Dưới đầu đề trên, tạp chí AseanAffairs số ra tháng 3 và 4/2010 cho biết: Chuyến đi thăm lần thứ hai của tổng thống Mỹ Barack Obama đến Đông Nam Á, đặc biệt tới Inđônêxia- nơi ông sống thời niên thiếu và Ôxtrâylia, đồng minh và là nước ủng hộ kiên cường những nỗ lực của Mỹ ở Ápganixtan, được coi là bước tiến quan trọng của Mỹ nhằm khôi phục ảnh hưởng trong khu vực này.
Trong khi nền kinh tế, chủ nghĩa khủng bố và thay đổi khí hậu, tất cả đều là những vấn đề nổi bật trong chuyến đi quốc tế đầu tiên của ông Obama trong năm nay, thì chuyến đi này được các quan chức chính quyền Mỹ nói rằng phản ánh nỗ lực của tổng thống nhằm tăng cường quan hệ với các quốc gia nhỏ hơn và đang nổi lên. Chuyến đi diễn ra vào lúc các mối quan hệ Trung - Mỹ ở mức thấp do tuyên bố gần đây của Mỹ về việc bán vũ khí cho Đài Loan, cuộc gặp của Obama với Dalai Lama hồi tháng 2 và cái gọi là Trung Quốc thao túng đồng nhân dân tệ ở mức thấp giả tạo (có tin đang làm cho nền kinh tế Mỹ bị mất hơn 200 tỷ USD/năm và làm cho người Mỹ mất 1 triệu việc làm).
Ngoài các mối quan hệ khó khăn Trung-Mỹ, chuyến đi thăm ngắn của Obama tới khu vực này được cho là giúp Mỹ xác định lại mối quan hệ với ASEAN. Nhân dịp này, AseanAfairs xem xét lại các động thái gần đây của Trung Quốc nhằm tăng cường ảnh hưởng của họ-cả về kinh tế lẫn chính trị trong khu vực và những nỗ lực do Mỹ tiến hành nhằm xác định lại mối quan hệ của Mỹ với ASEAN từ viễn cảnh của Mỹ.
QUYỀN LỰC CÂN BẰNG CỦA ASEAN
Dưới đây là các câu hỏi và trả lời phỏng vấn do AseanAfairs tiến hành với Ernest Z.Brown, cố vấn cao cáp và là giám đốc Chương trình Đông Nam Á thuộc Trung tâm nghiên cứu chiến lược quốc tế, và là nhà đồng sáng lập Brooks BowerAsia LLC và cựu chủ tịch Hội đồng kinh doanh Mỹ-ASEAN:
Hỏi: Hiệp định tự do thương mại ASEAN-Trung Quốc (ACFTA) được coi là nằm trong những nỗ lực của Trung Quốc nhằm củng cố ảnh hưởng ngày càng tăng của họ và là đối trọng với sức mạnh của Nhật Bản và Mỹ. Quan điểm của ông về vấn đề này thế nào?
Trả lời: Tôi không coi ACFTA được tập trung vào cân bằng sức mạnh của Mỹ và Nhật Bản trong ASEAN, mà là chính phủ Trung Quốc đang phấn đấu để đặt họ ở vị trí là một nhà lãnh đạo trong khu vực và nhằm đạt được lợi ích nhiều nhất về kinh tế. Trung Quốc đã làm được một công việc to lớn là giành cơ hội đáp ứng ASEAN khi họ cần một đối tác kinh tế và tài chính tiên phong, nhất là trong và sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997-2000. Tôi cho rằng Trung Quốc đang hành động để thúc đẩy những lợi ích riêng của họ và ít có động cơ, ít nhất trong ACFTA, tìm cách cân bằng với Mỹ và Nhật Bản.
Hỏi: Trong điều trần của ông trước Ủy ban kiểm điểm kinh tế & an ninh Mỹ-Trung đầu tháng 2/2010, ông ghi nhận rằng sự mở rộng kinh tế nhanh chóng của Trung Quốc có thể mang lại ít kịch bản thuận lợi hơn được chứng kiến. Xin ông nêu ra một hoặc hai ví dụ về những hậu quả có thể có này?
Trả lời: Hai ví dụ đó là các công ty Mỹ tự thấy mình đang cạnh tranh với các công ty được ủng hộ về chủ quyền, do nhà nước Trung Quốc quản lý, các công ty này không những được chính phủ Trung Quốc ủng hộ mà còn không bị ràng buộc bởi bất kỳ đạo luật nào như Đạo luật nước ngoài & những hành vi tham nhũng của Mỹ (FCPA) xác định các công dân và công ty Mỹ phải hoạt động nghiêm chinh như thế nào trước những hành động có liên quan đến tham nhũng. Trong trường hợp các quan chức bị mắc tội hối lộ, các công ty Mỹ có thể tự thấy mình ở thế rõ ràng không thuận lợi. Một kịch bản khác là thông qua sự can dự chiến lược và kinh tế ở Đông Nam Á, Trung Quốc có thể bắt đầu phát triển những lợi thế dựa vào những tiêu chuẩn do người Trung Quốc đề ra. Một ví dụ tốt nữa là nếu Trung Quốc cuối cùng ở vị trí áp đặt được, ví như các tiêu chuẩn thông tin viễn thông kiểu 3G của riêng họ cho các chính phủ châu Á. Điều này có thể làm cho Đông Nam Á ít thâm nhập được vói phần còn lại của thế giới và tạo cho các nhà sản xuất và cung cấp dịch vụ Trung Quốc có được lợi thế thương mại rõ ràng trong cái sẽ là một thị trường có quy mô lớn- 1,3 triệu dân Trung Quốc cộng với 600 triệu dân ASEAN. Trên mặt trận an ninh, nếu Trung Quốc quyết định tìm cách áp đặt những tuyên bố của họ về chủ quyền đối với các tuyến đường biển và các khu vực khai thác dầu và khí đốt tiềm tàng ở Biển Đông (biển Nam Trung Hoa), thì điều này có thể gây ra một cuộc xung đột nghiêm trọng về lợi ích giữa Trung Quốc và các nước ASEAN, cũng như Mỹ và các nước khác.
Hỏi: Sự "nổi dậy hòa bình" của tác động Trung Quốc đối với những lợi ích chiến lược của Mỹ như thế nào, đặc biệt ở Đông Nam Á?
Trả lời: Kịch bản nổi dậy hòa bình là kịch bản mà chúng ta đều muốn thấy. Như tôi đã nói ở trên, chúng ta phải công nhận điều đó lúc này, sự thâm nhập của Trung Quốc vào nền kinh tế khu vực và toàn cầu và cộng đồng các nước là tương đối suôn sẻ, hòa bình và có tính xây dựng. Điều này rất tốt cho Trung Quốc và tốt cho ASEAN, những nước còn lại của châu Á, Mỹ và thế giới. Trung Quốc đã đóng góp nhiều về tài năng, các tư tưởng, văn hóa và chắc chắn là một thị trường lớn và nguồn đầu tư mới. Nhưng lợi ích chiến lược của Mỹ ở châu Á được tăng lên bởi sự nổi dậy hòa bình của Trung Quốc. Một phương pháp được xem xét tốt sẽ là tiếp tục tăng cường và mở rộng các mối quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ, đặc biệt giữa các nhà quân sự của chúng ta với các nhà hoạch định chính sách an ninh quốc gia. Điều này có thể làm được tốt nhất về song phương lẫn thông qua một kiến trúc an ninh khu vực công nhận trung tâm của ASE*AN. ASEAN là một nơi tốt cho Trung Quốc, Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản, Triều Tiên, Ôxtrâylia, Niu Dilân và các nước tiềm năng khác để gặp gỡ, chia sẻ thông tin và tăng cường hiểu biết lẫn nhau.
Hỏi: Một Trung Quốc phát triển nhanh chóng vừa là cơ hội vừa là tai họa cho Đông Nam Á. Nhưng khi khi xét đến thương mại, Đông Nam Á vẫn phụ thuộc vào Mỹ nhiều hơn Trung Quốc. Tại sao các nhà lãnh đạo ASEAN lại bắt đầu lo ngại về sự thống trị của Trung Quốc?
Trả lời: Lịch sử của ASEAN là một lịch sử cân bằng cẩn trọng giữa các cường quốc lớn. Tôi cho rằng ASEAN cảm thấy rằng Trung Quốc đã có một sự vận hành tốt trong khu vực này trong thập kỷ qua. Sự nổi dậy nảy có ích cho ASEAN và lấp đầy sự chênh lệch một cách đúng lúc và có hiệu quả. Nhưng ASEAN không muốn bị thống trị bởi Trung Quốc và sẽ chống lại những nỗ lực này. Có những mối lo ngại rằng Trung Quốc đã bắt đầu đẩy mạnh những nỗ lực này, trong các trường hợp như khai thác dầu và khí đốt ngoài khơi Việt Nam hoặc ở Spratleys, hoặc thậm chí ở Mianma , nơi họ đang đòi thâm nhập rõ ràng vào các đường ống và các căn cứ ở ngoài khơi biển Andaman. Một ASEAN mạnh và đoàn kết là cần thiết để cân bằng những hành động như vậy.
Rõ ràng, đây không phải là chống Trung Quốc. Về mặt lịch sử, ASEAN đã tìm kiếm sự cân bằng khi một cường quốc lớn được thừa nhận mở rộng quá mức ảnh hưởng của họ. Điều này đã xảy ra trong trường hợp Nhật Bản được thừa nhận địa vị thống trị trong cuối những năm 1980 và nếu Mỹ đẩy tới quá xa, tôi cho rằng ASEAN sẽ chìa tay ra với Trung Quốc, Nhật Bản và Ấn Độ để tìm cách cân bằng những hành động như vậy.
Hỏi: Nếu ASEAN cần Mỹ để đẩy mạnh các lợi ích chiến lược của họ trong khu vực nhằm thỏa mãn mong muốn cân bằng của họ, thì Mỹ cần ASEAN như thế nào để đẩy mạnh các lợi ích của mình trong khu vực?
Trả lời: Đây là câu hỏi hay. Tôi cho rằng, Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên và Ấn Độ- tất cả đều cần ASEAN đẩy mạnh các lợi ích của họ ở châu Á. ASEAN là quan trọng, bởi vì họ là một nhóm lớn và quan trọng của các nước, nhưng bởi vì họ là một nhóm, cho nên họ vốn không thể hoặc sẵn sàng đi tiên phong trong việc xác định và theo đuổi các lợi ích chủ quyền một cách tập thể, họ là một nơi dễ dàng để gặp và hoàn tất.
ASEAN là thỉết yếu trên bàn cờ chiến lược châu Á. Nếu họ quản lý tốt và các đối tác đối thoại của họ chơi thận trọng, ASEAN có thể làm cho họ trở thành động lực của sự an toàn châu Á và không có xung đột trong thế kỷ 21.
Lịch sử không quá tốt khi nhìn vào sự nổi lên của của các cường quốc lớn. Họ chủ trường tìm kiếm lãnh thổ và sự thống trị, nhưng có lẽ ASEAN có thể giúp Trung Quốc và Ấn Độ nhảy vào vũ đài toàn cầu mà không có chiến tranh hoặc các cuộc xung đột nguy hiểm. Để đạt được mục tiêu này, tất cả các bên phải can dự tích cực và kiên trì với nhau và công nhận trung tâm của ASEAN trong kiến trúc khu vực mới này. Tôi hy vọng rằng các nhà hoạch định chính sách Mỹ hoàn toàn hiểu được tầm quan trọng của ASEAN và đầu tư vào đó.
Hỏi: Ông gần đây tuyên bố rằng chức chủ tịch ASEAN của Việt Nam năm tới có thể đẩy mạnh sự dính líu của Mỹ trong khu vực. Nhưng làm thế nào và tại sao lại Việt Nam?
Trả lời: Việt Nam và Mỹ chia sẽ lợi ích chung trong một ASEAN mạnh, thống nhất. Mặc dù hai nước đã đánh nhau trong cuộc chiến tranh như các địch thủ ít hơn 50 năm trước đây, ngày nay họ tự nhận thấy đang trải qua kinh nghiệm của ngã ba lợi ích và các quan hệ song phương đang tiến lên với một tốc độ ấn tượng. Các nước thành viên ASEAN nói chung muốn Mỹ vẫn can dự tích cực, nhưng chúng ta có thể hy vọng Việt Nam là một chủ tịch tập trung đặc biệt của ASEAN trong năm 2010. Tôi cho rằng tổng thống Obama sẽ tổ chức hội nghị cấp cao ASEAN-Mỹ tới ở Hà Nội trong năm nay và cũng vào thời gian đó kỷ niệm 15 năm quan hệ Việt -Mỹ được thiết lập ngày 12/7/2010.
Hỏi: Liệu Việt Nam có phải là chìa khóa cho nỗ lực rõ ràng của Mỹ để đối trọng với ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc ở Đông Nam Á trên mặt trận an ninh hay không?
Trả lời: Một chiến lược lâu dài của Mỹ ở Đông Nam Á chưa hình thành. Tuy nhiên, các nhân tố chủ chốt của chiến lược đó đã có. Cam kết của Mỹ đối với ASEAN không và sẽ không nên được xác định bởi Trung Quốc hoặc một sự cần thiết được thừa nhận để cân bằng Trung Quốc. Việt Nam và các nước ASEAN muốn tìm kiếm một sự cân bằng giữa Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản và Ấn Độ.
Việt Nam được đặc biệt tập trung vào Trung Quốc lần này do Trung Quốc hiếu chiến mở rộng ra biển Đông, nhưng các nước ASEAN khác có lợi ích tương tự trong việc đảm bảo rằng khi Trung Quốc tiến lên, tác dộng của họ trong khu vực tiếp tục có lợi và không có cường quốc nào tìm cách thống trị các vấn đề chính trị, an ninh hoặc kinh tế ở Đông Nam Á.
Hỏi: Theo Phó trợ lý ngoại trưởng Scot Marciel, Mỹ lo ngại tình hình căng thẳng giữa Việt nam và Trung Quốc về lãnh thổ (ở Biển Đông). Như ông nói, đó là một trong những lý do Mỹ chia sẻ lợi ích ở một "Đông Nam Á mạnh". Xin ông nói rõ cụm từ "Đông Nam Á mạnh" là gì?
Trả lời: Một ASEAN mạnh là một ASEAN có tiến bộ hữu hiệu tiến tới các mục tiêu được vạch ra trong hiến chương ASEAN, cụ thể là hợp nhất trong các lĩnh vực phát triển kinh tế, an ninh, chính trị, xã hội và văn hóa. ASEAN, giống như cây đa, sẽ tận hưởng được sức mạnh của nhiều chỗ đứng như một. Nếu nhóm khu vực này đạt được sự thống nhất và nhất thể hóa có hiệu quả, họ có thể tạo ra một nơi che chở, giống như bóng dâm và sự bảo vệ của một cây lớn, sẽ truyền sức mạnh cho nhân dân của họ được bảo vệ, hòa bình và thịnh vượng.
Hỏi: Cuộc gặp của tổng thống Barack Obama với các nhà lãnh đạo châu Á tháng 11 năm ngoái thiếu sự bền vững. Ông nhận định về lời bình luận đó thế nào?
Trả lời: Tôi lại nhận định nó theo cách khác. Tổng thống Obama đã có một bước quan trọng đầu tiên trong việc tham gia lễ khai mạc hội nghị cấp cao Mỹ-ASEAN. Ông tiếp cận diễn đàn đó một cách thích hợp và nghiêm chỉnh, nhấn mạnh cam kết của ông và gặp các đối tác. Ông hứa sẽ gặp họ lại vào năm 2010, và mang đến một chương trình thực sự hơn. Có thể là quá khi đến dự cuộc gặp gỡ đầu tiên với tư cách là tổng thống bằng một chương trình nghị sự quá lớn. Tôi cho rằng thời gian biểu đã định ra và đương nhiên những mong đợi được đưa ra, cho một chương trình nghị sự thực tế hơn từ cả Mỹ và ASEAN khi các nhà lãnh đạo này gặp nhau trong năm nay./.
Bài viết của TS. Đặng Xuân Thanh*, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á, phân tích cấu trúc tình huống chiến lược tại Biển Đông, từ đó đưa ra dự báo ngắn hạn và triển vọng dài hạn cho cục diện tình hình ở vùng biển phức tạp này.
Tóm tắt
Cục diện an ninh Biển Đông biến động bất thường do tranh chấp chủ quyền gần đây đã bị đẩy lên một cấp độ nghiêm trọng mới. Ranh giới pháp lý trên biển bị phủ nhận, các cơ chế duy trì an ninh tỏ ra kém hiệu quả, cán cân quyền lực tại vùng biển này trở nên bấp bênh, đe dọa xói mòn các cân bằng chiến lược then chốt khác trên toàn vành đai Tây Thái Bình Dương. Bài viết này không trình bày lại diễn biến tình hình, mà chủ yếu tập trung phân tích cấu trúc tình huống chiến lược tại Biển Đông, từ đó đưa ra dự báo ngắn hạn và triển vọng dài hạn cho cục diện tình hình ở vùng biển phức tạp này.
Cục diện thế giới trong những năm 2000 được đặc trưng bởi hai bước ngoặt và một xu hướng lớn.[1] Một là cao trào mở rộng địa chiến lược do Mỹ phát động với cuộc chiến chống khủng bố và phổ biến dân chủ trên phạm vi toàn cầu, mở rộng NATO về phía Đông, đơn phương xây dựng hệ thống phòng thủ tên lửa (NMD), bành trướng trật tự đơn cực hình thành sau Chiến tranh lạnh ra quy mô chưa từng có. Hai là đợt thoái trào với sự suy yếu tương đối của toàn bộ khu vực trung tâm của trật tự hiện hành bao gồm Mỹ, EU và Nhật Bản, được đánh dấu bởi cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế “trăm năm một lần”. Xuyên suốt hai bước ngoặt đó là xu hướng đa cực hóa với sự trỗi dậy của một số cường quốc mới nổi mà biểu hiện tập trung nhất là sự tăng tốc vượt bậc về kinh tế của Trung Quốc: rút ngắn tương đối nhanh chênh lệch sức mạnh tổng hợp quốc gia so với Mỹ và ngày càng quyết đoán trong quan hệ quốc tế.
Tại Đông Á, sự trỗi dậy của Trung Quốc làm thay đổi trật tự khu vực. Về kinh tế, sự trỗi dậy này đã tạo lực hút, lôi cuốn hầu hết các nền kinh tế tại đây vào mạng sản xuất lấy Trung Quốc làm trung tâm, gia tăng sự phụ thuộc vào thị trường Hoa Lục, đồng thời định hướng lại tiến trình hội nhập kinh tế Đông Á với ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc. Về chính trị, sự trỗi dậy này làm chuyển dịch mạnh cán cân quyền lực khu vực về phía Trung Quốc, nhưng đồng thời lại gây tình trạng thiếu hụt về an ninh do sản sinh ra hàng loạt những bất ổn mới như mất cân đối kinh tế vĩ mô, ô nhiễm môi trường, chạy đua vũ trang, mâu thuẫn quốc tế… Kết quả là, trong lúc Bắc Kinh cố gắng “tấn công mê hoặc” (charm offensive)[2] nhằm lôi kéo các nước trong khu vực về phía mình, thì họ lại “xuất khẩu” nỗi lo ngại, làm trầm trọng thêm “thuyết về mối đe dọa Trung Quốc”, đẩy nhiều nước vào tình thế buộc phải tăng cường khả năng phòng vệ[3], cũng như tìm kiếm các nguồn cung an ninh khác.
Để duy trì địa vị nhà cung cấp độc quyền thứ “hàng hóa công cộng” thiết yếu là an ninh toàn cầu, Mỹ phải vật lộn để thoát ra khỏi hai nhân tố kìm hãm và tiêu hao sức mạnh của họ là vũng lầy I-rắc, Áp-ga-ni-xtan[4] và cuộc khủng hoảng tài chính kéo theo suy thoái kinh tế. Để làm điều này, Washington thực hiện hai “tái cân bằng”: (i) Tái cân bằng về kinh tế với trọng tâm là cấu trúc lại nền kinh tế trong nước và hệ thống các định chế quản trị kinh tế toàn cầu; (ii) Tái cân bằng về chiến lược với trọng tâm “trở lại châu Á” nhằm kiểm soát sự trỗi dậy của khu vực, đặc biệt là Trung Quốc.
Sự trở lại của Mỹ và sự quyết đoán gia tăng của Trung Quốc đã gây ra những áp lực trái chiều lên toàn bộ khu vực Đông Á. Cạnh tranh giữa các nước lớn ngày càng quyết liệt. ASEAN từ vị thế cận biên về chiến lược trong một giai đoạn khá dài trở lại vai trò trung tâm kết nối hội nhập khu vực. Tranh chấp chủ quyền biển đảo tăng lên trên hầu suốt vành đai từ Biển Nhật Bản đến Biển Đông. Cả bốn điểm nóng tiềm tàng tại Tây Thái Bình Dương là tranh chấp Nga - Nhật về bốn đảo Nam Kuril (Nhật Bản gọi là lãnh thổ phía Bắc), bán đảo Triều Tiên, eo biển Đài Loan và Biển Đông đều có động thái đảo chiều.[5]
Tại Biển Đông, từ cuối thập niên 1990 tình hình được cải thiện theo hướng hòa dịu, nhất là sau khi Trung Quốc ký Hiệp định phân định ranh giới trong Vịnh Bắc Bộ với Việt Nam vào năm 2000 và Tuyên bố về cách ứng xử của các bên tại Biển Đông (DOC) với ASEAN vào năm 2002. Tuy nhiên, bên dưới bề mặt có vẻ yên ổn này cán cân quyền lực vẫn không ngừng chuyển dịch. Trung Quốc, một mặt, tăng cường hiện đại hóa hải quân và các lực lượng chấp pháp biển, hoàn thiện chiến lược biển, hệ thống pháp luật, thể chế quản lý và bảo vệ biển, mặt khác, nhất quyết thực hiện “hai không” - không quốc tế hóa, không đa phương hóa tranh chấp, chỉ đàm phán song phương nhằm khoét sâu vào sự khác biệt về lợi ích giữa các thành viên ASEAN, tìm cách áp đặt “gác lại tranh chấp, cùng nhau khai thác”. Trong điều kiện nhiều qui định của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển (UNCLOS) không được tôn trọng thì đây không phải là trò chơi “cùng thắng” được quảng bá rầm rộ, mà là kiểu cờ vây, trong đó đối phương do mất dần thế cân bằng chiến lược nên bị dồn vào chỗ phải “gác lại tranh chấp”, tức là đánh đổi quyền tài phán để lấy hòa bình, rồi sau đó phải chấp nhận “cùng nhau khai thác”, tức là đánh đổi nốt quyền chủ quyền[6] nếu muốn khai thác tài nguyên biển để phát triển. Hậu quả là trong gần một thập niên kể từ năm 2002, tiến trình đàm phán ASEAN - Trung Quốc về việc nâng cấp DOC thành bộ quy tắc ứng xử (COC) hầu như dẫm chân tại chỗ, khuôn khổ an ninh Biển Đông ngày càng trở nên lỗi thời, tụt hậu, không phù hợp với tương quan quyền lực mới.
Nguy cơ mất cân bằng chiến lược và sự giảm sút lòng tin buộc các nước còn lại phải gia tăng tiềm lực quốc phòng, đẩy mạnh thực thi chủ quyền trên biển, thực hiện ngoại giao phòng ngừa, tìm kiếm các quan hệ đối trọng. Một vòng xoáy “tiến thoái lưỡng nan về an ninh” (security dilemma) mới lại hình thành tại Biển Đông. Điều nguy hiểm là vùng áp thấp này có xu hướng mạnh lên thành bão.
Cấu trúc tình huống chiến lược
Cục diện đa biên tại Biển Đông không hoàn toàn là cuộc đấu quyền lực mạnh được, yếu thua, cũng không hoàn toàn là tranh tụng pháp lý nơi có quan tòa phân xử ai đúng, ai sai. Về mặt cấu trúc, đây là kiểu trò chơi xung đột phức tạp giữa nhiều bên không có sự thống nhất tuyệt đối, cũng như đối nghịch tuyệt đối về lợi ích, trong đó nước đi chiến lược của mỗi bên có thể chứa đựng cả yếu tố hợp tác lẫn bất hợp tác.[7] Mặc dù các bên can dự tại Biển Đông có lợi ích, động cơ và tính toán chiến lược riêng, nhưng các nước đi của họ có thể chia thành hai nhóm: các nước đi phù hợp với UNCLOS, góp phần bảo toàn nguyên trạng và các nước đi không tuân thủ UNCLOS, làm thay đổi nguyên trạng.
Nước đi thứ nhất
Trong bối cảnh Mỹ và các đồng minh sa lầy trong cuộc chiến chống khủng bố và suy thoái kinh tế, Trung Quốc tích cực sử dụng sức mạnh vượt trội của mình để mở rộng ảnh hưởng trên toàn cầu. Tại Biển Đông, nước này trở lại lối hành xử đơn phương, cứng rắn, không phù hợp với UNCLOS và khuôn khổ an ninh khu vực.
1. Từ nửa cuối năm 2007, Trung Quốc tăng cường các hoạt động chấp pháp tại khu vực tranh chấp, gây sức ép, buộc một số công ty đa quốc gia phải ngừng hợp tác thăm dò và khai thác dầu khí với các nước tại Biển Đông, tăng cường tuần tra, bắt giữ ngư dân các nước láng giềng, tập trận quy mô lớn, thực thi lệnh cấm đánh bắt cá hàng năm, v.v…
2. Năm 2009, Trung Quốc phản đối hồ sơ đệ trình lên Ủy ban LHQ về Ranh giới thềm lục địa (CLCS) của các quốc gia khác ở Biển Đông. Ngày 7/5/2010 nước này lần đầu tiên chính thức gửi CLCS bản đồ về “đường chữ U” hoàn toàn đi ngược lại nguyên tắc cơ bản của UNCLOS.
Nước đi này của Trung Quốc, một mặt, đã làm đảo chiều cục diện Biển Đông, khiến tần suất và cường độ tranh cãi ngoại giao, cũng như va chạm trên biển tăng vọt một cách nguy hiểm.[8] Mặt khác, tuyên bố về “đường chữ U” đã đẩy tranh chấp vào chỗ hoàn toàn bế tắc về pháp lý.
Nước đi thứ hai
1. Năm 2010, trên cương vị chủ tịch ASEAN, Việt Nam thực hiện điều chỉnh chính sách Biển Đông theo hướng kết hợp song phương với đa phương trên cơ sở UNCLOS với ba bước đi quan trọng theo hướng: (i) Thúc đẩy quan hệ Việt - Mỹ; (ii) Thống nhất lập trường các nước ASEAN về Biển Đông; (iii) Đẩy mạnh liên kết ASEAN - Mỹ.[9] Mặt khác, Việt Nam tăng cường khả năng phòng thủ đường biển, tuyên bố sử dụng Cam Ranh làm trung tâm dịch vụ hải quân quốc tế.
2. Từ giữa năm 2010, ban lãnh đạo mới của Phi-líp-pin thực hiện “nhất biên đảo” về phía Mỹ, thay đổi quan điểm trước đây về Biển Đông[10], dựa hẳn vào UNCLOS để đẩy mạnh tuyên bố và thực thi chủ quyền ở vùng biển được họ đổi tên thành biển Tây Phi-líp-pin. Ngày 5/4/2011 Phi-líp-pin gửi công hàm lên LHQ chính thức phản đối tuyên bố “đường chữ U” của Trung Quốc.
3. Trong năm 2010, Mỹ củng cố các quan hệ chiến lược ở Đông Bắc Á (với các đồng minh Hàn Quốc, Nhật Bản, Ô-xtrây-li-a, nâng cấp quan hệ với Niu Di-lân, nối lại hợp đồng bán vũ khí cho Đài Loan), tích cực “trở lại” Đông Nam Á (cải thiện quan hệ với các nước ASEAN, ký Hiệp định Thân thiện và Hợp tác Đông Nam Á (TAC), tham gia ARF, tổ chức hội nghị thượng đỉnh Mỹ-ASEAN, đưa ra sang kiến Hạ Mê Công, gia nhập EAS, …).
Mặc dù xuất phát từ những tính toán lợi ích khác nhau, nhưng những nước đi của các nước kể trên cùng có tác dụng duy trì nguyên trạng tại Biển Đông trong khuôn khổ UNCLOS. Sự đồng bộ của các nước đi này đã tạo ra lực cộng hưởng nhằm đúng vào hai điểm yếu mà Trung Quốc luôn che chắn bằng chiến thuật “hai không”, đó là sự đồng thuận của ASEAN trong vấn đề Biển Đông và sự can dự trở lại Đông Nam Á của Mỹ. Trung Quốc rơi vào thế bị động, lúng túng, tham vọng “đường chữ U” dường như đang bị “vòng vây chữ C” ngăn cản.[11]
Nước đi thứ ba
Trung Quốc đáp trả bằng cách phá vỡ nguyên trạng ở Biển Đông, cố tình đẩy căng thẳng lên một cấp độ mới bằng việc thực hiện hai mũi giáp công được tính toán kỹ lưỡng:
1. Lãnh đạo cấp cao Trung Quốc tiến hành hàng loạt cuộc tiếp xúc quốc tế quan trọng.[12]
2. Thực hiện các vụ đột kích gây va chạm nghiêm trọng bằng nhiều tàu cá, ngư chính và hải giám vào sâu trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý (EEZ) của Phi-líp-pin và Việt Nam.
