24 - 5 - 2013 | 12:08
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home
Tag:Ấn Độ

Tình trạng bế tắc tại Scarborough giữa Trung Quốc và Philippines là sự kiện mới nhất thể hiện sự cạnh tranh chiến lược đang gia tăng giữa một bên là Trung Quốc và một bên là Mỹ và các đồng minh. Cách phản ứng của Mỹ có thể quyết định hòa bình ở khu vực.

 

Cuộc khủng hoảng gần nhất xảy ra sau khi lực lượng hải quân Philippines nhỏ bé, với chiếc tàu tuần duyên cũ mua của Mỹ được coi như soái hạm mới, cố bắt ngư dân Trung Quốc mà theo Hải quân Philippines là đang hoạt động bất hợp pháp gần bãi Hoàng Nham. Sau đó, Trung Quốc đã đưa đến hai tàu hải giám - một phần của nỗ lực mới đây nhằm bảo vệ những yêu sách của mình tại vùng Biển Hoa Đông và Biển Đông, để ngăn cản tàu Hải quân Philippines. Trung Quốc gửi thông điệp rõ ràng: Hoặc leo thang và mạo hiểm tranh chấp quyết liệt với Hải quân Trung Quốc, hoặc xuống nước và đàm phán với Bắc Kinh ở thế hạ phong. Manila đã sáng suốt chọn cách thứ hai, trước tiên là thay thế tàu chiến bằng một tàu dân sự, và sau đó kiềm chế tranh chấp thông qua các kênh ngoại giao. Nhưng Trung Quốc cũng đồng thời cảnh báo Washington rằng những nỗ lực của Mỹ nhằm tăng cường năng lực quân sự của các nước đồng minh của Mỹ trong khu vực cũng sẽ bị ngăn chặn. Tình trạng bế tắc này có thể coi là một hành vi bán xâm lược, nhưng không hẳn như vậy. Vì Trung Quốc đang muốn xây dựng ảnh hưởng hơn là gây chiến, nên Trung Quốc sẽ chỉ phô trương sức mạnh ở mức thấp nhất, như là Trung Quốc đã làm trong vụ Scarborough - chỉ điều động các tàu hải giám thay vì tàu chiến đến đây. Suy cho cùng, thu hút sự chú ý của thế giới vào quá trình hiện đại hóa quân sự nhanh chóng hay vào nỗ lực thổi bung chủ nghĩa dân tộc không phục vụ lợi ích cốt lõi của Trung Quốc. Điều quan trọng cần rút ra từ vụ này là nước Mỹ cần giữ một cái đầu lạnh. Những va chạm kiểu này không chỉ chắc chắn sẽ còn xảy ra nữa mà hệ quả của chúng cũng không đáng kể - với giả định là các va chạm được xử lý một cách khôn ngoan. Khi xét đến lợi ích trùng lặp của các đồng minh của Mỹ tại Biển Đông, nước Mỹ chắc chắn thấy mình phải hành động một cách mạnh mẽ để chống lại chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc. Nhưng như những bộ óc thông minh nhất của Mỹ đã hiểu rõ từ nhiều thập kỷ rằng Trung Quốc không hoàn toàn là kẻ bành trướng. Chính sách đối ngoại theo lối trọng xuất khẩu của Trung Quốc xuất phát từ tham vọng vật chất chứ không hẳn từ tham vọng đế quốc. Trung Quốc đang tìm xem giới hạn là ở mức nào, chứ không nhất thiết là kẻ gây chiến. Cho dù bất đồng, nhưng Trung Quốc và Mỹ không phải là địch thủ ý thức hệ thời chiến tranh lạnh trước đây. Cả hai nước đều hưởng lợi ích to lớn từ những chuẩn mực chung về hàng hải toàn cầu. Toàn cầu hóa chỉ có thể trở thành hiện thực nhờ các tuyến đường biển thông thương, qua các tuyến đường biển này một khối lượng lớn hàng hóa và tài nguyên được lưu thông trên toàn thế giới. Và Biển Đông, vùng biển nối liền Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, là yết hầu đối với nền kinh tế toàn cầu hóa.

