vào Trung Quốc từng bước sâu sắc hơn, nhưng lo ngại của các nước này cũng bắt đầu tăng lên. Họ sợ rằng nếu tiếp tục phối hợp theo chính sách vỗ về như vậy của Trung Quốc, sẽ tạo ra ảnh hưởng mặt trái trong việc bảo vệ lợi ích an ninh trung tâm của bản thân, từ đó thúc đẩy các nước này quyết tâm lợi dụng biện pháp tất yếu mà Mỹ áp dụng trong bảo vệ an ninh để đưa đến cục diện có lợi trong cuộc cạnh tranh an ninh với Trung Quốc, cố gắng đến mức tối đa, ngăn ngừa Trung Quốc lợi dụng ưu thế để gây tổn hại đến lợi ích an ninh trung tâm của họ trong tương lai. Rõ ràng, những biện pháp nói trên ở mức độ nào đó đã làm lung lay quyết tâm của Trung Quốc trong việc kiên trì chính sách vỗ về. Trung Quốc không thể làm dịu mâu thuẫn nhưng phải trả giá bằng cách gây tổn hại cho lợi ích trung tâm của mình, cũng không thể đáp ứng nước khác mà hạ thấp mạnh mẽ mức độ ủng hộ ở trong nước đối với chính sách của mình. Vì thế, mặc dù Trung Quốc phải tiếp tục tự kiềm chế nhưng cũng không thể kiên trì mãi chính sách vỗ về. 

Trong khi làm dịu mâu thuẫn an ninh với Trung Quốc, nếu nước tự lực có mâu thuẫn an ninh trực tiếp với Trung Quốc thì họ sẽ lo lắng rằng việc hòa hoãn mâu thuẫn lâu dài với Trung Quốc (đặc biệt là tranh chấp lãnh thổ) cuối cùng sẽ có lợi cho Trung Quốc. Rốt cuộc Trung Quốc sẽ có ưu thế về thực lực và từng bước mở rộng thực lực, trong khi những nước đó lại không thể tìm kiếm được sự bảo hộ an ninh hữu hiệu nên sẽ đem hết khả năng tăng cường thực lực của mình. Tuy nhiên, sự chênh lệch về thực lực với Trung Quốc đã quyết định cho những nước này phải tìm kiếm sự giúp đỡ từ bên ngoài. Điều quan trọng hơn là các nước này sẽ nhờ vào những nước được Mỹ giúp đỡ nói trên để kiềm chế Trung Quốc trong xung đột với Trung Quốc. Đứng trước thách thức an ninh với các nước loại này, Trung Quốc không thể tránh khỏi phải có hành động để không làm tổn thất lợi ích an ninh trung tâm của mình. Kết quả là, mâu thuẫn an ninh song phương sẽ tiếp tục kích hoạt, chính sách vỗ về của Trung Quốc sẽ mất đi tính hữu hiệu. Dù quốc gia tự lực có mâu thuẫn an ninh với Trung Quốc, nhưng nước đó cũng có thể hy vọng nhờ vào sự giúp đỡ của Trung Quốc để loại bỏ mối đe dọa an ninh đến từ hệ thống an ninh của nước Mỹ, đặc biệt là hy vọng Trung Quốc làm theo cách của nước Mỹ, cũng trở thành nước đảm bảo an ninh cho mình một cách hữu hiệu. Nhưng chính sách vỗ về của Trung Quốc thường chỉ có thể đảm bảo cho những đe dọa an ninh của các nước này không xấu đi rõ rệt chứ không thể loại bỏ được những đe dọa lớn từ bên ngoài của loại quốc gia này một cách hữu hiệu, thiết thực. Kết quả tự nhiên là cuối cùng quốc gia này sẽ ngày càng xác định chính sách vỗ về của Trung Quốc làm tổn hại đến lợi ích an ninh trung tâm của họ, từ đó sẽ không sẵn sàng phối hợp lâu dài với chính sách vỗ về của Trung Quốc. 

Đối với việc Trung Quốc trỗi dậy, tư duy của các nước Đông Nam Á và cách nghĩ chủ yếu của phương Tây là nhất trí với nhau, cho rằng nước trỗi dậy nhất định sẽ thông qua thay đổi hiện trạng để có được địa vị chủ đạo, còn ở khu vực Biển Đông là kẻ đi đầu. Nhưng về phương diện khác, vấn đề này cũng giải thích vì sao giữa Trung Quốc và các nước Đông Nam Á lại thiếu lòng tin. Tại Hội nghị các nhà lãnh đạo Trung Quốc - ASEAN lần thứ 14, Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã nói tranh chấp ở Biển Đông là vấn đề tích tụ từ nhiều năm qua, cần phải do nước chủ quyền liên quan trực tiếp thông qua hiệp thương hữu nghị và đàm phán hòa bình để giải quyết, thế lực bên ngoài không nên can thiệp bằng bất cứ giá nào. Kỳ thực, trong vấn đề Biển Đông, Mỹ dù lên tiếng rất mạnh nhưng khó khăn của họ trong việc can dự sâu vào vấn đề Biển Đông là rất lớn. Ngô Tâm Bá cho rằng vấn đề Biển Đông chủ yếu bắt nguồn từ tranh chấp chủ quyền khiến cho Mỹ rất khó tỏ rõ thái độ. Cho dù Mỹ có thể ủng hộ lập trường của nước đồng minh, nhưng bản thân họ rất khó có được thái độ công khai để khẳng định phần lãnh thổ cụ thể nào thuộc về một quốc gia nào. Ngoài ra, Mỹ không có cách nào để trực tiếp tham gia đàm phán với nước hữu quan, vì bản thân họ không phải là bên liên quan trực tiếp, bởi thế Mỹ cùng lắm cũng chỉ gây áp lực, vì vấn đề này vừa không gây tổn hại đến lợi ích của Mỹ, vừa không có mối liên quan gì khác với họ. Trương Khiết cho rằng không nhất thiết phải quá lo lắng việc Mỹ can dự sâu vào vấn đề Biển Đông. Lợi ích chủ yếu của Mỹ ở Biển Đông chẳng qua chỉ có ba điểm là: Chiến hạm của Mỹ tự do đi qua Biển Đông không bị thiệt hại; khi xung đột leo thang mà ảnh hưởng đến lợi ích của đồng minh của Mỹ ở khu vực này, Mỹ sẽ phải có biện pháp đối phó; đảm bảo lợi ích khai thác tài nguyên ở Biển Đông cho các công ty xuyên quốc gia của Mỹ. Rõ ràng là trong lợi ích cụ thể ở Biển Đông, Trung Quốc và Mỹ không có xung đột mang tính căn bản. Còn ý đồ trung tâm của Mỹ là cân bằng ảnh hưởng của Trung Quốc đang ngày một tăng lên. Mỹ cho rằng chỉ có nước Mỹ mới có địa vị và sức mạnh quốc gia để loại bỏ tình trạng mất cân bằng quyền lực rõ ràng ở khu vực này. 

Như vậy, Trung Quốc cần phải đối phó với cục diện phức tạp ở Biển Đông bằng cách nào? Các học giả đã nêu lên một số giả thiết cho vấn đề này. Ngô Tâm Bá cho biết ông đã tham gia Hội nghị an ninh châu Á tổ chức tại Xinhgapo (Đối thoại Shangri La lần thứ 14). Khi đó, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ R. Gates đã nhiều lần nhắc đi nhắc lại thông điệp chủ yếu tại hội nghị rằng Mỹ sẽ không rời khỏi khu vực này. Nhưng sau đó, Giám đốc Học viện chính trị Lý Quang Diệu ở Xinhgapo Mã Khải Thạc vẫn truy vấn, rằng khi chi phí quân sự của Trung Quốc không ngừng tăng lên, còn chi phí quân sự của Mỹ không ngừng giảm đi, ngài Gates sẽ làm thế nào để cho chúng tôi tin được rằng trong 5 năm tới Mỹ sẽ không rời khỏi đây? Rõ ràng trong phương diện này, Mỹ đã phải chịu áp lực, hay nói cách khác là đồng minh của Mỹ đã nghi ngờ Mỹ. Trong chính trường quốc tế, lòng tin phải quan trọng hơn khả năng thực tế. Ngô Tâm Bá cho rằng trong đối sách của Trung Quốc cần phải nắm chắc ba điểm sau: Trước hết, phải nhìn nhận thấu đáo vấn đề, phải thấy được rằng các động thái của Mỹ luôn hư hư thực thực nên không nhất thiết phải quá lo lắng. Hành động mới đây của Mỹ chắc chắn là có ý tạo thanh thế. Việc Mỹ đóng quân tại Ôxtrâylia, tư thế của Mỹ trong các hội nghị, trên thực tế không tạo nên mối đe dọa về bản chất đối với Trung Quốc nhưng đó là một tín hiệu. Thứ hai, trong khi xem xét vấn đề Biển Đông và quan hệ với các nước xung quanh, Trung Quốc nhất định phải có quan niệm toàn cục chứ không thể thấy vấn đề nào thảo luận vấn đề đó, mà phải là có cần có bỏ, có tiến có lui. Thứ ba, Trung Quốc cần phải phát huy triệt để ưu thế của mình. Trước hết là ưu thế địa lý, tức Trung Quốc là một quốc gia hải lục phức hợp; Trung Quốc có nhiều mối quan hệ với các khu vực, có diện tích lãnh thổ rộng, có thể sẵn sàng can dự và xuất quân trong các vấn đề xung quanh. Hai là, Trung Quốc có ưu thế về kinh tế. Những nước này dựa vào nước Mỹ về an ninh nhưng về kinh tế chỉ có thể dựa vào Trung Quốc. Trung Quốc hiện nay là đối tác thương mại lớn nhất của Nhật Bản, Hàn Quốc, Bắc Triều Tiên, Mông Cổ, Ấn Độ, Việt Nam, Inđônêxia. Nước này là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Nhật Bản, Hàn Quốc, Mông Cô, Malaixia, Inđônêxia và Thái Lan; Trung Quốc còn là nước có nguồn lực đầu tư nước ngoài chủ yếu vào ngày càng nhiều nước châu Á. Trong khi đó, Mỹ còn phải xuất khẩu sang khu vực Đông Á để thu lời. Vì thế, các nước Đông Nam Á còn phải dựa vào Trung Quốc về kinh tế. Cuối cùng là ưu thế về ý tưởng của Trung Quốc. Nói một cách tương đối thì ý tưởng của Trung Quốc thời hậu Chiến tranh Lạnh là nghiêng về hòa bình hơn, chú trọng hợp tác an ninh khu vực hơn, có quan điểm an ninh mới “không sử dụng vũ lực, giải quyết tranh chấp bằng phương thức hòa bình”. Trong khi đó, Mỹ yêu cầu người khác phải tuân thủ luật pháp quốc tế, còn bản thân Mỹ đến nay vẫn chưa tham gia “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển”. 

Tôn Học Phong cho rằng cần phải điều chỉnh chiến lược vỗ về của Trung Quốc theo hai phương diện sau đây: Thứ nhất, Trung Quốc cần kết hợp, điều hòa giữa chính sách vỗ về xung quanh và chính sách đối với Mỹ, xem xét toàn diện trong mối liên hệ chứ không tách biệt. Nếu không, ngoại giao Trung Quốc sẽ thường xuyên gặp phải tình trạng quan hệ song phương với Mỹ vẫn được, nhưng quan hệ với các nước Đông Á lại sinh ra cạnh tranh quyết liệt. Phương thức chủ yếu để gắn kết chính sách Đông Á của Trung Quốc với chính sách đối với Mỹ của Trung Quốc lại với nhau là nâng cấp đối thoại an ninh khu vực châu Á-Thái Bình Dương đã được thiết lập giữa Trung Quốc và Mỹ và cố gắng tổ chức thảo luận đạt hiệu quả thực tế như dự kiến để duy trì trạng thái ổn định tổng thể ở khu vực Đông Á. Đồng thời, có thể thử nghiệm thiết lập cơ chế đối thoại song phương không chính thức về an ninh chiến lược Đông Á giữa Trung Quốc và Mỹ, để đảm bảo cho đối thoại chiến lược châu Á-Thái Bình Dương chính thức của chính phủ có được hiệu quả thiết thực. Thứ hai, hoạch định chính sách phù hợp hơn với đặc điểm về sự đe dọa an ninh của nước tự lực trong khu vực Đông Á và nhắm mục tiêu vào các nước đó. Về chính sách an ninh của nước được bảo hộ như Philíppin, điều dễ nhận thấy là những nước này không có nhiều khả năng áp dụng chính sách mang tính đối kháng đặc biệt nghiêm trọng trong điều kiện Trung-Mỹ có thể đạt được nhất trí. Vì thế, chính sách Đông Á của Trung Quốc (bao gồm khu vực Biển Đông) chủ yếu cần quan tâm đến nước tự lực vốn phải dựa vào bản thân để bảo vệ an ninh của chính mình, đồng thời xây dựng chính sách sao cho phù hợp hơn với đặc điểm của nước đó và nhắm vào nước đó. Nếu đe dọa chủ yếu của những nước đó đến từ những nước đồng minh quân sự do Mỹ chủ đạo thì Trung Quốc có thể bảo hộ an ninh cho nước đó một cách thích hợp để làm yếu đi chính sách đối kháng của nước đó nhắm vào Trung Quốc. Nếu đe dọa của những nước đó đến từ Trung Quốc thì Trung Quốc tất yếu phải áp dụng chính sách phối hợp giữa vỗ về và cứng rắn để đạt được hiệu quả tương tự. Cách đây không lâu, 4 nước Trung Quốc, Lào, Mianma và Thái Lan đã đạt được thỏa thuận cùng bảo vệ tuyến giao thông đường thủy trên sông Mê Công. Cùng với việc thực lực quốc gia của Trung Quốc phát triển, Trung Quốc vừa phải thể hiện được ý nghĩa của sự phát triển đối với dân chúng, cũng vừa phải dựa vào thực lực của bản thân để bảo vệ biên giới lợi ích đang ngày một mở rộng của mình. Việc bảo vệ an ninh vận tải đường thủy trên sông Mê Công không chỉ là bảo vệ an ninh khu vực, đảm nhận trách nhiệm nước lớn của Trung Quốc, mà còn phải là vấn đề bảo vệ an ninh cho các công dân của Trung Quốc ở nước ngoài. Hơn nữa, việc mở rộng hoạt động thương mại của Trung Quốc cũng khiến cho mức độ an toàn của khu vực xung quanh liên quan trực tiếp đến lợi ích của Trung Quốc. Vì thế, Trung Quốc cần phải làm được như vậy, nếu không thì nước trỗi dậy sẽ không biết phải bắt đầu bàn bạc từ đâu.