Mũi thứ nhất nhằm tạo sự hòa dịu, lôi kéo, phân hóa, chia rẽ các bên có liên quan, ngăn cản xu hướng hình thành quan điểm thống nhất về Biển Đông, đồng thời “viễn giao, cận công” - dàn dựng bối cảnh quốc tế thuận lợi cho mũi thứ hai. Mũi thứ hai nhằm tạo sự răn đe, gây sức ép lên các bên có liên quan. Thời điểm được Trung Quốc lựa chọn cho chiến dịch đột kích là sau Hội nghị thượng đỉnh ASEAN 18 (tháng 5/2011), nhưng trước khá xa các hội nghị lớn của khu vực như hội nghị ngoại trưởng ASEAN 44, ARF, thượng đỉnh ASEAN 19, EAS, v.v… cho phép Trung Quốc vừa kiểm tra được phản ứng của các bên, vừa đủ thời gian để Trung Quốc kịp xử lý các diễn biến bất trắc có thể xảy ra.
Bằng chiến dịch trả đũa, Trung Quốc đã: (i) “Biến không thành có”[13] - thực thi “đường chữ U” trên thực địa; (ii) Làm giảm tác dụng của các cơ chế an ninh khu vực như DOC, Đối thoại Shangri-La; (iii) Đe dọa Việt Nam và gây sức ép phân hóa ASEAN; (iv) Thử thách chiến lược “trở lại châu Á” và quan hệ với các đồng minh khu vực của Mỹ.
Trong những năm qua, quy định của UNCLOS về vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của các quốc gia ven biển đã vạch ra ranh giới pháp lý góp phần quan trọng vào duy trì cân bằng lực lượng tại Biển Đông. Việc phá vỡ ranh giới này, đơn phương áp đặt một đường ranh giới mới đe dọa làm đảo lộn cán cân lực lượng tại đây. Để đánh giá mức độ đe dọa cần phân tích sâu hơn nước đi của Trung Quốc.
Thứ nhất, loạt hành động đe dọa của Trung Quốc tuy mạnh, nhưng có giới hạn: (i) Về phương tiện - chỉ sử dụng một số ít tàu chấp pháp chứ chưa phải tàu quân sự; (ii) Về thời gian - chỉ gây hấn trong thời gian ngắn; (iii) Về cường độ - chỉ gây va chạm gián tiếp (cắt cáp) chứ không va chạm trực tiếp bằng tàu (như tại Điếu ngư/Senkaku với tàu của Nhật Bản) vào tháng 9/2010; (iv) Về không gian - chưa có động thái điều động lực lượng nhằm mở rộng quy mô xung đột. Điều này hàm ý rằng, Trung Quốc hiện chỉ muốn phát đi thông điệp răn đe đối với những nước có liên quan đừng đi quá xa trong việc quốc tế hóa vấn đề Biển Đông. Thứ hai, Trung Quốc lặp lại nhiều lần việc xâm nhập dân sự là để ngầm cho các bên hiểu rằng, sự đe dọa của họ là hoàn toàn có chủ đích, được hoạch định kỹ lưỡng, không phải là các va chạm ngẫu nhiên. Thứ ba, việc Trung Quốc sử dụng chiến thuật xâm nhập chớp nhoáng vào sâu vùng EEZ của Việt Nam và Phi-líp-pin rồi rút lui nhanh chóng cho thấy họ vẫn muốn tránh rủi ro đụng độ với lực lượng vũ trang của các nước này, chưa có ý định khiêu khích quân sự và chủ động đẩy tình hình đến mức xung đột lớn. Thứ tư, Trung Quốc chỉ hạn chế việc gây căng thẳng trên biển và trên các phương tiện truyền thông, chưa có biểu hiện mở rộng sang lĩnh vực khác. Điều này cho thấy, họ chỉ muốn kiểm tra mức độ phản ứng của Việt Nam và Phi-líp-pin, mà chưa muốn thách thức quan hệ với Việt Nam và Phi-líp-pin nói chung. Thứ năm, Trung Quốc chỉ gây căng thẳng với hai nước gần nhất tại Biển Đông là Việt Nam và Phi-líp-pin, trong khi không động chạm tới các nước ở xa hơn như Bru-nây, Ma-lai-xi-a và In-đô-nê-xi-a. Đây vẫn là chiến thuật “chia để trị” quen thuộc nhằm khai thác tối đa “nan đề tù nhân” (prisoner’s dilemma) của các nước ASEAN[14]. Thứ sáu, Trung Quốc chỉ cảnh báo Mỹ không được can dự vào vấn đề Biển Đông bằng lời ở cấp thấp (người phát ngôn Bộ Ngoại giao), mà không đi kèm bất cứ hành động trả đũa nào trên thực tế, đồng thời tái cam kết tôn trọng tự do hàng hải tại vùng nước này, cố gắng tách vấn đề tự do hàng hải mà Mỹ tuyên bố có lợi ích quốc gia ra khỏi vấn đề tranh chấp chủ quyền. Điều này chứng tỏ, Trung Quốc chỉ muốn “đả thảo kinh xà” hay “rung cây dọa khỉ”, chưa muốn va chạm trực tiếp với Mỹ. Trên thực tế, việc Mỹ tuyên bố có lợi ích quốc gia đối với hòa bình, ổn định và tôn trọng luật pháp quốc tế tại Biển Đông, nhưng không cam kết cụ thể sẽ làm gì khi điều này bị vi phạm, đồng thời cũng nhắc đi nhắc lại rằng không can dự vào tranh chấp chủ quyền giữa các bên đã tạo cho Trung Quốc sự tự tin nhất định.
Như vậy có thể thấy, vào thời điểm hiện tại, áp đặt “đường chữ U” bằng bất cứ giá nào chưa phải là mục tiêu sống còn của Trung Quốc. Chia nhỏ một đe dọa lớn thành nhiều bước đi gây đe dọa nhỏ được Trung Quốc áp dụng là kiểu chiến thuật răn đe điển hình, chưa nhằm kích động xung đột lớn.[15] Vấn đề mấu chốt là ở chỗ, bằng hành động của mình, Trung Quốc đã “qua sông đốt cầu” - phủ nhận việc áp dụng quy định của UNCLOS về vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của các bên ở Biển Đông, phủ nhận DOC và các cơ chế an ninh liên quan, khiến cho tình hình không thể trở về trạng thái trước đó.
Điểm yếu căn bản trong nước đi của Trung Quốc là đã phát đi một đe dọa quá lớn. Một khi ranh giới pháp lý ở Biển Đông bị chọc thủng, thì nguy cơ “vỡ đê” an ninh trên toàn tuyến Biển Đông lập tức đặt các nước có liên quan vào tình trạng báo động khẩn cấp. Nghiêm trọng hơn, do cân bằng chiến lược tại Biển Đông liên hệ chặt chẽ với các cân bằng chiến lược then chốt khác ở châu Á - Thái Bình Dương, nên phá vỡ nguyên trạng tại Biển Đông đồng thời cũng đe dọa an ninh trên toàn khu vực. Đến lượt nó, đe dọa này lại khiến cho vấn đề Biển Đông được quốc tế hóa mạnh, hình ảnh “phát triển hòa bình” và lòng tin của cộng đồng quốc tế đối với Trung Quốc như một nước lớn có trách nhiệm bị tổn hại.
Nước đi thứ tư
1. Việt Nam liên tiếp phản đối hành vi của phía Trung Quốc, đưa vấn đề Biển Đông ra Hội nghị ngoại trưởng ASEM lần thứ 10 (tháng 6/2011 tại Godollo, Hungary), tập trận bắn đạn thật gần bờ, tổ chức Đối thoại chính trị - an ninh - quốc phòng Việt-Mỹ lần bốn tại Washington với tuyên bố chung “tái khẳng định cam kết tăng cường quan hệ song phương trên cơ sở hữu nghị, tôn trọng lẫn nhau, và các cam kết chung về đảm bảo một khu vực châu Á - Thái Bình Dương hoà bình, ổn định, phồn vinh và an ninh”, “thảo luận việc nâng tầm quan hệ song phương hướng tới quan hệ đối tác chiến lược”. Mặt khác, Việt Nam vẫn thực hiện tuần tra hải quân định kỳ với Trung Quốc tại Vịnh Bắc Bộ, tiến hành thăm viếng quốc phòng và đặc biệt là cử phái viên của lãnh đạo cấp cao đến Bắc Kinh.
2. Phi-líp-pin cũng phản đối mạnh mẽ đường chữ U và hành vi gây hấn của Trung Quốc và gửi kháng nghị thư lên LHQ, tăng cường sức mạnh hải quân và không quân, cử ngoại trưởng thăm Mỹ, tập trận hải quân với Mỹ, tuyên bố dự định đưa tranh chấp với Trung Quốc ra tòa án quốc tế. Đồng thời nước này cũng đưa ra sáng kiến thiết lập Khu vực hòa bình, tự do, hữu nghị và hợp tác tại Biển Đông (ZoPFF/C),[16] phái ngoại trưởng Del Rosario tới Bắc Kinh để đàm phán.
3. Mỹ tái khẳng định thực hiện Hiệp ước phòng thủ chung và tập trận hải quân với Phi-líp-pin, diễn tập phi tác chiến với hải quân Việt Nam, tập trận hải quân ba bên Mỹ - Nhật - Ô-xtrây-li-a ngoài khơi Bru-nây, ra các nghị quyết của Thượng viện và Hạ viện về tình hình Biển Đông kêu gọi thiết lập cơ chế an ninh đa phương. Mặt khác, Mỹ cũng tích cực đối thoại với Trung Quốc, đặc biệt là chuyến thăm Trung Quốc của Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân M. Mullen.
Phản ứng của Việt Nam, Phi-líp-pin và Mỹ là thích đáng, nhưng rõ ràng mang tính kiềm chế và xây dựng. Thứ nhất, các bên đều ra các tuyên bố mạnh mẽ đi kèm với hành động đáp trả có mức độ răn đe vừa đủ. Thứ hai, các nước này đều chủ động đối thoại song phương với Trung Quốc - cử đại diện cấp cao sang Bắc Kinh nhằm tháo ngòi nổ xung đột. Thứ ba, quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ, Phi-líp-pin - Hoa Kỳ nói riêng, và quan hệ ASEAN - Hoa Kỳ nói chung được củng cố và tăng cường hơn.
Tuy nhiên, sự thống nhất của ASEAN trong vấn đề Biển Đông rõ ràng đã suy giảm. Những phản ứng rời rạc tại Đối thoại Shangri-La (3-5/6/2011) và tuyên bố của Tổng thư ký ASEAN Surin Pitsuwan rằng, “ASEAN không can thiệp vào vấn đề tranh chấp giữa Việt Nam, Ma-lai-xi-a, Bru-nây, Phi-líp-pin, Đài Loan và Trung Quốc, nhưng sẽ mở diễn đàn thảo luận công khai và thẳng thắn về các vấn đề Biển Đông” cho thấy sự lúng túng của tổ chức này. Đây chính là những biểu hiện của tình trạng né tránh trách nhiệm hay “đùn đẩy chiến lược” (buck-passing), cái mà Michael Richardson gọi là “nan đề ASEAN” (ASEAN’s dilemma).[17] Mặt khác, rõ ràng là Mỹ có lợi ích hạn chế trong việc giải quyết triệt để tranh chấp tại Biển Đông. Mục đích chính của Washington là quản trị rủi ro, khống chế tình trạng nhùng nhằng để không bùng phát thành xung đột thông qua các cơ chế đa phương. Trên thực tế, hiệu quả khiêm tốn của các cơ chế như vậy có thể thấy qua hàng loạt ví dụ như cơ chế đàm phán sáu bên về vấn đề hạt nhân Triều Tiên hay nhóm P5+1 về vấn đề hạt nhân I-ran.
Bốn nước đi được phân tích ở trên cho thấy, tranh chấp ở Biển Đông đã mang sắc thái “ăn miếng, trả miếng” nguy hiểm, nhưng chưa đến mức “một mất, một còn” của trò chơi có tổng bằng 0. Hòa bình, ổn định và phát triển vẫn là các lợi ích to lớn được tất cả các bên tính tới và cân nhắc.
Một vài dự báo
Kiểu nước đi và phản ứng tiếp theo của các bên là gì? Căn cứ vào ba chiều cạnh là phương tiện (ngoại giao, pháp lý, dân sự, quân sự), không gian (bên ngoài hay bên trong vùng đặc quyền kinh tế của các nước láng giềng) và thời gian (đột kích chớp nhoáng hay đồn trú lâu dài), có thể thấy Trung Quốc có 7 nhóm đối sách chính, được sắp xếp theo thứ tự mức độ nghiêm trọng tăng dần (Bảng 1), trong đó nhóm đối sách sau không loại trừ, mà bao gồm các nhóm đối sách đứng trước.
Việc Trung Quốc lựa chọn nước đi nào tùy thuộc vào tình hình chính trị bên trong, cũng như phản ứng từ bên ngoài. Do khuôn khổ bài viết có hạn, nghiên cứu này giả định rằng, sẽ không có những thay đổi nào trong nội bộ Trung Quốc làm đảo lộn đường hướng chiến lược của họ tại Biển Đông,[18] cũng như Hoa Kỳ vẫn tiếp tục theo đuổi mục tiêu can dự vào vùng biển này.[19] Trong trường hợp đó, có thể xem xét quỹ đạo chuyển dịch tình huống chiến lược Biển Đông thông qua sự thay đổi trong cặp đối sách Việt - Trung.
Bảng 1. Các lựa chọn chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông
Giảm mức độ nghiêm trọng
Duy trì
mức độ nghiêm trọng hiện nay
Gia tăng
mức độ nghiêm trọng
Đàm phán
đa phương
Gây sức ép bên ngoài VnEEZ
Gây sức ép
pháp lý
Đột kích
dân sự vào trong VnEEZ
Đồn trú
dân sự
trong VnEEZ
Đột kích
quân sự vào trong VnEEZ
Đồn trú
quân sự
trong VnEEZ
Tùy thuộc vào phương tiện được sử dụng để đấu trang bảo vệ chủ quyền mà Việt Nam có 5 nhóm đối sách chính theo mức độ nghiêm trọng tăng dần là: đàm phán đa phương - đấu tranh dân sự - đấu tranh ngoại giao - đấu tranh pháp lý - đấu tranh vũ trang. Các nhóm đối sách sau không loại trừ, mà bao gồm các nhóm đối sách đứng trước.
Bảng 2. Ma trận lợi ích chiến lược Việt Nam-Trung Quốc ở Biển Đông
Ma trận lợi ích chiến lược (Bảng 2) phản ánh tất cả các cặp đối sách của Việt Nam và Trung Quốc. Lợi ích (hay thiệt hại) của mỗi bên từ việc lựa chọn đối sách được đánh giá theo thang điểm từ -5 đến +5 và được ghi vào ô tương ứng, ở góc dưới bên trái đối với Việt Nam và góc trên bên phải đối với Trung Quốc. Để khách quan, việc cho điểm cần được thực hiện bằng phương pháp chuyên gia, tuy nhiên trong bài viết này chỉ sử dụng đánh giá chủ quan của tác giả.
Cấu trúc chiến lược Biển Đông như đã phân tích ở phần trước có thể thấy rõ qua các bước chuyển trên ma trận. Bước chuyển từ A qua B đến C phản ánh nỗ lực ngoại giao của Trung Quốc nhằm phân hóa, chia rẽ các nước ASEAN trong vấn đề Biển Đông, gia tăng sức mạnh trên biển, tuyên bố chủ quyền bên trong “đường chữ U”. Chuyển dịch từ C qua D đến E là những bước đi chủ động phòng ngừa của Việt Nam từ năm 2007 đến năm 2010. Bước ngoặt từ E sang F là kết quả của nước đi gây căng thẳng vừa qua của Trung Quốc, đe dọa nghiêm trọng an ninh quốc gia của Việt Nam.
Ma trận cho phép dự báo, trong ngắn hạn, từ trạng thái F hiện nay tình hình có thể tiến triển theo một trong sáu kịch bản sau:
1. Trung Quốc đơn phương rút lui tuyên bố về “đường chữ U”, cam kết tôn trọng ranh giới vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của các nước láng giềng ở Biển Đông (chấp nhận lùi từ F trở về E). Sau việc Trung Quốc đã chính thức chuyển cho CLCS bản đồ về “đường chữ U”, kịch bản này rất khó có khả năng xảy ra.
2. Việt Nam từ bỏ chủ trương đa phương hóa vấn đề Biển Đông (lùi từ F về G), quay về đàm phán song phương với Trung Quốc. Đối sách này không những ít có khả năng xoa dịu tình hình, mà còn có thể kích thích Trung Quốc thừa cơ lấn tới, gây thiệt hại lớn hơn cho Việt Nam. Vì vậy, đây là kịch bản mà Việt Nam không thể chấp nhận được.
3. Việt Nam đưa tranh chấp ra tòa án quốc tế (từ F tới H). Đây là phương án được Phi-líp-pin đề xuất, hoàn toàn nằm trong khuôn khổ UNCLOS và DOC. Tuy nhiên, thực tiễn pháp lý quốc tế cho thấy, trong ngắn và trung hạn lựa chọn này ít có tác dụng kịp thời, còn về dài hạn thì khả năng giải quyết tranh chấp rất thấp.
4. Việt Nam sử dụng biện pháp đấu tranh bằng quân sự trước (từ F xuống J). Đây là hành động tự vệ chính đáng khi chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia bị xâm phạm nghiêm trọng. Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, tình hình hiện vẫn chưa đến mức “một mất, một còn” của trò chơi có tổng bằng 0, hòa bình, ổn định, phát triển vẫn là các giá trị được tất cả các bên tính tới. Nói cách khác, cơ hội giải quyết thông qua đối thoại hòa bình vẫn chưa khép lại và do đó, kiềm chế sử dụng vũ lực trước vẫn là ưu tiên hàng đầu.
5. Trung Quốc tiếp tục leo thang căng thẳng, đẩy tình hình lên cấp độ nghiêm trọng mới bằng việc đồn trú dân sự trong vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam (từ F sang I). Trong trường hợp này, bất chấp tình hình có thể xấu đi, Việt Nam không còn lựa chọn nào khác ngoài việc kiên quyết ngăn chặn để bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ (từ I xuống K).
6. Giữ nguyên hiện trạng (dừng ở điểm F). Việc “đóng băng” tình trạng hiện nay có thể được đạt được bằng cam kết của các bên, hoặc song phương giữa Việt Nam - Trung Quốc hoặc đa phương giữa ASEAN - Trung Quốc, về việc không có hành động làm phức tạp thêm tình hình. Cả hai phương án đều phải chấp nhận “lờ đi” hành động gây căng thẳng vừa qua của Trung Quốc để đổi lấy cam kết không làm tình hình xấu hơn.
Trên thực tế, việc Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN+Trung Quốc họp tại Bali (In-đô-nê-xi-a) ngày 21/7/2011 vừa qua đạt được thỏa thuận về bản Hướng dẫn thực thi DOC cho thấy tình hình có chiều hướng tiến triển theo kịch bản thứ sáu. Tin tốt là trong ngắn hạn, kiểu tạm ước như vậy, cho dù nội dung sơ sài đến đâu, vẫn có tác dụng “hoãn binh” kiềm chế nguy cơ bùng phát xung đột tức thời. Trong bối cảnh hiện nay, duy trì nguyên trạng là phương án vừa khả thi nhất, vừa an toàn nhất cho tất cả các bên. Tin xấu là về trung hạn, nếu căn cứ vào các đánh giá trên ma trận (Bảng 2), trạng thái F là một cân bằng Pareto không bền vững,[20] trong đó bên có lợi thế “nắm dao đằng chuôi” - luôn có thể sử dụng hoặc đe dọa sử dụng các nước đi làm xói mòn hay thậm chí phá vỡ nguyên trạng (ví dụ chuyển từ F sang I).
Trong bất cứ trường hợp nào cần chặn đứng xu hướng chuyển dịch ngày càng xa khu vực an toàn (góc trên bên trái ma trận) và ngày càng gần khu vực nguy hiểm (góc dưới bên phải ma trận), hóa giải nguy cơ “tiến thoái lưỡng nan Xi-bê-ri” (Xi-bê-ri dilemma) đang hiện rõ, trong đó các bên chỉ còn hai lựa chọn: xung đột sớm hay xung đột muộn.
Thay lời kết
Về dài hạn, cục diện pháp lý tại Biển Đông ít có triển vọng đạt đến trạng thái phân định rạch ròi như ở biển Ban-tích, Hắc Hải, Cax-pi-a hay Vịnh Mê-hi-cô. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, trong nhiều trường hợp, đặt vấn đề giải quyết triệt để tình trạng chồng lấn chủ quyền trên biển không những là nhiệm vụ bất khả thi, mà cònđẩy tình hình tranh chấp vào chỗ bế tắc hoàn toàn với kết cục xung đột khó tránh khỏi. Tuy nhiên, cục diện pháp lý kém khả quan này không có nghĩa là cục diện an ninh Biển Đông không có lối thoát.
Như đã phân tích, việc bảo đảm an ninh lâu dài ở Biển Đông đòi hỏi phải xây dựng một khuôn khổ an ninh chung dựa trên nền tảng cân bằng quyền lực.[21] Mô hình Liên minh Địa Trung Hải[22] kết hợp được cả hai yếu tố này, vì thế, có thể là một gợi ý không tồi về lối thoát cho cục diện an ninh Biển Đông - vùng biển vốn được nhà địa chính trị Nicolas Spykman gọi là “Địa Trung Hải châu Á”.[23] Thứ nhất, mức độ thể chế hóa an ninh Biển Đông bằng tuyên bố chung DOC hay bộ quy tắc ứng xử COC, thậm chí ngay cả đề xuất của Phi-líp-pin về Khu vực Hòa bình, Tự do, Hữu nghị và Hợp tác ASEAN - Trung Quốc ở Biển Đông là cần, nhưng có thể không đủ để ngăn chặn các hành động đơn phương vi phạm các cam kết, nhất là đối với bên có lợi thế “nắm dao đằng chuôi”. Thứ hai, tương tự như Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác Đông Nam Á đã trở thành nền tảng cho toàn bộ kết cấu hội nhập khu vực lấy ASEAN làm trung tâm, các quy tắc ứng xử cần được thể chế hóa ở mức độ cao hơn, trở thành chuẩn mực bắt buộc cho tất cả các “cổ đông” ở Biển Đông, làm nền tảng cho việc hình thành một Liên minh, Cộng đồng hay Ủy hội Biển Đông. Một tổ chức như vậy sẽ khắc phục được sự lỏng lẻo thiếu hiệu quả của các diễn đàn an ninh hay nhóm đối thoại, nhưng đồng thời lại có lợi thế là không đòi hỏi sự tham gia ngay từ đầu của tất cả các bên như các cam kết về ứng xử, mà từng bước gia tăng sức nặng của mình, cho phép dung hòa được “2 trong 1” phương châm “gác lại tranh chấp, cùng nhau khai thác” và quan điểm đa phương hóa - quốc tế hóa hiện vẫn đối chọi nhau. Thứ ba, đó phải là một cơ chế an ninh tập thể mang tính mở, thu hút được tất cả các nước lớn có lợi ích quốc gia ở vùng biển này nhằm đảm bảo thực hiện “cân bằng quyền lực được thể chế hóa” (institutionalized balancing).[24] Đây sẽ là sự bổ sung thiết yếu cho Cộng đồng an ninh ASEAN nói riêng, cũng như toàn bộ kết cấu an ninh Đông Á lấy ASEAN làm hạt nhân nói chung, góp phần quản trị quyền lực, loại trừ nguy cơ xung đột, tăng cường hòa bình, ổn định và hợp tác phát triển tại khu vực.
Cuối cùng, bài học về sự đảo chiều của cục diện Biển Đông trong thập niên vừa qua cho thấy, để ngăn ngừa tình hình xấu đi, tiến trình kiến tạo khuôn khổ an ninh vững chắc cho vùng biển này không được tụt hậu, mà phải luôn vượt lên trước xu thế xói mòn nguyên trạng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Avinash K. Dixit, Barry J. Nalebuff, Tư duy chiến lược, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2010.
Carlyle A. Thayer, “Security Cooperation in the South China Sea: An Assessment of Recent Trends”, tại địa chỉ http:// www.nghiencuubiendong.vn/
David Shambaugh, “Coping with a Conflicted China”, The Washington Quarterly, Winter 2011, Vol 34, No. 1, pp. 7-27.
Đặng Xuân Thanh, “Bong bóng kép tài chính - bá quyền Mỹ”, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, số 4, 2008.
Roy C. Mabasa, “Spratlys Gambit”, The Manila Bulletin, June 10, 2011.
Thomas C. Schelling, Chiến lược xung đột, Nxb. Trẻ, 2006.
Yang Yi, “Navigating Stormy Waters”, China Security, Vol. 6, No. 3, 2010, pp. 43-50.
SIPRI, “Yearbook 2011: Armaments, Disarmament and International Security”, Sweden, 2011.
TS. Đặng Xuân Thanh
Bài viết đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, Học viện Ngoại giao, số 3 (86), tháng 9/2011
* Ts., Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu Đông Bắc Á.
[1] Đặng Xuân Thanh, “Bong bóng kép tài chính - bá quyền Mỹ”, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, số 4, 2008.
[2] Joshua Kurlantzick, Charm Offensive: How China's Soft Power Is Transforming the World, Yale University Press, 2007.
[3] Theo SIPRI Yearbook 2011, Đông Á trở thành khu vực chi tiêu quốc phòng nhiều thứ ba thế giới sau Bắc Mỹ và Tây Âu, nhưng dẫn đầu về nhập khẩu vũ khí.
[4] Mỹ đã thành công trong việc thay đổi chiến lược chống khủng bố, chuyển hai cuộc chiến tại I-rắc và Áp-ga-ni-xtan từ cường độ cao - chí phí lớn xuống cường độ thấp - chi phí nhỏ.
[5] Tranh chấp Nga - Nhật về bốn đảo thuộc quần đảo Nam Kuril/lãnh thổ phía Bắc từ nguội lại được hâm nóng; tình hình bán đảo Triều Tiên từ hòa hoãn chuyển sang nóng bỏng; tranh chấp tại Biển Đông từ tương đối ôn hòa chuyển sang căng thẳng; riêng quan hệ hai bờ eo biển Đài Loan từ căng thẳng chuyển sang hòa dịu.
[6] Quyền tài phán (jurisdiction) và quyền chủ quyền (sovereign right) là hai trong số các quyền cơ bản của chủ quyền quốc gia (cùng với quyền độc lập, quyền tự quyết, quyền toàn vẹn lãnh thổ và bất khả xâm phạm). Quyền tài phán là quyền xét xử các vi phạm pháp luật trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước có chủ quyền. Quyền chủ quyền là quyền thăm dò, khai thác tài nguyên tại các vùng thuộc chủ quyền của quốc gia.
[7] Thomas Schelling, Chiến lược xung đột, Nxb Trẻ, 2006., tr. 3-6.
[8] Riêng trong năm 2009, Trung Quốc đã có ít nhất ba lần va chạm với Mỹ tại Biển Đông trong vụ tàu hải quân USNS Impeccable, USS John McCain và tàu khảo sát Marcus G. Langseth.
[9] Việt Nam đã tích cực điều phối tổ chức Hội nghị thượng đỉnh Mỹ-ASEAN tại New York tháng 9/2010, Hội nghị các bộ trưởng Mỹ - Mê Công tháng 7/2010, Hội nghị ARF, Hội nghị ADMM +…
[10] Năm 2004, Phi-líp-pin ký kết riêng rẽ với Trung Quốc Hiệp định Nghiên cứu địa chấn hải dương (JMSU). Năm 2009, Phi-líp-pin không đệ trình báo cáo về thềm lục địa lên CLCS, không phản đổi tuyên bố chủ quyền “đường chữ U” của Trung Quốc, không nhận lời mời của Việt Nam và Ma-lai-xi-a tham gia báo cáo chung về thềm lục địa mở rộng, ngược lại còn phản đối báo cáo chung của Việt Nam và Ma-lai-xi-a.
[11] Thuật ngữ “vòng vây hình chữ C” được đại tá không quân Trung Quốc Dai Xu đưa ra trong sách Vòng vây hình chữ C: Đột phá của Trung Quốc dưới tác động của các vấn đề bên trong và sự gân hấn bên ngoài xuất bản năm 2009 để mô tả cái mà tác giả cho là âm mưu của Mỹ lôi kéo một số nước trong khu vực thiết lập vòng vây nhằm ngăn chặn, kiềm chế Trung Quốc (Xem Yang Yi, 2010).
[12] Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào thăm Mỹ (tháng 1/2011), Tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc Trần Bỉnh Đức thăm Mỹ (tháng 5/2011), Thủ tướng Ôn Gia Bảo thăm In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a (tháng 4/2011) và dự Hội nghị thượng đỉnh Trung - Nhật - Hàn lần thứ 4 tại Tokyo (tháng 5/2011), thắt chặt quan hệ với Mi-an-ma với hai chuyến thăm của ông Giả Khánh Lâm tới Mi-an-ma (tháng 4/2011) và Tổng thống Mi-an-ma Thein Sein sang Trung Quốc (tháng 5/2011), Bộ trưởng quốc phòng Lương Quang Liệt thăm ba nước Xinh-ga-po-, In-đô-nê-xi-a và Phi-líp-pin (tháng 5/2011), Chủ tịch Hồ Cẩm Đào thăm Nga và Ca-dắc-xtan (tháng 6/2011).
[15] Thomas Schelling, sđd, tr. 52-64. Chiến thuật “chia nhỏ đe dọa lớn” sẽ được phân tích kỹ hơn ở phần 3.
[16] Roy C. Mabasa, “Spratlys Gambit”, The Manila Bulletin, June 10, 2011.
[17] Michael Richardson, “ASEAN’s dilemma in South China Sea”, Straits Times, July 4, 2011.
