21 - 5 - 2013 | 23:28
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home
Tag:đa phương

Bài viết của TS. Đặng Xuân Thanh*, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á, phân tích cấu trúc tình huống chiến lược tại Biển Đông, từ đó đưa ra dự báo ngắn hạn và triển vọng dài hạn cho cục diện tình hình ở vùng biển phức tạp này.

 

 

Tóm tắt

Cục diện an ninh Biển Đông biến động bất thường do tranh chấp chủ quyền gần đây đã bị đẩy lên một cấp độ nghiêm trọng mới. Ranh giới pháp lý trên biển bị phủ nhận, các cơ chế duy trì an ninh tỏ ra kém hiệu quả, cán cân quyền lực tại vùng biển này trở nên bấp bênh, đe dọa xói mòn các cân bằng chiến lược then chốt khác trên toàn vành đai Tây Thái Bình Dương. Bài viết này không trình bày lại diễn biến tình hình, mà chủ yếu tập trung phân tích cấu trúc tình huống chiến lược tại Biển Đông, từ đó đưa ra dự báo ngắn hạn và triển vọng dài hạn cho cục diện tình hình ở vùng biển phức tạp này.

Cục diện thế giới trong những năm 2000 được đặc trưng bởi hai bước ngoặt và một xu hướng lớn.[1] Một là cao trào mở rộng địa chiến lược do Mỹ phát động với cuộc chiến chống khủng bố và phổ biến dân chủ trên phạm vi toàn cầu, mở rộng NATO về phía Đông, đơn phương xây dựng hệ thống phòng thủ tên lửa (NMD), bành trướng trật tự đơn cực hình thành sau Chiến tranh lạnh ra quy mô chưa từng có. Hai là đợt thoái trào với sự suy yếu tương đối của toàn bộ khu vực trung tâm của trật tự hiện hành bao gồm Mỹ, EU và Nhật Bản, được đánh dấu bởi cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế “trăm năm một lần”. Xuyên suốt hai bước ngoặt đó là xu hướng đa cực hóa với sự trỗi dậy của một số cường quốc mới nổi mà biểu hiện tập trung nhất là sự tăng tốc vượt bậc về kinh tế của Trung Quốc: rút ngắn tương đối nhanh chênh lệch sức mạnh tổng hợp quốc gia so với Mỹ và ngày càng quyết đoán trong quan hệ quốc tế.

Tại Đông Á, sự trỗi dậy của Trung Quốc làm thay đổi trật tự khu vực. Về kinh tế, sự trỗi dậy này đã tạo lực hút, lôi cuốn hầu hết các nền kinh tế tại đây vào mạng sản xuất lấy Trung Quốc làm trung tâm, gia tăng sự phụ thuộc vào thị trường Hoa Lục, đồng thời định hướng lại tiến trình hội nhập kinh tế Đông Á với ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc. Về chính trị, sự trỗi dậy này làm chuyển dịch mạnh cán cân quyền lực khu vực về phía Trung Quốc, nhưng đồng thời lại gây tình trạng thiếu hụt về an ninh do sản sinh ra hàng loạt những bất ổn mới như mất cân đối kinh tế vĩ mô, ô nhiễm môi trường, chạy đua vũ trang, mâu thuẫn quốc tế… Kết quả là, trong lúc Bắc Kinh cố gắng “tấn công mê hoặc” (charm offensive)[2] nhằm lôi kéo các nước trong khu vực về phía mình, thì họ lại “xuất khẩu” nỗi lo ngại, làm trầm trọng thêm “thuyết về mối đe dọa Trung Quốc”, đẩy nhiều nước vào tình thế buộc phải tăng cường khả năng phòng vệ[3], cũng như tìm kiếm các nguồn cung an ninh khác.

Để duy trì địa vị nhà cung cấp độc quyền thứ “hàng hóa công cộng” thiết yếu là an ninh toàn cầu, Mỹ phải vật lộn để thoát ra khỏi hai nhân tố kìm hãm và tiêu hao sức mạnh của họ là vũng lầy I-rắc, Áp-ga-ni-xtan[4] và cuộc khủng hoảng tài chính kéo theo suy thoái kinh tế. Để làm điều này, Washington thực hiện hai “tái cân bằng”: (i) Tái cân bằng về kinh tế với trọng tâm là cấu trúc lại nền kinh tế trong nước và hệ thống các định chế quản trị kinh tế toàn cầu; (ii) Tái cân bằng về chiến lược với trọng tâm “trở lại châu Á” nhằm kiểm soát sự trỗi dậy của khu vực, đặc biệt là Trung Quốc.

Sự trở lại của Mỹ và sự quyết đoán gia tăng của Trung Quốc đã gây ra những áp lực trái chiều lên toàn bộ khu vực Đông Á. Cạnh tranh giữa các nước lớn ngày càng quyết liệt. ASEAN từ vị thế cận biên về chiến lược trong một giai đoạn khá dài trở lại vai trò trung tâm kết nối hội nhập khu vực. Tranh chấp chủ quyền biển đảo tăng lên trên hầu suốt vành đai từ Biển Nhật Bản đến Biển Đông. Cả bốn điểm nóng tiềm tàng tại Tây Thái Bình Dương là tranh chấp Nga - Nhật về bốn đảo Nam Kuril (Nhật Bản gọi là lãnh thổ phía Bắc), bán đảo Triều Tiên, eo biển Đài Loan và Biển Đông đều có động thái đảo chiều.[5]

Tại Biển Đông, từ cuối thập niên 1990 tình hình được cải thiện theo hướng hòa dịu, nhất là sau khi Trung Quốc ký Hiệp định phân định ranh giới trong Vịnh Bắc Bộ với Việt Nam vào năm 2000 và Tuyên bố về cách ứng xử của các bên tại Biển Đông (DOC) với ASEAN vào năm 2002. Tuy nhiên, bên dưới bề mặt có vẻ yên ổn này cán cân quyền lực vẫn không ngừng chuyển dịch. Trung Quốc, một mặt, tăng cường hiện đại hóa hải quân và các lực lượng chấp pháp biển, hoàn thiện chiến lược biển, hệ thống pháp luật, thể chế quản lý và bảo vệ biển, mặt khác, nhất quyết thực hiện “hai không” - không quốc tế hóa, không đa phương hóa tranh chấp, chỉ đàm phán song phương nhằm khoét sâu vào sự khác biệt về lợi ích giữa các thành viên ASEAN, tìm cách áp đặt “gác lại tranh chấp, cùng nhau khai thác”. Trong điều kiện nhiều qui định của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển (UNCLOS) không được tôn trọng thì đây không phải là trò chơi “cùng thắng” được quảng bá rầm rộ, mà là kiểu cờ vây, trong đó đối phương do mất dần thế cân bằng chiến lược nên bị dồn vào chỗ phải “gác lại tranh chấp”, tức là đánh đổi quyền tài phán để lấy hòa bình, rồi sau đó phải chấp nhận “cùng nhau khai thác”, tức là đánh đổi nốt quyền chủ quyền[6] nếu muốn khai thác tài nguyên biển để phát triển. Hậu quả là trong gần một thập niên kể từ năm 2002, tiến trình đàm phán ASEAN - Trung Quốc về việc nâng cấp DOC thành bộ quy tắc ứng xử (COC) hầu như dẫm chân tại chỗ, khuôn khổ an ninh Biển Đông ngày càng trở nên lỗi thời, tụt hậu, không phù hợp với tương quan quyền lực mới.

Nguy cơ mất cân bằng chiến lược và sự giảm sút lòng tin buộc các nước còn lại phải gia tăng tiềm lực quốc phòng, đẩy mạnh thực thi chủ quyền trên biển, thực hiện ngoại giao phòng ngừa, tìm kiếm các quan hệ đối trọng. Một vòng xoáy “tiến thoái lưỡng nan về an ninh” (security dilemma) mới lại hình thành tại Biển Đông. Điều nguy hiểm là vùng áp thấp này có xu hướng mạnh lên thành bão.

Cấu trúc tình huống chiến lược

Cục diện đa biên tại Biển Đông không hoàn toàn là cuộc đấu quyền lực mạnh được, yếu thua, cũng không hoàn toàn là tranh tụng pháp lý nơi có quan tòa phân xử ai đúng, ai sai. Về mặt cấu trúc, đây là kiểu trò chơi xung đột phức tạp giữa nhiều bên không có sự thống nhất tuyệt đối, cũng như đối nghịch tuyệt đối về lợi ích, trong đó nước đi chiến lược của mỗi bên có thể chứa đựng cả yếu tố hợp tác lẫn bất hợp tác.[7] Mặc dù các bên can dự tại Biển Đông có lợi ích, động cơ và tính toán chiến lược riêng, nhưng các nước đi của họ có thể chia thành hai nhóm: các nước đi phù hợp với UNCLOS, góp phần bảo toàn nguyên trạng và các nước đi không tuân thủ UNCLOS, làm thay đổi nguyên trạng.

Nước đi thứ nhất

Trong bối cảnh Mỹ và các đồng minh sa lầy trong cuộc chiến chống khủng bố và suy thoái kinh tế, Trung Quốc tích cực sử dụng sức mạnh vượt trội của mình để mở rộng ảnh hưởng trên toàn cầu. Tại Biển Đông, nước này trở lại lối hành xử đơn phương, cứng rắn, không phù hợp với UNCLOS và khuôn khổ an ninh khu vực. 

1. Từ nửa cuối năm 2007, Trung Quốc tăng cường các hoạt động chấp pháp tại khu vực tranh chấp, gây sức ép, buộc một số công ty đa quốc gia phải ngừng hợp tác thăm dò và khai thác dầu khí với các nước tại Biển Đông, tăng cường tuần tra, bắt giữ ngư dân các nước láng giềng, tập trận quy mô lớn, thực thi lệnh cấm đánh bắt cá hàng năm, v.v…

2. Năm 2009, Trung Quốc phản đối hồ sơ đệ trình lên Ủy ban LHQ về Ranh giới thềm lục địa (CLCS) của các quốc gia khác ở Biển Đông. Ngày 7/5/2010 nước này lần đầu tiên chính thức gửi CLCS bản đồ về “đường chữ U” hoàn toàn đi ngược lại nguyên tắc cơ bản của UNCLOS.

Nước đi này của Trung Quốc, một mặt, đã làm đảo chiều cục diện Biển Đông, khiến tần suất và cường độ tranh cãi ngoại giao, cũng như va chạm trên biển tăng vọt một cách nguy hiểm.[8] Mặt khác, tuyên bố về “đường chữ U” đã đẩy tranh chấp vào chỗ hoàn toàn bế tắc về pháp lý.         

Nước đi thứ hai

1. Năm 2010, trên cương vị chủ tịch ASEAN, Việt Nam thực hiện điều chỉnh chính sách Biển Đông theo hướng kết hợp song phương với đa phương trên cơ sở UNCLOS với ba bước đi quan trọng theo hướng: (i) Thúc đẩy quan hệ Việt - Mỹ; (ii) Thống nhất lập trường các nước ASEAN về Biển Đông; (iii) Đẩy mạnh liên kết ASEAN - Mỹ.[9] Mặt khác, Việt Nam tăng cường khả năng phòng thủ đường biển, tuyên bố sử dụng Cam Ranh làm trung tâm dịch vụ hải quân quốc tế.

2. Từ giữa năm 2010, ban lãnh đạo mới của Phi-líp-pin thực hiện “nhất biên đảo” về phía Mỹ, thay đổi quan điểm trước đây về Biển Đông[10], dựa hẳn vào UNCLOS để đẩy mạnh tuyên bố và thực thi chủ quyền ở vùng biển được họ đổi tên thành biển Tây Phi-líp-pin. Ngày 5/4/2011 Phi-líp-pin gửi công hàm lên LHQ chính thức phản đối tuyên bố “đường chữ U” của Trung Quốc. 

3. Trong năm 2010, Mỹ củng cố các quan hệ chiến lược ở Đông Bắc Á (với các đồng minh Hàn Quốc, Nhật Bản, Ô-xtrây-li-a, nâng cấp quan hệ với Niu Di-lân, nối lại hợp đồng bán vũ khí cho Đài Loan), tích cực “trở lại” Đông Nam Á (cải thiện quan hệ với các nước ASEAN, ký Hiệp định Thân thiện và Hợp tác Đông Nam Á (TAC), tham gia ARF, tổ chức hội nghị thượng đỉnh Mỹ-ASEAN, đưa ra sang kiến Hạ Mê Công, gia nhập EAS, …).

Mặc dù xuất phát từ những tính toán lợi ích khác nhau, nhưng những nước đi của các nước kể trên cùng có tác dụng duy trì nguyên trạng tại Biển Đông trong khuôn khổ UNCLOS. Sự đồng bộ của các nước đi này đã tạo ra lực cộng hưởng nhằm đúng vào hai điểm yếu mà Trung Quốc luôn che chắn bằng chiến thuật “hai không”, đó là sự đồng thuận của ASEAN trong vấn đề Biển Đông và sự can dự trở lại Đông Nam Á của Mỹ. Trung Quốc rơi vào thế bị động, lúng túng, tham vọng “đường chữ U” dường như đang bị “vòng vây chữ C” ngăn cản.[11]

Nước đi thứ ba

Trung Quốc đáp trả bằng cách phá vỡ nguyên trạng ở Biển Đông, cố tình đẩy căng thẳng lên một cấp độ mới bằng việc thực hiện hai mũi giáp công được tính toán kỹ lưỡng:

1. Lãnh đạo cấp cao Trung Quốc tiến hành hàng loạt cuộc tiếp xúc quốc tế quan trọng.[12]

2. Thực hiện các vụ đột kích gây va chạm nghiêm trọng bằng nhiều tàu cá, ngư chính và hải giám vào sâu trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý (EEZ) của Phi-líp-pin và Việt Nam.

Mũi thứ nhất nhằm tạo sự hòa dịu, lôi kéo, phân hóa, chia rẽ các bên có liên quan, ngăn cản xu hướng hình thành quan điểm thống nhất về Biển Đông, đồng thời “viễn giao, cận công” - dàn dựng bối cảnh quốc tế thuận lợi cho mũi thứ hai. Mũi thứ hai nhằm tạo sự răn đe, gây sức ép lên các bên có liên quan. Thời điểm được Trung Quốc lựa chọn cho chiến dịch đột kích là sau Hội nghị thượng đỉnh ASEAN 18 (tháng 5/2011), nhưng trước khá xa các hội nghị lớn của khu vực như hội nghị ngoại trưởng ASEAN 44, ARF, thượng đỉnh ASEAN 19, EAS, v.v… cho phép Trung Quốc vừa kiểm tra được phản ứng của các bên, vừa đủ thời gian để Trung Quốc kịp xử lý các diễn biến bất trắc có thể xảy ra.

Bằng chiến dịch trả đũa, Trung Quốc đã: (i) “Biến không thành có”[13] - thực thi “đường chữ U” trên thực địa; (ii) Làm giảm tác dụng của các cơ chế an ninh khu vực như DOC, Đối thoại Shangri-La; (iii) Đe dọa Việt Nam và gây sức ép phân hóa ASEAN; (iv) Thử thách chiến lược “trở lại châu Á” và quan hệ với các đồng minh khu vực của Mỹ.     

Trong những năm qua, quy định của UNCLOS về vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của các quốc gia ven biển đã vạch ra ranh giới pháp lý góp phần quan trọng vào duy trì cân bằng lực lượng tại Biển Đông. Việc phá vỡ ranh giới này, đơn phương áp đặt một đường ranh giới mới đe dọa làm đảo lộn cán cân lực lượng tại đây. Để đánh giá mức độ đe dọa cần phân tích sâu hơn nước đi của Trung Quốc.

Thứ nhất, loạt hành động đe dọa của Trung Quốc tuy mạnh, nhưng có giới hạn: (i) Về phương tiện - chỉ sử dụng một số ít tàu chấp pháp chứ chưa phải tàu quân sự; (ii) Về thời gian - chỉ gây hấn trong thời gian ngắn; (iii) Về cường độ - chỉ gây va chạm gián tiếp (cắt cáp) chứ không va chạm trực tiếp bằng tàu (như tại Điếu ngư/Senkaku với tàu của Nhật Bản) vào tháng 9/2010; (iv) Về không gian - chưa có động thái điều động lực lượng nhằm mở rộng quy mô xung đột. Điều này hàm ý rằng, Trung Quốc hiện chỉ muốn phát đi thông điệp răn đe đối với những nước có liên quan đừng đi quá xa trong việc quốc tế hóa vấn đề Biển Đông. Thứ hai, Trung Quốc lặp lại nhiều lần việc xâm nhập dân sự là để ngầm cho các bên hiểu rằng, sự đe dọa của họ là hoàn toàn có chủ đích, được hoạch định kỹ lưỡng, không phải là các va chạm ngẫu nhiên. Thứ ba, việc Trung Quốc sử dụng chiến thuật xâm nhập chớp nhoáng vào sâu vùng EEZ của Việt Nam và Phi-líp-pin rồi rút lui nhanh chóng cho thấy họ vẫn muốn tránh rủi ro đụng độ với lực lượng vũ trang của các nước này, chưa có ý định khiêu khích quân sự và chủ động đẩy tình hình đến mức xung đột lớn. Thứ tư, Trung Quốc chỉ hạn chế việc gây căng thẳng trên biển và trên các phương tiện truyền thông, chưa có biểu hiện mở rộng sang lĩnh vực khác. Điều này cho thấy, họ chỉ muốn kiểm tra mức độ phản ứng của Việt Nam và Phi-líp-pin, mà chưa muốn thách thức quan hệ với Việt Nam và Phi-líp-pin nói chung. Thứ năm, Trung Quốc chỉ gây căng thẳng với hai nước gần nhất tại Biển Đông là Việt Nam và Phi-líp-pin, trong khi không động chạm tới các nước ở xa hơn như Bru-nây, Ma-lai-xi-a và In-đô-nê-xi-a. Đây vẫn là chiến thuật “chia để trị” quen thuộc nhằm khai thác tối đa “nan đề tù nhân” (prisoner’s dilemma) của các nước ASEAN[14]. Thứ sáu, Trung Quốc chỉ cảnh báo Mỹ không được can dự vào vấn đề Biển Đông bằng lời ở cấp thấp (người phát ngôn Bộ Ngoại giao), mà không đi kèm bất cứ hành động trả đũa nào trên thực tế, đồng thời tái cam kết tôn trọng tự do hàng hải tại vùng nước này, cố gắng tách vấn đề tự do hàng hải mà Mỹ tuyên bố có lợi ích quốc gia ra khỏi vấn đề tranh chấp chủ quyền. Điều này chứng tỏ, Trung Quốc chỉ muốn “đả thảo kinh xà” hay “rung cây dọa khỉ”,  chưa muốn va chạm trực tiếp với Mỹ. Trên thực tế, việc Mỹ tuyên bố có lợi ích quốc gia đối với hòa bình, ổn định và tôn trọng luật pháp quốc tế tại Biển Đông, nhưng không cam kết cụ thể sẽ làm gì khi điều này bị vi phạm, đồng thời cũng nhắc đi nhắc lại rằng không can dự vào tranh chấp chủ quyền giữa các bên đã tạo cho Trung Quốc sự tự tin nhất định.

Như vậy có thể thấy, vào thời điểm hiện tại, áp đặt “đường chữ U” bằng bất cứ giá nào chưa phải là mục tiêu sống còn của Trung Quốc. Chia nhỏ một đe dọa lớn thành nhiều bước đi gây đe dọa nhỏ được Trung Quốc áp dụng là kiểu chiến thuật răn đe điển hình, chưa nhằm kích động xung đột lớn.[15] Vấn đề mấu chốt là ở chỗ, bằng hành động của mình, Trung Quốc đã “qua sông đốt cầu” - phủ nhận việc áp dụng quy định của UNCLOS về vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của các bên ở Biển Đông, phủ nhận DOC và các cơ chế an ninh liên quan, khiến cho tình hình không thể trở về trạng thái trước đó.

