27 - 11 - 2020 | 10:47
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home
Tag:Hoàng Sa

Bài viết của PGS.TS Vũ Dương Huân phân tích bản chất các lập luận của Trung Quốc về cái gọi là "chủ quyền lịch sử”của họ đối với Hoàng Sa, Trường Sa và vùng biển nằm trong đường lưỡi bò.

 

Tóm tắt

Tranh chấp hiện nay ở Biển Đông[1] giữa các nước/bên có liên quan gần đây trở nên căng thẳng hơn khi mà các bên tranh chấp gia tăng hoạt động thực hiện quyền kiểm soát, quản lý của mình đối với các vùng biển, đảo mà họ yêu sách chủ quyền, dẫn đến nhiều vụ va chạm và đấu khẩu, đặc biệt là giữa Trung Quốc với Việt Nam và Phi-líp-pin. Đáng chú ý là trong số các nước/bên tranh chấp hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, thì Trung Quốc và Việt Nam đều khẳng định rằng mình đã khám phá, chiếm hữu và thực thi chủ quyền lâu đời tại các quần đảo này. Bài viết này tập trung phân tích bản chất các lập luận của Trung Quốc về cái gọi là "chủ quyền lịch sử”của họ đối với Hoàng Sa, Trường Sa và vùng biển nằm trong đường lưỡi bò.

Vài nét khái quát về Luật quốc tế liên quan đến thụ đắc lãnh thổ

"Thụ đắc lãnh thổ" là việc thiết lập ranh giới địa lý chủ quyền của một quốc gia đối với một vùng lãnh thổ mới theo những phương thức phù hợp với nguyên tắc của pháp luật quốc tế. Việc xác lập chủ quyền quốc gia đối với một vùng lãnh thổ phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định của luật pháp quốc tế, đặc biệt là các nguyên tắc về thụ đắc lãnh thổ.

Nguyên tắc thứ nhất là "bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia”. Đó là quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của mình và quyền tự chủ của quốc gia trong các quan hệ quốc tế, là thuộc tính chính trị pháp lý không tách rời của quốc gia.

Nguyên tắc thứ hai là "cấm sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực”.  Nguyên tắc này hình thành trong đấu tranh chống chủ nghĩa phát-xít và được khẳng định trong Hiến chương Liên Hợp Quốc (LHQ). Tiếp đó Nghị quyết 26/25 năm 1970 của Đại hội đồng LHQ về các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế đã quy định: “Lãnh thổ của một quốc gia không thể là đối tượng của việc thụ đắc bởi một quốc gia khác bằng việc đe dọa hoặc sử đụng vũ lực. Việc thụ đắc lãnh thổ bằng việc đe đoạ hoặc sử dụng vũ lực không được thừa nhận là hợp pháp”. Cùng  với sự phát triển các mối quan hệ quốc tế, nội dung của nguyên tắc này cũng được mở rộng, bao quát cả việc cấm sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực trong các quan hệ phi vũ trang. Định ước Hen-xin-ki năm 1975 viết: "Các quốc gia tham gia sẽ khước từ sử dụng mọi biện pháp mang tính cưỡng bức đối với các quốc gia thành viên khác, khước từ tiến hành hành vi về kinh tế".[2]

Nguyên tắc thứ ba là giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế. Nguyên tắc này được ghi nhận tại Khoản 2, Điều 2 Hiến chương LHQ, Điều 279, Điều 299 Công ước luật Biển năm 1982...

Nguyên tắc thứ tư là "dân tộc tự quyết”, được thể hiện trong nhiều văn bản pháp lý quốc tế quan trọng như Hiến chương LHQ, Tuyên bố của Đại hội đồng LHQ về các nguyên tắc điều chỉnh quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia (1970)...  Theo nguyên tắc này thì mọi sự thay đổi lãnh thổ phải phải dựa trên ý chí dân cư sinh sống trên lãnh thổ đó. Tuy nhiên, nguyên tắc này không loại trừ những phương thức xác lập chủ quyền lãnh thổ khác.

Nguyên tắc thứ năm là “chiếm hữu thật sự”. Vào thế kỷ VIII-XV, Đức Giáo hoàng có quyền ban quyền chiếm hữu. Vào thế kỷ XVI, nguyên tắc này bị phản đối và xuất hiện một phương thức mới đó là quyền khám phá. Sau này, người ta bổ sung một điều kiện nữa, là sự chiếm hữu tượng trưng. Quốc gia chiếm hữu phải để lại trên lãnh thổ một cái gì tượng trưng cho ý chí muốn chiếm hữu của mình như bia đá, cờ, cột mốc... Đến thế kỷ XVIII, tại Hội nghị Berlin 1885 về phân chia đất ở châu Phi, đã hình thành nguyên tắc chiếm hữu thực sự và thi hành chủ quyền trên lãnh thổ được chiếm hữu. "Nếu phát hiện mà không có những hành vi xác lập chủ quyền, không có hành động chứng tỏ vùng đất được quản lý bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì phát hiện chỉ là phôi thai tạo ra danh nghĩa ban đầu mà thôi. Vì vậy cần có những hành động xác lập, củng cố và thực hiện chủ quyền quốc gia một cách thực sự trên vùng đất đó bởi cơ quan nhà nước".[3]  Định ước Berlin[4] cũng đề ra quy định: quốc gia chiếm hữu phải thông báo sự chiếm hữu của mình cho các quốc gia khác. Nguyên tắc chiếm hữu thực sự và hành xử chủ quyền sau này đã trở thành tập quán quốc tế và là cơ sở cho sự chiếm hữu lãnh thổ vô chủ trong luật quốc tế hiện đại. Đó cũng là một phương pháp thụ đắc lãnh thổ Tuy nhiên, thông báo không phải là một tập quán quốc tế, chỉ áp dụng cho trường hợp chiếm hữu thuộc phạm vi của Định ước Berlin.

Như vậy, theo luật quốc tế, sự chiếm hữu lãnh thổ phải bao gồm cả hai yếu tố. Yếu tố vật chất được thể hiện qua việc chiếm hữu thực sự và hòa bình, đồng thời thực thi một cách liên tục chủ quyền trên lãnh thổ đó . Còn yếu tố tinh thần có nghĩa là quốc gia phải có ý định thực sự chiếm hữu vùng lãnh thổ đó. Ngoài ra, trong thực tiễn pháp lý quốc tế còn có khái niệm từ bỏ lãnh thổ. Sự từ bỏ lãnh thổ cũng phải hội đủ cả hai yếu tố vật chất và tinh thần.

Tuy nhiên, xuất phát từ đặc thù riêng của chế định lãnh thổ , không phải bất kỳ một sự thụ đắc lãnh thổ nào cùng đều phải tuân thủ tất cả các nguyên tắc của luật pháp quốc tế cũng như điều kiện chiếm hữu. Một sự chiếm hữu lãnh thổ hợp pháp phải có đủ ba điều kiện như sau:

Một là, đối tượng của sự chiếm hữu lãnh thổ phải là đất vô chủ (res nullius), hoặc là đã bị chủ từ bỏ (res derelicta).

Hai là, người chiếm hữu phải là một quốc gia, chứ không phải là tư nhân

Ba là, phải tuân thủ các phương pháp thụ đắc lãnh thổ sau: chiếm hữu thực sự và hành xử chủ quyền (occupation effectivité), qua chuyển nhượng (cession), do  tác động tụ nhiên (acretion), thời hiệu (acquisited prescription), củng cố chủ quyền  bằng danh nghĩa lịch sử. . . Phương pháp "củng cố chủ quyền bằng danh nghĩa lịch sử” được áp dụng nếu quốc gia đã sử dụng lâu đời một lãnh thổ khác mà không có phản đối của một quốc gia khác.

Những tiêu chuẩn trên đã được áp dụng thường xuyên bởi án lệ quốc tế, chẳng hạn như trong những bản án về tranh chấp đảo Palmas, đảo Groenland, đảo Minquier và Ecrehous . . .

Trung Quốc có "chủ quyền lịch sử" đối với Hoàng Sa và Trường Sa không?

Trung Quốc cho rằng họ có "chủ quyền lịch sử” đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Sách Trắng của Trung Quốc về chủ quyền đối với quần đảo Tây Sa (tức Hoàng Sa) và Nam Sa (tức Trường Sa), cũng như một số tài liệu nghiên cứu (tiêu biểu là cuốn Tổng hợp sử liệu các đảo Nam Hải của Trung Quốc của Hàn Chấn Hoa) đã đưa ra kết luận rằng Trung Quốc là nước đầu tiên phát hiện, khai thác và cai quản quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ hàng nghìn năm nay. Để chứng minh họ dựa vào một số sử liệu sau:

Thứ nhất, là cuốn Dị vật chí, có từ thời Đông Hán (từ năm 25 đến 220 sau Công nguyên) và nay đã thất truyền. Một số tác giả thuộc các triều đại Tống, Minh, Thanh đã trích dẫn như sau "Có những đảo nhỏ, cồn cát, đá ngầm, và băng cát tại Nam Hải, nơi đó nước cạn và đầy đá nam châm…”[5].  Nội dung này rất mơ hồ vì không nói rõ tên đảo. Học giả Hàn Chấn Hoa đã dựa vào đó cho là Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa).

Thứ hai, là cuốn Nam châu Dị Vật Chí (thời Tam Quốc 220-265) mô tả về các đảo đá và cát ở Biển Đông, trong đó có đoạn nói đến chỗ nước nông và có đá nam châm nguy hiểm cho tầu bè qua lại.[6]

Thứ ba, là cuốn Zuo Zhuan (thời Xuân Thu), có đoạn viết: "Triều đại vẻ vang của nhà Chu trấn an dân man di để viễn chinh vùng Nam Hải để làm sở hữu của Trung Hoa…”[7] Ờ đây chỉ nói Nam Hải chung chung, không nhắc đến đảo nào.

Thứ tư là cuốn Chư Phiên Chí (thế kỷ XIII), có đoạn mô tả vị trí địa lý đảo Hải Nam như sau: "Nam đối diện với Chiêm Thành, phía Tây nhìn sang Chân Lạp, Đông thì Thiên Lý Trường Sa và Vạn Lý Thạch Đường xa xôi không bờ đại dương vô tận…”[8]. Với đoạn mô tả này không thể khẳng định Thiên Lý Trường Sa và Vạn Lý Thạch Đường thuộc Trung Quốc.

Thứ năm, là cuốn Hải Lục (On the Sea) của tác giả Hoàng Chung thuộc đời Minh có đoạn chép như sau: "Vạn Lý Trường Sa nằm Ở Đông Nam của Vạn Lý Thạch Đường…”[9]. Ở đây cũng không nói lên điều gì liên quan đến chủ quyền của Trung Quốc. Hơn thế nữa, có tài liệu còn thừa nhận có sự liên quan giữa các quần đảo đó với Việt Nam. Thứ sáu, là cuốn Hải Lục của Vương Bình Nam (1820-1842), có đoạn viết: "Lộ trình phía ngoài được nối liền với lộ trình phía trong bởi Vạn Lý Trường Sa nằm giữa biển. Chiều dài của quân đảo khoảng vài ngàn dặm. Nó là bức màn phòng thủ phía ngoài của An Nam”[10].

Dựa vào các tài liệu nói trên, Trung Quốc khẳng định rằng họ đã khám phá ra hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ đời nhà Hán (năm 206 trước Công nguyên). Trong khi đó, cũng lại có một số tác giả người Hoa khác xác định là những tài liệu sớm nhất nói về sinh sống của người Trung Quốc trên những đảo này, thuộc đời nhà Tống (thế kỷ XIII)[11]. Các trích đoạn sử liệu mà Trung Quốc đã đưa ra mô tả không rõ ràng một số vị trí trong lộ trình đi ngang qua Biển Đông của các tầu thuyền Trung Hoa mà thôi. Mặt khác, các trích dẫn trước thế kỷ XIII cũng chỉ nói đến biển mà họ gọi là Nam Hải, không có bất kỳ tên đảo nào. Các tài liệu từ thế kỷ XIII mới bắt đầu nêu tên đảo, nhưng không có tài liệu nàn nói đến Hoàng Sa (Xisha) và Trường Sa (Nansha). Nhiều chỗ cho thấy rõ ràng Wanlishitang (Vạn Lý Thạch Đường) mà Trung Quốc nói là Nansha (Nam Sa) thực tế không phải là Nansha mà là đảo khác. Không có một tài liệu nào nói đến tên Xisha (Tây Sa) và Nansha (Nam Sa) và chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo này.[12] Những sách lịch sử và địa lý của Trung Quốc nhắc đến rất nhiều tên như Qizhou yang, Quianlishitang, Qianli  Chang sha, . Wanlishitang, Jiuruluozhou, Zizhousan Có không ít mâu thuẫn trong lập luận của các học giả Trung Quốc. Dựa vào câu trích dẫn trong sách Hải Lục, nếu chấp nhận hai cái tên Qizhou Yang và Wanlishitang lần lượt ám chỉ Trường Sa (Nansha) và Hoàng Sa (Xisha), thì Vạn Lý Trường Sa phải là Nansha, còn Vạn Lý Thạch Đường phải là Xisha. Song, cuốn Nguyên Sử thì lại giải thích Vạn Lý Thạch Đường (Wanlishitang) là Trường Sa (Nansha) và Qizhou Yang là Hoàng Sa (Xisha). Nếu đối chiếu với đoạn trích sau của cuốn sách Chư Phiên Chí “ phía Đông Hải Nam là Thiên Lý Trường Sa và Vạn Lý Thạch Đường", thì có thể xác định Vạn Lý Thạch Đường là Macclesfield Bank.[13] Một đoạn trích khác trong cuốn Nguyên Sử: " . . . thuyền đi qua Qizhou Yang và Wanlishitang, ngang Jiaozhi (Giao Chỉ) và Zhangcheng (Quy Nhơn),…” cho phép khẳng định Wanlishitang thực ra là Macclesfield Bank. Nếu theo thứ tự trước sau trong lộ trình thì Wanlishitang không thể là Trường Sa (Nansha), mà là Macclesfield Bank vì thuyền không thể đi ngang qua Nansha trước khi đi qua Giao Chỉ được. Vậy mà, giờ đây, Trung Quốc nói rằng tất cả những tên đó đều ám chỉ Xisha và Nansha? Nhận định đó quả thực rất khó thuyết phục. Một bộ chính sử lớn của Trung Quốc là Minh sử khẳng định dưới thời nhà Minh các đảo lớn như Đài Loan, Bành Hồ liên quan trực tiếp đến an ninh của đất nước vẫn chưa thuộc lãnh thổ Trung Quốc và tuyên bố duyên hải là phía Đông lục địa Trung Quốc và đảo Hải Nam. Những đảo nhỏ xa xôi, heo hút như quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa không thuộc Trung Quốc là điều dễ hiểu.[14]

Xét ở góc độ thực thi chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa, Trung Quốc đưa ra những dẫn chứng bao gồm các cuộc tuần tra, cuộc viễn chinh và những di vật đào bới được từ các đảo. Đoạn trích sau đã được phía Trung Quốc sủ dụng “Chính quyền nhà Chu thuộc thời Xuân Thu không những chinh phục những “dân man rợ” ở phía Nam, mà cũng tổ chức những cuộc viễn chinh trên những đảo của biển Nam Hải để chiếm làm đất Trung Hoa…”.[15] Đây không đoạn trích từ tài liệu lịch sử , mà là kết luận của giáo sư Wang Hengjie thuộc Trung tâm nghiên cứu các sắc tộc thiểu số, vào năm 1991. Kết luận của nhà nghiên cứu được rút ra dựa trên việc khảo cổ trên quần đảo Hoàng Sa. Nhận định thiếu cơ sở khoa học. Một đoạn trích khác của tác giả Shen trong Hậu Hán thư có ghi: “Chen Mao được bổ nhiệm làm quan Thái thú ở tỉnh Giao Chỉ (Jiaozchi) đã có những cuộc tuần tiễu và thám thính trên (các đảo của) biển Nam Hải”.[16] Đoạn trích này cũng không có chỗ nào nói đến Hoàng Sa và Trường Sa, mà chỉ là thám thính Nam Hải mà thôi. Trong cuốn Nam châu dị vật chí (Nanzhou Yiwu Zhi), Shen kể về những  lính thủy nhà Hán đi viễn chinh từ bán đảo Ma-lai-xi-a trở về Trung Hoa: “đi thuyền về phía Đông Bắc, người ta gặp rất nhiều đảo nhỏ, đã ngầm, bãi cát ngầm, trở nên rõ rệt tại biển Nam Hải, nơi đây nước cạn và có nhiều đã nam châm”.[17] Ở đây cũng không hề có chỗ nào nói đến viễn chinh hay đi tuần quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, mà chỉ nói chung chung là viễn chinh tại các vùng như Ma-lai-xi-a, Bornéo hoặc đi thuyền qua Biển Đông mà thôi. Ở một chỗ khác, dựa vào sách Quảng Đông tổng chí (General Record of Quangdong) của Hao Yu-lin, quan trông coi các vấn đề biển Nam Hải thời đó, có đi tuần tiễu và thám thính tại biển Nam Hải (xing bu ra hai), Shen kết luận: chính quyền địa phương thời nhà Tấn đã gửi tàu đi tuần tiễu trên vùng biển, thực hiện chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.[18] Cũng như trên, tác giả không trích trực tiếp đoạn nào từ Quảng Đông tổng chí ghi lại sự kiện trên, chỉ trích bốn chữ tiếng Trung được ghi trong dấu ngoặc là “xing bu ra hai”. Trung Quốc nêu rằng thế kỷ XV thời Minh, nhà thám hiểm Cheng Ho (Trịnh Hòa) đã đi quan Biển Đông 7 lần và khi trở về đã đưa Hoàng Sa và Trường Sa vào bản đồ.[19] Tuy nhiên, những chuyến đi này hoàn toàn không hề có sự chiếm hữu hai quần đảo nói trên.[20] Mục đích các chuyến đi của Trịnh Hòa là để biết địa hải, tìm mối giao thương và phô trương lực lượng với các quốc gia trong vùng, chư hầu của Trung Hoa.[21] Tác giả Samuels kết luận rằng ngay trong thời ấy các đảo vẫn không được Trung Hoa chú ý tới.[22]

Rõ ràng những trích đoạn sử liệu ở trên chỉ nói đến những chuyến đi thám thính biển Nam Hải chứ không phải là những chuyến đi thực hiện chủ quyền ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Như vậy, có thể kết luận rằng những trích dẫn sử liệu trước thế kỷ XIII của Trung Quốc cho thấy các thuyền của Trung Quốc có đi lại trên biển Nam Hải, song không nói đến một tên đảo nào trong hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Những tài liệu đầu tiên nêu tên đảo là những tài liệu cuối đời nhà Nguyên và dưới đời nhà Tống (thế kỷ XIII). Tuy nhữngtài liệu này nói đến Thiên Lý Trường Sa, Vạn Lý Thạch Đường, song không cho biết rõ được có phải là là Xisha và Nansha hay không, nhất là Vạn Lý Thạch Đường, được tả nằm ở phía Đông đảo Hải Nam, đương nhiên không phải là Nansha, mà có thể là Macclesfield Banh. Các sử liệu nói trên cũng chỉ cho thấy Trung Quốc đã thực hiện các cuộc thám thính và viễn chinh trên Biển Nam Hải, đặc biệt là tới vùng Borneo của Ma-lai-xi-a, không chứng minh được rằng họ đã thực sự tiến hành tuần tiễu và thực hiện chủ quyền tại các đảo ở Hoàng Sa và Trường Sa. Các lập luận dựa vào một số di chỉ khảo cổ trên đảo Hoàng Sa (gồm một số hiện vật đồ gốm . . . có tuổi khoảng từ năm 420 cho đến thời nhà Thanh) để kết luận chủ quyền của Trung Quốc trên các đảo đó cúng không đủ cơ sở chắc chắn cả về khoa học lẫn pháp lý. Những hiện vật đó nếu quả thật là có chỉ nói lên rằng đã có những cá nhân hoặc nhóm người có mặt trên đảo. Họ có thể là người Trung Quốc, nhưng cũng có thể là người từ Việt Nam tới đó để sinh sống hoặc chỉ ghé qua trên đường đi biển làm ăn mà thôi. Mặt khác, về mặt pháp lý chưa đủ cơ sở để khẳng định được đó là sự chiếm hữu lãnh thổ do một quốc gia thực hiện. Những gì họ đã làm là chỉ đi ngang, tình cờ thấy, không hề chiếm hữu và thực thi chủ quyền, để rồi mấy thế kỷ sau khi quốc gia khác chiếm, mới cho rằng mình đã khám. Thực ra, Trung Quốc chỉ mới “biết” chứ không phải khám phá.[23] Giả dụ rằng Trung Quốc đã khám phá thì điều này cũng chỉ tạo cho Trung Quốc cái quyền khám phá, một thứ quyền phôi thai (inchoatetitle), nhưng Trung Quốc đã không hề chiếm hữu các đảo, dù là chiếm hữu tượng trưng, không hề thực thi chủ quyền đối với các đảo. Tòa án quốc tế đã phán quyết nhiều lần rằng quyền khám phá phải được hoàn tất bởi sự chiếm hữu, trong một thời gian tương đối, thì mới có hiệu lực.[24] Giáo sư người Mỹ Marwyn Samuels nhận định rằng Trung Quốc cuối nhà Minh và nhà Thanh không quan tâm đến vùng biển ngoài khơi mà chi chú tâm đến việc trấn giữ biên cương nội địa, vùng Tân Cương, Mông Cổ và biên giới phía Bắc, nên lực lượng hải quân rất kém.[25] Mặc dù có lực lượng hải quân hùng mạnh vào thời Nguyên, song Trung Quốc cũng vẫn chưa để ý đến những đảo ngoài khơi biển Đông và không có ý định chiếm hữu chúng.[26] Thậm chí, các tầu thuyền của Trung Quốc không dám đến gần các đảo này vì sợ đá ngầm và mắc cạn. Đã có câu tục ngữ truyền trong thủy thủ người Hoa rằng: "Trên đường đi ra thì sợ Thất Châu (tức là Thất Châu Dương mà Trung Quốc bây giờ cho là Xisha), trên đường đi về thì hãi Côn Lôn".[27] Chính vì  vậy, trong một thời gian dài, Trung Quốc đã im lặng và không phản đối việc Việt Nam thực thi chủ quyền trên các đảo này, mặc dù biết rõ những hoạt động của Hải Đội Hoàng Sa và Hải Đội Bắc Hải của các triều đình phong kiến Việt Nam. Nó cũng được kiểm chứng bởi vụ đắm tàu La Bellona và Imeji Maru.[28]

Như vậy, thực tế lịch sử cho thấy rằng Trung Quốc không những đã không thực thi chủ quyền, mà gần như mặc nhiên công nhận  trên thực tế chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa.

Hiệp ước Pháp - Thanh ngày 26/6/1887

Trung Quốc còn dẫn chiếu Hiệp ước Pháp - Thanh, ký ngày 26/6/1887 tại Bắc Kinh, phân chia biên giới giữa Trung Quốc và miền Bắc Việt Nam để biện luận cho yêu sách chủ quyền của họ đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Điều 3 của bản Hiệp ước ghi: "Từ Quảng Đông, những điểm tranh chấp nằm từ phía Đông đến phía Tây Bắc của Móng Cái ngoài biên giới đã được hai phái bộ xác định, có thề coi là thuộc về Trung Quốc. Những hòn đảo nằm ở phía đông dọc đường kinh tuyến đông 105°43’ của Paris, có nghĩa là trục Bắc Nam đi qua điểm phía Đông của đảo Tch'a Kou hay Ouan-Chan (Trà Cổ) và làm thành đường biên giới, cũng thuộc về Trung Quốc. Các đảo Go-tho và các đảo khác nằm phía Tây của đường kinh tuyến thuộc về An Nam".[29] Dựa vào Điều khoản này, Trung Quốc cho rằng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở phía Đông của ranh giới ấy nên thuộc về Trung Quốc.

Giải thích như vậy của Trung Quốc là hoàn toàn không đúng với tinh thần của Hiệp ước. Thực tế, Hiệp ước 1887 được ký kết căn cứ vào Điều 3 của Hiệp ước Pháp-thanh ngày 6/9/1885 nhằm giải quyết xung đột giữa hai bên liên quan đến Việt Nam. Sau khi Pháp - Thanh ký Hiệp ước 1885 về việc Thanh công nhận ảnh hưởng của Pháp ở Việt Nam, chính quyền Quảng Đông, Quảng Tây và Vân Nam vẫn cho quân vượt biên giới - sang Bắc Việt Nam. Phía Pháp và nhà Thanh đã đi đến thỏa thuận sẽ lập một Ủy ban hoạch định biên giới để giải quyết tình hình trên. Sau đó, hai bên đã xác định đoạn biên giới với Quảng Tây ổn thỏa, song không nhất trí được hai đoạn biên giới Quảng Đông và Vân Nam. Từ đó mới có Hiệp ước 1887 với mục đích giải quyết bất đồng này. Ở Quảng Đông, có quân thổ phỉ từ Trưng Hoa sang tập trung ở vùng Bạch Long Vĩ và những đảo quanh đó, nên Pháp đã đưa quân đến chiếm đóng. Trung Hoa phản đổi, đòi vùng này là vùng cửa Trung Hoa, do đó, mới xảy ra sự tranh chấp[30]. Hiệp ước 1887  được ký chủ yếu liên quan đến ranh giới đất liền và ranh giới phân chia những đảo nhỏ không quan trọng ở gần bờ biển Việt Nam và Trung Quốc. Hiệp ước khẳng định rõ điểm khởi đầu của đường phân chia ranh giới đi qua mũi đông của đảo Trà Cổ, song không chỉ điểm cuối bởi vì bề dài của nó tuỳ thuộc vào sự hiện hữu của những đảo gần bờ biển: Nếu theo cách hiểu của Trung Quốc để kéo dài đường ranh giới tới giao điểm với bờ biển miền trung Việt Nam thì tất cả các đảo ở phía Nam của Huế đều thuộc chủ quyền của Trưng Quốc.[31] Trong lập luận của Trung Quốc có mâu thuẫn: một mặt nói Hiệp ước 1887 áp dụng cho Hoàng Sa và Trường Sa, là những đảo nằm xa ngoài khơi nhưng mặt khác, khi bàn về biên giới vùng Bắc Bộ, họ lại khẳng định rằng Hiệp ước này chỉ phân chia "những đảo ở vùng vịnh Bắc Bộ", chứ không phải là biên giới biển.

Như vậy, mục đích của Hiệp ước 1887 là hoạch định biên giới giữa Việt Nam với tỉnh Quảng Đông và Vân Nam của Trung Quốc và đường biên giới hoạch định theo Điều 2 của Hiệp ước 1887 chỉ giới hạn ở biên giới miền Bắc Việt Nam và Vịnh Bắc Bộ mà thôi. Tên Hiệp “Convention relative à délimination de la frontier entre la Chine et le Tonkin”[32] (Công ước phân định biên giới giữa Trung Quốc và Bắc Việt Nam)  cũng đã nói rõ mục đích này. Mối quan tâm lớn của Pháp và Nhà Thanh lúc đó thực ra là vấn đề thương mại.[33] Sự tranh chấp Pháp – Thanh không liên quan đến Hoàng Sa và Trường Sa.

Cái gọi là sự "khước từ chủ quyền" của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Trung Quốc đưa ra ba sự kiện sau đây để khẳng định cái gọi là Việt Nam đã "khước từ chủ quyền” trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa:

Sự kiện thứ nhất liên quan đến phát biểu ngày 15/6/1956 của ông Ung Văn Khiêm, Thư trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH), khi tiếp Đại biện lâm thời nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa tại Việt Nam, được phía Trung Quốc cho rằng đã thừa nhận Hoàng Sa và Trường Sa là "thuộc lãnh thổ Trung Quốc"'. 

Sự kiện thứ hai là bức Công hàm của Thủ tướng phạm Văn Đồng ngày 14/9/1958 liên quan đến việc Trung Quốc tuyên bố ngày 04/9/1958 nới rộng vùng lãnh hải của họ ra 12 hải lý.

Sự kiện thứ ba là Tuyên bố của Chính phủ VNDCCH ngày 09/05/1965 liên quan tới vùng chiến đấu của quân đội Hoa Kỳ tại Nam Việt Nam.

Vậy thực chất vấn đề này là thế nào và tính chất pháp lý của lập luận mà Trung Quốc nêu ra dựa vào các tuyên bố của phía Việt Nam nói trên đến đâu?

Trước hết, cần đặt các tuyên bố nói trên của đại diện chính phủ Việt Nam trong bối cảnh thực tế tình hình những năm 1950- 1960 để hiểu đúng ý nghĩa và giá trị của chúng. Cụ thể là vào thời điểm những năm đó, VNDCCH đang phải chiến đấu chống lại đế quốc Mỹ xâm lược. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (CHNDTH) đang đoàn kết và ủng hộ tích cực nhân dân Việt Nam tiến hành kháng chiến chống lại đế quốc Mỹ. Quan hệ giữa VNDCCH và CHNDTH lúc đó là quan hệ đồng minh giữa hai nước XHCN anh em. Trước sự biểu dương lực lượng của Hạm đội 7 Mỹ trên eo biển Đài Loan lúc đó, Công hàm của Thủ tướng phạm Văn Đồng ngày 14/9/1958 là một cử chỉ của Chính phủ Việt Nam ủng hộ Trung Quốc về mặt chính trị chống lại sự khiêu khích của Mỹ, bởi vì việc nới rộng lãnh hải từ 3 hải lý ra 12 hải lý sẽ đẩy tàu chiến Mỹ ra xa ngoài biên giới CHNDTH hơn và làm giảm bớt khả năng đe dọa của chúng đối với lãnh thồ CHNDTH.[34] Tuyên bố ngày 09/5/1965 liên quan đến vùng chiến đấu cũng vậy, nó xảy ra vào lúc cuộc chiến tranh ở Việt Nam đang bước vào giai đoạn khẩn trương, với sự can thiệp quân sự trực tiếp của hàng chục vạn quân Mỹ. Một cuộc chiến tranh khốc liệt bắt đầu lan rộng ra cả hai miền Nam - Bắc Việt Nam. Trong bối cảnh như vậy, Tuyên bố của VNDCCH nhằm hạn chế khả năng Mỹ có những hành động quân sự ngoài lãnh thổ Việt Nam và Đông Dương, xâm phạm vào Trung Quốc.

Thứ hai, vì tập trung tất cả cho cuộc kháng chiến giải phóng đất nước, nên chúng ta chưa quan tâm thích đáng đến vấn đề biền, đảo và biên giới lãnh thổ, đã quá tin cậy những người đồng chí anh em Trung Quốc và có phần thiếu cảnh giác trước mưu đồ lâu dài của họ.

Thứ ba, xét về mặt pháp lý, thì những tuyên bố nói trên của Việt Nam không phải là các cam kết quốc tế có tính ràng buộc.

Theo Hiệp Định Giơ-ne-vơ 1954, Việt Nam bị chia làm hai miền với ranh giới là vĩ tuyến 17. Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm ở Nam vĩ tuyến đó nên thuộc sự quản lý của chính quyền Việt Nam Cộng hòa (VNCH) và các hành vi xác lập và thực thi chủ quyền ở hai quần đảo này thuộc thẩm quyền của chính quyển Sài Gòn. Chính phủ VNDCCH lúc đó không có thẩm quyền và không hề thực thi chủ quyền đối với hai quần đảo này. Năm 1956, khi Chính phủ Trung Quốc cho quân chiếm một phần quần đảo Hoàng Sa, Chính phủ VNCH đã phản đối mạnh mẽ. Như vậy, Hoàng Sa và Trường Sa thời kỳ đó là thuộc chủ quyền của VNCH và trên thực tế vẫn do Chính quyền VNCH chiếm giữ và quản lý. Tuyên bố của Thủ tướng phạm Văn Đồng năm 1958 chỉ là ủng hộ việc Trung Quốc tuyên bố có vùng lãnh hải 12 hải lý và không thể bị giải thích là sự công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quân đảo Hoàng Sa và Trường Sa. 

Đối với lời nói miệng của ông Ung Vàn Khiêm thì đó chỉ là phát biểu của một cá nhân, không phải là đại diện của Nhà nước Việt Nam đang quản lý và thực thi chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa - lúc đó là VNCH. Hơn  nữa, nếu như ông Khiêm có đủ thẩm quyền đại diện Nhà nước đi chăng nữa thì theo thực tiễn pháp lý quốc tế, một lời tuyên bố miệng của cá nhân không có hiệu lực pháp lý quốc tế. Điều 38 Quy chế Toà án Quốc tế không công nhận lời tuyên bố trở thành luật quốc tế và do đó không thể coi lời nói đơn phương có hiệu lực ràng buộc như luật quốc tế. Các vấn đề lãnh thổ phải được ràng buộc bằng các điều ước quốc tế, được các cơ quan có thẩm quyền phê chuẩn. Cuối cùng, không thể cố áp dụng lý thuyết estoppel, tức là “đã nói ra thì không nói ngược lại được", bởi vì lời tuyên bố trên chỉ diễn ra có mộtlần, không "được thực hiện một cách rõ ràng và liên tục", không "khiến cho một hoặc nhiều quốc gia dựa vào đó mà thay đổi hoạt động và phải chịu thiệt hại".[35] Tiến sĩ Balazc Szalotai, nhà nghiên cứu nổi tiếng về châu Á, đang sống tại  Hung-ga-ry nhận xét: những tuyên bố "không có tác dụng ràng buộc",[36] dù có "làm cho quan điểm của Việt Nam bị yếu đi một chút”.[37]

Đường lưỡi bò

Đường lười bò (còn gọi là đường chữ U) ở Biển Đông được Hu Jinjie vẽ lần đầu tiên vào tháng 12 năm 1914, sau khi nước Trung Hoa Dân Quốc giành lại nhóm đảo Dongsha (Pratas) từ tay Nhật Bản (1909). Các bản đồ của Trung Quốc xuất bản những năm 1920 và 1930 sau đó đều dựa trên bản vẽ của Hu về vùng biển này. Đương chữ U được Bai Meichu, một viên chức Trung Hoa[38] sử dựng lại vào cuối năm 1947. Các vùng phía bên trong đường này được coi là các vùng nước lịch sử. Lập luận của Bai Meichu về việc vẽ đường này không thực sự rõ ràng. Một điều cũng chưa rõ đó là liệu Bai có đủ kiến thức về luật hàng hải quốc tế trong thời điểm ông vẽ hay không. Đường chữ U xác định vùng của Trung Quốc và vùng nước bên trong nó thành các "vừng nước lịch sử”. Các bài báo của Trung Quốc đã cáo buộc về việc các nước khác xâm lấn vừng này. Một số tính toán sơ bộ về diện tích vùng "lấn chiếm" như sau: Việt Nam 1.170.000 km2,  phi-líp-pin 620.000 km2. Ma-lai-xi-a 170.000 km2, Bru-nây 50.000 km2 và In-đô-nê-xi-a 35.000 km2.[39]

Ngày 6/5/2009, Ma-lai-xi-a và Việt Nam nộp báo cáo chung về ranh giới ngoài thềm lục địa mở rộng khu vực phía nam Biển Đông lên Ủy ban ranh giới thềm lục địa LHQ (CLCS). Ngày 7/5/2009, Trung Quốc gửi công hàm lên Tổng thư ký LHQ để phản đôi, trong đó có đính kèm bản đồ đường chữ U" hay "đường 9 khúc" chiếm khoảng 80% Biển Đông. Đây là lần đầu tiên Trung Quốc chính thức hóa "đường chữ U" mà Việt Nam gọi là “đường lưỡi bò”.

Đường chữ U này là đòi hỏi phi lý của Trung Quốc, vì nó hoàn toàn trái với các quy định của Công ước Luật biển 1982 mà Trung Quốc là một bên ký kết. Công ước không có quy định về vung nước lịch sử. Và đơn giản vì vùng biển mà đường lười bò ngoạm vào không thể nào là lãnh hải hoặc vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa của Trung Quốc. Đó chính là vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, Phi-lip-pin, Ma-lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a và Bru-nây. Đường lưỡi bò bị Việt Nam, Ma-lai-xi-a và Phi-líp-pin phản đối kịch liệt. Ngày 5/4/2011, sau gần hai năm, Phi-líp-pin mới “bác bỏ đường lưỡi bò”.  Và ngày 14/4/2011, Trung Quốc đã có công hàm chính thức phản đối Phi-líp-pin. Tuy nhiên, các lập luận của Trung Quốc rất mâu thuẫn nhau. Trong công hàm ngày 7/5/2009, Trung Quốc khẳng định "chủ quyền không thể tránh cãi của Trung Quốc trên các đảo trong Biển Đông và các vùng nước kế cận, cũng như các quyền chủ quyền và tài phán đối với các vùng nước, vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của chúng", tức là toàn bộ khu vực nằm trong đường lưỡi bò. Công hàm ngày 14/4/2011 thì lờ đường lưỡi bò đi nhưng lại cho rằng quần đảo Trường Sa (Nam Sa) có lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa theo Công ước Luật biển UNCLOS.

Nếu phạm vi địa lý của quần đảo Trường Sa là đường lưỡi bò thì có chuyện ngược đời là xác định các vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa bên trong vùng nước mà Bắc Kinh coi như là nội thủy. Hay các đảo trong  quần đảo Trường Sa mà Trung Quốc yêu sách có vùng lãnh hải, đặc quyền kinh tế và thềm lục địa nhưng không vượt quá phạm vi đường lưỡi bò? Hay cả quần đảo Trường Sa được coi là một tổng thể để đòi hỏi vùng lãnh hải, đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục địa như một quốc gia quần đảo? Hay phạm vi địa lý quần đảo Trường Sa là đường lưỡi bò và sẽ tiếp tục đòi hỏi từ đó 200 hải lý đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Cứ theo lập luận này thì cớ lẽ cả thành phố Hồ Chí Minh, Manila và Kuala Lumpur rồi tới Natura đều rơi vào vòng ảnh hưởng của đường lưỡi bò và “các vùng biển liên quan”. Đường lưỡi bò của Trung Quốc từ yêu sách gộp cả Tây Sa (Hoàng Sa của Việt Nam), Trung Sa (bất ngầm Macclefield), Nam Sa (Trường Sa của Việt Nam) bây giờ lại coi là phạm vi địa lý của quần đảo Nam Sa.[40]

Không chỉ có các nước liên quan phản đối quan điểm của Trung Quốc, mà In-đô-nê-xi-a, một nước không có tranh chấp ở Biển Đông cũng đã bác bỏ "đường chữ U" (ngày 8/7/2009). Tại các hội thảo quốc tế về Biển Đông tại Hà Nội (2009), thành phố Hồ Chí Minh (2010) cũng như các hội thảo quốc tế khác, nhiều học giả và chuyên gia quốc tế cho rằng "đường lười bò” là mơ hồ, không có cơ sở. Cho đến nay học giả và chính giới Trung Quốc vẫn chưa đưa ra được một lời giải thích thỏa đáng. Một nhà nghiên cứu nhận xét: Có lẽ Trung Quốc coi tất cả các đảo quần đảo ở Biển Đông là của mình vì thế giới đã gọi đó là "Biển Nam Trung Hoa”. Một sự nhầm lẫn tai hại.[41]

Về một số tài liệu được Trung Quốc viện dẫn như là sự "công nhận" đối với chủ quyền của Trung Quốc

Thời gian qua, Trung Quốc thường trích dẫn những tài liệu mà họ gọi là đã "thừa nhận” chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cần phải làm rõ thực hư về vấn đề này.

Trước hết, có một số tài liệu do người Trung Quốc biên soạn và xuất bản như "Tân Trung Quốc niên giám" do Trung Quốc xuất bản năm 1966  hay "Tân thế giới niêm giám" xuất bản năm 1972, trong đó ghi nhận chủ quyền của Trung Quốc. Điều này không có gì phải tranh luận đơn giản vì đó là những tài liệu của Trung Quốc."