Mặc dù vậy, nhưng Mỹ cũng không nên phớt lờ những rủi ro tiềm ẩn trong những vụ như thế này. Chí ít ở khu vực Biển Đông, sức mạnh quân sự của Trung Quốc sẽ tiếp tục va chạm với Hải quân Mỹ trong vai trò là người bảo đảm tự do trên biển. Không phải lúc nào hai cường quốc cũng đồng ý với nhau. Mỹ có hiệp ước cam kết giúp bảo vệ Philippines, nhưng Mỹ luôn hành xử thận trọng để duy trì tính trung lập trong tranh chấp chủ quyền lãnh thổ. Vì vậy, ngoại giao của Mỹ hỗ trợ cách tiếp cận đa phương - cách tiếp cận này sẽ gây khó khăn hơn cho Trung Quốc trong việc chèn ép các nước láng giềng. Mặt khác, Trung Quốc thích đàm phán song phương với từng quốc gia tranh chấp trong khu vực, bắt đầu với một nước như Philippines - nước mà Trung Quốc biết rằng thiếu khả năng quân sự để bảo vệ các đảo của mình. Mặc dù tình hình bế tắc hiện nay có thể kiểm soát được, nhưng những sự việc tương tự sẽ xảy ra nhiều hơn, khi các nước đồng minh quay sang Mỹ và yêu cầu Mỹ bảo vệ họ, điều mà chúng ta sẽ thấy trong cuộc gặp tới đây giữa Mỹ và Philippines tại Washington vào tuần sau. Một điều không hay là ngay sau khi xảy ra bế tắc tại Scarborough, Mỹ và Philippines triển khai đợt tập trận được lên kế hoạch từ trước ở khu vực gần đó với hàng ngàn lính thủy, bộ, hải quân. Đồng thời, các tranh chấp khác chắc chắn sẽ tiếp tục diễn ra giữa các quốc gia quanh Biển Đông, bao gồm Malaysia, Việt Nam và Nhật Bản cũng như Trung Quốc và Philippines - chừng nào dầu khí còn được phát hiện ở Biển Đông. Nếu chiến sự bùng nổ, Trung Quốc ngày càng sẵn sàng tham chiến. Ngân sách quốc phòng ở mức tới 2 con số trong nhiều năm qua đã trang bị cho một cường quốc lục địa khả năng hải quân biển sâu, tên lửa và không quân đủ để gây rủi ro cho sự hiện diện quân sự Mỹ tại Đông Á. Tóm lại, thực tế mới này buộc Mỹ phải một chương trình hành động cụ thể, điều mà Mỹ dễ có nguy cơ không nhận ra, đó là: phải hiểu được rằng Trung Quốc đang thử một cách làm mới và gửi đi không có gì khác ngoài tín hiệu, nhưng Mỹ phải phản ứng với những bước đi chính xác và có chừng mực để bảo đảm rằng Trung Quốc không đẩy các giới hạn đi quá xa. Màn kịch trên biển gần bãi Scarborough chỉ là một vụ ồn ào của cuộc cạnh tranh chiến lược đang gia tăng mà chỉ có thể dàn xếp chứ không thể giải quyết triệt để. Lập trường cương quyết song thận trọng của Mỹ nhằm thúc đẩy hợp tác hợp tác khu vực dựa trên những nguyên tắc chung, được yểm trợ bằng sức mạnh của Mỹ, vẫn sẽ là cách tốt nhất để gìn giữ hòa bình ở vùng biển này.

Tác giả Patrick Cronin là Giám đốc Chương trình Châu Á tại Trung tâm An ninh Mỹ Mới.