Điểm yếu căn bản trong nước đi của Trung Quốc là đã phát đi một đe dọa quá lớn. Một khi ranh giới pháp lý ở Biển Đông bị chọc thủng, thì nguy cơ “vỡ đê” an ninh trên toàn tuyến Biển Đông lập tức đặt các nước có liên quan vào tình trạng báo động khẩn cấp. Nghiêm trọng hơn, do cân bằng chiến lược tại Biển Đông liên hệ chặt chẽ với các cân bằng chiến lược then chốt khác ở châu Á - Thái Bình Dương, nên phá vỡ nguyên trạng tại Biển Đông đồng thời cũng đe dọa an ninh trên toàn khu vực. Đến lượt nó, đe dọa này lại khiến cho vấn đề Biển Đông được quốc tế hóa mạnh, hình ảnh “phát triển hòa bình” và lòng tin của cộng đồng quốc tế đối với Trung Quốc như một nước lớn có trách nhiệm bị tổn hại.

Nước đi thứ tư

1. Việt Nam liên tiếp phản đối hành vi của phía Trung Quốc, đưa vấn đề Biển Đông ra Hội nghị ngoại trưởng ASEM lần thứ 10 (tháng 6/2011 tại Godollo, Hungary), tập trận bắn đạn thật gần bờ, tổ chức Đối thoại chính trị - an ninh - quốc phòng Việt-Mỹ lần bốn tại Washington với tuyên bố chung “tái khẳng định cam kết tăng cường quan hệ song phương trên cơ sở hữu nghị, tôn trọng lẫn nhau, và các cam kết chung về đảm bảo một khu vực châu Á - Thái Bình Dương hoà bình, ổn định, phồn vinh và an ninh”, “thảo luận việc nâng tầm quan hệ song phương hướng tới quan hệ đối tác chiến lược”. Mặt khác, Việt Nam vẫn thực hiện tuần tra hải quân định kỳ với Trung Quốc tại Vịnh Bắc Bộ, tiến hành thăm viếng quốc phòng và đặc biệt là cử phái viên của lãnh đạo cấp cao đến Bắc Kinh.

2. Phi-líp-pin cũng phản đối mạnh mẽ đường chữ U và hành vi gây hấn của Trung Quốc và gửi kháng nghị thư lên LHQ, tăng cường sức mạnh hải quân và không quân, cử ngoại trưởng thăm Mỹ, tập trận hải quân với Mỹ, tuyên bố dự định đưa tranh chấp với Trung Quốc ra tòa án quốc tế. Đồng thời nước này cũng đưa ra sáng kiến thiết lập Khu vực hòa bình, tự do, hữu nghị và hợp tác tại Biển Đông (ZoPFF/C),[16] phái ngoại trưởng Del Rosario tới Bắc Kinh để đàm phán.

3. Mỹ tái khẳng định thực hiện Hiệp ước phòng thủ chung và tập trận hải quân với Phi-líp-pin, diễn tập phi tác chiến với hải quân Việt Nam, tập trận hải quân ba bên Mỹ - Nhật - Ô-xtrây-li-a ngoài khơi Bru-nây, ra các nghị quyết của Thượng viện và Hạ viện về tình hình Biển Đông kêu gọi thiết lập cơ chế an ninh đa phương. Mặt khác, Mỹ cũng tích cực đối thoại với Trung Quốc, đặc biệt là chuyến thăm Trung Quốc của Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân M. Mullen.    

Phản ứng của Việt Nam, Phi-líp-pin và Mỹ là thích đáng, nhưng rõ ràng mang tính kiềm chế và xây dựng. Thứ nhất, các bên đều ra các tuyên bố mạnh mẽ đi kèm với hành động đáp trả có mức độ răn đe vừa đủ. Thứ hai, các nước này đều chủ động đối thoại song phương với Trung Quốc - cử đại diện cấp cao sang Bắc Kinh nhằm tháo ngòi nổ xung đột. Thứ ba, quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ, Phi-líp-pin - Hoa Kỳ nói riêng, và quan hệ ASEAN - Hoa Kỳ nói chung được củng cố và tăng cường hơn.

Tuy nhiên, sự thống nhất của ASEAN trong vấn đề Biển Đông rõ ràng đã suy giảm. Những phản ứng rời rạc tại Đối thoại Shangri-La (3-5/6/2011) và tuyên bố của Tổng thư ký ASEAN Surin Pitsuwan rằng, “ASEAN không can thiệp vào vấn đề tranh chấp giữa Việt Nam, Ma-lai-xi-a, Bru-nây, Phi-líp-pin, Đài Loan và Trung Quốc, nhưng sẽ mở diễn đàn thảo luận công khai và thẳng thắn về các vấn đề Biển Đông” cho thấy sự lúng túng của tổ chức này. Đây chính là những biểu hiện của tình trạng né tránh trách nhiệm hay “đùn đẩy chiến lược” (buck-passing), cái mà Michael Richardson gọi là “nan đề ASEAN” (ASEAN’s dilemma).[17] Mặt khác, rõ ràng là Mỹ có lợi ích hạn chế trong việc giải quyết triệt để tranh chấp tại Biển Đông. Mục đích chính của Washington là quản trị rủi ro, khống chế tình trạng nhùng nhằng để không bùng phát thành xung đột thông qua các cơ chế đa phương. Trên thực tế, hiệu quả khiêm tốn của các cơ chế như vậy có thể thấy qua hàng loạt ví dụ như cơ chế đàm phán sáu bên về vấn đề hạt nhân Triều Tiên hay nhóm P5+1 về vấn đề hạt nhân I-ran.

Bốn nước đi được phân tích ở trên cho thấy, tranh chấp ở Biển Đông đã mang sắc thái “ăn miếng, trả miếng” nguy hiểm, nhưng chưa đến mức “một mất, một còn” của trò chơi có tổng bằng 0. Hòa bình, ổn định và phát triển vẫn là các lợi ích to lớn được tất cả các bên tính tới và cân nhắc.

Một vài dự báo 

Kiểu nước đi và phản ứng tiếp theo của các bên là gì? Căn cứ vào ba chiều cạnh là phương tiện (ngoại giao, pháp lý, dân sự, quân sự), không gian (bên ngoài hay bên trong vùng đặc quyền kinh tế của các nước láng giềng) và thời gian (đột kích chớp nhoáng hay đồn trú lâu dài), có thể thấy Trung Quốc có 7 nhóm đối sách chính, được sắp xếp theo thứ tự mức độ nghiêm trọng tăng dần (Bảng 1), trong đó nhóm đối sách sau không loại trừ, mà bao gồm các nhóm đối sách đứng trước.

Việc Trung Quốc lựa chọn nước đi nào tùy thuộc vào tình hình chính trị bên trong, cũng như phản ứng từ bên ngoài. Do khuôn khổ bài viết có hạn, nghiên cứu này giả định rằng, sẽ không có những thay đổi nào trong nội bộ Trung Quốc làm đảo lộn đường hướng chiến lược của họ tại Biển Đông,[18] cũng như Hoa Kỳ vẫn tiếp tục theo đuổi mục tiêu can dự vào vùng biển này.[19] Trong trường hợp đó, có thể xem xét quỹ đạo chuyển dịch tình huống chiến lược Biển Đông thông qua sự thay đổi trong cặp đối sách Việt - Trung.

Bảng 1. Các lựa chọn chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông

Giảm mức độ nghiêm trọng

Duy trì

mức độ nghiêm trọng hiện nay

Gia tăng
mức độ nghiêm trọng

Đàm phán

đa phương

Gây sức ép bên ngoài VnEEZ

Gây sức ép

pháp lý

Đột kích

dân sự vào trong VnEEZ

Đồn trú

dân sự

trong VnEEZ

Đột kích

quân sự vào trong VnEEZ

Đồn trú

quân sự

trong VnEEZ

             

Tùy thuộc vào phương tiện được sử dụng để đấu trang bảo vệ chủ quyền mà Việt Nam có 5 nhóm đối sách chính theo mức độ nghiêm trọng tăng dần là: đàm phán đa phương - đấu tranh dân sự - đấu tranh ngoại giao - đấu tranh pháp lý - đấu tranh vũ trang. Các nhóm đối sách sau không loại trừ, mà bao gồm các nhóm đối sách đứng trước.

Bảng 2. Ma trận lợi ích chiến lược Việt Nam-Trung Quốc ở Biển Đông


Ma trận lợi ích chiến lược (Bảng 2) phản ánh tất cả các cặp đối sách của Việt Nam và Trung Quốc. Lợi ích (hay thiệt hại) của mỗi bên từ việc lựa chọn đối sách được đánh giá theo thang điểm từ -5 đến +5 và được ghi vào ô tương ứng, ở góc dưới bên trái đối với Việt Nam và góc trên bên phải đối với Trung Quốc. Để khách quan, việc cho điểm cần được thực hiện bằng phương pháp chuyên gia, tuy nhiên trong bài viết này chỉ sử dụng đánh giá chủ quan của tác giả.

Cấu trúc chiến lược Biển Đông như đã phân tích ở phần trước có thể thấy rõ qua các bước chuyển trên ma trận. Bước chuyển từ A qua B đến C phản ánh nỗ lực ngoại giao của Trung Quốc nhằm phân hóa, chia rẽ các nước ASEAN trong vấn đề Biển Đông, gia tăng sức mạnh trên biển, tuyên bố chủ quyền bên trong “đường chữ U”. Chuyển dịch từ C qua D đến E là những bước đi chủ động phòng ngừa của Việt Nam từ năm 2007 đến năm 2010. Bước ngoặt từ E sang F là kết quả của nước đi gây căng thẳng vừa qua của Trung Quốc, đe dọa nghiêm trọng an ninh quốc gia của Việt Nam.

Ma trận cho phép dự báo, trong ngắn hạn, từ trạng thái F hiện nay tình hình có thể tiến triển theo một trong sáu kịch bản sau:  

1. Trung Quốc đơn phương rút lui tuyên bố về “đường chữ U”, cam kết tôn trọng ranh giới vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của các nước láng giềng ở Biển Đông (chấp nhận lùi từ F trở về E). Sau việc Trung Quốc đã chính thức chuyển cho CLCS bản đồ về “đường chữ U”, kịch bản này rất khó có khả năng xảy ra.

2. Việt Nam từ bỏ chủ trương đa phương hóa vấn đề Biển Đông (lùi từ F về G), quay về đàm phán song phương với Trung Quốc. Đối sách này không những ít có khả năng xoa dịu tình hình, mà còn có thể kích thích Trung Quốc thừa cơ lấn tới, gây thiệt hại lớn hơn cho Việt Nam. Vì vậy, đây là kịch bản mà Việt Nam không thể chấp nhận được.

3. Việt Nam đưa tranh chấp ra tòa án quốc tế (từ F tới H). Đây là phương án được Phi-líp-pin đề xuất, hoàn toàn nằm trong khuôn khổ UNCLOS và DOC. Tuy nhiên, thực tiễn pháp lý quốc tế cho thấy, trong ngắn và trung hạn lựa chọn này ít có tác dụng kịp thời, còn về dài hạn thì khả năng giải quyết tranh chấp rất thấp.

4. Việt Nam sử dụng biện pháp đấu tranh bằng quân sự trước (từ F xuống J). Đây là hành động tự vệ chính đáng khi chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia bị xâm phạm nghiêm trọng. Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, tình hình hiện vẫn chưa đến mức “một mất, một còn” của trò chơi có tổng bằng 0, hòa bình, ổn định, phát triển vẫn là các giá trị được tất cả các bên tính tới. Nói cách khác, cơ hội giải quyết thông qua đối thoại hòa bình vẫn chưa khép lại và do đó, kiềm chế sử dụng vũ lực trước vẫn là ưu tiên hàng đầu. 

5. Trung Quốc tiếp tục leo thang căng thẳng, đẩy tình hình lên cấp độ nghiêm trọng mới bằng việc đồn trú dân sự trong vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam (từ F sang I). Trong trường hợp này, bất chấp tình hình có thể xấu đi, Việt Nam không còn lựa chọn nào khác ngoài việc kiên quyết ngăn chặn để bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ (từ I xuống K).

6. Giữ nguyên hiện trạng (dừng ở điểm F). Việc “đóng băng” tình trạng hiện nay có thể được đạt được bằng cam kết của các bên, hoặc song phương giữa Việt Nam - Trung Quốc hoặc đa phương giữa ASEAN - Trung Quốc, về việc không có hành động làm phức tạp thêm tình hình. Cả hai phương án đều phải chấp nhận “lờ đi” hành động gây căng thẳng vừa qua của Trung Quốc để đổi lấy cam kết không làm tình hình xấu hơn.

Trên thực tế, việc Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN+Trung Quốc họp tại Bali (In-đô-nê-xi-a) ngày 21/7/2011 vừa qua đạt được thỏa thuận về bản Hướng dẫn thực thi DOC cho thấy tình hình có chiều hướng tiến triển theo kịch bản thứ sáu. Tin tốt là trong ngắn hạn, kiểu tạm ước như vậy, cho dù nội dung sơ sài đến đâu, vẫn có tác dụng “hoãn binh” kiềm chế nguy cơ bùng phát xung đột tức thời. Trong bối cảnh hiện nay, duy trì nguyên trạng là phương án vừa khả thi nhất, vừa an toàn nhất cho tất cả các bên. Tin xấu là về trung hạn, nếu căn cứ vào các đánh giá trên ma trận (Bảng 2), trạng thái F là một cân bằng Pareto không bền vững,[20] trong đó bên có lợi thế “nắm dao đằng chuôi” - luôn có thể sử dụng hoặc đe dọa sử dụng các nước đi làm xói mòn hay thậm chí phá vỡ nguyên trạng (ví dụ chuyển từ F sang I).

Trong bất cứ trường hợp nào cần chặn đứng xu hướng chuyển dịch ngày càng xa khu vực an toàn (góc trên bên trái ma trận) và ngày càng gần khu vực nguy hiểm (góc dưới bên phải ma trận), hóa giải nguy cơ “tiến thoái lưỡng nan Xi-bê-ri” (Xi-bê-ri dilemma) đang hiện rõ, trong đó các bên chỉ còn hai lựa chọn: xung đột sớm hay xung đột muộn.

Thay lời kết    

Về dài hạn, cục diện pháp lý tại Biển Đông ít có triển vọng đạt đến trạng thái phân định rạch ròi như ở biển Ban-tích, Hắc Hải, Cax-pi-a hay Vịnh Mê-hi-cô. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, trong nhiều trường hợp, đặt vấn đề giải quyết triệt để tình trạng chồng lấn chủ quyền trên biển không những là nhiệm vụ bất khả thi, mà còn  đẩy tình hình tranh chấp vào chỗ bế tắc hoàn toàn với kết cục xung đột khó tránh khỏi. Tuy nhiên, cục diện pháp lý kém khả quan này không có nghĩa là cục diện an ninh Biển Đông không có lối thoát.

Như đã phân tích, việc bảo đảm an ninh lâu dài ở Biển Đông đòi hỏi phải xây dựng một khuôn khổ an ninh chung dựa trên nền tảng cân bằng quyền lực.[21] Mô hình Liên minh Địa Trung Hải[22] kết hợp được cả hai yếu tố này, vì thế, có thể là một gợi ý không tồi về lối thoát cho cục diện an ninh Biển Đông - vùng biển vốn được nhà địa chính trị Nicolas Spykman gọi là “Địa Trung Hải châu Á”.[23] Thứ nhất, mức độ thể chế hóa an ninh Biển Đông bằng tuyên bố chung DOC hay bộ quy tắc ứng xử COC, thậm chí ngay cả đề xuất của Phi-líp-pin về Khu vực Hòa bình, Tự do, Hữu nghị và Hợp tác ASEAN - Trung Quốc ở Biển Đông là cần, nhưng có thể không đủ để ngăn chặn các hành động đơn phương vi phạm các cam kết, nhất là đối với bên có lợi thế “nắm dao đằng chuôi”. Thứ hai, tương tự như Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác Đông Nam Á đã trở thành nền tảng cho toàn bộ kết cấu hội nhập khu vực lấy ASEAN làm trung tâm, các quy tắc ứng xử cần được thể chế hóa ở mức độ cao hơn, trở thành chuẩn mực bắt buộc cho tất cả các “cổ đông” ở Biển Đông, làm nền tảng cho việc hình thành một Liên minh, Cộng đồng hay Ủy hội Biển Đông. Một tổ chức như vậy sẽ khắc phục được sự lỏng lẻo thiếu hiệu quả của các diễn đàn an ninh hay nhóm đối thoại, nhưng đồng thời lại có lợi thế là không đòi hỏi sự tham gia ngay từ đầu của tất cả các bên như các cam kết về ứng xử, mà từng bước gia tăng sức nặng của mình, cho phép dung hòa được “2 trong 1” phương châm “gác lại tranh chấp, cùng nhau khai thác” và quan điểm đa phương hóa - quốc tế hóa hiện vẫn đối chọi nhau. Thứ ba, đó phải là một cơ chế an ninh tập thể mang tính mở, thu hút được tất cả các nước lớn có lợi ích quốc gia ở vùng biển này nhằm đảm bảo thực hiện “cân bằng quyền lực được thể chế hóa” (institutionalized balancing).[24]  Đây sẽ là sự bổ sung thiết yếu cho Cộng đồng an ninh ASEAN nói riêng, cũng như toàn bộ kết cấu an ninh Đông Á lấy ASEAN làm hạt nhân nói chung, góp phần quản trị quyền lực, loại trừ nguy cơ xung đột, tăng cường hòa bình, ổn định và hợp tác phát triển tại khu vực.

Cuối cùng, bài học về sự đảo chiều của cục diện Biển Đông trong thập niên vừa qua cho thấy, để ngăn ngừa tình hình xấu đi, tiến trình kiến tạo khuôn khổ an ninh vững chắc cho vùng biển này không được tụt hậu, mà phải luôn vượt lên trước xu thế xói mòn nguyên trạng.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Avinash K. Dixit, Barry J. Nalebuff, Tư duy chiến lược, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2010.

Carlyle A. Thayer, “Security Cooperation in the South China Sea: An Assessment of Recent Trends”, tại địa chỉ http:// www.nghiencuubiendong.vn/   

David Shambaugh, “Coping with a Conflicted China”, The Washington Quarterly, Winter 2011, Vol 34, No. 1, pp. 7-27.

Đặng Xuân Thanh, “Bong bóng kép tài chính - bá quyền Mỹ”, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, số 4, 2008.

Fidel Ramos, “Building Pax Asia-Pacifica”, Project - Syndicate, July 14, 2011.

Joshua Kurlantzick, Charm Offensive: How China's Soft Power Is Transforming the World, Yale University Press, 2007.

Lê Hồng Nhật, “Tình thế lưỡng nan của Việt Nam, Phi-líp-pin và những cơ hội mới”, Tuần Việt Nam.

Michael Richardson, ASEAN’s dilemma in South China Sea”, Straits Times, July 4, 2011.

Mark J. Valencia, “The South China Sea: Back to the Future?”, Global Asia, Vol. 5, No. 4, Winter 2010.


Tetsuo Kotani, “Why China Wants South China Sea”, The Diplomat, July 18, 2011.

Roy C. Mabasa, “Spratlys Gambit”, The Manila Bulletin, June 10, 2011.

Thomas C. Schelling, Chiến lược xung đột, Nxb. Trẻ, 2006.

Yang Yi, “Navigating Stormy Waters”, China Security, Vol. 6, No. 3, 2010,  pp. 43-50.

SIPRI, “Yearbook 2011: Armaments, Disarmament and International Security”, Sweden, 2011.

TS. Đặng Xuân Thanh

Bài viết đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, Học viện Ngoại giao, số 3 (86), tháng 9/2011



* Ts., Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu Đông Bắc Á.

[1]  Đặng Xuân Thanh, “Bong bóng kép tài chính - bá quyền Mỹ”, Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, số 4, 2008.

[2] Joshua Kurlantzick, Charm Offensive: How China's Soft Power Is Transforming the World, Yale University Press, 2007.

[3] Theo SIPRI Yearbook 2011, Đông Á trở thành khu vực chi tiêu quốc phòng nhiều thứ ba thế giới sau Bắc Mỹ và Tây Âu, nhưng dẫn đầu về nhập khẩu vũ khí.

[4] Mỹ đã thành công trong việc thay đổi chiến lược chống khủng bố, chuyển hai cuộc chiến tại I-rắc và Áp-ga-ni-xtan từ cường độ cao - chí phí lớn xuống cường độ thấp - chi phí nhỏ.

