23 - 9 - 2019 | 16:30
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home
Tag:Mỹ

Dưới đầu đề trên, tạp chí AseanAffairs số ra tháng 3 và 4/2010 cho biết: Chuyến đi thăm lần thứ hai của tổng thống Mỹ Barack Obama đến Đông Nam Á, đặc biệt tới Inđônêxia- nơi ông sống thời niên thiếu và Ôxtrâylia, đồng minh và là nước ủng hộ kiên cường những nỗ lực của Mỹ ở Ápganixtan, được coi là bước tiến quan trọng của Mỹ nhằm khôi phục ảnh hưởng trong khu vực này. 

 Trong khi nền kinh tế, chủ nghĩa khủng bố và thay đổi khí hậu, tất cả đều là những vấn đề nổi bật trong chuyến đi quốc tế đầu tiên của ông Obama trong năm nay, thì chuyến đi này được các quan chức chính quyền Mỹ nói rằng phản ánh nỗ lực của tổng thống nhằm tăng cường quan hệ với các quốc gia nhỏ hơn và đang nổi lên. Chuyến đi diễn ra vào lúc các mối quan hệ Trung - Mỹ ở mức thấp do tuyên bố gần đây của Mỹ về việc bán vũ khí cho Đài Loan, cuộc gặp của Obama với Dalai Lama hồi tháng 2 và cái gọi là Trung Quốc thao túng đồng nhân dân tệ ở mức thấp giả tạo (có tin đang làm cho nền kinh tế Mỹ bị mất hơn 200 tỷ USD/năm và làm cho người Mỹ mất 1 triệu việc làm). 


Ngoài các mối quan hệ khó khăn Trung-Mỹ, chuyến đi thăm ngắn của Obama tới khu vực này được cho là giúp Mỹ xác định lại mối quan hệ với ASEAN. Nhân dịp này, AseanAfairs xem xét lại các động thái gần đây của Trung Quốc nhằm tăng cường ảnh hưởng của họ-cả về kinh tế lẫn chính trị trong khu vực và những nỗ lực do Mỹ tiến hành nhằm xác định lại mối quan hệ của Mỹ với ASEAN từ viễn cảnh của Mỹ. 

QUYỀN LỰC CÂN BẰNG CỦA ASEAN

Dưới đây là các câu hỏi và trả lời phỏng vấn do AseanAfairs tiến hành với Ernest Z.Brown, cố vấn cao cáp và là giám đốc Chương trình Đông Nam Á thuộc Trung tâm nghiên cứu chiến lược quốc tế, và là nhà đồng sáng lập Brooks BowerAsia LLC và cựu chủ tịch Hội đồng kinh doanh Mỹ-ASEAN: 


Hỏi: Hiệp định tự do thương mại ASEAN-Trung Quốc (ACFTA) được coi là nằm trong những nỗ lực của Trung Quốc nhằm củng cố ảnh hưởng ngày càng tăng của họ và là đối trọng với sức mạnh của Nhật Bản và Mỹ. Quan điểm của ông về vấn đề này thế nào? 


Trả lời: Tôi không coi ACFTA được tập trung vào cân bằng sức mạnh của Mỹ và Nhật Bản trong ASEAN, mà là chính phủ Trung Quốc đang phấn đấu để đặt họ ở vị trí là một nhà lãnh đạo trong khu vực và nhằm đạt được lợi ích nhiều nhất về kinh tế. Trung Quốc đã làm được một công việc to lớn là giành cơ hội đáp ứng ASEAN khi họ cần một đối tác kinh tế và tài chính tiên phong, nhất là trong và sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997-2000. Tôi cho rằng Trung Quốc đang hành động để thúc đẩy những lợi ích riêng của họ và ít có động cơ, ít nhất trong ACFTA, tìm cách cân bằng với Mỹ và Nhật Bản. 


Hỏi: Trong điều trần của ông trước Ủy ban kiểm điểm kinh tế & an ninh Mỹ-Trung đầu tháng 2/2010, ông ghi nhận rằng sự mở rộng kinh tế nhanh chóng của Trung Quốc có thể mang lại ít kịch bản thuận lợi hơn được chứng kiến. Xin ông nêu ra một hoặc hai ví dụ về những hậu quả có thể có này? 


Trả lời: Hai ví dụ đó là các công ty Mỹ tự thấy mình đang cạnh tranh với các công ty được ủng hộ về chủ quyền, do nhà nước Trung Quốc quản lý, các công ty này không những được chính phủ Trung Quốc ủng hộ mà còn không bị ràng buộc bởi bất kỳ đạo luật nào như Đạo luật nước ngoài & những hành vi tham nhũng của Mỹ (FCPA) xác định các công dân và công ty Mỹ phải hoạt động nghiêm chinh như thế nào trước những hành động có liên quan đến tham nhũng. Trong trường hợp các quan chức bị mắc tội hối lộ, các công ty Mỹ có thể tự thấy mình ở thế rõ ràng không thuận lợi. Một kịch bản khác là thông qua sự can dự chiến lược và kinh tế ở Đông Nam Á, Trung Quốc có thể bắt đầu phát triển những lợi thế dựa vào những tiêu chuẩn do người Trung Quốc đề ra. Một ví dụ tốt nữa là nếu Trung Quốc cuối cùng ở vị trí áp đặt được, ví như các tiêu chuẩn thông tin viễn thông kiểu 3G của riêng họ cho các chính phủ châu Á. Điều này có thể làm cho Đông Nam Á ít thâm nhập được vói phần còn lại của thế giới và tạo cho các nhà sản xuất và cung cấp dịch vụ Trung Quốc có được lợi thế thương mại rõ ràng trong cái sẽ là một thị trường có quy mô lớn- 1,3 triệu dân Trung Quốc cộng với 600 triệu dân ASEAN. Trên mặt trận an ninh, nếu Trung Quốc quyết định tìm cách áp đặt những tuyên bố của họ về chủ quyền đối với các tuyến đường biển và các khu vực khai thác dầu và khí đốt tiềm tàng ở Biển Đông (biển Nam Trung Hoa), thì điều này có thể gây ra một cuộc xung đột nghiêm trọng về lợi ích giữa Trung Quốc và các nước ASEAN, cũng như Mỹ và các nước khác. 


