25 - 1 - 2021 | 18:54
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home
Tag:Biển Đông

Giá trị dân chủ gặp khủng hoảng về uy tín khi Mỹ tìm cách hàn gắn các quan hệ đồng minh truyền thống.

 

 

 

 


“Nước Mỹ đã trở lại,” Joe Biden tuyên bố ngày 24/11 khi giới thiệu đội ngũ chính sách đối ngoại tại buổi họp báo ở Delaware: “(Nước Mỹ) sẵn sàng lãnh đạo thế giới chứ không rút lui.”

Đứng sau Biden là đội ngũ quan chức đối ngoại hùng hậu, bao gồm Antony Blinken - đề cử Ngoại trưởng, cố vấn lâu năm, cựu Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Thượng từng cộng tác với Biden - và Jake Sullivan - đề cử cố vấn an ninh quốc gia, cựu cố vấn hàng đầu của Biden.

Biden nhấn mạnh chính sách đối ngoại đã quay về “phe thể chế”: các quan chức có học vị tại Harvard hay Yale, các viện nghiên cứu tại DC với kinh nghiệm chính trường nhiều thập kỷ, thấm nhuẩn chủ nghĩa quốc tế tự do lâu đời. Biden cũng hứa sẽ đảo ngược chính sách “Nước Mỹ trước tiên” của chính quyền Trump (mà Biden gọi là “Nước Mỹ một mình”). Theo đó, Mỹ sẽ không “nắn gân” đồng minh, không kết thân với độc tài, không tôn vinh dân túy và giảm thiểu cam kết quốc tế nữa. Thay vào đó, Mỹ sẽ quay lại chính sách truyền thống từ sau Chiến tranh lạnh: củng cố đồng minh và chủ nghĩa đa phương, lấy giá trị dân chủ làm nguyên tắc tập hợp cốt lõi.

Tuy nhiên, cũng như với các chính quyền trước, các lý tưởng táo bạo thường vấp phải thực tại phũ phàng. 

----------

Sau bốn năm chính quyền Trump cầm quyền, thế giới đã trải qua nhiều thay đổi: sức mạnh địa chính trị, thay vì chủ nghĩa lý tưởng, ngày càng có ảnh hưởng lên hệ thống toàn cầu. Ba trụ cột chính sách đối ngoại Mỹ - chủ nghĩa đã phương, quan hệ đồng minh và giá trị dân chủ - đã mai một tới mức không thể khôi phục được.

Châu Á là minh chứng rõ rệt cho xu thế này. Chính sách đối ngoại của Mỹ tại Châu Á chủ yếu được cho là tập trung vào cạnh tranh nước lớn: Trung Quốc “ăn cắp” công nghệ Mỹ, bắt nạt láng giềng và bành chướng tầm ảnh hưởng. Biden viết rằng, cách đối phó là “xây dựng một liên minh các đối tác và đồng minh Mỹ để đối đầu với hành xử hung hăng của Trung Quốc… ngay cả khi Mỹ tìm kiếm hợp tác với Trung Quốc trong các vấn đề chung lợi ích khác như biến đổi khí hậu, chống phổ biến vũ khí hạt nhân và an ninh y tế toàn cầu.”

Thế nhưng, việc xây dựng một liên minh như Biden nói rất phức tạp. Nước Mỹ thời Biden “quay trở lại khu vực với cái tôi bị chầy xước,” nhà bình luận chuyên về Đông Nam Á Kavi Chongkittavorn trao đổi với tờ Nikkei Asia. “Mỹ có thể khiêm tốn hoặc cứng rắn hơn. Dù theo hướng nào, chính sách của Mỹ sẽ ảnh hưởng tới khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương.”

Trước tiên, theo nhận định của Paul Haenle, Giám đốc Trung tâm Chính sách Toàn cầu Carnegie Tsinghua tại Bắc Kinh, Mỹ không thể dựa vào các cơ chế đa phương như trước bởi Trung Quốc ngày càng có ảnh hưởng tại chính các cơ chế này. “Chính quyền Biden sẽ vấp phải cuộc chiến gam co ngay từ ngày đầu.” Chỉ trong Tháng 11 vừa qua, Trung Quốc đã vượt mặt Mỹ khi ký hiệp định thương mại đa phương RCEP (mà nhiều người cho là đối trọng của TPP do Trung Quốc dẫn dắt).

Trụ cột thứ hai – hệ thống đồng minh – cũng lung lay. Trump rút lính khỏi Đức và công khai đặt nghi vấn cam kết bảo vệ đồng minh của Mỹ. Nhiều nước đã phản ứng bằng việc theo đuổi sách phòng vệ nước đôi (hedging). Ví dụ, Nhật tăng cường hợp tác kinh tế với Trung Quốc. Tháng 11, hai nước đồng ý nối lại đường bay thương mại trước cuối tháng và tiếp tục đàm phán các thỏa thuận thương mại song phương. Đại sứ Nhật tại Mỹ trong nhiệm kỳ đầu của Obama cho rằng “đây là nghệ thuật ngoại giao để cùng lúc theo đuổi những mục tiêu tưởng chừng khác nhau.”

Trong khi đó, giá trị dân chủ gặp suy thoái trên toàn cầu. Mỹ không thể làm tấm gương về dân chủ được nữa vì: hành động bạo hành của cảnh sát Mỹ với người biểu tình ôn hòa trong nước; bởi bạo loạn giai đoạn bầu cử; và chính sách ứng phó với COVID không hiệu quả. Sự suy thoái của nền dân chủ Mỹ và các thể chế là “lời khẳng định các lo ngại về mặt trái của dân chủ Mỹ mà chúng ta vẫn lo ngại bấy lâu,” cựu Ngoại trưởng Singapore Bilahari Kausikan nhận xét.

----------

Mặc dù tổn hại về uy tín, giá trị dân chủ vẫn là trọng tâm thế giới quan của bộ đôi Biden-Bliken. Blinken phát biểu hồi Tháng 7 rằng “Câu trả lời nền tảng, nguyên thủy nhất là dân chủ. Khi phát huy tác dụng, dân chủ là nền móng sức mạnh Mỹ cả trong và ngoài nước.” Ý tưởng này cũng chi phối các ấn phẩm của phe Biden. Theo “Kế hoạch Dẫn dắt Thế giới Dân chủ để Giải quyết các Vấn đề Thế kỷ 21”, Biden hứa sẽ tổ chức một “Hội nghị toàn cầu về Dân chủ để làm hồi sinh tinh thần và mục tiêu chung của Thế giới Tự do.”

Kế hoạch của Biden nói rõ: “Để thắng Trung Quốc hay bất kì đối thủ nào trong tương lai, chúng ta phải mài dũa thế mạnh về Đổi mới và Kinh tế của các nền dân chủ trên thế giới, làm đối trọng với các hành vi kinh tế hung hăng.”

Trong bài xã luận trên tờ Washington Post, Blinken (cùng nhà tân bảo thủ nổi tiếng Robert Kagan) đưa ra ý tưởng thành lập một “liên minh dân chủ” hay một “hệ thống hợp tác dân chủ” để chống lại sức ảnh hưởng của Trung Quốc.

 “Mỹ có các đồng minh tại Châu Á và Châu Âu nhưng không có thể chế nào kết nối các nền dân chủ Á-Âu,” Blinken và Kagan viết. “Khi Sáng kiến Vành đai và Con đường (BRI) của Trung Quốc kết nối Châu Á, Châu Âu và Trung Đông nhằm phục vụ lợi ích Bắc Kinh, các nền dân chủ cũng cần một chính sách toàn cầu – các thể chế mới - để thiết lập một tầm nhìn chiến lược, kinh tế và chính trị chung.”

Cựu Đại sứ Mỹ Dan Fried chia sẻ với Atlantic Council rằng: Về cốt lõi, Blinken có vẻ gần với tư tưởng của (cực Ngoại trưởng thời Clinton) Madeleine Albright – người coi Mỹ là biểu tượng tự do của riêng mình – hơn là lập trường có phần điềm tĩnh hơn của Obama.”

Trong bài phát biểu đầu tiên với vai trò đề cử Ngoại trưởng, Blinken kể lại câu chuyện về người cha dượng, một nạn nhân còn sống sót từ cuộc thảm sát Holocaust, được một binh sĩ Mỹ gốc Phi giải cứu trong Thế chiến II và về một nước Mỹ, dù không hoàn hảo, vẫn đại diện cho “hy vọng tốt đẹp cuối cùng trên thế giới.”

----------

Ý tưởng về một liên minh dân chủ vẫn mù mờ (mặc dù khái niệm BRI của Trung Quốc cũng vậy). Tuy nhiên, Bắc Kinh không đưa ra phép thử chính trị nào. Ngược lại, việc đặt điều kiện về dân chủ có thể làm tổn hại quan hệ giữa Mỹ chính những nước Mỹ đang muốn quy phục về phe mình như Philippines, Việt Nam hay Thái Lan.

Kausikan, người cho rằng Trump thành công trong khôi phục uy tín Mỹ tại Châu Á hơn người tiền nhiệm, cho biết: “Nhiều điều phụ thuộc vào cách chính quyền Biden định nghĩa thế nào là ‘khôi phục cam kết với dân chủ hóa’.”  

“Nếu điều này chỉ có nghĩa là có chính sách khác Trump, không vấn đề gì.” Nhưng nếu đây là chính sách Mỹ định theo đuổi, Mỹ nên hiểu rằng không phải tất cả các quốc gia - bao gồm bạn bè và đồng minh của Mỹ - đều chia sẻ định nghĩa dân chủ hay giá trị của Mỹ… Chính sách này sẽ không chỉ thất bại mà còn đẩy khu vực vào vòng tay Trung Quốc nếu không được triển khai với những lưu ý về sắc thái như trên.”

Các nước khu vực có những mô hình dân chủ hoàn toàn khác nhau. Việt Nam có chế độ cộng sản. Thái Lan năm vừa qua chứng kiến biểu tình rộng khắp vì dân chủ, dẫn đến phản ứng bạo lực từ chính quyền. Đại dịch đem lại cơ hội để các lãnh đạo như Tổng thống Joko Widodo của Indonesia hay Rodrigo Duterte của Philippines củng cố chế độ độc tài. Duterte từng đuổi Obama “cút xuống địa ngục” và đắn đo việc gia hạn Thỏa thuận các Lực lượng Viếng thăm với Mỹ - công cụ răn đe Trung Quốc xâm nhập Biển Đông tối quan trọng.

Chính quyền Trump không ngăn chặn xu hướng độc tài tại Đông Nam Á, thậm chí còn mi Duterte và Thủ tướng Thái Prayuth Chan-ocha, cựu lãnh đạo quân phiệt, tới Washington vào năm 2017. Myanmar, mặc dù tiến hành dân chủ hóa thời Obama, quay về với chế độ độc tài dưới thời Trump.

Ann Marie Murphy, chuyên gia về Đông Nam Á tại Đại học Seton Hall cho biết: “Trên toàn khu vực, điều duy nhất được các lãnh đạo hưởng ứng là chính quyền Trump bớt thúc đẩy dân chủ.”

Blinken nói rõ rằng mình nhận thức được mâu thuẫn giữa việc tìm kiếm đối tác và duy trì các lý tưởng dân chủ. “Có nhiều quốc gia chúng ta cần hợp tác, bao gồm các nước Châu Á, nhưng không phù hợp với quan điểm về dân chủ kiểu Jefferson của chúng ta… Chính chúng ta thời điểm này cũng không hợp… Nhưng khi củng cố dân chủ, ta sẽ lôi kéo các nền dân chủ cùng hợp tác, tạo ra nền móng để kêu gọi các nước khác trong các vấn đề khác.”

Joshua Kurlantzick, nghiên cứu viên cấp cao về Đông Nam Á thuộc Hội đồng Quan hệ Quốc tế, cho rằng, nếu Mỹ chú trọng vào Trung Quốc, Mỹ phải nhượng bộ mục tiêu dân chủ ở mức độ nào đó. “Nhu cầu tập hợp ủng hộ khu vực tại Đông Nam Á… có thể khiến mục tiêu về dân chủ và nhân quyền bị lu mờ.”

“Ngày cũ đã qua”

Bức tượng em bé gái trước cổng Sứ quán Nhật tại Seoul giờ cũng ngáng đường Blinken.

Vào Tháng 4/2015, Blinken nhậm chức Thứ trưởng Ngoại giao được bốn tháng và vừa tổ chức thành công cuộc gặp ba bên với Thứ trưởng Nhật Bản và Hàn Quốc. Khi một phóng viên Nhật hỏi liệu mâu thuẫn lâu đời giữa Nhật Bản và Hàn Quốc về vấn đề bồi thường chiến tranh có làm tổn hại hợp tác ba bên không, Biden khéo léo né tránh. Trước cuối năm đó, với sự ủng hộ của Mỹ, Nhật và Hàn đã đạt được thỏa thuận bồi thường. Đổi lại, Hàn Quốc sẽ giỡ bỏ bức tượng tưởng nhớ “phụ nữ giải khuây” trước cổng Sứ quán Nhật.

Thế nhưng, khi Blinken vừa rời chính quyền Obama năm 2017, một bức tượng tương tự được dựng lên tại thành phố Busan, Hàn Quốc. Quá xúc phạm, Nhật rút khỏi thỏa thuận.

Sự việc cho thấy lịch sử phức tạp và mục tiêu khác nhau của các nước Mỹ muốn dựa vào để xây dựng tiền tuyến dân chủ tại Châu Á. Bây giờ, khi Blinken trở lại Bộ Ngoại giao, quan hệ Nhật-Hàn cũng chạm đáy. Đây cũng chỉ là một điểm tối trong khu vực đầy mâu thuẫn lịch sử: Trung Quốc ngày một hung hăng trong xung đột biên giới với Nhật Bản và Ấn Độ, gây sức ép lên Đài Loan; Bắc Triều Tiên vẫn rất khó đoán; ranh giới giữa Hồng Kông và Trung Quốc lục địa ngày một lung lay.

----------

Blinken là người “giải quyết rắc rối,” cựu Trợ lý Ngoại trưởng về Đông Á và Thái Bình Dương Daniel Russel nhận xét. Russel nói, trong các cuộc họp, ông luôn ấn tượng với khả năng truyền tải rõ ràng chính sách Mỹ cũng như khả năng khiến đối phương bộc lộ ưu tiên và trăn trở đối với kiến nghị từ phía Mỹ của Blinken. Russel lấy đàm phán TPP làm ví dụ. Trong đó, Blinken cùng đồng nghiệp đã khiến Việt Nam cam kết cải cách để đạt tiêu chuẩn quốc tế (dù với chính quyền không dân chủ), từ đó kéo Việt Nam được vào thỏa thuận.

Sullivan, đối trọng với Blinken, từng đạt Học bổng Rhodes tại Đại học Oxford, được cho là ngôi sang đang lên của phe Dân chủ. Mặc dù không nổi tiếng trong giới chính sách bằng Blinken, Sullivan là một nhà vận hành chính trị điêu luyện, đóng góp vào thỏa thuận hạt nhân với Iran năm 2015 (mà Trump đã rút năm 2018).

Tuy nhiên, lãnh đạo phe Biden về đối ngoại chắc chắn là Biden, người có nhiều kinh nghiệm quốc tế hơn bất kì ai kể từ George H.W. Bush. Theo cựu Đại sứ Nhật tại Mỹ Fujisaki, việc đề bạt Blinken cho thấy Biden muốn kiểm soát chính sách đối ngoại, không như Obama – người bước vào Nhà Trắng với tương đối ít kinh nghiệm đối ngoại.

“Tôi nghĩ Biden muốn kiểm soát chính sách đối ngoại bằng cách bổ nhiệm các nhân sự và trợ lý cũ,” Fujisaki nói. “Cách này khác với Obama – người bổ nhiệm Hillary Clinton và John Kerry vào vị trí Ngoại trưởng.”

----------

Các vấn đề về khu vực đã thay đổi nhanh chóng kể từ khi những người thuộc đội ngũ Biden rời nhiệm sở. Thỏa thuận TPP Blinken góp phần tạo dựng đã bỏ Mỹ lại phía sau. Việc ký kết RCEP được xem là lời cảnh tỉnh với Washington: Khu vực giờ đây có thể hình thành các hiệp ước đa phương mà không cần Mỹ.

Trong những năm gần đây, các nước Ấn Độ-Thái Bình Dương có xu hướng dựa vào Mỹ về an ninh và dựa vào Trung Quốc về kinh tế. Tuy nhiên, các nước này ngày càng coi trọng phát triển kinh tế hơn, lo ngại về ảnh hưởng kinh tế hơn nguy cơ quân sự từ Trung Quốc, theo báo cáo của RAND (dựa trên phỏng vấn với hơn 100 quan chức Mỹ và các nước và các chuyên gia). Nhiều ý kiến cũng cho rằng, việc Biden và Blinken tái tập trung vào dân chủ nên được cân nhắc thận trọng đừng nên diễn giải “dân chủ” quá hạn hẹp.

Trong khi các giá trị dân chủ “giúp Mỹ mở rộng tầm ảnh hưởng, đặc biệt là về sức mạnh mềm,” Biden và Blinken “không phải những người quá chú trọng về ý thức hệ, Russel cho biết. “Đây không phải là một cuộc thánh chiến vì dân chủ mà là cách tiếp cận thực dụng, dựa trên thực tế.

Đối với các đồng minh lâu năm như Nhật và Úc – những quốc gia chia sẻ nhiều lợi ích chiến lược với Mỹ nhưng phụ thuộc vào Trung Quốc về thương mại, việc nhắc đến liên minh dân chủ có thể “đặt các nước này vào thế bí.” Thế nhưng, sớm hay muộn, các nước này cũng phải đối mặt với thách thức từ Trung Quốc,” John Lee, nguyên cố vấn an ninh cho Bộ trưởng Ngoại giao Úc Julie Bishop, cho biết. “Điều này không có nghĩa các nước này phải đưa ra tuyên bố hay chính sách giống Mỹ, nhưng các nước phải quyết định tương lai sẽ bị chi phối bởi những luật lệ nào.”

Với vai trò là trụ cột hệ thống đồng minh tại Châu Á, Nhật Bản có thể sẵn sàng tham gia liên minh dân chủ. Nhật đã thế vị trí lãnh đạo của Mỹ, chèo lái TPP sau khi Trump rút khỏi hiệp định. Tuy nhiên, Tokyo cũng theo đuổi quan hệ gần gũi hơn với Trung Quốc vì căng thẳng thương mại với Mỹ và lo ngại về cam kết của Mỹ tại Châu Á trong tương lai.

Trong khi đó, Ấn Độ - một trụ cột quan trọng của chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương của chính quyền Trump – vẫn tỏ ra do dự. Ấn Độ không chỉ rút khỏi RCEP mà còn giữ khoảng cách với các đối tác trong hệ thống Quad.

Tôi dự đoán Biden và đội ngũ của mình có thể điều chỉnh (chính sách Ấn Độ-Thái Bình Dương) về sắc thái nhưng Mỹ vẫn sẽ coi trọng chính sách này để làm đối trọng với Trung Quốc,” cựu Đại sứ Ấn Độ tại ASEAN Gurjit Singh cho biết.

----------

Mỹ tập trung trở lại vào dân chủ chắc chắn sẽ khiến lãnh đạo Trung Quốc không vừa lòng. Trung Quốc vốn nghi ngờ Washington dùng giá trị dân chủ để chống phá các chính quyền đối địch. Blinken đã từng chia sẻ rằng thất bại lớn nhất về đối ngoại của chính quyền Obama là không can dự quyết liệt vào Syria, điều Blinken “sẽ luôn khắc ghi”.

Thế nhưng, Giám đốc chương trình Châu Mỹ tại Chatham House, Leslie Vinjamuri, lại cho rằng Blinken và Biden sẽ không quay lại chính sách thúc đẩy dân chủ kiểu cũ.

Mỹ sẽ không sử dụng lực lượng quân sự để thúc đẩy dân chủ tại nước ngoài. Tôi nghĩ thời kì đó đã qua rồi. Giờ không ai muốn và không có tiền để làm điều đó nữa,” Vinjamuri nói.

Trong một buổi hội thảo của Chatham House hồi Tháng 4, Blinken chỉ trích cách tiếp cận của Trump. Ông cho rằng các quốc gia dân chủ chiếm hơn một nửa kinh tế thế giới nên Bắc Kinh sẽ phải coi trọng các quốc gia này. Blinken nói: “Mỹ phải hiện diện và thể hiện rằng Mỹ sẽ đảm nhiệm vai trò lãnh đạo – điều sẽ tạo ra khác biệt lớn – thay vì vắng mặt… Nếu phối hợp với các đối tác, Mỹ có thể tiến xa hơn nhiều” so với việc thay đổi chính sách liên tục trong những năm gần đây.

Blinken cũng đề cập đến chủ nghĩa dân túy và chủ nghĩa dân tộc cực đoan đang dâng cao trong chính nước Mỹ. Ông cho rằng chính sách đối ngoại nên mang tính “bao quát” (inclusive) và phục vụ lợi ích nhân dân.

“Người dân đang tìm kiếm những câu trả lời đơn giản. Nếu làm điều khiến dân không hiểu hay bực bội, đó không phải là chính sách vì dân,” Blinken nhận xét. “Giờ ta không thể quay đầu… Nếu chúng ta không chứng minh được chính sách đối ngoại của Mỹ phục vụ người dân Mỹ, theo cách người dân Mỹ hiểu, thì chúng ta sẽ không được nhân dân ủng hộ lâu dài.”

Hỗn loạn từ trật tự

Khi xem xét kĩ hơn, nhiều chuyên gia cho rằng lời kêu gọi các nền dân chủ đoàn kết lại của Blinken và Biden không chỉ là tuyên bố về chính sách đối ngoại. Đó có thể là phản hồi đối với những khủng hoảng ngay trong lòng nước Mỹ, nơi xã hội trở nên chia rẽ hơn bao giờ hết.

Thứ nhất, việc tập trung vào dân chủ thay vì chế độ chuyên quyền khiến chính quyền Biden khác với chính quyền Trump trong mắt người dân trong nước lẫn quốc tế.

Thứ hai, việc tập trung vào dân chủ có thể nhằm mở rộng đồng thuận chính trị tại Washington, lôi kéo nhóm Cộng hòa, nhóm tân bảo thủ, những người thề “không bao giờ theo Trump”, những người đã bỏ đảng Cộng hòa khi Trump thắng cử và những những người trước giờ vẫn ủng hộ thúc đẩy dân chủ và can thiệp tại nước ngoài. Ví dụ, Kagan – đồng tác giả với Blinken – từng theo phe Cộng hòa nhưng rời khỏi đảng vào năm 2016. Kagan từng làm cố vấn cho ứng cử viên Tổng thống đảng Cộng hòa Mitt Romney và John McCain.  

Biden nêu rõ mục tiêu hàng đầu của mình là đẩy lùi đại dịch, phục hồi kinh tế và khôi phục niềm tin vào chính phủ Mỹ. Nikkei đưa tin vào Tháng 10 rằng Biden khó có thể đạt được các thỏa thuận thương mại lớn trong năm đầu vì các mục tiêu đối nội cần đầu tư trước tiên. Trong số các mục tiêu này, từ biến đổi khí hậu đến y tế cộng đồng, Mỹ đều cần Trung Quốc hợp tác. Đây cũng là các lĩnh vực Biden tuyên bố muốn tìm điểm đồng với Trung Quốc.

Về phần mình, Trung Quốc tuyên bố hoan nghênh các biện pháp giải quyết vấn đề mang tính “xây dựng” dù tinh thần thù địch thời Trump vẫn còn. “Trump đã thúc đẩy đồng thuận lưỡng đảng chống Trung Quốc. Đó là thách thức Trung Quốc phải đối mặt khi tìm cách tiếp tục đối thoại với Mỹ. Với Biden, tình hình sáng sủa hơn vì hai bên đều có nhu cầu đối thoại nhưng chắc chắn các vấn đề cấu trúc vẫn còn tồn tại,” Wang Huiyao, Giám đốc Trung tâm Trung Quốc và Toàn cầu hóa tại Bắc Kinh cho biết.

Kể cả khi Blinken gửi đi thông điệp dân chủ, chính quyền Biden cũng sẽ không giữ lập trường chống Trung, Clayton Dube, Giám đốc Viện Mỹ-Trung tại Đại học Nam California cho biết.

Dube cho rằng Biden không “làm ngơ” trước cách Trung Quốc hành xử nhưng sẽ không kiềm chế Trung Quốc bằng một cuộc chinh phạt vì dân chủ hay tìm cách khiến Trung Quốc dân chủ hơn. Ngược lại, cách tiếp cận của Blinken có thể trấn án đồng minh Mỹ rằng Mỹ sẵn sàng hợp tác trong khi Biden giải quyết các vấn đề đối nội.  

 “Blinken hướng tới người dân trong nước nhưng ông cũng gửi tín hiệu tới những đồng minh đã nghi ngờ cam kết dân chủ của Mỹ,” Dube nói. “Tôi nghĩ bài viết của Blinken nên được hiểu theo hướng trấn an người Mỹ về những gì Mỹ có thể và nên đại diện, cũng như trấn an các nước rằng ‘Mỹ cần quay trở lại con đường cũ và cần phối hợp với của các đồng minh.’”

Vinjamuri cũng chỉ ra rằng đội ngũ của Biden không coi Trung Quốc là kẻ địch dù Biden sẽ có lập trường cứng rắn đối với Trung Quốc về nhân quyền. Chính quyền Biden sẽ không tìm cách làm xa lánh Trung Quốc bằng một “liên minh dân chủ”.

“Tôi nghĩ Biden nhận thức rõ rằng hợp tác Mỹ-Trung là chìa khóa cho mọi thách thức lớn trên toàn cầu,” Vinjamuri cho biết. “Không chỉ về khí hậu hay dịch bệnh mà còn về kinh tế, thúc đẩy kinh tế toàn cầu và quản lý hướng phát triển công ngh.”

“Đội ngũ của Biden không phải các chiến binh thời Chiến tranh lạnh,” Vinjamuri nói./.  

----------

Nguyên tác: Team Biden says America is back. But is Asia ready to welcome it? (Nikkei Asia)

Tác giả: Alex Fang, Marrian Zhou và Francesca Regalado, báo Nikkei. Thông tin bổ sung do Gwen Robinson và Apornrath Phoonphongphiphat tại Thái Lan, CK Tan tại Thượng Hải và Kim Jaewon tại Seoul cung cấp.

Dịch giả: Đỗ Hoàng

 

Nhằm hỗ trợ, khuyến khích các sinh viên đại học, cao học và nghiên cứu sinh viết chuyên đề nghiên cứu về chủ đề Biển Đông. Năm 2013, Học viện Ngoại giao tiếp tục triển khai Chương trình Hỗ trợ Nghiên cứu Biển Đông lần thứ II.

 

         

          Chương trình được thực hiện nhằm thúc đẩy việc nghiên cứu về Biển Đông trên toàn quốc; phát hiện các tài năng trẻ, đam mê nghiên cứu về Biển Đông để tiếp tục đào tạo nhân lực chất lượng cao phục vụ cho công cuộc bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc, thúc đẩy hợp tác vì hòa bình và phát triển ở Biển Đông.

Chương trình năm 2013 dự kiến cấp 15 suất hỗ trợ (mỗi suất 10.000.000VNĐ) cho các sinh viên có luận văn tốt nghiệp, hoặc công trình nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến Biển Đông từ các góc độ lịch sử, pháp lý, kinh tế và quan hệ quốc tế v.v. Tác giả của 3 nghiên cứu xuất sắc nhất sẽ được mời tham gia và trình bày tham luận tại Hội thảo Quốc gia về Biển Đông lần thứ IV dự kiến tổ chức tại Hà Nội vào quý III, năm 2013.

Các nghiên cứu gửi đến tham dự Chương trình sẽ được đánh giá và chọn lọc bởi Hội đồng xét duyệt, bao gồm các chuyên gia hàng đầu trong nước về vấn đề Biển Đông.

Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh có thể đăng ký tham gia Chương trình theo Mẫu đăng ký và gửi đến chương trình thông qua Trường/Viện nơi các học viên đang tham gia học tập và nghiên cứu, hoặc gửi trực tiếp đến Chương trình Hỗ trợ Nghiên cứu Biển Đông - Học viện Ngoại Giao (69 Chùa Láng, Đống Đa, Hà Nội).

Thời hạn đăng ký tham gia Chương trình đến hết 15/5/2013; hạn chót để gửi bài nghiên cứu hoàn chỉnh là 31/7/2013.

Thông tin thêm xin đề nghị liên hệ với đ/c Nguyễn Tiến Thịnh, Viện Biển Đông, Học viện Ngoại giao. 

Email:  tienthinh.nguyen@gmail.com

Điện thoại : 04.38344540 (Ext: 224)

Fax : 04.38343543

Di động: 0904 793369

   

Download Mẫu đăng ký

 

 

Trang mạng tiếng Việt www.tapchithoidai.org vừa đăng tải bài viết của Hồ Bạch Thảo phân tích về vấn đề chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, với nhan đề: "Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa) có được nói đến như là đất Trung Quốc trong Thanh Sử Cảo và Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ không?" Sau đây là những nội dung chính của bài viết:

 

 

 

 

 

Ðọc những lời tranh cãi về chủ quyền trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Trung Quốc thường đưa những chứng cớ vu vơ về lịch sử, qua những tài liệu không đáng tin cậy. Lý do là bởi trong thời gian dài gần cả ngàn năm, bờ biển Trung Quốc thường bị khống chế bởi Nhật Bản hoặc các nước phương Tây, triều đình nước này lo phòng thủ cũng đã đủ mệt mỏi, nên không còn thời gian để nhòm ngó và thực hiện chủ quyền tại các hải đảo ngoài biển. Bởi vậy, không có bằng chứng xác đáng trong chính sử Trung Quốc là nước này đã xác định chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa, và thời gian qua để biện minh cho thế đứng của mình trong tranh chấp, Trung Quốc đã đưa ra những lời nói vu vơ thiếu căn cứ để làm bằng chứng cho chủ quyền của mình ở phần đất họ chưa bao giờ làm chủ. Trung Quốc thường dùng các bản tường trình hoặc du ký của người Trung Quốc, và những bản đồ vẽ thế giới quanh họ thường có tên là thiên hạ toàn đồ, tất nhiên là những bản đồ có vùng đảo Hoàng Sa và Trường Sa để chứng minh hai vùng này thuộc Trung Quốc. Điều này chẳng khác gì nói Nhật Bản, Việt Nam , Lào, Thái Lan v.v. cũng là đất Trung Quốc. Chống lại luận điệu này, tôi (Hồ Bạch Thảo) đã dựa vào chính sử Trung Quốc để xem xét bằng chứng. Theo cách làm việc này, qua bài Lãnh hải Trung Quốc dưới thời nhà Minh, tôi đã cố gắng tìm kiếm các địa danh Tây Sa, Nam Sa trong Minh Sử nhưng không thấy.

Bài này tiếp tục dò xuống đời Thanh, là thời gần với thời hiện đại nhất, phản ánh rõ địa lý mà sử sách và bản đồ Trung Quốc coi là vùng đất thuộc cương vực Trung Quốc, tất nhiên là không bao gồm các quốc gia độc lập khác mà thường phải cống nộp lấy lệ cho Trung Quốc để tránh Trung Quốc mượn cớ gây chiến. Cần lưu ý là các bản đồ khác mang tên đại loại như “thiên hạ toàn đồ” hay các tên tương tự là bản đồ thế giới hoặc bản đồ bao gồm cả Trung Quốc và các nước xung quanh được Trung Quốc coi là chư hầu hay bản đồ ghi lại các chuyến du hành. Những bản đồ này không thể coi là bản đồ Trung Quốc nhưng đã được một số học giả dùng để chứng minh là Tây Sa và Nam Sa đã được vẽ vào bản đồ Trung Quốc.
Bài viết thực hiện qua việc đọc bộ chính sử viết về thời này nhan đề là Thanh Sử Cảo để tham khảo. Tại Trung Quốc, Tống Sử được soạn vào đời Nguyên, Nguyên Sử soạn vào triều Minh, Minh Sử soạn vào triều Thanh, rồi đến Thanh Sử được soạn vào thời Dân Quốc. Vào thời đầu Dân quốc năm 1914 cho lập Quốc Sử Quán, cử Triệu Nhĩ Tốn làm Quán trưởng, bắt đầu biên soạn Thanh Sử. Trải qua hàng chục năm mới hoàn thành, đây là bộ sử đồ sộ gồm 536 quyển, tài liệu rất phong phú, nên các học giả mệnh danh là 1 trong 25 bộ sử của Trung Quốc (Nhị thập Ngũ Sử), riêng phần địa lý gồm 28 quyển. Phải nói địa lý hành chính trong bộ sử này chép khá kỹ, mỗi tỉnh chia rõ ràng từng phủ, huyện; về khoảng cách và phương hướng tính từ huyện, châu đến phủ, hoặc từ phủ lỵ đến tỉnh lỵ. Qua sự tìm hiểu 28 quyển địa lý trong bộ sử, không hề thấy địa danh các quần đảo có tên là Tây Sa, Nam Sa.

Tham khảo thêm, chúng tôi đã sử dụng Ðại Thanh Nhất Thống Toàn Ðồ của Thư viện Quốc gia Ôxtrâylia để xác minh thêm Thanh Sử Cảo.

I. Đại Thanh Nhất Thống Toàn Ðồ:

Trước tiên nói về Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ, gồm 21 phần, xin liệt kê như sau:

- Phần 1: Ðại Thanh nhất thống toàn đồ (Bản đồ toàn thể nước Ðại Thanh)
- Phần 2: Ðịa Cầu chính điện toàn đồ (Bản đồ mặt chính của quả Ðịa cầu)
- Phần 3: Ðịa Cầu bối diện toàn đồ (Bản đồ mặt sau của quả Ðịa cầu)
- Phần 4: Thịnh kinh toàn đồ (Bản đồ kinh sư phồn thịnh)
- Phần 5: Trực Lệ toàn đồ (Bản đồ tỉnh Trực Lệ)
- Phần 6: Sơn Tây toàn đồ (Bản đồ tỉnh Sơn Tây)
- Phần 7: Sơn Ðông toàn đồ (Bản đồ tỉnh Sơn Ðông)
- Phần 8: Giang Nam toàn đồ (Bản đồ vùng Giang Nam )
- Phần 9: Chiết Giang toàn đồ (Bản đồ tỉnh Chiết Giang)
- Phần 10: Giang Tây toàn đồ (Bản đồ tỉnh Giang Tây)
- Phần 11: Phúc Kiến toàn đồ (Bản đồ tỉnh Phúc Kiến)
- Phần 12: Quảng Ðông toàn đồ (Bản đồ tỉnh Quảng Ðông)
- Phần 13: Quảng Tây toàn đồ (Bản đồ tỉnh Quảng Tây)
- Phần 14: Hà Nam toàn đồ (Bản đồ tỉnh Hà Nam )
- Phần 15: Hồ Nam toàn đồ (Bản đồ tỉnh Hồ Nam )
- Phần 16: Hồ Bắc toàn đồ (Bản đồ tỉnh Hồ Bắc)
- Phần 17: Tứ Xuyên toàn đồ (Bản đồ tỉnh Tứ Xuyên)
- Phần 18: Vân Nam toàn đồ (Bản đồ tỉnh Vân Nam )
- Phần 19: Quí Châu toàn đồ (Bản đồ tỉnh Quí Châu)
- Phần 20: Thiểm Tây toàn đồ (Bản đồ tỉnh Thiểm Tây)
- Phần 21: Cam Túc toàn đồ (Bản đồ tỉnh Cam Túc)

Bản đồ không ngày tháng biên soạn và được Thư viện Quốc gia Ôxtrâylia đánh giá là xuất bản vào khoảng 1800-1899, nhưng qua phần 2 và 3 thể hiện trái đất là một khối cầu, có phân biệt hai cực Bắc, Nam; chứng tỏ nhà biên soạn từng tham khảo môn địa lý phương Tây. Ðiều này chỉ có thể xảy ra dưới thời Quang Tự [1875- 1908] hoặc sau đó, lúc này phong trào cải cách của Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu nhiệt liệt cổ động nghiên cứu học thuật phương Tây, Trung Quốc mới được truyền bá kiến thức này. Riêng với mục đích rà soát cái gọi là Tây Sa [Hoàng Sa], Nam Sa [Trường Sa] trong bản đồ; hãy tìm hiểu kỹ phần 1 Ðại Thanh Nhất Thống Toàn Ðồ, và phần 12 Quảng Ðông Toàn Ðồ; xét về vị trí địa lý các đảo nêu trên nếu có, chỉ có thể thấy trên 2 bản đồ này:

1. Phần 1 Ðại Thanh Nhất Thống Toàn Ðồ:

Ðây là bản đồ tổng quát nước Trung Hoa thời nhà Thanh, tính từ Bắc chí Nam , ngoài biển có các đảo như sau:

- Phượng Mã đảo: phía Nam nước Triều Tiên.
- Ðại Lưu Cầu, Tiểu Lưu Cầu: phía Đông tỉnh Chiết Giang.
- Ðài Loan: phía Đông tỉnh Phúc Kiến.
- Quỳnh Châu, Nhai Châu: tức phủ Quỳnh Châu và châu Nhai thuộc đảo Hải Nam nằm phía Nam lục địa tỉnh Quảng Ðông.

2. Phần 12 Quảng Ðông Toàn Ðồ:

Dò tiếp phía Nam lục địa Quảng Ðông thấy đảo Hải Nam và một số đảo kế cận xung quanh, ngoài ra phía Nam Hải Nam không còn đảo nào khác.

II. Thanh Sử Cảo:

Ðiều thú vị là hầu hết địa danh nêu trên bản đồ đều được đề cập trong Thanh Sử Cảo. Nội dung hai công trình gắn bó với nhau, nên có thể cho rằng công trình sau đã tham khảo công trình trước. Ðể làm sáng tỏ điều này, xin lược dịch lại đoạn địa lý chí chép về đảo Hải Nam trong Thanh Sử Cảo, gặp địa danh có trên Quảng Ðông Toàn Ðồ thì đánh số để tiện tham khảo. Theo Thanh Sử Cảo, tỉnh Quảng Ðông được chia thành 6 đạo (đơn vị hành chính thời xưa, tương đương với tỉnh ngày nay), đảo Hải Nam nằm trong đạo Quỳnh Nhai, đạo này gồm phủ Quỳnh Châu và Châu Nhai, mục địa lý chí chép như sau:

A. Phủ Quỳnh Châu: Trụ sở đạo Quỳnh Nhai nằm trong phủ, cách tỉnh lỵ Quảng Châu 1.810 lý về phía Đông Bắc; có 1 châu, 7 huyện. Phủ và châu Nhai nằm trong đảo Hải Nam, ở giữa có núi Ngũ Chỉ phân cách; phía Nam núi thuộc châu Nhai, Bắc núi thuộc phủ Quỳnh Châu. Trong núi có giống dân Sinh Lê, ngoài núi có dân Thục Lê cùng các châu huyện. Tại núi các động thâm hiểm, dân Lê thường ra vào gây loạn. Năm Quang Tự thứ 15 [1889], Tổng đốc Trương Chi Ðồng bắt đầu cho cắt núi Ngũ Chỉ bằng 12 con đường, gồm: 3 đường phía Đông, 3 đường phía Tây, 1 đường phía Nam, 1 đường phía Bắc, 1 đường Đông Nam, 1 đường Đông Bắc, 1 đường Tây Nam, 1 đường Tây Bắc; nơi hoang dã âm u mở thành đất bằng, mọi người đều cho là thuận tiện. Vào năm Hàm Phong thứ 8 [1858], nước Anh mở thương ước đặt thương cảng Quỳnh Châu. [Phủ Quỳnh Châu gồm]:

- Huyện Quỳnh Sơn: phủ thành đặt trong huyện, phía Nam có núi Quỳnh Sơn nên lấy tên đặt. Phía Bắc là bờ biển; sông Bạch Thạch còn gọi là Kiến Giang từ huyện Trừng Mại nơi bờ biển phía Tây Bắc vòng sang phía Đông, chảy vào huyện Ðịnh An, đến đây gọi là sông Nam Ðộ, vòng phía Bắc gọi là Bắc Sa Hà, chuyển sang phía Tây Bắc đến cửa Bạch Sa ra biển. Viên Huyện thừa đóng tại thành ở cửa biển, có Tuần ty tại Thủy Vỉ, công trường muối tại Cảm Ân.

- Huyện Trừng Mại: phía Tây phủ 60 lý, phía Nam có núi Mại, phía Bắc giáp biển, sông Kiến Giang tại phía Tây Nam, lại có sông Tân An từ huyện Lâm Cao chảy vào theo phía Đông Nam qua Lê Mẫu hợp với khe Tân Ðiền rồi chảy vào huyện Quỳnh Sơn. Lại có sông Trừng phát nguyên từ núi Ðộc Chu tại phía Đông Nam huyện, chảy theo hướng Tây Bắc đến phía Tây huyện lỵ, hợp với sông Cửu Khúc, rồi theo phía Tây đến cảng Ðông Thủy thì ra biển. Sông Sảo Dương, phía trên nguồn gọi là khe Nam Cổn, chảy qua phía Bắc huyện hợp với sông Sa Ðịa qua Cù Lãnh đến cảng Cù, rồi ra biển.

- Huyện Ðịnh An: nằm về phía Nam phủ lỵ cách 80 lý; phía Tây Nam là núi Ngũ Chỉ còn có tên là núi Lê Mẫu chạy sang phía Đông thành núi Quang Loa, lại tiếp sang Đông thành núi Nam Lư, khe Viễn phát xuất tại phía Nam núi. Phía Bắc huyện, sông Kiến Giang tại Quỳnh Sơn đổ vào hướng Đông hợp với khe Viễn qua Đông Bắc huyện lỵ, các khe Ðàm Giám, Tiên Khách nhập vào theo hướng Đông Bắc vào huyện Quỳnh Sơn, được gọi là sông Nam Ðộ. Phía Tây Nam huyện có sông Vạn Toàn ra khỏi động Nam Bàng hướng phía Đông vào huyện Lạc Hội. Huyện có tuần ty Thái Bình.

- Huyện Văn Xương: [nay là Văn Xương thị] vị trí phía Đông Nam phủ lỵ cách 60 lý. Phía Bắc có núi Ngọc Dương, phía Nam núi Tử Bối, Đông Bắc là biển. Trên biển có núi Phù Sơn, dưới núi là Phân Dương châu. Phía Nam có khe Văn Xương phát nguyên từ núi Bạch Ngọc phía Tây huyện, rồi hướng phía Đông nhập các khe Bạch Thạch, Bạch Mang, lượn sang phía Đông có khe Bình Xương từ phía Tây Bắc đổ vào, rồi chảy về phía Nam đến cảng Thanh Lan thì ra biển. Phía Nam huyện, khe Bạch Diên chảy ra khỏi núi Bát Giác, hướng Đông Nam đến cảng Trường Kỳ rồi ra biển. Lại phía Bắc Tam Giang tức khe La Hán phát nguyên từ núi Bảo Hổ hướng Tây Bắc đến cảng Phố Tiền rồi ra biển. Huyện có hai ty tuần kiểm Phố Tiền và Thanh Lam và công trường muối Lạc Hội.

- Huyện Hội Ðồng: vị trí phía Đông Nam phủ lỵ cách 290 lý; phía Đông huyện có nhiều núi kỳ dị. Phía Tây có khe Long Giác phát nguyên từ núi Tây Nhai hướng Đông Nam tới chợ Tích Gia nên được gọi là khe Tích Gia, rồi khe Lê Bồn từ phía Tây hợp vào, chảy xuống Nam được gọi là khe Ngũ Loan, rồi vào huyện Lạc Hội.

- Huyện Lạc Hội: vị trí phía Đông Nam phủ lỵ cách 330 lý; phía Đông có núi Bạch Thạch, Tây Nam có núi Tung Hoành, phía Đông giáp biển. Phía Tây, sông Vạn Toàn từ huyện Ðịnh An chảy vào hướng Đông rồi đổi hướng Bắc hợp với sông Thái Bình tiếp tục chảy hướng Đông Nam hợp với sông Ngũ Loan qua núi Long Ma chia dòng bao quanh huyện lỵ, rồi hợp lại hướng Đông qua núi Liên Hoa, lượn Đông Nam qua cảng Bác Long rồi ra biển. Sông Lưu Mã phát nguyên từ núi Long Nham tại phía Tây Nam huyện, chảy sang Đông vào huyện Vạn, lại quẹo hướng Đông Bắc để trở về địa giới của huyện, được gọi là sông Gia Liêm, chảy về Đông Bắc gọi là sông Cửu Khúc, khe Liên Ðường nhập vào, rồi theo hướng Đông Bắc hợp với sông Vạn Toàn ra biển.

- Huyện Lâm Cao: nằm về phía Tây Nam phủ lỵ cách 180 lý; phía Nam có núi Na Bồn, phía Tây núi Tỷ Gia, phía Bắc giáp biển. Sông lớn Kiến Giang do Ðam Châu chảy vào từ phía Nam, hướng Bắc đến núi Yêu Bối ra phía Tây trước cửa huyện rồi uốn lượn theo hướng Đông Bắc đến thôn Văn Lan hợp với sông Thấu Than, lại còn được gọi là sông Nghênh Ân, hướng Bắc đến cảng Bác Phố rồi ra biển; một nhánh ngòi thuộc sông này hướng Đông Bắc qua núi Bạch Lãnh vào huyện Trừng Mại. Huyện có tuần ty Hòa Xả, công trường muối Ðảo Mã.

- Ðam Châu: [Hiện nay tại phía Tây Bắc Ðam Châu thị] nằm về phía Tây Nam phủ lỵ cách 300 lý; phía Bắc có núi Ðam Nhĩ, còn gọi là núi Tùng Lâm, hoặc Ðằng Sơn; Tây Bắc giáp biển, ngoài biển có núi Sư Tử. Trong châu có sông Kiến Giang, còn gọi là sông Lê Mẫu hướng Tây Nam qua núi Long Ðầu, chia làm hai: nhánh phía Đông gọi là Ðại Giang, hướng Đông Bắc vào huyện Lâm Cao; nhánh phía Tây gọi là sông Bắc Môn hoặc sông Luân hướng Tây Bắc, đến phía Đông Bắc châu uốn sang phía Tây tạo thành cảng Tân Anh, rồi sông Xương Giang từ phía Đông Nam gộp vào để chảy ra biển. Phía Đông Bắc châu có sông Dung Kiều, phía Tây Nam có sông Sa Cấu đều hướng Tây Bắc ra biển. Châu có tuần ty Bạc Sa, ty Trấn Nam , công trường muối Lan Hinh.

B. Nhai Châu:

Trước kia thuộc phủ Quỳnh Châu, đến năm Quang Tự 31 [1905] trực thuộc đạo Quỳnh Nhai, cách tỉnh lỵ Quảng Châu 2680 lý về phía Đông Bắc; [trị sở Nhai Châu tại Tam Á thị hiện nay] chiều rộng 242 lý, dọc 175 lý, có 4 huyện. Phía Đông Nhai Châu có núi Hồi Phong, Tây Nam núi Trừng Ðảo, Đông Nam giáp biển. Phía Đông Bắc sông An Viễn từ huyện Lăng Thủy chảy vào, hướng Tây Nam đến núi Lang Dõng chia làm hai: một nhánh chảy phía Tây, đến thôn Chí Ðại rồi ra biển, một nhánh hướng Tây Bắc gọi là sông Bảo Dạng qua phía Bắc châu lỵ, uốn theo hướng Bắc đến cảng Bảo Bình rồi ra biển. Phía Bắc châu có sông Lạc An hướng Tây Nam qua núi Ða Cảng, chuyển theo hướng Tây Bắc vào huyện Cảm Ân. Phía Đông có sông Ða Ngân còn gọi là sông Lâm Xuyên phát nguyên từ Lê Ðộng, hướng Đông hợp với sông Tam Á, rồi hướng Đông Nam đến cảng Du Lâm để ra biển. Châu có 2 ty tuần kiểm: Lạc An và Vĩnh Ninh; công trường muối Lâm Xuyên. Châu cai quản 4 huyện gồm:

- Huyện Cảm Ân: [nay thuộc phía Nam Ðông Phương thị] nằm về phía Tây Bắc châu lỵ Nhai Châu cách 195 lý, xưa thuộc phủ Quỳnh Châu, năm Quang Tự thứ 31 [1905] bắt đầu thuộc Nhai Châu. Phía Đông có núi Ðại Nhã, phía Đông Bắc núi Cửu Long, phía Tây giáp biển; phía Đông có Long Giang phát nguyên từ núi Lê Mẫu hướng Tây Nam còn gọi là sông Cảm Ân, chảy sang phía Tây đến phía Bắc huyện lỵ thành cảng Cảm Ân rồi ra biển, nhánh chính hướng Tây Bắc qua chợ Bắc Lê làm thành cảng Bắc Lê rồi hướng Tây Nam ra biển. Sông Lạc An hướng Tây Bắc ra khỏi châu, vào huyện Xương Hóa.

- Xương Hóa: [nay thuộc huyện Xương Giang Lê tộc tự trị], nằm về phía Tây Bắc châu lỵ cách 360 lý, xưa thuộc phủ Quỳnh Châu, năm Quang tự thứ 31 [1905] bắt đầu thuộc Nhai Châu. Phía Đông Bắc có núi Tuấn Linh, phía Đông Nam núi Cửu Phong, Tây Bắc giáp biển; phía Nam Xương Giang tức sông Lạc An từ huyện Cảm Ân chảy vào qua phía Đông Nam huyện lỵ thì chia làm hai: hướng Tây Nam gọi là sông Nam Nhai, hướng Bắc gọi là Bắc Giang, cả hai đều chảy ra biển. Lại có sông An Hài phát nguyên từ Ca Báng Lãnh phía Đông Bắc, hướng Tây Nam đến châu Ðam thì ra biển.

- Lăng Thủy: [nay thuộc huyện Lăng Thủy Lê tộc tự trị], nằm về phía Đông Bắc châu lỵ cách 210 lý, xưa thuộc phủ Quỳnh Châu, năm Quang Tự thứ 31 [1905] bắt đầu thuộc Nhai Châu. Phía Tây có núi Ðộc Tú, phía Nam núi Ða Vân, Đông Nam giáp biển, tại biển có đảo Gia Nhiếp, đảo Song Nữ; phía Tây Bắc có Ðại Hà phát nguyên từ núi Thất Chỉ chảy hướng Đông qua núi Bác Cổ, lượn phía Nam làm thành cảng Ðồng Khê rồi hướng Đông ra biển. Phía Nam có sông Thanh Thủy Ðường Thủy phát nguyên từ thôn Lang Nha phía Tây Bắc, chảy hướng Nam đến phía Tây huyện lỵ được gọi là sông Bút Giá Sơn hợp với Ðại Hà tạo thành cảng Táo Tử, lượn phía Tây Nam đến cảng Tân Thôn thì ra biển; huyện có Tuần ty Bảo Ðình.

- Huyện Vạn: [nay là Vạn Ninh thị] nằm về phía Đông Bắc châu lỵ cách 370 lý, xưa là châu Vạn thuộc phủ Quỳnh Châu, năm Quang Tự thứ 31 [1905] bị giáng thành huyện, lệ thuộc vào Nhai Châu. Phía Đông huyện có núi Ðông Sơn, phía Bắc núi Lục Liên, Đông Nam giáp biển, trên biển có núi Ðộc Châu, dưới là Ðộc Châu Dương; phía Tây Bắc có Long Cổn Hà phát nguyên từ động Tung Hoành, lượn xuống phía Nam rồi ra phía Đông hợp với Lưu Mã Hà, hướng Đông Bắc vào huyện Lạc Hội, lượn theo hướng Đông Nam trở lại phía Bắc huyện, riêng phía Đông có khe Liên Ðường, uốn sang phía Bắc vào huyện Lạc Hội hợp với sông Vạn Toàn, nhánh chính hướng Đông Nam qua núi Liên Chi rồi ra biển. Lại có sông Ðô Phong phát nguyên từ động Tung Hoành, chảy theo hướng Đông Nam rồi chia làm 4 nhánh: cảng Hòa Lạc, Cảng Bắc, khe Thạch Cẩu, sông Kim Tiên, đến phía Đông Bắc huyện lỵ rồi ra biển. Phía Nam Dương Dung Hà phát nguyên từ núi Giá Cô phía Tây Bắc, hướng Đông Nam đến thôn Sấu Ðiền thì chia dòng hợp với Thạch Qui Hà lại theo hướng Đông Nam ra biển. Huyện có Tuần ty Long Cổn, công trường muối Tân An.

Ðến thời Trung Hoa Dân Quốc, đảo Hải Nam được đặt tên là đạo Quỳnh Nhai, tức gộp tên cũ của phủ Quỳnh Châu và châu Nhai. Ðạo Quỳnh Nhai trực thuộc tỉnh Quảng Ðông, được chia làm 13 huyện, tên huyện tương tự như thời nhà Thanh trước kia, gồm: 1.Quỳnh Sơn, 2.Trừng Mại, 3.Ðịnh An, 4.Văn Xương, 5.Quỳnh Ðông (đời Thanh là Hội Ðồng), 6.Lạc Hội, 7.Ðam huyện (đời Thanh gọi là Ðam Châu), 8.Lâm Cao, 9.Vạn Ninh (đời Thanh là huyện Vạn), 10.Xương Giang (đời Thanh là Xương Hóa), 11.Lăng Thủy, 12.Cảm Ân, 13.Nhai huyện (năm 1920, Nhai Châu đổi thành Nhai huyện).

Trong giai đoạn đầu Dân Quốc, chính phủ Trung Hoa chưa đề cập đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; mãi đến thập niên 1930 nhận thức được tiềm lực kinh tế tại Biển Đông, mới bắt đầu lên tiếng. Sau Chiến tranh thế giới thứ II, nhân Nhật Bản đầu hàng đồng minh, chính phủ này cho mang quân chiếm một vài đảo trong 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thu nhận đảo Hải Nam vào tháng 5 năm 1950, thành lập Hải Nam Quân dân Ủy viên Hội. Tháng 3 năm 1955 đổi thành Quảng Ðông Tỉnh Hải Nam Hành chính Công Thự, sau cuộc Cách mạng Văn hóa nổ ra năm 1966, đình chỉ chức quyền của Công Thự, năm 1968 thiết lập Hải Nam Ðịa Khu Cách mạng Ủy viên Hội. Tháng 10 năm 1984, thành lập Hải Nam Hành chính Khu Nhân dân Chính phủ. Hải Nam Hành chính Khu quản hạt Hải Nam Lê tộc, Miêu tộc tự Trị Châu, cùng 9 huyện: 1. Quỳnh Xương, 2. Văn Sơn, 3. Lâm Cao, 4. Trừng Mại, 5. Quỳnh Hải, 6. Ðồn Xương, 7. Ðam huyện, 8.Vạn Ninh, 9. Ðịnh An; ngoài ra lại đặt các đảo Tây Sa [Hoàng Sa], Trung Sa, Nam Sa [Trường Sa] vào cái gọi là biện lý sự. Như vậy sau khi chiếm được một vài hải đảo do Trung Hoa Dân Quốc bỏ lại sau cuộc rút lui ra Ðài Loan, năm 1974 lại xâm lăng một số đảo do Việt Nam Cộng hòa làm chủ.

Năm 1988, thiết lập tỉnh Hải Nam . Ðến năm 2008, toàn tỉnh được chia như sau:

- Hai địa hạt cấp thị: Hải Khẩu thị, Tam Á thị.
- Bốn thị hạt khu: Quỳnh Sơn khu, Long Hoa khu, Tú Anh khu, Mỹ Lan khu.
- Sáu huyện cấp thị: Văn Xương thị, Quỳnh Hải thị, Vạn Ninh thị, Ðam Châu thị, Ðông Phương thị, Ngũ Chỉ Sơn thị.

- Bốn huyện: Ðịnh An huyện, Ðồn Xương huyện, Trừng Mại huyện, Lâm Cao huyện.
- Sáu tự trị huyện: Quỳnh Trung Miêu tộc Lê tộc tự trị huyện, Bảo Ðình Miêu tộc Lê tộc tự trị huyện, Bạch Sa Lê tộc tự trị huyện, Xương Giang Lê tộc tự trị huyện, Lạc Ðông Lê tộc tự trị huyện, Lăng Thủy Lê tộc tự trị huyện.

- Khai phát khu: Dương Phố kinh tế khai phát khu.
- Biện sự xứ: Tây Sa [Hoàng Sa] quần đảo, Nam Sa [Trường Sa] quần đảo, Trung Sa quần đảo.

III. Kết luận:

Bài viết này cho thấy tài liệu chính thức của Trung Quốc về thời nhà Thanh (1644-1911) như Thanh Sử Cảo và bản đồ soạn và in thời đó như Ðại Thanh Nhất Thống Toàn Ðồ đã không coi Tây Sa [Hoàng Sa], Nam Sa [Trường Sa] là thuộc lãnh thổ Trung Quốc. Ðại Thanh Nhất Thống Toàn Ðồ có thể không phải là bản đồ chính thức nhưng đã được thu thập, ghi chú và lưu giữ ở Hội Thừa Sai Luân Đôn và Thư viện Quốc gia Ôxtrâylia. Đây là tài liệu đáng tin cậy vì khi được soạn thảo dưới một triều đại mà vua chúa có quyền sinh sát với những người làm sai thì người soạn bản đồ đó không thể tự ý loại bỏ một phần đất trong lãnh thổ Trung Quốc. Thêm nữa, hai tài liệu này hoàn toàn không mâu thuẫn nhau. Nó cũng phù hợp với Minh Sử mà tác giả đã viết trong một bài khác. Ngoài ra kết luận ở đây cũng phù hợp với bản đồ nhà Thanh mà Đại học Cambridge ở Anh đã in vào năm 1910./.

 

 

 
Các giới ở Mỹ gần đây cho là lợi ích của Mỹ bị đe dọa do tranh chấp biển Đông leo thang đồng thời quan tâm hơn tới sự cải thiện lực lượng hải quân của Trung Quốc trong khu vực.  Do đó, đã có ý kiến cho rằng chính sách “không can dự” của Mỹ không còn hoàn toàn bảo vệ lợi ích của Mỹ tại biển Đông, Mỹ cần dính líu hơn vào khu vực này. Mỹ dường như đang thay đổi từ “không can dự” tới “can dự một phần” trong chính sách đối ngoại với các nước ven biển và ASEAN tại biển Đông.
 ********

Biển Đông là vùng biển lớn thứ hai thế giới, với diện tích 648.000 km2. Vùng biển bao gồm nhiều tuyến đường biển quan trọng nối giữa Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương, châu Phi, Trung Đông và các nước Đông Á khác. Hầu hết các nhiên liệu được vận chuyển từ Trung Đông và châu Phi tới Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc đều phải đi qua biển Đông. Nếu xảy ra xung đột vũ trang ở biển Đông, tuyến đường biển này bị cắt đứt thì lợi ích của hầu hết tất cả các nước trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, bao gồm cả Mỹ, cũng sẽ bị ảnh hưởng bất lợi.

 

Bru-nây, Trung Quốc, Ma-lai-xi-a, Phi-lip-pin, Việt Nam và đảo Đài Loan đều tuyên bố quyền chủ quyền đối với các vùng nước lãnh thổ và thềm lục địa ở biển Đông. Trung Quốc, đảo Đài Loan và Việt Nam tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa. Phi-lip-pin, Ma-lai-xi-a, đảo Đài Loan và Bru-nây tuyên bố chủ quyền một phần, Trung Quốc và Việt Nam tuyên bố chủ quyền toàn bộ quần đảo Trường Sa. Khoảng 45 đảo thuộc quần đảo Trường Sa bị chiếm đóng bởi các lực lượng quân sự của các nước tuyên bố chủ quyền, trừ Bru-nây. Các nước tranh chấp tại biển Đông tuyên bố chủ quyền dựa trên quy tắc thềm lục địa, vị trí địa lý hay cơ sở lịch sử. Công ước Luật biển Liên Hợp Quốc năm 1982 ghi rõ các nước ven biển có quyền tuyên bố quyền chủ quyền trong vòng 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải.

 

Ngoài vấn đề tranh chấp chủ quyền ở biển Đông, các nước ven biển còn phải đối mặt với nhiều vấn đề phức tạp khác như cướp biển, ô nhiễm môi trường, quản lý nguồn cá. Một nửa số các vụ cướp biển trên thế giới diễn ra ở khu vực Đông Nam Á.[1] Biển Đông cũng là một khu vực có nhiều lợi ích an ninh cạnh tranh nhau. Để bảo vệ lợi ích của mình, các nước có tranh chấp chủ quyền tại biển Đông đang tích cực tìm kiếm giải pháp để giải quyết các vấn đề, tránh hành động quân sự, và thúc đẩy cơ chế thiết lập hòa bình giải quyết tranh chấp thông qua hợp tác.

 

Dính líu của Mỹ trên biển Đông

 

Biển Đông là một điểm nóng ngay cả với Mỹ. Các công ty nước ngoài trong đó có Mỹ được cho phép khai thác dầu khí đã bị vướng vào tranh chấp giữa những nước tuyên bố chủ quyền.[2] Trong nhiều thập kỷ gần đây, va chạm quân sự ở biển Đông ngày càng gia tăng và liên quan tới cả lực lượng của Mỹ. Năm 1995, Trung Quốc đụng độ với Phi-lip-pin tại bãi đá Vành Khăn thuộc quần đảo Trường Sa. Một vài thành viên của Quốc hội Mỹ đã đưa ra nghị quyết kêu gọi Mỹ ủng hộ hòa bình và ổn định trong khu vực. Ngày 10/5/1995, Chính quyền Clinton đã tuyên bố chống lại việc sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ lực để giải quyết tranh chấp ở biển Đông, nhưng lại không nêu tên Trung Quốc trong tuyên bố.[3]  

 

Trong vài tháng gần đây, tàu Mỹ và Trung Quốc đã có khoảng 5 vụ đụng độ tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Ngày 8/3/2009, diễn ra vụ đụng độ hải quân giữa tàu chiến hạm của Hải quân Mỹ Impeccable và 5 tàu Trung Quốc tại biển Đông. Trong vụ việc này, Mỹ đã buộc tội Trung Quốc có hành động quân sự hung hăng tại biển Đông và quấy rối tàu chiến hạm của Mỹ trong vùng biển quốc tế. Đồng thời, Mỹ cũng gọi đây là hành động nguy hiểm, và vi phạm luật quốc tế và cho biết “hành động của Trung Quốc là có cân nhắc”.

 

Trong môi trường quốc tế hiện nay, cả Mỹ và Trung Quốc muốn “xây dựng mối quan hệ tích cực, hợp tác và toàn diện… để giải quyết những thách thức chung và nắm lấy cơ hội chung”,[4] và “chia sẻ lợi ích chung”[5]. Chính quyền Obama cần sự hợp tác của Trung Quốc để giải quyết cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu và Trung Quốc cũng cần xây dựng quan hệ tốt với Mỹ để tiến tới mục tiêu chính trị quốc tế của mình. Vì vậy, hai nước Mỹ và Trung Quốc đã đồng ý giải quyết êm thấm các vụ việc trên.

 

Tuy nhiên, khó có thể đảm bảo rằng các cuộc đụng độ tương tự như vậy sẽ không xảy ra trong tương lai.  

 

Lợi ích của Mỹ tại biển Đông

 

Lợi ích của Mỹ tại biển Đông nằm trong lợi ích đa dạng và trải rộng của Mỹ tại Đông Á/Tây Thái Bình Dương với tư cách là một cường quốc khu vực và toàn cầu. Trong một báo cáo gần đây, lợi ích an ninh quốc gia của Mỹ bao gồm: (1) Bảo vệ lãnh thổ Mỹ, người dân Mỹ, đồng minh và lợi ích của Mỹ; (2) Ổn định khu vực và loại bỏ bất kỳ cường quốc vượt trội hay nhóm cường quốc nào sẽ đe dọa hay cản trở cơ hội hay lợi ích của Mỹ; (3) Phát triển khu vực và thúc đẩy tự do thương mại và mở cửa thị trường; (4) Đảm bảo một thế giới ổn định, an toàn và phi hạt nhân; (5) Thúc đẩy các giá trị toàn cầu, như quản lý tốt, dân chủ, nhân quyền và tự do tôn giáo; (6) Đảm bảo tự do hàng hải, điều kiện tiên quyết để ổn định khu vực và bảo vệ lợi ích của Mỹ.[6] Những lợi ích này luôn được duy trì cho dù chính quyền Mỹ có thay đổi. Mỹ gia tăng dính líu vào khu vực châu Á - Thái Bình Dương cũng là để phục vụ các lợi ích kể trên.

 

Lợi ích tự do hàng hải

 

Tự do hàng hải là lợi ích then chốt và cũng là lợi ích kinh tế và an ninh quan trọng nhất đối với Mỹ. Biển Đông là tuyến đường thương mại quan trọng nhất và Mỹ coi tuyến đường này là vùng nước quốc tế cho phép tàu thuyền quân sự và thương mại tự do qua lại. Một phân tích của Mỹ nêu “Mối đe dọa đối với tự do hàng hải qua biển Đông sẽ phá vỡ nghiêm trọng đến kinh tế khu vực. Sự tăng trưởng của kinh tế và an ninh của Mỹ phụ thuộc vào việc duy trì tự do hàng hải với cả tàu buôn và tàu quân sự”.[7] Mỹ luôn ủng hộ tự do hàng hải trên thế giới, bao gồm cả biển Đông, và có lợi ích tại các tuyến đường biển trong khu vực và do đó quan tâm đến việc giải quyết hòa bình tranh chấp tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, và các vùng khác.

 

Quan ngại sâu sắc về căng thẳng tại biển Đông, Joseph Nye khi còn là trợ lý bộ trưởng quốc phòng Mỹ về an ninh quốc tế cho biết “Nếu xảy ra hành động quân sự tại quần đảo Trường Sa và cản trở tự do trên biển, thì Mỹ sẽ chuẩn bị ứng phó và đảm bảo tự do hàng hải được tiếp tục”.[8]

Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ, hạm đội 7, hiện đang đóng tại Nhật Bản, Ha-oai và Xinh-ga-po do tướng Robert Willard chỉ huy hoạt động trên một vùng biển rộng từ Thái Bình Dương của Mỹ tới Ấn Độ Dương. Hạm đội bao gồm 180 tàu thuyền, 1.500 máy bay, và 125.000 thủy thủ, khoảng 50 đến 60 tàu của hạm đội qua lại tại vùng biển này hàng ngày.[9]

 

 

Lợi ích kinh tế và an ninh

 

Các đảo có tranh chấp tại biển Đông được cho là chứa một trữ lượng dầu với các ước tính khác nhau. Biển Đông được xác định là một trong 10 vùng biển có trữ lượng dầu khí lớn nhất thế giới.[10] Từ năm 1972, các công ty dầu khí phương Tây đã khai thác và khám phá trữ lượng dầu mỏ lớn trong khu vực quanh quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cuộc khảo sát đầu tiên của Phi-lip-pin về dầu mỏ ở quần đảo Trường Sa diễn ra ngoài khơi tỉnh đảo Palawan năm 1976. Theo Bộ Năng lượng Mỹ, trữ lượng dầu mỏ ở biển Đông khoảng 7 tỷ thùng dầu, trong khi Trung tâm khảo sát địa chất Mỹ ước tính tổng trữ lượng dầu mỏ bao gồm cả những nguồn năng lượng đã được khám phá và tiềm tàng ở ngoài khơi biển Đông khoảng 28 tỷ thùng.[11] Trung Quốc tuyên bố trữ lượng có thể lên tới 200 tỷ thùng, đủ để cung cấp cho Trung Quốc 1 đến 2 triệu thùng dầu mỗi ngày, tương đương 25% lượng tiêu thụ dầu mỏ hàng ngày của Trung Quốc hiện nay là 8 triệu thùng.[12]

 

Nền kinh tế Mỹ đã bị tổn thương nghiêm trọng do cuộc khủng hoảng giá dầu năm 2008. Giá dầu trên thế giới đã có lúc lên tới đỉnh điểm ở mức 145 đôla/thùng hồi tháng 7/2008, và chạm đáy ở mức 34 đôla/thùng tháng 12/2008. Hiện tại giá dầu đang dao động trong khoảng 65-75 đôla/thùng. Mặc dù Mỹ đã phát triển các nguồn năng lượng thay thế như năng lượng gió, mặt trời… nhưng dầu mỏ đến nay vẫn là nguồn năng lượng tiêu thụ chính của Mỹ, nên Mỹ vẫn cần nguồn năng lượng tại biển Đông.

 

Tuy nhiên, trữ lượng dầu mỏ ở biển Đông vẫn chưa được xác định chắc chắn và vẫn còn ở mức thấp. Với tốc độ giá dầu ngày càng tăng như hiện nay, tình hình tranh chấp tại biển Đông có thể căng thẳng hơn nếu người ta tìm thấy bằng chứng về trữ lượng dầu mỏ đủ cho mục đích thương mại.[13]

 

Lợi ích quân sự

 

Biển Đông là tuyến đường giao thông quan trọng trong hệ thống phòng thủ của Mỹ nhằm đối phó với các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống như chống hải tặc và khủng bố, đặc biệt tại eo biển Malacca. Mỹ đã đưa ra “Sáng kiến an ninh hàng hải khu vực” hồi tháng 4/2004 nhằm phát triển quan hệ đối tác với các nước trong khu vực có khả năng kiểm soát và ngăn chặn các mối đe dọa hàng hải thông qua luật quốc tế và trong nước.[14] Sáng kiến này có thể cho phép Mỹ đưa lực lượng hải quân tới eo biển Malacca để ngăn chặn khủng bố, hải tặc, buôn lậu ma túy và người. Tuy nhiên, sáng kiến an ninh của Mỹ bị Ma-lai-xi-a và In-đô-nê-xi-a phản đối, vì các nước này khẳng định an ninh tại eo biển Malacca là trách nhiệm của các nước ven biển.

 

Mỹ duy trì các căn cứ quân sự tại Nhật Bản và Phi-lip-pin nhằm thực hiện nhiệm vụ bảo vệ đồng minh Nhật Bản và Phi-lip-pin, từ đó củng cố lợi ích và khẳng định vị thế của Mỹ ở biển Đông. Sau khi Mỹ và Phi-lip-pin ký “Hiệp định trao đổi quân sự giữa hai nước” năm 1995, hạm đội 7 của Mỹ đã được phép neo đậu lại tại các cảng của Phi-lip-pin ở biển Đông.

 

Chính sách của Mỹ đối với vấn đề biển Đông

 

Chính sách của Mỹ đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương được duy trì nhất quán trong nhiều năm và đường lối chính sách này vẫn sẽ tiếp tục dưới thời chính quyền Obama.

 

Chính sách đối ngoại của Mỹ tại biển Đông tập trung vào việc bảo vệ lợi ích của Mỹ và đồng minh, Mỹ muốn thấy sự phát triển chứ không phải là xung đột vũ trang xảy ra tại biển Đông. Mỹ cũng muốn duy trì quan hệ cân bằng với các nước ven biển ở khu vực. Ngoài ra, Mỹ coi Đông Nam Á rất quan trọng trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Từ cuối chiến tranh lạnh, Mỹ đã tìm kiếm quyền kiểm soát Đông Nam Á để giành lợi thế địa chính trị với mục tiêu ngăn cản sự nổi lên của các cường quốc khác.

 

Trong một thời gian dài, Mỹ duy trì chính sách “không can dự” vào các tranh chấp ở biển Đông. Từ sau chiến tranh Lạnh, Mỹ bắt đầu quan tâm nhiều hơn tới xung đột tại biển Đông khi các tranh chấp tuyên bố chủ quyền tại khu vực và các hoạt động đơn phương của các nước ven biển để hỗ trợ lập trường đang tăng lên.[15] Mỹ không ủng hộ bất kỳ bên nào trong các tranh chấp, nhưng tin rằng các nước này nên giải quyết bằng phương pháp hòa bình.

 

Mỹ luôn cho rằng “Vấn đề quyền chủ quyền hàng hải giữa các nước, đặc biệt khi có những bất đồng, phải được các nước thiết lập theo Công ước Luật biển của Liên Hợp Quốc” nhưng quan điểm của Mỹ đối với Công ước Luật biển Liên Hợp Quốc khá phức tạp. Đây đã từng là một vấn đề gây tranh cãi của nội bộ Mỹ trong một phần tư thế kỷ. Quốc hội Mỹ ủng hộ Công ước Luật biển Liên Hợp Quốc và Tổng thống Clinton đã ký công ước này năm 1994. Nhưng Công ước này chưa được Thượng viện thông qua vì cho rằng công ước sẽ gây rủi ro cho lợi ích của Mỹ, như việc thỏa thuận xung đột, quyền khai thác tài nguyên tại vùng nước sâu, và quyền hành hợp pháp của bộ máy quan chức quốc tế thuộc Liên Hợp Quốc.[16]

 

Sau vụ tranh chấp tại bãi đá Vành Khăn giữa Trung Quốc và Phi-lip-pin tháng 2/1995, chính quyền Clinton đã phản ứng thận trọng và lặp lại quan điểm chính sách lâu nay trong vấn đề biển Đông. Bộ Ngoại giao Mỹ cho biết Mỹ phản đối mạnh mẽ việc đe dọa hay sử dụng vũ lực để khẳng định chủ quyền của bất kỳ nước nào. Mỹ không đứng về phía bất kỳ nước nào đang có tuyên bố tranh chấp và mong muốn ủng hộ giải pháp hòa bình trong tranh chấp tại biển Đông. Mỹ cũng quan ngại sâu sắc tới các tuyên bố hàng hải hay hạn chế hoạt động hàng hải tại biển Đông không tuân theo luật quốc tế.

 

Củng cố quan hệ với đồng minh và đối tác

 

Để bảo vệ lợi ích của mình, Mỹ củng cố quan hệ với đồng minh như Nhật Bản và Phi-lip-pin để triển khai lực lượng quân sự, đảm bảo an ninh khu vực và vị thế tại biển Đông. Liên minh an ninh Mỹ-Nhật, đang hoạt động liên kết với ASEAN, có thể thúc đẩy một giải pháp lâu dài tại biển Đông.

 

Mỹ khuyến khích các nước châu Á phát triển quan hệ an ninh đa phương. Để giải quyết với vấn đề tranh chấp tại quần đảo Trường Sa, Mỹ nhấn mạnh tầm quan trọng của liên minh quân sự với Phi-lip-pin và ủng hộ nỗ lực xây lực cơ chế đa phương của ASEAN.[17]

 

Tăng cường quan hệ với Trung Quốc

 

Mỹ quan ngại tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc tại biển Đông, ngân sách quân sự ngày càng tăng, các hoạt động kinh tế và quân sự để khẳng định chủ quyền trong khi phủ nhận chủ quyền của các nước khác. Nhưng đồng thời Mỹ tăng cường quan hệ với Trung Quốc, hợp tác khai thác dầu khí để bảo vệ lợi ích kinh tế, chống hải tặc để bảo vệ an toàn hàng hải ở biển Đông. Mỹ còn muốn tăng cường hợp tác hải quân giữa Mỹ và Trung Quốc nhằm duy trì an ninh ở châu Á- Thái Bình Dương và biển Đông.

 

Gần đây xảy ra liên tiếp các vụ đụng độ giữa tàu hải quân Mỹ và Trung Quốc tại khu vực biển Đông, gay gắt nhất là vụ đụng độ hồi tháng 3/2009. Đô đốc Timothy J. Keating, Tư lệnh Bộ chỉ huy Thái Bình Dương Mỹ điều trần trước Ủy ban quân lực của Thượng viện cho biết Mỹ đã đi đầu trong việc cải thiện quan hệ với Trung Quốc, nhưng mối quan hệ này không được như mong muốn. Ví dụ như việc Trung Quốc ngừng hoạt động trao đổi quân sự giữa hai nước do Mỹ công bố bán vũ khí cho Đài Loan.

 

Ủng hộ và khuyến khích ASEAN

 

Mỹ ủng hộ và khuyến khích ASEAN hợp tác để giải quyết hòa bình các tranh chấp ở biển Đông, duy trì ổn định trong khu vực. Mỹ đã phát triển một cơ chế hợp tác chính thức giúp hài hòa cả hai bên dựa trên luật quốc tế như Công ước Luật biển Liên Hợp Quốc, và cơ chế này được tin là sẽ tối thiểu hóa các căng thẳng. Mỹ muốn các bên tạo ra môi trường ổn định và hòa bình. Mỹ cũng dự định bắt đầu tiến trình tiến tới gia nhập Hiệp định Hữu nghị và Hợp tác của ASEAN, can dự vào tiến trình Thượng đỉnh Đông Á. ASEAN có vị trí rất quan trọng đối với Mỹ và là nòng cốt chủ chốt trong cơ chế hợp tác khu vực đang nổi lên tại châu Á nơi Mỹ có cam kết sâu sắc.[18]

 

ASEAN và Trung Quốc đã ký Tuyên bố chung về ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC) ngày 4/11/2002. Đây là văn bản chính trị chính thức đầu tiên liên quan đến biển Đông giữa ASEAN và Trung Quốc. Mỹ đánh giá DOC là một văn kiện không có sự ràng buộc để giải quyết tranh chấp nhưng có tác dụng giúp các bên học cách kiềm chế và tôn trọng tự do hàng hải và trên không. DOC và COC nếu được xây dựng chỉ có tác dụng làm giảm căng thẳng, thúc đẩy hợp tác và xây dựng lòng tin giữa ASEAN và Trung Quốc, chứ chưa phải là một cơ chế quản lý hiệu quả và ngăn chặn các xung đột tiềm năng.

 

Tóm lại, các giới ở Mỹ gần đây cho là lợi ích của Mỹ bị đe dọa do tranh chấp biển Đông leo thang đồng thời quan tâm hơn tới sự cải thiện lực lượng hải quân của Trung Quốc trong khu vực. Đô đốc Timothy J. Keating cho biết động thái chiến lược gần đây của lực lượng hải quân Trung Quốc thể hiện tham vọng của nước này. Do đó, đã có ý kiến cho rằng chính sách “không can dự” của Mỹ không còn hoàn toàn bảo vệ lợi ích của Mỹ tại biển Đông, Mỹ cần dính líu hơn vào khu vực này. Mỹ dường như đang thay đổi từ “không can dự” tới “can dự một phần” trong chính sách đối ngoại với các nước ven biển và ASEAN tại biển Đông.

 

 



[1] Jakarta Post, ngày 22/10/2003. Theo báo cáo của hội đồng ASEAN về hợp tác chống cướp biển diễn ra tại Medan, In-đô-nê-xi-a, thì có 42 vụ tấn công của cướp biển tại eo biển Malacca năm 2002.

[2]Regional Conflict and Resolution,” Country Analysis Briefs, tháng 3/2008, http://eia.doe.gov/emeu/cabs/South_China_Sea/RegionalConflictandResolution.html

[3] Shirley Kan, “U.S.-China Military Contacts: Issues for Congress,” CRS Report for Congress, ngày 5/10/2005.

[4] Hillary Rodham Clinton, Ngoại trưởng Mỹ,Remarks After Her Meeting With Chinese Foreign Minister Yang Jiechi”,  ngày 11/3/ 2009, http://www.state.gov/secretary/rm/2009a/03/120284.htm

[5] “Said Chinese Foreign Minister Yang Jiechi, Under the Influence: Challenging China with Cooperation,” World Politics Review, ngày 23/3/2009,  http://www.worldpoliticsreview.com/article.aspx?id=3485

[6] Ralph A. Cossa, Brad Glosserman, Michael A. McDevitt, Nirav Patel, James Przystup, Brad Roberts, “The United States and the Asia-Pacific Region: Security Strategy for the Obama Administration”, tháng 2/2009, pp.10, 15.

[7] Ralph A. Cossa, “Security Implications of Conflict in the South China Sea: Exploring Potential Triggers of Conflict”, A Pacific Forum CSIS, tháng 3/1998, tr. 7.

[8] B.Raman, Institute For Topical Studies, Chennai, “Chinese Territorial Assertions: The Case of the Mischief Reef”, Jan. 14, 1999, http://www.southchinasea.org/docs/Chinese%20Territorial%20Assertion%20The%20Case%20of%20the%20Mischief%20Reef.htm

[9] Robert Willard, “Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ thăm Việt Nam: Ưu tiên hợp tác cứu trợ thảm họa”, Tiền Phong, ngày 11/3/2009, http://www.tienphong.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=154769&ChannelID=5

[10] Mohamed Jawhar bin Hassan, “Disputes in the South China Sea: Approaches for Conflict Management” in D. da Cunha (ed.) Southeast Asian Perspctives on Security, Singapore, Seng Lee Press, 2000”, tr. 100.

[11]Oil & Natural Gas”, Country Analysis Briefs, tháng 3/2008, http://eia.doe.gov/emeu/cabs/South_China_Sea/OilNaturalGas.html

[12] Peter Navarro, “China stirs over offshore oil pact”, Asia Times, ngày 23/7/2008.

[13] Ralf Emmers, “The de-escalation of the Spratly dispute in Sino-Southeast Asian relations” in “Security and International Politics in the South China Sea”, op cit., tr. 137.

[14] http://www.globalsecurity.org/military/ops/rmsi.htm

[15] ARF annual security outlook “The United States”. http://www.aseansec.org

[16] Edwin Meese, III, Baker Spring, and Brett D. Schaefer, “The United Nations Convention on the Law of the Sea: The Risks Outweigh the Benefits”, The Heritage Foundation, ngày 16/3/2007, http://www.heritage.org/research/internationalorganizations/wm1459.cfm

[17] “America: Adjustment in Foreign Policy”, Vietnam News, Reference No 10-2002, tr. 55-56.

[18] Secretary Clinton said in her first visit to the ASEAN Secretariat, James B. Steinberg, “Engaging Asia 2009: Strategies for Success”, Deputy Secretary of State, Bureau of Deputy Secretary, Remarks At National Bureau of Asian Research Conference, Washington, DC, April 1, 2009, http://www.state.gov/s/d/2009/121564.htm

 

Phạm Thùy Trang, Bài đăng trên tạp chí Nghiên cứu quốc tế số tháng 6 năm 2009

 

Đối với vấn đề tranh chấp biển, dư luận xã hội Trung Quốc đang hình thành 2 thái cực là “duy vũ lực” và “duy pháp lý”. Theo tác giả, nếu sử dụng “duy vũ lực” thì quá nguy hiểm, còn nếu sử dụng “duy pháp lý” thì thật là ngây thơ. Tác giả cho rằng, biện pháp tốt nhất là Trung Quốc nên kết hợp các biện pháp từ quân sự, ngoại giao, kinh tế và sự thống nhất về chính sách.

 

Biển ngày càng quan trọng đối với TQ, sự quan tâm của dư luận đối với vấn đề trên biển cũng ngày càng mạnh mẽ, các tranh chấp biển cũng ngày càng phức tạp. Làm thế nào để bảo vệ lợi ích biển của TQ, dư luận xã hội hiện nay đang dần dần hình thành 2 thái cực lớn: Một là phái “duy vũ lực” chủ trương chiến tranh, nói chuyện bằng nắm đấm, cho rằng TQ đã quá mềm yếu, quá quan tâm đến môi trường quốc tế cho phát triển hòa bình mà từ bỏ sử dụng vũ lực; hai là phái “duy pháp lý”, chủ trương TQ cần tôn trọng Công ước Luật biển của LHQ, tiến hành phân định biên giới biển một cách hợp lý trên cơ sở hiểu chính xác nội hàm của Công ước này, từ bỏ chủ trương cương vực truyền thống như “đường 9 đoạn”.

Phái “duy vũ lực” thì nguy hiểm, phái “duy pháp lý” thì ngây thơ. Trong cuộc chơi về chính trị biển quốc tế, việc sử dụng sức mạnh để uy hiếp và việc đấu tranh pháp lý không thể thiên về bên nào. Nếu các nhà ra quyết sách bị chi phối bởi phái “duy vũ lực” thì TQ sẽ lại đi theo vết xe đổ của một số nước trong lịch sử; nếu bị phái “duy pháp lý” kiểm soát thì các nước xung quanh sẽ tự do khiêu khích, TQ rất khó trở thành một nước lớn trên thế giới, thậm chí bị rơi xuống tầng lớp những nước hạng hai.

TQ cần phải sử dụng tổng hợp các biện pháp quân sự, kinh tế, pháp lý, ngoại giao. Một mặt cần tăng cường phô trương sức mạnh, tiến hành uy hiếp tổng thể. Sự uy hiếp truyền thống thường chỉ giới hạn ở lĩnh vực quân sự hoặc vũ khí hạt nhân. Nhưng sự uy hiếp trong chính trị quốc tế hiện nay thường sử dụng biện pháp ngoại giao và kinh tế nhiều hơn. Kể cả uy hiếp về an ninh cũng không chỉ đơn giản là việc “dùng đao nhuốm máu”. Tuy nhiên cần phải tạo ra sự uy hiếp đủ mạnh, ít nhất cần tăng cường ở 3 mặt sau: Một là thực lực cứng, sức mạnh quân sự là hết sức quan trọng. Đồng thời với việc xây dựng lực lượng quân sự đủ mạnh để ứng phó với cuộc chiến tranh quy mô lớn trên biển và có thể đánh thắng cuộc chiến tranh hiện đại trong điều kiện khoa học kỹ thuật cao, cũng cần tăng cường lực lượng chấp pháp trên biển, duy trì lực lượng quân sự trên biển có hiệu quả và tăng cường khả năng kiểm soát, ngăn ngừa và ứng phó với khủng hoảng hoặc xung đột bất ngờ trên biển.

Hai là sức mạnh của quyết sách. Cần phải có ý chí đáp trả kiên định và nhận thức, nắm bắt đúng đắn tình hình và lợi ích quốc gia. Các bộ ngành quản lý, giải quyết sự vụ trên biển của TQ rất nhiều, lợi ích đan xen phức tạp. Việc điều phối các bộ ngành này triển khai chính sách và lập trường thống nhất, tập trung sức mạnh và nguồn lực đồng tâm thực hiện mục tiêu đã xác định là hết sức quan trọng.

Ba là sức mạnh ngoại giao. Ngoại giao là con đường chủ yếu nhất để chuyển tải các thông tin răn đe, đồng thời ngoại giao cũng là một biện pháp trả đũa như cắt đứt giao lưu quân sự, trục xuất nhân viên ngoại giao, phản đối ngoại giao… Ngoài ra cũng cần phải nói rõ sự thật, thuyết trình lý lẽ. Ngoài việc tăng cường nghiên cứu và đấu tranh pháp lý quốc tế, cũng cần phải nhận thấy rằng các vấn đề trên biển ngày càng gắn liền với các nhân tố chính trị quốc tế, việc phân định biển và trật tự trên biển xưa nay không đơn giản chỉ là vấn đề pháp lý. Trong cuộc đấu tranh phân định biển, TQ không những phải thông hiểu và áp dụng linh hoạt luật quốc tế, mà còn phải tăng cường đấu tranh ngoại giao nhằm tranh thủ sự ủng hộ của thế giới.

Thứ nhất, cần phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền về chủ quyền, xác định rõ phạm vi chủ quyền. TQ hiện nay vẫn chưa hoàn thành việc xác định đường cơ sở lãnh hải, mới chỉ xác định một phần đường cơ sở lãnh hải của bờ biển lục địa và quần đảo Hoàng Sa. TQ cần phải tuyên bố đường cơ sở lãnh hải của tất cả các đảo thuộc TQ, từ đó để xác định phạm vi cụ thể các vùng biển của TQ.

Thứ hai, đồng thời với việc tăng cường đấu tranh cần giữ kiên nhẫn ở mức độ nhất định. Do ảnh hưởng rất lớn của dư luận và chủ nghĩa dân tộc, nên không có nước nào dễ dàng thỏa hiệp hay nhượng bộ, do đó đàm phán phân định biển là một quá trình lâu dài và gian khổ. TQ cần phải kiên trì lập trường của mình, kiên nhẫn, không nên nóng vội và hy vọng vào việc chỉ thông qua sức lực, sự nhượng bộ, thỏa hiệp của mình mà có thể giải quyết được vấn đề.

Thứ ba, cần kết hợp giữa việc bảo vệ lợi ích biển và việc tham gia xây dựng trật tự biển quốc tế. Để trở thành một cường quốc biển, TQ cần tham gia rộng rãi vào việc xây dựng luật biển quốc tế cụ thể, như giải quyết tranh chấp, quản lý biển quốc tế, xác lập địa vị pháp lý của các đảo, đưa ra những giải thích hợp lý đối với những điểm mà Công ước Luật biển còn mơ hồ, đồng thời tìm kiếm sự ủng hộ của các nước khác. TQ cũng cần tham gia tích cực công tác của các cơ quan biển quốc tế như Tòa án Luật biển quốc tế, Ủy ban quản lý đáy biển quốc tế, tạo ra sự ủng hộ và giúp đỡ không thể thiếu cả về nhân lực, vật lực và trí lực trong việc vận hành các cơ quan trên.

Theo Tạp chí Tri thức thế giới - 16/9

Quốc Trung (gt)

 

 

 

Với quan điểm coi nước mình là trung tâm của luật pháp và các hiệp ước quốc tế, về cơ bản Trung Quốc đã tuyên bố chủ quyền đối với Biển Đông.  Một số nhà  phân tích chính sách của Trung Quốc cho rằng vì Trung Quốc đã tuyên bố chủ quyền với các nhóm quần đảo này nên đường hình chữ U (đường Lưỡi bò) bao quanh các nhóm quần đảo cũng thiết lập một khu vực có chủ quyền! Nếu như các tuyên bố này được chấp nhận, Trung Quốc có thể ngăn cản các hoạt động hợp pháp của hải quân Mỹ nhằm ủng hộ các đồng minh và các nước trong khu vực, ngăn chặn xung đột khu vực, và duy trì tự do hàng hải ở các đường lưu thông trên biển trọng yếu ở biển Đông. Được sự cho phép của tác giả, chúng tôi xin giới thiệu bài viết của giáo sư Peter A. Dutton, Viện Hải quân Hoa Kỳ.

 

 

 

Với quan điểm coi nước mình là trung tâm của luật pháp và các hiệp ước quốc tế, về cơ bản Trung Quốc đã tuyên bố chủ quyền đối với Biển Đông.

 

Sự kiện tàu USNS Impeccable (T-AGOS-23) tháng 3 năm 2009, cũng giống sự kiện EP-3 năm 2001 trước đó, đã nhấn mạnh điểm nóng tồn tại giữa Mỹ và Trung Quốc ở Biển Đông. Sự giống nhau trong cách cư xử của Trung Quốc trong hai sự kiện này là rất đáng quan tâm. Cuộc chạm trán tàu Impeccable xảy ra khi một nhóm tàu đánh cá và tàu của chính phủ Trung Quốc tiến lại gần và di hành qua lại một cách khiêu khích trước hướng đi của tàu Impeccable,  ngăn không cho tàu Impeccale thực hiện nhiệm vụ thám sát trong khu vực Biển Đông cách bờ biển gần nhất của Trung Quốc hơn 70 dặm. Vụ chạm trán của máy bay EP-3 cũng gần như xảy ra ở khu vực này khi một máy bay đánh chặn Trung Quốc bay một cách khiêu khích và đâm vào phi cơ thám sát của Mỹ khi chiếc phi cơ này đang thực hiện nhiệm vụ thám sát thường lệ. Tuyên bố của chính phủ Trung Quốc sau mỗi sự kiện này, rằng hoạt động của Hải quân Mỹ đã vi phạm pháp luật và đe dọa đến Trung Quốc, cho thấy quan điểm rất khác biệt về việc các hoạt động quân sự truyền thống nào sẽ được coi là việc sử dụng hợp pháp các khu vực biển này. Mặc dù cả Mỹ và Trung Quốc thường sử dụng luật pháp quốc tế để diễn giải các xung đột, nhưng bất đồng ở đây thực chất không phải là về sự diễn giải chính xác của các luật đó hay  của các điều khoản trong Công ước của Liên Hợp Quốc về luật Biển (UNCLOS). Những bất đồng này phản ánh mâu thuẫn lớn hơn giữa một bên là mục tiêu tăng kiểm soát của Trung Quốc đối với “các biển gần” và bên kia là lợi ích địa-chiến lược của Mỹ trong việc duy trì dự do hàng hải - chỗ dựa cho sự ổn định và phát triểncủa hàng hải toàn cầu thường và cũng rất cần thiết trong việc củng cố bảo đảm an ninh của Mỹ ở Đông Á. Tuy nhiên, các ngôn ngữ của luật pháp quốc tế cũng quan trọng bởi vì ngôn ngữ quốc tế là công cụ chính mà Trung Quốc chọn để trực tiếp đối đầu với sức mạnh hải quân Mỹ. Do đó, để hiểu các lập luận mang tính pháp lý của Trung Quốc cần phải vén bức rèm che và xem xét rõ ràng những cách thức phức tạp mà Trung Quốc sử dụng để thách thức Mỹ ở Đông Á, và quan sát các hàm ý lớn lớn hơn của các cuộc tranh chấp này.

 

Đường hình chữ U

Từ lâu Trung Quốc luôn coi vịnh Bột Hải, Hoàng Hải (Yellow Sea - nd), Biển Đông Trung Hoa ( East China Sea – nd) và Biển Đông– gọi là các biển gần – là khu vực lợi ích địa chiến lược trọng tâm và là một phần của vành đai phòng thủ lớn trên đất liền và trên biển để bảo vệ phần đông dân số và các trung tâm kinh tế dọc bờ biển của quốc gia này. Trong những năm 1930, chính quyền Trung Hoa Dân Quốc đã thành lập Ủy ban Kiểm tra bản đồ Đất liền và Biển để giải quyết các lo ngại về sự xâm lược tiềm ẩn từ bên ngoài đối với lãnh thổ mà Trung Quốc đã tuyên bố chủ quyền, bao gồm cả các báo cáo về các lực lượng quân sự của nước ngoài đang đóng chiếm các đảo ở Biển Đông. Năm 1935, Ủy ban này cho rằng phần lãnh thổ xa nhất ở phía Nam của Trung Quốc ở Biển Đông là bãi James (TQ: Zengmu Ansha/ Tăng Mẫu – nd), nằm cách bờ biển Borneo khoảng 50 hải lý, Trung Quốc nên mở rộng đường biên giới biển xuống phía Nam 4 độ vĩ độ Bắc. Đến năm 1947, chính quyền Cộng Hòa Dân Quốc bắt đầu cho xuất bản các bản đồ với một loạt đường hình chữ U ở biển Biển Đông để xác định ranh giới biển.[1]

 

Chính phủ Trung Quốc lặp lại cách vẽ bản đồ này khi Đảng Cộng Sản lên nắm chính quyền  năm 1949. Ngày nay đặc điểm này vẫn được duy trì ở trên tất cả các bản đồ xuất bản ở Trung Quốc và Đài Loan. Nhưng bản chất tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với việc mở rộng khu vực biển và nhiều đảo, dải cát ngầm, đá và đảo nhỏ bên trong đường 9 gạch hình chữ U (the nine dashes of the U shaped line) thì chưa bao giờ được làm rõ. Trong giới học giả và các quan chức Trung Quốc, có 4 luồng suy nghĩ chính về ý nghĩa của đường này. Tuy nhiên, chính quyền Trung Quốc vẫn tiếp tục tránh đưa ra quan điểm chính thức một cách công khai, có lẽ bởi vì  họ sẽ được lợi từ tình trạng mơ hồ kéo dài và khoảng ngỏ để đàm phán mà họ tạo nên.

 

Vùng biển chủ quyền

Một số nhà phân tích chính sách của Trung Quốc tiếp tục cho rằng nên coi các khu vực biển bên trong đường hình chữ U là các khu vực thuộc chủ quyền của Trung Quốc, và là đối tượng thuộc toàn bộ quyền thực thi pháp lý của nước này, có thể coi là nội thủy hoặc lãnh hải. Ví dụ một nhóm các nhà phân tích quốc phòng Trung Quốc kỳ cựu mô tả lợi ích ngoài khơi của nước này như “khu vực mở rộng từ bờ biển của Trung Hoa Đại lục giữa 200 hải lý (về phía Tây) và 1600 hải lý (về phía Nam),” hoặc xấp xỉ bằng vĩ độ  đã được tuyến bố  trong báo cáo năm 1935. Họ coi các “khu vực biển này chịu quyền tài phán của Trung Quốc---[vì ] là khu vực thuộc chủ quyền quốc gia của Trung Quốc.”[2] Thực ra, Luật về lãnh hải và Vùng tiếp giáp lãnh hải năm 1992 của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đặc biệt tuyên bố chủ quyền đối với từng quần đảo trong nhóm quần đảo ở biển Biển Đông – quần đảo Đông Sa (A: Pratas Islands, TQ: Dongsha – nd), quần đảo Hoàng Sa(A: Paracel Islands, TQ: Xisha/Tây Sa – nd), quần đảo Trung Sa (A: Macclesfield Bank, TQ: Zhongsha – nd) và quần đảo Trường Sa (A: Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd). Theo đó, các nhà phân tích này cho rằng vì Trung Quốc đã tuyên bố chủ quyền với các nhóm quần đảo này nên đường hình chữ U bao quanh các nhóm quần đảo cũng thiết lập một khu vực có chủ quyền.

 

Quan điểm trên tạo nên thách thức đối với chính quyền Trung Quốc vì quan điểm này đã lờ đi những giới hạn luật pháp quốc tế được quy định bởi UNCLOS về quyền đưa ra tuyên bố chủ quyền của các nước ven biển. Là một thành viên của Công ước, Trung Quốc cũng bị ràng buộc bởi các điều khoản của Công ước, trong đó không có cơ chế nào cho phép Trung Quốc có thể tuyên bố chủ quyền đối các vùng biển ở Biển Đông một cách hợp pháp, ngay cả khi cuối cùng Trung Quốc có thể củng cố kiểm soát của mình ở quần đảo này. Do đó, các quan chức nhà nước và các thực thể khác đang kiếm tìm các con đường thuận tiện hơn để tuyên bố quyền kiểm soát hợp pháp đối với Biển Đông.

 

Các vùng nước lịch sử

Có lẽ vì đây là một trong những phần không rõ ràng nhất của luật pháp quốc tế nên một số người Trung Quốc đã cho rằng khái niệm về “các vùng nước lịch sử” có thể giúp cho chính quyền nước này tuyên bố quyền kiểm soát rộng hơn đối với Biển Đông một cách hợp pháp.[3] Khái niệm này hầu như không được nhắc đến trong UNCLOS, nhưng lại tồn tại trong tập quán quốc tế. Tập quán quốc tế cho phép các quốc gia ven biển tuyên bố quyền tài phán mở rộng của mình đối với vùng nước lịch sử và các đảo nếu tuyên bố được đưa ra là duy nhất, tồn tại trong thời gian dài, và được chấp nhận một cách rộng rãi bởi các quốc gia khác. Nhưng thật không may trong việc tán thành quan điểm này, lời tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với quyền lịch sử để kiểm soát biển Biển Đông lại bị suy yếu một cách trầm trọng bởi các lời tuyên bố chủ quyền tương tự, chồng chéo được đưa ra bởi Phi-lip-pin, Việt Nam, Ma-lai-xi-a, Bru-nei, và In-do-ne-xi-a, đó là chưa kể đến các tuyên bố chủ quyền song song được đưa ra riêng rẽ bởi Đài Loan. Điều này cho thấy dù các lời tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với Biển Đông có thể đã có từ rất lâu, nhưng rõ ràng đó không phải là duy nhất, và cũng không được chấp nhận rộng rãi bởi các quốc gia khác.

 

Tuy nhiên, luật của Trung Quốc vẫn khẳng định các quyền lịch sử đối với Biển Đông. Luật về Vùng Đặc Quyền Kinh Tế và Thềm lục địa năm 1998 của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có ghi rằng các tiến triển về mặt pháp lý “sẽ không ảnh hưởng đến quyền lịch sử mà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được hưởng.” Gần đây hơn, các quan chức Trung Quốc đã nhấn mạnh cái gọi là “trách nhiệm quản lý” bắt nguồn từ các quyền lịch sử đã được tuyên bố đối với Biển Đông. Trong việc xúc tiến các trách nhiệm quản lý này, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (the Standing Committee of National People’s Congress) đã thông qua luật Bảo vệ đảo ngày 26 tháng 12 năm 2009. Luật này cho phép chính phủ Trung Quốc có nhiều quyền hạn pháp lý hơn đối với tất cả các đảo ngoài khơi đã được tuyên bố chủ quyền, bao gồm cả quyền sở hữu và nâng cao trách nhiệm quản lý đối với các đảo không người ở để tăng cường bảo vệ hệ sinh thái, kiểm soát việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và thúc đẩy phát triển bền vững. Cùng với việc luật pháp Trung Quốc đưa ra tuyên bố chủ quyền đối với tất cả các đảo và quyền lịch sử để quản lý các khu vực biển ở Biển Đông, luật này còn có thể tạo ra một cơ sở hợp lí cho việc các tàu của Trung Quốc tăng cường hoạt động ở Biển Đông như hoạt động thám sát biển, đánh bắt cá, bảo vệ bờ biển và các hoạt động khác.

 

Các tuyên bố chủ quyền đối với đảo

Một số người Trung Quốc coi đường hình chữ U như việc đơn giản khẳng định tuyên bố chủ quyền đối với tất cả các đảo, đá, bãi cát, mỏm san hô, và các phần đất nhô lên khỏi mặt nước khác của Biển Đông, và đối với bất cứ quyền tài phán nào mà luật pháp quốc tế về biển cho phép các nước ven biển yêu sách dựa trên chủ quyền đối với các phần đất nhỏ này. Quan điểm này rất có thể đã giúp hình thành quyết định của chính phủ Trung Quốc trong việc thông qua các luật năm 1992 và luật năm 1998 đã được đề cập ở trên, các bộ luật này công khai chỉ ra chủ quyền đối với các nhóm đảo ở Biển Đông và sau đó là chủ quyền đối với lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, và thềm lục địa bắt nguồn từ các vùng đó. Do đó, kết hợp lại các bộ luật này của Trung Quốc khẳng định quyển kiểm soát hợp pháp đối với gần như toàn bộ khu vực Biển Đông bên trong đường hình chữ U.

 

Ít nhất ở vẻ bề ngoài, tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với các đảo và quyền tài phán bắt nguồn hợp pháp từ việc tuyên bố chủ quyền là đúng luật, theo đó, các lời tuyên bố tuân theo các điều khoản chung của UNCLOS các khía cạnh khác của luật biển quốc tế. Tuy nhiên, khi kiểm tra kĩ lưỡng hơn thì đã xuất hiện một loạt các vấn đề cơ bản, làm suy yếu nhiều khía cạnh của các tuyên bố này. Ví dụ, rất ít đảo ở Biển Đông đủ điều kiện theo UNCLOS có vùng lãnh hải rộng hơn 12 hải lí. Các đảo quá nhỏ không thể giúp duy trì cuộc sống của dân cư ở đây hoặc không thể đáp ứng cho cuộc sống của họ về mặt kinh tế vì vậy các đảo đó không đủ tiêu chuẩn cho quyền tài phán mở rộng của các quốc gia ven biển. Tất nhiên trong đó bao gồm  nhiều đá, mỏm san hô, và dải cát ở Biển Đông vì chúng không nhô lên khỏi mặt nước khi thủy triều lên. Do đó, chỉ có một vài đảo ở Biển Đông đủ tiêu chuẩn cho vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa. Không có các vùng này, tầm với của Trung Quốc nên được giới hạn ở dải 12 hải lý quanh mỗi phần lãnh thổ ở phần lớn các địa điểm, để khoảng biển đáng kể giữa các vùng này là biển cả. Rất có thể điều này sẽ giải thích được điều khoản mù mờ trong luật năm 1998 của Trung Quốc, khi luật này khẳng định quyền lịch sử bổ sung như là cơ sở cho quyền tài phán đối với các vùng biển.  

 

Một điểm yếu khác trong tuyên bố quyền tài phán của Trung Quốc đối với biển Biển Đông dựa trên sự khẳng định chủ quyền của nước này đối với các bãi đá và bãi cát là việc nước này đã phản đối các lời tuyên bố chủ quyền tương tự của Nhật Bản đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa xung quanh Okimotorishima, một kết cấu san hô nhỏ ở Thái Bình Dương, khoảng 1050 dặm về phía Nam của Tokyo.[4] Luật pháp quốc tế không cho phép một nước tuyên bố các quyền pháp lý nếu nước đó phản đối các tuyên bố tương tự của các nước khác. Do đó, cả các điều khoản của UNCLOS và các quyền lịch sử về cơ bản đều không phải là các nguồn có sức thuyết phục của luật mà Trung Quốc có thể dựa vào để đưa ra các tuyên bố chủ quyền. Vì vậy, một số học giả và nhà phân tích Trung Quốc đã bắt đầu cho rằng luật pháp nên bảo vệ lợi ích an ninh của một nước ven biển trong khu vực biển xung quanh của nước đó.

 

Lợi ích an ninh

Khẳng định chủ quyền của Trung Quốc đối với các vùng biển gần gia tăng cùng với phạm vi hoạt động hàng hải và hải quân của nước này, và từ các lực lượng này đã nổi lên quan điểm thứ tư, nêu rằng từ lâu đường hình chữ U phản ánh lợi ích an ninh trên biển của Trung Quốc và các lợi ích này nên được pháp luật bảo vệ. Như một nhà phân tích Trung Quốc cho hay, “Hải quân chỉ là một trong những phương pháp để bảo vệ quyền và lợi ích biển của chúng ta…các phương pháp cơ bản nên được dựa vào luật, luật pháp quốc tế, và nội luật.” Để củng cố các luật và các lợi ích chủ quyền ở biển, “trong những năm gần đây, chúng ta đã bắt đầu thực hiện các cuộc tuần tra định kì để bảo vệ quyền lợi ở biển Đông Trung Hoa và Biển Đông .”[5]

 

Với ý nghĩa này, Trung Quốc coi luật pháp quốc tế và sức mạnh hàng hải là công cụ để thiết lập khu đệm an ninh biển được mong muốn từ lâu trên toàn bộ các biển gần, bao gồm cả Biển Đông. Việc luật pháp quốc tế không bảo vệ lợi ích an ninh của một quốc gia ven biển vượt quá vùng lãnh hải hẹp đã không ngăn được những người theo chủ trương bảo vệ lợi ích của Trung Quốc đưa ra các lời tuyên bố trên. Tuy nhiên, xem xét kĩ lưỡng mỗi quan điểm trong bốn quan điểm liên quan đến ý nghĩa của đường hình chữ U cho thấy không một quan điểm nào tạo được cơ sở vững chắc trong luật pháp quốc tế như nó vốn là như vậy.

 

Vùng đặc quyền kinh tế

Việc tạo vùng đặc quyền kinh tế năm 1982 của UNCLOS - một vùng mở rộng ngoài vùng lãnh hải, cách xa nhất là 200 hải lý từ bờ biển của một quốc gia ven biển, là một sự thỏa hiệp đã được cân bằng cẩn trọng giữa lợi ích của các quốc gia ven biển trong việc quản lý và bảo vệ nguồn tài nguyên biển, và lợi ích của các quốc gia được sử dụng biển trong việc bảo đảm tự do hàng hải ở biển cả và trên không, bao gồm cả các mục đích quân sự. Do đó, ở vùng đặc quyền kinh tế, quốc gia ven biển được trao quyền chủ quyền đối với nguồn tài nguyên và quyền tài phán để ban hành luật liên quan đến các nguồn tài nguyên đó, còn để bảo đảm việc tham gia của các cường quốc biển thì tự do hàng hải ở biển cả cơ bản đã được bảo lưu cho tất cả các quốc gia. Tuy nhiên, Trung Quốc lại luôn cố gắng thay đổi mối thỏa hiệp đã được cân bằng cẩn trọng này bằng cách đưa ra các tuyên bố mở rộng về quyền bảo vệ hợp pháp đối với lợi ích an ninh của quốc gia này, đặc biệt ở Biển Đông.

 

Các học giả và quan chức Trung Quốc làm như vậy bằng cách đưa ra lí do rằng bởi vì vùng đặc quyền kinh tế là một vùng thuộc quyền tài phán của quốc gia ven biển, do đó quốc gia này nên có khả năng đặt ra các giới giạn pháp lý về tự do hàng hải cho các mục đích quân sự nếu nước đó coi các hoạt động này là “xâm phạm lợi ích an ninh của quốc gia ven biển.” Theo đó, Trung Quốc khẳng định rằng ở vùng đặc quyền kinh tế, tự do hàng hải và tự do hàng không “không bao gồm quyền tự do thực hiện các hoạt động quân sự và thám sát ở [vùng biển hay] vùng không phận [vì các hoạt động này] có thể bị coi là sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực chống lại Quốc gia.”[6] Dựa trên cơ sở đó, luật pháp của Trung Quốc có ý cấm tất cả các hình thức khảo sát trong vùng đặc quyền kinh tế - bao gồm cả các khảo sát quân sự hay khảo sát thủy văn học mà không có sự đồng ý của chính quyền Trung Quốc.

 

Mặc dù ở vùng đặc quyền kinh tế UNCLOS đã trao cho các quốc gia ven biển quyền tài phán trong việc nghiên cứu khoa học về biển liên quan đến cả các tài nguyên sinh vật và phi sinh vật, tuy nhiên luật về Khảo sát và Bản đồ năm 2002 của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa xác định các hoạt động khảo sát và vẽ bản đồ rất rộng đến nỗi luật này có ý bao trùm tất cả các loại hình nghiên cứu, gồm cả khảo sát quân sự, khảo sát thủy văn học, và các hoạt động liên quan. Thêm nữa, luật này cũng tuyên bố quyền đặt ra các quy định đối với tất cả các hoạt động như trên được thực hiện trong “khu vực biển chịu quyền tài phán” của Trung Quốc. Các quan chức của Trung Quốc đã trích các luật quốc gia này như là quyền để can thiệp vào các hoạt động của USNS Impeccable, Bowditch (T-AGS-62), và các tàu nghiên cứu hải quân khác. Cũng có các báo cáo khác cho hay Trung Quốc đang xem xét luật pháp của nước này, có ý coi tất cả các quan sát và trinh sát của máy bay nước ngoài trên vùng đặc quyền kinh tế là hành vi phạm pháp.[7]

 

Các ngụ ý

Tổng hợp lại, các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc ngang với tuyên bố chủ quyền toàn bộ đối với biển Đông. Nếu như các tuyên bố này được chấp nhận, Trung Quốc có thể ngăn cản các hoạt động hợp pháp của hải quân Mỹ nhằm ủng hộ các đồng minh và các nước trong khu vực, ngăn chặn xung đột khu vực, và duy trì tự do hàng hải ở các đường lưu thông trên biển trọng yếu ở biển Đông. Dù Trung Quốc là một thành viên của UNCLOS trong khi Mỹ không phải thì cũng không có sự khác biệt trong các tranh chấp pháp lý trên, hay trong việc lực lượng hải quân Mỹ có quyền hoạt động ở khu vực biển vượt quá các lãnh hải của các nước khác trên phạm vi toàn cầu vì Mỹ đã chấp thuận hầu hết các điều khoản của UNCLOS như là tập quán quốc tế có tính chất ràng buộc. Tuy nhiên, việc Mỹ không phải là thành viên của UNCLOS làm giảm ảnh hưởng của nước này trong việc định dạng luật biển tương lai vì luật biển phát triển bên trong các thể chế do chính UNCLOS thiết lập ra như các tòa án, và các ủy ban nhằm diễn giải các điều khoản và phát triển các khía cạnh của luật chưa được giải quyết trong Hiệp Ước. Nói một cách ngắn gọn, việc Mỹ không gia nhập UNCLOS tạo cho Trung Quốc một khoảng trống ngoại giao không bị thách thức để cố gắng định dạng luật biển theo ý muốn của nước này. Điều này có thể dẫn đến các hậu quả nghiêm trọng đối với những vấn đề mang tính pháp lý quan trọng đối với lợi ích an ninh toàn cầu của Mỹ.

 

May mắn là, các quan điểm của Trung Quốc về quyền hợp pháp của nước này đối với biển Đông không phản ánh hiện trạng gần đây của luật pháp quốc tế. Các quan điểm này cũng không phản ánh sự hiểu biết đúng đắn về cân bằng quyền hạn, lợi ích, và tự do đã được đề cập đến trong các điều khoản của UNCLOS liên quan đến vùng đặc quyền kinh tế. Tuy nhiên, Trung Quốc có vẻ tán thành các diễn giải pháp lý theo chủ nghĩa xét lại để gây áp lực sẵn có đối với các hoạt động hải quân Mỹ ở Biển Đông, và có lẽ để tạo ra xung đột đủ khiến những người ra quyết định về an ninh quốc gia của Mỹ giảm mức độ hoạt động hải quân ở đây.

 

Hơn nữa, bằng cách miêu tả tranh chấp này như là cuộc đấu tranh giữa các quốc gia phát triển tìm cách duy trì quyền lực (như Mỹ), và các quốc gia đang phát triển tìm biện pháp bảo vệ một cách hợp pháp khỏi các sự gây hấn về hải quân (như Trung Quốc), một số người Trung Quốc có vẻ tin rằng họ có thể phá hỏng tính chính danh của lực lượng hải quân Mỹ trong con mắt của các quốc gia khu vực.[8] Như Phó tổng tham mưu trưởng Quân đội Giải phóng Nhân dân, Thượng tướng Ma Xiaotian (Mã Hiểu Thiên) cho rằng “nên tạo ra các quy tắc hợp lý và công bằng về quan hệ song phương …để xem xét một cách đúng đắn …các lợi ích an ninh sống còn của mỗi bên.”[9] Đây không phải là các nhận thức của một cường quốc đã thỏa mãn với các luật lệ và quy tắc quản lý các hoạt động quốc tế trên biển.hiện hành.

 

Các mục tiêu và hoạt động của Trung Quốc ở khu vực tồn tại trong căng thẳng trực tiếp với chiến lược hàng hải của Mỹ, chiến lược tìm cách duy trì an ninh và ổn định ở khu vực biển trên toàn cầu thông qua các hoạt động quốc tế mang tính hợp tác và tự do hàng hải ở tất cả các khu vực biển cách xa lãnh hải. Thật mỉa mai, các mục tiêu và hoạt động của Trung Quốc ở khu vực cũng tồn tại trong căng thẳng với các lợi ích toàn cầu đang tăng lên của chính quốc gia này. Là một quốc gia đang có nền kinh tế phát triển rất nhanh, Trung Quốc là một trong những nước được hưởng lợi từ hệ thống toàn cầu ổn định mà chiến lược này (của Mỹ - nd) mang lại. Trung Quốc có vẻ như ngày càng sẵn sàng sử dụng khả năng hải quân đang được hiện đại hóa một cách đều đặn để ủng hộ các hoạt động duy trì ổn định như các nỗ lực chống hải tặc ở Vịnh Aden, ở các khu vực xa xôi mà nước này có lợi ích. Như một nhà chiến lược về hàng hải của Trung Quốc đáng chú ý đã phát biểu:

 

Trung Quốc có nhiều lợi ích quốc gia ở khu vực biển quốc tế…[bao gồm] các đường vận tải đại dương mở, các eo biển quốc tế, 500 cảng ở hơn 150 quốc gia, [và]  đầu tư vào đáy biển quốc tế…điều đó yêu cầu Hải quân bảo vệ ở một phạm vi rộng hơn.[10]

 

Tuy nhiên, các nỗ lực bảo vệ lợi ích lớn hơn trên biển này phụ thuộc vào hoạt động hợp pháp của hải quân nhằm loại bỏ đe dọa đến an ninh trên biển. Trung Quốc không thể có cả hai thứ cùng một lúc. Nếu Trung Quốc mong muốn đảm đương vai trò lãnh đạo toàn cầu lớn hơn, thì phải chấp nhận các quy tắc mà hệ thống toàn cần vận hành. Cái giá trong việc tham gi  bảo vệ các lợi ích trên biển đang gia tăng là thừa nhận các hoạt động hải quân của các quốc gia khác có lợi ích ở biển Đông.


GS. Peter A. Dutton, Sĩ quan Hải quân Mỹ (đã về hưu).



Người dịch: Nguyễn Thị Tuyên

Bản gốc: Dutton, Peter A., "Through a  Chinese Lens", Copyright ©  Proceedings, U.S. Naval Institute, Maryland (410) 268-6110, www.usni.org.

(Bản quyền thuộc PROCEEDINGS MAGAZINE, Học viện Hải Quân Hoa Kỳ (USNI), bài dịch tiếng việt đăng trên www.nghiencuubiendong.vn với sự  đồng ý của tác giả. Đề nghị chỉ được dẫn đường link, nghiêm cấm cắt bài đăng lại khi chưa có sự đồng ý của Ban Biên tập NCBĐ)


 



[1] Li Jinming and Li Dexia, “ The Dotted Line on the Chinese Map of the South China Sea: A Note,” [Đường Đứt khúc trên bản đồ Trung Quốc về vùng biển Nam Trung Hoa: Một ghi chép]  Ocean Development and International Law [ Phát triển Đại dương và Luật pháp quốc tế], tập 34 (2003), tr. 287-95

[2] Wang Shumei, Shi Jiazhu, và Xu Mingshun, “ Carry Out the Historic Mission of the Army and Establish the Scientific Concepts of Sea Rights,” [Tiến hành nhiệm vụ lịch sử của quân đội và thiết lập những khái niệm khoa học của quyền lợi biển], Khoa học quân sự Trung Quốc, 1 tháng 2 2007, tr. 139-46.

[3]South China Sea: Controversies and Solutions- Interview with Liu Nanlai,” [Biển Nam Trung Hoa: Các tranh cãi và các cách giải quyết- Phỏng vấn Liu Nanlai], Beijing Review, 4-10 tháng 6 năm 2009.

[4] “China Dismisses Japan’s Claim of Tiny Atoll in Pacific,”[ Trung Quốc gạt bỏ tuyên bố của Nhật Bản về đảo san hô ở Thái Bình Dương], World Knowledge, 1 tháng 1 năm 2009.

[5]China’s Maritime Rights and Navy,” [ Các quyền lợi hàng hải và hải quân Trung Quốc] World Knowledge, 1 tháng 1 năm 2009

[6] Ren Xiaofeng and Cheng Xizhong, “ A Chinese Perspective,” [ Một quan điểm Trung Quốc], Marine Policy [Chính sách biển], tập 29 (2005, tr. 139-46.

[7] Hai Tao, “U.S. Military Makes China’s Adjacent Seas their Backyard,” [ Quân đội Mỹ biến các vùng biển liền kề Trung Quốc thành sân sau của họ], International Herald Leader, 1 tháng 9 năm 2009

[8] Li Guangyi, “ On Legal Issues Associated with the Military Usage of Exclusive Economic Zones,” [Về các vấn đề pháp lí liên quan đến việc sử dụng các vùng đặc quyền kinh tế cho quân sự], Tạp chí của viện chính trị Xi’an (Tây An), tập 18, số 2 tháng 4 năm 2005

[9] “The Major Powers and Asian Security: Cooperation or Conflict?”[Các Cường quốc và an ninh Châu Á: Hợp tác hay xung đột], bài phát biểu của Phó tổng tham mưu trưởng của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, Thượng tướng Mã Hiểu Thiên, trước phiên họp toàn thế thứ 2 của hội nghị an ninh của viện quốc tế nghiên cứu chiến lược (IISS) lần thứ 8, Đối thoại Shangri- La, Singapore 30 tháng 5 năm 2009

[10] Xu Qi, “Maritime Geostrategy and the Development of the Chinese Navy in the 21st  Century,” [ Địa-chiến lược hàng hải và sự  phát triển của hải quân Trung Quốc trong thế kỉ 21,” Dịch bởi Andrew Erickson và Lyle Godstein, Naval War College Review, tập 59, số 4 ( mùa thu 2006), tr.46-66.

 

 

Ngày 25/3, hội thảo “Tranh chấp đòi hỏi chủ quyền ở Biển Đông” (Conference on Conflicting Claims on the South China Sea) đã được tổ chức tại Trung tâm Triết học, Văn hoá và Xã hội Việt Nam (The Center for Vietnamese Philosophy, Culture, and Society) thuộc Đại học Temple, bang Pennsylvania, Mỹ.

Các diễn giả chính tại hội thảo này gồm: 
- Tiến sỹ sử học Nguyễn Nhã, giám đốc Viện Nghiên cứu ẩm thực Việt Nam
- Tiến sỹ kinh tế Vũ Quang Việt, nguyên Vụ trưởng Thống kê của Liên hợp quốc.
- Tiến sỹ Nguyễn Vũ Tùng, Viện Quan hệ quốc tế, Bộ Ngoại giao Việt Nam.
- Tiến sỹ Andrew Scobell, Phó giáo sư về các vấn đề quốc tế tại Đại học George H.W. Bush ở Texas, Mỹ.
- Tiến sỹ Ngô Vĩnh Long, giáo sư sử học Châu Á tại Đại học Maine.
- Tiến sỹ Ken MacClean, Phó giáo sư về nhân loại học tại Đại học Clark. 


Bài phát biểu của Tiến sỹ Nguyễn Nhã tập trung vào phân tích các chứng cứ lịch sử của cả Việt Nam và Trung Quốc, để chứng minh rằng Việt Nam có cơ sở pháp lý rõ ràng hơn cho đòi hỏi chủ quyền của mình. Ông cho biết các triều Vua Việt Nam đã có những hoạt động thực tế, liên tục và trong thời bình ở Hoàng Sa và Trường Sa từ thế kỷ 17. Đây là những cơ sở quan trọng xác minh chủ quyền của Việt Nam ở hai vùng đảo này. 

Ông Nguyễn Nhã bác bỏ việc chính quyền Quảng Đông, Trung Quốc tuyên bố chủ quyền ở Hoàng Sa, vì theo luật quốc tế chỉ có các quốc gia mới có quyền đòi hỏi chủ quyền ở những vùng đất chưa có người khai thác. Hành vi Trung Quốc sử dụng vũ lực để chiếm đóng Hoàng Sa năm 1974 và một phần Trường Sa năm 1988 là không phù hợp với luật pháp quốc tế. Theo công ước của LHQ, những vùng đất chiếm đóng bằng vũ lực không được coi là lãnh thổ của nước chiếm đoạt. 

Ông Nguyễn Nhã cho rằng tranh chấp ở Biển Đông hiện nay cần được giải quyết trên cơ sở Công ước về Luật biển 1982 của LHQ (UNCLOS) và kiến nghị Đại học Temple thông báo kết quả cuộc hội thảo này tới các hội nghiên cứu lịch sử và địa lý Mỹ, để họ hiểu rõ hơn về vấn đề tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông, tránh những sai lầm đáng tiếc có thể xảy ra như trong vụ Hội Địa lý Mỹ ghi chú Hoàng Sa là của Trung Quốc mới đây. 


Bài phát biểu của ông Vũ Quang Việt tập trung xem xét lại các tài liệu lịch sử và đòi hỏi chủ quyền của Việt Nam và Trung Quốc. Ông cho biết Vua Gia Long đã cử đội tàu ra thu nhặt của cải trong những con tàu mắc cạn ở khu vực nhóm đảo Crescent (Việt Nam gọi là Hoàng Sa) thuộc quần đảo Hoàng Sa, từ 1816. Các tài liệu lịch sử xác nhận rằng Triều Nguyễn đã xác lập chủ quyền ở Hoàng Sa trước khi Pháp tới Việt Nam và trước khi Pháp tuyên bố chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa. Các tài liệu và bằng chứng lịch sử cho thấy các triều Vua Việt Nam và sau đó là Pháp đã kiểm soát nhóm đảo Crescent thuộc Hoàng Sa ít nhất từ 1818 đến 1974, trước khi Trung Quốc chiếm quần đảo này từ tay quân đội Việt Nam Cộng hoà. 
Ông Vũ Quang Việt cho rằng đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc đối với Hoàng Sa và Trường Sa được căn cứ trên những tài liệu do các nhà du lịch và thám hiểm ghi lại, chứ không phải văn bản chính thức của nhà nước. Đây không phải là cơ sở pháp lý để đòi hỏi chủ quyền. Các chuyến viễn chinh của Đô đốc Trịnh Hoà thế kỷ 15, cũng như các hoạt động đi biển sau đó qua khu vực Biển Đông, không thể coi là Trung Quốc đã xác lập chủ quyền ở vùng biển này và vì thế Biển Đông không phải là vùng biển lịch sử của Trung Quốc. Ông cũng bác bỏ tuyên bố năm 2000 của Bộ Ngoại giao Trung Quốc cho rằng Tuyên bố Cairô và Potsdam đã xác nhận chủ quyền của Trung Quốc ở Hoàng Sa và Trường Sa. Ông Việt cho biết các tuyên bố này chỉ buộc Nhật Bản từ bỏ chủ quyền đối với những vùng đảo mà họ đã chiếm đóng trong Chiến tranh thế giới thứ hai, nhưng không đề cập tới việc chuyển giao chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc.
Ông Vũ Quang Việt cho rằng Trung Quốc đã theo đuổi chính sách gặm nhấm ở Biển Đông từ năm 1952, khi Thủ tướng Chu Ân Lai ra tuyên bố về chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trung Quốc đã thực hiện hàng loạt bước đi nhằm chiếm đóng hai quần đảo này khi có thời cơ, như đã sử dụng vũ lực chiếm nhóm đảo Crescent thuộc quần đảo Hoàng Sa từ tay chính quyền miền Nam Việt Nam năm 1974, hay chiếm một số đảo trong quần đảo Trường Sa năm 1988. Trung Quốc cũng đã bí mật chiếm đóng đảo Mischief Reef từ tay Philíppin sau khi Mỹ đóng cửa hai căn cứ quân sự ở Philíppin. Ông cho rằng việc Trung Quốc đòi chủ quyền trên các quần đảo này chỉ là bước đi cơ bản nhằm thực hiện mục tiêu tham vọng hơn, đó là kiểm soát gần như toàn bộ Biển Đông. 
Ông Vũ Quang Việt kiến nghị một số bước đi nhằm hướng tới một giải pháp hoà bình cho tranh chấp ở Biển Đông. Theo ông, trước hết Trung Quốc phải từ bỏ đòi hỏi chủ quyền trong đường 9 đoạn, vì đòi hỏi này không thể bảo vệ được và không phù hợp với luật quốc tế. Sau đó, các bên đồng ý xác định bản chất các địa hình nổi ở Hoàng Sa và Trường Sa là đảo, bãi đá, bãi san hô, hay dải cát, theo quy định của Công ước về Luật biển 1982 của LHQ (UNCLOS). Vấn đề chủ quyền trên các đảo, bãi đá, v.v… ở Biển Đông được giải quyết trên cơ sở UNCLOS, theo đó các nước ven bờ có chủ quyền đối với vùng lãnh hải 12 hải lý và có quyền khai thác, bảo tồn và quản lý tài nguyên trong vùng đặc quyền kinh tế. Nếu EEZ của các nước chồng lẫn nhau thì giải quyết qua thương lượng. Các nước có quyền khai thác tài nguyên, nhưng không có chủ quyền đối với EEZ, nghĩa là các nước khác có quyền tự do đi qua, hoặc bay qua EEZ nếu không gây tổn hại cho nước ven bờ. Ông Vũ Quang Việt kiến nghị thành lập một tổ chức quản lý, khai thác và phân bổ nguồn lợi hải sản ở Biển Đông theo tỷ lệ bờ biển của các nước ven bờ: Trung Quốc 29,9%, Inđônêxia 1,3%, Malaixia 19,4%, Philíppin 25,3% và Việt Nam 24,1%. 


Bài phát biểu của ông Nguyễn Vũ Tùng tập trung vào khía cạnh chính sách và chính trị trong tranh chấp ở Biển Đông. Ông cho rằng vai trò của quân sự đã giảm đi trong các quan hệ quốc tế kể từ sau Chiến tranh Lạnh. Do đó nỗ lực tìm giải pháp cho tranh chấp ở Biển Đông cần đi theo hướng thương lượng và hoà giải. Ông cho rằng để có thể tiến tới giải pháp “khai thác chung”, Trung Quốc cần có trách nhiệm hơn với các nước ven bờ khác. 
Giáo sư Andrew Scobell cho rằng một trong những thách thức lớn nhất đối với Mỹ ở khu vực Đông Nam Á chính là đòi hỏi chủ quyền gần như toàn bộ Biển Đông của Trung Quốc. Ông cho rằng cách tiếp cận của Trung Quốc trong giải quyết tranh chấp ở Biển Đông là thông qua “xung đột cường độ thấp”, tức là thông qua những hoạt động không gây sự chú ý của dư luận, nhưng giúp Trung Quốc từng bước xác lập chủ quyền của mình. Ông cho rằng các nước láng giềng cần thận trọng trước những tuyên bố ngoại giao của Trung Quốc, vì lời nói và hành động của Trung Quốc không hoàn toàn giống nhau. 
Ông Ngô Vĩnh Long cho rằng Trung Quốc luôn lợi dụng thế mạnh để ép các nước khác phải tuân theo đòi hỏi của mình. Do có lợi thế hơn tất cả các nước tranh chấp khác ở Biển Đông, nên Trung Quốc đòi giải quyết bất đồng thông qua đàm phán song phương, chứ không qua các tổ chức đa phương. Nếu chấp nhận giải pháp song phương, tất cả các nước ven bờ sẽ bị thiệt thòi trước Trung Quốc. Vì thế ông cho rằng các nước ASEAN cần thống nhất lập trường trong việc giải quyết tranh chấp ở Biển Đông qua con đường đa phương.
Ông Ken MacClean không có bài phát biểu. Thay vào đó ông nêu một số câu hỏi và đề nghị mọi người tham gia ý kiến. 


* Vài nhận xét chung:
Hội thảo tại Đại học Temple được coi như bước tiếp nối của hội thảo tương tự diễn ra tháng 11/2009 ở Đại học Yale, Mỹ. Một số diễn giả chính tại hội thảo lần này cũng là những người đã từng có bài phát biểu tương tự tại Đại học Yale. Hai cuộc hội thảo này do các nhóm nghiên cứu về Việt Nam tại Đại học Yale và Đại học Temple, cùng với một số nhà nghiên cứu gốc Việt quan tâm tới vấn đề tranh chấp tại Biển Đông phối hợp tổ chức. Mục đích của cả hai hội thảo là trao đổi những đánh giá và nghiên cứu, dưới góc độ khoa học, vấn đề tranh chấp tại Biển Đông và tác động của nó tới Việt Nam và khu vực. 
Những người tổ chức hội thảo đã cố gắng mời các nhà nghiên cứu ở cả trong và ngoài nước, cả Việt Nam và Mỹ tới phát biểu, với hy vọng có thể đưa ra được những đánh giá khách quan và nhiều mặt hơn quanh vấn đề tranh chấp ở Biển Đông. Các diễn giả chính tại hội thảo là những người đã từng có bài nghiên cứu về tranh chấp ở Biển Đông (như các ông Nguyễn Nhã, Vũ Quang Việt, Ken MacClean) hoặc đã từng tham dự vào các chương trình nghiên cứu, hoạch định chính sách liên quan tới Việt Nam, Trung Quốc và khu vực (như các ông Andrew Scobell, Nguyễn Vũ Tùng, Ngô Vĩnh Long). Tuy nhiên, hầu hết các diễn giả đều không phải là những người chuyên nghiên cứu về tranh chấp ở Biển Đông hay an ninh khu vực. Cả hai cuộc hội thảo ở Yale và Temple cùng không lôi kéo được các chuyên gia hay những nhà nghiên cứu có danh tiếng về tranh chấp ở Biển Đông và an ninh khu vực tham gia. Do đó tác động của hai hội thảo này tới giới nghiên cứu và hoạch định chính sách Mỹ có thể không cao như những người tổ chức hy vọng. 
Dù vậy, hai cuộc hội thảo này cũng góp phần mở ra một cuộc tranh luận mới giữa những người quan tâm tới tranh chấp ở Biển Đông trong một vài nhóm nghiên cứu ở Mỹ, đồng thời tạo dựng sự đồng thuận giữa người Việt Nam ở trong và ngoài nước quanh vấn đề chủ quyền quốc gia./.

 

Theo TTX

 

 

 

 

Thời gian gần đây, lãnh đạo cấp cao quân đội Trung Quốc, bao gồm cả Bộ trưởng Quốc phòng Lương Quang Liệt đã liên tục đi thăm các nước, ngoài các nước lớn như Mỹ, Nga, còn đi thăm các nước láng giềng lân cận, khiến ngoại giao quân sự Trung Quốc gần đây dấy lên thành cao trào.

 

Trong bối cảnh vấn đề căng thẳng Biển Đông đang tiếp tục diễn ra, tình hình đảo Điếu Ngư nóng lên, một loạt chuyến thăm nhằm tăng cường an ninh phòng vệ của quân đội Trung Quốc được cả thế giới quan tâm.

I- Tạo dựng môi trường an ninh hợp tác tin cậy lẫn nhau

Nhận lời mời của Tư lệnh hải quân Nước Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ -Thượng tướng Bill Gaelic, ngày 3/9/2012 Ủy viên Quân ủy trung ương, Tư lệnh hải quân Ngô Thắng Lợi đã dẫn đầu đoàn đại biểu quân đội Trung Quốc đi thăm hữu nghị chính thức Thổ Nhĩ Kỳ. Tư lệnh Ngô Thắng Lợi hội kiến với nhà lãnh đạo quân đội và hải quân Thổ Nhĩ Kỳ, đi thăm một số đơn vị hải quân và trường quân sự của hải quân Thổ Nhĩ Kỳ, đồng thời mở rộng giao lưu hợp tác, đi sâu trao đổi ý kiến thiết thực trong các lĩnh vực giao lưu cấp cao, tàu chiến thăm lẫn nhau, hợp tác hộ tống tàu biển, giao lưu giữa các trường, viện của hải quân hai nước. Trước khi Tư lệnh Ngô Thắng Lợi đi thăm Thổ Nhĩ Kỳ, ngày 2/9 Ủy viên Quốc vụ kiêm Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt đã đi thăm Ấn Độ 5 ngày, đây là chuyến thăm Ấn Độ đầu tiên của Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc sau 8 năm gián đoạn. Trước đó, từ ngày 29/8 Bộ trưởng Lương Quang Liệt đã đi thăm Xri Lanca. Đây là lần đầu tiên Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc thăm Xri Lanca.

Cũng trong ngày 2/9, nhận lời mời của Bộ trưởng Quốc phòng các nước Việt Nam, Mianma, Malaixia và Xinhgapo, Phó Tổng tham mưu trưởng Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) Mã Hiểu Thiên đã khởi hành đi thăm bốn nước nói trên, lần lượt tham gia thảo luận, bàn bạc về an ninh quốc phòng lần thứ 6 với Bộ Quốc phòng Việt Nam, thảo luận bàn bạc về an ninh quốc phòng lần đầu tiên giữa hai Bộ Quốc phòng Trung Quốc – Malaixia, đối thoại chính sách quốc phòng lần thứ 4 giữa Trung Quốc và Xinhgapo, đồng thời đi thăm hữu nghị chính thức Mianma. Trong tháng 8 vừa qua, hai Phó Tổng tham mưu trưởng của PLA là Ngụy Phượng Hòa và Thái Anh Đĩnh dẫn đầu đoàn đại biểu đi thăm Nga và Mỹ. Tháng 1 năm nay, các chuyến thăm cấp cao liên tục như vậy của quân đội Trung Quốc được dư luận quan tâm. Là một bộ phận quan trọng của ngoại giao tổng thể quốc gia, ngoại giao quân sự Trung Quốc gần đây lại dấy lên cao trào mới. Trong số các quốc gia mà lãnh đạo cấp cao quân đội Trung Quốc đi thăm lần này vừa có các nước láng giềng lân cận, vừa có nước lớn như Mỹ, Nga. Có ý kiến phân tích cho rằng Trung Quốc đang nỗ lực thông qua giao lưu quân sự nhiều cấp độ như vậy để tạo dựng môi trường an ninh quân sự hợp tác tin cậy lẫn nhau.

II- Liên tiếp đi thăm láng giềng thúc đẩy lòng tin quân sự - Giao lưu quân sự Trung-Ấn được quan tâm

Từ hàng loạt chuyến thăm cấp cao liên tục lần này cho thấy việc Trung Quốc chú trọng tăng cường giao lưu an ninh quốc phòng với các nước xung quanh có đặc điểm rất rõ rệt. Các nước Ấn Độ, Lào do Bộ trưởng Quốc phòng Lương Quang Liệt đến thăm; các nước Việt Nam, Mianma, Malaixia, Xinhgapo do Phó Tổng tham mưu trưởng Mã Hiểu Thiên đến thăm; nước Nga do Phó Tổng tham mưu trưởng Ngụy Phượng Hòa đến thăm, đều là các nước láng giềng của Trung Quốc.

Về phát triển quan hệ quân sự của Trung Quốc với các nước xung quanh, người phát ngôn báo chí Bộ Quốc phòng Cảnh Nhạn Sinh ngày 30/8 nhấn mạnh Trung Quốc tuân thủ phương châm ngoại giao thân thiện với láng giềng, coi láng giềng là bạn, kiên trì quan điểm an ninh mới về tin cậy lẫn nhau, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi, sẵn sàng trở thành láng giềng tốt, người bạn tốt, đối tác tốt với các nước trong khu vực. Quân đội Trung Quốc sẽ tiếp tục nâng cao sự tin cậy lẫn nhau, tăng cường hợp tác, chung tay đối phó thách thức, không ngừng nỗ lực bảo vệ hòa bình, ổn định của khu vực.

Trong các chuyến giao lưu quân sự với các nước xung quanh lần này, cuộc gặp giữa Trung Quốc và Ấn Độ thu hút sự quan tâm nhiều nhất. Chuyến thăm Ấn Độ lần này của Bộ trưởng Lương Quang Liệt là chuyến thăm đầu tiên của Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc sau 8 năm, kể từ tháng 3/2004, chuyến thăm Trung Quốc gần đây nhất của Bộ trưởng Quốc phòng Ấn Độ cũng cách đây 6 năm, vào năm 2006.
Theo lịch trình, trong thời gian ở thăm Ấn Độ, Bộ trưởng Lương Quang Liệt gặp Bộ trưởng Quốc phòng A.K. Anthony và các quan chức quân sự cấp cao khác của Ấn Độ, đồng thời hội kiến với Thủ tướng Ấn Độ Mamohan Singh. Bộ Quốc phòng Ấn Độ trước đó cho hay Trung Quốc và Ấn Độ sẽ thảo luận, bàn bạc những công việc liên quan đến quốc phòng và an ninh, bao gồm tăng cường biện pháp giữ gìn hòa bình và ổn định ở khu vực biên giới giữa hai nước, thúc đẩy xây dựng lòng tin giữa lực lượng vũ trang hai nước. Hai bên cũng sẽ thảo luận vấn đề tái khởi động diễn tập quân sự hỗn hợp Trung - Ấn mang tên “ Tay nắm tay” lần thứ ba tại Trung Quốc vào năm tới.

Các nhà phân tích cho rằng những năm gần đây, động thái của Ấn Độ trong vấn đề Nam Hải đã khiến Trung Quốc lo ngại, trong khi Ấn Độ cũng có nhiều nghi kỵ về cách làm của Trung Quốc trong các công việc ở Ấn Độ Dương, lần giao lưu hiện nay giữa quân đội Trung Quốc và Ấn Độ có ý nghĩa tích cực trong việc tăng thêm lòng tin, giảm bớt nghi kỵ, bảo vệ an ninh ở khu vực. Trong chuyến thăm Xri Lanca trước đó, Bộ trưởng Lương Quang Liệt cũng nhấn mạnh Trung Quốc phát triển quan hệ ngày càng mật thiết với các quốc gia Nam Á là nhằm đảm bảo an ninh và ổn định khu vực chứ không có ý đồ làm tổn hại cho bất cứ bên thứ ba nào.

III- Phó Tổng tham mưu trưởng Trung Quốc thăm Mỹ trong thời kỳ nhạy cảm để nhấn mạnh chủ quyền đảo Điếu Ngư, tránh hiểu lầm

Ngoài tăng cường giao lưu quân sự với các nước xung quanh, trong thời điểm vấn đề Nam Hải, đảo Điếu Ngư một lần nữa nóng lên, việc Phó Tổng tham mưu trưởng PLA Thái Anh Đĩnh đi thăm Mỹ từ ngày 20 – 28/8 cũng được dư luận chú ý. Là một bộ phận của quá trình cơ chế hóa các chuyến thăm cấp cao lẫn nhau giữa hai quân đội Trung Quốc – Mỹ, chuyến thăm Mỹ lần này của phái đoàn Thái Anh Đĩnh diễn ra chỉ hơn ba tháng sau chuyến thăm Mỹ của Bộ trưởng Quốc phòng Lương Quang Liệt đầu tháng 5/2012. Trong chuyến thăm, Phó Tổng Tham mưu trưởng Thái Anh Đĩnh đã lần lượt hội kiến với Thứ trưởng thường trực Bộ Quốc phòng Mỹ Ashton Carter, Phó Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Mỹ Vinny Rumsfeld, Phó Tham mưu trưởng lục quân Mỹ Austin, Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ Sherman, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương Locklear, đồng thời tham quan căn cứ quân sự Mỹ, tọa đàm với các học giả nổi tiếng Mỹ, thăm tàu khu trục Aegis thuộc Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ.

Về vấn đề đảo Điếu Ngư, khi trả lời phỏng vấn báo chí ông Thái Anh Đĩnh cho biết trong khi đề cập đến lợi ích cốt lõi của Trung Quốc như chủ quyền, an ninh và trong các vấn đề lớn cần quan tâm, đoàn đại biểu Trung Quốc đã trình bày lập trường nguyên tắc của mình, nhấn mạnh ý thức chủ quyền mạnh mẽ của nhân dân và quân đội Trung Quốc, nói rõ hành vi xâm chiếm trái phép đảo Điếu Ngư của Nhật Bản không làm thay đổi được chủ quyền của Trung Quốc ở đảo này. Phía Trung Quốc kiên quyết phản đối Mỹ coi đảo Điếu Ngư là đối tượng để áp dụng Hiệp ước đảm bảo an ninh Mỹ - Nhật, hối thúc Mỹ có nhiều nỗ lực thúc đẩy hòa bình ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, bảo vệ cục diện lớn của quan hệ hữu nghị Trung – Mỹ.

Sau khi kết thúc chuyến thăm Mỹ của Thái Anh Đĩnh, tại cuộc họp báo thường kỳ ngày 30/8, Bộ Ngoại giao Trung Quốc xác nhận Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Panetta sẽ thăm Trung Quốc vào giữa tháng 9. Người phát ngôn báo chí Bộ Quốc phòng Trung Quốc Cảnh Nhạn Sinh cho hay Trung Quốc hết sức coi trọng chuyến thăm này và đang tiến hành công tác chuẩn bị một cách nghiêm túc. Ngoài ra, ông Cảnh Nhạn Sinh cũng cho biết quân đội Mỹ - Trung sẽ còn trao đổi các đoàn và các trường viện đi thăm lẫn nhau mang tính cơ chế, mở rộng giao lưu trong các lĩnh vực chuyên môn, đồng thời còn có kế hoạch tổ chức diễn tập quân sự hỗn hợp chống cướp biển. Ngành quốc phòng hai nước luôn giữ mối liên hệ chặt chẽ và trao đổi thường xuyên về vấn đề này.

Theo các nhà phân tích tình hình Biển Đông và tình hình Biển Hoa Đông thời gian gần đây bị chấn động, Mỹ liên tục diễn tập quân sự ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, trong bối cảnh đó, quân đội hai nước Mỹ - Trung cũng giữ liên hệ tiếp xúc chặt chẽ trên cơ sở được cơ chế hóa, đó là biểu hiện về quan hệ quân đội hai nước ngày càng tốt đẹp, có lợi cho việc nâng cao lòng tin lẫn nhau, tránh hiểu lầm và nhận định sai lệch về nhau.

Theo Mạng Tân Hoa (ngày 4/9)

Lê Sơn (Nhật Linh)

 

 

 

Thời báo hoàn cầu ngày 8/6 dẫn nguồn từ “Báo Bưu điện Gia-các-ta” của Indonesia ngày 7/6 đăng bài: “Nam Hải (Biển Đông) là hòn đá thử vàng quan hệ Trung Quốc-ASEAN”. Dưới đây là nội dung chính bài báo.

 

Trung Quốc đã giải quyết được phần lớn vấn đề biên giới lãnh thổ bằng biện pháp hòa bình. Lãnh đạo Trung Quốc cho rằng đây là việc cần thiết, có thể tập trung được tinh lực để phát triển kinh tế và thể hiện với thế giới Trung Quốc là một quốc gia có trách nhiệm. Nhưng sự phức tạp trong chính sách quốc phòng xung quanh Trung Quốc khiến khó có thể đánh giá được Trung Quốc sẽ bảo vệ “chủ quyền không thể tranh cãi” trong trường hợp nào. Hải quân Trung Quốc lần đầu tiên có khả năng phá vỡ “chuỗi đảo thứ nhất”, điều này sẽ có ảnh hưởng chiến lược lớn đối với cán cân tương quan lực lượng ở khu vực trong nhiều năm tới.

 

Chuyên gia về vấn đề khu vực Michael Auslin cho rằng đây là bước đầu tiên trong chiến lược “phòng ngự biển xa” mới nhất của Trung Quốc (khác với phòng ngự biển gần truyền thống), cho thấy Trung Quốc có ý định đóng vai trò lớn hơn trong khu vực. Đối với việc hải quân Trung Quốc ngày càng tự tin hơn, các nước Đông Nam Á rất khó hoan nghênh một cách tích cực. Mức độ phụ thuộc ngày càng lớn trong lĩnh vực kinh tế thương mại giữa Trung Quốc và ASEAN đã xóa đi sự bất an của các nước trong khu vực đối với Trung Quốc. Nhưng vấn đề “Nam Hải” sẽ là hòn đá thử vàng cuối cùng để xem quan hệ giữa Trung Quốc và ASEAN đã chín muồi chưa.

 

Việc Trung Quốc đẩy nhanh hiện đại hóa hải quân sẽ khiến Trung Quốc khó xóa bỏ được sự lo ngại của các nước trong khu vực. Ngoài ra, bên trong các nước ASEAN tồn tại khoảng cách về chính trị và kinh tế, các nước này quan hệ với Trung Quốc đều theo đuổi lợi ích chiến lược riêng. Do đó, các nước ASEAN khó có thể đạt được sự đồng thuận nhằm ủng hộ một số nước thành viên giải quyết tranh chấp ở “Nam Hải” (Biển Đông).

 

Nhưng điều quan trọng hơn là các nước ASEAN cần phải hiểu Trung Quốc lo ngại việc thỏa hiệp trong vấn đề “Nam Hải” (Biển Đông) sẽ phát tín hiệu sai cho Đài Loan. Hơn nữa, nhu cầu năng lượng của Trung Quốc ngày càng tăng và sự lệ thuộc cao vào eo biển Malacca khiến Trung Quốc phải tính đến việc sử dụng biện pháp quân sự để bảo đảm nguồn cung. Đồng thời, Trung Quốc cũng cần phải hiểu cho dù Trung Quốc sử dụng vũ lực ở bất kỳ hình thức nào thì các nước ASEAN cũng không thể tha thứ, “sức hấp dẫn” của ngoại giao và kinh tế không đủ để giữ lòng tin chiến lược lâu dài.

 

 

 

Ngôn ngữ