[5] Tranh chấp Nga - Nhật về bốn đảo thuộc quần đảo Nam Kuril/lãnh thổ phía Bắc từ nguội lại được hâm nóng; tình hình bán đảo Triều Tiên từ hòa hoãn chuyển sang nóng bỏng; tranh chấp tại Biển Đông từ tương đối ôn hòa chuyển sang căng thẳng; riêng quan hệ hai bờ eo biển Đài Loan từ căng thẳng chuyển sang hòa dịu.

[6] Quyền tài phán (jurisdiction) và quyền chủ quyền (sovereign right) là hai trong số các quyền cơ bản của chủ quyền quốc gia (cùng với quyền độc lập, quyền tự quyết, quyền toàn vẹn lãnh thổ và bất khả xâm phạm). Quyền tài phán là quyền xét xử các vi phạm pháp luật trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước có chủ quyền. Quyền chủ quyền là quyền thăm dò, khai thác tài nguyên tại các vùng thuộc chủ quyền của quốc gia.

[7] Thomas Schelling, Chiến lược xung đột, Nxb Trẻ, 2006., tr. 3-6.

[8] Riêng trong năm 2009, Trung Quốc đã có ít nhất ba lần va chạm với Mỹ tại Biển Đông trong vụ tàu hải quân USNS Impeccable, USS John McCain và tàu khảo sát Marcus G. Langseth.

[9] Việt Nam đã tích cực điều phối tổ chức Hội nghị thượng đỉnh Mỹ-ASEAN tại New York tháng 9/2010, Hội nghị các bộ trưởng Mỹ - Mê Công tháng 7/2010, Hội nghị ARF, Hội nghị ADMM +…

[10] Năm 2004, Phi-líp-pin ký kết riêng rẽ với Trung Quốc Hiệp định Nghiên cứu địa chấn hải dương (JMSU). Năm 2009, Phi-líp-pin không đệ trình báo cáo về thềm lục địa lên CLCS, không phản đổi tuyên bố chủ quyền “đường chữ U” của Trung Quốc, không nhận lời mời của Việt Nam và Ma-lai-xi-a tham gia báo cáo chung về thềm lục địa mở rộng, ngược lại còn phản đối báo cáo chung của Việt Nam và Ma-lai-xi-a.

[11] Thuật ngữ “vòng vây hình chữ C” được đại tá không quân Trung Quốc Dai Xu đưa ra trong sách Vòng vây hình chữ C: Đột phá của Trung Quốc dưới tác động của các vấn đề bên trong và sự gân hấn bên ngoài xuất bản năm 2009 để mô tả cái mà tác giả cho là âm mưu của Mỹ lôi kéo một số nước trong khu vực thiết lập vòng vây nhằm ngăn chặn, kiềm chế Trung Quốc (Xem Yang Yi, 2010).

[12] Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào thăm Mỹ (tháng 1/2011), Tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc Trần Bỉnh Đức thăm Mỹ (tháng 5/2011), Thủ tướng Ôn Gia Bảo thăm In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a (tháng 4/2011) và dự Hội nghị thượng đỉnh Trung - Nhật - Hàn lần thứ 4 tại Tokyo (tháng 5/2011), thắt chặt quan hệ với Mi-an-ma với hai chuyến thăm của ông Giả Khánh Lâm tới Mi-an-ma (tháng 4/2011) và Tổng thống Mi-an-ma Thein Sein sang Trung Quốc (tháng 5/2011), Bộ trưởng quốc phòng Lương Quang Liệt thăm ba nước Xinh-ga-po-, In-đô-nê-xi-a và Phi-líp-pin (tháng 5/2011), Chủ tịch Hồ Cẩm Đào thăm Nga và Ca-dắc-xtan (tháng 6/2011).

[13] “Vô trung sinh hữu” theo Tôn Tử Binh pháp.

[14] Lê Hồng Nhật, “Tình thế lưỡng nan của Việt Nam, Phi-líp-pin và những cơ hội mới”, tại địa chỉ www.tuanvietnam.vietnamnet.vn.

[15] Thomas Schelling, sđd, tr. 52-64. Chiến thuật “chia nhỏ đe dọa lớn” sẽ được phân tích kỹ hơn ở phần 3.

[16] Roy C. Mabasa, “Spratlys Gambit”, The Manila Bulletin, June 10, 2011.

[17] Michael Richardson, “ASEAN’s dilemma in South China Sea”, Straits Times, July 4, 2011.

[18]  Có ba giả thuyết cho rằng chính sách đối ngoại cứng rắn bất thường gần đây của Trung Quốc xuất phát từ tình hình nội bộ của nước này: (i) Giới quân sự muốn dùng vấn đề bên ngoài để gây thanh thế nhằm củng cố vị thế trong nước trước Đại hội 18 Đảng Cộng sản Trung Quốc vào năm 2012;  (ii) Đây là hành động “tự phát” của các địa phương; (iii) Lãnh đạo cấp cao muốn hướng dư luận bức xúc trong nước ra các vấn đề nóng bên ngoài. Có ba lý do khiến các giả thuyết trên ít có cơ sở. Thứ nhất, sự phối hợp của nhiều cơ quan, lực lượng vào hoạt động gây căng thẳng ở Biển Đông cho thấy đây là chiến dịch được tổ chức kỹ lưỡng dưới sự chỉ đạo từ trung ương. Thứ hai, thời gian từ nay cho đến Đại hội 18 Đảng Cộng sản Trung Quốc còn tương đối dài, mà căng thẳng ở Biển Đông không thể kéo dài quá lâu chỉ để thu hút sự chú ý của dư luận trong nước. Thứ ba, môi trương quốc tế và khu vực bất ổn và thù địch đối với Trung Quốc là rất bất lợi và nguy hiểm cho một sự kiện trọng đại là Đại hội Đảng.      

[19] Chiến lược an ninh quốc gia Hoa Kỳ 2010 và những động thái gần đây nhất của Mỹ như củng cố quan hệ chiến lược với Nhật Bản, Hàn Quốc, Ô-xtrây-li-a, Phi-líp-pin, Ấn Độ, xúc tiến bán vũ khí cho Đài Loan, tăng cường hợp tác với các nước ASEAN, v.v... tiếp tục chứng tỏ xu hướng này.

[20] Trong trò chơi chiến lược, cân bằng Pareto là tình thế không bên nào có thể đơn phương cải thiện lợi ích của mình mà không gây thiệt hại cho các bên còn lại. Tính chất không bền vững phản ánh tình trạng các bên đều có động cơ thay đổi nguyên trạng (Xem Avinash K. Dixit, Barry J. Nalebuff, Tư duy chiến lược, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2010).

[21] Lập luận của Fidel Ramos (2011) rằng, chỉ cần cân bằng lợi ích giữa các bên liên quan là đã có thể bảo đảm được ổn định ở Biển Đông (mà không cần đến cân bằng quyền lực) không giải quyết được vấn đề lợi ích cốt lõi của Trung Quốc ở vùng biển này đang ngày càng mở rộng.

[22] Liên minh Địa Trung Hải là tổ chức bao gồm 27 nước châu Âu và 16 nước Bắc Phi, Trung Đông và Ban-căng được nâng cấp từ tổ chức Đối tác châu Âu - Địa Trung Hải vào năm 2008. Bốn lĩnh vực hợp tác là chính trị - an ninh, kinh tế - thương mại, văn hóa - xã hội và pháp luật. Hội nghị thượng đỉnh hai năm một lần và Ban thư ký là những cơ cấu lãnh đạo chủ yếu.

[23] Tetsuo Kotani, “Why China Wants South China Sea”, The Diplomat, July 18, 2011.

[24] Chales A. Kupchan, Clifford A. Kupchan. The Promise of Collective Security// International Security, Vol. 20, No. 1, Summer 1995, pp. 52-61.

 

Những điều chỉnh trong chiến lược của Trung Quốc đối với Biển Đông đã có những thay đổi rõ rệt. Điều này dựa trên mối liên hệ giữa chính sách Biển Đông của Trung Quốc với những diễn biến mới trong bối cảnh quốc tế, chính trị nội bộ của Trung Quốc, đặc biệt là gắn nó với chiến lược an ninh - đối ngoại của Bắc Kinh hiện nay. Do đó chiến lược giấu mình chờ thời hay “ ngoại giao hài hòanhường chỗ cho chiến lược an ninh và đối ngoại mang tính khẳng định hơn, chủ động và hiếu chiến hơn nhằm gây sức ép với các nước tranh chấp trong khu vực.

(Phần II)

 

 


Để hiểu được động cơ đằng sau những thay đổi trong cách hành xử của Trung Quốc ở Biển Đông, cần phải đặt chính sách Biển Đông của Trung Quốc trong mối liên hệ với những diễn biến mới trong bối cảnh quốc tế, chính trị nội bộ của Trung Quốc, đặc biệt là gắn nó với chiến lược an ninh - đối ngoại của Bắc Kinh hiện nayCó thể nhận định, điều chỉnh chính sách của Trung Quốc  Biển Đông nằm trong thay đổi chiến lược an ninh và đối ngoại của Bắc Kinh trong bối cảnh quốc tế và trong nước có nhiều nhân tố mới.

Thay đổi cơ bản nhất trong môi trường chiến lược quốc tế là việc sức mạnh tổng hợp của Trung Quốc tăng mạnh làm cho khoảng cách kinh tế, quân sự, và quốc phòng giữa Mỹ và Trung Quốc ngày càng thu hẹp, cho cán cân quyền lực kinh tế và quân sự chuyển dịch theo hướng có lợi cho Trung Quốc. Trung Quốc vươn lên mạnh mẽ vượt Đức và Nhật, trở thành nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới trong lúc Mỹ suy yếu tương đối sau cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế, gặp khó khăn cả bên trong và bên ngoài. Một phần nguồn lực kinh tế được đầu tư để hiện đại hóa quốc phòng, đặc biệt là hải quân. Đô đốc Mike Mullen, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Mỹ, nhận định rằng ý đồ chiến lược đằng sau sự phát triển các khả năng quân sự mới của Trung Quốc dường như tập trung vào lực lượng hải quân Mỹ và căn cứ quân sự của Mỹ ở khu vực này của thế giới[1].

Thực lực kinh tế hùng mạnh, đặc biệt là kho dự trữ ngoại hối to lớn và vị thế hàng đầu trong nền thương mại quốc tế cho phép Trung Quốc có khả năng tác động mạnh đến kinh tế thế giới, không những thoát khỏi thế phụ thuộc vào Mỹ để phát triển mà còn đưa siêu cường này vào một tình thế “phụ thuộc sống còn về kinh tế” [mutually economic destruction][2]. Đó là lý do tại sao, Trung Quốc ngày càng tỏ ra tự tin, ngạo mạn, không còn “giấu mình chờ thời”, mà chủ động phô diễn sức mạnh về quân sự và sẵn sàng nói không với Mỹ trên nhiều vấn đề. Trung Quốc tận dụng mọi cơ hội để thay đổi luật chơi, gạt bỏ vai trò chủ đạo của Mỹ. Hiện nay, Trung Quốc là một đầu tàu kinh tế, là một bên chủ yếu nắm giữ chìa khóa đối với nhiều vấn đề chính trị tại khu vực và đang muốn chứng tỏ vai trò là cường quốc quân sự châu Á duy nhất tại Đông Á, thách thức vai trò siêu cường của Mỹ ở khu vực.

Lợi dụng việc Mỹ sa lầy trong cuộc chiến ở Áp-ga-ni-xtan và I-rắc, bối rối trong cách ứng phó với CHDCND Triều Tiên và I-ran, bận rộn xử lý vấn đề I-xra-en và Pa-le-xtin, Trung Quốc tìm cách từng bước lấn lướt Mỹ ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Từ 2002 đến 2007, Trung Quốc phát huy ảnh hưởng đối với các nước Đông Nam Á qua các cơ chế ASEAN+1, ASEAN+3, Cấp cao Đông Á, Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO)… để đối trọng với hệ thống an ninh “trục và nan hoa” của Mỹ. Tháng 3/2003, Trung Quốc tham gia Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác (TAC) và cùng với ASEAN thông qua Tuyên bố chung về Đối tác chiến lược ASEAN-Trung Quốc. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng đẩy mạnh ảnh hưởng ở khu vực Đông Nam Á thông qua các kênh song phương. Tháng 4/2005, Trung Quốc và In-đô-nê-xi-a ký tuyên bố chung về xây dựng quan hệ đối tác chiến lược. Tháng 4/2006, Trung Quốc và Cam-pu-chia thông qua Chương trình Đối tác Hợp tác Toàn diện. Tháng 5/2007, Trung Quốc và Thái Lan ký Chương trình Hành động cho Hợp tác Chiến lược. Ngoài ra, còn có một loạt các thỏa thuận hợp tác an ninh song phương giữa Trung Quốc với Ma-lai-xi-a, Việt Nam, Bru-nây, Xinh-ga-po, Phi-lip-pin và Lào. Từ 2002 đến 2008, Trung Quốc và 10 nước ASEAN trao đổi 124 đoàn quan chức quốc phòng cao cấp cùng với các hoạt động tham vấn thường xuyên với 10 nước này[3]. Bằng cách đó, Trung Quốc đã nâng cao vai trò và vị thế của mình ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương một cách tương đối so với vai trò và vị thế của Mỹ và Nhật Bản.

Ở trong nước, chính quyền Bắc Kinh ngày càng phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc thực hiện hai mục tiêu cơ bản xuyên suốt của mình là (i) duy trì ổn định chính trị và phát triển kinh tế, cơ sở cho tính chính đáng của Đảng Cộng sản, và (ii) ngăn chặn các làn sóng bạo loạn, ly khai trong các cộng đồng sắc tộc thiểu số ở các vùng biên cương. Quá trình đổi mới kinh tế mà không đổi mới chính trị buộc các nhà lãnh đạo thực dụng của Trung Quốc phải tìm kiếm các cơ sở chính đáng mới ở chủ nghĩa dân tộc. Thứ nhất, Đảng Cộng sản Trung Quốc thể hiện họ lãnh đạo dân tộc để bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc, từ Tây Tạng, Tân Cương đến Đài Loan và Biển Đông. Bên cạnh đó, con bài chủ nghĩa dân tộc đã được sử dụng tương đối thành công khi Trung Quốc phải đối mặt với các thế lực thù địch từ bên ngoài, ví dụ như trong việc Bắc Kinh phản đối Mỹ và Phương Tây trong các vấn đề dân chủ, nhân quyền, can thiệp vào các vấn đề Tây Tạng, Tân Cương và Đài Loan, bảo vệ hình ảnh của Trung Quốc trong Thế vận hội Olympic 2008, và gần đây nhất là bảo vệ tàu và ngư dân Trung Quốc bị Nhật Bản bắt[4]. Đáng chú ý, một học giả Mỹ phát hiện ra một thực tế rằng các phương tiện thông tin đại chúng của Trung Quốc đưa tin nhanh và tuyên truyền rộng rãi, mạnh mẽ về vấn đề tranh chấp biển đảo, trong khi đưa tin mờ nhạt về các tranh chấp biên giới trên bộ, và nhận định đó có thể là một sách lược để nuôi dưỡng tinh thần dân tộc và lấy đó là cơ sở để duy trì tính chính đáng của chính quyền cộng sản. Thứ hai, tính chính đáng của Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng dựa trên việc trợ giúp các doanh nghiệp của Trung Quốc tiếp cận các nguồn tài nguyên chiến lược. Từ đầu thế kỷ 21 đến nay, để thỏa mãn một đại công xưởng tăng trưởng mạnh mẽ và không ngừng, Trung Quốc cần một lượng tài nguyên khổng lồ. Chính quyền cộng sản sử dụng triệt để các công cụ chính trị và kinh tế để hỗ trợ cho các doanh nghiệp của Trung Quốc vươn ra mạnh mẽ để giành quyền tiếp cận các nguồn tài nguyên chiến lược, từ Mỹ La-tinh đến châu Phi, Trung Đông và các khu vực xung quanh Trung Quốc. Chính vì thế, Trung Quốc gạt Mỹ và phương Tây ra khỏi Xu-đăng và nhiều nước châu Phi và Mỹ La-tinh khác để giành được các hợp đồng khai thác tài nguyên thô. Trong bối cảnh đó, nguồn tài nguyên ở Biển Đông, cả dầu mỏ và nguồn cá (đã được báo chí Trung Quốc thổi phồng) là một “miếng mồi” không thể bỏ qua. Thứ ba, chính sách đối ngoại của Bắc Kinh cũng chịu sự ảnh hưởng của cạnh tranh giữa các lực lượng, phe phái chính trị trong nội bộ Trung Quốc.

Chính sách đối với Biển Đông của Trung Quốc cần được xem xét trong tổng thể chiến lược an ninh và phát triển của nước này nhằm vươn lên thành một cường quốc toàn cầu. Chứng kiến sự vươn ra mạnh mẽ của Trung Quốc, một học giả nhận xét rằng “sự bành trướng của Trung Quốc trên Biển Đông chỉ là một phần của kế hoạch bành trướng tổng thể, bao gồm “bành trướng cứng” như bành trướng trên biển, trên đất liền, và bành trướng mềm như tăng cường hiện diện ở tất cả các nơi có tiềm năng lợi ích về tài nguyên, dầu mỏ, địa chính trị, v.v... cho Trung Quốc”[5].

Mong muốn trở thành cường quốc toàn cầu của Trung Quốc đã bộc lộ từ thời Mao Trạch Đông, khi Bắc Kinh tự coi mình là lãnh tụ của các nước thế giới thứ ba trong cuộc đấu tranh với hai siêu cường và các nước công nghiệp phát triển. Định hướng chiến lược này, tuy nâng Trung Quốc lên hàng một cường quốc trung gian giữa Mỹ và Liên Xô, nhưng lại không thể giúp Trung Quốc có được nguồn vốn và công nghệ cần thiết để phát triển kinh tế. Dưới thời Đặng Tiểu Bình, Trung Quốc chuyển sang mục tiêu chiến lược “bốn hiện đại hóa”, đồng thời áp dụng phương châm “giấu mình chờ thời”. Ước vọng toàn cầu được giấu đi, kìm nén, không được cụ thể hóa, chỉ nói chung chung là phấn đấu cho một trật tự thế giới công bằng, dân chủ và “đa cực hóa”. Sau một phần tư thế kỷ “cải cách khai phóng”, Trung Quốc đã từ một nước nghèo nàn lạc hậu vươn lên thành một nước công nghiệp hóa mới, trở thành một đầu tàu tăng trưởng của thế giới, với tổng sản phẩm xã hội đứng thứ 4 thế giới (2006) và một viễn cảnh sẽ vươn lên dẫn đầu thế giới sau nửa thế kỷ tiếp theo. Những điều này một mặt khiến nhiều nước, nhất là Mỹ, lo ngại Trung Quốc là đối thủ tiềm tàng của họ, mặt khác cũng khiến bản thân Trung Quốc khó lòng kiềm chế trong việc bày tỏ tham vọng. Một biểu hiện của việc thiếu kiềm chế là Trung Quốc cố sức tự đưa người vào vũ trụ trong khi thu nhập quốc dân đầu người vẫn còn ở mức nghèo (hơn 1000 đôla), một việc làm mà nhiều nước phát triển cao có khả năng cũng không đầu tư vì nặng tính khoa trương nhiều hơn là hiệu quả kinh tế. Cũng trong giai đoạn này, Trung Quốc đưa ra thuyết “trỗi dậy hòa bình” nhằm biện minh cho sự vươn lên vị thế một cường quốc thế giới. Khái niệm này sau một thời gian thử nghiệm đã được thay thế bằng cụm từ nhẹ nhàng hơn là “phát triển hòa bình”. Dù Trung Quốc đã hết sức cẩn trọng trong ngôn từ, người ta vẫn nhận thấy, dù không dễ dàng, tham vọng toàn cầu của Trung Quốc[6].