Hỏi: Sự "nổi dậy hòa bình" của tác động Trung Quốc đối với những lợi ích chiến lược của Mỹ như thế nào, đặc biệt ở Đông Nam Á? 


Trả lời: Kịch bản nổi dậy hòa bình là kịch bản mà chúng ta đều muốn thấy. Như tôi đã nói ở trên, chúng ta phải công nhận điều đó lúc này, sự thâm nhập của Trung Quốc vào nền kinh tế khu vực và toàn cầu và cộng đồng các nước là tương đối suôn sẻ, hòa bình và có tính xây dựng. Điều này rất tốt cho Trung Quốc và tốt cho ASEAN, những nước còn lại của châu Á, Mỹ và thế giới. Trung Quốc đã đóng góp nhiều về tài năng, các tư tưởng, văn hóa và chắc chắn là một thị trường lớn và nguồn đầu tư mới. Nhưng lợi ích chiến lược của Mỹ ở châu Á được tăng lên bởi sự nổi dậy hòa bình của Trung Quốc. Một phương pháp được xem xét tốt sẽ là tiếp tục tăng cường và mở rộng các mối quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ, đặc biệt giữa các nhà quân sự của chúng ta với các nhà hoạch định chính sách an ninh quốc gia. Điều này có thể làm được tốt nhất về song phương lẫn thông qua một kiến trúc an ninh khu vực công nhận trung tâm của ASE*AN. ASEAN là một nơi tốt cho Trung Quốc, Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản, Triều Tiên, Ôxtrâylia, Niu Dilân và các nước tiềm năng khác để gặp gỡ, chia sẻ thông tin và tăng cường hiểu biết lẫn nhau.

Hỏi: Một Trung Quốc phát triển nhanh chóng vừa là cơ hội vừa là tai họa cho Đông Nam Á. Nhưng khi khi xét đến thương mại, Đông Nam Á vẫn phụ thuộc vào Mỹ nhiều hơn Trung Quốc. Tại sao các nhà lãnh đạo ASEAN lại bắt đầu lo ngại về sự thống trị của Trung Quốc?

Trả lời: Lịch sử của ASEAN là một lịch sử cân bằng cẩn trọng giữa các cường quốc lớn. Tôi cho rằng ASEAN cảm thấy rằng Trung Quốc đã có một sự vận hành tốt trong khu vực này trong thập kỷ qua. Sự nổi dậy nảy có ích cho ASEAN và lấp đầy sự chênh lệch một cách đúng lúc và có hiệu quả. Nhưng ASEAN không muốn bị thống trị bởi Trung Quốc và sẽ chống lại những nỗ lực này. Có những mối lo ngại rằng Trung Quốc đã bắt đầu đẩy mạnh những nỗ lực này, trong các trường hợp như khai thác dầu và khí đốt ngoài khơi Việt Nam hoặc ở Spratleys, hoặc thậm chí ở Mianma , nơi họ đang đòi thâm nhập rõ ràng vào các đường ống và các căn cứ ở ngoài khơi biển Andaman. Một ASEAN mạnh và đoàn kết là cần thiết để cân bằng những hành động như vậy. 
Rõ ràng, đây không phải là chống Trung Quốc. Về mặt lịch sử, ASEAN đã tìm kiếm sự cân bằng khi một cường quốc lớn được thừa nhận mở rộng quá mức ảnh hưởng của họ. Điều này đã xảy ra trong trường hợp Nhật Bản được thừa nhận địa vị thống trị trong cuối những năm 1980 và nếu Mỹ đẩy tới quá xa, tôi cho rằng ASEAN sẽ chìa tay ra với Trung Quốc, Nhật Bản và Ấn Độ để tìm cách cân bằng những hành động như vậy. 

Hỏi: Nếu ASEAN cần Mỹ để đẩy mạnh các lợi ích chiến lược của họ trong khu vực nhằm thỏa mãn mong muốn cân bằng của họ, thì Mỹ cần ASEAN như thế nào để đẩy mạnh các lợi ích của mình trong khu vực? 


Trả lời: Đây là câu hỏi hay. Tôi cho rằng, Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên và Ấn Độ- tất cả đều cần ASEAN đẩy mạnh các lợi ích của họ ở châu Á. ASEAN là quan trọng, bởi vì họ là một nhóm lớn và quan trọng của các nước, nhưng bởi vì họ là một nhóm, cho nên họ vốn không thể hoặc sẵn sàng đi tiên phong trong việc xác định và theo đuổi các lợi ích chủ quyền một cách tập thể, họ là một nơi dễ dàng để gặp và hoàn tất.
ASEAN là thỉết yếu trên bàn cờ chiến lược châu Á. Nếu họ quản lý tốt và các đối tác đối thoại của họ chơi thận trọng, ASEAN có thể làm cho họ trở thành động lực của sự an toàn châu Á và không có xung đột trong thế kỷ 21.
Lịch sử không quá tốt khi nhìn vào sự nổi lên của của các cường quốc lớn. Họ chủ trường tìm kiếm lãnh thổ và sự thống trị, nhưng có lẽ ASEAN có thể giúp Trung Quốc và Ấn Độ nhảy vào vũ đài toàn cầu mà không có chiến tranh hoặc các cuộc xung đột nguy hiểm. Để đạt được mục tiêu này, tất cả các bên phải can dự tích cực và kiên trì với nhau và công nhận trung tâm của ASEAN trong kiến trúc khu vực mới này. Tôi hy vọng rằng các nhà hoạch định chính sách Mỹ hoàn toàn hiểu được tầm quan trọng của ASEAN và đầu tư vào đó.