Theo New York Times (ngày 25/4)

Mỹ Anh (gt)

 

Việc tập đoàn cung cấp khí ga của Nga Gazprom gần đây ký thỏa thuận với tập đoàn dầu khí Việt Nam Petrovietnam về khai thác tại thềm lục địa Biển Đông không phải là điều hoàn toàn bất ngờ vì đây là một phần trong chiến lược dài hạn của công ty Nga, công ty có hoạt động kinh doanh tại 10 nước trên thế giới.

Trong chiến lược đó, Việt Nam là một trong những ưu tiên của Gazprom với nhiều hợp đồng đã được ký với PetroVietnam từ năm 2006. Gazprom có hơn 50% là vốn sở hữu nhà nước và các chính sách của Tập đoàn này có quan hệ chặt chẽ với các chính sách của Nga. Chính phủ Nga cũng đang nhìn Việt Nam với nhiều lợi ích trong đó. Hà Nội đối với Moscow không chỉ là liên minh trong kỷ nguyên Xô Viết mà còn là cửa ngõ vào ASEAN, một khu vực mà Nga đang tìm cách để thâm nhập vào bởi tính đa dạng về các quan hệ chính trị và thương mại. Việt Nam đã trở thành nước nhập khẩu nhiều vũ khí của Nga bao gồm cả tàu ngầm và máy bay chiến đấu. Nga cũng đang cố gắng bán vũ khí cho các nước ASEAN khác trong đó có cả Indonesia trong khi bắt đầu giảm bán vũ khí cho Trung Quốc. Cùng lúc đó, với cương vị chủ tịch APEC năm 2012 và tham gia thượng đỉnh Đông Á năm 2011, Nga đang tăng sự chú ý tới châu Á. Đây không chỉ là về mặt lô-gíc khi xét tới vị trí Châu Á – Thái Bình Dương đối với Nga. Nga cần xem xét quan hệ hiệu quả và ổn định với Trung Quốc như một tài sản lớn. Quan hệ kinh tế năng động giữa hai nước và hợp tác chính trị Nga - Trung về nhiều vấn đề quốc tế cần được đánh giá cao. Không lãnh đạo nào của Nga là không mong muốn quay trở về tình trạng thân thiện với Trung Quốc. Hơn nữa, Nga và Trung Quốc còn là đối tác trong nhiều lĩnh vực, mặc dù hai nước cũng là đối thủ cạnh tranh trong một số lĩnh vực. Một số học giả quốc tế thậm chí đã nhìn nhận khu vực này đang là sân sau của Trung Quốc và cho rằng Nga đang tụt hậu. Nga về phần mình tiếp tục duy trì quan hệ chặt chẽ với Việt Nam và Ấn Độ, những nước có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc.

Tuy nhiên, theo tác giả, sẽ là sai lầm nếu tập trung vào cạnh tranh, làm giảm lợi ích chung. Các nhà lãnh đạo của Nga, trái ngược với một vài lãnh đạo các nước láng giềng khác của Trung Quốc chưa bao giờ tỏ lo ngại về sự trỗi dậy của Trung Quốc trong 3 thập kỷ qua. Công luận Nga cũng chưa bao giờ cảm thấy hoảng hốt về vấn đề này mặc dù cân bằng quyền lực giữa Trung Quốc và Nga đang thay đổi nhanh chóng. Hiện quan hệ Nga - Trung đã đủ chín để duy trì thế cân bằng thích hợp giữa lợi ích chung và lợi ích quốc gia. Nga đang thừa nhận biển Đông là khu vực tranh chấp lãnh thổ và Nga hy vọng tranh chấp này sẽ được giải quyết hòa bình. Các dự án năng lượng của Gazprom ngoài khơi bờ biển Việt Nam vẫn nằm ngoài vùng nước tranh chấp do đó Nga sẽ không chọn cách xa Trung Quốc bằng việc đặt lợi ích lên trên an ninh quốc gia. Khi ông Vladimir Putin bước vào điện Kremlin với tư cách Tổng thống Nga lần 3, mục tiêu của ông là duy trì vị thế của Nga như một trong 5 nước quyền lực nhất thế giới. Trọng tâm của Nga sẽ chủ yếu tập trung vào kinh tế và điều này đòi hỏi Nga cần có quan hệ ổn định với Mỹ và Trung Quốc. Trong khái niệm một nước Nga hiện đại, quan điểm của ông Putin về một cường quốc lớn có nghĩa là trên tất cả phải có sự độc lập chiến lược với Mỹ và Trung Quốc. Liên minh Á - Âu của Putin có nghĩa là thiết lập quan hệ chặt chẽ và cân bằng hơn với châu Âu trong khi sẽ phải phát triển chiến lược châu Á mà trong chiến lược đó, Nga chắc chắn sẽ phải chú ý nhiều tới quan hệ đối tác và hợp tác với Trung Quốc. Tuy nhiên, Nga sẽ không bỏ qua lợi ích và cơ hội tại một số nước khác như Ấn Độ, Nhật Bản và Việt Nam. Nga hy vọng rằng Trung Quốc sẽ hiểu những động cơ đằng sau động thái của Nga.

Tác giả Dmitri Trelin là giám đốc Trung tâm Carnergie Moscow.

Theo Thời báo Hoàn cầu (ngày 17/4)

Lê Sơn (gt)

 

Nhà nghiên cứu Rory Medcalf, Giám đốc Chương trình An ninh Quốc tế thuộc Viện Chính sách Quốc tế Lowy có trụ sở tại Xítni, mới đây có bài phân tích về vai trò của Ấn Độ trong việc kiềm chế sức mạnh hải quân của Trung Quốc trên tờ "Nhật báo phố Uôn'' như sau: 

 


Trong những tuần gần đây, các tàu khu trục và tàu ngầm của Trung Quốc đã xuất hiện với số lượng lớn trong các vùng biển gần Nhật Bản, máy bay lên thẳng của Trung Quốc hai lần áp sát các tàu của Nhật Bản với khoảng cách rất gần. Bằng những hành động khiêu khích như vậy, Trung Quốc đang lảng tránh những lời kêu gọi hợp tác trên biển, phát đi quyết tâm tự đi một mình theo cách thức mà Bắc Kinh sử dụng năng lực hải quân đang phát triển nhanh chóng của mình. 


Câu hỏi được đặt ra sau đó là liệu có ai làm được điều gì trước việc này? Nhật Bản dường như là một đối trọng hợp lôgíc đối với sức mạnh hải quân đang tăng lên của Trung Quốc. Thế nhưng, Thủ tướng Yukio Hatoyama không sẵn sàng tận dụng triệt để sức mạnh trên biển của Nhật Bản. Tôkyô đã duy trì sự hiện diện chống cướp biển trên Vịnh Aden, nhưng lại từ bỏ sứ mạng tiếp nhiên liệu trên biển hỗ trợ các chiến dịch của liên quân ở Ápganixtan. Những lời kêu gọi mở rộng hoạt động của Hải quân có khả năng cao của Nhật Bản sẽ vấp phải sự ỳ trệ và kháng cự. Và công bằng với Thủ tướng Hatoyama, vấn đề này không phải là của mình ông. Nhật Bản dường như đang ngày càng có một bầu không khí chính trị quốc gia, trong đó sự u sầu thay thế cho chiến lược. 


May thay, trong khi Nhật Bản do dự, một cường quốc châu Á khác đang xây dựng khả năng nhằm ngăn cản những cuộc đột nhập quân sự của Trung Quốc, quốc gia đó là Ấn Độ. Hải quân Ấn Độ đang lớn mạnh về uy lực, tầm với và tham vọng. Học thuyết năm 2007 đã tuyên bố một mục tiêu quan trọng hơn cả là bảo vệ những nguồn nhập khẩu năng lượng mang tính sống còn cho sự phát triển của Ấn Độ. Điều này chí ít cũng mang hàm ý đóng một vai trò lớn hơn trên Ấn Độ Dương. Hơn nữa, trong việc theo đuổi sự tư lợi như vậy, Ấn Độ nói rằng nước này mời chào một dịch vụ cho tất cả các quốc gia thương mại bằng việc bảo vệ các tuyến đường biển từ Eo biển Hormuz tới Eo biển Malắcca. 


Các nhà chiến lược Ấn Độ lâu nay đã coi Ấn Độ Dương là phạm vi ảnh hưởng và trách nhiệm cảnh sát được thừa kế một cách tự nhiên từ Anh quốc. Nhưng, chỉ lúc này Ấn Độ mới đang xây dựng sức mạnh và những quan hệ hữu nghị cần thiết. Niu Đêli đang phát triển một hạm đội được hiện đại hóa gồm khoảng 150 tàu, với trung tâm là ít nhất hai tàu sân bay. Phần của Hải quân trong ngân sách quốc phòng đang dần dần tăng lên, mặc dù ở mức 15%, nhưng vẫn là quá thấp. Việc Ấn Độ mua tàu đổ bộ USS Trenton (được đổi tên là INS Jalashwa) đã làm tăng khả năng di chuyển binh lính trên biển. Những tàu khu trục, khinh hạm và tàu ngầm thế hệ mới đang được đưa vào sử dụng. Các máy bay cảnh giới và săn tàu ngầm P8 Poseidon mua của Mỹ sẽ dẫn tới một bức tranh về giao thông đại dương mà trong đó Ấn Độ có thể chia sẻ một cách thực sự với Oasinhtơn và các đồng minh của Mỹ. Cũng có những tiến bộ (mặc dù không đều) hướng tới khả năng răn đe hạt nhân từ tàu ngầm mà Ấn Độ tìm kiếm để đối phó với Trung Quốc. 


Ấn Độ đã chứng minh cam kết của Niu Đêli bảo đảm an ninh trong vùng biển lân cận. Ấn Độ đã sử dụng Hải quân để giúp Xri Lanca và những nước láng giềng khác sau thảm họa sóng thần cuối năm 2004, phối hợp bên cạnh các đối tác dân chủ là Ôxtrâylia, Nhật Bản và Mỹ. Các tàu chiến của Ấn Độ cũng đã bảo vệ tàu bè của Mỹ trên Eo biển Malắcca, bảo vệ các hội nghị thượng đỉnh đa phương ở Môdămbích, giúp Môritani giám sát các vùng biển, ngăn chặn một tàu hàng khả nghi của Bắc Triều Tiên, và giải cứu người Ấn Độ và những người Nam Á khác khỏi đất nước Libăng bị chiến tranh tàn phá. Tàu chiến Ấn Độ đã đương đầu với cướp biển (họ đã đánh chìm một tàu cá của Thái Lan đang được cướp biển sử dụng) và phối hợp tuần tra với Inđônêxia. Hải quân Ấn Độ đang can dự với nhiều quốc gia khác nhau như Xinhgapo, Nam Phi, Nhật Bản, Pháp, Nga và Ôman. 


Tuy nhiên, câu hỏi lớn vẫn là Trung Quốc. Cùng với sự phụ thuộc sâu sắc vào các nguồn cung cấp năng lượng và thương mại được chuyên chở bằng tàu biển, và đội tàu buôn lớn thứ tư thế giới, không thể tưởng tượng được rằng Trung Quốc sẽ vĩnh viễn dựa vào bên ngoài để bảo vệ tất cả an ninh các tuyến đường biển của họ. Tất nhiên, vai trò ngày càng tăng của Trung Quốc trong khu vực ảnh hưởng của Ấn Độ làm các nhà hoạch định quốc phòng ở Niu Đêli lo ngại. Gần đây, các nhà hoạch định chính sách quốc phòng Ấn Độ đã chứng kiến Trung Quốc nuôi dưỡng Pakixtan, Xri Lanca, Mianma và Bănglađét bằng các hợp đồng bán vũ khí, những thỏa thuận năng lượng cũng như những dự án cảng mà có thể không dừng lại ở mức dân sự. Một số học giả Trung Quốc giờ đây công khai gợi ý Trung Quốc cần những căn cứ quân sự ở nước ngoài. 


Càng làm phức tạp thêm các vấn đề là việc cướp biển Xômali tạo ra cho Trung Quốc một lý do hoàn hảo để có sự hiện diện hải quân vô thời hạn ở phía Tây của Ấn Độ. Sự bất ngờ của việc triển khai đó, vào tháng 12/2008, đã khiến cho Niu Đêli ở vào tư thế tự vệ. Trong những tháng gần đây, Trung Quốc đã giành thêm một ưu thế nữa bằng cách xung phong đảm nhận vai trò lãnh đạo trong các cuộc đàm phán về chia sẻ tuần tra với các hải quân của phương Tây. Điều này đòi hỏi phải có một sự đáp lại từ Ấn Độ, mặc dù chính xác đó là một vấn đề tranh luận. Một lựa chọn khéo léo sẽ là đưa ra những đề nghị thận trọng về những quan hệ gần gũi hơn với Trung Quốc nhằm ngăn chặn bất kỳ sự gia tăng căng thẳng nào. Quốc vụ khanh phụ trách quốc phòng Pallam Raju đã đề nghị sự bảo vệ của Ấn Độ đối với những tàu chở dầu của Trung Quốc, cộng thêm việc mở rộng sự can dự hải quân ở mức tối thiểu giữa hai cường quốc này. Niu Đêli sẽ đúng đắn khi duy trì đà này. Với tư cách là cường quốc chính trong khu vực, Ấn Độ sẽ dại dột khi lãng phí cơ hội đặt ra những điều khoản hợp tác trên Ấn Độ Dương trong khi các khả năng của Trung Quốc ở khu vực đó vẫn còn lâu mới theo kịp những tham vọng đáng ngờ của Bắc Kinh. 


Nói chung, Ấn Độ sẽ có lợi từ việc củng cố nhiều mắt xích hơn trong mạng lưới hải quân của nước này. Hợp tác thực tế có thể được xây dựng với Ôxtrâylia, một cường quốc hải quân tiên tiến cùng chia sẻ đại dương với Ấn Độ về mặt địa lý và những giá trị chính trị. Các cuộc tuần tra tay ba với Ôxtrâylia và Inđônêxia sẽ có ý nghĩa chiến lược mang tính thuyết phục. Hàn Quốc, quốc gia muốn một vai trò toàn cầu lớn hơn và có sứ mạng chống cướp biển của riêng mình, cùng với một nước Việt Nam cảnh giác trước Trung Quốc, đã chín muồi cho quan hệ đối tác với Ấn Độ. Niu Đêli có thể chứng tỏ sự lãnh đạo nhiều hơn trong việc cố gắng hợp tác với Pakixtan, với một sự khởi đầu bằng cách thuyết phục Ixlamabát tham gia một hội nghị do Ấn Độ khởi xướng của những đô đốc trong khu vực dự kiến diễn ra trong tháng 5 ở Abu Dhabi. 


Sẽ có ý nghĩa hoàn hảo khi một nước lớn đang nổi lên nằm tại trung tâm của một đại dương lớn khao khát trở thành một cường quốc hải quân chủ chốt. Thách thức của Ấn Độ giờ đây là vượt qua những thất vọng cũ trên đất liền để có thể thực hiện tầm nhìn đại dương mang tính sống còn của nước này./.

 

 

Ngôn ngữ

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

         

CHUYÊN ĐỀ ĐẶC BIỆT

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

Đăng nhập



Bản đồ - Hình ảnh

TỔNG QUAN VỀ BIỂN ĐÔNG