Ngày 2/12/2011, Ngoại trưởng Adam của Xâysen cho biết Xâysen đang đề nghị Trung Quốc xây dựng căn cứ quân sự trong lãnh thổ nước này để nâng cao khả năng đối phó với hải tặc. Đề nghị nói trên của Xâysen một lần nữa tiếp tục cho thấy khi thực lực của Trung Quốc tăng lên, việc họ đóng quân nhằm bảo vệ an ninh khu vực sẽ phù hợp với yêu cầu của rất nhiều quốc gia. Giáo sư Ngô Tâm Bá cho rằng đối với Trung Quốc, tầm quan trọng của việc bảo vệ an ninh đường thủy bằng lực lượng vũ trang trên sông Mê Công chỉ đứng sau cơ chế hợp tác của Tổ chức hợp tác Thượng Hải, sự kiện xảy ra trên sông Mê Công quả đã một lần đem lại cơ hội cho Trung Quốc. Vấn đề mà Trung Quốc và các nước xung quanh phải đối mặt nhiều hơn là an ninh phi truyền thống, vì thế hoàn toàn có thể lấy đó làm thông lệ, thông qua phương thức hợp tác quân sự với các nước láng giềng để cùng bảo vệ an ninh. Trung Quốc gần đây đã bắt đầu tự tổ chức diễn tập quân sự ở Thái Bình Dương. Báo chí đưa tin, từ ngày 22 - 23/11/2011, sáu chiến hạm của Hải quân Trung Quốc đã lần lượt đi qua vùng biển giữa đảo Okinawa và đảo Miyako với tốc độ 25 km/giờ, từ biển Hoa Đông tiến đến Thái Bình Dương. Việc làm nói trên hoàn toàn phù hợp với luật quốc tế. Trung Quốc gần đây liên tục diễn tập quân sự ở vùng biển nói trên. Từ tháng 10/2011 đến nay, Quân Giải phóng Trung Quốc đã tổ chức diễn tập quân sự liên hợp phối hợp giữa lục quân và không quân ở Tây Tạng. Ở Hoàng Hải, họ cũng đã tổ chức huấn luyện chiến đấu liên hợp. Vào cuối tháng 10/2011, tàu chiến hải quân lại tiến đến huấn luyện ở Tây Thái Bình Dương. Cuối tháng 11, tàu sân bay của Trung Quốc ra khơi chạy thử lần thứ hai. Những động thái thể hiện thực lực của Trung Quốc nói trên cũng là hành động đáp trả mạnh mẽ trong vấn đề xung quanh Biển Đông. Trương Khiết cho biết từ cố gắng ngoại giao của Chính phủ Trung Quốc trong năm 2011, có thể nhận định rõ rằng trong tương lai Trung Quốc vẫn sẽ áp dụng chính sách tự kiềm chế để đối phó với tranh chấp Biển Đông. Duy trì môi trường xung quanh ổn định, đảm bảo để Trung Quốc trỗi dậy vẫn là sự lựa chọn chiến lược quan trọng của Trung Quốc hiện nay. Sách lược Trung Quốc trong xử lý tranh chấp Biển Đông, việc Trung Quốc cố gắng phát triển tàu sân bay và một loạt cuộc diễn tập quân sự trên vùng biển gần đều được coi là một chỉnh thể, đã trở thành hàn thử biểu để các nước trong và ngoài khu vực đoán định Trung Quốc lựa chọn phương thức hòa bình hay sử dụng vũ lực để trỗi dậy. Vấn đề Biển Đông đã không chỉ là tranh chấp chủ quyền về lãnh thổ lãnh hải, mà còn là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến môi trường an ninh xung quanh và chiến lược toàn cầu của Trung Quốc.


Theo Tạp chí “Tri thức thế giới”- BNG Trung Quốc ( kỳ 24 năm 2011)

Lê Sơn (gt)

 

Bài viết của Chuẩn Đô Đốc (đã nghỉ hưu) Rosihan Arsyad, Hải quân Indonesia[1] phân tích tầm quan trọng về chiến lược, kinh tế của Biển Đông đối với các cường quốc:Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ…và đối với cộng đồng quốc tế. Trong bối cảnh tình tranh chấp phức tạp và kéo dài, tác giả đưa ra một số biện pháp hợp tác trên cơ sở cần bằng lợi ích giữa các bên nhằm tạo ra môi trường hòa bình, ổn định và an ninh tại Biển Đông

GIỚI THIỆU

Học giả về sức mạnh biển người Mỹ Afred Thayer Mahan rất chính xác khi nhận định rằng: “Từ góc độ chính trị xã hội, điều đầu tiên và rõ ràng nhất mà biển thể hiện chính là con đường rộng lớn hay có lẽ đúng hơn là một khu vực chung rộng lớn mà con người có thể qua lại từ mọi hướng”.[2] Từ nhận định này, đã xuất hiện một sự thừa nhận rộng rãi rằng đại dương là “di sản chung của nhân loại” và điều này chính là khởi nguồn quan trọng cho việc xây dựng Công ước luật biển.

Trong khi biển cả vẫn duy trì chức năng chính như một kênh giao thông quan trọng, hiện có kỳ vọng lớn hơn về những nguồn tài nguyên dồi dào mà nó mang lại.[3] Sự quan tâm ngày càng tăng đối với các nguồn tài nguyên biển là một xu hướng tự nhiên vì chúng ta có thể nhận ra rằng nguồn tài nguyên trên đất liền sẽ không đủ để thỏa mãn nhu cầu ngày một lớn hơn của con người. Với nguồn tài nguyên và năng lưọng phong phú, biển được coi là nơi cuối cùng trên trái đất để thăm dò và khai thác nguồn tài nguyên nhằm phục vụ cho nhu cầu ngày càng gia tăng của con người.[4]

Tài nguyên biển ngày càng có ý nghĩa kinh tế quan trọng đối với sự gia tăng dân số trên thế giới. Nhưng theo thời gian, việc khai thác quá mức nguồn tài nguyên thiên nhiên biển và việc vận chuyển các loại hàng hóa đặc biệt là dầu khí và các chất độc hại khác đã gây ra những tác động tiêu cực tới môi trường biển, phá hủy hệ sinh thái biển và cân bằng sinh thái. Chính vì lí do này, con người đang dần nâng cao nhận thức đối với việc bảo vệ môi trường, ngăn ngừa ô nhiễm và kiểm soát tài nguyên nhằm ngăn chặn nguồn tài nguyên biển khỏi cạn kiệt và mất đi.

Vì những vấn đề trên, quan ngại của chúng ta đối với biển cả hầu hết là về các vấn đề: an toàn và an ninh giao thông biển, buôn lậu, kiểm soát ô nhiễm, giám sát tài nguyên biển, đánh bắt trái phép và các mối nguy hại khác đối với an toàn hàng hải đặc biệt là nạn hải tặc và khủng bố trên biển. Nạn hải tặc đã trở thành một vấn đề lớn tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương đặc biệt là tại Biển Đông và nạn cướp biển có vũ trang là một vấn nạn thường xuyên xảy ra taị eo biển Malacca và Singapo. Các phần tử khủng bổ có thể sử dụng thủy lôi và các chất gây nổ nhằm làm gián đoạn tự do hàng hải qua các tuyến đường biển. Một mối lo ngại khác là việc vận chuyện trái phép vũ khí hủy diệt hàng loạt xuất hiện sau vụ khủng bố 11/9 trên đất Mỹ. Các yêu sách và tranh chấp lãnh thổ cũng là vấn đề chủ đạo tại biển Đông. Cũng giống như nhiều yêu sách và tranh chấp khác, tranh chấp tại biển Đông vẫn chưa được các quốc gia có liên quan giải quyết.

Sự lo ngại trên có thể khuyến khích hợp tác quốc tế nhưng nó cũng có thể là nguồn gốc cho đỏi hỏi quyền tài phán và sự cạnh tranh dần dần, đặc biệt khi khu vực này có vị trí chiến lược quan trọng, giàu tài nguyên thiên nhiên như Biển Đông. Công ước Luật biển (UNLOS) ra đời năm 1982 đã xác định một cách rõ ràng cơ sở để xác định ranh giới các vùng nước của một quốc gia. Tuy nhiên khái niệm mới “vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa làm cho việc xác định một cách chính xác ranh giới của EEZ và thềm lục địa rất khó khăn và mập mờ, vì thế có rất nhiều đường ranh giới đối với EEZ và thềm lục địa của mỗi quốc gia. Kết quả là vì mỗi quốc gia xác định ranh giới EEZ và thềm lục địa theo cách giải thích riêng của mình và do sự phức tạp của biển Đông như là một biển nửa kín với rất nhiều các quốc gia ven biểt đã không khỏi dẫn tới xung đột và tranh giành.

TẦM QUAN TRỌNG CHIẾN LƯỢC CỦA BIỂN ĐÔNG

Có ít nhất hai vấn đề chính tại Biển Đông khiến nó trở thành điểm nóng thứ 3 tại khu vực sau vấn đề hạt nhân Triều Tiên và eo biển Đài Loan, đó là vị trí chiến lược của Biển Đông thúc đẩy sự cạnh tranh giữa các cường quốc, tranh chấp lãnh thổ và các yêu sách chồng lấn của các quốc gia trong khu vực.

Biển Đông là một trong những đường thủy chiến lược nhất trên thế giới. Là tuyến đường biển nhộn nhịp thứ hai trên thế giới, Biển Đông là cầu nối quan trọng giữa phương Đông và phương Tây. Hầu hết dầu khí mà Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc nhập khẩu từ Châu Mĩ và Trung Đông đều được vận chuyển qua Biển Đông. Eo biển Malacca và Singapo là cửa ngõ cho các tuyến đường biển thông thương và đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế của tất cả các quốc gia trong khu vực cũng như các quốc gia có sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế. Sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế bắt buộc các quốc gia phải duy trì việc vận chuyển qua đường biển một cách an toàn và suôn sẻ, nhân tố chính của các hoạt động thương mại. Bên cạnh tầm quan trọng về kinh tế, biển Đông còn ẩn chứa một ý nghĩa quan trọng đối với an ninh.

Mỹ cho rằng Biển Đông có vị trí rất chiến lược vì khu vực này là tuyến đường biển quan trọng đối với các lực lượng quân đội của nước này tại Châu Á - Thái Bình Dươn và kiiểm soát Biển Đông là quan tâm hàng đầu của Mỹ trong việc bảo vệ lợi ích quốc gia cũng như các đồng minh của Mỹ. Năm 2001 Mỹ đưa ra Sáng kiến an ninh Hàng hóa (CSI) và năm 2003 là Sáng kiến an ninh chống phổ biến vũ khí hạt nhân (PSI) liên quan đến việc ngăn chặn việc vận chuyển  vũ khí hủy diệt hàng loạt và bảo vệ các vùng biển quốc tế tại eo biển Malacca, Biển Đông và Ấn Độ Dương. Thêm vào đó, Mỹ đã đưa ra Sáng kiến an ninh hàng hải khu vực (RMSI)  hồi tháng 4/2004 kêu gọi các quốc gia ven biển cho phép lực lượng hải quân Mỹ ngăn chặn nạn hải tặc và khủng bố. Tuy nhiên, RMSI, sáng kiến liên quan trực tiếp đến các tuyến đường vận chuyển nhỏ hẹp, chưa bao giờ được cho là cơ chế mở cho sự tham gia của Trung Quốc và Nhật Bản, [5] và do đó nó có thể  bị các quốc gia sử dụng sáng kiến này xem là thách thức. Các quốc gia ven biển không ủng hộ sáng kiến này của Mỹ vì lo sợ nó sẽ chỉ làm phức tạp thêm tình hình xung quanh các tuyến đường biển quan trọng này vì sáng kiến này sẽ chỉ kích thích thêm sự cạnh tranh.

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây

Rosihan Arsyad, Chuẩn Đô Đốc (đã nghỉ hưu)

Quách Huyền (dịch)

Đỗ Thủy (hiệu đính)

Tham luận của Chuẩn Đô Đốc (đã nghỉ hưu) Rosihan Arsyad tại Hội thảo Quốc tế “Triển vọng Hợp tác trong các vấn đề ở Biển Đông - "Prospects of Cooperation and Convergence of the Issues and Dynamics in South China Sea” ngày 31 tháng 5 năm 2011, tại Jakarta, Indonesia do Trung tâm Nghiên cứu chiến lược Châu Á, Jakarta tổ chức.

Bản gốc tiếng AnhCooperation among Regional States in Preventive Diplomacy and Implementation of Code of Conduct to Ensure Peace, Prosperity and Stability in the South China Sea



[1] Bài báo này được trích dẫn, cập nhật và sửa đổi từ bài báo được trình bày bởi Thiếu tướng Hải quân Indonesia Rosihan Arsyad tại cuộc đối thoại về Hợp tác an ninh hàng hải. “Dàn xếp an ninh biển của Indonesia” và “Triển vọng hợp tác an ninh tại Châu Á Thái Bình Dương” và tại Hội thảo an ninh Châu Á. Trường Đại học bang Missippi, Jason, Mỹ, ngày 1-2 tháng 11 năm 2007 với chủ đề “Hợp tác giữa các nước ven biển và hải quân các nước nhằm đảm bảo an toàn cho việc vận chuyện qua eo biển Malacca”.

[2] A.T. Mahan, The Influence of Sea Power Upon History [Ảnh hưởng của quyền lực biển cả đối với lịch sử, 1660-1783, Chương I, trang 68, Discussion of the Elements of Sea Power [Bàn về các yếu tố cấu thành nên quyền lực biển].

[3] Thiếu tướng Hải quân  Pakistan  Saeed  M  Khan, “Key  Note  Address  in International Seminar on Indian Ocean - Indian Ocean, Security and Stability in the Post-cold War Era” [Diễn văn tại Hội thảo quốc tế về Ấn Độ Dương- Ấn Độ Dương, An ninh và ổn định thời kì hậu Chiến tranh lạnh], trang 5

[4] Tlđd

[5] Zhang  Xuegang, “South  Asia  and  Energy,  Gateway  to  Stability” [Nam Á và năng lưọng, cửa ngõ của sự ổn định], An ninh Trung Quốc , Tập 3 Số 2, trang 20.

 

 

Bản báo cáo của của Cục Nghiên cứu Quốc gia về Châu Á (NBR) của Mỹ phân tích, đánh giá những rủi ro ở vùng Biển Đông, biển Hoa Đông và Vịnh Thái Lan; các xu hướng gần đây tại các vùng biển tranh chấp - bao gồm cả tích cực và tiêu cực; các rào cản và cơ hội để thúc đẩy hợp tác. Cuối cùng, báo cáo đề xuất một loạt các kiến nghị chính sách cho các bên liên quan. Bản báo cáo được thực hiện bởi các chuyên gia quốc tế hàng đầu trong lĩnh vực này.