Hỏi: Ông gần đây tuyên bố rằng chức chủ tịch ASEAN của Việt Nam năm tới có thể đẩy mạnh sự dính líu của Mỹ trong khu vực. Nhưng làm thế nào và tại sao lại Việt Nam? 

Trả lời: Việt Nam và Mỹ chia sẽ lợi ích chung trong một ASEAN mạnh, thống nhất. Mặc dù hai nước đã đánh nhau trong cuộc chiến tranh như các địch thủ ít hơn 50 năm trước đây, ngày nay họ tự nhận thấy đang trải qua kinh nghiệm của ngã ba lợi ích và các quan hệ song phương đang tiến lên với một tốc độ ấn tượng. Các nước thành viên ASEAN nói chung muốn Mỹ vẫn can dự tích cực, nhưng chúng ta có thể hy vọng Việt Nam là một chủ tịch tập trung đặc biệt của ASEAN trong năm 2010. Tôi cho rằng tổng thống Obama sẽ tổ chức hội nghị cấp cao ASEAN-Mỹ tới ở Hà Nội trong năm nay và cũng vào thời gian đó kỷ niệm 15 năm quan hệ Việt -Mỹ được thiết lập ngày 12/7/2010. 


Hỏi: Liệu Việt Nam có phải là chìa khóa cho nỗ lực rõ ràng của Mỹ để đối trọng với ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc ở Đông Nam Á trên mặt trận an ninh hay không? 


Trả lời: Một chiến lược lâu dài của Mỹ ở Đông Nam Á chưa hình thành. Tuy nhiên, các nhân tố chủ chốt của chiến lược đó đã có. Cam kết của Mỹ đối với ASEAN không và sẽ không nên được xác định bởi Trung Quốc hoặc một sự cần thiết được thừa nhận để cân bằng Trung Quốc. Việt Nam và các nước ASEAN muốn tìm kiếm một sự cân bằng giữa Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản và Ấn Độ. 
Việt Nam được đặc biệt tập trung vào Trung Quốc lần này do Trung Quốc hiếu chiến mở rộng ra biển Đông, nhưng các nước ASEAN khác có lợi ích tương tự trong việc đảm bảo rằng khi Trung Quốc tiến lên, tác dộng của họ trong khu vực tiếp tục có lợi và không có cường quốc nào tìm cách thống trị các vấn đề chính trị, an ninh hoặc kinh tế ở Đông Nam Á. 


Hỏi: Theo Phó trợ lý ngoại trưởng Scot Marciel, Mỹ lo ngại tình hình căng thẳng giữa Việt nam và Trung Quốc về lãnh thổ (ở Biển Đông). Như ông nói, đó là một trong những lý do Mỹ chia sẻ lợi ích ở một "Đông Nam Á mạnh". Xin ông nói rõ cụm từ "Đông Nam Á mạnh" là gì? 


Trả lời: Một ASEAN mạnh là một ASEAN có tiến bộ hữu hiệu tiến tới các mục tiêu được vạch ra trong hiến chương ASEAN, cụ thể là hợp nhất trong các lĩnh vực phát triển kinh tế, an ninh, chính trị, xã hội và văn hóa. ASEAN, giống như cây đa, sẽ tận hưởng được sức mạnh của nhiều chỗ đứng như một. Nếu nhóm khu vực này đạt được sự thống nhất và nhất thể hóa có hiệu quả, họ có thể tạo ra một nơi che chở, giống như bóng dâm và sự bảo vệ của một cây lớn, sẽ truyền sức mạnh cho nhân dân của họ được bảo vệ, hòa bình và thịnh vượng. 


Hỏi: Cuộc gặp của tổng thống Barack Obama với các nhà lãnh đạo châu Á tháng 11 năm ngoái thiếu sự bền vững. Ông nhận định về lời bình luận đó thế nào? 


Trả lời: Tôi lại nhận định nó theo cách khác. Tổng thống Obama đã có một bước quan trọng đầu tiên trong việc tham gia lễ khai mạc hội nghị cấp cao Mỹ-ASEAN. Ông tiếp cận diễn đàn đó một cách thích hợp và nghiêm chỉnh, nhấn mạnh cam kết của ông và gặp các đối tác. Ông hứa sẽ gặp họ lại vào năm 2010, và mang đến một chương trình thực sự hơn. Có thể là quá khi đến dự cuộc gặp gỡ đầu tiên với tư cách là tổng thống bằng một chương trình nghị sự quá lớn. Tôi cho rằng thời gian biểu đã định ra và đương nhiên những mong đợi được đưa ra, cho một chương trình nghị sự thực tế hơn từ cả Mỹ và ASEAN khi các nhà lãnh đạo này gặp nhau trong năm nay./.

 

 

 

 

 

 

 

 

 
Các giới ở Mỹ gần đây cho là lợi ích của Mỹ bị đe dọa do tranh chấp biển Đông leo thang đồng thời quan tâm hơn tới sự cải thiện lực lượng hải quân của Trung Quốc trong khu vực.  Do đó, đã có ý kiến cho rằng chính sách “không can dự” của Mỹ không còn hoàn toàn bảo vệ lợi ích của Mỹ tại biển Đông, Mỹ cần dính líu hơn vào khu vực này. Mỹ dường như đang thay đổi từ “không can dự” tới “can dự một phần” trong chính sách đối ngoại với các nước ven biển và ASEAN tại biển Đông.
 ********

Biển Đông là vùng biển lớn thứ hai thế giới, với diện tích 648.000 km2. Vùng biển bao gồm nhiều tuyến đường biển quan trọng nối giữa Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương, châu Phi, Trung Đông và các nước Đông Á khác. Hầu hết các nhiên liệu được vận chuyển từ Trung Đông và châu Phi tới Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc đều phải đi qua biển Đông. Nếu xảy ra xung đột vũ trang ở biển Đông, tuyến đường biển này bị cắt đứt thì lợi ích của hầu hết tất cả các nước trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, bao gồm cả Mỹ, cũng sẽ bị ảnh hưởng bất lợi.

