25 - 1 - 2021 | 18:09
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home
Tag:DOC

Ngày 21 tháng 7 năm 2011, tại Bali – Indonesia, ASEAN và Trung Quốc đã đạt được Bản Quy tắc hướng dẫn thực hiện DOC sau 9 năm đàm phán. Văn bản này được xem là bước tiến trong tiến trình quản lý tranh chấp, tuy nhiều ý kiến bình luận hoài nghi về khả năng kiềm chế các căng thẳng trên Biển Đông. NCBĐ xin giới thiệu bài viết của nhà nghiên cứu Việt Long về quá trình đi từ DOC đến Bản Quy tắc hướng dẫn, từ đó gợi mở các hướng về COC trong tương lai.

 

Ngày 21 tháng 7 năm 2011, tại Bali – Indonesia, trong khuôn khổ cuộc gặp cấp cao AMM 44, ASEAN và Trung Quốc đã đạt được Bản Quy tắc hướng dẫn thực hiện Tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên Biển Đông (gọi tắt Quy tắc Hướng dẫn DOC). Đây được xem là nỗ lực của các bên liên quan trong việc kiềm chế và quản lý‎ các tranh chấp trên Biển Đông, đang trở nên căng thẳng và thu hút sự quan tâm đặc biệt của Cộng đồng quốc tế nhất là từ nửa đầu năm 2011.

Tổng thư ký ASEAN, ông Surin Pitsuwan cho rằng thỏa thuận này là một thành tựu ngoại giao quan trọng, việc áp dụng bản Hướng dẫn sẽ tạo ra tiến trình qua đó đối thoại có thể phát triển và lòng tin lẫn nhau giữa các bên tranh chấp sẽ được thiết lập.  Ngoại trưởng nước chủ nhà Indonesia cho rằng, cam kết về Quy tắc hướng dẫn thực hiện DOC sẽ thuyết phục thế giới rằng hai bên có thể tránh được xung đột và giải quyết tranh chấp bằng con đường hòa bình. Việc kết thúc các quy tắc chứng tỏ rằng các quốc gia thành viên ASEAN và Trung Quốc đã nhận ra những lợi ích chung. Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Dương Khiết Trì cho rằng: “Kết quả này thể hiện quyết tâm, long tin và khả năng của Trung Quốc và ASEAN cùng nhau thúc đẩy hòa bình và ổn định trong Biển Nam Trung Hoa bằng việc thực hiện DOC”[1].. China Daily ngày 27/7/2011 viết: "Lần đầu tiên, cơn bão trên Biển Đông trong suốt hai tháng qua bắt đầu có dấu hiệu dịu lại. Kết quả đáng ca ngợi này đại diện cho cam kết của các bên liên quan trực tiếp tới tranh chấp để giải quyết vấn đề theo con đường song phương và trong hòa bình".[2] Trợ ly‎ Bộ trưởng Nhà ngoại giao Việt Nam, ông Phạm Quang Vinh cho rằng "đây là một khởi đầu tốt và có ý nghĩa để chúng ta tiếp tục cùng nhau đối thoại và hợp tác để thúc đẩy hơn nữa sự ổn định, lòng tin trong khu vực".  Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton nhận định, bản hướng dẫn là "một bước đi đầu tiên quan trọng" tiến tới một giải pháp ngoại giao cuối cùng.[3]

Không nghi ngờ gì, Bản quy tắc hướng dẫn là một văn bản đạt được đúng lúc, góp phần làm giảm bớt căng thẳng trên Biển Đông trong những tháng qua. Bản quy tắc là sự kéo dài của Tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC) trên con đường khó khăn đi đến một thoả thuận mang tính ràng buộc pháp lý – Bộ quy tắc ứng xử của các bên trên Biển Đông (COC) nhưng cũng có thể là một sự trì hoãn kéo dài tình thế hiện hữu trên Biển Đông. Tất cả tùy thuộc vào sự chủ động, kiên quyết đấu tranh và thiện chí hợp tác của các bên có quyền lợi ở Biển Đông.

Từ DOC đến Bản Quy tắc hướng dẫn

DOC là văn bản song phương có sự tham gia của nhiều bên đầu tiên của khu vực trong quản lý và kiềm chế tranh chấp Biển Đông.[4] Tranh chấp này được biết đến như tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc từ đầu thế kỷ, và với các bên tranh chấp khác trong nửa cuối của thế kỷ XX cho đến nay. Tranh chấp Biển Đông  gồm ba loại: tranh chấp chủ quyền các đảo, tranh chấp phân định biển (phân định biển liên quan đến các đảo có tranh chấp và phân định biển không liên quan đến tranh chấp chủ quyền) và tranh chấp về sử dụng và bảo vệ môi trường biển (các quyền tự do hàng hải, về đặt dây cáp và ống dẫn ngầm, tranh chấp về môi trường biển, về nghiên cứu khoa học biển). Các tranh chấp này đan xen nhau, phụ thuộc lẫn nhau, chịu ảnh hưởng quan hệ giữa các siêu cường trong và ngoài khu vực, làm tranh chấp ngày càng phức tạp, khó giải quyết. Sau hai lần Trung Quốc sử dụng vũ lực năm 1974 và 1988 cùng sự kiện hợp đồng thăm dò khu vực bãi ngầm Tư Chính giữa Trung Quốc và công ty Mỹ Crestone nằm trên thềm lục địa Việt Nam năm 1992, ASEAN mới có sáng kiến ngăn ngừa đầu tiên với Tuyên bố Biển Đông năm 1992[5]. Tuyên bố này lần đầu tiên kêu gọi các bên tranh chấp cùng ASEAN xây dựng một Bộ quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC) như một biện pháp xây dựng lòng tin của khu vực.[6]  Việc gia nhập ASEAN của Việt Nam và vụ đụng độ Mischief (Đá Vành khăn) giữa Philippin và Trung Quốc trong cùng năm 1995 đã là những chất xúc tác đưa hai quốc gia bị ảnh hưởng nhiều nhất của sự phô trương sức mạnh quân sự của người láng giềng phương Bắc buộc phải có những bước đi kiên quyết trong lĩnh vực này. Năm 1996 ASEAN chính thức thống nhất đề xuất xây dựng văn bản COC cho khu vực. Lúc đầu Trung Quốc không chấp nhận đàm phán xây dựng một COC với l‎ý do ASEAN và Trung Quốc đã có Tuyên bố hợp tác hướng tới thế kỷ 21 ký tháng 12/1997 tại Kuala Lumpur.[7]  Sau khi tuyên bố đường cơ sở quần đảo Hoàng Sa năm 1996 vi phạm chủ quyền Việt Nam, Trung Quốc thông qua luật đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 1998, lệnh cấm đánh bắt cá từ năm 1999 nhằm củng cố sự hiện diện của mình ở Biển Đông. Hành động của Trung Quốc làm các nước khác lo ngại và khởi đầu một cuộc chạy đua vũ trang và chiếm đóng mới ở Biển Đông. Đài Loan thông qua luật lãnh hải và vùng tiếp, giáp năm 1998, luật đặc quyền kinh tế và thềm lục địa năm 1999. Malaysia chiếm thêm Én Đất và Bãi Thám hiểm tháng 6/1999. Việt Nam và Philippin tăng cường củng cố các vị trí đã chiếm giữ. Bối cảnh căng thẳng trên Biển Đông lúc đó buộc các nhà ngoại giao khu vực phải sớm có một giải pháp. Các bộ quy tắc ứng xử Philippin – Trung Quốc và Philippin – Việt Nam trong năm 1995 là cơ sở để ASEAN đề nghị Trung Quốc tiến hành đàm phán về một Bộ quy tắc ứng xử chung ASEAN – Trung Quốc. Thế nhưng các cuộc đàm phán giữa các bên chỉ đi đến một kết quả nửa đường – Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) 2002 sau hơn 2 năm đàm phán và 10 năm nung nấu ý tưởng. Các khó khăn trong xây dựng một Bộ Quy tắc ứng xử COC như phạm vi áp dụng, quy định về việc không xây dựng các cấu trúc mới trên những đảo, đá, bãi ngầm hay tính ràng buộc pháp lý đã dễ dàng bị bỏ qua để đi đến Thỏa thuận tạm hài lòng tất cả các Bên. Không phải là COC như mục tiêu hướng đến mà là DOC 2002 với hy vọng làm dịu bớt tình hình căng thẳng trên Biển Đông. Thế nhưng một sản phẩm đẻ non khó có thể làm tranh chấp giảm bớt. Các bên đều lợi dụng tính lỏng lẻo trong các quy định chung của DOC 2002 nhằm ngụy biện cho các hoạt động tăng cường hiện diện của mình trên Biển Đông. Hiệp định thăm dò địa chấn Trung – Phi 2004 là một sự vi phạm nghiêm trọng đối với nguyên tắc thông báo cho nhau trong DOC[8],  đe doạ phá vỡ nền tảng củaTuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC) năm 2002. Sự thay thế Hiệp định này bằng “Thoả thuận ba bên về tiến hành thăm dò địa chấn biển chung trong khu vực xác định tại biển Đông” 2005, do sự đấu tranh kiên quyết của Việt Nam, cũng chỉ mang lại bình yên trong thời gian ngắn. Dàn khoan Kantan-03 và tàu nghiên cứu Nam Hải của Trung Quốc thường xuyên xâm nhập hoạt động trên thềm lục địa đất liền Việt Nam. Trung Quốc tiếp tục gây sức ép buộc các hãng dầu khí nước ngoài đang có Hợp đồng thăm dò và khai thác dầu khí trên thềm lục địa Việt Nam phải ngừng công việc. Thành phố Tam Á bao gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa được thiết lập cũng như vụ rước đuốc Olympic Bắc Kinh qua Hoàng Sa đã làm dấy lên sự biểu lộ bất bình của người dân Việt Nam vào tháng 12/2007. Đài Loan mở rộng chiếm đóng Bãi Bàn Than và lên kế hoạch xây đường băng trên đảo Ba Bình. Đề xuất 6 dự án trong khuôn khổ DOC 2002 không được thực hiện.[9]  ASEAN và Trung Quốc bất đồng về nguyên tắc 2 trong dự thảo Hướng dẫn thực hiện DOC.

Tình hình biển Đông thực sự nóng bỏng từ năm 2009 khi vào tháng ba, tàu Mỹ Impeccable đụng độ với tàu Trung Quốc và vào tháng năm khi Trung Quốc phản đối việc trình hồ sơ chung ranh giới thềm lục địa Việt Nam – Malayssia và hồ sơ của Việt Nam về ranh giới thềm lục địa trước thời hạn ngày 13/5/2009 mà Liên hợp quốc ấn định. Công hàm phản đối của phái đoàn Trung Quốc ngày 7/5/2009 có đính kèm bản đồ “đường lưỡi bò” yêu sách 80% diện tích Biển Đông trên cái gọi là cơ sở lịch sử.  Đây là lần đầu tiên Trung Quốc đưa bản đồ này ra trước cộng đồng quốc tế. Sau đó, Trung Quốc áp dụng một loạt biện pháp để xác lập “đường lưỡi bò” trên thực tế. Năm 2010 là sự đối đầu giữa những tuyên bố về “lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc và “lợi ích quốc gia” của Mỹ ở Biển Đông làm Hội nghị ARF 17 tại Hà Nội thêm nóng bỏng. Đặc biệt, Ngoại trưởng Dương Khiết Trì đã buộc tội Mỹ can thiệp và đe nẹt các nước láng giềng “TQ là nước lớn và các nước khác là nước nhỏ, đó là một sự thực”. Trung Quốc đơn phương mở rộng thêm thời gian cấm đánh bắt cá ở Biển Đông từ 15/5 đến 31/8 hàng năm và tăng cường bắt giữ tàu thuyền của ngư dân Việt Nam, Philippin đang hoạt động hợp pháp trên Biển Đông. Đỉnh điểm của căng thẳng là vào nửa đầu năm 2011. Tháng 3/2011 Trung Quốc cản trở hoạt động của tàu địa chất khảo sát bình thường của Philippines tại khu vực Bãi Cỏ Rong. Tháng 5/2011 tàu hải giám Trung Quốc cắt cáp tàu Bình Minh 02 và Viking 02 trong vùng biển cách đất liền Việt Nam 120 hải ly. Đây là hành động nghiêm trọng bởi theo Công ước Luật Biển 1982, tại điều khoản 57 và 76 thì các quốc gia ven biển được quyền có vùng đặc quyền kinh tế rộng ít nhất 200 hải lý và vùng thềm lục địa ít nhất 200 hải lý và có thể mở rộng ra, (nếu điều kiện địa chất địa mạo cho phép) 350 hải lý tính từ đường cơ sở hoặc 100 hải lý tính từ đường đẳng sâu 2500m, phù hợp với các quy định của Công ước. Các cuộc vi phạm này đã dẫn đến những cuộc biểu tình tự phát biểu lộ tinh thần yêu nước giữ gìn chủ quyền biển đảo của người dân Việt Nam suốt 7 chủ nhật liên tiếp của tháng 6-7/2011. Những lời trấn an xây dựng tàu sân bay chỉ để huấn luyện không làm ai tin tưởng. Sự phô trương sức mạnh “cơ bắp” của Trung Quốc với các nước nhỏ và những đòi hỏi vô lý về đường lưỡi bò đã gây quan ngại sâu sắc cho cộng đồng quốc tế cũng như những bất bình trong dân chúng các nước nhỏ và làm tổn hại chính hình ảnh của Trung Quốc đổi mới trên trường quốc tế. Tình hình căng thẳng trên Biển Đông, xung đột biên giới Thái Lan – Cămpuchia đã trở thành những thách thức cho ASEAN đang trên đường xây dựng một Cộng đồng vững mạnh, đoàn kết và phồn vinh, đủ sức giải quyết những vấn đề nội bộ.

Trong một bối cảnh như vậy, việc cần có một thành quả chính trị làm hạ nhiệt cơn sốt Biển Đông là một đòi hỏi bức bách với các bên. Những điều kiện của 9 năm trước cho ra đời DOC 2002 dường như lại tái hiện ở mức cao hơn trong việc thông qua Bản quy tắc hướng dẫn DOC.[10] Từ Đối thoại Shangri-la cho đến cuộc họp các Bộ trưởng quốc phòng ASEAN ADMM+ trong tháng 5/2011 và các cuộc họp SOM chuẩn bị cho AMM 44 và ARF 18 trong tháng 6/2011, đâu đâu cũng thể hiện yêu cầu sớm có một bản COC như biện pháp xây dựng lòng tin nhằm tránh Biển Đông lại nổi sóng.[11] Sáu vòng đàm phán của Nhóm làm việc ASEAN-Trung Quốc về hướng dẫn thực thi DOC từ 2005 với 20 đề nghị sửa đổi, trao qua đổi lại buộc phải kết thúc. Trong bối cảnh như vậy, Bản quy tắc hướng dẫn cũng chỉ là một bước đi nhỏ tính từ thời điểm thông qua DOC 2002 trên con đường đầy gập ghềnh gian khó để đạt được mục tiêu COC trong năm 2012 nhân dịp kỷ niệm 10 năm DOC 2002. Điều này thể hiện rõ trong nội dung của Bản quy tắc hướng dẫn so với các nguyên tắc được nêu trong DOC 2002.

Nội dung Bản Quy tắc hướng đẫn DOC 2002

DOC gồm 10 điểm[12] đã được bổ sung thêm bằng Bản Quy tắc hướng dẫn 8 điểm[13] nhằm làm rõ thêm những nội dung trong các điểm của DOC. Các điểm này là :

1.      Việc thực hiện DOC cần tiến hành từng bước phù hợp với các điều khoản trong DOC.

2.      Các bên tham gia DOC sẽ tiếp tục thúc đẩy đối thoại và tham vấn theo tinh thần của DOC.

3.      Việc tiến hành các hoạt động hoặc các dự án đã được quy định trong DOC cần được xác định rõ ràng.

4.      Việc tham gia các hoạt động hoặc các dự án cần được thực hiện trên cơ sở tự nguyện.

5.      Các hoạt động ban đầu được cam kết trong phạm vi DOC cần phải là các biện pháp xây dựng lòng tin.

6.      Quyết định thực hiện các biện pháp hoặc các hoạt động cụ thể của DOC cần dựa trên sự đồng thuận giữa các bên liên quan và tiến tới hiện thực hóa COC.

7.      Trong quá trình thực hiện các dự án đã được thỏa thuận, khi cần thiết, sẽ trưng cầu sự phục vụ của các chuyên gia, các nhân vật kiệt xuất nhằm cung cấp nguồn lực cụ thể đối với các dự án liên quan.

8.      Tiến trình thực hiện các hoạt động và các dự án đã được thỏa thuận trong DOC sẽ được thông báo hàng năm cho Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN - Trung Quốc.

Tại cuộc họp lần thứ nhất của Nhóm làm việc ASEAN – Trung Quốc về thực thi DOC tổ chức ngày 4-5/8/2005 tại Manila, Philipppin, dự thảo của ASEAN gồm 7 điểm:

1.      Việc thực hiện DOC cần tiến hành từng bước phù hợp với các điều khoản trong DOC.

2.      ASEAN sẽ tiếp tục thực tiễn hiện có của mình về tham vấn giữa các thành viên trước khi gặp Trung Quốc. 

3.      Việc thực hiện DOC cần được dựa trên các hoạt động hoặc các dự án được xác định rõ ràng.

4.      Việc tham gia các hoạt động hoặc các dự án cần được thực hiện trên cơ sở tự nguyện.

5.      Các hoạt động ban đầu được tiến hành trong phạm vi DOC cần phải là các biện pháp xây dựng lòng tin.

6.      Quyết định thực hiện các biện pháp hoặc các hoạt động cụ thể của DOC cần dựa trên sự đồng thuận giữa các bên liên quan và tiến tới hiện thực hóa COC.

7.      Trong quá trình thực hiện các dự án đã được thỏa thuận theo DOC, khi cần thiết, sẽ trưng cầu sự phục vụ của các chuyên gia, các nhân vật kiệt xuất nhằm cung cấp nguồn lực cụ thể đối với các dự án liên quan.[14]

             Nếu so sánh thì hầu hết các điểm trong Dự thảo ban đầu của ASEAN đều được hai bên chấp nhận, nhất là các điểm 1, 3, 4, 5, 6, 7. Bản Quy tắc hướng dẫn DOC 2011 chỉ thêm điểm số 8 mới và có thay đổi nội dung của điểm số 2.

            Nguyên tắc 2 được đề xuất phù hợp với nguyên tắc đồng thuận trong Hiến chương của ASEAN[15] và tinh thần DOC là văn bản ký‎ kết giữa một bên là ASEAN và một bên là Trung Quốc. Các nước thành viên ASEAN mong muốn có sự trao đổi trước thống nhất lập trường của khối trước khi thảo luận với Trung Quốc. Điều 2.2.b của Hiến chương 2007 quy định ASEAN chia xẻ cam kết và trách nhiệm tập thể đối với hòa bình, ổn định và thịnh vượng của khu vực và điều 2.2.g ASEAN tăng cường tham vấn đối với các vấn đề ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích chung của khối. Hầu hết các nước ASEAN, dù có yêu sách chủ quyền hay không, đều có những quyền lợi trên Biển Đông như quyền tự do hàng hải, quyền quá cảnh, quyền đánh bắt cá, quyền đặt dây cáp và ống dẫn ngầm phù hợp với các quy định của Công ước luật biển 1982. Các Tuyên bố tại các Hội nghị thượng đỉnh ASEAN từ năm 1992 đều có vấn đề Biển Đông. Ngày 7/6/2011, Philippin chính thức đưa ra sáng kiến kêu gọi ASEAN và các nước liên quan đóng góp để chuyển Biển Đông từ một vùng tranh chấp thành một khu vực Hòa bình, Tự do, Hữu nghị và Hợp tác (Zone of Peace, Freedom, Friendship, and Cooperation  - ZoPFF/C)[16] Tuy nhiên đề xuất này của ASEAN lại vấp phải lập trường trái ngược của Trung Quốc. Nếu vào thời điểm ký‎ DOC, Trung Quốc không bình luận gì về hình thức ký kết văn bản thì trong các cuộc thảo luận về hướng dẫn thực hiện DOC, Trung Quốc thể hiện quan điểm DOC là văn bản ký giữa Trung Quốc và từng nước thành viên ASEAN chứ không phải với một bên là khối ASEAN, bên kia là Trung Quốc. Tại ARF 17 tổ chức ở Hà Nội năm 2010, chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông là không quốc tế hóa, không đa phương hóa, giải quyết tranh chấp trên cơ sở song phương. Trong bối cảnh các bên đều cần có một văn bản chính trị để hạ nhiệt ở Biển Đông như Bản quy tắc hướng dẫn thực hiện DOC thì việc tìm ra một công thức thỏa thiệp là bắt buộc. Nguyên tắc 2 của bản Quy tắc hướng dẫn (“Các bên tham gia DOC sẽ tiếp tục thúc đẩy đối thoại và tham vấn theo tinh thần của DOC”) là một công thức như vậy. ASEAN có thể hiểu các bên ở đây là ASEAN và Trung Quốc. Ngược lại Trung Quốc có thể giải thích các bên DOC là Trung Quốc và 10 nước ASEAN và họ có thể đối thoại riêng rẽ với từng nước. Khó khăn lớn nhất trong xác định chủ thể của DOC và cơ chế làm việc đã không có được sự hướng dẫn thỏa đáng. Điều này sẽ không thể không ảnh hưởng tới việc thực thi DOC trong tương lai. ASEAN có thể hài lòng với nội dung thêm ở điểm 8 hướng dẫn báo cáo hàng năm cho Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN - Trung Quốc về tiến trình thực hiện các hoạt động và các dự án đã được thỏa thuận trong DOC. Điểm 8 Hướng dẫn này không làm thay đổi thực chất chấp nhận nguyên tắc 2 trong Bản quy tắc hướng dẫn. Đây là một yếu thế pháp lý trong thực hiện nguyên tắc đồng thuận của ASEAN.[17]

              Điểm thứ hai có thể thấy gọi là Bản quy tắc hướng dẫn DOC nhưng thực chất là hướng dẫn thực hiện các dự án trong khuôn khổ DOC. Đã có tới 4/8 điểm trong bản quy tắc có chữ “dự án” nếu không nói là hầu hết 8 điểm đều liên quan đến các dự án. Trợ lý Ngoại trưởng Trung Quốc Lưu Chí Dân phát biểu tại Bali, Indonexia, sau khi bản Quy tắc hướng dẫn được thông qua cũng nhấn mạnh đến việc thực hiện các dự án: "Trung Quốc và ASEAN sẽ thực thi đầy đủ và toàn diện DOC và sẽ khởi động các hoạt động thực thi thông qua các dự án hợp tác".  Như đã biết, việc thực hiện DOC ít nhất có hai mục tiêu đồng thời: tạo ra sự tin tưởng lẫn nhau giữa các bên tranh chấp và thúc đẩy để đi đến một Bộ quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông mang tính khu vực (điểm 10 của COC). Trong việc tạo ra sự tin tưởng lẫn nhau thì các dự án chỉ là một phần. Cái chính mà DOC phải đạt được là giúp hạn chế các hành động gia tăng căng thẳng ở Biển Đông. Thỏa thuận DOC đã không cụ thể hóa thế nào là các hành vi gây phức tạp hoặc gia tăng tranh chấp và ảnh hưởng đến hòa bình ổn định ở khu vực ngoài quy định không đưa người ra ở tại những đảo, đá, bãi ngầm chưa có người ở...

              Sau những vụ tàu Bình Minh 02, Vi king 02 bị cắt cáp khi khảo sát trên thềm lục địa Việt Nam hay các cáo buộc của Philippins về những hoạt động của Trung Quốc ở Bãi Cỏ rong, vào sâu thềm lục địa của họ, cộng đồng khu vực và thế giới rất mong muốn Bản quy tắc hướng dẫn thực hiện DOC sẽ cụ thể hóa thêm những gì DOC chưa thể hiện. Rất tiếc, các thỏa thuận đạt được phần lớn chỉ tập trung vào các dự án trong các lĩnh vực phi truyền thống như nghiên cứu khoa học, bảo vệ môi trường biển, an toàn hàng hải; tìm kiếm cứu nạn; chống tội phạm có tổ chức. Các bên vẫn tiếp tục được quyền tự giải thích DOC và bản quy tắc hướng dẫn theo cách hiểu của mình. Điều này cắt nghĩa tại sao chỉ vài ngày sau khi thông qua Bản Quy tắc ứng xử, Philippin và Trung Quốc lại tiếp tục to tiếng với nhau khi Nhân dân Nhật báo ngày 2/8/2011 cảnh báo một số quốc gia sẽ phải trả giá đắt cho hành động sai lầm đối với chủ quyền của Trung Quốc sau khi báo Philippine Star đưa tin công binh Philippines sắp hoàn thành tòa nhà thứ hai trên một hòn đảo tại biển Đông.[18] Ngày hôm trước Trung Quốc cũng lên tiếng cảnh báo kế hoạch của Philiippines khoan thăm dò ít nhất hai giếng và tiến hành một loạt các cuộc khảo sát địa chấn vào đầu năm sau trên vùng biển giàu khí thuộc Bãi Cỏ rong.[19]

            Cũng giống như DOC, Bộ quy tắc hướng dẫn lảng tránh vấn đề phạm vi áp dụng, dù chỉ là phạm vi cho các dự án hợp tác. Phạm vi áp dụng của DOC được Việt Nam và ASEAN hiểu bao gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa những khu vực có tranh chấp, còn Trung Quốc lại hiểu chỉ bao gồm Trường Sa. Ngày 7/5/20009, với việc chính thức công bố bản đồ đường lưỡi bò tại Liên hợp quốc, theo Trung Quốc, phạm vi tranh chấp đồng nghĩa với phạm vi áp dụng DOC, ít nhất là trong phạm vi đường lưỡi bò  nhưng không được nói đến Hoàng Sa đã “thuộc” sự chiếm đóng của họ, không có gì phải đàm phán hay tranh cãi. Việc xác định phạm vi cho từng dự án được điều chỉnh bởi các quy tắc 3,4 và 6 với điều kiện các dự án đó phải rõ ràng, phải thông qua đồng thuận và việc tham gia trên cơ sở tự nguyện. Theo luật pháp và thực tiễn quốc tế, các dự án như các biện pháp xây dựng lòng tin có thể được tiến hành trên các khu vực tranh chấp có phạm vi xác định trên cơ sở thỏa thuận của các bên liên quan. Tại các khu vực không có tranh chấp, các dự án hợp tác phải tuân thủ luật pháp của nước chủ nhà. Ở Bali, Indonexia tháng 7/2011, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Dương Khiết Trì tuyên bố duy trì đường đứt khúc 9 đoạn từ năm 1948 thì đồng nghiệp Philipppin của ông Albert del Rosario than thở, đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông nhiều đến mức nếu đáp ứng đòi hỏi của họ, việc xây dựng một bộ quy tắc ứng xử với Trung Quốc trở thành vô ích. Các hoạt động đấu thầu dầu khí của Philippin và Việt Nam trong tháng 7-8/2011 trên thềm lục địa tính từ đất liền mà các nước này cho là của họ phù hợp Công ước luật biển 1982 liên tục bị Bắc Kinh cảnh báo là vi phạm chủ quyền của Trung Quốc. Bộ quy tắc hướng dẫn đã không đề cập đến hướng giải quyết các tranh chấp tương tự như thế nào, dựa trên Công ước luật biển hay dựa trên các bằng chứng lịch sử mà các bên thi nhau đưa ra và không có một biểu hiện nhượng bộ. Rõ ràng việc xác định phạm vi triển khai các dự án trong khuôn khổ DOC sẽ không dễ dàng hơn so với trước khi có Bộ quy tắc hướng dẫn thực hiện và nếu đạt được thỏa thuận thì việc tiến hành dự án cũng chưa hẳn đã thuận lợi khi việc tiến hành này là trên cơ sở tự nguyện, nghĩa là có thể tham gia hay rút ra tùy ý ‎?[20]

            Điểm 7 của Bộ Quy tắc ứng xử là nhằm tăng cường  nguồn lực cụ thể đối với các dự án liên quan. Tuy nhiên nó không cho biết rõ sẽ trưng cầu sự phục vụ của các chuyên gia, các nhân vật kiệt xuất mang quốc tịch Trung Quốc, các nước ASEAN hay một nước thứ ba. Ở đây cũng thể hiện sự nhượng bộ hai lập trường của ASEAN và Trung Quốc về mở rộng hợp tác giữa các bên liên quan trong và ngoài khu vực. Một dự án liên quan đến an toàn hàng hải hay bảo vệ môi trường biển rõ ràng cần có sự ủng hộ của không chỉ các nước trong khu vực mà cả các nước ngoài khu vực khi Biển Đông tập trung nhiều tuyến đường hàng hải quốc tế. Việc quy định không cụ thể có thể sẽ gây ra những thảo luận triền miên ở cấp chuyên viên, gây ảnh hưởng đến tiến trình thực hiện các dự án. Bộ quy tắc hướng dẫn cũng như DOC không giải quyết được dạng tranh chấp thứ ba ở Biển Đông đã bắt đầu bằng những tranh cãi giữa Mỹ và Trung Quốc về quyền tự do hàng hải, khảo sát khoa học qua vụ tàu Imppeccable tháng 3/20009, cũng như các tranh luận về lợi ích cốt lõi của Trung Quốc và lợi ích quốc gia của Mỹ trước và sau ARF 17 tại Hà Nội tháng 7/2010.

            Bộ quy tắc hướng dẫn cũng không có một quy định nào về cơ chế giám sát, thực thi các hoạt động hay các dự án trong khuôn khổ DOC ngoài quy định điểm 8 về nghĩa vụ thông báo hàng năm cho cuộc họp cho Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN - Trung Quốc. Điều này cũng dễ hiểu vì DOC là một văn bản lỏng lẻo, mang tính chính trị nhiều hơn là ràng buộc pháp lý nên Bản Quy tắc hướng dẫn cũng không thể khắc phục được tính chất này. Kết quả có thể dự báo là tính hiệu quả của các dự án không cao do không có một cơ chế hữu hiệu trong giám sát và thúc đẩy tiến trình dự án.

               Bản quy tắc hướng dẫn đề cập duy nhất tới COC, mục tiêu mà khu vực và quốc tế mong đợi, trong điểm 6, khi khẳng định quyết định tiến hành các hoạt động cụ thể này là nhằm tiến tới hiện thực hóa COC. Nếu bản quy tắc này được thông qua năm 2005 hay 2006 thì những quy định này có thể có tác động thúc đẩy nhanh hơn quá trình xây dựng COC và điểm 1: “Việc thực hiện DOC cần tiến hành từng bước” mới phù hợp. Trong bối cảnh được đặt giữa quyết tâm của ASEAN thông qua COC vào năm 2012 tại Phnompenh-Campuchia kỷ niệm 10 năm thông qua DOC và tuyên bố của Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì ở Bali, Indonesia tháng 7/2011 về chân thành thực hiện DOC và chỉ thảo luận xây dựng COC khi các điều kiện đã “chín muồi”,[21]thì thời gian thực hiện bản quy tắc hướng dẫn này quá ngắn ngủi, đồng nghĩa với hiệu quả thấp của nó.  Thời điểm tháng 5-6/2011 được đánh giá như một mốc kịch tính nhất, đe dọa xảy ra xung đột trên Biển Đông tính từ năm 1988. Người ta có thể đặt câu hỏi vậy tình hình hiện nay đã thực sự chín muồi để xây dựng COC chưa hay đợi đến bao giờ. Cảnh báo của Ngoại trưởng Trung Quốc làm tăng thêm mức độ hoài nghi về một bản ASEAN-Trung Quốc COC sẽ được thông qua vào năm sau. Trung Quốc vẫn dành cho mình quyền chủ động phán xét khi nào thì “chín muồi” để thảo luận về COC.

             Bộ quy tắc hướng dẫn trên con đường từ DOC đến COC

            Bộ quy tắc hướng dẫn DOC với những quy định chung chung, không đáp ứng được mong đợi của cộng đồng quốc tế. Thậm chí nó còn được đánh giá là một thỏa thuận hời hợt.[22] Tuy nhiên, trong bối cảnh một nền hòa bình tồi còn hơn là một cuộc chiến tranh tốt, nó đáp ứng được mục tiêu của các bên đề ra.

            Đối với Trung Quốc, việc thông qua bản quy tắc hướng dẫn bảo đảm: 1) không mâu thuẫn với chính sách hai không (không đa phương hóa, không quốc tế hóa) thể hiện trong việc thuyết phục ASEAN điều chỉnh nguyên tắc 2 trong dự thảo; 2) chứng tỏ cho cộng đồng quốc tế biết rằng Trung Quốc hoàn toàn có thể dẫn dắt ASEAN cũng giải quyết “nội bộ” vấn đề tranh chấp Biển Đông không có sự can thiệp từ bên ngoài; 3) khẳng định vai trò của Trung Quốc trong giải quyết tranh chấp theo hướng có lợi, chỉ xây dựng COC khi điều kiện đã chín muồi; 4) xoa dịu mâu thuẫn nội bộ giữa bên chủ chiến dùng vũ lực và bên chủ hòa đàm phán song phương để giải quyết tranh chấp; 5) không bị ràng buộc gì khi thực hiện các dự án DOC và tạo điều kiện để đòi hỏi thực hiện “gác tranh chấp cùng khai thác” trên tinh thần hợp tác DOC.

             Thời điểm mà Trung Quốc lựa chọn thông qua tại Bali cũng được quyết định bởi nhiều yếu tố[23]: 1) tình hình chính trị quốc tế và khu vực đã có nhiều biến đổi, cấp cao Đông Á tháng 11/2011 với sự gia nhập của Mỹ và việc Nga, Ấn Độ quan tâm nhiều hơn đến Đông Nam Á làm Trung Quốc không còn vị trí độc tôn trong quan hệ với các nước ASEAN; 2) có sự thay đổi vai trò Chủ tịch ASEAN từ các nước có đòi hỏi chủ quyền ở Biển Đông như Việt Nam hay có quan tâm sâu sắc tới an ninh Biển Đông như Indonesia sang quốc gia có lợi ích hạn chế hơn trong năm 2012; 3) Năm 2012 đánh dấu 20 năm quan hệ Trung Quốc – ASEAN nhưng hiện nay cả hai bên đều bối rối khi tranh chấp vượt ra tầm kiểm soát, niềm tin đã bị xói mòn bởi không có sự phát triển gì trong 9 năm từ khi thông qua DOC. Hai bên đều cần có một dấu ấn mới, mở đầu một thời kỳ mới; 4) quan hệ ngoại giao Trung Quốc và Mỹ, yếu tố tác động đến khu vực, cần có những biểu hiện ôn hòa, xuống thang hơn so với năm trước. Mỹ đang phải đối phó với những khó khăn kinh tế, nguy cơ vỡ nợ công và Trung Quốc cũng đang cần môi trường ổn định hơn để phát triển tầu sân bay và trấn áp các cuộc biểu tình nội bộ. Các phát biểu của chính giới Mỹ và Trung Quốc trước và sau ARF đều bớt phần căng thẳng, chỉ trích nhau như trước. Thời điểm thông qua bản quy tắc hướng dẫn 2 ngày trước ARF 18 cũng nhằm tránh khả năng có thêm một ARF giống như ARF 17 trong đó các nước tập trung phê phán thái độ của Bắc Kinh với tình hình Biển Đông.

               Đối với ASEAN, việc thông qua bản quy tắc hướng dẫn là một thắng lợi chính trị của ASEAN khi chứng tỏ được ASEAN có khả năng dàn xếp được những tranh cấp trong khu vực, nhất là khi ngoài vấn đề Biển Đông, ASEAN còn phải đối đầu với tranh chấp biên giới Thái Lan – Campuchia ở đền Preah Vihear  cũng như vấn đề Myanma. ASEAN và Trung Quốc đã tháo ngòi nổ vấn đề lớn nhất - chủ quyền đối với các vùng lãnh thổ đang có tranh chấp ở Biển Đông bằng cách đồng ý những hướng dẫn mới để xử lý các tranh chấp[24]. Đối với  ASEAN, việc kéo Trung Quốc vào nói chuyện về DOC đã là một bước tiến dù chưa đi đến ddwwocj giải pháp mong muốn.[25] ASEAN cũng mong muốn có được tiến triển trước lễ kỷ niệm 45 năm của khối vào 2012. Mặc dù nguyên tắc 2 trong dự thảo của ASEAN không đạt được yêu cầu của ASEAN nhưng nó không ảnh hưởng lớn đến nguyên tắc đồng thuận và tham vấn của ASEAN.  Đây cũng là thắng lợi của Indonesia trong vai trò Chủ tịch ASEAN, thể hiện vai trò không chỉ có thể lãnh đạo đi đến những giải pháp cho tranh chấp khu vực mà cả lãnh đạo toàn khối.[26] Đó là tiền đề để thực hiện tốt COC, góp phần mang lại hòa bình và ổn định cho Biển Đông. Bộ quy tắc hướng dẫn là cơ sở cho niềm tin tình hình Biển Đông sẽ dịu đi và một tiến trìnhh  thảo luận COC có thể bắt đầu.

             Đối với các nước ngoài khu vực, việc thông qua Bản quy tắc hướng dẫn cho thấy ít nhiều vai trò của dư luận quốc tế trong việc ngăn cản những bước đi phiêu lưu của Trung Quốc, tạo tiền lệ để áp dụng đấu tranh ở các khu vực khác. Đây cũng là cơ sở đấu tranh tiếp theo trên diễn đàn Đông Á vào cuối năm 2011. Các nước cũng có dịp thể hiện xu thế đòi hỏi phải giải quyết các tranh chấp biển trên cơ sở luật quốc tế và đặc biệt Công ước của Liên hợp quốc về luật biển 1982: Các tranh chấp biển phải được giải quyết trên cơ sở các yêu sách từ đất (land features) chứ không phải từ những đường vẽ tưởng tượng.

              Dư luận quốc tế đánh giá tích cực về việc thông qua Bản Quy tắc hướng dẫn hơn là bình luận về nội dung của nó. Trong khi Trung Quốc “đề cao thắng lợi”, ASEAN thở phào thì các nước khác cũng bớt e ngại hơn về một khả năng xung đột khó kiểm soát có thể xảy ra. Đây cũng là dịp để đánh giá những lời nói và việc làm của Trung Quốc trong thời gian qua. Bản Quy tắc hướng dẫn chỉ là bước đi đầu tiên thực hiện DOC của Trung QUốc và ASEAN với tư cách toàn khối. Đó là một bước đi đúng hướng. Song dư luận có quyền đòi hỏi ASEAN và Trung Quốc phải có những bước đi nhanh hơn, thậm chí là khẩn thiết, tiến đến sớm có một Bộ quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông mang tính pháp lý ràng buộc cao.[27] Việc triển khai các dự án sẽ là những biện pháp lòng tin ban đầu để xây dựng lại quan hệ ASEAN – Trung Quốc đã bị xói mòn phần nào từ 2009. ASEAN và Trung Quốc cần sớm thống nhất về ba vấn đề  lớn nhất trong tiến trình tiến đến COC là làm sao xác định được phạm vi vùng tranh chấp và không tranh chấp, cụ thể các hành động không được phép và cơ chế giám sát, giải quyết tranh chấp. Đó là những nội dung thực chất mà ASEAN và Trung Quốc không thể cứ tránh né, lần lữa.[28] Tương lai của COC phụ thuộc vào sự Công tâm và Chủ động của các bên, vào tính Công khai lập trường của các bên, vào Công luận và Công pháp quốc tế. Một công thức 5C cần thiết để có được một COC chấp nhận được với tất cả các bên.[29]

Việt Long

Bài viết tham dự Hội thảo “Việt nam và các nước ASEAN trước thử thách, Singapore, 20-21/8/2011.

Tác giả xin ngỏ lời cám ơn những ý kiến đóng góp quý báu của Nguyễn Thị Thanh Hà, Nguyễn Đăng Thắng, Giáp Văn Dương để hoàn thiện bài viết.



[1] Remarks by Foreign Minister Yang Jiechi at the ARF Foreign Ministers' Meeting, 2011/07/24 , http://www.fmprc.gov.cn/eng/topics/yjccxdmwzh/t842183.htm  

[2] China Daily 27/7/2011.

[3] Hoàng Phương Loan, Hạ nhiệt Biển Đông và trò chơi hai mặt, Tuần Việt Nam, ngày 27/7/2011.

[4] Governments of the Member States of ASEAN and the Government of the People’s Republic of China, Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea (Phnom Penh, November 4, 2002), http://www.aseansec.org/13163.htm

[5] Khoản 4 của Tuyên bố "khuyến nghị tất cả các bên liên quan áp dụng các nguyên tắc trong Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác tại Đông Nam Á như là cơ sở để hình thành một bộ luật ứng xử quốc tế đối với Biển Nam Trung Hoa”. Văn bản có tại  http://www.aseansec.org/1196.htm

[6] Nguyen Hong Thao, “Vietnam and the Code of Conduct for the South China Sea”, Ocean Development and International Law, 32:105-130, (2000).

[7] Joint Communique of The 29th ASEAN Ministerial Meeting (AMM), Jakarta, 20-21 July 1996, mục 11 "endorsed the idea of concluding a regional code of conduct in the South China Sea which will lay the foundation for lone[sic] term stability in the area and foster understanding among claimant countries."

Nguyen Hong Thao, “Vietnam and the Code of Conduct for the South China Sea”, Ocean Development and International Law, 32:105-130, (2000).

[8] Điểm 6 của DOC: “mọi hoạt động, dự án triển khai phải có sự thống nhất của tất cả các bên liên quan”. Xem nguyên văn tiếng Anh có trong Nguyen Hong Thao, "The 2002 Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea: A Note" Ocean Development & International Law 34 (2003): 279-285.

[9]Nguyen Hong Thao and Ramses,  “A New Legal Arrangement For the South China Sea?, Ocean Development & International Law(American), 2009, Vol. N.40: 4, 333 — 349.

[10] Indra Harsaputra, China ‘agrees’ to immediate peace in S. China Sea, The Jakarta Post, 2 June, 2011.

[11] Dina Indrasafitri, ASEAN defense meeting ends with declaration, The Jakarta Post, 19 May 2011.

[12] Về phân tích nội dung DOC xem Thanh Hà – Đăng Thắng,  “Ngẫm về bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông”, http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-04-15-nghi-ve-bo-quy-tac-ung-xu-o-bien-dong- ; Nguyen Hong Thao, "The 2002 Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea: A Note" Ocean Development & International Law 34 (2003): 279-285; Wu Shicun and Ren Huaifeng, "More than a Declaration: A Commentary on the Background and the Significance of the Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea" Chinese Journal of International Law 3 (2003): 311-19.

[13]Jakarta Post, "South China Sea Guidelines Agree" 21 July 2011;

http://www.mfa.gov.cn/chn/pds/ziliao/zt/dnzt/yjcdm2/t844329.htm

 Hoàng Anh, Quy tắc hướng dẫn thực hiện DOC, http://nghiencuubiendong.vn/tin-quoc-te-tong-hop/1849-1849 .

[14] Nguyen Hong Thao and Ramses,  “A New Legal Arrangement For the South China Sea?, Ocean Development & International Law(American), 2009, Vol. N.40: 4, 333 — 349.

[16] Albert F. Del Rosario, Secretary of Foreign Affairs of the Philippins,  “A Rules, – based regime in the South China Sea”, nghiencuubiendong.org, 7 June 2011.

[17] Brian McCartan  “Shallow agreement in the South China Sea”, Asia Times Online, http://www.atimes.com/atimes/Southeast_Asia/MG30Ae03.html , 30 July 2011.

[18]“Trung Quốc - Philippines: Lại căng thẳng lời qua, tiếng lại”.

http://www.thanhnien.com.vn/Pages/20110804/Trung-Quoc-Philippines-Lai-cang-thang-loi-qua-tieng-lai.aspx 4/8/2011 .

Michael Wines, “China Party Newspaper Warns the Philippines”,  The  New York Times 3, August 2011.

[19] “Drilling Plans raise Stakes in DisputesSeas”, The Wall Street Journal Business, 3 August 2011.

[20] Remarks by Foreign Minister Yang Jiechi at the ARF Foreign Ministers' Meeting, 2011/07/24 , http://www.fmprc.gov.cn/eng/topics/yjccxdmwzh/t842183.htm  “The dotted line was formally announced by the Chinese government in 1948. China's sovereignty, rights and claims in the South China Sea were established and developed in the long course of history. They have been consistently upheld by the Chinese government”.

Đằng sau việc Trung Quốc đồng ý ký vào bản hướng dẫn thực thi DOC với ASEAN , Nghiên cứu Biển Đông, 21/7/2011: Ông Rosario nói: “Về cơ bản, họ tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ Biển Đông. Vì vậy, nếu chúng ta (ASEAN) ký bộ quy tắc ứng xử với Trung Quốc, điều đó chẳng có nghĩa lý gì”.

[21] Remarks by Foreign Minister Yang Jiechi at the ARF Foreign Ministers' Meeting, 2011/07/24, http://www.fmprc.gov.cn/eng/topics/yjccxdmwzh/t842183.htm, “This outcome demonstrates the resolve, confidence and capability of China and ASEAN countries to jointly promote peace and stability in the South China Sea by implementing the DOC. At the meeting, China put forward a series of initiatives to promote practical cooperation under the DOC framework. These initiatives include holding a seminar on navigation freedom in the South China Sea and establishing three technical committees on marine scientific research and environmental protection and on other activities. China also reaffirmed its readiness to undertake the three cooperation projects already agreed upon by all parties. This once again shows China's commitment to and sincerity about the implementation of the DOC. China is open to discussing the formulation of a code of conduct of the parties in the South China Sea (COC) when conditions are ripe. But the pressing task at present is to start practical cooperation in the South China Sea”.

[22] Brian McCartan  “Shallow agreement in the South China Sea”, Asia Times Online, http://www.atimes.com/atimes/Southeast_Asia/MG30Ae03.htm , 30 July 2011.

[23] Kavi Chongkittavorn, “South China Sea: be aware of undercurrent”, The Nation, 1 August 2011.

[25] Endy M. Bayuni, “For ASEAN, talk is a real bargain”, The Jacarta Post, 08/04/2011, http://www.thejakartapost.com/news/2011/08/04/for-asean-talk-a-real-bargain.html 

[26] Mark J. Valencia, ASEAN rises to a challenge, The Japan Times, 1 August 2011.

[27] Ibid.

Walter Lohman, “The U.S. Cannot Rely on ASEAN in the South China Sea”, The Heritage Foundation, 5 August 2011, http://www.heritage.org/Research/Reports/2011/08/ASEAN-South-China-Sea-Dispute-and-US-Policy-on-East-Asia

[28] Tân bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh: “Phải xây dựng cho được bộ quy tắc ứng xử COC”, Sài gòn tiếp thị, 8/8/2011; http://sgtt.vn/Thoi-su/151008/Phai-xay-dung-cho-duoc-bo-quy-tac-ung-xu-COC.html

[29] Brian McCartan  “Shallow agreement in the South China Sea”, Asia Times Online,

http://www.atimes.com/atimes/Southeast_Asia/MG30Ae03.htm

, 30 July 2011

 

 

 

Trả lời phỏng vấn của đài ABC của Úc trong bài "Thỏa thuận chung” về vấn đề Biển Đông, TS. Trần Trường Thủy, GĐ Trung tâm Nghiên cứu Biển Đông, cho biết quan điểm của ông về một số vấn đề nhiều người quan tâm hiện nay như chuyến đi Trung Quốc của Thứ trưởng NG Hồ Xuân Sơn, các thỏa thuận về quản lý Biển Đông như DOC, Bản hướng dẫn thực thi DOC, và mong đợi của Việt Nam tại Hội nghị Bali.

 

 

Phóng viên:  Sau chuyến công du Trung Quốc của Đặc Phái Viên Hồ Xuân Sơn, Việt Nam và Trung Quốc tuyên bố đã đạt được “thỏa thuận chung”. Xin ông cho biết về thỏa thuận đó?

TS. Trần Trường Thủy: Theo tôi hiểu thì chuyến đi của Đặc phái viên Việt Nam sang Trung Quốc với mục đích làm giảm nhẹ căng thẳng trên Biển Đông. Chuyến đi này xảy ra sau chuyến thăm Việt Nam của Phó Trưởng ban Đối Ngoại Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Hai thông điệp chính truyền tải trong chuyến đi của đặc phái viên Việt Nam là nêu quan ngại trước việc Trung Quốc cắt cáp thăm dò của tàu Bình Minh 02 và tàu Viking II trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, đồng thời mong muốn củng cố quan hệ hữu nghị với Trung Quốc. Đây chính là hai vế đi liền nhau trong chính sách của Việt Nam là vừa đấu tranh trên những vấn đề khác biệt nhưng vẫn giữ vững quan hệ ổn định với các bên liên quan, thúc đẩy hợp tác trong những vấn đề có điểm đồng về lợi ích.

          Về “thỏa thuận chung” theo tôi hiểu thì không phải là một thỏa thuận gì mang tính văn bản pháp lý, trong chuyến đi ngắn như thế thì không thể đạt được thỏa thuận gì trong vấn đề phức tạp như Biển Đông. Hai bên chỉ có tuyên bố báo chí chung như đã công khai:  tăng cường quan hệ Việt-Trung;  tích cực thực hiện nhận thức chung của lãnh đạo hai nước trong vấn đề Biển Đông; hướng dẫn dư luận, báo chí; và tích cực đàm phán về các nguyên tắc giải quyết vấn đề trên biển.

          Một số người đặt câu hỏi về “nhận thức chung” của lãnh đạo cấp cao hai nước là gì, có thỏa thuận gì không. Thực ra “nhận thức chung” chỉ mang tính chung chung, được tuyên bố trong nhiều chuyến thăm cấp cao của hai bên. Các ý cơ bản chỉ mang tính nguyên tắc như giải quyết tranh chấp thông qua thương lượng, đàm phán trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước luật biển 1982; gìn giữ tình hình ổn định ở Biển Đông, không áp dụng hành động làm phức tạp hóa hoặc mở rộng thêm tranh chấp; tích cực nghiên cứu và bàn bạc để hợp tác cùng phát triển để đề ra mô hình và khu vực thích hợp, theo hình thức dễ trước khó sau.

          Các thành tố của “nhận thức chung” này thực ra là của Tuyên bố ứng xử các bên tại Biển Đông ký giữa ASEAN và Trung Quốc năm 2002, chỉ khác là mang áp dụng cụ thể thêm cho quan hệ Việt-Trung.  

 

Phóng viên: Tin cho biết Trung Quốc và ASEAN vừa đạt thống nhất về văn bản hướng dẫn thực hiện DOC. Tuy nhiên, một số quốc gia thành viên ASEAN than phiền những biện pháp hướng dẫn này có tính chất mơ hồ và không đầy đủ. Quan điểm của ông về vấn đề này?

 TS. Trần Trường Thủy: Văn bản vừa đạt được giữa Trung Quốc và ASEAN là văn bản hướng dẫn cách thức thực hiện DOC, có thể so sánh là như thông tư hướng dẫn thực hiện sau khi đã ban hành luật. Nội dung văn bản chỉ là các bước hướng dẫn cách thức thực hiện cụ thể các điều khoản của DOC. Lâu đến nay hai bên không nhất trí thông qua văn bản này là do bất đồng về cách thức tiến hành: ASEAN muốn bàn bạc, thống nhất với nhau trước, sau đó mới bàn với Trung Quốc; trong khi Trung Quốc không đồng ý bàn với ASEAN như là một khối. Bất đồng nữa liên quan đến việc ASEAN muốn thực thi đầy đủ các điều khoản của DOC, trong khi Trung Quốc chỉ chú trọng vào các dự án hợp tác.

           Việc hai bên đạt được thống nhất về Văn bản hướng dẫn này chỉ là bước nhỏ trong quản lý tranh chấp Biển Đông. Văn bản chỉ thể hiện là Trung Quốc và ASEAN có thể ngồi đàm phán và đặt được thỏa thuận với nhau. Cả DOC và văn bản hướng dẫn này không đủ hiệu lực để ngăn ngừa các hành vi làm phức tạp, căng thẳng tình hình của các bên.

 

Phóng viên:  Nếu các thỏa thuận sắp đạt được đều có tính chất không ràng buộc (như đã xảy ra với DOC từ năm 2002 tới nay) thì liệu việc ra đời thêm một văn kiện nữa có sẽ giúp giải quyết  tình hình căng thẳng ở Biển Đông hay không?  

TS. Trần Trường Thủy:  Hiện trong khu vực có hai cơ chế trực tiếp liên quan đến quản lý tình hình Biển Đông là Công ước luật biển 1982 và Tuyên bố DOC 2002.

Công ước luật biển 1982 là văn bản quan trọng nhất, phổ quát nhất quy định quyền và nghĩa vụ của các quốc gia liên quan đến biển, trong đó bao gồm các quy định về giải quyết tranh chấp liên quan đến biển. Tuy nhiên, Công ước không giải quyết vấn đề tranh chấp chủ quyền đối với các đảo, đá; mà ngược lại là nhân tố làm tranh chấp mở rộng hơn, do liên quan đến tranh chấp nguồn tài nguyên dầu khí, hải sản ở biển theo vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Ngoài ra Công ước cũng có nhiều điều khoản không rõ ràng nên các bên việc dẫn khác nhau nhằm tối đa hóa lợi ích của mình và biện minh cho hành động. Ví dụ như các điều khoản liên quan đến đảo, đá nào có vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa ; hay quy định về họat động của tàu bè quân sự nước ngoài trong vùng đặc quyền kinh tế.

DOC được ký kết nhằm mục đích quản lý tranh chấp thông qua khuyến khích các bên kiềm chế không làm phức tạp tình hình, tăng cường xây dựng lòng tin và thúc đẩy hợp tác. Tuy nhiên, DOC là văn bản chính trị không có giá trị pháp lý nên không có giá trị ràng buộc và không có chế tài để xử lý vi phạm. Các điều khoản cũng chưa đầy đủ để kiềm chế hành động của các bên và một số điều khoản chưa rõ ràng để quy chiếu.

          Thực tiễn cho thấy hai công cụ cơ bản này không đủ để quản lý hiệu quả các tranh chấp và không đủ hiệu lực để duy trì ổn định ở Biển Đông. Do đó rất cần thiết một văn bản mới có giá trị pháp lý quy định đầy đủ các điều khoản điều chỉnh hành vi của các bên liên quan thì mới có thể giúp quản lý hiệu quả tranh chấp Biển Đông.

 

Phóng viên: Theo ông, Việt Nam trông đợi gì ở cuộc họp Bali. Xin cho biết một số trông đợi cụ thể?

TS. Trần Trường Thủy:  Cá nhân tôi nghĩ là Việt Nam có thể trông đợi từ Bali ở mấy nội dung. Thứ nhất là duy trì việc bàn thảo về vấn đề Biển Đông tại các cuộc họp liên quan nội bộ ASEAN, ASEAN+ Trung Quốc và đặc biệt là tại ARF, càng nhiều tiếng nói quan ngại, nhiều kêu gọi tuân thủ luật pháp quốc tế, thực thi DOC càng có tác dụng trong việc duy trì hòa bình ổn định ở Biển Đông. Có thể Việt Nam cũng trông chờ vào phát biểu của Ngoại trưởng Mỹ về Biển Đông. Thứ hai là củng cố đoàn kết ASEAN, tăng cường đồng thuận trong vấn đề Biển Đông, có các mốc thời gian cụ thể cho các bước đi mới như COC. Trong tuyên bố chung các ngoại trưởng tôi thấy các ngoại trưởng đã đặt các mốc lộ trình cụ thể cho việc bàn thảo COC. Thứ ba là tranh thủ đạt các tiến triển mới trong các trao đổi song phương, với Trung Quốc. Thứ tư là đạt được các bước tiến cụ thể trong đàm phán: như Bản hướng dẫn thực thi DOC là một bước tiến mới./.

Việt Hùng (theo ABC)

 

 
(Trần Trường  Thủy) Bài viết phân tích quá trình hình thành Tuyên bố Ứng xử các bên tại Biển Đông (DOC) giữa ASEAN và Trung Quốc, các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định của các bên trong tham gia đàm phán và phân tích về nội dung kết quả đạt được.

******

Ngày 4 tháng 11 năm 2002, ASEAN và Trung Quốc ký Tuyên bố về ứng xử các bên tại Biển Đông (DOC). Tuyên bố này chưa đạt được mục tiêu mà ASEAN mong đợi là một bộ quy tắc ứng xử mang tính ràng buộc, và việc thực thi DOC đến nay vẫn chưa được triển khai về thực chất, nhưng đối với các nước ASEAN, đây được xem là một bước ngoặt trong vấn đề Biển Đông. Trước đây Trung Quốc chỉ đồng ý đàm phán song phương và luôn né tránh đàm phán đa phương. DOC thể hiện sự điều chỉnh trong cách tiếp cận của Trung Quốc đối với tranh chấp Biển Đông và là thành công của ASEAN trong việc lôi kéo Trung Quốc vào đàm phán vấn đề này. Bài viết này sẽ tập trung phân tích quá trình hình thành DOC giữa ASEAN và Trung Quốc, các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định của các bên trong tham gia đàm phán và phân tích về nội dung kết quả đạt được.

 Quá trình hình thành DOC

Trước khi có DOC, trong khu vực tồn tại một số văn bản chính mang tính pháp lý liên quan đến việc điều chỉnh hành vi của các bên trên Biển Đông, bao gồm hiệp ước Thân Thiện và Hợp Tác của ASEAN (TAC) năm 1976 và Hiệp ước khu vực Đông Nam Á phi hạt nhân năm 1995. Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á có những nguyên tắc cơ bản điều chỉnh cách ứng xử của các bên trong Biển Đông, cụ thể là: giải quyết các bất đồng bằng các biện pháp hòa bình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực và thúc đẩy hợp tác giữa các bên có liên quan.[1]

Lập trường chung đầu tiên của các nước ASEAN về vấn đề Biển Đông được thể hiện tại Tuyên bố ASEAN về Biển Đông tại Manila năm 1992. Tuyên bố thể hiện sự lo ngại của ASEAN liên quan đến căng thẳng Việt Nam –Trung Quốc qua sự kiện Trung Quốc cấp phép cho công ty Creston của Mỹ thăm dò dầu khí tại khu vực Tư Chính thuộc thềm lục địa của Việt nam và sau khi Trung Quốc thông qua luật về lãnh hải ngày 25 tháng 2 năm 1992 tuyên bố chủ quyền tuyệt đối đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.  Tuyên bố kêu gọi các bên liên quan giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, kiềm chế không làm căng thẳng tình hình, kêu gọi hợp tác và xây dựng bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông trên cơ sở các nguyên tắc của TAC. Tuyên bố Manila năm 1992 cũng kêu gọi sự tham gia của các bên liên quan khác.[2] Việt nam, khi đó chưa phải là thành viên của ASEAN, ủng hộ Tuyên bố Manila. Trung Quốc nhắc lại lập trường về thảo luận song phương, không chấp nhận thảo luận đa phương vấn đề Biển Đông và cho rằng các vấn đề tranh chấp đảo Hoàng Sa và Trường Sa không liên quan đến ASEAN.

 Dưới góc độ song phương, Trung Quốc và Philippines cũng đã thỏa thuận về Bộ quy tắc ứng xử gồm tám điểm trong Tuyên bố chung giữa hai nước về tham khảo về Biển Đông và các khu vực hợp tác khác vào tháng 8 năm 1995. Philippines và Việt Nam cũng thỏa thuận về Bộ ứng xử 9 điểm trong Tuyên bố chung của tham khảo song phương hàng năm lần thứ 4 vào tháng 10 năm 1995.[3]  

Sự kiện Trung Quốc chiếm dải ngầm Vành Khăn thuộc quần đảo Trường Sa nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippin vào năm 1995 đánh dấu sự điều chỉnh trong chính sách của Trung Quốc ở Biển Đông. Trước đó, Trung Quốc chỉ dùng vũ lực đối với Việt Nam vào các năm 1974 và 1988. Lúc bấy giờ Việt Nam chưa phải là thành viên của ASEAN. Sự kiện Vành Khăn thúc đẩy ASEAN tìm kiếm các sáng kiến nhằm giúp ngăn ngừa các tranh chấp tại Biển Đông không leo thang trở thành các vụ xung đột.

Ý tưởng xây dựng một Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) được thông qua tại Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN lần thứ 29 (Jakarta, 20-21/7/1996) với mục đích tạo nền tảng cho sự ổn định lâu dài trong khu vực và giúp cho việc tăng cường hiểu biết giữa các nước có tranh chấp.[4] Tuyên bố chung của hội nghị Bộ Trưởng ASEAN bày tỏ định quan ngại trước những diễn biến trên Biển Đông, nhấn mạnh việc các bên liên quan cần áp dụng các nguyên tắc của Hiệp ước thân thiện và hợp tác tại Đông Nam Á (TAC) làm cơ sở để xây dựng bộ quy tắc ứng xử quốc tế tại Biển Đông vì mục tiêu xây dựng môi trường an ninh và ổn định trong khu vực. Tuyên bố chỉ rõ “những diễn biến gần đây khẳng định sự cần thiết của một COC trên biển Đông, COC này sẽ là nền tảng cho sự ổn định trong khu vực và thúc đẩy sự hiểu biết giữa các quốc gia tranh chấp”.[5]

Tiếp đó, tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 6 (Hà Nội, 15-16/12/1998), các nhà lãnh đạo ASEAN đã nhất trí xây dựng một Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông, và cuộc họp SOM ASEAN tại Singapore tháng 3/1999 đã giao cho Việt Nam và Philippin đồng dự thảo văn kiện này[6]. Việt nam và Philippin không thống nhất được dự thảo COC chung của ASEAN, do yêu cầu của Việt nam về phạm vi địa lý áp dụng của COC bao gồm cả quần đảo Hoàng sa không được đáp ứng.

Philippin và Việt Nam trình bày các bản thảo riêng của mình đầu tiên tại cuộc gặp ASEAN SOM vào tháng 5 năm 1999. Dự thảo của Việt Nam bao gồm cả phạm vi áp dụng là Hoàng Sa. Malaysia phản đối bản thảo của Philippin vì cho rằng nó mang tính chất một hiệp định có tính cam kết pháp lý. Indonexia cũng đề nghị COC là một văn bản mang tính chính trị.

Bản dự thảo chung của ASEAN được trình bày tại hội nghị bộ trưởng ngoại giao ASEAN và cuộc họp của ARF vào tháng 7 năm 1999. Tuy nhiên, các ngoại trưởng ASEAN đã không thông qua bản dự thảo này. Malayxia yêu cầu  bản dự thảo này cần được đưa ra thảo luận tại cấp quan chức cấp cao. Ngoại trưởng Malaysia Syed Hamid Albar đã phê phán bản thảo của Philipin, cho rằng nó không phản ánh được tinh thần được nêu ra trước đó.[7]

Vào tháng 9 năm 1999, Philipin trình bản dự thảo thứ hai của mình lên ASEAN. Lần này, ASEAN không đạt được sự đồng thuận liên quan đến vị trí địa lý mà COC có tác dụng điều chỉnh. Philippin đề xuất khu vực áp dụng là Biển Đông nhưng Malayxia phản đối. Malayxia cho rằng chủ quyền của Malayxia trên một số vùng của Biển Đông không nằm trong diện tranh chấp, ngoài ra Biển Đông còn chồng lấn với lãnh hải của nước này, vùng gần Sabah và Sarawak. Với quy định COC chỉ áp dụng cho Trường Sa, Malaysia sẽ củng cố được vững chắc hơn vị trí chiếm đóng của mình trên một số đảo nằm trên khu vực thềm lục địa của mình, trong khi có thể tránh không bị lôi kéo vào các vấn đề mà Malaysia không có tranh chấp trực tiếp với Trung Quốc. Việt Nam ủng hộ việc sử dụng cụm từ “những vùng tranh chấp ở Biển Đông”, vì điều này cho phép COC có hiệu lực đối với cả quần đảo Hoàng Sa.[8]

Cuối cùng, ASEAN cũng đạt được sự nhất trí đưa ra dự thảo chung để đàm phán với Trung Quốc dựa trên bản thảo lần thứ 3 mà Philipin đề xuất trước thềm hội nghị không chính thức giữa các nhà lãnh đạo ASEAN. Những nội dung cơ bản của COC mà ASEAN đã đạt được nhất trí là: COC là một văn kiện chính trị, không có giá trị pháp lý ràng buộc cao; COC đưa ra các biện pháp xây dựng lòng tin, không ảnh hưởng đến lập trường về chủ quyền và quyền chủ quyền của các bên; COC chỉ nêu các nguyên tắc chung để xử lý các tranh chấp tại Biển Đông, cũng như về bảo đảm hòa bình, ổn định khu vực, như cam kết giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, tự kiềm chế khi tiến hành các hoạt động, và một số các hoạt động khác trước khi tiến hành phải được tất cả các bên đồng ý.[9]

Trước đó, nhận thấy sức ép từ phía ASEAN ngày càng lớn, Trung Quốc đưa ra COC riêng của mình tại cuộc họp giữa hai thứ trưởng ngoại giao Philipin Lauro Baja và Vương Nghị tại Bắc Kinh.[10]

Bản thảo COC của Trung Quốc khác biệt ba điểm lớn so với bản thảo COC của ASEAN. Thứ nhất, trong khi bản thảo phía ASEAN có hiệu lực đối với Hoàng Sa, phía Trung Quốc cho rằng tranh chấp trên quần đảo Hoàng Sa là vần đề song phương giữa Trung Quốc và Việt Nam. Thứ hai, bản thảo của Trung Quốc không có điều khoản về cấm chiếm thêm và xây dựng các công trình trên những đảo, đá  chưa bị chiếm đóng như trong dự thảo ASEAN. Thứ ba, Trung Quốc đề nghị các bên tránh tiến hành các hoạt động do thám quân sự gần khu vực và hạn chế việc tuần tra. Ý đồ của Trung Quốc ở đây nhằm vào các hoạt động thu thập tin tức tình báo của Mỹ và các cuộc diễn tập quân sự giữa Mỹ và các đồng minh trên Biển Đông.

Trung Quốc từ chối việc thông qua bản thảo của ASEAN tại hội nghị quan chức cấp cao diễn ra ngày 25 tháng 11 năm 1999. Ngoài sự khác biệt rất lớn giữa hai bản thảo ở những điều khoản quan trọng. Lý do chính là Trung Quốc không chấp nhận một văn kiện do một mình ASEAN soạn thảo và không có sự tham gia của Trung Quốc.[11]

            Cuối năm 1999 đánh dấu chuyển biến quan trọng trong việc đạt đến COC giữa Trung Quốc và ASEAN. Chuyển biến đó được ghi nhận thông qua việc Trung Quốc và ASEAN chuyển từ mỗi bên soạn thảo những COC riêng biệt sang hai bên tiến hành đàm phán tiến tới một COC chung. Khởi động cho tiến trình hai bên cùng tiến tới COC chung là cuộc hội đàm không chính thức giữa ASEAN và Trung Quốc diễn ra tại Hua Hin, Thái Lan vào tháng 3 năm 2000. Trong cuộc hội đàm quan chức cấp cao ASEAN-Trung Quốc lần thứ 6, ngày 25-26 tháng 4 năm 2000 tại Kuching (Malayxia), các bên đã đạt được thoả thuận về việc thành lập nhóm nghiên cứu liên hợp nhằm soạn thảo COC . Phiên họp đầu tiên của nhóm nghiên cứu này vào tháng 5 năm 2000 (tại Kuala Lumpur) cho thấy hai bất đồng chính: khu vực địa lý mà COC có hiệu lực và điều khoản về không chiếm đóng thêm. Philipin đe doạ sẽ chấm dứt tham gia nếu như Bắc Kinh không xem xét nguyên tắc “không chiếm đóng thêm các đảo” một cách nghiêm túc.[12]

Tuy nhiên, sau cuộc họp chuyên viên lần 3 về xây dựng COC tại Hà Nội tháng 10/2000, trong nội bộ ASEAN, đặc biệt là những nước có tranh chấp trực tiếp, vẫn còn tồn tại 4 vấn đề lớn là: phạm vi áp dụng của COC; vấn đề không chiếm đóng mới; tập trận chung và đối xử nhân đạo với ngư dân trên biển trong vùng tranh chấp. Trong đó tranh cãi nhất vẫn là vấn đề phạm vi áp dụng cảu COC. Việt Nam muốn phạm vi áp dụng là Biển Đông với hàm ý các quy định của COC được áp dụng cho cả quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nếu đề nghị này được chấp nhận sẽ thuận lợi cho Việt Nam vì Việt Nam đã tranh thủ được sự ủng hộ của ASEAN trong tranh chấp về chủ quyền đối với Hoàng Sa. Trong khi các nước ASEAN khác không phản đối, riêng Malaysia chỉ đồng ý áp dụng COC đối với khu vực Trường Sa. [13]

Vấn đề không chiếm đóng mới, tập trận chung vẫn là những vấn đề nhạy cảm, khó đạt được sự đồng thuận vì liên quan đến ý kiến của lực lượng quân sự trong mỗi nước. Vì vậy, ASEAN đã không đạt được nhất trí về các vấn đề trên.[14]

Nhằm tháo gỡ bế tắc, tại hội nghị ngoại trưởng lần thứ 35 tại Brunei vào tháng 7 năm 2002, Ngoại trưởng Malaysia Syed Hamid Albar đưa ra đề xuất là thay vì xây dựng COC, trước mắt có thể đưa ra một Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC).[15]  Đề xuất này nhận được sự tán thành từ các nước khác. Kết quả là ngày 4/11/2002 trong khuôn khổ của cuộc họp cấp cao ASEAN 8 tại Phnompenh (Căm-pu-chia) ASEAN và Trung Quốc đã ký Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC).

Nội dung cơ bản của DOC

Mục đích đầu tiên và quan trọng nhất của DOC được nêu ngay trong phần mở đầu của Tuyên bố là nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tìm kiếm giải pháp hòa bình và lâu dài cho tranh chấp ở Biển Đông, củng cố và phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác hiện có giữa các bên ký kết[16].

DOC gồm 3 nhóm nội dung chính: quy định về nguyên tắc chung điều chỉnh quan hệ giữa các nước và giải quyết tranh chấp; xây dựng lòng tin; và hoạt động hợp tác. 

Điểm 1 của DOC khẳng định lại cam kết của các bên trong việc áp dụng các nguyên tắc của luật pháp quốc tế để điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia được nêu trong Hiến chương Liên hợp quốc, Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á năm 1976, 5 Nguyên tắc Chung sống Hòa bình, cũng như những nguyên tắc được thừa nhận rộng rãi khác của luật pháp quốc tế.

Tại Điểm 2 của DOC, các bên cam kết sẽ đưa ra các biện pháp cần thiết để củng cố và xây dựng lòng tin trên cơ sở bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau. Có lẽ, trong mọi tranh chấp, để có thể giải quyết bằng biện pháp hòa bình thì vấn đề đầu tiên mà các bên cần phải có là sự tin tưởng nhất định giữa các bên có liên quan. Các biện pháp xây dựng lòng tin có tác dụng giảm các nguy cơ xung đột trên biển, tránh  hiểu lầm về các hoạt động trên biển của các nước khác.

Điểm 4 của DOC nêu đậm nghĩa vụ các bên giải quyết tranh chấp về lãnh thổ bằng biện pháp hòa bình, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, thông qua thương lượng và đàm phán giữa các quốc gia có chủ quyền trực tiếp trên cơ sở các nguyên tắc được thừa nhận rộng rãi của luật pháp quốc tế, bao gồm Công ước Luật biển 1982. Đây là điểm quan trọng nhất của DOC đối với ASEAN. ASEAN, đặc biệt là các nước có tranh chấp trực tiếp, lo ngại rằng Trung Quốc có thể sẽ tiếp tục sử dụng vũ lực trong tranh chấp ở Biển Đông như đã từng làm trong quá khứ. Do đó, việc Trung Quốc chấp nhận một cách chính thức từ bỏ sử dụng vũ lực trong tranh chấp Biển Đông đã phần nào đáp ứng yêu cầu của ASEAN. Đối với Trung Quốc, quy định tại điểm 4 cũng ngăn ngừa khả năng ASEAN đưa vấn đề tranh chấp ở Biển Đông ra cơ quan tài phán quốc tế hay lôi kéo sự dính líu của các nước bên ngoài khu vực với vai trò hòa giải hay trung gian.

Các biện pháp cụ thể để thúc đẩy và xây dựng lòng tin được cụ thể hóa tại điểm 5 trong DOC. Theo đó, nghĩa vụ chung của các quốc gia phải thực hiện là tự kiềm chế, không có các hành động gây phức tạp và gia tăng tranh chấp có thể ảnh hưởng đến hòa bình và ổn định. Quy định rõ việc chiếm giữ đảo, đá, bãi cạn, bãi ngầm và các cấu trúc chưa có người ở là loại hành vi các bên cần kiếm chế.

Bốn biện pháp cụ thể xây dựng lòng tin giữa các bên, bao gồm: a) Tiến hành đối thoại và trao đổi quan điểm, khi thích hợp, giữa các quan chức quốc phòng và quân sự của các bên; b) Bảo đảm đối xử công bằng và nhân đạo đối với những người gặp nguy hiểm hoặc tai họa; c) Thông báo, trên cơ sở tự nguyện, cho các bên khác về các hoạt động tập trận chung hoặc phối hợp; d) Trao đổi các thông tin có liên quan trên cơ sở tự nguyện.

Điểm 7 của DOC nhấn mạnh các bên liên quan tiếp tục thương lượng và đối thoại về các vấn đề liên quan, bao gồm việc tuân thủ DOC nhằm mục đích thúc đẩy mối quan hệ láng giềng tốt và sự minh bạch, thiết lập sự hòa hợp, hiểu biết lẫn nhau và hợp tác. Quy định này cho phép các bên tiếp tục trao đổi các vấn đề Biển Đông ở các kênh khác nhau, song phương hoặc đa phương. Đồng thời đây cũng là một khung pháp lý để hình thành các cơ chế đối thoại giữa ASEAN và Trung Quốc riêng về vấn đề thực hiện, tuân thủ DOC.     

Về hoạt động hợp tác, DOC đã cụ thể hóa yêu cầu hợp tác trong 5 lĩnh vực, bao gồm: a) Bảo vệ môi trường biển; b)Nghiên cứu khoa học biển; c) An toàn và an ninh hàng hải; d)Tìm kiếm cứu nạn trên biển; e) Chống tội phạm xuyên quốc gia; bao gồm và không giới hạn ở hoạt động buôn bán ma túy, cướp biển và cướp tàu có vũ trang và buôn lậu vũ khí.

Các lĩnh vực hợp tác này được coi là ít nhạy cảm và là các biện pháp hỗ trợ cho việc xây dựng lòng tin giữa các bên. Các lĩnh vực hợp tác này được quy định trong Công ước Luật biển 1982 và trên thực tế đã được triển khai song phương hoặc đa phương giữa các nước trong khu vực.

 DOC cũng quy định nguyên tắc chung cho việc hợp tác là “Hình thức, phạm vi và vị trí của các hoạt động hợp tác song phương và đa phương cần được sự nhất trí của các bên liên quan trước khi được thực hiện” (điểm 6). Quy định này về bản chất là nguyên tắc đồng thuận trong giải quyết mọi vấn đề của ASEAN. Tuy nhiên, điều này khiến cho tất cả các hoạt động hợp tác đều cần có sự đồng thuận của tất cả các bên thành viên DOC, do đó làm chậm trễ quá trình ra quyết định.

Điểm 8, 9 và 10 của DOC khẳng định lại cam kết tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của DOC và cho rằng DOC chỉ là một văn kiện tạm thời để các bên hướng tới một mục tiêu cao hơn là COC, một văn kiện pháp lý mang tính ràng buộc nhiều hơn, có thể đưa ra những khuôn khổ về quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc biến Biển Đông thành một khu vực hòa bình, ổn định và phát triển. Cam kết này cũng gián tiếp thừa nhận rằng những quy định trong DOC này là chưa đủ để điều chỉnh mối quan hệ giữa các bên trong tranh chấp.

Như vậy, DOC không phải là một văn kiện để giải quyết tranh chấp, mà chỉ tạo điều kiện, cơ hội cho các bên tìm kiếm một giải pháp cho tranh chấp. Trước mắt là tạo ra được một môi trường hợp tác, thân thiện thông qua các biện pháp xây dựng lòng tin và các hoạt động hợp tác, làm tiền đề cho một giải pháp lâu dài hơn.

Mặc dù DOC là văn kiện thể hiện tinh thần hợp tác giữa ASEAN và Trung Quốc, nhưng DOC đã gặp phải khá nhiều chỉ trích. Một tuyên bố chính trị giữa các quốc gia về bản chất là biểu hiện ý chí chính trị của giới lãnh đạo các quốc gia đó. Trong bối cảnh quan hệ chính trị giữa các quốc gia đó được triển khai thuận lợi, ý chí chính trị đó sẽ được tôn trọng và thực hiện. Nhưng trong bối cảnh quan hệ chính trị có trục trặc, hoặc một hay một số nước tham gia DOC có những hoạt động trên thực địa làm ảnh hưởng đến quyền lợi/yêu sách chủ quyền chính đáng của nước khác, ý chí chính trị thể hiện trong DOC rất dễ bị phá vỡ, vì không có cơ chế ràng buộc rõ ràng. Đó là thực tế chung của các tuyên bố chính trị và lại càng đúng trong trường hợp DOC vì tính chất phức tạp và nhạy cảm của vấn đề tranh chấp ở Biển Đông. 

Quy định lỏng lẻo của DOC còn tạo điều kiện cho các nước tiếp tục áp dụng các quy định của DOC để lên án các hành động đơn phương của bên kia, đồng thời viện dẫn quy định của DOC để biện minh cho hành động của mình.

Theo Mark Valencia, DOC có thể bị mất tác dụng và chỉ là một nỗ lực nửa vời để làm giảm bầu khí nóng về chủ quyền lãnh thổ tại Biển Đông. DOC chỉ là việc “tự lừa dối làm thỏa mãn khát vọng thành công về mặt chính trị của ASEAN, mà không đưa đến một sự chuyển biến sâu sắc nào về tình hình tranh chấp ở tại Biển Đông”. Học giả này còn cho rằng không có thỏa thuận mềm mỏng nào có thể ngăn được các nước yêu sách chủ quyền và gia tăng đồn trú chiến lược tại khu vực tranh chấp kéo dài này.[17]

Các nhân tố ảnh hưởng

Việc Trung Quốc chấp nhận là một bên ký kết DOC thể hiện một bước điều chỉnh trong cách tiếp cận về tranh chấp ở Biển Đông của Trung Quốc. Trước đây, Trung Quốc chủ trương chỉ giải quyết song phương tranh chấp tại Biển Đông, vì muốn phát huy lợi thế nước lớn của mình trong quan hệ song phương bất đối xứng và lo ngại khả năng hình thành một mặt trận thống nhất trong ASEAN chống Trung Quốc. Sau sự kiện Vành Khăn năm 1995, trước phản ứng của ASEAN, Trung Quốc đồng ý thảo luận tập thể với ASEAN về vấn đề Biển Đông. Tại cuộc họp ARF tháng 7/1995 Bộ Trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc Tiền Kỳ Tham tuyên bố Bắc Kinh sẵn sàng đàm phán giải quyết vấn đề tranh chấp ở Trường Sa thông qua các biện pháp hòa bình phù hợp với các nguyên tắc được thừa nhận trong luật pháp quốc tế, bao gồm cả Công ước luật biển 1982.  Tuy vậy, đây chỉ có thể coi là sự thay đổi về chiến thuật nhằm bảo toàn vị thế của Trung Quốc trên thực địa sau một chiến dịch chiếm đóng mới thành công, hay còn gọi là chiến thuật “tiến hai bước, lùi một bước”.

Thông qua DOC Trung Quốc muốn đạt được ý đồ về chính trị, kinh tế thương mại, xóa bỏ lo ngại của ASEAN trong quan hệ với Trung Quốc. Khu vực Đông Nam Á là nơi mà chính sách ngoại giao thân thiện của Trung Quốc được thể hiện một cách rõ rệt nhất. Để đối trọng với thuyết về “mối đe doạ Trung Quốc”, Trung Quốc đã đưa ra học thuyết về sự “Trỗi dậy hoà bình” và “Phát triển hòa bình”, coi đó là phương châm phát triển quốc gia nhằm giải toả lo ngại của các nước láng giềng. Với việc ký kết DOC, Trung Quốc đã phần nào tạo được lòng tin với các nước ASEAN để từ đó làm cơ sở cho Trung Quốc phát triển các mối quan hệ trong các lĩnh vực kinh tế, thương mại. Khi quan hệ giữa Trung Quốc và ASEAN trở lên nồng ấm, Trung Quốc dễ dàng thâm nhập thị trường đang được đánh giá là năng động của khối ASEAN. Để phục vụ cho phát triển kinh tế hiện tại, Trung Quốc cần mở rộng thị trường tiêu thụ và qua đó, dễ dàng tạo ảnh hưởng đến các nước ASEAN hơn.

Ngoài ra, đây còn là chuyển biến trong cách tiếp cận giải quyết vấn đề tranh chấp Biển Đông từ song phương chuyển sang “song phương dưới ô đa phương của khu vực”.[18] Mặc dù Trung Quốc rất kiên quyết trong việc khẳng định chủ quyền của mình trên những vùng lãnh thổ tranh chấp, nhưng dường như Trung Quốc sẵn sàng tham gia vào các tổ chức đa phương, tuân thủ các giá trị và luật chơi của chúng. Việc Trung Quốc tham gia vào DOC không nằm ngoài học thuyết “an ninh mới”. Tháng 8 năm 2002, trước khi ký kết DOC, Trung Quốc đã đưa ra học thuyết này tại hội nghị với ASEAN. “Quan niệm về an ninh mới vượt ra khỏi an ninh đơn phương, tìm kiếm an ninh chung thông qua việc hợp tác các bên cùng có lợi. Quan niệm này được đặt trên nền tảng vì lợi ích chung và phục vụ cho sự tiến bộ xã hội…Theo quan điểm của Trung Quốc, điểm cốt lõi của khái niệm an minh mới này bao gồm sự tin tưởng lẫn nhau, lợi ích chung, bình đẳng và hợp tác”.[19]

Ngoài ra, Trung Quốc tận dụng quá trình đàm phán COC/DOC để phân hóa ASEAN. Chẳng hạn như trong quá trình soạn thảo DOC, khi trong nội bộ ASEAN còn đang lúng túng về vấn đề phạm vi áp dụng, thì Trung Quốc luôn thúc giục ASEAN sớm giải quyết vấn đề và nói sẵn sàng chấp nhận phạm vi áp dụng là “Biển Đông” hoặc “Trường Sa”, điều này là tùy thuộc vào nội bộ ASEAN. Với động thái này, Trung Quốc  đã khoét sâu vào nội bộ ASEAN. Thêm vào đó, Trung Quốc còn đưa ra thời gian biểu hoàn thành COC/DOC trước cuối năm 2000 (thời điểm đang thảo luận về COC) để thúc ép ASEAN với hàm ý chính sự thiếu thống nhất trong nội bộ ASEAN đã cản trở việc COC/DOC được ký kết. Nếu ASEAN giải quyết được vấn đề này, Trung Quốc sẵn sàng nhân nhượng các vấn đề khác như chiếm đóng mới, tập trận quân sự và đối xử nhân đạo với ngư dân các nước ở các khu vực tranh chấp.[20] 

Bối cảnh an ninh khu vực sau sự kiện 11 tháng 9 cũng góp phần tạo đà cho sự ra đời của DOC vào năm 2002. Dreyer nhận định vị thế địa chính trị của Trung Quốc đã bị xáo động sau vụ khủng bố 11/9 liên quan đến việc Mỹ tuyên bố khu vực Đông Nam Á là mặt trận thứ hai trong cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu. [21] Nhận thấy khu vực Đông Nam Á là nơi tập trung cộng đồng người Hồi giáo tương đối lớn, cũng như tính đến các mối liên hệ giữa Al Qaeda với các nhóm khủng bố trong khu vực như Moro Islamic, Abu Sayyaf, Kampulan Mujahidin, Jeemaah Islamiah, Mỹ coi Đông Nam Á là một trọng tâm trong cuộc chiến chống khủng bố. Ngay sau vụ khủng bố 11/9, Philippin tuyên bố ủng hộ và hỗ trợ Mỹ, cho phép tàu chiến Mỹ sử dụng căn cứ không quân Clark và căn cứ hải quân Subic. Tháng 11 năm 2001, Tổng thống Philippin Arroyo thăm Mỹ kỷ niệm năm mươi năm Hiệp ước tương trợ Mỹ-Phi. Hai bên thống nhất nhận định là vụ khủng bố ở Mỹ và các hoạt động khủng bố của nhóm Abu Sayyaf (ASG) (nhóm đang bắt cóc công dân Mỹ và Phi tại miền nam Philippin) càng thúc đẩy hai nước tăng cường hợp tác quân sự.[22] Trước đó, Philippin tăng cường lôi kéo Mỹ, hai bên ký Hiệp định về thăm viếng quân sự (Visiting Forces Agreement) vào năm 1998. Tháng 2-3 năm 2000, Philipin và Mỹ bắt đầu tập trận chung ngoài khơi Palawan, trên biển Đông.

Quan hệ giữa Mỹ và Malaysia cũng được tăng cường sau vụ 11/9. Malaysia không những tăng cường chia sẻ thông tin tình báo cho Mỹ mà còn bảo vệ tàu Mỹ tại eo Malacca. Ngày 14 tháng 5 năm 2002, Mỹ và Malaysia ký Hiệp ước chống khủng bố tại Washington cam kết tăng cường hợp tác trong nhiều lĩnh vực, bao gồm quân sự, tình báo, kiểm soát biên giới, giao thông, thực thi phát luật, ngân hàng.[23] Tiếp đó, Thủ tướng Mahathir thăm Mỹ và hội đàm cấp cao với Tổng thống Bush vào 15-17 tháng 5 năm 2002.

Quan hệ giữa Mỹ và Việt nam cũng được tăng cường. Việt nam ủng hộ Mỹ trong cuộc chiến chống khủng bố, hỗ trợ Mỹ trong kiểm tra các giao dịch tài chính nghi vấn, cho phép máy bay Mỹ bay qua bầu trời Việt Nam. Tháng 5 năm 2002, Mỹ mời Việt nam tham gia với tư cách quan sát viên chiến dịch tập trận Hổ mang vàng tại khu vực.

Cả ba nước thành viên ASEAN là Philippin, Malaysia và Việt Nam đều liên quan đến tranh chấp với Trung quốc tại Biển Đông. Các nước khác trong ASEAN như Thailand, Singapore hay kể cả nước hồi giáo lớn nhất thế giới là Indonesia cũng ủng hộ và hỗ trợ Mỹ trong cuộc chiến chống khủng bố. Tháng 8 năm 2002, tuyên bố chung về hợp tác chống khủng bố giữa ASEAN và Mỹ được ký kết.[24]

Việc Mỹ tăng cường hợp tác với các nước đồng minh ở Đông Nam Á ảnh hưởng đến các tính toán chiến lược của Trung Quốc. Trung Quốc lo ngại việc Mỹ tăng cường hiện diện quân sự ở Đông Nam Á sẽ kéo theo sự dính líu của Mỹ vào vấn đề Biển Đông và làm tăng khả năng đa phương hóa và quốc tế hóa vấn đề. Đại sứ Trung Quốc tại Philippin Guan Dangming khuyến cáo Manila về nhân tố Mỹ và tuyên bố bên thứ ba không nên can thiệp vào vấn đề.[25] Đại biểu Trung Quốc liên tục khuyến cáo công khai ASEAN về sự dính líu của Mỹ vào các vấn đề mà Trung Quốc lo ngại. Tại cuộc họp SOM ASEAN-Trung Quốc tại Cha-am, Thailand tháng 3 năm 2000, trưởng SOM Trung Quốc Yangi Yi tuyên bố phản đối quan hệ đồng minh quân sự của ASEAN và Mỹ, cho là khu vực đang bàn bạc các biện pháp xây dựng lòng tin và không cần sự các thiệp của các lực lượng bên ngoài. [26]. Leszey Buszynski nhận định nguyên nhân chính của việc Trung Quốc quyết định ký kết là DOC do nhận thấy giá trị của các quy tắc ứng xử trong việc ngăn các nước ASEAN tăng cường mối quan hệ chính trị, quân sự với Mỹ, tránh sự can thiệp của Mỹ vào tranh chấp Biển Đông cũng như tránh việc Mỹ có lợi thế trong vấn đề Đài Loan.[27]

Thông qua DOC, với tư cách là một bên trong tranh chấp và bên kia là tất cả các nước ASEAN, Trung Quốc cũng đạt được ý đồ của mình là gạt được sự dính líu từ bên ngoài vì cho rằng đây là vấn đề của khu vực và phải được giải quyết trong khu vực. Điều này được thể hiện rất rõ tại cuộc họp SOM ASEAN-Trung Quốc về triển khai DOC ngày 7/12/2004 tại Ma-lay-xia. Trung Quốc kiên quyết không chấp nhận ghi vào Quy chế làm việc của Nhóm công tác chung về việc mời các chuyên gia và những người có uy tín từ các nước bên ngoài khu vực.

Ngoài ra, DOC là một văn kiện chính trị với mức độ cam kết và ràng buộc không cao, do vậy, quy định của DOC không ảnh hưởng đến tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc từ trước tới nay. Việc chấp nhận là một bên trong DOC đã phần nào giúp nâng cao vị thế và vai trò của Trung Quốc với các nước bên ngoài về thiện chí giải quyết hoà bình các tranh chấp của Trung Quốc. Đồng thời, việc ký kết DOC cũng không gây ra những tác động bất lợi từ chính trong nội bộ của Trung Quốc vốn từ trước tới nay luôn coi Biển Đông là một vùng biển thuộc chủ quyền của Trung Quốc.

Quan trọng hơn, việc ký kết DOC trong thời kỳ này phù hợp với chính sách và chiến lược chung của Trung Quốc về Biển Đông, là một bước đi trong chủ trương “gác tranh chấp, cùng khai thác”. Trung Quốc đang chịu áp lực của nhu cầu khai thác nguồn lợi biển, nhất là năng lượng để phục vụ nền kinh tế đang phát triển rất nhanh của Trung Quốc. Bắt đầu từ năm 1996, Trung Quốc đã trở thành nước nhập khẩu dầu khí và việc đảm bảo ổn định các nguồn cung và đường vận chuyển là nhiệm vụ quan trọng nhằm đảm bảo sự tăng trưởng của nền kinh tế Trung Quốc. Với một môi trường hợp tác và tương đối ổn định trong Biển Đông, Trung Quốc sẽ có điều kiện thúc đẩy việc hợp tác trong các lĩnh vực mà Trung Quốc có lợi ích theo mô hình “gác tranh chấp, cùng khai thác” nhưng dưới danh nghĩa thực thi DOC. Thỏa thuận hai bên Trung Quốc-Philippin về thăm dò địa chấn chung khu vực giữ Biển Đông vào năm 2004 là minh chứng cho nhận định này.

Về phần ASEAN, các quốc gia thành viên coi sự phát triển của nền kinh tế Trung Quốc như là một cơ hội. Ngày 5 tháng 11 năm 2002, tại Phnom Penh, hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện giữa Trung Quốc và ASEAN được ký kết, tiền đề cho việc thành lập khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc vào năm 2010, đánh dấu bước phát triển quan trọng trong quan hệ ASEAN-Trung Quốc. [28] Lợi ích do thặng dư thương mại đem lại đã dọn đường cho việc ra đời DOC. Amitav cho rằng “nhìn từ góc độ chính trị, hiệp định về tự do hoá thương mại giữa ASEAN-Trung Quốc cho thấy mối thù hận do lịch sử để lại và sự cạnh tranh về chính trị không còn là những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến quan hệ ASEAN-Trung Quốc”.[29]

Các nước ASEAN có tranh chấp trực tiếp tham gia COC/DOC nhằm duy trì ổn định, nguyên trạng và thông qua các biện pháp hợp tác, xây dựng lòng tin, giúp tránh được những bất đồng, xung đột, tạo điều kiện cho việc hợp tác trong Biển Đông. Mục đích cuối cùng là củng cố cơ sở pháp lý nhằm khẳng định các quyền của mình ở Biển Đông, bao gồm quyền sử dụng và khai thác lợi ích từ Biển Đông. Các nước ASEAN khác, do không có tranh chấp trực tiếp, muốn thông qua DOC để nâng cao vị trí vai trò của mình, sử dụng DOC để hỗ trợ cho các mối quan hệ khác với các nước có tranh chấp trực tiếp và được hưởng lợi từ các hoạt động hợp tác trong Biển Đông. Chính sự khác biệt này có thể làm suy yếu sự thống nhất quan điểm của ASEAN.

Ralf Emmers thuộc Viện nghiên cứu Chiến lược và Quốc phòng, Đại học Công nghệ Nanyang, Singapore bình luận về DOC: “Các thành viên ASEAN có quan hệ khác nhau với Trung Quốc và có quan điểm đối ngược về mối đe doạ tiềm tàng của mình...Sự thiếu đoàn kết giữa các nước ASEAN cũng bắt nguồn từ thực tế rằng vấn đề chủ quyền với quần đảo Trường Sa chưa phải là một nguy cơ trực tiếp đối với an ninh quốc gia của các thành viên ASEAN riêng lẻ...trừ Việt Nam và Philippines.[30]

Khác biệt về lợi ích và ưu tiên đã khiến khối này chấp nhận DOC, vì đó chính là lối ra duy nhất, một mặt giữ được thể diện và hình ảnh đoàn kết của ASEAN, mặt khác cũng phản ánh thực tế vẫn còn tồn tại những bất đồng về nội dung trong ASEAN. Trong khi chưa thể đưa ra những giải pháp cho bất đồng, ASEAN chọn phương án trung gian với một DOC mang tính tuyên bố chính trị và các nội dung được giảm nhẹ tính cam kết và không xác định rõ phạm vi áp dụng.

Một số kết luận

            Một bộ quy tắc ứng xử mang tính cam kết và ràng buộc cao là mục tiêu ban đầu của ASEAN. Nhưng những khác biệt về lợi ích và ưu tiên trong chính sách đối ngoại, lợi ích trong quan hệ với Trung Quốc đã khiến ASEAN chấp nhận một văn bản mang tính tuyên bố chính trị. DOC không phải là một văn kiện để giải quyết tranh chấp, mà chỉ tạo môi trường thân thiện thông qua các biện pháp xây dựng lòng tin và các hoạt động hợp tác, làm tiền đề cho một giải pháp lâu dài hơn.

Tuy nhiên, DOC cũng cho thấy Trung Quốc phần nào điều chỉnh cách tiếp cận về tranh chấp ở Biển Đông. Mặc dù vẫn rất kiên quyết trong việc khẳng định chủ quyền của mình trên những vùng lãnh thổ tranh chấp và duy trì chính sách giải quyết vấn đề Biển Đông trên cơ sở song phương, nhưng Trung Quốc đã cho thấy sự sẵn sàng tham gia vào các cơ chế đa phương nhằm gia tăng vai trò, tăng cường lợi ích, phân hóa tập hợp lực lượng chống Trung Quốc và chấp nhận các quy tắc không mang tính ràng buộc pháp lý nhằm phục vụ lợi ích toàn cục.  

Nhìn rộng ra, sự điều chỉnh chính sách của Trung Quốc đối với vấn đề Biển Đông theo hướng “mềm hơn” có thể là kết quả của một số yếu tố, trong đó có i) tính đoàn kết, đồng thuận của ASEAN, ii) sự gia tăng dính líu của các lực lượng bên ngoài, đặc biệt là Mỹ, vào vấn đề Biển Đông, iii) nhu cầu của Trung Quốc quan tâm đến hình ảnh quốc gia, tăng cường quan hệ với các nước trong khu vực./.       

 TS. Trần Trường Thủy, Chương trình Nghiên cứu Biển Đông, Học viện Ngoại giao




[1] Treaty of Amity and Cooperation in Southeast Asia, Indonesia, 24 February 1976, www.aseansec.org/1217.htm

[2] ASEAN Declaration On The South China Sea, Manila, Philippines, 22 July 1992 www.aseansec.org/1196.htm

[3] Nguyen Hong Thao, “Vietnam and the Code of Conduct for the South China Sea”, Ocean Development and International Law, Vol. 32, Issues 1-2 (2001) trang 105 -130

[4] Trước đó, ý tưởng về COC đã xuất hiện trong Tuyên bố ASEAN 1992 và được nêu trong các Hội nghị về kiềm chế xung đột tiềm tàng trong Biển Đông 1991-2000.

[5] Tuyên bố chung hội nghị Bộ trưởng ASEAN lần thứ 29 tại Jakarta, ngày 20-21 /7/1996, truy cập tại www.aseansec.org/1824.htm

[6] Mục 7.16, Kế hoạch hành động Hà Nội, truy cập tại www.vpa.org.vn/ENGLISH/activities/ac_asean.htm

[7] “Peaceful settlement of disputes urged”, The New Straits Times, 25/7/1999

[8] “ Positive ASEAN response to proposed code of conduct in the South China Sea noted”, Business World (Philippines), 14/9/1999

[9] ASEAN’s Draft Code of Conduct in the South China Sea, 25/11/1999

[10] China’s Draft Code of Conduct in the South China Sea, 10/1999

[11] Christopher Chung, “The Spratly Islands Dispute: Decision Units and Domestic Politics”,  Luận án tiến sĩ năm 2004, trang 328

[12] “ASEAN, China move toward a code of conduct in South China Sea”, Asian Political News, 14/7/2000

[13] Như trên

[14] Như trên

[15] “ Malaysia seeks “code of conduct” for Spratlys, Reuters, 24/7/2002

[16] Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea 2002. http://www.aseansec.org/13163.htm

[17] Trích theo Ronald A. Rodriguez,  Conduct Unbecoming in the South China Sea? PacNet No 23°, 21/5/2004.

[18] Đánh giá của GS Zou Keyuan, Đại học Central Lancashire, Anh trong trao đổi với tác giả,  Zou Keyuan lý luận rằng, khi ký DOC, TQ là một bên, bên kia là cả 10 nước ASEAN cùng ký, do đó có thể xem DOC là thỏa thuận “song phương” dưới chung cái ô “khu vực”.

[19]China Offers New Security Concept at ASEAN Meetings, People's Daily  August 01, 2002, bản copy truy cập tại http://au.china-embassy.org/eng/jmhz/t46228.htm

[20] “China Calls for Early Finalization of South China Sea Code of Conduct,” www.chinahouston.org/news/20001017202639.html

[21] June Teufel Dreyer, Encroaching on the Middle Kingdom? China Views of its Place in the World, truy cập tại http://www.baylor.edu/Asian_Studies/dreyer.pdf.

[22] “U.S.-Malaysia Defense Cooperation: A Solid Success Story,” The Heritage Lectures,

No. 742, Heritage Foundation Reports, May 1, 2002.

[23] “Malaysia, U.S. Sign Anti-terrorism Declaration,” The Straits Times (Singapore), May 14, 2002, trang 6.

[24] ASEAN-United States of America Joint Declaration for Cooperation to Combat International Terrorism, Bandar Seri Begawan, 1 August 2002. http://www.aseansec.org/7424.htm

[25] Philippine Dayly Inquirer, 8/1/1999

[26] Sa-Nguan Khumrungroj, “China Warns ASEAN against Boosting Ties”, The Nation, 17/3/2000.

[27] Leszek Buszynski, “ASEAN, the Declaration on Conduct, and the South China Sea” , Contemporary South East Asia, Dec 2003, Volume 25, trang 343

[28] Framework Agreement on Comprehensive Economic Co-Operation Between ASEAN and the People's Republic of China. http://www.aseansec.org/13196.htm

[29] Amitav Acharya, Seeking Security in the Dragon’s Shadow: China and Southeast Asia in the Emerging Asian Order, IDSS Working papers, tháng 3 năm  2003.

[30] The Straits Times, ngày 22/11/2002

 

Cách hành xử quyết đoán của Trung Quốc trong các vấn đề liên quan đến chủ quyền sẽ còn tiếp tục sau quá trình chuyển giao lãnh đạo tại Đại hội Đảng lần thứ 18 diễn ra vào mùa thu năm nay và Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc vào mùa xuân năm sau.

 

Trình bày tại Ủy ban Đối ngoại Hạ viện

  Trung Quốc - một cường quốc đang trỗi dậy tại Biển Đông

Người trình bày:

Bonnie S. Glaser

Chuyên gia cấp cao về Nghiên cứu Trung Quốc tại

Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế Mỹ (CSIS)

Ngày 12 tháng 09 năm 2012

2172  Tòa nhà Hạ viện Rayburn

Thưa bà Chủ tọa, thành viên cao cấp Berman và các quý vị đại biểu, tôi xin cám ơn quý vị đã mời tôi phát biểu điều trần trước Ủy ban về Trung Quốc với tư cách là một cường quốc đang trỗi dậy tại Biển Đông

Biển Đông là một phần của Thái Bình Dương kéo dài từ Xinh-ga-po và eo biển Malacca ở phía tây nam cho tới eo biển Đài Loan ở phía đông bắc. Nước Mỹ có lợi ích rất lớn tại Biển Đông. Trung Quốc, Đài Loan, In-đô-nê-xi-a, Phi-líp-pin và Việt Nam đều có tuyên bố chủ quyền chồng lấn đối với các đảo và vùng nước liền kề tại khu vực này. Thất bại trong quản lý hòa bình và giải quyết triệt để các yêu sách mâu thuẫn này có thể dẫn đến căng thẳng kéo dài và xung đột quân sự.

Các vùng nước của Biển Đông là một trong những tuyến huyết mạch thương mại quan trọng của thế giới. Tính theo khối lượng trọng tải, mỗi năm hơn một nửa lượng tàu thương mại trên thế giới chạy qua các tuyến đường biển tại đây. Hơn nữa, Biển Đông cũng chứa đựng nguồn tài nguyên cá dồi dào và tiềm năng lớn về trữ lượng dầu mỏ và khí đốt, có vị trí chiến lược gần với các quốc gia tiêu thụ năng lượng lớn trên thế giới.

Những cuộc chạm trán xảy ra khá thường xuyên ở Biển Đông từ giữa những năm 1970 cho đến giữa những năm 1990. Một thập kỷ sau đó trôi qua khá bình yên, nhưng căng thẳng đã bùng lên từ năm 2007 với sự gia tăng rõ rệt các vụ đụng độ và tranh cãi. Những nguyên nhân chính của tình trạng căng thẳng leo thang bao gồm: 1) gia tăng lợi ích trong việc thăm dò và khai thác trữ lượng dầu và khí đốt tại Biển Đông; 2) cạnh tranh quyết liệt về nguồn cá khi nguồn cá gần bờ đã dần cạn kiệt; 3) hạn chót tháng 5/2009 để các quốc gia ven biển đệ trình yêu cầu về quyền thềm lục địa mở rộng nằm ngoài 200 hải lý cho Ủy ban Ranh giới thềm lục địa của Liên hợp quốc; 4) gia tăng sức ép chủ nghĩa dân tộc đối với các chính phủ trong việc bảo vệ yêu sách chủ quyền lãnh thổ và hàng hải của họ.

            Dưới đây là một số ví dụ về các hoạt động gây bất ổn vài năm gần đây[1]:

  • Trung Quốc thách thức và đôi lúc đe dọa các công ty dầu khí nước ngoài kể cả các công ty Mỹ đầu tư vào các lô dầu mỏ và khí đốt ngoài khơi Việt Nam
  • Trung Quốc bắt giữ hàng trăm ngư dân Việt Nam và được cho là đã bắn vào các thuyền cá Việt Nam gần các đảo Trung Quốc đang chiếm giữ tại Hoàng Sa.
  • Tàu hải giám Trung Quốc cắt cáp tàu thăm dò dầu khí Việt Nam khi các tàu này đang thực hiện thăm dò địa chấn trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) 200 hải lý của Việt Nam (tháng 5 và 6/2011).
  • Công ty khai thác dầu khí xa bờ Trung Quốc (CNOOC) mời thầu 9 lô dầu nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và chồng lấn với các lô được PetroVietnam mời các tập đoàn năng lượng nước ngoài khai thác (tháng 6/2012).
  • Việt Nam thực hiện các chuyến bay tuần tra trên khu vực quần đảo Trường Sa (tháng 6/2012).
  • Quân đội Trung Quốc tuyên bố triển khai tuần tra hải quân và không quân sẵn sàng chiến đấu quanh khu vực quần đảo Trường Sa để “bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và lợi ích an ninh phát triển của Trung Quốc.” (tháng 6/2012)
  • Trung Quốc đưa một đội gồm 30 tàu đánh cá được hộ tống bởi tàu Hải giám trọng tải 3000 tấn tới vùng biển tranh chấp tại Trường Sa (tháng 7/2012)
  • Quốc hội Việt Nam thông qua Luật biển khẳng định đường cơ sở, vùng nội thủy, lãnh hải, vùng nước kế cận, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và các khu vực yêu sách khác. (tháng 6/2012)
  • Đáp trả lại hành động của Việt Nam, Trung Quốc đã nâng cấp đơn vị hành chính cho thành phố Tam Sa ở đảo Hải Nam (tháng 6/2012) đồng thời thiết lập một căn cứ đồn trú quân sự tại đảo Phú Lâm (tháng 7/2012)
  • Hải quân Phi-líp-pin điều tàu chiến đến khu vực Bãi cạn Scarborough để điều tra sự hiện diện của 8 tàu đánh cá Trung Quốc (tháng 4/2012)
  • Đáp trả lại hành động này của Phi-líp-pin ở Bãi cạn Scarborough, Trung Quốc đã: a) triển khai tàu có lúc lên đến gần 100 chiếc bao gồm tàu hải giám, tàu cá, tàu phục vụ ở khu vực bãi cạn; b) mở rộng lệnh cấm đánh bắt cá đơn phương của Trung Quốc đến vùng biển quanh Bãi cạn Scarborough; c) kiểm dịch hoa quả nhập khẩu từ Phi-líp-pin; d) không tuân thủ thỏa thuận với Manila về việc rút các tàu khỏi khu vực; và e) bao vây ngăn chặn để ngư dân không vào được khu vực bãi cạn (tháng 4-8/2012)
  • Bắc Kinh đã sử dụng ảnh hưởng của mình đối với Cam-pu-chia, hiện là Chủ tịch luân phiên của ASEAN để ngăn việc đưa các vấn đề Bãi cạn Scarborough và vùng đặc quyền kinh tế vào thông cáo chung của Hội nghị thường niên của các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN. Điều này đã dẫn đến việc lần đầu tiên trong lịch sử 45 năm ASEAN không đưa ra được tuyên bố chung.

Rõ ràng một chu kỳ các hành động-phản ứng (action-reaction cycle) theo xu hướng tiêu cực đang diễn ra ở Biển Đông. Tuy nhiên, có thể thấy rằng những yêu sách, chính sách, tham vọng, hành vi và năng lực của Trung Quốc vượt xa so với các bên tranh chấp khác. Yêu sách đường 9 đoạn của Trung Quốc chỉ dựa vào những cơ sở như phát hiện đầu tiên, bằng chứng lịch sử và luật pháp quốc tế là rất mập mờ và có khuynh hướng bành trướng. Bắc Kinh luôn từ chối tham gia đàm phán đa phương đối với các tranh chấp biển và lãnh thổ trong khu vực và mong muốn dàn xếp thông qua các cơ chế song phương để từ đó Trung Quốc dễ bề sử dụng lợi thế của mình ép các bên nhỏ và yếu hơn. Trung Quốc phản đối vai trò của Toà án Công lý Quốc tế (ICJ) hay Toà án Quốc tế về Luật biển (ITLOS) trong việc giải quyết tranh chấp biển và lãnh thổ ở Biển Đông. Dù Bắc Kinh cuối cùng đã đồng ý đàm phán để tiến tới Bộ Quy tắc ứng xử tại Biển Đông (COC), nhưng quan chức cao cấp Trung Quốc gần đây lại tuyên bố việc thảo luận chỉ có thể tiến hành được khi “các điều kiện đã chín muồi.”[2] Thay vào đó quan chức Trung Quốc luôn nhấn mạnh Tuyên bố năm 2002 về ứng xử của các bên tại Biển Đông (DOC) - một tuyên bố không có cơ chế giải quyết tranh chấp và không ràng buộc pháp lý.

Hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông là có chủ ý và hệ thống; những hành động này không phải là kết quả vô ý của nền chính trị quan liêu và sự hợp tác lỏng lẻo. Nói đúng hơn, hàng loạt hành động của Trung Quốc những tháng gần đây cho thấy điển hình về sự phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan, kiểm soát dân-quân sự và sự hài hòa các mục tiêu chính trị, kinh tế và quân sự.[3] Cách hành xử ngang ngược và đe dọa các bên yêu sách khác là bằng chứng về quyết định đẩy mạnh ngoại giao uy hiếp của những nhà lãnh đạo cấp cao Trung Quốc. Điều này không chỉ ảnh hưởng đối với Phi-líp-pin và Việt Nam, những đối tượng uy hiếp chính của Trung Quốc, mà còn tác động sâu rộng đến khu vực và thế giới.

Thứ nhất, khuynh hướng xem thường quy tắc ứng xử và luật pháp quốc tế của Trung Quốc là rất đáng lo ngại và có thể tạo nên tiền lệ xấu. Việc Bắc Kinh cố tình từ chối tuân thủ thỏa thuận miệng với Manila rút toàn bộ tàu từ khu vực xung quanh Bãi cạn Scarborough đã tạo nên một hiện trạng có lợi hơn cho Bắc Kinh. Trung Quốc vẫn tuần tra thường xuyên và ngăn chặn ngư dân Phi-líp-pin đánh bắt cá tại những khu vực đó. Không nước nào công khai chỉ trích hành động này. Đây là một tiền lệ rất nguy hiểm ở Biển Đông.

Thứ hai, việc Trung Quốc ngày càng sẵn sàng sử dụng lợi thế kinh tế để buộc các quốc gia phải thay đổi chính sách phù hợp với mong muốn của Bắc Kinh là một xu hướng đáng quan ngại.[4] Hành động Trung Quốc sử dụng lý do kiểm dịch ngăn chặn hoa quả nhập khẩu từ Phi-líp-pin nhằm gây sức ép buộc Phi-líp-pin nhường quyền kiểm soát khu vực Bãi cạn Scarborough là một sự vi phạm trắng trợn các chuẩn mực quốc tế. Các quan chức hải quan Trung Quốc đã đưa ra những luận điệu không có cơ sở rằng hoa quả từ Phi-lip-pin bị nhiễm sâu. Ngay lập tức nền kinh tế Phi-líp-pin bị thiệt hại bởi Phi-líp-pin xuất khẩu gần 1/3 sản lượng chuối cho Trung Quốc, cũng như đu đủ, dứa, xoài và dừa. Thêm vào đó các hãng du lịch Trung Quốc đã hủy bỏ các chuyến bay tới Phi-líp-pin với lý do rằng an ninh của khách du lịch Trung Quốc không được bảo đảm.

Đây chỉ mới là một ví dụ trong hàng loạt trường hợp Trung Quốc sử dụng kinh tế để gây sức ép và xu hướng này ngày càng gia tăng. Tháng 9/2010, Trung Quốc đã ngừng xuất khẩu đất hiếm cho Nhật Bản để trả đũa việc Tokyo bắt giữ thuyền trưởng của tàu cá của Trung Quốc trong vu việc xảy ra gần đảo Senkaku. Cuối năm đó, sau khi giải Nô-ben hoà bình được công bố trao cho Liu Xiaobo  - một người bất đồng chính kiến, Trung Quốc đã tiến hành một loạt hành động nhằm trừng phạt Na-uy, mặc dù việc quyết định trao giải thưởng được thực hiện bởi Ủy ban Nô-ben, hoạt động hoàn toàn độc lập với chính phủ Na-uy. Trung Quốc đã ngưng đàm phán Hiệp định Thương mại Tự do với Na-uy và áp dụng các quy định kiểm tra thú y mới với cá hồi nhập khẩu từ Na-uy, dẫn đến việc giảm 60% lượng nhập khẩu cá hồi từ Na-uy năm 2011 khi mà nhu cầu thị trường cá hồi trong nước vẫn tăng 30%. Bắc Kinh cũng đã dừng quan hệ ngoại giao bình thường với Na-uy kể từ đó và cho đến nay vẫn chưa được nối lại.

Bắc Kinh xem những vụ việc này như là thành công ngoại giao của họ. Nếu sự uy hiếp kinh tế của Trung Quốc vẫn tiếp tục không bị ngăn chặn, chắc chắn chiến thuật này sẽ còn được lặp đi lặp lại. Các nước khó chống đỡ trước sức ép này có thể buộc phải thay đổi chính sách theo hướng bất lợi cho mình; Trung Quốc vì thế có thể tác động đến ngày càng nhiều các nước trên thế giới có nền kinh tế phụ thuộc vào giao thương với Trung Quốc.

Thứ ba, việc Trung Quốc không thể hiện thiện chí tiến hành các nỗ lực ngoại giao một cách nghiêm túc để giải quyết tranh chấp sẽ là điều đáng lo, nhất là khi Trung Quốc từ chối chấp nhận một khuôn khổ dựa trên luật pháp để kiềm chế hành vi của tất cả các bên. Bắc Kinh cho rằng thời gian đang về phe họ; rằng họ không muốn bị kiềm chế bởi những thỏa thuận mang tính ràng buộc. Trong tương lai, Trung Quốc sẽ không chỉ trở thành một cường quốc kinh tế trên thế giới mà còn là một cường quốc quân sự và chính trị. Các quốc gia khác, dù là lớn hay nhỏ, cũng buộc phải thích nghi với sự trỗi dậy của Trung Quốc và tôn trọng “lợi ích cốt lõi và những quan tâm chính” của Trung Quốc. Tuy nhiên, Bắc Kinh sẽ không xem trọng lợi ích và quan tâm của các nước khác. Thiếu vắng một Bộ Quy tắc ứng xử (COC) có hiệu lực ở Biển Đông, căng thẳng sẽ tiếp tục gia tăng. Khả năng các bên yêu sách sử dụng lực lượng quân sự để bảo vệ lợi ích của họ đi kèm với nguy cơ căng thẳng leo thang không thể bị loại trừ

Hiện đại hóa hải quân và tham vọng của Trung Quốc

Các cường quốc trỗi dậy về kinh tế và chính trị trên thế giới thường sẽ trở thành những cường quốc hải quân thế giới. Trung Quốc cũng không phải một ngoại lệ. Sự phụ thuộc của nền kinh tế Trung Quốc vào thương mại và nguồn năng lượng nhập khẩu đã buộc Trung Quốc phải phát triển năng lực hải quân và theo thời gian, sẽ phải phát triển khả năng triển khai lực lượng tại các vùng biển xa. Tuy nhiên, trong tương lai gần, do ưu tiên của Trung Quốc là các tranh chấp vùng lãnh thổ và tranh chấp tài nguyên, cũng như ngăn chặn sự độc lập của Đài Loan nên nhiều khả năng  Trung Quốc chỉ tập trung chủ yếu vào các vùng biển trong khu vực. Các “vùng biển gần” của Trung Quốc – gồm Biển Hoàng Hải, Biển Hoa Đông và Biển Đông – là những khu vực có tầm quan trọng chiến lược đặc biệt đối với Trung Quốc. Những vùng biển này, ngoài việc là vùng có nguồn tài nguyên dầu và khí đốt, còn được xem như là vùng đệm an ninh của Trung Quốc.

Trung Quốc đang đầu tư phát triển một loạt các năng lực không chỉ trong lĩnh vực hải quân mà còn trong các lĩnh vực khác để hỗ trợ nhiệm vụ được họ gọi là “chống can thiệp”. Bộ Quốc phòng Mỹ mô tả đây như là năng lực “chống tiếp cận” và “phong tỏa khu vực”. Mục tiêu là nhằm sở hữu các phương tiện có thể tấn công, tại một vị trí ở một khoảng cách xa bờ biển Trung Quốc, các lực lượng quân sự được triển khai và hoạt động trong khu vực Tây Thái Bình Dương. Theo như báo cáo của Bộ Quốc phòng Mỹ với Quốc hội về năng lực của quân đội Trung Quốc (PLA) năm 2011, sự cải thiện khả năng triển khai lực lượng của Trung Quốc trong hiện tại và tương lai sẽ cung cấp cho PLA những hệ thống có thể giao tranh với các tàu nổi của đối phương trong khoảng cách 1850 km tính từ bờ biển của Trung Quốc. Những hệ thống này bao gồm các tên lửa đạn đạo dùng để chống lại tàu, tàu ngầm thông thường và tàu ngầm vận hành bằng năng lượng hạt nhân, các tàu tấn công trên mặt nước, và máy bay tấn công trên biển. Trong tương lai, những năng lực này sẽ được tăng cường bằng các hệ thống mới hơn bao gồm máy bay tàng hình J-20 và các tên lửa đạn đạo thông thường tầm xa, các máy bay không người lái (UAV), các tên lửa hành trình tấn công mặt đất được phóng từ trên không và trên mặt đất và năng lực tiến hành chiến tranh mạng.[5]

Tàu sân bay đầu tiên của Trung Quốc (một tàu thuộc lớp KUZNETSOV được mua lại từ Ucraina) đã bắt đầu các chuyến đi thử nghiệm vào năm 2011. Đây sẽ là bước huấn luyện và thử nghiệm quan trọng, để cuối cùng giúp Trung Quốc có thêm kinh nghiệm trong vận hành các hoạt động trên không dựa vào tàu sân bay. Các nhà phân tích quân sự của Trung Quốc dự tính rằng tàu sân bay này được đặt tại căn cứ hải quân mới tại Yalong ở mũi phía nam của đảo Hải Nam, gần với nhóm đảo tranh chấp Trường Sa và Hoàng Sa.[6] Trung Quốc đang nỗ lực xây dựng tàu sân bay đầu tiên của Trung Quốc, có khả năng hoàn tất và đi vào hoạt động trước năm 2015, và tiếp sau đó sẽ là “nhiều tàu sân bay và các tàu hỗ trợ liên quan trong vòng một thập kỷ tới.”[7]

            Cho dù Trung Quốc đang quyết liệt hiện đại hóa quân đội, trong đó có cả lực lượng hải quân, thì nước này vẫn hạn chế việc sử dụng sức manh quân đội. Chẳng hạn, trên Biển Đông, Trung Quốc dựa chủ yếu vào các cơ quan hàng hải dân sự chứ không phải lực lượng hải quân để khẳng định và bảo vệ các yêu sách chủ quyền. Các cơ quan này bao gồm Cảnh sát biển, Cục quản lý biên giới, Cục quản lý hải dương học, Cơ quan ngư chính và Lực lượng tuần duyên. Tuy vậy, hải quân Trung Quốc đã tăng cường triển khai quân và tuần tra, luôn đứng sau hỗ trợ các tàu “vỏ trắng” này và sẵn sàng can thiệp nếu các biện pháp khác không thể bảo vệ chủ quyền, an ninh, quyền và lợi ích hàng hải của Trung Quốc.

Chuyển giao thế hệ lãnh đạo và sự quyết đoán của Trung Quốc trong tương lai

Theo đánh giá của tôi, cách hành xử quyết đoán của Trung Quốc trong các vấn đề liên quan đến chủ quyền sẽ còn tiếp tục sau quá trình chuyển giao lãnh đạo tại Đại hội Đảng lần thứ 18 diễn ra vào mùa thu năm nay và Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc vào mùa xuân năm sau bởi những lý do sau:

            1. Do tính hợp pháp của Đảng Cộng sản dựa phần lớn vào sự tín nhiệm của nhân dân, nên không một nhà lãnh đạo Trung Quốc nào, trong thời gian mới nhậm chức, dám vội vã thực hiện các biện pháp làm giảm làn sóng từ các tầng lớp nhân dân yêu cầu bảo vệ vững chắc chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Trung Quốc. Tâm lý chung của nhân dân thiên về lập trường cứng rắn hơn của Bắc Kinh trong vấn đề Biển Đông đã được nhen nhóm từ trước. Các nhà lãnh đạo tương lai nhận thức rõ nguy cơ của việc kích động thêm những tình cảm này, nhưng sẽ khó cưỡng lại khuynh hướng đó khi mà làm vậy sẽ có lợi cho họ, giúp tính hợp pháp của họ trở nên vững chắc hơn.

2. Ông Tập Cận Bình, người nhiều khả năng sẽ kế nhiệm ông Hồ Cẩm Đào, được cho là một người có sự tự tin cao - chắc chắn cao hơn ông Hồ vào thời điểm ông lên nắm quyền 10 năm trước đây. Trong khi nhiệm kỳ của ông Hồ Cẩm Đào phải tập trung vào giải quyết các yếu kém của Trung Quốc, thì ông Tập lại xuất thân từ một thế hệ mới, lớn lên trong thời kỳ cải cách và mở cửa với thế giới bên ngoài và luôn tin rằng Trung Quốc đang trôi dậy mạnh mẽ. Tin tưởng vào sức mạnh đang lên của Trung Quốc và sự thu hẹp quyền lực giữa Mỹ và Trung Quốc, ông Tập có thể sẵn sàng bảo vệ các lợi ích của Trung Quốc trên đấu trường quốc tế, đặc biệt đối với những lợi ích được xem là “lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc, bao gồm các vấn đề liên quan đến chủ quyền.

3. Trong chừng mực nào đó, các cuộc tranh luận học thuật ở Trung Quốc đã bị hạn chế trong thời điểm chuẩn bị diễn ra chuyển giao thế hệ lãnh đạo. Các cuộc tranh luận sẽ sôi nổi trở lại vào năm sau xung quanh việc: a) liệu Mỹ có đang thực sự đi xuống và cán cân quyền lực thế giới có dịch chuyển theo chiều hướng có lợi cho Trung Quốc hay không; và b) liệu giai đoạn thời cơ chiến lược 20 năm của Trung Quốc - bắt đầu vào thời điểm chuyển giao thế kỷ - có đang sớm đi đến kết thúc hay không. Những cuộc tranh luận như vậy sẽ càng đặt thêm áp lực lên vai các nhà lãnh đạo của Trung Quốc, phải kiên quyết bảo vệ các lợi ích của nước này.

4. Theo các chuyên gia phân tích có uy tín của Trung Quốc, Bắc Kinh đã kết luận rằng chính sách của Đặng Tiểu Bình trong quản lý các tranh chấp tại Biển Đông đã thất bại. Chính sách này nêu rằng: a) chủ quyền thuộc về Trung Quốc; b) các tranh chấp có thể gác sang một bên; c) có thể tiến hành hợp tác khai thác chung. Người Trung Quốc cho rằng Trung Quốc đã tự kiềm chế không khai thác dầu và khí đốt trong các vùng biển tranh chấp nhưng các nước khác lại không làm như vậy. Một chính sách mới vẫn chưa ra đời và có thể sẽ được hoãn lại cho đến sau khi chuyển giao quyền lực. Nhiều khả năng chính sách mới sẽ càng cứng rắn hơn.

Khuyến nghị chính sách

Chính quyền Obama đã đúng đắn khi đề ra một số nguyên tắc định hướng hành vi ở Biển Đông. Tháng 7/2010, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã kêu gọi  “một tiến trình ngoại giao hợp tác của tất cả các bên yêu sách nhằm giải quyết các hòa bình tranh chấp lãnh thổ, không sử dụng đến các biện pháp đe dọa.” Bà Clinton cũng nêu rõ rằng Mỹ phản đối việc sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực bởi bất kỳ bên yêu sách nào và nhấn mạnh đến vấn đề thương mại không bị cản trở, tự do hàng hải và mở cửa tiếp cận đến các vùng hàng hải chung của châu Á. Ngoại trưởng Clinton khẳng định rằng các bên nên yêu sách chủ quyền lãnh thổ và các quyền đi kèm trên biển dựa theo Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển. Bà Clinton cũng hối thúc các bên sớm đạt được thỏa thuận về Bộ Quy tắc ứng xử và sẵn sàng hỗ trợ các sáng kiến và biện pháp xây dựng lòng tin.[8]

Điều quan trọng là Mỹ phải tuân thủ những nguyên tắc này và lên án bất cứ bên nào có hành vi không phù hợp với các nguyên tắc trên. Thái độ khách quan và công bằng sẽ tăng thêm uy tín cho chính sách của Mỹ. Một ví dụ điển hình về sự công bằng của Mỹ là tuyên bố đưa ra bởi Bộ trưởng Quốc phòng Leon Panetta tại Đối thoại Shangri-La tại Singapore vào tháng 6. Sau khi nhắc lại các nguyên tắc của Mỹ, ông Panetta khẳng định đã “làm rõ các quan điểm của Mỹ với các nước đồng minh hiệp ước thân thiết, với Phi-líp-pin, cũng như làm rõ quan điểm với Trung Quốc và các nước khác trong khu vực.”[9]

Vào ngày 3/8/2012, tuyên bố của Bộ Ngoại giao Mỹ về Biển Đông đã dường như đã đi chệch hướng so với cách tiếp cận công bằng và khách quan trên. Tuyên bố của Bộ Ngoại giao ghi nhận một cách đúng đắn sự gia tăng căng thẳng trong những tháng gần đây, dẫn ra một loạt các hành động đe dọa kinh tế, sử dụng các rào chắn để ngăn cản tiếp cận Bãi cạn Scarborough, và việc thiết lập cơ sở đồn trú quân sự của Trung Quốc nhằm giám sát các khu vực tranh chấp ở Biển Đông.[10] Tuy nhiên, bằng việc đích danh chỉ trích Trung Quốc và không đề cập đến hành vi kích động từ các bên yêu sách khác, Mỹ đã tạo cho Bắc Kinh cái cớ để khẳng định rằng Washington đã đứng về phía chống Trung Quốc và làm yếu đi lập trường của Mỹ rằng các tranh chấp Biển Đông phải được quản lý dựa trên cách tiếp cận có nguyên tắc. Tuy không có gì phải bàn cãi rằng hành động của Trung Quốc là nghiêm trọng nhất trong số các bên ở Biển Đông; nhưng Mỹ có thể làm giảm uy tín của mình nếu không nhắc đến những hành động vi phạm của các bên liên quan khác.[11]

Trong thời gian tới, Mỹ nên bám sát cách tiếp cận có nguyên tắc trong việc quản lý các tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông và duy trì quan điểm trung lập xưa nay trong các tranh chấp này. Đồng thời, Mỹ nên nhấn mạnh đến những lợi ích chung của Mỹ và các quốc gia khác trong các chuẩn mực quốc tế, vốn đang bị đe dọa bởi chính sách cứng rắn của Trung Quốc.

Thứ hai, Mỹ nên hối thúc tất cả các bên tranh chấp tại Biển Đông phải đưa các yêu sách hàng hải của mình phù hợp với Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS). Mỹ cũng nên khuyến khích các thỏa thuận khai thác chung để khai thác tài nguyên.

Thứ ba, Mỹ nên tiếp tục hối thúc Trung Quốc và ASEAN bắt đầu đàm phán về một Bộ Quy tắc ứng xử có tính ràng buộc pháp lý và chứa đựng các cơ chế giải quyết tranh chấp. Một khi quá trình đàm phán bắt đầu, nó có thể giúp làm hòa dịu tình hình và giảm bớt căng thẳng.

Thứ tư, các nước nhỏ trong khu vực đang lo ngại về một kiểu quan hệ nước lớn mới đang được bàn bạc giữa Washington và Bắc Kinh, có thể dẫn đến việc tăng cường hợp tác Mỹ - Trung trên lưng các nước khác, kể cả các thành viên của ASEAN.  Những mối quan ngại này phải nhanh chóng được loại bỏ và Mỹ nên tiếp tục thúc đẩy vai trò trung tâm của ASEAN như là một điểm tựa cho sự ổn định khu vực.

Thứ năm, Mỹ cần phải tiếp tục tăng cường các cam kết về kinh tế, ngoại giao và quân sự tại Đông Á. Chiến lược tái cân bằng của Mỹ với trọng tâm hướng về châu Á là cần thiết để bảo đảm duy trì hòa bình và ổn định - những điều kiện đã tồn tại ở khu vực trong vòng hai thập kỷ qua và đem lại lợi ích cho tất cả các quốc gia khu vực.

Thứ sáu, Mỹ nên phê chuẩn UNCLOS để tăng thêm tính hiệu quả của các nỗ lực theo đuổi cách tiếp cận dựa trên luật pháp giúp quản lý và giải quyết các tranh chấp về quyền tài phán trên biển.

Nguồn: Tại đây

Người dịch: Tiến Tiệp

Hiệu đính: Minh Ngọc 


[1] Xem Carlyle A. Thayer, “A New Wave of Chinese Assertiveness: Roping off Scarborough Shoal, Oil

Leases in Vietnam’s EEZ, Military Garrison on Land, and Fishing Armada at Sea, paper presented to the 2nd South China Sea Conference Geo-Strategic Developments and Prospects for Disputes Management, Kuala Lumpur, Malaysia, 4-5 tháng 9, 2012.

[2] “South China Sea Issue Should Only be Resolved by Concerned Parties,” Xinhua, 5 tháng 8, 2012,

http://english.sina.com/china/2012/0805/493210.html.

[3] Oriana Skylar Mastro, “The Sansha Garrison: China’s Deliberate Escalation in the South China Sea,”

Center for a New American Security, tháng 9 2012.

[4] Bonnie S. Glaser, “China’s Coercive Economic Diplomacy – A New and Worrying Trend,” PacNet no.

46, Pacific Forum, CSIS, 23 tháng 7, 2012, http://csis.org/publication/pacnet-46-chinas-coercive-economic-diplomacy-new-and-worrying-trend.

[5] Military and Security Developments Involving the People’s Republic of China 2011, Department of Defense, http://www.defense.gov/pubs/pdfs/2011_cmpr_final.pdf.

[6] David Lague, “Analysis: China’s Aircraft Carrier: in Name Only,” Reuters, 28 tháng 8, 2012.

[7] Military and Security Developments Involving the People’s Republic of China 2012, Department of

Defense, http://www.defense.gov/pubs/pdfs/2012_CMPR_Final.pdf.


[8] Remarks at Press Availability, Hillary Rodham Clinton, Hanoi, Vietnam, 23 tháng 7, 2010,

http://www.state.gov/secretary/rm/2010/07/145095.htm.

[9] Speech by Secretary of Defense Leon E. Panetta, Shangri La Dialogue, Singapore, 2 tháng 6, 2012,

http://www.defense.gov/speeches/speech.aspx?speechid=1681.

[10] Press Statement on South China Sea, 3 tháng 8, 2012, http://www.state.gov/r/pa/prs/ps/2012/08/196022.htm.

[11] Xem Douglas H. Paal, “Dangerous Shoals: U.S. Policy in the South China Sea,”  Carnegie Endowment for International Peace, 11 tháng 8, 2012, http://www.carnegieendowment.org/2012/08/11/dangerous-shoals-u.s.-policy-in-south-china-sea/dc0d.

 

 

 

Việc thiếu sự chỉ đạo nhất quán và phối hợp chặt chẽ về vấn đề Biển Đông trong nội bộ Trung Quốc, thêm vào đó là sự mơ hồ trong chính sách Biển Đông của chính quyền trung ương, các cơ quan, lực lượng liên quan đã lợi dụng điều này nhằm gia tăng lợi ích cục bộ của mình. Tất cả các nhân tố trên là nguyên nhân dẫn đến tình hình căng thẳng tại Biển Đông hiện nay

 

 

Ngày 23 tháng 4 năm 2012, Nhóm Khủng hoảng Quốc tế (International Crisis Group - ICG) đã có báo cáo tiêu đề “Khuấy động Biển Đông” đăng trên website của tổ chức này. Báo cáo dài 46 trang, bao gồm 7 chương do các học giả hàng đầu của ICG thực hiện, bàn về các nhân tố nội bộ Trung Quốc làm khuấy động Biển Đông trong 2-3 năm gần đây. ICG là một tổ chức nghiên cứu độc lập phi chính phủ, phi lợi nhuận có khoảng 130 thành viên từ các Châu lục khác nhau thực hiện các nghiên cứu các điểm nóng nhằm ngăn chặn và xử lý các xung đột có thể gây đến thiệt hại về người.

Nhận định của báo cáo cho rằng tình hình căng thẳng trên Biển Đông hiện nay chủ yếu do trong nội bộ Trung Quốc thiếu sự chỉ đạo nhất quán và phối hợp chặt chẽ giữa: (i) các cơ quan ra chính sách và các cơ quan thi hành luật; (ii)giữa các cơ quan chấp pháp ở Biển Đông; (iii) giữa chính quyền trung ương với chính quyền địa phương. Nguyên nhân chính do Trung Quốc hiện đang thiếu một cơ chế tập trung trong việc quản lý các vấn đề liên quan đến Biển Đông. Bên cạnh đó, sự yếu kém của các cơ quan quản lý dẫn đến có nhiều cơ quan cùng đưa ra chính sách tại Biển Đông, nhiều cơ quan cùng chấp pháp tại Biển Đông (9 con rồng) theo đuổi các lợi ích cục bộ khác nhau. Các cơ quan này trục lợi từ sự thiếu rõ ràng minh bạch trong chính sách quản lý Biển Đông của chính quyền Trung ương. Ngay cả chính quyền trung ương cũng trục lợi từ sự thiếu minh bạch này, điều này đang gây ra sự bất ổn định tại Biển Đông. Các nội dung cụ thể là:

1)            Nguyên nhân tình hình căng thẳng tại Biển Đông:

Báo cáo chỉ ra các nguyên nhân chính từ nội bộ Trung Quốc dẫn đến căng thẳng Biển Đông gần đây là:

-Thiếu cơ chế điều phối tập trung từ trung ương, năng lực yếu kém và lợi ích cục bộ của các cơ quan chức năng chấp pháp ở Biển Đông: Do thiếu sự điều phối tập trung từ Trung ương, nhiều cơ quan chức năng liên quan tới Biển Đông cố gắng gia tăng sức mạnh và ngân sách, đã gián tiếp gây ra những căng thẳng tại Biển Đông. Bộ Ngoại giao Trung Quốc là cơ quan có vai trò điều phối, nhưng Bộ này lại không có nguồn lực cần thiết và khả năng chỉ đạo được các bộ ngành khác có liên quan. Hải quân Trung Quốc lợi dụng tinh thần dân tộc để tuyên bố chủ quyền lãnh thổ làm căng thẳng phức tạp thêm tình hình, đồng thời lợi dụng các căng thẳng trên Biển Đông để biện minh cho việc hiện đại hóa lực lượng. Việc gia tăng nhanh chóng số lượng và vai trò của các lực lượngbán quân sự chấp pháp trên Biển Đông, kể cả tại các khu vực có tranh chấp lãnh thổ, trong khi chưa có khuôn khổ pháp lý đầy đủ cho hoạt động của lực lượng này cũng gây gia tăng nguy cơ xung đột trên biển. Các lực lượng chấp pháp này có liên quan đến hầu hết các vụ việc căng thẳng gần đây, bao gồm cả sự kiện giữa Trung Quốc và Philippin tại Bãi Hoàng Nham (Scarborough Reef) trong tháng 4 năm 2012. Bất cứ một giải pháp trong tương lai nào đối với các tranh chấp tại Biển Đông đều cần có một chính sách nhất quán từ phía các cấp quản lý của chính phủ trung ương Trung Quốc và các lực lượng chấp pháp trên thực địa.

Báo cáo sử dụng thuật ngữ “Chín con rồng khuấy động biển khơi” để miêu tả việc thiếu sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan chấp pháp khác nhau thuộc chính phủ ở Biển Đông, nhưng trên thực tế báo cáo cho biết có nhiều hơn 9 con rồng, đó là: 1) Cục quản lý đánh bắt cá; 2) Hải giám; 3) Chính quyền địa phương; 4) Hải quân Giải phóng Nhân dân (PLAN); 5) Bộ Ngoại giao; 6) Các công ty năng lượng; 7) Tổng cục Quản lý Du lịch Quốc gia, 8) Bộ quản lý Môi trường, 9) Lực lượng tuần duyên thuộc Bộ Công An, 10) Cục chống Buôn lậu và Thuế quan thuộc Tổng cục Hải quan; 11) Cơ quan quản lý An toàn Hàng hải (MSA). Trong các con rồng này có 5 con rồng hoạt động mạnh nhất đó là Cục quản lý đánh bắt cá, Hải giám, chính quyền địa phương, PLAN và Bộ Ngoại giao. Hầu hết các cơ quan này không có kinh nghiệm về đối ngoại. Một số cơ quan thường có hành động hiếu chiến để cạnh tranh với các cơ quan khác trong việc xin phân bổ ngân sách. Một số cơ quan khác (chủ yếu là chính quyền địa phương) cố gắng mở rộng các hoạt động kinh tế trong các vùng tranh chấp nhằm mục tiêu tập trung vào tăng trưởng kinh tế. Mặc dù động cơ của các bộ ngành chỉ là tranh giành lợi ích cục bộ nhưng lại có tác động lớn đến đối ngoại.

- Sự thiếu minh bạch trong chính sách của chính quyền trung ương trong vấn đề Biển Đông: Vì Trung Quốc không có mục tiêu rõ ràng cái gì cần được bảo vệ ở Biển Đông nên việc điều hành các cơ quan chấp pháp ở Biển Đông cũng gặp nhiều khó khăn. Mặc dù Trung Quốc đã có nhiều biện pháp trấn an các nước láng giềng như công khai giải thích đường chín đoạn, nói không yêu sách toàn bộ Biển Đông và sẽ tuân theo Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển (UNCLOS) nhưng Trung Quốc cũngkhông thể dễ dàng nhượng bộ trong các tuyên bố chủ quyền của mình đối với các khu vực quan trọng trên biển và biện minh cho các tuyên bố này bằng lập luận lịch sử (người Trung Quốc đã hiện diện ở các đảo từ lâu đời). Chính quyền địa phương lợi dụng sự thiếu minh bạch này để thực hiện các hoạt động có lợi cho mình trong khu vực có tranh chấp.

- Chủ nghĩa dân tộc tại Trung Quốc:Trung Quốc đã có chủ ý sử dụng chủ nghĩa dân tộc trong tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông bằng cách nhấn mạnh khía cạnh lịch sử trong các tuyên bố chủ quyền của mình. Chính sách này đã dẫn đến việc gia tăng áp lực trong nước đối với chính quyền phải thực hiện các hoạt động khẳng định chủ quyền. Chính quyền trung ương Trung Quốc đã có thể kiềm chế chủ nghĩa dân tộc trong vấn đề Biển Đông nhưng tình hình nóng bỏng tại Biển Đông đã làm cho chính quyền trung ương ít có sự lựa chọn chính sách khác trong quản lý tranh chấp tại Biển Đông mà buộc phải nghiêng theo chủ nghĩa dân tộc.

2) Trung Quốc điều chỉnh chiến thuật mềm mỏng hơn trong xử lý các vấn đề tại Biển Đông từ giữa năm 2011: Giữa năm 2011, khi các căng thẳng trên biển dẫn đến việc các quốc gia láng giềng tìm cách tăng cường hợp tác quân sự với Mỹ, Trung Quốc đã điều chỉnh chính sách theo hướng mềm mỏng hơn trong vấn đề Biển Đông. Trung Quốc giảm tần suất các tuyên bố chủ quyền quá mạnh bạo, nhấn mạnh hơn vào việc duy trì nguyên trạng trên Biển Đông, nhưng vẫn cương quyết chỉ đàm phán song phương với các nước có yêu sách chủ quyền có liên quan. Trung Quốc chủ động hàn gắn quan hệ ngoại giao với các nước trong khu vực thông qua các chuyến thăm cấp cao song phương,và tăng cường tham dự vào các hoạt động đa phương, có các động thái như ký với ASEAN thỏa thuận Hướng dẫn triển khai Tuyên bố Ứng xử của các bên tại Biển Đông  (DOC).

Về đối nội, Trung Quốc đã có các biện pháp giảm bớt tâm lý chủ nghĩa dân tộc và kiềm chế các hành động hiếu chiến do chính quyền địa phương thực hiện. Tuy có chú ý hơn tới Biển Đông, chính sách Biển Đông của chính quyền Trung ương vẫn không có sự điều phối hiệu quả từ trên xuống dưới. Nhiều nỗ lực không thành trong việc thành lập một cơ chế tập trung trong quản lý các vấn đề tranh chấp trên biển chứng tỏ lãnh đạo Trung Quốc hoặc chưa thực sự muốn xử lý vấn đề,hoặc vẫn chưa đủ tập trung vào vấn đề này, hoặc cũng có thể chính quyền trung ương Trung Quốc muốn duy trì sự mơ hồ thiếu rõ ràng này để trục lợi. Nếu như tình trạng này còn tiếp tục, việc tìm cách hàn gắn quan hệ ngoại giao của Trung Quốc với các nước trong khu vực sẽ khó có thể thực hiện được.

Báo cáo đi đến nhận xét rằng khả năng quản lý các mối quan hệ và giải quyết các tranh chấp tại Biển Đông sẽ là phép thử liệu sự trỗi dậy của Trung Quốc có hòa bình hay không.

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây

Thái Giang (dịch)

 

 

Gần đây, Trung Quốc dường như đang theo đuổi cách tiếp cận mới ôn hòa hơn trong tranh chấp Biển Đông. Mục tiêu chủ yếu của chính sách thân thiện hơn là nhằm khôi phục hình ảnh của nước này ở Đông Á và ngăn chặn Mỹ thúc đẩy vai trò trong khu vực. Chưa biết cách tiếp cận mới của Bắc Kinh có thể kéo dài hay không, nhưng ít nhất nó cũng thể hiện Trung Quốc có thể điều chỉnh chính sách đối ngoại của họ. 

Bắc Kinh công khai thách thức tính hợp pháp của các khoản đầu tư từ các công ty dầu lửa nước ngoài vào ngành năng lượng trên biển của Việt Nam và nhấn mạnh chủ quyền của Trung Quốc đối với các hòn đảo và các vùng nước cách xa đất liền Trung Quốc, bắt giữ hàng trăm ngư dân Việt Nam gần các hòn đảo bị Trung Quốc chiếm giữ, đồng thời quấy rối các tàu thuyền của Việt Nam và Philíppin đang thăm dò địa chấn ở các vùng biển mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền. Nhiều nước Đông Á coi thái độ của Trung Quốc như một dấu hiệu mới khẳng định Bắc Kinh sẵn sàng theo đuổi sức mạnh đối đầu và đơn phương hơn trong khu vực. Nhưng gần đây Trung Quốc theo đuổi cách tiếp cận mới ôn hòa hơn. Mục tiêu chủ yếu của chính sách thân thiện hơn là khôi phục hình ảnh của Trung Quốc ở Đông Á và ngăn chặn Mỹ thúc đẩy vai trò trong khu vực. Dấu hiệu đầu tiên thể hiện cách tiếp cận mới của Trung Quốc diễn ra tháng 6/2011, khi Hà Nội phái một quan chức ngoại giao đặc biệt đến Bắc Kinh để thảo luận những bất đồng trên biển giữa hai nước. Chuyến thăm mở đường cho một thỏa thuận tháng 7/2011 giữa Trung Quốc và 10 nước thành viên ASEAN về việc thực hiện Tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên Biển Đông năm 2002. Trong tuyên bố, các bên nhất trí “kiềm chế những hành động gây phức tạp hoặc leo thang các bất đồng”. Từ mùa Hè năm ngoái, các quan chức cấp cao Trung Quốc, đặc biệt các nhà lãnh đạo như Chủ tịch Hồ Cẩm Đào và Thủ tướng Ôn Gia Bảo, thường xuyên nhấn mạnh nguyên tắc chỉ đạo của Đặng Tiểu Bình khi giải quyết các xung đột trên biển của Trung Quốc là chú trọng hợp tác kinh tế đồng thời trì hoãn giải pháp cuối cùng của các tuyên bố quan trọng. Các phương tiện truyền thông của Trung Quốc cũng bắt đầu nhấn mạnh vấn đề hợp tác. Từ tháng 8/2011, Ban Quốc tế của tờ Nhân dân Nhật báo, dưới bút danh Chung Thanh, đã công bố nhiều bài viết khẳng định Trung Quốc sẽ ít đối đầu trên Biển Đông. Tháng 1/2012, Chung Thanh thảo luận tầm quan trọng của hợp tác để đạt được các kết quả cụ thể. Do tờ Nhân dân Nhật báo là tờ báo chính thức của Ban Chấp hành TW Đảng Cộng sản Trung Quốc, những bài báo như vậy có thể được coi là chủ trương của Đảng Cộng sản Trung Quốc nhằm giải thích chính sách mới đối với độc giả trong và ngoài nước. 

Thực tế, Trung Quốc có nhiều tiến bộ trong việc gạt bỏ các bất đồng. Bên cạnh sự đồng thuận với ASEAN tháng 7/2011, tháng 10/2011 Trung Quốc đạt được một thỏa thuận với Việt Nam về “các nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết các vấn đề trên biển”. Thỏa thuận nhấn mạnh tuân thủ luật pháp quốc tế, đặc biệt Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển. Từ đó, hai nước thực hiện thoả thuận bằng cách thiết lập một nhóm công tác để phân chia ranh giới và phát triển khu vực phía Nam của Vịnh Bắc Bộ gần các hòn đảo tranh chấp. Trung Quốc cũng bắt đầu hoặc đã tham dự một số hội nghị nhằm giải quyết các mối lo ngại của khu vực trước sự quyết đoán của Bắc Kinh. Ngay trước khi Hội nghị cấp cao Đông Á tháng 11/2011, Bắc Kinh loan báo sẽ thiết lập quỹ 3 tỷ NDT (476 triệu USD) về hợp tác trên biển giữa Trung Quốc-ASEAN trong các lĩnh vực nghiên cứu khoa học, bảo vệ môi trường, tự do hàng hải, tìm kiếm và cứu hộ, chống tội phạm xuyên quốc gia trên biển. Sau đó, Trung Quốc tổ chức một số cuộc hội thảo về hải dương học và tự do hàng hải ở Biển Đông và tháng 1/2012, Bắc Kinh chủ trì một hội nghị của các quan chức cấp cao ASEAN nhằm thảo luận việc thực hiện Tuyên bố ứng xử năm 2002. Phạm vi của các hoạt động hợp tác cho thấy cách tiếp cận mới của Trung Quốc vẫn chỉ là chiến thuật tạm thời. Ngoài các nỗ lực mới để thể hiện Trung Quốc sẵn sàng theo đuổi cách tiếp cận hợp tác hơn, Bắc Kinh cũng ngừng thái độ quyết đoán hơn so với giai đoạn từ năm 2009-2011. Ví dụ, từ năm 2010, các tàu tuần tiễu của Cục Quản lý Đánh bắt cá Trung Quốc ít khi bắt giữ các ngư dân Việt Nam hơn (Từ năm 2005-2010, Trung Quốc bắt giữ 63 tàu thuyền đánh cá và ngư dân Việt Nam cho đến khi họ nộp đủ tiền phạt mới trả tự do). Các tàu thuyền của Việt Nam và Philíppin có thể tiến hành thăm dò dầu khí mà không bị Trung Quốc ngăn cản. Nhìn chung, gần đây Trung Quốc không gây khó khăn cho các hoạt động thăm dò ở các vùng biển mà Việt Nam và Trung Quốc đều tuyên bố chủ quyền. Rõ ràng, Trung Quốc kiềm chế can thiệp vào các hoạt động như vậy để chứng tỏ họ đang theo đuổi lựa chọn trở thành một nước láng giềng thân thiện hơn.

Nhưng tại sao Trung Quốc theo đuổi cách tiếp cận ôn hòa hơn như vậy? Hơn bao giờ hết, Bắc Kinh nhận ra rằng cách tiếp cận quyết đoán đang ảnh hưởng không tốt đến các lợi ích chính sách đối ngoại lớn hơn của Trung Quốc. Một nguyên tắc trong chiến lược quan trọng hiện nay của Bắc Kinh là duy trì quan hệ thân thiện với các nước lớn, các nước láng giềng chung biên giới và thế giới đang phát triển. Thông qua những hành động trên Biển Đông, Trung Quốc đã phá huỷ nguyên tắc này và làm mất đi hình ảnh thân thiện ở Đông Nam Á mà Trung Quốc xây dựng được trong thập kỷ trước. Bắc Kinh đã tạo nên mối quan tâm chung giữa các nước khu vực trong việc chống Trung Quốc và khiến các nước này quay sang tìm kiếm sự ủng hộ của Oasinhtơn. Bằng cách làm đó, hành động của Trung Quốc đã tạo cơ hội cho Mỹ can dự lớn hơn trong khu vực và đưa các bất đồng Biển Đông vào mối quan hệ Mỹ-Trung. Mùa Thu năm ngoái, Trung Quốc nhận thấy họ đã đi quá xa. Hiện nay Bắc Kinh muốn tăng hình ảnh ôn hòa hơn trong khu vực để ngăn chặn khả năng hình thành một nhóm nước châu Á liên kết với nhau chống Trung Quốc, ngăn chặn ý đồ của các nước Đông Nam Á thúc đẩy hơn nữa quan hệ với Mỹ, đồng thời làm suy yếu vai trò lớn hơn của Mỹ trong các bất đồng và khu vực. Đến nay, cách tiếp cận mới của Bắc Kinh dường như đang hiệu quả, đặc biệt với Việt Nam. Trung Quốc và Việt Nam đang tăng cường quan hệ thông qua các cuộc trao đổi cấp cao thường xuyên. Các chuyến thăm của Tổng Bí thư ĐCS Việt Nam Nguyễn Phú Trọng đến Bắc Kinh tháng 10/2011 và của Phó Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đến Hà Nội tháng 12/2011 nhằm củng cố tinh thần và bảo vệ mối quan hệ song phương rộng lớn hơn không bị ảnh hưởng bởi các bất đồng lãnh thổ trên Biển Đông. Tháng 10/2011, hai nước cũng nhất trí kế hoạch 5 năm nhằm thúc đẩy thương mại song phương lên 60 tỷ USD vào năm 2015. Và tháng 2/2012, bộ trưởng ngoại giao hai nước nhất trí thành lập các nhóm công tác về các vấn đề như tìm kiếm và cứu hộ trên biển, thiết lập đường dây nóng giữa hai bộ ngoại giao, bắt đầu đàm phán việc phân chia ranh giới Vịnh Bắc Bộ. 

Mặc dù bầu không khí hiện nay trên Biển Đông có vẻ lắng xuống, nhưng Biển Đông có thể tiếp tục xảy ra những bất đồng trong thời gian tới. Bởi vì, thời tiết xấu đã hạn chế hoạt động của các tàu cá và các công ty dầu khí trên Biển Đông. Nhưng khi các hoạt động đánh bắt cá và thăm dò dầu khí trở lại trong mùa Xuân, các sự kiện có thể tăng lên. Nhưng cách tiếp cận mới của Trung Quốc khiến nhiều người hy vọng Trung Quốc sẽ tham gia các cuộc đàm phán về Bộ quy tắc ứng xử bắt buộc để thay thế Tuyên bố 2002 và tiếp tục hạn chế những hành động đơn phương. Nhưng do cách tiếp cận mới phản ánh lôgíc chiến lược, nó có thể kéo dài và cho thấy sự thay đổi chính sách đối ngoại quan trọng hơn của Bắc Kinh. Khi Đại hội Đảng lần thứ 18 đang đến gần, các nhà lãnh đạo Trung Quốc muốn một môi trường bên ngoài ổn định, vì sợ rằng một cuộc khủng hoảng quốc tế sẽ làm đảo lộn các kế hoạch thay thế lãnh đạo cuối năm nay. Và mặc dù sau khi các nhà lãnh đạo Đảng mới được bầu chọn, họ cũng sẽ tìm cách tránh các cuộc khủng hoảng quốc tế đồng thời củng cố quyền lực và chú trọng các thách thức trong nước. Cách tiếp cận ôn hòa hơn của Trung Quốc trên Biển Đông cũng cho thấy một bằng chứng nữa: Trung Quốc sẽ tìm cách tránh kiểu chính sách đối đầu như họ theo đuổi với Mỹ năm 2010. Như trong chuyến thăm Oasinhtơn hồi tháng Hai, ông Tập Cận Bình khẳng định Mỹ không cần lo sợ phản ứng của Bắc Kinh đối với chiến lược trở lại châu Á. Thay vào đó, Trung Quốc sẽ dựa vào các công cụ ngoại giao và kinh tế thông thường chứ không phản ứng quân sự trực tiếp đối với chiến lược này. Bắc Kinh cũng không thể quyết đoán hơn nếu điều đó khiến các nước Đông Nam Á tăng cường quan hệ với Mỹ. Chưa biết cách tiếp cận mới của Bắc Kinh có thể kéo dài hay không, nhưng ít nhất nó cũng thể hiện Trung Quốc có thể điều chỉnh chính sách đối ngoại của họ. Đây là dấu hiệu tốt cho sự ổn định trong khu vực. 

Tác giả Taylor Fravel là Phó Giáo sư Khoa học Chính trị-thành viên Chương trình nghiên cứu an ninh của Viện Công nghệ Massachusetts

Theo Foreignaffairs (ngày 22/3)

Viết Tuấn (gt)

 

Bản báo cáo của của Cục Nghiên cứu Quốc gia về Châu Á (NBR) của Mỹ phân tích, đánh giá những rủi ro ở vùng Biển Đông, biển Hoa Đông và Vịnh Thái Lan; các xu hướng gần đây tại các vùng biển tranh chấp - bao gồm cả tích cực và tiêu cực; các rào cản và cơ hội để thúc đẩy hợp tác. Cuối cùng, báo cáo đề xuất một loạt các kiến nghị chính sách cho các bên liên quan. Bản báo cáo được thực hiện bởi các chuyên gia quốc tế hàng đầu trong lĩnh vực này.

 

LỜI MỞ ĐẦU

Những tranh chấp chủ quyền trên biển ở khu vực Đông và Đông Nam Á là những mối đe dọa tiềm tàng lớn nhất đối với nền an ninh và lợi ích kinh tế của các quốc gia trong khu vực cũng như trên toàn thế giới. Các tuyến giao thông lớn trên biển, đặc biệt là Biển Hoa Đông, Biển Đông, và Vịnh Thái Lan, đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự lưu thông tự do của thương mại và hàng hóa. Đồng thời, các vùng biển này này cũng chứa đựng trong nó những tài nguyên sinh vật và phi sinh vật để góp phần duy trì nền kinh tế và dân số của các quốc gia yêu sách cũng như các quốc gia sử dụng các nguồn tài nguyên đó. Cùng với sự phát triển của công nghệ cho phép khoan, đào, khai thác sâu dưới nước, giờ đây tiềm năng tài nguyên của khu vực lại càng lớn. Tuy nhiên, những yêu sách chồng lấn về quyền tài phán và những nỗ lực của các quốc gia nhằm khẳng định vị trí của mình đã gây cản trở cho mọi hoạt động, từ các hoạt động thăm dò cho đến việc khai thác các tài nguyên vốn có. Do tính phức tạp của các yếu tố chính trị, lịch sử, pháp lý, kinh tế trong nước có liên quan, cho đến nay các quốc gia yêu sách vẫn chưa đi đến được một giải pháp cho những tranh chấp này. Thậm chí vấn đề này còn trở nên phức tạp hơn do áp lực ngày càng tăng về việc phát triển nguồn năng lượng trong khu vực khi mà yêu cầu của thế giới ngày càng cao.

Những nỗ lực nhằm giải quyết tranh chấp đã được thực hiện hàng thập kỷ nay, cả ở các cấp chính thức lẫn cấp Kênh II, kết quả chúng mang lại là những thỏa thuận nhằm gác xung đột chủ quyền sang một bên và cùng nhau khai thác các nguồn tài nguyên theo các hiệp định tạm thời – một phương pháp được ưu tiên để xây dựng lòng tin và hướng về phía trước. Một số hiệp định song phương ở Vịnh Thái Lan đã cho phép các dự án phát triển tài nguyên đã được triển khai. Các biện pháp xây dựng lòng tin ở Biển Đông giữa Trung Quốc và ASEAN, đặc biệt là Tuyên bố về Ứng xử của các Bên tại Biển Đông năm 2002 (DoC), cũng đã góp phần kiềm chế các căng thẳng, mặc dù không có cơ chế triển khai chính thức. Tuy nhiên các dàn xếp hiện hành cũng có những hạn chế của nó, thậm chí một vài dàn xếp đã bị trì hoãn một cách vô thời hạn.

Do đó căng thẳng vẫn tiếp tục leo thang và thường xuyên trở thành tâm điểm thời sự, đặc biệt là giữa các quốc gia yêu sách ở Biển Đông. Mối quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam có lẽ là nóng nhất trong khu vực này và nổi bật bởi hàng loạt các vụ việc xảy ra trong những năm gần đây. Những vụ việc liên quan đến các quốc gia yêu sách khác về vấn đề Trường Sa, cũng như về việc xây dựng các trạm quân sự trên các bãi và đảo san hô ở Biển Đông đã khiến cho căng thẳng đến nay vẫn tiếp diễn và có tính nghiêm trọng, đồng thời trở thành động lực cho các chương trình hiện đại hóa quân sự trong khu vực. Hệ quả là, rất ít khả năng để những quốc gia này giải quyết các bất đồng trong tương lai gần.

Nhận thức được rằng, có lẽ là trong hàng thập kỷ tới các quốc gia vẫn khó có thể đi đến được các giải pháp cho những tranh chấp quyền tài phán trên biển trong khu vực, nhưng cũng nhận thức được tầm quan trọng của các vùng biển tranh chấp đối với thương mại và tài nguyên; do đó Cục Nghiên cứu Quốc gia về Châu Á (NBR) đã nghiên cứu về những tranh chấp này và tác động của chúng, để từ đó đưa ra những cách nhìn mới về cách thức quản lý những xung đột trên trước khi có được một giải pháp về chính trị. Để làm việc này, NBR đã tập hợp một đội ngũ gồm các chuyên gia quốc tế để thực hiện một dự án ba năm có tên là “Maritime Energy Resources in Aisa: Opportunities for Joint Development” [Tài nguyên Năng lượng Biển ở Châu Á: Cơ hội cho sự Phát triển Chung] (MERA) để phân tích các diễn biến gần đây trong khu vực và cung cấp những phân tích và các lựa chọn thực tiễn cho các nhà hoạch định chính sách nhằm góp phần cải thiện các tranh chấp.

Dự án này được hỗ trợ bởi Sáng kiến An ninh Châu Á thuộc Quỹ John D. Và Catherine T. MacArthur và được dẫn đầu bởi nhà nghiên cứu trưởng là Tiến Sĩ Cliv Schofield (Trung tâm của Úc về Tài nguyên và An ninh Đại dương, Đại học Wollongong, Úc). Báo cáo này được tổng hợp từ những kết luận và quan điểm chính của đội ngũ các học giả của dự án cũng như  kết hợp ý kiến chuyên môn và phân tích của nghiên cứu trưởng, các cố vấn cấp cao, và nhân viên của NBR, những người đã tham dự hội thảo kéo dài ba ngày vào tháng 5/2011 để dự thảo báo cáo này. Mục đích của báo cáo là để tóm tắt và tập trung vào các khía cạnh liên quan đến chính sách của dự án MERA mà không bị hạn chế bởi các chính sách quốc gia hay các đòi hỏi về chủ quyền.

Tôi muốn bày tỏ sự cảm kích đối với các tác giả của bản báo cáo này vì thời gian và cống hiến mà họ đã dành ra, cũng như sự ủng hộ của họ đối với dự án MERA trong tất cả các giai đoạn. Tôi cũng muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Quỹ MacArthur vì sự ủng hộ hào phóng về mặt tài chính, mà nếu không có nó thì dự án này đã không thể thực hiện được.

Tim Cook, Giám đốc Dự án, Cục Nghiên cứu Quốc gia về Châu Á

CLIVE SCHOFIELD là Giáo sư và Giám đốc Nghiên cứu tại Trung tâm của Úc về Tài nguyên và An ninh Đại dương (ANCORS), Đại học Wollongong, Úc. Hiện ông là Ủy viên giám đốc của Hội đồng Nghiên cứu Úc và là nghiên cứu trưởng của dự án “Tài nguyên Năng lượng Biển ở Châu Á: Cơ hội cho sự Phát triển Chung” của NBR. Có thể liên lạc với ông qua địa chỉ <clives@uoww.edu.au>.

IAN TOWNSEND-GAULT là Giám đốc Viện Nghiên cứu Đông Nam Á tại Trung tâm Nghiên cứu Pháp lý Châu Á, Khoa Luật, Đại học British Columbia. Có thể liên lạc với ông qua địa chỉ <itgault@law.ubc.ca>

 

HASJIM DJALAL là thành viên Hội đồng Biển Indonesia; Cố vấn Cấp cao của Bộ trưởng Bộ Hàng hải và Ngư nghiệp, Bộ trưởng Bộ Giao thông, và Trưởng Tham mưu Hải quân Indonesia; và là thành viên của Nhóm Chuyên gia Pháp lý của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Indonesia. Có thể liên lạc với ông qua địa chỉ <hdh@cbn.net.id>.

IAN STOREY là Ủy viên giám đốc của Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (ISEAS), Singapore, và là Biên tập viên của tạp chí Contemporary Southeast Asia. Có thể liên lạc với ông qua địa chỉ <ijstorey@edu.sg>.

MEREDITH MILLER là Phó Chủ nhiệm Các vấn đề Thương mại, Kinh tế, và Năng lượng ở Cục Nghiên cứu Quốc gia về Châu Á. Có thể liên lạc với bà qua địa chỉ <mmiller@nbr.org>.

TIM COOK là Giám đốc Cao cấp của Cục Nghiên cứu Quốc gia về Châu Á. Có thể liên lạc với ông qua địa chỉ tcook@nbr.org

TÓM TẮT

Báo cáo này phân tích các kết luận từ dự án ba năm về “Tài nguyên Năng lượng Biển ở Châu Á: Cơ hội cho sự Phát triển Chung” của Cục Nghiên cứu Quốc gia về Châu Á, trong đó đánh giá các tranh chấp quyền tài phán trên biển và các cơ hội hợp tác ở Đông và Đông Nam Á.

NHỮNG KÉT LUẬN CHÍNH

Những tranh chấp lâu năm về các yêu sách quyền tài phán trên biển ở Biển Hoa Đông, Biển Đông, và Vịnh Thái Lan đe dọa sự ổn định và thịnh vượng lâu dài của các quốc gia trong khu vực Đông và Đông Nam Á. Mặc dù đã có nhiều nỗ lực đa phương trong những thập kỷ gần đây cùng với các thể chế pháp lý quốc tế như Công ước LHQ về Luật Biển, nhưng căng thẳng giữa các quốc gia yêu sách và các quốc gia sử dụng vẫn cao. Các quốc gia yêu sách vẫn chưa đi đến được một giải pháp cho những tranh chấp này do tính phức tạp của các yếu tố chính trị, lịch sử, pháp lý, kinh tế trong nước có liên quan và áp lực cần phải phát triển các nguồn năng lượng trong khu vực tranh chấp. Những mối quan ngại về quyền tiếp cận tài nguyên, cùng với việc các quốc gia yêu sách đã không thực thi được các biện pháp xây dựng lòng tin (CBM) để xoa dịu căng thẳng, đã cho thấy rằng một giải pháp chính trị khó có thể đạt được trong ngắn hạn. Ngay cả khi không có một thỏa thuận dài hạn, thì các quốc gia yêu sách vẫn cần phải có những hành động phối hợp tạm thời để xoa dịu căng thẳng, tăng cường hợp tác và lòng tin, cũng như duy trì cương vị quản lý đối với môi trường và tài nguyên biển.

Ý NGHĨA CHÍNH TRỊ

+ Các quốc gia có thể quản lý tốt hơn những căng thẳng hiện tại bằng cách thực thi các biện pháp xây dựng lòng tin, bao gồm cả các biện pháp được liệt kê trong Tuyên bố về Ứng xử của Các bên tại Biển Đông (DoC). Những biện pháp này có thể bao gồm những việc như sử dụng các đường dây nóng, thông báo trước về việc tập trận quân sự, tìm kiếm và cứu nạn chung, hợp tác về phòng, chống các mối đe dọa xuyên quốc gia, các quy định về ứng xử khi đụng độ trên biển cả, và tăng cường minh bạch về quân sự.


+  Bất kể hạn chế trong việc thực thi DoC, Trung Quốc và các nước ASEAN cần phải bắt đầu đàm phán để về một bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông để chính thức hóa các biện pháp xây dựng lòng tin và hạn chế những hành động gây mất ổn định.

+Việc quản lý tạm thời nhiều tranh chấp lãnh thổ và trên biển có liên kết với nhau ở Châu Á là cách tốt nhất để đảm bảo quyền tự do hàng hải và sự lưu thông tự do của thương mại, vốn đóng vai trò hết sức quan trọng đối với các nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới. Những dàn xếp này sẽ không phương hại tới các yêu sách trên biển của các quốc gia trong thời gian ngắn.


Không gian biển nửa kín của Biển Hoa Đông, Biển Đông, và Vịnh Thái Lan là nơi chứa đựng các tuyến giao thông trên biển (SLOC) có giá trị vô cùng quan trọng không chỉ với các quốc gia ở Đông và Đông Nam Á mà còn với thương mại toàn cầu. Hơn nữa những vùng biển này còn chứa một môi trường biển vô cùng đa dạng về sinh học, có giá trị lớn với ngành đánh cá, và do đó nó duy trì được sự sống của hàng trăm triệu người. Thêm vào đó, từ lâu đã có những dự đoán rằng những khu vực này chứa đựng trữ lượng dồi dào các nguồn năng lượng đáy biển – một tiềm năng có sức hấp dẫn vô cùng lớn trong một thời đại mà mối lo ngại về an ninh năng lượng ngày càng gia tăng. Tuy các nguồn trữ lượng năng lượng dưới đáy biển đã được phát hiện và đang trong quá trình được phát triển trong khu vực Biển Hoa Đông, Biển Đông, và Vịnh Thái Lan, nhưng tiềm năng thực sự của những khu vực này vẫn chưa được làm sáng tỏ và cũng chưa thể hiện thực hóa do các tranh chấp về quyền tài phán lãnh thổ và trên biển vẫn là những đặc tính cố hữu của những vùng biển này. Thực tế là những không gian biển này đã được định hình bởi nhiều tranh chấp chủ quyền đối với những hòn đảo, đảo đá, bãi đá ngầm có diện tích nhỏ và cách xa bờ cùng với những yêu sách chồng chéo và không phải lúc nào cũng rõ ràng về quyền tài phán.

Những tranh chấp về chủ quyền và quyền tài phán trên biển ở Đông và Đông Nam Á là những điểm nóng có nguy cơ trở thành mối đe dọa đối với hòa bình, an ninh, và cùng với nó là thịnh vượng về kinh tế trong những khu vực này. Những yêu sách xung đột nhau về chủ quyền đối với các hòn đảo và các đảo nhỏ cùng với những yêu sách chồng lấn trên biển liên quan đến chúng là nguồn gốc của sự căng thẳng trong suốt hàng thập kỷ qua. Những tranh chấp này đã dẫn đến hàng loạt các vụ việc và thậm chí là đụng độ quân sự giữa các quốc gia yêu sách trong quá khứ. Với sự dai dẳng của các tranh chấp, rất có khả năng những vụ việc đó sẽ lại tiếp diễn và có nguy cơ phát triển thành những xung đột lớn hơn.

Việc không có một giải pháp giải quyết tranh chấp đã là một cản trở lớn đối với các lợi ích tích cực mà những không gian biển và các tài nguyên của nó có thể mang lại cho các quốc gia trong khu vực. Đặc biệt là khi nhìn từ góc độ năng lượng, các tuyến biển của Châu Á là những điểm quá cảnh quan trọng – và cũng có thể là những nguồn trữ lượng dồi dào – của năng lượng hidrocacbon mà các nền kinh tế trong khu vực phải dựa vào để duy trì quỹ đạo phát triển của mình. Nhiều quốc gia trong khu vực đang bị thâm hụt nguồn năng lượng trong nước một cách nghiêm trọng và đang ngày càng phụ thuộc vào việc nhập khẩu dầu thô để đáp ứng các yêu cầu. Chẳng hạn, ở Đông Á Nhật Bản và Hàn Quốc là hai nước phụ thuộc rất nhiều vào dầu thô để đáp ứng hầu hết các yêu cầu của mình, và trong năm 2009 Trung Quốc đã phải dựa vào dầu thô nhập khẩu để giải quyết 53% các nhu cầu. Sự lệ thuộc vào dầu thô và khí của hầu hết các quốc gia ở Đông và Đông Nam Á (ngoại trừ Brunei) được dự đoán là sẽ còn tăng mạnh trong tương lai.

Hầu hết các nguồn năng lượng nhập khẩu này đến từ Châu Phi và Trung Đông và được vận chuyển bằng đường biển qua các điểm kiểm tra ở Đông Nam Á như Eo biển Malacca, Singapore, Sunda, Lombok, Makassar, và Balabac rồi mới đi tiếp qua Biển Đông và Biển Hoa Đông đến bến cảng cuối cùng. Bất kỳ cuộc đụng độ hay biểu dương lực lượng nào ở một trong những điểm này cũng có thể ảnh hưởng tiêu cực tới an ninh năng lượng trong khu vực do tàu thuyền phải điều chỉnh lại tuyến hàng hải. Do trữ lượng dầu chủ yếu của thế giới tập trung ở những nơi như Trung Đông nên các nguồn cung cấp thay thế mà không đòi hỏi việc quá cảnh qua khu vực bị ảnh hưởng là tương đối thấp (xem Hình 1-3).

Hình 1

 

Hình 2


 

Hình 3


Tranh chấp trong khu vực trải rộng từ những yêu sách chủ quyền đối với đảo và vùng biển liên kết cho đến những bất đồng về năng lực của những hòn đảo nhỏ, xa bờ, và không có người sinh sống để bổ trợ cho những yêu sách mở rộng đối với không gian biển. Những bất đồng về vai trò của các hòn đảo trong việc phân định biên giới trên biển, cũng như những bất đồng về cách thức tiếp cận hay phương pháp của việc phân định biên giới đã làm trầm trọng thêm sự phức tạp của các tranh chấp và dẫn đến sự trì hoãn của một biện pháp giải quyết cuối cùng. Những nỗ lực để giải quyết các tranh chấp này đã tiếp diễn hàng thập kỷ nay tại các cấp độ chính phủ và cấp độ Kênh II mà hầu như không đạt được mấy thành công. Trong đó, những nỗ lực trong cách tiếp cận về pháp luật quốc tế dựa trên Công ước LHQ về Luật Biển (UNCLOS), các cuộc đàm phán phân định biên giới song phương, và các hiệp định phát triển tài nguyên chung đã đóng vai trò kiềm chế hành vi của các quốc gia, đưa ra các lựa chọn thay thế, và nhìn chung đã nhấn mạnh vai trò của ngoại giao và đàm thoại thay vì sử dụng lực lượng quân sự trong việc giải quyết tranh chấp.

Tuy nhiên, vẫn có những dấu hiệu đáng báo động về căng thẳng đang gia tăng giữa các quốc gia trong khu vực Đông và Đông Nam Á về những yêu sách chồng chéo của họ. Chẳng hạn, trong nửa đầu năm 2011 đã có ít nhất là hai lần tàu hải giám của Trung Quốc quấy rầy tàu thăm dò địa chấn do chính phủ Philippin và Việt Nam làm chủ quản và buộc những con tàu này phải ngừng các hoạt động khai thác của mình. Sự kiện đầu tiên xảy ra vào tháng 3 ở Bãi Cỏ rong, một khu vực mà Philippin cho là thuộc vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) kéo dài 200 hải lý của mình. Sự kiện thứ hai xảy ra vào tháng 5 ở vùng biển gần tỉnh Phú Yên của miền trung Việt Nam. Cả Manila và Hà Nội đều đã phản đối những hành động của tàu tuần tra Trung Quốc. Một vụ việc khác đã xảy ra vào tháng 9/2010 khi lực lượng Biên phòng Nhật Bản bắt giữ thuyền trưởng của một con tàu đánh cá của Trung Quốc sau một cuộc đụng dộ ở vùng biển tranh chấp ở Biển Hoa Đông. Sự kiện này, cùng với căng thẳng ngoại giao về sau, đã làm dấy lên căng thẳng giữa các thành phần chủ nghĩa dân tộc của hai nước và làm lu mờ hơn khả năng thực thi hiệp định năm 2008 về vùng phát triển chung và dự án dầu khí. Trong khi đó, ở Vịnh Thái Lan tình trạng xấu đi của quan hệ giữa Campuchia và Thái Lan, chủ yếu do những tranh chấp trên biên giới đất liền, vẫn có khả năng lan ra biển. Những vụ việc nêu trên và một loạt các tranh cãi tương tự đã thường xuyên xảy ra trong các năm gần đây. Trong mọi vụ việc thì căng thẳng và sự mất lòng tin đều gia tăng giữa các chủ thể chính, và từ đó đặt ra nghi vấn về khả năng giải quyết những tranh chấp này trong tương lai.

Ở những nơi có những yêu sách chồng lấn về biển, những bất trắc về quyền tài phán rõ ràng đã gây phức tạp cho công tác quản lý tài nguyên đại dương. Những chính sách không được điều phối dẫn đến tranh chấp về tài nguyên mang tính hủy hoại và không bền vững, đặc biệt là đối với các tài nguyên sinh vật biển. Sự đối đầu, va chạm giữa các đoàn tàu đánh cá có thể nhanh chóng kéo các cơ quan chức năng của các quốc gia ven biển vào cuộc, đặc biệt là khi các lực lượng an ninh của quốc gia chỉ đơn thuần cho là mình đang tuần tra ở không gian biển “của mình”. Sự cạnh tranh về tài nguyên cũng có xu hướng kích động các thành phần chủ nghĩa dân tộc - tương tự những gì đã xảy ra trong các cuộc biểu tình ở Trung Quốc về việc Nhật Bản bắt giữ thuyền trưởng thuyền đánh cá của Trung Quốc. Những tư tưởng chủ nghĩa dân tộc như vậy càng làm gia tăng rủi ro cho các nhà lãnh đạo chính trị do họ có thể vì lí do nhượng bộ mà thể hiện sự yếu đuối với công dân của mình. Trong trường hợp xấu nhất, nếu căng thẳng leo thang và trở thành xung đột vũ trang thì quyền tự do hàng hải và thương mại tren biển, bao gồm việc quá cảnh các nguồn tài nguyên năng lượng quan trọng, sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực.

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây

Clive Schofield, Ian Townsend-Gault, Hasjim Djalal, Ian Storey, Meredith Miller, và Tim Cook

Bá Việt (dịch)

Quang Hưng (hiệu đính)

Báo cáo của Cục Nghiên cứu Quốc gia về Châu Á (National Bureau of Asian Research) về hợp tác trên biển ở Đông và Đông Nam Á, bản gốc tiếng Anh “From Disputed Waters to Seas of Opportunity: Overcoming Barriers to Maritime Cooperation in East and Southeast Asia

 

Bài viết của học giả Mohd Nizam Basiron đánh giá hiệu quả, tiến trình giải quyết tranh chấp Biển Đông sau khi Tuyên bố DOC được ký kết vào 2002 giữa Trung Quốc và ASEAN, thông qua đó, tác giả nhận định về khả năng đạt được giải pháp cho vấn đề trong tương lai.

Phần lớn nghiên cứu về Biển Đông đều tập trung vào những vấn đề an ninh truyền thống, địa chính trị, an ninh của các tuyến đường giao thông đường biển (SLOC) và cạnh tranh nguồn tài nguyên dầu mỏ trên khắp vùng Biển Đông. Vậy nên tầm quan trọng của Biển Đông trong vấn đề an ninh truyền thống không nên xem nhẹ. Năm trên bảy quốc gia có bờ biển với Biển Đông đang tranh chấp toàn bộ hoặc từng phần của vùng biển này. Trong khi đó Biển Đông cũng cung cấp các tuyến đường biển quan trong cho giao thông vận tải các loại hàng hóa và nguyên vật liệu - những yếu tố mà đã thúc đẩy tăng trưởng cho các nền kinh tế của khu vực Đông Á. Biển Đông đã đóng vai trò là tuyến đường thương mại quan trọng kể từ thế kỷ XV khi Trung Quốc và Ấn Độ trao đổi giao thương hàng hóa qua đây trong khi những thương buôn Arập và Iran đã sử dụng tuyến đường hàng hải trên Biển Đông này để vận chuyển hàng hóa từ thế kỷ VIII và IX.

Tuy nhiên, những nghiên cứu phần nào phiến diện về vấn đề Biển Đông thường bỏ qua chức năng cơ bản khác của nó từ góc độ an ninh phi truyền thống. Theo đánh giá trong năm 2000 vùng duyên hải ven Biển Đông có dân số khoảng 270 triệu người (Talaue-McManus, 2000), hầu hết trong số đó phụ thuộc vào Biển Đông như một nguồn mang lại thực phẩm và sự thịnh vượng kinh tế xã hội cho họ. Năm 2007 gần 7 triệu tấn cá là được khai thác tại Biển Đông, tương đương với 7% tổng sản lượng khai thác cá trên toàn thế giới. Bất cứ sự giảm sút trong việc khai thác cá tại Biển Đông có thế dẫn đến những ảnh hưởng bất lợi cho an ninh lương thực của toàn khu vực. Ngoài việc khai thác cá, Biển Đông cũng là nơi chứa đựng hơn 15% các đảo san hô của thế giới, trong năm 2000 nơi đây chiếm 12% số cây Đước của toàn thế giới (Talaue_McManus,2000)

Nhìn nhận Biển Đông một cách toàn diện cho thấy đây là nơi quan trọng đối với sự an ninh và ổn định của các nước quanh vùng biển này. Tuy vậy những điều đó lại rất mong manh do sự bình yên ở Biển Đông bị đe dọa bởi sự căng thẳng và đôi khi là bạo lực. Xung đột giữa hải quân Trung Quốc và Việt Nam tại đảo Gạc Ma vào năm 1988, sau đó vào năm 1995 Trung Quốc tiếp tục chiếm đảo Vành Khăn và gần đây hơn là cuộc đối đầu giữa tàu giám sát đánh bắt cá của Trung quốc với tàu thăm dò Impeccable của Mỹ gần đảo Hải Nam. Tất các những ví dụ trên đã nói lên mức độ căng thẳng trong các tình huống có thể xảy ra tại Biển Đông. Tuy nhiên vẫn có những điển hình về hợp tác và những nỗ lực giải quyết tranh chấp giữa các bên yêu sách. Những nỗ lực song phương như là bản ghi nhớ về hợp tác phát triển khai thác dầu và khí đốt giữa hai nước Việt Nam và Malaysia được ký vào năm 1992 đã chỉ rõ thiện chí gác tranh cãi về những tranh chấp lãnh thổ sang một bên để nhằm phát triển kinh tế (Thao,1999; Buszynski and Sazlan,2007). Tương tự, Trung Quốc, Việt Nam và Philippines cũng đã tiến hành cuộc khảo sát thực địa ba bên vào năm 2007 mặc dù đấy là nơi nằm ngay trong thềm lục địa hợp pháp của Philippines (Wain, 2010)

ASEAN, Trung Quốc và Tuyên Bố Ứng Xử Biển Đông (DOC)

Hai nhân vật chủ chốt trong nỗ lực giải quyết tranh chấp Biển Đông là ASEAN và Trung Quốc. Ngày mùng 4 tháng 11 năm 2002, ASEAN và Trung Quốc đã ký Tuyên Bố Ứng Xử giữa các bên trong Biển Đông (DOC). Mục tiêu chính của Tuyên Bố này là nhằm thúc đẩy các điều kiện thuận lợi cho những giải pháp hòa bình và lâu dài cho những tranh cãi và tranh chấp giữa các nước liên quan. Nói cách khác, Tuyên bố DOC là một bước đi vững chắc hướng tới giải quyết hòa bình tranh chấp tại Biển Đông. DOC được dựa trên cơ sở của những nguyên tắc về luật quốc tế chủ yếu là các điều khoản của Liên Hợp Quốc, Công ước Liên Hợp Quốc về luật biển (UNCLOS) và Hiệp ước hữu nghị và hợp tác của ASEAN. Những nguyên tắc quan trọng của DOC như sau:

1.   Giải quyết hòa bình các tranh chấp tại Biển Đông

2.   Tin cậy và xây dựng lòng tin lẫn nhau

3.   Tôn trọng và công nhận những điều khoản của Luật biển Quốc tế (UNCLOS) liên quan đến các vấn đề tự do hàng hải và vùng trời trên biển.

4.   Duy trì hiện trạng về tình trạng chiếm đóng hiện tại ở các đảo và bãi đá kể cả những đảo/đá chưa bị chiếm giữ ở biển Đông.

Tuyên bố DOC đề xuất đạt được những mục tiêu trên thông qua hai cơ chế đó là xây dựng sự tin cậy và lòng tin và cam kết các hoạt động mang tính hợp tác. Cơ chế đầu tiên dựa trên các họat động như là đối thoại và trao đổi quan điểm, diễn tập cứu trợ và chăm sóc người gặp nạn, tự giác thông báo các cuộc diễn tập quân sự và trao đổi thông tin trong khi cơ chế thứ hai khuyến khích các bên yêu sách thăm dò và tiếp tục hợp các tại các khu vực nhằm bảo vệ môi trường biển, phục vụ nghiên cứu biển, an toàn tàu bè và trao đổi liên lạc tại vùng biển cũng như tìm kiếm, cứu nạn và ngăn chặn tội phạm trên biển.

Mặc dù tuyên bố này đã góp phần làm giảm cường độ xung đột, tuy nhiên nó đã không hoàn toàn thuận buồm xuôi gió từ năm 2002 đến nay. Trong khoảng thời gian này những xung đột tuy nhỏ có lúc lên cao lúc dịu xuống tuy vậy đôi khi cũng có những cuộc chạm chán chết người như việc Trung Quốc bắn ngư dân Việt Nam năm 2005 và 2007.

Bất chấp những kêu gọi thực hiện kiềm chế trên biển Đông với các bên yêu sách trong tuyên bố DOC, các nước có liên quan vẫn đang cố ngấm ngầm họat động nhằm củng cố thêm những yêu sách của mình. Vào năm 2007 Trung Quốc, Phillipines và Việt Nam đã hoàn tất việc khảo sát ba bên thực địa trên biển. Cuộc khảo sát có thể được xem như là một phần của chính sách chia để trị của Trung Quốc đối với các nước có yêu sách trong ASEAN, tiếp sau đó là các chuỗi sự kiện do các nước có yêu sách khác tiến hành như chuyến viếng thăm Đảo Ba Bình của Tổng thống Đài Loan vào tháng 2 năm 2008 sau sự kiện hoàn thành đường băng trên đảo vào cuối năm 2007. Xét riêng rẽ, những sự việc này có thể được xem như những vấn đề nhỏ trong một bối cảnh lớn về an ninh trên toàn Biển Đông. Tuy nhiên nếu tổng hợp các sự kiện lại thì nó lại tạo nên mối đe đọa đối với sự ổn định vốn đã khó đạt được tại khu vực này và làm suy giảm ít nhất là tinh thần nếu không phải là những nội dung trong tuyên bố DOC.

Những suy đoán

Biển Đông mang lại cho các nước ven biển những sự lựa chọn trái ngược nhau. Một mặt là tiếp tục với hiện trạng như bây giờ, mặt khác các nước phải hướng đến một giải pháp lâu dài cho vấn đề này thông qua một số các phương thức khả thi khác mà có thể bao gồm hợp tác thiết thực trong các lĩnh vực an ninh truyền thống và phi truyền thống, các hoạt động kinh tế và môi trường, và phát triển một công cụ ràng buộc có tính pháp lý hoặc là thực thi Tuyên bố DOC. Tuy nhiên cho đến nay, một giải pháp lâu dài cho tranh chấp Biển Đông có vẻ như là viển vông. Trong khi các nước yêu sách tham gia vào các hội nghị như Hội thảo quản lý xung đột ở Biển Đông mà bắt đầu vào năm 1990 cũng như là những dự án của Chương trình môi trường của Liên Hợp quốc (UNEP) - Quỹ môi trường toàn cầu (GEFP) trong chương trình đảo ngược xu hướng suy thoái môi trường tại Biển Đông và Vịnh Thái Lan đã được khởi động từ năm 2001 đến 2009, phần lớn những dự án này đã bị bế tắc do các lập trường quốc gia mà ngăn cản sự đồng thuận  tạo ra cái mà người ta gọi là “nút thắt” (Gordian Knot) không thể tháo gỡ. Rõ ràng là có nhiều bài học được rút ra từ rất nhiều những sáng kiến được đề xuất theo kiểu điểm mạnh và điểm yếu cũng như những trở ngại để tiến tới một sự hợp tác lớn hơn và có thể đóng vai trò như kim chỉ nam cho việc giải quyết xung đột tại Biển Đông trong tương lai.

Liệu có giải pháp nào phía truớc?

Nếu như các bên yêu sách tại Biển Đông thực sự nghiêm túc về hòa bình và ổn định trong khu vực thì họ sẽ tìm ra các cách thức và biện pháp để tiền thúc đẩy Tuyên bố DOC. Tuyên bố DOC thực sự đã không tiến xa hơn một cách hiệu quả so với thời điểm ký kết vào năm 2002. Không có tiến triển trong bất kỳ chương trình nghị sự nào của tuyên bố này trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học biển, ngăn chặn ô nhiễm, bảo vệ môi trường biển và an ninh hàng hải. Nói theo một cách khác, các nước liên quan đã nói nhiều hơn là làm. Tất nhiên trừ khi là tình trạng hiện nay với những xung đột gián đoạn được chấp nhận tất cả các bên liên quan chấp nhận. Điều đó không đúng xét mức độ gia tăng căng thẳng hiện nay và khả năng bùng phát xung đột ngay cả với các hành động khiêu khích nhỏ nhất cũng như sự hiện diện của các nước không có yêu sách trong khu vực.

Đã có những lời tái kêu gọi các bên nhanh chóng đàm phán tiến một bộ quy tắc ứng xử (COC) mang tính ràng buộc sau diễn đàn ARF tại Hà Nội vào tháng 7 năm 2010. Tuy nhiên, tiến trình tiến tới COC diễn ra chậm chạm. Dựa trên kinh nghiệm xây dựng bộ quy tắc chỉ đạo nhằm thực thi DOC thì việc tiến tới một COC có thể sẽ là một chặng đường dài. ASEAN và Trung Quốc đã có 6 cuộc gặp mặt thông qua các nhóm làm việc liên hợp ASEAN-Trung Quốc trong việc thực thi Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông kể từ năm 2004 nhằm hoàn tất những hướng dẫn chỉ đạo nay nhưng chưa biết khi nào mới có thể kết thúc.

Có thể chia ra hai nhóm lạc quan và bi quan trong số các học giả nghiên cứu về giải quyết tranh chấp Biển Đông (Bateman,2010). Hiển nhiên là sẽ có những trở ngại lớn để có thể vượt qua. Bateman (2011) gợi ý rằng những trở ngại có thể bao gồm việc thiếu một thể chế hiệu quả nhằm quản lý các khu vực hợp tác đã được tán thành trong Tuyên bố DOC hay là chủ nghĩa dân tộc sâu sắc giữa các bên yêu sách, những nước mà coi vấn đề này như một tình huống “được ăn cả ngã về không” trong đó kẻ chiến thắng sẽ giành tất cả (Mak, 2008), cũng như bản chất của tranh chấp này vốn không thích hợp cho việc phân định và phân xử bằng pháp lý.

Thêm vào đó cũng có những chia rẽ rõ rệt giữa các thành viên ASEAN. Các thành viên ASEAN có thể được phân ra làm 4 nhóm về Tuyên bố DOC và giải pháp tranh chấp Biển Đông như sau:

1.   Những nước mà muốn ngay lập tức bắt tay vào xây dựng một văn bản pháp lý như Việt Nam và Philipppines

2.   Những thành viên mà ưu tiên cách tiếp cận từng bước như Malaysia và Brunei

3.   Nhưng nước không có yêu sách đối với Biển Đông mà muốn duy trì những lợi ích tích cực trong Tuyên bố DOC ví dụ như Singapore và Indonesia

4.   Những nước không có yêu sách đối với Biển Đông và không đưa ra bất cứ quan điểm gì đối với Tuyên bố DOC như Lào, Cam-pu-chia và Myanmar

Đại sứ Trung quốc tại ASEAN đã quy kết sự chậm trễ trong việc thiết lập những hướng dẫn chỉ đạo việc thực thi Tuyên bố DOC là do những toan tính trong nội bộ ASEAN về việc quyết định liệu các nước trong khối có nên tham khảo bàn bạc với nhau trước rồi sau đó mới bàn bạc với Trung Quốc hay không (Hanqin, 2009). Một ASEAN chia rẽ sẽ như từng chiếc đũa trong tay Trung Quốc cho nên một sự lãnh đạo đối với các nước thành viên trong khối là điều mang tính sống còn.  Việt Nam đã thể hiện vai trò lãnh đạo này trong suốt nhiệm kỳ là chủ tịch luân phiên của ASEAN vào năm 2010 qua việc làm nổi bật vấn đề đồng thời nỗ lực tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế nhằm tiến tới một ràng buộc mang tính pháp lý về nguyên tác ứng xử (COC). Tuy nhiên từ năm 2010 phần lớn những động lực đã đạt được nhằm tạo đà cho việc thiết lập COC dường như đã nguội đi. Minh chứng cho điều đó là tuyên bố chung giữa các nhà lãnh đạo ASEAN và Hoa Kỳ ngày 24 tháng 9 năm 2010 đã không đề cập đến vấn đề Biển Đông như một vấn đề quan trọng mà chỉ xác nhận lại các vấn đề cần thiết cho “…hòa bình và ổn định khu vực, an ninh biển, thương mại không bị cản trở và tự do hàng hải..”

Xét bối cảnh hiện nay, với sự mở rộng của hải quân Trung Quốc và khả năng gia tăng sự hiện diện của hải quân Mỹ tại Biển Đông và Đông Nam Á nói chung chắc chắn cần thiết phải có một giải pháp ”bền vững” hơn cho tranh chấp Biển Đông. Những triết lý cơ bản đằng sau Tuyên bố DOC đã tạo nên “những điều kiện thuận lợi cho một giải pháp hòa bình và dài hạn cho các tranh cãi và xung đột giữa các nước liên quan” này nên được xem xét trong bất cứ tiến trình đàm phán một bộ quy tắc ứng xử mang tính pháp lý nào khác cho Biển Đông. Đồng thời cũng cố một số những câu hỏi hóc búa mà các nước yêu sách cần phải đặt ra khi mà họ bắt đầu chặng đường tiến tới COC, đó là:

1.   Liệu COC có thay đổi hiện trạng tại Biển Đông như đã được tán thành trong Tuyên bố DOC hay là chỉ đơn thuần củng cố thêm DOC?

2.   Liệu COC có thúc đẩy hợp tác trong những lĩnh vực đã được xác định trong Tuyên bố DOC?

3.   Các cường quốc ngoài khu vực sẽ đóng vai trò gì trong quá trinh này? Vì cũng có các bên ngoài khu vực quan tâm đến Biển Đông, liệu COC cũng nên quản lý các họat động của họ hay không?

Kết Luận

Thoạt nhìn, tranh chấp gây ra từ những yêu sách biển chồng lấn tại Biển Đông theo ý kiến của một nhà phân tích đánh giá là có vẻ khá nan giải. Có quá nhiều các nước yêu sách với những tranh chấp song phương và đa phương hiện tại cũng như lợi ích của các cường quốc bên ngoài cụ thể như Mỹ. Tuy nhiên cả ASEAN và Trung Quốc đang tiếp tục những nỗ lực nhằm giải quyết các vấn đề tranh chấp tại Biển Đông. Trọng điểm của những nỗ lực này là Tuyên bố DOC đã được ASEAN và Trung quốc ký kết vào năm 2002 cũng như việc thực thi nó. Mặc dù rất nhiều người chỉ trích cho rằng DOC đã không đáp ứng được các mục tiêu trong việc hợp tác xa hơn ở Biển Đông, tuy nhiên thì Tuyên bố DOC bằng nhiều cách đã quản lý các tranh chấp đồng thời ngăn chặn việc xảy ra xung đột giữa các nước có yêu sách. Tuy nhiên xét đến lợi ích gia tăng và những tranh chấp kéo dài tại Biển Đông thì Tuyên bố DOC cần phải có một bước đi xa hơn nữa để tiến tới hợp tác thực sự. Vậy nên tiến trình này đã phát triển từng bước và cần thêm thời gian truớc khi có được một sự hợp tác thực sự bất chấp một vài tuyên bố được một vài nhà ngoại giao ASEAN đưa ra vào nửa cuối năm 2010 kêu gọi một bộ tuyên bố ứng xử (COC) chính thức tại Biển Đông.

Tài Liệu Tham Khảo

Adamrah, M. China ‘softens’ South China Sea stance. (December 14, 2010). The Jakarta Post.

http://www.thejakartapost.com/news/2010/11/24/china-%E2%80%98softens%E2%80%99-s-china-sea-stance.html

Bateman, S. (2009). Commentary on energy and geopolitics in the South China Sea by Michael Richardson.  http://www.iseas.edu.sg/aseanstudiescentre/ascdf2c1.pdf

Brown, R. & Sjostrand, S. (2001). Maritime archaeology and shipwreck ceramics in Malaysia. Kuala Lumpur: Department of Museum and Antiquities Malaysia.

Buszyinski, L. & Iskandar Sazlan. (2007). Maritime claims and energy cooperation in the South China Sea. Contemporary  Southeast Asia. Vol. 29(1).  143 - 171

Djalal, H. (2000). South China Sea island disputes. The Raffles Bulletin of Zoology. Supplement (8). 9 – 21.

Dzurek, D.J. (1996) The Spratly Islands dispute: Who’s on first? Maritime Briefing. 2(1). Durham: International Boundaries Research Unit.

Emmers, R. (2002). ASEAN, China and the South China Sea: An opportunity missed. IDSS Commentaries.  (30)

Emmers, R. (2009). Geopolitics and maritime territorial disputes in the South China Sea: From competition to collaboration? POINTER, 35(3). 1 – 5.

Emmers,    R.    Maritime    Disputes    in    the    South    China    Sea:    From    competition    to cooperation.

http://www.ceps.edu.au/userfileRalfs/file/%20Emmers%20-%20SCS-Griffith%20version.pdf

Haller-Trost,  R.  (1997).  The  contested  maritime  and  territorial  boundaries  of  Malaysia:  an international law perspective. London: Kluwer Law International

Jinming. L & Dexia, L. (2003). The dotted line on the Chinese map of the South China Sea: A note. Ocean Development and International Law, (34). 287 – 295.

Khun,  Z  &  Wang,  (2009).  The  South  China  Sea  declaration:  A  Chinese  perspective.  RSIS Commentaries No. 84. 2009.

Mak, J.N. (2008). Sovereignty in ASEAN and the problem of maritime cooperation in the South China Sea. Singapore: S Rajaratnam School of International Studies.

Prescott, J.R.V. (2010). The Spratly Islands: past and present. MIMA Bulletin, 17(1). 14 – 18 Schofield, C. (2000). A Code of Conduct for the South China Sea? Jane’s Intelligence Review. 1 – 10

Severino, R. (2010). ASEAN and the South China Sea. Security Challenges, 6(2). 37 - 47

Sichun, W & Huaifeng, R. (2003). More than a declaration: A commentary on the background and the significance of the Declaration on the Conduct of the Parties in the South China Sea. Chinese Journal of International Law. 311 – 319

Talaue-McManus.   (2000).   Transboundary   diagnostic   analysis   for   the   South   China   Sea. EAS/RCU Technical Report Series No. 14. Bangkok: UNEP

Nguyen Hong Thao (1999). Joint Development in the Gulf of Thailand. http://www.dur.ac.uk/resources/ibru/publications/full/bsb7-3_thao.pdf

Torode, G & Chan, M. China refuses to yield on Paracels. (December 12, 2010). South China Morning Post.

http://www.scmp.com/portal/site/SCMP/menuitem.2af62ecb329d3d7733492d9253a0a0a0/?vgnextoid=9f4e1947256dc210VgnVCM100000360a0a0aRCRD&ss=China&s=News

Valencia, M.J.(1985). Southeast Asian seas: oil under troubled waters. Hydrocarbon potential, jurisdictional issues and international relations. Singapore: Oxford University Press.

Valencia, M.J. (1991). Malaysia and the law of the sea: the foreign policy issues, the options and their implications. Kuala Lumpur: ISIS Malaysia

Valencia, M.J., Van Dyke, J.M.   & Ludwig, N.A.  (1997). Sharing resources in the South China Sea. The Hague: Kluwer Law International

Valencia, M.J. (2009). Tempting the dragon. Far Eastern Economic Review, 11 March 2009. http://www.nautilus.org/publications/essays/napsnet/forum/2009-2010/09020Valencia.html. (Accessed on 9 December 2010)

Wain, B. (2010). Manila’s bungle in the South China Sea. Far Eastern Economic Review, January/February2008.http://www.viet-Studies.info/kinhte/Manila_South_China_Sea.htm. (Accessed on 12 December 2010) ASEAN wants formal code. (August 6, 2010). The Straits Times

http://www.straitstimes.com/BreakingNews/SEAsia/Story/STIStory_562868.html

Mohd Nizam Basiron

Tiến Thịnh (dịch)

Đỗ Thủy (hiệu đính)

Tham luận của Mohd Nizam Basiron tại Hội thảo Quốc tế “Triển vọng Hợp tác trong các vấn đề ở Biển Đông - Prospects of Cooperation and Convergence of the Issues and Dynamics in South China Sea” ngày 31 tháng 5 năm 2011, tại Jakarta, Indonesia do Trung tâm Nghiên cứu chiến lược Châu Á, Jakarta tổ chức.

Bản gốc tiếng Anh “ASEAN and Dispute Resolution in the South China Sea

 

Trong bối cảnh tình hình Biển Đông căng thẳng, bài nghiên cứu của GS. Peter Dutton, Viện nghiên cứu Biển Trung Quốc, Học viện Hải quân Mỹ, đánh giá vai trò của các khuôn khổ và cơ chế an ninh biển hiện tại như Công ước luật biển 1982 hay Tuyên bố ứng xử 2002 trong việc duy trì hoà bình và thúc đẩy phát triển ở khu vực. Bài viết cũng đưa ra một số kiến nghị nhằm xây dựng lòng tin và đề ra tiến trình hướng tới sự ổn định lâu dài.

 

Như đã thấy trong năm 2011, Trung Quốc, Việt Nam và Philippines đều đang khẩn trương tiến hành các cuộc thăm dò và kế hoạch khoan nhằm chiếm giữ những nguồn tài nguyên hydrocarbon dưới đáy biển Đông nơi có vô số những yêu sách quốc gia chồng lấn nhau. Kết quả là, đôi khi sự va chạm trở nên nghiêm trọng và mỗi nước đều tăng cường những lập luận hùng hồn về quyền tài phán duy nhất của mình đối với việc khoan dầu trong những khu vực xác định. Mỗi nước cũng gia tăng những hoạt động hải quân trên biển Đông theo hai cách, hoặc là đưa ra những tín hiệu về quyết tâm bảo vệ quyền lợi của mình đối với các nguồn tài nguyên hoặc chí ít thì cũng được cho là như vậy.

Một số nhà quan sát cho rằng, các quan hệ kinh tế khu vực và mong muốn chung cho một môi trường bên ngoài ổn định để thúc đẩy sự phát triển kinh tế từ bên trong sẽ làm cho các cuộc cạnh tranh năng lượng và tranh chấp chủ quyền không dẫn đến xung đột[1],. Một số ý kiến lại cho rằng căng thẳng có thể kiểm soát được vì thực tế đã cho thấy rằng cho đến nay những tuyên bố hàng hải của Trung Quốc trên biển Hoa Đông và biển Đông “thường được thực thi  bởi các tàu tuần tra không trang bị vũ trang, điều này gửi đến một thông điệp rõ ràng rằng Bắc Kinh không tìm kiếm sự leo thang dẫn đến một cuộc khủng hoảng lớn vì những vấn đề này."[2] Một số khác thì lại khẳng định rằng những quan điểm trên là hão huyền.[3] Bài viết này xem xét rằng giữa những tình huống xấu đi như thế thì liệu các khuôn khổ và cơ chế an ninh hàng hải hiện tại - đặc biệt là hai trường hợp Công ước về Luật biển của Liên Hợp Quốc, và Tuyên bố ứng xử của các bên trên biển Đông - có đủ để duy trì hoà bình khu vực và thúc đẩy phát triển kinh tế khu vực hay không. Với kết luận chúng không đủ, bài viết sẽ đưa ra một số kiến nghị nhằm xây dựng lòng tin và đề ra tiến trình hướng tới sự ổn định lâu dài.

Tranh chấp chủ quyền và sự thất bại của luật quốc tế

Những tranh chấp ở biển Đông có thể được đặt trong ba phạm trù khác nhau - chủ quyền, quyền tài phán và quyền kiểm soát.[4] Phạm trù đầu tiên liên quan đến các tranh chấp của các bên về vấn đề chủ quyền trên các hòn đảo, bãi đá nổi và bãi đá chìm ở biển Đông. Hiện tại không có một khuôn khổ hay cơ chế khu vực và quốc tế tích cực nào trực tiếp giải quyết vấn đề chủ quyên. Điều này một phần vì thực tế Trung Quốc khăng khăng giữ quan điểm rằng họ sẽ chỉ giải quyết mọi tranh chấp trên biển Đông bằng đám phán và chỉ trên cơ sở đàm phán song phương mà thôi. Điều này đã loại bỏ cơ hội cho các bên tận dụng các cơ chế pháp lý và trọng tài hay các khuôn khổ khu vực và quốc tế khác nhằm hỗ trợ cho việc giải quyết hòa bình các tranh chấp.

Công bằng mà nói, liên quan đến vấn đề chủ quyền, dường như bất kỳ nước tranh chấp nào đều dường như không mấy quan tâm đến vấn đề đàm phán, phân xử hay giải quyết bằng tòa án. Những tuyên bố “chủ quyền không thể chối cãi” dựa trên những mối liên hệ lịch sử và kiểm soát chính quyền thường đến từ Việt Nam và Trung Quốc - mỗi nước đều khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.[5] Trong khi ít hùng hồn hơn, chính phủ Philippine đồng thời cũng khẳng định rằng nước này có “chủ quyền và quyền tài phán đối với các điểm địa lý” của quần đảo Kalayaans.[6] Những hồ sơ công khai phản ánh rằng Philippines căn cứ trên tuyên bố của họ dựa trên thuyết những vùng liền kề hoặc tiếp giáp với nhóm đảo Kalayaan với quần đảo chính của nó, mặc dù cơ sở của những tuyên bố này thì có độ chắc chắn ít hơn so với những tuyên bố của Việt Nam và Trung Quốc bởi vì Philippine cũng hoặc theo một cách khác, khẳng định trên những cở sở an ninh và kinh tế, rằng các đảo đã bị bỏ rơi bởi những nước khác sau Chiến tranh thế giới thứ 2, và sau đó Philippine đã thiết lập chủ quyền bằng cách tự khám phá hoặc ban hành sắc lệnh. Giống như Malaysia và Brunei, Philippine cũng khẳng định quyền kiểm soát trên Kalayaans như một sự mở rộng quyền lợi ở thềm lục địa của chính mình.[7] Trong khi một loạt các quan điểm như thế có thể phục vụ khéo léo cho các tranh cãi pháp lý, nó không thúc đẩy một môi trường thuận lợi cho đàm phán do các bên đối lập gặp khó khăn tìm kiếm một cơ sở chung để tiếp tục.

Chắc chắn rằng có những lựa chọn để phát triển một cơ chế hay khuôn khổ để giải quyết vấn đề chủ quyền. Nếu đàm phán đa phương không được chấp thuận và đàm phán song phương vẫn không đạt được kết quả, trong trường hợp đó, hiển nhiên các bên có thể phải đưa tình huống này ra Toà án Tư pháp quốc tế hoặc Toà án trọng tài thường trực. Tuy nhiên, vì một số lí do, điều này khó có khả năng xảy ra.

Về mặt chính trị, chính phủ các nước trong khu vực phải đấu tranh với chủ nghĩa dân tộc trong nước, điều đó hạn chế sự lựa chọn chính sách. Về mặt kinh tế, dường như có một nhận thức ngày càng tăng - đặc biệt là ở Trung Quốc và cũng ngày càng tăng ở Việt Nam - rằng mà những nguồn thực phẩm và năng lượng ở biển Đông ngày càng trở nên thiết yếu với sự thịnh vượng của quốc gia trong thế kỉ 21. Lo lắng này phủ bóng đen lên lập luận về chủ quyền đối với các đảo và các quyền pháp lý kèm theo nó. Thái độ thực dụng về những nguồn năng lượng trên biển Đông đặc biệt đang trở thành quy tắc tiêu chuẩn. Đây là một xu hướng đáng lo ngại vì nó cho thấy các bên trong tương lai có thể không sẵn sàng tin tưởng vào sự tiếp cận các nguồn tài nguyên dựa vào thị trường – vốn là nền tảng cho hệ thống toàn cầu. Cuối cùng, về mặt quân sự, Trung Quốc, Việt Nam và Philippine đều xem việc kiểm soát đối với các đảo là điều tối quan trọng cho an ninh quốc gia. Do đó, có nhiều cử tri trong mỗi quốc gia kiềm chế chính phủ của họ không được theo đuổi các thoả hiệp về chủ quyền. Điều này là một trong những lý do chính giải thích tại sao các chính phủ vẫn kiên quyết tránh những toà án quốc tế hay các ủy ban trọng tài nhằm giải quyết những vấn đề này. Đơn giản là có quá nhiều rủi ro.

Một lý do khác khiến các chính phủ tránh sự trợ giúp pháp lý quốc tế, đó là cơ chế luật pháp quốc tế điều chỉnh việc giải quyết các tranh chấp về chủ quyền còn chưa rõ ràng. Vì vậy, bản thân luật pháp là một nhân tố khác khiến các thoả hiệp trở nên khó khăn hơn -  thực sự nó làm trầm trọng thêm xu thế dẫn đến sự va chạm. Cụ thể, luật quốc tế khuyến khích khả năng của một quốc gia chứng tỏ một tuyên bố chủ quyền vượt trội bằng cách khẳng định sự chiếm đóng, quản trị hiệu quả và kiểm soát độc quyền. Tất cả các quốc gia biển Đông ngoại trừ Brunei có lực lượng đóng quân trên đảo, trạm theo dõi thời tiết, cơ sở vật chất để bảo vệ bờ biển, nghiên cứu khoa học, một số thậm chí đã được báo cáo là phát triển hoặc có kế hoạch phát triển hạ tầng du lịch. Tiếp theo mạch phát triển này, người Trung Quốc đã thiết lập một chính quyền thành phố trên quần đảo Trường Sa, thiết lập mạng lưới điện thoại di động, và hỗ trợ các hoạt động đánh bắt cá địa phương từ các hòn đảo. Người Malaysia thì lập ra một khu du lịch lặn trên một trong những đảo họ chiếm đóng được. Mỗi hoạt động này là một tuyên bố công khai về sự chiếm đóng và quản lý hiệu quả của một quốc gia đối với một đảo nào đó đang tranh chấp. Quả thực, để củng cố sự chiếm đóng và quản lý hiệu quả của mình, chính phủ Trung Quốc rõ ràng gần đây đã đi quá xa trong việc đặt cột mốc đánh dấu quyền chủ quyền của họ trên ba đảo nhỏ của quần đảo Trường Sa, bao gồm bãi đá ngầm Boxall (TQ: Niuchelun- nd) và bãi Amy Douglas gần Palawan. Để không mất đi yêu sách của mình trong việc quản lý và kiểm soát hiệu quả trên cùng những phần lãnh thổ đó, chính phủ Philippine đã tuyên bố rằng hải quân của họ đã tháo bỏ những cột mốc này và phái những đội tàu của họ đến để ngăn cản Trung Quốc khôi phục lại chúng. Philippine cũng gỡ bỏ một cái phao do Trung Quốc đặt ra khỏi mặt nước.[8]

Tóm lại, luật quốc tế liên quan đến chủ quyền tự nó đã tạo ra một cuộc cạnh tranh leo thang giữa các bên tranh chấp để chứng minh sự chiếm giữ và kiểm soát độc quyền trên các đảo. Bởi vì chủ quyền là một cuộc chiến một mất một còn, không bên nào có thể rút lui trong cuộc cạnh tranh và duy trì những đòi hỏi của mình. Khi những bên tham dự tăng lên, khả năng xảy ra sự cố nghiêm trọng hơn bao giờ hết. Như vậy, khuôn khổ luật quốc tế để giải quyết các tranh chấp chủ quyền hiện hành là một cơ chế không đủ để khuyến khích và tăng cường ổn định khu vực. Luật quốc tế cũng đưa ra các giải pháp đôi bên cùng có lợi khác dựa trên chia sẻ chủ quyền hay chủ quyền với những quyền quốc tế bất khả xâm phạm. Các bên sẽ thực hiện tốt việc thăm dò những lựa chọn kiểu đôi bên cùng có lợi này như là con đường đi dến những giải pháp tạm thời hoặc thậm chí là lâu dài cho vấn đề chủ quyền trên quần đảo Trường Sa.

Khuôn khổ tài phán biển của UNCLOS 

Dạng tranh chấp thứ hai liên quan tới thẩm quyền trong không gian biển và các nguồn tài nguyên trên biển, trong biển và dưới đáy biển. Có lẽ điều quan trọng nhất trong khuôn khổ an ninh hàng hải đối với biển Đông là Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS). UNCLOS đã được đàm phán trong suốt những năm 1970 và đầu những năm 1980 để đáp ứng một số xu hướng gây bất ổn trong lĩnh vực hàng hải, tất cả đều vẫn còn hiện diện trong khu vực biển Đông ngày nay bất chấp việc các nước ven biển Đông đã tham gia vào Công ước toàn cầu này.

Một xu hướng như thế là khả năng ngày càng tăng của các quốc gia trong suốt thế kỉ 20 để khai thác các nguồn tài nguyên sinh vật và phi sinh vật của một phần ngày càng mở rộng của những vùng duyên hải. Hoa Kỳ đã tiến hành hoạt động đầu tiên của một quốc gia trong kỷ nguyên hiện đại để thực hiện các quyền tài phán mở rộng trên biển với tuyên bố của Truman năm 1945, tuyên bố mà đã có kết quả ngoài ý muốn trong các thập kỉ tiếp theo trong việc dấy lên một cuộc chạy đua toàn cầu nhằm kiểm soát các nguồn tài nguyên biển thông qua một loạt các cơ chế cạnh tranh, bao gồm những tuyên bố của một số nước về chủ quyền quốc gia đầy đủ trong 200 hải lý tính từ bờ biển của họ. Vì nhiều lý do, nhiều nước khác mà đơn cử là không ít các cường quốc hàng hải không chấp nhận điều này do mất đi các quyền hàng hải quốc tế. Khi nhà nước có chủ quyền hoàn toàn đối với hơn 1/3 đại dương trên thế giới ngụ ý rằng một cơ chế chủ quyền hàng hải hoàn toàn sẽ được thiết lập.

Các tuyên bố của Truman cũng đã tạo ra các khu bảo tồn thuỷ sản ở biển sâu dưới quyền tài phán độc quyền của Hoa Kỳ với mục đích quản lý và bảo vệ những đàn cá vì lợi ích của người dân Mỹ. Như những gì đã xảy ra sau tuyên bố thềm lục địa, những điều kế tiếp là một mớ những yêu sách quốc gia về độc quyền nguồn tài nguyên mà cũng làm gia tăng các cuộc va chạm trên biển vì ở một số nơi, chẳng hạn như biển Đông, một chế độ pháp lý có thể không phải là giải pháp tốt nhất để mang lại một trật tự trong khu vực mà đã từng được xác nước ven biển xem là một khu vực hàng hải chung.

Trong một nỗ lực để mang lại trật tự và giảm thiểu va chạm, các cuộc đàm phán dưới sự bảo trợ của Liên Hợp Quốc được bắt đầu vào những năm 1950, đã mang lại một bộ công ước về luật biển sơ bộ nhưng rõ ràng là chưa đầy đủ tại Geneva vào năm 1958. Các cuộc đàm phán kéo dài vẫn tiếp tục, kết quả là vào năm 1982 trong một loạt các cuộc thương lượng lớn đã hình thành khuôn khổ UNCLOS cho việc ổn định các xu hướng nguy hiểm do tuyên bố Truman gây ra và vẫn tồn tại ở khu vực biển Đông ngày nay. Bốn khía cạnh trong công ước này đã được thiết lập để mang lại trật tự hợp lý trong việc “chiếm đất” trên biển và cân bằng các lợi ích hợp pháp của các quốc gia ven biển với những lợi ích hợp pháp tương tự của các cường quốc hàng hải.

Đường cơ sở.  Khía cạnh đầu tiên là pháp điển hoá các quy tắc liên quan đến đường cơ sở, các ranh giới tại hoặc gần bờ biển giữa lãnh thổ thuộc hoàn toàn chủ quyền của nước ven biển và các vùng biển mở rộng ra ngoài khơi của họ. Mục đích của một hệ thống các đường cơ sở thống nhất là hạn chế việc mở rộng thẩm quyền của quốc gia ven biển đối với các đại dương. UNCLOS điều 5 và 7 xác định rằng các đường cơ sở thường có đường nước thấp dọc theo bờ biển. Điều 7 cung cấp một tập hợp các tình huống rất hạn chế cho phép các quốc gia ven biển đi chệnh khỏi quy định thông thường, chủ yếu là nơi có tồn tại các vịnh nhỏ ven biển thụt sâu vào - như vịnh hẹp ở NaUy, hoặc các hải đảo chạy dọc theo khu vực lân cận của bờ biển - chẳng hạn như những đảo chạy dọc theo phía bờ biển tây nam của bán đảo Triều Tiên. Điều 47 cho phép các quốc gia gồm toàn bộ là các hòn đảo mà không có lãnh thổ đất liền - được gọi là các quốc gia quần đảo - được vẽ đường cơ sở xung quanh rìa ngoài xa nhất cho các đảo của họ và yêu sách một vị thế đặc biệt để đạt được và thực thi một mức độ quyền chủ quyền cao hơn đối với những vùng nước kèm theo. Mặc dù về cơ bản trên toàn cầu các nước có đủ tiêu chuẩn này là tương đối it, có hai nước giáp biển Đông đủ tiêu chuẩn này: Philippine và Indonesia. Tất nhiên, Malaysia không đủ tiêu chuẩn vì một phần lãnh thổ nước này là lục địa. Một điểm then chốt về cơ chế các đường cơ sở là chúng được vẽ dựa hoàn toàn vào địa lý của các quốc gia ven biển. Cơ chế dựa trên địa lý này được thiết lập nhằm đảm bảo trật tự trong quá trình thiết lập các yêu sách biển bằng cách thể hiện chúng từ một tập hợp đồng bộ các đặc điểm mở và không thể phủ nhận. Như vậy, không có ngoại lệ phi địa lý đối với việc vẽ các đường cơ sở mà được UNCLOS hoặc luật quốc tế nói chung công nhận. 

Các đường cơ sở của Trung Quốc. Mặc dù các đường cơ sở của Trung Hoa đại lục đều được thể hiện theo hình thù địa lý ven biển của nước này (đường hình chữ U trong biển Đông sẽ được bàn riêng), ở một vài nơi ngoài khơi, các đường cơ sở của Trung Quốc vượt quá mức cho phép của UNCLOS và luật án lệ quốc tế, thâu tóm một cách không chính đáng từ những vùng hoàn toàn thuộc quyền sử dụng quốc tế hơn 2500 hải lý vuông của không gian đại dương chủ yếu ở biển Hoa Đông. Điều quan trọng với vùng Biển Đông là Trung Quốc đã vẽ các đường cơ sở thẳng xung quanh quần đảo Hoàng Sa trong một hành vi vi phạm rõ ràng các quy tắc của UNCLOS rằng chỉ các quốc gia quần đảo mới có thể đưa ra một tuyên bố như vậy. Như vậy, mặc dù tiêu chuẩn quốc tế được thể hiện trong UNCLOS đã có một số tác động vào cách thức Trung Quốc vẽ đường cơ sở của họ như thế nào dọc theo đường bờ biển, chúng đã không ngăn chặn được Trung Quốc đưa ra những đòi hỏi quá mức hoặc rõ ràng không phù hợp trong một số trường hợp khác.

Các đường cơ sở của Việt Nam. Trong khi từ phía bắc bờ biển đến phía nam, Việt Nam vẽ các đường cơ sở mở rộng từ các hải đảo, chứ không phải là các đường thuỷ triều thấp thuộc bờ biển của họ, tính chất quá mức của những tuyên bố này ở phía nam và tây nam phần bờ biển của nước này thực sự là khác thường. Việt Nam dường như có ý bao gồm hơn 27.000 hải lý vuông mà lẽ ra cần được mở cho quốc tế sử dụng. Trong khi Việt Nam sử dụng các đặc điểm địa lý để mô tả các đường cơ sở của mình, nước này làm như vậy theo một cách thức mở rộng quá mức theo những quy định của UNCLOS như đã được làm rõ trong luật án lệ quốc tế. Như vậy, cũng giống như trong trường hợp của Trung Quốc, quy chế các đường cơ sở do UNCLOS xác lập đã không đóng vai trò kiềm chế với Việt Nam.

Các đường cơ sở của Indonesia và Philippine. Là hai quốc gia quần đảo trong khu vực, Indonesia và Philippine được quyền gộp phần lớn vùng nước vào các đường cơ sở của họ và khẳng định quyền chủ quyền trên đó. Mặc dù khi được vẽ lần đầu vào năm 1960, hệ thống các đường cơ sở thẳng của Indonesia không hề phù hợp với luật quốc tế, trong suốt các cuộc đàm phán UNCLOS vào những năm 1970 Indonesia đã vận động thành công để hệ thống của họ được chấp nhận cho tất cả các quốc gia bao gồm hoàn toàn các đảo. Ngày nay, các đường cơ sở của Indonesia đã được chấp nhận như một quy chuẩn. Tuy nhiên, Philippine từ lâu đã duy trì đường cơ sở mở rộng kế thừa từ thời thuộc địa của Tây Ban Nha và không đặt các đường cơ sở của họ phù hợp với UNCLOS cho đến tận tháng 3/2009 như một phần nỗ lực của họ nhằm đáp ứng hạn nộp hồ sơ cho Ủy ban thềm lục địa UNCLOS. Nói cách khác, để xác định thềm lục địa của mình, Philippine đầu tiên phải xác định các đường cơ sở để từ đó mới có thể vẽ ranh giới thềm lục địa.

Trong thời gian dẫn đến tuyên bố các đường cơ sở của Philippine, Trung Quốc được cho là đã gây áp lực đáng kể với các thành viên của Quốc hội Philippine. Áp lực này nhằm thuyết phục Quốc hội Philippine thông qua một dự luật đường cơ sở không bao gồm quần đảo Trường Sa bên trong các đường cơ sở của quần đảo Philippine. Điều Trung Quốc muốn hơn là Philippine vẽ các đường cơ sở xung quanh các đảo “chính” và xem Trường Sa mà Philippine yêu sách như một “quy chế đảo riêng biệt” bên ngoài quần đảo chính và do vậy bên ngoài cả các đường cơ sở quần đảo. Có lẽ, Trung Quốc đã tìm cách để tránh một tình huống mà trong đó Philippine tuyên bố quần đảo Trường Sa có chủ quyền lãnh thổ không thể tách rời khỏi Philippine khi vẽ các đường cơ sở bao gồm cả các đảo chính của Philippine và cả nhóm đảo Kalayaan (Trường Sa). Vì những lí do rõ ràng, Trung Quốc nhạy cảm với những khó khăn chính trị ngày càng gia tăng mà chính phủ Philippines sẽ phải đối mặt trong việc đàm phán về quyền lãnh thổ, việc mà luật pháp Philippine cho rằng “cốt lõi” hay không thể tách rời khỏi lãnh thổ của họ.

Cho dù vì áp lực của Trung Quốc hay một số lí do khác, sau một thời kì khó khăn chính trị, Quốc hội Philippine thực sự đã ban hành một dự luật các đường cơ sở trong đó loại yêu sách Kalayaan của họ trong quần đảo Trường Sa khỏi yêu sách quần đảo của họ và coi nhóm đảo đó như một tập hợp đảo riêng biệt. Điều này đã làm cho một số người ở Philippine tức giận rằng chính phủ của họ đã không chống lại nổi áp lực của Trung Quốc, sự oán giận mà đã đổ thêm dầu vào nỗi thất vọng mang tính chủ nghĩa dân tộc với sự can thiệp lúc đó của Trung Quốc trong những nỗ lực của Philippine nhằm thực hiện các cuộc điều tra về Bãi cỏ rong (A: Reed Bank, TQ: Liyue Tan, Lile Tan -nd).

Tóm lại, hệ thống các đường cơ sở được thiết lập theo UNCLOS đã không đủ để ngăn chặn ít nhất là hai nước mấu chốt ở biển Đông - Việt Nam và Trung Quốc - khỏi đưa ra những yêu sách biển quá mức, bất hợp pháp và đã không đủ để loại bỏ va chạm giữa các quốc gia. Tuy nhiên, Việt Nam, như sẽ chứng minh dưới đây, nhìn chung đã tuân thủ tốt hơn các quy tắc về phân định biên giới biển theo UNCLOS hơn là Trung Quốc.

Vùng đặc quyền kinh tế. Chuyển sang các nguồn tài nguyên ở biển Đông, có lẽ khuôn khổ UNCLOS quan trọng nhất được thiết lập nhằm đạt tới an ninh và ổn định hàng hải là quy chế của vùng đặc quyền kinh tế (EEZ). Vùng EEZ được thiết lập để giảm thiểu các tranh chấp đối với nguồn tài nguyên ở những dòng nước và đối với nguồn tài nguyên dưới đáy biển ra đến 200 hải lý tính từ đường cơ sở của quốc gia ven biển. UNCLOS cung cấp cho các quốc gia ven biển quy định quyền pháp lý để quản lý, bảo vệ và bảo tồn các nguồn tài nguyên sinh vật và phi sinh vật trong khu vực này. Việc quy chế EEZ thay thế quy chế thềm lục địa để quản lý đáy biển ra đến 200 hải lý là một thực tế thường bị xem nhẹ. Vì vậy, những điều khoản thềm lục địa UNCLOS chỉ có tầm quan trọng thực tiễn trong các trường hợp mà theo đó một quốc gia có thể đòi hỏi các quyền thềm lục địa vượt ngoài 200 hải lý - được biết như là thềm lục địa mở rộng.

UNCLOS khá rõ ràng rằng một tuyên bố quyền tài phán quốc gia đối với các nguồn tài nguyên phải được dựa trên địa lý của quốc gia ven biển. Biểu hiện của Trung Quốc về tuyên bố quyền tài phán hàng hải của họ trong biển Đông theo đường chữ U táo bạo mà không có bất cứ sự xem xét dù là trực tiếp hay thậm chí là gián tiếp nào về đặc điểm của hình thù địa lý duyên hải hay thậm chí là cả đường cơ sở của họ vì vậy là một sự vi phạm các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế và các qui chuẩn về cách hành xử được kỳ vọng của các quốc gia như đã nói rõ trong quy chế đường biên giới biển do UNCLOS lập ra. Tuyên bố hình chữ U của Trung Quốc do vậy là một trong hai nguồn chính của các vụ tranh chấp và va chạm giữa các quốc gia trên biển Đông - còn lại là các tranh chấp khác đang diễn ra về chủ quyền đối với các đảo biển đã được nói ở trên.

Ý nghĩa cụ thể của tuyên bố đường hình chữ U của Trung Quốc lảng tránh sự xác định rõ ràng, dường như đây là một phần chính sách nhà nước mà Trung Quốc lựa chọn liên quan đến yêu sách này.  Bốn sự giải thích thay thế khác hay có lẽ là trùng hợp nhau đã thể hiện ý nghĩa quyền tài phán của đường này: đối với một số người nó thể hiện chủ quyền hay quyền chủ quyền của Trung Quốc, đối với một số khác nó thể hiện một vùng với các quyền mang tính lịch sử quản lý khu vực, đối với một số khác nữa nó là một sự thể hiện các lợi ích về an ninh, và cuối cùng đối với một số người nó là một vùng mà trong đó Trung Quốc sở hữu tất cả các đảo và bất kỳ quyền về không gian vùng nước nào mà các đảo này có thể yêu sách. Chỉ có lời giải thích cuối cùng có giá trị theo UNCLOS, và thậm chí điều đó còn bị suy yếu bởi tuyên bố của Trung Quốc trong luật trong nước của Trung Quốc rằng họ có thêm các quyền lịch sử lâu đời đối với các vùng nước mà vượt ra ngoài những gì mà luật pháp quốc tế hiện nay công nhận. Thêm vào đó, Trung Quốc tuyên bố trong một bức thư gửi cho Uỷ ban Liên Hợp Quốc về Giới hạn của thềm lục địa rằng quần đảo Trường Sa “hoàn toàn có quyền có lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa.”[9] Tuyên bố về các quyền đối với EEZ và thềm lục địa đối với Trường Sa cũng đã vi phạm luật quốc tế ở chỗ có rất ít các đảo nhỏ, bãi ngầm và bãi cát nào mà tạo nên quần đảo Trường Sa có quyền hưởng các vùng đó do chúng không thể hỗ trợ việc sinh sống của người dân bản địa hoặc duy trì hoạt động kinh tế của chính mình.

Tuyên bố hình chữ U của Trung Quốc - một trong hai nguồn chính của các vụ tranh chấp và va chạm giữa các quốc gia trên biển Đông

Mặt khác, tận dụng quá trình mà theo đó các quốc gia có thể tạo ra những tuyên bố thềm lục địa vượt quá 200 hải lý, Việt Nam và Malaysia đã tuyên bố công khai vùng đặc quyền kinh tế của họ trên biển Đông cộng thêm việc mở rộng các quyền thềm lục địa mà hoàn toàn tuân thủ các điều khoản của UNCLOS, tất nhiên ngoại trừ việc vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam bắt đầu quá xa ra biển do các đường cơ sở không phù hợp của nước này. Philippine và Indonesia mỗi bên cũng duy trì một tuyên bố vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý thích hợp xung quanh các đường cơ sở quần đảo của họ, được xác định theo địa lý. Không giống như Trung Quốc, bốn nước yêu sách chủ quyền này đối với một số hoặc tất cả các đảo Trường Sa đã hoàn toàn kiềm chế không tuyên bố vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa mở rộng mà các điểm đảo này không được quyền hưởng.

Vì vậy, rõ ràng là ngoài cuộc đấu tranh chủ quyền trên các đảo, va chạm liên quan đến các quyền đánh bắt cá và cạnh tranh đối với nguồn tài nguyên hydrocarbon cần bổ sung thêm một cuộc đấu tranh về khuôn khổ qui phạm pháp luật mà theo đó các tranh chấp sẽ được giải quyết. Liệu UNCLOS, với tư cách là một quy chế quốc tế được chấp nhận rộng rãi và được phát triển để gìn giữ sự ổn định hàng hải trong cuộc cạnh tranh các nguồn tài nguyên biển có nên điều phối việc giải quyết các tranh chấp hay không? Hay cơ sở giải quyết tranh chấp nên là quan điểm của Trung Quốc về những quyền lợi lịch sử và sức mạnh đang ngày càng gia tăng của họ để thực thi chúng? Tuy nhiên tại thời điểm này, các điều khoản phân bổ nguồn tài nguyên của UNCLOS như một quy chế đảm bảo an ninh hàng hải và sự ổn định đã không thành công ở biển Đông.

Các quyền hàng hải. Quy chế thứ ba của UNCLOS mang bình luận ngắn gọn, vì nó liên quan đến phạm trù của các cuộc tranh chấp bao hàm việc kiểm soát đối với các vùng nước ở biển Đông. Trong suốt quá trình các cuộc đàm phán dẫn đến bản Công ước cuối cùng, đã có bất đồng giữa các quyền lợi hợp pháp của các quốc gia ven biển trong việc bảo vệ và phát triển bền vững các nguồn tài nguyên sinh vật và phi sinh vật ngoài khơi và quyền tự do hàng hải ở những vùng biển sâu khác mà cho phép các nước thực hiện tự do thương mại và để bảo vệ lợi ích an ninh của họ. Chế độ vùng đặc quyền kinh tế đã được soạn thảo như một thoả hiệp được cân bằng một cách thận trọng giữa hai lợi ích hợp pháp. Nó bảo vệ các quyền đối với các nguồn tài nguyên bằng cách cho phép các quốc gia có chủ quyền đặc quyền và quyền tài phán đủ để họ quản lý nhưng không phải là chủ quyền hoàn toàn, nghĩa là cho phép các quốc gia ven biển can thiệp vào quyền tự do hàng hải của các nước khác khi họ dùng sức mạnh hải quân để theo đuổi các lợi ích an ninh của mình. Bởi vậy, sự tự do hàng hải, tự do hàng không và một số hoạt động hợp pháp lâu đời khác trên vùng biển quốc tế, bao gồm cả tự do quân sự, đã được duy trì một cách cụ thể bởi tất cả các quốc gia trong khuôn khổ quyền tài phán của UNCLOS tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Việc Mỹ và Trung Quốc đấu tranh về sự cân bằng này là sự phản ánh thất bại của UNCLOS trong việc đáp ứng đầy đủ tiềm năng của nó như một cơ chế ổn định hàng hải liên quan đến việc cân bằng quyền lợi của các quốc gia ven biển và tự do quốc tế trong vùng đặc quyền kinh tế.

Từ những phân tích trên đây có thể thấy rõ rằng chưa có được sự tuân thủ ở cấp độ toàn cầu về bộ quy tắc của UNCLOS trong việc vẽ các đường biên giới phân định biển mà phân bổ các quyền lợi tài nguyên cũng như tự do hàng hải cho mục đích quân sự. Việc ký kết các hiệp định và công ước không đồng nghĩa với việc tuân thủ các quy định và các chuẩn mực mà chúng đề ra. Cần phải có những nỗ lực kiên trì để tăng cường quy chế UNCLOS và khuyến khích việc áp dụng nó trên toàn cầu.

Tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên biển Đông

Bởi vì khuôn khổ qui chuẩn do UNCLOS đưa ra không đủ để xây dựng sự ổn định hàng hải trong các mối quan hệ ở biển Đông, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã có những bước cố gắng đưa ra một khuôn khổ chính trị cho sự ổn định. Trong suốt những năm cuối thập kỷ 1990 và những năm bắt đầu thiên niên kỷ mới, ASEAN đã tìm cách để giảm thiểu căng thẳng và thúc đẩy một số nguyên tắc thành lập thông qua một sáng kiến của Indonesia. Cụ thể, ASEAN đã tìm cách “thúc đẩy hoà bình và ổn định khu vực thông qua tuân thủ công lý và quy định của pháp luật trong các mối quan hệ giữa các quốc gia trong khu vực này... và đẩy nhanh sự tăng trưởng kinh tế của khu vực.”[10] Nhu cầu về một quá trình như vậy là rõ ràng sau hai thập kỉ va chạm và thậm chí xung đột trên biển Đông, đáng chú ý nhất là cuộc chiến giữa Trung Quốc và Việt Nam Cộng hoà ở quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974, sự kiện bãi đá ngầm Chữ Thập (A: Fiery Cross Reef, TQ: Yungshu Jiao -nd) giữa Trung Quốc và Việt Nam năm 1988 và cuối cùng là sự kiện Đá Vành Khăn (A: Mischief, TQ: Meiji Jiao -nd) giữa Trung Quốc và Philippine năm 1995. Cũng vào năm 1995 này, Việt Nam đã ký Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác và sau đó trở thành một thành viên của ASEAN, do đó khối Đông Nam Á thống nhất về mặt chính trị đối lập với những gì được nhận thức rộng rãi ở Đông Nam Á như là cách cư xử mang tính phá hoại đầy nguy hiểm của Trung Quốc. Trung Quốc thoái lui vào năm 1995 và 1996 sau khi nhận thấy bản thân mình không giành được cái nhìn thiện cảm của một nhóm đoàn kết hiện tại của các quốc gia Đông Nam Á và sau khi Trung Quốc đã quá thất vọng về giải pháp cho cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan với Mỹ. Hoàn cảnh đã chín muồi cho tất cả các bên tìm đến một cơ chế mang lại sự ổn định cho biển Đông.

Phải mất đến gần 7 năm, nhưng trong năm 2002 các chính phủ của các nước thành viên ASEAN và Trung Quốc đã tham gia vào Tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên biển Đông (DOC). Thoả thuận này có năm tuyên bố cơ bản:

Tuyên bố khẳng định lại cam kết của các bên đối với luật quốc tế, bao gồm cả UNCLOS; cam kết các bên sẽ tìm cách nhằm xây dựng sự tin cậy và lòng tin giữa họ, dựa trên sự bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau; cam kết các bên sẽ tôn trọng quyền tự do hàng hải và hàng không trên biển Đông; cam kết các bên sẽ giải quyết các tranh chấp lãnh thổ và quyền tài phán mà không đe doạ hay sử dụng vũ lực; và cam kết các bên sẽ kiềm chế không đưa người ra sinh sống trên những đảo hiện không có người cư trú.

Mỗi tuyên bố sẽ được xem xét để quyết định xem khuôn khổ chính trị này có đủ để mang lại sự ổn định ở mức độ nào.

UNCLOS. Như đã chứng minh ở trên, việc cam kết tuân thủ các điều khoản và quy phạm pháp luật trong UNCLOS đã minh chứng một sự thất bại ở cả khía cạnh pháp lý lẫn chính trị vì tuyên bố của Trung Quốc vê quyền tài phán ở biển Đông dựa trên khái niệm của các quyền lợi mang tính lịch sử hơn là dựa trên khuôn khổ địa lý được đưa ra bởi Công ước. ASEAN đã không thực hiện được bất cứ tiến trình thêm nào thông qua những phương cách chính trị để thay đổi cách cư xử của Trung Quốc về điểm này so với Mỹ trong việc khuyến khích tuân thủ quy chế thẩm quyền trên biển.

Nói cách khác, cần lưu ý rằng mỗi hành động quốc gia của một nước ASEAN về lĩnh vực hàng hải trong thập kỷ qua nhìn chung là phù hợp với các điều khoản của UNCLOS. Philippine đặc biệt đã từ bỏ các tuyên bố lịch sử của mình về vấn đề vùng nước quần đảo của họ để ủng hộ hệ thống dựa trên địa lý mà UNCLOS quy định. Điều này có thể ít nhất là một phần do mong muốn liên kết các nguyên tắc và quy chuẩn trong ASEAN để mang lại lợi ích từ một sự thống nhất chính trị mà một sự liên kết như thế có thể thúc đẩy. Như vậy, ít nhất liên quan đến các quyết định của Philippine, bản DOC đã thành công trong việc thúc đẩy các quy phạm pháp luật của UNCLOS như một cơ sở để tạo nên các tuyên bố có thẩm quyền, hơn là những tuyên bố chỉ mang tính lịch sử.

Tự do hàng hải. Về cam kết của DOC nhằm nêu cao các quyền tự do hàng hải quốc tế trên biển Đông có một động lực ngầm khá thú vị ở khu vực Đông Nam Á. Ngay cả khi Philippine, Việt Nam, Singapore và các nước khác tìm cách để thu hút sức mạnh hải quân Mỹ gần hơn đến khu vực này, có một xu hướng đáng chú ý nhằm tính toán lại sự cân bằng về quyền và lợi ích của các quốc gia ven biển trong khu vực đặc quyền kinh tế theo các cách thức mà đòi hỏi phải có sự cho phép của các quốc gia ven biển trước khi một thế lực bên ngoài nào có có thể tiến hành việc tập trận hay các hoạt động khác trong vùng biển thẩm quyền tài phán của họ. Trong khi điều này là mối quan ngại đáng kể tới Mỹ - vì nó làm suy yếu nguồn cội chính của sức mạnh khu vực của Mỹ - điều này dường như nhìn chung không gây quan ngại lắm ở nhiều nước Đông Nam Á. Có thể thấy điều này qua tuyên bố về cách hiểu đi kèm với thông báo gia nhập UNCLOS của Thái Lan, trong đó nêu:

Chính phủ vương quốc Thái Lan hiểu rằng, trong vùng đặc quyền kinh tế, việc hưởng tự do hàng hải theo các quy định có liên quan đến Công ước không bao gồm bất cứ sự sử dụng không hoà bình nào mà không có sự đồng ý của quốc gia ven biển, cụ thể là những hoạt động tập trận quân sự hay những hoạt động khác mà có thể ảnh hưởng đến quyền lợi hoặc lợi ích của quốc gia trên biển....[11]

Chỉ có Thái Lan cùng với Malaysia và Trung Quốc là các quốc gia khu vực có tuyên bố công khai như vậy, nhưng các cuộc đối thoại riêng tư chỉ ra có thể có thậm chí nhiều hơn sự đồng thuận chung giữa các nước Đông Nam Á về vấn đề này. Điều rõ ràng từ các cuộc đối thoại và từ cách cư xử của các quốc gia Đông Nam Á là đối tượng của mối quan tâm hiện tại không phải là sức mạnh hải quân của Mỹ, mà là khả năng quân sự đang lớn mạnh của Trung Quốc. Nói theo cách khác, nếu xu hướng hiện nay dẫn đến khu vực ngày càng hạn chế các hoạt động hải quân trong khi Mỹ tiếp tục thực hiện tự do hàng hải trên toàn biển Đông vì tất cả những mục tiêu quân sự - trừ trường hợp gặp xích mích với Trung Quốc - trong các vùng biển tranh chấp trên biển Đông thì Trung Quốc có thể bắt đầu phải nếm cách xử sự tương tự từ các láng giềng của mình theo cách mà nước này đã đối xử với Hải quân Hoa Kỳ.

Các biện pháp xây dựng lòng tin. Cam kết trong DOC nhằm thực hiện các biện pháp xây dựng lòng tin có thể được ghi nhận một trong những thành công của nó đó là Hiệp định phân định lãnh thổ trên biển, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ [Hiệp định Vịnh Bắc bộ] giữa Việt Nam và Trung Quốc mà có hiệu lực vào tháng 6 năm 2004. Hiệp định này phân định biên giới trên biển giữa Trung Quốc và Việt Nam trong Vịnh Bắc Bộ mà cho đến nay là biên giới duy nhất trên biển được phân định của Trung Quốc và thiết lập một khu đánh bắt cá chung theo một thoả thuận đi kèm. Khu đánh bắt cá chung này bao gồm hầu hết các khu đánh bắt đang hoạt động trong vùng và kéo dài đến tận năm 2019, và sau đó sử phần lớn không gian này sẽ quay về dưới sự kiếm soát của Việt Nam.[12] Hiệp định đã quy định các đội tuần tra đánh bắt cá chung, đôi khi được thực hiện, nhưng có lẽ không có sự nhiệt tình mấy từ cả hai bên.

Sự đệ trình chung lên Uỷ ban ranh giới thềm lục địa về các đường biên giới biển dự kiến của Việt Nam và Malaysia trên biển Đông cũng cần được ghi nhận như là một dấu hiệu của việc xây dựng lòng tin song phương giữa hai quốc gia này. Việc Philippine và Brunei không thể tham gia với hai nước này có thể phản ánh mức độ phát triển của luật biển của họ. Một khi tiến trình bổ sung hoàn tất quy trình làm luật trong nước, hợp tác quốc tế bổ sung giữa bốn quốc gia ASEAN này trong đệ trình quốc tế của họ có thể trở nên rõ ràng. Đương nhiên điều này sẽ phản ánh cách thức đồng thuận mà ASEAN ưa thích.  Điều đó cũng có thể mang lại sức nặng trong đàm phán với Trung Quốc vì Trung Quốc rõ ràng sẽ trở thành nước duy nhất còn lại dựa vào các tuyên bố của mình trên cơ sở khác với khuôn khổ quy định đã được thống nhất của UNCLOS. Như vậy, sáng kiến về tiến trình xây dựng lòng tin đa phương mà đã đem đến một hiệp định ranh giới chung giữa các bên tranh chấp trong ASEAN trên cơ sở của các điều khoản trong UNCLOS cần được khuyến khích như một cơ chế để khích lệ Trung Quốc tiến hành tương tự như vậy.

Tất nhiên, Trung Quốc khăng khăng đòi các cuộc đàm phán song phương giữa họ và các quốc gia tranh chấp khác. Có lẽ phương án ưa thích này của Trung Quốc có thể được tôn trọng nếu các cuộc đàm phán song phương được tiến hành sau khi hoàn thành một tiến trình đàm phán đa phương do các nước tranh chấp còn lại tiến hành là Việt Nam, Malaysia, Philippine, Brunei và có lẽ cả Indonesia để đối phó với khu vực phía đông bắc đảo Natuna - nhằm đi đến một sự hiểu biết chung về ranh giới biển Đông giữa họ với nhau. Một trong những sự phức tạp hiện làm các cuộc đàm phán song phương trở nên quá khó khăn đó là thoả thuận của một bên tranh chấp với Trung Quốc ảnh hưởng đến khả năng đàm phán của nước này với tất cả các bên tranh chấp khác. Một tiến trình hai bước dựa trên thoả thuận cấp cao giữa các nước ASEAN, theo sau đó là các cuộc đàm phán song phương với Trung Quốc có thể dẫn đến việc sẽ đạt được một khuôn khổ khu vực mở rộng.

Ngăn chặn việc kiểm soát các đảo và kiềm chế vũ lực. Một trong những khía cạnh hiệu quả nhất của DOC là ngăn chặn sự thay đổi hiện trạng chiếm giữ trong suốt 16 năm, kể từ vụ đảo Vành Khăn (A: Mischief Reef, TQ: Meiji Jiao- nd)  thúc giục các bên phải nhanh chóng thay đổi tiến trình. Các cột mốc được Trung Quốc cắm trên Dải Amy Douglas và bãi đá ngầm Boxall (TQ: Niuchelun- nd) quá gây tranh cãi vì nó báo hiệu một sự đổ vỡ rõ ràng đối với chuẩn mực hành vi mang tính ổn định và cũng là quan trọng nhất này. Các bên cũng hành động với sự kiềm chế quân sự vì thoả thuận không đe doạ hoặc sử dụng vũ lực dường như đã bao hàm một sự hiểu biết rằng khu vực này sẽ không bị quân sự hoá. Tuy nhiên, ngay cả thoả thuận đó, dường như đang bị phá vỡ trong bối cảnh căng thẳng hiện tại. Mặc dù hầu hết người Trung Quốc nhìn nhận đất nước họ như nước duy nhất hành động kiềm chế trong khi các bên tranh chấp khác đoạt mất các nguồn tài nguyên nhưng sự thật có nhiều sắc thái khác. Trung Quốc có thể không quân sự hoá các tranh chấp ở biển Đông, nhưng chắc chắn họ sẽ tận dụng những tiềm lực hàng hải quốc gia to lớn khác để gây ảnh hưởng ở khu vực, bao gồm các tàu của Bộ chỉ huy thực thi luật đánh cá và Dịch vụ thăm dò biển của họ.

Kết luận.

Như đã từng thực hiện trong những năm 1995 và 1996, Indonesia với tư cách Chủ tịch ASEAN trong năm 2011 đã tích cực tìm kiếm để mang lại cho cách tiếp cận hoà bình hơn trong vấn đề giải quyết tranh chấp, bao gồm việc tài trợ cho các cuộc thảo luận và đối thoại. Mỹ đã kêu gọi một cách công khai các bên cần đạt được tiến triển về một thoả thuận mang tính thực thi cho DOC hay cho một Bộ ứng xử COC đầy đủ, chính thức. Philippine đề xuất một vùng tự do và hợp tác. Không thiếu những nguyện vọng tốt nhưng dường như có một sự thiếu vắng ý chí chính trị nhằm tìm kiếm những thoả hiệp và tất cả các bên đều đang sử dụng sức mạnh hải quân đã gửi đi các tín hiệu về sự quyết tâm của họ. Nếu các bên muốn ngăn chặn xung đột, câu trả lời không nằm trong các kiến nghị một mất - một còn về chủ quyền và quyền tài phán mà nằm ở việc kiếm tìm những câu trả lời trong một số ví dụ của các khuôn khổ các bên cùng có lợi mà sẽ khu vực hoá lãnh thổ và vùng nước trên biển Đông, cho phép phát triển chung các nguồn tài nguyên sinh vật và phi sinh vật, và tạo điều kiện cho việc thực thi chung các điều luật. Nếu không tình hình sẽ lại giống như từ trước đến nay – kẻ mạnh sẽ làm những điều mà họ có thể và kẻ yếu sẽ làm những điều mà họ phải làm.

GS. Peter A.Dutton

Hồng Nhung (dịch)

Đõ Thủy (hiệu đính)

Bài tham luận trình bày tại Hội thảo “Biển Đông: Hướng tới một khu vực Hòa bình, Hợp tác và Tiến bộ - The South China Sea: Toward a Region of Peace, Cooperation, and Progress” tổ chức tại Manila, Philippines, 5 – 6 tháng 7 năm 2011.

Bản gốc tiếng Anh “An Assessment of the Effectiveness of Current Maritime Security Frameworks and Mechanisms in the South China Sea



[1]Xem ,v.d., Joseph Y.S.Cheng, “Sino-Vietnamese Relations in the early twenty-first century,” Asian Survey, Vol.51, No.2, March/April 2011, tr.379-405

[2] Xem,v.d., Lyle J.Goldstein, “Resetting the US-China Security Relationship,” Survival, Vol.53, No.2, April-May 2011, tr.89-116

[3] Robert Kagan, The Perils of Wishful Thinking, The American Interest On-line, Junuary-February 2010, có tại http://www.the-american-interest.com/article.cfm?piece=759

[4] Peter Dutton, “Three Disputes and Three Objectives: China and the South China Sea,” Naval War College Review, Autumn 2011 (sắp xuất bản)

[5] “Vietnam Reassearts Sovereignty Over Archipelagoes,” Thanh Nien News, May 7, 2011; “China Reassearts Sovergnty Over Spratly Islands,” Jakarta Globe, March 8, 2011. Gần đây hầu như không có sự tham gia của Đài Loan vào tiến trình trên biển Đông, mặc dù những tuyên bố của họ khá trùng hợp với các tuyên bố của đại lục.

[6] Thư gửi từ Phái đoàn đại diện thường trực của nước Cộng hoà Philippine đến Tổng thư kí Liên Hợp Quốc, 11-00494, No.000228, May 7,2011; “PH Protests China’s 9-Dash Line Claim Over Spratlys,” VERA Files, April 13,2011.

[7] “Manila’s Claim in Spratlys Within West Philippine Sea,” Inquirer News, June 6, 2011.

[8]“Phl Removes Foreign Markers in Spratlys,” Philippine Star, June 16, 2011

[9] Thư từ Phái đoàn đại diện thường trực nước Cộng hoà nhân dân Trung Quốc tới Tổng thư kí Liên Hợp Quốc, 14 April 2011

[10]  Tuyên bố cách ứng xử của các bên trên biển Đông, có tại http://www.aseansec.org/13163.htm

[11] Tuyên bố của Vương quốc Thái Lan khi phê chuẩn cCông ước Liên Hợp Quốc về Luật biển, 25/05/2011

[12] Zou Keyuan, “The Sino-Vietnamese Agreement on Maritime Boundary Delimitation in the Gulf of  Tonkin,” Ocean Development and International Law, Vol 36 (2005), tr. 13-24 2005

 

Bàn về những sự việc căng thẳng trên Biển Đông thời gian gần đây, học giả Aileen S.P.Baviera vừa có bài viết đăng trên RSIS Commentaries No. 91/2011 ngày 14/6, nhan đề China and the South China Sea: Time for Code of Conduct?; hoặc trên The Manila Times.Tác giả đã nêu diễn biến những vụ việc đáng quan ngại xảy ra trên Biển Đông xuất phát từ động thái của Trung Quốc, khẳng định bản chất vô lý của Trung Quốc trên Biển Đông, nhấn mạnh yêu cầu cần có COC trong bối cảnh hiện nay và kiến nghị thái độ của các bên liên quan nhằm hướng tới mục tiêu giải quyết hòa bình tranh chấp trên Biển Đông. 

Trong những tháng qua, nhiều vụ việc xảy ra trên Biển Đông đã làm rõ hơn thực tế có vẻ như là Trung Quốc ngày càng sẵn sàng sử dụng sức mạnh quân sự để gây sức ép và ảnh hưởng đối với các đối thủ có tuyên bố chủ quyền trên vùng biển này, đặc biệt là Philíppin và Việt Nam. 

Hồi tháng Hai, giới truyền thông đăng tải sự cố ngư dân Philíppin bị tàu Trung Quốc đe dọa và tấn công. Ngày 2/3/2011, hai tàu hải giám Trung Quốc tiếp cận cản trở hoạt động của tàu thăm dò dầu khí MV Veritas Voyager của Philíppin và đòi tàu này ngừng hoạt động tại khu vực bãi Cỏ Rong (Reed Bank) – nơi họ nói là thuộc quyền chủ quyền của Bắc Kinh. 

Tiếp đó, Trung Quốc thông báo kế hoạch thả neo dàn khoan dầu khí tại vùng quần đảo Trường Sa. Cuối tháng Năm, hải quân Philíppin phát hiện nhiều cột mốc và một phao nổi tại vùng bãi cạn Amy Douglas Bank được cho là do tàu của Trung Quốc cắm, cho thấy dấu hiệu của các kế hoạch xây dựng công trình trên biển có thể được triển khai. Trong khi đó, một tàu hải giám của Trung Quốc lại tiếp cận một tàu thăm dò dầu khí của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam (Petrovietnam), cắt phá dây cáp chuyên dụng do tàu này thả xuống vùng biển mà Hà Nội tuyên bố là thuộc vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam. Vụ việc đã làm dấy lên nhiều cuộc biểu tình phản đối ở Hà Nội. 

Đòi hỏi về chủ quyền không phải là điều gì mới mẻ, bởi đó là tranh chấp lâu dài, nơi mà một bên tranh chấp hoặc một nước nào đó có hành động gì thì các bên khác luôn có phản ứng cứng rắn. 

Nhưng điều mới mẻ chính là hành động của Trung Quốc, giờ đây lại được hỗ trợ bởi khả năng hải quân hiện đại hơn, cũng như sự thể hiện một tham vọng chủ quyền lớn hơn và tâm lý dân tộc kiên quyết hơn, điều đang được minh chứng là vấn đề gây quan ngại lớn nhất (cho ổn định khu vực). 

Trò chơi phỏng đoán cứ lặp đi lặp lại là liệu những động thái đòi hỏi chủ quyền lãnh hải gần đây được triển khai với sự nhận thức đầy đủ và ủng hộ hoàn toàn của chính quyền trung ương Bắc Kinh, hay như Stein Tonneson và nhiều ý kiến khác lập luận rằng điều đó không phản ánh một chiến lược mới của Trung Quốc, mà là “hàng loạt động thái do tham mưu sai, không được điều phối tốt và đôi khi là ngạo mạn” mà các cơ quan, bộ phận cấp dưới ở Trung Quốc tiến hành khi họ thực thi trách nhiệm của mình. Song rốt cuộc thì không có cách giải thích nào có thể mang lại sự an ủi cho các nước láng giềng của Trung Quốc. 

Thực tế, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã tuyên bố sự vi phạm chủ quyền Philíppin như một số ý kiến nêu lên là “những hoạt động nghiên cứu hải dương bình thương” và sự cố với Việt Nam cũng chỉ là “những hoạt động giám sát và thực thi pháp luật về hải dương bình thường” trong “các vùng lãnh hải của Trung Quốc”. 

Thực vậy, tờ “China Daily” hồi cuối năm ngoái từng ra thông báo rằng cơ quan giám sát hải dương của Trung Quốc (CMS) – tức Cục Hải giám đã được tăng cường thêm hơn 1.000 nhân viên, 36 tàu và nhiều trang thiết bị mới nhằm tăng cường “khả năng hoạt động”. 

Được thành lập năm 1998, CMS tuyên bố đến hết năm 2005 cơ quan này có 91 tàu tuần tra, và đến cuối năm 2010 tăng lên 300 tàu và 10 máy bay. 
Viễn cảnh về sự hiện diện to lớn đó của Trung Quốc – dù là hải quân, bán quân sự hay dân sự - tại các vùng biển tranh chấp cứ như là họ được toàn thế giới thừa nhận là thực thi pháp luật Trung Quốc một cách “bình thường” trên vùng lãnh hải “không thể tranh cãi” của họ, đều không phải là điều mà các quốc gia láng giềng có thể đón nhận. 

Và nếu tàu bè, con người và tài sản của các nước láng giềng và các công ty nước ngoài tham gia hoạt động khai thác tài nguyên có thể đều là mục tiêu đe dọa (của Trung Quốc), thì tại sao những tàu thuyền thương mại khác đi qua các tuyến đường biển liên quan lại không phải là những đối tượng bị đe dọa trong tương lai? 

Nếu những xu thế hiện tại được tiếp tục, thì các hứa hẹn tôn trọng tự do hàng hải mà Bắc Kinh vẫn thường tuyên bố sẽ là giả dối. 

Thời điểm hiện tại, Trung Quốc tỏ ra là nước có hành động phản đối mạnh mẽ nhất đối với các hoạt động thăm dò dầu khí đơn phương. Trước khi xảy ra những vụ việc gần đây nhất, Trung Quốc đã ngăn cản không cho các công ty dầu khí quốc tế như BP và ExxonMobil triển khai hoạt động thăm dò tại vùng biển mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền, cảnh báo rằng làm như vậy sẽ ảnh hưởng đến các dự án của chính các công ty này tại Trung Quốc. 

Các quan chức và học giả Trung Quốc cũng đang lớn tiếng nói về việc cùng phát triển, có thể điều đó cho thấy lý do đằng sau sức ép mạnh mẽ là Bắc Kinh muốn “đánh cùi chỏ” để ép Việt Nam và Philíppin quay lại đường hướng cùng khai thác, từ bỏ hoạt động thăm dò đơn phương, theo tinh thần hợp tác ba bên ban đầu về thăm dò địa chấn trong vùng đặc quyền kinh tế của Philíppin. (Dự án nghiên cứu ba bên này rơi vào tình trạng mập mờ, không có nội dung dứt khoát cuối cùng vào năm 2008 sau khi bị cản trở bởi các vấn đề chính trị tại Philíppin – tác giả). 

Và nếu như vậy, đó có thể là một niềm tin khác thường, nhưng là một điều mà cả Việt Nam và Phiplíppin cần xem xét cẩn trọng xét trên đối sách cân bằng các mục tiêu về an ninh và kinh tế của mỗi nước, trong khi vẫn thúc đẩy lợi ích quốc gia và ổn định khu vực. 

Thậm chí như vậy, thì công luận đối lập ở Philíppin cũng có thể sẽ ngăn cản bất cứ thỏa thuận nào liên quan đến nội dung cùng thăm dò tài nguyên tại những vùng nằm gần đất nước này nhất. 

Trước những đám mây đen căng thẳng đang tích tụ như vậy, điều cần thiết là các bên liên quan phải nghiêm túc theo đuổi các cuộc đàm phán không chỉ về các hướng dẫn triển khai Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) năm 2002, trong khi DOC tỏ ra không đủ hiệu lực giải quyết những sự kiện phát sinh. Cái mà chúng ta cần là Bộ qui tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC) – văn bản chuyên biệt cho việc phòng ngừa xung đột vũ trang trên những vùng biển tranh chấp. 

Lợi ích của Trung Quốc cũng như của mỗi nước khác trên Biển Đông sẽ cần được giải quyết thông qua đối thoại và đàm phán. Tuy nhiên, Trung Quốc phải chấm dứt thái độ hăm họa, nếu không phải là sử dụng vũ lực trên thực địa, với mục đích gây sức ép buộc các bên tranh chấp phải thừa nhận tuyên bố chủ quyền của Bắc Kinh. 

Trung Quốc phải thể hiện trách nhiệm lớn trong việc hạ nhiệt căng thẳng quân sự và khôi phục bầu không khí mang tính xây dựng cho đối thoại. 

Mặt khác, Việt Nam, Philíppin và cả khối ASEAN sẽ tích cực đưa ra những đồng thuận của mình về vấn đề Biển Đông và làm cho Trung Quốc hiểu rõ giới hạn của cách tiếp cận đa phương đã đề xuất nhằm giải quyết tranh chấp, cũng như mong muốn đặt ra đối với COC.

Nghiên cứu Biển Đông (giới thiệu)

Aileen S.P.Baviera - Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam thuộc Học viện Công nghệ Nanyang (Xingapo), đồng thời là giáo sư tại Trung tâm châu Á - Đại học Philíppin,

 

Ngôn ngữ