 

LỜI MỞ ĐẦU

Những tranh chấp chủ quyền trên biển ở khu vực Đông và Đông Nam Á là những mối đe dọa tiềm tàng lớn nhất đối với nền an ninh và lợi ích kinh tế của các quốc gia trong khu vực cũng như trên toàn thế giới. Các tuyến giao thông lớn trên biển, đặc biệt là Biển Hoa Đông, Biển Đông, và Vịnh Thái Lan, đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự lưu thông tự do của thương mại và hàng hóa. Đồng thời, các vùng biển này này cũng chứa đựng trong nó những tài nguyên sinh vật và phi sinh vật để góp phần duy trì nền kinh tế và dân số của các quốc gia yêu sách cũng như các quốc gia sử dụng các nguồn tài nguyên đó. Cùng với sự phát triển của công nghệ cho phép khoan, đào, khai thác sâu dưới nước, giờ đây tiềm năng tài nguyên của khu vực lại càng lớn. Tuy nhiên, những yêu sách chồng lấn về quyền tài phán và những nỗ lực của các quốc gia nhằm khẳng định vị trí của mình đã gây cản trở cho mọi hoạt động, từ các hoạt động thăm dò cho đến việc khai thác các tài nguyên vốn có. Do tính phức tạp của các yếu tố chính trị, lịch sử, pháp lý, kinh tế trong nước có liên quan, cho đến nay các quốc gia yêu sách vẫn chưa đi đến được một giải pháp cho những tranh chấp này. Thậm chí vấn đề này còn trở nên phức tạp hơn do áp lực ngày càng tăng về việc phát triển nguồn năng lượng trong khu vực khi mà yêu cầu của thế giới ngày càng cao.

Những nỗ lực nhằm giải quyết tranh chấp đã được thực hiện hàng thập kỷ nay, cả ở các cấp chính thức lẫn cấp Kênh II, kết quả chúng mang lại là những thỏa thuận nhằm gác xung đột chủ quyền sang một bên và cùng nhau khai thác các nguồn tài nguyên theo các hiệp định tạm thời – một phương pháp được ưu tiên để xây dựng lòng tin và hướng về phía trước. Một số hiệp định song phương ở Vịnh Thái Lan đã cho phép các dự án phát triển tài nguyên đã được triển khai. Các biện pháp xây dựng lòng tin ở Biển Đông giữa Trung Quốc và ASEAN, đặc biệt là Tuyên bố về Ứng xử của các Bên tại Biển Đông năm 2002 (DoC), cũng đã góp phần kiềm chế các căng thẳng, mặc dù không có cơ chế triển khai chính thức. Tuy nhiên các dàn xếp hiện hành cũng có những hạn chế của nó, thậm chí một vài dàn xếp đã bị trì hoãn một cách vô thời hạn.

Do đó căng thẳng vẫn tiếp tục leo thang và thường xuyên trở thành tâm điểm thời sự, đặc biệt là giữa các quốc gia yêu sách ở Biển Đông. Mối quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam có lẽ là nóng nhất trong khu vực này và nổi bật bởi hàng loạt các vụ việc xảy ra trong những năm gần đây. Những vụ việc liên quan đến các quốc gia yêu sách khác về vấn đề Trường Sa, cũng như về việc xây dựng các trạm quân sự trên các bãi và đảo san hô ở Biển Đông đã khiến cho căng thẳng đến nay vẫn tiếp diễn và có tính nghiêm trọng, đồng thời trở thành động lực cho các chương trình hiện đại hóa quân sự trong khu vực. Hệ quả là, rất ít khả năng để những quốc gia này giải quyết các bất đồng trong tương lai gần.

Nhận thức được rằng, có lẽ là trong hàng thập kỷ tới các quốc gia vẫn khó có thể đi đến được các giải pháp cho những tranh chấp quyền tài phán trên biển trong khu vực, nhưng cũng nhận thức được tầm quan trọng của các vùng biển tranh chấp đối với thương mại và tài nguyên; do đó Cục Nghiên cứu Quốc gia về Châu Á (NBR) đã nghiên cứu về những tranh chấp này và tác động của chúng, để từ đó đưa ra những cách nhìn mới về cách thức quản lý những xung đột trên trước khi có được một giải pháp về chính trị. Để làm việc này, NBR đã tập hợp một đội ngũ gồm các chuyên gia quốc tế để thực hiện một dự án ba năm có tên là “Maritime Energy Resources in Aisa: Opportunities for Joint Development” [Tài nguyên Năng lượng Biển ở Châu Á: Cơ hội cho sự Phát triển Chung] (MERA) để phân tích các diễn biến gần đây trong khu vực và cung cấp những phân tích và các lựa chọn thực tiễn cho các nhà hoạch định chính sách nhằm góp phần cải thiện các tranh chấp.

Dự án này được hỗ trợ bởi Sáng kiến An ninh Châu Á thuộc Quỹ John D. Và Catherine T. MacArthur và được dẫn đầu bởi nhà nghiên cứu trưởng là Tiến Sĩ Cliv Schofield (Trung tâm của Úc về Tài nguyên và An ninh Đại dương, Đại học Wollongong, Úc). Báo cáo này được tổng hợp từ những kết luận và quan điểm chính của đội ngũ các học giả của dự án cũng như  kết hợp ý kiến chuyên môn và phân tích của nghiên cứu trưởng, các cố vấn cấp cao, và nhân viên của NBR, những người đã tham dự hội thảo kéo dài ba ngày vào tháng 5/2011 để dự thảo báo cáo này. Mục đích của báo cáo là để tóm tắt và tập trung vào các khía cạnh liên quan đến chính sách của dự án MERA mà không bị hạn chế bởi các chính sách quốc gia hay các đòi hỏi về chủ quyền.

Tôi muốn bày tỏ sự cảm kích đối với các tác giả của bản báo cáo này vì thời gian và cống hiến mà họ đã dành ra, cũng như sự ủng hộ của họ đối với dự án MERA trong tất cả các giai đoạn. Tôi cũng muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Quỹ MacArthur vì sự ủng hộ hào phóng về mặt tài chính, mà nếu không có nó thì dự án này đã không thể thực hiện được.

Tim Cook, Giám đốc Dự án, Cục Nghiên cứu Quốc gia về Châu Á

CLIVE SCHOFIELD là Giáo sư và Giám đốc Nghiên cứu tại Trung tâm của Úc về Tài nguyên và An ninh Đại dương (ANCORS), Đại học Wollongong, Úc. Hiện ông là Ủy viên giám đốc của Hội đồng Nghiên cứu Úc và là nghiên cứu trưởng của dự án “Tài nguyên Năng lượng Biển ở Châu Á: Cơ hội cho sự Phát triển Chung” của NBR. Có thể liên lạc với ông qua địa chỉ <clives@uoww.edu.au>.

IAN TOWNSEND-GAULT là Giám đốc Viện Nghiên cứu Đông Nam Á tại Trung tâm Nghiên cứu Pháp lý Châu Á, Khoa Luật, Đại học British Columbia. Có thể liên lạc với ông qua địa chỉ <itgault@law.ubc.ca>

 

HASJIM DJALAL là thành viên Hội đồng Biển Indonesia; Cố vấn Cấp cao của Bộ trưởng Bộ Hàng hải và Ngư nghiệp, Bộ trưởng Bộ Giao thông, và Trưởng Tham mưu Hải quân Indonesia; và là thành viên của Nhóm Chuyên gia Pháp lý của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Indonesia. Có thể liên lạc với ông qua địa chỉ <hdh@cbn.net.id>.

IAN STOREY là Ủy viên giám đốc của Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (ISEAS), Singapore, và là Biên tập viên của tạp chí Contemporary Southeast Asia. Có thể liên lạc với ông qua địa chỉ <ijstorey@edu.sg>.

MEREDITH MILLER là Phó Chủ nhiệm Các vấn đề Thương mại, Kinh tế, và Năng lượng ở Cục Nghiên cứu Quốc gia về Châu Á. Có thể liên lạc với bà qua địa chỉ <mmiller@nbr.org>.

TIM COOK là Giám đốc Cao cấp của Cục Nghiên cứu Quốc gia về Châu Á. Có thể liên lạc với ông qua địa chỉ tcook@nbr.org

TÓM TẮT

Báo cáo này phân tích các kết luận từ dự án ba năm về “Tài nguyên Năng lượng Biển ở Châu Á: Cơ hội cho sự Phát triển Chung” của Cục Nghiên cứu Quốc gia về Châu Á, trong đó đánh giá các tranh chấp quyền tài phán trên biển và các cơ hội hợp tác ở Đông và Đông Nam Á.

NHỮNG KÉT LUẬN CHÍNH

Những tranh chấp lâu năm về các yêu sách quyền tài phán trên biển ở Biển Hoa Đông, Biển Đông, và Vịnh Thái Lan đe dọa sự ổn định và thịnh vượng lâu dài của các quốc gia trong khu vực Đông và Đông Nam Á. Mặc dù đã có nhiều nỗ lực đa phương trong những thập kỷ gần đây cùng với các thể chế pháp lý quốc tế như Công ước LHQ về Luật Biển, nhưng căng thẳng giữa các quốc gia yêu sách và các quốc gia sử dụng vẫn cao. Các quốc gia yêu sách vẫn chưa đi đến được một giải pháp cho những tranh chấp này do tính phức tạp của các yếu tố chính trị, lịch sử, pháp lý, kinh tế trong nước có liên quan và áp lực cần phải phát triển các nguồn năng lượng trong khu vực tranh chấp. Những mối quan ngại về quyền tiếp cận tài nguyên, cùng với việc các quốc gia yêu sách đã không thực thi được các biện pháp xây dựng lòng tin (CBM) để xoa dịu căng thẳng, đã cho thấy rằng một giải pháp chính trị khó có thể đạt được trong ngắn hạn. Ngay cả khi không có một thỏa thuận dài hạn, thì các quốc gia yêu sách vẫn cần phải có những hành động phối hợp tạm thời để xoa dịu căng thẳng, tăng cường hợp tác và lòng tin, cũng như duy trì cương vị quản lý đối với môi trường và tài nguyên biển.

Ý NGHĨA CHÍNH TRỊ

+ Các quốc gia có thể quản lý tốt hơn những căng thẳng hiện tại bằng cách thực thi các biện pháp xây dựng lòng tin, bao gồm cả các biện pháp được liệt kê trong Tuyên bố về Ứng xử của Các bên tại Biển Đông (DoC). Những biện pháp này có thể bao gồm những việc như sử dụng các đường dây nóng, thông báo trước về việc tập trận quân sự, tìm kiếm và cứu nạn chung, hợp tác về phòng, chống các mối đe dọa xuyên quốc gia, các quy định về ứng xử khi đụng độ trên biển cả, và tăng cường minh bạch về quân sự.


+  Bất kể hạn chế trong việc thực thi DoC, Trung Quốc và các nước ASEAN cần phải bắt đầu đàm phán để về một bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông để chính thức hóa các biện pháp xây dựng lòng tin và hạn chế những hành động gây mất ổn định.

+Việc quản lý tạm thời nhiều tranh chấp lãnh thổ và trên biển có liên kết với nhau ở Châu Á là cách tốt nhất để đảm bảo quyền tự do hàng hải và sự lưu thông tự do của thương mại, vốn đóng vai trò hết sức quan trọng đối với các nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới. Những dàn xếp này sẽ không phương hại tới các yêu sách trên biển của các quốc gia trong thời gian ngắn.


Không gian biển nửa kín của Biển Hoa Đông, Biển Đông, và Vịnh Thái Lan là nơi chứa đựng các tuyến giao thông trên biển (SLOC) có giá trị vô cùng quan trọng không chỉ với các quốc gia ở Đông và Đông Nam Á mà còn với thương mại toàn cầu. Hơn nữa những vùng biển này còn chứa một môi trường biển vô cùng đa dạng về sinh học, có giá trị lớn với ngành đánh cá, và do đó nó duy trì được sự sống của hàng trăm triệu người. Thêm vào đó, từ lâu đã có những dự đoán rằng những khu vực này chứa đựng trữ lượng dồi dào các nguồn năng lượng đáy biển – một tiềm năng có sức hấp dẫn vô cùng lớn trong một thời đại mà mối lo ngại về an ninh năng lượng ngày càng gia tăng. Tuy các nguồn trữ lượng năng lượng dưới đáy biển đã được phát hiện và đang trong quá trình được phát triển trong khu vực Biển Hoa Đông, Biển Đông, và Vịnh Thái Lan, nhưng tiềm năng thực sự của những khu vực này vẫn chưa được làm sáng tỏ và cũng chưa thể hiện thực hóa do các tranh chấp về quyền tài phán lãnh thổ và trên biển vẫn là những đặc tính cố hữu của những vùng biển này. Thực tế là những không gian biển này đã được định hình bởi nhiều tranh chấp chủ quyền đối với những hòn đảo, đảo đá, bãi đá ngầm có diện tích nhỏ và cách xa bờ cùng với những yêu sách chồng chéo và không phải lúc nào cũng rõ ràng về quyền tài phán.

Những tranh chấp về chủ quyền và quyền tài phán trên biển ở Đông và Đông Nam Á là những điểm nóng có nguy cơ trở thành mối đe dọa đối với hòa bình, an ninh, và cùng với nó là thịnh vượng về kinh tế trong những khu vực này. Những yêu sách xung đột nhau về chủ quyền đối với các hòn đảo và các đảo nhỏ cùng với những yêu sách chồng lấn trên biển liên quan đến chúng là nguồn gốc của sự căng thẳng trong suốt hàng thập kỷ qua. Những tranh chấp này đã dẫn đến hàng loạt các vụ việc và thậm chí là đụng độ quân sự giữa các quốc gia yêu sách trong quá khứ. Với sự dai dẳng của các tranh chấp, rất có khả năng những vụ việc đó sẽ lại tiếp diễn và có nguy cơ phát triển thành những xung đột lớn hơn.

Việc không có một giải pháp giải quyết tranh chấp đã là một cản trở lớn đối với các lợi ích tích cực mà những không gian biển và các tài nguyên của nó có thể mang lại cho các quốc gia trong khu vực. Đặc biệt là khi nhìn từ góc độ năng lượng, các tuyến biển của Châu Á là những điểm quá cảnh quan trọng – và cũng có thể là những nguồn trữ lượng dồi dào – của năng lượng hidrocacbon mà các nền kinh tế trong khu vực phải dựa vào để duy trì quỹ đạo phát triển của mình. Nhiều quốc gia trong khu vực đang bị thâm hụt nguồn năng lượng trong nước một cách nghiêm trọng và đang ngày càng phụ thuộc vào việc nhập khẩu dầu thô để đáp ứng các yêu cầu. Chẳng hạn, ở Đông Á Nhật Bản và Hàn Quốc là hai nước phụ thuộc rất nhiều vào dầu thô để đáp ứng hầu hết các yêu cầu của mình, và trong năm 2009 Trung Quốc đã phải dựa vào dầu thô nhập khẩu để giải quyết 53% các nhu cầu. Sự lệ thuộc vào dầu thô và khí của hầu hết các quốc gia ở Đông và Đông Nam Á (ngoại trừ Brunei) được dự đoán là sẽ còn tăng mạnh trong tương lai.

Hầu hết các nguồn năng lượng nhập khẩu này đến từ Châu Phi và Trung Đông và được vận chuyển bằng đường biển qua các điểm kiểm tra ở Đông Nam Á như Eo biển Malacca, Singapore, Sunda, Lombok, Makassar, và Balabac rồi mới đi tiếp qua Biển Đông và Biển Hoa Đông đến bến cảng cuối cùng. Bất kỳ cuộc đụng độ hay biểu dương lực lượng nào ở một trong những điểm này cũng có thể ảnh hưởng tiêu cực tới an ninh năng lượng trong khu vực do tàu thuyền phải điều chỉnh lại tuyến hàng hải. Do trữ lượng dầu chủ yếu của thế giới tập trung ở những nơi như Trung Đông nên các nguồn cung cấp thay thế mà không đòi hỏi việc quá cảnh qua khu vực bị ảnh hưởng là tương đối thấp (xem Hình 1-3).

Hình 1

 

Hình 2


 

Hình 3


Tranh chấp trong khu vực trải rộng từ những yêu sách chủ quyền đối với đảo và vùng biển liên kết cho đến những bất đồng về năng lực của những hòn đảo nhỏ, xa bờ, và không có người sinh sống để bổ trợ cho những yêu sách mở rộng đối với không gian biển. Những bất đồng về vai trò của các hòn đảo trong việc phân định biên giới trên biển, cũng như những bất đồng về cách thức tiếp cận hay phương pháp của việc phân định biên giới đã làm trầm trọng thêm sự phức tạp của các tranh chấp và dẫn đến sự trì hoãn của một biện pháp giải quyết cuối cùng. Những nỗ lực để giải quyết các tranh chấp này đã tiếp diễn hàng thập kỷ nay tại các cấp độ chính phủ và cấp độ Kênh II mà hầu như không đạt được mấy thành công. Trong đó, những nỗ lực trong cách tiếp cận về pháp luật quốc tế dựa trên Công ước LHQ về Luật Biển (UNCLOS), các cuộc đàm phán phân định biên giới song phương, và các hiệp định phát triển tài nguyên chung đã đóng vai trò kiềm chế hành vi của các quốc gia, đưa ra các lựa chọn thay thế, và nhìn chung đã nhấn mạnh vai trò của ngoại giao và đàm thoại thay vì sử dụng lực lượng quân sự trong việc giải quyết tranh chấp.

Tuy nhiên, vẫn có những dấu hiệu đáng báo động về căng thẳng đang gia tăng giữa các quốc gia trong khu vực Đông và Đông Nam Á về những yêu sách chồng chéo của họ. Chẳng hạn, trong nửa đầu năm 2011 đã có ít nhất là hai lần tàu hải giám của Trung Quốc quấy rầy tàu thăm dò địa chấn do chính phủ Philippin và Việt Nam làm chủ quản và buộc những con tàu này phải ngừng các hoạt động khai thác của mình. Sự kiện đầu tiên xảy ra vào tháng 3 ở Bãi Cỏ rong, một khu vực mà Philippin cho là thuộc vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) kéo dài 200 hải lý của mình. Sự kiện thứ hai xảy ra vào tháng 5 ở vùng biển gần tỉnh Phú Yên của miền trung Việt Nam. Cả Manila và Hà Nội đều đã phản đối những hành động của tàu tuần tra Trung Quốc. Một vụ việc khác đã xảy ra vào tháng 9/2010 khi lực lượng Biên phòng Nhật Bản bắt giữ thuyền trưởng của một con tàu đánh cá của Trung Quốc sau một cuộc đụng dộ ở vùng biển tranh chấp ở Biển Hoa Đông. Sự kiện này, cùng với căng thẳng ngoại giao về sau, đã làm dấy lên căng thẳng giữa các thành phần chủ nghĩa dân tộc của hai nước và làm lu mờ hơn khả năng thực thi hiệp định năm 2008 về vùng phát triển chung và dự án dầu khí. Trong khi đó, ở Vịnh Thái Lan tình trạng xấu đi của quan hệ giữa Campuchia và Thái Lan, chủ yếu do những tranh chấp trên biên giới đất liền, vẫn có khả năng lan ra biển. Những vụ việc nêu trên và một loạt các tranh cãi tương tự đã thường xuyên xảy ra trong các năm gần đây. Trong mọi vụ việc thì căng thẳng và sự mất lòng tin đều gia tăng giữa các chủ thể chính, và từ đó đặt ra nghi vấn về khả năng giải quyết những tranh chấp này trong tương lai.

Ở những nơi có những yêu sách chồng lấn về biển, những bất trắc về quyền tài phán rõ ràng đã gây phức tạp cho công tác quản lý tài nguyên đại dương. Những chính sách không được điều phối dẫn đến tranh chấp về tài nguyên mang tính hủy hoại và không bền vững, đặc biệt là đối với các tài nguyên sinh vật biển. Sự đối đầu, va chạm giữa các đoàn tàu đánh cá có thể nhanh chóng kéo các cơ quan chức năng của các quốc gia ven biển vào cuộc, đặc biệt là khi các lực lượng an ninh của quốc gia chỉ đơn thuần cho là mình đang tuần tra ở không gian biển “của mình”. Sự cạnh tranh về tài nguyên cũng có xu hướng kích động các thành phần chủ nghĩa dân tộc - tương tự những gì đã xảy ra trong các cuộc biểu tình ở Trung Quốc về việc Nhật Bản bắt giữ thuyền trưởng thuyền đánh cá của Trung Quốc. Những tư tưởng chủ nghĩa dân tộc như vậy càng làm gia tăng rủi ro cho các nhà lãnh đạo chính trị do họ có thể vì lí do nhượng bộ mà thể hiện sự yếu đuối với công dân của mình. Trong trường hợp xấu nhất, nếu căng thẳng leo thang và trở thành xung đột vũ trang thì quyền tự do hàng hải và thương mại tren biển, bao gồm việc quá cảnh các nguồn tài nguyên năng lượng quan trọng, sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực.

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây

Clive Schofield, Ian Townsend-Gault, Hasjim Djalal, Ian Storey, Meredith Miller, và Tim Cook

Bá Việt (dịch)

Quang Hưng (hiệu đính)

Báo cáo của Cục Nghiên cứu Quốc gia về Châu Á (National Bureau of Asian Research) về hợp tác trên biển ở Đông và Đông Nam Á, bản gốc tiếng Anh “From Disputed Waters to Seas of Opportunity: Overcoming Barriers to Maritime Cooperation in East and Southeast Asia

 

Bài viết của tác giả Trang Ngọc Hoa, đăng trên trang trang mạng “Viện Nghiên cứu các Vấn đề Quốc tế Trung Quốc – China Institute of International studies” đã nêu ra một số đánh giá và phân tích của phía Trung Quốc về lợi ích, vai trò và chính sách của Nhật Bản trong vấn đề Biển Đông.

Năm 2010, sau khi Hoa Kỳ bày tỏ sự “quan tâm” xoay quanh vấn đề Biển Đông đối với Trung Quốc, Nhật Bản cũng bắt đầu tích cực có hoạt động can thiệp vào, đồng thời, còn làm khó Trung Quốc trên vấn đề biển Đông hải. Hàng loạt những hành động trên tất nhiên không phải do tình cờ, điều này vốn có quan hệ mật thiết với chính sách hải dương của Nhật Bản bấy lâu nay vẫn nhắm vào Trung Quốc. Trên vấn đề Biển Đông, chính sách tổng thể của Nhật Bản có thể chia ra làm bốn thời kỳ. Thời kỳ đầu sau khi chiến tranh kết thúc, đối với chủ quyền, Nhật bản không có những phản đối khác, tới những năm của thập niên 80 thì bắt đầu đặt quan tâm, sau Chiến tranh lạnh bắt đầu lập kế hoạch để can thiệp, và hiện nay, Nhật Bản đang tích cực can thiệp vào vấn đề. Trọng tâm chiến lược hải dương của Nhật Bản trong tương lai tại Đông hải và Thái Bình Dương sẽ là tiếp tục mở rộng, nhưng cũng sẽ dựa trên nhiều yếu tố quan trọng khác như, an toàn hàng hải của bản thân Nhật bản, kiềm chế thế lực của Trung quốc, ngăn chặn Trung Quốc mở rộng ảnh hưởng, đòi hỏi về hải quyền, và đàm phán với Trung Quốc về chủ quyền tại Đông Hải. Nhật Bản cũng sẽ tiếp tục thực hiện liên minh với Hoa Kỳ, lôi kéo Việt Nam, và còn diễn vai trò của kẻ khoắng nước để dụng hỏa đả công.

I-Vị thế của Biển Đông thay đổi trong chiến lược đối ngoại của Nhật Bản

 

1-Từ thập niên 80 của thế kỷ 20, Nhật Bản bắt đầu quan tâm chú tới vấn đề Biển Đông.

 

Nhật Bản là quốc gia thiếu thốn tài nguyên, có tới 95% lượng năng lượng tiêu thụ phải dựa vào nhập khẩu[1], nguồn năng lượng quan trọng nhất là dầu mỏ chủ yếu đi qua tuyến đường vận chuyển trên Biển Đông để tới được Nhật Bản. Ngoài ra, có tới 99% lượng hàng hóa Nhật Bản xuất khẩu đi các nơi cũng dựa vào tuyến đường biển, những sản phẩm hàng hóa xuất khẩu được vận chuyển tới thị trường Âu châu, những hàng mậu dịch xuất nhập khẩu vào Đông Nam Á và Châu Đại Dương cũng chủ yếu dựa vào tuyến đường qua Biển Đông. Nếu để tầu thuyền chở hàng di chuyển qua Philippine theo tuyến hải trình phía đông, nó sẽ làm cho giá thành hàng hóa thành phẩm của Nhật Bản tăng lên từ 2 đến 5%. Do đó, tuyến đường hàng hải trên Biển Đông được Nhật Bản nhìn nhận đánh giá là “tuyến đường sinh tử” trên biển. Theo đà thực lực kinh tế phát triển nhanh chóng, Nhật Bản ngày càng mở rộng thái độ quan tâm đối với an ninh hàng hải trên tuyến đường Biển Đông.

Đồng thời, thực lực quân sự ngày càng được tăng cường cũng làm cho Nhật Bản chú ý xem xét hơn tới việc bảo vệ an ninh trên tuyến đường biển. Trong thời kỳ đầu lực lượng phòng vệ Nhật Bản mới được thành lập, phạm vi phòng vệ được xác định lấy lãnh thổ làm trung tâm và trải rộng ra trong vòng 200 hải lý, cho tới các vùng eo biển Tsugaru và Tsushima. Những năm của thập niên 80, Hoa kỳ dần thực hiện chiến lược rút gọn trên toàn cầu, đồng thời yêu cầu Nhật Bản đẩy mạnh mở rộng trang bị quân sự, đảm trách nhiều nhiệm vụ tác chiến hơn. Năm 1981, Thủ tướng Nhật Bản Zenko Suzuki viếng thăm Hoa Kỳ, chính thức tiếp nhận yêu cầu của phía chính phủ Mỹ, và cam kết để lực lượng phòng vệ trên biển của Nhật Bản đảm bảo nhiệm vụ bảo vệ cho tuyến đường 1000 hải lý trên biển. Từ đó đến nay, Nhật Bản chịu trách nhiệm bảo vệ an toàn cho “tuyến đường biển tây nam” từ vịnh Osaka tới eo biển bashi, còn tuyến đường biển từ eo biển Bashi xuống phía nam do quân đội Hoa Kỳ đảm trách[2]. Trong “ Sách trắng Quốc phòng Nhật Bản năm 1983” đã lần đầu tiên đưa ra nguyên tắc: “Hàng trăm hải lý xung quanh Nhật Bản, và khoảng 1000 hải lý trên tuyến đường biển trong khu vực là thuộc phạm vi phòng thủ địa lý của Nhật Bản”[3].  

2-Sau Chiến tranh lạnh, Nhật Bản điều chỉnh mục tiêu chiến lược quốc gia, trên mặt chiến lược, từng bước can thiệp vào khu vực Biển Đông.

Sau chiến tranh lạnh, tình hình quốc tế phát sinh nhiều thay đổi sâu sắc. Thực lực kinh tế và quân sự Nhật Bản nhanh chóng được tăng cường, tranh chấp trở thành chính trị, cường quốc về quân sự được khẳng định là mục tiêu chiến lược quốc gia. Đồng thời, từ phía Nhật Bản nhìn lại, sự phát triển nhanh chóng của Trung quốc đã đưa tới cho Nhật Bản một tương lai chịu những áp lực và thách thức, mâu thuẫn Trung - Nhật càng gia tăng. Dưới hoàn cảnh đó, Nhật Bản đã để mắt tới những tranh chấp trên Biển Đông, đồng thời xây dựng luật pháp để thò tay can thiệp vào những vấn đề an ninh liên quan, không ngừng tăng cường mở rộng sức ảnh hưởng tại khu vực này.

Sau khi bùng phát tranh chấp giữa Trung - Phi - Mỹ xung quanh dải đá ngầm Mischief Reef (dải Vành Khăn của VN) năm 1995, Nhật Bản bắt đầu có thái độ khai thác can thiệp trính trị. Trong khi hội đàm giữa những nhà lãnh đạo Nhật Bản và lãnh đạo Trung Quốc, phía Nhật Bản đã liên tiếp bày tỏ ý kiến quan tâm tới quần đảo Trường Sa. Khi tham gia hội nghị Diễn đàn Đông Nam Á lần 2, Ngoại trưởng Nhật Yohey Kono đã đưa ra ý kiến về việc có thể đem vấn đề Biển Đông ra thảo luận trong khuôn khổ của “Diễn đàn khu vực Đông Nam Á”. Nhật Bản kỳ vọng sẽ học hỏi được kinh nghiệm xử lý đối phó với Trung Quốc từ những tranh chấp trên Biển Đông, đồng thời còn muốn dùng những tranh chấp này để khống chế Trung Quốc.