Từ năm 2007 đến nay, chiến lược “giấu mình chờ thời” hay “ngoại giao hài hòa” nhường chỗ cho chiến lược an ninh và đối ngoại mang tính khẳng định hơn, chủ động và quyết liệt hơn. Về an ninh, nội dung cốt lõi của chiến lược này là xây dựng lực lượng hải quân hùng mạnh, tăng cường quyền kiểm soát của Trung Quốc ở các vùng biển trọng yếu, đảm bảo an ninh cho các hoạt động giao thương của Trung Quốc. Có nhận định cho rằng Trung Quốc đang xây dựng vành đai an ninh “chuỗi ngọc trai” kết nối các đảo mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông, Biển Đông Trung Hoa (Trung Quốc gọi tắt là Đông Hải) và Biển Nhật Bản cùng với các đảo và những cơ sở cầu cảng khác của Trung Quốc trải rộng từ Hải Nam tới Trung Đông, chuỗi ngọc trai sẽ giống như như một vành đai bao quanh rất nhiều đất liền châu Á. Những khu vực này chính là lợi ích an ninh quốc gia mà Trung Quốc tin là sống còn với cả sứ mệnh bảo vệ vùng biển cũng như chi phối châu Á - Thái Bình Dương[7].

Bên cạnh đó, Trung Quốc xây dựng chiến lược “hải dương xanh” và chuyển từ “phòng ngự biển gần”, sang phát triển theo hướng “hải quân viễn dương”. Trung Quốc đang lên kế hoạch đóng tàu sân bay để tăng cường phạm vi hoạt động, phát triển các loại tên lửa tấn công loại tàu này. Cùng lúc đó, hải quân Trung Quốc vươn ra xa hơn. Tháng 12/2008, hải quân Trung Quốc điều động ba chiến hạm tới vùng biển Xô-ma-li, tham gia hoạt động hộ tống tàu thuyền qua lại vùng biển này. Tiếp đó, hai tàu thăm dò hải dương của Trung Quốc đã phá vỡ sự phong tỏa của Nhật Bản, tiến sâu vào vùng biển phụ cận đảo Điếu Ngư, thực hiện khảo sát, khiến Nhật Bản bị bất ngờ. Trung Quốc còn biểu dương sức mạnh hải quân vào tháng 4/2009.

Về kinh tế, Trung Quốc cần chạy đua để giành giật các nguồn tài nguyên chiến lược. Trung Quốc đã vươn ảnh hưởng đến châu Phi, châu Đại dương và Mỹ La-tinh để tìm các nguồn cung cấp nguyên nhiên liệu nhằm duy trì nền kinh tế tăng trưởng nhanh chóng. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng cần đa dạng hóa các nguồn cung dầu lửa. Có lẽ vì lý do đó mà Bắc Kinh ngày càng quyết liệt và mạnh bạo hơn trong hoạt động thăm dò dầu khí ở Biển Đông, kiểm soát và ngăn chặn hoạt động của các quốc gia khác ở vùng biển này.

 Phần IV: Phản ứng của các nước và cục diện anh ninh mới ở Biển Đông

Đỗ Thanh Hải & Nguyễn Thùy Linh, Chương trình Nghiên cứu Biển Đông




[1] Đô đốc Admiral Michael Mullen, “Remarks and Q&A at the Navy League Sea-Air-Space Exposition”, Gaylor National Resort and ConferenceCenter, National Harbour, Maryland, May 4, 2009.

[2] Ian Bremmer, “China vs American: Fight for the Century”, Prospect, March 22, 2010, xem tại: http://www.prospectmagazine.co.uk/2010/03/china-vs-america-fight-of-the-century/

[3] Xem thêm: Carlyle A.Thayer, “Southeast Asia : Pattern of Security Cooperation”,Australian Strategic Policy Institute – ASPI, September 2010, tr. 49-51.

[4] Xem thêm: Suishen Zhao, “Chinese Nationalism and Approaches toward East Asian Regional Cooperation”, International Institutions and Global Governance Program, Japan Studies Program, Paper at Council on Foreign Relations, December 2009.

[5] Giáp Văn Dương, “Việt Nam 2008: Mười hai bài toán lớn”, Bài viết cho Hội thảo Nhìn lại Việt Nam năm 2008, tr. 13, xem tại: http://hoithao.viet-studies.info/2009_GVDuong.pdf

[6] Vũ Hồng Lâm, “Thế giới đa cực: Cấu hình quyền lực thế giới đương đại”, Tham luận tại Hội thảo Dân chủ và Phát triển, Berkeley, California, Mỹ, 28-29/7/2006.


 
 

Bài viết đề cập đến 3 đặc điểm chính về nghiên cứu hiện tại của cộng đồng nghiên cứu chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông. Từ đó nêu bật nhiệm vụ của 4 cơ quan và viện nghiên cứu hàng đầu của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông.

 

 

Những căng thẳng tại Biển Đông gia tăng vào năm 2011, khu vực mang ý nghĩa quan trọng về chiến lược và giàu tài nguyên dầu mỏ đang dấy lên những quan ngại thực sự về mối nguy xung đột quân sự giữa Trung Quốc và các quốc gia yêu sách. Không chỉ sự hiện diện đang gia tăng của Trung Quốc tại quần đảo Trường Sa dẫn đến những va chạm trong năm tháng đầu năm nay trong vùng biển mà Philippin yêu sách,[1] mà ngoài ra hai sự kiện về việc tàu Trung Quốc cắt cáp đã làm gia tăng đối đầu giữa Trung Quốc và Việt Nam, dẫn tới cuộc tập trận bắt đạn thật của Việt Nam và 6 cuộc tập trận do Hạm đội Nam hải thực hiện vào tháng 6.[2] Thêm vào đó là sự gia tăng sức mạnh của hải quân Trung Quốc tại Biển Đông đang thay đổi nhanh chóng cấu trúc quyền lực vốn đã không cân bằng tại đây. Từ quan điểm của Bắc Kinh, sự can dự của Mỹ tại Biển Đông đang làm tăng thêm căng thẳng khu vực.

Biển Đông hàm chứa 4 trụ cột cơ bản trong chiến lược chính sách ngoại giao của Trung Quốc: quan hệ với cường quốc lớn (Mỹ); quan hệ với các quốc gia láng giềng (các quốc gia thành viên ASEAN, Nhật Bản,Ấn Độ và các quốc gia khác); mối quan hệ với các quốc gia đang phát triển (gồm các quốc gia thành viên ASEAN và Ấn Độ); ngoại giao đa phương (tại ASEAN và Diễn đàn Khu vực ASEAN ARF).[3] Do đó, căng thẳng leo thang đặt ra cho giới nghiên cứu chính sách đối ngoại Trung Quốc áp lực nghiên cứu đưa ra những khuyến nghị chính sách và phân tích hiệu quả, kịp thời [cho chính phủ Trung Quốc].

Thực ra, đa số các viện nghiên cứu chính sách ngoại giao Trung Quốc được giao nhiệm vụ phân tích những tác động của Biển Đông và đưa ra những khuyến nghị chính sách làm thế nào giải quyết vấn đề với cả Mỹ và các chủ thể trong khu vực.[4] Vào cuối năm 2010, giáo sư Phó Côn Thành (Fu Kuncheng), chuyên gia luật quốc tế, thành viên của hai trường luật, Đại học Giao thông Thượng hải và Đại học Hạ Môn, được Quỹ Khoa học Xã hội Quốc gia trao một “Công trinh Quan trọng” có tên “Những chiến lược bảo vệ Lợi ích Quốc gia Cốt lõi của Trung Quốc tại khu vực Biển Đông”.[5] Vào năm 2011, Viện Nghiên cứu Quốc tế Trung Quốc (CIIS), liên kết với Bộ Ngoại giao, được trao dự án nghiên cứu với tiêu đề “Những nhân tố Mỹ trong Tranh chấp Hàng hải của Trung Quốc”[6]

Bài luận này đề cập đến 3 đặc điểm chính về nghiên cứu hiện tại của cộng đồng nghiên cứu chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông. Từ đó nêu bật nhiệm vụ của 4 cơ quan và viện nghiên cứu hàng đầu của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông. Cuối cùng, bài luận đưa ra những nguồn trực tuyến từ truyền thông, học giả và các tổ chức của Trung Quốc.

Nghiên cứu Biển Đông tại Trung Quốc

Nghiên cứu về vấn đề Biển Đông của các viện nghiên cứu Trung Quốc có 3 đặc điểm khác biệt. Thứ nhất, nghiên cứu chủ yếu được chia làm hai loại: nghiên cứu pháp lý về luật biển quốc tế và áp dụng đối với Biển Đông; và nghiên cứu các quốc gia về chính sách của các bên và những ảnh hưởng đối với Trung Quốc. Ví dụ, Viện Các Vấn đề Hàng hải Trung Quốc (CIMA), liên kết với Cục Hải dương Quốc gia, chủ yếu tập trung vào những khía cạnh pháp lý và đưa ra lời khuyên đối với chính phủ trong vấn đề lập luận pháp lý về quyền và chủ quyền lịch sử của Trung Quốc tại Biển Đông. Mặt khác, Viện Quan hệ Quốc tế Đương đại Trung Quốc (CICIR), think tank hàng đầu Trung Quốc liên kết với Bộ An ninh Quốc gia, nghiên cứu về Biển Đông thông qua những phân tích về chính sách đối ngoại và tư duy chiến lược của các quốc gia liên quan.

Thứ hai, trong cộng đồng nghiên cứu chính sách, có sự thừa nhận rộng rãi nhưng không công khai về bản chất mơ hồ trong chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông, chẳng hạn như sự nhập  nhằng chiến lược của Trung Quốc đối với các yêu sách, tình trạng của “đường 9 đoạn” (luôn được các chuyên gia đề cập nhưng không bao giờ được chính phủ thừa nhận hoặc bị chối bỏ), tính khả thi của đàm phán song phương trong tranh chấp đa phương, cũng như sự áp dụng UNCLOS. Tuy nhiên, sự công nhận đó đều không được công khai. Theo một nhà phân tích của chính phủ, vấn đề Biển Đông là “vấn đề chính trị” và việc tuân thủ hoàn toàn UNCLOS sẽ buộc Trung Quốc phải từ bỏ đường 9 đoạn và “chủ quyền lịch sử” tại các vùng biển tranh chấp.[7] Hơn nữa, đàm phán đa phương đối với các đảo, đá, đá ngầm đang tranh chấp “hầu như sẽ dẫn đến kết quả là Trung Quốc mất ít nhất là một phần những quyền về biển và lãnh thổ mà họ yêu sách.[8] Bắc Kinh không thể cho phép viễn cảnh mất đi lãnh thổ cho ngoại bang. Do đó, giữa thính giả nước ngoài và dư luận trong nước, Bắc Kinh đã chọn bám víu vào những yêu sách và sự quyết đoán hiện tại, kể cả khi phải trả giá cao về chính sách ngoại giao.

Thứ 3, các nhà phân tích chính sách ở Trung Quốc đã đồng loạt đổ lỗi cho Mỹ đã làm gia tăng căng thẳng tại Biển Đông. Trong quan điểm của họ, Mỹ đã lợi dụng vấn để Biển Đông để phá hoại tình hữu nghị của Trung Quốc với các quốc gia láng giềng, thắt chặt mối liên minh của sự của Mỹ với Philippin, phát triển đối tác chiến lược với Việt Nam nhằm kìm hãm sự ảnh hưởng đang gia tăng của Trung Quốc và duy trì vị thế siêu cường của Mỹ tại khu vực.[9] Các nhà phân tích Trung Quốc đều không tin rằng các quốc gia nhỏ dám thách thức Trung Quốc tại Biển Đông mà không có sự can thiệp của Mỹ. Theo Viên Bằng (Yuan Peng), Giám đốc Viện nghiên cứu Mỹ của CICIR, sự ủng hộ của Washington đã hình thành nên sự phán đoán về chiến lược và những quyết định của các quốc gia khu vực, thúc đẩy các quốc gia này tăng cường sự quyết đoán chống lại Trung Quốc.[10]

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây.

Yun Sun là Nghiên cứu sinh tại Trung tâm Nghiên cứu Đông Bắc Á, Viện Brookings, nguyên là nhà phân tích Trung Quốc của Dự án Đông Bắc Á, Nhóm Khủng hoảng Quốc tế, trụ sở tại Bắc Kinh.

Theo CNAS

Văn Hùng (dịch)

Bản gốc tiếng Anh Studying the South China Sea: The Chinese Perspective, đăng trên Center for a New American Security, ngày 9/01/2012.



[1] Carlyle A. Thayer, “China’s New Wave of Aggressive Assertiveness in the South China Sea,” Tham luận tại Hội thảo An ninh biển tại Biển Đông, do Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế và Chiến lược (CSIS) tổ chức, Washington, ngày 20-21 tháng 6 năm 2011: 5

[2] Tanie Branigan, “Vietnam holds live-fire exercises as territorial disputes with China escalates,” The Guardian, 14, tháng 6 năm 2011 và Họp báo của Bộ Quốc phòng Trung Quốc, 29 tháng 6 năm 2011. Mặc dù người phát ngôn bác bỏ sự liên quan giữa 6 cuộc tập trận và sự gia tăng căng thẳng, nhưng các nhà phân tích chính sách đối ngoại trong các cuộc trao đổi riêng đều cho rằng những cuộc tập trận gửi đi một thông điệp cảnh báo đến Việt Nam rất rõ ràng.

[3] Bốn nhân tố chính trong chiến lược chính sách đối ngoại Trung Quốc lần đầu tiên được đưa ra và khẳng định tại Hội thảo Ambassadorial Working Conference lần thứu 10 năm 2004: “For China’s foreign policy, major power relations are the key; relations with neighboring countries are primary; relations with developing countries are the foundation, and multilateral diplomacy is the important platform.” Zhang Hong, “China Marches towards ‘Grand Diplomacy,’” People’s Daily, 8 tháng 2 năm 2011, http://theory.people.com.cn/GB/13871972.html.

[4] Tranh luận với các nhà phân tích Trung Quốc, Bắc Kinh, 2011

[5] “Public Notice on the Result of Bidding for Significant Projects under National Social Sciences Fund, 2010,” GuangMing Daily, 28 tháng 4, 2011, http://cpc.people.com.cn/GB/219457/219543/14655331.html.

[6] Theo dự án, CIIS đã tổ chức đưa đoàn đại biểu về vấn đề biển tới New York và Washington vào tháng 11 năm 2011. Đoàn do Đại sứ Wang Xiaodu, Cố vấn đặc biệt của Vụ Biển và Biên giới, Bộ Ngoại giao.

[7] Trao đổi riêng, Washington, tháng 6 năm 2011.

[8] Như trên

[9]  Wang Liang, “Liu Xuecheng: Diplomatic Negotiation Remains the Top Solution to the Rising Tensions in South China Sea,” Liaoning Daily, 24 tháng 6, 2011, http://news.qq.com/a/20110624/000203.htm

[10] Guo Fang, “Experts say the U.S. will not Fight China over other Countries’ Maritime Disputes,” Global Times, 16 tháng 6 , 2011, http://world.huanqiu.com/roll/2011-06/1761673.html.

 

 

Cụm từ về quốc tế hóa vấn đề Biển Đông đang ngày càng xuất hiện nhiều trên báo chí các nước. Một số báo nước ngoài thậm chí cho rằng Việt Nam lợi dụng vị trí Chủ tịch ASEAN chủ trương quốc tế hóa, ASEAN hóa vấn đề Biển Đông, "đang chơi với lửa, ắt gặp hậu họa". Một số thể hiện lạc quan về một giải pháp quốc tế hóa trong tương lai gần.

 

Sao phải quốc tế hóa một vấn đề quốc tế?

 

Hàng loạt các sự kiện trong tháng 8 năm 2010 như diễn tập của Hải quân Trung Quốc ở Biển Đông, tàu sân bay Mỹ đậu ngoài khơi Đà Nẵng, Việt Nam phản đối Trung Quốc tiến hành xây dựng tại đảo Tri Tôn, thuộc quần đảo Hoàng Sa, khảo sát các lô 141-143 vi phạm chủ quyền Việt Nam, gây khó cho việc tìm kiếm cứu nạn ngư dân khi gặp bão... càng làm cho vấn đề Biển Đông thêm nóng bỏng.

 

Vậy đâu là sự thực của vấn đề?

 

Về tự nhiên, từ hàng ngàn năm nay Biển Đông bao gồm cả hai vịnh bắc Bộ và vịnh Thái Lan là của chung các nước. Các dân tộc cùng chia sẻ nền văn hóa lúa nước, văn hóa Biển Đông, tự do đánh bắt.

 

Biển Đông là biển duy nhất trên thế giới nối liền hai đại dương lớn Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, với nhiều tuyến đường hàng hải quan trọng, cung cấp từ 70-80% lượng dầu lửa nhập khẩu từ Trung Đông cho các nước có nền công nghiệp hiện đại Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc. Các tuyến đường này cũng đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm xuất nhập khẩu của khối các nước ASEAN.

 

Với 550 triệu dân và nền kinh tế trên 1 ức tỷ USD (1 trillion USD), Đông Nam Á đóng vai trò quan trọng trong trao đổi thương mại quốc tế, với 50% thương mại thế giới đi qua đây. Năm 2008, thương mại giữa ASEAN với Mỹ  là 181 tỷ, với Nhật là 212 tỷ, với Trung Quốc là 193 tỷ. Các nước này cũng có đầu tư lớn vào ASEAN, trong đó Mỹ có trên 100 tỷ USD.

 

Từ góc độ kinh tế, đây là biển quan trọng nằm trong chiến lược phát triển kinh tế châu Á - Thái Bình Dương, khu vực phát triển năng động nhất của thế giới. Khủng hoảng kinh tế và sản xuất dầu khí thế giới dự báo đạt đỉnh năm 2015 ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh năng lượng các nước ở Biển Đông. Trừ Brunei, các nước đều phải nhập khẩu dầu khí. Nguồn năng lượng tiềm ẩn trong Biển Đông đều được các nước ven biển và các công ty dầu khí nước ngoài theo dõi chặt chẽ, lên kế hoạch thăm dò khai thác, làm trầm trọng thêm tranh chấp mặc dù thực tế dự báo này được đánh giá quá cao, chỉ chiếm một phần lượng cung cho khu vực.

 

 

Từ góc độ địa chính trị, đây là nơi chia sẻ quyền lực giữa các siêu cường. Thời kỳ chiến tranh lạnh, đây là nơi tranh giành quyền lực giữa Mỹ với Nga và Trung Quốc thông qua cuộc chiến Việt Nam. Việc Mỹ quay lại Biển Đông và biển Hoa Đông trước hết là vì quyền lợi chiến lược của Mỹ, củng cố vị thế của mình trước sự trỗi dậy của Trung Quốc.

 

Tháng 3/2010 trong chuyến thăm của Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ Steinberg phía Trung Quốc lần đầu tiên tuyên bố coi vấn đề Biển Đông là lợi ích cốt lõi của mình, không có nhân nhượng.

 

Tại ARF 17, Ngoại trưởng Mỹ Hilary Clinton lập tức đáp lại bằng tuyên bố Mỹ có lợi ích thiết thực ở Biển Đông. Vụ tàu Cheonal và tuyên bố lợi ích cốt lõi tạo cơ hội tuyệt vời cho Mỹ trở lại châu Á sau khi rút khỏi Iraq.

 

Các nước ASEAN ở mức độ nhất định hoan nghênh sự trở lại của Mỹ để kiềm chế những yêu sách quá đáng gây bất ổn nhưng cũng cảnh giác để không làm vật hy sinh cho lợi ích của các cường quốc như đã từng diễn ra trong quá khứ. Hiến chương ASEAN có hiệu lực từ 2009 đánh dấu sự trỗi dậy của một ASEAN liên kết hơn, cạnh tranh hơn.

 

Ngày càng nhiều nước trên thế giới quan tâm hợp tác và mong muốn hiện diện trong khu vực này, tạo ra các lợi ích đan xen và cạnh tranh ở Biển Đông. Đây chính là hệ quả trào lưu thế giới ngày càng trở nên phẳng và phải đối đầu với nhiều thách thức toàn cầu: khủng hoảng kinh tế, biến đổi khí hậu, cấm sử dụng và phổ biến vũ khí hạt nhân, chạy đua vũ trang, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, quyền con người và chống khủng bố, chống cướp biển. Tất cả các quốc gia càng ngày càng phụ thuộc vào nhau. Hội nhập hóa và sự phát triển hòa bình của mỗi quốc gia phụ thuộc vào an ninh khu vực và thế giới và ngược lại.

 

Từ góc độ của luật biển, Biển Đông là khu vực đặc thù, chứa đựng tất cả các yếu tố liên quan như quốc gia ven biển, quốc gia quần đảo (Indonesia và Philippin), quốc gia không có biển hay bất lợi về mặt địa lý (Lào), các vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia, vùng đánh cá, phân định biển, vấn đề biển nửa kín, eo biển quốc tế, hợp tác quản lý tài nguyên sinh vật, các đàn cá di cư xa và đàn cá xuyên biên giới, khai thác chung, bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học biển, chống cướp biển, an toàn hàng hải, tìm kiếm, cứu nạn...

 

Muốn giải quyết các vấn đề này một cách triệt để, các quốc gia phải hợp tác như điều 123 của Công ước của Liên hợp quốc về luật biển năm 1982 quy định.

 

Biển Đông đã được biết đến như một trung tâm tranh chấp của thế giới về mức độ phức tạp, số lượng các bên tranh chấp và sự quan tâm lợi ích của các cường quốc. Hoàng Sa trên thực tế là tranh chấp ba bên giữa Việt Nam và Trung Quốc. Trường Sa là nơi tranh chấp của Brunei, Malaysia, Philippin, Trung Quốc, Việt Nam và Đài Loan.

 

Với việc Mỹ rút quân khỏi Iraq, Trung Quốc trỗi dậy, bàn cờ chính trị thế giới đang phân bổ lại, Biển Đông là một trong những điểm nóng có khả năng xảy ra xung đột trên thế giới.

 

Tranh chấp trên Biển Đông bao gồm tranh chấp chủ quyền đảo và tranh chấp vùng biển. Hai trở ngại lớn nhất cho mọi giải pháp là đường đứt khúc 9 đoạn (đường chữ U, đường lưỡi bò) và quy chế đảo. Nếu các đá thuộc các quần đảo trên Biển Đông không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa thì Biển Đông sẽ có vùng đáy biển di sản chung và vùng biển cả thuộc cộng đồng quốc tế. Ngược lại nếu mở rộng các vùng biển cho chúng thì quyền tự do của các nước khác sẽ bị ảnh hưởng và  việc phân chia giữa đảo và lục địa sẽ theo hiệu lực nào.

 

Giải quyết các câu hỏi trên phải căn cứ vào luật biển và nếu luật biển còn chưa rõ ràng thì các nước phải tiếp tục thỏa thuận. Có những vấn đề tưởng là song phương nhưng không thể chỉ giải quyết song phương. Có những vấn đề tưởng là đơn phương nhưng sẽ gây ra sự chú ý và phản ứng của dư luận cả trong và ngoài khu vực.

 

Hơn nữa, Biển Đông đã hẹp lại có hai quần đảo ở giữa nên tạo ra những vùng chồng lấn đa phương. Các nước tranh chấp từ chỗ không tiếp xúc với nhau đã dần tự nguyện tham gia vào các cơ chế đa phương.

 

Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông DOC là thỏa thuận giữa Trung Quốc và ASEAN. Sự tham gia của Trung Quốc, Đài Loan vào Hội thảo kiềm chế các xung đột tiềm tàng ở Biển Đông do Indonesia và Canađa khởi xướng từ 1990,  hay Thỏa thuận công ty dầu khí Phi-Trung-Việt khảo sát địa chấn tại khu vực xác định ở Biển Đông năm 2005 đều là các bằng chứng về một sự liên kết đa phương tự nhiên giữa các bên tranh chấp nhằm tìm một giải pháp cơ bản lâu dài cho vấn đề Biển Đông. Các bên đều nhận thức được rằng vấn đề Biển Đông có song phương có đa phương, không thể chỉ đơn thuần trong quan hệ song phương.

 

Như vậy, từ tất cả các góc độ địa lý tự nhiên, địa chiến lược, kinh tế, luật pháp và văn hóa, bản thân vấn đề Biển Đông đã mang tính quốc tế. Từ 1990-2010 với nỗ lực của các nước liên quan, sự lớn mạnh của ASEAN, cán cân lực lượng đã được giữ ở mức cân bằng. Bất kỳ một hành động hung hăng phá hoại thế cân bằng đó đều gây quan ngại cho các nước, thu hút sự quan tâm của thế giới mà không cần một sự vận động nào, một sự quốc tế hóa hay khu vực hóa nào.

 

Làm lạnh đi những cái đầu nóng, tập trung xây dựng lòng tin

 

Sự trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc là một tín hiệu mừng với cộng đồng quốc tế. Trung Quốc đóng góp 28% tăng trưởng thế giới trong khi Mỹ và EU đóng góp 15%. Thâm hụt ngân sách của Mỹ và EU ngày càng tăng còn của Trung Quốc có xu hướng giảm dần. Trung Quốc đang nắm giữ 2500/4000 tỷ USD tổng tài sản có giá của Mỹ mà các nước nắm giữ. Mỹ đang cần Trung Quốc là bên có trách nhiệm hơn với các vấn đề quốc tế. Tháng 8/2010, Trung Quốc vượt Nhật Bản để trở thành nước thứ hai thế giới về GDP nhưng xét GDP trên đầu người thì nước này mới ở mức 47 của thế giới. Chi phí quốc phòng của Trung Quốc là 1,5% GDP tức 70 tỷ USD mỗi năm trong khi Mỹ là 5% GDP tức 700 tỷ gấp 10 lần.

 

Mỹ và Trung Quốc đều phải tính toán để không có những bước đi phiêu lưu. Xung đột nổ ra thì các nước đều bất lợi. Các tuyến đường hàng hải bị cắt đứt sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế của các nước nhập khẩu dầu lớn, đồng minh của Mỹ như Nhật Bản và Hàn Quốc, đánh mạnh vào buôn bán thương mại giữa ASEAN với Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và Mỹ. Kinh tế Trung Quốc cũng bị ảnh hưởng và nước này mất đi hình ảnh "trỗi dậy hòa bình, lãnh đạo các nước đang phát triển" dày công vun đắp lâu nay, tạo điều kiện cho Mỹ tăng cường hiện diện có lợi.

 

Các tranh chấp trên biển ở Biển Đông không những chỉ ảnh hưởng đến quan hệ giữa các nước có liên quan, mà còn ảnh hưởng đến lợi ích của các nước khác, đến hoà bình, ổn định và sự hợp tác phát triển của khu vực và thế giới. Nhiệm vụ của các nhà lãnh đạo các nước là cần làm lạnh đi những cái đầu nóng, tập trung xây dựng lòng tin đã có phần bị xói mòn.

 

Mọi giải pháp cho vấn đề Biển Đông đều được các nước trên thế giới quan tâm. Các hoạt động không tính đến lợi ích của nước khác tất sẽ đưa đến sự chú ý của dư luận và các động thái nhằm tìm kiếm sự cân bằng có lợi cho hòa bình và phát triển trong khu vực. Các cường quốc tự vạch vùng ảnh hưởng bất lợi cho các nước láng giềng nhỏ hơn cuối cùng sẽ phản tác dụng. Các nước cần tôn trọng lẫn nhau và chung sống trong hòa bình. Không nước nào có thể dân tộc hóa hay quốc tế hóa được vấn đề Biển Đông.

 

Việt Nam không tham gia các liên minh quân sự, không là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào, không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam và không dựa vào nước này để chống nước kia. Với đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, sẵn sàng làm bạn với các nước, Việt Nam đã thể hiện mong muốn các nước hãy nghiêm chỉnh thực hiện Tuyên bố ASEAN - Trung Quốc về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông, xây dựng lòng tin, tiến tới có một Bộ luật ứng xử ở Biển Đông, làm tiền đề cho mọi giải pháp trong tương lai.

 

Việt Long

 Nguồn: Tuần Việt Nam

 

Trung Quốc tăng cường nỗ lực ngoại giao vừa trấn an các nước láng giềng, vừa củng cố yêu sách tại  Biển Đông. Mặc dù phương thức song phương là chủ đạo, nhưng tại sao nước này lại đàm phán hai thỏa thuận với ASEAN trong hai thập kỷ qua? Mục tiêu là duy trì nguyên trạng?

Những hành động ngày càng quyết đoán của Trung Quốc ở Biển Đông làm gia tăng mối quan ngại ở khu vực Đông Nam Á và hơn thế nữa bởi chúng là mối đe dọa tiềm tàng đối với quyền tiếp cận các tuyến đường biển vô cùng quan trọng, làm tăng thêm rủi ro về một cuộc xung đột vũ trang hay một cuộc khủng hoảng trên biển, và có thể làm xấu đi mối quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc. Tuy nhiên dù có những căng thẳng đó, Trung Quốc có thể sẽ không cố giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông bằng sức mạnh quân sự, bởi cái giá của việc làm như vậy sẽ quá đắt so với những lợi ích đạt được. Thay vào đó, các quan chức Trung Quốc rất có thể sẽ tiếp tục chính sách mà họ đã theo đuổi trong hơn hai thập kỷ qua: nhấn mạnh sự cam kết đối với hòa bình, ổn định và hợp tác trong khi đồng thời khẳng định những yêu sách về quyền tài phán và mở rộng sự hiện diện thực tế của mình ở Biển Đông.

Chương này phân tích những lợi ích của Trung Quốc ở Biển Đông và những nỗ lực ngoại giao của nước này như thế nào trong việc vừa trấn an các nước láng giềng vừa củng cố những yêu sách đối với những khu vực tranh chấp. Sau đó, đi vào xem xét tại sao Trung Quốc ưa thích ngoại giao song phương hơn là đa phương và tuy vậy, tại sao Trung Quốc đã đàm phán hai thỏa thuận với Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) trong hai thập kỷ qua. Kết thúc chương với lập luận rằng các động lực cơ bản định hình chính sách của Trung Quốc không chắc sẽ thay đổi và do vậy, việc giữ nguyên hiện trạng có thể sẽ được tiếp tục duy trì.

Lợi ích của Trung Quốc ở Biển Đông

Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (CHNDTH) có ba lợi ích then chốt ở Biển Đông, tất cả đều có mối quan hệ với nhau. Thứ nhất, Trung Quốc muốn khẳng định điều mà nước này xem là quyền lịch sử của mình, bao gồm chủ quyền đối với tất cả các hình thái địa lý và thậm chí có lẽ là toàn bộ không gian hàng hải. Thứ hai, nước này muốn giành quyền tiếp cận, dựa trên cơ sở của những quyền lịch sử đó, đối với các nguồn tài nguyên hàng hải, chủ yếu là nguồn cá, dầu, khí và khoáng vật dưới biển. Thứ ba, Trung Quốc muốn đảm bảo tuyến vận tải giao thương trên biển của mình (SLOCs) được an toàn bởi tuyến đường thương mại huyết mạnh này có tính chất sống còn đối với triển vọng kinh tế và khát vọng trở thành siêu cường của Trung Quốc.

CÁC YÊU SÁCH CHỦ QUYỀN CỦA TRUNG QUỐC

Trung Quốc khẳng định “chủ quyền không thể tranh cãi đối với các đảo ở Biển Đông và các vùng biển liền kề.”[1] Nước này căn cứ những yêu sách chủ quyền của mình dựa trên việc phát hiện ra, sử dụng lâu dài trong lịch sử và được kiểm soát hành chính bởi các chính quyền kế tiếp nhau của Trung Quốc kể từ thời Nhà Hán vào thế kỷ thứ hai trước Công Nguyên[2]. Trung Quốc chứng minh những yêu sách của mình bằng bản đồ tham khảo, phát hiện khảo cổ học và những ghi chép lịch sử. Tuy nhiên, không một bằng chứng nào đặc biệt có tính thuyết phục theo luật pháp quốc tế, những bằng chứng ủng hộ yêu sách chủ quyền của các chính quyền đó tốt nhất có thể để chứng minh việc quản lý hiệu quả và liên tục. CHNDTH không thể chứng minh điều này bởi chính quyền trung ương yếu kém vào thời kỳ hỗn loạn trong nước và bị nước ngoài xâm lược vào thế kỷ 19 và 20, do vậy, không thể quản lý một cách hiệu quả những đảo san hô vòng. Điều này giải thích phần nào sự miễn cưỡng của Trung Quốc trong việc đệ trình yêu sách của nước này lên trọng tài pháp lý quốc tế. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, các yêu sách lịch sử của các bên khác cũng khá yếu.

Một trong những tài liệu lịch sử quan trọng nhất mà Trung Quốc dựa vào làm căn cứ cho những yêu sách của mình là một tấm bản đồ được chính quyền Trung Hoa Dân Quốc phát hành năm 1947, trong đó thể hiện một đường đứt đoạn kéo dài xuống bờ biển phía tây của Phi-líp-pin, đi men theo bờ biển của Borneo, sau đó tiếp tục về phía bắc dọc bờ biển phía đông của Việt Nam. Sau khi thành lập vào năm 1949, CHNDTH đã thông qua tấm bản đồ này như một trong những nền tảng cở bản cho những yêu sách của nước này ở Biển Đông. Hiện nay, các bản đồ chính thức của CHNDTH về Đông Nam Á thể hiện 10 đoạn, nhưng các bản đồ về Biển Đông chỉ bao gồm 9 đoạn, đó là lý do tại sao người ta thường gọi là đường chín đoạn[3]. Trung Quốc lần đầu tiên chính thức đệ trình bản đồ này lên một tổ chức quốc tế là vào ngày 7 tháng 5 năm 2009, được gửi kèm với một công hàm phản đối lên Ủy ban Ranh giới Thềm Lục Địa của Liên Hiệp Quốc (CLCS) về bản đệ trình chung của Ma-lai-xi-a và Việt Nam[4]. Mặc dù sự thực là tấm bản đồ đã tồn tại hơn sáu thập kỷ, nhưng Trung Quốc khá miễn cưỡng trong việc giải thích ý nghĩa của đường chín đoạn và nó có thể được lý giải như thế nào dưới góc độ luật pháp quốc tế, đặc biệt theo Công ước Luật biển 1982 của Liên Hiệp Quốc (UNCLOS) mà Trung Quốc đã phê chuẩn năm 1996.

Tấm bản đồ có thể được giải thích theo hai cách. Thứ nhất, đường chín đoạn đánh dấu những khu vực tổng thể xung quanh những đặc điểm địa hình cơ bản mà Trung Quốc yêu sách. Ít nhất, một trong những đặc điểm địa hình đó là một hòn đảo, điều đó sẽ đem lại cho bên yêu sách một vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý (EEZ) theo luật pháp quốc tế. Những đặc điểm địa hình cơ bản khác là các bãi đá ngầm hơn là các đảo, chỉ đem lại vùng lãnh hải rộng 12 hải lý nhưng sẽ không tạo ra một EEZ. Cách giải thích này nhìn chung phù hợp với luật pháp quốc tế được đề ra theo UNCLOS. Nó cũng phù hợp với luật nội địa của CHNDTH thông qua năm 1992, với yêu sách Hoàng Sa, Trường Sa, Bãi đá Pratas, Trung Sa, Bãi cạn Hoàng Nham, Đảo Senkaku/ Điếu Ngư, Penghu và Đảo Đông Sa[5]. Mặc dù, những yêu sách chính xác của Trung Quốc vẫn có phần mập mờ, nhưng cách tiếp cận này nhìn chung phù hợp với luật pháp quốc tế.

Cách giải thích thứ hai là đường chín đoạn phân định ranh giới “vùng nước lịch sử” của Trung Quốc ở Biển Đông – nghĩa là Trung Quốc thực tế đang yêu sách toàn bộ vùng biển bên trong đường đứt đoạn. Đại sứ lưu động của Xinh-ga-po, và nguyên Chủ tịch Hội nghị Liên Hiệp Quốc lần thứ ba về Luật Biển, Tommy Koh đã nhận xét, một yêu sách như vậy là không phù hợp với luật pháp quốc tế hiện hành[6]. Tuy nhiên, thái độ ngày càng quyết đoán của Trung Quốc đối với các bên yêu sách khác – bao gồm gây sức ép với các tập đoàn năng lượng nước ngoài không được tham gia vào việc thăm dò ngoài khơi, ban hành lệnh cấm đánh bắt cá hàng năm và quấy nhiễu hoạt động khảo sát của các công ty dầu khí Đông Nam Á – gợi lên rằng Bắc Kinh đang đi theo cách giải thích thứ hai[7].

Các quan chức Đông Nam Á quan sát những diễn biến này với sự quan ngại. Ngoại trưởng Phi-líp-pin Albert de Rosario đã mô tả tấm bản đồ “thực sự đang trao cho Trung Quốc chủ quyền đối với Biển Đông,” và cựu bộ trưởng cao cấp của Xinh-ga-po và chuyên gia luật Giáo sư S.Jayakumar đã nhận xét tấm bản đồ này “gây rối loạn và làm phức tạp” bởi nó không dựa trên cơ sở của UNCLOS và có thể được “giải thích như một yêu sách đối với tất cả khu vực hàng hải bên trong đường chín đoạn.”[8] Cách giải thích như vậy gây phương hại một số quy tắc của luật pháp quốc tế và đe dọa tới quyền tự do hàng hải.

Trong phạm vi những yêu sách của Trung Quốc, cách hành xử hiếu chiến định kỳ cùng việc từ chối giải thích tấm bản đồ của nước này đã tạo ra mối quan ngại rất lớn ở Đông Nam Á. Việt Nam đã bác bỏ những yêu sách của Trung Quốc, In-đô-nê-xi-a và Phi-líp-pin đã chính thức thách thức đường chín đoạn tại Liên Hiệp Quốc và Xinh-ga-po đã kêu gọi Bắc Kinh làm rõ những yêu sách của mình[9]. Tuy vậy, chính phủ Trung Quốc từ chối làm như vậy, có thể bởi hai lý do. Thứ nhất, Trung Quốc miễn cưỡng trong việc làm rõ ý nghĩa chính xác của tấm bản đồ bởi nó đem lại một vị thế đàm phán nhằm đạt mục tiêu tối đa khi các bên khác từng đồng ý tìm kiếm một giải pháp ngoại giao đối với những yêu sách gây tranh cãi của họ. Thứ hai, tấm bản đồ thực tế đã đặt chính phủ Trung Quốc vào thế khó khăn: khó có thể dung hòa tấm bản đồ với UNCLOS, tuy nhiên loại bỏ nó sẽ gây ra phản ứng dữ dội của những người theo chủ nghĩa dân tộc. Không một chính trị gia Trung Quốc nào sẵn lòng nhận lấy rủi ro này, đặc biệt không có bất kỳ chính trị gia nào lựa chọn làm như vậy trước thời điểm chuyển giao nhân sự lãnh đạo tại Đại hội Đảng Cộng Sản năm 2012, khi mà thế hệ lãnh đạo thứ năm của Trung Quốc sẽ lên nắm quyền.

TÀI NGUYÊN BIỂN

Biển Đông bao gồm một trong những ngư trường quan trọng nhất của thế giới, được đánh giá chiếm một phần mười sản lượng đánh bắt cá toàn cầu.[10] Những nguồn cung cá đang nhanh chóng cạn kiệt này không chỉ vô cùng quan trọng đối với an ninh lương thực của các quốc gia châu Á, mà còn là nguồn sinh lợi đối với thu nhập của ngư dân trong khu vực. Tuy nhiên, quan trọng hơn là Biển Đông cũng chứa đựng những lớp trầm tích của dầu thô và khí đốt tự nhiên. Do hậu quả của những căng thẳng đang diễn ra trong khu vực, các công ty năng lượng quốc tế đã không thực hiện được các khảo sát chi tiết ở Biển Đông, và các ước tính lượng dự trữ tiềm năng hiện tại có sự khác biệt đáng kể. Trung Quốc ước tính rất lạc quan có khoảng 100 tỷ đến 200 tỷ thùng dầu. Trong khi Mỹ và Nga ước tính một cách thực tế hơn vào khoảng 1,6 tỷ đến 1,8 tỷ thùng dầu[11].

Trung Quốc ngày càng thể hiện sự quan tâm đối với nguồn tài nguyên dầu tiềm năng này kể từ đầu thập niên 90, khi giá năng lượng và nhu cầu của toàn cầu đều tăng lên. Những hành động của Trung Quốc một phần được điều khiển bởi nhận thức rằng Biển Đông là biểu tượng của “một Vịnh Ba tư mới.”[12] Khi sự phụ thuộc vào dầu mỏ nhập khẩu của Trung Quốc tăng lên – dầu mỏ nước ngoài chiếm 52% tổng lượng dầu tiêu thụ của Trung Quốc trong năm 2009, ví dụ như, phần đó sẽ tăng lên 55% trong năm 2010[13] – an ninh năng lượng đã trở thành một khía cạnh quan trọng trong tranh chấp Biển Đông. Điều này giúp giải thích thái độ hiếu chiến gần đây của Trung Quốc đối với các tàu khảo sát được thuê bởi các nước Đông Nam Á. Thông qua các bài bình luận trên báo chí của chính phủ, CHNDTH đã cáo buộc một số quốc gia yêu sách ở Đông Nam Á “đang tước đoạt” nguồn tài nguyên hàng hải ở Biển Đông, cho rằng những yêu sách quyền sở hữu của Trung Quốc theo đúng “quyền lịch sử” của quốc gia[14]. Trung Quốc thường khẳng định các hoạt động của những công ty năng lượng nước ngoài ở Biển Đông là vi phạm chủ quyền của Trung Quốc. Trung Quốc kêu gọi các bên yêu sách khác ngừng hoạt động tìm kiếm nguồn tài nguyên tiềm năng ở trong khu vực mà Trung Quốc yêu sách, nhưng cả Việt Nam và Phi-líp-pin đều bác bỏ yêu cầu này với lý do những yêu sách mở rộng của Trung Quốc không biện minh được[15].

AN NINH ĐƯỜNG BIỂN

Sự tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc phụ thuộc vào các tuyến đường biển (SLOC) an toàn, điều này cho phép Trung Quốc xuất khẩu hàng hóa sản xuất tới các thị trường quốc tế và nhập khẩu các mặt hàng, nguyên liệu thô và nguồn năng lượng. Theo một số tính toán, 80% năng lượng nhập khẩu của Trung Quốc đi qua những nút thắt chiến lược của Đông Nam Á – Eo biển Ma-lắc-ca, Xinh-ga-po, Lombok, Makkassar và Sunda – và Biển Đông[16]. Tính dễ bị tổn thương chiến lược của tuyến đường này được biết đến rộng rãi là “Thế tiến thoái lưỡng nan Malacca.”[17] Năng lực của Hải quân Quân Giải phóng Nhân dân (PLAN) đã được chứng minh hơn thập kỷ trước, nhưng Trung Quốc vẫn chưa có năng lực thực hiện việc kiểm soát hiệu quả các SLOCs ở khoảng cách xa, như những tuyến đường đi qua Ấn Độ Dương[18]. Tuy nhiên, Trung Quốc đang tăng cường sử dụng ảnh hưởng lớn hơn đối với SLOCs ở gần, đặc biệt là ở Biển Đông. Các Đảo Trường Sa và Hoàng Sa nằm hai bên SLOCs đó, và đây là lý do chủ yếu giải thích tại sao Trung Quốc cố gắng kiểm soát những quần đảo này.

Chính sách của Trung Quốc ở Biển Đông

Chính sách của Trung Quốc đối với tranh chấp biên giới biển và lãnh thổ ở Biển Đông tương đối nhất quán từ cuối thập niên 70. Trung Quốc đã cố gắng trấn an các bên tranh chấp khác bằng việc nhấn mạnh nhiều lần mục đích hòa bình của mình ở khu vực cũng như thiện chí trong việc quản lý chung các nguồn tài nguyên biển, đồng thời hướng tới những cuộc thương lượng kéo dài đối với vấn đề sao cho nước này có thời gian củng cố những yêu sách của mình ở Biển Đông. Khi năng lực quân sự của Trung Quốc được tăng cường và sự tự tin chính trị tăng lên, nước này sẽ hành xử hiếu chiến hơn ở Biển Đông. Trung Quốc đáp lại những chỉ trích về cách hành xử của mình bằng việc đưa ra những điều chỉnh chiến thuật, nhưng cơ bản chính sách của nước này không hề thay đổi. Một số quan chức Đông Nam Á đã mô tả chính sách hai chiều này là “miệng nói và tay làm.”[19]

TRẤN AN CÁC LÁNG GIỀNG KHU VỰC

Vào cuối những năm 70, khi Trung Quốc tìm kiếm sự ủng hộ từ những thành viên sáng lập ASEAN về việc Việt Nam chiếm đóng Cam-pu-chia,[20] Đặng Tiểu Bình đã đề xuất một kế sách để “giải quyết” tranh chấp: Các bên cần gác lại những yêu sách chủ quyền của mình và cùng khai thác nguồn tài nguyên hàng hải. Tuy nhiên, không rõ liệu Đặng hay những người kế nhiệm của ông ta từng cân nhắc đó như một đề xuất thực tế. Trung Quốc chưa bao giờ thể hiện thiện chí trong việc gác lại những yêu sách lãnh thổ của mình cũng như chưa từng đề xuất một khuôn khổ cho những hoạt động khai thác chung như vậy (như thảo luận dưới đây). Tuy nhiên, ý tưởng đó vẫn như một câu thần chú trong chính sách của CHNDTH, và điều này không chắc sẽ thay đổi.

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây

Ian Storey

Tuấn Anh (dịch)

Quang Hưng (hiệu đính)

 

Bản dịch chương III: China’s Bilateral and Multilateral Diplomacy in the South China Sea trong báo cáo: Cooperation from Strenth: The United States, China and the South China Sea của Trung tâm An ninh mới (CNAS) của Mỹ.



[1] Trung Quốc đưa ra tuyên bố này trong một văn kiện đệ trình lên Liên Hiệp Quốc vào 14 tháng 4 năm 2011, http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/ mysvnm33_09/chn_2011_re_phl_e.pdf.

[2] Xem, ví dụ như, Li Guoqiang, “Formation of China’s Sovereignty over South China Sea Islands,” BBC Monitoring Asia-Pacific, 14 tháng 8, 2011.

[3] Để xem bản đồ trực tuyến, ghé thăm văn phòng bản đồ chính thức của Trung Quốc, http:// tianditu.cn/map/index.jsp.

[4] Công hàm từ Phái đoàn Thường trực của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa gửi cho Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc, CML/17/2009 (7 tháng 5, 2009), http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/

submission_mysvnm_33_2009.htm.

[5] Luật về Lãnh hải và Khu vực Tiếp giáp, 25 tháng 2, 1992.

[6] Tommy Koh, “Mapping Out Rival Claims in the South China Sea,” The Straits Times, 13 tháng 9, 2011. Peter Dutton cũng thảo luận về điểm này ở chương của mình trong báo cáo này.

[7] Carlyle Thayer, “China Rejects UN Treaty by Asserting Sovereignty over the South China Sea,” YaleGlobal Online, 7 tháng 7, 2011.

[8] “Philippines Test South China Sea Agreement with Push for Oil,” Bloomberg, 24 tháng 7, 2011; và Giáo sư S. Jayakumar, Bài nói chính ( Trung tâm Hội thảo Luật Quốc tế về Khai thác chung ở Biển Đông, Singapore, 16 tháng 7, 2011).

[9] Vào tháng 4 năm 2011, trong một lá thư đệ trình lên CLCS, Phi-líp-pin đã khẳng định tấm bản đồ của Trung Quốc “không có cơ sở theo luật pháp quốc tế.” Xem http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/mysvnm33_09/phl_re_chn_2011.pdf.

[10] Clive Schofield, Ian Townsend-Gault, Hasjim Djalal, Ian Storey, Meredith Miller and Tim Cook, “From Disputed Waters to Seas of Opportunity,” Báo cáo Đặc biệt số 10 (National Vụ Nghiên cứu châu Á Quốc gia, tháng 7, 2011), 9. Xem thêm chương của Will Rogers trong bản báo cáo này.

[11] Tlđd, 12.

[12] Cơ quan Thông tin Năng lượng, “Biển Đông,” Bản tóm tắt Phân tích Quốc gia, http://www.eia.gov/emeu/cabs/South_China_Sea/OilNaturalGas.html.

[13] “Oil bonanza in the South China Sea,” Global Times, 19 tháng 4, 2011.

[14] Xem, ví dụ như, Wang Hui, “Neighbors Threaten China’s Peace,” ChinaDaily, 16 tháng 7, 2011.

[15] Bình luận được đưa ra bởi Đại sứ CHNDTH tại Phi-líp-pin, Lưu Kiến Siêu. Jim Gomez, “China to Neighbours: Stop Oil Search in Spratlys,” Liên hiệp Báo chí, 9 tháng 6, 2011.

[16] Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, The Military Power of the People’s Republic of China 2009: Annual Report to Congress (2009), 3.

[17] 17. Ian Storey, “China’s ‘Malacca Dilemma,’” China Brief, 6 no. 8 (12 tháng 4, 2006).

[18] Tlđd, 8.

[19] Cụm từ “miệng nói và tay làm” được Bộ trưởng Quốc phòng Phi-líp-pin Orlando Mercado sử dụng lần đầu tiên vào năm  1998. “Erap Orders Blockade of Mischief Reef,” Philippine Daily Inquirer, 11 tháng 11, 1998.

[20] ASEAN được thành lập vào năm 1967 bởi In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, Phi-líp-pin và Thái Lan. Số thành viên đã tăng lên gồm có Brunei năm 1984, Việt Nam năm 1995, Lào và Mi-an-ma năm 1997 và Cam-pu-chia năm 1999.

 

Về khía cạnh chiến lược, chính sách ngoại giao, quan hệ quốc tế và truyền thông trong vấn đề Biển Đông, Trung Quốc đã hoàn toàn bại trận. Dường như không một quốc gia nào ủng hộ lập trường cũng như lối hành xử của nước này. Bài viết của Viện trưởng Viện Nghiên cứu Đông Á, Đại học Quốc gia Singapore, Trịnh Vĩnh Niên trên Liên hợp Buổi sáng phân tích về nguyên nhân thất bại cũng như đối sách cho Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông.

 


Thời gian gần đây, mọi người đều vô cùng ngạc nhiên khi phát hiện ra rằng, đã bao nhiêu năm nay, song song với sự trỗi dậy của Trung Quốc là chuỗi "liên hoàn bại trận" của chính nước này trong các vấn đề về Biển. Đặc biệt bắt đầu từ năm ngoái, xu hướng này ngày càng hiện ra rõ ràng hơn.

Trung Quốc đã nỗ lực theo đuổi chiến lược "Trỗi dậy hòa bình" (Phát triển hòa bình) ngay sau công cuộc cải cách mở cửa. Trên rất nhiều phương diện, Trung Quốc đã từ bỏ chính sách chủ nghĩa đơn phương vốn đã tuân thủ từ rất lâu trước đó, đồng thời phát triển quan hệ hữu nghị đa phương với các nước ASEAN. Khu vực tự do thương mại Trung Quốc-ASEAN cũng đã bắt đầu có hiệu lực. Trong vấn đề tranh chấp Biển Đông, Trung Quốc đã đề xuất chủ trương "Gác tranh chấp chủ quyền, cùng khai thác chung". Những biện pháp này xét từ góc độ lý thuyết đến thực tiễn áp dụng đã hình thành nên sách lược và kim chỉ nam ngoại giao "Giấu mình chờ thời" của Trung Quốc suốt từ thời Đặng Tiểu Bình đến nay. Thế nhưng rất nhiều người đã cảm nhận ra rằng, trên rất nhiều vấn đề có liên quan, nếu như Trung Quốc không thể trực diện đối mặt thì sẽ góp phần đẩy chính sách của họ đi theo hướng ngược hẳn lại.

Sự quan tâm chú ý của toàn bộ khu vực Châu Á và cộng đồng quốc tế cho tới thời điểm này đều tập trung vào vấn đề Biển Đông, Biển Đông đột nhiên lại thêm một lần nữa trở thành điểm nóng của thế giới. Chính quyền Trung Quốc dường như lại không hiểu rõ tình trạng hiện nay. Đối với Trung Quốc mà nói, chính sách Biển Đông về bản chất không hề có bất cứ một thay đổi nào, chỉ là các nước có liên quan tiến hành một loạt các hành động không có lợi cho Trung Quốc, và phản ứng của Trung Quốc theo đó cũng chỉ tương đương với hình thức "cứu hỏa" mà thôi.

Trên thực tế, từ rất nhiều năm trở lại đây, chính bởi vì nguyên do Trung Quốc luôn áp dụng các biện pháp bị động đối phó lại khiến cho vấn đề Biển Đông ngày một tích tụ chồng chất lại, và rồi dẫn đến cục diện như ngày hôm nay. Không quan tâm Trung Quốc có muốn hay không, có nắm rõ tình hình hay không, thì Trung Quốc phải đối mặt với những thách thức chưa từng có trong vấn đề Biển Đông này.

Thứ nhất, Trung Quốc sớm đã hoàn toàn thất bại tại cuộc chiến công luận quốc tế.

Trong nhiều năm qua, khi Trung Quốc vẫn còn đắm chìm trong thuyết "Trỗi dậy hòa bình" do chính họ tạo dựng nên, thì các quốc gia có liên quan đã nỗ lực với tinh thần cao nhất và chuẩn bị đầy đủ trên trường quốc tế để chờ đợi vấn đề Biển Đông sẽ nổi lên như trong dự tính đã có sẵn. Xét trên hệ thống kiến thức (luật pháp), Trung Quốc hiện nay thật khó khăn để tìm ra được bất kỳ một lực lượng hỗ trợ có hiệu quả nào cho họ. Về xu hướng các giới truyền thông báo chí không đứng về phía Trung Quốc đã hình thành như hiện nay thì Trung Quốc cũng không có quyền phát biểu tại đây. Các nhà bình luận cho rằng dùng "Chính sách cứng rắn" để mô tả thái độ của Trung Quốc trong tranh chấp Biển Đông là chưa đầy đủ, chính xác phải gọi đó là "mang tính chất tranh cướp" mới đúng. Trên thực tế, cách nhận thức tương tự như vậy của Trung Quốc đã trở nên khá phổ biến trong cộng đồng quốc tế. Bản thân Trung Quốc lại quả quyết cho rằng họ không làm gì mà lại bị đối xử "oan uổng" như vậy, đây chính là căn nguyên khiến Trung Quốc bị mất quyền phát biểu trong cuộc chiến công luận quốc tế này.

Thứ hai, Trung Quốc cũng thua trận trong cuộc chiến chiến lược.

Các nước liên quan đều có những chiến lược khá rõ ràng trong vấn đề tranh chấp Biển Đông, cụ thể bao gồm các chiến lược như chủ nghĩa đa phương tại khu vực, quốc tế hóa, chính trị hóa đại quốc. Thế nhưng chiến lược của Trung Quốc nếu không dám đối mặt với sự thực thì sẽ là nhập nhằng không rõ ràng. Trung Quốc từ chối chi tiết hóa vấn đề, sử dụng khái niệm "phản đối quốc tế hóa" vô cùng vĩ mô này nhằm che lấp vấn đề cụ thể. Trên thực tế, tranh chấp Biển Đông đã được đa phương hóa, quốc tế hóa từ rất lâu rồi, hơn nữa sẽ rất nhanh tiến đến giai đoạn "chính trị hóa đại quốc" trong thời gian tới. Trung Quốc chỉ là không dám thừa nhận sự thực hiển hiện ra trước mắt này mà thôi.

Thứ ba, nếu tình hình vẫn tiếp diễn như vậy, Trung Quốc sẽ bị ràng buộc để cuối cùng rơi vào tình trạng mất chủ quyền trong cuộc chiến.

Như đã đề cập ở phần trên, từ năm ngoái cho đến năm nay, chính sách Biển Đông của Trung Quốc về bản chất không hề có bất cứ một thay đổi nào, mà chủ yếu chỉ là một số hành động mang tính chất phản ứng lại. Thế nhưng cho đến thời điểm này, bất cứ nước nào cũng đều cho rằng Trung Quốc chính là nguyên nhân phát sinh của mọi vấn đề. Tình hình thực tế là, các nước khác có liên quan vẫn đang xúc tiến các hoạt động và hành động trong khu vực tranh chấp Biển Đông, đặc biệt là trong việc phát triển nguồn năng lượng.

Trung Quốc chìm đắm trong "giấc mộng".

Đã nhiều năm nay, trong vấn đề tranh chấp Biển Đông (cũng như trong nhiều vấn đề khác), Trung Quốc dường như luôn sống trong "giấc mộng" mà chính bản thân họ tự vạch ra. Nhìn từ góc độ chiến lược, Trung Quốc không phải là không có cơ hội để chiếm ưu thế trong vấn đề Biển Đông này, mà thay vào đó lại tự động vứt bỏ những ưu thế đáng lẽ họ chiếm được ... Điều đáng tiếc là, những hành động của TQ không những không chiếm được sự đồng cảm của các nước liên quan đến tranh chấp mà cuối cùng dẫn đến kết quả hoàn toàn ngược lại, gây tổn hại cho chính lợi ích quốc gia của mình.

Vậy thì, kết quả cuối cùng sẽ như thế nào đây? Trung Quốc liệu sẽ từ bỏ chăng? Trong giới báo chí truyền thông vô cùng phát triển như ngày hôm nay, phạm vi xu hướng thỏa hiệp mà các nhà cầm quyền có thể áp dụng được ngày một nhỏ,càng không cần nói đến chuyện từ bỏ. Nếu tình hình này vẫn cứ tiếp diễn thì cuối cùng chắc chắn sẽ dẫn đến các cuộc xung đột xảy ra.Tuy nhiên xung đột trong thời gian này sẽ vô cùng bất lợi đối với Trung Quốc.

Vấn đề đã xuất hiện rồi, thì phái có cách đối phó lại. Nhiệm vụ đầu tiên cần phải làm là tìm hiểu rõ tại sao lại xuất hiện tình trạng như vậy? Ngoài các vấn đề xuất phát từ chính bản thân Trung Quốc thì còn có một số nguyên nhân quan trọng khác nữa. Đối với các nước có liên quan mà nói thì đây là sản phẩm phát sinh từ "môi trường quốc tế" và "môi trường nội bộ".

Đầu tiên đề cập đến môi trường quốc tế. Đối với các quốc gia có liên quan thì nhân tố quan trọng nhất trong môi trường quốc tế không thể không nhắc đến sự trỗi dậy kinh tế của Trung Quốc và kéo théo sau đó là hiện đại hóa nền quốc phòng, quân sự cũng như từ đó tác động đến cục diện địa chính trị của toàn bộ khu vực Châu Á. Các quốc gia có liên quan đã bắt đầu cảm thấy rằng thời gian không còn đứng về phía họ nữa. Mặc dù Trung Quốc luôn nhấn mạnh về sự "trỗi dậy hòa bình" của mình, thế nhưng họ lại bị coi là đã áp dụng chính sách chậm trễ kéo dài thời gian trong vấn đề Biển Đông nhằm chờ thời cơ cho đến khi tình hình quốc tế thuận lợi sẽ ra tay giải quyết tranh chấp. Do vậy, đối với các quốc gia có liên quan thì vấn đề Biển Đông bắt buộc phải được giải quyết theo hướng có lợi cho họ trước khi Trung Quốc thực sự trỗi dậy, nếu không, đợi cho đến khi Trung Quốc đã trỗi dậy rồi, tia hy vọng sẽ trở nên vô cùng mong manh. Cũng chính vì thế, bắt buộc phải thông qua bất cứ biện pháp nào để đẩy mạnh hành động, hối thúc phát triển theo khuynh hướng có lợi cho bản thân họ.

Đối với Trung Quốc mà nói, môi trường các nước lớn chủ yếu đề cập đến những biến đổi chính trị trong phạm vi giữa các nước này, đặc biệt là biến đổi trong mối quan hệ với các nước lớn như Mỹ. Trong vấn đề Biển Đông, không quản có muốn hay không thì Trung Quốc chắc chắn vẫn phải đối mặt với Mỹ. Thế nhưng trong quan hệ hai nước Trung-Mỹ thì dù Trung Quốc đã hao tâm tổn trí rất nhiều nhưng vẫn không biết nên làm như thế nào để có thể hòa nhập được cùng Mỹ, đặc biệt là mối quan hệ với Mỹ trong khu vực Châu Á. Rất nhiều người đã từng nghĩ rằng mục tiêu chủ yếu của Mỹ trong sự hiện diện tại Châu Á này là nhằm đối phó với Trung Quốc, thế nhưng trên thực tế lại không hề đơn giản như vậy. Lý do Mỹ tồn tại ở khu vực Châu Á không chỉ để đối phó với riêng một Trung Quốc, mà còn liên quan đến vấn đề địa chính trị khác. Ví dụ, nếu không có nhân tố Trung Quốc thì Mỹ vẫn đương nhiên tìm ra được lý do để tạo ra không gian sinh tồn tại Châu Á. Bất luận là khu vực Đông Bắc Á, Đông Nam Á hay Nam Á, mối quan hệ phức tạp đan xen giữa các nước đều cần có sự hỗ trợ sức mạnh của Mỹ để cân bằng lực lượng.

Trung Quốc không tạo dựng không gian cho Mỹ.

Rất nhiều các quốc gia Châu Á đều cần sự hiện diện của Mỹ chính là do kết quả không hành động của Trung Quốc. Ví dụ, trong vấn đề Triều Tiên thì ngoài Triều Tiên ra, hầu hết tất cả các nước Châu Á đều bất mãn với cách hành xử của Trung Quốc. Tất nhiên là cũng có những điểm khó xử riêng nhưng không thể vì thế mà chứng minh rằng cách hành xử của Trung Quốc là hợp lý được. Quan hệ giữa Trung Quốc và Nhật Bản thường xuyên liệt vào trạng thái căng thẳng. Hiện nay cùng với sự trỗi dậy của Ấn Độ thì mối quan hệ giữa Trung Quốc và Ấn Độ cũng hàm chứa rất nhiều những nhân tố không xác định. Mặc dù Trung Quốc và các nước khu vực Châu Á luôn có các lĩnh vực hợp tác chung, thế nhưng những cuộc xung đột dường như phát sinh ngày một phức tạp hơn. Dù thế nào đi chăng nữa, trong việc giải quyết các vấn đề khu vực Châu Á thì Mỹ vẫn là quốc gia duy nhất đã từng nhiều lần thông qua các cuộc trải nghiệm, hơn nữa, tính quan trọng của nhân tố Trung Quốc mặc dù ngày một tăng lên nhưng chưa hề thông qua bất kỳ một cuộc trải nghiệm nào cả. Trong bối cảnh như vậy, Mỹ vẫn chính là môt quốc gia đạt mức độ tin tưởng và được dựa dẫm cao nhất. Điều này cũng được thể hiện trong vấn đề Biển Đông, những nước có liên quan hy vọng có sự can thiệp của Mỹ tại khu vực xảy ra tranh chấp này, nhằm nâng cao tính chắc chắn của họ trong vấn đề Biển Đông. Chính vì thế mà dẫn tới xu thế "chính trị hóa đại quốc"...

Ở đây còn có môi trường nội bộ của chính bản thân Trung Quốc. Phiên họp Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ mười tám sẽ được tổ chức vào năm sau. Trong thời gian này, nhiệm vụ chính của chính quyền Trung Quốc là giải quyết công việc nội bộ, sự ổn định sẽ trấn áp tất cả mọi vấn đề khác. Có một số quốc gia phán đoán rằng trong thời kỳ này thì Trung Quốc sẽ không thể đưa ra những điều chỉnh lớn nào về chính sách đối ngoại được cả. Điều này cũng có nghĩa rằng, trước khi một thế hệ lãnh đạo mới được thành lập, Trung Quốc sẽ không thể có chính sách mới và quan trọng nào trong lĩnh vực ngoại giao, hay nói rằng phần lớn các chính sách đối ngoại được đưa ra tất nhiên đều mang tính chất phản ứng là chủ yếu. Cách phán đoán này khiến cho các nước có liên quan đến tranh chấp sẽ nhận thấy rằng đây là cơ hội để tiến hành áp dụng những phương pháp triệt để hơn cho họ.

Trung Quốc sẽ làm gì khi đối mặt với tình thế hiện tại này? Được coi là một quốc gia lớn đang trong quá trình trỗi dậy, Trung Quốc chắc chắn sẽ đóng vai trò ngày càng quan trọng trong các vấn đề về khu vực. Tình thế tại Biển Đông đối với Trung Quốc mà nói, mặc dù "ngày thế giới tận thế" vẫn còn cách xa vô cùng, nhưng họ bắt buộc phải thay đổi tính bị động đã tồn tại cho đến thời điểm hiện tại này để chuyển sang tính chủ động hơn. Điều đặc biệt quan trọng phải nói đến rằng, vấn đề hiện nay của Trung Quốc không phải là vấn đề về nguồn tài nguyên, mà là chiến lược, chính sách và cách huy động nguồn lực. Đơn giản mà nói chính là vấn đề về đường lối tư duy của Trung Quốc. Trong tranh chấp “Nam Hải” (Biển Đông), Trung Quốc phải có một đường lối tư duy rõ ràng, minh bạch.

Cần phải suy ngẫm lại đường lối tư duy đã cũ của Trung Quốc.

Khi đề cập đến đường lối tư duy mới thì cần phải suy ngẫm lại đường lối tư duy đã cũ của Trung Quốc. Vấn đề cốt lõi trong đường lối tư duy truyền thống của Trung Quốc chính là phản đối "quốc tế hóa" trong trannh chấp Biển Đông. Xét trên cơ sở lý thuyết, điều này đương nhiên là không sai. Nhưng vấn đề phát sinh nằm ở chỗ khái niệm đưa ra này không những không miêu tả được tình huống khách quan của quá trình tranh chấp Biển Đông mà lại càng khó khăn hơn khi áp dụng đường lối tư duy này để có thể tìm ra được biện pháp giải quyết. Điều này liên quan đến nhiều cấp độ bên trong các vấn đề chính.

Thứ nhất là chủ nghĩa song phương. Trung Quốc yêu sách gác tranh chấp chủ quyền cùng khai thác chung. Thế nhưng cho đến nay chính sách này vẫn chỉ dừng lại ở trạng thái khẩu hiệu, lý thuyết suông. Để có được mối quan hệ với các nước ASEAN, bản thân Trung Quốc không hề có kế hoạch khai thác Biển Đông nào cả, mà ngược lại chính là các nước có liên quan trong những năm gần đây tiến hành tăng cường khai thác. Thế nhưng Trung Quốc không phải đề xuất ra chủ trương cùng khai thác chung, mà chính xác phải nói là chủ trương khai thác đơn phương. Trong vấn đề cùng khai thác chung, các quốc gia có liên quan hoặc là không tự nguyện hoặc là tinh thần tự nguyện không cao. Hay nói toạc ra thì Trung Quốc không có đủ sức mạnh cũng như cơ chế quyền lực để thúc đẩy các quốc gia có liên quan công nhận và đi đến chấp nhận yêu sách cùng khai thác chung mà Trung Quốc đã đề xuất.

Thứ hai là chủ nghĩa đa phương, chính là mối quan hệ giữa Trung Quốc và các nước ASAEN. Vấn đề tranh chấp Biển Đông chủ yếu biểu hiện trong "Tuyên bố ứng xửtrên Biển Đông” mà Trung Quốc cũng đã ký kết. Thế nhưng văn bản này lại không mang bất cứ tính chất ràng buộc pháp lý nào. Văn bản tuy đã được ký kết rất nhiều năm qua nhưng không có bất cứ một quốc gia nào đạt hiệu quả trong việc thúc đẩy cho văn bản trở thành một tài liệu mang tính ràng buộc pháp lý được. Nên nói rằng chính bản thân Trung Quốc cũng không nỗ lực thực hiện đầy đủ nhiệm vụ của mình trong đó. Điều quan trọng của vấn đề nằm ở chỗ Trung Quốc vẫn tuân thủ chủ nghĩa song phương và phản đối đa phương hóa trong tranh chấp Biển Đông. Thế nhưng bản chất thực sự của rất nhiều vấn đề trong tranh chấp Biển Đông lại là đa phương, cho nên việc phản đối chính sách đa phương hóa đã thể hiện rõ thái độ của Trung Quốc không dám đối mặt với sự thực này.

Thứ ba là quốc tế hóa. Các quốc gia có liên quan đã đưa vấn đề tranh chấp Biển Đông giao phó cho Liên Hợp Quốc và các tổ chức quốc tế. Trung Quốc tỏ ý không chấp nhận cho lắm, bởi vì nếu cầu cứu đến Liên Hợp Quốc hoặc các tổ chức quốc tế thì khả năng bại trận của Trung Quốc sẽ lớn hơn cơ hội chiến thắng rất rất nhiều lần. Như đã thảo luận trong phần trên, Trung Quốc đã thua trận trong cuộc chiến công luận quốc tế rồi, sẽ không còn bao nhiêu người có thể thông cảm cho lập trường của Trung Quốc được nữa.

Thứ tư là chính trị hóa đại quốc. Các quốc gia có liên quan trong khu vực Đông Nam Á hy vọng sẽ có sự can thiệp của Mỹ tại đây, điều này là dễ hiểu. Thế nhưng mức độ can thiệp của Mỹ sẽ sâu nông như thế nào thì còn phải xem lợi ích quốc gia của chính họ trong vấn đề này. Nhân tố Mỹ trong khu vực Đông Nam Á đã luôn tồn tại từ trước tới nay, hay nói cách khác Mỹ đã luôn là một bộ phận cấu thành trong cấu trúc khu vực này. Trên thực tế, lợi ích của Mỹ tại khu vực Đông Nam Á này còn thâm căn cố đế hơn nhiều so với lợi ích của Trung Quốc. Ngay từ thời kỳ khi mới bắt đầu chiến tranh lạnh thì Mỹ đã không ngừng thiết lập mối quan hệ với các nước trong khối ASEAN, còn Trung Quốc chỉ mãi cho đến sau thời kỳ cải cách giải phóng đất nước mới bắt đầu xây dựng mối quan hệ mang tính thực chất với các nước này. Mối quan hệ giữa Mỹ và các nước Đông Nam Á là toàn diện trên các lĩnh vực còn Trung Quốc thì chủ yếu chỉ dựa trên lĩnh vực kinh tế, còn những lĩnh vực khác mới đang thuộc thời kỳ sơ khai. Do vậy, việc chính quyền Trung Quốc phản đối "chính trị hóa đại quốc" cũng chính là nguyên do khiến cho nước này không nhận ra bản chất thật của vấn đề tranh chấp.

Khi suy ngẫm đến các nhân tố đã được nêu ở phần trên, mọi người sẽ thật dễ dàng để trả lời câu hỏi rằng "Trung Quốc nên đi những bước tiếp theo như thế nào đây?", cũng có thể xem xét đánh giá từ nhiều góc độ như sau.

Trước tiên, Trung Quốc cần đặt mình đứng từ góc độ của các quốc gia láng giềng hoặc các nước có liên quan đến tranh chấp trong vấn đề Biển Đông để suy xét vấn đề. Trong suốt thời gian dài đến nay, chính quyền Trung Quốc luôn tuyên truyền lập trường với những nguyện vọng tốt đẹp của họ ra thế giới trong và ngoài nước, ví dụ như những khái niệm gọi là "trỗi dậy hòa bình", "phát triển hòa bình" và "láng giềng tốt", v.v... Những điều này rất quan trọng nhưng không bao giờ có thể coi là đủ được cả, bởi vì chính Trung Quốc đã coi nhẹ cách nhìn nhận của các nước xung quanh đối với sự trỗi dậy của họ như thế nào, hay mối quan tâm của các nước đó ra sao trước sự trỗi dậy của Trung Quốc. Chỉ cho đến khi thấu hiểu được mối lo lắng của các nước láng giềng này rồi, thì Trung Quốc mới hoạch định ra những chính sách thiết thực có hiệu quả được. Nếu không, không quan tâm nguyện vọng của Trung Quốc có như thế nào đi chăng nữa, hay đại loại giống như những khái niệm gọi tương tự như là "sự trỗi dậy hòa bình" v.v... thì cuối cùng vẫn biến thành những lời Trung Quốc tự nói và tự nghe.

Thứ hai, Trung Quốc bắt buộc phải phân định rõ ràng giữa vấn đề an ninh hàng hải và tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông. Mối quan tâm của cộng đồng quốc tế đặc biệt là Mỹ nói riêng chính là vấn đề an ninh hàng hải, việc Mỹ can thiệp vào vấn đề Biển Đông cũng chính xuất phát từ căn nguyên này ra. Đối với vấn đề này, Trung Quốc cần căn cứ vào tình hình thực tế, thừa nhận và nhấn mạnh rằng an ninh hàng hải là mối quan tâm của tất cả các bên tham gia, đồng thời cũng là trách nhiệm của tất cả các bên. Trung Quốc phải tình nguyện gánh vác trách nhiệm này cùng với các quốc gia khác như Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ hay các quốc gia ASEAN. Trên thực tế, vấn đề an ninh hàng hải quốc tế vẫn luôn do Mỹ đảm nhiệm từ trước tới nay. Mặc dù Trung Quốc đã bắt đầu có năng lực và sức mạnh trong vấn đề này, thế nhưng khả năng gánh vác được trách nhiệm thì vẫn còn quá là xa vời đối với chính họ, cho dù chỉ là vấn đề liên quan đến an ninh hàng hải trong khu vực mà thôi. Trong lĩnh vực này, hai nước Trung, Mỹ có không gian để có thể hợp tác cùng với nhau rất lớn, mà sự hợp tác như vậy cũng phù hợp với lợi ích quốc gia của chính bản thân Trung Quốc. (Đương nhiên ở đây đề cập đến một vấn đề còn cơ bản hơn, đó là việc Trung-Mỹ sẽ hợp tác như thế nào để xây dựng nên hệ thống an ninh trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương. Mà điều này đòi hỏi thể hiện trong một bài lập luận khác biệt nữa).

Quản lý và kiểm soát sẽ chính là các lựa chọn.

Thứ ba, một cấp bậc tiếp theo nữa là mối quan hệ giữa Trung Quốc và tổng thể khối ASEAN. Việt Nam, Philippin, Malaysia và Bruney là những nước thành viên ASEAN có tuyên bố chủ quyền một phần hoặc toàn bộ đối với một số đảo trên Biển Đông. Điều này quyết định đến sự cân nhắc của Trung Quốc về lợi ích tổng thể của khối ASEAN cũng như mối quan hệ giữa Trung Quốc và tổng thể ASEAN. Mặc dù cho tới thời điểm hiện tại, Trung Quốc không sẵn sàng chấp nhận chủ nghĩa đa phương, thế nhưng cuối cùng thì họ bất đắc dĩ cũng phải thừa nhận, hơn nữa sự chấp nhận này càng sớm bao nhiêu thì sẽ càng có lợi cho Trung Quốc bấy nhiêu. Hãy giả thiết một chút rằng, nếu như "Tuyên bố ứng xử trên Biển Đông" ngay từ những năm trước đã có tính ràng buộc pháp lý rồi thì cục diện Biển Đông sẽ không đến nỗi phát triển như thời điểm hiện tại thế này. Không còn nghi ngờ gì nữa, nếu Trung Quốc chấp nhận chủ nghĩa đa phương, thì "Tuyên bố ứng xửtrên Biển Đông" sẽ vẫn là một lối vào đầy thuận tiện.

Thứ tư, một cấp bậc cuối cùng là nên đối diện với vấn đề tranh chấp chủ quyền như thế nào. Đây là vấn đề vô cùng thiết yếu, Trung Quốc nên từ bỏ chủ nghĩa song phương truyền thống và chấp nhận chủ nghĩa song phương mới, cũng có nghĩa là một chủ nghĩa song phương mới nằm trong cấu trúc của chủ nghĩa đa phương. Điều này nói lên rằng, Trung Quốc và các nước có liên quan đến tranh chấp sẽ có thể tiến hành các cuộc họp thảo luận song phương dưới hình thức cấu trúc đa phương giữa Trung Quốc và ASEAN khi bàn bạc nghiên cứu về vấn đề Biển Đông. Dưới hình thức cấu trúc đa phương như vậy, các quốc gia không liên quan đến tranh chấp Biển Đông sẽ không tỏ rõ thái độ ủng hộ đối với bất cứ một bên nào, lập trường trung lập sẽ là lợi ích lớn nhất của tất cả các bên. Đồng thời khuôn khổ này cũng tạo động lực lớn giúp cho các nước có liên quan đến tranh chấp có thể tiến hành thương lượng thảo luận với Trung Quốc.

Vấn đề Biển Đông ngày càng trở nên phức tạp gay gắt. Muốn một bước giải quyết nhanh gọn vấn đề này là không điều không thể xảy ra được. Nếu không giải quyết được vấn đề tồn tại, thì phương án quản lý và kiểm soát sẽ trở thành những cách lựa chọn hợp lý. Nhưng muốn quản lý và kiểm soát được vấn đề tranh chấp Biển Đông thì cần bắt buộc phát triển một loạt các cơ chế pháp lý. Mặc dù Trung Quốc hiện nay đang nằm trong tình thế bị động, thế nhưng không gian mà Trung Quốc có thể hoạt động được lại vô cùng lớn. Là một quốc gia lớn có trách nhiệm thì Trung Quốc cũng nên tìm kiếm các giải pháp để quản lý và kiểm soát vấn đề tranh chấp trên Biển Đông bắt đầu ngay từ trong bối cảnh khu vực thậm chí mở rộng ra quốc tế. Nếu Trung Quốc không thể thay đổi đường lối tư duy truyền thống một cách có hiệu quả thì không gian hoạt động của Trung Quốc trong vấn đề này sẽ ngày càng bị thu hẹp nhỏ lại.

Bản gốc tiếng Trung “中国活在梦中 南海早已彻底输掉

Theo Liên hợp Buổi sáng

Đinh Thị Thu (dịch)

 

 

 Báo cáo của Trung tâm An ninh Mới của Mỹ (CNAS) cho rằng các lợi ích của Mỹ đang ngày càng bị đe dọa trước sự lớn mạnh của Trung Quốc, nhất là trước việc nước này sẵn sàng “xem xét lại” các luật chơi đã được thiết lập. Mỹ cần không ngừng quan tâm đến Biển Đông và tăng cường hợp tác. Hợp tác chỉ có thể đạt hiệu quả dựa trên sức mạnh răn đe quân sự của Mỹ.

obama.jpg


Báo cáo dài 115 trang, gồm 6 chương do các học giả hàng đầu của CNAS, Viện Công nghệ Massachuset (MIT), Học viện Hải chiến Hoa Kỳ và Viện Nghiên cứu Đông Nam Á của Singapore thực hiện.

Nhận định chính của báo cáo cho rằng các lợi ích của Mỹ đang ngày càng bị đe dọa trước sự lớn mạnh về quân sự và kinh tế của Trung Quốc, nhất là trước việc nước này sẵn sàng “xem xét lại” các luật lệ đã được thiết lập. Mỹ và các nước khác có lợi ích quan trọng về tự do hàng hải, bao gồm cả tự do thương mại và hoạt động quân sự; trong khi Trung Quốc đang tìm mọi cách để hạn chế tự do này, bao gồm cả việc đòi xem xét lại các luật lệ trên biển từ trước đến nay và phát triển sức mạnh quân sự nhằm ngăn chặn “tiếp cận” (access) đến khu vực. Do đó, Chính quyền Mỹ cần tích cực và không ngừng quan tâm đến vấn đề Biển Đông. Mỹ cần phải tăng cường hợp tác nhưng hợp tác chỉ có thể đạt hiệu quả dựa trên sức mạnh răn đe quân sự của Mỹ

 

 

1) Lợi ích của Mỹ tại Biển Đông 

Báo cáo đánh giá tầm quan trọng của Biển Đông ở các khía cạnh: i) Biển Đông là trung tâm dân số của thế giới trong thế kỷ 21 thông qua giao thương hàng hóa, tài nguyên của 1,5 tỷ người Trung Quốc, 600 triệu người Đông Nam Á và 1,3 tỷ người tiểu lục địa Ấn Độ; ii) Các tuyến đường vận tải qua Biển Đông là giao thoa của toàn cầu hóa và địa chính trị; iii) Biển Đông là “Vịnh Péc-xích thứ hai về dầu mỏ” với trữ lượng hơn 130 tỷ thùng (nếu dựa vào đánh giá của phía Trung Quốc), và nếu Trung Quốc kiểm soát được nguồn năng lượng này thì nước này sẽ ít phụ thuộc vào nguồn cung từ Trung Đông và vận tải qua eo Malacca, qua đó có thể “độc lập” hơn, ít bị “tổn thương” so với vận tải qua các tuyến đường hiện nay do Hải quân Mỹ đảm bảo an ninh; iv) Ở khía cạnh nào đó, Biển Đông là “trận chiến chính” của việc chuyển giao quyền lực thế giới, là thuốc thử về cán cân quyền lực mới giữa Trung Quốc đang lên và Mỹ đang đi xuống. 

Báo cáo cho rằng tranh chấp Biển Đông có từ lâu và sẽ không thể giải quyết được một sớm một chiều. Tình hình gần đây tái diễn căng thẳng nhưng sẽ không dẫn đến đụng độ giữa các nước trong thời gian ngắn trước mắt. Tuy nhiên, Biển Đông đã trở thành trung tâm của cạnh tranh địa-chính trị lâu dài, trong đó sự lớn mạnh của Trung Quốc sẽ thúc đẩy cạnh tranh quyền lực và chủ nghĩa dân tộc.  Trong bối cảnh đó, việc Trung Quốc nêu tham vọng yêu sách và nhất là sẵn sàng sử dụng sức mạnh quân sự để củng cố yêu sách sẽ đe dọa đến “độ tin cậy” của sức mạnh quân sự, và sự thống trị của Mỹ tại Châu Á-Thái Bình Dương.

Trong các thập kỷ tới, thách thức lớn nhất đối với Mỹ là làm thế nào để duy trì các luật chơi trên biển đã được thiết lập, nhất là tự do hàng hải, nhưng lại phải thích nghi với sự trỗi dậy của các cường quốc khu vực, đặc biệt là Trung Quốc. Báo cáo cho rằng Mỹ cần duy trì mục tiêu là bảo vệ lợi ích của mình nhằm duy trì nguyên trạng nhưng không nhất thiết phải dẫn đến “đụng độ” với Trung Quốc; Mỹ cần cùng các nước khu vực thúc đẩy các khuôn khổ đa phương, “ràng buộc” Trung Quốc vào các tiêu chuẩn luật pháp quốc tế, qua đó điều chỉnh hành vi của Trung Quốc.

2) Đánh giá về chiến lược Biển Đông của Trung Quốc  

- Biển Đông gắn bó với Trung Quốc dưới nhiều góc độ: địa lý, lịch sử, tài nguyên và nhất là việc đảm bảo các tuyến đường vận tải biển. Trung Quốc có tham vọng và nhu cầu kiểm soát các tuyến đường biển huyết mạch mang tính sống còn đối với kinh tế nước này qua Biển Đông và eo Malacca. Nếu đường biển này bị phong tỏa dù chỉ một ngày, nguồn cung năng lượng cho Trung Quốc bị gián đoạn, thì có thể dẫn đến bất ổn xã hội. `

- Trung Quốc có nhu cầu chính đáng trong việc phát triển hải quân nhằm đảm bảo các tuyến đường biển. Tuy nhiên, hiện Trung Quốc đã lớn mạnh, có lực lượng hải quân hùng mạnh, lại tạo ra các thách thức cho trật tự khu vực Đông Á.  Lực lượng tàu ngầm của Trung Quốc chủ yếu là tàu diesel (trong khi của Mỹ là tàu hạt nhân), nhưng tàu ngầm diesel chạy êm, thích hợp hơn trong triển khai tại các vùng biển đông đúc ở Đông Á. Báo cáo đánh giá xu hướng đáng lo ngại là Trung Quốc hiện có 60 tàu ngầm và sẽ có 75 chiếc trong vòng vài năm tới, nhiều hơn Mỹ (trong khi Mỹ chỉ triển khai 55% lực lượng tàu ngầm ở Thái Bình Dương). Tỷ lệ tăng trưởng mới tàu ngầm giữa Trung Quốc và Mỹ từ năm 2000 là 4/1; và từ năm 2005 là 8/1.

- Báo cáo nhận định rằng sức mạnh của Trung Quốc không chỉ trong vấn đề tàu ngầm hay quân sự, mà còn ở quy mô dân số, khả năng kinh tế và vị trí địa lý trung tâm. Trung Quốc sẽ tích cực sử dụng các đòn bẩy sức mạnh trong vấn đề Biển Đông để đạt sự thừa nhận vai trò thống lĩnh và nhân nhượng từ các nước khác. Đa số các nước trong khu vực có quan hệ kinh tế, thương mại chặt chẽ với Trung Quốc, nhưng đều rất thận trọng và đề phòng Trung Quốc. Các nước này một mặt tăng cường quan hệ, nhưng lại lo ngại Trung Quốc, muốn duy trì sự hiện diện quân sự của Mỹ. Tuy vậy, các nước khu vực lại không muốn Mỹ gây căng thẳng với Trung Quốc do lo ngại bị lâm vào thế “kẹt” trong cuộc chơi giữa hai cường quốc. Chính sách của Trung Quốc là khai thác tối đa hạn chế này bằng cách kết hợp cân bằng giữa quyết đoán trên thực địa và thu phục bằng ngoại giao, nhằm ngăn chặn các mầm mống của liên minh kiềm chế Trung Quốc ở Đông Nam Á.    

- Tuy Trung Quốc ngày càng dân chủ hóa, nhưng lợi ích địa chiến lược của Trung Quốc không phụ thuộc vào hình thức của thể chế hay ý thức hệ. Đối với Đảng Cộng sản Trung Quốc hiện nay, tính chính danh được duy trì và củng cố bởi tăng trưởng kinh tế cao. Do đó, sự ổn định của Trung Quốc phụ thuộc vào nguồn cung tài nguyên và tự do giao thương trên biển. Theo đó, Chính sách của Trung Quốc đối với Biển Đông sẽ không hướng tới “đụng độ”, mà trọng tâm chính là tìm cách đạt được mục tiêu mà không cần dùng đến sức mạnh, tức “thắng không cần đánh”.  Nếu có thể dịch chuyển được cán cân lực lượng nghiêng theo phía mình, thì Trung Quốc có thể đẩy Mỹ ra khỏi khu vực Biển Đông và ngoài chuỗi đảo thứ nhất ở Tây Thái Bình Dương, thiết lập ảnh hưởng lên các nước khác trong khu vực, khiến các nước này bị “Phần Lan hóa” – không thể thực thi chính sách đối ngoại độc lập, nhất là không dám đi với Mỹ để đối phó với Trung Quốc.

- Cách thức triển khai chính sách của Trung Quốc là kết hợp giữa “đe dọa”  và “hợp tác” (coercion and cooperation) – vừa thu phục vừa gia tăng ảnh hưởng lên các nước Đông Nam Á;  hay “đàm và chiếm” (talk and take).  Trung Quốc sẽ kiên trì chống quốc tế hóa, chống đưa Biển Đông ra bàn thảo tại các diễn đàn đa phương. Theo đánh giá của nhóm tác giả: song phương sẽ giúp Trung Quốc “chia để trị”; đa phương sẽ đẩy Trung Quốc vào thế yếu. Các phát triển liên quan đến Biển Đông nửa sau năm 2011 thể hiện rõ việc quốc tế hóa và việc nêu cao quan ngại của cộng đồng thế giới đối với các hành động của Trung Quốc đã buộc nước này phải điều chỉnh chính sách, ngoại giao mềm dẻo hơn. Trung Quốc chấp nhận ký Văn bản hướng dẫn thực thi DOC và chịu đàm phán về COC sau khi vấn đề Biển Đông được quốc tế hóa trong năm 2010, 2011. Trung Quốc cũng điều chỉnh, có các bước đi nhằm củng cố quan hệ song phương với hai nước chủ chốt khác ở Biển Đông là Việt Nam và Philippines.

- Tuy vậy, theo nhóm tác giả, hiện vẫn không rõ hiện Trung Quốc có một chiến lược kiên định, rõ ràng với Biển Đông hay chưa, hay các nhóm lợi ích khác nhau triển khai hành động riêng rẽ, không có sự phối hợp tầm quốc gia. Đơn cử trong lĩnh vực luật, có nhiều cơ quan khác nhau thực thi pháp luật trên Biển Đông nhưng chính sách và phát biểu của họ nhiều khi không có sự phối hợp. Lãnh đạo Trung Quốc nhận ra tình trạng này và đang cố gắng thiết lập các cơ chế liên Bộ ngành để hoạch định và thực thi chính sách đối với vấn đề Biển Đông.

3) Kiến nghị chính sách đối với chính quyền Mỹ

Trên cơ sở phân tích trên, Bản báo cáo của CNAS khuyến nghị các nhà hoạch định chính sách cần thực hiện 5 bước tổng quát để bảo vệ lợi ích của Hoa Kỳ và đồng minh trên Biển Đông. Các bước này bao gồm:

i) Tăng cường sự hiện diện hải quân: Mỹ cần tiếp tục đi đầu trong lĩnh vực ngoại giao và kinh tế, tuy nhiên điều này cần phải có sự hậu thuẫn từ sức mạnh quân sự. Biển Đông trước tiên là sân chơi về sức mạnh hải quân hiện đại. Sức mạnh hải quân ngày càng gia tăng của Trung Quốc đang đe dọa đến các lực lượng hải quân và các căn cứ quân sự của Mỹ, đe dọa tự do thông thương trên biển và vai trò kiểm soát đường biển từ trước đến nay của Mỹ. Do đó, Mỹ cần đảm bảo sức mạnh hải quân nhằm: i) duy trì cân bằng quyền lực để kiểm soát và bảo vệ tự do hàng hải trên Biển Đông; ii) răn đe không để xảy ra xung đột hoặc ít nhất cho thấy kẻ hiếu chiến sẽ không dễ dàng thắng, qua đó giúp duy trì hòa bình và thịnh vượng trong khu vực. 

 ii) Củng cố mạng lưới an ninh trong khu vực: Mỹ cần thúc đẩy một mạng lưới các đối tác an ninh, bổ sung cho hệ thống liên minh “trục và nan hoa” hiện nay giữa Mỹ và các nước đồng minh như Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, Thái Lan, Phi-líp-pin.  Mỹ cần xây dựng một mạng lưới các nước đối tác trong khu vực làm đối trọng với sức mạnh hải quân của Trung Quốc trong khu vực. Việt Nam, Philippines là các nhân tố chính. Nếu Việt Nam không dám đương đầu với Trung Quốc thì các nước yếu hơn như Philippines sẽ không thể nào dám đương đầu với Trung Quốc. Nếu sức mạnh của Mỹ suy giảm, Việt Nam không có lựa chọn nào khác là phải sống chung với Trung Quốc. 

Do Mỹ vẫn cần phải hợp tác với Trung Quốc và một số nước (như Việt Nam) không muốn thể hiện công khai đối phó Trung Quốc. Do đó, hình thức quan hệ đối tác chiến lược dựa trên lợi ích chung (có thể hiểu như các liên minh ngầm) sẽ giúp tránh gây tâm lý thù địch từ phía Trung Quốc. Các liên minh ngầm này thậm chí còn có thể mạnh hơn cả những liên minh chính thức.

Mỹ cũng cần có chính sách nhất quán về sự hiện diện quân sự qua khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) thông qua các căn cứ truyền thống ở Nhật Bản, Hàn Quốc, các địa điểm tiếp cận mới trong khu vực với cách làm mới. Ví dụ như năm 2011 Mỹ có quyết định cho hai tầu chiến dừng tại Singapore mà không xác định là dừng thường xuyên hay không.  Mô hình mới này mang tính linh động, không cố định, tránh các nước đối tác bị Trung Quốc gây sức ép. Mô hình này có thể áp dụng cho cho các nước ASEAN khác như Philippines và Việt Nam.

iii) Củng cố các nguyên tắc và thể chế đa phương: Mỹ cần tiếp tục thúc đẩy bàn thảo vấn đề  trong các chương trình an ninh và ngoại giao của mình, bao gồm việc tham dự các hội thảo ở kênh 2 như cuộc hội thảo Biển Đông hàng năm do Việt Nam tổ chức tại Hà Nội, cho đến các cuộc họp chính thức liên quan như ASEAN, ARF, ADMM+ và EAS.

iv) Đầu tư vào thương mại mở khu vực. Mỹ cần tăng cường thúc đẩy hơn nữa liên kết kinh tế giữa các nước trong khu vực cũng như giữa Mỹ với các nước trong khu vực. Việc tăng cường liên kết kinh tế giúp Mỹ tăng đầu tư chiến lược vào khu vực năng động nhất trên thế giới. Tiềm năng phát triển của Quan hệ Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) một ngày sẽ trở thành thể chế thương mại ưu đãi bao trùm. Nếu Mỹ và các nước không thúc đẩy liên kết kinh tế trong khu vực như vậy, một hệ thống thương mại như vậy do Trung Quốc lãnh đạo sẽ hình thành và điều này là bất lợi cho Mỹ.

v) Định hình mối quan hệ thực tế với Trung Quốc. Mỹ cần có chính sách đúng đắn với Trung Quốc – không quá ảo hưởng về “hợp tác toàn cầu” cũng như không quá bi quan về “sự đối đầu không tránh khỏi” với Trung Quốc. Mỹ cần tích cức can dự ngoại giao và kinh tế, hậu thuẫn hiệu quả bởi sức mạnh quân sự áp đảo và nền kinh tế tăng trưởng tốt của Mỹ. Mục đích chính là duy trì quan hệ hợp tác tổng thể, nhưng không để mất thế thượng phong về sức mạnh quân sự, đảm bảo Trung Quốc không thể trở thành bá quyền khu vực.     

Thái Giang (TTBĐ)

 

    

 

Từ việc phân tích tổng hợp các nhân tố dẫn đến căng thẳng và kéo dài trong tranh chấp Biển Đông, TS. Aileen S.P Baviera , Đại học Philippines đề cập đến các giải pháp: song phương, đa phương, hợp tác về an ninh hàng hải nhằm thúc đẩy giải quyết tranh chấp Biển Đông, trong đó tác giả nhấn mạnh đến vai trò tiếp cận đa phương.

 

Những sự kiện gần đây đã thu hút sự chú ý đối với các tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông - một vùng biển mà căng thẳng đang ngày càng leo thang và có khả năng xảy ra một cuộc đối đầu quân sự  giữa các bên yêu sách đối địch nhau, đặc biệt giữa Trung Quốc và Việt Nam, Trung Quốc và Philippines. Trong khi trước đó, nhiều nước yêu sách đã từng thực hiện những hành động đơn phương riêng lẻ mà được giải thích là việc khẳng định chủ quyền (bao gồm thông qua các luật liên quan đến lãnh thổ và các vùng biển, các hoạt động thăm dò, khai thác tài nguyên, và các nỗ lực ngăn chặn hoạt động tương tự của các quốc gia khác), thì vòng căng thẳng mới nhất lại liên quan đến nhiều nhân tố đáng lo ngại.

Những nhân tố mới trong tranh chấp

Đầu tiên, và trước hết là việc Trung Quốc tăng cường sử dụng quân sự, bán quân sự hay các cơ quan thực thi pháp luật nhằm khẳng định chủ quyền tại các khu vực tranh chấp thể hiện trong bản đồ Đường đứt khúc chín đoạn, đặc biệt tại các khu vực gần bờ biển của các quốc gia duyên hải. Điều này cần phải được hiểu trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng tăng cường năng lực của mình và thể hiện rõ ý định triển khai sức mạnh hải quân tại Biển Hoa Đông và Biển Đông. Trung Quốc gần đây đã đệ trình bản đồ thể hiện chính thức yêu sách của mình với Liên Hợp Quốc (như là một phần trong công hàm phản đối của nước này chống lại một đệ trình chung của Việt Nam - Malaysia về giới hạn thềm lục địa tại Biển Đông).

Thứ hai là sự thất bại cho đến nay của ngoại giao đa phương ở khu vực giữa Trung Quốc và ASEAN trong việc tiến tới thúc đẩy xây dựng lòng tin, hợp tác hay cấp bách hơn nữa, là trong việc nhất trí các giải pháp tránh xung đột và các quy định ứng xử khác trong khu vực tranh chấp.

Thứ ba là sự không chắc chắn về quỹ đạo của quan hệ các cường quốc, trong một môi trường mà sự nổi lên của Trung Quốc đang diễn ra giữa lúc kinh tế Mỹ đang suy giảm và các mối quan tâm của Mỹ thì đang ở các nơi khác trên thế giới (mặc dù chính quyền Obama đã tuyên bố dự định vẫn duy trì quyền lực ở Thái Bình Dương).

Các yếu tố này hợp lại dường như đã làm thay đổi cục diện của các tranh chấp lãnh thổ theo những cách khác nhau. Đang có một sự chuyển trọng tâm trong các nỗ lực quản lý xung đột từ việc xây dựng lòng tin giữa Trung Quốc và ASEAN và tìm kiếm công thức cho việc hợp tác tài nguyên sang (1) nhu cầu phải làm rõ chính xác phạm vi và các căn cứ pháp lý của các yêu sách tương ứng, cũng như bản chất của các bộ luật và các cơ chế có thể áp dụng trong các vùng biển xung quanh; (2) làm thế nào để ngăn chặn sự bùng nổ chiến tranh vũ trang và một cuộc chạy đua vũ trang lâu dài giữa các bên yêu sách đối địch, và (3) vấn đề liệu việc đưa Mỹ vào làm đối trọng với Trung Quốc là hữu ích hay gây nguy hại đến tiến trình ngoại giao giữa ASEAN - Trung Quốc về vấn đề này.

Bề ngoài của cuộc cạnh tranh giữa các cường quốc

Như đã được tranh luận từ lâu, tranh chấp Biển Đông là một phép thử về thái độ và hành xử của Trung Quốc với các nước láng giềng nhỏ hơn với tư cách cường quốc mới nhất và lớn nhất của khu vực. Quan điểm cứng rắn và sự phô trương sức mạnh quân sự gần đây của Trung Quốc diễn ra sau một thời gian khá dài các mối quan hệ và hợp tác song phương cũng như đa phương với các nước Đông Nam Á khá suôn sẻ, từ đó gửi đi các tín hiệu lẫn lộn tới các láng giềng và làm xuất hiện mâu thuẫn với Khái niệm An ninh Mới mà nước này đang cố gắng thể hiện. Đồng thời, quan ngại của Mỹ về những gì mà nước này cho là thiếu minh bạch trong hiện đại hoá quân đội Trung Quốc nói chung, và khả năng chống can thiệp và phong tỏa khu vực (anti-access area-denial  capability) nói riêng của Trung Quốc, cộng hưởng ở một số nước trong khu vực Đông Nam Á. Sự phát triển căn cứ tàu ngầm trên đảo Hải Nam và ý định triển khai các nhóm tàu sân bay chiến đấu của Trung Quốc là những điểm đáng chú ý đặc biệt.

Đọc toàn bộ bản dịch tại đây

TS. Aileen San Pablo

Hồng Nhung (dịch)

Quang Hưng (hiệu đính)

Tham luận của TS. Aileen San Pablo-Baviera, Đại học Philippines tại Hội thảo “Biển Đông: Hướng tới một khu vực Hòa bình, Hợp tác và Tiến bộ - The South China Sea: Toward a Region of Peace, Cooperation, and Progress” do Học viện Ngoại giao Việt Nam phối hợp với Trường Đào tạo cán bộ đối ngoại Philippines tổ chức tại Manila, Philippines 5 – 6 tháng 7 năm 2011.

Bản gốc tiếng Anh “The South China Sea Territorial Disputes in ASEAN-China Relations

 

Ngôn ngữ

Tìm kiếm

Học bổng Biển Đông

         

CHUYÊN ĐỀ ĐẶC BIỆT

TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT

Đăng nhập



Bản đồ - Hình ảnh

TỔNG QUAN VỀ BIỂN ĐÔNG