[18] Có ba giả thuyết cho rằng chính sách đối ngoại cứng rắn bất thường gần đây của Trung Quốc xuất phát từ tình hình nội bộ của nước này: (i) Giới quân sự muốn dùng vấn đề bên ngoài để gây thanh thế nhằm củng cố vị thế trong nước trước Đại hội 18 Đảng Cộng sản Trung Quốc vào năm 2012; (ii) Đây là hành động “tự phát” của các địa phương; (iii) Lãnh đạo cấp cao muốn hướng dư luận bức xúc trong nước ra các vấn đề nóng bên ngoài. Có ba lý do khiến các giả thuyết trên ít có cơ sở. Thứ nhất, sự phối hợp của nhiều cơ quan, lực lượng vào hoạt động gây căng thẳng ở Biển Đông cho thấy đây là chiến dịch được tổ chức kỹ lưỡng dưới sự chỉ đạo từ trung ương. Thứ hai, thời gian từ nay cho đến Đại hội 18 Đảng Cộng sản Trung Quốc còn tương đối dài, mà căng thẳng ở Biển Đông không thể kéo dài quá lâu chỉ để thu hút sự chú ý của dư luận trong nước. Thứ ba, môi trương quốc tế và khu vực bất ổn và thù địch đối với Trung Quốc là rất bất lợi và nguy hiểm cho một sự kiện trọng đại là Đại hội Đảng.
[19] Chiến lược an ninh quốc gia Hoa Kỳ 2010 và những động thái gần đây nhất của Mỹ như củng cố quan hệ chiến lược với Nhật Bản, Hàn Quốc, Ô-xtrây-li-a, Phi-líp-pin, Ấn Độ, xúc tiến bán vũ khí cho Đài Loan, tăng cường hợp tác với các nước ASEAN, v.v... tiếp tục chứng tỏ xu hướng này.
[20] Trong trò chơi chiến lược, cân bằng Pareto là tình thế không bên nào có thể đơn phương cải thiện lợi ích của mình mà không gây thiệt hại cho các bên còn lại. Tính chất không bền vững phản ánh tình trạng các bên đều có động cơ thay đổi nguyên trạng (Xem Avinash K. Dixit, Barry J. Nalebuff, Tư duy chiến lược, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2010).
[21] Lập luận của Fidel Ramos (2011) rằng, chỉ cần cân bằng lợi ích giữa các bên liên quan là đã có thể bảo đảm được ổn định ở Biển Đông (mà không cần đến cân bằng quyền lực) không giải quyết được vấn đề lợi ích cốt lõi của Trung Quốc ở vùng biển này đang ngày càng mở rộng.
[22] Liên minh Địa Trung Hải là tổ chức bao gồm 27 nước châu Âu và 16 nước Bắc Phi, Trung Đông và Ban-căng được nâng cấp từ tổ chức Đối tác châu Âu - Địa Trung Hải vào năm 2008. Bốn lĩnh vực hợp tác là chính trị - an ninh, kinh tế - thương mại, văn hóa - xã hội và pháp luật. Hội nghị thượng đỉnh hai năm một lần và Ban thư ký là những cơ cấu lãnh đạo chủ yếu.
Ngày 21 tháng 7 năm 2011, tại Bali – Indonesia, ASEAN và Trung Quốc đã đạt được Bản Quy tắc hướng dẫn thực hiện DOC sau 9 năm đàm phán. Văn bản này được xem là bước tiến trong tiến trình quản lý tranh chấp, tuy nhiều ý kiến bình luận hoài nghi về khả năng kiềm chế các căng thẳng trên Biển Đông. NCBĐ xin giới thiệu bài viết của nhà nghiên cứu Việt Long về quá trình đi từ DOC đến Bản Quy tắc hướng dẫn, từ đó gợi mở các hướng về COC trong tương lai.
Ngày 21 tháng 7 năm 2011, tại Bali – Indonesia, trong khuôn khổ cuộc gặp cấp cao AMM 44, ASEAN và Trung Quốc đã đạt được Bản Quy tắc hướng dẫn thực hiện Tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên Biển Đông (gọi tắt Quy tắc Hướng dẫn DOC). Đây được xem là nỗ lực của các bên liên quan trong việc kiềm chế và quản lý các tranh chấp trên Biển Đông, đang trở nên căng thẳng và thu hút sự quan tâm đặc biệt của Cộng đồng quốc tế nhất là từ nửa đầu năm 2011.
Tổng thư ký ASEAN, ông Surin Pitsuwan cho rằng thỏa thuận này là một thành tựu ngoại giao quan trọng, việc áp dụng bản Hướng dẫn sẽ tạo ra tiến trình qua đó đối thoại có thể phát triển và lòng tin lẫn nhau giữa các bên tranh chấp sẽ được thiết lập. Ngoại trưởng nước chủ nhà Indonesia cho rằng, cam kết về Quy tắc hướng dẫn thực hiện DOC sẽ thuyết phục thế giới rằng hai bên có thể tránh được xung đột và giải quyết tranh chấp bằng con đường hòa bình. Việc kết thúc các quy tắc chứng tỏ rằng các quốc gia thành viên ASEAN và Trung Quốc đã nhận ra những lợi ích chung. Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Dương Khiết Trì cho rằng: “Kết quả này thể hiện quyết tâm, long tin và khả năng của Trung Quốc và ASEAN cùng nhau thúc đẩy hòa bình và ổn định trong Biển Nam Trung Hoa bằng việc thực hiện DOC”[1].. China Daily ngày 27/7/2011 viết: "Lần đầu tiên, cơn bão trên Biển Đông trong suốt hai tháng qua bắt đầu có dấu hiệu dịu lại. Kết quả đáng ca ngợi này đại diện cho cam kết của các bên liên quan trực tiếp tới tranh chấp để giải quyết vấn đề theo con đường song phương và trong hòa bình".[2] Trợ ly Bộ trưởng Nhà ngoại giao Việt Nam, ông Phạm Quang Vinh cho rằng "đây là một khởi đầu tốt và có ý nghĩa để chúng ta tiếp tục cùng nhau đối thoại và hợp tác để thúc đẩy hơn nữa sự ổn định, lòng tin trong khu vực". Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton nhận định, bản hướng dẫn là "một bước đi đầu tiên quan trọng" tiến tới một giải pháp ngoại giao cuối cùng.[3]
Không nghi ngờ gì, Bản quy tắc hướng dẫn là một văn bản đạt được đúng lúc, góp phần làm giảm bớt căng thẳng trên Biển Đông trong những tháng qua. Bản quy tắc là sự kéo dài của Tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC) trên con đường khó khăn đi đến một thoả thuận mang tính ràng buộc pháp lý – Bộ quy tắc ứng xử của các bên trên Biển Đông (COC) nhưng cũng có thể là một sự trì hoãn kéo dài tình thế hiện hữu trên Biển Đông. Tất cả tùy thuộc vào sự chủ động, kiên quyết đấu tranh và thiện chí hợp tác của các bên có quyền lợi ở Biển Đông.
Từ DOC đến Bản Quy tắc hướng dẫn
DOC là văn bản song phương có sự tham gia của nhiều bên đầu tiên của khu vực trong quản lý và kiềm chế tranh chấp Biển Đông.[4] Tranh chấp này được biết đến như tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc từ đầu thế kỷ, và với các bên tranh chấp khác trong nửa cuối của thế kỷ XX cho đến nay. Tranh chấp Biển Đông gồm ba loại: tranh chấp chủ quyền các đảo, tranh chấp phân định biển (phân định biển liên quan đến các đảo có tranh chấp và phân định biển không liên quan đến tranh chấp chủ quyền) và tranh chấp về sử dụng và bảo vệ môi trường biển (các quyền tự do hàng hải, về đặt dây cáp và ống dẫn ngầm, tranh chấp về môi trường biển, về nghiên cứu khoa học biển). Các tranh chấp này đan xen nhau, phụ thuộc lẫn nhau, chịu ảnh hưởng quan hệ giữa các siêu cường trong và ngoài khu vực, làm tranh chấp ngày càng phức tạp, khó giải quyết. Sau hai lần Trung Quốc sử dụng vũ lực năm 1974 và 1988 cùng sự kiện hợp đồng thăm dò khu vực bãi ngầm Tư Chính giữa Trung Quốc và công ty Mỹ Crestone nằm trên thềm lục địa Việt Nam năm 1992, ASEAN mới có sáng kiến ngăn ngừa đầu tiên với Tuyên bố Biển Đông năm 1992[5]. Tuyên bố này lần đầu tiên kêu gọi các bên tranh chấp cùng ASEAN xây dựng một Bộ quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC) như một biện pháp xây dựng lòng tin của khu vực.[6] Việc gia nhập ASEAN của Việt Nam và vụ đụng độ Mischief (Đá Vành khăn) giữa Philippin và Trung Quốc trong cùng năm 1995 đã là những chất xúc tác đưa hai quốc gia bị ảnh hưởng nhiều nhất của sự phô trương sức mạnh quân sự của người láng giềng phương Bắc buộc phải có những bước đi kiên quyết trong lĩnh vực này. Năm 1996 ASEAN chính thức thống nhất đề xuất xây dựng văn bản COC cho khu vực. Lúc đầu Trung Quốc không chấp nhận đàm phán xây dựng một COC với lý do ASEAN và Trung Quốc đã có Tuyên bố hợp tác hướng tới thế kỷ 21 ký tháng 12/1997 tại Kuala Lumpur.[7] Sau khi tuyên bố đường cơ sở quần đảo Hoàng Sa năm 1996 vi phạm chủ quyền Việt Nam, Trung Quốc thông qua luật đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 1998, lệnh cấm đánh bắt cá từ năm 1999 nhằm củng cố sự hiện diện của mình ở Biển Đông. Hành động của Trung Quốc làm các nước khác lo ngại và khởi đầu một cuộc chạy đua vũ trang và chiếm đóng mới ở Biển Đông. Đài Loan thông qua luật lãnh hải và vùng tiếp, giáp năm 1998, luật đặc quyền kinh tế và thềm lục địa năm 1999. Malaysia chiếm thêm Én Đất và Bãi Thám hiểm tháng 6/1999. Việt Nam và Philippin tăng cường củng cố các vị trí đã chiếm giữ. Bối cảnh căng thẳng trên Biển Đông lúc đó buộc các nhà ngoại giao khu vực phải sớm có một giải pháp. Các bộ quy tắc ứng xử Philippin – Trung Quốc và Philippin – Việt Nam trong năm 1995 là cơ sở để ASEAN đề nghị Trung Quốc tiến hành đàm phán về một Bộ quy tắc ứng xử chung ASEAN – Trung Quốc. Thế nhưng các cuộc đàm phán giữa các bên chỉ đi đến một kết quả nửa đường – Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) 2002 sau hơn 2 năm đàm phán và 10 năm nung nấu ý tưởng. Các khó khăn trong xây dựng một Bộ Quy tắc ứng xử COC như phạm vi áp dụng, quy định về việc không xây dựng các cấu trúc mới trên những đảo, đá, bãi ngầm hay tính ràng buộc pháp lý đã dễ dàng bị bỏ qua để đi đến Thỏa thuận tạm hài lòng tất cả các Bên. Không phải là COC như mục tiêu hướng đến mà là DOC 2002 với hy vọng làm dịu bớt tình hình căng thẳng trên Biển Đông. Thế nhưng một sản phẩm đẻ non khó có thể làm tranh chấp giảm bớt. Các bên đều lợi dụng tính lỏng lẻo trong các quy định chung của DOC 2002 nhằm ngụy biện cho các hoạt động tăng cường hiện diện của mình trên Biển Đông. Hiệp định thăm dò địa chấn Trung – Phi 2004 là một sự vi phạm nghiêm trọng đối với nguyên tắc thông báo cho nhau trong DOC[8], đe doạ phá vỡ nền tảng củaTuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC) năm 2002. Sự thay thế Hiệp định này bằng “Thoả thuận ba bên về tiến hành thăm dò địa chấn biển chung trong khu vực xác định tại biển Đông” 2005, do sự đấu tranh kiên quyết của Việt Nam, cũng chỉ mang lại bình yên trong thời gian ngắn. Dàn khoan Kantan-03 và tàu nghiên cứu Nam Hải của Trung Quốc thường xuyên xâm nhập hoạt động trên thềm lục địa đất liền Việt Nam. Trung Quốc tiếp tục gây sức ép buộc các hãng dầu khí nước ngoài đang có Hợp đồng thăm dò và khai thác dầu khí trên thềm lục địa Việt Nam phải ngừng công việc. Thành phố Tam Á bao gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa được thiết lập cũng như vụ rước đuốc Olympic Bắc Kinh qua Hoàng Sa đã làm dấy lên sự biểu lộ bất bình của người dân Việt Nam vào tháng 12/2007. Đài Loan mở rộng chiếm đóng Bãi Bàn Than và lên kế hoạch xây đường băng trên đảo Ba Bình. Đề xuất 6 dự án trong khuôn khổ DOC 2002 không được thực hiện.[9] ASEAN và Trung Quốc bất đồng về nguyên tắc 2 trong dự thảo Hướng dẫn thực hiện DOC.
Tình hình biển Đông thực sự nóng bỏng từ năm 2009 khi vào tháng ba, tàu Mỹ Impeccable đụng độ với tàu Trung Quốc và vào tháng năm khi Trung Quốc phản đối việc trình hồ sơ chung ranh giới thềm lục địa Việt Nam – Malayssia và hồ sơ của Việt Nam về ranh giới thềm lục địa trước thời hạn ngày 13/5/2009 mà Liên hợp quốc ấn định. Công hàm phản đối của phái đoàn Trung Quốc ngày 7/5/2009 có đính kèm bản đồ “đường lưỡi bò” yêu sách 80% diện tích Biển Đông trên cái gọi là cơ sở lịch sử. Đây là lần đầu tiên Trung Quốc đưa bản đồ này ra trước cộng đồng quốc tế. Sau đó, Trung Quốc áp dụng một loạt biện pháp để xác lập “đường lưỡi bò” trên thực tế. Năm 2010 là sự đối đầu giữa những tuyên bố về “lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc và “lợi ích quốc gia” của Mỹ ở Biển Đông làm Hội nghị ARF 17 tại Hà Nội thêm nóng bỏng. Đặc biệt, Ngoại trưởng Dương Khiết Trì đã buộc tội Mỹ can thiệp và đe nẹt các nước láng giềng “TQ là nước lớn và các nước khác là nước nhỏ, đó là một sự thực”. Trung Quốc đơn phương mở rộng thêm thời gian cấm đánh bắt cá ở Biển Đông từ 15/5 đến 31/8 hàng năm và tăng cường bắt giữ tàu thuyền của ngư dân Việt Nam, Philippin đang hoạt động hợp pháp trên Biển Đông. Đỉnh điểm của căng thẳng là vào nửa đầu năm 2011. Tháng 3/2011 Trung Quốc cản trở hoạt động của tàu địa chất khảo sát bình thường của Philippines tại khu vực Bãi Cỏ Rong. Tháng 5/2011 tàu hải giám Trung Quốc cắt cáp tàu Bình Minh 02 và Viking 02 trong vùng biển cách đất liền Việt Nam 120 hải ly. Đây là hành động nghiêm trọng bởi theo Công ước Luật Biển 1982, tại điều khoản 57 và 76 thì các quốc gia ven biển được quyền có vùng đặc quyền kinh tế rộng ít nhất 200 hải lý và vùng thềm lục địa ít nhất 200 hải lý và có thể mở rộng ra, (nếu điều kiện địa chất địa mạo cho phép) 350 hải lý tính từ đường cơ sở hoặc 100 hải lý tính từ đường đẳng sâu 2500m, phù hợp với các quy định của Công ước. Các cuộc vi phạm này đã dẫn đến những cuộc biểu tình tự phát biểu lộ tinh thần yêu nước giữ gìn chủ quyền biển đảo của người dân Việt Nam suốt 7 chủ nhật liên tiếp của tháng 6-7/2011. Những lời trấn an xây dựng tàu sân bay chỉ để huấn luyện không làm ai tin tưởng. Sự phô trương sức mạnh “cơ bắp” của Trung Quốc với các nước nhỏ và những đòi hỏi vô lý về đường lưỡi bò đã gây quan ngại sâu sắc cho cộng đồng quốc tế cũng như những bất bình trong dân chúng các nước nhỏ và làm tổn hại chính hình ảnh của Trung Quốc đổi mới trên trường quốc tế. Tình hình căng thẳng trên Biển Đông, xung đột biên giới Thái Lan – Cămpuchia đã trở thành những thách thức cho ASEAN đang trên đường xây dựng một Cộng đồng vững mạnh, đoàn kết và phồn vinh, đủ sức giải quyết những vấn đề nội bộ.
Trong một bối cảnh như vậy, việc cần có một thành quả chính trị làm hạ nhiệt cơn sốt Biển Đông là một đòi hỏi bức bách với các bên. Những điều kiện của 9 năm trước cho ra đời DOC 2002 dường như lại tái hiện ở mức cao hơn trong việc thông qua Bản quy tắc hướng dẫn DOC.[10] Từ Đối thoại Shangri-la cho đến cuộc họp các Bộ trưởng quốc phòng ASEAN ADMM+ trong tháng 5/2011 và các cuộc họp SOM chuẩn bị cho AMM 44 và ARF 18 trong tháng 6/2011, đâu đâu cũng thể hiện yêu cầu sớm có một bản COC như biện pháp xây dựng lòng tin nhằm tránh Biển Đông lại nổi sóng.[11] Sáu vòng đàm phán của Nhóm làm việc ASEAN-Trung Quốc về hướng dẫn thực thi DOC từ 2005 với 20 đề nghị sửa đổi, trao qua đổi lại buộc phải kết thúc. Trong bối cảnh như vậy, Bản quy tắc hướng dẫn cũng chỉ là một bước đi nhỏ tính từ thời điểm thông qua DOC 2002 trên con đường đầy gập ghềnh gian khó để đạt được mục tiêu COC trong năm 2012 nhân dịp kỷ niệm 10 năm DOC 2002. Điều này thể hiện rõ trong nội dung của Bản quy tắc hướng dẫn so với các nguyên tắc được nêu trong DOC 2002.
Nội dung Bản Quy tắc hướng đẫn DOC 2002
DOC gồm 10 điểm[12] đã được bổ sung thêm bằng Bản Quy tắc hướng dẫn 8 điểm[13] nhằm làm rõ thêm những nội dung trong các điểm của DOC. Các điểm này là :
1. Việc thực hiện DOC cần tiến hành từng bước phù hợp với các điều khoản trong DOC.
2. Các bên tham gia DOC sẽ tiếp tục thúc đẩy đối thoại và tham vấn theo tinh thần của DOC.
3. Việc tiến hành các hoạt động hoặc các dự án đã được quy định trong DOC cần được xác định rõ ràng.
4. Việc tham gia các hoạt động hoặc các dự án cần được thực hiện trên cơ sở tự nguyện.
5. Các hoạt động ban đầu được cam kết trong phạm vi DOC cần phải là các biện pháp xây dựng lòng tin.
6. Quyết định thực hiện các biện pháp hoặc các hoạt động cụ thể của DOC cần dựa trên sự đồng thuận giữa các bên liên quan và tiến tới hiện thực hóa COC.
7. Trong quá trình thực hiện các dự án đã được thỏa thuận, khi cần thiết, sẽ trưng cầu sự phục vụ của các chuyên gia, các nhân vật kiệt xuất nhằm cung cấp nguồn lực cụ thể đối với các dự án liên quan.
8. Tiến trình thực hiện các hoạt động và các dự án đã được thỏa thuận trong DOC sẽ được thông báo hàng năm cho Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN - Trung Quốc.
Tại cuộc họp lần thứ nhất của Nhóm làm việc ASEAN – Trung Quốc về thực thi DOC tổ chức ngày 4-5/8/2005 tại Manila, Philipppin, dự thảo của ASEAN gồm 7 điểm:
1. Việc thực hiện DOC cần tiến hành từng bước phù hợp với các điều khoản trong DOC.
2. ASEAN sẽ tiếp tục thực tiễn hiện có của mình về tham vấn giữa các thành viên trước khi gặp Trung Quốc.
3. Việc thực hiện DOC cần được dựa trên các hoạt động hoặc các dự án được xác định rõ ràng.
4. Việc tham gia các hoạt động hoặc các dự án cần được thực hiện trên cơ sở tự nguyện.
5. Các hoạt động ban đầu được tiến hành trong phạm vi DOC cần phải là các biện pháp xây dựng lòng tin.
6. Quyết định thực hiện các biện pháp hoặc các hoạt động cụ thể của DOC cần dựa trên sự đồng thuận giữa các bên liên quan và tiến tới hiện thực hóa COC.
7. Trong quá trình thực hiện các dự án đã được thỏa thuận theo DOC, khi cần thiết, sẽ trưng cầu sự phục vụ của các chuyên gia, các nhân vật kiệt xuất nhằm cung cấp nguồn lực cụ thể đối với các dự án liên quan.[14]
Nếu so sánh thì hầu hết các điểm trong Dự thảo ban đầu của ASEAN đều được hai bên chấp nhận, nhất là các điểm 1, 3, 4, 5, 6, 7. Bản Quy tắc hướng dẫn DOC 2011 chỉ thêm điểm số 8 mới và có thay đổi nội dung của điểm số 2.
Nguyên tắc 2 được đề xuất phù hợp với nguyên tắc đồng thuận trong Hiến chương của ASEAN[15] và tinh thần DOC là văn bản ký kết giữa một bên là ASEAN và một bên là Trung Quốc. Các nước thành viên ASEAN mong muốn có sự trao đổi trước thống nhất lập trường của khối trước khi thảo luận với Trung Quốc. Điều 2.2.b của Hiến chương 2007 quy định ASEAN chia xẻ cam kết và trách nhiệm tập thể đối với hòa bình, ổn định và thịnh vượng của khu vực và điều 2.2.g ASEAN tăng cường tham vấn đối với các vấn đề ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích chung của khối. Hầu hết các nước ASEAN, dù có yêu sách chủ quyền hay không, đều có những quyền lợi trên Biển Đông như quyền tự do hàng hải, quyền quá cảnh, quyền đánh bắt cá, quyền đặt dây cáp và ống dẫn ngầm phù hợp với các quy định của Công ước luật biển 1982. Các Tuyên bố tại các Hội nghị thượng đỉnh ASEAN từ năm 1992 đều có vấn đề Biển Đông. Ngày 7/6/2011, Philippin chính thức đưa ra sáng kiến kêu gọi ASEAN và các nước liên quan đóng góp để chuyển Biển Đông từ một vùng tranh chấp thành một khu vực Hòa bình, Tự do, Hữu nghị và Hợp tác (Zone of Peace, Freedom, Friendship, and Cooperation - ZoPFF/C)[16] Tuy nhiên đề xuất này của ASEAN lại vấp phải lập trường trái ngược của Trung Quốc. Nếu vào thời điểm ký DOC, Trung Quốc không bình luận gì về hình thức ký kết văn bản thì trong các cuộc thảo luận về hướng dẫn thực hiện DOC, Trung Quốc thể hiện quan điểm DOC là văn bản ký giữa Trung Quốc và từng nước thành viên ASEAN chứ không phải với một bên là khối ASEAN, bên kia là Trung Quốc. Tại ARF 17 tổ chức ở Hà Nội năm 2010, chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông là không quốc tế hóa, không đa phương hóa, giải quyết tranh chấp trên cơ sở song phương. Trong bối cảnh các bên đều cần có một văn bản chính trị để hạ nhiệt ở Biển Đông như Bản quy tắc hướng dẫn thực hiện DOC thì việc tìm ra một công thức thỏa thiệp là bắt buộc. Nguyên tắc 2 của bản Quy tắc hướng dẫn (“Các bên tham gia DOC sẽ tiếp tục thúc đẩy đối thoại và tham vấn theo tinh thần của DOC”) là một công thức như vậy. ASEAN có thể hiểu các bên ở đây là ASEAN và Trung Quốc. Ngược lại Trung Quốc có thể giải thích các bên DOC là Trung Quốc và 10 nước ASEAN và họ có thể đối thoại riêng rẽ với từng nước. Khó khăn lớn nhất trong xác định chủ thể của DOC và cơ chế làm việc đã không có được sự hướng dẫn thỏa đáng. Điều này sẽ không thể không ảnh hưởng tới việc thực thi DOC trong tương lai. ASEAN có thể hài lòng với nội dung thêm ở điểm 8 hướng dẫn báo cáo hàng năm cho Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN - Trung Quốc về tiến trình thực hiện các hoạt động và các dự án đã được thỏa thuận trong DOC. Điểm 8 Hướng dẫn này không làm thay đổi thực chất chấp nhận nguyên tắc 2 trong Bản quy tắc hướng dẫn. Đây là một yếu thế pháp lý trong thực hiện nguyên tắc đồng thuận của ASEAN.[17]
Điểm thứ hai có thể thấy gọi là Bản quy tắc hướng dẫn DOC nhưng thực chất là hướng dẫn thực hiện các dự án trong khuôn khổ DOC. Đã có tới 4/8 điểm trong bản quy tắc có chữ “dự án” nếu không nói là hầu hết 8 điểm đều liên quan đến các dự án. Trợ lý Ngoại trưởng Trung Quốc Lưu Chí Dân phát biểu tại Bali, Indonexia, sau khi bản Quy tắc hướng dẫn được thông qua cũng nhấn mạnh đến việc thực hiện các dự án: "Trung Quốc và ASEAN sẽ thực thi đầy đủ và toàn diện DOC và sẽ khởi động các hoạt động thực thi thông qua các dự án hợp tác". Như đã biết, việc thực hiện DOC ít nhất có hai mục tiêu đồng thời: tạo ra sự tin tưởng lẫn nhau giữa các bên tranh chấp và thúc đẩy để đi đến một Bộ quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông mang tính khu vực (điểm 10 của COC). Trong việc tạo ra sự tin tưởng lẫn nhau thì các dự án chỉ là một phần. Cái chính mà DOC phải đạt được là giúp hạn chế các hành động gia tăng căng thẳng ở Biển Đông. Thỏa thuận DOC đã không cụ thể hóa thế nào là các hành vi gây phức tạp hoặc gia tăng tranh chấp và ảnh hưởng đến hòa bình ổn định ở khu vực ngoài quy định không đưa người ra ở tại những đảo, đá, bãi ngầm chưa có người ở...
Sau những vụ tàu Bình Minh 02, Vi king 02 bị cắt cáp khi khảo sát trên thềm lục địa Việt Nam hay các cáo buộc của Philippins về những hoạt động của Trung Quốc ở Bãi Cỏ rong, vào sâu thềm lục địa của họ, cộng đồng khu vực và thế giới rất mong muốn Bản quy tắc hướng dẫn thực hiện DOC sẽ cụ thể hóa thêm những gì DOC chưa thể hiện. Rất tiếc, các thỏa thuận đạt được phần lớn chỉ tập trung vào các dự án trong các lĩnh vực phi truyền thống như nghiên cứu khoa học, bảo vệ môi trường biển, an toàn hàng hải; tìm kiếm cứu nạn; chống tội phạm có tổ chức. Các bên vẫn tiếp tục được quyền tự giải thích DOC và bản quy tắc hướng dẫn theo cách hiểu của mình. Điều này cắt nghĩa tại sao chỉ vài ngày sau khi thông qua Bản Quy tắc ứng xử, Philippin và Trung Quốc lại tiếp tục to tiếng với nhau khi Nhân dân Nhật báo ngày 2/8/2011 cảnh báo một số quốc gia sẽ phải trả giá đắt cho hành động sai lầm đối với chủ quyền của Trung Quốc sau khi báo Philippine Star đưa tin công binh Philippines sắp hoàn thành tòa nhà thứ hai trên một hòn đảo tại biển Đông.[18] Ngày hôm trước Trung Quốc cũng lên tiếng cảnh báo kế hoạch của Philiippines khoan thăm dò ít nhất hai giếng và tiến hành một loạt các cuộc khảo sát địa chấn vào đầu năm sau trên vùng biển giàu khí thuộc Bãi Cỏ rong.[19]
Cũng giống như DOC, Bộ quy tắc hướng dẫn lảng tránh vấn đề phạm vi áp dụng, dù chỉ là phạm vi cho các dự án hợp tác. Phạm vi áp dụng của DOC được Việt Nam và ASEAN hiểu bao gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa những khu vực có tranh chấp, còn Trung Quốc lại hiểu chỉ bao gồm Trường Sa. Ngày 7/5/20009, với việc chính thức công bố bản đồ đường lưỡi bò tại Liên hợp quốc, theo Trung Quốc, phạm vi tranh chấp đồng nghĩa với phạm vi áp dụng DOC, ít nhất là trong phạm vi đường lưỡi bò nhưng không được nói đến Hoàng Sa đã “thuộc” sự chiếm đóng của họ, không có gì phải đàm phán hay tranh cãi. Việc xác định phạm vi cho từng dự án được điều chỉnh bởi các quy tắc 3,4 và 6 với điều kiện các dự án đó phải rõ ràng, phải thông qua đồng thuận và việc tham gia trên cơ sở tự nguyện. Theo luật pháp và thực tiễn quốc tế, các dự án như các biện pháp xây dựng lòng tin có thể được tiến hành trên các khu vực tranh chấp có phạm vi xác định trên cơ sở thỏa thuận của các bên liên quan. Tại các khu vực không có tranh chấp, các dự án hợp tác phải tuân thủ luật pháp của nước chủ nhà. Ở Bali, Indonexia tháng 7/2011, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Dương Khiết Trì tuyên bố duy trì đường đứt khúc 9 đoạn từ năm 1948 thì đồng nghiệp Philipppin của ông Albert del Rosario than thở, đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông nhiều đến mức nếu đáp ứng đòi hỏi của họ, việc xây dựng một bộ quy tắc ứng xử với Trung Quốc trở thành vô ích. Các hoạt động đấu thầu dầu khí của Philippin và Việt Nam trong tháng 7-8/2011 trên thềm lục địa tính từ đất liền mà các nước này cho là của họ phù hợp Công ước luật biển 1982 liên tục bị Bắc Kinh cảnh báo là vi phạm chủ quyền của Trung Quốc. Bộ quy tắc hướng dẫn đã không đề cập đến hướng giải quyết các tranh chấp tương tự như thế nào, dựa trên Công ước luật biển hay dựa trên các bằng chứng lịch sử mà các bên thi nhau đưa ra và không có một biểu hiện nhượng bộ. Rõ ràng việc xác định phạm vi triển khai các dự án trong khuôn khổ DOC sẽ không dễ dàng hơn so với trước khi có Bộ quy tắc hướng dẫn thực hiện và nếu đạt được thỏa thuận thì việc tiến hành dự án cũng chưa hẳn đã thuận lợi khi việc tiến hành này là trên cơ sở tự nguyện, nghĩa là có thể tham gia hay rút ra tùy ý ?[20]
Điểm 7 của Bộ Quy tắc ứng xử là nhằm tăng cường nguồn lực cụ thể đối với các dự án liên quan. Tuy nhiên nó không cho biết rõ sẽ trưng cầu sự phục vụ của các chuyên gia, các nhân vật kiệt xuất mang quốc tịch Trung Quốc, các nước ASEAN hay một nước thứ ba. Ở đây cũng thể hiện sự nhượng bộ hai lập trường của ASEAN và Trung Quốc về mở rộng hợp tác giữa các bên liên quan trong và ngoài khu vực. Một dự án liên quan đến an toàn hàng hải hay bảo vệ môi trường biển rõ ràng cần có sự ủng hộ của không chỉ các nước trong khu vực mà cả các nước ngoài khu vực khi Biển Đông tập trung nhiều tuyến đường hàng hải quốc tế. Việc quy định không cụ thể có thể sẽ gây ra những thảo luận triền miên ở cấp chuyên viên, gây ảnh hưởng đến tiến trình thực hiện các dự án. Bộ quy tắc hướng dẫn cũng như DOC không giải quyết được dạng tranh chấp thứ ba ở Biển Đông đã bắt đầu bằng những tranh cãi giữa Mỹ và Trung Quốc về quyền tự do hàng hải, khảo sát khoa học qua vụ tàu Imppeccable tháng 3/20009, cũng như các tranh luận về lợi ích cốt lõi của Trung Quốc và lợi ích quốc gia của Mỹ trước và sau ARF 17 tại Hà Nội tháng 7/2010.
Bộ quy tắc hướng dẫn cũng không có một quy định nào về cơ chế giám sát, thực thi các hoạt động hay các dự án trong khuôn khổ DOC ngoài quy định điểm 8 về nghĩa vụ thông báo hàng năm cho cuộc họp cho Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN - Trung Quốc. Điều này cũng dễ hiểu vì DOC là một văn bản lỏng lẻo, mang tính chính trị nhiều hơn là ràng buộc pháp lý nên Bản Quy tắc hướng dẫn cũng không thể khắc phục được tính chất này. Kết quả có thể dự báo là tính hiệu quả của các dự án không cao do không có một cơ chế hữu hiệu trong giám sát và thúc đẩy tiến trình dự án.
Bản quy tắc hướng dẫn đề cập duy nhất tới COC, mục tiêu mà khu vực và quốc tế mong đợi, trong điểm 6, khi khẳng định quyết định tiến hành các hoạt động cụ thể này là nhằm tiến tới hiện thực hóa COC. Nếu bản quy tắc này được thông qua năm 2005 hay 2006 thì những quy định này có thể có tác động thúc đẩy nhanh hơn quá trình xây dựng COC và điểm 1: “Việc thực hiện DOC cần tiến hành từng bước” mới phù hợp. Trong bối cảnh được đặt giữa quyết tâm của ASEAN thông qua COC vào năm 2012 tại Phnompenh-Campuchia kỷ niệm 10 năm thông qua DOC và tuyên bố của Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì ở Bali, Indonesia tháng 7/2011 về chân thành thực hiện DOC và chỉ thảo luận xây dựng COC khi các điều kiện đã “chín muồi”,[21]thì thời gian thực hiện bản quy tắc hướng dẫn này quá ngắn ngủi, đồng nghĩa với hiệu quả thấp của nó. Thời điểm tháng 5-6/2011 được đánh giá như một mốc kịch tính nhất, đe dọa xảy ra xung đột trên Biển Đông tính từ năm 1988. Người ta có thể đặt câu hỏi vậy tình hình hiện nay đã thực sự chín muồi để xây dựng COC chưa hay đợi đến bao giờ. Cảnh báo của Ngoại trưởng Trung Quốc làm tăng thêm mức độ hoài nghi về một bản ASEAN-Trung Quốc COC sẽ được thông qua vào năm sau. Trung Quốc vẫn dành cho mình quyền chủ động phán xét khi nào thì “chín muồi” để thảo luận về COC.
Bộ quy tắc hướng dẫn trên con đường từ DOC đến COC
Bộ quy tắc hướng dẫn DOC với những quy định chung chung, không đáp ứng được mong đợi của cộng đồng quốc tế. Thậm chí nó còn được đánh giá là một thỏa thuận hời hợt.[22] Tuy nhiên, trong bối cảnh một nền hòa bình tồi còn hơn là một cuộc chiến tranh tốt, nó đáp ứng được mục tiêu của các bên đề ra.
Đối với Trung Quốc, việc thông qua bản quy tắc hướng dẫn bảo đảm: 1) không mâu thuẫn với chính sách hai không (không đa phương hóa, không quốc tế hóa) thể hiện trong việc thuyết phục ASEAN điều chỉnh nguyên tắc 2 trong dự thảo; 2) chứng tỏ cho cộng đồng quốc tế biết rằng Trung Quốc hoàn toàn có thể dẫn dắt ASEAN cũng giải quyết “nội bộ” vấn đề tranh chấp Biển Đông không có sự can thiệp từ bên ngoài; 3) khẳng định vai trò của Trung Quốc trong giải quyết tranh chấp theo hướng có lợi, chỉ xây dựng COC khi điều kiện đã chín muồi; 4) xoa dịu mâu thuẫn nội bộ giữa bên chủ chiến dùng vũ lực và bên chủ hòa đàm phán song phương để giải quyết tranh chấp; 5) không bị ràng buộc gì khi thực hiện các dự án DOC và tạo điều kiện để đòi hỏi thực hiện “gác tranh chấp cùng khai thác” trên tinh thần hợp tác DOC.
Thời điểm mà Trung Quốc lựa chọn thông qua tại Bali cũng được quyết định bởi nhiều yếu tố[23]: 1) tình hình chính trị quốc tế và khu vực đã có nhiều biến đổi, cấp cao Đông Á tháng 11/2011 với sự gia nhập của Mỹ và việc Nga, Ấn Độ quan tâm nhiều hơn đến Đông Nam Á làm Trung Quốc không còn vị trí độc tôn trong quan hệ với các nước ASEAN; 2) có sự thay đổi vai trò Chủ tịch ASEAN từ các nước có đòi hỏi chủ quyền ở Biển Đông như Việt Nam hay có quan tâm sâu sắc tới an ninh Biển Đông như Indonesia sang quốc gia có lợi ích hạn chế hơn trong năm 2012; 3) Năm 2012 đánh dấu 20 năm quan hệ Trung Quốc – ASEAN nhưng hiện nay cả hai bên đều bối rối khi tranh chấp vượt ra tầm kiểm soát, niềm tin đã bị xói mòn bởi không có sự phát triển gì trong 9 năm từ khi thông qua DOC. Hai bên đều cần có một dấu ấn mới, mở đầu một thời kỳ mới; 4) quan hệ ngoại giao Trung Quốc và Mỹ, yếu tố tác động đến khu vực, cần có những biểu hiện ôn hòa, xuống thang hơn so với năm trước. Mỹ đang phải đối phó với những khó khăn kinh tế, nguy cơ vỡ nợ công và Trung Quốc cũng đang cần môi trường ổn định hơn để phát triển tầu sân bay và trấn áp các cuộc biểu tình nội bộ. Các phát biểu của chính giới Mỹ và Trung Quốc trước và sau ARF đều bớt phần căng thẳng, chỉ trích nhau như trước. Thời điểm thông qua bản quy tắc hướng dẫn 2 ngày trước ARF 18 cũng nhằm tránh khả năng có thêm một ARF giống như ARF 17 trong đó các nước tập trung phê phán thái độ của Bắc Kinh với tình hình Biển Đông.
Đối với ASEAN, việc thông qua bản quy tắc hướng dẫn là một thắng lợi chính trị của ASEAN khi chứng tỏ được ASEAN có khả năng dàn xếp được những tranh cấp trong khu vực, nhất là khi ngoài vấn đề Biển Đông, ASEAN còn phải đối đầu với tranh chấp biên giới Thái Lan – Campuchia ở đền Preah Vihear cũng như vấn đề Myanma. ASEAN và Trung Quốc đã tháo ngòi nổ vấn đề lớn nhất - chủ quyền đối với các vùng lãnh thổ đang có tranh chấp ở Biển Đông bằng cách đồng ý những hướng dẫn mới để xử lý các tranh chấp[24]. Đối với ASEAN, việc kéo Trung Quốc vào nói chuyện về DOC đã là một bước tiến dù chưa đi đến ddwwocj giải pháp mong muốn.[25] ASEAN cũng mong muốn có được tiến triển trước lễ kỷ niệm 45 năm của khối vào 2012. Mặc dù nguyên tắc 2 trong dự thảo của ASEAN không đạt được yêu cầu của ASEAN nhưng nó không ảnh hưởng lớn đến nguyên tắc đồng thuận và tham vấn của ASEAN. Đây cũng là thắng lợi của Indonesia trong vai trò Chủ tịch ASEAN, thể hiện vai trò không chỉ có thể lãnh đạo đi đến những giải pháp cho tranh chấp khu vực mà cả lãnh đạo toàn khối.[26] Đó là tiền đề để thực hiện tốt COC, góp phần mang lại hòa bình và ổn định cho Biển Đông. Bộ quy tắc hướng dẫn là cơ sở cho niềm tin tình hình Biển Đông sẽ dịu đi và một tiến trìnhh thảo luận COC có thể bắt đầu.
Đối với các nước ngoài khu vực, việc thông qua Bản quy tắc hướng dẫn cho thấy ít nhiều vai trò của dư luận quốc tế trong việc ngăn cản những bước đi phiêu lưu của Trung Quốc, tạo tiền lệ để áp dụng đấu tranh ở các khu vực khác. Đây cũng là cơ sở đấu tranh tiếp theo trên diễn đàn Đông Á vào cuối năm 2011. Các nước cũng có dịp thể hiện xu thế đòi hỏi phải giải quyết các tranh chấp biển trên cơ sở luật quốc tế và đặc biệt Công ước của Liên hợp quốc về luật biển 1982: Các tranh chấp biển phải được giải quyết trên cơ sở các yêu sách từ đất (land features) chứ không phải từ những đường vẽ tưởng tượng.
Dư luận quốc tế đánh giá tích cực về việc thông qua Bản Quy tắc hướng dẫn hơn là bình luận về nội dung của nó. Trong khi Trung Quốc “đề cao thắng lợi”, ASEAN thở phào thì các nước khác cũng bớt e ngại hơn về một khả năng xung đột khó kiểm soát có thể xảy ra. Đây cũng là dịp để đánh giá những lời nói và việc làm của Trung Quốc trong thời gian qua. Bản Quy tắc hướng dẫn chỉ là bước đi đầu tiên thực hiện DOC của Trung QUốc và ASEAN với tư cách toàn khối. Đó là một bước đi đúng hướng. Song dư luận có quyền đòi hỏi ASEAN và Trung Quốc phải có những bước đi nhanh hơn, thậm chí là khẩn thiết, tiến đến sớm có một Bộ quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông mang tính pháp lý ràng buộc cao.[27] Việc triển khai các dự án sẽ là những biện pháp lòng tin ban đầu để xây dựng lại quan hệ ASEAN – Trung Quốc đã bị xói mòn phần nào từ 2009. ASEAN và Trung Quốc cần sớm thống nhất về ba vấn đề lớn nhất trong tiến trình tiến đến COC là làm sao xác định được phạm vi vùng tranh chấp và không tranh chấp, cụ thể các hành động không được phép và cơ chế giám sát, giải quyết tranh chấp. Đó là những nội dung thực chất mà ASEAN và Trung Quốc không thể cứ tránh né, lần lữa.[28] Tương lai của COC phụ thuộc vào sự Công tâm và Chủ động của các bên, vào tính Công khai lập trường của các bên, vào Công luận và Công pháp quốc tế. Một công thức 5C cần thiết để có được một COC chấp nhận được với tất cả các bên.[29]
Việt Long
Bài viết tham dự Hội thảo “Việt nam và các nước ASEAN trước thử thách, Singapore, 20-21/8/2011.
Tác giả xin ngỏ lời cám ơn những ý kiến đóng góp quý báu của Nguyễn Thị Thanh Hà, Nguyễn Đăng Thắng, Giáp Văn Dương để hoàn thiện bài viết.
[3] Hoàng Phương Loan, Hạ nhiệt Biển Đông và trò chơi hai mặt, Tuần Việt Nam, ngày 27/7/2011.
[4] Governments of the Member States of ASEAN and the Government of the People’s Republic of China, Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea (Phnom Penh, November 4, 2002), http://www.aseansec.org/13163.htm
[5] Khoản 4 của Tuyên bố "khuyến nghị tất cả các bên liên quan áp dụng các nguyên tắc trong Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác tại Đông Nam Á như là cơ sở để hình thành một bộ luật ứng xử quốc tế đối với Biển Nam Trung Hoa”. Văn bản có tại http://www.aseansec.org/1196.htm
[6] Nguyen Hong Thao, “Vietnam and the Code of Conduct for the South China Sea”, Ocean Development and International Law, 32:105-130, (2000).
[7] Joint Communique of The 29th ASEAN Ministerial Meeting (AMM), Jakarta, 20-21 July 1996, mục 11 "endorsed the idea of concluding a regional code of conduct in the South China Sea which will lay the foundation for lone[sic] term stability in the area and foster understanding among claimant countries."
Nguyen Hong Thao, “Vietnam and the Code of Conduct for the South China Sea”, Ocean Development and International Law, 32:105-130, (2000).
[8] Điểm 6 của DOC: “mọi hoạt động, dự án triển khai phải có sự thống nhất của tất cả các bên liên quan”. Xem nguyên văn tiếng Anh có trong Nguyen Hong Thao, "The 2002 Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea: A Note" Ocean Development & International Law 34 (2003): 279-285.
[9]Nguyen Hong Thao and Ramses, “A New Legal Arrangement For the South China Sea?, Ocean Development & International Law(American), 2009, Vol. N.40: 4, 333 — 349.
[10] Indra Harsaputra, China ‘agrees’ to immediate peace in S. China Sea, The Jakarta Post, 2 June, 2011.
[11] Dina Indrasafitri, ASEAN defense meeting ends with declaration, The Jakarta Post, 19 May 2011.
[12] Về phân tích nội dung DOC xem Thanh Hà – Đăng Thắng, “Ngẫm về bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông”, http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2011-04-15-nghi-ve-bo-quy-tac-ung-xu-o-bien-dong- ; Nguyen Hong Thao, "The 2002 Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea: A Note" Ocean Development & International Law 34 (2003): 279-285; Wu Shicun and Ren Huaifeng, "More than a Declaration: A Commentary on the Background and the Significance of the Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea" Chinese Journal of International Law 3 (2003): 311-19.
[13]Jakarta Post, "South China Sea Guidelines Agree" 21 July 2011;
[14] Nguyen Hong Thao and Ramses, “A New Legal Arrangement For the South China Sea?, Ocean Development & International Law(American), 2009, Vol. N.40: 4, 333 — 349.
[16] Albert F. Del Rosario, Secretary of Foreign Affairs of the Philippins, “A Rules, – based regime in the South China Sea”, nghiencuubiendong.org, 7 June 2011.
Michael Wines, “China Party Newspaper Warns the Philippines”, The New York Times 3, August 2011.
[19] “Drilling Plans raise Stakes in DisputesSeas”, The Wall Street Journal Business, 3 August 2011.
[20] Remarks by Foreign Minister Yang Jiechi at the ARF Foreign Ministers' Meeting, 2011/07/24 , http://www.fmprc.gov.cn/eng/topics/yjccxdmwzh/t842183.htm “The dotted line was formally announced by the Chinese government in 1948. China's sovereignty, rights and claims in the South China Sea were established and developed in the long course of history. They have been consistently upheld by the Chinese government”.
[21] Remarks by Foreign Minister Yang Jiechi at the ARF Foreign Ministers' Meeting, 2011/07/24, http://www.fmprc.gov.cn/eng/topics/yjccxdmwzh/t842183.htm, “This outcome demonstrates the resolve, confidence and capability of China and ASEAN countries to jointly promote peace and stability in the South China Sea by implementing the DOC. At the meeting, China put forward a series of initiatives to promote practical cooperation under the DOC framework. These initiatives include holding a seminar on navigation freedom in the South China Sea and establishing three technical committees on marine scientific research and environmental protection and on other activities. China also reaffirmed its readiness to undertake the three cooperation projects already agreed upon by all parties. This once again shows China's commitment to and sincerity about the implementation of the DOC. China is open to discussing the formulation of a code of conduct of the parties in the South China Sea (COC) when conditions are ripe. But the pressing task at present is to start practical cooperation in the South China Sea”.
Walter Lohman, “The U.S. Cannot Rely on ASEAN in the South China Sea”, The Heritage Foundation, 5 August 2011, http://www.heritage.org/Research/Reports/2011/08/ASEAN-South-China-Sea-Dispute-and-US-Policy-on-East-Asia
[28] Tân bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh: “Phải xây dựng cho được bộ quy tắc ứng xử COC”, Sài gòn tiếp thị, 8/8/2011; http://sgtt.vn/Thoi-su/151008/Phai-xay-dung-cho-duoc-bo-quy-tac-ung-xu-COC.html
[29] Brian McCartan “Shallow agreement in the South China Sea”, Asia Times Online,
Trả lời phỏng vấn của đài ABC của Úc trong bài "Thỏa thuận chung” về vấn đề Biển Đông, TS. Trần Trường Thủy, GĐ Trung tâm Nghiên cứu Biển Đông, cho biết quan điểm của ông về một số vấn đề nhiều người quan tâm hiện nay như chuyến đi Trung Quốc của Thứ trưởng NG Hồ Xuân Sơn, các thỏa thuận về quản lý Biển Đông như DOC, Bản hướng dẫn thực thi DOC, và mong đợi của Việt Nam tại Hội nghị Bali.
Phóng viên: Sau chuyến công du Trung Quốc của Đặc Phái Viên Hồ Xuân Sơn, Việt Nam và Trung Quốc tuyên bố đã đạt được “thỏa thuận chung”. Xin ông cho biết về thỏa thuận đó?
TS. Trần Trường Thủy: Theo tôi hiểu thì chuyến đi của Đặc phái viên Việt Nam sang Trung Quốc với mục đích làm giảm nhẹ căng thẳng trên Biển Đông. Chuyến đi này xảy ra sau chuyến thăm Việt Nam của Phó Trưởng ban Đối Ngoại Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Hai thông điệp chính truyền tải trong chuyến đi của đặc phái viên Việt Nam là nêu quan ngại trước việc Trung Quốc cắt cáp thăm dò của tàu Bình Minh 02 và tàu Viking II trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, đồng thời mong muốn củng cố quan hệ hữu nghị với Trung Quốc. Đây chính là hai vế đi liền nhau trong chính sách của Việt Nam là vừa đấu tranh trên những vấn đề khác biệt nhưng vẫn giữ vững quan hệ ổn định với các bên liên quan, thúc đẩy hợp tác trong những vấn đề có điểm đồng về lợi ích.
Về “thỏa thuận chung” theo tôi hiểu thì không phải là một thỏa thuận gì mang tính văn bản pháp lý, trong chuyến đi ngắn như thế thì không thể đạt được thỏa thuận gì trong vấn đề phức tạp như Biển Đông. Hai bên chỉ có tuyên bố báo chí chung như đã công khai: tăng cường quan hệ Việt-Trung; tích cực thực hiện nhận thức chung của lãnh đạo hai nước trong vấn đề Biển Đông; hướng dẫn dư luận, báo chí; và tích cực đàm phán về các nguyên tắc giải quyết vấn đề trên biển.
Một số người đặt câu hỏi về “nhận thức chung” của lãnh đạo cấp cao hai nước là gì, có thỏa thuận gì không. Thực ra “nhận thức chung” chỉ mang tính chung chung, được tuyên bố trong nhiều chuyến thăm cấp cao của hai bên. Các ý cơ bản chỉ mang tính nguyên tắc như giải quyết tranh chấp thông qua thương lượng, đàm phán trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước luật biển 1982; gìn giữ tình hình ổn định ở Biển Đông, không áp dụng hành động làm phức tạp hóa hoặc mở rộng thêm tranh chấp; tích cực nghiên cứu và bàn bạc để hợp tác cùng phát triển để đề ra mô hình và khu vực thích hợp, theo hình thức dễ trước khó sau.
Các thành tố của “nhận thức chung” này thực ra là của Tuyên bố ứng xử các bên tại Biển Đông ký giữa ASEAN và Trung Quốc năm 2002, chỉ khác là mang áp dụng cụ thể thêm cho quan hệ Việt-Trung.
Phóng viên: Tin cho biết Trung Quốc và ASEAN vừa đạt thống nhất về văn bản hướng dẫn thực hiện DOC. Tuy nhiên, một số quốc gia thành viên ASEAN than phiền những biện pháp hướng dẫn này có tính chất mơ hồ và không đầy đủ. Quan điểm của ông về vấn đề này?
TS. Trần Trường Thủy: Văn bản vừa đạt được giữa Trung Quốc và ASEAN là văn bản hướng dẫn cách thức thực hiện DOC, có thể so sánh là như thông tư hướng dẫn thực hiện sau khi đã ban hành luật. Nội dung văn bản chỉ là các bước hướng dẫn cách thức thực hiện cụ thể các điều khoản của DOC. Lâu đến nay hai bên không nhất trí thông qua văn bản này là do bất đồng về cách thức tiến hành: ASEAN muốn bàn bạc, thống nhất với nhau trước, sau đó mới bàn với Trung Quốc; trong khi Trung Quốc không đồng ý bàn với ASEAN như là một khối. Bất đồng nữa liên quan đến việc ASEAN muốn thực thi đầy đủ các điều khoản của DOC, trong khi Trung Quốc chỉ chú trọng vào các dự án hợp tác.
Việc hai bên đạt được thống nhất về Văn bản hướng dẫn này chỉ là bước nhỏ trong quản lý tranh chấp Biển Đông. Văn bản chỉ thể hiện là Trung Quốc và ASEAN có thể ngồi đàm phán và đặt được thỏa thuận với nhau. Cả DOC và văn bản hướng dẫn này không đủ hiệu lực để ngăn ngừa các hành vi làm phức tạp, căng thẳng tình hình của các bên.
Phóng viên: Nếu các thỏa thuận sắp đạt được đều có tính chất không ràng buộc (như đã xảy ra với DOC từ năm 2002 tới nay) thì liệu việc ra đời thêm một văn kiện nữa có sẽ giúp giải quyết tình hình căng thẳng ở Biển Đông hay không?
TS. Trần Trường Thủy:Hiện trong khu vực có hai cơ chế trực tiếp liên quan đến quản lý tình hình Biển Đông là Công ước luật biển 1982 và Tuyên bố DOC 2002.
Công ước luật biển 1982 là văn bản quan trọng nhất, phổ quát nhất quy định quyền và nghĩa vụ của các quốc gia liên quan đến biển, trong đó bao gồm các quy định về giải quyết tranh chấp liên quan đến biển. Tuy nhiên, Công ước không giải quyết vấn đề tranh chấp chủ quyền đối với các đảo, đá; mà ngược lại là nhân tố làm tranh chấp mở rộng hơn, do liên quan đến tranh chấp nguồn tài nguyên dầu khí, hải sản ở biển theo vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Ngoài ra Công ước cũng có nhiều điều khoản không rõ ràng nên các bên việc dẫn khác nhau nhằm tối đa hóa lợi ích của mình và biện minh cho hành động. Ví dụ như các điều khoản liên quan đến đảo, đá nào có vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa ; hay quy định về họat động của tàu bè quân sự nước ngoài trong vùng đặc quyền kinh tế.
DOC được ký kết nhằm mục đích quản lý tranh chấp thông qua khuyến khích các bên kiềm chế không làm phức tạp tình hình, tăng cường xây dựng lòng tin và thúc đẩy hợp tác. Tuy nhiên, DOC là văn bản chính trị không có giá trị pháp lý nên không có giá trị ràng buộc và không có chế tài để xử lý vi phạm. Các điều khoản cũng chưa đầy đủ để kiềm chế hành động của các bên và một số điều khoản chưa rõ ràng để quy chiếu.
Thực tiễn cho thấy hai công cụ cơ bản này không đủ để quản lý hiệu quả các tranh chấp và không đủ hiệu lực để duy trì ổn định ở Biển Đông. Do đó rất cần thiết một văn bản mới có giá trị pháp lý quy định đầy đủ các điều khoản điều chỉnh hành vi của các bên liên quan thì mới có thể giúp quản lý hiệu quả tranh chấp Biển Đông.
Phóng viên: Theo ông, Việt Nam trông đợi gì ở cuộc họp Bali. Xin cho biết một số trông đợi cụ thể?
TS. Trần Trường Thủy:Cá nhân tôi nghĩ là Việt Nam có thể trông đợi từ Bali ở mấy nội dung. Thứ nhất là duy trì việc bàn thảo về vấn đề Biển Đông tại các cuộc họp liên quan nội bộ ASEAN, ASEAN+ Trung Quốc và đặc biệt là tại ARF, càng nhiều tiếng nói quan ngại, nhiều kêu gọi tuân thủ luật pháp quốc tế, thực thi DOC càng có tác dụng trong việc duy trì hòa bình ổn định ở Biển Đông. Có thể Việt Nam cũng trông chờ vào phát biểu của Ngoại trưởng Mỹ về Biển Đông. Thứ hai là củng cố đoàn kết ASEAN, tăng cường đồng thuận trong vấn đề Biển Đông, có các mốc thời gian cụ thể cho các bước đi mới như COC. Trong tuyên bố chung các ngoại trưởng tôi thấy các ngoại trưởng đã đặt các mốc lộ trình cụ thể cho việc bàn thảo COC. Thứ ba là tranh thủ đạt các tiến triển mới trong các trao đổi song phương, với Trung Quốc. Thứ tư là đạt được các bước tiến cụ thể trong đàm phán: như Bản hướng dẫn thực thi DOC là một bước tiến mới./.
Thứ ba, 26 Tháng 7 2011 Viết bởi Nguyen Tien Thinh
Sau những chính sách và hành động của Trung Quốc đối với Biển Đông kể từ 2007, vấn đề Biển Đông càng được thu hút bởi dư luận thế giới đặc biệt là Mỹ. Do đó sự căng thẳng của vấn đề Biển Đông cần được xem xét trong tổng thể lợi ích và các mối quan tâm của các nước có liên quan, trước hết là các nước trong khu vực, Trung Quốc và Mỹ.
Tại Hội thảo Quốc tế về Biển Đông lần thứ hai ở thành phố Hồ Chí Minh (tháng 11/2010), nhiều ý kiến cho rằng chính sự hung hăng của Trung Quốc đã làm cho tranh chấp Biển Đông được quốc tế hóa và dẫn đến sự can dự của Mỹ ở khu vực Đông Nam Á.1] Trong vài thập kỷ qua, những lời chỉ trích Mỹ xem nhẹ Đông Nam Á khá phổ biến. Ngoại trừ các cường quốc chủ chốt như Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc, Washington rất ít quan tâm đến phần còn lại của toàn vùng. Việc Trung Quốc gia tăng nhanh chóng sức mạnh chính trị và kinh tế đã thuyết phục chính quyền Obama chuyển hướng và tung thêm nguồn lực và nhân sự, dù còn hạn chế, vào phần đất này của thế giới. Nhiều học giả bày tỏ lo ngại rằng cạnh tranh chiến lược Trung-Mỹ sẽ là một nhân tố quyết định cục diện chiến lược ở khu vực trong tương lai và xu hướng phát triển của tranh chấp.2]
Thái độ mới đây của Hoa Kỳ sẵn sàng chấp nhận các quy định và cách xử sự hiện hành trong khu vực được thể hiện vào lúc Trung Quốc đã mở rộng ảnh hưởng của họ khắp bốn phương trời. Từ lâu trước khi đạt đến tư thế hiện nay, uy tín và giá trị ngoại giao của Trung Quốc đã dựa trên đường lối chung sống hòa bình và trợ giúp Đông Nam Á. Đối với Trung Quốc, bất kỳ một tranh chấp, dù là một vụ cãi cọ nhỏ với khu vực vào khi ấy đều có thể làm hoen ố hình ảnh của Bắc Kinh trong tư cách người bạn của thế giới đang phát triển.3]Theo đuổi những gì mà Trung Quốc đã làm cũng với tâm niệm lấy ASEAN làm trọng tâm, từ khi Tổng thống Barack Obama lên cầm quyền, Mỹ đã cải thiện được chỗ đứng của mình trong khối vốn lâu nay vẫn nghi ngờ ý định của Washington. Việc Hoa Kỳ tham gia Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (TAC) 2009 và cử đại sứ đến ASEAN đã thay đổi lề lối can dự của Mỹ và mở ra cho nước này một con đường mới.
Mỹ ngày càng quan tâm đến Biển Đông và coi đây là một cơ hội để khôi phục ảnh hưởng và giành lại vai trò chủ đạo ở Đông Á. Ngày 15/7/2009, Tiểu ban về Đông Á và Quan hệ Thái Bình Dương của Ủy ban về Ngoại giao của Thượng viện Mỹ đã tổ chức cuộc điều trần về “các vấn đề lãnh hải và tranh chấp chủ quyền ở Đông Á”. Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton tham dự Hội nghị ARF 17 tại Hà Nội tuyên bố rằng Mỹ có “lợi ích chiến lược” trong việc chứng kiến các tranh chấp lãnh thổ được giải quyết thông qua “tiến trình ngoại giao hợp tác của tất cả các bên tuyên bố chủ quyền”. Trước đó, tại Đối thoại Shangri-la, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gate đã bày tỏ quan điểm ủng hộ giải quyết tranh chấp ở Biển Đông thông qua các nỗ lực đa phương, hòa bình và phù hợp với luật quốc tế.4] Sự hung hăng của Trung Quốc đã góp phần đẩy Mỹ và Đông Nam Á xích lại gần nhau hơn. Mỹ và Việt Nam đã tổ chức đối thoại về chính sách quốc phòng tại Hà Nội ngày 19/8/2010 và được đánh giá là một bước ngoặt trong các mối quan hệ giữa hai cựu thù. Giáo sư Carlyle A. Thayer thuộc Học viện Quốc phòng Ô-xtrây-li-a nhận định: “Sự hiếu chiến về quân sự của Trung Quốc tại Tây Thái Bình Dương và Biển Đông tạo ra một động lực để tăng cường hợp tác quân sự Mỹ-Việt. Cả hai nước có lợi ích chung trong việc ngăn chặn Trung Quốc hay bất kỳ nước nào thống trị các tuyến đường biển thương mại cũng như thực thi tuyên bố chủ quyền bằng áp lực. Việt Nam coi sự hiện diện của Mỹ như hàng rào chống lại sức mạnh quân sự ngày càng gia tăng của Trung Quốc”.5]
Nhật Bản cũng nhìn Trung Quốc bằng con mắt nghi ngại hơn nhiều. Bản báo cáo của Bộ Quốc phòng Nhật Bản ngày 10/9/2010 nhắc đến những vụ trực thăng của Trung Quốc bay quá gần các chiến hạm Nhật, vụ các tàu ngầm và khu trục hạm Trung Quốc được nhìn thấy gần đảo Okinotori vào tháng 4/2010. Đó là chưa kể vụ một tàu ngầm hạt nhân của Trung Quốc xâm nhập hải phận Nhật Bản vào tháng 11/2004. Bản báo cáo này trách Bắc Kinh là đã không nói rõ về những dự án hiện đại hóa quân đội Trung Quốc. Vào tháng 3/2010, Trung Quốc cho biết sẽ tăng ngân sách quân sự năm 2010 thêm 7,5% lên thành 77,9 tỷ đôla, nhưng theo Bộ Quốc phòng Mỹ, tổng chi phí quân sự của Bắc Kinh đã vượt quá 150 tỷ đôla từ năm 2009, nếu tính cả các khoản chi tiêu không được ghi trong ngân sách chính thức.6]Theo Bộ Quốc phòng Nhật, sự thiếu minh bạch trong chính sách quốc phòng của Trung Quốc và những hoạt động quân sự của nước này là vấn đề đang gây quan ngại cho khu vực và cộng đồng quốc tế, kể cả Nhật Bản.[7]
Chính sách mập mờ, những hành động đơn phương và mạnh bạo của Trung Quốc ở Biển Đông đã làm các nước trong khu vực thêm nghi ngờ chiến lược “phát triển hòa bình” và “ngoại giao hài hòa” của Bắc Kinh.8] Nhiều nước ASEAN nhìn nhận an ninh Đông Nam Á và an ninh quốc gia của họ bị đe dọa trước quá trình hiện đại quân sự nhanh chóng một cách thiếu minh bạch của Trung Quốc.9] Tình huống tiến thoái lưỡng nan về an ninh xảy ra ở khu vực và kết quả là chi tiêu quân sự ở Đông Nam Á tăng vọt. Theo Viện nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockholm: “Việc chuyên chở vũ khí đến Đông Nam Á trong giai đoạn 2005-2009 gần như tăng gấp đôi so với giai đoạn 2000-2004. Số lượng vũ khí mà Ma-lai-xi-a mua trong giai đoạn 2005-2009 tăng 722% so với giai đoạn 2000-2004, Xing-ga-po tăng 146% và In-đô-nê-xi-a 84%.10] Điều đáng nói là các nước ASEAN đều không muốn phải lựa chọn giữa Trung Quốc và Mỹ, không muốn các nước bên ngoài khu vực can thiệp vào vấn đề tranh chấp chủ quyền giữa họ và Trung Quốc. Cái mà họ cần là một Trung Quốc thực sự phát triển hòa bình, có thái độ hợp tác và có trách nhiệm. Trong bối cảnh đó, ASEAN đã chủ động giảm thiểu rủi ro bằng cách tìm kiếm sự bảo đảm của các cường quốc bên ngoài khu vực.
Phản ứng với thái độ và hành động của Trung Quốc cũng thể hiện trên các diễn đàn ngoại giao. Kể từ tháng 7/2010, tình hình khu vực Biển Đông chuyển sang một giai đoạn phát triển mới với những đặc trưng mới của một trong những điểm nóng trong quan hệ chính trị và an ninh quốc tế. Những yếu tố tạo nên sự thay đổi đã manh nha từ năm 2009, nhưng chính Diễn đàn An ninh khu vực ARF 17 tại Hà Nội đã là điểm mốc đánh dấu bước ngoặt này với việc Mỹ khẳng định trở lại khu vực Đông Nam Á và có lợi ích quốc gia trong các vấn đề liên quan đến hàng hải và an ninh ở Đông Á. Có thể nói ARF 17 hé mở khuynh hướng khu vực hóa, quốc tế hóa hồ sơ Biển Đông, hoặc ít nhất thì tranh chấp Biển Đông cũng đã bắt đầu trở thành một trong những chủ đề thời sự nóng, thu hút sự quan tâm đặc biệt của dư luận. Lần đầu tiên, an ninh ở khu vực Biển Đông đã được công khai tranh luận tại một diễn đàn đa phương với sự tham dự của 27 quốc gia.11]Tiếp đó, ngày 8/7/2010, Phái đoàn thường trực của In-đô-nê-xi-a tại Liên Hợp Quốc đã có công hàm phản đối công hàm ngày 7/5/2009 của Phái đoàn thường trực Trung Quốc tại Liên Hợp Quốc về cái gọi là bản đồ yêu sách hình chữ U (hay đường đứt khúc 9 đoạn) trong Biển Đông “đối với chủ quyền không thể tranh cãi của Trung Quốc trên các đảo trong Biển Nam Trung Hoa và các vùng nước kế cận, cũng như các quyền chủ quyền và tài phán đối với các vùng nước, vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của chúng”.[12]
Sau ARF 17, rõ ràng an ninh ở Biển Đông là một hệ thống đa tầng nấc và đa vấn đề với đa đối tượng. Ở đây, có các vấn đề tranh chấp chủ quyền, lãnh thổ xảy ra giữa hai nước trong khu vực, ví dụ như tranh chấp quần đảo Hoàng Sa và các vùng nước liên quan. Bên cạnh đó, cũng có các vấn đề quốc tế liên quan đến các quốc gia bên ngoài khu vực như vấn đề an toàn và an ninh hàng hải qua các vùng biển quốc tế. Cùng với các tranh chấp về chủ quyền, còn có các vấn đề phát triển nghề cá và bảo vệ tài nguyên biển, chống các nguy cơ an ninh phi truyền thống, nghiên cứu khoa học biển, cứu hộ và cứu nạn… liên quan đến các nước ven biển, Trung Quốc và các nước ASEAN. Mặc dù giữa ASEAN và Trung Quốc đã ký Tuyên bố chung về Ứng xử của các bên ở Biển Đông song tuyên bố này đã không được thực thi trong suốt thời gian qua. Hiện tại, quan chức của các nước đang bàn thảo vấn đề thực thi Tuyên bố và đàm phán khả năng ký kết một Bộ luật ứng xử (COC) ở Biển Đông có tính ràng buộc cao hơn.
Ngày càng nhiều nước trên thế giới quan tâm hợp tác và mong muốn hiện diện trong khu vực này, tạo ra các lợi ích đan xen và cạnh tranh ở Biển Đông. Đây chính là hệ quả trào lưu thế giới ngày càng trở nên phẳng và phải đối đầu với nhiều thách thức toàn cầu như khủng hoảng kinh tế, biến đổi khí hậu, cấm sử dụng và phổ biến vũ khí hạt nhân, chạy đua vũ trang, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, quyền con người và chống khủng bố, chống cướp biển. Tất cả các quốc gia càng ngày càng phụ thuộc vào nhau. Hội nhập và sự phát triển hòa bình của mỗi quốc gia phụ thuộc vào an ninh khu vực và thế giới và ngược lại, không quốc gia nào có thể tách khỏi luật chơi chung.[13]
Tóm lại, sự căng thẳng của vấn đề Biển Đông cần được xem xét trong tổng thể lợi ích và các mối quan tâm của các nước có liên quan, trước hết là các nước trong khu vực, Trung Quốc và Mỹ. Những mối quan tâm đặc biệt hơn cả gồm: sự quan ngại về tham vọng của Trung Quốc; những nguy cơ về an ninh, tranh chấp trên biển; những bất đồng xung quanh căng thẳng giữa Hàn Quốc và CHDCND Triều Tiên về vụ chìm tàu Cheonan và về vấn đề hạt nhân của CHDCND Triều Tiên; việc Mỹ bán vũ khí cho Đài Loan; và các bất đồng về kinh tế - thương mại khác v.v… Ở một góc độ nào đó, Trung Quốc cũng phải cân nhắc trước khả năng bị cô lập và chịu sức ép của cộng đồng quốc tế trong vấn đề Biển Đông. Có không ít ý kiến cho rằng Trung Quốc nên tỏ ra bớt độc đoán và ngạo mạn, có thái độ hòa giải hơn. Thời báo Hoàn cầu ngày 27/7 có đoạn: “Trung Quốc phải tránh mở rộng vô tận những lợi ích sống còn của mình. Một cường quốc cũng có thể nhượng bộ về lãnh thổ, mà như vậy không có nghĩa là phải chịu hy sinh”. Thế giới đang hướng về Biển Đông để kiểm nghiệm xem, liệu Trung Quốc có thực sự “phát triển hòa bình”?./.
Đỗ Thanh Hải & Nguyễn Thùy Linh, Chương trình Nghiên cứu Biển Đông
[1]Ý kiến của các học giả tại Hội thảo Quốc tế về Biển Đông lần thứ hai tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh tháng 11/2010.
[2] Mark Valencia, Tham luận tại Hội thảo Quốc tế “Biển Đông: Hợp tác vì an ninh và phát triển trong khu vực” tại thành phố Hồ Chí Minh, tháng 11/2010.
Tranh giành quyền lực, ngân sách, xung đột thẩm quyền và phối hợp lỏng lẻo giữa các Bộ ngành của Trung Quốc là nguyên nhân dẫn đến những căng thẳng gần đây tại Biển Đông - Báo cáo tổng thể của Nhóm nghiên cứu khủng hoảng quốc tế (ICG)
KHUẤY ĐỘNG BIỂN ĐÔNG (I)
I. GIỚI THIỆU
Là một điểm nóng lớn trong xung đột tiềm tàng giữa Trung Quốc với các nước Đông Nam Á và Mỹ, Biển Đông có tầm quan trọng to lớn đối với hòa bình, ổn định và thịnh vượng của Châu Á – Thái Bình Dương. Trung Quốc (cả Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Trung Hoa Dân quốc), Việt Nam, Philippin và các quốc gia khác đều có yêu sách đối với một phần của Biển Đông. Trong khi những khu vực dọc theo bờ biển của các quốc gia này không phải là trọng tâm của tranh chấp, thì có rất nhiều các yêu sách chồng lấn đối với khu vực ngoài ngoài khơi xa như quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, và với một số bãi đá ngầm san hô và khu vực biển.[1] Ngoài khát vọng bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ, có rất nhiều sự quan tâm đối với Biển Đông bắt nguồn từ những nguồn tài nguyên phong phú và vị trí chiến lược của khu vực này.[2]
Với ước tính chiếm khoảng 10% lượng đánh bắt cá hàng năm trên toàn thế giới, Biển Đông trở nên cực kỳ quan trọng đối với ngành đánh bắt cá của các quốc gia ven biển.[3] Khu vực này cũng rất giàu có về cả dầu và khí ga tự nhiên, và do đó dẫn đến suy đoán rằng khu vực tranh chấp lãnh thổ có thể chứa những nguồn năng lượng tiềm năng rất quan trọng.[4] Tuy nhiên, do những căng thẳng, phần lớn lượng hydrocarbon ước tính trong khu vực như quần đảo Trường Sa vẫn chưa được kiểm chứng.
Biển Đông giữ một vị trí địa chiến lược quan trọng vận tải hàng hải quốc tế. Phần lớn vận chuyển năng lượng và nguyên liệu thô qua eo biển Malacca đều qua Biển Đông tới Trung Quốc và Nhật Bản. Hải quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLAN) đã nhận ra tầm quan trọng chiến lược của Biển Đông, và từng bước củng cố năng lực hải quân của mình trong khu vực. Mỹ cũng có những lợi ích trong việc bảo vệ những tuyến đường biển đi qua khu vực này, vì nước này xem những lợi ích hàng hải ổn định và không bị cản trở là điều thiết yếu đối với sự thịnh vượng và thương mại quốc tế.[5]
Trung Quốc, Việt Nam và Philippin đưa ra những yêu sách chủ quyền mạnh mẽ và đáng chú ý nhất đối với Biển Đông. Yêu sách của Trung Quốc đối với quần đảo Trường Sa có thể có những ảnh hưởng sâu rộng nếu nước này có ý định yêu sách toàn bộ những vùng đặc quyền kinh tế (sau đây sẽ gọi là EEZs) xung quanh những hòn đảo, dẫn tới chồng lấn đáng kể với vùng EEZs mà Philippin, Brunei, Malasysia và Việt Nam yêu sách. Trong khi Bắc Kinh có thể theo đuổi mục tiêu này thì họ cũng có thể cân nhắc về việc đòi hỏi “những quyền lịch sử” tại những vùng biển khác trong Đường Chín đoạn.[6] Điểm mập mờ là không rõ những yêu sách pháp lý của Trung Quốc là gì, và những nỗ lực mà Trung Quốc thể hiện nhằm thực thi chủ quyền trong khu vực ở quá xa bờ biển và không thuộc khu vực thuộc EEZ đã đặt Trung Quốc vào thế xung đột với các quốc gia yêu sách khác khi những khu vực này rất gần với bờ biển của họ.
Để củng cố những yêu sách của mình, các quốc gia trong khu vực đã tranh nhau chiếm đóng càng nhiều thực thể trên biển càng tốt. Điều này đã khiến Trung Quốc xung đột với Nam Việt Nam vào năm 1974 và với Việt Nam thống nhất vào năm 1988, trong khi lực lượng của một vài quốc gia thường quấy nhiễu và bắt giữ những tàu cá nước ngoài.[7] Hiện tại, Bắc Kinh kiểm soát toàn bộ Hoàng Sa và 15 bãi san hô và đá ngầm trong quần đảo Trường Sa.[8] Tất cả các thực thể khác đều do các bên yêu sách khác kiểm soát. Những quan ngại của khu vực đã dẫn tới việc ký kết Tuyên bố về Quy tắc Ứng xử của Các bên liên quan tại Biển Đông (DOC) giữa Trung Quốc và 10 quốc gia ASEAN vào năm 2002. Trong khi đây được coi là một bước tích cực hướng tới sự ổn định, thì mãi đến năm 2011 bản Hướng dẫn Thực hiện DOC kèm theo mới được thông qua.
Tuy nhiên xung đột cơ bản vẫn tồn tại vì một phần do bản tuyên bố không có ràng buộc pháp lý và không đáp ứng được những tiến triển hứa hẹn giải quyết tranh chấp. Trong những năm qua, số lượng những vụ va chạm giữa các lực lượng biển gia tăng một cách đột ngột, bao gồm cả những bế tắc căng thẳng giữa Trung Quốc và Philippin tại Bãi Hoàng Nham (Scarborough Reef) vào tháng 4 năm 2012. Điều này làm dấy lên quan ngại rằng Trung Quốc, Việt Nam và Philippin đang ngày càng quyết đoán trong vấn đề tranh chấp, gây nguy hại đến sự ổn định khu vực.
Bản báo cáo này dựa trên những cuộc phỏng vấn được tiến hành tại Bắc Kinh, Quảng Tây, Hải Nam, Hạ Môn, Hà Nội, Jakarta, Kuala Lumpur, Manila, Xinh-ga-po, Đài Bắc, Tokyo và Washington DC. Nhóm Nghiên cứu Khủng hoảng (Crisis Group) đã nói chuyện với rất nhiều người, bao gồm các quan chức, học giả, nhà ngoại giao, nhà báo và cả những người thuộc các ngành như nghề cá, du lịch và dầu khí. Hầu hết những người được hỏi đều được yêu cầu dấu tên do bản chất nhạy cảm của vấn đề. Bản báo cáo này tập trung vào những cơ quan, lực lượng (Players) chủ chốt ở Trung Quốc và những lợi ích của họ. Mặc dù những chuyển biến củakhu vực là nhân tố quan trọng trong chính sách của Trung Quốc tại Biển Đông, nhưng bản báo cáo này không thảo luận về những vấn đề này vì chúng thuộc chủ đề của một nghiên cứu khác.
II. VÙNG BIỂN ĐỘNG: NHỮNG CĂNG THẲNG TỪ NĂM 2009
A. ĐƯỜNG CHÍN ĐOẠN
Các yêu sách lãnh thổ mơ hồ của Trung Quốc và việc nước này từ chối công khai làm rõ yêu sách đã làm gia tăng quan ngại trong khu vực về việc Trung Quốc đang thể hiện một thái độ quyết đoán hơn tại Biển Đông, đặc biệt khi kết hợp với việc phát triển lực lượng hải quân của Trung Quốc và những hành động hiếu chiến của các cơ quan hải giám nước này.[9] Vào tháng 5 năm 2009, Việt Nam và Malasysia đã đệ trình lên Ủy ban Liên Hợp Quốc về Ranh giới ngoài của Thềm Lục địa (CLCS), nhằm mở rộng thềm lục địa của 2 quốc gia này tại Biển Đông vượt quá 200 hải lý thông thường.[10] Đáp lại, Trung Quốc đã đệ trình Công hàm lên CLCS tuyên bố rằng yêu cầu này vi phạm nghiêm trọng đến những quyền của Trung Quốc. Cùng với công hàm này, Trung Quốc đã đính kèm bản đồ đường 9 đoạn bao phủ phần lớn Biển Đông, bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.[11]
Trung Quốc đưa ra yêu sách lịch sử đối với các đảo và thực thể tại Biển Đông dựa trên các cuộc thám hiểm, hoạt động đánh bắt cá và các cuộc tuần tra hải quân.[12] Những người vẽ bản đồ hiện đại của Trung Quốc đã thể hiện khu vực đánh dấu bằng đường 9 đoạn vào bản đồ lãnh thổ của Trung Quốc vào đầu năm 1914.[13] Trung Hoa Dân quốc (ROC) dưới thời chính phủ Tưởng Giới Thạch đưa khu vực này vào bản đồ chính thức vẽ năm 1947 và đường 9 đoạn tiếp tục được thể hiện trong các bản đồ chính thức do Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (PRC) xuất bản. Trong khi Trung Quốc có một vài biện minh về những yêu sách lịch sử của mình, thì nước này đã phê chuẩn Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển (UNCLOS) vào năm 1996, Công ước này buộc các quốc gia phải từ bỏ phần lớn những yêu sách biển mang tính lịch sử của mình để phù hợp với những vùng biển mà Công ước đã đưa ra. Những yêu sách đối với các đảo và thực thể khác không bị ảnh hưởng bởi Công ước, nhưng bất kỳ yêu sách chủ quyền nào đối với những vùng biển phải là vùng lãnh hải hoặc EEZs được tạo ra từ các đảo và những hình thái địa chất khác phù hợp với UNCLOS.
Trích trong bản gốc tiếng Anh Stirring Up the South China Sea của International Crisis Group, Asia Report số 223, ngày 23 tháng 4 năm 2012
[1] Cả Trung Quốc và Philippin đều yêu sách Bãi cạn Scarborough. Tất cả các quốc gia này, kể cả Indonesia, yêu sách những phần của thềm lục địa cũng như lãnh hải 12 hải lý và EEZs 200 hải lý từ đường cơ sở được các quốc gia xác định xung quanh các đảo và bờ biển mà họ tuyên bố chủ quyền
[2] Về bản báo cáo trước của Crisis Group về những vấn đề tương tự, xem Asia Report N°108, North East Asia’s Undercurrents of Conflict, 15 tháng 12 năm 2005. Về các báo cáo trước đây về chính sách đối ngoại của Trung Quốc, xem Asia Report N°200, China and Inter-Korea Clashes in the Yellow Sea, 27 tháng 1 năm 2011; Asia Briefings N°112, China’s Myanmar Strategy: Elections, Ethnic Politics and Economics, 21 tháng 9 năm 2010; N°100, The Iran Nuclear Issue: the View from Beijing, 17 tháng 2 năm 2010; Asia Reports N°179, Shades of Red: China’s Debate over North Korea, 2 tháng 11 năm 2009; N°177, China’s Myanmar Dilemma, 14 tháng 9 năm 2009; N°166, China’s Growing Role in UN Peace-keeping, 17 tháng 4 năm 2009; N°153, China’s Thirst for Oil, 9 tháng 6 năm 2008.
[3] “Prospectus, Regional Workshop/Expert Consultation on the Identification of Critical Fishing Grounds and on Regional Habitat Rehabilitation and Management Approach”, Bangkok, 11-13 tháng 10 năm 2011.
[4] Một khảo sát địa chính trị của Mỹ năm 1993-1994 đưa ra con số là 28 tỷ thùng dầu trên toàn bộ Biển Đông, trong khi đó những ước tính của Trung Quốc lại tuyên bố tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có khoảng 105 tỷ thùng, tuy nhiên cả hai con số thống kê này vẫn chưa được chứng minh do thiếu việc khoan thăm dò. Dự trữ dự tính có thể sẽ thay đổi khi việc thăm dò trong tương lai tiếp tục. Khí ga tự nhiên có thể phong phú hơn hiều. Có rất nhiều con số dự đoán nhưng nguồn dự trữ được kiểm chứng thì hoàn toàn vẫn chưa có. Vào năm 2006, Công ty Năng lượng Canada là Husky Energy hợp tác với Tập đoàn dầu khí Ngoài khơi Trung Quốc (CNOOC) đã tuyên bố việc tìm thấy những nguồn khí ga tự nhiên có từ 4 dến 6 tỷ feet khối. Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ, “South China Sea”, www.eia.gov.
[5] Chiến lược Biển của Mỹ xuất bản năm 2007 tuyên bố rằng “lĩnh vực hàng hải …làhuyết mạnh của hệ thống toàn cầu kết nối mỗi quốc gia trên trái đất”. Bản Chiến lược cũng tuyên bố rằng Mỹ “sẽ không cho phép xảy ra bất kỳ hoàn cảnhnào mà lực lượng biển của Mỹbị cản trở tự do tập trận và tự do tiếp cận…và không cho phép bất kỳ ai làm gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu bằng việc mưu toan phong tỏa những tuyến đường biển giao thông và thương mại thiết yếu”. U.S. Navy, “A cooperative strategy for 21st century seapower”, tháng 10 năm 2007
[6] Đường 9 đoạn mô tả những yêu sách của Trung Quốc tại Biển Đông. Xem Phần II.A “Đường 9 đoạn” ở dưới.
[7] Năm 1974, cuộc chiến nổ ra giữa hải quân Trung Quốc và Nam Việt Nam khi Trung Quốc xâm lược phía tây quần đảo Hoàng Sa. Lực lượng của Việt Nam đã giao chiến với 4 tàu hộ tống nhỏ của PLAN và 2 tiểu đoàn của PLA trong trong cuộc đọ súng ác liệt khiến một tàu khu trục nhỏ của Việt Nam bị đánh chìm, 3 chiếc còn lại bị phá hủy, 53 lính Việt Nam bị chết. Thương vong phía Trung Quốc chưa bao giờ được xác định. Khi lực lượng của Việt Nam rời đi, Trung Quốc đã thiết lập sự kiểm soát toàn bộ lên quần đảo Hoàng Sa. Vào năm 1998, PLAN đã đụng độ với Việt Nam tại Đá Gạc Ma (Johnson South Reef) tại quần đảo Trường Sa khiến hải quân cả hai bên chịu đựng những thương vong nặng nề. Sự việc gần đây nhất giữa hải quân Trung Quốc với tàu của các quốc gia yêu sách khác, đã bắn và giết 9 ngư dân Việt Nam, làm bị thương 9 người khác tại Vịnh Bắc bộ vào ngày 8 tháng 1 năm 2005. Wu Shicun, Origin and development of Spratly disputes (China Economic Publishing House, 2009), tr. 88-89; Raul Pedrozo, “Beijing’s coastal real estate: a history of Chinese naval aggression”, Foreign Policy, 15 tháng 11 năm 2011; Stein Tønnesson, “Sino-Vietnamese rapprochement and the South China Sea irritant”, Security Dialogue, vol. 34, no. 1 (tháng 3 năm 2003).
[8] “中国移动完成南海海域七礁八点 信号全覆盖” [“Công ty truyền thông di động Trung Quốc lập các trạm phát sóng trên 7 đảo đá ngầm và 8 bãi tại Biển Đông”], Techweb, 16 tháng 3 năm 2012.
[9] Hiểu thêm về những yêu sách của Trung Quốc theo UNCLOS, xem Phần IV.A.5 “Thiếu sự minh bạch pháp lý”
[10] Bản đệ trình chung Việt Nam – Malasysia có hiệu lựcphần phía nam của Biển Đông giữa hai quốc gia, đây cũng là khu vực Philippin yêu sách một phần và Trung Quốc yêu sách phần lớn. “Ma-lai-xi-a-Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam nộp đơn chung lên Ủy ban về giới hạn thềm lục địa”, tháng 5 năm 2009
[11] Công hàm tuyên bố rằng “Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với các hòn đảo tại Biển Đông và các vùng biển liền kề, và được hưởng quyền chủ quyền và tài phán đối với các vùng biển liên quan cũng như đáy biển và lòng đất dưới đáy biển”, và kèm theo đó là bản đồ đường 9 đoạn. Công hàm của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa gửi đến Tổng thư ký Liên Hợp Quốc liên quan đến đơn nộp chung của Việt Nam và Ma-lai-xi-a xin mở rộng giới hạn rìa ngoài thềm lục địa”, CML/17/2009, 7 tháng 5 năm 2009.
[12] Shen Jiangming, “Chủ quyền của Trung Quốc đối với các đảo tại Biển Nam Trung Hoa: quan điểm nhìn từ góc độ lịch sử”, Chinese Journal of International Law, vol.1, issue 1 2002, tr. 94-157.
[13] Zou Keyuan, “đường biên giới đánh bắt cá truyền thống trên biển của Trung Quốc tại Biển Đông và các tác động về mặt pháp lý đến giải pháp tranh chấp lãnh thổ tại quần đảo Trường Sa”, International Journal of Marine Coastal Law, vol. 14, issue 1 (1999), tr. 52. Những bản đồ gốc biểu hiện một đường gồm 11 đoạn. Hai đoạn trong Vịnh Bắc bộ đã bị xóa vào những năm 1950.
Diễn đàn An ninh khu vực ARF khép lại hồi tháng 7 nhưng dư âm của nó còn kéo dài, làm nóng các trang báo ở các quốc gia liên quan, nhất là xoay quanh vấn đề Biển Đông, và trục quan hệ ASEAN - Trung Quốc - Mỹ.
Trong Tuyên bố của Chủ tịch hội nghị, các Ngoại trưởng thành viên ARF một lần nữa đã nhấn mạnh "tầm quan trọng của việc giữ gìn hòa bình và ổn định ở biển Đông", trên cơ sở thực hiện Tuyên bố về ứng xử giữa các bên ở biển Đông (DOC) và Công ước Luật biển của Liên Hợp Quốc (UNCLOS). Tại Hội nghị, đã có hơn một nửa trong tổng số 27 nước thành viên ARF, bao gồm cả các nước ASEAN lẫn các nước bên ngoài ASEAN, đề cập đến vấn đề hòa bình và ổn định ở biển Đông trong phát biểu của mình, cho thấy sự quan tâm rộng rãi của cộng đồng quốc tế đến vấn đề an ninh thiết thực này của khu vực.
Sau khi Hội nghị ARF Hà Nội kết thúc, giới học giả và truyền thông ở Trung Quốc cũng như các nước khác đã có nhiều ý kiến đánh giá tích cực những thành công của Hội nghị ARF đối với toàn khu vực. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng xuất hiện một số bình luận thái quá, có nội dung chỉ trích các nước ASEAN câu kết với Mỹ và các nước ngoài khu vực để chống Trung Quốc trong vấn đề biển Đông trên các diễn đàn đa phương. Luồng quan điểm tiêu cực này có khả năng gây ảnh hưởng không tốt đối với dư luận Trung Quốc và dư luận các nước ASEAN, không có lợi cho hợp tác trên biển Đông và quan hệ hợp tác toàn diện ASEAN-Trung Quốc.
Thực ra, phát biểu của các nước ASEAN về vấn đề biển Đông đã bị một số tác giả diễn giải sai lệch, và nếu ta bình tĩnh nhìn nhận đúng quan điểm của các nước ASEAN thì sẽ có lợi cho sự hiểu biết lẫn nhau giữa ASEAN và Trung Quốc, về lâu về dài tạo điều kiện thuận lợi cho việc giữ gìn môi trường hòa bình và ổn định ở khu vực.
Thực hư của vấn đề "quốc tế hóa" tranh chấp biển Đông
Việc đầu tiên cần thiết phải làm rõ là đánh giá đúng thực trạng tình hình tranh chấp ở biển Đông hiện nay để có thể khẳng định đây là một vấn đề an ninh thiết thực của khu vực, không thể không đề cập đến trong chương trình nghị sự của ARF hoặc các thể chế an ninh đa phương khác ở Châu Á-Thái Bình Dương. Nếu vấn đề tranh chấp biển Đông không nằm trong nội dung thảo luận thì chức năng, sứ mệnh của các diễn đàn an ninh này sẽ bị giảm đáng kể, thậm chí có nguy cơ mất vai trò.
Trên thực tế, vấn đề biển Đông luôn luôn là vấn đề ưu tiên, nổi trội trong chương trình nghị sự của ARF từ khi thành lập Diễn đàn cho đến nay chứ không phải bây giờ mới nêu lên. Trong thời gian gần đây, nhìn tổng thể thì tình hình biển Đông về cơ bản vẫn giữ được xu thế hòa dịu, nhưng đồng thời có xen lẫn một số diễn biến phức tạp có thể làm tổn hại đến đại cục. Điển hình là sự kiện Trung Quốc công khai hóa yêu sách "đường lưỡi bò" (còn gọi là đường đứt khúc 9 đoạn) trên biển Đông, ngang nhiên tuyên bố biển Đông xếp vào hạng "lợi ích cốt lõi" của Trung Quốc, cùng một loạt các hoạt động thiếu kiềm chế khác như bắt giữ ngư dân một số nước ASEAN và gây sức ép với các công ty dầu khí nước ngoài hoạt động trên biển Đông...
Trong bối cảnh như vậy, khó tránh khỏi một số nước trong và ngoài khu vực bày tỏ quan điểm một cách ôn hòa về vấn đề hòa bình, ổn định ở biển Đông tại Hội nghị ARF vừa qua, đồng thời nêu mong muốn các bên có liên quan tiếp tục kiềm chế, xử lý tranh chấp theo các chuẩn mực quốc tế như DOC và UNCLOS.
Việc một số bình luận trong báo giới Trung Quốc cho rằng đây chỉ là tranh chấp song phương giữa Trung Quốc và từng nước thành viên ASEAN, rằng các nước bên ngoài không nên can thiệp vào, đã làm không ít người ngạc nhiên, nhất là ở các quốc gia có bày tỏ quan điểm thiện chí tại Hội nghị ARF Hà Nội.
Thiết nghĩ về bản chất, tranh chấp chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa là vấn đề song phương giữa Việt Nam và Trung Quốc, nhưng tranh chấp chủ quyền quần đảo Trường Sa lại liên quan đến năm nước, sáu bên; đó là còn chưa kể đến các tranh chấp ranh giới trên biển rất phức tạp giữa nhiều bên trên biển Đông.
Nếu bản chất tranh chấp là song phương thì quả thật "đa phương hóa" chỉ làm phức tạp thêm tình hình, nhưng ngược lại nếu bản chất tranh chấp là đa phương thì cũng không thể giải quyết theo con đường song phương được; cũng giống như chơi trò ghép hình nhiều mảnh nhưng nếu có hai mảnh chỉ muốn ghép riêng với nhau thì không thể hoàn thiện bức tranh toàn cảnh được.
Hãy tạm gạt vấn đề tranh chấp chủ quyền sang một bên, vì quan tâm của các nước thành viên ARF không hẳn là vấn đề chủ quyền trên biển Đông, mà đúng hơn là vấn đề hòa bình, ổn định để phát triển ở khu vực - nội dung trọng tâm của diễn đàn ARF. Việc một số học giả Trung Quốc cho rằng tranh chấp chủ quyền trên biển Đông không liên quan gì đến tự do hàng hải, đến hòa bình ổn định ở khu vực tỏ ra không có sức thuyết phục.
Chúng ta đều biết rằng môi trường hòa bình ổn định ở khu vực phụ thuộc vào tình hình phát triển và liên kết kinh tế các quốc gia, mà trao đổi kinh tế giữa các nước Đông Á lại phụ thuộc rất lớn vào thương mại hàng hải. Các tuyến đường hàng hải huyết mạch ở biển Đông là các kênh vận tải chính của các nguồn năng lượng tối cần thiết cho sự phát triển của không chỉ Trung Quốc, các nước ASEAN, mà còn của Nhật Bản, Mỹ và nhiều nước khác.
Đó là còn chưa kể đến khía cạnh an ninh con người của biển Đông, vì xét đến thực tế là đời sống của nhân dân các nước khu vực phụ thuộc lớn vào kinh tế biển. Nếu tự do hàng hải ở biển Đông bị tắc nghẽn thì sẽ là một thảm họa đối với kinh tế và an ninh không chỉ của khu vực Đông Á mà còn ảnh hưởng đến kinh tế và an ninh toàn cầu.
Do vậy, một khi bản chất của vấn đề là đa phương, quốc tế thì việc chỉ trích một "âm mưu đa phương hóa, quốc tế hóa" nào đó sẽ trở nên vô nghĩa.
Cũng cần lưu ý rằng không có phát biểu nào tại Hội nghị ARF 17 ủng hộ hay bác bỏ tuyên bố chủ quyền của bất kỳ bên nào ở biển Đông, mà chỉ xoay quanh vấn đề duy trì hòa bình và an ninh ở biển Đông mà thôi. Như vậy, các quốc gia đề cập tới vấn đề biển Đông tại ARF 17 thực ra chỉ bày tỏ sự quan tâm tới vấn đề liên quan đến lợi ích quốc gia của chính họ và lợi ích của khu vực, chứ không phải tập hợp lực lượng để ủng hộ hay chống lại bất kỳ bên tuyên bố chủ quyền nào.
Ngay cả khi có sự trùng hợp quan điểm giữa các nước ASEAN với một số nước bên ngoài khu vực cũng là do sự tương đồng về lợi ích hòa bình ổn định chứ không phải "có tổ chức" như một số cáo buộc đã nêu.
Liên quan đến hiện tượng Mỹ điều chỉnh chính sách tái can dự đối với khu vực và phát biểu của Ngoại trưởng Mỹ tại Hội nghị ARF 17, đã xuất hiện một số lời chỉ trích các nước ASEAN theo đuôi Mỹ chống Trung Quốc trên biển Đông. Không may là hiện tượng này xảy ra gần thời điểm với sự kiện chìm tàu Cheonan Hàn Quốc và những cuộc tập trận quy mô ở Đông Bắc Á, cùng với sự gia tăng căng thẳng trong quan hệ Mỹ-Trung từ đầu năm tới nay.
Tuy nhiên, các nước ASEAN không hề muốn gây phức tạp thêm cho quan hệ Mỹ-Trung vì điều này không có lợi cho các nước vừa và nhỏ ở Đông Nam Á. Chính sách truyền thống của các nước ASEAN đối với các nước lớn là hoan nghênh sự đóng góp của các nước lớn cho an ninh và phát triển ở Đông Nam Á, nhưng đồng thời nêu cao tinh thần ZOPFAN là độc lập tự chủ trong quan hệ với nước lớn. Các nước ASEAN không hề muốn Mỹ thâu tóm các công việc nội bộ của khu vực hay muốn Mỹ dính líu đến các đòi hỏi chủ quyền ở biển Đông.
Do vậy, không nên nhìn quan hệ ASEAN-Trung Quốc dưới lăng kính quan hệ Mỹ-Trung như một số bài báo gần đây đã mắc phải, mà cần phải phân biệt rõ tính độc lập của quan hệ ASEAN-Trung Quốc và quan hệ ASEAN-Mỹ.
Triển vọng quan hệ hợp tác ASEAN-Trung Quốc trên biển Đông
Nếu như ta tỉnh táo gạt bỏ những diễn biến bên lề mà có thể che lấp bản chất tích cực của sự việc, thì quả thật sự thành công của Hội nghị ARF Hà Nội vừa qua là tín hiệu tốt đối với quan hệ ASEAN-Trung Quốc nói chung và vấn đề biển Đông nói riêng. Phát biểu của các nước ASEAN và các nước ngoài khu vực, kể cả phát biểu của Trung Quốc, đã thể hiện một không khí trao đổi thẳng thắn trên tinh thần xây dựng, làm tăng thêm mức độ hiểu biết lẫn nhau giữa các nước ARF.
Việc này cũng có thể xem là một tín hiệu cảnh báo sớm nhằm lưu ý các nước ASEAN và Trung Quốc trước sự xuất hiện của những yếu tố tiêu cực có khả năng làm ảnh hưởng tới tiến trình hợp tác giữa hai bên.
Tuy nhiên, các bên cũng phải biết tiếp tục kiềm chế để tránh những phản ứng thái quá mà có thể vượt ra khỏi mức độ hợp lý của sự việc. Với báo giới, điều này đòi hỏi một sự minh bạch thông tin và ứng xử công bằng đối với quan điểm của tất cả các bên liên quan, tránh những thành kiến có thể dẫn tới diễn giải sai bản chất của sự việc.
Thành công của Hội nghị ARF Hà Nội không nằm ngoài khuôn khổ những thành tựu kinh tế-chính trị gần đây trong quan hệ hợp tác toàn diện ASEAN-Trung Quốc. Có thể nói quan hệ ASEAN-Trung Quốc đang ở mức phát triển tốt đẹp nhất từ trước đến nay, một phần nhờ vào sự thực hiện chính sách láng giềng thân thiện của chính phủ Trung Quốc. Không nên để bất cứ vấn đề nào ảnh hưởng đến đại cục quan hệ ASEAN-Trung Quốc mà hai bên đã dày công xây đắp.
Ngoài ra, cũng cần phải cảnh giác trước một số thế lực quốc tế cố tình thổi phồng những vụ việc gần đây trên biển Đông nhằm ly gián quan hệ ASEAN-Trung Quốc, như một số học giả đã cảnh báo.
Nhìn chung, triển vọng xử lý xung đột ở biển Đông giữa ASEAN và Trung Quốc là tích cực, do thông qua Hội nghị ARF 17 các bên đã đạt được nhiều hiểu biết nhất định và gia tăng mức độ đồng thuận trên một số vấn đề có liên quan. Phía Trung Quốc đã nhấn mạnh các nước khu vực đều muốn tiếp cận vấn đề tranh chấp ở biển Đông một cách hòa bình trên bình diện quan hệ láng giềng thân thiện hữu hảo.
Như Tuyên bố của Chủ tịch ARF đã nêu, hai văn kiện DOC và UNCLOS tiếp tục được khẳng định là cơ sở quan trọng để xử lý vấn đề biển Đông trong tương lai, có hướng tới mục tiêu xây dựng Bộ quy tắc ứng xử khu vực trên biển Đông (COC). Các nước ASEAN và Trung Quốc cũng thỏa thuận tổ chức cuộc họp tiếp theo của Nhóm công tác liên hợp ASEAN-Trung Quốc về triển khai DOC trước cuối năm 2010.
Có thể nói Hội nghị ARF Hà Nội là bước chuyển tích cực trong quan hệ hợp tác ASEAN-Trung Quốc trong vấn đề biển Đông, sau một thời gian hợp tác giữa hai bên bị ngưng trệ kéo dài vì nhiều lý do khác nhau.
Khoảng thời gian từ sau Hội nghị ARF 17 đến cuối năm 2010 là khoảng thời gian thử thách quan trọng đối với hợp tác ASEAN-Trung Quốc. Hội nghị Cấp cao ASEAN tháng 10/2010 và các hội nghị có liên quan sẽ tổ chức tại Hà Nội là điểm nhấn trong các hoạt động ngoại giao đa phương trên toàn khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, trong đó ASEAN và Trung Quốc là các hạt nhân tích cực. ASEAN và Trung Quốc có trách nhiệm phát huy sự thành công của Hội nghị ARF 17, tiếp tục đẩy tới sự hợp tác trên vấn đề biển Đông để góp phần quan trọng vào sự nghiệp hòa bình ổn định của khu vực, xây dựng một "Châu Á hài hòa" như quan điểm chiến lược của lãnh đạo Trung Quốc.
Trước mắt, việc triển khai thực hiện DOC một cách chân thành là hoạt động thiết thực nhất, vừa góp phần xây dựng lòng tin giữa các bên vừa tạo điều kiện thuận lợi cho một giải pháp công bằng, có lý có tình đối với tranh chấp ở biển Đông trong tương lai.
Tác giả: TS. Nguyễn Nam Dương (Học viện Ngoại giao)
Nội dung của bài viết chỉ phản ánh quan điểm của cá nhân tác giả
Việc thiếu sự chỉ đạo nhất quán và phối hợp chặt chẽ về vấn đề Biển Đông trong nội bộ Trung Quốc, thêm vào đó là sự mơ hồ trong chính sách Biển Đông của chính quyền trung ương, các cơ quan, lực lượng liên quan đã lợi dụng điều này nhằm gia tăng lợi ích cục bộ của mình. Tất cả các nhân tố trên là nguyên nhân dẫn đến tình hình căng thẳng tại Biển Đông hiện nay
Ngày 23 tháng 4 năm 2012, Nhóm Khủng hoảng Quốc tế (International Crisis Group - ICG) đã có báo cáo tiêu đề “Khuấy động Biển Đông” đăng trên website của tổ chức này. Báo cáo dài 46 trang, bao gồm 7 chương do các học giả hàng đầu của ICG thực hiện, bàn về các nhân tố nội bộ Trung Quốc làm khuấy động Biển Đông trong 2-3 năm gần đây. ICG là một tổ chức nghiên cứu độc lập phi chính phủ, phi lợi nhuận có khoảng 130 thành viên từ các Châu lục khác nhau thực hiện các nghiên cứu các điểm nóng nhằm ngăn chặn và xử lý các xung đột có thể gây đến thiệt hại về người.
Nhận định của báo cáo cho rằng tình hình căng thẳng trên Biển Đông hiện nay chủ yếu do trong nội bộ Trung Quốc thiếu sự chỉ đạo nhất quán và phối hợp chặt chẽ giữa: (i) các cơ quan ra chính sách và các cơ quan thi hành luật; (ii)giữa các cơ quan chấp pháp ở Biển Đông; (iii) giữa chính quyền trung ương với chính quyền địa phương. Nguyên nhân chính do Trung Quốc hiện đang thiếu một cơ chế tập trung trong việc quản lý các vấn đề liên quan đến Biển Đông. Bên cạnh đó, sự yếu kém của các cơ quan quản lý dẫn đến có nhiều cơ quan cùng đưa ra chính sách tại Biển Đông, nhiều cơ quan cùng chấp pháp tại Biển Đông (9 con rồng) theo đuổi các lợi ích cục bộ khác nhau. Các cơ quan này trục lợi từ sự thiếu rõ ràng minh bạch trong chính sách quản lý Biển Đông của chính quyền Trung ương. Ngay cả chính quyền trung ương cũng trục lợi từ sự thiếu minh bạch này, điều này đang gây ra sự bất ổn định tại Biển Đông. Các nội dung cụ thể là:
1)Nguyên nhân tình hình căng thẳng tại Biển Đông:
Báo cáo chỉ ra các nguyên nhân chính từ nội bộ Trung Quốc dẫn đến căng thẳng Biển Đông gần đây là:
-Thiếu cơ chế điều phối tập trung từ trung ương, năng lực yếu kém và lợi ích cục bộ của các cơ quan chức năng chấp pháp ở Biển Đông: Do thiếu sự điều phối tập trung từ Trung ương, nhiều cơ quan chức năng liên quan tới Biển Đông cố gắng gia tăng sức mạnh và ngân sách, đã gián tiếp gây ra những căng thẳng tại Biển Đông. Bộ Ngoại giao Trung Quốc là cơ quan có vai trò điều phối, nhưng Bộ này lại không có nguồn lực cần thiết và khả năng chỉ đạo được các bộ ngành khác có liên quan. Hải quân Trung Quốc lợi dụng tinh thần dân tộc để tuyên bố chủ quyền lãnh thổ làm căng thẳng phức tạp thêm tình hình, đồng thời lợi dụng các căng thẳng trên Biển Đông để biện minh cho việc hiện đại hóa lực lượng. Việc gia tăng nhanh chóng số lượng và vai trò của các lực lượngbán quân sự chấp pháp trên Biển Đông, kể cả tại các khu vực có tranh chấp lãnh thổ, trong khi chưa có khuôn khổ pháp lý đầy đủ cho hoạt động của lực lượng này cũng gây gia tăng nguy cơ xung đột trên biển. Các lực lượng chấp pháp này có liên quan đến hầu hết các vụ việc căng thẳng gần đây, bao gồm cả sự kiện giữa Trung Quốc và Philippin tại Bãi Hoàng Nham (Scarborough Reef) trong tháng 4 năm 2012. Bất cứ một giải pháp trong tương lai nào đối với các tranh chấp tại Biển Đông đều cần có một chính sách nhất quán từ phía các cấp quản lý của chính phủ trung ương Trung Quốc và các lực lượng chấp pháp trên thực địa.
Báo cáo sử dụng thuật ngữ “Chín con rồng khuấy động biển khơi” để miêu tả việc thiếu sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan chấp pháp khác nhau thuộc chính phủ ở Biển Đông, nhưng trên thực tế báo cáo cho biết có nhiều hơn 9 con rồng, đó là: 1) Cục quản lý đánh bắt cá; 2) Hải giám; 3) Chính quyền địa phương; 4) Hải quân Giải phóng Nhân dân (PLAN); 5) Bộ Ngoại giao; 6) Các công ty năng lượng; 7) Tổng cục Quản lý Du lịch Quốc gia, 8) Bộ quản lý Môi trường, 9) Lực lượng tuần duyên thuộc Bộ Công An, 10) Cục chống Buôn lậu và Thuế quan thuộc Tổng cục Hải quan; 11) Cơ quan quản lý An toàn Hàng hải (MSA). Trong các con rồng này có 5 con rồng hoạt động mạnh nhất đó là Cục quản lý đánh bắt cá, Hải giám, chính quyền địa phương, PLAN và Bộ Ngoại giao. Hầu hết các cơ quan này không có kinh nghiệm về đối ngoại. Một số cơ quan thường có hành động hiếu chiến để cạnh tranh với các cơ quan khác trong việc xin phân bổ ngân sách. Một số cơ quan khác (chủ yếu là chính quyền địa phương) cố gắng mở rộng các hoạt động kinh tế trong các vùng tranh chấp nhằm mục tiêu tập trung vào tăng trưởng kinh tế. Mặc dù động cơ của các bộ ngành chỉ là tranh giành lợi ích cục bộ nhưng lại có tác động lớn đến đối ngoại.
- Sự thiếu minh bạch trong chính sách của chính quyền trung ương trong vấn đề Biển Đông: Vì Trung Quốc không có mục tiêu rõ ràng cái gì cần được bảo vệ ở Biển Đông nên việc điều hành các cơ quan chấp pháp ở Biển Đông cũng gặp nhiều khó khăn. Mặc dù Trung Quốc đã có nhiều biện pháp trấn an các nước láng giềng như công khai giải thích đường chín đoạn, nói không yêu sách toàn bộ Biển Đông và sẽ tuân theo Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển (UNCLOS) nhưng Trung Quốc cũngkhông thể dễ dàng nhượng bộ trong các tuyên bố chủ quyền của mình đối với các khu vực quan trọng trên biển và biện minh cho các tuyên bố này bằng lập luận lịch sử (người Trung Quốc đã hiện diện ở các đảo từ lâu đời). Chính quyền địa phương lợi dụng sự thiếu minh bạch này để thực hiện các hoạt động có lợi cho mình trong khu vực có tranh chấp.
- Chủ nghĩa dân tộc tại Trung Quốc:Trung Quốc đã có chủ ý sử dụng chủ nghĩa dân tộc trong tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông bằng cách nhấn mạnh khía cạnh lịch sử trong các tuyên bố chủ quyền của mình. Chính sách này đã dẫn đến việc gia tăng áp lực trong nước đối với chính quyền phải thực hiện các hoạt động khẳng định chủ quyền. Chính quyền trung ương Trung Quốc đã có thể kiềm chế chủ nghĩa dân tộc trong vấn đề Biển Đông nhưng tình hình nóng bỏng tại Biển Đông đã làm cho chính quyền trung ương ít có sự lựa chọn chính sách khác trong quản lý tranh chấp tại Biển Đông mà buộc phải nghiêng theo chủ nghĩa dân tộc.
2) Trung Quốc điều chỉnh chiến thuật mềm mỏng hơn trong xử lý các vấn đề tại Biển Đông từ giữa năm 2011: Giữa năm 2011, khi các căng thẳng trên biển dẫn đến việc các quốc gia láng giềng tìm cách tăng cường hợp tác quân sự với Mỹ, Trung Quốc đã điều chỉnh chính sách theo hướng mềm mỏng hơn trong vấn đề Biển Đông. Trung Quốc giảm tần suất các tuyên bố chủ quyền quá mạnh bạo, nhấn mạnh hơn vào việc duy trì nguyên trạng trên Biển Đông, nhưng vẫn cương quyết chỉ đàm phán song phương với các nước có yêu sách chủ quyền có liên quan. Trung Quốc chủ động hàn gắn quan hệ ngoại giao với các nước trong khu vực thông qua các chuyến thăm cấp cao song phương,và tăng cường tham dự vào các hoạt động đa phương, có các động thái như ký với ASEAN thỏa thuận Hướng dẫn triển khai Tuyên bố Ứng xử của các bên tại Biển Đông (DOC).
Về đối nội, Trung Quốc đã có các biện pháp giảm bớt tâm lý chủ nghĩa dân tộc và kiềm chế các hành động hiếu chiến do chính quyền địa phương thực hiện. Tuy có chú ý hơn tới Biển Đông, chính sách Biển Đông của chính quyền Trung ương vẫn không có sự điều phối hiệu quả từ trên xuống dưới. Nhiều nỗ lực không thành trong việc thành lập một cơ chế tập trung trong quản lý các vấn đề tranh chấp trên biển chứng tỏ lãnh đạo Trung Quốc hoặc chưa thực sự muốn xử lý vấn đề,hoặc vẫn chưa đủ tập trung vào vấn đề này, hoặc cũng có thể chính quyền trung ương Trung Quốc muốn duy trì sự mơ hồ thiếu rõ ràng này để trục lợi. Nếu như tình trạng này còn tiếp tục, việc tìm cách hàn gắn quan hệ ngoại giao của Trung Quốc với các nước trong khu vực sẽ khó có thể thực hiện được.
Báo cáo đi đến nhận xét rằng khả năng quản lý các mối quan hệ và giải quyết các tranh chấp tại Biển Đông sẽ là phép thử liệu sự trỗi dậy của Trung Quốc có hòa bình hay không.
Gần đây, Trung Quốc dường như đang theo đuổi cách tiếp cận mới ôn hòa hơn trong tranh chấp Biển Đông. Mục tiêu chủ yếu của chính sách thân thiện hơn là nhằm khôi phục hình ảnh của nước này ở Đông Á và ngăn chặn Mỹ thúc đẩy vai trò trong khu vực.Chưa biết cách tiếp cận mới của Bắc Kinh có thể kéo dài hay không, nhưng ít nhất nó cũng thể hiện Trung Quốc có thể điều chỉnh chính sách đối ngoại của họ.
Bắc Kinh công khai thách thức tính hợp pháp của các khoản đầu tư từ các công ty dầu lửa nước ngoài vào ngành năng lượng trên biển của Việt Nam và nhấn mạnh chủ quyền của Trung Quốc đối với các hòn đảo và các vùng nước cách xa đất liền Trung Quốc, bắt giữ hàng trăm ngư dân Việt Nam gần các hòn đảo bị Trung Quốc chiếm giữ, đồng thời quấy rối các tàu thuyền của Việt Nam và Philíppin đang thăm dò địa chấn ở các vùng biển mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền. Nhiều nước Đông Á coi thái độ của Trung Quốc như một dấu hiệu mới khẳng định Bắc Kinh sẵn sàng theo đuổi sức mạnh đối đầu và đơn phương hơn trong khu vực. Nhưng gần đây Trung Quốc theo đuổi cách tiếp cận mới ôn hòa hơn. Mục tiêu chủ yếu của chính sách thân thiện hơn là khôi phục hình ảnh của Trung Quốc ở Đông Á và ngăn chặn Mỹ thúc đẩy vai trò trong khu vực.Dấu hiệu đầu tiên thể hiện cách tiếp cận mới của Trung Quốc diễn ra tháng 6/2011, khi Hà Nội phái một quan chức ngoại giao đặc biệt đến Bắc Kinh để thảo luận những bất đồng trên biển giữa hai nước. Chuyến thăm mở đường cho một thỏa thuận tháng 7/2011 giữa Trung Quốc và 10 nước thành viên ASEAN về việc thực hiện Tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên Biển Đông năm 2002. Trong tuyên bố, các bên nhất trí “kiềm chế những hành động gây phức tạp hoặc leo thang các bất đồng”. Từ mùa Hè năm ngoái, các quan chức cấp cao Trung Quốc, đặc biệt các nhà lãnh đạo như Chủ tịch Hồ Cẩm Đào và Thủ tướng Ôn Gia Bảo, thường xuyên nhấn mạnh nguyên tắc chỉ đạo của Đặng Tiểu Bình khi giải quyết các xung đột trên biển của Trung Quốc là chú trọng hợp tác kinh tế đồng thời trì hoãn giải pháp cuối cùng của các tuyên bố quan trọng. Các phương tiện truyền thông của Trung Quốc cũng bắt đầu nhấn mạnh vấn đề hợp tác. Từ tháng 8/2011, Ban Quốc tế của tờ Nhân dân Nhật báo, dưới bút danh Chung Thanh, đã công bố nhiều bài viết khẳng định Trung Quốc sẽ ít đối đầu trên Biển Đông. Tháng 1/2012, Chung Thanh thảo luận tầm quan trọng của hợp tác để đạt được các kết quả cụ thể. Do tờ Nhân dân Nhật báo là tờ báo chính thức của Ban Chấp hành TW Đảng Cộng sản Trung Quốc, những bài báo như vậy có thể được coi là chủ trương của Đảng Cộng sản Trung Quốc nhằm giải thích chính sách mới đối với độc giả trong và ngoài nước.
Thực tế, Trung Quốc có nhiều tiến bộ trong việc gạt bỏ các bất đồng. Bên cạnh sự đồng thuận với ASEAN tháng 7/2011, tháng 10/2011 Trung Quốc đạt được một thỏa thuận với Việt Nam về “các nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết các vấn đề trên biển”. Thỏa thuận nhấn mạnh tuân thủ luật pháp quốc tế, đặc biệt Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển. Từ đó, hai nước thực hiện thoả thuận bằng cách thiết lập một nhóm công tác để phân chia ranh giới và phát triển khu vực phía Nam của Vịnh Bắc Bộ gần các hòn đảo tranh chấp. Trung Quốc cũng bắt đầu hoặc đã tham dự một số hội nghị nhằm giải quyết các mối lo ngại của khu vực trước sự quyết đoán của Bắc Kinh. Ngay trước khi Hội nghị cấp cao Đông Á tháng 11/2011, Bắc Kinh loan báo sẽ thiết lập quỹ 3 tỷ NDT (476 triệu USD) về hợp tác trên biển giữa Trung Quốc-ASEAN trong các lĩnh vực nghiên cứu khoa học, bảo vệ môi trường, tự do hàng hải, tìm kiếm và cứu hộ, chống tội phạm xuyên quốc gia trên biển. Sau đó, Trung Quốc tổ chức một số cuộc hội thảo về hải dương học và tự do hàng hải ở Biển Đông và tháng 1/2012, Bắc Kinh chủ trì một hội nghị của các quan chức cấp cao ASEAN nhằm thảo luận việc thực hiện Tuyên bố ứng xử năm 2002. Phạm vi của các hoạt động hợp tác cho thấy cách tiếp cận mới của Trung Quốc vẫn chỉ là chiến thuật tạm thời. Ngoài các nỗ lực mới để thể hiện Trung Quốc sẵn sàng theo đuổi cách tiếp cận hợp tác hơn, Bắc Kinh cũng ngừng thái độ quyết đoán hơn so với giai đoạn từ năm 2009-2011. Ví dụ, từ năm 2010, các tàu tuần tiễu của Cục Quản lý Đánh bắt cá Trung Quốc ít khi bắt giữ các ngư dân Việt Nam hơn (Từ năm 2005-2010, Trung Quốc bắt giữ 63 tàu thuyền đánh cá và ngư dân Việt Nam cho đến khi họ nộp đủ tiền phạt mới trả tự do). Các tàu thuyền của Việt Nam và Philíppin có thể tiến hành thăm dò dầu khí mà không bị Trung Quốc ngăn cản. Nhìn chung, gần đây Trung Quốc không gây khó khăn cho các hoạt động thăm dò ở các vùng biển mà Việt Nam và Trung Quốc đều tuyên bố chủ quyền. Rõ ràng, Trung Quốc kiềm chế can thiệp vào các hoạt động như vậy để chứng tỏ họ đang theo đuổi lựa chọn trở thành một nước láng giềng thân thiện hơn.
Nhưng tại sao Trung Quốc theo đuổi cách tiếp cận ôn hòa hơn như vậy? Hơn bao giờ hết, Bắc Kinh nhận ra rằng cách tiếp cận quyết đoán đang ảnh hưởng không tốt đến các lợi ích chính sách đối ngoại lớn hơn của Trung Quốc.Một nguyên tắc trong chiến lược quan trọng hiện nay của Bắc Kinh là duy trì quan hệ thân thiện với các nước lớn, các nước láng giềng chung biên giới và thế giới đang phát triển. Thông qua những hành động trên Biển Đông, Trung Quốc đã phá huỷ nguyên tắc này và làm mất đi hình ảnh thân thiện ở Đông Nam Á mà Trung Quốc xây dựng được trong thập kỷ trước. Bắc Kinh đã tạo nên mối quan tâm chung giữa các nước khu vực trong việc chống Trung Quốc và khiến các nước này quay sang tìm kiếm sự ủng hộ của Oasinhtơn. Bằng cách làm đó, hành động của Trung Quốc đã tạo cơ hội cho Mỹ can dự lớn hơn trong khu vực và đưa các bất đồng Biển Đông vào mối quan hệ Mỹ-Trung. Mùa Thu năm ngoái, Trung Quốc nhận thấy họ đã đi quá xa. Hiện nay Bắc Kinh muốn tăng hình ảnh ôn hòa hơn trong khu vực để ngăn chặn khả năng hình thành một nhóm nước châu Á liên kết với nhau chống Trung Quốc, ngăn chặn ý đồ của các nước Đông Nam Á thúc đẩy hơn nữa quan hệ với Mỹ, đồng thời làm suy yếu vai trò lớn hơn của Mỹ trong các bất đồng và khu vực. Đến nay, cách tiếp cận mới của Bắc Kinh dường như đang hiệu quả, đặc biệt với Việt Nam. Trung Quốc và Việt Nam đang tăng cường quan hệ thông qua các cuộc trao đổi cấp cao thường xuyên. Các chuyến thăm của Tổng Bí thư ĐCS Việt Nam Nguyễn Phú Trọng đến Bắc Kinh tháng 10/2011 và của Phó Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đến Hà Nội tháng 12/2011 nhằm củng cố tinh thần và bảo vệ mối quan hệ song phương rộng lớn hơn không bị ảnh hưởng bởi các bất đồng lãnh thổ trên Biển Đông. Tháng 10/2011, hai nước cũng nhất trí kế hoạch 5 năm nhằm thúc đẩy thương mại song phương lên 60 tỷ USD vào năm 2015. Và tháng 2/2012, bộ trưởng ngoại giao hai nước nhất trí thành lập các nhóm công tác về các vấn đề như tìm kiếm và cứu hộ trên biển, thiết lập đường dây nóng giữa hai bộ ngoại giao, bắt đầu đàm phán việc phân chia ranh giới Vịnh Bắc Bộ.
Mặc dù bầu không khí hiện nay trên Biển Đông có vẻ lắng xuống, nhưng Biển Đông có thể tiếp tục xảy ra những bất đồng trong thời gian tới. Bởi vì, thời tiết xấu đã hạn chế hoạt động của các tàu cá và các công ty dầu khí trên Biển Đông. Nhưng khi các hoạt động đánh bắt cá và thăm dò dầu khí trở lại trong mùa Xuân, các sự kiện có thể tăng lên. Nhưng cách tiếp cận mới của Trung Quốc khiến nhiều người hy vọng Trung Quốc sẽ tham gia các cuộc đàm phán về Bộ quy tắc ứng xử bắt buộc để thay thế Tuyên bố 2002 và tiếp tục hạn chế những hành động đơn phương. Nhưng do cách tiếp cận mới phản ánh lôgíc chiến lược, nó có thể kéo dài và cho thấy sự thay đổi chính sách đối ngoại quan trọng hơn của Bắc Kinh. Khi Đại hội Đảng lần thứ 18 đang đến gần, các nhà lãnh đạo Trung Quốc muốn một môi trường bên ngoài ổn định, vì sợ rằng một cuộc khủng hoảng quốc tế sẽ làm đảo lộn các kế hoạch thay thế lãnh đạo cuối năm nay. Và mặc dù sau khi các nhà lãnh đạo Đảng mới được bầu chọn, họ cũng sẽ tìm cách tránh các cuộc khủng hoảng quốc tế đồng thời củng cố quyền lực và chú trọng các thách thức trong nước. Cách tiếp cận ôn hòa hơn của Trung Quốc trên Biển Đông cũng cho thấy một bằng chứng nữa: Trung Quốc sẽ tìm cách tránh kiểu chính sách đối đầu như họ theo đuổi với Mỹ năm 2010. Như trong chuyến thăm Oasinhtơn hồi tháng Hai, ông Tập Cận Bình khẳng định Mỹ không cần lo sợ phản ứng của Bắc Kinh đối với chiến lược trở lại châu Á. Thay vào đó, Trung Quốc sẽ dựa vào các công cụ ngoại giao và kinh tế thông thường chứ không phản ứng quân sự trực tiếp đối với chiến lược này. Bắc Kinh cũng không thể quyết đoán hơn nếu điều đó khiến các nước Đông Nam Á tăng cường quan hệ với Mỹ. Chưa biết cách tiếp cận mới của Bắc Kinh có thể kéo dài hay không, nhưng ít nhất nó cũng thể hiện Trung Quốc có thể điều chỉnh chính sách đối ngoại của họ. Đây là dấu hiệu tốt cho sự ổn định trong khu vực.
Tác giả Taylor Fravel là Phó Giáo sư Khoa học Chính trị-thành viên Chương trình nghiên cứu an ninh của Viện Công nghệ Massachusetts
Tạp chí “Tri thức thế giới” số 4 có bài viết của tác giả Trương Hải Văn, cho rằng Trung Quốc tuyệt đối không được tự rơi vào trong chiếc bẫy, theo đó cứ mỗi khi bàn đến “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” hoặc bàn đến luật quốc tế là cho rằng Trung Quốc đuối lý nên phải né tránh.
Theo tác giả bài viết thì từ lâu nay, Trung Quốc vẫn áp dụng chính sách kiềm chế, không làm cho vấn đề Biển Đông nóng lên, không muốn nói đến, thậm chí là né tránh nhưng thực tế Trung Quốc tuyệt đối không phải vì không có căn cứ pháp luật. Ngày 27-1-2012 Ngoại trưởng Philíppin Rosario đã đưa ra tuyên bố xác nhận tin từ một số báo chí trước đó về việc Philíppin cho phép Mỹ mở rộng đóng quân tại nước này. Trong tuyên bố của Rosario còn nói đến việc Philíppin sẽ cùng với Mỹ tổ chức diễn tập quân sự hỗn hợp nhiều hơn. Ngoài ra, Bộ trưởng Quốc phòng Philíppin Voltaire T.Gazmin cùng ngày cũng cho biết Chính phủ Philíppin đang xem xét chấp nhận đề nghị của Mỹ để cho quân đội Mỹ bố trí tàu chiến và tàu trinh sát mới hơn. Ông Voltaire T.Gazmin nói “nếu thiếu sức mạnh răn đe này thì lãnh thổ của chúng tôi sẽ bị xâm lược. Hôm nay đã có người láng giềng tốt đó (nước Mỹ), chúng tôi sẽ không thể tiếp tục bị lừa gạt nữa”.Trước biểu hiện trên của Philíppin, các chuyên gia bình luận rằng điều này có thể sẽ có hiệu ứng kiểu mẫu nào đó trong số các nước hữu quan ở Biển Đông, khiến cho tình hình khu vực này phức tạp hơn.Trước đó ngày 14/1 tại Bắc Kinh, Trung Quốc và các nước ASEAN đã tổ chức Hội nghị quan chức cấp cao lần thứ tư về việc thực hiện “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông”, các bên đã nhất trí cho rằng cần nắm vững thời cơ có lợi nhân kỷ niệm 10 năm ký kết, thúc đẩy thực hiện toàn diện “Tuyên bố” nói trên. “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông” đã tồn tại được 10 năm nhằm mục đích “tăng cường sự tin cậy lẫn nhau, đẩy mạnh hợp tác, cùng bảo vệ hòa bình ổn định Biển Đông” nhưng vẫn cần phải được “thúc đẩy” và tiếp tục “đẩy mạnh” hơn nữa. Để đẩy mạnh hợp tác thực chất, tại hội nghị các nhà lãnh đạo Trung Quốc và ASEAN lần thứ 14 tháng 10 năm ngoái, một trong những đề xướng của Thủ tướng Ôn Gia Bảo về việc làm sâu sắc thêm hợp tác thực chất giữa Trung Quốc và ASEAN là mở rộng hợp tác thực chất trên biển, Trung Quốc sẽ thành lập Quỹ hợp tác trên biển Trung Quốc-ASEAN, đẩy mạnh hợp tác trong các lĩnh vực nghiên cứu khoa học và bảo vệ môi trường biển, liên hệ thông suốt với nhau, an ninh hàng hải và cứu hộ trên biển, tấn công tội phạm xuyên quốc gia. Trung Quốc đã đầu tư 3 tỉ nhân dân tệ cho quỹ này.
I- Tình hình Biển Đông hiện nay rốt cuộc là thế nào?
1/ Nhìn nhận vấn đề Biển Đông từ những góc độ khác nhau
Tác giả bài viết cho rằng nếu nhìn từ góc độ chính trị quốc tế và quan hệ giữa các quốc gia thì tình hình Biển Đông vẫn ổn định. Nói như vậy cũng có nghĩa là quan hệ giữa các nước khu vực Biển Đông cùng nước ngoài khu vực như Mỹ... với Trung Quốc, vẫn đang duy trì quan hệ chính trị, ngoại giao bình thường, khả năng xảy ra xung đột quân sự ở Biển Đông không lớn. Nhưng nếu nhìn từ góc độ khác thì vấn đề sẽ rất nhiều.Ví dụ, xét từ góc độ kiểm soát và sử dụng quyền phát ngôn thì hai năm trở lại đây, vấn đề Biển Đông bị nhào nặn trở thành một trong những vấn đề nóng ở khu vực. Trước năm 2010 chỉ cần Trung Quốc phản đối mạnh thì dù các nước xung quanh Biển Đông hay ngoài Biển Đông cũng đều không thể công khai bàn vấn đề tranh chấp Biển Đông tại các cơ chế hay hội nghị mang tính khu vực như Diễn đàn Khu vực ASEAN. Một số nước ASEAN như Việt Nam ... cùng với Mỹ, Nhật Bản... (là các nước ngoài khu vực), có thể tìm ra những tình huống và cơ hội để ngang nhiên bày đặt vấn đề Biển Đông, thậm chí chỉ trích Trung Quốc, Trung Quốc về cơ bản đều bị động và đáp lại một cách giản đơn, chưa bao giờ chủ động gây chuyện. Tại Diễn đàn khu vực ASEAN năm 2010, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc cũng là không kìm nén được mới phản bác lại cái gọi là ngôn luận về “bảo vệ tự do hàng hải ở Biển Đông” của Ngoại trưởng Mỹ H. Clinton. Nói tóm lại, quyền phát ngôn của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông hiện nay là bị động, đương nhiên đó chủ yếu bắt nguồn từ chính sách tự kiềm chế và chừng mực của chúng ta.Xét từ góc độ khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên thì vài năm gần đây, theo con số thống kê chưa hoàn toàn đầy đủ, mỗi năm các nước ven Biển Đông đã khai thác một khối lượng đến trên 5 triệu tấn dầu khí ở vùng biển tranh chấp thuộc Biển Đông, trong khi Trung Quốc đến nay còn chưa có lấy một giếng dầu ở vùng biển tranh chấp này. Vấn đề vẫn không chỉ có thế mà một thời kỳ rất lâu trước đó, các nước như Philíppin và Việt Nam khi muốn lôi kéo công ty dầu khí của nước phương Tây vào khai thác, thăm dò, thường còn kiêng dè đến phản ứng của Trung Quốc, nếu Trung Quốc phản ứng mạnh sẽ có phần thu hẹp khai thác hoặc dịu giọng, còn nay thì mạnh bạo rõ rệt, ngang ngược bày đặt. Ví dụ, hồi tháng 5 tháng 6 năm 2011, cái gọi là vấn đề Biển Đông nóng lên, chính là do Việt Nam bày trò “giặc kêu bắt giặc” mà thành chuyện. Hiện nay Philíppin và Việt Nam liên tục lợi dụng việc Trung Quốc băn khoăn không muốn dư luận quốc tế làm ầm ĩ vấn đề Biển Đông, mỗi khi muốn hợp tác với công ty dầu khí phương Tây thăm dò, khai thác ở vùng biển tranh chấp thuộc Biển Đông, các nước này lại tạo dư luận trước, để khi Trung Quốc đưa tàu hải giám đến làm nhiệm vụ ngăn chặn, sẽ tuyên bố Trung Quốc đã gây rắc rối cho việc thăm dò khai thác trên biển của họ. Nói như vậy cũng có nghĩa là trước đây Việt Nam và Philíppin chỉ vụng trộm khai thác, thăm dò nguồn dầu khí ở vùng biển tranh chấp thuộc Biển Đông, hiện nay không chỉ trắng trợn khai thác mà còn phản công trả đũa, đổ vấy trách nhiệm cho Trung Quốc gây căng thẳng cho tình hình Biển Đông. Đối với hành động nghiêm trọng tương tự như vậy của một số nước xung quanh, Trung Quốc hiện nay chủ yếu vẫn áp dụng phương thức kháng nghị ngoại giao, đồng thời cũng thực thi một số hành động chấp pháp bảo vệ chủ quyền.
Tuy nhiên nếu nhìn từ hiệu quả thực tế thì những biện pháp này không đủ để ngăn chặn hoặc làm thay đổi tình hình mà các nước xung quanh cướp đoạt nguồn tài nguyên dầu khí ở vùng biển tranh chấp đang ngày càng mạnh lên.Xét từ phương diện đánh bắt ngư nghiệp, hiện nay thuyền đánh bắt cá của ngư dân Trung Quốc thường xuyên bị bắt giữ ở Biển Đông và Đông Hải (Biển Hoa Đông). Khi bị nước xung quanh bắt giữ, ngư dân Trung Quốc sẽ bị phạt và tịch thu tàu, bị phạt tiền nặng và phải ngồi tù, đứng trước rủi ro khuynh gia bại sản.Năm 2011 Nhật Bản và Hàn Quốc mở rộng bắt bớ, thậm chí sẵn sàng áp dụng phương thức bạo lực đối xử với ngư dân Trung Quốc, cuối cùng dẫn đến hậu quả là hai bên đều có người thương vong nghiêm trọng. Trong khi đó, Trung Quốc trước sau vẫn kiềm chế, chưa bao giờ xử phạt nghiêm khắc đối với những ngư dân và tàu cá của một số nước cạnh Biển Đông đánh bắt trái phép.Xét từ góc độ so sánh lực lượng và xây dựng quan hệ chiến lược, từ năm 2010 đến nay, so sánh lực lượng ở khu vực Biển Đông đã có thay đổi to lớn, quan hệ chiến lược giữa các nước ngoài Biển Đông có bước phát triển mới. Nhìn trên tổng thể, về cơ bản đã hình thành mối quan hệ so sánh lực lượng trong đó một bên do Trung Quốc đứng đầu, bên kia là Mỹ và một số nước quanh Biển Đông như Việt Nam. Mối quan hệ đó được biểu hiện cụ thể qua hai phương diện sau:Một là, quan hệ giữa thế lực ngoài khu vực và các nước thuộc vùng biển xung quanh Biển Đông ngày càng chặt chẽ hơn. Từ năm 2010 đến nay Mỹ không ngừng gia tăng sự hiện diện quân sự ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Ngoài việc không ngừng che giấu củng cố quan hệ đồng minh quân sự với Hàn Quốc, Nhật Bản và Philíppin, đồng thời nhiều lần diễn tập quân sự chung, cuối năm 2011 Mỹ lại tuyên bố ký thỏa thuận với Ôxtrâylia thành lập căn cứ hải quân tại nước này và đưa lính tác chiến đến đóng ở đó. Một số nước cạnh Biển Đông cũng vậy, quan hệ quân sự Việt-Mỹ hiện nay là thời kỳ tốt nhất kể từ chiến tranh Việt Nam đến nay; Việt Nam cũng đã xây dựng và tăng cường quan hệ hợp tác quân sự với Ấn Độ và Nhật Bản, các nước này đều cam kết rõ cần phải giúp Việt Nam nâng cao khả năng quân sự trên biển. Philíppin, Inđônêxia cũng lần lượt nâng cấp quan hệ với Nhật Bản, và đã nâng quan hệ lên đến tầm cao đối tác chiến lược, tuyên bố phải bảo vệ “lợi ích chung” ở Biển Đông. Điều đặc biệt phải chú ý quan tâm là các mối quan hệ đối tác chiến lược này không còn là lời nói ngoại giao, mà đã được đưa vào trong hiệp định ký kết chính thức.Hai là, xét từ tình hình phát triển quan hệ giữa các nước tranh chấp Biển Đông, Việt Nam không ngừng điều chỉnh chiến lược Biển Đông, bao gồm phương châm và sách lược mà Việt Nam đối phó trong tranh chấp Biển Đông, bắt đầu gác lại tranh chấp với các nước khác ở Biển Đông như Philíppin, tích cực lôi kéo Philíppin và Malaixia nhằm mục đích cùng đối phó với Trung Quốc.
2/ Vì sao vấn đề Biển Đông gần đây nóng lên? Xu thế phát triển như thế nào?
Một vấn đề đáng phải suy xét sâu xa là từ thập niên 70 của thế kỷ trước đến nay tranh chấp Biển Đông đã diễn ra hàng chục năm nhưng về cơ bản các nước khác và Trung Quốc đều giữ lập trường giống nhau hoặc tương tự nhau, nghĩa là có tranh chấp nhưng không thổi phồng. Nhưng từ năm 2010 đến nay, vấn đề Biển Đông bị khuấy nóng lên, dường như hai năm qua Biển Đông đang không ngừng xuất hiện tranh chấp mới. Sự thực là, cái gọi là vấn đề Biển Đông hiện nay là bị người ta khuấy lên. Nhưng ai khuấy? Vì sao lại phải khuấy lên như vậy?Tác giả bài viết này cho rằng việc khuấy cho vấn đề Biển Đông nóng lên là một thủ đoạn mà Mỹ và một số nước tranh chấp Biển Đông đã phối hợp với nhau để giúp Mỹ nhanh chóng can thiệp vào vấn đề Biển Đông, tranh giành ảnh hưởng ở khu vực Biển Đông, và cũng để giúp các nước như Việt Nam tranh đoạt và củng cố lợi ích thực tế ở Biển Đông. Hơn nữa, nhìn từ tình hình hiện nay thì cách làm của các nước nói trên tỏ ra đã rất thành công. Từ năm 2010 đến nay Mỹ và Việt Nam cũng như nước khác đã lợi dụng mặt bằng đối thoại trên nhiều cấp độ của ASEAN, triển khai thế tiến công dư luận đối với Trung Quốc, đã hình thành môi trường dư luận cùng “lên án” Trung Quốc. Xét từ môi trường dư luận hiện nay thì dường như vấn đề Biển Đông là vấn đề mà một bên là Trung Quốc, bên kia gồm có một số nước Đông Nam Á và một số nước khác như Mỹ, Nhật Bản, là cuộc xung đột giữa lợi ích của Trung Quốc và “lợi ích chung” của cả một số nước nói trên ở Biển Đông. Tình hình như trên tỏ ra không phù hợp với sự thực khách quan. Xu thế về so sánh lực lượng như vậy ở khu vực Biển Đông từ trước đến nay chưa hề có.Vì thế, mục đích làm cho vấn đề Biển Đông nóng lên chính là để bóp méo hình ảnh của Trung Quốc, cô lập Trung Quốc để tạo môi trường dư luận, phục vụ cho Mỹ và Việt Nam cùng các nước tranh chấp Biển Đông khác xây dựng đại liên minh chiến lược chống Trung Quốc, bao vây Trung Quốc ở hướng Biển Đông. Hơn nữa, cho đến cuối năm 2011 liên minh này đã dần có hình hài, tiêu chí trực tiếp nhất là các loại quan hệ đối tác chiến lược đã được kết thành giữa các nước tranh chấp Biển Đông như Việt Nam và Philíppin với thế lực ngoài khu vực như Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ như đã nói trên, đặc biệt là quan hệ hợp tác quân sự không ngừng được tăng cường.Tuy nhiên các nước này cũng có tính hai mặt rất rõ. Một mặt, về phương diện an ninh, các nước này đều hy vọng dựa vào Mỹ để kiềm chế Trung Quốc, nhưng mặt khác về phương diện kinh tế, ở mức độ khác nhau các nước này phải dựa vào Trung Quốc để có được lợi ích kinh tế thực sự. Có hai ví dụ rõ nhất gần đây, một là tháng 10 năm 2011 Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam thăm Trung Quốc, trong khi ký kết thỏa thuận nguyên tắc chỉ đạo giải quyết tranh chấp Biển Đông, Chủ tịch nước Việt Nam cũng đồng thời đi thăm Ấn Độ, ký kết thỏa thuận hợp tác giữa hai nước ở Biển Đông. Hai là vào tháng 7 năm 2011 Ngoại trưởng Philíppin đi thăm Trung Quốc, sau khi tìm kiếm được lợi ích kinh tế từ Trung Quốc trở về lại lập tức tuyên bố đưa công ty dầu mỏ phương Tây vào khai thác ở khu vực tranh chấp thuộc Biển Đông. Việt Nam và Philíppin là các nước cạnh Biển Đông hết sức khéo lợi dụng cơ hội nhà lãnh đạo hai nước đi thăm lẫn nhau, vừa ca ngợi tình cảm hữu nghị với Trung Quốc, lại vừa nhân cơ hội để thực hiện hành động thăm dò, điều tra khai thác trên biển, tranh đoạt lợi ích thực tế.
Nói tóm lại, trong vấn đề đối phó tranh chấp Biển Đông, một số nước xung quanh có quy hoạch chiến lược và kế hoạch hành động, cũng có sách lược đấu tranh, rất giỏi lợi dụng thiện chí và chính sách kiềm chế của Trung Quốc để mưu tìm lợi ích tối đa ở ngoài khơi Biển Đông.Đương nhiên không thể phủ nhận được rằng xét từ phương diện lợi ích chiến lược thì các nước cạnh Biển Đông và thế lực ngoài khu vực như Mỹ đều hy vọng dựa vào vấn đề tranh chấp Biển Đông, triệt để làm to chuyện với Trung Quốc.Ngoài ra, tác giả bài viết cũng cho rằng tính đến cuối năm 2011, tình hình Biển Đông căng thẳng đã diễn biến đến bước ngoặt. Có hai lý do chủ yếu, một là mục đích thổi phồng vấn đề Biển Đông của Mỹ và các nước như Việt Nam cơ bản đã đạt được, tức đã tạo ra được môi trường dư luận hết sức bất lợi cho Trung Quốc, cô lập Trung Quốc, xây dựng được đại liên minh chiến lược cùng chống Trung Quốc và bao vây Trung Quốc ở hướng Biển Đông. Hai là từ tháng 1 năm 2012, Campuchia trở thành nước chủ tịch luân phiên mới của ASEAN, ở mức độ nào đó thực tế này sẽ làm yếu đi mức độ lợi dụng các diễn đàn ASEAN để công kích Trung Quốc của Mỹ và Việt Nam.Tuy nhiên, như mọi người đều biết, việc tranh chấp chủ quyền các đảo, bãi ngoài khơi và hoạch định ranh giới biển là vấn đề khó khăn mang tính toàn cầu. Ví dụ, nước Mỹ cần phải lần lượt đàm phán về khoảng 37 đường biên giới biển với ít nhất 13 nước láng giềng trên biển (là các nước Anh, Hà Lan, Canađa, Cuba, Mêhicô, Panama, Vênêxuêla, Nhật Bản, Inđônêxia, Philíppin, Niu Dilân, quần đảo Tây Samoa và Tônga) ở 5 khu vực (châu Âu, Bắc Mỹ, Nam Mỹ, châu Á và châu Đại Dương), ngoài phân định đường biên giới trên biển ở vịnh Maine với Canađa, phần lớn các đường biên giới còn lại chưa được giải quyết. Nhật Bản cũng tồn tại vấn đề phân định biên giới biển với tất cả các nước láng giềng, và còn có tranh chấp chủ quyền về các đảo với Nga, Bắc Triều Tiên, Hàn Quốc và Trung Quốc, tất cả đều chưa được giải quyết hoàn toàn.Xét từ thực tiễn quốc tế thì công việc hoạch định biên giới biển hoặc giải quyết một tranh chấp nào đó về biển, thông thường đòi hỏi thời gian hàng chục năm, là “cuộc chiến lâu dài đặc biệt”. Hơn nữa, với những kiến thức thông thường và là một nguyên tắc quan trọng như mọi người đều biết thì việc giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia là trách nhiệm chung của các bên tranh chấp, đòi hỏi các bên cùng nỗ lực và có thiện chí, tuyệt đối không phải bất cứ nước đương sự nào đơn phương có thiện chí và kiềm chế mà có thể giải quyết dứt điểm được vấn đề. Vì thế, cũng như rất nhiều vùng biển quốc tế khác, trong thời gian tương đối dài tới đây vấn đề tranh chấp Biển Đông sẽ vẫn là một đề tài quan trọng để các nước hữu quan công kích Trung Quốc, tại vùng biển tranh chấp cục bộ ở Biển Đông khả năng mâu thuẫn bị kích hoạt gay gắt cũng vẫn tiếp tục.
II- Tính chất hợp pháp trong chủ trương của Trung Quốc về quyền lợi ở Biển Đông
Hiện nay xuất hiện một luận điệu cho rằng Trung Quốc không chiếm ưu thế pháp lý trong vấn đề Biển Đông. Thậm chí có người còn cho rằng “đường đứt đoạn Biển Đông” của Trung Quốc không có cơ sở luật pháp. Tuy nhiên, sự thực là như thế nào?Những năm gần đây Mỹ, Nhật Bản cùng với các nước Biển Đông như Philíppin, Việt Nam và Malaixia trong những khung cảnh khác nhau đã nhiều lần tuyên bố “phải căn cứ theo luật quốc tế, trong đó có ‘Công ước của Liên hợp quốc về luật biển’ để giải quyết vấn đề tranh chấp Biển Đông”. “Trung Quốc phải tuân thủ quy tắc luật quốc tế”, “đường đứt đoạn theo chủ trương của Trung Quốc không phù hợp với ‘Công ước của Liên hợp quốc về luật biển’”, thậm chí có một số người gọi là học giả còn đề xuất “phải lấy ‘Công ước của Liên hợp quốc về luật biển’ làm căn cứ để giải quyết vấn đề Biển Đông”. Những cách nói như trên thoạt nghe có vẻ khác nhau nhưng trên thực tế dụng ý và mục đích là như nhau, đó là chỉ trích chủ trương của Trung Quốc về vấn đề Biển Đông là không phù hợp với luật quốc tế, yêu cầu Trung Quốc từ bỏ chủ trương về quyền lợi ở Biển Đông. Nhưng có một sự hiểu biết thông thường cơ bản là luật quốc tế phải yêu cầu các nước tuân thủ chứ không thể chỉ yêu cầu Trung Quốc tuân thủ. Bởi dung lượng bài viết có hạn, tác giả bài viết không thể xuất phát từ góc độ chuyên ngành pháp luật quốc tế để trả lời những vấn đề nói trên, mà chỉ dẫn một số ví dụ từ hai phương diện để làm rõ vấn đề, xem Mỹ, Nhật Bản, cùng với Philíppin đã “tôn trọng” và “tuân thủ” luật pháp quốc tế như thế nào.
1/ Mỹ và Nhật Bản là những ví dụ điển hình về không tôn trọng và không tuân thủ “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển”
Hiện nay cả thế giới đã có hơn 160 nước phê chuẩn “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển”, trong đó ngoài bao gồm tuyệt đại đa số các nước ven biển, còn có rất nhiều nước trong nội địa. Tuy nhiên Mỹ là nước đến đâu cũng chỉ trích nước khác không tuân thủ “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” nhưng đến nay vẫn từ chối phê chuẩn Công ước này. Nguyên nhân căn bản là, nếu phê chuẩn thì hải quân Mỹ sẽ bị hạn chế hoặc bị ảnh hưởng ở mức độ rất lớn chứ không thể được tự do hoạt động trên các vùng biển toàn cầu. Vì thế, có một vấn đề khiến người ta rất nghi hoặc là với tư cách là nước không tôn trọng và không phê chuẩn “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển”, chỉ chọn những điều khoản có lợi chứ không tuân thủ những điều khoản không có lợi cho mình trong công ước này để thi hành, vậy nước Mỹ có tư cách gì để chỉ trích Trung Quốc là nước đã ký kết tham gia công ước?Xem xét tiếp Nhật Bản, nước này đã ngang nhiên vi phạm điều 121 trong “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” quy định rõ về mặt pháp luật các đảo và bãi đảo. Nhật Bản từ lâu đã đầu tư rất nhiều tiền và nhân lực để xây dựng, củng cố nhân tạo đối với bãi san hô Okinotori mà trên thực tế chỉ là bãi đá (tức không thể có được thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế), diện tích chỉ bằng khoảng “chiếc giường đôi”, hòng biến bãi đá này thành “đảo” theo ý nghĩa pháp luật (tức có thể dựa theo luật pháp để chủ trương vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa). Năm 2009 Nhật Bản đã nộp lên Ủy ban ranh giới thềm lục địa Liên hợp quốc hồ sơ hoạch định thềm lục địa ngoài 200 hải lý (hoạch định ranh giới kéo dài tối đa của thềm lục địa tự nhiên của nước mình), không những đã chính thức hoạch định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 200 hải lý cho bãi Okinotori, mà còn hoạch định thềm lục địa ngoài 200 hải lý, diện tích lần lượt là hơn 400 nghìn km 2 và hơn 700 nghìn km 2 , còn lớn hơn nhiều so với cả lãnh thổ của bản thân nước Nhật vốn chỉ khoảng hơn 300 nghìn km 2 . Đối với việc làm vi phạm rõ rệt “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” nói trên của Nhật Bản, Mỹ không chỉ im hơi lặng tiếng, không một lời đả động đến mà còn bằng mọi cách ngăn cản và phản đối việc Trung Quốc đề cập vấn đề này tại hội nghị các nước tham gia công ước.Ngày 16/1/2012, Nhật Bản tuyên bố sẽ đặt tên cho các đảo không người ở trong đó có 4 hòn đảo thuộc quần đảo Điếu Ngư, Trung Quốc đã có bất đồng nghiêm trọng đối với Nhật Bản về vấn đề này, cho biết rõ mọi việc làm đơn phương đối với đảo Điếu Ngư và các đảo phụ thuộc xung quanh đảo Điếu Ngư đều là hành động trái phép và không có hiệu lực pháp lý. Rất dễ để có thể nhận ra ý đồ của Nhật Bản rằng thông qua phương thức đặt tên trước để biểu thị nước này có chủ quyền đối với các bãi, đảo tranh chấp nói trên, tiếp theo sẽ phỏng theo cách làm đối với bãi Okinotori, coi các bãi đảo không người ở như vậy là những điểm cơ bản về lãnh hải, đạt mục đích quản lý vùng biển Hoa Đông và vùng đặc quyền kinh tế cũng như thềm lục địa ở phạm vi lớn hơn nữa mà họ chủ trương. Trong bối cảnh tự mình rõ ràng không tuân thủ như vậy, Nhật Bản cũng có tư cách gì để “chỉ đạo” nước khác phải tuân thủ luật quốc tế?
2/ Philíppin đã vi phạm những luật quốc tế nào?
Hiện nay chủ trương lãnh thổ của Philíppin ở các đảo, bãi thuộc Biển Đông gồm hai bộ phận lớn: Thứ nhất, đặt tên cho một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa thành cái gọi là “quần đảo Kalayaan” để chủ trương thuộc về lãnh thổ của Philíppin. Hai là, chủ trương đảo Hoàng Nham của Trung Quốc cũng thuộc về quyền sở hữu của Philíppin. Trên thực tế, xét từ góc độ luật pháp quốc tế để nhận định chủ trương của Philíppin về những phần lãnh thổ nói trên có hợp pháp hay không thì đó là vấn đề rất đơn giản, tức Philíppin hoạch định những đảo, bãi này vào phạm vi lãnh thổ của họ vào lúc nào. Về vấn đề này, tác giả bài viết và một số đồng nghiệp đã tiến hành phân tích, nghiên cứu tất cả những pháp luật và điều ước về việc hoạch định phạm vi lãnh thổ của Philíppin trong lịch sử của nước này. Ví dụ, trong lịch sử, Philíppin đã lần lượt từng là thuộc địa của Tây Ban Nha và Mỹ, còn những hiệp ước hoạch định phạm vi lãnh thổ của Philíppin khi đó có “Hiệp ước Pari” năm 1898, “Hiệp ước Oasinhtơn” năm 1900; sau khi Philíppin độc lập, năm 1951 lại ký hiệp định song phương với Mỹ là “Hiệp ước phòng thủ chung Mỹ-Philíppin”. Những hiệp ước nói trên đã quy định Mỹ có nghĩa vụ bảo vệ cho lãnh thổ Philíppin không bị xâm lược. Vì thế trên thực tế cũng đã phân định phạm vi lãnh thổ của Philipin một cách tương ứng. Tuy nhiên, trong tất cả những hiệp ước nói trên đều không hoạch định cái gọi là “quần đảo Kalayaan” và đảo Hoàng Nham vào trong phạm vi lãnh thổ của Philíppin. Trên thực tế, đến năm 2009, Philíppin mới cho ra đời dự luật số 2699 (gọi là “Dự luật về vấn đề liên quan đến điểm cơ bản về lãnh hải”), lần đầu tiên mới đưa “quần đảo Kalayaan” và đảo Hoàng Nham vào làm lãnh thổ của Philíppin. Như vậy rõ ràng việc làm nói trên của Philíppin là phi pháp. Cho dù không xuất phát từ góc độ chuyên ngành về luật quốc tế để phân tích, mà chỉ cần nói theo sự hiểu biết thông thường, nếu một nước thông qua quá trình lập pháp của nước mình là có thể lấy lãnh thổ của nước khác nhập vào cương vực của nước mình, lấy đó làm của mình thì bản đồ thế giới sẽ phải yêu cầu vẽ lại rất nhiều rồi.
Hơn nữa, luật quốc tế còn có một quy tắc gọi là xác định ngày tháng then chốt, cũng là nói trước hết phải tìm ra được thời điểm xảy ra tranh chấp, phán quyết rõ sự thực lịch sử trước thời điểm đó là gì, đối tượng tranh chấp ở vào trạng thái như thế nào, tức là trước khi xảy ra tranh chấp, lãnh thổ đó thuộc về nước nào. Sau khi xảy ra tranh chấp thực tế như thế nào, nước có quyền lợi từ trước đó có phải đã từ bỏ quyền lợi của mình hay không, nước đương sự tranh chấp khác đã áp dụng hành động gì, có hiệu lực pháp lý quốc tế hay không. Sự thực pháp luật không thể bóp méo là: Sau năm 2009, Philíppin mới chính thức hoạch định cái gọi là “quần đảo Kalayaan” và đảo Hoàng Nham vào lãnh thổ của nước họ về mặt luật pháp. Dù không nói đến lịch sử lâu dài, chỉ cần nói đến tình hình từ khi thành lập nước Trung Quốc mới, ngay từ năm 1958 Trung Quốc đã quy định cả bốn quần đảo ở Biển Đông với các đảo khác vào trong phạm vi lãnh thổ của Trung Quốc rồi. Sau đó, trong “Luật lãnh hải và vùng giáp ranh Nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa” và trong những lần tuyên bố ngoại giao, Trung Quốc luôn nhấn mạnh chủ quyền của mình đối với các đảo Biển Đông, trong đó có quần đảo Trường Savà đảo Hoàng Nham, hơn nữa đến nay vẫn chưa bao giờ từ bỏ. Trên thực tế, năm 2009 Philíppin thông qua dự luật nói trên là hành động “có tật giật mình” của kẻ gian, vì Philíppin thấy mình căn bản không có cơ sở pháp luật để chủ trương “quần đảo Kalayaan” và đảo Hoàng Nham thuộc chủ quyền của mình nên mới phải cho ra đời dự luật mới này để lấp đi chỗ khuyết thiếu nghiêm trọng này. Nhưng nếu chiểu theo luật pháp quốc tế thì cách làm luật nói trên của Philíppin rõ ràng không có được tính hợp pháp, dự luật nói trên cũng tuyệt đối không thể có hiệu lực. Còn nước bảo hộ của Philíppin là nước Mỹ lại không có bất cứ ý kiến bình luận gì đối với việc làm như vậy của Philíppin.
3/ “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” không thể được dùng để chứng minh thuộc chủ quyền lãnh thổ hoặc giải quyết vấn đề tranh chấp chủ quyền lãnh thổ
Nhận định vấn đề thuộc chủ quyền lãnh thổ hoặc giải quyết tranh chấp chủ quyền lãnh thổ phải căn cứ theo các quy tắc và nguyên tắc trong luật quốc tế ở rất nhiều phương diện chứ tuyệt đối không phải quy định trong một công ước nào đó. Đây là một kiến thức thông thường hết sức rõ ràng trong lý luận và thực tiễn về luật pháp quốc tế. Căn cứ luật pháp quốc tế để giải quyết tranh chấp lãnh thổ ít nhất bao gồm những quy tắc và nguyên tắc theo luật quốc tế như quy tắc có được lãnh thổ, quy tắc xác định thời gian, quy tắc xác định ngày tháng then chốt, quy tắc không truy ngược quá khứ, nguyên tắc cấm phản ngôn và quy tắc quyền lợi mang tính lịch sử.Một điều hết sức cần thiết phải chỉ rõ là những quy tắc nói trên đều không phải là quy định trong “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển”. Xét từ quy định trong bản thân “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” thì trong Lời nói đầu của Công ước đã chỉ rõ là “trong điều kiện tính đến chủ quyền của tất cả các nước, xây dựng một trật tự pháp luật về biển...”. Như vậy có nghĩa là trật tự biển được xây dựng theo yêu cầu của công ước nói trên là xuất phát từ một tiền đề, đó là không thay đổi chủ quyền quốc gia đã có.Một trong những căn cứ của luật quốc tế trong việc phán đoán quy thuộc chủ quyền lãnh thổ là quy tắc có được lãnh thổ, quy tắc này không quy định trong “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển”. Xét từ ý nghĩa lịch sử thì quy tắc có được lãnh thổ đã bao hàm rất nhiều quy tắc liên quan, bao gồm phát hiện, chiếm trước, chiếm lĩnh hữu hiệu và quản lý hữu hiệu v.v., đòi hỏi phải xuất phát từ nhiều góc độ và phương diện để phán đoán một quốc gia có chủ quyền đối với một phần lãnh thổ nào đó có hợp pháp hay không, mọi việc làm của quốc gia đó có hiệu lực theo luật quốc tế hay không. Từ các thời Tống, Nguyên, Thanh đến nay Trung Quốc đã trải qua nhiều thực tiễn qua các thời kỳ xã hội, qua nhiều triều đại, nhất là các đời chính phủ ở thời kỳ cận đại và hiện đại, đặc biệt bao gồm những thực tiễn về việc phát hiện, chiếm trước, quản lý hữu hiệu, đã có được chủ quyền lãnh thổ đối với các đảo ở Biển Đông một cách hữu hiệu.Còn một điều vẫn phải nói rõ rằng tiêu chuẩn và yêu cầu về luật quốc tế qua các thời kỳ lịch sử đối với một quốc gia có một lãnh thổ hợp pháp hay không là không giống nhau. Ví dụ, luật quốc tế thời cổ đại là ai có sức mạnh cưỡng chiếm, người ấy sẽ có được lãnh thổ, luật quốc tế thời cận đại cũng cho phép dùng vũ lực cưỡng đoạt chủ quyền lãnh thổ. Chẳng hạn như sau khi chiếm lĩnh nhiều đảo ở Nam Thái Bình Dương, nước Pháp đã có được chủ quyền ở những đảo đó. Nhưng luật quốc tế ở thời kỳ hiện đại là cấm dùng vũ lực để có được lãnh thổ, ví dụ rõ nhất là Nhật Bản trong thời kỳ Chiến tranh Thế giới thứ Hai đã chiếm các bãi, đảo ở Trường Sa và Đài Loan của Trung Quốc, những việc làm đó đều thuộc về hành vi trái phép. Vì thế, sau khi thất bại, Nhật Bản đã phải trả lại các vùng lãnh thổ chiếm đóng nói trên. Chính phủ Quốc dân ở Trung Quốc lúc đó đã đưa hạm đội với tàu đi tiên phong là tàu “Thái Bình” đến Biển Đông tiếp nhận những bãi, đảo đã bị Nhật Bản chiếm đóng. Đảo Thái Bình chính là được đặt tên theo con tàu đó. Trong nhiều đảo ở Biển Đông hiện nay, có rất nhiều bãi và đảo đều được đặt theo tên các tàu thuyền, thuyền trưởng hoặc nhân vật lịch sử đã đến các đảo ở Biển Đông để tuyên thị và bảo vệ chủ quyền. Ví dụ như bãi cát Đôn Khiêm chính là tên của Thuyền trưởng Lý Đôn Khiêm chỉ huy tàu chiến có tên hiệu là “Trung Nghiệp” mà Chính phủ Trung Quốc năm 1946 đã điều ra tiếp nhận quần đảo Trường Sa.
Việc nhận định chủ trương quyền lợi của các nước ở Biển Đông hoàn toàn không phải chỉ có “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển”, mà còn phải dựa vào một quy tắc quan trọng khác trong luật quốc tế là quy tắc xác định thời gian, nghĩa là một hành vi nào đó trong lịch sử chỉ cần phù hợp với luật quốc tế ở thời kỳ lúc đó, thì hành vi đó sẽ là hành vi hợp pháp hữu hiệu. Cùng với quá trình phát triển của những quy tắc liên quan trong luật pháp quốc tế, những hành vi liên quan đến những quy tắc này cũng phải đổi mới và phát triển theo. Hàng trăm năm trước đây người Trung Quốc đã thông qua các phương thức phát hiện và chiếm hữu để có được quyền lợi sơ bộ đối với các đảo Biển Đông mà lúc đó chưa thuộc về bất cứ nước nào. Sau đó chính phủ qua các nhiệm kỳ đã thông qua các phương thức đặt tên cho các đảo và công bố bản đồ tương ứng, hoạch định các đảo đó vào khu vực hành chính địa phương, đưa tàu ra tuyên bố chủ quyền và tuần tra, tổ chức và quản lý các hoạt động của xã hội đến Biển Đông đánh bắt cá, đối phó với các hoạt động xâm phạm chủ quyền của nước ngoài, xây dựng luật hiện đại, từng bước có được chủ quyền lãnh thổ đối với các đảo ở Trường Sa. Thực tiễn qua các thời đại ở Trung Quốc không chỉ hoàn toàn phù hợp với quy tắc có được lãnh thổ lúc đó, mà cũng phù hợp với quy tắc có được lãnh thổ theo luật quốc tế cận đại và hiện đại. Vì thế, theo quy tắc về xác định thời gian thì việc Trung Quốc có được chủ quyền lãnh thổ đối với các đảo ở Biển Đông là hợp pháp, hữu hiệu. Trong tất cả các nước tranh chấp ở Biển Đông, chỉ có Trung Quốc là có căn cứ lịch sử dài đến mấy trăm năm. Mọi nhận định của quốc tế liên quan đến tranh chấp lãnh thổ đều cho thấy ý nghĩa phán định của những căn cứ lịch sử đối với chủ quyền lãnh thổ quốc gia là có vai trò to lớn. Vì thế, không thể nói một cách đơn giản rằng đã có “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” mới thì căn cứ lịch sử sẽ không còn hiệu lực. Ví dụ như vụ phân xử của Tòa án quốc tế về đảo Pedra Branca theo cách gọi của Xinhgapo hoặc đảo Pulau Batu Puteh theo cách gọi của Malaixia: Như mọi người đều biết, Xinhgapo là được độc lập từ Malaixia nên Tòa án quốc tế khi xử vụ tranh chấp này đã đưa ra tất cả mọi căn cứ mà hai bên có được, bao gồm cả những chứng cứ lịch sử phong phú để phân tích, thẩm định, cuối cùng xác định đảo trên thuộc về Xinhgapo. Tòa án quốc tế từ xưa đến nay không thể không xem xét đến căn cứ lịch sử để quyết định chủ quyền thuộc về ai trong một vùng lãnh thổ tranh chấp. Đến học giả phương Tây cũng đều thừa nhận, đối với vụ tranh chấp chủ quyền các đảo ở Trường Sa, những tư liệu Trung Quốc có được là phong phú nhất, chứng cứ chắc chắn nhất, các nước khác như Philíppin, Malaixia và Brunây căn bản lại không có. Đó chính là thực tế để cho thấy vì sao Mỹ phụ họa, giúp các nước như Philíppin nhấn mạnh một cách phiến diện và lặp đi lặp lại rằng giải quyết vấn đề Biển Đông cần phải lấy “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” làm căn cứ, ra sức làm mờ nhạt đi, thậm chí xóa bỏ những nhân tố căn bản có vị trí quan trọng trong giải quyết vấn đề tranh chấp Biển Đông.
Chủ trương chủ quyền của các nước ở Biển Đông còn đề cập đến một nguyên tắc luật pháp quan trọng, đó là nguyên tắc luật pháp không truy ngược quá khứ. Ý nghĩa chính của nguyên tắc này là không thể dùng luật pháp của thế hệ sau để phán xét hành vi trước đây hợp pháp hay không hợp pháp. Chỉ riêng ví dụ về đường đứt đoạn ở Biển Đông, trước năm 1949 Chính phủ Quốc dân của Trung Quốc đã chính thức đặt tên và công bố bản đồ kèm theo đường đứt đoạn cho các bãi đảo ở Biển Đông, còn thông qua nhiều thực tiễn trên các phương diện về khai thác sử dụng tài nguyên như đưa tàu chiến đến Biển Đông tuyên bố chủ quyền, tổ chức và quản lý nghề cá, nhấn mạnh và củng cố chủ trương về quyền lợi ở Biển Đông. Sau năm 1949, Chính phủ Trung Quốc cũng kế thừa chủ trương của Chính phủ Quốc dân, vẫn tiếp tục đánh dấu đường đứt đoạn ở Biển Đông trên bản đồ chính thức của nhà nước, đồng thời cũng thông qua thực tiễn trong nhiều phương diện về lập pháp để nhấn mạnh và củng cố chủ trương về quyền lợi ở Biển Đông. Ai cũng biết là “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” từ năm 1994 mới bắt đầu có hiệu lực. Xem xét từ phương diện tài nguyên hiện hữu, nếu tính từ năm 1914 khi đường đứt đoạn ở Biển Đông bắt đầu xuất hiện thì đường đứt đoạn này đến nay đã được gần 100 năm, sớm hơn “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” 80 năm, hoặc nếu chỉ tính từ khi Chính phủ Trung Quốc chính thức công bố năm 1947 thì đến nay cũng đã được 65 năm, sớm hơn thời gian có hiệu lực của “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” 47 năm! Hơn nữa, đường đứt đoạn ở Biển Đông còn đề cập đến vấn đề về luật quốc tế khác phức tạp như quyền lợi mang tính lịch sử, vượt xa cả những nội dung được quy định trong “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển”. Vì thế tính hợp pháp của đường đứt đoạn ở Biển Đông tuyệt đối không đơn giản sử dụng “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” để phán đoán và phủ nhận. Nói “Đường đứt đoạn ở Biển Đông của Trung Quốc không phù hợp với ‘Công ước của Liên hợp quốc về luật biển’” thì bản thân cách nói đó rõ ràng đã thiếu căn cứ theo luật pháp quốc tế, là hết sức sai lầm.
4/ “Quyền lợi chủ quyền” tuyệt đối không đồng nghĩa với “chủ quyền ”
Về bản thân “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển”, có nhà lý luận cho rằng “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” bất lợi đối với Trung Quốc. Tác giả bài viết cho rằng có lợi hay không có lợi là tương đối chứ không tuyệt đối. Nhìn nhận từ điều kiện địa lý tự nhiên của vùng biển xung quanh Trung Quốc, nếu so sánh với những nước ven biển nhìn ra đại dương mênh mông trên thế giới thì Trung Quốc là nước bất lợi về mặt địa lý, vùng biển xung quanh Trung Quốc bị bao vây bởi lãnh thổ của rất nhiều nước lân bang, không thể được hưởng quyền lợi 200 hải lý như “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” dành cho các nước ven biển. Xét từ góc độ này thì việc thực hiện công ước nói trên là bất lợi đối với Trung Quốc, nhưng đồng thời, đối với những nước láng giềng ven biển có bờ biển liền với Trung Quốc và hướng sang Trung Quốc cũng cùng đối mặt với những bất lợi như vậy. Nhìn từ góc độ luật pháp thì đối với tất cả mọi nước ký kết, quyền lợi và nghĩa vụ được quy định trong “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” đều bình đẳng, các nước xung quanh có thể tuyên bố vùng biển quản lý 200 hải lý, Trung Quốc đại lục và các đảo của Trung Quốc cũng có thể tuyên bố có quyền lợi bình đẳng như vậy, nếu có vùng biển chồng lấn sẽ phát sinh vấn đề phân định ranh giới biển. Ngoài ra trong giải quyết vấn đề phân định ranh giới biển, các bên cũng ở cùng địa vị như nhau chứ không có vấn đề về việc chỉ bất lợi đối với Trung Quốc.Đương nhiên, không thể phủ nhận được rằng về khách quan quả có một tình huống đã dẫn đến cách nói sai lầm như trên, nghĩa là Malaixia, Brunây vốn là những nước không có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc, nhưng bởi “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” đã có quy chế về khu đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 200 hải lý đã khiến các nước này chủ trương vùng biển quản lý rộng 200 hải lý, từ đó cũng hoạch định một số đảo trong quần đảo Trường Savào phạm vi 200 hải lý do họ quản lý. Vì thế có người cho rằng “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” bất lợi đối với Trung Quốc. Quan điểm như vậy kỳ thực là hết sức sai lầm, là cách giải thích và lạm dùng quy chế về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa theo quy định trong “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển”.Các phần 5 và 6 trong “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” đã quy định thành quy chế về khu đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, theo đó nước ven biển chỉ có được hai quyền lợi chủ quyền và ba quyền quản lý ở khu đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, chủ yếu bao gồm: Quyền lợi chủ quyền có mục đích thăm dò và khai thác, nuôi trồng bảo vệ và quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên ở thủy vực hải dương, lòng biển và đáy biển (bất kể là tài nguyên sinh vật hay không phải sinh vật); Quyền lợi chủ quyền đối với các hoạt động khai thác và thăm dò mang tính kinh tế về nước biển, hải lưu và sức gió; Quyền quản lý trong việc kiến tạo và sử dụng đảo nhân tạo, trong kiến tạo và sử dụng các công trình thiết bị, và quản lý trong các phương diện nghiên cứu khoa học biển và bảo vệ môi trường biển.
Một sự thực pháp luật không được phép nhầm lẫn là không chỉ là hai phần trong “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” nói trên mà bất cứ phần nào và điều khoản nào trong công ước cũng đều không quy định nước ven biển nào được dựa vào công ước để quy hoạch lãnh thổ của nước khác vào lãnh thổ của mình. Vì thế, tất cả các nước ký kết đều có thể dựa vào công ước để thực hiện hai quyền lợi chủ quyền và ba quyền quản lý ở khu đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, nhưng tuyệt đối không có quyền dựa vào đó để tranh đoạt chủ quyền của nước khác đã được hoạch định trong đó.“Quyền lợi chủ quyền” tuyệt đối không đồng nghĩa với “chủ quyền”. Mỗi từ ngữ trong luật pháp đều có nội hàm và ý nghĩa pháp luật của bản thân từ đó, tuyệt đối không thể làm lẫn lộn hoặc thay thế một cách giản đơn. Đó đều là kiến thức pháp luật quốc tế thông thường. Vì thế Malaixia đã lấy cớ là quyền lợi được “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” cho phép, chủ trương quy hoạch một số đảo thuộc quần đảo Trường Satrong phạm vi vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của họ thành lãnh thổ của họ. Đòi hỏi về loại chủ quyền lãnh thổ như vậy là cực kỳ hoang đường, cũng là phi pháp. Thử xem xét, nếu cách xác định như vậy là ổn thì thế giới sẽ ra sao? Và cùng cách suy diễn theo lý lẽ như vậy thì Trung Quốc cũng chẳng có thể hoạch định những vùng lãnh thổ của nước khác trong phạm vi 200 hải lý thuộc lãnh thổ Trung Quốc (ít nhất bao gồm các bãi, đảo phía Nam quần đảo Ryukyu và các bãi đảo phía Bắc Philíppin) vào cả trong phạm vi yêu cầu chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc (như đảo Đài Loan hoặc đảo Thái Bình) được hay sao?Còn như vấn đề chồng lấn về phạm vi các khu đặc quyền kinh tế và thềm lục địa đang tồn tại giữa Trung Quốc và các nước khác cùng tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông thì đòi hỏi thông qua đàm phán phân định ranh giới vùng biển để giải quyết. Trên thực tế, đây cũng là vấn đề liên quan đến quan hệ giữa quyền lợi về khu đặc quyền kinh tế và quyền lợi về thềm lục địa với quyền lợi mang tính chất lịch sử. Đường đứt đoạn ở Biển Đông hoàn toàn không phải dựa vào “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” để vạch ra, mà trong quá trình lịch sử gần 100 năm từ khi bắt đầu xuất hiện cho đến hiện nay, đường đứt đoạn đó đã từng bước phát triển từ Bắc xuống Nam đến khoảng 4 độ vĩ Bắc. Chủ quyền mang tính lịch sử là một vấn đề phức tạp về luật quốc tế, “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” không phủ nhận quyền lợi mang tính lịch sử, cũng chưa bao giờ quy định quyền lợi mang tính lịch sử phải được thay thế bằng khu đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Sự thực lịch sử là trong thời gian hàng chục năm sau khi chính thức công bố đường đứt đoạn ở Biển Đông, các nước xung quanh và cộng đồng quốc tế không có phản đối gì.
Nói tóm lại, một vấn đề cốt lõi và then chốt cần phải làm lắng dịu trong vấn đề Biển Đông hiện đang sôi động là: Chủ trương có quyền lợi ở Biển Đông của tất cả các quốc gia liên quan tranh chấp Biển Đông có phải đều là hợp pháp? Sự thực không được xem thường là: Một số nước như Việt Nam và Philíppin đang đối kháng với chủ trương hợp pháp của Trung Quốc bằng chủ trương trái phép; Trong khi đó Mỹ, nước tự xưng sẵn sàng làm người điều đình tranh chấp Biển Đông, và Nhật Bản là hai nước bề ngoài ra vẻ công bằng nhưng thực chất đang cố tình làm thiên lệch, chỉ trích chủ trương của Trung Quốc về Biển Đông, còn đối với các nước tranh chấp khác ở Biển Đông như Việt Nam, Philíppin và Malaixia thì họ hầu như bỏ qua tính chất phi pháp trong các hành động của các nước này về chủ trương quyền lợi ở Biển Đông. Tác giả bài viết này cho rằng trong khi phán xử về tính hợp pháp trong chủ trương quyền lợi ở Biển Đông của Trung Quốc, cũng đồng thời phải nhận định chủ trương quyền lợi của nước tranh chấp khác có hợp pháp hay không, nếu không mà chỉ phiến diện yêu cầu, thậm chỉ chỉ trích kiểu này kiểu khác đối với Trung Quốc thì đó không phải là công bằng, Trung Quốc cũng không thể chấp nhận.Vì thế, người Trung Quốc tuyệt đối không được rơi vào chiếc bẫy này, tức Trung Quốc không nên chủ động bàn đến “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển”, không bàn đến căn cứ luật pháp quốc tế, nghĩ rằng như vậy là Trung Quốc đã đuối lý phải né tránh. Từ lâu nay Trung Quốc một mặt áp dụng chính sách kiềm chế, không làm nóng vấn đề ở Biển Đông, không muốn nói nhiều, thậm chí là tránh không nói, nhưng mặt khác cho đến nay khi các nước xung quanh như Philíppin chưa chính thức bắt đầu đàm phán ngoại giao giải quyết vấn đề tranh chấp, thì dù là các nước đó hay Trung Quốc cũng đều không có nghĩa vụ đơn phương trình bày toàn diện với cộng đồng quốc tế chủ trương và căn cứ của mình về quyền lợi ở Biển Đông. Kỳ thực, cho đến nay bản thân Philíppin cũng chưa làm rõ được phạm vi quyền lợi ở Biển Đông mà họ chủ trương cuối cùng là ở đâu. Từ cuối năm ngoái đến nay Philíppin đã nhiều lần công khai đề xuất phải cùng với các nước ASEAN “phân định vùng tranh chấp Biển Đông và vùng tranh chấp Philíppin”.Tác giả bài viết cho rằng trong giai đoạn hiện nay Trung Quốc cơ bản chưa cần thiết, cũng chưa có nghĩa vụ phải đơn phương trình bày hết tất cả lá bài cuối cùng của mình, chưa cần thiết công khai toàn diện, phơi bày ra tất cả mọi căn cứ pháp lý của mình, đó cần phải là những nội dung trên bàn đàm phán. Một số nước không ngừng nhào nặn hoặc chỉ trích vấn đề mang tính hợp pháp trong chủ trương về quyền lợi ở Biển Đông của Trung Quốc, kỳ thực là những biểu hiện giật mình vì chột dạ, dụng ý của họ là nhằm đẩy lệch góc nhìn, chuyển dịch tiêu điểm mâu thuẫn, nhưng làm như vậy vừa không thể làm thay đổi được tính chất phi pháp trong chủ trương Biển Đông của họ, cũng vừa không thể phủ nhận được tính hợp pháp trong chủ trương của Trung Quốc. Trong khi đó lập trường không nói và ít nói mà Trung Quốc áp dụng cũng tuyệt đối không có nghĩa là không có cơ sở pháp luật và căn cứ lịch sử.
Tục ngữ Trung Quốc có câu “có lý không phải cứ to tiếng”. Tuy nhiên, để làm cho những người quan tâm một cách khách quan và thực lòng vấn đề Biển Đông có thể hiểu được tình hình chân thực và chuẩn xác, thay đổi và đề phòng tin đồn thất thiệt cứ thổi lên mãi, ngoài người phát ngôn báo chí, Trung Quốc còn phải tích cực chủ động lợi dụng nhiều kênh, áp dụng nhiều phương thức tuyên truyền nhiều hơn nữa trước và sau khi một số vấn đề có thể được nhào nặn trở thành điểm nóng, để làm cho vấn đề được nhìn nhận chân thực hơn. Hiệu quả tuyên truyền tích cực và hướng dẫn dư luận sẽ tốt hơn nhiều so với bị động đối phó trước những chỉ trích theo dụng ý riêng.Nói tóm lại, “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” không phải là “linh đơn thần dược” để giải quyết mọi vấn đề tranh chấp biển, mà chỉ là một phần cấu thành của luật pháp quốc tế, không thể thay thế các quy tắc khác trong luật quốc tế, lại càng không thể giản đơn đánh đồng “luật quốc tế” với “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” theo cách đánh tráo khái niệm. Trong phần mở đầu của “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” cũng có quy định rõ ràng đối với vấn đề này, cụ thể là “các nước ký kết bản Công ước này xác nhận Công ước chưa có quy định cụ thể, cần phải tiếp tục lấy các quy tắc và nguyên tắc trong luật quốc tế nói chung để làm căn cứ chuẩn mực”. “Công ước của Liên hợp quốc về luật biển” không phải là căn cứ duy nhất của luật quốc tế để nhận định hoặc giải quyết vấn đề yêu sách chủ quyền lãnh thổ Trường Sa, cũng như nhận định hoặc phủ nhận tính hợp pháp trong đường đứt đoạn ở Biển Đông của Trung Quốc. Những cách nói “cần lấy ‘Công ước của Liên hợp quốc về luật biển’ làm căn cứ giải quyết vấn đề Biển Đông”, “một số đảo-bãi thuộc quần đảo Trường Sa đều đã được hoạch định vào khu đặc quyền của các nước như Malaixia (hoặc: Đều ở trong phạm vi thềm lục địa của Malaixia), vì thế những đảo-bãi này đã được quy về quyền sở hữu nhà nước của Malaixia”, “Đường đứt đoạn của Trung Quốc ở Biển Đông không phù hợp với ‘Công ước của Liên hợp quốc về luật biển”... là hết sức phiến diện, thậm chí là sai lầm. Nếu không có dụng ý riêng thì ít nhất cũng là sự khiếm khuyết trong kiến thức thông thường về luật quốc tế./.
Tác giả Trương Hải Văn là Tiến sĩ luật học, Nghiên cứu viên, Phó ban nghiên cứu chiến lược phát triển biển, Cục Hải dương quốc gia Trung Quốc.