Đọc toàn bộ bản dịch bài viết tại đây

Nguồn 日本在中国南海问题上扮演的角色

Theo Tạp chí “Nghiên cứu các vấn đề quốc tế”, kỳ số 3, năm 2011)

Người dịch: Đăng Dương– Trung tâm Nghiên cứu Biển Đông



[1] Điều tra thống kê tài nguyên của Cục Chính sách Công nghiệp và Kinh tế, thuộc Bộ Kinh tế và Công nghiệp Nhật Bản.

[2] Báo cáo của Tiểu ban Hợp tác và Phòng vệ trực thuộc Uỷ ban Hiệp định  An ninh và Phòng thủ chung Mỹ Nhật. Bản “Báo cáo Triệu Hòa, ngày 27 tháng 11 năm 1953”.http://www.clearing.mod.go.jp/hakusho_data/1981/w1981_9134.html.

[3] Xem “ Sách trắng Quốc phòng Nhật Bản ”. Bản in năm Triệu Hòa thứ 58 http://www.clearing.mod.go.jp/hakusho_data/1983/w1983_03.html

 

 

Bài viết của GS. Keyuan Zou, Khoa Luật, Đại học Trung tâm Lancashire, Vương quốc Anh, đăng trên Series đặc biệt của tạp chí Harvard Asia Quarterly của Trường Đại học Havard với chủ đề: "Tranh chấp biển- An ninh hàng hải tại Đông Á", (The Disputed Sea – Maritime Security in East Asia), phân tích hành vi của  Trung Quốc trong các tranh cấp biển đảo với các nước láng giềng, từ đó  đánh giá về khả năng tôn trọng luật biển của nước này.

GIỚI THIỆU

Nơi đâu có con người, nơi đó có xung đột và hợp tác. Cùng với sự trỗi dậy của Trung Quốc ở Châu Á, dường như các xung đột trên biển đang xảy ra thường xuyên hơn. Một dấu hiệu của điều này là Hải quân Nhật Bản đang bắt giữ ngư dân Trung Quốc, trong khi Hải quân Trung Quốc, đến lượt mình, lại bắt giữ ngư dân Việt Nam.

Rất nhiều nhân tố châm ngòi cho các xung đột trên biển ở Đông Á, Một nhân tố liên quan đến tranh chấp lãnh thổ nổi lên từ các xung đột trong lịch sử. Các tranh chấp xung quanh Quần đảo Dokdo giữa Nhật Bản và Hàn Quốc và Quần đảo Điếu Ngư giữa Trung Quốc và Nhật Bản có thể được cho là sự kế thừa của chủ nghĩa thực dân Nhật trước Thế chiến thứ hai. Vụ bắt giữ ngư dân Trung Quốc gần đây diễn ra trong vùng nước liền kề quần đảo Điếu Ngư, vẫn đang dưới sự kiểm soát của Nhật Bản.

Một nhân tố khác liên quan đến luật về phân định ranh giới biển trong các hiệp định quốc tế. Sau khi Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển năm 1982 có hiệu lực năm 1994,[1] các tranh chấp biên giới ngày càng gia tăng và gay gắt. Công ước cho phép các quốc gia có đường bờ biển mở rộng vùng biển nằm trong quyền tài phán của mình lên đến 200 hải lý tính từ đường cơ sở nơi lãnh hải được xác định. Quyền tài phán này được chia thành một vùng lãnh hải 12 hải lý và một thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) rộng 200 hải lý. Trong một số trường hợp, thềm lục địa có thể kéo dài lên đến 350 hải lý. Đáng chú ý là thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế là hai vùng biển mới được tạo ra theo Công ước về Luật biển. Nếu những vùng biển này không được thiết lập, sẽ không có tranh chấp biển nào giữa Trung Quốc và Nhật Bản ở Biển Hoa Đông, vì vùng nước này phân cách hai nước này bởi một khoảng cách là 360 hải lý. Trong những trường hợp này, xung đột biển đã bị làm trầm trọng thêm bởi sự tranh giành gay gắt về nguồn năng lượng ở các vùng biển. Trong việc theo đuổi phát triển kinh tế nhanh, các quốc gia ven biển phải đáp ứng nhu cầu năng lượng ngày càng tăng.

Sự mở rộng các vùng biển thông qua các hiệp định quốc tế đã làm phức tạp thêm xung đột trên biển. Công ước về Luật biển bao gồm các điều khoản cụ thể về các vùng đặc quyền kinh tế cho các đảo với các kích thước khác nhau. Theo tính toán, một đảo không thể duy trì sự sống của con người có thể có một vùng lãnh hải rộng 1.550km2, trong khi một đảo lớn mà có thể duy trì đời sống kinh tế hay sự cư trú của con người có thể có một vùng đặc quyền kinh tế rộng khoảng 420.000km2.[2] Đây là một trong số các lý do tại sao có sự gia tăng các yêu sách đối với các đảo nhỏ; thậm chí cả các đá nhỏ cũng gây ra tranh chấp giữa các nước. Các đá đó bản thân nó không quan trọng – nhưng có các nguồn tài nguyên sống còn nằm trong các vùng biển xung quanh chúng.

TRANH CHẤP TRÊN BIỂN

Thông thường, có ba loại tranh chấp trên biển ở Đông Á: tranh chấp chủ quyền đối với các đảo nhỏ; tranh chấp phân định ranh giới biển giữa các nước láng giềng; và tranh chấp xung quanh việc phân chia và sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên biển. Đối với loại tranh chấp đầu tiên, không có viễn cảnh nào cho một giải pháp hợp lý trong tương lai gần, bởi vì các quốc gia tranh chấp đã cương quyết khẳng định chủ quyền của mình đối với các đảo nhỏ và không có dấu hiệu nào cho thấy bất cứ bên nào sẽ nhượng bộ. Điều phức tạp hơn là thực tế, những yêu sách về chủ quyền này có liên hệ rất mật thiết với các phong trào của những người theo chủ nghĩa dân tộc. Điều này có thể thấy từ sự phản đối mạnh mẽ liên tục diễn ra ở Trung Quốc xung quanh quần đảo Điếu Ngư và ở Hàn Quốc đối với quần đảo Dokdo, chống lại Nhật Bản trong cả hai trường hợp. Hơn nữa, vào tháng 12 năm 2007, các cuộc biểu tình lớn diễn ra ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh phản ứng lại các hành động đơn phương của hải quân Trung Quốc ở trong và xung quanh các đảo tranh chấp ở Biển Đông. Do vậy, bất cứ giải pháp nào cho các tranh chấp lãnh thổ trên biển này tiếp tục vẫn ở một tương lai xa vời.

Việc phân định giới hạn biên giới biển như đã đề ra trong Công ước về Luật biển cũng đã là một nguồn gây ra căng thẳng, đặc biệt là giữa Trung Quốc và các nước láng giềng. Trung Quốc đã thừa nhận là họ có những tranh chấp về việc phân định ranh giới chưa giải quyết được với hai nước Triền Tiên, Nhật Bản, Philippines, Brunei, Malaysia, Indonesia, và Việt Nam. Mặc dù Trung Quốc và Việt Nam đã ký Hiệp định về việc phân định biên giới trên biển ở Vịnh Bắc Bộ, nhưng vẫn không có bước tiến nào trong việc thỏa thuận biên giới biển giữa Trung Quốc và một nước láng giềng nào. Một số cuộc đối thoại liên quan vẫn đang diễn ra, như giữa Trung Quốc và Hàn Quốc; thường có báo cáo là đã đạt được thỏa thuận chung chung nào đó giữa hai quốc gia, nhưng chưa từng khi nào đạt được tiến bộ đáng kể nào trong lĩnh vực này.[3] Mặc dù các nước ven biển chỉ được hưởng quyền chủ quyền và quyền tài phán ở thềm lục địa và Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ), hai vùng biển này lại đặc biệt quan trọng vì chúng có rất nhiều tài nguyên thiên nhiên và có thể dần dần được chuyển thành lãnh thổ có chủ quyền. Một sự biến chuyển tương tự đã từng xảy ra trong trường hợp vùng biển truyền thống - hay còn gọi là Lãnh hải - đã được mở rộng thành 12 hải lý chiều rộng 3 hải lý ban đầu.

Cùng với các yêu sách chồng lấn đối với các đảo nhỏ, những lập trường pháp lý khác nhau về việc phân định biên giới cũng là nhân tố cản trở các Hiệp định về biên giới biển. Ở Biển Hoa Đông, Trung Quốc đã tìm cách mở rộng phạm vi thềm lục địa với Nhật Bản, nhưng Nhật Bản kiên trì đường phân định ở giữa. Cho đến nay, chưa thấy dấu hiệu hòa hợp nào về vấn đề này.

May mắn là, nhiều tiến bộ đã đạt được trong việc quản lý các nguồn tài nguyên biển, cùng với việc ký kết Hiệp định về nghề cá giữa Trung Quốc - Nhật Bản năm 1997, Hiệp định về nghề cá giữa Nhật Bản và Hàn Quốc năm 1998, và Hiệp định về nghề cá giữa Trung Quốc và Hàn Quốc năm 2000. Những Hiệp định này được soạn thảo để quản lý các nguồn cá ở Biển Hoa Đông, Hoàng Hải, và Biển Nhật Bản. Theo đó, các khu vực quản lý đánh bắt cá chung đã được xác lập và duy trì. Mặc dù vậy, các nguồn tài nguyên biển vẫn còn là một nguồn của xung đột. Các biện pháp đơn phương của một quốc gia có thể bị một quốc gia khác coi là có ý đồ xấu. Ví dụ, khi Trung Quốc ra Nghị định tuyên bố một mùa cấm đánh cá ở Biển Đông -  trong suốt mùa hè, Việt Nam coi việc này là sự can thiệp vào chủ quyền của mình.

Trong lĩnh vực quản lý và phát triển tài nguyên, đặc biệt là dầu mỏ và khí tự nhiên, tình hình còn phức tạp hơn. Cần nhớ lại rằng, vào năm 1974, một Hiệp định giữa Nhật Bản với Hàn Quốc cùng phát triển dầu mỏ và khí đốt tại Biển Hoa Đông đã gặp phải phản đối quyết liệt từ phía Trung Quốc. Lợi ích của Trung Quốc với tư cách bên thứ ba ở cùng vùng biển này đã làm tê liệt các cuộc đàm phán. Trong những năm gần đây, Trung Quốc và Nhật Bản đã tranh cãi về mỏ dầu khí Chunxiao, cách đường yêu sách trung tuyến đơn phương của Nhật Bản ở Biển Hoa Đông chỉ 5km. Vụ tranh chấp ít ra đã được giải quyết một phần bởi một Hiệp định giữa Trung Quốc và Nhật Bản hồi tháng sáu năm 2008:  thiết lập một vùng phát triển chung ở Biển Hoa Đông liền kề với đường yêu sách trung tuyến của Nhật Bản, và cho phép các Công ty của Nhật phát triển mỏ dầu Chunxiao theo Luật của Trung Quốc.[4] Kết quả của Hiệp định phù hợp với tinh thần và các điều khoản của Công ước về Luật biển, đó là khuyến khích các quốc gia đưa ra những thỏa thuận dự phòng trong khi chờ giải quyết đường biên giới trên. Tuy nhiên, thật không may là, những sự kiện gần đây đã dẫn tới việc chậm trễ thực hiện Hiệp định.

Trung Quốc cũng phản đối mạnh mẽ các yêu sách trên biển của Nhật Bản đối với Okinotorishima, một rặng đá ngầm ở 20025' Bắc và 136005' Đông từ với cực Nam của Nhật Bản. Do bào mòn của nước biển, bề mặt của đá ngầm nhô lên khỏi mặt nước khi thủy triều lên đã dần dần thu hẹp lại. Kết quả là Đảo Bắc (Kitakojima) chỉ nhô lên có 16 centimet và Đảo Đông (Higashikojima) chỉ nhô lên có 6 centimet bên trên mực nước biển khi thủy triều lên.[5] Nếu cứ để yên như vậy, đá ngầm này có thể bị nước biển nhấn chìm. Từ năm 1987,  Nhật Bản bắt đầu đầu tư lớn (khoảng 300 triệu USD) để gia cố, nâng cao đá ngầm này để lấy đó làm cơ sở đòi hỏi thêm các quyền tài phán trên biển. Nếu thành công, Nhật Bản có thể tuyên bố chủ quyền một Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) rộng khoảng 400,000 km2 và một thềm lục địa rộng khoảng 740,000 km2 xung quanh đá ngầm này.[6] Trung Quốc bày tỏ mối quan ngại của mình rằng việc thừa nhận yêu sách của Nhật Bản đối với thềm lục địa từ đảo Okinotorishima "sẽ tạo ra một tiền lệ có thể dẫn tới sự xâm lấn biển ngoài khơi trong Khu vực ở mức độ lớn hơn nữa".[7] Có vẻ như là yêu sách trên biển của Nhật Bản sẽ ảnh hưởng tới lợi ích của Trung Quốc trong việc đánh bắt cá và nghiên cứu khoa học biển tai các vùng biển liền kề quanh đảo đá ngầm.

VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG

Ở Biển Đông, tranh chấp về quần đảo Trường Sa là vấn đề gai góc nhất. Tranh chấp này đã tồn tại từ lâu, bao gồm Trung Quốc, Đài Loan Trung Quốc, Malaysia, Việt Nam, Philippines, và Brunei. Trong lịch sử quan hệ quốc tế, thường không có nhiều nước cùng tuyên bố chủ quyền đối với những hòn đảo nhỏ như vậy.