 

Bru-nây, Trung Quốc, Ma-lai-xi-a, Phi-lip-pin, Việt Nam và đảo Đài Loan đều tuyên bố quyền chủ quyền đối với các vùng nước lãnh thổ và thềm lục địa ở biển Đông. Trung Quốc, đảo Đài Loan và Việt Nam tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa. Phi-lip-pin, Ma-lai-xi-a, đảo Đài Loan và Bru-nây tuyên bố chủ quyền một phần, Trung Quốc và Việt Nam tuyên bố chủ quyền toàn bộ quần đảo Trường Sa. Khoảng 45 đảo thuộc quần đảo Trường Sa bị chiếm đóng bởi các lực lượng quân sự của các nước tuyên bố chủ quyền, trừ Bru-nây. Các nước tranh chấp tại biển Đông tuyên bố chủ quyền dựa trên quy tắc thềm lục địa, vị trí địa lý hay cơ sở lịch sử. Công ước Luật biển Liên Hợp Quốc năm 1982 ghi rõ các nước ven biển có quyền tuyên bố quyền chủ quyền trong vòng 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải.

 

Ngoài vấn đề tranh chấp chủ quyền ở biển Đông, các nước ven biển còn phải đối mặt với nhiều vấn đề phức tạp khác như cướp biển, ô nhiễm môi trường, quản lý nguồn cá. Một nửa số các vụ cướp biển trên thế giới diễn ra ở khu vực Đông Nam Á.[1] Biển Đông cũng là một khu vực có nhiều lợi ích an ninh cạnh tranh nhau. Để bảo vệ lợi ích của mình, các nước có tranh chấp chủ quyền tại biển Đông đang tích cực tìm kiếm giải pháp để giải quyết các vấn đề, tránh hành động quân sự, và thúc đẩy cơ chế thiết lập hòa bình giải quyết tranh chấp thông qua hợp tác.

 

Dính líu của Mỹ trên biển Đông

 

Biển Đông là một điểm nóng ngay cả với Mỹ. Các công ty nước ngoài trong đó có Mỹ được cho phép khai thác dầu khí đã bị vướng vào tranh chấp giữa những nước tuyên bố chủ quyền.[2] Trong nhiều thập kỷ gần đây, va chạm quân sự ở biển Đông ngày càng gia tăng và liên quan tới cả lực lượng của Mỹ. Năm 1995, Trung Quốc đụng độ với Phi-lip-pin tại bãi đá Vành Khăn thuộc quần đảo Trường Sa. Một vài thành viên của Quốc hội Mỹ đã đưa ra nghị quyết kêu gọi Mỹ ủng hộ hòa bình và ổn định trong khu vực. Ngày 10/5/1995, Chính quyền Clinton đã tuyên bố chống lại việc sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ lực để giải quyết tranh chấp ở biển Đông, nhưng lại không nêu tên Trung Quốc trong tuyên bố.[3]  

 

Trong vài tháng gần đây, tàu Mỹ và Trung Quốc đã có khoảng 5 vụ đụng độ tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Ngày 8/3/2009, diễn ra vụ đụng độ hải quân giữa tàu chiến hạm của Hải quân Mỹ Impeccable và 5 tàu Trung Quốc tại biển Đông. Trong vụ việc này, Mỹ đã buộc tội Trung Quốc có hành động quân sự hung hăng tại biển Đông và quấy rối tàu chiến hạm của Mỹ trong vùng biển quốc tế. Đồng thời, Mỹ cũng gọi đây là hành động nguy hiểm, và vi phạm luật quốc tế và cho biết “hành động của Trung Quốc là có cân nhắc”.

 

Trong môi trường quốc tế hiện nay, cả Mỹ và Trung Quốc muốn “xây dựng mối quan hệ tích cực, hợp tác và toàn diện… để giải quyết những thách thức chung và nắm lấy cơ hội chung”,[4] và “chia sẻ lợi ích chung”[5]. Chính quyền Obama cần sự hợp tác của Trung Quốc để giải quyết cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu và Trung Quốc cũng cần xây dựng quan hệ tốt với Mỹ để tiến tới mục tiêu chính trị quốc tế của mình. Vì vậy, hai nước Mỹ và Trung Quốc đã đồng ý giải quyết êm thấm các vụ việc trên.

 

Tuy nhiên, khó có thể đảm bảo rằng các cuộc đụng độ tương tự như vậy sẽ không xảy ra trong tương lai.  

 

Lợi ích của Mỹ tại biển Đông

 

Lợi ích của Mỹ tại biển Đông nằm trong lợi ích đa dạng và trải rộng của Mỹ tại Đông Á/Tây Thái Bình Dương với tư cách là một cường quốc khu vực và toàn cầu. Trong một báo cáo gần đây, lợi ích an ninh quốc gia của Mỹ bao gồm: (1) Bảo vệ lãnh thổ Mỹ, người dân Mỹ, đồng minh và lợi ích của Mỹ; (2) Ổn định khu vực và loại bỏ bất kỳ cường quốc vượt trội hay nhóm cường quốc nào sẽ đe dọa hay cản trở cơ hội hay lợi ích của Mỹ; (3) Phát triển khu vực và thúc đẩy tự do thương mại và mở cửa thị trường; (4) Đảm bảo một thế giới ổn định, an toàn và phi hạt nhân; (5) Thúc đẩy các giá trị toàn cầu, như quản lý tốt, dân chủ, nhân quyền và tự do tôn giáo; (6) Đảm bảo tự do hàng hải, điều kiện tiên quyết để ổn định khu vực và bảo vệ lợi ích của Mỹ.[6] Những lợi ích này luôn được duy trì cho dù chính quyền Mỹ có thay đổi. Mỹ gia tăng dính líu vào khu vực châu Á - Thái Bình Dương cũng là để phục vụ các lợi ích kể trên.