Thứ hai, một thủ đoạn nguy hiểm đáng lưu ý mà Trung Quốc đã làm là họ tìm mọi cách đưa các chi tiết từ đó có thể dẫn giải về chủ quyền của Trung Quốc vào các công trình xuất bản ở nước ngoài. Rất đáng tiếc có một số nhà xuất bản hoặc tạp chí khoa học trên thế giới đã vô tình hoặc cố ý tiếp tay cho Trung Quốc. Chẳng hạn như Chuyên san Nature, một trong những tạp chí khoa học được trích dẫn nhiều nhất thế giới, vào ngày 2/9/2010  đã đăng bài "Những tác động của biến đổi khí hậu lên nguồn nước và ngành nông nghiệp tại Trung Quốc" của nhóm tác giả người Tnmg Quốc kèm bản đồ có cả hình đường lưỡi bò. Một loạt ấn phẩm của các nhà xuất bản Elsevier (Hà Lan), Springer (Đức), Wiley (Mỹ), tạp chí Journal of petroleum Science and Engineering…cũng đăng bản đồ đường lưỡi bò kèm theo các bài báo khoa học của tác giả Trung Quốc . Ngày 19/4/2011, tạp chí Journal of Waste Management đã đăng bài Thu gom phân loại chất thải rắn đô thị tại nguồn: Một phân tích so sánh của nhóm tác giả Trung Quốc, trong đó đính kèm bản đồ minh họa có in hình yêu sách đường lưỡi bò. Tuần san Science của Hiệp hội Mỹ vì sự phát triển khoa học (AAAS) là một trong những tạp chí học thuật uy tín nhất, được trích dẫn vào loại nhiều nhất thế giới, ngày 9/7/2011, đăng bài "Lịch sử dân số Trung Quốc và những thách thức trong tương lai" của tác giả Bành Hi Triết đã kèm theo bốn bản đồ đường lưỡi bò của Trung Quốc.[42]

Thứ ba, nhiều tài liệu khác cũng đã được Trung Quốc viện dẫn để dẫn chứng về sự "thừa nhận” chủ quyền của Trung Quốc bao gồm "Từ điển thế giới Columbia”,  Lippncott Gazetteer xuất bản năm 1961, "Bách khoa toàn thư các nước trên thế giới" xuất bản năm 1971 của Mỹ; "Bản đồ thế giới" do Cộng hòa Liên bang Đức xuất - bản năm 1954 , 1961, "Tập bản đồ" Oxford - Australia và  Tập bản đồ philip"do Anh xuất bản năm 1957, "Tập bản đồ” do Larousse xuất bản năm 1968, 1969; Quyết định của Hội nghị Hàng không khu vực Thái Bình Dương do Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế tổ chức (27/10/1955)... Có thể nói cái mà Trung Quốc gọi là sự "thừa nhận”  nói trên thực sự là những sai sót, hoặc nhầm lẫn của tác giả hoặc nhà xuất bản. Sai sót, nhầm lẫn như vậy có nhiều nguyên nhân. Một là, từ xa xưa đã có sự nhầm lẫn của các nhà địa lý thế giới gọi Biển Đông là Biển Nam Trung Hoa, mà thực chất có tên ban đầu là Giao Chỉ Dương, Đông Dương Đại Hải, Đông Hải hay Biền Đông. Người Bồ Đào Nha đi vòng qua Tây Phi, qua Mũi Hảo Vọng và ngược lên Đông Phi là đến Ấn Độ. Họ khám phá ra Đông Nam Á mà họ gọi là "Presqu’ile de l'inde en-deca du Gange", Ấn Độ bên kia sông Hằng. Lúc đó biển giữa Việt Nam và quần đảo Paracels (Hoàng Sa và Trường Sa) các bản đồ phương Tây đều ghi là "Golfe de la Cochinchine". Cochinchine nguyên là tên hai nước Giao Chỉ-việt Nam (Cochin) và nước Tần (Chine). Nước Giao Chỉ - Cochin trùng tên với một thị trấn ở Ấn Độ nên người Bồ Đào Nha gọi là Cochinchina cho dễ phân biệt. Đến thế kỷ XIX đã rõ miền này không thuộc Cochin của Ấn Độ nữa, nên họ chỉ lấy từ Chine để gọi Biển Đông. Các bản đồ cho đến thế kỷ XVIII vẫn còn gọi Đông Nam Á là "L'Inde de le Gange". Đến thế kỷ XIX thì họ mới gọi là bán đảo Đông Dương, tức là Indochine, là bán đảo bên kia sông Hằng. Danh xưng sai lầm còn tồn tại đến bây giờ.[43] Vì vậy, không ít nhà làm bản đồ, sách báo…ngộ nhận Biển Đông là Biển của Trung Quốc. Đó là nguyên nhân cơ bản nhất. Hai là, quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa gồm rất nhiều đảo nhỏ, nhất là quần đảo Trường Sa với 130 đảo và đá, nhiều đảo, đá, đá ngầm chưa có người ở, chưa có quân đồn trú và cũng chưa đặt được bia chủ quyền nên thông tin bị sai lệch, không đầy đủ dễ gây nhầm lẫn là điều dễ hiểu. Ngoài ra, một thời gian dài Việt Nam có chiến tranh, bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ đối nghịch nhau làm cho vấn đề chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thêm phức tạp Ba là, đối với không ít người có thể viết, vẽ và nói cũng chưa thật cẩn trọng trong vấn đề liên quan đến chủ quyền biển đảo ở Hoàng Sa và Trường Sa vì thời gian dài tranh chấp chưa bùng nổ. Liên quan đến sai sót khi làm bản đồ, ngay đến gần đây cũng vẫn còn xảy ra. Vào tháng 3 năm 2010, Hội Địa lý Mỹ (National Geographic) cũng vẫn còn nhầm lẫn khi ghi chú quần đảo Trường Sa là của Trung Quốc. Sau đó, Việt Nam đã yêu cầu National Geographic sửa lỗi này. National Geogaphic đã sửa: chỉ sử dụng tên quốc tế Paracel Islands và xóa bỏ chữ China, chú thích thêm chi tiết "Trung Quốc chiếm đóng từ năm 1974 và gọi là Xisha Qundao, Việt Nam vẫn đòi chủ quyền và gọi là Hoàng Sa”.

Tóm lại, Trung Quốc đưa ra các chứng cứ đã khám phá và thực thi chủ quyền đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trước tiên và từ lâu Tuy nhiên, những tài liệu chỉ cho thấy thuyền bè Trung Quốc có đi qua lại vùng Biển Đông, nhìn thấy nhiều đảo mang tên khác nhau. Song không có đảo nào mang tên Hoàng Sa hay Trường Sa cả. Đặt giả thiết là Trưng Quốc đã khám phá ra những đảo này thì Trung Quốc đã không thực hiện chủ quyền các đảo đó. Sự hiện diện người đánh cá,  hay một số đồ gốm, hiện vật khảo cổ được tìm thấy trên các đảo không đủ để khẳng định là hành xử chủ quyền của nhà nước. Phần lớn các luật gia trên thế giới, trừ luật gia Trung Quốc, đều thừa nhận điều này. Trung Quốc mới thật sự chiếm nhóm đảo phía đông quần đảo Hoàng Sa năm 1956 khi Pháp rút khỏi Việt Nam theo Hiệp định Giơ-ne-vơ, đánh chiếm bằng vũ lực từ tay Việt Nam phần còn lại của quần đảo Hoàng Sa tháng 1/1974. Đối với quần đảo Trường Sa, Trung Quốc mới chỉ có mặt bằng cách sử dụng lực lượng vũ trang để chiếm vào tháng 3/1988 và 1995 mà thôi. Trong khi Việt Nam đã phát hiện, hành xử chủ quyền liên tục hòa bình đối với các quần đảo trên từ trước đó vài thế kỷ. Với 3260 km bờ biển, hơn 3000 đảo lớn nhỏ trong đó có hai quần đảo xa bờ Hoàng Sa, Trường Sa, Biển Đông gắn bó món thịt với Việt Nam là điều dễ hiểu. Nếu quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa quan trọng đồi với an ninh của Trung Quốc sao họ lại có mặt muộn như vậy? Trước đây, Trung Quốc không thể quan tâm đến biển đảo ở Biền Đông vì còn lo trấn giữ và mở rộng biên cương nội địa ở vùng Tân Cương, Nội Mông và phía Bắc, nhiều lần bị nước Liêu, Kim, Tây Hạ đánh cho tả tơi, cuối cùng bị Mông Cổ nô dịch. Lập luận của Trung Quốc rằng theo Công ước 1887 Pháp - Thanh, quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Trung Quốc lại càng không có căn cứ vì Công ước chỉ liên quan đến giải quyết tranh chấp giữa các tỉnh Vân Nam, Quảng Đông, Quảng Tây và Bắc Việt Nam mà thôi. Ba kiện xảy ra trong những năm 50 và 60 thế kỷ trước về cái gọi là Việt Nam đã thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng không có “giá trị pháp lý ràng buộc", nhất là theo Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 thì quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc quyền quản lý của chính quyền Sài Gòn chứ không phải của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cái gọi là "đường chữ U chín đoạn” hay "đường lưỡi bò", chiếm khoảng 80% Biển Đông thực chất là vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của các quốc gia như Việt Nam, Phi-líp-pin, Ma-lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a và Bru-nây mà thôi. Đường chữ U rất mơ hổ, không có cơ sở, không theo Công ước Luật biển 1982, bị không ít nước và giới khoa học nhiều nước bác bỏ. Việc có những tài liệu "công.nhận” chủ quyền của Trung Quốc tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có nhiều nguyên nhân, trong đó có hai nguyên nhân quan trọng nhất là do sự nhầm lẫn của các nhà địa lý gọi Biển Đông là Biển Nam Trung Hoa và việc Trung Quốc ra sức tìm cách phổ biến lập luận sai trái của mình ra thế giới với phương châm "Tăng Sâm giết người",[44] "mưa lâu thấm đất”.

Như vậy, về tổng thể có thể thấy rằng lập luận của Trung Quốc về chủ quyền lịch sử của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là không khách quan, thiếu căn cứ khoa học và khó thuyết phục.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.  Tiến sỹ Balazc Szalotai, Trả lời phỏng vấn BBC, ngày 24/1/2008.

2.  Đặng Minh Thu, "Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”, Tạp chí Thời đại mới, số 11, tháng 7/2007.

3.  Đào Văn Thụy, "Lập trường của Trung Quốc trong tranh chấp chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và luật quốc tế", Tạp chí Thời đại mới, số 11 , tháng 7/2007.

4.  Hải Biên, "Vấn đề Biển Đông dưới ánh sáng của pháp luật quốc tế”, VietnamPlus, tháng 3/2011.

5.  Hoàng Việt, "Giải pháp nào cho tranh chấp Biển Đông” , Tạp chí Thời đại mới, số 19, tháng 7/2010.

6.  Hồ Bạch Thảo, "Lãnh hải Trung Quốc dưới thời Minh”, tại địa chỉ http://www.diendan.org/phe-binh-nghiencuu/lanh hai trung quoc.

7.  Hồ Bạch Thảo, "Phản biện tập luận của nhà nghiên cứu Hàn Chấn Hoa về lãnh vực sử địa cổ có liên quan đến Biển Đông", Tạp chí Thời đại mới, số 20, tháng 11/2010.

8.  Huỳnh phan, "Trung Quốc nợ thế giới lời giải thích về Biển Đông", Tuần Việt Nam, tại địa chỉ http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2010-11-14-trung-quoc-no-the-gioi-loi-giai-thich-ve-bien-dong

9.  Nguyễn Đình Đầu, Trả lời phỏng vấn Đài RFA, ngày 6/7/2011.

10.   Nguyễn Bá Diến, "Áp dụng các nguyên tắc về thụ đắc lãnh thổ trong luật quốc tế giải quyết hòa bình các tranh chấp Biển Đông”, www.nghiencuubiendong.vn, truy cập ngày 15/3/2010.

11.   Lưu Văn Lợi, Cuộc tranh chấp Việt - Trung về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 1995 .

12.   Phương Loan, "Học giả quốc tế phê phán đường lười bò của Trung Quốc", VietnamNet, ngày 31/11/2009.

13.   Tạ Văn Tài, "Giải pháp cho Biển Đông”', Tạp chí Thời đại mới,số 20, tháng 11/2010.

14.   Thủy Xuân, "Việt Nam có chủ quyền không thể tranh cãi đối với Hoàng Sa", VietnamNet, ngày 24/2/2011.

15.   Việt Long, "Vì sao Phi-lip-pin phản đối đường lưỡi bò", Tuần Việt Nam, http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-04-20-vi-sao-philippines-phan-doi-duong-luoi-bo-

16.   Vũ Quang Việt, "Tranh chấp biển Đông Nam Á: Đi trên giải pháp hòa bình và công lý dựa trên chứng cớ lịch sử và luật pháp quốc tế", Tạp chí Thời đại mới, số 19, tháng 7/2010.

17.   Xung đột Biển Đông không còn là nguy cơ (Tài liệu chọn lọc dịch từ tiếng Anh, Pháp, Trung Quốc - do Hồng Lê Thọ: chủ biên), Mỹ, 2009

18.   Một số trang Intemet  http://google.com.vn;  www.nghiencuubiendong.vn; www.vietnamnet.vn

PGS.TS Vũ Dương Huân

 


* Tổng lãnh sự Việt Nam tại Vladivostok. Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả

[1] Trung Quốc và thế giới thường gọi với một cái tên dễ gây hiểu lầm là Biển Nam Trung Hoa.

[2] Định ước Hen – xin – ki, Tài liệu Vụ châu Âu, Bộ Ngoại giao

[3] Nguyên Bá Diễn, "Ap dụng các nguyên tắc về thụ đắc lãnh thổ trong luật quốc tế giải quyết hòa bình các tranh chấp ở Biển Đống", xem tại www.nghiencuubiendong.vn, truy cập ngày 15/3/2010.

[4] Định ước Berlin ra đời năm 1885,  khoản XXIV qui định việc chiếm hữu lãnh thổ thực tế và thông báo cho các quốc gia khác về việc chiếm hữu  này. Nguồn: http://africanhistory. about.com/od/eracolonialism/l/bl-BerlinAct1885.htm.

[5] Xem Hồ Bạch Thảo, "Phản biện tập luận của nhà nghiên cứu Hàn Chấn Hoa về lãnh vực sử địa cổ có liên quan đến Biển Đông”, Tạp chí Thời đại mới, số 20, tháng 11/2010; Đặng Minh Thu, "Chủ quyền trên hai. quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”, Tạp chí Thời đại mới, số 11, tháng 7/2007.

[6] Xem Báo điện tử Báo Đất  Việt, ngày 21/7/2011     .

[7] Đặng Minh Thu, tlđd

[8] Hồ Bạch Thảo, tlđd

[9] Xem Đặng Minh Thu, tlđd

[10] Marwyn Samuels, Contest for the South China Sea, New York/London, 1982, tr.38.

[11] Tao Cheng, "The dispute over the South China Sea Islands", Texas International Law Journal, Vol. 10 (1975), tr. 272.

[12] Lưu Văn Lợi, Cuộc tranh chấp Việt – Trung về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội 1995, tr.10

[13] Đặng Minh Thu, tlđd, tr.37.

[14] Hồ Bạch Thảo, “Lãnh hải Trung Quốc dưới thời nhà Minh”, http://diendan.org.lanhhai trung quoc

[15] Jian-Minh Shen, “International Law Rules and Historical Evidence Supporting China’s Tille to South China Sea Islands”, Hastings International and Comparative Law Review, vol 21(1997), p.22-23

[16] Jian-Minh Shen, sđd, tr.18

[17] Như trên, sđd, tr.19.

[18] Như trên, sđd, tr.20.

[19] Đặng Minh Thu, tlđd, tr.37.

[20] Lưu Văn Lợi, sđd, tr.17

[21] Samuels, sđd, tr.21, 22.

[22] Như trên, tr.23.

[23] Lưu Văn Lợi, sđd, tr.14.

[24] Đặng Minh Thu, tlđd, tr.38.

[25] Samuels, sđd, tr.30-31, 42.

[26] Như trên, tr.20.

[27] Như trên, tr.17 và 21.

[28] Khi đó Trung Quốc đã từ chối trách nhiệm điều tra vụ cướp đồ do tàu bị đắm với lý do Hoàng Sa không phải lãnh thổ Trung Quốc, không thuộc quản lý hành chính đảo Hải  Nam; xem Lưu Văn Lợi, The Sino-vietnamese difference ơn Hoang Sa and Truong Sa archipelagoes, p. 52 ; Gendreau, Sovereignty over the Paracel and Spratly lslands, p. 98.

[29] Công ước Pháp – Thanh 1887, www.google.com.vn

[30] Đặng Minh Thu, tlđd, tr.42.

[31] Đào Văn Thụy, Lập trường của Trung Quốc trong tranh chấp chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và luật quốc tế, Tạp chí Thời đại mới, số 11, tháng 7/2007, tr.10

[32] Thời Pháp Việt Narn chia làm ba kỳ Nam Kỳ, Trung Kỳ và Bác Kỳ với ba quy chế

khác nhau. Le Tonkin là Bắc Kỳ.

[33] Đào Văn Thụy, tlđd

[34] Đào Văn Thụy, tlđd, tr.12.

[35] Phán quyết Tòa án Công lý quốc tế giải quyết tranh chấp giữa Mỹ và Ni-ca-ra-goa trong vụ NHững hoạt động quân sự và bán quân sự tại Ni-ca-ra-goa, Tuyển tập các phán quyết của Tòa án Công lý quốc tế, Hà Nội, 1984, tr.414

[36] Trả lời phỏng vấn BBC, ngày 24/1/2008

[37] Như trên

[38] Peter Kien - Hong Vu, "Đường chữ U (đứt khúc) của Trung Quốc (Việt Nam gọi 1à đường lưỡi bò) trên Biển Đông: Các điểm, đường và khu vực", Tạp chí Thời đại mới, số 15, tháng 3/2009, tr. 4.

[39] Peter Kien-Hong Vu, tlđd, tr.15.

[40] “Chiến thuật mập mờ của Trung Quốc”, Vietnamnet, ngày 26/4/2011.

[41] RFI phỏng vấn nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu, ngày 6/7/2011

[42] “Đường lưỡi bò núp bóng khoa học", Thanh Niên, ngày 27/9/2011 tại địa chi http://www.thanhnien.com.vn/pages/20110927/duong-luoi-bo-nup-bong-khoa-hoc.aspx

[43] Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu trả lời phỏng vấn đài RFA, ngày 7/6/2011.

[44] Đó là câu chuyện xưa của Tnmg Quốc. Bà mẹ Tăng Sâm nhận được tin sai trái rằng con bà giết người, lúc đầu bà không tin nhưng sau ba lần bà đã tin.

 

Bài viết của TS. Dư Văn Toán, Viện Nghiên cứu Quản lý biển và hải đảo, giới thiệu tổng quan các mô hình hợp tác quốc tế (HTQT) về các khu bảo tồn biển đa quốc gia trên thế giới. Từ việc phân tích những lợi ích của mô hình này, bài viết đề xuất phân chia khu vực biển Việt Nam thành bốn vùng: vịnh Bắc Bộ, vịnh Thái Lan, Hoàng Sa, Trường Sa và mô hình HTQT phù hợp qua đó đề xuất xây dựng khu vực Trường Sa thành Công viên biển hòa bình quốc tế.


Tóm tắt

 

Bài viết giới thiệu tổng quan các mô hình hợp tác quốc tế (HTQT) về các khu bảo tồn biển đa quốc gia (transboundary marine protected areas - TBMPA) trên thế giới. TBMPA là vùng biển nằm trên khu vực biển, đại dương có hai hoặc nhiều đường biên giới giữa các quốc gia, có vai trò giữ gìn đa dạng sinh học, các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bản sắc văn hóa địa phương, được hợp tác quản lý thông qua luật pháp hoặc các chính sách khác trên qui mô song phương hay đa phương. Lợi ích của TBMPA nhằm cải thiện trong quan hệ và công tác bảo tồn quốc tế, thực thi các công ước và điều ước quốc tế về biển. Có một số mô hình TBMPA thành công ở các vùng biển tranh chấp của nhiều quốc gia được gọi là Công viên biển hòa bình (MPP), mô hình xây dựng vùng biển đặc biệt nhậy cảm (PSSA IMO)… Biển Việt Nam có nhiều vùng biển có ranh giới với nhiều quốc gia như Trung Quốc, Phi-líp-pin, Cam-pu-chia, In-đô-nê-xi-a, là vùng biển có rất nhiều khu biển có giá trị sinh thái, lịch sử, văn hóa đã được bảo tồn cấp quốc gia và của một số tổ chức quốc tế như Cô Tô, Cát Bà, Vịnh Hạ Long, Trường Sa, Hoàng Sa, Phú Quốc. Bài báo đề xuất phân chia khu vực biển cận biên Việt Nam thành bốn vùng: vịnh Bắc Bộ, vịnh Thái Lan, Hoàng Sa, Trường Sa và mô hình HTQT phù hợp qua đó đề xuất xây dựng khu vực Trường Sa thành Công viên biển hòa bình quốc tế.

Theo định nghĩa của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN), Khu bảo tồn biển liên quốc gia (Transboundary Marine Proctected Area - TBMPA) là: “Vùng biển nằm trên khu vực biển, đại dương có hai hoặc nhiều đường biên giới giữa các quốc gia, các đơn vị lãnh thổ như tỉnh, vùng, vùng tự trị hoặc các vùng nằm ngoài giới hạn chủ quyền và phạm vi quốc gia, có vai trò giữ gìn đa dạng sinh học, các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bản sắc văn hóa, được hợp tác quản lý thông qua luật pháp hoặc các biện pháp khác”.

Thành lập khu bảo tồn biển liên quốc gia nhằm cải thiện quan hệ và thúc đẩy bảo tồn tài nguyên môi trường quốc tế. Các hệ sinh thái và động vật hoang dã không có ranh giới chính trị, đặc biệt trên biển và đại dương, do vậy, quản lý tài nguyên môi trường biển phải được coi là nhiệm vụ quốc tế của khu vực và của các quốc gia láng giềng.

Có một số cách tiếp cận hay mô hình HTQT trong việc thiết lập các khu bảo vệ - bảo tồn biển như các khu bảo tồn xuyên biên giới (hay liên quốc gia) có thể được gọi là TBMPA - khu bảo tồn xuyên biên giới, MPP - công viên biển hòa bình, hay PSSA - vùng biển đặc biệt nhậy cảm với nỗ lực chung là đạt được sự bảo tồn liên quốc gia dựa trên phương thức quản lý hệ sinh thái phục vụ phát triển biển bền vững.

Hiện trạng mô hình và các phương pháp tiếp cận TBMPA trên thế giới

Các tổ chức quốc tế đang tích cực thúc đẩy các mô hình TBMPA là IUCN, WWF, IMO và đã thực hiện được gần 30 năm với mục tiêu bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học biển xuyên quốc gia phục vụ phát triển bền vững biển và đại dương.

Khu bảo tồn biển xuyên biên giới là những vùng mà các quốc gia láng giềng đã có ranh giới chủ quyền được phân định rõ ràng.

Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) đã kiểm kê số lượng các khu vực bảo vệ phức hợp xuyên biên giới hiện đang tồn tại, cả trên cạn và dưới biển. Theo UNEP, hiện trên thế giới có 227 khu vực này.

Một số khu biển TBMPA hiện có trên thế giới:

1. Khu vực bảo vệ quốc tế Biển Wadden - bao gồm nhiều khu bảo tồn biển và bảo vệ khác nhau tại các quốc gia Đan Mạch, Đức, và Hà Lan - là một ví dụ hàng đầu về Mô hình quản lý bảo tồn và hợp tác quốc tế dựa vào hệ sinh thái. Từ năm 1982, chính phủ ba quốc gia này đã ký Hiệp ước hợp tác về bảo tồn biển. Đến nay khu này đã là di sản thiên nhiên thế giới UNESCO, PSSA.

2. Khu các dải san hô Trung Mỹ bao gồm 80 khu bảo vệ giữa các quốc gia Bê-li-xê, Goa-tê-ma-la và Mê-hi-cô.

3. Khu Pelagos có diện tích 100.000 km2 cho cá voi ở biển Liguria - hợp tác giữa các nước Pháp, I-ta-li-a và Mô-na-cô.

4. Vùng Đông Thái Bình Dương có Khu TBMPA gồm các đặc khu kinh tế của Cô-lôm-bi-a, Cô-xta-ri-ca, Ê-cu-a-đo Pa-na-ma.

5. Vùng Nam Đại Dương, được quản lý như một khu vực được bảo vệ rất lớn bởi Ủy ban bảo tồn tài nguyên sinh vật biển của Nam Cực.

6. Khu bảo tồn biển giữa Nam Phi và Mô-dăm-bích.

7. Đảo Rùa nằm trên đường biên giới của Ma-lai-xi-a và Phi-líp-pin là một ví dụ về khu bảo tồn biển liên quốc gia ở khu vực Đông Nam Á, được biết đến là nơi bảo tồn loài Rùa Xanh (Chelonia mydas). Đảo này hiện nay đã được công nhận là “Khu bảo tồn Di sản Đảo Rùa” được ký kết giữa Phi-líp-pin và Ma-lai-xi-a từ năm 1996.

Công viên biển hòa bình

Theo IUCN định nghĩa, Công viên biển hòa bình (MPP) là: Khu bảo vệ liên quốc gia được chính thức dành riêng cho việc bảo vệ và duy trì đa dạng sinh học, tài nguyên thiên nhiên và văn hóa có liên quan để thúc đẩy hòa bình và hợp tác quốc tế trên biển, hải đảo tại những nơi còn có xung đột, mâu thuẫn.

Công viên biển hòa bình có những lợi ích sau đây:

- Là biểu tượng của sự hợp tác đang diễn ra giữa các quốc gia với mục đích hòa bình;

- Là điểm nhấn cho các cuộc thảo luận giữa các nước láng giềng mặc dù các quốc gia có thể đang có chia rẽ sâu sắc về kinh tế, xã hội, môi trường, hoặc lợi ích khác;

- Tăng cường an ninh và kiểm soát các nguồn tài nguyên trong khu vực biên giới biển để các chủ sở hữu hợp pháp có thể có lợi hơn từ chúng;

- Phát triển cơ hội cho du lịch sinh thái biển và phát triển bền vững liên doanh quốc tế trên một khu vực qui mô rộng hơn;

- Một địa điểm phong phú và linh hoạt của các mối quan hệ đối với các nhà quản lý bảo tồn biển từ các quốc gia tham gia, các cơ quan chính phủ, địa phương và phi chính phủ quốc tế, và cộng đồng các nhà tài trợ.

Hiện  trạng Công viên biển Hòa bình - MPP

1. "Công viên biển hòa bình Hồng Hải" - một mô hình MPP điểm về hợp tác quốc tế - áp dụng theo đúng nghĩa đen với những gì I-xra-en Gioóc-đa-ni đã được công nhận trong phía Bắc Vịnh Aqaba, một vùng biển nửa kín được chia sẻ bởi các quốc gia này. Đây là một phần của hiệp ước hòa bình mà hai nước đã ký kết năm 1994 để bình thường hóa quan hệ. Hai quốc gia I-xra-en Gioóc-đa-ni đã phát triển MPP Hồng Hải thể hiện qua hai Khu bảo tồn biển: Aqaba của Gioóc-đa-ni khu Eilat của I-xra-en. Việc thành lập MPP Hồng Hải kêu gọi các quốc gia đối tác có những nỗ lực nghiên cứu về san hô và sinh vật biển, thực hiện các chính sách quy định phối hợp để bảo vệ các rạn san hô và tài nguyên sinh vật biển.

2. Công viên biển hòa bình Triều Tiên

Những bài học từ các MPP Hồng hải cũng như từ nhiều công viên hòa bình trên mặt đất đang được áp dụng trong các nỗ lực thành lập một công viên hòa bình biển trên bán đảo Triều Tiên. Năm 2005, chính phủ Hàn Quốc đã có kế hoạch bắt đầu xây dựng MPP với CHDCND Triều Tiên trong vùng biển phía tây bán đảo Triều Tiên -  nhằm mục đích giúp đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững và hòa bình trong khu vực, là biểu tượng của "3 chữ P": bảo vệ sinh thái toàn vẹn, hòa bình và thịnh vượng kinh tế.

Ngoài ra, các nhà nghiên cứu từ I-xra-en, Gioóc-đa-ni, Mỹ đề xuất một số MPP tiềm năng trên toàn Đại dương thế giới chủ yếu tại các vùng còn có các xung đột, khủng hoảng:

3. Phía Đông đảo quốc Ca-ri-bê;

4. Vùng biển Địa Trung Hải (Gaza/Gioóc-đa-ni/I-xra-en);

5. Vùng ven biển Pa-ki-xtan Ấn Độ (vùng ven đồng bằng sông Indus);

6. Vùng biển Adriatic (thuộc các nước cộng hòa Nam Tư cũ);

7. Vùng biển ở Cyprus (Hy Lạp Thổ Nhĩ Kỳ);

8. Các vùng biển đảo tranh chấp khu vực Biển Đông như Trường Sa, Hoàng Sa.

Khu biển đặc biệt nhậy cảm - PSSA

PSSA là một khu vực cần bảo vệ đặc biệt thông qua các hành động của tổ chức Hàng hải quốc tế (IMO). Đây là vùng biển có giá trị cao về sinh thái, kinh tế - xã hội, khoa học và có thể dễ bị tổn thương hoặc thiệt hại do các hoạt động hàng hải quốc tế.

PSSA được xem như là một công cụ chính trong chiến lược phát triển bền vững biển của IMO, phối hợp nhiều công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển và là một công cụ bảo vệ khu vực biển rộng có nhiều giá trị về tài nguyên môi trường khỏi các mối đe dọa hàng hải cụ thể. Nó cũng là sự lựa chọn của nhiều quốc gia, khu vực và toàn thế giới. Đã có 12 PSSA chính thức trên thế giới đã được công nhận từ năm 1990 và chứng minh được lợi ích của công cụ này trong quản lý môi trường biển - hàng hải quốc tế. Vùng thứ 13 - Bonifacio (Pháp - I-ta-li-a) đã được công nhận về nguyên tắc.

Trong số đó có các vùng:

- Wadden Sea (ba nước Đan Mạch, Hà Lan, Đức) năm 2002;

-  Biển Ban-tích (tám nước Lát-vi-a, Thụy điển, Ét-xtô-ni-a, Lít-va, Phần Lan, Đan Mạch, Đức, Ba Lan) năm 2005;

- Vùng ven các nước Tây Âu (bốn nước Bỉ, Pháp, Ai-len, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Anh) năm 2004;

- Eo Bonifacio (hai nước Pháp - I-ta-li-a) năm 2010;

- Eo biển Torres  (hai nước Ô-xtrây-li-a và Pa-pua Niu Ghi-nê) năm 2005.

Đánh giá hiện trạng, phân vùng và đề xuất mô hình HTQT các vùng cận biên của biển Việt Nam

Hiện nay vùng biển Việt Nam có một di sản thế giới, một khu RAMSAR, sáu khu dự trữ sinh quyển thế giới UNESCO, 16 khu bảo tồn biển MPA quốc gia (hình 1).

Việt Nam đã và đang tích cực hội nhập quốc tế toàn diện nên việc thiết lập các TBMPA là những bước đi đúng đắn trong công tác bảo vệ môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học. Khu Bảo tồn biển xuyên biên giới đầu tiên (TPA) đang được tiến hành trên đất liền - khu bảo tồn xuyên biên giới (Chư Mom Ray-Virachay - Dong Am Phan) - (Việt Nam - Lào - Cam-pu-chia) - bảo vệ thiên nhiên dãy Trường Sơn.

Các vùng biển cận biên của Việt Nam dựa theo các quyết định, chính sách về bảo tồn biển, đa dạng sinh học biển có thể được phân chia ra bốn khu vực cận biên:

Khu vực vịnh Bắc Bộ

Hiện có bốn khu bảo tồn biển quốc gia đã được thành lập gồm: Khu bảo tồn biển Đảo Trần (Quảng Ninh), Khu bảo tồn biển Cô Tô (Quảng Ninh), Khu bảo tồn Bạch Long Vỹ (Hải Phòng),  Khu bảo tồn biển Cồn Cỏ (Quảng Trị).

Các vùng biển cận biên tại vịnh Bắc Bộ hiện không còn tranh chấp về biên giới - lãnh thổ với Trung Quốc, bởi vậy ta có thể đề xuất với Trung Quốc một số hình thức hợp tác sau:

- Xây dựng một số TBMPA hoặc PSSA thí điểm phía Bắc vịnh;

Xây dựng TBMPA hay PSSA thuộc dải ven biển Việt Nam và Trung Quốc;

- Xây dựng toàn vịnh Bắc Bộ thành một TBMPA hay PSSA.

Khu vực biển quần đảo Hoàng Sa

Vùng này có tính đa dạng sinh học cao, tuy còn vấn đề tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc, nhưng Việt Nam có thể đề xuất xây dựng MPP tại khu vực này.


Các khu bảo tồn biển của Việt Nam


Khu vực quần đảo Trường Sa

Khu vực này gồm có: Khu bảo tồn biển Nam Yết, quần đảo Trường Sa (Khánh Hòa) và đang đề xuất thêm khu bảo tồn biển Đảo Thuyền Chài.

Vùng biển đảo Trường Sa đang có sự tham gia và chiếm giữ các đảo của nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ như Trung Quốc; Việt Nam, Phi-líp-pin, Ma-lai-xi-a, Bru-nây và Đài Loan. Các quốc gia ASEAN và Trung Quốc đã ký kết Tuyên bố ứng xử của các bên liên quan tại Biển Đông (DOC), tuy nhiên các xung đột, va chạm vẫn thường xuyên xảy ra và rất khó sớm có giải pháp chính trị để phân chia lãnh thổ biển rõ ràng. Trong bối cảnh đó, Việt Nam có thể đưa ra một đề xuất để các bên liên quan sớm xem xét: lồng ghép mô hình hợp tác MPP Trường Sa cho tiểu vùng hay toàn vùng biển quần đảo Trường Sa như là một bước tiến trong công tác bảo tồn thiên nhiên.

Khu vực vịnh Thái Lan

Gồm: Khu bảo tồn đảo Phú Quốc (Kiên Giang).

Vùng cận biên này có thể đề xuất với tất cả hay riêng rẽ từng quốc gia Cam-pu-chia, Ma-lai-xi-a, Thái Lan để xây dựng TBMPA hay PSSA.

Thảo luận và kiến nghị

Việt Nam chưa có kế hoạch xây dựng TBMPA, MPP, PSSA với các quốc gia láng giềng. Lợi ích của TBMPA là bảo vệ môi trường biển, đa dạng sinh học biển và hợp tác quốc tế vì hòa bình - hữu nghị, đặc biệt đối với các vùng biển cận biên. Công tác bảo tồn và bảo vệ tài nguyên biển của Việt Nam tại các vùng biển cận biên còn chưa có tính liên thông quốc tế. Môi trường biển lại không có biên giới như trên đất liền mà liên kết chặt chẽ với các vùng biển quốc gia lân cận. Vì vậy, để thúc đẩy HTQT, việc lựa chọn mô hình hợp tác phù hợp là rất quan trọng cho các vùng biển cận biên nhằm tuân thủ các công ước, điều ước quốc tế về biển, về môi trường và đa dạng sinh học. Từ đây, có thể xem xét một số gợi ý sau:

Một là, trên cơ sở chính sách chung, Việt Nam cần có sự cụ thể hóa chính sách sao cho phù hợp riêng với từng vùng: vịnh Bắc Bộ, Hoàng Sa, Trường Sa, vịnh Thái Lan nhằm định hướng cho công tác bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và khai thác tài nguyên biển hợp lý ở mỗi vùng này;

Hai là, nghiên cứu, cập nhật kinh nghiệm về hoạch định và triển khai chính sách cho các vùng biển cận biên trên thế giới làm cơ sở khoa học cho đàm phán ngoại giao song phương và đa phương về các vấn đề liên quan tới vùng lãnh hải của Việt Nam;

Ba là, các cơ quan quản lý về biển như Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và các bộ ngành liên quan thiết lập cơ chế HTQT để phục vụ nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc thiết lập các vùng TBMPA với các nước lân cận, lựa chọn và phát triển các mô hình, công cụ HTQT phù hợp trong bảo vệ chủ quyền và tài nguyên, môi trường biển. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.  Sandwith, T. and ext., Transboundary marine protected areas for Peace and Cooperation. IUCN, Cambridge, UK., 2001, www.iucn.org.

2.  WWF, Towards a framework for Transboundary marine protected areas, 2006, pp. 33.

3. IMO, PSSA guidelines, 2007.

4. Quyết định số 742/QĐ-TTg của Chính phủ ngày 26/5/2010 về việc Phê duyệt Quy hoạch hệ thống khu bảo tồn biển Việt Nam đến năm 2020. 

TS. Dư Văn Toán

Bài viết đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, Học viện Ngoại giao, số 3 (86), tháng 9/2011

 

 

Các bằng chứng lịch sử, đặc biệt là pháp lý cho thấy chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa.

Việt Nam có chủ quyền không thể tranh cãi đối với Hoàng Sa

LTS: Ngày 19/1/2011, mạng Văn phòng Báo chí Quốc vụ viện Trung Quốc (www.scio.gov.cn) đăng tin dưới dạng sự kiện về việc Trung Quốc chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam với nội dung như sau: "Ngày 19/1/1974, quân và dân quần đảo Tây Sa của ta (Trung Quốc) tiến hành tự vệ phản kích nguỵ quân miền Nam Việt Nam - kẻ đã liên tục xâm phạm lãnh hải, không phận, cướp chiếm các đảo và gây thương vong cho ngư dân ta, bảo vệ được chủ quyền lãnh thổ".

Để rộng đường dư luận, Tuần Việt Nam cung cấp thêm một tư liệu khẳng định các bằng chứng lịch sử và pháp lý không thể tranh cãi chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa.

Chủ quyền lịch sử của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Từ lâu nhân dân Việt Nam đã phát hiện quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, Nhà nước Việt Nam đã chiếm hữu và thực hiện chủ quyền của mình đối với hai quần đảo đó một cách thật sự, liên tục và hoà bình.

Nhiều sách địa lý và bản đồ cổ của Việt Nam ghi chép rõ Bãi Cát Vàng, Hoàng Sa, Vạn lý Hoàng Sa, Đại Trường Sa hoặc Vạn lý Trường Sa từ lâu đã là lãnh thổ Việt Nam.

Toàn tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư, tập bản đồ Việt Nam do Đỗ Bá, tên chữ là Công Đạo, soạn vẽ vào thế kỷ XVII, ghi rõ trong lời chú giải bản đồ vùng Phủ Quảng Ngãi, xứ Quảng Nam: "giữa biển có một bãi cát dài, gọi là Bãi Cát Vàng", "Họ Nguyễn[1] mỗi năm vào tháng cuối mùa Đông đưa mười tám chiếc thuyền đến lấy hoá vật, được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng đạn".


Trong Giáp Ngọ bình nam đồ, bản đồ xứ Đàng Trong do Đoán quận công Bùi Thế Đạt vẽ năm 1774, Bãi Cát Vàng cũng được vẽ là một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam.[2]

Phủ biên tạp lục, cuốn sách của nhà bác học Lê Quý Đôn (1726-1784) biên soạn năm 1776, viết về lịch sử, địa lý, hành chính xứ Đàng Trong dưới thời chúa Nguyễn (1558-1775) khi ông được triều đình bổ nhiệm phục vụ tại miền Nam, chép rõ đảo Đại Trường Sa (tức Hoàng Sa và Trường Sa) thuộc phủ Quảng Ngãi.


"Xã An Vĩnh,[3] huyện Bình Sơn, Phủ Quảng Nghĩa, ở ngoài cửa biển có núi[4] gọi là Cù lao Ré, rộng hơn 30 dặm[5] có phường Tứ Chính, dân cư trồng đậu, ra biển bốn canh thì đến, phía ngoài nữa lại có đảo Đại Trường Sa. Trước kia có nhiều hải vật và hoá vật của tầu, lập đội Hoàng Sa để lấy, đi ba ngày đêm mới đến, là chỗ gần xứ Bắc Hải".

"... Phủ Quảng Ngãi, huyện Bình Sơn có xã An Vĩnh, ở gần biển, ngoài biển về phía Đông Bắc có nhiều cù lao, các núi linh tinh hơn 130 ngọn, cách nhau bằng biển, từ hòn này sang hòn kia hoặc đi một ngày hoặc vài canh thì đến. Trên núi có chỗ có suối nước ngọt. Trong đảo có bãi cát vàng, dài ước hơn 30 dặm, bằng phẳng rộng lớn, nước trong suốt đáy. Trên đảo có vô số yến sào; các thứ chim có hàng nghìn, hàng vạn, thấy người thì đậu vòng quanh không tránh. Trên bãi vật lạ rất nhiều. Ốc vân thì có ốc tai voi to như chiếc chiếu, bụng có hạt to bằng đầu ngón tay, sắc đục, không như ngọc trai, cái vỏ có thể đẽo làm tấm bài được, lại có thể nung vôi xây nhà; có ốc xà cừ, để khảm đồ dùng; lại có ốc hương. Các thứ ốc đều có thể muối và nấu ăn được. Đồi mồi thì rất lớn. Có con hải ba, tục gọi là Trắng bông, giống đồi mồi, nhưng nhỏ hơn, vỏ mỏng có thể khảm đồ dùng, trứng bằng đầu ngón tay cái, muối ăn được. Có hải sâm tục gọi là con đột đột, bơi lội ở bến bãi, lấy về dùng vôi sát qua, bỏ ruột phơi khô, lúc ăn thì ngâm nước cua đồng, cạo sạch đi, nấu với tôm và thịt lợn càng tốt.

Các thuyền ngoại phiên bị bão thường đậu ở đảo này. Trước họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng ba nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn sáu tháng, đi bằng 5 chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển 3 ngày 3 đêm thì đến đảo ấy. Ở đấy tha hồ bắt chim bắt cá mà ăn. Lấy được hoá vật của tầu, như là gươm ngựa, hoa bạc, tiền bạc, vòng sứ, đồ chiên, cùng là kiếm lượm vỏ đồi mồi, vỏ hải ba, hải sâm, hột ốc vân rất nhiều. Đến kỳ tháng tám thì về, vào cửa Eo, đến thành Phú Xuân để nộp, cân và định hạng xong mới cho đem bán riêng các thứ ốc vân, hải ba, hải sâm, rồi lĩnh bằng trở về. Lượm được nhiều ít không nhất định, cũng có khi về người không. Tôi đã xem số của cai đội cũ là Thuyên Đức Hầu biên rằng: năm Nhâm Ngọ lượm được 30 hốt bạc; năm Giáp Thân được 5.100 cân thiếc; năm Ất Dậu được 126 hốt bạc; từ năm Kỷ Sửu đến năm Quý Tỵ năm năm ấy mỗi năm chỉ được mấy tấm đồi mồi, hải ba. Cũng có năm được thiếc khối, bát sứ và hai khẩu súng đồng mà thôi.

Họ Nguyễn lại đặt đội Bắc Hải, không định bao nhiêu suất, hoặc người thôn Thứ Chính ở Bình Thuận, hoặc người xã Cảnh Dương, ai tình nguyện đi thì cấp giấy sai đi, miễn cho tiền sưu cùng các tiền tuần đò, cho đi thuyền câu nhỏ ra các xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo ở Hà Tiên, tìm lượm vật của tầu và các thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm, cũng sai cai đội Hoàng Sa kiêm quản. Chẳng qua là lấy các thứ hải vật, còn vàng bạc của quý ít khi lấy được".

Trong số tư liệu còn tìm thấy ngày nay, có thể kể tờ sai sau đây đề năm 1786 của quan Thượng tướng công:

"Sai cai Hội Đức Hầu đội Hoàng Sa dẫn bốn chiếc thuyền câu vượt biển đến thẳng Hoàng Sa và các cù lao trên biển thu lượm đồ vàng bạc, đồ đồng và đại bác, tiểu bác[6], đồi mồi, hải ba cùng cá quý mang về kinh đô dâng nộp theo lệ".

Giám mục J.L.Taberd, trong bài "Ghi chép về địa lý nước Cochinchine" xuất bản năm 1837, cũng mô tả "Pracel hay Paracels" là phần lãnh thổ nước Cochinchine và nói rõ người Cochinchine gọi Pracel hay Paracels là "Cát Vàng".[7] Trong An Nam đại quốc hoạ đồ xuất bản năm 1838, ông đã vẽ một phần của Paracel và ghi "Paracel hay Cát Vàng" (Paracel seu Cát Vàng) ở ngoài các đảo ven bờ miền Trung Việt Nam, vào khu vực quần đảo Hoàng Sa hiện nay[8].


Đại Nam nhất thống toàn đồ, bản đồ nước Việt Nam đời Nguyễn vẽ vào khoảng năm 1838, ghi "Hoàng Sa" (số 1) - "Vạn lý Trường Sa" (số 2) thuộc lãnh thổ Việt Nam, phía ngoài các đảo ven bờ miền Trung Việt Nam thuộc lãnh thổ Việt Nam.


Đại Nam nhất thống chí, bộ sách địa lý Việt Nam do Quốc Sử quán nhà Nguyễn (1802-1845) soạn xong năm 1882[9] ghi Hoàng Sa là bộ phận lãnh thổ Việt Nam tại tỉnh Quảng Ngãi.


Đoạn nói về hình thể tỉnh Quảng Ngãi, cuốn sách viết:

"Phía Đông tỉnh Quảng Ngãi, có đảo cát (tức đảo Hoàng Sa liền cát với biển làm hào; phía tây nam miền sơn man, có luỹ dài vững vàng, phía nam liền với tỉnh Bình Định, có đèo Bến Đá chắn ngang, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam, có ghềnh Sa Thổ làm giới hạn..."

"... Đầu đời vua Gia Long phỏng theo lệ cũ đặt đội Hoàng Sa, sau lại bỏ; đầu đời Minh Mệnh, thường sai người đi thuyền công đến đấy thăm dò đường biển, thấy một nơi có cồn cát trắng chu vi 1.070 trượng, cây cối xanh tốt, giữa cồn cát có giếng, phía Tây Nam còn có ngôi miếu cổ, không rõ dựng từ thời nào, có bia khắc 4 chữ "Vạn lý Ba Bình" (muôn dặm sóng yên). Cồn cát này xưa gọi là Phật Tự Sơn, phía đông và phía tây đảo đều có đá san hô nổi lên một cồn chu vi 340 trượng, cao 1 trượng 2 thước ngang với cồn cát, gọi là Bàn Than Thạch. Năm Minh Mệnh thứ 16 sai thuyền công chở gạch đá đến đấy xây đền, dựng bia đá ở phía tả đền để ghi dấu và tra hột các thứ cây ở ba mặt tả hữu và sau. Binh phu đắp nền miếu đào được đồng lá và gang sắt có đến hơn 2.000 cân".

Nhiều nhà hàng hải, giáo sĩ Phương Tây trong những thế kỷ trước đều xác nhận Hoàng Sa (Pracel hay Paracel) thuộc lãnh thổ Việt Nam.

Một giáo sĩ Phương Tây đi trên tàu Amphitrite từ Pháp sang Trung Quốc năm 1701 viết trong một lá thư rằng: "Paracel là một quần đảo thuộc vương quốc An Nam[10].

J.B. Chaigneau, cố vấn của vua Gia Long, năm 1820 đã viết trong phần chú bổ sung vào cuốn Hồi ký về nước Cochinchine[11]:

"Nước Cochinchine mà nhà vua bấy giờ đã lên ngôi Hoàng đế gồm xứ Cochinchine và xứ Đông Kinh[12]... một vài đảo có dân cư không xa bờ biển và quần đảo Paracel do những đảo nhỏ, ghềnh và đá không có dân cư hợp thành...".[13]

Trong bài Địa lý vương quốc Cochinchina[14] của Gutzlaff, xuất bản năm 1849 có đoạn nói rõ Paracels thuộc lãnh thổ Việt Nam và chú thích cả tên Việt Nam là "Cát Vàng".

Với tư cách là người làm chủ, trong nhiều thế kỷ nhà nước phong kiến Việt Nam đã nhiều lần tiến hành điều tra khảo sát địa hành và tài nguyên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Các sách địa lý và lịch sử của Việt Nam từ thế kỷ XVII đã ghi lại kết quả các cuộc khảo sát đó.

Trong Toàn tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư (thế kỷ XVII):

"Giữa biển có một bãi cát dài, gọi là Bãi Cát Vàng, dài độ 400 dặm, rộng 20 dặm, đứng dựng giữa biển, từ cửa Đại Chiêm[15] đến cửa Sa Vinh[16] mỗi lần có gió Tây Nam thì thương thuyền các nước đi ở phía trong trôi dạt ở đấy, ... có gió Đông Bắc thì thương thuyền đi ở phía ngoài cũng trôi dạt ở đấy, đều cùng chết đói hết cả, hàng hoá thì đều để lại ở nơi đó"[17].

"Họ Nguyễn mỗi năm vào tháng cuối mùa đông đưa 18 chiếc thuyền đến (Bãi Cát Vàng) lấy hoá vật, được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng đạn".

Đại Nam thực lục tiền biên, bộ sử về chúa Nguyễn do Quốc sứ quán nhà Nguyễn soạn xong năm 1844, có đoạn viết:

"Xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, Phủ Quảng Ngãi, ở ngoài biển, có hơn 130 bãi cát, cách nhau hoặc một ngày đường hoặc vài trống canh, kéo dài không biết mấy ngàn dặm, tục gọi là Vạn lý Hoàng Sa. Trên bãi có giếng nước ngọt. Sản vật có hải sâm, đồi mồi, ốc hoa, vích v.v...".

"Hồi đầu dựng nước, đặt đội Hoàng Sa gồm 70 người, lấy dân xã An Vĩnh sung vào, hàng năm đến tháng 3 đi thuyền ra đảo, độ ba ngày đêm thì đến, thu lượm hoá vật, đến tháng 8 trở về nộp. Lại có đội Bắc Hải mộ dân ở phường Tứ Chính ở Bình Thuận hoặc xã Cảnh Dương sung vào, được lệnh đi thuyền ra các vùng Bắc Hải, Côn Lôn thu lượm hoá vật. Đội này cũng do đội Hoàng Sa kiêm quản".

Theo Đại Nam thực lục chính biên, là bộ sử ký do Quốc sử quán triều đình nhà Nguyễn soạn, viết về các đời vua nhà Nguyễn. Phần viết về các đời vua Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị được soạn xong năm 1848, ghi sự kiện Gia Long chiếm hữu các đảo Hoàng Sa năm 1816, sự kiện Minh Mệnh cho xây miếu, dựng bia trồng cây, đo đạc, vẽ bản đồ các đảo này[18].

Quyển 52:

"Năm Bính Tý, niên hiệu Gia Long thứ 15 (1816)...

Vua phái Thuỷ quân và đội Hoàng Sa cưỡi thuyền ra Hoàng Sa để thăm dò đường thuỷ".

Quyển 104:

"Tháng tám mùa thu năm Quý Tỵ, Minh Mệnh thứ 14 (1833)...

Vua bảo Bộ Công rằng: Trong hải phận Quảng Ngãi, có một dải Hoàng Sa, xa trông trời nước một mầu, không phân biệt được nông hay sâu. Gần đây, thuyền buôn thường (mắc cạn) bị hại. Nay nên dự bị thuyền mảnh, đến sang năm sẽ phái người tới đó dựng miếu, lập bia và trồng nhiều cây cối. Ngày sau cây cối to lớn xanh tốt, người dễ nhận biết ngõ hầu tránh khỏi được nạn mắc cạn. Đó cũng là việc lợi muôn đời".

Quyển 154:

"Tháng sáu mùa hạ năm Ất Mùi, Minh Mệnh thứ 16 (1835)... dựng đền thờ thần (ở đảo) Hoàng Sa thuộc Quảng Ngãi, Hoàng Sa ở hải phận Quảng Ngãi, có một chỗ nổi cồn cát trắng, cây cối xanh um, giữa cồn cát có giếng, phía Tây Nam có miếu cổ, có tấm bài khắc 4 chữ "Vạn Lý Ba Bình"[19]. Cồn Bạch Sa chu vi 1.070 trượng, tên cũ là Phật Tự Sơn, bờ đông, tây, nam đều đá san hô thoai thoải uốn quanh mặt nước. Phía bắc, giáp với một cồn toàn đá san hô, sừng sững nổi lên, chu vi 340 trượng, cao 1 trượng 3 thước, ngang với cồn cát, gọi là Bàn Than Thạch. Năm ngoái vua toan dụng miếu, lập bia ở chỗ ấy, nhưng vì sóng gió không làm được. Đến đây mới sai cai đội thuỷ quân Phạm Văn Nguyên đem lính và Giám thành cùng phu thuyền hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, chuyên chở vật liệu đến dựng miếu (cách toà miếu cổ 7 trượng). Bên tả miếu dựng bia đá; phía trước miếu xây bình phong. Mười ngày làm xong rồi về".

Quyển 165:

"Năm Bính Thân, niên hiệu Minh Mệnh thứ 17 (1836), mùa xuân, tháng giêng, ngày mồng 1...

Bộ Công tâu: Cương giới mặt biển nước ta có xứ Hoàng Sa rất là hiểm yếu. Trước kia, đã phái vẽ bản đồ mà hình thể nó xa rộng, mới chỉ được một nơi, cũng chưa rõ ràng. Hàng năm, nên phái người đi dò xét cho khắp để thuộc đường biển. Từ năm nay trở về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng giêng, xin phái thuỷ quân và vệ Giám thành đáp một chiếc thuyền ô, nhằm thượng tuần tháng hai thì đến Quảng Ngãi, bắt hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định thuê 4 chiếc thuyền của dân, hướng dẫn ra đúng xứ Hoàng Sa, không cứ là đảo nào, hòn nào, bãi cát nào; khi thuyền đi đến, cũng xét xem xứ ấy chiều dài, chiều ngang, chiều cao, chiều rộng, chu vi, và nước biển xung quanh nông hay sâu, có bãi ngầm, đá ngầm hay không, hình thể hiểm trở, binh dị thế nào, phải tường tất đo đạc, vẽ thành bản đồ. Lại xét ngày khởi hành, từ cửa biển nào ra khơi, nhằm phương hướng nào đi đến xứ ấy, căn cứ vào đường đi, tính ước được bao nhiêu dặm. Lại từ xứ ấy, trông vào bờ biển, đối thẳng vào là tỉnh hạt nào, phương hướng nào, đối chênh chếch là tỉnh hạt nào, phương hướng nào, cách bờ biển chừng bao nhiêu dặm. Nhất nhất nói rõ, đem về dâng trình".

"Vua y lời tâu, phái Suất đội Thuỷ quân Phạm Hữu Nhật đem binh thuyền đi, chuẩn cho mang theo 10 cái bài gỗ, đến nơi đó dựng làm dấu ghi (mỗi bài gỗ dài 5 thước, rộng 5 tấc, dày 1 tấc, mặt bài khắc những chữ "Minh Mệnh thứ 17, năm Bính Thân, thuỷ quân Chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật, vâng mệnh đi Hoàng Sa trông nom đo đạc đến đây lưu dấu để ghi nhớ").






Cũng trong Đại Nam thực lục chính biên có ghi, năm 1847 Bộ Công đệ trình lên vua Thiệu Trị tờ Tâu, trong đó có viết: Xứ Hoàng Sa thuộc vùng biển nước ta. Theo lệ hàng năm có phái binh thuyền ra xem xét thông thuộc đường biển. Năm nay bận nhiều công việc xin hoãn đến năm sau. Vua Thiệu Trị đã phê: "Đình".


Trong Đại Nam nhất thống chí (1882):

"Đảo Hoàng Sa: ở phía Đông cù lao Ré huyện Bình Sơn. Từ bờ biển Sa Kỳ ra khơi thuận gió, ba bốn ngày đêm có thể đến. Ở đó có đến hơn một trăm ba mươi đảo nhỏ, cách nhau hoặc một ngày đường hoặc vài trống canh. Trong đảo có bãi cát vàng, liên tiếp kéo dài không biết mấy ngàn dặm tục gọi là Vạn lý Trường Sa. Trên bãi có giếng nước ngọt, chim biển tụ tập không biết cơ man nào. Sản xuất nhiều hải sâm, đồi mồi, ốc hoa, vích... Hoá vật của các tầu thuyền bị nạn bão trôi giạt ở đấy".

Các sách khác thời Nguyễn như Lịch triều hiến chương loại chí (1821), Hoàng Việt địa dư chí (1833), Việt sử cương giám khảo lược (1876) cũng mô tả Hoàng Sa một cách tương tự.

Do đặc điểm của Hoàng Sa và Trường Sa là có nhiều hải sản quý lại có nhiều hoá vật của tàu bị đắm như trên đã nói, Nhà nước phong kiến Việt Nam từ lâu đã tổ chức việc khai thác hai quần đảo đó với tư cách một quốc gia làm chủ. Nhiều sách lịch sử và địa lý cổ của Việt Nam đã nói rõ tổ chức, phương thức hoạt động của các đội Hoàng Sa có nhiệm vụ làm việc khai thác đó.

Kế tiếp các chúa Nguyễn, nhà Tây Sơn phải liên tiếp đối phó với sự xâm lược của nhà Thanh và của Xiêm, tuy vậy vẫn luôn luôn quan tâm đến việc duy trì và sử dụng các đội Hoàng Sa.

Nghĩa là thời Tây Sơn, Nhà nước vẫn tiếp tục tổ chức việc thai thác Hoàng Sa với ý thức thực hiện chủ quyền của mình đối với Hoàng Sa.

Từ khi nắm chính quyền năm 1802 đến khi ký với Pháp Hiệp ước 1884, các vua nhà Nguyễn ra sức củng cố chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Đội Hoàng Sa, sau được tăng cường thêm đội Bắc Hải, được duy trì và hoạt động liên tục từ thời các chúa Nguyễn (1558-1783) đến nhà Tây Sơn (1786-1802) và nhà Nguyễn (1802-1945).

Như vậy qua các sách lịch sử, địa lý cổ của Việt Nam cũng như chứng cứ của nhiều nhà hàng hải, giáo sĩ Phương Tây nói trên từ lâu và liên tục trong hàng mấy trăm năm, từ triều đại này đến triều đại khác Nhà nước Việt Nam đã làm chủ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Sự có mặt đều đặn của các đội Hoàng Sa do Nhà nước thành lập trên hai quần đảo đó mỗi năm từ 5 đến 6 tháng để hoàn thành một nhiệm vụ do Nhà nước giao tự nó đã là một bằng chứng đanh thép về việc Nhà nước Việt Nam thực hiện chủ quyền của mình đối với hai quần đảo đó. Việc chiếm hữu và khai thác đó của Nhà nước Việt Nam không bao giờ gặp phải sự phản đối của một quốc gia nào khác; điều đó càng chứng tỏ từ lâu quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa đã là lãnh thổ Việt  Nam.

Việc nước Pháp nhân danh Nhà nước Việt Nam tiếp tục thực hiện chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa

Từ khi ký với triều đình nhà Nguyễn Hiệp ước 6-6-1884, Pháp đại diện quyền lợi của Việt Nam trong quan hệ đối ngoại và việc bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Trong khuôn khổ sự cam kết chung đó, Pháp tiếp tục thực hiện chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Sau đây là một vài bằng chứng:

Các pháo hạm của Pháp thường xuyên tiến hành tuần tiễu trong vùng Biển Đông kể cả Hoàng Sa và Trường Sa.

Năm 1899 toàn quyền Đông Dương Paul Doumer đề nghị với Pari xây tại đảo Hoàng Sa (Pattle) trong quần đảo Hoàng Sa một cây đèn biển để hướng dẫn các tàu biển qua lại vùng này, nhưng kế hoạch không thực hiện được vì thiếu ngân sách.

Từ năm 1920, các tàu hải quan Đông Dương tăng cường tuần tiễu ở vùng Hoàng Sa để ngăn chặn buôn lậu.

Năm 1925, viện Hải dương học Nha Trang cử tàu De Lanessan ra khảo sát ở quần đảo Hoàng Sa về hải dương học. Ngoài A. Krempf, Giám đốc Viện hải dương học, còn có các nhà khoa học khác như Delacour, Jabouille... nghiên cứu về địa chất, về sinh vật v.v...

Cũng trong năm 1925, ngày 3-3, Thượng thư Bộ Binh của Triều đình Huế Thân Trọng Huề lại khẳng định Hoàng Sa là lãnh thổ Việt Nam.

Năm 1927 tàu De Lanessan ra khảo sát khoa học quần đảo Trường Sa.

Năm 1929 phái đoàn Perrier - De Rouville đề nghị đặt 4 cây đèn biển ở 4 góc của quần đảo Hoàng Sa (đảo Tri Tôn, đảo Đá Bắc, đảo Linh Côn, bãi Bom Bay).

Năm 1930 tàu thông báo La Malicieuse tới quần đảo Hoàng Sa.

Tháng 3-1931 tàu Inconstant ra quần đảo Hoàng Sa.

Tháng 6-1931, tàu De Lanessan ra quần đảo Hoàng Sa.

Tháng 5-1932, pháo hạm Alerte ra quần đảo Hoàng Sa.

Từ 13-4-1930, đến 12-4-1933, Chính phủ Pháp đã cử các đơn vị hải quân lần lượt ra đóng các đảo chính trong quần đảo Trường Sa: Trường Sa (Spratley), An Bang (Caye d'Amboine), Itu Aba, nhóm Song Tử (groupe des deux iles)[20], Loại Ta và Thị Tứ.

Ngày 21-12-1933, thống đốc Nam Kỳ M. J. Krautheimer ký Nghị định sáp nhập các đảo Trường Sa, An Bang, Itu Aba, nhóm Song Tử, Loại Ta và Thị Tứ vào địa phận tỉnh Bà Rịa[21].

Năm 1937, nhà đương cục Pháp cử kỹ sư công chính Gauthier ra quần đảo Hoàng Sa nghiên cứu chỗ xây dựng đèn biển, lập bãi thuỷ phi cơ.

Tháng 2-1937 tuần dương hạm Lamotte Piquet do Phó đô đốc Istava chỉ huy thăm quần đảo Hoàng Sa.


Ngày 29-3-1938, vua Bảo Đại ký Dụ tách quần đảo Hoàng Sa khỏi địa hạt tỉnh Nam Nghĩa đặt vào tỉnh Thừa Thiên[22].


"Chiếu chỉ các Cù lao Hoàng Sa (Archipel des iles Paracels) thuộc về chủ quyền nước Nam đã lâu đời và dưới các tiền triều, các Cù lao ấy thuộc về địa hạt tỉnh Nam Nghĩa: đến đời Đức Thế Tổ Cao Hoàng Đế vẫn để y như cũ là vì nguyên trước sự giao thông với các Cù lao ấy đều do các cửa bể tỉnh Nam Nghĩa.

Chiếu chỉ nhờ sự tiến bộ trong việc hàng hải nên việc giao thông ngày nay có thay đổi, vả lại viên Đại diện Chánh phủ Nam triều uỷ phái ra kinh lý các cù lao ấy cùng quan Đại diện Chánh phủ bảo hộ có tâu rằng nên tháp các cù lao Hoàng Sa vào địa hạt tỉnh Thừa Thiên thời được thuận tiện hơn.

Dụ:

Độc khoản: - Trước chuẩn tháp nhập các cù lao Hoàng Sa (Archipel des iles Paracels) vào địa hạt tỉnh Thừa Thiên: về phương diện hành chánh, các cù lao ấy thuộc dưới quyền quan Tỉnh hiến tỉnh ấy".

Ngày 15-6-1938 toàn quyền Đông Dương Jules Brévié ký Nghị định thành lập một đơn vị hành chính tại quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Thừa Thiên[23].

Năm 1938, Pháp dựng bia chủ quyền, xây dựng xong đèn biển, trạm khí tượng, đài vô tuyến điện ở đảo Hoàng Sa (Ile Pattle), trong quần đảo Hoàng Sa, xây dựng trạm khí tượng, đài vô tuyến điện ở đảo Itu Aba trong quần đảo Trường Sa.

Hàng chữ trên bia: "Cộng hoà Pháp, Vương quốc An-nam, quần đảo Hoàng Sa, 1816 - đảo Pattle - 1938" (1816 là năm vua Gia Long thực hiện chủ quyền của Việt Nam đối với các đảo Hoàng Sa, 1938 là năm dựng bia).


Ngày 5-5-1939 toàn quyền Đông Dương Jules Brévié ký Nghị định sửa đổi nghị định ngày 15-6-1938 nói trên và thành lập tại quần đảo Hoàng Sa hai cơ quan đại lý "Croissant và các đảo phụ thuộc", "Amphitrite và các đảo phụ thuộc"[24].


Suốt trong thời gian đại diện Việt Nam về mặt đối ngoại, Pháp luôn luôn khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và phản kháng những hành động xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam ở hai quần đảo đó như:

Ngày 4-12-1931 và ngày 24-4-1932, Pháp phản kháng Chính phủ Trung Quốc về việc chính quyền Quảng Đông lúc đó có ý định cho đấu thầu khai thác phân chim trên quần đảo Hoàng Sa.

Ngày 24-7-1933, Pháp thông báo cho Nhật việc Pháp đưa quân ra đóng các đảo chính trong quần đảo Trường Sa;

Ngày 4-4-1939, Pháp phản kháng Nhật đặt một số đảo trong quần đảo Trường Sa thuộc quyền tài phán của Nhật.

Việc bảo vệ và thực hiện chủ quyền của Việt Nam đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay

Khi trở lại Đông Dương sau chiến tranh thế giới thứ hai, đầu năm 1947 Pháp đã yêu cầu quân Trung hoa Dân Quốc rút khỏi các đảo của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà họ đã chiếm đóng trái phép cuối năm 1946 và Pháp đã cho quân đến thay thế quân đội Trung Quốc, xây dựng lại trạm khí tượng và đài vô tuyến điện.


Ngày 7-9-1951, trưởng đoàn đại biểu của Chính phủ Bảo Đại Trần Văn Hữu tuyên bố tại Hội nghị San Francisco về việc ký hoà ước với Nhật Bản rằng từ lâu quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là bộ phận của lãnh thổ Việt Nam: "... và cũng vì cần phải dứt khoát lợi dụng tất cả mọi cơ hội để dập tắt những mầm mống các tranh chấp sau này, chúng tôi khẳng định chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi đối với các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa".

Tuyên bố đó không gặp sự chống đối hoặc bảo lưu nào của đại diện 51 quốc gia tham dự Hội nghị.

Năm 1953, tàu Ingénieur en chef Girod của Pháp khảo sát ở quần đảo Hoàng Sa về hải dương, địa chất, địa lý, môi sinh.

Chính phủ Sài Gòn, sau đó là cả Chính phủ Sài Gòn và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, cũng đều thực hiện chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.

Dưới đây là một vài bằng chứng:

Năm 1956, lực lượng hải quân của Chính quyền Sài Gòn tiếp quản các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa khi Pháp rút quân về nước.

Năm 1956, Sở Hầm mỏ, kỹ nghệ và tiểu công nghiệp miền Nam tổ chức một cuộc khảo sát với sự giúp đỡ của hải quân của Chính quyền Sài Gòn trên 4 đảo: Hoàng Sa (Pattle), Quang Ảnh (Money), Hữu Nhật (Robert), Duy Mộng (Drumond).

Ngày 22-10-1956, Chính quyền Sài Gòn đặt quần đảo Trường Sa trực thuộc tỉnh Phước Tuy.

Ngày 13-7-1961, Chính quyền Sài Gòn đặt quần đảo Hoàng Sa, trước kia thuộc tỉnh Thừa Thiên, vào tỉnh Quảng Nam và thành lập tại quần đảo này một xã lấy tên là xã Định Hải, trực thuộc quận Hoà Vang và đặt dưới quyền một phái viên hành chính.

Từ 1961 đến 1963, chính quyền Sài Gòn lần lượt cho xây bia chủ quyền ở các đảo chính của quần đảo Trường Sa như: Trường Sa, An Bang, Song Tử Tây, v v...

Ngày 21-10-1969, Chính quyền Sài Gòn sáp nhập xã Định Hải vào xã Hoà Long cũng thuộc quận Hoà Vang, tỉnh Quảng Nam.

Tháng 7-1973, Viện Khảo cứu nông nghiệp thuộc Bộ Phát triển nông nghiệp và điền địa Sài Gòn tiến hành khảo sát đảo Nam Ai (Nam Yết) thuộc quần đảo Trường Sa.

Tháng 8-1973, với sự hợp tác của Công ty Nhật Maruben Corporation, Bộ Kế hoạch và phát triển quốc gia Sài Gòn tiến hành khảo sát phốt phát ở quần đảo Hoàng Sa.

Ngày 6-9-1973, Chính quyền Sài Gòn sáp nhập các đảo Trường Sa, An Bang, Itu Aba, Song Tử Đông, Song Tử Tây, Loại Ta, Thị Tứ, Nam Ai, Sinh Tồn và các đảo phụ cận vào xã Phước Hải, Quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy.

Có ý thức về chủ quyền từ lâu đời của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, các chính quyền miền Nam Việt Nam đều bảo vệ chủ quyền đó mỗi khi có nước ngoài biểu thị ý đồ tranh giành hay xâm chiếm đảo nào đó trong hai quần đảo.

Ngày 16-6-1956, Bộ Ngoại giao chính quyền Sài Gòn tuyên bố một lần nữa khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa. Đồng thời cũng trong năm này, Chính quyền Sài Gòn đã kịch liệt phản đối việc Cộng hoà nhân dân Trung Hoa chiếm nhóm đảo phía Đông quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.

Ngày 22-2-1959, Chính quyền Sài Gòn bắt giữ trong một thời gian 82 "ngư dân" Cộng hoà nhân dân Trung Hoa đổ bộ lên các đảo Hữu Nhật, Duy Mộng và Quang Hoa trong quần đảo Hoàng Sa.

Ngày 20-4-1971, Chính quyền Sài Gòn khẳng định một lần nữa quần đảo Trường Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam.

Ngày 13-7-1971 Ngoại trưởng chính quyền Sài Gòn khẳng định một lần nữa chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo đó trong cuộc họp báo ngày 10-7-1971.

Ngày 19/1/1974, lực lượng quân sự của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa chiếm đóng nhóm Tây Nam của quần đảo Hoàng Sa và cũng trong ngày này chính quyền Sài Gòn tuyên bố lên án Cộng hoà nhân dân Trung Hoa xâm phạm toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Ngày 26-1-1974, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam tuyên bố lập trường 3 điểm về việc giải quyết các vấn đề tranh chấp lãnh thổ; ngày 14-2-1974 tuyên bố khẳng định quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam.

Ngày 5 và 6-5-1975, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam thông báo việc giải phóng các đảo ở quần đảo Trường Sa do Chính quyền Sài Gòn đóng giữ. Ngày 28-6-1974, tuyên bố tại khoá họp thứ nhất Hội nghị Luật Biển lần thứ 3 ở Caracas rằng quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là của Việt Nam.

Tháng 9-1975, Đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam tại Hội nghị khí tượng ở Colombo tuyên bố quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam và yêu cầu Tổ chức khí tượng thế giới tiếp tục ghi tên trạm khí tượng Hoàng Sa của Việt Nam trong danh mục trạm khí tượng của Tổ chức khí tượng thế giới (trước đây đã được đăng ký trong hệ thống các trạm của OMM dưới biểu số 48.860).

Nhà nước CHXHCN Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quan trọng về biển và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa như: Tuyên bố của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam năm 1977; Tuyên bố của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam năm 1982; Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1992; Nghị quyết của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ 5 năm 1994 về việc phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982; Luật Biên giới quốc gia năm 2003.

Về quản lý hành chính, năm 1982, Chính phủ Việt Nam đã quyết định thành lập huyện đảo Trường Sa thuộc tỉnh Đồng Nai và huyện đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, hiện nay, huyện Hoàng Sa thuộc thành phố Đà Nẵng và huyện Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hoà.

Chính phủ Cộng hoà xã hội chủ Nghĩa Việt Nam đã nhiều lần khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa hoặc trong các công hàm gửi các bên có liên quan, hoặc trong các tuyên bố của Bộ Ngoại giao, hoặc trong các Hội nghị của Tổ chức Khí tượng thế giới ở Genève, (tháng 6-1980), của Đại hội Địa chất thế giới ở Paris (tháng 7 năm 1980) v.v...

Nhà nước Việt Nam đã nhiều lần công bố "Sách trắng" (năm 1979, 1981, 1988) về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, khẳng định hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là một bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam, Việt Nam có đầy đủ chủ quyền đối với hai quần đảo này, phù hợp với các quy định của luật pháp và thực tiễn quốc tế.

Ngày 14-3-1988, Bộ Ngoại giao nước CHXHCN Việt Nam ra Tuyên bố lên án Trung Quốc gây xung đột vũ trang và chiếm đoạt một số bãi đá ngầm tại Trường Sa.

Tháng 4-2007, Chính phủ Việt Nam quyết định thành lập thị trấn Trường Sa, xã Song Tử Tây và xã Sinh Tồn thuộc huyện Trường Sa.

Kết luận

Từ những tư liệu lịch sử rõ ràng, và căn cứ vào những nguyên tắc của luật pháp và tập quán quốc tế, có thể rút ra kết luận sau đây:

1. Từ lâu, Nhà nước Việt Nam đã chiếm hữu thật sự quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa khi mà các quần đảo đó chưa thuộc chủ quyền của bất cứ quốc gia nào.

2. Từ thế kỷ XVII đến nay, suốt trong mấy thế kỷ, Nhà nước Việt Nam đã thực hiện một cách thật sự, liên tục và hoà bình chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

3. Nhà nước Việt Nam luôn luôn bảo vệ tích cực các quyền và danh nghĩa của mình trước mọi mưu đồ và hành động xâm phạm tới chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và quyền lợi của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

---------------------------

PHỤ LỤC

Một số tư liệu - điều ước quốc tế liên quan đến chủ quyềnhai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam

1. Tuyên bố Cai-rô ngày 27-11-1943, khi cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai bước vào giai đoạn khốc liệt nhất, hội nghị tam cường Anh - Mỹ - Trung (Cộng hòa Trung Hoa, đại diện lúc đó là Tưởng Giới Thạch) đã họp và ra một bản Tuyên bố tại Cai-rô (thủ đô Ai-Cập). Tuyên bố có đoạn viết: " ...Nhật Bản phải bị loại ra khỏi tất cả các đảo ở Thái Bình Dương mà Nhật đã cướp hoặc chiếm đóng từ khi bắt đầu cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất năm 1914 và tất cả những lãnh thổ Nhật đã chiếm của Trung Quốc như Mãn Châu Lý, Đài Loan và Bành Hồ sẽ được trả lại cho Cộng hòa Trung Hoa"[25]. Như vậy là về phần lãnh thổ của Trung Quốc, Tuyên bố Cai-rô khẳng định ý chí của các cường quốc buộc Nhật Bản phải trao trả lại cho Cộng hòa Trung Hoa các lãnh thổ mà Nhật Bản đã chiếm của Trung Quốc gồm "Mãn Châu Lý, Đài Loan và Bành Hồ", không có gì liên quan đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

2. Hội nghị Postdam ngày 26-7-1945, những người đứng đầu 3 nước Mỹ, Anh, Trung (Cộng hòa Trung Hoa) đã lại ra Tuyên ngôn khẳng định "Các điều khoản của Tuyên bố Cai-rô sẽ được thi hành". Sau khi tuyên chiến với Nhật Bản ở Viễn Đông, Liên Xô cũng tham gia Tuyên ngôn này.

Theo quyết định của Hội nghị Postdam là Trung Quốc chịu trách nhiệm giải giáp quân đội Nhật ở khu vực Bắc vĩ tuyến 16. Từ cuối năm 1946, quân đội của Tưởng Giới Thạch đến một số đảo của quần đảo Hoàng Sa và các tỉnh phía bắc Việt Nam để thực hiện việc giải giáp quân đội Nhật Bản ở đây, hoạt động này hoàn toàn không có ý nghĩa xác định hoặc thu hồi chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

3. Hội nghị San Francisco từ ngày 4 đến 8-9-1951, có đại diện 51 nước tham dự để bàn về việc ký Hòa ước với Nhật Bản. Điều 2, Chương II của Dự thảo Hòa ước được đưa ra để Hội nghị thảo luận có ghi Nhật Bản từ bỏ mọi quyền, danh nghĩa và các đòi hỏi của mình đối với các lãnh thổ được nêu rõ trong các khoản của điều này:

a) Triều Tiên;

b) Đài Loan, Bành Hồ;

c) Kurile, phần phía Nam đảo Sakhalin;

d) Các đảo ở Thái Bình Dương;

e) Châu Nam Cực;

f) Các đảo thuộc các quần đảo Spratly (Trường Sa) và Paracel (Hoàng Sa).

- Tại phiên họp toàn thể ngày 5-9-1951, Hội nghị đã tán thành quyết định của chủ tịch không chấp thuận đề nghị bổ sung đòi "Nhật Bản công nhận chủ quyền hoàn toàn của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đối với Manchuria (Mãn Châu), đảo Đài Loan (Formosa) với tất cả các đảo kế cận nó, quần đảo Penlinletao (Pescadores tức Bành Hồ), quần đảo Tunshatsuntao (quần đảo Pratas), cũng như đối với 2 quần đảo Sishatuntao và Chunshatsuntao (quần đảo Hoàng Sa, nhóm đảo Amphitrites, bãi cát ngầm Maxfield) và quần đảo Nanshatsuntao, kể cả quần đảo Trường Sa, và Nhật từ bỏ tất cả các quyền, danh  nghĩa và đòi hỏi đối với các vùng lãnh thổ nêu trong điểm này".

Quyết định này của Hội nghị đã được thông qua với 46 phiếu thuận, 3 phiếu chống, 1 phiếu trắng. Trong các nước bỏ phiếu thuận có: Ác-hen-ti-na, Ô-xtrây-li-a, Bỉ, Bô-li-vi-a, Bra-xin, Cam-pu-chia, Ca-na-đa, Xri-Lan-ca, Chi-lê, Cô-lôm-bi-a, Cô-xta Ri-ca, Cu-Ba, Đô-mi-ni-ca, Ê-cu-a-đo, Ai-cập, En Xan-va-do, E-ti-ô-pi, Pháp, Hy Lạp, Goa-tê-ma-la, Ha-i-ti, Hôn-đu-rát, In-đô-nê-xi-a, I-ran, I-rắc, Lào, Li-Băng, Li-bê-ri-a, Lúc-xăm-bua, Mê-hi-cô, Hà Lan, Tân Tây Lan, Ni-ca-ra-goa, Na-uy, Pa-ki-xtan, Pa-na-ma, Pa-ra-goay, Pe-ru, Phi-lip-pin, A-rập Xê-út, Xi-ri, Thổ Nhĩ Kỳ, Anh và Bắc Ai-Len, Mỹ, Việt Nam, Nhật Bản.

Cuối cùng, Điều 2 Chương II của Hòa ước vẫn được giữ nguyên như Dự thảo và gồm 6 khoản sau đây:

"a) Nhật Bản, trong khi công nhận nền độc lập của Triều Tiên, từ bỏ tất cả các quyền, danh nghĩa và đòi hỏi đối với Triều Tiên, kể cả các quần đảo Quelpart Port Hamilton và Dagelet.

b) Nhật Bản từ bỏ tất cả các quyền, danh nghĩa và đòi hỏi đối với vùng Formosa (Đài Loan) và Pescadores (Bành Hồ).

c) Nhật Bản từ bỏ tất cả các quyền, danh nghĩa và đòi hỏi đối với quần đảo Kurile, đảo Sakhalin và quần đảo nằm sát nước Nhật Bản mà ở đó Nhật Bản đã giành được chủ quyền theo Hiệp ước Portsmouth ngày 5-9-1905.

d) Nhật Bản từ bỏ tất cả các quyền, danh nghĩa và đòi hỏi liên quan tới chế độ uỷ trị của Hội quốc liên, và chấp nhận quyết định quyết định ngày 2-4-1947 của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc gia hạn chế độ uỷ trị đối với các đảo Thái Bình Dương trước đây dưới quyền uỷ trị của Nhật Bản.

e) Nhật Bản từ bỏ tất cả các đòi hỏi muốn có bất kỳ quyền, hoặc danh nghĩa, hoặc lợi ích nào liên quan tới bất cứ phần nào của vùng Nam Cực, dù đó là các hoạt động của các công dân Nhật Bản hoặc các hình thức khác.

f) Nhật Bản từ bỏ tất cả các quyền, danh nghĩa và đòi hỏi  đối với quần đảo Trường Sa (Spratly) và Hoàng Sa (Paracel)"[26].

- Như vậy, các vùng lãnh thổ mà Tuyên bố Cai-rô xác nhận và Hòa ước SanFrancisco khẳng định lại là của Trung Quốc chỉ bao gồm Đài Loan, Bành Hồ. Việc Hòa ước SanFrancisco tách riêng Đài Loan, Bành Hồ và Hoàng Sa, Trường Sa thành hai khoản riêng biệt (b, f) tự nó đã bao hàm ý nghĩa không công nhận Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về Trung Quốc.

Cũng tại Hội nghị San Francisco, ngày 7-9-1951, Trưởng đoàn đại biểu chính quyền Bảo Đại là Trần Văn Hữu đã tuyên bố rằng từ lâu hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là bộ phận của lãnh thổ Việt Nam và "cũng vì cần phải dứt khoát lợi dụng tất cả mọi cơ hội để dập tắt những mầm mống các tranh chấp sau này, chúng tôi khẳng định chủ quyền của chúng tôi đối với các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, những quần đảo luôn luôn thuộc về Việt Nam"[27].

Không có bất cứ một đại diện nào của 51 quốc gia tham dự Hội nghị có ý kiến phản đối hoặc bảo lưu đối với tuyên bố trên của đại diện Việt Nam tại Hội nghị.

Những tư liệu và chứng cứ kể trên cho thấy một cách rõ ràng là những văn kiện pháp lý quốc tế, từ Tuyên bố Cai-rô ngày 27-11-1943 (và Tuyên ngôn của Hội nghị Postdam ngày 26-7-1945 khẳng định lại nội dung Tuyên bố Cai-rô) đến Hòa ước San Francisco ký ngày 8-9-1951 đã không xác nhận chủ quyền của bất cứ quốc gia nào khác đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Đồng thời, việc không một quốc gia nào tại Hội nghị SanFrancisco năm 1951, phản đối hoặc bảo lưu về tuyên bố của Trưởng đoàn đại biểu Việt Nam lúc đó về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo chứng tỏ cộng đồng quốc tế đã mặc nhiên công nhận chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa./.

Theo Tuần Việt Nam



[1] Tức chúa Nguyễn, cát cứ xứ Đàng trong từ năm 1558 đến năm 1775.

[2] Trong tập Hồng Đức bản đồ.

[3] Đính trong cuốn "Từ điển La tinh - Việt Nam" (Dictionarium Latino-Anamiticum), 1838. Xem phụ lục III.

[4] "Ghi chép về địa lý nước Cochinchina" ("Note on Geography of Cochinchina") của giám mục Jean-Louis Taberd đăng trong "Tạp chí của Hội châu Á Băng-Gan" (The Journal of the Asiatic Society of Bengal) tập VI, 1837, tr.745.

[5] Chỉ loại pháo cỡ nhỏ.

[6] Dặm: Đơn vị đo lường thời xưa của Việt Nam tương đương 1/2km.

[7] Đối với người Việt Nam cũng như người Trung Quốc, chữ Hán "Sơn" có nghĩa là núi, nhưng cũng được dùng để chỉ các hải đảo. Thí dụ: Phần lớn các đảo ở ngoài cửa vịnh Hàng Châu (Nam Thượng Hải) đều được người Trung Quốc gọi là sơn: Bạch Sơn, Đại Ngư Sơn, Đại Dương Sơn, Tiểu Dương Sơn, Trường Bạch Sơn, Trúc Sơn, Tù Sơn v.v... Người Trung Quốc cũng dùng sơn để chỉ một số đảo của Việt Nam như Cửu Đầu Sơn (đảo Cô Tô), Bất Lao Sơn (Cù Lao Chàm), Ngoại La Sơn (cù Lao Ré) v.v...

[8] Ở phía Nam cửa biển Sa Kỳ, phường An Vĩnh ở Cù Lao Ré cũng thuộc xã này.

[9] Phần viết về các tỉnh Trung Bộ được soạn lại và khắc in năm 1909.

[10] Vạn lý Ba Bình: muôn dặm sóng yên.

[11] Kỷ thứ 2, quyển 122.

[12] Bãi Cát Vàng từ lâu là một khu vực có nhiều đá ngầm nguy hiểm ở Biển Đông.

[13] Cửa Sa Vinh nay là cửa Sa Huỳnh, thuộc tỉnh Nghĩa Bình.

[14] Cửa Đại Chiêm nay là cửa Đại, thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng.

[15] Bài "Địa lý của vương quốc Cochinchina" (Geography of the Cochinchinese Emprire) đăng trong "Tạp chí Hội địa lý Hoàng gia Luân Đôn" (The Jounal of the Royal Geography Society of London) tập XIX, 1849, trang 93.

[16] A. Salles trích dẫn trong bài "Hồi ký về nước Cochinchine của J.B. Chaigneau" (Le mémoire sur la Cochinchine de J.B. Chaigneau) đăng trong "Tạp chí của những người bạn thành Huế cổ" ("Bulletin des amis du vieux Huế") số 2 năm 1923 trang 257.

[17] Tức Đàng Ngoài (le Tonkin).

[18] Danh từ Cochinchine (tiếng Pháp) hoặc Cochinchina (tiếng Anh) trong tài liệu phương Tây trích dẫn ở đây có 2 nghĩa tuỳ theo văn cảnh: a) nước Việt Nam thời bấy giờ, sách này dịch là nước Cochinchine; b) Xứ Đàng Trong thời bấy giờ, sách này dịch là xứ Cochinchine.

[19] J.Y.C trích dẫn trong bài "Bí mật các đảo san hô - Nhật ký về cuộc hành trình đến Hoàng Sa". (Mystere des atolls - Journal de voyage aux Paracels) đăng trong tuần báo "Đông Dương" (Indochine) trong các số ngày 3, 10, 17 tháng 7 năm 1941. - Danh từ vương quốc An Nam trong tài liệu chỉ nước Việt Nam thời bấy giờ.

[20] Nay thuộc tỉnh Đồng Nai. Xem Phụ lục V.

[21] Tức đảo Song Tử Tây và đảo Song Tử Đông.

[22] Nay thuộc tỉnh Bình Trị Thiên.

[23] Xem phụ lục VI.

[24] Xem phụ lục VII.

[25] Sách trên. Trang 263.

[26] Hội nghị ký kết Hòa ước với Nhật Bản trang 314. Văn kiện của Bộ Ngoại giao Mỹ, tháng 12-1951.

[27] Hội nghị Cai-rô và Teheran 1943 trang 448. Văn kiện Bộ Ngoại giao Mỹ , 1961-Washington.

 

I.    Về một số địa danh cổ

Sách báo Trung Quốc gần đây thường viện dẫn các địa danh như Trướng Hải, Vạn Lý Trường Sa, Thiên Lý Thạch Đường, Thạch Đường, Cửu Nhũ Loa Châu, Thất Châu Dương... làm minh chứng cho chủ quyền của Trung Quốc trên các quần đảo giữa Biển Đông đã có từ hàng nghìn năm trước. Các địa danh Trướng Hải, Vạn Lý Trường Sa, Thiên Lý Thạch Đường, Thạch Đường, Cửu Nhũ Loa Châu thật ra chỉ là những địa danh phiếm chỉ một vùng biển đảo nguy hiểm, hư hư, ảo ảo nằm ngoài đảo Hải Nam và đương nhiên là không thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Riêng Thất Châu Dương là vùng biển đảo có thật, được ghi chép rất rõ ràng trong thư tịch và bản đồ cổ Trung Quốc, gần huyện Văn Xương của đảo Hải Nam, thì lại bị người ta cố tình mơ hồ hoá, huyền thoại hoá và đẩy nó ra tận giữa Biển Đông!.

Thư tịch và bản đồ cổ của Trung Quốc tính cho đến cuối thế kỷ XIX và thậm chí cả những năm cuối thập kỷ đầu của thế kỷ XX đều phản ánh một thực tế hết sức hiển nhiên là vùng lãnh thổ, lãnh hải truyền thống của Trung Quốc chưa bao giờ vượt quá đảo Hải Nam.

Bộ bản đồ có ảnh hưởng lớn nhất đến các nhà địa lý học Trung Quốc từ đầu thế kỷ XIV cho đến những năm cuối cùng của thế kỷ XIX là bộ Dư đồ của Chu Tư Bản (Chu Ssu Pen) năm 1320. Bản chính của Dư đồ không còn nữa, nhưng vẫn có thể hình dung được nó trên đại thể trong bộ bản đồ của La Hồng Tiên (Lo Hung-Hsien) ở vào khoảng giữa thế kỷ XVI với cái tên Quảng dư đồ. Trong Quảng dư đồ, từ tấm bản đồ giới thiệu chung về Trung Quốc cho đến tấm bản đồ Quảng Đông đều không có bản đồ nào vẽ lãnh thổ Trung Quốc bao gồm cả các đảo phía dưới đảo Hải Nam.

Khâm định Tứ khố toàn thư đề yếu Đại Thanh nhất thống chí là bộ sách đồ sộ gồm 500 quyển, được biên soạn dưới sự chỉ đạo trực tiếp của vua Thanh Càn Long. Theo sắc chỉ năm Càn Long thứ 21 (1764) thì sách này được soạn trên cơ sở tập hợp tư liệu của các Thống bộ quán các tỉnh, phủ địa phương và kịp thời bổ sung những tình hình mới nhất. Thế nhưng cũng như Quảng dư đồ, tất cả các địa danh huyền thoại như Vạn Lý Trường Sa, Thiên Lý Thạch Đường, Thạch Đường, Cửu Nhũ Loa Châu... đều không được nhắc tới và dĩ nhiên đều không được đặt trong bản đồ Trung Quốc.

Các sách bản đồ khác như Độc sử phương dư kỷ yếu, Quỳnh Châu phủ chí, Quảng Đông đồ thuyết, Quốc triều nhu viễn ký, Trung Quốc cận thế dư địa đồ thuyết... cũng đều không đề cập đến các địa danh này trong bản đồ. Riêng Dương phòng tập yếu và Lịch đại dư địa đồ mục lục tuy có đánh dấu các địa danh này nhưng lại không chứng minh chúng thuộc chủ quyền Trung Quốc. Mãi cho đến năm 1909 mà tấm bản đồ Đại Thanh đế quốc vị trí, khu hoạch cũng vẫn chỉ vẽ vùng lãnh thổ cực nam của Trung Quốc dừng lại ở đảo Hải Nam. Đây là loại bản đồ phản ánh khách quan thực tế và tôn trọng sự thật lịch sử.

Khảo toàn bộ lịch sử Trung Quốc từ thời kỳ tối cổ cho đến trước năm 1909, chúng tôi chưa từng thấy có một văn kiện của bất cứ một triều đại nào khẳng định một cách chính thức, rõ ràng và thực sự chủ quyền của Trung Quốc ở khu vực các quần đảo giữa Biển Đông. Khảo sát các công trình nghiên cứu, các bộ sưu tập tư liệu đồ sộ của người Trung Quốc trước sự kiện Lý Chuẩn ra Paracels vào năm 1909, chúng tôi cũng không thấy bất kỳ một tư liệu nào thuộc loại này xuất hiện. Người làm cuốn sách Điều tra Tây Sa quần đảo báo cáo thư cho biết vào năm 1928 khi đoàn đi tìm kiếm tư liệu mà: “Tra cứu về quần đảo Tây Sa không thấy sách xưa nào ghi chép, lại không có sách chuyên khảo nào chép rõ, nay soạn sách này cũng là một tác phẩm mở đầu”. Lục Đông á trong bài báo mang tên Nhận thức về quần đảo Tây Sa, không thể không thừa nhận một thực tế là: “Quần đảo Tây Sa được phát hiện từ thời kỳ nào, ở trong sách lịch sử, địa lý và bản đồ của Trung Quốc xưa thật không thể khảo cứu được”. Điều mà các nhà nghiên cứu Trung Quốc vào những thập kỷ đầu thế kỷ XX không tìm được bất cứ tài liệu gì nói đến các quần đảo này chỉ vì một lý do hết sức giản đơn là vùng lãnh thổ, lãnh hải truyền thống của Trung Quốc không vượt quá điểm cực nam đảo Hải Nam, tương đương với khoảng vĩ độ 18, và vốn chưa bao gồm những quần đảo xa xôi và hết sức nguy hiểm ở giữa Biển Đông.

II.    100 năm Trung Quốc đặt và đổi tên các quần đảo giữa Biển Đông

Lúc đầu trước sức ép của các nước tư bản phương Tây, chính quyền nhà Thanh chủ trương đóng cửa tự thủ. Dần dần họ mới bắt đầu ý thức được rằng để bảo vệ an toàn vùng lãnh thổ duyên hải, các cửa khẩu và các hải đảo quan trọng, Trung Quốc cần phải phòng thủ từ xa, phòng thủ vòng ngoài để hỗ trợ cho việc phòng thủ chủ yếu ở bên trong. Tuy thấy được sự cần thiết phải tiến ra biển khơi, song trong hoàn cảnh lúc đó Trung Quốc khó có thể giữ nổi vùng nội địa đất liền thì làm sao có thể vươn ra chiếm lĩnh đại dương được. Từ sự thức tỉnh muôn màng ý thức tiến ra biển khơi đến khi nhà Thanh bắt đầu có chủ trương chiếm lĩnh các hải đảo trên Biển Đông là cả một chặng đường trù tính, chuẩn bị lâu dài đến gần một thế kỷ.

Chắc chắn là nếu người Nhật chưa chiếm Đông Sa thì vấn đề chủ quyền của Trung Quốc ở ngay tại Đông Sa thôi cũng chưa được đặt ra. Nếu Đông Sa thuộc về người ngoại quốc thì quả thật đấy sẽ là mối nguy hiểm lớn đối với Trung Quốc nội địa, chí ít là ở khu vực tỉnh Quảng Đông. Việc nắm lại Đông Sa vì thế đã trở thành một mắt khâu trọng yếu trong toàn bộ kế sách phòng thủ vùng duyên hải phía đông nam của Trung Quốc. Trương Nhân Tuấn tập họp một nhóm các tác giả sưu tầm nghiên cứu tư liệu có liên quan, cố tìm cách chứng minh cho bằng được chủ quyền của Trung Quốc ở Đông Sa.

Giữa lúc đó, trước sức ép của hải quân Pháp, Trương Nhân Tuấn lệnh cho phó tướng Ngô Kính Vinh phải tổ chức tuần tra nắm tình hình các quần đảo trên để tìm phương án đối phó. Ngô Kính Vinh giao công việc này cho Quảng Đông Thuỷ sư Đề đốc Lý Chuẩn thực hiện. Lý Chuẩn tiến hành tuần tra khu vực Đông Sa, rồi sau đó tiến ra Paracels. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, Trung Quốc cử người ra Paracels với tư cách đại diện cho chính quyền địa phương tỉnh Quảng Đông. Có thể do không biết, mà cũng có thể là cố tình tảng lờ trước sự thật lịch sử hết sức rõ ràng là các nhà nước Việt Nam đã liên tục nhiều thế kỷ chính thức kinh dinh khu vực Paracels mà Lý Chuẩn tự đặt lại tên đảo là Tây Sa có lẽ với ý nghĩa nếu xuất phát từ Quảng Châu thì nó là các bãi cát nằm thiên về phía Tây (thực ra phải là Tây Nam) và xem mình là người có công khai sơn phá thạch ở đây!. Như thế cái tên Tây Sa (hay Tây Sa quần đảo) được đặt chồng lên cái tên Hoàng Sa của Việt Nam và Paracels của người phương Tây chỉ mới bắt đầu từ năm 1909 và người sáng tác ra nó, không ai khác, chính là Lý Chuẩn.

Tuy địa danh quần đảo Tây Sa vừa mới được đặt, hoàn toàn xa lạ đối với người Trung Quốc, nhưng với việc Lý Chuẩn tiến hành tuần tra và đặt tên Trung Quốc cho quần đảo cũng đã đánh dấu một bước ngoặt căn bản trong lịch sử vươn xuống chiếm lĩnh các đảo trên Biển Đông của Trung Quốc nói chung và chính quyền nhà Thanh ở những năm cuối cùng của triều đại nói riêng. Từ chỗ chỉ khoanh vùng lãnh thổ, lãnh hải của mình từ vĩ tuyến 18, nghĩa là từ cực nam của đảo Hải Nam ngược trở lên phía bắc, đến những ý tưởng muốn vươn ra biển khơi để phòng thủ tầm xa trước hiểm hoạ Trung Quốc trở thành miếng mồi của chủ nghĩa tư bản phương Tây của một số chiến lược gia, đến đây chính quyền nhà Thanh đã khẳng định chủ trương muốn kéo quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam vào trong vùng lãnh thổ, lãnh hải của Trung Quốc.   

Từ sau năm 1909, chính quyền tỉnh Quảng Đông Trung Quốc mặc dù có quan tâm đến việc tổ chức khai thác quần đảo Tây Sa, nhưng đó cũng mới chỉ là những chủ trương trên giấy mà không hề được thực hiện. Sự hiểu biết của người Trung Quốc về quần đảo Hoàng Sa khoảng gần hai chục năm sau vẫn chưa cải thiện được là bao. Vì thế, theo chúng tôi cuộc điều tra quần đảo Tây Sa của trường đại học Trung Sơn và bản báo cáo Điều tra Tây Sa quần đảo báo cáo thư của Thẩm Bằng Phi phải được xem là một cái mốc quan trọng đánh dấu sự hiểu biết của người Trung Quốc về quần đảo Tây Sa cũng như Biển Đông. Đây là cơ sở để chính quyền Trung Hoa dân quốc đẩy xa hơn nữa chủ trương chiếm lĩnh toàn bộ các quần đảo ở ngoài khơi Biển Đông của họ. Tuy thế cho mãi đến năm 1934, bản đồ Trung Quốc vẫn chưa vượt quá quần đảo Tây Sa. Người Trung Quốc lúc này gọi đảo Tri Tôn ở vĩ độ 15 độ 45 phút là đảo Nam Cực, với lời giải thích rằng đảo đó là cột mốc đánh dấu lãnh thổ cực nam của Trung Quốc (nguyên văn trong Tuần hải ký trang 73: Nhân tại Nam Hải cực nam, cố danh Nam Cực đảo). Khu vực phía đông quần đảo Tây Sa mà người phương Tây gọi là Macelesfield Bank vẫn chưa hề được người Trung Quốc quan tâm đến.

Từ năm 1934 trở về trước chưa có bản đồ nào của người Trung Quốc vẽ về vùng quần đảo này, trừ tấm bản đồ phiên dịch từ bản đồ hằng hải Anh được Quảng Nha thư cục khắc in trong Trung Quốc giang hải hiểm yếu đồ chí vào năm 1907. Cũng cần phải nói rõ là Trung Quốc giang hải hiểm yếu đồ chí hoàn toàn chỉ là tấm bản đồ phiên dịch từ nguyên bản Hải đồ của Hải quân Anh (Anh quốc Hải quân hải đồ quan cục nguyên bản) sang tiếng Trung Quốc. Lúc đó Paracels được phiên thành Bá Mỗi Lập Tây Nhĩ Liệt, Macelesfield Bank là Mã Thập Lực Sĩ Phi Nhĩ Đặc và đương nhiên China Sea được phiên thành Trung Quốc Hải (với ý nghĩa là biển của riêng người Trung Quốc?).

Đồng thời với việc xuất bản tấm bản đồ này là vào khoảng năm 1935, Trung Quốc đã tiến hành dịch nghĩa và phiên âm tên phương Tây cho một loạt đảo (Island), bãi cát (Sand, Bank), tiêu (Reef), bãi ngầm/ ám sa (Shoal)... Tấm bản đồ này và những địa danh mới được phiên dịch hoàn toàn không thể coi là bản đồ Trung Quốc, những địa danh trên các quần đảo mặc dù được viết chữ Trung Quốc nhưng không phải là địa danh Trung Quốc và tuyệt nhiên không có một chút giá nào trị minh chứng cho chủ quyền của Trung Quốc ở khu vực Biển Đông.

Trong khoảng thời gian 1935-1936, lần đầu tiên các địa danh quần đảo Nam Sa và Đoàn Sa xuất hiện trên bản đồ Trung Quốc. Chúng tôi nhận thấy trong sách Trung Quốc địa lý tân chí được Trung Hoa thư cục phát hành vào năm 1935 (và in lại vào năm 1940) có các tấm bản đồ Trung Hoa dân quốc và Trung Quốc thiên sản vật công bố đồ đều đặt cái tên Nam Sa quần đảo vào vùng Macelesfield Bank ở phía đông của Tây Sa quần đảo còn Đoàn Sa quần đảo ở phía dưới của Nam Sa quần đảo (khu vực Spratlys).

Năm 1936 Đồ Tư Thông và Vương Chấn biên soạn Hiện đại bản quốc địa đồ và Tân Trung Quốc phân tỉnh đồ (bản đồ được xuất bản vào năm 1939), hai bộ bản đồ này thực chất chỉ là một, trong đó bản đồ tỉnh Quảng Đông phần đặc tả các đảo Nam Hải được vẽ chi tiết hơn. Đặc biệt, tấm bản đồ mang tên Trung Quốc cương giới biến thiên đồ đã vẽ đường biên giới hình chữ U (hay còn được các nhà nghiên cứu quen gọi là đường hình lưỡi bò), không đứt đoạn chia đôi vịnh Bắc Bộ vòng theo bờ biển Việt Nam xuống phía bắc đảo Borneo rồi bám sát bờ biển Philippines và chạy vào phía trong của Đài Loan, khoanh gọn gần như toàn bộ Biển Đông vào trong lãnh hải Trung Quốc. Vị trí của các quần đảo Tây Sa, Nam Sa, Đoàn Sa chưa có gì thay đổi so với bản đồ Trung Hoa dân quốc (1935).  

Giai đoạn từ năm 1939 đến năm 1947 là giai đoạn Trung Quốc tập trung tìm mọi cách lý giải để hợp thức hoá chủ trương chiếm toàn bộ Biển Đông. Địa danh quần đảo Nam Sa bị đẩy sâu xuống vùng Spratlys thay cho quần đảo Đoàn Sa và nhường chỗ cho địa danh mới là quần đảo Trung Sa. Như thế đến đây bản đồ Trung Quốc xuất hiện địa danh Trung Sa quần đảo thay cho Nam Sa quần đảo ở khu vực Macelesfield Bank, còn Nam Sa quần đảo thì bị đẩy sâu xuống phía nam thay cho Đoàn Sa quần đảo ở khu vực Spratlys và như vậy địa danh Đoàn Sa quần đảo đã hoàn toàn biến mất. Đường ranh giới hình chữ U trước đây được vẽ liền thì bây giờ được thể hiện đứt đoạn với 9 khúc, nhưng hình dáng và vị trí không thay đổi. Có thể coi chủ trương đặt lại tên đảo ở Nam Hải theo cách đặt tên Trung Quốc vào năm 1947 và bộ bản đồ Trung Hoa nhân dân cộng hoà quốc phân tỉnh đồ (trong đó có tấm bản đồ Nam Hải các đảo dư, Trung Quốc chính thức công bố các đảo ở Nam Hải thành một bản đồ riêng), có thể được xem là một cái mốc đánh dấu sự hoàn thiện quá trình đặt và đổi tên, hoàn thiện bản đồ và hoàn thiện cả chủ trương chiếm lĩnh Biển Đông của các nhà nước Trung Quốc cận đại và hiện đại. Đến năm 1983, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa lấy danh nghĩa “tiêu chuẩn hoá địa danh toàn quốc” đã bổ sung nhiều tên đảo, đá, đá ngầm, bãi ngầm và các luồng lạch thuộc các quần đảo trên biển  Nam Hải. So sánh với các tên đã đặt năm 1947, chúng tôi thấy số địa danh thuộc khu vực quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam tăng từ 30 lên 49 (trong đó có 22 địa danh được giữ nguyên); số địa danh thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam tăng từ 97 lên 187, trong đó có 83 địa danh được giữ nguyên và 10 địa danh được giữ lại tên nhưng các đặc điểm địa hình là đảo, tiêu, thán hay ám sa thì được định lại.

III.    Bản chất của vấn đề

Các quần đảo giữa Biển Đông vốn thuộc chủ quyền của các nhà nước Việt Nam từ lâu đời. Địa danh đầu tiên xuất hiện trong dân gian, trong bản đồ và trong thư tịch cổ của Việt Nam là Bãi Cát Vàng, vì thực tế ở đó có bãi cát vàng mà bất cứ ai từng chứng kiến cũng phải coi là dấu ấn sâu sắc nhất. Có lẽ lúc đầu do những người dân ra làm ăn ở vùng này đăt ra, rồi sau trở thành địa danh chính thức của nhà nước quản lý. Bãi Cát Vàng là cách gọi thuần Việt, nôm na, khi đi vào văn bản phải viết bằng chữ Nôm thì thật không mấy tiện dụng. Trong khi đó các văn bản chính thức của các nhà nước Việt Nam thời kỳ này đều viết bằng chữ Hán, nên Bãi Cát Vàng được phiên ra theo âm Hán Việt là Hoàng Sa. Hoàng Sa như thế cũng chỉ là cách gọi theo âm Hán Việt của Bãi Cát Vàng mà thôi. Tuy nhiên khi đã gọi là Hoàng Sa rồi thì các nhà nước Việt Nam lúc đó quan niệm nó là cả một vùng rộng lớn bao gồm cả quần đảo Trường Sa nữa, chứ không chỉ riêng Bãi Cát Vàng cụ thể trước đây. Không chỉ người Việt Nam mà các nhà hằng hải phương Tây đương thời cũng quan niệm  Hoàng Sa bao gồm cả Trường Sa mà họ gọi chung là Paracels, còn Spratlys chỉ xuất hiện muôn sau này.

Thư tịch và bản đồ cổ Trung Quốc cho đến tận cuối thế kỷ XIX và những năm đầu thập kỷ đầu thế kỷ XX đã chép một cách rất lô gích và thống nhất rằng lãnh thổ, lãnh hải cực nam của nước Trung Hoa cổ truyền không vượt quá đảo Hải Nam. Vùng biển đảo ở giữa Biển Đông (mà Trung Quốc gọi là biển Nam Hải) chưa được các Nhà nước Trung Quốc quan tâm (hay nói cho đúng ra là chưa có điều kiện quan tâm) khai chiếm, mà chỉ được nhắc đến như những cái mốc vô cùng nguy hiểm, thuyền bè qua lại cần phải tránh xa. Trung Quốc suốt trong chiều dài lịch sử chỉ có duy nhất một ứng xử là tìm đường thuận lợi xuống phía nam sao cho không bao giờ chạm đến vùng biển đảo cực kỳ nguy hiểm này. Họ trong thực tế chưa từng có bất cứ một hoạt động chủ quyền nào với tư cách nhà nước chính thức ở đây. Một số địa danh cổ vừa hư ảo, vừa cho là thuộc vùng “Man Di”, hoàn toàn không có giá trị minh chứng cho chủ quyền của Trung Quốc trên vùng biển đảo này.

Chỉ từ đầu thế kỷ XX, khi Trung Quốc triển khai chủ trương chiếm đóng các quần đảo giữa Biển Đông, thì cái tên quần đảo Tây Sa là tên Trung Quốc mới xuất hiện vào năm 1909 và được đặt chồng lên địa danh quần đảo Hoàng Sa, vốn là địa danh chính thức, lâu đời của Việt Nam. Tuy nhiên những địa danh này cũng còn phải thay đi, đổi lại, điều chỉnh nhiều lần thì mới đi đến chính thức vào cuối những năm 1940 và được “tiêu chuẩn hoá” vào đầu những năm 1980.

Ngày nay cầm tấm bản đồ các đảo Nam Hải của Trung Quốc hẳn không còn mấy ai nhớ rằng Đông Sa, Tây Sa sớm nhất thì cũng chỉ xuất hiện lần đầu tiên trên bản đồ tỉnh Quảng Đông vào năm 1909, Nam Sa xuất hiện lần đầu tiên ở Macelesfield Bank vào khoảng năm 1935-1936, nhưng sau đó phải dời xuống vùng quần đảo Spratlys để nhường chỗ cho Trung Sa vào năm 1947. Đoàn Sa được đánh dấu trên vùng Spratlys khoảng những năm 1935-1936, nhưng chi hơn chục năm sau đã bị Nam Sa chiếm chỗ và mất hẳn vị trí trên bản đồ. Quá trình đặt và đổi địa danh các quần đảo giữa Biển Đông là quá trình Trung Quốc thực thi một chiến lược nhất quán nhằm mở rộng lãnh hải, lãnh thổ, biến toàn bộ Biển Đông thành cái ao riêng của mình. Vấn đề địa danh ở các quần đảo giữa Biển Đông từ đầu thế kỷ XX đã được các nhà nước Trung Quốc chính trị hoá và biến thành phương tiện giành giật chủ quyền quốc gia lãnh thổ và lãnh hải, chứ không còn là những địa danh tự nhiên, thông thường như trước nữa.

Đến cuối năm 2008, trên cơ sở 3 địa danh chính là quần đảo Tây Sa (đặt năm 1909), quần đảo Trung Sa (đặt năm 1947) và quần đảo Nam Sa (đặt năm 1947), Quốc vụ viện Trung Quốc đã phê chuẩn việc thành lập thành phố Tam Sa là thành phố cấp huyện thuộc tỉnh Hải Nam để trực tiếp quản lý cả 3 quần đảo kể trên. Như thế thành phố cấp huyện Tam Sa của Trung Quốc, trên thực tế đã được đặt chồng lên hai huyện của Việt Nam là Hoàng Sa thuộc thành phố Đà Nẵng và Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hoà.

Cũng cần phải khẳng định một cách tuyệt đối rằng lịch sử thực thi chủ quyền của Việt Nam ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trư­ờng Sa với tư­ cách Nhà nư­ớc, phát triển dần từ thấp đến cao, liên tục, thực sự và rõ ràng, muộn nhất là từ đầu thế kỷ XVII (dưới thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên), qua các thế kỷ XVII,  XVIII (dưới thời các chúa Nguyễn tiếp theo và vương triều Tây Sơn), thế kỷ XIX (dưới thời các vương triều Nguyễn, trong đó đặc biệt là các vua Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị) và cho mãi đến những năm đầu của thế kỷ XX vẫn ch­ưa hề gặp phải sự phản đối của bất cứ quốc gia nào. Vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và những đảo chính yếu của quần đảo Tr­ường Sa chí ít trong suốt 3 thế kỷ XVII, XVIII, XIX là hiển nhiên và trọn vẹn.

Lịch sử quá trình tranh chấp chủ quyền các vùng quần đảo giữa Biển Đông chỉ thực sự bất đầu từ năm 1909 khi Trung Quốc lần đầu tiên đặt tên quần đảo Tây Sa vào đúng vị trí quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Từ bấy đến nay vừa tròn 100 năm, Trung Quốc đã không chỉ khẳng định địa danh, khẳng định bản đồ, mà còn tìm mọi cách biến vùng biển đảo vô cùng xa lạ đối với họ trở thành một đơn vị hành chính chính thức của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, thành một thành phố cấp huyện của tỉnh Hải Nam, thành một vùng lãnh thổ, lãnh hải thân thương và máu thịt của Trung Quốc từ ngàn đời!!!. Lịch sử một thế kỷ đặt và thay đổi địa danh của Trung Quốc ở các vùng quần đảo giữa Biển Đông xét về thực chất chỉ là quá trình từng bước, từ thấp đến cao, từ bộ phận đến toàn thể cướp chiếm chủ quyền của Việt Nam, ngang nhiên hoán đổi thành chủ quyền của Trung Quốc, bất chấp sự phản đối của Việt Nam và cộng đồng quốc tế.

                        Hà Nội, tháng 3 năm 2009.

GS. TS. Nguyễn Quang Ngọc, Viện trưởng Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, ĐH Quốc gia Hà Nội

 

Trang mạng tiếng Việt www.tapchithoidai.org vừa đăng tải bài viết của Hồ Bạch Thảo phân tích về vấn đề chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, với nhan đề: "Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa) có được nói đến như là đất Trung Quốc trong Thanh Sử Cảo và Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ không?" Sau đây là những nội dung chính của bài viết:

 

 

 

 

 

Ðọc những lời tranh cãi về chủ quyền trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Trung Quốc thường đưa những chứng cớ vu vơ về lịch sử, qua những tài liệu không đáng tin cậy. Lý do là bởi trong thời gian dài gần cả ngàn năm, bờ biển Trung Quốc thường bị khống chế bởi Nhật Bản hoặc các nước phương Tây, triều đình nước này lo phòng thủ cũng đã đủ mệt mỏi, nên không còn thời gian để nhòm ngó và thực hiện chủ quyền tại các hải đảo ngoài biển. Bởi vậy, không có bằng chứng xác đáng trong chính sử Trung Quốc là nước này đã xác định chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa, và thời gian qua để biện minh cho thế đứng của mình trong tranh chấp, Trung Quốc đã đưa ra những lời nói vu vơ thiếu căn cứ để làm bằng chứng cho chủ quyền của mình ở phần đất họ chưa bao giờ làm chủ. Trung Quốc thường dùng các bản tường trình hoặc du ký của người Trung Quốc, và những bản đồ vẽ thế giới quanh họ thường có tên là thiên hạ toàn đồ, tất nhiên là những bản đồ có vùng đảo Hoàng Sa và Trường Sa để chứng minh hai vùng này thuộc Trung Quốc. Điều này chẳng khác gì nói Nhật Bản, Việt Nam , Lào, Thái Lan v.v. cũng là đất Trung Quốc. Chống lại luận điệu này, tôi (Hồ Bạch Thảo) đã dựa vào chính sử Trung Quốc để xem xét bằng chứng. Theo cách làm việc này, qua bài Lãnh hải Trung Quốc dưới thời nhà Minh, tôi đã cố gắng tìm kiếm các địa danh Tây Sa, Nam Sa trong Minh Sử nhưng không thấy.

Bài này tiếp tục dò xuống đời Thanh, là thời gần với thời hiện đại nhất, phản ánh rõ địa lý mà sử sách và bản đồ Trung Quốc coi là vùng đất thuộc cương vực Trung Quốc, tất nhiên là không bao gồm các quốc gia độc lập khác mà thường phải cống nộp lấy lệ cho Trung Quốc để tránh Trung Quốc mượn cớ gây chiến. Cần lưu ý là các bản đồ khác mang tên đại loại như “thiên hạ toàn đồ” hay các tên tương tự là bản đồ thế giới hoặc bản đồ bao gồm cả Trung Quốc và các nước xung quanh được Trung Quốc coi là chư hầu hay bản đồ ghi lại các chuyến du hành. Những bản đồ này không thể coi là bản đồ Trung Quốc nhưng đã được một số học giả dùng để chứng minh là Tây Sa và Nam Sa đã được vẽ vào bản đồ Trung Quốc.
Bài viết thực hiện qua việc đọc bộ chính sử viết về thời này nhan đề là Thanh Sử Cảo để tham khảo. Tại Trung Quốc, Tống Sử được soạn vào đời Nguyên, Nguyên Sử soạn vào triều Minh, Minh Sử soạn vào triều Thanh, rồi đến Thanh Sử được soạn vào thời Dân Quốc. Vào thời đầu Dân quốc năm 1914 cho lập Quốc Sử Quán, cử Triệu Nhĩ Tốn làm Quán trưởng, bắt đầu biên soạn Thanh Sử. Trải qua hàng chục năm mới hoàn thành, đây là bộ sử đồ sộ gồm 536 quyển, tài liệu rất phong phú, nên các học giả mệnh danh là 1 trong 25 bộ sử của Trung Quốc (Nhị thập Ngũ Sử), riêng phần địa lý gồm 28 quyển. Phải nói địa lý hành chính trong bộ sử này chép khá kỹ, mỗi tỉnh chia rõ ràng từng phủ, huyện; về khoảng cách và phương hướng tính từ huyện, châu đến phủ, hoặc từ phủ lỵ đến tỉnh lỵ. Qua sự tìm hiểu 28 quyển địa lý trong bộ sử, không hề thấy địa danh các quần đảo có tên là Tây Sa, Nam Sa.

Tham khảo thêm, chúng tôi đã sử dụng Ðại Thanh Nhất Thống Toàn Ðồ của Thư viện Quốc gia Ôxtrâylia để xác minh thêm Thanh Sử Cảo.

I. Đại Thanh Nhất Thống Toàn Ðồ:

Trước tiên nói về Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ, gồm 21 phần, xin liệt kê như sau:

- Phần 1: Ðại Thanh nhất thống toàn đồ (Bản đồ toàn thể nước Ðại Thanh)
- Phần 2: Ðịa Cầu chính điện toàn đồ (Bản đồ mặt chính của quả Ðịa cầu)
- Phần 3: Ðịa Cầu bối diện toàn đồ (Bản đồ mặt sau của quả Ðịa cầu)
- Phần 4: Thịnh kinh toàn đồ (Bản đồ kinh sư phồn thịnh)
- Phần 5: Trực Lệ toàn đồ (Bản đồ tỉnh Trực Lệ)
- Phần 6: Sơn Tây toàn đồ (Bản đồ tỉnh Sơn Tây)
- Phần 7: Sơn Ðông toàn đồ (Bản đồ tỉnh Sơn Ðông)
- Phần 8: Giang Nam toàn đồ (Bản đồ vùng Giang Nam )
- Phần 9: Chiết Giang toàn đồ (Bản đồ tỉnh Chiết Giang)
- Phần 10: Giang Tây toàn đồ (Bản đồ tỉnh Giang Tây)
- Phần 11: Phúc Kiến toàn đồ (Bản đồ tỉnh Phúc Kiến)
- Phần 12: Quảng Ðông toàn đồ (Bản đồ tỉnh Quảng Ðông)
- Phần 13: Quảng Tây toàn đồ (Bản đồ tỉnh Quảng Tây)
- Phần 14: Hà Nam toàn đồ (Bản đồ tỉnh Hà Nam )
- Phần 15: Hồ Nam toàn đồ (Bản đồ tỉnh Hồ Nam )
- Phần 16: Hồ Bắc toàn đồ (Bản đồ tỉnh Hồ Bắc)
- Phần 17: Tứ Xuyên toàn đồ (Bản đồ tỉnh Tứ Xuyên)
- Phần 18: Vân Nam toàn đồ (Bản đồ tỉnh Vân Nam )
- Phần 19: Quí Châu toàn đồ (Bản đồ tỉnh Quí Châu)
- Phần 20: Thiểm Tây toàn đồ (Bản đồ tỉnh Thiểm Tây)
- Phần 21: Cam Túc toàn đồ (Bản đồ tỉnh Cam Túc)

Bản đồ không ngày tháng biên soạn và được Thư viện Quốc gia Ôxtrâylia đánh giá là xuất bản vào khoảng 1800-1899, nhưng qua phần 2 và 3 thể hiện trái đất là một khối cầu, có phân biệt hai cực Bắc, Nam; chứng tỏ nhà biên soạn từng tham khảo môn địa lý phương Tây. Ðiều này chỉ có thể xảy ra dưới thời Quang Tự [1875- 1908] hoặc sau đó, lúc này phong trào cải cách của Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu nhiệt liệt cổ động nghiên cứu học thuật phương Tây, Trung Quốc mới được truyền bá kiến thức này. Riêng với mục đích rà soát cái gọi là Tây Sa [Hoàng Sa], Nam Sa [Trường Sa] trong bản đồ; hãy tìm hiểu kỹ phần 1 Ðại Thanh Nhất Thống Toàn Ðồ, và phần 12 Quảng Ðông Toàn Ðồ; xét về vị trí địa lý các đảo nêu trên nếu có, chỉ có thể thấy trên 2 bản đồ này:

1. Phần 1 Ðại Thanh Nhất Thống Toàn Ðồ:

Ðây là bản đồ tổng quát nước Trung Hoa thời nhà Thanh, tính từ Bắc chí Nam , ngoài biển có các đảo như sau:

- Phượng Mã đảo: phía Nam nước Triều Tiên.
- Ðại Lưu Cầu, Tiểu Lưu Cầu: phía Đông tỉnh Chiết Giang.
- Ðài Loan: phía Đông tỉnh Phúc Kiến.
- Quỳnh Châu, Nhai Châu: tức phủ Quỳnh Châu và châu Nhai thuộc đảo Hải Nam nằm phía Nam lục địa tỉnh Quảng Ðông.

2. Phần 12 Quảng Ðông Toàn Ðồ:

Dò tiếp phía Nam lục địa Quảng Ðông thấy đảo Hải Nam và một số đảo kế cận xung quanh, ngoài ra phía Nam Hải Nam không còn đảo nào khác.

II. Thanh Sử Cảo:

Ðiều thú vị là hầu hết địa danh nêu trên bản đồ đều được đề cập trong Thanh Sử Cảo. Nội dung hai công trình gắn bó với nhau, nên có thể cho rằng công trình sau đã tham khảo công trình trước. Ðể làm sáng tỏ điều này, xin lược dịch lại đoạn địa lý chí chép về đảo Hải Nam trong Thanh Sử Cảo, gặp địa danh có trên Quảng Ðông Toàn Ðồ thì đánh số để tiện tham khảo. Theo Thanh Sử Cảo, tỉnh Quảng Ðông được chia thành 6 đạo (đơn vị hành chính thời xưa, tương đương với tỉnh ngày nay), đảo Hải Nam nằm trong đạo Quỳnh Nhai, đạo này gồm phủ Quỳnh Châu và Châu Nhai, mục địa lý chí chép như sau:

A. Phủ Quỳnh Châu: Trụ sở đạo Quỳnh Nhai nằm trong phủ, cách tỉnh lỵ Quảng Châu 1.810 lý về phía Đông Bắc; có 1 châu, 7 huyện. Phủ và châu Nhai nằm trong đảo Hải Nam, ở giữa có núi Ngũ Chỉ phân cách; phía Nam núi thuộc châu Nhai, Bắc núi thuộc phủ Quỳnh Châu. Trong núi có giống dân Sinh Lê, ngoài núi có dân Thục Lê cùng các châu huyện. Tại núi các động thâm hiểm, dân Lê thường ra vào gây loạn. Năm Quang Tự thứ 15 [1889], Tổng đốc Trương Chi Ðồng bắt đầu cho cắt núi Ngũ Chỉ bằng 12 con đường, gồm: 3 đường phía Đông, 3 đường phía Tây, 1 đường phía Nam, 1 đường phía Bắc, 1 đường Đông Nam, 1 đường Đông Bắc, 1 đường Tây Nam, 1 đường Tây Bắc; nơi hoang dã âm u mở thành đất bằng, mọi người đều cho là thuận tiện. Vào năm Hàm Phong thứ 8 [1858], nước Anh mở thương ước đặt thương cảng Quỳnh Châu. [Phủ Quỳnh Châu gồm]:

- Huyện Quỳnh Sơn: phủ thành đặt trong huyện, phía Nam có núi Quỳnh Sơn nên lấy tên đặt. Phía Bắc là bờ biển; sông Bạch Thạch còn gọi là Kiến Giang từ huyện Trừng Mại nơi bờ biển phía Tây Bắc vòng sang phía Đông, chảy vào huyện Ðịnh An, đến đây gọi là sông Nam Ðộ, vòng phía Bắc gọi là Bắc Sa Hà, chuyển sang phía Tây Bắc đến cửa Bạch Sa ra biển. Viên Huyện thừa đóng tại thành ở cửa biển, có Tuần ty tại Thủy Vỉ, công trường muối tại Cảm Ân.

- Huyện Trừng Mại: phía Tây phủ 60 lý, phía Nam có núi Mại, phía Bắc giáp biển, sông Kiến Giang tại phía Tây Nam, lại có sông Tân An từ huyện Lâm Cao chảy vào theo phía Đông Nam qua Lê Mẫu hợp với khe Tân Ðiền rồi chảy vào huyện Quỳnh Sơn. Lại có sông Trừng phát nguyên từ núi Ðộc Chu tại phía Đông Nam huyện, chảy theo hướng Tây Bắc đến phía Tây huyện lỵ, hợp với sông Cửu Khúc, rồi theo phía Tây đến cảng Ðông Thủy thì ra biển. Sông Sảo Dương, phía trên nguồn gọi là khe Nam Cổn, chảy qua phía Bắc huyện hợp với sông Sa Ðịa qua Cù Lãnh đến cảng Cù, rồi ra biển.

- Huyện Ðịnh An: nằm về phía Nam phủ lỵ cách 80 lý; phía Tây Nam là núi Ngũ Chỉ còn có tên là núi Lê Mẫu chạy sang phía Đông thành núi Quang Loa, lại tiếp sang Đông thành núi Nam Lư, khe Viễn phát xuất tại phía Nam núi. Phía Bắc huyện, sông Kiến Giang tại Quỳnh Sơn đổ vào hướng Đông hợp với khe Viễn qua Đông Bắc huyện lỵ, các khe Ðàm Giám, Tiên Khách nhập vào theo hướng Đông Bắc vào huyện Quỳnh Sơn, được gọi là sông Nam Ðộ. Phía Tây Nam huyện có sông Vạn Toàn ra khỏi động Nam Bàng hướng phía Đông vào huyện Lạc Hội. Huyện có tuần ty Thái Bình.

- Huyện Văn Xương: [nay là Văn Xương thị] vị trí phía Đông Nam phủ lỵ cách 60 lý. Phía Bắc có núi Ngọc Dương, phía Nam núi Tử Bối, Đông Bắc là biển. Trên biển có núi Phù Sơn, dưới núi là Phân Dương châu. Phía Nam có khe Văn Xương phát nguyên từ núi Bạch Ngọc phía Tây huyện, rồi hướng phía Đông nhập các khe Bạch Thạch, Bạch Mang, lượn sang phía Đông có khe Bình Xương từ phía Tây Bắc đổ vào, rồi chảy về phía Nam đến cảng Thanh Lan thì ra biển. Phía Nam huyện, khe Bạch Diên chảy ra khỏi núi Bát Giác, hướng Đông Nam đến cảng Trường Kỳ rồi ra biển. Lại phía Bắc Tam Giang tức khe La Hán phát nguyên từ núi Bảo Hổ hướng Tây Bắc đến cảng Phố Tiền rồi ra biển. Huyện có hai ty tuần kiểm Phố Tiền và Thanh Lam và công trường muối Lạc Hội.

- Huyện Hội Ðồng: vị trí phía Đông Nam phủ lỵ cách 290 lý; phía Đông huyện có nhiều núi kỳ dị. Phía Tây có khe Long Giác phát nguyên từ núi Tây Nhai hướng Đông Nam tới chợ Tích Gia nên được gọi là khe Tích Gia, rồi khe Lê Bồn từ phía Tây hợp vào, chảy xuống Nam được gọi là khe Ngũ Loan, rồi vào huyện Lạc Hội.

- Huyện Lạc Hội: vị trí phía Đông Nam phủ lỵ cách 330 lý; phía Đông có núi Bạch Thạch, Tây Nam có núi Tung Hoành, phía Đông giáp biển. Phía Tây, sông Vạn Toàn từ huyện Ðịnh An chảy vào hướng Đông rồi đổi hướng Bắc hợp với sông Thái Bình tiếp tục chảy hướng Đông Nam hợp với sông Ngũ Loan qua núi Long Ma chia dòng bao quanh huyện lỵ, rồi hợp lại hướng Đông qua núi Liên Hoa, lượn Đông Nam qua cảng Bác Long rồi ra biển. Sông Lưu Mã phát nguyên từ núi Long Nham tại phía Tây Nam huyện, chảy sang Đông vào huyện Vạn, lại quẹo hướng Đông Bắc để trở về địa giới của huyện, được gọi là sông Gia Liêm, chảy về Đông Bắc gọi là sông Cửu Khúc, khe Liên Ðường nhập vào, rồi theo hướng Đông Bắc hợp với sông Vạn Toàn ra biển.

- Huyện Lâm Cao: nằm về phía Tây Nam phủ lỵ cách 180 lý; phía Nam có núi Na Bồn, phía Tây núi Tỷ Gia, phía Bắc giáp biển. Sông lớn Kiến Giang do Ðam Châu chảy vào từ phía Nam, hướng Bắc đến núi Yêu Bối ra phía Tây trước cửa huyện rồi uốn lượn theo hướng Đông Bắc đến thôn Văn Lan hợp với sông Thấu Than, lại còn được gọi là sông Nghênh Ân, hướng Bắc đến cảng Bác Phố rồi ra biển; một nhánh ngòi thuộc sông này hướng Đông Bắc qua núi Bạch Lãnh vào huyện Trừng Mại. Huyện có tuần ty Hòa Xả, công trường muối Ðảo Mã.

- Ðam Châu: [Hiện nay tại phía Tây Bắc Ðam Châu thị] nằm về phía Tây Nam phủ lỵ cách 300 lý; phía Bắc có núi Ðam Nhĩ, còn gọi là núi Tùng Lâm, hoặc Ðằng Sơn; Tây Bắc giáp biển, ngoài biển có núi Sư Tử. Trong châu có sông Kiến Giang, còn gọi là sông Lê Mẫu hướng Tây Nam qua núi Long Ðầu, chia làm hai: nhánh phía Đông gọi là Ðại Giang, hướng Đông Bắc vào huyện Lâm Cao; nhánh phía Tây gọi là sông Bắc Môn hoặc sông Luân hướng Tây Bắc, đến phía Đông Bắc châu uốn sang phía Tây tạo thành cảng Tân Anh, rồi sông Xương Giang từ phía Đông Nam gộp vào để chảy ra biển. Phía Đông Bắc châu có sông Dung Kiều, phía Tây Nam có sông Sa Cấu đều hướng Tây Bắc ra biển. Châu có tuần ty Bạc Sa, ty Trấn Nam , công trường muối Lan Hinh.

B. Nhai Châu:

Trước kia thuộc phủ Quỳnh Châu, đến năm Quang Tự 31 [1905] trực thuộc đạo Quỳnh Nhai, cách tỉnh lỵ Quảng Châu 2680 lý về phía Đông Bắc; [trị sở Nhai Châu tại Tam Á thị hiện nay] chiều rộng 242 lý, dọc 175 lý, có 4 huyện. Phía Đông Nhai Châu có núi Hồi Phong, Tây Nam núi Trừng Ðảo, Đông Nam giáp biển. Phía Đông Bắc sông An Viễn từ huyện Lăng Thủy chảy vào, hướng Tây Nam đến núi Lang Dõng chia làm hai: một nhánh chảy phía Tây, đến thôn Chí Ðại rồi ra biển, một nhánh hướng Tây Bắc gọi là sông Bảo Dạng qua phía Bắc châu lỵ, uốn theo hướng Bắc đến cảng Bảo Bình rồi ra biển. Phía Bắc châu có sông Lạc An hướng Tây Nam qua núi Ða Cảng, chuyển theo hướng Tây Bắc vào huyện Cảm Ân. Phía Đông có sông Ða Ngân còn gọi là sông Lâm Xuyên phát nguyên từ Lê Ðộng, hướng Đông hợp với sông Tam Á, rồi hướng Đông Nam đến cảng Du Lâm để ra biển. Châu có 2 ty tuần kiểm: Lạc An và Vĩnh Ninh; công trường muối Lâm Xuyên. Châu cai quản 4 huyện gồm:

- Huyện Cảm Ân: [nay thuộc phía Nam Ðông Phương thị] nằm về phía Tây Bắc châu lỵ Nhai Châu cách 195 lý, xưa thuộc phủ Quỳnh Châu, năm Quang Tự thứ 31 [1905] bắt đầu thuộc Nhai Châu. Phía Đông có núi Ðại Nhã, phía Đông Bắc núi Cửu Long, phía Tây giáp biển; phía Đông có Long Giang phát nguyên từ núi Lê Mẫu hướng Tây Nam còn gọi là sông Cảm Ân, chảy sang phía Tây đến phía Bắc huyện lỵ thành cảng Cảm Ân rồi ra biển, nhánh chính hướng Tây Bắc qua chợ Bắc Lê làm thành cảng Bắc Lê rồi hướng Tây Nam ra biển. Sông Lạc An hướng Tây Bắc ra khỏi châu, vào huyện Xương Hóa.

- Xương Hóa: [nay thuộc huyện Xương Giang Lê tộc tự trị], nằm về phía Tây Bắc châu lỵ cách 360 lý, xưa thuộc phủ Quỳnh Châu, năm Quang tự thứ 31 [1905] bắt đầu thuộc Nhai Châu. Phía Đông Bắc có núi Tuấn Linh, phía Đông Nam núi Cửu Phong, Tây Bắc giáp biển; phía Nam Xương Giang tức sông Lạc An từ huyện Cảm Ân chảy vào qua phía Đông Nam huyện lỵ thì chia làm hai: hướng Tây Nam gọi là sông Nam Nhai, hướng Bắc gọi là Bắc Giang, cả hai đều chảy ra biển. Lại có sông An Hài phát nguyên từ Ca Báng Lãnh phía Đông Bắc, hướng Tây Nam đến châu Ðam thì ra biển.

- Lăng Thủy: [nay thuộc huyện Lăng Thủy Lê tộc tự trị], nằm về phía Đông Bắc châu lỵ cách 210 lý, xưa thuộc phủ Quỳnh Châu, năm Quang Tự thứ 31 [1905] bắt đầu thuộc Nhai Châu. Phía Tây có núi Ðộc Tú, phía Nam núi Ða Vân, Đông Nam giáp biển, tại biển có đảo Gia Nhiếp, đảo Song Nữ; phía Tây Bắc có Ðại Hà phát nguyên từ núi Thất Chỉ chảy hướng Đông qua núi Bác Cổ, lượn phía Nam làm thành cảng Ðồng Khê rồi hướng Đông ra biển. Phía Nam có sông Thanh Thủy Ðường Thủy phát nguyên từ thôn Lang Nha phía Tây Bắc, chảy hướng Nam đến phía Tây huyện lỵ được gọi là sông Bút Giá Sơn hợp với Ðại Hà tạo thành cảng Táo Tử, lượn phía Tây Nam đến cảng Tân Thôn thì ra biển; huyện có Tuần ty Bảo Ðình.

- Huyện Vạn: [nay là Vạn Ninh thị] nằm về phía Đông Bắc châu lỵ cách 370 lý, xưa là châu Vạn thuộc phủ Quỳnh Châu, năm Quang Tự thứ 31 [1905] bị giáng thành huyện, lệ thuộc vào Nhai Châu. Phía Đông huyện có núi Ðông Sơn, phía Bắc núi Lục Liên, Đông Nam giáp biển, trên biển có núi Ðộc Châu, dưới là Ðộc Châu Dương; phía Tây Bắc có Long Cổn Hà phát nguyên từ động Tung Hoành, lượn xuống phía Nam rồi ra phía Đông hợp với Lưu Mã Hà, hướng Đông Bắc vào huyện Lạc Hội, lượn theo hướng Đông Nam trở lại phía Bắc huyện, riêng phía Đông có khe Liên Ðường, uốn sang phía Bắc vào huyện Lạc Hội hợp với sông Vạn Toàn, nhánh chính hướng Đông Nam qua núi Liên Chi rồi ra biển. Lại có sông Ðô Phong phát nguyên từ động Tung Hoành, chảy theo hướng Đông Nam rồi chia làm 4 nhánh: cảng Hòa Lạc, Cảng Bắc, khe Thạch Cẩu, sông Kim Tiên, đến phía Đông Bắc huyện lỵ rồi ra biển. Phía Nam Dương Dung Hà phát nguyên từ núi Giá Cô phía Tây Bắc, hướng Đông Nam đến thôn Sấu Ðiền thì chia dòng hợp với Thạch Qui Hà lại theo hướng Đông Nam ra biển. Huyện có Tuần ty Long Cổn, công trường muối Tân An.

Ðến thời Trung Hoa Dân Quốc, đảo Hải Nam được đặt tên là đạo Quỳnh Nhai, tức gộp tên cũ của phủ Quỳnh Châu và châu Nhai. Ðạo Quỳnh Nhai trực thuộc tỉnh Quảng Ðông, được chia làm 13 huyện, tên huyện tương tự như thời nhà Thanh trước kia, gồm: 1.Quỳnh Sơn, 2.Trừng Mại, 3.Ðịnh An, 4.Văn Xương, 5.Quỳnh Ðông (đời Thanh là Hội Ðồng), 6.Lạc Hội, 7.Ðam huyện (đời Thanh gọi là Ðam Châu), 8.Lâm Cao, 9.Vạn Ninh (đời Thanh là huyện Vạn), 10.Xương Giang (đời Thanh là Xương Hóa), 11.Lăng Thủy, 12.Cảm Ân, 13.Nhai huyện (năm 1920, Nhai Châu đổi thành Nhai huyện).

Trong giai đoạn đầu Dân Quốc, chính phủ Trung Hoa chưa đề cập đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; mãi đến thập niên 1930 nhận thức được tiềm lực kinh tế tại Biển Đông, mới bắt đầu lên tiếng. Sau Chiến tranh thế giới thứ II, nhân Nhật Bản đầu hàng đồng minh, chính phủ này cho mang quân chiếm một vài đảo trong 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thu nhận đảo Hải Nam vào tháng 5 năm 1950, thành lập Hải Nam Quân dân Ủy viên Hội. Tháng 3 năm 1955 đổi thành Quảng Ðông Tỉnh Hải Nam Hành chính Công Thự, sau cuộc Cách mạng Văn hóa nổ ra năm 1966, đình chỉ chức quyền của Công Thự, năm 1968 thiết lập Hải Nam Ðịa Khu Cách mạng Ủy viên Hội. Tháng 10 năm 1984, thành lập Hải Nam Hành chính Khu Nhân dân Chính phủ. Hải Nam Hành chính Khu quản hạt Hải Nam Lê tộc, Miêu tộc tự Trị Châu, cùng 9 huyện: 1. Quỳnh Xương, 2. Văn Sơn, 3. Lâm Cao, 4. Trừng Mại, 5. Quỳnh Hải, 6. Ðồn Xương, 7. Ðam huyện, 8.Vạn Ninh, 9. Ðịnh An; ngoài ra lại đặt các đảo Tây Sa [Hoàng Sa], Trung Sa, Nam Sa [Trường Sa] vào cái gọi là biện lý sự. Như vậy sau khi chiếm được một vài hải đảo do Trung Hoa Dân Quốc bỏ lại sau cuộc rút lui ra Ðài Loan, năm 1974 lại xâm lăng một số đảo do Việt Nam Cộng hòa làm chủ.

Năm 1988, thiết lập tỉnh Hải Nam . Ðến năm 2008, toàn tỉnh được chia như sau:

- Hai địa hạt cấp thị: Hải Khẩu thị, Tam Á thị.
- Bốn thị hạt khu: Quỳnh Sơn khu, Long Hoa khu, Tú Anh khu, Mỹ Lan khu.
- Sáu huyện cấp thị: Văn Xương thị, Quỳnh Hải thị, Vạn Ninh thị, Ðam Châu thị, Ðông Phương thị, Ngũ Chỉ Sơn thị.

- Bốn huyện: Ðịnh An huyện, Ðồn Xương huyện, Trừng Mại huyện, Lâm Cao huyện.
- Sáu tự trị huyện: Quỳnh Trung Miêu tộc Lê tộc tự trị huyện, Bảo Ðình Miêu tộc Lê tộc tự trị huyện, Bạch Sa Lê tộc tự trị huyện, Xương Giang Lê tộc tự trị huyện, Lạc Ðông Lê tộc tự trị huyện, Lăng Thủy Lê tộc tự trị huyện.

- Khai phát khu: Dương Phố kinh tế khai phát khu.
- Biện sự xứ: Tây Sa [Hoàng Sa] quần đảo, Nam Sa [Trường Sa] quần đảo, Trung Sa quần đảo.

III. Kết luận:

Bài viết này cho thấy tài liệu chính thức của Trung Quốc về thời nhà Thanh (1644-1911) như Thanh Sử Cảo và bản đồ soạn và in thời đó như Ðại Thanh Nhất Thống Toàn Ðồ đã không coi Tây Sa [Hoàng Sa], Nam Sa [Trường Sa] là thuộc lãnh thổ Trung Quốc. Ðại Thanh Nhất Thống Toàn Ðồ có thể không phải là bản đồ chính thức nhưng đã được thu thập, ghi chú và lưu giữ ở Hội Thừa Sai Luân Đôn và Thư viện Quốc gia Ôxtrâylia. Đây là tài liệu đáng tin cậy vì khi được soạn thảo dưới một triều đại mà vua chúa có quyền sinh sát với những người làm sai thì người soạn bản đồ đó không thể tự ý loại bỏ một phần đất trong lãnh thổ Trung Quốc. Thêm nữa, hai tài liệu này hoàn toàn không mâu thuẫn nhau. Nó cũng phù hợp với Minh Sử mà tác giả đã viết trong một bài khác. Ngoài ra kết luận ở đây cũng phù hợp với bản đồ nhà Thanh mà Đại học Cambridge ở Anh đã in vào năm 1910./.

 

 

 

(Theo nguyenxuandien) Ghi chép của tác giả về một vài sự kiện của biến cố Hoàng Sa qua lời tường thuật của một số người trong cuộc. 

 

 

 

__________________________________

 

Biến cố Hoàng Sa xảy ra đầu năm 1974 ở cách xa đất liền nên chỉ có những người có mặt trong cuộc mới biết rõ sự việc xảy ra. Về phía Việt Nam, những quân nhân trên chiến hạm là những người mục kích được một vài sự kiện; những quân nhân đồn trú từ lâu trên đảo, cũng như các nhân viên khí tượng cũng thấy được phần nào biến cố tại quần đảo này.

 

Với tai nghe mắt thấy, da thịt xương chịu đựng, và con tim rung động, những nhân vật kể trên ghi nhận được không nhiều thì ít những sự việc xảy ra. Tuy vậy, không ai giống ai. Có người có giác quan nhạy bén. Có người có giác quan lờ đờ. Trí thức của mỗi người được đào luyện khác nhau. Vì thế sự ghi nhận sự việc do mỗi người cũng không hoàn toàn giống nhau.


Ngoài ra, những lời thuật sự của các nhân chứng cũng cần được cân nhắc kỹ lưỡng, vì có người muốn trình bày sự thật, có người muốn giấu kỹ tất cả hay một vài chi tiết.

 

Chúng tôi muốn ghi lại một vài sự kiện của biến cố Hoàng Sa qua lời tường thuật của một số người trong cuộc.

 

Làm chứng trước quan tòa là một điều phiền toái cho người chứng. Làm chứng trước lịch sử, trước dân tộc lại càng phiền toái hơn, nhất là trong khung cảnh đặc biệt của đất nước, trong hoàn cảnh hiện tại còn nhiều liên hệ.

 

Tuy vậy, gạn lọc hết những dè dặt nêu trên, chúng ta vẫn ghi nhận được giá trị của lời thuật lại: khung cảnh địa lý, tình trạng của quần đảo, cũng như một số sự

kiện xảy ra.


MỘT CHUYẾN TÀU

 

Cách đây trên một năm, lúc 7 giờ tối ngày 30-11-1973, chiến hạm Lý Thường Kiệt HQ 16 rời hải cảng Đà Nẵng, ra khơi trực chỉ hướng đông để tới mục tiêu là đảo Hoàng Sa ( Pattle), một đảo trong quần đảo Hoàng Sacách Đà Nẵng20 hải lý.

Chiến hạm có tốc độ khá mau (chừng 20 hải lý mỗi giờ) nên khởi hành vào lúc tối. Trước kia trong những sứ mạng tương tự, các chiến hạm khác phải khởi hành sớm hơn (lúc 4-5 giờ chiều), để cùng tới mục tiêu lúc 9 giờ sáng hôm sau. Bây giờ đi mất 14 tiếng đồng hồ, trước kia mất 16-17 tiếng. Những người ra Hoàng Sa nhiều lần nói rằng tàu bây giờ nhanh hơn tàu Pháp nhiều lắm. Xưa kia, chiếc La Modepiquer khởi hành kúc 4 giờ chiều, mà tới 12 giờ trưa hôm sau mới ra đảo.

 

Chiến hạm HQ 16 mang sứ mạng vận chuyển một số quân nhân (một trung đội) và 4 nhân viên quân chính thuộc nhà khí tượng ra thay thế các quân nhân và công chức đã trấn giữ đảo tại này từ ba tháng trước. Đây là công tác bình thường của hải quân Việt Nam Cộng Hòa. Trước đây hải quân Pháp đồn trú ở Đông-Dương cũng có những sứ mạng tương tự như tuần dương hạm này. Cùng với các nhân viên khí tượng người Việt, các quân nhân Pháp và Việt xưa kia được liên lạc với đất liền mỗi tháng một lần, có khi ba tháng, không nhất định.

 

Thời Pháp, tàu từ Đà Nẵng ra, thường đi tuần canh tất cả các đảo trong quần đảo ngay cả các đảo xa xôi nhu Phú-lâm (IleBoisée), đảo Tây…(Ile Quét, hay đảo Cây, Trê Island). Từ xa nhìn vào, đảo Phú-lâm trông thật thơ mộng như Ha-uy-di: bãi cát vàng, hàng cây dừa xanh, cao.

 

Trong những người đi trên chuyến tàu này có người ra đảo vài lần, có người đã đến được lần thứ 16 nhưng cũng có người ra đi lần đầu. Có người đã từng quen với sóng biển, nhưng cũng có người lần đầu tiên bước xuống tàu.

 

Trong tâm can của mọi người đều mang những xúc động lớn lao. Người ra đi lần đầu mang đầy lo lắng; đằng sau họ là vợ, con, gia đình, những khuôn mặt và khung cảnh quen thuộc; trước mặt họ là biên ải ở đầu sóng ngọn gió. Không biết rồi đây những khó khăn gì sẽ đến với họ? Bão táp? Gian khổ? Quạnh hiu? Người trở lại với biên cương hẻo lánh này cũng không khỏi xúc động khi phải rời bỏ những người thân, tuy đã biết chắc cuộc đời họ sẽ được an bài sao đây trong những ngày sắp tới.

 

Nhóm người trên tàu ấy gồm một trung-đội-địa-phương quân thuộc tiểu khu Quảng-nam, dưới quyền chỉ-huy của một trung-úy trung đội trưởng. Họ phần lớn là những người bị trừng phạt, gom góp lại trong tiểu khu, không phải là một đơn vị thuần nhất. Cuộc sống quạnh hiu giữa trời, mây, nước sẽ làm họ nghĩ về nội tâm mà ăn năn, sửa đổi? Sự cô đơn là hình phạt nặng nề. Với trời, mây, nước, dù sao cũng chẳng phải là điều tuyệt vọng đối với họ. Tới vùng hải đảo xa xôi đó, đâu có bao giờ nghe tiếng súng. Trong đất nước chiến tranh hàng mấy chục năm nay, vùng hải đảo chưa hề hứng lấy một vết đạn, chưa hề hứng chịu pháo kích, mưa bom. Họ phải tạm thời xa lánh vùng đất chết chóc, đau thương trong một thời gian. Ôi! Thật là lạ lùng! Một vùng đất thanh bình! Những gắp đạn M16 trên thắt lưng thật là nặng nề. Thôi! Gửi lại vùng đất chiến tranh, chỉ đem tượng trưng vài gắp mà thôi. Còn khẩu súng nữa. Có lẽ còn lâu lắm, khi trở về đất liền nó mới được dùng tới. Trên biển cả mênh mông này chỉ quí nhất là chất nổ: nào lựu đạn, béta, plastic. Họ đem theo càng nhiều càng tốt. Đó là nguồn cung cấp thực phẩm trong những ngày sống lênh đênh trên hải đảo.



Một nhóm khác gồm bốn người trong ngành khí tượng, đó là:

 

1) Ông Nguyễn Kim Nhường : Trưởng ty
2) Ông Đặng Hiền Võ : Chiêm sát viên
3) Ông Võ Vĩnh Hiệp : (nt)
4) Ông Nguyễn Văn Tấn : lao công


Sự phân biệt chức vụ chỉ có giá trị trên giấy tờ mà thôi. Ở ngoài đảo, trưởng ty cũng phải làm việc như các nhân viên khác, sống cùng với các đồng nghiệp không có gì cách biệt.


Các ông Nhường, Võ, Hiệp làm ở Nha khí-tượng Saigon. Ông Tấn làm ở trung tâm khí tượng Đà-nẵng. Ông Hiệp ra Hoàng Sa lần này là lần thứ 16. Ông Nhường ra lần thứ 10. Ông Tấn ra lần thứ 3. Còn ông Võ ra lần đầu. Ngoài những hành khách nêu trên, chiến hạm HQ 16 còn có thêm một nhóm hành khách khác gồm bốn quân nhân thuộc tiểu-khu Quảng-nam có nhiệm vụ lo việc chuyên chở. Khi tới đảo, bốn người này sẽ phụ trách việc đưa các quân nhân từ tàu vào đảo, và từ đảo ra tàu. Bốn người này không ở lại đảo, theo tàu về Đà-nẵng. Hành trang của họ chỉ có hai chiếc tàu cao su, tới đảo, họ sẽ bơm lên, thả xuống biển để di chuyển.


Còn các binh sĩ khác, cũng như nhân viên khí tượng, ngoài quần áo đem theo, phải đem theo đồ ăn đủ trong ba tháng. Từ đây tới ba tháng sau không hề có chuyến tàu nào từ đất liền chạy ra, trừ phi có chuyện khẩn cấp. Gạo chiếm phần chính trong số thực phẩm họ đem theo, nặng nề nhất. Ngoài gạo, họ phải đem theo thức ăn có thể để lâu được (đồ hộp…), hột cải, và rau để trồng, nhất là không thể thiếu gia vị (tiêu, ớt). Gia vị làm giảm mùi tanh của cá biển. Mấy năm về trước (1964-1968), đồ hộp rẻ, những hộp thịt, cá, bia, nước ngọt,…chiếm một trọng lượng đáng kể trong hành trang. Xa hơn về trước nữa, họ còn đem theo cả gà, vịt, heo...thật cồng kềnh. Bây giờ họ cũng đem theo một ít gia súc để thỉnh thoảng có được bữa ăn với thực phẩm tươi, nhưng đơn giản, ít cồng kềnh hơn. Khi xưa người Pháp trấn đồ trên đảo, khối lượng thực phẩm mà hồi đó tàu phải chở còn nặng nề hơn nhiều. Thay vì gạo như người Việt Nam, toán lính Pháp

mang theo nhiều bao bột mì.

HẢI ĐẢO XA-XÔI


Tàu đi vào lúc gần cuối năm, sóng biển tương đối thấp. Tuy nhiên, với những người quen sống ở núi rừng, với đôi chân làm phương tiện di chuyển chính yếu, thì biển cả thật là độc ác.


Sau một đêm dài vật lộn với sóng gió, con tàu vẫn trực chỉ hướng mặt trời mọc. Khi mặt trời đã sáng rõ, mặt trời lên chênh chếch, một vùng trắng xóa hiện ra rõ dần trên vùng biển xanh. Đó mới là đảo Quang-ảnh (Vĩnh-lạc, Monney) mà thôi. Còn chừng một giờ nữa mới tới đảo Hoàng Sa (Pattle). Đảo Quang-ảnh hiện rõ dần, rồi lại mờ dần đằng sau tàu.


Một đảo khác lại hiện ra ở mé bên phải của tàu. Đó là đảo Hữu-Nhật (Cam-tuyền, Robert). Đây là một đĩa xôi hiện ra trên mặt biển. Viền quanh đảo là một bãi cát vàng, ở giữa đảo cao trội hẳn lên.


Xa hơn Hữu-Nhật một chút là đảo Hoàng Sa(Pattle). Đảo này cũng được bao quanh bằng một bãi cát vàng. Trên đảo, cây cối xanh tươi. Ngay góc đảo, một căn nhà trắng nằm mé bên bờ biển. “Đó là miễu bà. Bà linh thiêng lắm”. Người thành thạo giải thích.


Nhưng sao lạ! Tàu không ghé vào đảo! Đảo Hữu-Nhật (Cam tuyền, Robert) đang bị bỏ xa dần. Còn ở mé trái của tàu, Hoàng Sa(Pattle) cũng đang lùi dần. Tàu còn đi tới tận đâu? Tàu phải đi về phía đông để tránh đá ngầm ven đảo, rồi mới kiếm chỗ đậu gần cầu tàu.


Trên bờ, người hiện ra nhỏ li ti trên bãi cát trắng. Tàu chạy chậm dần, rồi ngừng hẳn lại, còn cách xa bờ nên không thấy rõ người trên đảo, chỉ thấy chiếc cầu tàu chạy dài ra biển một quãng. Theo những người có kinh nghiệm. Cầu tàu đó được làm từ lâu lắm rồi, từ thời Pháp thuộc lận. Thời ông Ngô Đình Diệm, hãng phân bón[1] cho sửa chữa lại để chở phân. Gió to, bão dữ, nên cầu bị hư hại nhiều, chưa được sửa chữa lại. Ở ngoài này chẳng có gì tồn tại được với bão táp, gió biển. Đồ sắt chỉ một vài năm là muối biển ăn sét hết. Ở cuối đảo, trước kia có ngọn hải đăng cao lớn. Nay chỉ còn là đống sắt vụn. Người tò mò thì hỏi cho biết vậy thôi, chứ lên đảo rồi thì ai mà ngó đến mấy thứ đó. Giữa đảo, đằng sau nhà của khí tượng, bên trong mấy cây dương và cỏ dại, người tò mò còn ngó thấy một đống gạch và xi măng vụn nát, cùng với một khối vuông vuông cũng đang “ tàn phai nhan sắc”. Nghe nói đó là bia chủ quyền gì đó. Người trên đảo chẳng ai chú ý tới nó làm gì. Nghe đâu có mấy chị “ Empereur d’ Annam…” [2]


Hai chiếc xuồng cao su được bơm lên từ khúc do các anh lính lo việc chuyển vận. Hai chiếc thay phiên nhau chở người và đồ đạc từ tàu vào cầu tàu, rồi lại chở người từ đảo ra tàu.


Người tới thì cồng kềnh, khó nhọc, đăm chiêu. Người đi thì sao nhẹ nhàng, hớn hở. Ngoài những túi quần áo, người đi chỉ cầm theo một vài vật nhẹ, kỷ niệm của đảo: bông đá, những con ốc sò thật to, lóng lánh, hình dạng kỳ dị. Cách đây vài năm, những người về đâu có nhẹ nhàng thế này, người nào cũng cực nhọc vì những bao rau câu. Một người có thể mang vài ba bao. Những bao gạo 50kg sau khi ăn hết gạo, được dùng vào việc chứa rau câu. Ngoài này đầy dẫy rau câu, còn trong đất liền thì hiếm lắm. Nhưng từ sau năm 1970 trở lại đây, rau câu không còn nhiều như trước kia nữa. Vớt hoài thì cũng phải hết chứ. Đâu có phải riêng mình vớt đâu. Biển thì ai tới vớt chẳng được. Thứ qúy, nên các tàu tới vớt luôn luôn, riết thì phải hết.


Cứ năm bao rau câu tươi mới vô được một bao khô. Một đám vài chục người phải vớt hàng trăm bao tươi. Người ta vớt hằng bao nhiêu năm trời ròng rã, thì

biển nào mà sanh ra cho kịp.


LÊN ĐẢO


Đảo trông tựa như hạt đậu, nằm ngang theo hướng đông-tây. Phần nở ra của “hạt đậu” quay về hướng bắc. Như thế, đảo có thể chia làm hai phần: nửa phía đông và nửa phía tây. Cầu tàu ở đầu phía đông. Đi bộ vòng quanh đảo mất 20 phút.


Đi qua cầu tàu dài 180m là tới đất. Chân cầu tàu có nhiều tảng bê tông bể nằm ngổn ngang. Đây là nơi cá rút vào lúc mưa to, biển động, và anh em ra đó kiếm cá. Trên cầu tàu trước kia có đường rầy để những toa gòong chở phân từ trong đảo ra. Giờ thì đường rầy bị phá hư hết, chỉ còn vài ba khúc đường lỏng chỏng bên cạnh cầu tàu, còn di tích của một cái bệ đặt cần câu xúc phân trên xe rùa đổ xuống xà lan. Xe rùa giờ đây cũng tan nát cả rồi.


Đám gạo thực hành hạ thật quá quắt. Mọi người đã say sóng, nhọc mệt, đi không vững còn hơi, sức đâu mà khuân mấy thứ nặng nề đó nữa. Thôi đành để chúng ở bờ biển. Mai mốt khỏe người rồi rinh vào. Đường đi còn xa chứ nào phải dăm ba bước thì cũng rán được. Từ bờ vào tới giữa đảo cũng cả gần nửa cây số. Ở đây nào phải như đất liền. Còn ai tới mà ăn cắp nữa. Thế nhưng khốn thay, ông trời nào có thương cho. Một trận mưa bất ngờ xảy tới, thế là gạo hư hết trọi.


Trước khi ra đi, nghe nói đảo có phân chim, tưởng chừng nhiều chim. Ra tới nơi thì mới ngỡ ngàng: chẳng thấy một con chim nào cả, chỉ có vết tích của phân phốt phát mà thôi: trên con đường nối dài theo cầu tàu, hai bên có hàng đống phân cao lút đầu người đã được gom lại. Gọi là phân, chứ chất dơ dáy đó đâu có mùi hôi thối nữa, cũng chẳng còn hình thù như nguyên thủy nữa, lâu ngày biến thành đất rồi. Đất này tốt dễ sợ. Trước kia có người đem hột củ cải ra trồng, ra củ lớn gấp đôi, gấp ba trồng đất liền. Nhân công xắn đất thành từng tảng cạnh chừng 30cm, trông tựa như hòn đá. Nhìn kỹ thì thấy màu vàng nâu (phốt phát) lẫn với cát và vỏ sò nhỏ lấm tấm.


Ông Nguyễn Văn Nghề, một nhân viên khí tượng từng ra đảo 9 lần kể rằng lúc công ty khai thác phân chim hoạt động (vào khoảng 1961-1962), xem các lao công đào xới phân, ông đã thấy nhiều vật lạ dưới lớp đất trên mặt đảo:


1) Nhiều đồng điếu bằng thau, gõ kêu keng keng, giữa có một lỗ vuông, có chữ nho. Ông không đọc được. Một nhân công người Việt gốc Hoa[3] nói rằng mấy chữ trên đó nói tiền làm từ thời vua Gia-Long, (Gia-Long Thông Bảo).


2) Nhiều ché và chén cổ rất đẹp. Ché cao chừng 60-70cm.


3) Một bộ xương người tầm vóc như người thường bị xiềng hai chân ở chỗ gần mắt cá và hai tay ở gần cổ tay. Hai chân duỗi thẳng. Hai tay úp vào nhau, trói ở phía trước mặt. Xiềng có khoen thật to, bề ngang cỡ 3-4cm. Hai đầu xiềng được khóa chặt với nhau bằng một cái khóa kỳ lạ gồm có hai phần:

- Một thanh sắt dài chừng 6cm, một đầu là ổ khóa, một đầu có gờ để giữ thanh sắt cong.


- Một thanh sắt cong, bán kính đường cong chừng 3-4cm, một đâu do cái gờ giữ lại, một đầu do ổ khóa.


Anh em khí tượng bèn cải táng cho người chết, đúc một tấm bia đề “vô danh, cải táng ngày…”


Gần bên bộ xương người là rất nhiều đồng điếu và một con dao ngắn. Lưỡi dao sáng loáng, con dao tuyệt đẹp: lưỡi dài chừng 30cm đầu nhọn, hơi cong về phía sống dao; cán bằng ngà; trạm một con rồng. Dao nay do thiếu úy Trực (địa-phương quân Quảng-nam) cất giữ.


Các nhân viên khí tượng năm đó còn gặp một tấm bia bằng đá cẩm thạch (?) cao chừng gần 1m, bề ngang chừng 0,5m. Phía trên của bia hình vòng cung, có trang trí một mặt trăng. Dưới mặt trăng (hay mặt trời gì đó) là một con dơi ngậm hai cái sợi vải. Giữa bia là nhiều hàng chữ nho. Dưới hàng chữ nho là một hộp ấn. Dưới hộp ấn là hai thanh gươm bắt tréo nhau. Dưới cùng là một cái bàn.


Ông Nghề đem tấm bia này vào Viện Khảo-Cổ Sài gòn khi ông trở về đất liền[4]


Đoàn người tiếp tục di chuyển vào đảo trên con đường độc nhất từ cầu tàu dẫn vào giữa đảo. Đây là xương sống của đảo.


Con đường này rộng chừng hai mét, đá cục lăn lóc trên mặt đường. Người ra đảo từ thời Pháp, lúc Nhật vào Việt Nam, nói rằng hồi đó đường lót đá xanh, trải nhựa tốt lắm. Gió bão đã phá hư hết, ở bên phải con đường có hai ngôi nhà nằm dọc theo đường, cách đường hai mươi thước. Người đã từng sống ở đây cho biết ngôi nhà gần nhà mình nhất là nhà chứa phân, bây giờ bỏ hoang. Còn ngôi nhà kia là nhà nguyện (nhà thờ), kiêm nhà xác. Gọi là nhà xác vì lúc đầu người ta xây để làm nơi chứa xác một viên đội (sergent) người Pháp. Sau này người có đạo vẫn thường vào làm lễ, biến thành một nhà nguyện (nhà thờ). Cái chết của người Pháp này ly kỳ lắm. Có dịp sẽ nhắc tới.


Khắp đảo, chỗ nào cũng thấy những cây lá lớn bằng bàn tay, màu xanh lá chuối non, mọc thành rừng thưa. Thân cây cứng, cao bằng đầu người hay hơn. Ngoài loại cây này, phía giữa đảo còn có vài cây dương liễu (phi lao) có lẽ đem từ đất liền ra.


Đi mút con đường là một giếng nước, đây là giữa đảo. Giếng nước không ngọt như trong đất liền, mà vị lợ. Về bên trái, cách giếng vài chục thước là hai ngôi nhà lớn, thật đồ sộ và kiên cố: một là đồn binh, một là ty khí-tượng. Thật là khác thường: mái nhà bằng phẳng làm bằng xi măng-giống như nhà thờ và nhà chứa phân-để gió bão không hủy hoại. Đây là nơi đầu sóng, ngọn gió nên chịu đựng những trận bão khủng khiếp. Mái ngói hay tôn sẽ bay như chiếc lá trong cơn mưa gió tàn khốc. Nhà cửa lơ mơ chỉ còn là đống gạch vụn. Cửa cứ phải làm lại hoài, mà cũng không chịu đựng nổi sức mạnh của gió bão. Gió mạnh đến nỗi có thể đập nát các cánh cửa ra thành miếng nhỏ. Trận bão lớn thổi qua đảo vào tháng 11 năm trước (1972) là một trong những trận bão lớn nhất.


Hai ngôi nhà lớn nhất trên đảo (đồn binh và nhà của khí tượng) cũng ngó về hướng bắc, nằm gần giữa đảo hơn là mé bờ biển phía nam. Trước mặt đồn binh là một sân bóng chuyền và cột cờ. Tại cột cờ này có một bia bằng xi măng của Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam Cộng-Hòa. Trên cùng của bia là dấu hiệu của binh chủng. Phía dưới có ghi “Tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến….”. Bia có ghi ngày lập nữa, nhưng người trên đảo, ai để ý tới chi tiết nhỏ nhặt đó.


Kế đến sân bóng chuyền nằm bên phải đồn binh là dãy nhà của binh sĩ. Trên nóc đồn binh, góc trông ra biển (phía nam) là một tháp canh, một góc khác có đèn pha thế cho đèn pha đã gãy đổ.


Nhà của khí tượng ở mé trái (phía tây) của đồn binh, cách đồn binh chừng 30m. Chếch về bên trái của nhà, là một dãy nhà phụ của khí tượng, gồm bốn gian: một nhà kho, kế bên là lò bánh mì, kế đó là nhà chứa hơi hydro, gian còn lại là nhà bếp. Tòa nhà rộng mênh mông dài 24m, rộng 4m, chỉ chứa có 4m, chỉ chứa có 4 người.


Một ngôi nhà nữa trên đảo là nhà của đồn binh, nằm ở hướng tây bắc của giếng, cách giếng chừng vài chục mét, cách đồn binh chừng 150m.


Ngoài con đường chính từ dưới cầu tàu đi lên, theo hướng đông-tây, trên đảo còn hai đường chính nữa:


- Đường thứ nhất song song với đường trên, chạy từ đằng sau nhà của khí tượng tới cuối đảo. Bên phải con đường là ruộng muối cũ[5]


Gần cuối đảo, ở bên trái con đường là đèn pha cũ, nay đổ nát. Gần tới cuối đảo, đường mòn quẹo trái dẫn tới miễu Bà nằm trên bờ biển.


- Đường thứ hai đi từ giữa giếng về bờ biển phía bắc. Đường này hơi hẹp hơn con đường từ cầu tàu vào. Đây là con đường có nhiều người đi lại nên cây cối không thể mọc lên được. Bên trái con đường có hai cây dừa, nhiều cây thông. Bờ biển phía bắc là vùng nhiều cá. Còn nửa phía tây của đảo là vùng ít người lui tới vì góc tây bắc của đảo là vùng ít người lui tới vì góc tây bắc của đảo là vùng sóng lớn, biển động, ít cá và góc tây nam là “Vùng của Bà” .


Từ nhà của khí tượng và đồn binh có những đường mòn đi về phía giếng, đi ra bờ biển phía nam và đi ra giếng nước. Đây là những đường được tạo thành do bàn chân người dẫm nát cây cỏ, do sự tiện lợi, chứ không theo một kế hoạch sắp xếp. Đó đây là những đường gần nhất đi ra biển của những người sống trên đảo. Người ngoại quốc từ các tàu đánh cá đậu ngoài khơi, phía nam của đảo lên bờ, vào đảo đổi nước ngọt lấy đồ ăn tươi, rau, trái cây do những con đường mòn hướng nam-bắc này.


Như vậy, hệ thống đường xá trên đảo thuận lợi cho di chuyển từ nơi cư trú (gần như đảo) về bốn phía trên đảo.


Để bảo vệ đảo, người Nhật (thời thế chiến thứ hai) đã đem đá từ Quảng-nam ra xây năm lô cốt trên bờ biển:


-Một ở phía nam: ở cuối các con đường mòn từ ty khí tượng và đồn binh đi ra bờ biển phía nam.
bảo vệ cầu tàu và mạn phía đông của đảo.

-Một ở phía đông nam
-Một ở phía đông bắc
-Một ở phía bắc: Ở cuối con đường mòn từ giếng ra bờ biển phía bắc.
-Một góc đông bắc.


Các lô cốt này bảo vệ đảo chống lại các cuộc tấn công nếu có từ vùng biển xung quanh.


Tại sao người Nhật không xây lô cốt gần miễu bà? Có lẽ họ cũng xây, nhưng nay đã đổ nát cũng như các lô cốt kia (nay chỉ còn vết tích là các đống bê tông

cốt sắt).

MIỄU BÀ


Trong cảnh cô đơn, sóng, gió, miễu bà là nguồn an ủi lớn lao cho những người trên đảo cũng như những người thường lui tới nơi này. Nhang, đèn được người trú đóng trên đảo đem từ đất liền ra. Dân Việt, Tàu, Nhật, Tân-gia-ba đánh cá quanh vùng khi ghé ngang đảo cũng đem nhang vào khấn vái. Miễu đặt ở góc tây nam của đảo, nơi mà từ đất liền ra là gặp ngay. Bà quay mặt ra hướng này để che chở cho ghe, tàu từ đất liền ra.


Miễu mới được xây sau khi người Nhật thất trận, nhưng trước năm 1948. Cũng giống như lối kiến trúc khác trên đảo, miễu cũng chỉ là một “cái hộp” nóc dài bằng 6m, rộng 4m, cao 3m, có một cửa duy nhất trông ra biển.


Trước mặt miễu là một bức bình phong. Dưới chân bức bình phong là đám san hô được sắp xếp như một mâm xôi. Bên ngoài đám san hô này là những đường trang trí bằng các lon đồ hộp cắm xuống cát, do anh em binh sĩ bỏ công ra làm. “Cây nhà, lá vườn” ngoài đảo này không có hoa, có gì làm nấy, miễn là lòng thành. Gần có một bia do người Pháp lập, có người còn nhớ có chữ “Le Président…”


Qua cửa, bước vào trong là gặp một hàng binh khí cổ truyền chắn ngang. Gió, bão phá hư nên đến năm 1973, chỉ còn một thanh đao, treo ở bên trái của bà.


Tượng Bà đứng trên một bệ xi măng. Đầu và mình được choàng bằng chiếc khăn và mảnh vải màu hồng, do một nhân viên khí tượng trước kia làm việc ở đây gửi ra thay cái cũ. Người từng sống ở đây về, vẫn thường gửi nhang ra cúng Bà.


Vào miếu lạy và khấn, ít ai dám ngó bà lâu. Một vài kẻ bạo dạn kể rằng tượng bà cao chừng 1,50m tương tự các tượng Phật vùng Non-nước gần Đà-nẵng. Có kẻ thành thạo hơn nói rằng Bà giống Bà ở Phú-quốc.


Mặt bà phúc hậu, đôi mắt hiền từ, tai dài. Người tạc tượng để Bà mặc chiếc áo the dài quá đầu gối.


Hai tay bà cầm một cái chén hình 6 cạnh, bề ngang chừng 4-5cm. Người ta bảo rằng đó là bát nhang.


Đằng trước Bà, là tượng Phật Thích-ca. Trong miễu còn có đèn dầu, bát nhang, hai chân đèn, chuông, mõ, để trên kệ. Ngoài ra, trong miễu còn có thẻ và ba đồng điếu để xin xâm. Xâm linh lắm. Nghe kể chuyện một người lính xin Bà cho ở lại đảo. Bà không cho (qua xâm). Anh ta không tin. Thường thường, ai xin ở lại đảo cũng đều được chấp thuận, vì đỡ phải chọn lựa người khác thay thế, tốn kém lắm. Gần đến ngày mãn hạn, anh ta xin cấp chỉ huy từ đất liền ở lại nữa. Vị chỉ huy chấp thuận. Sau vài ngày, chị vợ nhớ chồng quá, giả bộ đau, van lạy cấp chỉ huy ở đất liền cho chồng về. Thế là anh chồng phải rời đảo, như ý muốn của Bà.


Vùng biển trước mặt miễu gọi là vùng riêng của Bà, không được ai lai vãng tới. Tới đó kiếm cá là Bà quở phạt ngay. Cái chết của một viên đội (sergent) Pháp đưa đến việc thành lập nhà xác được truyền kể như sau:


Anh chàng “sergent” này thuộc về công binh, nên chất nổ rành rẽ lắm. Một hôm anh tới “Vùng biển của Bà” châm ngòi cho cháy một bánh thuốc nổ để bắt cá. Anh ta ngó hoài không thấy lửa cháy ngòi. Không ngờ lửa không cháy cả cái ngòi, mà chỉ cháy phần giữa của ngòi, ăn lan vào trong và chất nổ làm anh ta chết.


Một chuyện khác kể rằng có hai người lính đem chất nổ ra trước miễu Bà, không tin chuyện dị đoan. Cả hai người thấy một cặp cá thật to đang lờn vờn gần bên các tảng đá. Một người châm ngòi bánh thuốc nổ, nhưng tay cầm chặt, đứng trân trân ra ngó lửa cháy, mà không chịu ném. Anh kia thấy thế, sợ quá, co giò chạy. Một tiếng nổ lớn làm người cầm thuốc nổ chết ngay, còn người bỏ chạy bị thương.


Bà linh thiêng như vậy, nên là nguồn an ủi, là niềm tin cho những người cô đơn trên hải đảo.


Thời Nhật chiếm đảo, Bà chưa có miễu che mưa nắng. Bà đứng giữa các cọc bằng tre do dân chài dựng lên. Ở bờ biển gỗ, tre, táp vào luôn luôn, đủ để dân trên đảo dùng làm củi chụm, ít khi phải đốn cây rừng. Gỗ, tre từ các ghe, tàu đắm trôi giạt vào, nhiều nhất ở góc đảo bên đối diện với miễu Bà, cùng ở phần phía tây của đảo. Tại đây, bờ biển hơi cao hơn các phần khác của đảo vì sóng biển đầy cát, san hô vào bờ thành từng đám cao. Ở vùng này, sóng gió mạnh hơn cả, nhất là lúc biển động. Ngoài những thanh gỗ, tre, đôi khi người ta còn gặp cả sọ người, xương người.


Người lạ tới đảo vào cúng Bà, thường đem theo nhang đèn, chân nhỏ như sợi tăm, hương rất thơm.


Mé bên trái của Bà là nghĩa địa, nơi chôn người chết chứ không phải nơi có nhiều vỏ sò, ốc như “ nghĩa địa ốc ” ở góc đông nam của đảo. Nơi đây có hai hàng gò mả song song với nhau, đầu quay ra biển, hướng về phía tây-nam, nghĩa là hướng về phía đất liền. Mả có từ lâu lắm rồi. Những người ra đây từ thời lính khố xanh đã thấy. Mả có nhiều bia, bằng đá có, cây có. Mả cũ có, mới có. Mả có bia bằng gỗ, đá, hay xi măng. Mả mới nhất là của Thủy Quân Lục Chiến VN CH. Cuối năm, gần tết, anh em sống trên đảo cũng dọn dẹp, sửa sang lại các gò mả không bà con chăm sóc.


Rằm, mồng một tết, hay lúc có người đau yếu, anh em thắp nhang cầu khẩn.

CÔNG-TÁC

Những người được đưa ra đây đều lãnh nhiệm vụ riêng: người thì bảo vệ lãnh thổ, kẻ thì ghi nhận tình trạng thời tiết. Sứ mạng của các anh lính nghe thì to lắm, nhưng đối với họ chỉ là chuyện bình thường. Họ đã từng làm công chuyện đó từ bao lâu nay ở đất liền. Bây giờ họ chỉ tiếp tục công việc thường xuyên đó.


Ngoài này từ hồi nào tới giờ có đánh nhau đâu, nên có chia phiên gác, nhưng cũng thảnh thơi lắm. Gác thì tới phiên mới gác. Còn thì chẳng có chuyện gì làm, buồn lắm. Ngoài chuyện đánh bóng chuyền, bắt cá, bắt ốc, còn gì nữa đâu. Súng trở thành vô nghĩa, phải cất kỹ vào kho.


Các nhân viên khí tượng thì cũng rảnh rỗi như vậy. Mỗi ngày chỉ phải làm tám lần quan trắc gọi về Saigon qua hệ thống vô tuyến điện thoại siêu tần số (motorolar): lúc 8 giờ sáng, 11 giờ trưa, 2 giờ chiều, 5 giờ chiều, 11 giờ khuya, 2 giờ khuya, 5 giờ sáng. Khi có bão, quan trắc phải làm và báo cáo hàng giờ. Nhờ đó, sức mạnh và hướng đi của trận bão được biết rõ và thông báo cho dân chúng, tàu bè, máy bay. Từ Sài Gòn qua hệ thống viễn thông, vùng Đông Nam Á và Đông Á biết đến Hoàng Saqua ám số 48860. 48 là vùng Đông Nam Á. 860 là ty khí-tượng Hoàng-sa.


Ty khí-tượng Hoàng Sacòn kiêm luôn cả ty bưu điện, đóng dấu trên thư từ gửi về đảo. Thư từ thì trước kia chỉ có nhân công hãng phân mà thôi.


CUỘC SỐNG TRÊN HẢI ĐẢO


Sống ở ngoài này hoàn toàn lệ thuộc vào sự tiếp tế từ đất liền. Lúc đi, phải chuẩn bị thức ăn đầy đủ trong ba tháng. Trước khi Nhật đảo chính, các nhân viên khí tượng cũng như toán lính khố xanh là người Việt, trừ viên đồn trưởng người Pháp, tàu ra đảo cứ ba tháng một lần. Đôi khi mỗi tháng một lần. Sau khi người Pháp trở lại Đông-dương, toán lính canh phòng hoàn toàn là người Pháp, nếu tàu ra tiếp tế mỗi tháng một lần. Có thể có những viên chức chánh quyền ra nữa. Người thành thạo kể hình như có lần ông Phan Văn Giáo đã ra đây. Khi trao trả cho Việt-Nam, tàu cứ ba tháng ra một lần, như trước đảo chính Nhật. Khi Thủy Quân Lục Chiến Việt-Nam Cộng-Hòa trấn giữ quần đảo (trước năm 1959), có lần máy bay từ đất liền ra thả dù tiếp tế, nhưng phi công lại thả xuống đảo Phú-lâm (Ile Boisée), nơi Trung Cộng chiếm đóng. Hồi đó Trung Cộng chỉ mới chiếm các đảo trong nhóm đảo Tuyên-đức (Groupe de I` Amphitrite) mà thôi. Như đã kể, thời Pháp anh em ra đảo đã từng được tàu Pháp chở đi kiểm soát các đảo, kể cả đảo nhỏ và nhóm Tuyên-đức xa xôi.

Ở đây chất tươi (rau, thịt) hoàn toàn thiếu thốn. Xưa kia đời sống dễ dàng, gà, vịt, heo có thể mua đem theo dễ dàng.


Biển cả đầy dẫy cá, tôm, ốc nhưng cũng phải bỏ công lao khó nhọc ra chứ, đâu có dễ dàng, đâu phải lúc nào muốn ăn cá là xuống biển vớt, có ngay. Việc bắt cá dễ dàng chỉ có 7 ngày trong tháng theo tuần trăng: từ mồng một tới mồng bốn và từ rằm tới mười tám. Lúc đó, nước ròng thật sát[6], để trơ phần san hô ra, cá, tôm, vào các hang, hốc đá, hõm kiếm mồi, ra không kịp, anh em mặc sức mà bắt cá, tôm, ốc. Đó là những ngày vui nhất trên đảo. Buổi sáng, anh em dậy thật sớm (4-5 giờ), cơm nước xong xuôi là kéo nhau đi bắt cá cạn. Từ 5 giờ sáng, nước bắt đầu rút xuống, tới 7,8 giờ thì nước ròng thật sát. Ở bờ phía nam, nước biển rút ra cách chân bờ biển cát vàng tới gần 200m. Ở phía bắc đảo, vùng san hô bao quanh còn xa hơn nhiều, lại chạy vòng về phía đông bắc nữa.


Khi nước ròng thật sát, vòng đai san hô bao quanh đảo Hoàng Sa (pattle) nối với các mỏm san hô mới nhô lên (Mỏm quan sát: Banc des observations, Récif Antilope) ở phái đông bắc đảo. Người ta có thể dùng chân để ra mỏm Quan-sát, nhưng phải chạy cho lẹ thì mới tránh được nước thủy triều dâng.


Người bạo dạn dám ra tới bìa san hô nói rằng hết san hô là vùng biển thẳm, còn gọi là mé sóng. Mé sóng ở đông bắc của đảo là nơi có nhiều người đã lượm được các mảnh chén sứ rất đẹp.


Ít người dám ra tới mé sóng, vì khi nước thủy triều dâng lên, đường xa, chạy vô không kịp.


Đi bắt cá cạn, không ai dám đi một mình, phần vì nguy hiểm, phần vì ở nhà không có chuyện gì làm, buồn.


Phải đi đông vì lỡ nước vào hõm[7], hụt chân thì có người kéo lên.


Biển lúc đó thật là nhộn nhịp. Từng toán dăm ba người đi giày nhà binh, tay xách giỏ, dở từng khối đá (san hô và vỏ sò ốc dính cứng lại với nhau) ra bắt cá. Phải đi giày nhà binh vì đi chân đất thì san hô cứa chảy máu chân. Cá biển có ngạnh bén. Người không rành phải đem cả vớ nhà binh theo lót tay cho khỏi đau. Người kinh nghiệm, trước khi ra đảo đã sắm những cái nĩa (đinh ba) có cán dài chừng 1,50m đầu có đinh nhọn dài vài phân. Đây là thứ kiếm cá rất tốt. Cá ở đây bạo lắm, thấy mình cứ nằm yên, mà có chạy cũng hết nổi vì xung quanh hang hốc, nước đâu còn nữa. Cái nĩa phóng vào mình cá là ăn chắc.


Không có nĩa, nhiều anh em ra cầu tàu đập bê tông bể lấy sắt 8-10 ly đập nhọn đầu để làm dụng cụ đâm cá. Cá có đủ loại: cá mú, cá bò, cá mó, cá hồng, mực…,nghĩa là đủ loại giống như trong đất liền. Nhưng cũng có nhiều con kỳ dị như cá “khăn bàn” lớn bằng khăn bàn. Người nào bạo gan ra xa câu được nhiều loại cá ngon như cá thu. Nghe nói đảo này có chân nên các rúc vào chân đảo kiếm mồi.


Ngoài cá ra, anh em còn bắt những con tôm hùm thật to, càng to bằng ngón tay út, trong toàn thịt.


Ngoài cá ra, bắt ốc cũng là việc làm vui nhộn. Ốc có nhiều loại kỳ lạ, vỏ ốc đủ màu, lóng lánh rất đẹp. Không biết tên của chúng là gì, nghe nói ốc “Porcelaine”. Có người bắt phơi khô, bỏ vào hàng bao bố đem về. Bởi vậy, tới cuối năm 1973, ốc bắt đầu ít đi.


Có nhưng con sò khổng lồ. Lỡ tay để vào miệng, nó kẹp lại là hết rút ra. Gân của nó ăn rất ngon.


Tới 9-10 giờ, tới 4-5 giờ chiều thì lên cao nhất, rồi lại xuống từ từ.


Trong những ngày đầu và giữa tháng, mỗi ngày nước ròng chậm chừng nửa giờ. Thí dụ ngày 15 ròng lúc 7giờ, ngày 16 ròng lúc 7 giờ 30, ngày 18 ròng lúc 8 giờ. Tới ngày 19, nước lại ròng lúc 6 giờ. Nước ròng trễ thì lên cũng trễ, mỗi ngày một giờ.[8]


Có người nhận thấy lúc nước ở Hoàng Saròng sát thì ngược lại, nước ở sông Sài-Gòn dâng lên cao nhất, tràn ngập vùng đất hai bên bờ.


Những ngày nước ròng sát nhớ như in vào tâm trí mọi người sống trên đảo, vì là nhũng ngày vui nhất trên hòn đảo hiu quạnh.


Những ngày khác, nước chỉ rút xuống một khoảng ở chân bờ biển, chưa tới vùng san hô rồi lại dâng lên.


Trong những ngày đi bắt cá cạn, anh em ăn uống đầy đủ nhất. Còn những ngày khác, cá, tôm đâu có dễ dàng để mình bắt. Muốn có cá phải câu. Đâu phải bất cứ ai câu cũng có cá cả đâu, phải tùy tay. Phần lớn, anh em không quen nghề biển, nên câu thật khó khăn. Người bạo dạn lội ra xa, đứng dưới nước câu thì có cá, cá lại to mà ngon nữa, nhưng việc đi vào bờ thật khó khăn. Trên bãi san hô, có những chỗ thình lình sâu hẳn xuống (hõm) khi nước dâng cao đi qua chỗ đó có thể bị ngập đầu. Qua khỏi, đáy biển lại cạn như những chỗ khác. Khi đi qua đó phải cẩn thận.


Cầu tàu có nhiều tảng xi măng lớn, rong, rêu, bám đầy, cũng là nơi lắm cá, nhưng để dịch được chúng lên cũng là cả một vấn đề. Chúng cắn mồi, nhưng rúc vào kẹt đá thì lôi hết ra, lại mất cả lưỡi câu nữa. Những tay lão luyện dùng nhợ cỡ lớn vẫn kiếm được cá ở đây.


Không ai dùng lưới vì san hô cứa rách lưới. Có ca nô ra ngoài xa, mé sóng thì cá nhiều lắm. Đến mùa cá, tàu ngoại quốc tới đánh đầy mặt biển, nhiều như “những chiếc lá tre”[9] nổi trên biển. Lúc đó, cá đi hàng đàn, tràn ngập cả biển. Đuôi chúng chổng lên trời như tàu đang chìm. Thế mà trong bờ kiếm cá đâu có dễ dàng.


Người sống trên đảo phải biết nghĩ đến ngày mai. Lúc có nhiều cá thì phải phơi khô, để dành cho lúc không kiếm được. Những ngày mưa, bão, biển động, thường chỉ ăn cơm với nước mắm.


Lính địa phương chia quân thành 3 tổ. Mỗi tổ 10 người thay phiên nhau kiếm cá nên tương đối dễ chịu. Còn 4 nhân viên khí tượng thật là vất vả.


Biển còn có rau câu. Trước năm 1970, ít ai chịu vớt rau câu đem về. Sau đó hình như có người đặt trước, anh em binh sĩ vớt thật nhiều. Tới năm 1973, không còn để cho vô bao nữa.


Một nguồn thực phâm khác là con vít. Cũng như cá, bắt nó phải có công phu và có mùa. Tháng 5, 6, 7, vào những đêm sáng trăng, những con rùa biển đó từ biển bò lên bãi cát đào lỗ để đẻ trứng rồi lấp đi đánh giấu chỗ chôn trứng. Trứng vít lớn bằng cái hộp quẹt Zippo. Nấu chín thì lòng đỏ đặc lại như trứng gà nhưng lòng trắng thì lầy nhầy.


Vít lên bờ thì thân mình to lớn và những đôi chân thô kệch để lại quá rõ ràng trên mặt cát. Anh em phải canh đến khuya, đi kiếm những dấu vết đó, đuổi theo là bắt gặp. Vít to bằng một cái bàn nhỏ (1x 1,5m), nặng nề, chậm chạp trên đất liền. Anh em chỉ việc lấy hai tay lật ngược lại, là bốn chân nó chới với trên không khí. Móng vít có thể chữa cho trẻ con khỏi sài, đẹn.Thịt vít tương tự thịt bò: sớ to. Đồi mồi thì họa hoằn lắm mới gặp.

Trước khi xảy ra vụ Trung Cộng chiếm đao, anh em bắt được hai con đồi mồi. Trước ngày bị Trung Cộng bắt, anh em thả đi một con, còn một con vẫn nuôi trong bể nước.


Một nguồn lợi khác trên đảo là muối.


Nước biển thì mênh mông xung quanh đảo, nhưng trên đảo thì thiếu muối ăn, phải chở từ đất liền ra. Vì vậy, thời Pháp, một viên đồn trương đã ra lệnh cho đám lính khố xanh dưới quyền làm một ruộng muối nhỏ ở phía tây của đảo. Cây rừng bị đốn, đào gốc và rễ. Cỏ được nhổ cho hết. Vì đất trên đảo thường là cát lẫn lộn với vỏ sò, ốc, nước dễ bị hút hết nên mặt bể muối được đổ trên nền tráng xi măng, xung quanh có bờ cao để nước khỏi chảy ra ngoài. Bể muối gần như tròn, bên trong chia thành từng ô vuông, mỗi cạnh chừng 1,5. Tổng cộng kể có 6 ô vuông.


Sau đó, hàng ngày, anh em khố xanh phải gánh nước đổ vào ruộng. Bao nhiêu sức lực, mồ hôi đổ ra, nhưng cuối cùng cũng chẳng có hột muối. Mặt ruộng muối cứ nứt nẻ hoài. Nước rút thật đi mau. Có người giải thích: đất trên đảo toàn cát và đá vôi, không giữ nước như đất sét, lại không làm nền chắc, nên không thể làm ruộng muối được.


Những ngày cuối cùng khi đảo còn thuộc về người Việt, vết tích của một công trình vẫn còn trên đảo, tuy mưa bão và cây cối cũng đang xóa nhòa dần.

 


PHÂN PHỐT PHÁT


Phân phốt phát trên mặt các đảo trong quần đảo Hoàng Sa(Para-cels) là một nguồn lợi đáng chú ý. Nhiều cuộc khảo sát của các nhà địa chất học cho biết lượng phân đủ khai thác có lợi[10].


Năm 1956, ông Lê Văn Cang được chính phủ Việt-Nam Cộng-Hòa cho phép khai thác phân tại quần đảo Hoàng-sa, nhưng đến năm 1961 mới khởi công. Công ty Hữu-Phước (Hyew-Huat)[11] được ông Cang giao cho các công tác lấy phân và chuyên chở về Saigon.


Số lượng phân do công ty này đã khai thác trong những năm đầu tiên (1957-1958-1959) là 8.000 tấn.


Từ năm 1960, một công ty khác (Công ty phân bón Việt-Nam) của ông Bùi Tiến Thành giữ vai trò khai thác phân tại quần đảo Hoàng Sa(Paracels) còn Hyew-huat chỉ chuyển vận. Số lượng phân khai thác được của hai công ty nói trên trong năm 1960 là 1.570 tấn, năm 1961 là 2.654 tấn, 1963 là 3.000 tấn. Số lượng phân đã được lấy lên, chuẩn bị đem về trong năm 1962 là 12.000 tấn.


Sau đó, gặp nhiều trở ngại về mọi phương diện: phương pháp và kỹ thuật khai thác, biến chế, chuyên chở, tổ chức, thị trường, chính trị[12], các công ty trên đã ngưng hoạt động (1962).


Sau năm 1970, thị trường phân bón ở Việt-Nam-Cộng-Hòa ngày càng rộng lớn, giá phân lên cao, nên nhiều tư nhân cũng như công ty[13] lại chú ý khai thác phân ở quần đảo Hoàng-sa.


Công-ty Kỹ-nghệ phân bón Đại-Nam (KYPHADACO)[14] do ông Đào Nhật Tiến thành lập, cho biết thành phần phốt phát trong phân sản-xuất từ lớp san hô lấy ở trong các đảo trong quần đảo Hoàng Sacó phẩm chất tốt. Ông Tiến mua lại san hô có chứa phốt phát còn lại trong các kho, nghiền cho thật mịn rồi nung lên, đem bón thử cho cây thì kết quả thật mỹ mãn: cây phát triển mạnh sau nửa tháng được bón phân này. Phòng thí nghiệm của Viện khảo-cứu (Bộ cải cách điền địa và phát triển Nông Ngư Nghiệp)[15] cho biết kết quả phân tích 5 mẫu của

phân Hoàng Sa của ông Tiến như sau:

N : 0%
P ­2 ­O­5 :20.51%
K2O :15.25%

Thành phần phốt phát chứa 16% trọng lượng phân thì phân mới có lợi cho giới tiêu thụ. Trong các mẫu phân đưa thí nghiệm, thành phần trên ở mức độ tốt (20,51%), lại có thêm một lượng pô-tát tốt nữa.


Theo ông Tiến, giá phân Hoàng Sarất rẻ, chỉ bằng một phần tư giá phân nhập cảng:


Giá thành phân Hoàng Sa( vốn sản xuất, chuyên chở, lời…) là 25$/kg. Trong lúc đó (1972) giá phân nhập cảng là 100$/kg.


Ông Tiến còn khám phá ra một loại tài nguyên khác ở Hoàng-sa: “Cát”[16] và vỏ sò, ốc ở đây rất tốt (chứa 40% chất vôi theo sự phân tích của Viện Khảo-cứu, BCCĐĐ và PTNNN). Cát, vỏ sò và ốc ở đây xay thành bột, rồi đem nung lên được ông đặt tên là “Cát trắng Hoàng-sa” Có thể bị phèn trong ruộng và trộn với đồ ăn cho gia súc, cần thiết cho ruộng phèn và kỹ nghệ thực phẩm gia súc.


Giá sản xuất tại Hoàng Sacho loại này là 3$/kg.


Công ty KYPHADACO dự định thành lập một nhà máy sản xuất phân và “Cát trắng Hoàng-sa” ngay trên đảo H oàng-sa (Pattle), trước khi Hoàng Sabị mất vào tay Trung Cộng.


Theo ông Tiến, “Cát trắng Hoàng-sa” mới đáng giá hơn phân,vì phân mau hết, còn cát trắng thì dồi dào hơn. Đảo Hoàng Sa(Pattle), diện tích 3,6ha, chỉ đào sâu được 1m, vì đất ở sâu hơn thì nước biển thấm vào, không dùng được. Như thế, đảo này có 36000m3 đất dùng được. Mỗi chuyến tàu chở 1000m3 thì chở 36 chuyến, hay hơn 1 tháng là hết sạch[17].


Theo 1 số doanh nhân Việt Nam, quần đảo Hoàng Sacó thể thuận lợi cho du lịch.


NHỮNG NGƯỜI KHÁCH LẠ


Vùng biển quanh hải đảo này là nơi lui tới của nhiều tàu lạ. Từ đảo nhìn ra bằng mắt thường thấy các tàu đó bằng điếu thuốc lá, hay bằng chiếc lá tre. Chúng thường là tùa cá, chạy tới chạy lui, hoặc bỏ neo đánh cá, đánh tôm, bắt ốc, từ bờ nhìn ra, không biết chúng là ghe tàu của quốc gia nào. Khi nào chúng lại gần, nhìn cờ thì mới biết. Ngoài ghe tàu Việt-Nam, còn thì Nhật-Bản, Trung-Hoa Quốc gia, Phi-Luật-Tân, Tân-Gia-Ba không phải là hiếm, nhưng thường tới nhất là Nhật-Bản. Có khi chăng biết chúng là tàu quốc gia nào nữa.


Người Việt vốn quí khách. Khách tới, đi ca nô hay xuồng nhỏ vào đảo là được tiếp đón niềm nở. Nhất là những lúc khách gặp cơn hoạn nạn (cần nước ngọt, gặp bão) lại cần phải sốt sắng cứu giúp. Chủ và khách đều vui vẻ. Khách chân thật không có gì đáng e ngại, vì khách thường từ các tàu cả tới (1), lại không có khí giới gì cả. Chủ lại được tự do xuống tàu xem nữa. Nhưng ôi thôi! mấy chiếc tàu cá đó thối lắm! xuống làm chi!


Quen với những kẻ lạ thường xuyên tới, anh em chẳng bận tâm đến họ. Họ có thể lên đảo nghỉ ngơi hoặc chạy nhảy cho khỏi chồn chân tắm nước ngọt ở giếng. Họ có thể đem lưới và cá lên đảo phơi nữa, nhát là trên đảo Hữu- nhật (Cam- tuyền, Robert). Nghỉ ngơi xong, họ lại xuống tàu, nhổ neo đi.


Sống quạnh hiu trên đảo, bỗng dưng có người tới thì cũng vui. Chủ và khách không cùng ngôn ngữ, nhưng rồi cũng hiểu nhau. Khách lạ tới là những lúc vui vẻ. mà chủ cũng mong khách tới nữa. Khách thường rất rộng rãi: đổi vài thùng nước lấy thuốc lá, đồ ăn tươi, rau, trái cây lạ, quả là hời giá.


Khách không tỏ ra vẻ nguy hiểm, nhưng đôi khi anh em cũng thấy những triệu chứng khác thường:


- Năm 1960, một nhóm người Phi-luật-tân lên bờ, đem theo dụng cụ đo đạc, ngắm nghía. Anh em trên đảo ra xem xét. Họ có vẻ vội vàng, lăng xăng trên đảo, rồi lại xuống ca nô ra tàu.


- Một lần trước năm 1970, một bọn người không rõ quốc tịch lên bờ, xin nghỉ ngơi. họ nói tàu đánh cá của họ bị bão. Khách lạ thì ta có từ chối bao giờ đâu. Các anh lính bỗng chú ý tới bọn này, vì họ đem theo một tấm giấy lớn, mở ra thì biết là một tấm bản đồ của đảo. Một anh lính thấy tên cầm bản đồ ngược, liền kêu lên: “cầm bản đồ ngược”. Anh ở trên đảo lâu ngày, hang hốc nào chẳng biết, nên thoáng nhìn thấy dáng quần đảo Hoàng- sa (Paracels) trên bản đồ là anh nhận ra ngay từng vị trí các đảo. Tên nọ giật mình, quay bản đồ lại. Thế là anh biết ngay tên kia biết tiếng Việt. Nếu không hiểu tiếng Việt, tên kia phải vụng về lắm chứ, đâu có quay ngay bản đồ lại, ngay sau khi nghe anh nói.


Thế rồi cũng chẳng có gì xảy ra cho tới giữa tháng 1- 1974.

VIỆC BẢO VỆ QUẦN ĐẢO


Những người ra đây nhiều lần chẳng cần suy tư về những người lạ dưới tàu lên, vì mọi chuyện đều êm đềm, đâu có gì đáng lo. Tuy vậy, vài người lớn tuổi đã bắt đầu suy nghĩ. Năm 1944, khi Nhật đóng ở Đông- Dương các vị đó đã từng ngắm nhìn hòn đảo Phú- lâm (Ile boisee) thơ mộng, nhìn bãi cát vàng trên đảo tây ( Ile Onest) hoặc đảo cây (Tree Island) khi tàu đi vòng quanh các đảo đó, trước khi ngừng ở Hoàng- sa ( Pattle). Tàu Pháp có thói quen đi tuần qua tất cả các đảo trong quần đảo Hoàng- sa ( Paracels), trước khi cho các nhân viên khí tượng và lính khố xanh xuống đảo thay thế đám củ trên đảo Hoàng- sa (Pattle).


Người Pháp chỉ lập căn cứ ở đảo Hoàng- sa ( Pattle), một đảo gần đất liền để tàu ra cho gần. Đảo Hoàng- sa (Pattle) lớn, tuy không bằng Phú- lâm (Ile boisee), nhưng ở gần trung tâm quần đảo, gần nhiều đảo, việc kiểm soát dễ dàng hơn Phú- lâm (Ile boisee). Các toán lính khố xanh và lính Pháp đôn trú trên đảo có xà- lúp thường xuyên đi kiểm soát các đảo.


Thời Pháp thuộc, số lính khố xanh trấn đóng chừng vài chục người, dưới quyền chỉ huy của một viên sĩ quan Pháp.


Khi Nhật đảo chính pháp, anh em trên đảo bị bỏ rơi, bèn kiếm gỗ làm bè thả trôi về đất liìen. Sau mấy ngày nhịn đói, khát, họ táp vào bờ biển Qui- Nhơn.


Người Nhật chiếm đảo, rồi xây các lô cốt xung quanh đảo để phòng thủ.


Sau khi Nhật đầu hàng, Pháp trở lại Đông- Dương họ lại ra trấn giữ đảo. Toán khí tượng đầu tiên (sau khi Pháp trở lại Đông- Dương) ra làm việc vào tháng 9/1947. Toán quân nhân pháp gồm 1 trung đội toàn người pháp. Lúc này tình thế đã biến chuyển. Tàu không đi vòng qua nhóm Tuyên- Dức (Groupe de I’Amphitrite) nữa. Nghe nói nơi đó người tàu đã chiếm rồi. (1) Ôi! Một hòn đảo thơ mộng đã lọt vào tay kẻ tham lam! Mỗi buổi sáng trời tốt, anh em nhìn về phía đông bắc, thấy hòn đảo Phú-lâm (Ile Boisée) qua kính “thiên văn”[18] (théoldoite) mà thấy xót xa.


Người Pháp canh phòng đảo rất kỹ. Họ dùng xà-lúp đi tuần quanh các đảo luôn luôn. Chân cầu tàu bây giờ còn vết tích căn nhà để xà lúp. Họ xua đuổi các tàu bè lại gần đảo. Đuổi mà không đi là họ bắn ngay.


Về sau, một tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến Việt-Nam Cộng Hòa có nhiệm vụ bảo vệ các đảo còn lại. Sau đó số quân đóng trên đảo Hoàng Sa(Pattle), Hữu-nhật (Cam tuyền, Robert), Quang-ảnh (Vĩnh-lạc, Money) Quang-hòa (Duncan), Duy mộng (Drummond) và các đảo khác rút xuống còn một đại đội thuộc tiểu đoàn 42/162. Ngày 8-5-1957, hải vận hạm Hàn-giang chở một đại đội Thủy Quân Lục Chiến khác từ Nha-trang ra thay thế. Thủy Quân Lục Chiến có đầy đủ phương tiện (ca-nô, xăng nhớt…) nên họ cũng đi tuần, canh phòng thường xuyên.


Ngày 5-10-1959, tỉnh đoàn Bảo-an thuộc tỉnh Quảng-nam có nhiệm vụ bảo vệ an ninh quần đảo. Tỉnh đoàn cử 43 Bảo-an viên ra thay đại đội Thủy Quân Lục Chiến giữ các đảo trên. Tuy vậy, trên đảo Hoàng Sa(Pattle) vẫn còn một trung đội Thủy Quân Lục Chiến gồm 30 người.


Binh sĩ Bảo-an sau này đổi tên thành địa phương quân, thuộc tiểu khu Quảng-nam. Địa phương quân phương tiện eo hẹp, không có ca-nô đi kiểm soát các đảo, nên coi như chỉ trấn đóng trên đảo Hoàng Sa(Pattle) mà thôi.


Về sau, số quân giảm xuống, chỉ còn một trung đội, do một trung úy hoặc thiếu úy chỉ huy.


Người mới ra đảo Hoàng Sa(Pattle) nhìn vào tình trạng quân sự đó thật là lo ngại. Không có phương tiện kiếm soát các đảo khác nên không biết kẻ lạ làm những chuyện gì đó trên đảo. Đảo lại không có phương tiện truyền tin với các tàu (cờ, đèn hiệu…) nên muốn ra lệnh cho các tàu cũng không được. Thời buổi này khó khăn, anh em binh sĩ đâu dám bắn bậy, bắn hạ như người Pháp, phải có lệnh mới được nổ súng. Viên sĩ quan địa phương quân không rành về mặt biển, không biết các loại tàu.


Lo gì thì lo, chứ có sao đâu. Từ trước tới giờ (đầu năm 1974) có chuyện gì xảy ra đâu.


NHỮNG DẤU HIỆU KHÁC THƯỜNG


Ra đảo được hai tháng, nghĩa là còn một tháng nữa thì hết kỳ hạn đóng trên đảo, một vài anh em nhận thấy ở mõm san hô phía đông bắc của đảo Hoàng Sa(Pattle), cũng trong nhóm đảo Nguyệt-thiềm (Grope de Croissant), có nhiều tàu xuất hiện, và neo tại đây. Anh em tưởng chỉ là các tàu đánh cá như mọi khi. Có người chỉ cảm thấy không phải là chuyện bình thường.


Đồng thời, có một tàu Trung-Hoa Quốc-gia ghé đảo, đổi thuốc hút hay lấy nước ngọt.


Giữa tháng 1/1974, còn nửa tháng nữa lại có tàu ra rước anh em về, để cho người khác ra thay thế, lúc 4-5 giờ chiều bỗng dưng anh em thấy hai tàu đánh cá[19] chạy khá nhanh, gần bờ. Nó xuất hiện từ hướng tây nam vòng lên phía bắc rồi vòng ra phía đông, lại gần cầu tàu, hình như muốn ghé vào. Lúc đó anh em mới nhận ra nó sơn màu ô liu, màu của quân đội! Trong số những người trên đảo có người đã từng đi biển, nên nhận thấy tàu này không phải là tàu thường, vì tàu đánh cá đâu có sơn màu ô-liu. Tàu lại mang cờ đỏ, góc có mấy ngôi sao vàng nữa. Trung úy trưởng đồn chưa biết triệu chứng bất thường. Anh em nọ, bèn bảo trung úy lấy cờ quốc gia treo lên cho nó thấy để nó biết đảo này của mình. Muốn đuổi nó đi thì đâu có cách nào khác. Có lá cờ đẹp, phải cất kỹ, vì gió biển ào ào, chỉ ba bữa là rách tan. Nhìn thấy lá cờ vàng ba sọc đỏ bay trên đảo, hai tàu nọ bèn bỏ đi về về phía nam đảo Hữu-nhật (Cam tuyền, Robert), nấp đằng sau đảo đó. Có người biết được lá cờ đỏ đó là cờ Trung Cộng. Nhiều người không biết là đó cờ nước nào.


Trung úy trưởng đồn báo cáo vụ trên về đất liền.


Vài anh em mở ra-đi-ô nghe nói Trung Cộng đang tính chuyện khiêu khích ở Hoàng-sa. Ai cũng tưởng chuyện chỉ xảy ra thường thường thôi, đâu ngờ sau này trở nên lớn lao quá vậy.


KHÓI LỬA TRÊN BIỂN KHƠI


Sau đó, tuần dương hạm Lý Thường Kiệt HQ 16 ra Hoàng-sa, (Pattle), thả xuống đảo Hoàng Sa(Pattle), 7 người gồm: thiếu tá Hồng, 1 đại úy hải quân, 1 trung úy công binh kiến tạo, 1 trung úy công binh chiến đấu, hai binh sĩ và một người Mỹ.[20] Sau đó chiến hạm này đi thám sát các đảo và mỏm đá ở phía đông của nhóm Nguyệt-Thiềm (Grouppe de Croissant).


Lúc ấy, “tàu cá” của Trung-Cộng còn ẩn phía sau đảo Hữu-Nhật (Cam-tuyền, Robert). Đuôi tàu nhô ra nên từ đảo Hoàng Sa(Pattle) còn nhận ra được. Vì đảo cao như đĩa xôi, nên không rõ Trung-Cộng làm gì ở phần đảo gần chỗ hai tàu của họ đang đậu. Sau này, các nhân chứng đổ bộ lên đảo Trung-Cộng mới đem vật liệu và hài cốt từ nơi khác lại xây bốn ngôi mộ. Anh em liền đào vứt xuống biển vì họ vi phạm chủ quyền Việt-Nam.


Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt tiến về phía hai “tàu cá” đuổi chúng ra khỏi đảo. Hai “ tàu cá ” lì ra không chịu đi. Tàu ta và tàu địch tiến gần nhau đến nỗi trông thấy cả bàn ghế trên tàu địch. Bọn lính Trung-Cộng trên tàu cá chửi sang ta bằng tiếng Tàu. Sau cùng, các tàu Trung Cộng đành rút đi, lui về phía các đảo nhỏ mà Trung-Cộng mới chiếm.


Sau đó, hình như nhiều tàu Trung-Cộng tiến xuống phía nam của các đảo nhỏ, tụ tập xung quanh các đảo Quang-hoà (Duncan) và Duy-mộng (Drummond).


Phía ta, chiếc khu trục hạm Trần Khánh Dư HQ 4 tăng cường, thả một số lính xuống đảo Hữu-Nhật (Cam-tuyền, Robert).


Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt HQ 16 bốc toán 7 người ở Hoàng Sa(Pattle) lên, hình như định quay về để sửa tàu, vì đã thấy thời hạn nằm ụ.


Lúc đó, tuần dương hạm Trần Bình Trọng HQ5 ra để tăng cường thêm, hình như thả một số lính xuống đảo Quang-ảnh (Vĩnh-lạc, Money). Toán 7 người được chuyển sang tuần dương hạm Trần-Khánh-Dư HQ5. Sau đó HQ5 lại trả toán này về đảo Hoàng Sa(Pattle). Tàu Trung-Cộng gồm có tàu lớn đậu đàng xa, các “tàu cá” và nhiều loại tàu đổ bộ, chạy tới chạy lui ở hai đảo Duy-mộng (Drummond) và Quang-hòa (Duncan). Các tàu Việt nam đều tiến về hai đảo này.


Không rõ súng bắt đầu nổ tư lúc nào[21], nhưng chiều ngày 18-1-1974 tiếng nổ lớn dữ dội. Anh em trên đảo đứng xem như trên màn ảnh. Những tàu nhỏ của Trung-Cộng chạy rất nhanh tiến về các tàu Việt-Nam. “Tàu cá” lộ nguyên hình tàu chiến ở đài chỉ huy có hai cây đại liên. Sườn tàu để hở các ô vuông chĩa súng ra. Tàu Trung-Cộng bắn. Tàu Việt-Nam bắn trả, có những đốm lửa nổ trên tàu địch và khói bay lên.


Tuy nhiên, về phía Việt-Nam, chiếc HQ 16 cũng bị một phát đạn vào chỗ bánh lái và một phát vào lườn tàu. HQ 16 nghiêng một bên rút về qua eo biển giữa Hoàng Sa(Pattle) và Hữu-Nhật (Cam-tuyền Robert). HQ 16 được chiến hạm HQ II dìu về Đà Nẵng. Đồng thời, hộ tống hạm Nhật-tảo HQ10 mới ra, nhảy ngay vào vòng chiến. Sau một hồi khai hoả, HQ10 bị bắn vào giữa tàu và lửa bốc lên.


Hôm sau, 27 tết, tức ngày 19-1-1974, chuyện dữ đến với anh em trên đảo Hoàng Sa(Pattle). Hai tàu lớn của Trung-Cộng và hai “tàu cá” tiến lại đảo Hữu-Nhật (Cam-tuyền Robert). Các tàu đổ bộ chạy quanh đảo này để kiếm chỗ vô. Trên đảo bắn ra, nhưng chỉ có súng nhỏ. Các tàu lớn bắn vào đảo này. Sau đó, anh em ở đảo Hoàng Sa(Pattle) mất liên lạc với đảo Hữu-Nhật. Rồi tàu Trung-Cộng bắn vào Hoàng Sa(Pattle). Anh em ra rừng và các đống quân nằm bố trí. Có cả tiếng máy bay phản lực rít lên nữa. Họ đổ bộ từ các tàu nhỏ lên đảo đông như kiến, nhưng không dám tiến vào đảo, mà chỉ nắm ở các bãi cát và 30 phút sau, họ tiến vào trong đảo. Anh em địa phương quân tới bắn hết đạn, thì họ chiếm được đảo. Khi tiến vào mỗi phòng trong nhà, họ ném chất nổ, nên mọi thứ bên trong đều bị huỷ diệt.


TÙ BINH


Mọi người trên đảo bị tập trung lại ngồi thành hàng, kể từ bây giờ anh em trên đảo trở thành tù binh của Trung-Cộng. Lính Trung-Cộng lấy cung và chụp hình mọi người từ lúc họ chiếm đảo cho tới tối. Bọn họ nói tiếng Việt thật rành rẽ đến nỗi anh em không biết họ là người Việt hay người tàu nữa. Hầu hết, chúng nói giọng Bắc. Chỉ có một tên nói giọng Nam. Họ ăn nói văn hoa, dùng nhiều chữ mà ngay người Việt ít học cũng ít dùng tới. Mấy anh Tàu chợ-lớn nói tiếng Việt không rành. Chứ mấy tên tàu Trung-Cộng này thả về Việt-Nam thì mình không thể nhận ra được.


Như vậy, cuộc xâm lăng này được họ chuẩn bị kỹ quá rồi còn gì.


Trong lúc họ bắt anh em ngồi chờ trên đảo thì có những tên trông dữ dằn đi lảng vảng xung quanh. Đến tối, chúng nhốt tất cả 42 người gom được trên đảo (gồm toán 7 người do chiến hạm HQ 16 thả lên đảo, 4 nhân viên khí tượng và trung đội địa phương quân) vào trong nhà chứa phân và canh phòng nghiêm ngặt. Quá nửa đêm, họ đánh thức cả đám dậy, bắt xếp hàng đi ra biển, xuống ghe nhỏ, chèo ra tàu lớn. Họ bảo anh em rằng sẽ “được đưa đến an toàn hơn “. Anh em đoán rằng chúng đưa mình vào đất Trung-Cộng.


Tàu chạy được một quãng, chúng lại đưa tất cả sang một tàu lớn hơn. Chúng đưa các sĩ quan Việt-Nam và người Mỹ đi nơi khác. Lúc nào trên tàu cũng có những tên rành tiếng Việt nhòm ngó, ra lệnh.


Tới Hairnam (chúng gọi là Hải-nam), họ chuẩn bị một đoàn phóng viên bu lấy anh em khi anh em bước lên bờ.
Rồi họ lại di chuyển anh em tới một nơi khác cũng bằng tàu. Hỏi thăm họ thì bảo đây là Quảng-châu. Anh em từ sông Châu Giang lên bờ vào lúc 8 giờ mồng một

tết Giáp Dần.

ĐẤT KHÁCH QUÊ NGƯỜI


mọi người bị bắt trên đảo Hoàng Sa(Pattle) và các đảo khác bị giam chung ở một nơi gọi là “Trại thu dung tù binh”, Bộ đội Quảng-đông, tỉnh Quảng-Châu”, cách Quảng-Châu 20 km. Suốt trong một tuần, họ chỉ biện hộ cho hành động xâm lăng mảnh đất bé nhỏ, nhưng từ lâu, tiếp nối từ người này sang người khác vẫn trấn giữ.


Dường như họ mang một mặc cảm tội lỗi, nên thường xuyên nói rằng “chúng tôi không xâm lăng”. Họ thường nói rằng: “Ai có thắc mắc thì cứ việc phát biểu ý kiến”. Tưởng bở, có anh đã dám đứng lên hỏi: “Đất của chúng tôi, chúng tôi đang trấn giữ, các ông đánh chiếm mà lại bảo rằng không xâm lăng? ”. Họ trả lời rằng:


“Hoàng Sa là đất của chúng tôi. Từ lâu chúng tôi biết phía nam đảo Hải-nam có một quần đảo. Người chúng tôi đã tới đó vào khoảng năm 1200”.


Rồi chúng đưa nào sách, nào vở, nào bản đồ ra. Nhưng anh em mù tịt không biết thứ chữ ngoằn ngoèo đó.


Anh em, nhất là nhữnh anh hải quân, những người có học một chút cãi lại hăng hái:


“Nếu anh bảo rằng các anh biết Hoàng Satừ lâu, người của các anh tới đó từ lâu, thì cả đất Chợ-lớn, cả miền Đông Nam Á hiện nay là của các anh cả hay sao ?”.


Có người vặn lại bọn Trung-Cộng:


“Các anh bảo các anh không phải đế quốc xâm lăng, thế thì ở Tây-tạng, Ấn-độ, các anh đã làm gì ?”.


Khi bị hỏi ngược lại, bọn Trung-Cộng thường nổi quạu, la lên: “ Các anh khiêu khích chúng tôi".


Thảo luận hai bên đều phải được trao đổi ý kiến. Đằng này, vị thế của hai bên hoàn toàn chênh lệch: một đằng bắt đằng kia nghe và chấp nhận tư tưởng của mình, thì đâu còn thảo luận được nữa. Biết họ bắt mình nghe, chứ không muốn mình phát biểu ý kiến trung thực cả mình, anh em đành ậm ừ cho qua chuyện. Hơn nữa, người nào trình bày ý kiến trái ngược đều bị gán cho là “ khiêu khích”, cần phải đả thông tư tưởng, bị gọi vào gặp cấp cao là thủ trưởng, hay là tư lệnh quân-đội Quảng-đông gì đó.


Dần dần, anh em chẳng muốn cãi nhiều nữa, vì cứ cãi là bị ngồi nghe lâu hơn,

ngủ gục hết trọi.


NGƯỜI VIỆT TINH KHÔN

Họ chia anh em thành từng tổ xo người, dưới sự kiểm soát của hai cán bộ thông thạo tiếng Việt, thường xuyên túc trực bên cạnh.


Hàng ngày cứ bị tuyên truyền bằng miệng và bằng xi-nê chán ngắt. Có bấy nhiêu đề tài mà cứ bị xào đi xào lại hoài. Truyện phim quanh đi quẩn lại cũng bấy nhiêu khuôn mẫu. Phim nào cũng có tình tiết, nhưng bao giờ cũng lồng vào khung cảnh tuyên truyền.


Quá chán ngấy với ba thứ đó, anh em bèn nói khích, để chúng cho ra ngoài trại, cho bớt tù túng. Chúng vẫn thường đề cao tiến bộ kinh tế. Anh em bèn đưa chúng vào tròng:


“ Các anh nói nhiều, chúng tôi đâu có thấy gì đâu. Chúng tôi đâu có thấy các anh tiến bộ gì đâu”.


Phần vì bị mắc lừa, phần vì muốn tuyên truyền cho những khu trang trí, xếp đặt sẵn, họ cho anh em ra khỏi trại, đi thăm viếng mọi nơi. Anh em chỉ cần ra khỏi trại cho khỏi tù túng mà thôi.


Những màn gài bẫy khác vẫn diễn ra, mà họ vẫn tự dẫn vào tròng.


Lo lắng không biết họ giam đến bao giờ. Hỏi thẳng thì họ đau có dại gì trả lời. Anh em đã làm cho họ bật mí mà họ không hề biết. Có người hỏi :


“ Các anh đào luyện một người như chúng tôi thành cán bộ cộng sản phải mất bao lâu ?”


“Mất chừng 10 năm”, họ trả lời.


Anh em lắc đầu, tỏ vẻ ngao ngán. Họ bèn bảo:


“ Chúng tôi không có ý định đào tạo các anh thành cán bộ, mà chỉ giác ngộ các anh trong ít lâu thôi.”


Thế là đủ rồi, họ không có ý định giam mình lâu dài, thế nào cũng có ngày về.


Ngày xưa, nghe kể lại có những ông quan đi sứ sang Tàu, làm cho người Tàu nể sợ vì trí thông minh , tinh khôn của dân Việt…


Cuối cùng, họ cũng phải trả anh em về Việt-Nam qua ngả Hương-Cảng.


*
Cùng một sự kiện xảy ra, những người chứng có thể tường thuật khác nhau. Tuy nhiên, sự khác nhau chỉ ở những chi tiết nhỏ, những nét lớn vẫn không có gì thay đổi.


Vụ xâm lăng quần đảo Hoàng Sa (Paracels) đầu năm 1974 nhắc nhở mọi con dân Việt-Nam ở nơi này hay bất cứ nơi nào khác rằng hiểm hoạ từ phương Bắc đối với dân tộc Việt-Nam vẫn còn tiếp tục đe doạ sự tồn vong của dòng giống Việt.


TRẦN THẾ ĐỨC

 



[1] Đây là công ty phân bón Hữu-Phước (Hyew-Haul) được ông Lê Văn Cang trao quyền khai

[2] Hiện nay chỉ còn như vậy.

[3] Nhân công của hãng phân Hữu-Phước toàn là người Việt gốc Hoa, trừ một ông tài xế lái tàu người Việt. Sau ông nghỉ việc, thì hoàn toàn người Việt gốc Hoa.

[4] Hiện bia này còn để ở Viện Khảo-cổ

[5] Sẽ được trình bày.

[6] Lúc thủy triều xuống thấp nhất trong tháng.

[7] Là chỗ sâu bất thường trên vùng san hô.

[8] Các nhân chứng chỉ ghi nhận theo kinh nghiệm. Về thủy triều, các hải học viện Nha Trang và Hoa Kỳ đã có nhiều cuộc nghiên cứu.

[9] Đây chỉ là lời nói quá.

[10] Xem phần Thư tịch chú giải các tài liệu về Hoàng-sa, tập san Sử-Địa số này.

[11] Trụ sở của công ty đặt ở Tân-gia-ba.

[12] Tỉ lệ phốt phát có trong phân không đều, các công ty lại không khai thác phân theo như các chuyên viên đã hoạch định, không lựa chỗ có nhiều phốt phát nên thành phần phốt-phát yếu kém. Do đó giới tiêu thụ mất tín nhiệm, không mua phân. Kỹ thuật chế biến cẩu thả: khi lấy đất về xảy ra hột lớn, nên cây không hấp thụ được. Tác dụng của phân còn bị giới hạn vì chất vôi trong phân không được nung lên, để vôi hòa tan trong nước cho cây hấp thụ. Việc khai thác giới hạn vì thời tiết (bão thì ngưng hoạt động). Việc chuyên chở lại tốn kém và khó khăn vì bờ biển quanh đảo quá cạn. Vốn đấu tư lại quá khiêm tốn. Sự cộng tác các đương sự đổ vỡ. Giá phân trên thị trường lúc đó (1962) lại quá thấp. Thị trường phân Hoàng Salại rất giới hạn vì chỉ thu hẹp trong các nhà trồng mía ở Lái-thiêu. Nguyên do chính là cuộc đảo chánh 1963 khiến việc khai thác phải ngừng hẳn.

[13] Trong các công ty dự định khai thác, có Công –ty Kỹ-nghệ Phân bón Việt-Nam, do sự điều hành của các chuyên viên Việt-Nam, có sự hỗ trợ của các chuyên viên Nhật-bản trong công ty MARUBENI. Các chuyên viên Nhật-bản đã khảo sát quần đảo này trong năm 1973.

[14] Công ty được cấp phép hoạt động do nghị định 380 BKT/ CKN/ TNTN/ KQ/ NĐ, ký ngày 30-5-1972 , do tổng trưởng kinh tế Phạm Kim Ngọc

[15] Bảng kết quả phân chất ngày 29-4-1971, số 030 KQ/ĐHI, do ông chủ sự phòng lý hóa đất-đai Châu Văn Hạnh, kỹ sư canh-nông, ký tên.

[16] Thực ra, đây không phải là cát mà chỉ là san hô bị sóng biển, gió, mưa, nước, làm vỡ ra thành hạt nhỏ.

[17] Sự ước lượng này cần phải xét lại

[18] Theo tiếng gọi của anh em trên đảo.

[19] Gọi như vậy, vì trông nó giống giống hệt các tàu đánh cá vẫn thường tới, trọng tải chừng 300-400 tấn. Trên tàu có treo nhiều phao, lưới cá, nhiều cần trục cao để kéo lưới.

[20] Theo tin các nhật báo (CHÍNH LUẬN, số 2982, ngày 31-1-1974, Trang 7 cột 3), người Mỹ này tên là GERALD KOSH, một nhân viên dân sự biệt phái thuộc văn phòng tùy viên quốc phòng của tòa đại sứ Mỹ tại Saigon, được biệt phái làm liên lạc viên cạnh bộ chỉ huy hải quân quân khu 1. Sau bị bắt trên đảo Hoàng Sa(Pattle) cùng với các quân nhân và nhân viên dân sự Việt-Nam, Kosh được trao trả lúc 12 giờ trưa ngày 31-1-1974

[21] về các chi tiết của trận hải chiến giữa hải quân VNCH và Trung-Cộng, các nhân chứng chỉ thấy được một vài khía cạnh mà thôi.

 

 

 

Các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa có diện tích bề mặt chưa quá 15 km² là mục tiêu theo đuổi của những yêu sách và xung đột gia tăng kể từ những năm 1970. Những lợi ích từ yêu sách hai quần đảo này đối với các quốc gia là gì?

 

 

Dưới đây là một số nội dung chính trong bài phân tích Les îles Spratley et Paracels của tác giả Laurent Garnier đăng trên website Bộ Quốc Phòng Pháp.

Những thách thức

1- M rng vùng đc quyn kinh tế (EEZ):

Như chúng ta đã biết, theo luật quốc tế, việc một Nhà nước sở hữu một lãnh thổ trên biển sẽ cho phép có những đặc quyền đối với một phạm vi lãnh hải và EEZ. Việc các Nhà nước xung quanh Biển Đông tranh giành quyền sở hữu các đảo nhỏ và đảo san hô không có người ở và không thể sinh sống được tại Trường Sa và Hoàng Sa trước hết không phải nhằm giành chủ quyền các hòn đảo này mà là nhằm mở rộng EEZ. Chính vì lý do này, Trung Quốc, nước có EEZ rộng 880.000 km2 (Mỹ có EEZ rộng 12 triệu km2, Nhật 4,4 triệu km2, Pháp 11 triệu km2) đang dòm ngó 3,5 triệu km2 Biển Đông.

2- Các nguồn tài nguyên thiên nhiên và hải sản:

Hai quần đảo trên dồi dào các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Trữ lượng cá ước tính nhiều triệu tấn, các nguồn hải sản phong phú (các loài hải sản có giá trị cao như tôm hùm, rùa, đồi mồi, bào ngư quý hiếm…). Ngoài sự hiện diện của nguồn phốt phát trên các hòn đảo còn tiềm ẩn trữ lượng lớn các mỏ kim loại dưới đáy biển. 10% trữ lượng cá của thế giới nằm tại Biển Đông.

3- Kiểm soát các tuyến hàng hải thương mại quốc tế:

Biển Đông bao quát nhiều eo biển: Eo biển Malắcca nằm giữa bán đảo Malaixia và đảo Sumatra của Inđônêxia, nối biển Andaman ven Ấn Độ Dương với Biển Đông tại phía Nam; eo biển Sonde chia cắt các đảo Java của Inđônêxia với đảo Sumatra; eo biển Lombok nối biển Java và Ấn Độ Dương, chia cắt các đảo Bali và Lombok của Inđônêxia; eo biển Macassar chia cách phía Tây đảo Borneo và phía Đông đảo Sulawesi. Với chiều rộng trung bình 15 km và dài khoảng 800 km, eo biển này cho phép thông thương giữa biển Celebes và biển Java; eo biển Balabac nối biển Sulu với Biển Đông. Eo biển này chia cách đảo Balabac (thuộc tỉnh Palawan của Philíppin) với các đảo nằm ở phía Bắc của Borneo, thuộc bang Sabah của Malaixia, rộng 55 km; eo biển Luzon nằm giữa các đảo Luzon và Đài Loan; eo biển Đài loan, giao giữa quần đảo này với Trung Quốc đại lục.

Biển Đông là một ngã tư thông thương của các tuyến hàng hải thương mại quan trọng bởi đây là tuyến ngắn nhất nối giữa Bắc Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Trước tiên liên quan đến tuyến vận chuyển năng lượng, eo biển Malắcca vận chuyển nhiều dầu mỏ gấp 6 lần kênh đào Xuyê và nhiều hơn 17 lần kênh đào Panama. Biển Đông là nơi vận chuyển 2/3 nguồn năng lượng của Hàn Quốc, 60% nguồn năng lượng của Nhật Bản và Đài Loan, 80% nhập khẩu dầu thô của Trung Quốc, tức hơn một nửa nhập khẩu năng lượng của khu vực Đông Nam Á. Trong bối cảnh đó, việc nắm quyền kiểm soát hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa sẽ giúp kiểm soát hầu như một phần lớn EEZ và tuyến thương mại quan trọng hàng đầu thế giới.

4- Các nguồn tài nguyên dầu khí:

Theo tác giả Robert D. Kaplan, Biển Đông có trữ lượng dầu thô đạt 7 tỷ thùng (so với 1.383 tỷ thùng trên đất liền toàn thế giới theo tính toán của tập đoàn BP năm 2010, chiếm 0,5% trữ lượng dầu của thế giới) và có trữ lượng khí đốt đạt 25.000 tỷ m3 khí (so với 187.100 tỷ m3 khí trên đất liền toàn thế giới, chiếm 13,4% trữ lượng khí đốt toàn cầu).

5- Phạm vi triển khai một hạm đội tàu ngầm:

Biển Đông là tuyến hàng hải thương mại ưu tiên, thậm chí cốt yếu giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Không chỉ có tầm quan trọng về thương mại, Biển Đông còn chiếm một vị trí quan trọng trong chiến lược quân sự, đặc biệt đối với Trung Quốc. Chúng ta phải thừa nhận là Trung Quốc đang tăng cường khả năng của các đội tàu ngầm trong khu vực, đặc biệt là việc nước này xây dựng căn cứ tàu ngầm tại cảng hải quân Tam Á ở phía Nam đảo Hải Nam. Theo tướng Schaeffer, dường như tham vọng của Trung Quốc tại các quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa hay các quần đảo khác cũng như các vùng nước sâu tại Biển Đông không nhằm mục đích nào khác ngoài bảo đảm cho nước này một khu vực triển khai an toàn đội tàu ngầm tấn công. Dù bất kể thế nào Biển Đông vẫn là vùng biển xung quanh Trung Quốc có vùng nước sâu cho phép tàu ngầm nước này dễ dàng tiến ra Thái Bình Dương.

Tình trạng tranh chấp

1- Thiếu vng gii pháp đo đc?

Tính chất nghiêm trọng của cuộc xung đột này là thiếu một giải pháp đạo đức. Nếu cuộc Chiến tranh Thế giới thứ II là cuộc chiến không khoan nhượng chống chế độ cực quyền thì không một nước chủ chốt nào liên quan đến những căng thẳng tại Biển Đông có thể bị coi là hiện thân của sự xấu xa hoàn toàn. Do đó, cuộc chiến của cái tốt chống cái xấu đang dần thay thế bằng cuộc đối đầu giữa các chủ nghĩa dân tộc duy lý mà chúng ta có thể chứng kiến tại Biển Đông với câu nói: “Kẻ mạnh có thể làm điều mình muốn và kẻ yếu phải chịu điều cần phải chịu”. Nếu có khả năng xảy ra một cuộc tranh chấp thì cũng chỉ hạn chế ở một số cuộc đụng độ lẻ tẻ và không dẫn tới một cuộc chiến tranh quy mô lớn. Cũng cần phải thấy các cuộc đụng độ đó sẽ không gây ra nhiều lo ngại song chất lượng vũ khí sẽ quyết định cuộc đối đầu. Tình hình mong muốn nhất là duy trì quy chế nguyên trạng do sự cân bằng sức mạnh, nhất là giữa Mỹ và Trung Quốc, cũng như những gì Ôxtrâylia kêu gọi.

2- Một giải pháp pháp lý?

Mặc dù thiếu vắng giải pháp đạo đức song vẫn tồn tại một luật pháp quốc tế, đặc biệt như những gì Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982 ký ở Montego Bay mô tả. Công ước này không thể giải quyết toàn bộ mọi cuộc xung đột và đối đầu, xong đề ra một khung cảnh luật hợp pháp, trong đó mọi tranh chấp trên có thể được giải quyết theo các quy tắc lãnh hải và EEZ mà không phải cần tới đối đầu vũ trang. Công ước cũng là một tư liệu gốc về các luật lệ quy định các hoạt động ngoài khơi. Các nước có thể yêu cầu mở rộng EEZ trên thềm lục địa của mình. Đó là điều mà Malaixia và Việt Nam đã làm năm 2009. Nhưng do luật pháp quốc tế không đủ nên hành động phối hợp giữa Malaixia và Việt Nam đã làm Trung Quốc không hài lòng. Trung Quốc sau đó đã gửi một công hàm lên Tổng thư ký Liên hợp quốc nhằm chính thức hóa lập trường của nước này đối với yêu sách “đường lưỡi bò” trên Biển Đông, một quan điểm từ trước đến nay chưa được công nhận chính thức. Tướng Schaeffer xác nhận hành động của Trung Quốc đi ngược lại với điều 89 của UNCLOS, theo đó “không một Nhà nước nào có thể đòi hỏi một khu vực bất kỳ ngoài biển khơi làm chủ quyền riêng”. Cũng cần phải nhấn mạnh vai trò của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Tuy nhiên, các điều luật trong công ước của LHQ hay rộng hơn là hành động của cộng đồng quốc tế không đủ đề ngăn chặn mọi hành động hiếu chiến từ các đối tượng trong khu vực, ngay cả những nỗ lực của ASEAN. Chúng ta có thể nhắc đến Tòa án tư pháp quốc tế, song dù cố gắng cũng không thể triệu tập hết các nước liên quan đến tranh chấp. Tuy nhiên, dường như giải pháp của các nước liên quan Biển Đông sẽ mang tính chính trị hơn là tư pháp và có thể cả quân sự.

3- Các sự kiện mới đây cho thấy thái độ hiếu chiến gia tăng của Trung Quốc

Những cuộc xâm lược trên thực địa

Chúng ta thấy từ năm 2009 một sự gia tăng xâm lược của Trung Quốc trên Biển Đông. Không chỉ có vậy, Lực lượng hải quân của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLAN) không ngừng gia tăng các hành động hăm dọa, các hành động nhằm duy trì sự hiện diện tại Biển Đông. Cùng với đó là các đơn vị dân sự như lực lượng hải giám (CMS), được trang bị vũ khí từ PLAN, không ngừng quấy rối các tàu thăm dò dầu khí. Mọi hành động của Trung Quốc đều núp dưới vỏ bọc dân sự và được hải quân Trung Quốc hiện diện gần đó bảo vệ. Bên cạnh sự hiện diện hải quân, Trung Quốc còn thực hiện các vụ tấn công mạng. Đã có hơn 200 trang mạng của Việt Nam bị tin tặc tấn công vào tháng 6 năm 2011.

Những hành động hung hăng chống Mỹ

Những va chạm không chỉ diễn ra giữa Trung Quốc với các Nhà nước khu vực. Từ năm 2001 đã xảy ra 3 vụ va chạm giữa Mỹ và Trung Quốc: Tháng 4/2001, một máy bay trinh sát của Mỹ (EP3-Orion) đã va chạm với một báy bay quân sự Trung Quốc. Mặc dù vụ này xảy ra ngoài EEZ của Trung Quốc song người Trung Quốc lại quả quyết rằng người Mỹ đã vi phạm không phận nước mình. Người Trung Quốc cho rằng họ có quyền trên vùng không phận của EEZ. Điều này hoàn toàn đi ngược lại với luật pháp quốc tế.

Tháng 3/2009, 5 tàu của Trung Quốc đã ngăn cản tàu thăm dò đại dương USNS Impeccable của Mỹ. Tàu Impeccable khi đó đang thực hiện thăm dò tại khu vực gần căn cứ tàu ngầm Tam Á, song ở ngoài khơi (ngoài 12 dặm). Sự kiện này một lần nữa cho thấy tầm quan trọng chiến lược của khu vực đối với các tàu ngầm Trung Quốc và thể hiện sự bành trướng chủ quyền của Trung Quốc đối với EEZ.

Tháng 6/2009, một tàu ngầm Trung Quốc đã mắc vào đường cáp định vị sóng âm của tàu chiến Mỹ USS John McCain tại Scarborough Reef, một khu vực chiến lược mà các tàu ngầm Trung Quốc qua lại. Trung Quốc đã lợi dụng cơ hội này để gia tăng sức ép ngoại giao ngăn cản hải quân Mỹ hiện diện tại Biển Đông.

Một quan điểm ngoại giao mập mờ của Trung Quốc

Không hài lòng với việc chiếm biển, Trung Quốc cũng đang chiếm cả không gian ngoại giao. Không ngại mâu thuẫn với chính mình, Trung Quốc đang nuôi tham vọng đôi khi duy trì ý định hòa giải và hòa bình hơn trong khi vẫn khẳng định chủ quyền trên Biển Đông. Trong ý đồ chính thức hóa “đường lưỡi bò”, Bộ Ngoại giao Trung Quốc năm 2011 đã nói đến “chủ quyền không thể tranh cãi” của Trung Quốc tại Biển Đông. Đại sứ Trung Quốc tại Philíppin Lưu Kiến Siêu đã “khuyên các nước đòi hỏi chủ quyền tại Biển Đông” không tiếp tục khai thác dầu khí tại các “vùng lãnh hải của Trung Quốc” khi chưa được phép của Bắc Kinh.

Mặt khác, Trung Quốc lại thể hiện bộ mặt hòa bình. Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt ngày 5/6/2011 tại Hội nghị Shangri-La ở Xinhgapo đã tuyên bố: “Trung Quốc không có ý định đe dọa bất kỳ nước nào”. Qua quan điểm ngoại giao hai mặt này của Trung Quốc, rất thú vị khi theo dõi những tuyên bố của Trung Quốc khi mua tàu sân bay Varyag nhằm mục đích huấn luyện. Được đặt tên lại là Thi Lang, tàu này đã thực hiện các vụ thử nghiệm trên biển vào tháng 8/2011 và hải quân Trung Quốc đang xây dựng tàu sân bay thứ hai. Chúng ta thừa nhận rằng với việc đổi hướng luật pháp quốc tế một cách tranh cãi để có lợi cho mình, Trung Quốc đang tự cho mình quyền sở hữu phạm vi lãnh hải trong “đường lưỡi bò”.

4- Những lựa chọn của các Nhà nước Đông Nam Á trước sự bành trướng của Trung Quốc

Cần tới Oasinhtơn

Do hạn chế về phương tiện quốc phòng, ý định lớn của các “anh chàng David” Đông Nam Á là hướng về phía Mỹ trước “gã khổng lồ Goliah” Trung Quốc. Philíppin dựa vào Hiệp định phòng thủ chung năm 1951, theo đó Oasinhtơn cam kết cung cấp cho Philíppin thiết bị quân sự. Hải quân Mỹ cũng phối hợp với hải quân Philíppin tổ chức các cuộc tập trận chung hàng năm. Đối với Hà Nội thật không đơn giản. Do không thể công khai hướng tới Oasinhtơn, chiến lược của Việt Nam là công khai nhất có thể liên quan đến những hành động quấy rối mà mình là nạn nhân từ phía Trung Quốc để nhận được sự ủng hộ từ cộng đồng quốc tế. Ngày 9/6/2011, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố trước công chúng rằng chủ quyền của Việt Nam đối với các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa là không thể tranh cãi và “sẽ bảo vệ bằng các lực lượng vũ trang”. Những cuộc trao đổi giữa hải quân Mỹ và Việt Nam ngày càng gia tăng. Mỹ cũng hỗ trợ Xinhgapo, Thái Lan và ngày càng tăng cường quan hệ với Inđônêxia và Malaixia. Mỹ cũng đã quay trở lại Ôxtrâylia. Dường như Mỹ luôn có khả năng là đối trọng với hành động của Trung Quốc ngay cả khi Mỹ đang bước vào giai đoạn bị hạn chế ngân sách quốc phòng.

Hướng tới một cuộc chạy đua vũ trang

Trong bối cảnh này, các nước Đông Nam Á đang tìm cách tăng cường khả năng cho hải quân quốc gia. Từ năm 2000, nhập khẩu vũ khí của Inđônêxia đã tăng 84%, Xinhgapo tăng 146% và nước này đang tìm cách hiện đại hóa hạm đội tàu ngầm, Malaixia tăng 722% và vừa mới thiết lập một căn cứ tàu ngầm tại Borneo để hướng ra Biển Đông. Căn cứ này dành cho 2 tàu ngầm Scorpène mua của Pháp. Malaixia tháng 12/2011 đã mua của Pháp 6 tàu hộ tống Gowind. Việt Nam đã mua 6 tàu ngầm lớp Kilo trị giá 1,4 tỷ euro và các máy bay tiêm kích trị giá 700 triệu euro của Nga.

5- Thái độ của cộng đồng quốc tế

Quan điểm của Pháp

Đối với Pháp, mọi tranh chấp đều phải dựa vào luật pháp quốc tế. Pháp bày tỏ ủng hộ bộ quy tắc ứng xử do ASEAN đề xuất. Hơn nữa, trong nỗ lực giảm thiểu căng thẳng, Pháp đã đề xuất tổ chức hội thảo bao gồm cả Liên minh châu Âu và ASEAN dưới dạng các diễn đàn trao đổi kinh nghiệm quản lý các khu vực hàng hải chung.

Bước ngoặt cuối cùng là quan điểm của Mỹ

Ngoài những vụ va chạm của các tàu USNS Impeccable, USS John McCain, việc tháng 3/2010 Bắc Kinh coi Biển Đông là “lợi ích cốt lõi quốc gia”, ngang với Đài Loan và Tây Tạng đã làm gia tăng mâu thuẫn giữa Mỹ và Trung Quốc. Điều này đã đẩy người Mỹ chính thức cam kết sâu hơn vào khu vực với tuyên bố của Ngoại trưởng Hillary Clinton tại Hội nghị diễn đàn khu vực ASEAN ngày 23/7/2010 khi xác định: “Mỹ có lợi ích quốc gia trong tự do lưu thông hàng hải, tự do tiếp cận các hải phận chung tại châu Á, và tôn trọng luật pháp quốc tế tại Biển Đông”. Quan điểm của Mỹ là chính thức không tham gia những yêu sách lãnh hải song bày tỏ quan tâm đến nguy cơ dẫn đến các bên đối đầu làm ảnh hưởng tới tự do lưu thông hàng hải.

Kết luận

Trung Quốc tỏ thái độ phức tạp giữa lập trường xoa dịu và hành động gây hấn tại Biển Đông. Luật biển theo kiểu Trung Quốc và cách thể hiện của Bắc Kinh là những thách thức chiến lược. Trung Quốc đã hiểu rõ và đang sử dụng mưu đồ để mở rộng luật này phục vụ lợi ích riêng. Cách tiếp cận tư pháp liên quan các vấn đề Biển Đông phải được hoàn thiện từ cách đặt vấn đề ngoại giao và hàng hải. Trung Quốc có tham vọng giải quyết với các bên liên quan ở Biển Đông một cách song phương chứ không phải đa phương như phần lớn các đối tác và cộng đồng quốc tế mong muốn. Do đó, việc Mỹ quay trở lại khu vực đánh dấu một bước ngoặt trong các sự kiện. Cuộc chơi sẽ thận trọng hơn.

Bài gốc: Les îles Spratley et Paracels

Theo Cesm.marine.defense.gouv.fr

Viết Tuấn (gt)

 

 

Đối với vấn đề tranh chấp biển, dư luận xã hội Trung Quốc đang hình thành 2 thái cực là “duy vũ lực” và “duy pháp lý”. Theo tác giả, nếu sử dụng “duy vũ lực” thì quá nguy hiểm, còn nếu sử dụng “duy pháp lý” thì thật là ngây thơ. Tác giả cho rằng, biện pháp tốt nhất là Trung Quốc nên kết hợp các biện pháp từ quân sự, ngoại giao, kinh tế và sự thống nhất về chính sách.

 

Biển ngày càng quan trọng đối với TQ, sự quan tâm của dư luận đối với vấn đề trên biển cũng ngày càng mạnh mẽ, các tranh chấp biển cũng ngày càng phức tạp. Làm thế nào để bảo vệ lợi ích biển của TQ, dư luận xã hội hiện nay đang dần dần hình thành 2 thái cực lớn: Một là phái “duy vũ lực” chủ trương chiến tranh, nói chuyện bằng nắm đấm, cho rằng TQ đã quá mềm yếu, quá quan tâm đến môi trường quốc tế cho phát triển hòa bình mà từ bỏ sử dụng vũ lực; hai là phái “duy pháp lý”, chủ trương TQ cần tôn trọng Công ước Luật biển của LHQ, tiến hành phân định biên giới biển một cách hợp lý trên cơ sở hiểu chính xác nội hàm của Công ước này, từ bỏ chủ trương cương vực truyền thống như “đường 9 đoạn”.

Phái “duy vũ lực” thì nguy hiểm, phái “duy pháp lý” thì ngây thơ. Trong cuộc chơi về chính trị biển quốc tế, việc sử dụng sức mạnh để uy hiếp và việc đấu tranh pháp lý không thể thiên về bên nào. Nếu các nhà ra quyết sách bị chi phối bởi phái “duy vũ lực” thì TQ sẽ lại đi theo vết xe đổ của một số nước trong lịch sử; nếu bị phái “duy pháp lý” kiểm soát thì các nước xung quanh sẽ tự do khiêu khích, TQ rất khó trở thành một nước lớn trên thế giới, thậm chí bị rơi xuống tầng lớp những nước hạng hai.

TQ cần phải sử dụng tổng hợp các biện pháp quân sự, kinh tế, pháp lý, ngoại giao. Một mặt cần tăng cường phô trương sức mạnh, tiến hành uy hiếp tổng thể. Sự uy hiếp truyền thống thường chỉ giới hạn ở lĩnh vực quân sự hoặc vũ khí hạt nhân. Nhưng sự uy hiếp trong chính trị quốc tế hiện nay thường sử dụng biện pháp ngoại giao và kinh tế nhiều hơn. Kể cả uy hiếp về an ninh cũng không chỉ đơn giản là việc “dùng đao nhuốm máu”. Tuy nhiên cần phải tạo ra sự uy hiếp đủ mạnh, ít nhất cần tăng cường ở 3 mặt sau: Một là thực lực cứng, sức mạnh quân sự là hết sức quan trọng. Đồng thời với việc xây dựng lực lượng quân sự đủ mạnh để ứng phó với cuộc chiến tranh quy mô lớn trên biển và có thể đánh thắng cuộc chiến tranh hiện đại trong điều kiện khoa học kỹ thuật cao, cũng cần tăng cường lực lượng chấp pháp trên biển, duy trì lực lượng quân sự trên biển có hiệu quả và tăng cường khả năng kiểm soát, ngăn ngừa và ứng phó với khủng hoảng hoặc xung đột bất ngờ trên biển.

Hai là sức mạnh của quyết sách. Cần phải có ý chí đáp trả kiên định và nhận thức, nắm bắt đúng đắn tình hình và lợi ích quốc gia. Các bộ ngành quản lý, giải quyết sự vụ trên biển của TQ rất nhiều, lợi ích đan xen phức tạp. Việc điều phối các bộ ngành này triển khai chính sách và lập trường thống nhất, tập trung sức mạnh và nguồn lực đồng tâm thực hiện mục tiêu đã xác định là hết sức quan trọng.

Ba là sức mạnh ngoại giao. Ngoại giao là con đường chủ yếu nhất để chuyển tải các thông tin răn đe, đồng thời ngoại giao cũng là một biện pháp trả đũa như cắt đứt giao lưu quân sự, trục xuất nhân viên ngoại giao, phản đối ngoại giao… Ngoài ra cũng cần phải nói rõ sự thật, thuyết trình lý lẽ. Ngoài việc tăng cường nghiên cứu và đấu tranh pháp lý quốc tế, cũng cần phải nhận thấy rằng các vấn đề trên biển ngày càng gắn liền với các nhân tố chính trị quốc tế, việc phân định biển và trật tự trên biển xưa nay không đơn giản chỉ là vấn đề pháp lý. Trong cuộc đấu tranh phân định biển, TQ không những phải thông hiểu và áp dụng linh hoạt luật quốc tế, mà còn phải tăng cường đấu tranh ngoại giao nhằm tranh thủ sự ủng hộ của thế giới.

Thứ nhất, cần phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền về chủ quyền, xác định rõ phạm vi chủ quyền. TQ hiện nay vẫn chưa hoàn thành việc xác định đường cơ sở lãnh hải, mới chỉ xác định một phần đường cơ sở lãnh hải của bờ biển lục địa và quần đảo Hoàng Sa. TQ cần phải tuyên bố đường cơ sở lãnh hải của tất cả các đảo thuộc TQ, từ đó để xác định phạm vi cụ thể các vùng biển của TQ.

Thứ hai, đồng thời với việc tăng cường đấu tranh cần giữ kiên nhẫn ở mức độ nhất định. Do ảnh hưởng rất lớn của dư luận và chủ nghĩa dân tộc, nên không có nước nào dễ dàng thỏa hiệp hay nhượng bộ, do đó đàm phán phân định biển là một quá trình lâu dài và gian khổ. TQ cần phải kiên trì lập trường của mình, kiên nhẫn, không nên nóng vội và hy vọng vào việc chỉ thông qua sức lực, sự nhượng bộ, thỏa hiệp của mình mà có thể giải quyết được vấn đề.

Thứ ba, cần kết hợp giữa việc bảo vệ lợi ích biển và việc tham gia xây dựng trật tự biển quốc tế. Để trở thành một cường quốc biển, TQ cần tham gia rộng rãi vào việc xây dựng luật biển quốc tế cụ thể, như giải quyết tranh chấp, quản lý biển quốc tế, xác lập địa vị pháp lý của các đảo, đưa ra những giải thích hợp lý đối với những điểm mà Công ước Luật biển còn mơ hồ, đồng thời tìm kiếm sự ủng hộ của các nước khác. TQ cũng cần tham gia tích cực công tác của các cơ quan biển quốc tế như Tòa án Luật biển quốc tế, Ủy ban quản lý đáy biển quốc tế, tạo ra sự ủng hộ và giúp đỡ không thể thiếu cả về nhân lực, vật lực và trí lực trong việc vận hành các cơ quan trên.

Theo Tạp chí Tri thức thế giới - 16/9

Quốc Trung (gt)

 

 

 

Bài viết “Đường đứt đoạn của Trung Quốc ở Biển Đông ra đời như thế nào” của Lý Kim Minh đăng trên Tạp chí “Tri thức thế giới” số ra 9/ 2011 trình bày quá trình ra đời của đường đứt quãng 9 đoạn, qua đó chứng minh chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các đảo cùng các quần đảo khác ở Biển Đông là có căn cứ pháp lý mang tính lịch sử.

 

Đường đứt đoạn ở biển Biển Đông là chỉ đường đứt đoạn hình chữ U đánh dấu trên bản đồ Biển Đông, cũng gọi là “đường chữ U’ hay “đường 9 đoạn”. Đường chữ U nói trên được công bố năm 1947, cộng đồng quốc tế lúc đó không hề có dị nghị, các nước Đông Nam Á ở xung quanh cũng chưa bao giờ phản đối về mặt ngoại giao, điều đó coi như đã được mặc nhận. Sau đó bản đồ xuất bản của rất nhiều nước cũng vẽ hình đánh dấu như vậy và chú thích rõ thuộc về Trung Quốc. Tuy nhiên sau khi “Viện lập pháp Đài Loan” thông qua “Cương lĩnh chính sách Biển Đông”, gọi vùng nước trong đường đứt đoạn là “vùng nước mang tính lịch sử” từ năm 1993, đường đứt đoạn này bắt đầu khiến quốc tế quan tâm rộng rãi, các nước Đông Nam Á xung quanh Biển Đông thậm chí lên tiếng thắc mắc về tính chất và địa vị pháp lý của đường đứt đoạn. Dưới đây sẽ trình bày bối cảnh ra đời, hiệu lực và tác dụng của đường đứt đoạn để làm rõ diện mạo lịch sử của đường đứt đoạn đó. 

Bắt đầu từ việc Pháp chiếm lĩnh 9 đảo nhỏ ở Trường Sa năm 1933. Từ khi chiếm Việt Nam làm thuộc địa năm 1885, Chính phủ Pháp luôn có dã tâm xâm chiếm các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Trung Quốc. Ngoài việc ngụy tạo ra những “sự thực lịch sử”, biên soạn ra tài liệu hoang đường như cái gọi là “đầu thế kỷ 19, vào thời vua Gia Long và vua Minh Mạng ở An Nam (nay là Việt Nam), đều đưa quân ra Hoàng Sa, An Nam hiện đã thuộc quyền sở hữu của Pháp nên quần đảo Hoàng Sa cũng thuộc quyền sở hữu của nước Pháp”, họ còn tỏ ý nghi ngờ tính hợp pháp của việc Thủy sư đề đốc Quảng Đông Lý Chuẩn thời nhà Thanh dẫn đầu đoàn tuần tra thị sát quần đảo Hoàng Sa vào năm 1909, mỗi lần ra đảo lại khắc đá đặt tên, làm nhà bằng gỗ, dựng cột buồm, treo cờ Hoàng Long khẳng định lãnh thổ Trung Quốc. Tháng 3/1930, Toàn quyền Đông Dương tại Hà Nội gửi thư cho Bộ trưởng thuộc địa Pháp viết rằng tỉnh Quảng Đông quyết định nhà đương cục Hoa Nam đứng ra tuyên bố họ có chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa. Sự kiện lớn diễn ra năm 1909 về việc tuần thú quần đảo Hoàng Sa là nghi thức chiếm lĩnh chính thức do Toàn quyền Lưỡng Quảng đề xướng, và việc tuyên bố của chính quyền tỉnh Quảng Đông hiện nay dường như căn cứ theo nghi thức này. Đối với nước Pháp, hành động chiếm lĩnh này chỉ là biểu hiện của vũ lực, từ trước đến nay chưa bao giờ được chính thức thừa nhận, nếu muốn có hiệu lực về mặt pháp luật thì chỉ có thể giả thiết quần đảo Hoàng Sa lúc đó là đất vô chủ.

Trước việc này, tháng 9/1932, Công sứ của Trung Hoa Dân quốc tại Pháp đã gửi công hàm đến Bộ Ngoại giao Pháp để phản đối, cho rằng “căn cứ theo luật pháp quốc tế và thông lệ quốc tế thì điều kiện chủ yếu để có được một đảo cách xa đất liền là trước tiên phải có sự chiếm lĩnh hữu hiệu, nói cách khác là có người của nước mình định cư ở đó trước tiên, khiến cho quốc gia có người ở đó có được những phần lãnh thổ này. Ngư dân Hải Nam định cư ở quần đảo Hoàng Sa, đồng thời làm nhà ở và đóng thuyền đánh cá để đáp ứng nhu cầu của họ, từ xưa đến nay chính là cách làm như vậy. Năm 1909, rõ ràng Chính phủ nhà Thanh đã đưa hải quân đến quần đảo khảo sát, đồng thời tuyên bố với các nước trên thế giới về sự chiếm đóng hữu hiệu của mình, liền ngay đó là kéo cờ của Trung Quốc, bắn 21 phát đại bác. Chính phủ Pháp lúc đó không kháng nghị phản đối. Năm 1908 có tổ chức quốc tế kiến nghị xây dựng cột đèn trên một đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa để bảo vệ tàu thuyền, đó là công trình quan cho hàng hải quốc tế. Tháng 4/1930, tại Hội nghị khí tượng họp ở Hồng Công, Trưởng đài khí tượng của Pháp ở Đông Dương, ngài Blouson và Trưởng đài thiên văn Từ Gia Hối ở Thượng Hải là Linh mục Frock (?) tham gia hội nghị lúc đó đã kiến nghị với đại biểu Trung Quốc xây dựng một đài khí tượng ở quần đảo Hoàng Sa”. 

Thấy không có chỗ nào có thể lợi dụng trong vấn đề Hoàng Sa, Pháp bèn chuyển ý đồ vươn đến quần đảo Trường Sa. Năm 1930, pháo hạm Pháp mang tên Malicieuse đã tự ý đến “đo đạc” ở đảo Nam Uy (Spratly) thuộc quần đảo Trường Sa, không nhìn nhận sự thực về việc ngư dân Trung Quốc đã định cư trên đảo này, và bí mật cắm cờ Pháp rồi bỏ đi. Tháng 4/1933, pháo hạm “Alerte và tàu đo đạc Astrolabe do Trưởng phòng nghiên cứu hải dương Sài Gòn dẫn đầu đã đến “khảo sát” tường tận trên khắp quần đảo Trường Sa để thể hiện sự “chiếm lĩnh”. Tháng 9/1930, Chính phủ Pháp đã thông qua một tờ Công báo tuyên bố với các nước khác rằng Pháp đã chiếm lĩnh quần đảo Trường Sa. Tháng 4/1933, Pháp còn chính thức tổ chức nghi thức chiếm lĩnh và công bố trên báo chí chính thức của Chính phủ vào ngày 26/7/1933. Tháng 12 cùng năm, Toàn quyền Pháp tại Đông Dương Giao Chỉ (tức miền Nam Việt Nam) Krautheimer đã ký pháp lệnh sáp nhập các đảo nhỏ thuộc quần đảo Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa của An Nam. Kỳ thực, mục đích của Pháp khi đó là thôn tính toàn bộ quần đảo Trường Sa chứ không chỉ vẻn vẹn mấy đảo nhỏ. Có thể thấy rõ điều này qua thư của Bộ Quốc phòng Pháp gửi Bộ Ngoại giao nước này ngày 30/3/1932 nói rằng “các ngài yêu cầu chúng tôi khi có khả năng phải chiếm lĩnh ngay quần đảo này, nhưng hành động như vậy cần phải được tiến hành trong điều kiện thời tiết thật tốt […], chúng tôi sẽ truyền đạt yêu cầu của các ngài đến Tư lệnh hải quân ở Đông Dương, yêu cầu họ đến, lập tức chiếm lĩnh quần đảo nói trên trong điều kiện thời tiết họ cho là thuận lợi nhất”. 

Trong tài liệu có tên “Trung Quốc địa lý tân chí” xuất bản ngày đó đã liệt kê các đảo nhỏ mà Pháp chiếm lĩnh gồm: 1) Đảo Trường Sa hay còn gọi đảo Storm (đảo bão gió), hiện nay gọi là đảo Nam Uy; 2) Đảo Itu Aba, nay gọi là đảo Thái Bình; 3) Đảo Amboyna Cay, nay gọi là bãi An Ba Sa; 4) Đảo North Danger North-east Cay, nay gọi là đảo Bắc Tử; 5) Bãi North Danger South-west Cay, nay gọi là bãi Nam Tử; 6) Đảo Loaita Is hay South Is., nay gọi là đảo Nam Thược; 7) Đảo Thitu, nay gọi là đảo Trung Nghiệp; 8) Đảo Nam Yet, nay gọi là đảo Hồng Ma; 9) Đảo West York, nay gọi là đảo Tây Nguyệt. Sự kiện Pháp chiếm 9 đảo ở Trường Sa đã gây tác động rất lớn đối với Chính phủ Dân quốc lúc đó. Ngày 4/8/1933, Bộ Ngoại giao Chính phủ Dân quốc gửi công hàm cho Sứ quán Pháp, yêu cầu điều tra rõ và trả lời chính thức về tên gọi, kinh độ, vĩ độ của các đảo. Bộ Ngoại giao Pháp đã thông qua Đại sứ Trung Quốc tại Pháp lúc đó là Cố Duy Quân gửi đi bức điện báo, nói “9 đảo nói trên nằm giữa An Nam và Philíppin, đều là nham thạch, được coi là tuyến đường biển quan trọng, tàu bè của Pháp thường lợi dụng chỗ hiểm yếu để tránh nạn nên đã chiếm giữ để xây dựng các thiết bị phòng chống rủi ro, đồng thời nói rõ trên bản đồ, thực tế không hề liên quan gì đến quần đảo Hoàng Sa”. Trước tình thế như vậy, Chính phủ Dân quốc cảm thấy cần phải xuất bản bản đồ chi tiết phạm vi lãnh thổ Biển Đông của Trung Quốc, thống nhất thẩm định lại tên bằng tiếng Trung Quốc và tiếng Anh của các đảo và bãi đá trong vùng lãnh thổ đó nên đã thành lập “Ủy ban thẩm định bản đồ biển và đất liền”. Hội nghị lần thứ 25 được tổ chức ngày 21/12/1934 đã thẩm định tên gọi tiếng Trung và tiếng Anh của các đảo ở Biển Đông. Trên tập san lần đầu tiên của Ủy ban phát hành tháng 1/1935 đã liệt kê tương đối rõ tên gọi của 132 đảo, mỏm đá, bãi đá, bãi cát. Tháng 4/1935 Ủy ban nói trên lại xuất bản “bản đồ các đảo ở Biển Đông”, xác định đường biên giới lãnh thổ của Trung Quốc ở Biển Đông cực Nam đến vĩ tuyến 4, đánh dấu bãi đã ngầm Tăng Mẫu vào phạm vi lãnh thổ. Năm 1936, bản đồ nói trên được đưa vào tập bản đồ do Bạch Mi Sơ chủ biên, gọi là tập “Bản đồ mới kiến thiết Trung Hoa” (Trung Hoa kiến thiết tân đồ), còn có tên gọi khác là “Bản đồ toàn Trung Quốc sau phát triển cương vực biển phía Nam” (Hải cương Nam triển hậu chi Trung Quốc toàn đồ). Trong lãnh thổ Biển Đông trên bản đồ có đánh dấu các quần đảo Đông Sa, Hoàng Sa, Trường Sa và Đoàn Sa, xung quanh các quần đảo này được đánh dấu rõ bằng đường ranh giới quốc gia để thể hiện rõ các đảo ở Biển Đôngđều đã có trong bản đồ Trung Quốc. Đường ghi dấu lãnh thổ quốc gia ở các đảo Biển Đông cực Nam nằm ở độ 4 vĩ tuyến Bắc, đồng thời đánh dấu rõ tiêu chí của bãi Tăng Mẫu ở đường ranh giới quốc gia. Đó là đường ranh giới lãnh thổ trên biển xuất hiện sớm nhất trên bản đồ của Trung Quốc, cũng là hình hài ban đầu của đường đứt quãng hình chữ U trên bản đồ Biển Đông của Trung Quốc hiện nay. 

Thu hồi các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa sau kháng chiến chống Nhật Sau khi xâm lược Trung Quốc vào thập niên 30 thế kỷ trước, Nhật Bản đã cưỡng chiếm quần đảo Trường Sa và đổi tên thành “quần đảo Tân Nam”, hoạch định quần đảo này thuộc quyền quản lý của Toàn quyền Đài Loan (lúc đó Đài Loan là thuộc địa của Nhật Bản). Sau kháng chiến chống Nhật, Chính phủ Trung Quốc lúc đó căn cứ theo “Tuyên ngôn Cairô” - do 3 nước Trung Quốc, Mỹ và Anh ký tháng 12/1943 quy định “tôn chỉ của 3 nước […] ở chỗ làm cho các phần lãnh thổ của Trung Quốc bị Nhật Bản cướp đọat như Mãn Châu, Đài Loan, quần đảo Bành Hồ được trả về cho Trung Hoa Dân quốc” - và “Thông cáo Potsdam” - hối thúc Nhật Bản đầu hàng do 3 nước Trung, Mỹ, Anh ký tháng 7/1945 về “điều kiện trong bản Tuyên ngôn Cairô sẽ phải thực thi, còn chủ quyền của Nhật Bản sẽ phải hạn chế trong phạm vi lãnh thổ Nhật Bản hiện có, Bắc Hải đạo, Cửu Châu, cùng các đảo nhỏ khác do 4 nước và người Ngô (một tộc người ở Thường Xuân thuộc tỉnh Cát Lâm?) - quyết định” thu hồi Đài Loan, sau đó chính thức thu hồi quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa ngày 25/10/1945. 

Mùa Thu năm 1946, Chính phủ Trung Quốc lúc đó quyết định Bộ tư lệnh hải quân đưa binh lính và tàu chiến ra đóng ở quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa, đồng thời Bộ Quốc phòng, Bộ Nội chính, Bộ tư lệnh không quân, Ban hậu cần cũng cử đại biểu ra thị sát; chính quyền tỉnh Quảng Đông cử nhân viên ra tiếp nhận. Những người ra tiếp nhận đi trên 4 tàu mang tên “Thái Bình”, Vĩnh Hưng”, “Trung Kiến”, “Trung Nghiệp”. Tháng 11 cùng năm, 2 tàu “Vĩnh Hưng”, “Trung Kiến” do Diêu Nhữ Ngọc dẫn đầu ra đến đảo chính trong quần đảo Hoàng Sa là đảo Vĩnh Hưng, dựng “Bia kỷ niệm hải quân thu hồi quần đảo Hoàng Sa” trên đó. Mặt chính của bia khắc 4 chữ lớn là “Biển ĐôngBình Phiên” (nghĩa là phên dậu Biển Đông), bắn pháo, kéo cờ tuyên bố công việc thu hồi quần đảo Hoàng Sa đã hoàn thành. Tháng 12, 2 tàu “Thái Bình” và “Trung Nghiệp” do Lâm Tuân dẫn đầu ra đến đảo chính trong quần đảo Trường Sa, đã đặt tên cho đảo là đảo “Thái Bình” để kỷ niệm tàu “Thái Bình” tiếp nhận đảo này, đồng thời dựng bia đá ở đầu phía Đông của đảo với tên gọi “Đảo Thái Bình quần đảo Trường Sa”, cử hành nghi thức tiếp nhận và kéo cờ bên cạnh bia đá. Sau đó nhân viên thu hồi lại đến đảo Trung Nghiệp, đảo Tây Nguyệt và đảo Nam Uy, lần lượt dựng bia để làm chứng cứ. Tại đảo Thái Bình đã thành lập Phòng quản lý quần đảo Trường Sa, thuộc quyền quản lý của chính quyền tỉnh Quảng Đông.

Tuy nhiên, Pháp với ý đồ khôi phục chế độ thống trị tại Đông Dương và Philíppin vừa thoát khỏi ách thống trị của Mỹ đều muốn kiểm soát hữu hiệu quần đảo. Trong khi quân đội Nhật đầu hàng còn chờ trao trả, Pháp đã tranh thủ đến chiếm ngay một số đảo trước khi bộ đội Trung Quốc đến đóng trên các đảo ở Biển Đông, đồng thời đưa tàu chiến tuần tra thường xuyên ở Biển Đông. Tháng 7/1946, một tàu không rõ quốc tịch đã xâm nhập vùng biển thuộc quần đảo Trường Sa, sau khi biết tin Tổng bộ hải quân Trung Quốc quyết định đưa tàu chiến đến tiếp nhận quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa mới tự động rút đi sau đó mấy ngày. Tháng 10, lại có tàu chiến Chevreud của Pháp đến chiếm đảo Nam Uy và đảo Thái Bình ở quần đảo Trường Sa, đồng thời dựng bia trên đảo Thái Bình. Trước việc Trung Quốc quyết định thu hồi quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Pháp lên tiếng phản đối và đưa tàu chiến Tonkinois đến quần đảo Hoàng Sa, trên đường đến đảo Vĩnh Hưng thấy có bộ đội Trung Quốc đóng giữ liền đổi hướng đi đến đảo San Hô, và thiết lập Trung tâm hành chính trên đảo. Philíppin cũng muốn nhân cơ hội Trung Quốc chưa hoàn toàn tiếp nhận các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, chiếm quần đảo Trường Sa làm của mình. Ngày 23/7/1946 Ngoại trưởng Philíppin lúc đó là Quirino tuyên bố: “Trung Quốc đã tranh chấp với Philíppin về quyền sở hữu đối với quần đảo Trường Sa, quần đảo này ở cách đảo Palawan 200 hải lý về phía Tây, Philíppin sẽ hợp nhất quần đảo này vào phạm vi quốc phòng của mình”. 

Trong hoàn cảnh phức tạp như vậy, để bảo vệ chủ quyền đối với các đảo ở Biển Đông, Chính phủ Trung Quốc khi đó đã kịp thời có một số biện pháp cần thiết. Trước hết, đã điều chỉnh lại tên gọi của các đảo theo vị trí địa lý của các đảo đó tại vùng biển Biển Đông, đổi lại tên gọi ban đầu của “Quần đảo Đoàn Sa” thành “Quần đảo Trường Sa”, đổi lại tên gọi cũ của “Quần đảo Trường Sa” thành “Quần đảo Trung Sa”. Thứ hai, ngày 14/4/1947, Bộ Nội chính đã mời các cơ quan hữu quan cử người đến thảo luận và ra quyết định: 1) Phạm vi lãnh thổ Biển Đôngcực Nam phải đến bãi Tăng Mẫu, phạm vi này trước kháng chiến Chính phủ, cơ quan, trường học và các ấn phẩm xuất bản của Thư cục Trung Quốc đều lấy đó làm chuẩn; Bộ Nội chính đã chịu trách nhiệm lập hồ sơ, vẫn giữ nguyên không thay đổi. 2) Việc công bố chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, sau khi Bộ Nội chính đặt tên, có bản đồ minh họa kèm theo, trình lên Chính phủ Dân quốc lập hồ sơ, vẫn do Bộ Nội chính thông báo cho cả nước biết. Trước khi công bố, Bộ tư lệnh hải quân cũng đồng thời cố gắng đưa quân ra đóng ở các đảo thuộc các quần đảo nói trên. 3) Các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa mùa cá đến nhanh, ngư dân đến các quần đảo do Bộ tư lệnh hải quân và chính quyền tỉnh Quảng Đông bảo vệ và tạo thuận lợi  trong việc chuyên chở và thông báo tin tức. Thứ ba, để cụ thể hóa phạm vi lãnh thổ đã xác định ở Biển Đông, năm 1947, Vụ quản lý địa phương thuộc Bộ Nội chính khi đó đã in ấn “Bản đồ vị trí các đảo ở Biển Đông”. Bản đồ này có đánh dấu các quần đảo Đông Sa, Hoàng Sa, Trung Sa và Trường Sa, đồng thời có vẽ đường đứt quãng hình chữ U ở xung quanh, vị trí cực Nam của đường đứt quãng ở vị trí khoảng 4 độ vĩ Bắc. Tháng 2/1948, bản đồ nói trên được đưa vào “Bản đồ khu vực hành chính Trung Hoa Dân quốc” do Phó Giác Kim thuộc Vụ Phương vực Bộ Nội chính chủ biên, Vương Tích Quang vẽ và biên tập, Thương vụ ấn thư quán phát hành đối ngoại công khai. Đây chính là đường đứt quãng hình chữ U được đánh dấu chính thức trên bản đồ Biển Đôngcủa Trung Quốc. 

“Hòa ước San Francisco ” và đường đứt quãng Biển Đông

Về ý kiến của Mỹ và Anh liên quan việc xử lý các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa sau Chiến tranh thế giới thứ Hai, gần đây trong cuốn “Biên giới châu Á-Thái Bình Dương thời Chiến tranh Lạnh: Lãnh thổ chia rẽ hệ thống San Francisco”, nghiên cứu viên Kimi Sahara thuộc Trung tâm quản lý cải cách quốc tế Canađa đã tiết lộ một số dự thảo hiệp ước hòa bình mà ông đã được đọc trong mấy nơi như Nhà lưu giữ hồ sơ quốc gia Mỹ và Phòng quản lý hồ sơ Học viện Park ở Maryland. Xin được trình bày một số tư liệu liên quan trong đó như sau: 

1. Trong văn kiện mà Bộ Ngoại giao Mỹ đã trù định sẵn ở thời kỳ đầu Chiến tranh thế giới thứ Hai, văn kiện T-324 về “đảo Nam Uy và quần đảo khác (quần đảo Tân Nam)” được phác thảo ngày 25/5/1943, mục đích là để chuẩn bị cho công tác kiểm tra của Tiểu ban lãnh thổ. Văn kiện xuất phát từ góc độ địa lý, chiến lược, lịch sử Nhật Bản chiếm đóng, tuyên bố của các nước tranh chấp – tên gọi chung của các nước Nhật Bản, Pháp cùng với Trung Quốc và thái độ của Mỹ để thảo luận về các quần đảo này. Vấn đề đặc biệt cần chú ý là văn kiện nói trên đã tuyên bố về việc Philíppin tuyên bố chủ quyền sau chiến tranh: “Quần đảo Tân Nam chắc chắn là nằm ngoài phạm vi giới hạn mà Philíppin hoạch định ngày 10/12/1898”.

 2. Ngày 19/12/1944, trước Hội nghị Yalta, Ủy ban Phân khu Viễn Đông đã chuẩn bị văn kiện CAC-301 về “Đảo Nam Uy và quần đảo khác (quần đảo Tân Nam)”. Nội dung văn kiện cũng đề cập đến khu vực giống như khu vực được đề cập trong Văn kiện T-324 nói trên. Cả hai văn kiện đều có câu nói giống nhau: “Quần đảo Tân Nam là ở ngoài phạm vi giới hạn của Philíppin”. Phía trước câu nói như trên, văn kiện CAC-301 còn ghi thêm: “Nước Mỹ không tuyên bố chủ quyền cho mình, cũng không tuyên bố chủ quyền cho Philíppin ở quần đảo”. 

3. Văn kiện CAC-308 theo bản thảo chính thức tháng 12/1944 về “quần đảo Hoàng Sa” là chuẩn bị riêng cho quần đảo Hoàng Sa. Trong khi xem xét tình hình xung đột giữa các nước tranh chấp lúc đó – tức Pháp và Trung Quốc (Nhật Bản chưa bao giờ tuyên bố chính thức chủ quyền ở Hoàng Sa), văn kiện nói trên đã rõ ràng thừa nhận rằng tuyên bố của Trung Quốc là chiếm ưu thế về tính chất hợp pháp lịch sử.

Từ các văn kiện nói trên có thể thấy Mỹ cho rằng quần đảo Trường Sa chắc chắn nằm ngoài phạm vi giới hạn của Philíppin, đồng thời Mỹ cũng không tin vào tuyên bố của Pháp, cho rằng tuyên bố của Pháp về chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa là yếu ớt, không có sức mạnh. Nước Anh cũng giữ quan điểm tương tự như vậy đối với tuyên bố của Pháp về 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Tuy vậy, trong giai đoạn soạn thảo cuối cùng của “Hòa ước San Francisco đối với Nhật Bản” năm 1951, cả Mỹ và Anh lại đưa vấn đề xử lý quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa vào hiệp ước theo yêu cầu của Pháp, hơn nữa cũng đồng ý cho Pháp đưa cả các đồng minh của họ là Lào, Campuchia và Việt Nam đến hội nghị, trong khi Trung Quốc đại lục và Đài Loan Trung Quốc lại không đuợc mời tham gia. Ngày 23/8/1951, một bức điện báo gửi từ Pari đến Bộ Ngoại giao ở Luân Đôn viết rằng “các nước đồng minh Lào, Campuchia và Việt Nam tham gia hội nghị San Francisco đã được đảm bảo, họ sẽ ký vào bản hiệp ước. Tại San Francisco, vấn đề Nhật Bản bồi thường chiến tranh do chiếm đóng sẽ được nêu lên, Pháp cần phải bảo vệ quyền lợi đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa”.

Điều nghiêm trọng hơn nữa là “Hòa ước” chỉ viết Nhật Bản từ bỏ tất cả mọi quyền lợi ở Hoàng Sa và Trường Sa nhưng không nêu rõ sẽ trả lại những quyền lợi đó về cho Trung Quốc. Chính điều này đã để lại mầm họa cho việc tranh chấp lãnh thổ, khiến cho vấn đề tranh chấp giữa Trung Quốc và 2 thế lực thực dân là Nhật Bản và Pháp trước Chiến tranh thế giới thứ Hai chuyển thành tranh chấp giữa Trung Quốc với các nước láng giềng Đông Nam Á mới giành độc lập sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Vì thế, Bộ trưởng Ngoại giao nước CHND Trung Hoa lúc đó là Chu Ân Lai đã nghiêm túc tuyên bố: “Dự thảo văn kiện đã cố ý quy định Nhật Bản từ bỏ mọi quyền lợi ở đảo Nam Uy và quần đảo Hoàng Sa nhưng không đề cập đến vấn đề hoàn trả chủ quyền. Trên thực tế, quần đảo Hoàng Sa và đảo Nam Uy cũng như toàn bộ quần đảo Trường Sa, quần đảo Trung Sa và quần đảo Đông Sa, từ trước đến nay đều thuộc lãnh thổ của Trung Quốc. Trong thời kỳ đế quốc Nhật Bản phát động chiến tranh, tuy có lúc thất thủ nhưng sau khi Nhật Bản đầu hàng đã được Chính phủ Trung Quốc lúc đó thu hồi toàn bộ. Vì thế, Chính phủ Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tuyên bố: Chủ quyền không thể xâm phạm của Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại đảo Nam Uy (Trường Sa) và quần đảo Hoàng Sa, dù Mỹ và Anh có quy định hay không quy định và quy định như thế nào trong dự thảo hòa ước với Nhật Bản, cũng đều không chịu bất cứ ảnh hưởng gì”.

Mặc dù Mỹ-Anh khi soạn thảo “hòa ước” đều biết rõ, bất luận là tuyên bố của nuớc tranh chấp trước chiến tranh – Pháp, hay là tuyên bố của nước tranh chấp mới sau chiến tranh – Philíppin, cũng đều không có lý do đầy đủ. Nhưng cùng với Chiến tranh Lạnh từng bước leo thang và Chủ nghĩa cộng sản phát triển ở châu Á, mục tiêu quan trọng của Mỹ đã biến thành mục tiêu không để cho nước Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản được hưởng lợi trong vấn đề lãnh thổ mà Nhật Bản phải hoàn trả. Tháng 1/1950, Mỹ tuyên bố cực Nam của “Phòng tuyến Acheson” ở Tây Thái Bình Dương kéo dài đến Philíppin, đảm bảo an ninh cho Philíppin đã trở thành mục tiêu chủ yếu trong chính sách Đông Nam Á của Mỹ. Vấn đề xử lý lãnh thổ theo “Hòa ước với Nhật Bản” đã đem lại cơ hội không chỉ cho Philíppin, mà cho cả các nước láng giềng xung quanh Biển Đôngmới độc lập tham gia cạnh tranh lãnh thổ ở Biển Đông, đồng thời dựa vào đó đã để lại “mảnh chêm” lợi hại như một nhân tố tiềm tàng đối phó với Trung Quốc.

Báo “Quốc phòng Trung Quốc” ra ngày 10/5/2011 có bài viết xung quanh câu hỏi đặt ra về việc “Đài Loan - Đại lục cùng giữ đảo Thái Bình?” với mọi khả năng có thể đặt ra của tác giả Mai Phong, nội dung như sau:

Gần đây có báo đưa tin nhà cầm quyền Đài Loan sẽ tổ chức “Hội nghị chống khủng bố quốc tế” trên đảo Thái Bình (Ba Bình) ở Biển Đông, Mã Anh Cửu sẽ đích thân tham gia “tuyên bố chủ quyền” để đối phó với nước xung quanh có mưu đồ đánh chiếm đảo Thái Bình. Nhà cầm quyền Đài Loan tuy đã phủ nhận tin này nhưng đảo Thái Bình và tình hình Biển Đôngmột lần nữa lại trở thành đề tài cho dư luận trên đảo. Ngày 5/5, Trung tướng nghỉ hưu ở Đài Loan, Ủy viên thường vụ Hội chiến lược Trung Hoa Truyền Ứng Xuyên có bài viết cho biết hiện nay hai bờ tuy không có đối thoại hay thỏa thuận chính thức về vấn đề Biển Đông, nhưng trong vấn đề chủ quyền ở Biển Đông, lợi ích hai bờ là thống nhất. Hai bờ cùng không thể vì lập trường chính trị bất đồng mà gây tổn hại cho lợi ích chung của dân tộc, tin tưởng chắc chắn rằng Quân giải phóng quyết không thể ngồi nhìn. 

Tin đồn bên ngoài làm khuấy động Đài Loan

Đối với hai bờ, những năm gần đây Biển Đông đều là vấn đề “cây muốn lặng nhưng gió chẳng đừng”. Một số học giả người Hoa khi phân tích tình hình Biển Đôngđều cho rằng lực lượng phòng thủ của Đài Loan ở đảo Thái Bình mỏng yếu, nước xung quanh có thể có mưu toan đối với đảo Thái Bình. Một số người như học giả Bao Thuần Lượng thuộc Chương trình nghiên cứu toàn cầu, Phân hiệu Riverside, Đại học California và Tiết Lý Thái, Nghiên cứu viên thuộc Trung tâm an ninh và hợp tác quốc tế, Đại học Stanford, cho rằng nếu đảo Thái Bình thất thủ, không chỉ quyền và lợi ích ở Biển Đông sẽ mất đi mà cũng đồng thời có nghĩa trắc trở về mặt chính trị. 

Tin đồn từ hải ngoại đã làm khuấy động dư luận Đài Loan dẫn đến lo ngại cho các giới trên đảo về sự an nguy ở đảo Thái Bình. Trong một đợt thảo luận, có học giả Đài Loan lên tiếng nói rằng thực lực của Đại lục là nhân tố quan trọng đảm bảo cho nước xung quanh không dám manh động ra tay ở đảo Thái Bình. Trợ lý giáo sư Lý Đại Trung tại Viện nghiên cứu quốc tế và chiến lược, Đại học Đạm Giang khi trả lời phỏng vấn của báo chí có nói đến Biển Đôngliên quan đến lợi ích quốc gia của Trung Quốc đại lục, nước xung quanh nếu có mạo muội hành động e sẽ không thể có được giá hời gì mà chỉ giúp quân đội Trung Quốc đại lục “luyện binh” mà thôi. Lý Đại Trung đồng thời cho rằng ngoài lãnh thổ, vấn đề Biển Đôngcòn bao gồm tranh giành nguồn năng lượng. Nhà cầm quyền Đài Loan cần chọn thời điểm thích hợp để đàm phán với Đại lục, cùng phát triển nguồn năng lượng ở Biển Đông. Một số học giả Đài Loan cũng nói rằng nhà cầm quyền chi bằng liên kết với Đại lục phối hợp phòng thủ đảo Thái Bình. 

Không ít dân chúng Đài Loan đều tin rằng Biển Đông khi có sự cố, hai bờ nhất định sẽ liên kết giữ đảo Thái Bình. Ngay đến nhà cầm quyền Đài Loan cũng còn xem xét việc đưa hợp tác với Đại lục bảo vệ đảo Thái Bình vào trong chính sách. Phó giám đốc Sở bảo vệ môi trường Đài Loan Khâu Văn Ngạn cũng đã phát biểu tại “Diễn đàn hải dương hai bờ eo biển” rằng có thể mời chuyên gia, học giả Đại lục đến khảo sát kế hoạch phối hợp, hỗ trợ ban lãnh đạo Đài Loan xây dựng đảo Thái Bình thành “công viên hòa bình quốc tế”. 

Đảo Thái Bình đã mấy lần bị chiếm 

Sở dĩ đảo Thái Bình có thể trở thành vấn đề Biển Đông, thậm chí là một điểm nóng trong quan hệ giữa hai bờ là do tính chất chiến lược quan trọng của bản thân hòn đảo này. Một đảo nhỏ hình bầu dục dài và hẹp nằm trên vị trí cốt tử ở Biển Đông, có diện tích lớn nhất trong quần đảo Trường Sa, khoảng 0,5 Km vuông, cũng là đảo duy nhất có nguồn nước ngọt, vừa có thể trở thành cơ sở của nghề cá lại vừa có thể phát huy vai trò quân sự quan trọng. Có thể nói, có được đảo Thái Bình sẽ có được cả Biển Đông. Chính vì thế, từ thời cận đại khi thế lực các nước đã xâm nhập Biển Đông, đảo Thái Bình liền biến thành nơi tranh giành tất yếu của nhà binh, lịch sử từng ghi nhận đã 7 lần sang tên đổi chủ ở đảo này. Cuối đời nhà Thanh, đội quân lớn thương nhân và ngư dân người Nhật Bản đã kéo đến Trường Sa cướp đoạt tài nguyên, đảo Thái Bình cũng bị họ chiếm cứ lâu dài. Vào những năm 20 thế kỷ trước, quân đội thực dân Pháp chiếm đóng Đông Nam Á cũng xâm nhập quần đảo Trường Sa. Năm 1933, quân Pháp đã đuổi thương nhân Nhật Bản trên đảo Thái Bình, trở thành kẻ chiếm đóng mới ở đây. Năm 1939 quân đội Nhật Bản tràn đến Biển Đông, tháng 3 chiếm đóng đảo Thái Bình. Máy bay trinh sát của hải quân Nhật cũng từng đóng tại đảo Thái Bình, thi hành nhiệm vụ, những tin tức tình báo thu thập lúc đó đều được quân đội Nhật sử dụng để phát động cuộc chiến tranh Thái Bình Dương sau này. Kháng chiến chống Nhật vừa kết thúc, thực dân Pháp nhảy vào, đảo Thái Bình lại tiếp tục đổi chủ. Tuy nhiên do sức ép quốc tế, không lâu sau nước Pháp lại tự rút quân. Năm 1946 hải quân của Quốc dân đảng đã đưa tàu chiến “Thái Bình” ra tuần tra ở tận Trường Sa, đồng thời tiếp nhận các đảo ở Biển Đông. Chính phủ Quốc dân đảng lúc đó đã lấy tên của tàu chiến chính thức đặt tên cho đảo là đảo “Thái Bình”. Hải quân Quốc dân đảng đã thành lập “Phòng quản lý Trường Sa” và tiến hành thực thi công việc quản lý. Đầu những năm 50 thế kỷ trước, tất cả bộ đội Quốc dân đảng đóng trên đảo rút về Đài Loan. Một số người dân Philíppin còn cố tình đổ bộ lên đảo. Năm 1956 hải quân Quốc dân đảng đưa quân ra đuổi người Philíppin, đồng thời đội lục chiến trở lại đảo để trấn thủ. Từ đó đảo Thái Bình do nhà cầm quyền Đài Loan kiểm sát trên thực tế. Sau khi Lý Đăng Huy lên nắm quyền trên đảo, được ông này gợi ý, năm 1999 đội hải quân lục chiến của Đài Loan đã kết thúc nhiệm vụ đóng giữ ở đảo Thái Bình mấy chục năm, đến năm 2000, nhà cầm quyền Đài Loan thành lập “Sở tuần tra phòng vệ bờ biển”, tiếp quản đảo Thái Bình.

Phối hợp phòng vệ đảo Thái Bình ảnh hưởng tình hình Trường Sa 

Trong thời gian nắm quyền, Trần Thủy Biển đã từng làm to chuyện trong vấn đề đảo Thái Bình, cho xây dựng đường băng sân bay, còn lên cả đảo để ra oai nhằm dựa vào vấn đề Biển Đông phục vụ cho “Đài Loan độc lập”, bị báo chí trên đảo chế giễu, nói Trần Thủy Biển muốn mượn sân bay ở đảo Thái Bình để di chuyển tiền của tham nhũng, chuẩn bị sẵn khi vụ án vỡ lở chạy ra nước ngoài. Sau khi Mã Anh Cửu trở thành người lãnh đạo khu vực Đài Loan, quan hệ hai bờ đi vào thời đại mới, giao lưu hai bờ ngày càng mật thiết, cũng khiến cho rất nhiều vấn đề vốn nhạy cảm có được môi trường thảo luận rất tốt. Tình hình Biển Đông chính là một trong những vấn đề nhạy cảm nói trên. Đặc biệt sau khi “Hiệp định khung về hợp tác kinh tế hai bờ” (ECFA) được ký kết, hợp tác hai bờ trong vấn đề Biển Đôngcó được căn cứ pháp lý. Đây cũng là điều kiện quan trọng cho học giả hai bờ dồn dập lên tiếng đề nghị hai bờ hợp tác phòng thủ đảo Thái Bình, thậm chí cùng bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông hiện nay. Trên thực tế, nếu việc hai bờ phối hợp phòng thủ trở thành sự thực, thì điều này sẽ không chỉ là bảo vệ được một đảo Thái Bình mà sẽ còn có ảnh hưởng chiến lược tích cực đối với cả tình hình Biển Đông. Rất nhiều chuyên gia quân sự Đại lục cho rằng đảo Thái Bình hoàn toàn có thể dựa vào vị trí địa lý tuyệt vời và nguồn nước ngọt tại đó để xây dựng thành căn cứ tiếp tế hậu cần cho tàu chiến, khiến cho hải quân hai bờ có thể hợp tác tốt hơn trong khi bảo vệ Biển Đông. Ngoài ra, đảo Thái Bình chỉ cách quần đảo Hoàng Sa mà Quân giải phóng đang đóng giữ mấy trăm hải lý, khi cần thiết có thể kịp thời phối hợp nhịp nhàng từ xa, thống nhất xử lý với bên ngoài. Thiếu tướng La Viện thuộc Học viện khoa học quân sự có lần đề xuất quân nhân hai bờ cần cùng nhau bảo vệ cương vực vốn có của dân tộc Trung Hoa, Biển Đôngkhi có tình hình, quân đội Đài Loan trên đảo Thái Bình có thể tạo điều kiện thuận lợi về hậu cần cho Đại lục. Về việc thảo luận phối hợp phòng vệ đảo Thái Bình và cùng bảo vệ Biển Đông giữa hai bờ, tại đảo Đài Loan đã có môi trường dư luận nhất định nhưng vẫn còn rất nhiều khó khăn so với thực tế, trong đó chủ yếu do lãnh đạo Đài Loan vẫn còn cảm thấy rất “vướng víu” trong một số vấn đề sâu xa giữa hai bờ, nhất là trong lĩnh vực chính trị và quân sự. Nếu không xây dựng được lòng tin lẫn nhau cao độ về chính trị, hai bờ sẽ rất khó đi đến hợp tác quân sự. Ngoài ra, việc thế lực nước lớn can thiệp, phản ứng của nước xung quanh cũng khiến cho vấn đề Biển Đônghoàn toàn không chỉ hạn chế ở cấp độ hai bờ, mà còn là cuộc chơi đa phương, không thể không thận trọng theo đuổi. Tuy nhiên, nếu hai bờ đều lấy đại nghĩa dân tộc làm trọng, không ngừng làm sâu sắc thêm giao lưu hợp tác sẽ nhất định có thể bảo vệ chủ quyền Biển Đông, cũng có thể bảo vệ thái bình lâu dài trên đảo Thái Bình.   

Theo Tri thức thế giới

Đinh Anh (gt)

 

Ngôn ngữ