Là người chơi chính, những nỗ lực và hợp tác của Trung Quốc là không thể thiếu để giải tỏa căng thẳng trong khu vực. Khi đàm phán về bộ quy tắc ứng xử, ban đầu Trung Quốc rất miễn cưỡng tham gia đàm phán ở cấp độ đa phương với ASEAN mặc dù đã đạt được một bộ quy tắc ứng xử song phương với Philippines năm 1995. Tuy nhiên, Trung Quốc đã dần dần thay đổi thái độ và bắt đầu xem xét khả năng và những lợi ích của việc đàm phán một bộ quy tắc ứng xử cấp khu vực. Sự thay đổi này có thể do hai lực đẩy cả từ bên trong lẫn bên ngoài. Từ bên trong Trung Quốc, có sự thúc đẩy hướng tới một chính sách đối ngoại thực dụng "ổn định khu vực láng giềng" (wending zhoubian) được coi  là một trong những ưu tiên hàng đầu. Dựa trên điều này, Trung Quốc phải duy trì một môi trường ổn định ở Biển Đông. Từ bên ngoài, nỗ lực và sức ép của các nước ASEAN đã thuyết phục được Trung Quốc rằng hợp tác với ASEAN là tất yếu nếu Trung Quốc muốn có một môi trường ổn định ở vùng này. Kết quả là năm 1999 Trung Quốc đã đưa ra đề xuất của riêng mình về bộ quy tắc ứng xử như là đáp ứng lại đề xuất của ASEAN.[8] Trung Quốc và các nước ASEAN đã tiến hành nhiều vòng đàm phán để phác thảo ra một Bộ Quy tắcỨng xử Chung cho khu vực Biển Đông.[9]

Ngày 4 tháng Mười một năm 2002, Trung Quốc và tất cả các nước thành viên ASEAN đã ký Tuyên bố về Cách Ứng xử của các bên tại Biển Đông (DOC 2002) ở Phnom Penh, Campuchia,[10] Có lẽ đây là văn kiện đáng kể nhất từng được ký kết giữa Trung Quốc và các quốc gia ASEAN. Tuyên bố được soạn thảo nhằm củng cố và phát triển tình hữu nghị và sự hợp tác giữa Trung Quốc và ASEAN nhằm thúc đẩy hòa bình ở Biển Đông. Nó được xây dựng trên các nguyên tắc và mục tiêu của Tuyên bố chung của Hội nghị Nguyên thủ Quốc gia/Người đứng đầu Chính phủ các quốc gia thành viên ASEAN và Trung Quốc năm 1997.Tuyên bố tái khẳng định cam kết của các bên nhằm sử dụng luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước về Luật biển để xây dựng lòng tin và hợp tác. Các bên bảo đảm tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông. Các bên dự định hợp tác trên các lĩnh vực sau:

·                 Bảo vệ môi trường biển

·                 Nghiên cứu khoa học biển

·                 An toàn hàng hải và giao thông liên lạc trên biển

·                 Các hoạt động tìm kiếm và cứu hộ

·                 Chông tội phạm quốc tế, bao gồm nhưng không chỉ giới hạn trong buôn bán ma túy, cướp biển có vũ trang và buôn lậu vũ khí.

Các quốc gia ký kết cam kết giải quyết các tranh chấp lãnh thổ và tranh chấp quyền tài phán bằng các biện pháp hòa bình, tiếp tục đàm phán về Biển Đông và kiềm chế để tránh các hành động khiêu khích.

DOC 2002 chứa đựng nhiều yếu tố từ đề xuất của Trung Quốc đưa ra trước đó. Việc ký kết của Trung Quốc có thể được coi như một cử chỉ thiện chí. Một dấu hiệu của việc đó là sau khi ký DOC, Trung Quốc và Philippines giảm bớt tầm quan trọng của các cuộc tập trận Hải quân gần vùng biển tranh chấp, tuyên bố rằng các cuộc tập trận đó đó không liên quan đến các tranh chấp lãnh thổ.

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, đã có những bước thụt lùi làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hiệu quả DOC năm 2002. Thứ nhất, có những quốc gia vẫn tiếp tục những hành động đơn phương trái với lời kêu gọi tự kiềm chế đã nêu trong DOC. Các hành động này bao gồm việc đến thăm các đảo tranh chấp, cũng như việc xây dựng và nâng cấp cơ sở vật chất ở các đảo. Thứ hai, chương trình chung ba bên giữa Trung Quốc, Philippines và Việt Nam sau khi hoàn thành phần thứ nhất thì nay đã ngừng các hoạt động, và có lẽ hình như khó có thể thấy chương trình đó sẽ được khôi phục lại trong một tương lai gần.

Thứ ba, gần đây Trung Quốc đã có sự chuyển hướng thái độtừ chủ nghĩa đa phương quay trở lại chủ nghĩa song phương. Như năm 2009, đại sứ Trung Quốc tại ASEAN khi đó đã phát biểu do ASEAN bao gồm cả các nước có yêu sách lẫn các nước không có yêu sách nên tổ chức này không thể là diễn đàn thích hợp cho việc thảo luận vấn đề Biển Đông. Do vậy, chính phủ Trung Quốc muốn giải quyết các tranh chấp lãnh thổ thông qua đàm phán song phương.[11] Sự thay đổi này có chút gì đó gây ngạc nhiên vì Trung Quốc trước đó không lâu vẫn ủng hộ mạnh mẽ DOC, coi như đó là cử chỉ thiện chí phù hợp với cách hành xử đa phương. Trung Quốc thậm chí còn tổ chức một số hội nghị thực thi ở nước mình. Câu hỏi lớn là liệu chủ nghĩa song phương có thực sự hiệu quả để giải quyết vấn đề Biển Đông hay không.

Trung Quốc là nhân tố quan trọng nhất trong an ninh khu vực. Sẽ có một số lo ngại như liệu Trung Quốc có chọn cách tiếp cận cứng rắn cho vấn đề Biển Đông không. Trong một điều trần tại Hạ Viện Hoa Kỳ ngày 13/1/2010, Tư lệnh quân lực Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương đô đốc Robert Willard nói rằng Hải quân Trung Quốc đã tăng cường tuần tra trên Biển Đông và đã "cho thấy sẵn sàng đụng độ với các nước trong khu vực ở biển cả và ở các chuỗi đảo đang tranh chấp"[12] Nếu các kịch bản được mô tả này là đúng, thì các quốc gia Đông Nam Á có lý do để lo lắng. Và điều này sẽ phá hoại tinh thần của DOC.

May mắn là, các nước ASEAN và Trung Quốc mới đây đã thỏa thuận nối lại đối thoại về việc thực thi có hiệu quả DOC.  Họ đang hướng tới một Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC).[13]

HỢP TÁC CHỐNG CƯỚP BIỂN TRONG KHU VỰC

Cướp biển là mối đe dọa thường xuyên đối với an ninh biển của toàn thể thế giới. Số liệu mới nhất cho thấy năm 2009 toàn thế giới có 406 vụ cướp biển, nhiều nhất kể từ năm 2003. Cướp biển ở Biển Đông cũng tăng lên vào năm 2009  -  từ Tháng 1 đến tháng 9 năm 2009,  có  đến mười vụ so với 3 vụ cùng thời kỳ năm 2008.

Trung Quốc đã nhận thấy rằng họ không thể một mình chống lại cướp biển ở các vùng biển liền kề. Hợp tác khu vực là cần thiết thì mới có hiệu quả. Nhằm mục đích này, Trung Quốc đã ký Tuyên bố chung về Hợp tác trong các vẫn đề an ninh phi truyền thống với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) tháng 11 năm 2002. Hiệp định này đòi hỏi hợp tác toàn diện giữa các nước ASEAN và Trung Quốc trong các vấn đề an ninh phi truyền thồng và xác định các kiểu hợp tác ưu tiên. Các ưu tiên đó bao gồm "chống vận chuyển ma túy trái phép, buôn lậu người kể cả phụ nữ và trẻ em, cướp biển, khủng bố, buôn lậu vũ khí, rửa tiền, tội phạm kinh tế quốc tế và tội phạm tin học." Trong cả hợp tác đa phương và song phương, có các mục tiêu sau:

·                 Tăng cường trao đổi thông tin

·                 Tăng cường trao đổi nhân sự, đào tạo và nâng cao việc xây dựng năng lực

·                 Tăng cường hợp tác thực tiễn trong các vấn đề an ninh phi truyền thống

·                 Tăng cường nghiên cứu chung về các vấn đề an ninh phi truyền thống

·                 Khảo sát các lĩnh vực và các mô hình hợp tác khác [14] 

Thêm vào đó, Tuyên bố DOC năm 2002 [15] nhằm mục tiêu ngăn chặn cướp biển và cướp có vũ trang trên biển. Thực ra, dựa vào Tuyên bố này, Trung Quốc đã bảo trợ nhiều hội thảo về các vấn đề an ninh phi truyền thống. Ví dụ Viện Nghiên cứu Hải Nam Trung Quốc đã tiến hành hội thảo đào tạo về an ninh biển ở eo biển Malacca cho các quan chức chính phủ các nước Đông Nam Á vào tháng 12 năm 2007.

Những nỗ lực này ở khu vực lên tới đỉnh điểm trong Hiệp định quan trọng nhất khu vực về chống cướp biển: Hiệp định Hợp tác Khu vực về chống Cướp biển và cướp có vũ trang đối với tàu thuyền tại châu Á (ReCAAP) ký tháng 11/2004.  Hiệp định có hiệu lực từ tháng chín năm 2006, bắt buộc các nước ký kết phải:

·                 Ngăn chặn và tiêu diệt cướp biển và cướp bóc có vũ trang đối với các tàu biển

·                 Bắt giữ cướp biển hoặc những kẻ phạm vào việc cướp bóc có vũ trang đối với các tàu biển

·                 Bắt giữ tàu biển hoặc máy bay dùng vào việc cướp biển hoặc cướp bóc có vũ trang đối với các tàu biển

·                 Cứu hộ những tàu biển nạn nhân và những nạn nhân của cướp biển hoặc cướp bóc có vũ trang đối với các tàu biển[16]. Ngăn chặn cướp biển hoặc cướp bóc có vũ trang đối với các tàu biển tới hết mức có thể phù hợp với luật pháp và quy định quốc gia tương ứng và phù hợp với nguồn lực và năng lực của mình

·                 Hỗ trợ pháp lý lẫn nhau cũng như dẫn độ nhằm tiêu diệt và trừng trị cướp biển.

Ngoài các điều khoản này ra, hiệp định còn thành lập một Trung tâm Chia sẻ Thông tin (ISC). Trung tâm chính thức hoạt động vào tháng 11 năm 2007 tại Singapore.[17]

ReCAAP là hiệp định quốc tế đặc thù đầu tiên nhằm ngăn chặn và tiêu diệt cướp biển. Bởi vì điều này còn mới mẻ nên nó trở thành khuôn mẫu cho các giàn xếp pháp lý khác ở khu vực. Có tin là một Bộ Quy tắc ứng xử tương tự cũng đã được ký kết ở Tây Ấn Độ Dương.

Đặc biệt để xử lý riêng về vấn đề eo biển Malacca, chính phủ  Singapore và IMO đã cùng triệu tập "Hội nghị về Eo biển Malacca và Singapore: Nâng cao An toàn, An ninh và Bảo vệ Môi trường". Tại  Hội nghị này, Cơ chế Hợp tác cho  Eo biển Malacca và Singapore đã được thành lập năm 2007.  Cơ chế bao gồm Diễn đàn Hợp tác, Ủy ban Dự án Hợp tác, và Quỹ Hỗ trợ Hàng hải. Trung Quốc là một trong số các nước ở khu vực bày tỏ sự ủng hộ mạnh mẽ cho sáng kiến này.

PHÂN ĐỊNH BIÊN GIỚI BIỂN

Thỏa thuận chính thức duy nhất liên quan đến việc phân định biên giới biển giữa Trung Quốc và các nước láng giềng là Hiệp định giữa Trung Quốc – Việt Nam về việc phân định biên giới biển ở Vịnh Bắc Bộ. Để hiểu được trường hợp này, cần xem xét  bối cảnh rộng hơn  của quan hệ biên giới Việt-Trung.

Hai nước bình thường hóa quan hệ ngoại giao vào tháng 11 năm 1991, sau một thời gian dài căng thẳng tiếp theo cuộc Chiến tranh Biên giới Trung-Việt năm 1979.  Các vấn đề biên giới tiếp tục là một vấn đề nhạy cảm trong quan hệ song phương; thực tế, cuộc Chiến tranh Biên giới Trung-Việt đã bắt đầu với vô số vụ va chạm có vũ trang dọc theo biên giới. Chính vì vậy mà cả hai bên đều đưa vấn đề biên giới thành ưu tiên số một để giải quyết các tranh chấp sau khi bình thường hóa quan hệ ngoại giao. Tháng 10  năm 1993,  hai bên ký kết một hiệp định đưa ra những nguyên tắc cơ bản để giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ. Theo đó, hai bên cam kết không tiến hành các hoạt động có khả năng làm phức tạp thêm các tranh chấp trong tiến hành các cuộc đàm phán.

Cũng nên nhớ rằng, trong khi Hiệp ước Pháp-Thanh năm 1887 phân định biên giới Trung -Việt áng chừngkhông có sự phân giới chính xác nào diễn ra. Đây chính là một nguồn gốc gây ra căng thẳng và xung đột. Năm 1999, cuối cùng thì hai quốc gia cũng đạt được một thỏa thuận về biên giới trên đất liền. Cuối năm 2008, đường phân giới đã hoàn thành.

Hiệp định Vịnh Bắc Bộ cho thấy hai bên đã có nỗ lực như nhau để phân định đường biên giới trên biển. Hiệp định này được ký kết sau nhiều vòng đàm phán vào năm 2000. Theo Hiệp định này, chiều dài của đường phân định khoảng 500 km. Đường này có 21 mốc địa lý, trong đó từ mốc 1 đến 9 phân định lãnh hải và các điểm từ 9 đến 21 phân định các Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ)  và các thềm lục địa của hai nước ở Vịnh Bắc Bộ.[18] Vì đây là Hiệp định đầu tiên thuộc dạng này mà Trung Quốc đạt được với các nước láng giềng, Hiệp định này có thể là một tấm gương tốt. Với Việt Nam, Hiệp định biên giới biển này cũng được đánh giá là toàn diện mà nước này đạt được. Tuy nhiên, trong trường hợp này, nó lại chỉ là cái thứ hai trong ba hiệp định biên giới Việt Nam đã ký với các quốc gia láng giềng.

 

Trung Quốc và Việt Nam cũng ký đã một hiệp định mới về quản lý nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ.  Hiệp định này quy định sử dụng hợp lý và phát tiển bền vững các nguồn cá và thiết lập Vùng đánh cá chung rộng khoảng 30.000 km2. Theo một khảo sát khoa học, việc đánh bắt cá bền vững ở Vịnh là 600.000 tấn mỗi năm; song trong những năm gần đây, lượng cá đánh bắt của cả hai nước Trung Quốc và Việt Nam đã đạt tới một triệu tấn. Do đó, sự quản lý bền vững song phương các nguồn cá là một biện pháp được đón nhận để ngăn ngừa suy kiệt nguồn tài nguyên cá.

Vịnh Bắc Bộ là một vùng biển chung nhau giữa Trung Quốc và Việt Nam. Bằng cách ký kết các hiệp định nói trên, hai quốc gia đã mở ra một giai đoạn mới cùng hợp tác trên biển trong quan hệ song phương. Nhằm thực hiện hiệu quả các hiệp định, hai bên đã tiến hành tuần tra chung và khảo sát khoa học. Cùng với đó, hai bên cũng đã ký một hiệp định khung về hợp tác thăm dò dầu khí trong tương lai ở Vịnh Bắc Bộ.

QUẢN LÝ CÁC NGUỒN CÁ

Ngoài Việt Nam, Trung Quốc cũng đã kýcác hiệp định về nghề cá với Nhật Bản và Hàn Quốc. Mặc dù các hiệp định này mới nhìn có vẻ không có giá trị lắm, song trên thực tế chúng có đóng góp lớn đề thúc đẩy các quan hệ ngoại giao trên biển.

Đối với Trung Quốc và Nhật Bản, hiệp định về nghề cá là một bước quan trọng tiến tới giải quyết vấn đề biên giới biển. Việc Công ước LHQ về Luật Biển có hiệu lực vào năm 1994 dẫn tới hỗn loạn hoàn toàn. Vì nơi rộng nhất của Biển Hoa Đông cũng chỉ nhỏ hơn 400 hải lý, nên chiều dài của các Vùng đặc quyền kinh tế EEZ được gán cho trong hiệp định  thực tế có nghĩa là các vùng biển của Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc sẽ chồng lấn lên nhau. Tình trạng này không bền vững; các bên cần điều chỉnh nhằm tránh các xung đột về lợi ích trong việc đánh bắt cá.

Sau một số vòng thương lượng, Trung Quốc và Nhật Bản đạt được một Hiệp định về quản lý nghề cá ở Biển Hoa Đông tháng chín năm1997.[19] Hiệp định này có hiệu lực vào tháng sáu năm 2000. Hiệp định có một số điều khoản quan trọng nhằm đáp ứng với tình hình đã thay đổi. Trước hết, hiệp định tái khẳng định nguyên tắc bảo vệ và bảo tồn nguồn cá. Điều này chiểu theo các điều khoản tương ứng trong Công ước LHQ về Luật Biển và những đòi hỏi về môi trường của Agenda 21. Hai bên đồng ý hợp tác để tiến hành nghiên cứu khoa học về nghề cá và bảo tồn các tài nguyên sống ở biển.[20] Khi tham gia vào các hoạt động đánh bắt cá tại EEZ của một nước khác, ngư dân phải tôn trọng các biện pháp bảo tồn và các luật liên quan khác của nước đó. Các quốc gia cần thông tin cho nhau về các luật và quy định tương ứng về bảo tồn nghề cá.[21]

Hai là, Trung Quốc cho ngư dân Nhật Bản quyền được đánh bắt cá trên EEZ của mình và ngược lại. Các nhà chức trách có thẩm quyền của mỗi quốc gia cấp giấy phép đánh bắt cá cho người và tầu đánh cá của nước bên kia và có thể thu một khoản phí thích hợp khi cấp các giấy phép đó. Việc cấp phép cần tuân theo các điều khoản tương ứng của Hiệp định. Tuy nhiên, cần phải cấp bao nhiêu giấy phép và bao nhiêu tấn cá được phép đánh bắt là một vấn đề khó khăn và phức tạp đòi hỏi tiếp tục đàm phán. Hơn nữa, Hiệp định cũng không bao gồm khu vực EEZ nằm ở phía nam 270 Bắc và phía tây của 125030' Đông trong Biển Hoa Đông, là các vùng có Đài Loan và quần đảo Điếu Ngư đang tranh chấp.

Thứ ba là, Hiệp định thành lập một Ủy ban Liên hợp về Nghề cá Trung-Nhật để thực hiện Hiệp định. Ủy ban gồm có bốn thành viên, mỗi bên cử ra hai người. Các quyết định dựa trên sự đồng thuận của các thành viên. Cả hai quốc gia phải tôn trọng các khuyến nghị của Ủy ban đưa ra và tiến hành các biện pháp phù hợp với các quyết định đó. Ủy ban có thể được triệu tập hàng năm hoặc ở Trung Quốc hoặc ở Nhật Bản. Nếu cần, cũng có thể có những cuộc họp bất thường.[22] Những dàn xếp tương tự cũng có trong các hiệp định nghề cá giữa Trung Quốc và Hàn Quốc và giữa Trung Quốc và Việt Nam.

Cuối cùng, Hiệp định về nghề cá cũng tạo ra một số bước tiến trong việc phân định biên giới biển bằng việc thiết lập một khu vực áp dụng các biện pháp tạm thời (Provisional Measures  Zone - PMZ).  PMZ  nằm ở giữa Biển Hoa Đông, cách đường cơ sở của Trung Hoa đại lục và bờ biển của đảo Ryukyu 52 hải lý. Giới hạn phía Bắc của đường này là vĩ tuyến 30040'Bắc và giới hạn phía Nam của đường này là vĩ tuyến 270 Bắc. Hai bên đồng ý bảo vệ các nguồn hải sản sống trong khu vực PMZ, dựa trên các quyết định của Ủy ban Liên hợp về nghề cá. Mỗi quốc gia chịu trách nhiệm đối với người của nước mình đánh bắt cá trong vùng PMZ, nhưng không nên áp đặt các biện pháp đối với người của nước kia đang hoạt động ở đó.

Việc thiết lập một khu vực đánh bắt cá chung là một dạng thức điển hình về hợp tác đánh bắt cá được thấy ở nhiều nơi trên thế giới. Do vậy, khu vực PMZ  Trung-Nhật không có gì mới. Cái mới ở đây là, khu vực PMZ này là khu vực đầu tiên giữa Trung Quốc và Nhật Bản  - nó cho thấy việc hợp tác trên biển giữa hai quốc gia đã đi vào một thời kỳ mới.

KẾT LUẬN

Trong quan hệ quốc tế, xung đột và hợp tác luôn tồn tại cùng với nhau. Trung Quốc và các nước láng giềng không phải là ngoại lệ. Ta chỉ có thể hy vọng rằng xung đột trong khu vực có thể giảm thiểu đến mức tối đa và hợp tác ngày càng được thúc đẩy và làm sâu sắc hơn nữa.

Công ước LHQ về Luật Biển đã thiết lập một chế độ hoạt động theo pháp luật cho các đại dương. Công ước được mô tả như là một bản "hiến pháp” cho các dại dương.[23] Tuân thủ luật pháp quốc tế là một trong những đòi hỏi đối với các quốc gia trong quan hệ quốc tế, Công ước LHQ về Luật Biển làm được nhiều hơn là chỉ đưa ra những điều luật. Một điều khoản đặc biệt yêu cầu các quốc gia thành viên phải phối hợp các hoạt động bảo tồn và nghiên cứu khoa học của mình trong khu vực.[24] Điều khoản này có lẽ ở điểm nào đó cũng được mở rộng sang cả lĩnh vực an ninh biển.

Vì Trung Quốc đang trỗi dậy, nước này chắc chắn đang hướng lợi ích của mình ra biển. Cần nhớ lại rằng năm 2005, Trung Quốc kỷ niệm 600 năm ngày sinh của Zheng He,[25] một nhà hàng hải vĩ đại triều Minh (1368-1644),  người đã lãnh đạo các hạm đội của Trung Quốc qua bảy cuộc viễn du tới Tây Phi đầu thế kỷ thứ 15. Làm lễ kỷ niệm Zheng He biểu hiện ý định của chính phủ Trung Quốc làm sống lại vinh quang hải quân Trung Quốc trong quá khức. Mặt khác, hải quân Trung Quốc hiện nay đang mở rộng hoạt động của mình ra ngoài vùng biển khơi và đang bàn xem liệu có nên trang bị tàu sân bay không. Rõ ràng là Trung Quốc đang quyết tâm trở thành cường quốc biển một lần nữa.

Tuy nhiên, những tham vọng này có thể khiến các nước láng giềng nghi ngờ liệu Trung Quốc có thực sự là thành viên có trách nhiệm trong các vấn đề quốc tế hay không, đặc biệt đối với các vấn đề an ninh biển. Một hình ảnh quá quyết đoán có khả năng phá hoại mục đích của Trung Quốc biến cả Biển Hoa Đông và Biển Đông thành vùng biển của hòa bình, hợp tác và hài hòa. Vì lý do đó mà cần đề xuất một kiểu "quyền lực thông minh" đối với chính sách biển của Trung Quốc. Nếu làm được điều này, Trung Quốc có khả năng tạo thành một tấm gương tốt cho các quốc gia khác ở châu Á noi theo. Nếu các quốc gia trong khu vực cùng hành động thì hòa bình và an ninh trên biển mới có thể được duy trì dài lâu.

GS. Keyuan Zou, Khoa Luật, Đại học Trung tâm Lancashire, Vương quốc Anh

Quang Hưng dịch

Bản gốc tiếng Anh “CAN CHINA RESPECT THE LAW OF THE SEAS?: An Assessment of Maritime Agreements Between China and its NeighborsBài viết được in trong Series đặc biệt của tạp chí Harvard Asia Quarterly với chủ đề "The Disputed Sea - Maritime Security in East Asia" tháng 12/2010.

Đề nghị chỉ được dẫn đường link bài viết này,  không cắt đăng lại khi chưa có sự đồng ý của Ban Biên tập NCBĐ.

 



[1] Toàn văn có tại http://www.un.org/Depts/los/convention_agreements/texts/unclos/closindx.htm, truy cập 4 Tháng 11 năm 2010.

[2] Li Haiqing, "Reflections on Our Strategy for Ocean Development in East Asian Seas," Ocean Development and Management (tiếng Trung) 1 (2005): 10.

[3] Cuộc họp lần thứ 13 giữa Trung Quốc và Hàn Quốc được tổ chức tại Qingdao, Trung Quốc vào ngày 4/7/2008.

[4] Toàn văn Hiệp định, xem: http://www.chinadaily.com.cn/china/2008-06/18/content_6774860.htm,, truy cập ngày 19/6/2008.

[5] Yann-huei Song, "Okinotorishima: “A ‘Rock’ or an ‘Island’? Recent Maritime Boundary Controversy between Japan and Taiwan/China,” Maritime Boundary Disputes, Settlement Processes, and the Law of the Sea, ed. Seoung-Yong Hong and Jon M. Van Dyke (Leiden: Martinus Nijhoff, 2009), 148.

[6] Qin Jize, Li Xiaokun và Cheng Guangjin, "Japan Atoll Expansion ‘Hurt Neighbors’," China Daily, 11/2/2010, truy cập ngày 14/10/2010  http://www.chinadaily.com.cn/world/2010-02/11/content_9461259.htm

[7] "Proposal for the inclusion of a supplementary item  in the agenda of the nineteen Meeting of States Parties: Note verbale Dated 21 May 2009 from the Permanent Mission of China to the United Nations addressed to the Secretary-General”, SPLOS 196, 22/5/2009,  truy cập ngày 14/10/2010, http://daccess-dds-ny.un.org/doc/UNDOC/GEN/N09/346/61/PDF/N0934661.pdf?OpenElement

[8] Hai đề xuất này được in lại trong Selected Foreign and Chinese Articles on the South China Sea(2001), ed. Hainan Research Institute for the South China Sea (Hainan: Haikou, 2002) (in Chinese), 180-183.

[9] Các bản dự thảo Quy tắc ứng xử của cả ASEAN và Trung Quốc được in lại trong Collection of Selected Foreign and Chinese Papers on the South China Sea, 180-183.

[10] Toàn văn có tại http://www.aseansec.org/13163.htm, truy cập ngày 18/10/2010.

[11] “Beijing: South China Sea Territorial Disputes Not on ASEAN Agenda,” VOA News, chỉnh sửa lần cuối ngày 21/10/2009, http://www.voanews.com/english/2009-10-21-voa20.cfm, truy cập ngày 11/11/2009.

[12] "Choppy Waters: East and south, China makes a splash," Economist bản in ngày 21/1/2010, truy cập ngày 15/10/2010 http://www.economist.com/world/asia/displaystory.cfm?story_id=15331153.

[13] Xem "Press Release on the 13th ASEAN – China Summit,”" Hà Nội, ngày 29/10/2010, truy cập ngày 1/11/2010,  http://asean2010.vn/asean_en/news/36/2DA9D9/Press-release-on-the-13th-ASEAN-CHINA-summit

[14] Xem "Joint Declaration of ASEAN and China on Cooperation in the field oì Non-Traditional Security Issues, 6th ASEAN-China Summit," 4/11/2002, truy cập ngày 18/10/2010 http://www.aseansec.org/13185.htm

[15] "Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea", truy cập ngày 18/10/2010, http://www.aseansec.org/13163.htm

[16] Điều 3 ReCAAP. Toàn văn tại "Regional Cooperation Agreement on Combating Piracy and Armed Robbery against Ships in Asia," truy cập 18/10/2010, http://www.recaap.org/about/pdf/ReCAAP%20Agreement.pdf

[17] Thông tin về các hoạt động của trung tâm này có tại http://www.recaap.org/index_home.html

[18] Chi tiết xem Zou Keyaun, “The Sino-Vietnamese Agreement on Maritime Delimitation in the Gulf of Tokin,” Ocean Development and International Law 36 (2005): 13-24.

[19] Hiệp định nghề cá giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Nhật Bản, Tháng 11/1997. Bản dịch Tiếng Anh không chính thức có tại Zou Keyuan, Law of the Sea in East Asia: Issues and Propects (London: Routledge, 2005), 175-180.

[20] Điều 10 Hiệp định Nghề cá Trung – Nhật

[21] Điều 4 Hiệp định Nghề cá Trung – Nhật

[22] Điều 11 Hiệp định Nghề cá Trung – Nhật.

[23] Xem Tommy Koh, "A Constitution for the Oceans", trong The Law of the Sea: United Nations Convention on the Law of the Sea with Index and Final Act of the Third United Nations Conference on the Law of the Sea (New York: United Nations, 1983), xxxiii.

[24] Điều 123 Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển.

[25] Chi tiết, xem "Envoy of Peace: in Commemoration of the 600th Anniversary of Zheng He’s Great Voyages (1405-1433)", truy cập ngày 16/2/2010, http://www.chinaculture.org/gb/en_focus/node_2478.htm. Khi thủ tướng Ôn Gia Bảo phát biểu tại Đại học Cambridge tháng 2/2009, ông đã mô tả Zheng He là "một sứ giả đích thực của tình yêu và hữu nghị", xem: "Premier Wen Says Cooperation Top Priority to Tackle Financial Crisis", sửa đổi lần cuối 3/2/2009, truy cập 16/2/2010, http://au.china-embassy.org/eng/xw/t535003.htm

 

 

Một thời gian dài trong Chiến tranh Lạnh, hải quân Trung Quốc không là gì nhiều hơn một lực lượng tuần duyên tỉ mỉ. Ngày này, sự phân chia rõ ràng hơn đang diễn ra vì hải quân Trung Quốc nhấn mạnh chiến tranh tập trung vào công nghệ.

 

( Phần 1; Phần 2; Phần 3; Phần 4; Phần 5)

 

 

nh 15: Tàu tiếp nhiên liệu cứu hộ của MSA hoạt động gần với hai tàu Hải quân PLA. Duy trì hỗ trợ cho việc qua lại của tàu thuyền dọc những bờ biển sầm uất của Trung Quốc là nhiệm vụ chính của MSA. (Diễn đàn Quốc phòng Trung Quốc)

Trong số những thực thể giống như lực lượng tuần duyên, việc xem xét vai trò và nhiệm vụ, không tính đến nguồn lực, giữa một bên là lực lượng tuần duyên và một bên là hải quân như thế nào là điều tự nhiên và thích đáng. Nhà lý luận sức mạnh biển Geoffrey Till giải thích rằng mặc dù sự chồng lấn là không thể tránh khỏi và hợp lý, vẫn có số mô hình lực lượng tuần duyên có những mối quan hệ khác biệt với hải quân quốc gia. Till thấy rằng “Với sự mở rộng quan điểm về an ninh, có lẽ bị thúc giục bởi các sự kiện ngày 11/09, phạm vi chồng lấn tiềm tàng đang tăng lên theo nhiều hướng làm nảy sinh những vấn đề liên quan đến câu hỏi ai phải chịu trách nhiệm cho cái gì.” Ông giải thích thêm, một số quốc gia có hải quân và lực lượng tuần duyên với những nhiệm vụ riêng biệt đáng kể, trong khi ở những nước khác (thường là những nước nhỏ hoặc kém phát triển hơn) chính hải quân về cơ bản thực hiện chức năng như lực lượng tuần duyên, chủ yếu năng động trong các hoạt động tuần tra, quản lý bờ biển và các nhiệm vụ nghiên cứu và cứu hộ[108].

Các nhà phân tích của Trung Quốc đã ghi nhận đúng lúc rằng một số lực lượng tuần duyên, bao gồm USCG, đã can thiệp trầm trọng vào an ninh quốc gia. Ví dụ, một nhà phân tích hàng hải Trung Quốc ghi chú rằng lực lượng tuần duyên hùng mạnh của Nhật bản đảm nhiệm chức năng như một lực lượng dự phòng quan trọng cho hải quân Nhật bản[109]. Các tác giả của nghiên cứu của Viện Ning Ba quan sát thấy rằng Hoa Kỳ rõ ràng đã xem Lực lượng Tuần duyên của mình là một trong năm dịch vụ có trang bị vũ trang, nhiều lần sử dụng đơn vị này với nhiệm vụ chiến đấu.”[110] Những nhà phân tích này khá thẳng thắn khi tiên đoán vai trò quan trọng của các thực thể tuần duyên của Trung Quốc trong bất kỳ xung đột vũ trang nào trong tương lai: “Trong thời chiến, theo sự chỉ huy của hải quân, [các bộ phận tuần duyên của Trung Quốc] sẽ tháp tùng giao thông hàng hải, hỗ trợ kiểm soát giao thông hàng hải và cùng với các tàu đổ bộ, thực hiện nhiệm vụ chống tàu ngầm, bảo vệ hải cảng, cung cấp thủy thủ cho một số bộ phận trong hạm đội của hải quân và hỗ trợ trong quá trình hoàn thành công cuộc huy động quốc gia.”[111]

Một nhà phân tích chuyên môn từ trường Đại học Quốc phòng của Trung Quốc tranh cãi trong tháng 06/2009 rằng các tàu tuần duyên lớn của Trung Quốc có thể dễ dàng bị chuyển sang sử dụng trong chiến đấu viễn dương, trong khi các tàu tuần duyên nhỏ và trung bình có thể hỗ trợ bảo vệ bờ biển, đảm nhiệm những nhiệm vụ chẳng hạn như đặt bãi mìn[112]. Thuyền trưởng Moreland tương tự cho rằng “Cả lực lượng tuần duyên Trung Quốc và lực lượng tuần duyên Hoa Kỳ đều là các lực lượng hàng hải được trang bị vũ trang không thuộc các đơn vị của bộ quốc phòng của nước mình nhưng lại sẵn sàng hỗ trợ các cơ quan này tiến hành chiến tranh.”[113]Do đó, không có gì đáng ngạc nhiên khi thấy các đơn vị của Cộng đồng tuần duyên biển của Trung Quốc có quan điểm cứng rắn về các vấn đề chủ quyền và yêu sách biển: “Đài Loan trong nhiều khía cạnh nhất vẫn bị chi phối bởi các lực lượng bên ngoài… Từ khía cạnh này, đảo Đài Loan tạo thành một điểm trung tâm chiến lược quyết định vận mệnh tương lai của Trung Quốc… Trên biển cả, có nhiều quốc gia láng giềng có tranh chấp đảo và lãnh thổ đại dương với Trung Quốc. Những mâu thuẫn này tương đối lớn, và điều này có ảnh hưởng lớn đến không gian vận động ảnh hưởng trong nền chính trị, chính sách đối ngoại và các vấn đề quân đội của Trung Quốc.”[114]

Tuy nhiên, sẽ là một sai lầm khi xem các thực thể tuần duyên đang phát triển của Trung Quốc như những phụ tá đơn thuần cho Hải quân PLA. Một quan điểm thế giới chủ nghĩa hiển hiện rõ ràng trong nghiên cứu của Viện NinhBa: “Khởi xướng xung đột vũ trang [,] hoặc thậm chí chiến tranh hạn chế, cũng sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến toàn bộ khu vực và hệ thống thế giới, và không có lợi cho bối cảnh phát triển của đất nước.”[115] Hơn nữa, Viện Ninh Ba thuộc BCD, là một trong số ít các đơn vị được trang bị vũ trang trong số các thực thể tuần duyên của Trung Quốc; người ta có thể đoán chừng một cách logic rằng các đơn vị không được trang bị vũ trang (ví dụ như MSA hùng mạnh) ít có xu hướng tham gia các hoạt động bán quân sự. Một chiều hướng cũng hiển hiện trong nghiên cứu của Viện Ning Ba là các thực thể tuần duyên thực tế có thể cạnh tranh với hải quân của Trung Quốc để được cung cấp dự phòng. Ví dụ, các học giả này thất vọng thấy rằng “trong nước, nhiều học giả tin rằng sức mạnh biển là sức mạnh quân sự biển, và sức mạnh quân sự biển là hải quân.”[116]

Vấn đề cốt yếu đặt ra là khuynh hướng của hải quân Trung Quốc, mà rộng hơn là PLA, sẽ là gì để nâng cao khả năng tuần duyên trên biển. Dẫn chứng ban đầu, với hình thức là một bài báo trong số tháng 6/2008 của cơ quan Khoa học Quân sự Trung Quốc chính thức và đầy uy tín (中国军事科学) cho rằng PLA sẽ ủng hộ nỗ lực này; tác giả bài báo, đến từ trường Đại học Quốc phòng Trung Quốc, có niềm tin sâu sắc là năng lực giám sát trên biển mạnh hơn là một yếu tố trọng yếu trong một chiến lược biển mới của Trung Quốc.[117] Tháng 7/2009, một hoạt động nghiên cứu và cứu hộ quan trọng đã được tiến hành trong vùng lân cận của Vùng Châu thổ sông Châu Giang. Các nhà đồng tổ chức là Hạm đội Biển Nam của Hải quân PLA và chính quyền tỉnh Quảng Đông. Mười ba cơ quan, hai lăm tàu, và hai trực thăng đã tham gia vào hoạt động này với tên gọi là hoạt động Ba Chiều (“立体警民”) – nghĩa là quân đội, lược lương tuần duyên và nhân dân). Một ấn phẩm của Hải quân mô tả hoạt động này ghi lại rằng Trung Quốc đã thiết lập một hệ thống nghiên cứu và cứu hộ mới và mạnh nhưng than vãn rằng các vùng quân sự lại không được hợp nhất tốt thành một thể - vấn đề này thể hiện sự cần thiết phải tiến hành nhiều hơn các hoạt động như vậy.[118]

Ảnh 16: Tháng 7/2009, hoạt động nghiên cứu và cứu hộ quan trọng chưa từng diễn ra bao giờ với sự tham gia của các đơn vị hải quân và các thực thể hàng hải dân sự  (hai mươi lăm tàu và mười ba cơ quan) theo như đưa tin đã diễn ra tại Vùng Châu thổ Sông Châu Giang phía Nam Trung Quốc. (Hải Quân Hiện đại).

Xem xét lại hai mô hình thay thế của Till – phân chia rộng hay chồng lấn lớn – điều đáng lưu ý là Trung Quốc rõ ràng nổi lên từ truyền thống sau (chồng lấn). Một thời gian dài trong Chiến tranh Lạnh, hải quân Trung Quốc không là gì nhiều hơn một lực lượng tuần duyên tỉ mỉ. Ngày này, sự phân chia rõ ràng hơn đang diễn ra vì hải quân Trung Quốc nhấn mạnh chiến tranh tập trung vào công nghệ. Tuy nhiên, PLA cũng dần quan tâm hơn đến các vấn đề thường gây lo lắng cho các lực lượng tuần duyên, bao gồm nghiên cứu và cứu hộ, bảo vệ môi trường, và cướp biển, điều này nói lên rằng một sự phân chia rạch ròi về vai trò hoàn toàn không khả thi đối với Trung Quốc trong thời gian gần hay tương đối ngắn.[119]

Phần tiếp theo “Lý giải yếu điểm của năng lực giám sát trên biển của Trung Quốc" 

 

  Lyle J. Goldstein, Trường Cao đẳng Hải chiến Hoa Kỳ 

 

  Hiếu Minh, Ngọc Trang, Hà Tuyên (dịch)    

 Đỗ Thị Thủy (hiệu đính) 

 

 

Bản  gốc tiếng Anh "Five Dragons Stirring Up the Sea - Challenge and Opportunity in China's Improving Marritime Enforcement Capabilities ", Tạp chí Nghiên cứu biển Trung Quốc, số 5, tháng 4/2010, Trường Cao đẳng Hải chiến, Newport, Rhode Island, Hoa Kỳ

 

Đề nghị chỉ được dẫn đường link mọi thông tin, bài viết  trên www.nghiencuubiendong.vn, không đăng lại khi chưa có sự đồng ý của Ban Biên tập NCBĐ.

 

CHÚ THÍCH:

 


[108] Till, Sức mạnh về biển, trang 343–46.

[109] Bạch Tuấn Phong-Bai Junfeng, “Conception Regarding the Building of China’s Maritime Police,” trang 35.

[110] He Zhonglong cùng các cộng sự, Nghiên cứu về việc Phát triển Cảnh sát Biển của Trung Quốc, trang  4

[111] Như trên, trang 221. Bai Junfeng cũng khẳng định rằng cảnh sát biển của Trung Quốc trong tương lai cũng sẽ hỗ trợ Hải quân Trung Quốc trong thời chiến. Phân tích của ông liệt kê các sứ mệnh thời chiến có thể có như “hỗ trợ và tham gia cùng với hải quân khi triển khai chiến trận, hộ tống thông thương trên biển, bảo vệ cảng, bảo đảm an toàn cho các bến tàu, và hỗ trợ toàn bộ việc vận động dân cư.” Bai Junfeng, “Conception Regarding the Building of China’s Maritime Police,” trang 38.

[112]田承基 [Điền Thừa Cơ - Tian Chengji], “专家呼唤中国海岸警卫队保海洋权益” [Các chuyên gia kêu gọi thành lập “Cảnh sát biển của Trung Quốc” để bảo vệ quyền và lợi ích biển], 人民网 [Nhân dân nhật báo Internet], 21, tháng 6, 2009.

[113] Moreland, “U.S.-China Civil Maritime Engagement,” trang 4.

[114] Hà Trung Long - He Zhonglong  cùng các cộng sự, Nghiên cứu về việc Phát triển Cảnh sát Biển của Trung Quốc, trang 9.

[115] Như trên, trang 14. Một ý tưởng tương tự được nêu rõ trong Bai Junfeng, “Conception Regarding the Building of China’s Maritime Police,” trang 38.

[116] Hà Trung Long - He Zhonglong  cùng các cộng sự, Nghiên cứu về việc Phát triển Cảnh sát Biển của Trung Quốc, trang 213.

[117]孙景平 [Tôn Cảnh Bình - Sun Jingping], “新世纪新阶段海上安全战略断想” [Các chú ý trong Chiến lược An ninh Biển trong Giai đoạn mới của Thế kỷ mới], 中国军事科学 [Khoa học Quân sự Trung Quốc] (tháng 6, 2008), trang 77–78.

[118]菖学军 [Xương Học Quân - Chang Xuejun], “黄金水道: 上演立体大搜救” [Đường biển vàng: Giới thiệu tìm kiếm và cứu hộ đa phương diện], 当代海军 [Hải quân hiện đại] (tháng 8, 2009), trang 8–14.

[119] Xem, ví dụ, 于文献 [Vu Văn Hiến - Yu Wenxian], “怒海救援: 107 10级风浪中搜寻受困渔民记” [Cứu hộ từ một Biển nổi sóng: Báo cáo về việc tìm kiếm tàu đánh cá bị hủy hoại (distressed) của 107 tàu (Hải quân) trong bão mạnh cấp 10], 现代舰船 [Các tàu hiện đại] (tháng 4, 2007), trang 2–3. Xem thêm ảnh của cuộc tập ứng phó có cả quân-dân sự và được thực hiện bởi 章汉亭 [Trang Hán Đình - Zhang Hanting]trong 当代海军 [Hải quân hiện đại] (tháng 11, 2007), trang  44. Liên quan tới các thiên tai ở biển, xem bản của các tác giả từ Học viện Khoa học và Công Nghệ của PLA Nam Ninh, 郑晶晶, 徐迎, 金丰年[Trịnh Tinh Tinh - Zheng Jingjing, Từ Nghênh - Xu Ying, and Kim Phong Niên - Jin Fengnian], “‘卡特里哪飓风对防灾预案的启示” [Bài học rút ra từ việc phòng chống thảm họa trước “bão Katrina”], 自然灾害学报 [Tập san về Thiên tai] 16, số 1 (tháng 1,  2007), trang 12–16. Cũng cần phải chú ý rằng Hải quân PLA tiếp tục quan tâm đến các tàu khu trục và ca nô:谭正平 [Đàm Chính Bình - Tan Zhengping], “近海护卫舰正受各国海军青睐” [Các đội quân phòng vệ ven biển nhận được sự coi trọng của hải quân các nước - Inshore Frigates Are in the Good Graces of Every Navy], 当代海军 [Modern Navy] (April 2007), pp. 49–52.

 

 

Ngôn ngữ