23 - 9 - 2019 | 14:27
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home
Tag:Chính sách Việt Nam

Một số báo Hồng Công gần đây dẫn lời các nhà phân tích Trung Quốc nhận định tình hình an ninh khu vực Biển Đông xuất hiện xu thế ngày càng xấu đi. Vấn đề quốc tế hóa tranh chấp Biển Đông và sự can dự ngày càng công khai của Mỹ vào vấn đề này sẽ khiến Trung Quốc phải đối mặt với những thách thức thực sự.

 

 

Một số báo Hồng Công gần đây như "Đại công báo", “Văn hối” và “Đông phương” dẫn lời các nhà phân tích Trung Quốc nhận định tình hình an ninh khu vực Biển Đông xuất hiện xu thế ngày càng xấu đi. Điều này không chỉ do một số nước Đông Nam Á tranh chấp chủ quyền biển đảo tại khu vực Biển Đông với Trung Quốc như Việt Nam, Malaixia, Inđônêxia tăng cường sức mạnh hải quân và không quân, mà quan trọng hơn là do Việt Nam mưu cầu quốc tế hóa vấn đề tranh chấp chủ quyền Biển Đông, lôi kéo các nước ASEAN tham gia đàm phán với Trung Quốc và Mỹ đang từng bước công khai hóa chính sách can dự vào tranh chấp chủ quyền tại khu vực Biển Đông.


Theo các nhà phân tích Trung Quốc, trong ba nguyên nhân này, nguyên nhân các nước hữu quan xung quanh Biển Đông tăng cường sức mạnh quân sự hướng ra biển không đáng lo ngại. Bởi vì, bất kể nhìn từ phương diện nào (trang bị vũ khí hay năng lực tác chiến), sức mạnh quân sự của các nước này cho dù được tăng cường ở mức độ lớn, cũng không thể sánh với Trung Quốc. Tuy nhiên, vấn đề Việt Nam thúc đẩy quốc tế hóa vấn đề tranh chấp Biển Đông và sự can dự ngày càng công khai của Mỹ vào vấn đề này sẽ khiến Trung Quốc phải đối mặt với những thách thức thực sự. Trước thực trạng này, Trung Quốc cần có đối sách phù hợp.


Để làm thất bại sách lược của Việt Nam, thứ nhất, đối với ý đồ của Việt Nam thúc đẩy quốc tế hóa vấn đề tranh chấp Biển Đông, Trung Quốc một mặt có thể áp dụng biện pháp gây sức ép thích hợp để các nước ASEAN bác bỏ sách lược của Việt Nam. Mấu chốt để Trung Quốc áp dụng biện pháp này chính là Campuchia và Mianma, hai nước cơ bản không có lợi ích tại Biển Đông và rõ ràng Việt Nam khó thuyết phục hai nước này đứng về phía mình để đàm phán với Trung Quốc về vấn đề chủ quyền Biển Đông. Hơn thế nữa, Campuchia và Mianma là hai nước có quan hệ thực tế nhất với Trung Quốc trong số các nước ASEAN, cũng là hai nước mà Trung Quốc có ảnh hưởng nhiều nhất. Thậm chí có lúc ảnh hưởng của Trung Quốc còn mang tính quyết định đến sự sống còn của chính quyền hai nước này. Bản thân Chính phủ Campuchia hiện nay và Chính quyền quân sự Mianma cũng đều coi Trung Quốc là một sự hậu thuẫn để củng cố và duy trì quyền chấp chính. Nhất là Chính quyền Mianma, nếu không có sự hậu thuẫn của Trung Quốc sẽ rất khó tồn tại. Ngoài ra, Trung Quốc có thể sử dụng lợi ích kinh tế làm “mồi nhử” để kéo Campuchia và Mianma về phía mình. Trong từng trường hợp cụ thể, có thể cùng với các nước này đạt được các thảo thuận song phương trên phương diện kinh tế, bao gồm cả viện trợ kinh tế không hoàn lại, để gắn lợi ích kinh tế của Campuchia và Mianma với Trung Quốc. Từ đó, tranh thủ sự ủng hộ của hai nước này trong vấn đề tranh chấp chủ quyền biển Đông vốn không liên quan đến họ.


Thứ hai, Trung Quốc có thể lợi dụng nguyên tắc đồng thuận của ASEAN. Khi đã thuyết phục, thậm chí “kiểm soát” được Campuchia và Mianma, Trung Quốc đứng sau hai nước này để “giật dây” phản đối sách lược quốc tế hóa vấn đề tranh chấp chủ quyền Biển Đông của Việt Nam. Như vậy, chỉ cần gián tiếp can thiệp, Trung Quốc cũng có thể dễ dàng làm thất bại sách lược lôi kéo các nước ASEAN của Việt Nam, bất chấp Việt Nam hiện đang là Chủ tịch ASEAN luân phiên. Ngoài ra, Trung Quốc hiện đã trở thành đối tác mậu dịch lớn nhất của ASEAN, chính vì vậy Trung Quốc có thể lợi dụng những lợi ích kinh tế để gây sức ép, răn đe ASEAN. Tuy nhiên, phương thức này cần phải được áp dụng thận trọng… Bởi vì bản thân Trung Quốc cũng có lợi ích kinh tế rất lớn từ ASEAN, nhất là cơ chế “Khu mậu dịch tự do Trung Quốc-ASEAN” vừa cơ bản đi vào vận hành toàn diện hồi tháng 1/2010.


Thứ ba, về giải quyết vấn đề chủ quyền Biển Đông, nội bộ Trung Quốc có hai chủ trương chính. Một là tiếp tục áp dụng phương thức đàm phán hòa bình để giải quyết, điều này xuất phát từ tư duy Trung Quốc “hòa bình trỗi dậy”. Hai là phủ nhận, cho rằng kết quả đàm phán hữu quan chỉ khiến Trung Quốc không thể thu hồi được lãnh hải, do vậy cần áp dụng hành động vũ lực để giải quyết. Thế nhưng, các chuyên gia phân tích chiến lược của Trung Quốc cho rằng trong bối cảnh hiện nay, cả hai chủ trương này đều không thể áp dụng đơn độc. Bởi vì, chỉ có Trung Quốc đàm phán hòa bình, còn các nước hữu quan khác vẫn tiếp tục thúc đẩy khai thác tài nguyên Biển Đông. Còn nếu dùng hành động quân sự, chắc chắn Mỹ sẽ can dự với lý do bảo đảm an ninh khu vực. Một khi Mỹ can dự, lập tức Nhật Bản và Ôxtrâylia sẽ theo Mỹ. Nếu như để Mỹ, Nhật Bản, Ôxtrâylia, thậm chí là cả NATO tham gia giao chiến với Trung Quốc, thất bại là kết quả tất yếu đối với Trung Quốc. Cách làm này là nguy hiểm, không thể áp dụng.
Để ngăn chặn Mỹ can dự, giới chuyên gia phân tích Trung Quốc nêu rõ tính phức tạp của vấn đề Biển Đông không chỉ giới hạn ở tầng nấc khu vực, mà Mỹ đang dần công khai can dự vào vấn đề này. Biểu hiện cụ thể là cách đây chưa lâu, Ủy ban đối ngoại Thượng viện Mỹ đã tổ chức một cuộc điều trần về vấn đề Biển Đông. Đây chính là thông điệp cho thấy Mỹ đang “từ cánh gà bước ra sân khấu” trong vấn đề tranh chấp chủ quyền Biển Đông và cũng chứng tỏ Mỹ đang dần công khai hóa việc can dự vào vấn đề này. Theo các chuyên gia phân tích Trung Quốc, để có được biện pháp giải quyết tối ưu, trước hết Trung Quốc cần hiểu rõ: Mỹ sở dĩ gây phiền hà cho Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông, mục đích chủ yếu là kiềm chế Trung Quốc “hòa bình trỗi dậy”. Trên thực tế, biện pháp kiềm chế Trung Quốc của Mỹ không chỉ hạn chế ở vấn đề Biển Đông, mà trong các vấn đề khác như vấn đề Đài Loan, Tây Tạng, Tân Cương và ngoại thương... Mỹ đều tìm cách kiềm chế Trung Quốc trỗi dậy.

Hiểu được bản chất của vấn đề, Trung Quốc sẽ có được biện pháp đối phó phù hợp. Về cơ bản Trung Quốc có thể áp dụng một số biện pháp.


Thứ nhất, Chính phủ Trung Quốc cần tuyên truyền để quốc dân hiểu rõ rằng nếu tranh chấp Biển Đông chỉ hạn chế ở mức song phương và khu vực thì chủ trương “gác lại tranh chấp, cùng khai thác” dễ đạt được nhận thức chung. Còn trong bối cảnh có thế lực hùng mạnh bên ngoài can thiệp sâu, tranh chấp hữu quan sẽ chỉ phức tạp thêm chứ không đạt được bất kỳ phương thức giải quyết nào. Cần làm cho các nước ASEAN hữu quan hiểu rằng chính sách can dự sâu của Mỹ vào vấn đề tranh chấp chủ quyền Biển Đông không chỉ gây tổn hại nghiêm trọng lợi ích của Trung Quốc, mà còn là thảm họa đối với các nước trực tiếp tranh chấp khác.


Thứ hai, Trung Quốc có thể thông qua kênh trao đổi ngoại giao hoặc trao đổi chuyên ngành với các nước ASEAN để nhấn mạnh rằng lập trường của Philíppin trong vấn đề quy thuộc chủ quyền đảo Hoàng Nham (Scarborough), hành động khiêu khích bắt giữ ngư dân Trung Quốc của Inđônêxia và những hành động mở rộng thăm dò khai thác dầu khí của Việt Nam tại Biển Đông... đều chỉ khiến tình hình an ninh Biển Đông trở nên xấu hơn.


Thứ ba, áp dụng biện pháp cực đoan như giúp Bắc Triều Tiên thực hiện chương trình phát triển hạt nhân. Hiện nay, Mỹ coi việc ngăn chặn phổ biến hạt nhân và tấn công chủ nghĩa khủng bố là trọng điểm ưu tiên trong thực hiện mục tiêu chiến lược đối ngoại, đồng thời yêu cầu Trung Quốc giúp đỡ. Đây cũng chính là nhược điểm của Mỹ mà Trung Quốc có thể lợi dụng để “mặc cả” hoặc đạt được thỏa thuận “ngầm” với Mỹ trong vấn đề tranh chấp chủ quyền Biển Đông. Nói cụ thể hơn, trong vấn đề này, Trung Quốc không chỉ không yêu cầu Bắc Triều Tiên từ bỏ chương trình phát triển hạt nhân, mà càng cần giúp đỡ Bắc Triều Tiên thực hiện chương trình phát triển hạt nhân. Trong một chừng mực nhất định, đây có thể coi là sách lược tối ưu để Trung Quốc ngăn chặn Mỹ can dự vào tranh chấp chủ quyền Biển Đông./.{jcomments on}

 

 

Ngày 26/2, Viện Nghiên cứu Quân phòng Quốc gia (National Institute for Defense Studies) (NIDS) của Nhật Bản đã đăng bài của TS. Tomotaka Shoji, nghiên cứu sinh cao cấp của NIDS về vấn đề tranh chấp lãnh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc tại Biển Đông. Xem bản gốc: The South China Sea and Vietnam:A Limited and Deliberated Reaction to China. Dưới đây là bản dịch của bài viết này:

 

Tổng quan về vấn đề

Vấn đề tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông, trong đó có việc tuyên bố chủ quyền đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đã từ lâu thu hút sự chú ý của không chỉ các học giả mà còn cả những người đang công tác trong lĩnh vực an ninh ở Đông Á. Trong những năm 1980, hành động gây hấn đòi chủ quyền trên Biển Đông của Trung Quốc, mà điển hình là việc chiếm một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa, và xung đột quân sự sau đó với Việt Nam vào năm 1988, đã gây ra sự quan ngại lớn đối với các nước trong khu vực, đặc biệt là một số nước thành viên ASEAN đang đòi chủ quyền lãnh thổ trong khu vực này. Sau đó, chủ yếu nhờ các nỗ lực phối hợp của ASEAN, căng thẳng liên quan tới vấn đề này đã dịu bớt và được hạn chế một phần, dẫn tới việc ASEAN và Trung Quốc ký kết Tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên Biển Đông vào năm 2002. Mặc dù tuyên bố này về bản chất không mang tính ràng buộc pháp lý nhưng nó cho thấy một cách rõ ràng thiện chí của các bên liên quan để giải quyết các vấn đề tranh chấp lãnh thổ thông qua các biện pháp hòa bình, và người ta hy vọng rằng ASEAN và Trung Quốc có thể sẽ tăng cường các cuộc thương lượng đến mức nâng cấp tuyên bố chung trên thành một đạo luật ứng xử mang tính ràng buộc hơn. Trên thực tế, tại Hội nghị Cấp cao ASEAN-Trung Quốc lần thứ 11 vào tháng 11/2007, các bên đã tái khẳng định quyết tâm thông qua một đạo luật ứng xử như vậy. 

Thuyết đe dọa đang quay lại?

Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, Trung Quốc đã tái thực hiện các hoạt động quân sự như tăng cường các cuộc tuần tra và diễn tập ở vùng Biển Đông, đồng thời tăng cường sức mạnh hải quân một cách nhanh chóng và quy mô lớn, trong đó có việc tăng số lượng tàu ngầm và tàu khu trục cỡ nhỏ, xây dựng các căn cứ tầu ngầm, và tìm cách có các hàng không mẫu hạm. Vào tháng 3/2009, một tàu của Hải quân Mỹ đang tiến hành các hoạt động theo dõi trong khu vực đặc quyền kinh tế của Trung Quốc ở Biển Đông đã chạm trán với các tàu chiến của Trung Quốc. Cũng trong tháng đó, Trung Quốc đã triển khai tàu cỡ lớn Yuzheng 311 được tân trang từ một tàu chiến để phục vụ hoạt động tuần tra bảo vệ nguồn thủy sản trong khu vực này. Hành động này của quân đội Trung Quốc đã làm dấy lên các quan ngại mới đối với các nước đang đòi chủ quyền lãnh thổ trong khu vực này, đặc biệt là Việt Nam. Vào tháng 6/2009, hơn 30 ngư dân của Việt Nam đang đánh bắt ở quanh khu vực quần đảo Hoàng Sa đã bị Hải quân Trung Quốc bắt giữ. Trong tháng 8, Trung Quốc lại giữ một tàu đánh cá lưới cào của Việt Nam và bắt giam các ngư dân trên tàu ở cùng khu vực này. Việt Nam, nước đang tránh liên kết với Trung Quốc về mặt an ninh, hiện đang bày tỏ quan ngại của mình một cách rõ ràng hơn. 

Phản ứng vừa phải của Việt Nam đối với Trung Quốc trên Biển Đông

Cho đến nay, Chính phủ Việt Nam đã đưa ra 2 tuyên bố chính thức về Biển Đông: một là nhấn mạnh chủ quyền hợp pháp của Việt Nam đối với toàn bộ quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, với các bằng chứng lịch sử đầy đủ (Về mặt chính thức, Việt Nam chưa bao giờ cho thấy sự sẵn sàng thỏa hiệp); mặt khác, mặc dù không bao giờ từ bỏ chủ quyền để tiếp tục tìm kiếm một giải pháp đối với vấn đề này thông qua con đường hòa bình. 

Liên quan tới thái độ phức tạp của Việt Nam đối với Trung Quốc và Biển Đông, sự mô tả trong sách trắng quốc phòng số 3 và mới nhất do Bộ Quốc phòng Việt Nam công bố vào tháng 11/2009 rất đáng chú ý; như một quan điểm an ninh khu vực, sách trắng khẳng định rõ ràng rằng các tranh chấp lãnh thổ ngày càng trở nên phức tạp hơn trong khu vực Đông Nam Á, đặc biệt là ở Biển Đông. Tuy nhiên, sách trắng cũng nhấn mạnh các nỗ lực đã thực hiện để giải quyết vấn đề này một cách hòa bình, hoặc ít nhất là làm dịu các căng thẳng phát sinh từ vấn đề này. Hơn thế nữa, nó cũng nhấn mạnh sự sẵn sàng của Việt Nam trong việc tiếp tục đối thoại để tìm giải pháp. 

Các nhà chức trách quốc phòng Việt Nam dường như đang cẩn thận tránh tình huống, trong đó quan điểm cảnh giác của Việt Nam đối với Trung Quốc liên quan tới Biển Đông được nhấn mạnh một cách quá mạnh mẽ. Việt Nam phải cân bằng quan hệ hợp tác với Trung Quốc và sự cảnh giác đối với tham vọng lãnh thổ của Trung Quốc ở Biển Đông. Các phương tiện truyền thông Việt Nam, thực chất do nhà nước kiểm soát trong một nước xã hội chủ nghĩa, có xu hướng tập trung vào các diễn biến của các cuộc đàm phán với các đối tác Trung Quốc liên quan về giải pháp cuối cùng cho các vấn đề tranh chấp lãnh thổ. Trên thực tế, vấn đề biên giới trên bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc đã được giải quyết một cách hoàn toàn. Vào tháng 11/2009, hai nước đã ký kết 3 văn bản về phân mốc và kiểm soát biên giới. 

Hành động tiếp theo của Việt Nam?

Đối mặt với một thách thức tiềm tàng trên Biển Đông, Việt Nam sẽ giải quyết vấn đề này như thế nào? Môi trường chiến lược xung quanh Việt Nam hiện nay sẽ chỉ đem lại cho nước này các phương án chính sách hạn chế: sẽ không khả thi đối với Việt Nam để theo đuổi việc tăng cường quan hệ đối tác quân sự với các cường quốc khác, như Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ hoặc Nga, để cân bằng sức mạnh đang ngày càng lớn của Trung Quốc. Việt Nam thực ra đã bác bỏ phương án tham gia vào một liên minh quân sự với các cường quốc bên ngòai. Rốt cuộc, đúng như Ralf Emmers đã từng nói, Việt Nam, và có thể các nước đang đòi chủ quyền khác ở Biển Đông, sẽ phải tìm kiếm một giải pháp nào đó thông qua ASEAN, với tư cách thể chế ngoại giao tập thể, mặc dù con đường tới một giải pháp, với sự bất ổn trong ý định của Trung Quốc trong tương lai, vẫn chưa rõ ràng. Một trong những phương án thích hợp sẽ là tiếp tục các cuộc thương lượng với Trung Quốc trong khuôn khổ đối thoại ASEAN-Trung Quốc. Trong tương lai gần, Việt Nam, với các nỗ lực của mình để tăng cường quan hệ ngoại giao đa phương, sẽ theo đuổi một giải pháp hòa bình. Chính sách này có thể trở thành một giải pháp khả thi chừng nào Trung Quốc còn cần một môi trường ổn định và hòa bình để phát triển kinh tế, và vì vậy, nước này có thể tìm lợi ích trong một giải pháp hòa bình đối với vấn đề này. Chắc chắn, Trung Quốc là một nhân tố quan trọng để quốc gia vấn đề này bất chấp các quan ngại đang tăng từ các nước láng giềng. Đối với Việt Nam, nước này chỉ có một con đường hẹp tới giải pháp nhưng Việt Nam sẽ phải tiếp tục tăng cường sự chắc chắn để đạt tới điểm tối ưu đối với các nước đòi chủ quyền trong khu vực./.

 

 

 

 

HÀ NỘI, Việt Nam - Quần đảo Hoàng Sa nằm trên biển Đông cách bờ biển phía đông của Việt Nam 250 dặm, gồm hàng loạt các đá, các rạn san hô và các doi đất, trông qua dường như chỉ có giá trị để san hô vỡ dạt vào trên bãi biển.

 

 Ảnh Hoàng Đình Nam / AFP



Nhưng quần đảo đó và quần đảo Trường Sa lân cận lại giàu dầu mỏ và khí đốt tự nhiên, vậy nên chúng được các quốc gia nằm trên một vòng cung rộng của toàn biển Đông thèm muốn. Trung Quốc, Đài Loan và Việt Nam đang cạnh tranh chủ quyền ở Hoàng Sa, trong khi cả ba nước và thêm vào đó là Philippines, Malaysia và Brunei tuyên bố chủ quyền ở Trường sa và các vùng nước xung quanh.

Lớn tiếng nhất là Việt Nam và đối thủ tranh chấp truyền thống của họ, Trung Quốc. Thật vậy, không có vấn đề nào giữa hai nước này lại nhiều cảm xúc hơn khó xử hơn.

Vào tháng trước, căng thẳng đã leo lên một mức độ khác, sau khi Trung Quốc công bố những kế hoạch phát triển du lịch Hoàng Sa, nơi quân đội Trung Quốc đã chiếm giữ từ năm 1974. Đó là một sự khởi đầu bất trắc đối với những gì mà chính phủ hai nước đã chính thức ghi nhận là “Năm Hữu nghị” của họ.



Các ngư dân dỡ tàu cá tại Đà Nẵng, Việt Nam. Trung Quốc đã đang giam giữ các ngư dân Việt Nam trong tranh chấp về các đảo ở Biển Đông (South China Sea). 

 

Bộ Ngoại Giao Việt Nam lớn tiếng lên án hành động của Trung Quốc, như Bộ này vẫn thường làm trong các tình huống thế này. Tuy lặng lẽ, Việt Nam đã làm được nhiều hơn chỉ là phản đối suông; họ đã đặt căn cứ cho một chiến lược khác để xía vào những hòn đảo này từ sự chiếm đoạt của Trung Quốc.

Việt Nam đang vận động mạnh phía sau hậu trường để lôi kéo nhiều quốc gia khác vào các cuộc thương lượng để cho Trung Quốc sẽ phải mặc cả trong một thể chế đa phương với tất cả các quốc gia Đông Nam Á đã tuyên bố chủ quyền lãnh thổ trong vùng biển Đông. Điều này đi ngược lại ưu tiên của Trung Quốc, là đàm phán đơn phương với từng quốc gia một.

Nói cách khác, Việt Nam mong muốn tất cả các bên cùng ngồi tại bàn đàm phán để ngăn chặn Trung Quốc, cường quốc khổng lồ. Chiến lược "quốc tế hoá" tranh chấp này là điều mà các quốc gia nhỏ hơn ở Á châu như Việt Nam có thể lựa chọn thường xuyên hơn khi họ tranh chấp với lực lượng lớn kinh khủng của Trung Quốc trên nhiều mặt trận. Với tư tưởng là: Khi quyền lực chính trị trên thế giới của Trung Quốc mở rộng, các quốc gia nhỏ hơn sẽ đạt được đối trọng với Trung Quốc chỉ khi họ ép Trung Quốc đàm phán trong các diễn đàn đa phương.

Ông Carlyle A. Thayer, một học giả chuyên về Đông Nam Á và an ninh hàng hải tại Học viện Quốc phòng Úc nói: “Các quan chức Việt Nam đang quốc tế hoá vấn đề, và họ đang thực hiện điều đó một cách im lặng, không theo cách trực tiếp", "Họ nói là họ muốn giải quyết tranh chấp một cách hòa bình, nhưng để cộng đồng quốc tế nêu lên vấn đề."

Các nhà phân tích cho rằng một sự thử thách lớn cho chiến lược này sẽ diễn ra trong năm nay, khi Việt Nam tiếp quản chức vụ lãnh đạo Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Việt Nam có thể sử dụng vị thế của mình để cố gắng thuyết phục các nước khác tham gia vào các đàm phán lãnh thổ với Trung Quốc, các nhà phân tích nói. Vào tháng mười một, Việt Nam đã tổ chức một hội thảo tại thủ đô Hà Nội, nơi 150 học giả và các quan chức từ khắp châu Á đến để thảo luận về các tranh chấp trên biển Đông – mà các nhà phân tích cho là màn đầu của chiến lược mới.

Ông Thayer, người đã tham dự hội thảo nói "Ấn tượng của tôi sau hội thảo này là những biến chuyển ở Biển Đông hoặc đã xấu đi hoặc đã có khả năng xấu đi"

Các viên chức tình báo và quân lực của Mỹ nói rằng Biển Đông, nơi có một số luồng vận chuyển hàng hải bận rộn nhất thế giới, đang trở thành một mối quan tâm an ninh vì Bắc Kinh đang ngày càng táo bạo phô trương sức mạnh hải quân của họ ở đó. Trong hai năm qua, Trung Quốc đã tích cực hơn trong việc đòi kiểm soát khu vực này – bắt giam các ngư dân Việt Nam, gia tăng các họat động tuần duyên và cảnh báo các công ty dầu mỏ nước ngoài tránh làm việc với Việt Nam.

Hoa Kỳ không đứng về bên nào trong các tranh chấp này, nhưng các viên chức Mỹ "vẫn lo ngại về căng thẳng giữa Trung Quốc và Việt Nam, khi cả hai nước đang tìm cách khai thác các mỏ dầu hỏa và khí đốt tiềm năng nằm bên dưới Biển Đông," Scot Marciel, Phó trợ lý ngọai trưởng đã phát biểu vào tháng bảy, trong khi điều trần trước khi Quốc hội liên bang. Ông Marciel nói thêm rằng Trung Quốc đã thể hiện "sự khẳng định tăng cường" liên quan đến những gì họ cho là thuộc chủ quyền hàng hải của họ.

Căng thẳng về các quyền lợi kiểu này ảnh hưởng lớn đến các mối quan hệ của Trung Quốc với các nước láng giềng. Chỉ mới tháng rồi, Nhật Bản đã lên tiếng phản đối Trung Quốcvề kế hoạch khai thác các mỏ khí đốt ở Biển Đông Trung Hoa.

Đối với người Việt, tranh chấp trên Biển Đông là vấn đề nhạy cảm đến mức mà nó hầu như đoàn kết tất cả mọi người dưới ngọn cờ dân tộc chống lại Trung Quốc, thậm chí cả những người đang sống tha hương thường ghét cay ghét đắng Đảng Cộng sản đương quyền ở Việt Nam. Tại Houston, một cộng đồng người Việt miền Nam thường đối nghịch với chính phủ Việt Nam, một ban nhạc pop đã tự hảo lấy tên là Hoàng Sa, là tên tiếng Việt của quần đảo (Paracels) này.

Trong tháng mười hai, Việt Nam đã yêu cầu Trung Quốc trả lại tàu thuyền và các ngư cụ đánh bắt đã tịch thu cho những ngư dân đã bị quân đội Trung Quốc giam giữ gần quần đảo. Một cơ quan thông tấn Việt Nam ước tính Trung Quốc đã bắt giữ tổng cộng 17 tàu cùng với 210 ngư dân hồi năm ngoái; tất cả các ngư dân này đã được trả tự do.

Cũng trong tháng mười hai, thủ tướng Việt Nam đã ký một thỏa thuận mua vũ khí của Nga gồm hợp đồng mua sáu tàu ngầm chạy điện và diesel trị giá 2 tỷ USD, theo nguồn tin chính thức, có lẽ sẽ được sử dụng ở Biển Đông.

Trong thời gian đó, Trung Quốc đã đồng ý tiếp tục đàm phán với Việt Nam, nhưng Trung Quốc chỉ sẵn sàng thảo luận về việc hợp tác phát triển trong khu vực, chứ không phải về những vấn đề chủ quyền lãnh hải. Và Trung Quốc đã từ chối thương lượng với tất cả các nước Đông Nam Á có liên quan trong bất kỳ cuộc đàm phán đa phương nào.

“Có quá nhiều nước liên quan,” ông Xu Liping, một học giả khu vực Đông Nam Á làm việc tại Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Trung Quốc ở Bắc Kinh nói.

Ông Đỗ Tiến Sâm, nhà nghiên cứu về Trung Quốc tại Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, đã cho biết là chính phủ Việt Nam tin tưởng điều hoàn toàn trái ngược, rằng các cuộc đàm phán “phải liên quan đến những thảo luận giữa ít nhất năm quốc gia.” “Tất cả các bên cần phải ngồi lại bàn bạc với nhau”, ông Đỗ nói.

Hội thảo diễn ra tháng mười một vừa qua không phải là một hội nghị chính thức cho các cuộc đàm phán mà là một hội thảo phần nào thăm dò những cách tiếp cận đa phương cho vấn đề này. Mặc dù Trung Quốc phản đối các phương pháp tiếp cận như thế, nhiều học giả từ các nhóm nghiên cứu ở Bắc Kinh cũng đã tham dự.

Các nhà phân tích hoài nghi về việc liệu Việt Nam sẽ có được bất kỳ sự ủng hộ nào cho chiến lược mới của mình, đặc biệt là nếu Việt Nam quyết định nhấn mạnh vấn đề đó khi giữ chức chủ tịch Asean. Hiệp hội này có các thành viên không có bất cứ tranh chấp gì cả như Campuchia và Myanmar.

“Cách tiếp cận của Việt Nam đang đối mặt với những trở ngại thực sự”, ông M. Fravel Taylor, một nhà khoa học về chính trị tại Viện Công nghệ Massachusetts, người đã viết một cuốn sách về các vấn đề lãnh thổ của Trung Quốc đề cập. “Thật khó tưởng tượng làm sao sự đồng thuận có thể đạt được trong khối Asean mà không có một đụng độ vũ trang liên quan đến các lực lượng của Trung Quốc.”

 

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 7937 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin