17 - 9 - 2019 | 7:54
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home
Tag:Chính sách Trung Quốc

TP - Vừa trở về từ hội thảo an ninh Biển Đông tại Mỹ, TS Trần Trường Thủy, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Biển Đông (Học viện Ngoại giao) có cuộc trao đổi với PV Tiền Phong về quan điểm của các học giả quốc tế trước những căng thẳng trên Biển Đông thời gian qua.

 ____

Trung Quốc là nguyên nhân chính gây căng thẳng

Tại hội thảo này, Thượng nghị sĩ Mỹ Joe Lieberman chỉ trích tham vọng của Trung Quốc tại Biển Đông. Là người tham dự hội thảo, ông có thể cho biết thêm quan điểm của các học giả quốc tế về tình hình Biển Đông hiện nay và những yêu sách của Trung Quốc?

Tại Hội thảo quốc tế về Biển Đông tại Mỹ cũng như qua nhiều nghiên cứu, tranh luận khác, có thể thấy đa số học giả quốc tế (trừ các học giả Trung Quốc) đều cho rằng, tình hình Biển Đông căng thẳng trở lại khoảng 3 năm gần đây và yêu sách, lập trường cũng như hành động của Trung Quốc là nguyên nhân chính gây căng thẳng.

Trung Quốc ngày càng quyết đoán hơn, có nhiều bước đi mạnh bạo, hệ thống nhằm tạo ra sự quản lý thực tế theo Đường lưỡi bò, từ đó gây ra nhiều va chạm với các nước xung quanh.

Học giả Trung Quốc thì ngược lại, họ cho rằng Trung Quốc chỉ phản ứng trước hành động của các nước khác. Theo học giả Trung Quốc, các nước tranh chấp thuộc Đông Nam Á tìm cách quốc tế hóa vấn đề. Mỹ nhân cơ hội can dự sâu hơn vào khu vực, kiềm chế Trung Quốc.

Theo tôi, nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự khác biệt trong hai cách nhìn nhận trên là do yêu sách của Trung Quốc tại Biển Đông, nhất là yêu sách Đường lưỡi bò.

Khi Trung Quốc coi mình có quyền tài phán và kiểm soát tài nguyên theo Đường lưỡi bò, chiếm đến 80% Biển Đông, lấn sâu vào các vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của các quốc gia ven biển khác, biến vùng không tranh chấp thành tranh chấp, thì hệ lụy là Trung Quốc coi các hành vi khai thác tài nguyên của các nước khác là vi phạm chủ quyền của họ, do đó Trung Quốc cản phá, tạo ra nhiều tranh cãi, va chạm.

Cách nhìn nhận của Trung Quốc cũng tương tự như một anh chàng nhảy ra tuyên bố sân chung của cả khu phố là của anh ta, do đó nếu nhà hàng xóm nào để xe máy trước thềm nhà của họ thì anh ta cũng phản ứng, ra đạp đổ hoặc chọc phá.

Về yêu sách của Trung Quốc đối với Đường lưỡi bò, đa số học giả quốc tế đều cho đây là yêu sách phi lý. Trung Quốc hoàn toàn không thể biện minh được nếu dùng đường này để đòi kiểm soát tài nguyên theo toàn bộ vùng nước ở trong.

Trung Quốc đã ký kết Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 thì Trung Quốc có quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình và Trung Quốc cũng có nghĩa vụ tôn trọng vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước khác.

Không thể nói đại ngôn là Công ước Luật Biển có sau thì không thể phủ nhận Đường lưỡi bò. Mà là ngược lại, các điều khoản của thỏa thuận quốc tế sẽ có hiệu lực cao hơn các quy định của nội luật (nếu có).

Thông thường, các quốc gia có nghĩa vụ phải sửa nội luật cho phù hợp với các điều khoản của thỏa thuận quốc tế.

Làm rõ thực chất chính sách của Trung Quốc

Trung Quốc tăng cường lực lượng hải giám, nhằm quản lý thực tế theo Đường lưỡi bò. Ảnh: Xinhua.

Tại hội thảo này, ông đã vạch rõ nguyên tắc gác lại tranh chấp, cùng khai thác của Trung Quốc thực chất luôn là “cái của tôi là của tôi, cái của anh là của tôi và chúng tôi sẵn sàng chia sẻ”. Ông có thể nói rõ hơn về nhận định này?

Trung Quốc luôn tuyên truyền về chủ trương gác tranh chấp, cùng khai thác tại Biển Đông, nhằm thể hiện hình ảnh hợp tác, giải quyết hòa bình các tranh chấp. Thực ra, đây không phải là sáng kiến gì mới của Trung Quốc mà luật pháp quốc tế, bao gồm cả Công ước Luật Biển, đã có quy định và thực tiễn quốc tế đã có nhiều thỏa thuận quốc tế về cùng khai thác.

Việt Nam cũng có dạng hiệp định này về khai thác dầu khí tại vùng chồng lấn thềm lục địa tại Vịnh Thái Lan với Malaysia, Thái Lan; hiệp định hợp tác nghề cá với Trung Quốc tại Vịnh Bắc Bộ.

Điểm chung là khu vực hợp tác phải là khu vực thực sự chồng lấn, các yêu sách được xác định hợp lý, hợp pháp dựa trên luật pháp quốc tế, hoặc tại các khu vực nằm vắt ngang đường ranh giới đã được xác định. Tóm lại là thỏa thuận phải mang lại công bằng cho tất cả các bên tham gia.

Trong khi Trung Quốc hiện nay nhấn mạnh gác tranh chấp, cùng khai thác tài nguyên ở Biển Đông, nhưng họ luôn coi chủ quyền các khu vực tranh chấp thuộc về mình.

Trên thực tế, Trung Quốc chủ yếu muốn cùng khai thác tại các khu vực thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước khác, ví như khu vực Tư Chính thuộc thềm lục địa của Việt Nam hay Cỏ Rong thuộc thềm lục địa của Philippines.

Năm 2010, tôi dự một hội thảo tại Hải Nam, Trung Quốc, học giả Trung Quốc Tề Quốc Hưng thậm chí còn đề xuất cùng khai thác cả khu vực nằm ngoài ranh giới Đường lưỡi bò (!).

Do đó, tại hội thảo ở Mỹ, tôi có khái quát hóa chủ trương và cách thức gác tranh chấp, cùng khai thác của Trung Quốc là “cái gì của tôi là của tôi, cái gì của anh cũng là của tôi và chúng tôi sẵn sàng cùng khai thác”, mục đích là để quốc tế hiểu rõ chính sách thực chất của Trung Quốc.

Họ không còn nhiều “bài”

Từng tham gia nhiều hội thảo, diễn đàn quốc tế về Biển Đông, ông nhận định gì về những hành động vừa qua của Trung Quốc như lập cái gọi là “thành phố Tam Sa”, mời thầu quốc tế 9 lô dầu khí nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam?

“Cách nhìn nhận của Trung Quốc cũng tương tự như một anh chàng nhảy ra tuyên bố sân chung của cả khu phố là của anh ta, do đó nếu nhà hàng xóm nào để xe máy trước thềm nhà của họ thì anh ta cũng phản ứng, ra đạp đổ hoặc chọc phá”

 

TS Trần Trường Thủy

Các hành động vừa qua thực ra không có nhiều bất ngờ. Họ đã triển khai rất đồng bộ nhiều biện pháp trên thực địa từ mấy năm nay, nhằm mục đích quản lý thực tế theo Đường lưỡi bò, bao gồm hành chính hóa, dân sự hóa chiếm đóng; tăng cường hiện diện hải quân, tập trận; tăng cường lực lượng bán quân sự như ngư chính, hải giám; tăng cường tuần tra; tăng cường hoạt động của tàu cá; cản phá các hoạt động kinh tế về dầu khí, hải sản của các nước khác... Hai biện pháp cụ thể trên thực ra đã được tiến hành từ trước đó.

Năm 2007, tỉnh Hải Nam đã đề xuất thành lập thành phố Tam Sa. Còn từ năm 1992, Trung Quốc cũng đã cấp phép thăm dò dầu khí cho Cty Crestone của Mỹ tại khu vực Tư Chính thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

Trung Quốc cũng đã cho lưu hành bản đồ phân lô dầu khí trong toàn bộ Đường lưỡi bò từ năm 2007.

Các hành động vừa qua của họ cũng nằm trong logic của chính sách phản ứng như đã nói trên, nhằm trả đũa Việt Nam thông qua Luật Biển Việt Nam.

Có thể thấy, Trung Quốc đã chuẩn bị rất công phu, tung một lúc nhiều biện pháp (phản đối ngoại giao, nâng cấp Tam Sa, phân lô dầu khí, tuyên bố tuần tra của ngư chính, hải quân sẵn sàng chiến đấu). Mục đích của họ là nhằm răn đe Việt Nam nhưng nếu nhìn kỹ thì không thấy biện pháp nào mới.

Họ cũng không còn nhiều bài. Sử dụng quân sự thì lợi bất cập hại. Biện pháp mạnh hơn chắc chỉ có cho giàn khoan trong vùng thềm lục địa của Việt Nam hoặc lại tạo ra các vụ cản phá mới tương tự như vụ tàu Bình Minh 02 và Viking 02 năm 2011. Đối với các hành vi này, tôi nghĩ Việt Nam đã có cách xử lý tốt.

Điều đáng chú ý ở đây là tuy Trung Quốc có tính toán nhưng dường như vẫn chưa có sự phối hợp đồng bộ đối nội, đối ngoại.

Các biện pháp quyết đoán này được đưa ra ngay trong cuộc họp giữa ASEAN và Trung Quốc về triển khai Tuyên bố ứng xử các bên tại Hà Nội và trước các cuộc họp quan trọng trong khuôn khổ ASEAN tại Phnom Penh (Campuchia).

Việc này sẽ ảnh hưởng đến các nỗ lực của Trung Quốc không muốn đưa vấn đề Biển Đông ra bàn thảo tại các diễn đàn đa phương, nhất là tại Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF).

Biển Đông là vấn đề của khu vực

Nhiều chuyên gia cho rằng, những hành động tiếp theo của Trung Quốc không hoàn toàn phụ thuộc vào họ mà còn phụ thuộc vào phản ứng của Việt Nam và cộng đồng thế giới. Ông nghĩ sao?

Hành động tiếp theo của Trung Quốc tại Biển Đông liên quan đến nhiều nhân tố đối nội và đối ngoại. Về đối nội, các nhóm lợi ích như: hải quân, ngư chính, hải giám, các tỉnh giáp Biển Đông, các công ty dầu khí tăng cường hoạt động, cạnh tranh gây ảnh hưởng và ngân sách.

Lãnh đạo Trung Quốc hiện nay cũng cần sự đồng thuận để điều chỉnh chính sách bởi họ không còn những cá nhân tự quyết một mình như trước. Vì thế Trung Quốc phải dung hòa nhiều quan điểm và lợi ích khác biệt.

Về đối ngoại, Trung Quốc phải giải quyết một lúc nhiều mâu thuẫn giữa việc thúc đẩy hình ảnh phát triển hòa bình và việc thực thi chính sách quyết đoán tại Biển Đông; giữa việc duy trì cơ hội chiến lược cho phát triển và nhu cầu vươn ra ngoài, nhất là về hải quân; giữa việc duy trì quan hệ láng giềng hữu nghị với các nước ASEAN, không để các nước ASEAN đi với Mỹ, với nhu cầu kiểm soát theo Đường lưỡi bò.

Do đó, phản ứng của cộng đồng quốc tế, trong đó có Việt Nam sẽ tác động lên chính sách và hành vi của Trung Quốc tại Biển Đông; tác động trực tiếp lên giới hoạch định chính sách và các nhóm lợi ích.

Nếu Trung Quốc nhận thấy hành vi của họ tại Biển Đông sẽ là thuốc thử về con đường phát triển hòa bình của Trung Quốc, Trung Quốc càng hung hăng tại Biển Đông thì ASEAN càng e ngại, tăng cường hợp tác với Mỹ; Trung Quốc càng ỷ sức thì sức mạnh mềm của Trung Quốc càng giảm sút- thì Trung Quốc sẽ phải đặt Biển Đông trong đại chiến lược phát triển của mình để có các bước đi mềm mỏng, trước hết là để phục vụ lợi ích lâu dài của Trung Quốc và qua đó giữ hòa bình, ổn định ở khu vực.

Một trong những cách thức để đạt mục tiêu này là cần biến vấn đề Biển Đông thành vấn đề của khu vực và của quốc tế.

Cám ơn ông.

Hà Nhân

thực hiện

Theo Tiền Phong Online

 

 

Phỏng vấn của BBC với Tiến sĩ Trần Trường Thủy, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Biển Đông, Nhà nghiên cứu duy nhất của Việt Nam tại hội thảo Biển Đông ở Manila ngày 16-17/10, về những thay đổi gần đây trong chính sách Biển Đông của Trung Quốc và Việt Nam.   

 

Tiến sĩ Trần Trường Thủy: Từ khi ký Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) năm 2002 giữa Trung Quốc và Asean, Trung Quốc đã thi hành chính sách gây cảm tình (charm offensive) để thu phục nhân tâm các nước Asean theo chiến lược láng giềng tốt.

Nhưng hai, ba năm gần đây, Trung Quốc có điều chỉnh vì họ mạnh lên và cũng vì nhân tố chính trị nội bộ. Tình hình nóng lên, ví dụ việc cấm đánh bắt cá, ngăn tàu khảo sát. Trung Quốc công khai hóa đường lưỡi bò không chỉ về ngoại giao, trên giấy tờ mà cả trên thực tế là thi hành kiểm soát theo phạm vi đường lưỡi bò. Họ tăng cường các biện pháp đơn phương như cấm đánh bắt cá, công bố dự án đầu tư thăm dò dầu khí 30 tỷ đôla, đầu tư dàn khoan nước sâu. Mà những vùng nước sâu ở Biển Đông chắc chắn không nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Hải Nam.

Các bước đi của Trung Quốc mang tính thử và đẩy. Họ điều chỉnh chính sách và xem phản ứng các nước thế nào. Nếu thuận thì đẩy tiếp, nếu bị phản ứng thì điều chỉnh. Sau Diễn đàn An ninh khu vực (ARF) 17, khi Ngoại trưởng Mỹ Clinton can thiệp vào vấn đề Biển Đông, Trung Quốc phản ứng mạnh một thời gian nhưng sau đó cũng điều chỉnh lại cho mềm mỏng hơn.

Điều chỉnh một giai đoạn ngắn, nhưng các sự kiện sau đó cho thấy Trung Quốc cứng rắn trở lại như vụ cắt cáp và các vụ việc về tàu cá, dầu khí khác. Đến khi gặp phản ứng của các nước liên quan và của cộng đồng quốc tế, TQ lại tiếp tục điều chỉnh. Trong hai, ba tháng gần đây, đã ít sự kiện xảy ra hơn. Trung Quốc đồng ý ký với Asean bản hướng dẫn thực thi DOC [tháng Bảy 2011], hay cũng không có nhiều thông tin Trung Quốc bắt giữ ngư dân, hay có hành động cản phá trực tiếp hoạt động dầu khí của các nước khác như trước đây, tất nhiên là họ vẫn có phản đối ngoại giao và bài viết cứng rắn của báo chí.

 

BBC: Như vậy phải chăng Thỏa thuận vừa ký giữa Việt Nam và Trung Quốc về vấn đề trên biển có thể đặt trong bối cảnh Trung Quốc điều chỉnh chính sách cho mềm hơn sau khi bị phản ứng các nước?

Nếu so với các quan điểm trước đây thì Trung Quốc cũng có một số điều chỉnh. Thỏa thuận Sáu điểm về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển cho thấy hai bên cam kết giải quyết các tranh chấp bằng đàm phán thương lượng, dựa trên luật pháp quốc tế, có tính đến yếu tố lịch sử và quan tâm của các bên. Nếu xem kỹ điểm thứ ba sẽ thấy Trung Quốc có điều chỉnh . Tức là những tranh chấp chỉ giữa Việt Nam và Trung Quốc thì đàm phán hai nước. Nhưng những vấn đề liên quan các nước khác, phải đàm phán với các nước đó. Đây là điểm mà Việt Nam rất kiên định và như thế các nước Asean mới an tâm.


 

Đó cũng có thể nói là bước tiến của Trung Quốc vì từ trước đến giờ, Trung Quốc chỉ kiên quyết đàm phán song phương kể cả những vấn đề có tranh chấp nhiều nước.

Có những điểm tích cực khác như hai nước thỏa thuận tham vấn Trưởng đoàn đàm phán biên giới cấp Chính phủ một năm hai lần và khi cần thiết, tức là khi có căng thẳng cũng có cơ chế để giải quyết tức thì. Bổ trợ cho cơ chế ấy là thiết lập đường dây nóng. Cơ chế mà Trung Quốc và Việt Nam có được, nếu tôi không nhầm thì là lần đầu tiên ở cả châu Á. Năm ngoái có va chạm trên biển giữa Nhật và Trung Quốc liên quan đến bắt giữ thuyền trưởng tàu cá . Một trong những nhân tố làm leo thang căng thẳng là giữa Trung Quốc và Nhật Bản không có cơ chế nói chuyện trực tiếp với nhau khi cần thiết.

Việc ký kết thỏa thuận thể hiện hai nước cam kết giải quyết vấn đề một cách hòa bình và muốn cho thế giới thấy có tiến bộ trong quá trình đàm phán Biển Đông.

 

BBC:Trong bài phát biểu, anh nói chính sách Biển Đông của Việt Nam cũng có những điều chỉnh. Anh có thể cho biết rõ hơn?

Chính sách của Việt Nam có những cái bất biến, nhưng cũng có những điều chỉnh. Ví dụ, chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa là bất biến.

Về quan điểm đối với các vùng biển, Việt Nam có chủ quyền đối với các vùng nội thủy và lãnh hải tính từ đường cơ sở, và có quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa, cả đoạn 200 hải lý và đoạn kéo dài như các báo cáo ranh giới ngoài của riêng Việt Nam và báo cáo chung giữa Việt Nam và Malaysia.

Liên quan quy chế pháp lý của các vị trí (hình thái địa chất) ở Hoàng Sa, Trường Sa, qua các báo cáo ranh giới ngoài, nhiều học giả kết luận là Việt Nam không coi các vị trí ở Hoàng Sa, Trường Sa là các đảo và do đó không có các vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, mà chỉ có tối đa 12 hải lý lãnh hải. Đây là bước điều chỉnh trong quan điểm của Việt Nam đối với các vùng biển và cũng phù hợp với Công ước LHQ về luật biển 1982. Thực tế, các vị trí nói chung ở Hoàng Sa, Trường Sa đa số không có đời sống kinh tế riêng, nên theo Công ước luật biển, thì chúng không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Hầu như mọi nước Asean ven Biển Đông đều thống nhất với quan điểm này. Nó tạo thành lập trường chung của Asean – tất nhiên khác với lập trường của Trung Quốc.

 

BBC:Sau bài thuyết trình của anh, một chuyên gia Trung Quốc, đại sứ Trần Sỹ Cầu đứng lên phản bác một số điểm. Anh nghĩ thế nào?

Dĩ nhiên cái nhìn của Trung Quốc thì khác. Họ xem mình có chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa và có quyền theo đường lưỡi bò, nên mọi hành động của các nước trong đường lưỡi bò vi phạm quyền của Trung Quốc.

Phản ứng của ông đại sứ cũng là quan điểm công khai của chính phủ khi họ không công nhận Hoàng Sa có tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc. Hay họ cho rằng Trung Quốc không muốn mở rộng vùng tranh chấp. Nhưng nếu đọc các văn bản, công hàm, tuyên bố của Trung Quốc gần đây, có thể thấy họ muốn tối đa hóa khu vực tranh chấp khi xem các vị trí Hoàng Sa, Trường Sa là các đảo, và có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Như thế, tranh chấp từ các đảo sẽ mở rộng ra rất lớn.

Bài trình bày của tôi cho thấy Trung Quốc muốn mở rộng khu vực tranh chấp trên cả đường lưỡi bò. Nhưng đường lưỡi bò không có giá trị pháp lý, như trong các thảo luận ở Hội thảo này, tất cả đại biểu đều không hiểu đường lưỡi bò là gì.

Theo Lê Quỳnh, BBC, Manila: Chính sách Biển Đông của VN và TQ

 

 

 


 

Để xây dựng được đường vành đai chiến lược kéo dài từ biển Đông qua eo biển Malắcca và tiếp đó là Ấn Độ Dương, Trung Quốc đã không ngừng xây dựng và củng cố vai trò ảnh hưởng của mình trên toàn bộ chiều dài tuyến vành đai này, trong đó Malaixia được coi là một mắt xích quan trọng cho chiến lược này của Trung Quốc.



 

Malaixia là một quốc gia có vị trí vô cùng quan trọng, nằm án ngữ ngay tại các điểm nút giao thông đường biển huyết mạch. Hơn nữa, quốc gia này lại nằm tiếp giáp giữa hai vùng biển quan trọng là biển Đông và eo biển Malắcca. Chính vì lý do vị trí địa lý quan trọng mà Malaixia đã trở thành mấu chốt quan trọng trong chiến lược hướng Nam của Trung Quốc.

Với việc xây dựng mối quan hệ thân thiện với Malaixia, Trung Quốc sẽ đạt được nhiều thuận lợi cho chiến lược hướng Nam của mình, trước hết là tạo điều kiện thuận lợi cho tuyến giao thông đường thuỷ. Tiếp theo, Trung Quốc hy vọng sẽ đạt được sự ủng hộ của Malaixia trong giải quyết tranh chấp ở biển Đông, lấy Malaixia làm bàn đạp để tiếp cận các nước khác trong khu vực Đông Nam Á và tiếp theo sẽ dựa vào Malaixia để đẩy dần tầm ảnh hưởng của Mỹ ra khỏi Đông Nam Á. Tuy nhiên, đây mới chỉ là một trong số các lý do để Trung Quốc cần xây dựng quan hệ đối tác chiến lược với Malaixia.

Vành đai chiến lược nối liền từ biển Đông qua eo biển Malắcca sang Ấn Độ Dương được coi là là tuyến đường giao thông hàng hải huyết mạch vô cùng quan trọng đối với sự sống còn của Trung Quốc. Trong thập niên đầu thế kỷ 21, Trung Quốc đã trở thành quốc gia tiêu thụ dầu lớn thứ hai thế giới, sau Mỹ. Thị trường chính cung cấp dầu cho Trung Quốc là các quốc gia nằm trong khu vực Trung Đông, châu Phi và Mỹ Latinh. Để vận chuyển dầu từ nơi sản xuất đến thị trường Trung Quốc phải trải qua một hải trình dài, trong đó eo biển Malắcca và biển Đông là hai điểm nút quan trọng của hải trình này.

Trong các tuyến vận tải đường biển quan trọng đi vào Trung Quốc, tuyến đi qua eo biển Malắcca đóng vai trò quan trọng nhất, đảm nhận vận chuyển tới 80% lượng dầu nhập khẩu hàng năm vào Trung Quốc. Đích tới của 60% số lượng tàu thuyền qua eo biển này là Trung Quốc. Theo nhận định của các chuyên gia hàng hải, trong những năm tới, Trung Quốc vẫn phải phụ thuộc nhiều hơn tuyến đường biển đi qua eo biển Malắcca. Dự báo năm 2010, nhập khẩu dầu lửa hàng năm của Trung Quốc sẽ lên đến 150 triệu tấn, tăng khoảng 10%. Đông Nam Á là cửa ngõ đi vào khu vực phía Đông và Đông Nam của đất nước Trung Quốc rộng lớn, cũng là nơi có những tuyến đường biển quan trọng bậc nhất đối với an ninh năng lượng của quốc gia này. Do đó, Trung Quốc hiện đang theo đuổi một chiến lược đa dạng hoá, cho phép nước này bảo vệ những tuyến đường vận tải năng lượng. Theo đó, Trung Quốc đã từng đặt vấn đề với Malaixia để đưa lực lượng hải quân giúp đỡ nước này tuần tra an ninh ở eo biển Malắcca.

Tai sao Trung Quốc cho rằng dựa vào Malaixia sẽ có lợi hơn trong giải quyết tranh chấp ở biển Đông?

Thứ nhất, xét về yếu tố chính trị, có thể nói Trung Quốc có tư thế chủ động hơn trong việc thao túng tầng lớp lãnh đạo của Malaixia. Hiện nay, đảng "Người Mã gốc Hoa" trong liên minh cầm quyền ở Malaixia đang có thế lực vô cùng lớn, điều hành toàn bộ vấn đề tài chính của quốc hội. Vì vậy, trong vấn đề ủng hộ Trung Quốc là điều rất dễ dàng.

Thứ hai, mặc dù Trung Quốc và Malaixia có tranh chấp ở Trường Sa, nhưng về khía cạnh nào đó Malaixia có xu hướng ngả về Trung Quốc. Tức là đồng ý với quan điểm "giải quyết tranh chấp ở biển Đông theo nguyên tắc song phương" mà Trung Quốc đã đưa ra.

Trung Quốc muốn lấy Malaixia làm bàn đạp tiến sâu vào các quốc gia khác ở Đông Nam Á và đẩy Mỹ ra khỏi khu vực này. Xét về mặt thương mại, Malaixia đã trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc trong số các nước thành viên ASEAN. Quan hệ thương mại song phương giữa hai nước đạt 39,06 tỷ USD trong năm 2008, tăng 10% so với năm 2007. Trong khi đó, Malaixia hiện cũng đang là thành viên quan trọng đối với các nước ASEAN, hơn nữa quốc gia này sẽ dần trở thành một trung tâm công nghiệp quốc phòng lớn trong khu vực.
Để biến Malaixia trở thành một mắt xích quan trọng trong chiến lược hướng
Nam của mình, trong những năm qua Trung Quốc đã tăng cường xây dựng các mối quan hệ và hợp tác với Malaixia trên nhiều lĩnh vực then chốt.

Về chính trị, trong chuyến thăm Trung Quốc hồi đầu tháng 6/2009, Thủ tướng Malaixia Datuk Seri Najib Tun Razak đã có cuộc hội đàm với Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo và hai bên đã thảo luận về một số vấn đề hợp tác. Tại cuộc gặp, ông Ôn Gia Bảo nhấn mạnh: "Trung Quốc và Malaixia sẽ phối hợp giải quyết các tranh chấp đối với các hòn đảo trên biển Đông và phát triển các mối quan hệ thương mại thân thiết hơn. Hai nước cần phải quan tâm đến lợi ích và những công việc của nhau để thúc đẩy mối quan hệ song phương lên một tầm cao mới".

Bên cạnh đó, Thủ tướng Najib Tun Razak lại có một mối quan hệ đặc biệt với Trung Quốc, mà báo chí Malaixia gọi đó là mối quan hệ "cá nhân". Điều này đã được chứng minh qua lời phát biểu của ông Najib Tun Razak trên tờ "Thái Bình Dương" rằng "chỉ có hoà bình, toàn bộ khu vực này mới có thể thực hiện được an ninh lâu dài. Việc bỏ qua Trung Quốc hay ủng hộ các chính sách kìm hãm của Mỹ sẽ chỉ đi ngược lại với tôn chỉ an ninh khu vực. Giành cho Trung Quốc không gian hít thở rộng lớn hơn trong khuôn khổ an ninh khu vực mới là con đường chính xác khi tiếp xúc với Trung Quốc".

Về quan hệ quốc phòng, Trung Quốc đã từng bước giành được các hợp đồng bán vũ khí cho Malaixia, mà điển hình là việc Trung Quốc bán cho nước này 16 giàn hoả tiễn FN-6 trị giá 6,7 triệu USD hồi tháng 6/2009. Ngoài ra, Malaixia có kế hoạch mua ít nhất 8 tàu tàng hình loại Type 022 của Trung Quốc.

Về ký kết các thoả thuận hợp tác, ngày 3/6/2009, tại Đại lễ đường Nhân dân Trung Quốc ở thủ đô Bắc Kinh, Thủ tướng Ôn Gia Bảo và Thủ tướng Najib Tun Razak đã chứng kiến 4 thoả thuận hợp tác chung mang tính chiến lược của hai quốc gia. Ngoại trưởng Malaixia Datuk Anifah Aman và Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì đã ký thoả thuận hợp tác chung về lĩnh vực khoa học và công nghệ hàng hải, bao gồm các lĩnh vực như: trao đổi và hợp tác chính sách hàng hải, quản lý vùng duyên hải chung, bảo vệ môi trường kinh tế, nghiên cứu hải dương, giảm thiểu thảm hoạ đại dương, vệ tinh viễn thông, phát triển thiết bị hàng hải, trao đổi thông tin hàng hải, nghiên cứu và khảo sát năng lượng biển, khảo sát tài nguyên biển và công nghệ khai thác, khảo sát biển và một số lĩnh vực khoa học khác.

Malaixia và Trung Quốc đã ký kết một thoả thuận hợp tác chiến lược chung trên 12 lĩnh vực gồm: hợp tác về chính trị, quốc phòng và an ninh, kinh tế, thương mại và tài chính, văn hoá và giáo dục, khoa học và công nghệ, y tế, nông nghiệp, vệ sinh dịch tễ, du lịch, nguồn nhân lực, năng lượng, lâm nghiệp, hợp tác khu vực và quốc tế. Ngoài ra, hai nước cũng tiếp tục ký kết 2 hiệp ước hợp tác bưu chính-viễn thông và hiệp ước xoá bỏ hộ chiếu ngoại giao và du lịch giữa hai quốc gia. Tiếp đó, các quan chức lãnh đạo các bộ, cơ quan, ban ngành của chính phủ hai nước cũng đã trao đổi và hứa hẹn hợp tác trên nhiều lĩnh vực về kinh tế, khoa học, đầu tư.../.

 

Theo The Vietnamese Herald

 

 

 

Ngôn ngữ

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

Joomla Slide Menu by DART Creations

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

           

          

HỘI THẢO QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Philippin kiện Trung Quốc

 

 

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

ĐANG TRỰC TUYẾN

Hiện có 10276 khách Trực tuyến

Đăng nhập



Đăng ký nhận tin