 

Lợi ích tự do hàng hải

 

Tự do hàng hải là lợi ích then chốt và cũng là lợi ích kinh tế và an ninh quan trọng nhất đối với Mỹ. Biển Đông là tuyến đường thương mại quan trọng nhất và Mỹ coi tuyến đường này là vùng nước quốc tế cho phép tàu thuyền quân sự và thương mại tự do qua lại. Một phân tích của Mỹ nêu “Mối đe dọa đối với tự do hàng hải qua biển Đông sẽ phá vỡ nghiêm trọng đến kinh tế khu vực. Sự tăng trưởng của kinh tế và an ninh của Mỹ phụ thuộc vào việc duy trì tự do hàng hải với cả tàu buôn và tàu quân sự”.[7] Mỹ luôn ủng hộ tự do hàng hải trên thế giới, bao gồm cả biển Đông, và có lợi ích tại các tuyến đường biển trong khu vực và do đó quan tâm đến việc giải quyết hòa bình tranh chấp tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, và các vùng khác.

 

Quan ngại sâu sắc về căng thẳng tại biển Đông, Joseph Nye khi còn là trợ lý bộ trưởng quốc phòng Mỹ về an ninh quốc tế cho biết “Nếu xảy ra hành động quân sự tại quần đảo Trường Sa và cản trở tự do trên biển, thì Mỹ sẽ chuẩn bị ứng phó và đảm bảo tự do hàng hải được tiếp tục”.[8]

Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ, hạm đội 7, hiện đang đóng tại Nhật Bản, Ha-oai và Xinh-ga-po do tướng Robert Willard chỉ huy hoạt động trên một vùng biển rộng từ Thái Bình Dương của Mỹ tới Ấn Độ Dương. Hạm đội bao gồm 180 tàu thuyền, 1.500 máy bay, và 125.000 thủy thủ, khoảng 50 đến 60 tàu của hạm đội qua lại tại vùng biển này hàng ngày.[9]

 

 

Lợi ích kinh tế và an ninh

 

Các đảo có tranh chấp tại biển Đông được cho là chứa một trữ lượng dầu với các ước tính khác nhau. Biển Đông được xác định là một trong 10 vùng biển có trữ lượng dầu khí lớn nhất thế giới.[10] Từ năm 1972, các công ty dầu khí phương Tây đã khai thác và khám phá trữ lượng dầu mỏ lớn trong khu vực quanh quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cuộc khảo sát đầu tiên của Phi-lip-pin về dầu mỏ ở quần đảo Trường Sa diễn ra ngoài khơi tỉnh đảo Palawan năm 1976. Theo Bộ Năng lượng Mỹ, trữ lượng dầu mỏ ở biển Đông khoảng 7 tỷ thùng dầu, trong khi Trung tâm khảo sát địa chất Mỹ ước tính tổng trữ lượng dầu mỏ bao gồm cả những nguồn năng lượng đã được khám phá và tiềm tàng ở ngoài khơi biển Đông khoảng 28 tỷ thùng.[11] Trung Quốc tuyên bố trữ lượng có thể lên tới 200 tỷ thùng, đủ để cung cấp cho Trung Quốc 1 đến 2 triệu thùng dầu mỗi ngày, tương đương 25% lượng tiêu thụ dầu mỏ hàng ngày của Trung Quốc hiện nay là 8 triệu thùng.[12]

 

Nền kinh tế Mỹ đã bị tổn thương nghiêm trọng do cuộc khủng hoảng giá dầu năm 2008. Giá dầu trên thế giới đã có lúc lên tới đỉnh điểm ở mức 145 đôla/thùng hồi tháng 7/2008, và chạm đáy ở mức 34 đôla/thùng tháng 12/2008. Hiện tại giá dầu đang dao động trong khoảng 65-75 đôla/thùng. Mặc dù Mỹ đã phát triển các nguồn năng lượng thay thế như năng lượng gió, mặt trời… nhưng dầu mỏ đến nay vẫn là nguồn năng lượng tiêu thụ chính của Mỹ, nên Mỹ vẫn cần nguồn năng lượng tại biển Đông.

 

Tuy nhiên, trữ lượng dầu mỏ ở biển Đông vẫn chưa được xác định chắc chắn và vẫn còn ở mức thấp. Với tốc độ giá dầu ngày càng tăng như hiện nay, tình hình tranh chấp tại biển Đông có thể căng thẳng hơn nếu người ta tìm thấy bằng chứng về trữ lượng dầu mỏ đủ cho mục đích thương mại.[13]

 

Lợi ích quân sự

 

Biển Đông là tuyến đường giao thông quan trọng trong hệ thống phòng thủ của Mỹ nhằm đối phó với các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống như chống hải tặc và khủng bố, đặc biệt tại eo biển Malacca. Mỹ đã đưa ra “Sáng kiến an ninh hàng hải khu vực” hồi tháng 4/2004 nhằm phát triển quan hệ đối tác với các nước trong khu vực có khả năng kiểm soát và ngăn chặn các mối đe dọa hàng hải thông qua luật quốc tế và trong nước.[14] Sáng kiến này có thể cho phép Mỹ đưa lực lượng hải quân tới eo biển Malacca để ngăn chặn khủng bố, hải tặc, buôn lậu ma túy và người. Tuy nhiên, sáng kiến an ninh của Mỹ bị Ma-lai-xi-a và In-đô-nê-xi-a phản đối, vì các nước này khẳng định an ninh tại eo biển Malacca là trách nhiệm của các nước ven biển.

 

Mỹ duy trì các căn cứ quân sự tại Nhật Bản và Phi-lip-pin nhằm thực hiện nhiệm vụ bảo vệ đồng minh Nhật Bản và Phi-lip-pin, từ đó củng cố lợi ích và khẳng định vị thế của Mỹ ở biển Đông. Sau khi Mỹ và Phi-lip-pin ký “Hiệp định trao đổi quân sự giữa hai nước” năm 1995, hạm đội 7 của Mỹ đã được phép neo đậu lại tại các cảng của Phi-lip-pin ở biển Đông.

 

Chính sách của Mỹ đối với vấn đề biển Đông

 

Chính sách của Mỹ đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương được duy trì nhất quán trong nhiều năm và đường lối chính sách này vẫn sẽ tiếp tục dưới thời chính quyền Obama.

 

Chính sách đối ngoại của Mỹ tại biển Đông tập trung vào việc bảo vệ lợi ích của Mỹ và đồng minh, Mỹ muốn thấy sự phát triển chứ không phải là xung đột vũ trang xảy ra tại biển Đông. Mỹ cũng muốn duy trì quan hệ cân bằng với các nước ven biển ở khu vực. Ngoài ra, Mỹ coi Đông Nam Á rất quan trọng trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Từ cuối chiến tranh lạnh, Mỹ đã tìm kiếm quyền kiểm soát Đông Nam Á để giành lợi thế địa chính trị với mục tiêu ngăn cản sự nổi lên của các cường quốc khác.

 

Trong một thời gian dài, Mỹ duy trì chính sách “không can dự” vào các tranh chấp ở biển Đông. Từ sau chiến tranh Lạnh, Mỹ bắt đầu quan tâm nhiều hơn tới xung đột tại biển Đông khi các tranh chấp tuyên bố chủ quyền tại khu vực và các hoạt động đơn phương của các nước ven biển để hỗ trợ lập trường đang tăng lên.[15] Mỹ không ủng hộ bất kỳ bên nào trong các tranh chấp, nhưng tin rằng các nước này nên giải quyết bằng phương pháp hòa bình.

 

Mỹ luôn cho rằng “Vấn đề quyền chủ quyền hàng hải giữa các nước, đặc biệt khi có những bất đồng, phải được các nước thiết lập theo Công ước Luật biển của Liên Hợp Quốc” nhưng quan điểm của Mỹ đối với Công ước Luật biển Liên Hợp Quốc khá phức tạp. Đây đã từng là một vấn đề gây tranh cãi của nội bộ Mỹ trong một phần tư thế kỷ. Quốc hội Mỹ ủng hộ Công ước Luật biển Liên Hợp Quốc và Tổng thống Clinton đã ký công ước này năm 1994. Nhưng Công ước này chưa được Thượng viện thông qua vì cho rằng công ước sẽ gây rủi ro cho lợi ích của Mỹ, như việc thỏa thuận xung đột, quyền khai thác tài nguyên tại vùng nước sâu, và quyền hành hợp pháp của bộ máy quan chức quốc tế thuộc Liên Hợp Quốc.[16]

 

Sau vụ tranh chấp tại bãi đá Vành Khăn giữa Trung Quốc và Phi-lip-pin tháng 2/1995, chính quyền Clinton đã phản ứng thận trọng và lặp lại quan điểm chính sách lâu nay trong vấn đề biển Đông. Bộ Ngoại giao Mỹ cho biết Mỹ phản đối mạnh mẽ việc đe dọa hay sử dụng vũ lực để khẳng định chủ quyền của bất kỳ nước nào. Mỹ không đứng về phía bất kỳ nước nào đang có tuyên bố tranh chấp và mong muốn ủng hộ giải pháp hòa bình trong tranh chấp tại biển Đông. Mỹ cũng quan ngại sâu sắc tới các tuyên bố hàng hải hay hạn chế hoạt động hàng hải tại biển Đông không tuân theo luật quốc tế.

 

Củng cố quan hệ với đồng minh và đối tác

 

Để bảo vệ lợi ích của mình, Mỹ củng cố quan hệ với đồng minh như Nhật Bản và Phi-lip-pin để triển khai lực lượng quân sự, đảm bảo an ninh khu vực và vị thế tại biển Đông. Liên minh an ninh Mỹ-Nhật, đang hoạt động liên kết với ASEAN, có thể thúc đẩy một giải pháp lâu dài tại biển Đông.

 

Mỹ khuyến khích các nước châu Á phát triển quan hệ an ninh đa phương. Để giải quyết với vấn đề tranh chấp tại quần đảo Trường Sa, Mỹ nhấn mạnh tầm quan trọng của liên minh quân sự với Phi-lip-pin và ủng hộ nỗ lực xây lực cơ chế đa phương của ASEAN.[17]

 

Tăng cường quan hệ với Trung Quốc

 

Mỹ quan ngại tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc tại biển Đông, ngân sách quân sự ngày càng tăng, các hoạt động kinh tế và quân sự để khẳng định chủ quyền trong khi phủ nhận chủ quyền của các nước khác. Nhưng đồng thời Mỹ tăng cường quan hệ với Trung Quốc, hợp tác khai thác dầu khí để bảo vệ lợi ích kinh tế, chống hải tặc để bảo vệ an toàn hàng hải ở biển Đông. Mỹ còn muốn tăng cường hợp tác hải quân giữa Mỹ và Trung Quốc nhằm duy trì an ninh ở châu Á- Thái Bình Dương và biển Đông.

 

Gần đây xảy ra liên tiếp các vụ đụng độ giữa tàu hải quân Mỹ và Trung Quốc tại khu vực biển Đông, gay gắt nhất là vụ đụng độ hồi tháng 3/2009. Đô đốc Timothy J. Keating, Tư lệnh Bộ chỉ huy Thái Bình Dương Mỹ điều trần trước Ủy ban quân lực của Thượng viện cho biết Mỹ đã đi đầu trong việc cải thiện quan hệ với Trung Quốc, nhưng mối quan hệ này không được như mong muốn. Ví dụ như việc Trung Quốc ngừng hoạt động trao đổi quân sự giữa hai nước do Mỹ công bố bán vũ khí cho Đài Loan.

 

Ủng hộ và khuyến khích ASEAN

 

Mỹ ủng hộ và khuyến khích ASEAN hợp tác để giải quyết hòa bình các tranh chấp ở biển Đông, duy trì ổn định trong khu vực. Mỹ đã phát triển một cơ chế hợp tác chính thức giúp hài hòa cả hai bên dựa trên luật quốc tế như Công ước Luật biển Liên Hợp Quốc, và cơ chế này được tin là sẽ tối thiểu hóa các căng thẳng. Mỹ muốn các bên tạo ra môi trường ổn định và hòa bình. Mỹ cũng dự định bắt đầu tiến trình tiến tới gia nhập Hiệp định Hữu nghị và Hợp tác của ASEAN, can dự vào tiến trình Thượng đỉnh Đông Á. ASEAN có vị trí rất quan trọng đối với Mỹ và là nòng cốt chủ chốt trong cơ chế hợp tác khu vực đang nổi lên tại châu Á nơi Mỹ có cam kết sâu sắc.[18]

 

ASEAN và Trung Quốc đã ký Tuyên bố chung về ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC) ngày 4/11/2002. Đây là văn bản chính trị chính thức đầu tiên liên quan đến biển Đông giữa ASEAN và Trung Quốc. Mỹ đánh giá DOC là một văn kiện không có sự ràng buộc để giải quyết tranh chấp nhưng có tác dụng giúp các bên học cách kiềm chế và tôn trọng tự do hàng hải và trên không. DOC và COC nếu được xây dựng chỉ có tác dụng làm giảm căng thẳng, thúc đẩy hợp tác và xây dựng lòng tin giữa ASEAN và Trung Quốc, chứ chưa phải là một cơ chế quản lý hiệu quả và ngăn chặn các xung đột tiềm năng.

 

Tóm lại, các giới ở Mỹ gần đây cho là lợi ích của Mỹ bị đe dọa do tranh chấp biển Đông leo thang đồng thời quan tâm hơn tới sự cải thiện lực lượng hải quân của Trung Quốc trong khu vực. Đô đốc Timothy J. Keating cho biết động thái chiến lược gần đây của lực lượng hải quân Trung Quốc thể hiện tham vọng của nước này. Do đó, đã có ý kiến cho rằng chính sách “không can dự” của Mỹ không còn hoàn toàn bảo vệ lợi ích của Mỹ tại biển Đông, Mỹ cần dính líu hơn vào khu vực này. Mỹ dường như đang thay đổi từ “không can dự” tới “can dự một phần” trong chính sách đối ngoại với các nước ven biển và ASEAN tại biển Đông.

 

 



[1] Jakarta Post, ngày 22/10/2003. Theo báo cáo của hội đồng ASEAN về hợp tác chống cướp biển diễn ra tại Medan, In-đô-nê-xi-a, thì có 42 vụ tấn công của cướp biển tại eo biển Malacca năm 2002.

[2]Regional Conflict and Resolution,” Country Analysis Briefs, tháng 3/2008, http://eia.doe.gov/emeu/cabs/South_China_Sea/RegionalConflictandResolution.html

[3] Shirley Kan, “U.S.-China Military Contacts: Issues for Congress,” CRS Report for Congress, ngày 5/10/2005.

[4] Hillary Rodham Clinton, Ngoại trưởng Mỹ,Remarks After Her Meeting With Chinese Foreign Minister Yang Jiechi”,  ngày 11/3/ 2009, http://www.state.gov/secretary/rm/2009a/03/120284.htm

[5] “Said Chinese Foreign Minister Yang Jiechi, Under the Influence: Challenging China with Cooperation,” World Politics Review, ngày 23/3/2009,  http://www.worldpoliticsreview.com/article.aspx?id=3485

[6] Ralph A. Cossa, Brad Glosserman, Michael A. McDevitt, Nirav Patel, James Przystup, Brad Roberts, “The United States and the Asia-Pacific Region: Security Strategy for the Obama Administration”, tháng 2/2009, pp.10, 15.

[7] Ralph A. Cossa, “Security Implications of Conflict in the South China Sea: Exploring Potential Triggers of Conflict”, A Pacific Forum CSIS, tháng 3/1998, tr. 7.

[8] B.Raman, Institute For Topical Studies, Chennai, “Chinese Territorial Assertions: The Case of the Mischief Reef”, Jan. 14, 1999, http://www.southchinasea.org/docs/Chinese%20Territorial%20Assertion%20The%20Case%20of%20the%20Mischief%20Reef.htm

[9] Robert Willard, “Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ thăm Việt Nam: Ưu tiên hợp tác cứu trợ thảm họa”, Tiền Phong, ngày 11/3/2009, http://www.tienphong.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=154769&ChannelID=5

[10] Mohamed Jawhar bin Hassan, “Disputes in the South China Sea: Approaches for Conflict Management” in D. da Cunha (ed.) Southeast Asian Perspctives on Security, Singapore, Seng Lee Press, 2000”, tr. 100.

[11]Oil & Natural Gas”, Country Analysis Briefs, tháng 3/2008, http://eia.doe.gov/emeu/cabs/South_China_Sea/OilNaturalGas.html

[12] Peter Navarro, “China stirs over offshore oil pact”, Asia Times, ngày 23/7/2008.

[13] Ralf Emmers, “The de-escalation of the Spratly dispute in Sino-Southeast Asian relations” in “Security and International Politics in the South China Sea”, op cit., tr. 137.

[14] http://www.globalsecurity.org/military/ops/rmsi.htm

[15] ARF annual security outlook “The United States”. http://www.aseansec.org

[16] Edwin Meese, III, Baker Spring, and Brett D. Schaefer, “The United Nations Convention on the Law of the Sea: The Risks Outweigh the Benefits”, The Heritage Foundation, ngày 16/3/2007, http://www.heritage.org/research/internationalorganizations/wm1459.cfm

[17] “America: Adjustment in Foreign Policy”, Vietnam News, Reference No 10-2002, tr. 55-56.

[18] Secretary Clinton said in her first visit to the ASEAN Secretariat, James B. Steinberg, “Engaging Asia 2009: Strategies for Success”, Deputy Secretary of State, Bureau of Deputy Secretary, Remarks At National Bureau of Asian Research Conference, Washington, DC, April 1, 2009, http://www.state.gov/s/d/2009/121564.htm

 

Phạm Thùy Trang, Bài đăng trên tạp chí Nghiên cứu quốc tế số tháng 6 năm 2009

 

{jcomments on}Phát biểu của Phó Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ David B. Shear về Đông Á-Thái Bình Dương tại Phiên điều trần về "Hoạt động của Trung Quốc tại Đông Nam Á và tác động tới lợi ích Mỹ" tại Ủy Ban Đánh giá An ninh và Kinh tế Mỹ-Trung ngày 4/2/2010. Đoạn về Biển Đông có nhiều quan điểm thuận cho VN: ủng hộ đa phương hóa tranh chấp, DOC, COC, vai trò ASEAN, không chấp nhận "Đường lưỡi bò", phản đối dùng vũ lực làm thay đối nguyên trạng, phản đối TQ đe dọa các công ty Mỹ,...

Xem toàn văn tại đây,

 

 

Maritime Issues

The United States has long had a vital interest in maintaining stability, freedom of navigation, and the right to lawful commercial activity in East Asia’s waterways.  For decades, active U.S. engagement in East Asia, including the forward-deployed presence of U.S. forces, has been a central factor in keeping the peace and preserving those interests. (Lợi ích Mỹ tại Biển Đông: Duy trì ổn định, tự do lưu thông, tích cực dính líu) 

We have aimed to support respect for customary international law, as reflected in the UN Convention on the Law of the Sea (UNCLOS).  Although the United States has yet to ratify the Convention, this Administration and its predecessors support doing so, and in practice, the United States complies with its provisions governing traditional uses of the oceans. (Ủng hộ UNCLOS)

China, Vietnam, Taiwan, the Philippines, Malaysia, Indonesia, and Brunei each claim sovereignty over parts of the South China Sea, including its maritime zones and land features.  The size of each party’s claim varies widely, as does the intensity with which they assert it.  The claims center on sovereignty over the 200 small islands, rocks and reefs that make up the Paracel and Spratly Islands chains.
In 2002, the ASEAN countries and China signed the “Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea.”  While non-binding, it set out useful principles, such as that all claimants should “resolve disputes…by peaceful means” and “exercise self-restraint,” and that they “reaffirm their respect for and commitment to the freedom of navigation in and overflight above the South China Sea, as provided for by the universally recognized principles of international law, including the 1982 UN Convention on the Law of the Sea.”
The 2002 document signaled a willingness among claimants to approach the dispute multilaterally.  We welcomed this agreement, which lowered tensions among claimants and strengthened ASEAN as an institution, and we support efforts to strengthen the Declaration to by producing a binding Code of Conduct based on its principles.  (Ủng hộ tiếp cận đa phương, tăng cường vai trò ASEAN với tư cách tổ chức, ủng hộ DOC và Quy tắc ứng xử COC )

  U.S. policy continues to be that we do not take sides on the competing legal claims over territorial sovereignty in the South China Sea.  We would nonetheless view with great concern any effort to change the status quo by force. (Đặc biệt quan tâm đến việc sử dụng vũ lực làm thay đổi nguyên trạng).

We are also concerned about “territorial waters” or any maritime zone that does not derive from a land territory.  Such maritime claims are not consistent with customary international law, as reflected in the Law of the Sea Convention. (Không chấp nhận "Đường lưỡi bò" của Trung Quốc)


In the case of the conflicting claims in the South China Sea, we have encouraged all parties to pursue solutions in accordance with the UNCLOS, and other agreements already made between ASEAN and China. (Thực hiện các Thỏa thuận giữa Trung Quốc và ASEAN, không phải giữa Trung Quốc và các nước tranh chấp nhé! - DOC)

We have also urged that all claimants exercise restraint and avoid aggressive actions to resolve competing claims.  We have stated clearly that we oppose the threat or use of force to resolve the disputes, as well as any action that hinders freedom of navigation.  We would like to see a resolution in accordance with international law, including the UNCLOS.
We remain concerned about tension between China and Vietnam, as both countries seek to tap potential oil and gas deposits that lie beneath the South China Sea.  Starting in the summer of 2007, China told a number of American and foreign oil and gas firms to stop exploration work with Vietnamese partners in the South China Sea or face unspecified consequences in their business dealings with China.

We object to any efforts to intimidate U.S. companies and that go against the spirit of free markets. (Mỹ phản đối TQ đe dọa các công ty Mỹ làm ăn với VN tại Biển Đông)

During a visit to Vietnam in September 2008, then-Deputy Secretary of State John Negroponte asserted the rights of U.S. companies operating in the South China Sea and stated that we believe that disputed claims should be dealt with peacefully and without resort to any type of coercion.  We have raised our concerns with China directly. (Không biết Trung Quốc trả lời ra sao?) Sovereignty disputes between nations should not be addressed by attempting to pressure companies that are not party to the dispute.

 

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 7637 khách và 2 thành viên Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin