Thứ ba, 14 Tháng 9 2010
Viết bởi nguyen viet
Diễn đàn An ninh khu vực ARF khép lại hồi tháng 7 nhưng dư âm của nó còn kéo dài, làm nóng các trang báo ở các quốc gia liên quan, nhất là xoay quanh vấn đề Biển Đông, và trục quan hệ ASEAN - Trung Quốc - Mỹ.

Trong Tuyên bố của Chủ tịch hội nghị, các Ngoại trưởng thành viên ARF một lần nữa đã nhấn mạnh "tầm quan trọng của việc giữ gìn hòa bình và ổn định ở biển Đông", trên cơ sở thực hiện Tuyên bố về ứng xử giữa các bên ở biển Đông (DOC) và Công ước Luật biển của Liên Hợp Quốc (UNCLOS). Tại Hội nghị, đã có hơn một nửa trong tổng số 27 nước thành viên ARF, bao gồm cả các nước ASEAN lẫn các nước bên ngoài ASEAN, đề cập đến vấn đề hòa bình và ổn định ở biển Đông trong phát biểu của mình, cho thấy sự quan tâm rộng rãi của cộng đồng quốc tế đến vấn đề an ninh thiết thực này của khu vực.
Sau khi Hội nghị ARF Hà Nội kết thúc, giới học giả và truyền thông ở Trung Quốc cũng như các nước khác đã có nhiều ý kiến đánh giá tích cực những thành công của Hội nghị ARF đối với toàn khu vực. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng xuất hiện một số bình luận thái quá, có nội dung chỉ trích các nước ASEAN câu kết với Mỹ và các nước ngoài khu vực để chống Trung Quốc trong vấn đề biển Đông trên các diễn đàn đa phương. Luồng quan điểm tiêu cực này có khả năng gây ảnh hưởng không tốt đối với dư luận Trung Quốc và dư luận các nước ASEAN, không có lợi cho hợp tác trên biển Đông và quan hệ hợp tác toàn diện ASEAN-Trung Quốc.
Thực ra, phát biểu của các nước ASEAN về vấn đề biển Đông đã bị một số tác giả diễn giải sai lệch, và nếu ta bình tĩnh nhìn nhận đúng quan điểm của các nước ASEAN thì sẽ có lợi cho sự hiểu biết lẫn nhau giữa ASEAN và Trung Quốc, về lâu về dài tạo điều kiện thuận lợi cho việc giữ gìn môi trường hòa bình và ổn định ở khu vực.
Thực hư của vấn đề "quốc tế hóa" tranh chấp biển Đông
Việc đầu tiên cần thiết phải làm rõ là đánh giá đúng thực trạng tình hình tranh chấp ở biển Đông hiện nay để có thể khẳng định đây là một vấn đề an ninh thiết thực của khu vực, không thể không đề cập đến trong chương trình nghị sự của ARF hoặc các thể chế an ninh đa phương khác ở Châu Á-Thái Bình Dương. Nếu vấn đề tranh chấp biển Đông không nằm trong nội dung thảo luận thì chức năng, sứ mệnh của các diễn đàn an ninh này sẽ bị giảm đáng kể, thậm chí có nguy cơ mất vai trò.
Trên thực tế, vấn đề biển Đông luôn luôn là vấn đề ưu tiên, nổi trội trong chương trình nghị sự của ARF từ khi thành lập Diễn đàn cho đến nay chứ không phải bây giờ mới nêu lên. Trong thời gian gần đây, nhìn tổng thể thì tình hình biển Đông về cơ bản vẫn giữ được xu thế hòa dịu, nhưng đồng thời có xen lẫn một số diễn biến phức tạp có thể làm tổn hại đến đại cục. Điển hình là sự kiện Trung Quốc công khai hóa yêu sách "đường lưỡi bò" (còn gọi là đường đứt khúc 9 đoạn) trên biển Đông, ngang nhiên tuyên bố biển Đông xếp vào hạng "lợi ích cốt lõi" của Trung Quốc, cùng một loạt các hoạt động thiếu kiềm chế khác như bắt giữ ngư dân một số nước ASEAN và gây sức ép với các công ty dầu khí nước ngoài hoạt động trên biển Đông...
Trong bối cảnh như vậy, khó tránh khỏi một số nước trong và ngoài khu vực bày tỏ quan điểm một cách ôn hòa về vấn đề hòa bình, ổn định ở biển Đông tại Hội nghị ARF vừa qua, đồng thời nêu mong muốn các bên có liên quan tiếp tục kiềm chế, xử lý tranh chấp theo các chuẩn mực quốc tế như DOC và UNCLOS.
Việc một số bình luận trong báo giới Trung Quốc cho rằng đây chỉ là tranh chấp song phương giữa Trung Quốc và từng nước thành viên ASEAN, rằng các nước bên ngoài không nên can thiệp vào, đã làm không ít người ngạc nhiên, nhất là ở các quốc gia có bày tỏ quan điểm thiện chí tại Hội nghị ARF Hà Nội.
Thiết nghĩ về bản chất, tranh chấp chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa là vấn đề song phương giữa Việt Nam và Trung Quốc, nhưng tranh chấp chủ quyền quần đảo Trường Sa lại liên quan đến năm nước, sáu bên; đó là còn chưa kể đến các tranh chấp ranh giới trên biển rất phức tạp giữa nhiều bên trên biển Đông.
Nếu bản chất tranh chấp là song phương thì quả thật "đa phương hóa" chỉ làm phức tạp thêm tình hình, nhưng ngược lại nếu bản chất tranh chấp là đa phương thì cũng không thể giải quyết theo con đường song phương được; cũng giống như chơi trò ghép hình nhiều mảnh nhưng nếu có hai mảnh chỉ muốn ghép riêng với nhau thì không thể hoàn thiện bức tranh toàn cảnh được.
Hãy tạm gạt vấn đề tranh chấp chủ quyền sang một bên, vì quan tâm của các nước thành viên ARF không hẳn là vấn đề chủ quyền trên biển Đông, mà đúng hơn là vấn đề hòa bình, ổn định để phát triển ở khu vực - nội dung trọng tâm của diễn đàn ARF. Việc một số học giả Trung Quốc cho rằng tranh chấp chủ quyền trên biển Đông không liên quan gì đến tự do hàng hải, đến hòa bình ổn định ở khu vực tỏ ra không có sức thuyết phục.
Chúng ta đều biết rằng môi trường hòa bình ổn định ở khu vực phụ thuộc vào tình hình phát triển và liên kết kinh tế các quốc gia, mà trao đổi kinh tế giữa các nước Đông Á lại phụ thuộc rất lớn vào thương mại hàng hải. Các tuyến đường hàng hải huyết mạch ở biển Đông là các kênh vận tải chính của các nguồn năng lượng tối cần thiết cho sự phát triển của không chỉ Trung Quốc, các nước ASEAN, mà còn của Nhật Bản, Mỹ và nhiều nước khác.
Đó là còn chưa kể đến khía cạnh an ninh con người của biển Đông, vì xét đến thực tế là đời sống của nhân dân các nước khu vực phụ thuộc lớn vào kinh tế biển. Nếu tự do hàng hải ở biển Đông bị tắc nghẽn thì sẽ là một thảm họa đối với kinh tế và an ninh không chỉ của khu vực Đông Á mà còn ảnh hưởng đến kinh tế và an ninh toàn cầu.
Do vậy, một khi bản chất của vấn đề là đa phương, quốc tế thì việc chỉ trích một "âm mưu đa phương hóa, quốc tế hóa" nào đó sẽ trở nên vô nghĩa.
Cũng cần lưu ý rằng không có phát biểu nào tại Hội nghị ARF 17 ủng hộ hay bác bỏ tuyên bố chủ quyền của bất kỳ bên nào ở biển Đông, mà chỉ xoay quanh vấn đề duy trì hòa bình và an ninh ở biển Đông mà thôi. Như vậy, các quốc gia đề cập tới vấn đề biển Đông tại ARF 17 thực ra chỉ bày tỏ sự quan tâm tới vấn đề liên quan đến lợi ích quốc gia của chính họ và lợi ích của khu vực, chứ không phải tập hợp lực lượng để ủng hộ hay chống lại bất kỳ bên tuyên bố chủ quyền nào.
Ngay cả khi có sự trùng hợp quan điểm giữa các nước ASEAN với một số nước bên ngoài khu vực cũng là do sự tương đồng về lợi ích hòa bình ổn định chứ không phải "có tổ chức" như một số cáo buộc đã nêu.
Liên quan đến hiện tượng Mỹ điều chỉnh chính sách tái can dự đối với khu vực và phát biểu của Ngoại trưởng Mỹ tại Hội nghị ARF 17, đã xuất hiện một số lời chỉ trích các nước ASEAN theo đuôi Mỹ chống Trung Quốc trên biển Đông. Không may là hiện tượng này xảy ra gần thời điểm với sự kiện chìm tàu Cheonan Hàn Quốc và những cuộc tập trận quy mô ở Đông Bắc Á, cùng với sự gia tăng căng thẳng trong quan hệ Mỹ-Trung từ đầu năm tới nay.
Tuy nhiên, các nước ASEAN không hề muốn gây phức tạp thêm cho quan hệ Mỹ-Trung vì điều này không có lợi cho các nước vừa và nhỏ ở Đông Nam Á. Chính sách truyền thống của các nước ASEAN đối với các nước lớn là hoan nghênh sự đóng góp của các nước lớn cho an ninh và phát triển ở Đông Nam Á, nhưng đồng thời nêu cao tinh thần ZOPFAN là độc lập tự chủ trong quan hệ với nước lớn. Các nước ASEAN không hề muốn Mỹ thâu tóm các công việc nội bộ của khu vực hay muốn Mỹ dính líu đến các đòi hỏi chủ quyền ở biển Đông.
Do vậy, không nên nhìn quan hệ ASEAN-Trung Quốc dưới lăng kính quan hệ Mỹ-Trung như một số bài báo gần đây đã mắc phải, mà cần phải phân biệt rõ tính độc lập của quan hệ ASEAN-Trung Quốc và quan hệ ASEAN-Mỹ.
Triển vọng quan hệ hợp tác ASEAN-Trung Quốc trên biển Đông

Nếu như ta tỉnh táo gạt bỏ những diễn biến bên lề mà có thể che lấp bản chất tích cực của sự việc, thì quả thật sự thành công của Hội nghị ARF Hà Nội vừa qua là tín hiệu tốt đối với quan hệ ASEAN-Trung Quốc nói chung và vấn đề biển Đông nói riêng. Phát biểu của các nước ASEAN và các nước ngoài khu vực, kể cả phát biểu của Trung Quốc, đã thể hiện một không khí trao đổi thẳng thắn trên tinh thần xây dựng, làm tăng thêm mức độ hiểu biết lẫn nhau giữa các nước ARF.
Việc này cũng có thể xem là một tín hiệu cảnh báo sớm nhằm lưu ý các nước ASEAN và Trung Quốc trước sự xuất hiện của những yếu tố tiêu cực có khả năng làm ảnh hưởng tới tiến trình hợp tác giữa hai bên.
Tuy nhiên, các bên cũng phải biết tiếp tục kiềm chế để tránh những phản ứng thái quá mà có thể vượt ra khỏi mức độ hợp lý của sự việc. Với báo giới, điều này đòi hỏi một sự minh bạch thông tin và ứng xử công bằng đối với quan điểm của tất cả các bên liên quan, tránh những thành kiến có thể dẫn tới diễn giải sai bản chất của sự việc.
Thành công của Hội nghị ARF Hà Nội không nằm ngoài khuôn khổ những thành tựu kinh tế-chính trị gần đây trong quan hệ hợp tác toàn diện ASEAN-Trung Quốc. Có thể nói quan hệ ASEAN-Trung Quốc đang ở mức phát triển tốt đẹp nhất từ trước đến nay, một phần nhờ vào sự thực hiện chính sách láng giềng thân thiện của chính phủ Trung Quốc. Không nên để bất cứ vấn đề nào ảnh hưởng đến đại cục quan hệ ASEAN-Trung Quốc mà hai bên đã dày công xây đắp.
Ngoài ra, cũng cần phải cảnh giác trước một số thế lực quốc tế cố tình thổi phồng những vụ việc gần đây trên biển Đông nhằm ly gián quan hệ ASEAN-Trung Quốc, như một số học giả đã cảnh báo.
Nhìn chung, triển vọng xử lý xung đột ở biển Đông giữa ASEAN và Trung Quốc là tích cực, do thông qua Hội nghị ARF 17 các bên đã đạt được nhiều hiểu biết nhất định và gia tăng mức độ đồng thuận trên một số vấn đề có liên quan. Phía Trung Quốc đã nhấn mạnh các nước khu vực đều muốn tiếp cận vấn đề tranh chấp ở biển Đông một cách hòa bình trên bình diện quan hệ láng giềng thân thiện hữu hảo.
Như Tuyên bố của Chủ tịch ARF đã nêu, hai văn kiện DOC và UNCLOS tiếp tục được khẳng định là cơ sở quan trọng để xử lý vấn đề biển Đông trong tương lai, có hướng tới mục tiêu xây dựng Bộ quy tắc ứng xử khu vực trên biển Đông (COC). Các nước ASEAN và Trung Quốc cũng thỏa thuận tổ chức cuộc họp tiếp theo của Nhóm công tác liên hợp ASEAN-Trung Quốc về triển khai DOC trước cuối năm 2010.
Có thể nói Hội nghị ARF Hà Nội là bước chuyển tích cực trong quan hệ hợp tác ASEAN-Trung Quốc trong vấn đề biển Đông, sau một thời gian hợp tác giữa hai bên bị ngưng trệ kéo dài vì nhiều lý do khác nhau.
Khoảng thời gian từ sau Hội nghị ARF 17 đến cuối năm 2010 là khoảng thời gian thử thách quan trọng đối với hợp tác ASEAN-Trung Quốc. Hội nghị Cấp cao ASEAN tháng 10/2010 và các hội nghị có liên quan sẽ tổ chức tại Hà Nội là điểm nhấn trong các hoạt động ngoại giao đa phương trên toàn khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, trong đó ASEAN và Trung Quốc là các hạt nhân tích cực. ASEAN và Trung Quốc có trách nhiệm phát huy sự thành công của Hội nghị ARF 17, tiếp tục đẩy tới sự hợp tác trên vấn đề biển Đông để góp phần quan trọng vào sự nghiệp hòa bình ổn định của khu vực, xây dựng một "Châu Á hài hòa" như quan điểm chiến lược của lãnh đạo Trung Quốc.
Trước mắt, việc triển khai thực hiện DOC một cách chân thành là hoạt động thiết thực nhất, vừa góp phần xây dựng lòng tin giữa các bên vừa tạo điều kiện thuận lợi cho một giải pháp công bằng, có lý có tình đối với tranh chấp ở biển Đông trong tương lai.
Tác giả: TS. Nguyễn Nam Dương (Học viện Ngoại giao)
Nội dung của bài viết chỉ phản ánh quan điểm của cá nhân tác giả
Thứ năm, 01 Tháng 9 2011
Viết bởi dinh tuan anh
Trang Foreignpolicy gần đây đăng bài viết “The South China Sea Is the Future of Conflict” của học giả Robert D. Kaplan, chuyên gia cao cấp của Trung tâm An ninh Mỹ mới. Theo đó nhận định các vùng biển thuộc Biển Đông có thể tạo thành tuyến đầu về quân sự trong những thập kỷ tới. Trong khi Trung Quốc đang xây dựng quân đội của mình một cách đáng kể thì các nước Đông Nam Á cũng vậy, ngân sách quốc phòng của họ tăng lên khoảng 1/3 trong thập kỷ qua
.jpg)
Chiến trường đang xác định của thế kỷ 21 sẽ là ở trên biển
Châu Âu là một bức họa về đất liền, Đông Á là một bức họa về biển. Sự khác biệt mang tính quyết định giữa thế kỷ 20 và thế kỷ 21 là ở chỗ đó. Các khu vực bị tranh giành nhiều nhất của trái đất này trong thế kỷ qua nằm trên vùng đất liền ở châu Âu, đặc biệt là ở dải đất bằng phẳng mà đã hình thành các đường biên giới giả tạo ngăn cách phía Đông và Tây của nước Đức và phơi ra trước bước tiến không thể ngăn cản nổi của các quân đội. Nhưng trong một khoảng thời gian hàng thập kỷ, trục nhân khẩu học và kinh tế của địa cầu đã thay đổi đáng kể chuyển đến đầu bên kia của đại lục Âu-Á, nơi các khoảng không gian giữa các trung tâm dân số lớn chủ yếu là đại dương.
Do cách thức mà địa lý học làm sáng tỏ và đặt ra các ưu tiên, các đường nét tự nhiên này của Đông Á báo trước một thế kỷ của hải quân – hải quân được xác định ở đây theo nghĩa rộng bao gồm cả các đội hình chiến đấu trên biển lẫn trên không hiện nay khi mà chúng đã trở nên ngày càng không thể tách rời. Tại sao vậy? Trung Quốc đặc biệt lúc này khi mà các đường biên giới trên đất liền của họ an toàn hơn so với bất cứ thời điểm nào kể từ đỉnh cao của triều đại nhà Thanh vào cuối thế kỷ 18, đang tham gia vào việc bành trướng hải quân không thể chối cãi. Chính là thông qua sức mạnh trên biển mà Trung Quốc sẽ xóa bỏ về mặt tâm lý hai thế kỷ diễn ra các tội ác của nước ngoài trên lãnh thổ của mình – buộc mỗi nước xung quanh mình phải phản ứng lại.
Các cuộc giao chiến quân sự trên đất liền và trên biển là rất khác nhau, với những tác động lớn đối với các chiến lược lớn cần thiết để giành chiến thắng – hoặc để né tránh – chúng. Các cuộc giao chiến trên đất liền làm dân thường vướng vào đó, trên thực tế khiến cho các quyền con người trở thành một yếu tố dấu hiệu trong các nghiên cứu về chiến tranh. Các cuộc giao tranh trên biển tiếp cận xung đột như một vấn đề mang tính khách quan và kỹ trị, trên thực tế rút gọn chiến tranh thành dạng toán học, ngược lại rõ rệt với các cuộc chiến trí tuệ đã giúp xác định các cuộc xung đột trước đây.
Chiến tranh Thế giới thứ Hai là một cuộc chiến đạo đức chống lại chủ nghĩa phát xít, hệ tư tưởng chịu trách nhiệm về cái chết của hàng chục triệu người không tham chiến. Chiến tranh Lạnh là một cuộc chiến đạo đức chống lại chủ nghĩa cộng sản, một hệ tư tưởng mang tính áp bức tương tự mà các vùng lãnh thổ rộng lớn bị Hồng quân Liên Xô chiếm đoạt đã được cai trị bằng hệ tư tưởng đó. Giai đoạn ngay sau Chiến tranh Lạnh đã trở thành một cuộc chiến đạo đức chống lại nạn diệt chủng ở Bancăng và Trung Phi, hai nơi mà ở đó cuộc chiến tranh trên đất liền và các tội ác chống lại nhân loại không thể bị tách rời. Gần đây hơn là cuộc chiến đạo đức chống lại Hồi giáo cực đoan đã lôi kéo Mỹ vào sâu bên trong các biên giới địa hình đồi núi của Ápganixtan, nơi việc cư xử nhân đạo với hàng triệu dân thường là đặc biệt quan trọng đối với sự thành công trong cuộc chiến tranh này. Trong tất cả những nỗ lực này, chiến tranh và chính sách đối ngoại trở thành các chủ đề không chỉ đối với các binh lính và các nhà ngoại giao mà còn đối với các nhà nhân văn và các trí thức. Quả thực, việc chống nổi loạn thể hiện đỉnh cao của các kiểu kết hợp giữa các quân nhân và các chuyên gia về nhân quyền. Đây là kết quả cuối cùng của chiến tranh mặt đất tiến triển thành cuộc chiến tranh tổng lực trong thời hiện đại.
Đông Á, hay chính xác hơn là Tây Thái Bình Dương, đang nhanh chóng trở thành trung tâm hoạt động hải quân mới của thế giới, báo trước một động lực khác về cơ bản. Khu vực này sẽ có thể tạo ra tương đối ít tình thế tiến thoái lưỡng nan về đạo đức theo kiểu mà chúng ta đã từng gặp trong thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, với khả năng xa vời là xảy ra cuộc chiến trên đất liền trên bán đảo Triều Tiên như một ngoại lệ đáng chú ý. Tây Thái Bình Dương sẽ đưa các vấn đề quân sự trở lại lĩnh vực hạn hẹp của các chuyên gia quốc phòng. Đây không chỉ đơn thuần bởi vì chúng ta đang đề cập đến lĩnh vực hải quân, trong đó không có các dân thường. Đó còn bởi vì bản chất của các nhà nước ở Đông Á, mà giống như Trung Quốc, có thể là rất độc tài, nhưng trong phần lớn các trường hợp không phải là chuyên chế hay quá vô nhân đạo.
Cuộc đấu tranh giành địa vị đứng đầu ở Tây Thái Bình Dương sẽ không nhất thiết phải liên quan đến chiến sự; phần lớn những gì xảy ra sẽ diễn biến lặng lẽ và trên đường chân trời trong không gian đại dương trống vắng, với nhịp độ rất từ từ phù hợp với sự thích nghi chậm rãi và dần dần với sức mạnh vượt trội về kinh tế và quân sự mà các nước đã tạo ra trong suốt chiều dài lịch sử. Chiến tranh còn lâu mới là không thể tránh khỏi cho dù sự cạnh tranh là một xu hướng đã định. Và nếu Trung Quốc và Mỹ giải quyết thành công sự chuyển giao sắp diễn ra, thì châu Á và thế giới sẽ là một nơi an toàn và thịnh vượng hơn. Còn điều gì có thể mang tính đạo đức hơn thế? Hãy nhớ rằng: chính chủ nghĩa hiện thực phục vụ cho lợi ích quốc gia – có mục tiêu là tránh chiến tranh – đã cứu sống nhiều sinh mạng hơn trong chiều dài lịch sử so với chủ nghĩa can thiệp mang tính nhân đạo.
Đông Á là một khu vực rộng lớn trải rộng gần như từ Bắc Cực đến Nam Cực – từ quần đảo Kuril hướng về phía Nam đến Niu Dilân – và có đặc trưng là một chuỗi đứt đoạn các bờ biển cô lập và các quần đảo trải dài. Ngay cả tính đến việc công nghệ đã thu hẹp khoảng cách đáng kể ra sao, thì biển vẫn đóng vai trò là một hàng rào ngăn chặn sự tấn công, ít nhất ở một mức độ mà đất liền không có được. Biển, không giống như đất liền, tạo ra các đường biên giới được xác định rõ ràng, đem lại cho nó khả năng giảm thiểu xung đột. Rồi cần phải cân nhắc đến tốc độ. Ngay cả các tàu chiến có tốc độ nhanh nhất cũng di chuyển tương đối chậm, chẳng hạn 35 hải lý, làm giảm khả năng xảy ra những tính toán sai lầm và cho các nhà ngoại giao có nhiều giờ hơn – thậm chí là nhiều ngày hơn – để cân nhắc lại các quyết định. Các lực lượng hải quân và không quân đơn giản là không chiếm đóng lãnh thổ bằng phương cách như lục quân. Chính nhờ các vùng biển xung quanh Đông Á – trung tâm sản xuất toàn cầu cũng như gia tăng mua sắm quân sự toàn cầu – mà thế kỷ 21 có cơ hội tốt hơn thế kỷ 20 để tránh được những cuộc đối đầu lớn về quân sự.
Dĩ nhiên là Đông Á đã chứng kiến các cuộc đối đầu quân sự lớn trong thế kỷ 20, mà các vùng biển không ngăn cản nổi: cuộc chiến tranh Nga-Nhật Bản; gần nửa thế kỷ diễn ra nội chiến ở Trung Quốc đã đi kèm với sự sụp đổ từ từ của triều đại nhà Thanh; các cuộc chinh phục khác nhau của đế quốc Nhật, tiếp theo sau là Chiến tranh thế giới thứ Hai ở Thái Bình Dương; chiến tranh Triều Tiên; các cuộc chiến tranh ở Campuchia và Lào; và hai cuộc chiến tranh ở Việt Nam liên quan đến Pháp và Mỹ. Thực tế là việc địa lý của Đông Á chủ yếu là biển có rất ít ảnh hưởng đến những cuộc chiến tranh như thế, mà cốt lõi của chúng là các cuộc xung đột nhằm củng cố hoặc giải phóng quốc gia. Nhưng kỷ nguyên đó phần lớn nằm ở phía sau chúng ta. Quân đội các nước Đông Á, thay vì tập trung vào bên trong với các quân đội công nghệ thấp, đang tập trung hướng ra bên ngoài với các lực lượng hải quân và không quân công nghệ cao.
Về việc so sánh giữa Trung Quốc ngày nay và Đức trong thời gian trước khi xảy ra Chiến tranh thế giới thứ Nhất mà nhiều người từng làm, đó là một sự sai lầm: Trong khi Đức, do vị trí địa lý của châu Âu, chủ yếu là một cường quốc trên đất liền, thì Trung Quốc, do vị trí địa lý của Đông Á, sẽ chủ yếu là một cường quốc hải quân. Đông Á có thể được chia thành hai khu vực chính: Đông Bắc Á, bị chi phối bởi bán đảo Triều Tiên, và Đông Nam Á, bị chi phối bởi Biển Đông. Đông Bắc Á xoay quanh số phận của Bắc Triều Tiên, một nhà nước độc tài bị cô lập với tương lai mờ nhạt trong một thế giới bị chi phối bởi chủ nghĩa tư bản và truyền thông điện tử. Nếu Bắc Triều Tiên nổ tung bên trong, thì các lực lượng mặt đất của Trung Quốc, Mỹ và Hàn Quốc có thể gặp nhau trên nửa phía Bắc của bán đảo này lấy cớ là tất cả những sự can thiệp nhân đạo, ngay cả khi họ tạo ra những phạm vi ảnh hưởng cho chính họ. Các vấn đề hải quân sẽ là vấn đề thứ yếu. Nhưng một sự thống nhất cuối cùng của Triều Tiên sẽ sớm làm cho các vấn đề hải quân trở nên nổi bật, với một Triều Tiên lớn hơn, Trung Quốc và Nhật Bản trong sự cân bằng mong manh, bị chia cắt bởi Biển Nhật Bản, Hoàng Hà và Bột Hải. Tuy nhiên bởi vì Bắc Triều Tiên vẫn tồn tại, giai đoạn Chiến tranh Lạnh của lịch sử Đông Bắc Á chưa hoàn toàn chấm dứt, và sức mạnh trên đất liền có thể chi phối truyền thông trước khi sức mạnh trên biển sẽ làm điều đó.
Ngược lại, Đông Nam Á đã tiến sâu vào giai đoạn hậu Chiến tranh Lạnh trong lịch sử. Việt Nam, chi phối bờ biển phía Tây của Biển Đông, bất chấp hệ thống chính trị của mình, là một sức mạnh tư bản chủ nghĩa ghê gớm, tìm kiếm các mối quan hệ quân sự chặt chẽ hơn với Mỹ. Trung Quốc, được Mao Trạch Đông củng cố vững chắc như một nhà nước vương triều sau các thập kỷ hỗn loạn và biến thành nền kinh tế năng động nhất của thế giới nhờ chính sách tự do hóa của Đặng Tiểu Bình, hối hả vươn ra bên ngoài bằng hải quân của mình đến cái mà họ gọi là “chuỗi đảo đầu tiên” ở Tây Thái Bình Dương. Nước Hồi giáo khổng lồ, Inđônêxia, sau khi trải qua và cuối cùng kết thúc những thập kỷ của chế độ cai trị quân sự, đang sẵn sàng nổi lên thành một Ấn Độ thứ hai: một chế độ dân chủ sôi động và ổn định có khả năng triển khai sức mạnh bằng nền kinh tế đang phát triển của mình. Xinhgapo và Malaixia cũng đang tăng tiến về kinh tế, trung thành với mô hình vừa là nhà nước thành phố vừa là nhà nước kinh doanh thông qua những sự pha trộn đa dạng chế độ dân chủ và chủ nghĩa độc tài. Bức tranh ghép là về một nhóm các nước, với các vấn đề về tính hợp pháp trong nước và việc xây dựng nhà nước ở đằng sau họ, sẵn sàng thúc đẩy các quyền lãnh thổ đã được nhận biết vượt ra bên ngoài các bờ biển của họ. Sự thúc đẩy chung hướng ra bên ngoài này nằm trong buồng lái nhân khẩu học toàn cầu, bởi vì đó là ở Đông Nam Á, với 615 triệu dân, nơi 1,3 tỷ dân của Trung Quốc hội tụ với 1,5 tỷ dân ở tiểu lục địa Ấn Độ. Và nơi gặp gỡ về mặt địa lý của các nước này, và quân đội của họ là biển: Biển Đông.
Biển Đông nối liền các nước Đông Nam Á với Tây Thái Bình Dương, có chức năng như một cái cổ họng của các tuyến đường biển toàn cầu. Đây là trung tâm của Âu-Á trên biển, bị ngắt quãng bởi các eo biển Malắcca, Sunda, Lombok và Makassar. Hơn một nửa số tàu chở hàng hóa mỗi năm của thế giới và 1/3 toàn bộ giao thông tuyến đường biển đi qua các điểm thắt này. Dầu lửa được chuyển qua eo biển Malắcca từ Ấn Độ Dương, trên đường đến Đông Á thông qua Biển Đông, gấp 6 lần số lượng đi qua Kênh đào Xuyê và gấp 17 lần số lượng đi qua Kênh đào Panama. Xấp xỉ 2/3 nguồn cung năng lượng của Hàn Quốc, gần 60 % nguồn cung năng lượng của Nhật Bản và Đài Loan, và khoảng 80% lượng dầu thô nhập khẩu của Trung Quốc đi qua Biển Đông. Còn nữa, Biển Đông mang lại trữ lượng dầu lửa 7 tỷ thùng và ước tính 900 nghìn tỷ phút khối khí tự nhiên, một món quà tiềm năng to lớn.
Không chỉ vị trí và nguồn dự trữ năng lượng hứa hẹn mang lại cho Biển Đông tầm quan trọng địa-chiến lược thiết yếu, mà còn các tranh chấp lãnh thổ tàn nhẫn từ lâu đã lẩn quất xung quanh các vùng biển này. Một vài tranh chấp liên quan đến quần đảo Trường Sa, một quần đảo nhỏ ở phía Đông Nam Biển Đông. Việt Nam , Đài Loan và Trung Quốc mỗi bên đều tuyên bố chủ quyền toàn bộ hay phần lớn Biển Đông, cũng như toàn bộ các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Đặc biệt là Bắc Kinh khẳng định một đường lịch sử: họ tuyên bố chủ quyền đến tận trung tâm Biển Đông trong một vòng cung rộng lớn (được biết đến rộng rãi là “đường lưỡi bò”) từ Đảo Hải Nam của Trung Quốc ở cực Bắc Biển Đông suốt 1.200 dặm về phía Nam đến gần Xinhgapo và Malaixia.
Kết quả là tất cả 9 nước tiếp xúc với Biển Đông ít nhiều đã dàn trận chống lại Trung Quốc và do đó dựa vào Mỹ để được hỗ trợ về ngoại giao và quân sự. Các tuyên bố chủ quyền gây xung đột này có thể trở nên gay gắt hơn do nhu cầu năng lượng leo thang của châu Á – tiêu thụ năng lượng dự kiến sẽ tăng gấp đôi vào năm 2030, với Trung Quốc chiếm ½ trong con số tăng trưởng đó – khiến Biển Đông trở thành một nơi đảm bảo thậm chí còn mang tính trung tâm hơn cho sức mạnh kinh tế của khu vực này. Biển Đông đã ngày càng trở thành một doanh trại vũ trang, khi các bên tuyên bố chủ quyền tăng cường và hiện đại hóa lực lượng hải quân của họ, ngay cả khi sự tranh giành các quần đảo và các bãi đá ngầm trong những thập kỷ gần đây hầu như đã kết thúc. Cho đến nay, Trung Quốc đã chiếm 12 điểm địa lý, Đài Loan chiếm 1, Việt Nam chiếm 25, Philíppin chiếm 8 và Malaixia chiếm 5.
Chính địa lý của Trung Quốc định hướng nước này theo hướng Biển Đông. Trung Quốc nhìn về phía Nam hướng tới một vùng biển được hình thành, theo chiều kim đồng hồ, bởi Đài Loan, Philíppin, đảo Borneo chia cắt giữa Malaixia và Inđônêxia (cũng như Brunây nhỏ bé), Bán đảo Malaixia chia tách giữa Malaixia và Thái Lan, và bờ biển kéo dài hình rắn lượn của Việt Nam: tất cả đều là những nước yếu so với Trung Quốc. Giống biển Caribê, có đặc trưng là các quốc đảo nhỏ và được bao quanh bởi nước Mỹ quy mô lục địa, Biển Đông là một vũ đài hiển nhiên cho việc triển khai sức mạnh của Trung Quốc.
Thật vậy, vị trí của Trung Quốc theo nhiều cách giống với vị trí của Mỹ đối với Caribê có quy mô tương tự vào thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Mỹ đã công nhận sự hiện diện và các tuyên bố chủ quyền của các cường quốc châu Âu ở Caribê, nhưng tuy thế vẫn tìm cách để thống trị khu vực này. Chính là cuộc chiến Tây Ban Nha-Mỹ vào năm 1898 và việc đào Kênh Panama từ năm 1904 đến năm 1914 đã báo hiệu sự xuất hiện của Mỹ với tư cách là một cường quốc thế giới. Hơn nữa, việc thống trị Vịnh Caribê rộng lớn hơn đã đem lại cho Mỹ sự kiểm soát có hiệu quả bán cầu Tây, điều đã cho phép nước này gây ảnh hưởng đến cán cân quyền lực ở bán cầu Đông. Và ngày nay Trung Quốc tìm thấy chính mình trong một tình huống tương tự ở Biển Đông, tiền sảnh của Ấn Độ Dương, nơi Trung Quốc cũng mong muốn có sự hiện diện của hải quân để bảo vệ các nguồn cung năng lượng từ Trung Đông của mình.
Tuy nhiên, một điều gì đó sâu sắc và tình cảm hơn là vị trí địa lý đẩy Trung Quốc hướng về Biển Đông và hướng ra bên ngoài tới Thái Bình Dương: đó là sự chia cắt phần nào của chính Trung Quốc bởi các cường quốc phương Tây trong những năm tương đối gần đây, sau khi đã là một nước lớn và nền văn minh thế giới trong hàng thiên nhiên kỷ.
Vào thế kỷ 19, khi triều đại nhà Thanh trở thành một kẻ bệnh tật của Đông Á, Trung Quốc đã đánh mất nhiều phần lãnh thổ của mình vào tay Anh, Pháp, Nhật Bản và Nga. Thế kỷ 20 đã diễn ra các cuộc tiếp quản đẫm máu của Nhật Bản đối với Bán đảo Sơn Đông và Mãn Châu Lý. Tất cả những điều này là sự sỉ nhục lên đến đỉnh điểm mà Trung Quốc phải chịu bằng các thỏa thuận đặc quyền ngoại giao của thế kỷ 19 và 20, nhờ đó các nước phương Tây cố giành lấy quyền kiểm soát các phần của các thành phố Trung Quốc – cái gọi là “các hải cảng mở theo hiệp ước”. Vào năm 1839, như sử gia Jonathan D.Spence thuộc trường Đại học Yale nói với chúng ta trong cuốn “Tìm kiếm Trung Quốc hiện đại”, do những sự cướp phá này cũng như cuộc nội chiến Trung Quốc, thậm chí còn có mối sợ hãi tiềm ẩn rằng “Trung Quốc sắp bị chia cắt, rằng nước này sẽ không còn tồn tại như một quốc gia nữa, và rằng 4.000 năm lịch sử đã được ghi chép của nó sẽ đi đến một kết thúc chóng vánh”. Sự ham muốn bành trướng của Trung Quốc là một tuyên bố rằng họ không bao giờ có ý định để cho những người nước ngoài lợi dụng mình một lần nữa.
Giống hệt lãnh thổ Đức đã hình thành tuyến đầu về quân sự của Chiến tranh Lạnh, các vùng biển thuộc Biển Đông có thể tạo thành tuyến đầu về quân sự của những thập kỷ tới. Khi hải quân Trung Quốc trở nên mạnh mẽ hơn và khi tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc về Biển Đông mâu thuẫn với tuyên bố chủ quyền của các nước vùng duyên hải khác, các nhà nước khác này sẽ buộc phải phát triển hơn nữa các khả năng hải quân của họ. Họ cũng sẽ đối trọng với Trung Quốc bằng việc ngày càng dựa vào hải quân Mỹ, mà sức mạnh của nó có thể đạt đến đỉnh cao trong những điều kiện tương đối, ngay cả khi nó phải chuyển hướng các nguồn lực đáng kể sang Trung Đông. Đa cực trên toàn thế giới đã là một đặc trưng của ngoại giao và kinh tế học, nhưng Biển Đông có thể cho chúng ta thấy đa cực theo nghĩa quân sự thực ra sẽ như thế nào.
Không có gì lãng mạn về mặt trận mới này, không có cái như các cuộc đấu tranh mang tính đạo đức. Trong các cuộc xung đột hải quân, trừ khi có pháo kích trên bờ, tự nó không có các nạn nhân; cũng không có kẻ thù triết học để đối đầu. Không có gì trên quy mô của sự thanh lọc sắc tộc có thể xảy ra trong chiến trường trung tâm xung đột mới này. Trung Quốc, bất chấp những người bất đồng ý kiến đau khổ của nó, đơn giản không phải là như một đối tượng của cơn giận dữ về đạo đức. Chế độ Trung Quốc chỉ chứng tỏ một phiên bản hàm lượng calo thấp của chủ nghĩa độc tài, với nền kinh tế theo kiểu tư bản chủ nghĩa và một hệ tư tưởng quản lý hầu như chẳng có gì để nói đến. Hơn nữa, Trung Quốc có thể trở thành một xã hội cởi mở hơn thay vì đóng kín trong những năm tương lai. Thay cho chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa quân phiệt, Trung Quốc, cùng với các nước khác ở Đông Á, ngày càng được xác định bởi sự kiên định đi theo chủ nghĩa dân tộc theo kiểu cũ: chắc chắn là một ý tưởng nhưng không phải là ý tưởng đã hấp dẫn các trí thức kể từ giữa thế kỷ 19. Và cho dù Trung Quốc trở nên dân chủ hơn, chủ nghĩa dân tộc của nước này có thể chỉ tăng lên, như ngay chính một cuộc khảo sát ngẫu nhiên về quan điểm của các cư dân mạng tương đối tự do cho thấy rõ.
Chúng ta thường nghĩ về chủ nghĩa dân tộc như một tình cảm phản động, một di tích của thế kỷ 19. Tuy nhiên, chính chủ nghĩa dân tộc truyền thống đang chủ yếu thúc đẩy các hoạt động chính trị ở châu Á, và sẽ tiếp tục như vậy. Chủ nghĩa dân tộc đó không thể chối cãi đang dẫn đến sự phát triển quân đội các nước trong khu vực – đặc biệt là các lực lượng hải quân và không quân – nhằm bảo vệ chủ quyền và khẳng định chủ quyền đối với các nguồn tài nguyên thiên nhiên bị tranh chấp. Không có sự lôi cuốn mang tính triết học ở đây. Đó tất cả là về lôgích lạnh lùng của cán cân sức mạnh. Trong chừng mức mà chủ nghĩa hiện thực không ủy mị, liên kết với chủ nghĩa dân tộc, có một ngôi nhà về mặt địa lý, thì đó là Biển Đông.
Do đó, bất cứ thảm kịch nào về đạo đức xảy ra ở Đông Á cũng sẽ mang hình thức chính trị quyền lực khắc khổ theo kiểu khiến nhiều trí thức và nhà báo bị tê liệt. Như Thucydides đề cập đến điều đó một cách đáng nhớ trong chuyện kể của ông về cuộc chinh phục đảo Melos của những người Aten cổ đại, “kẻ mạnh làm những gì họ có thể làm và kẻ yếu phải chịu những gì họ phải chịu”. Trong câu chuyện kể lại của thế kỷ 21, với Trung Quốc trong vai trò của người Aten với tư cách là một cường quốc biển khu vực vượt trội, nước yếu sẽ vẫn cam chịu nhưng chỉ thế thôi. Đây sẽ là chiến lược không được tuyên bố của Trung Quốc, và các nước nhỏ hơn thuộc Đông Nam Á có thể sẽ đứng về phía Mỹ để tránh bị giống số phận của người Melos. Tuy nhiên sẽ không có sự tàn sát.
Biển Đông báo trước một hình thái xung đột khác so với các hình thái mà chúng ta đã quen với. Kể từ đầu thế kỷ 20, chúng ta đã bị tổn thương một mặt bởi các cuộc giao tranh thông thường lớn trên đất liền, và mặt khác bởi các cuộc chiến tranh nhỏ bẩn thỉu, không chính quy. Do cả hai loại chiến tranh đã tạo ra những thương vong lớn cho dân thường, chiến tranh đã là đối tượng cho các nhà nhân văn cũng như các tướng quân đội. Nhưng trong tương lai chúng ta chỉ có thể thấy một hình thái xung đột thuần túy hơn, giới hạn ở lĩnh vực hải quân. Đó là một kịch bản tích cực. Không thể loại bỏ hoàn toàn xung đột khỏi trạng thái sinh tồn của nhân loại. Một chủ đề trong “Các luận bàn về Livy” của Machiavelli là xung đột, được kiểm soát một cách đúng mức, sẽ có khả năng dẫn đến sự tiến bộ của nhân loại hơn là sự ổn định cứng nhắc. Một vùng biển đầy các tàu chiến không mâu thuẫn với thời đại đầy hứa hẹn dành cho châu Á. Sự mất an ninh thường nuôi dưỡng sự năng động.
Nhưng liệu xung đột ở Biển Đông có thể được kiểm soát một cách đúng đắn hay không? Đến đây lập luận của tôi giả thiết rằng chiến tranh quy mô lớn sẽ không bùng nổ ở khu vực này và rằng thay vào đó các nước sẽ bằng lòng với việc dùng mánh khóe để tranh giành vị trí bằng các tàu chiến của mình trên các vùng biển khơi, trong khi vẫn đưa ra những tuyên bố chủ quyền mang tính cạnh tranh về các nguồn tài nguyên thiên nhiên và thậm chí có thể tán thành với việc phân chia chúng công bằng. Nhưng điều gì xảy ra nếu Trung Quốc, đi ngược lại tất cả những xu thế hiển nhiên này, định xâm lược Đài Loan? Điều gì xảy ra nếu Trung Quốc và Việt Nam, mà sự kình địch mạnh mẽ của họ bắt nguồn từ sâu xa trong lịch sử, đi đến chiến tranh như họ đã tiến hành vào năm 1979, lần này với các vũ khí gây sát thương hơn? Bởi vì không phải chỉ một mình Trung Quốc đang xây dựng quân đội của mình một cách đáng kể; các nước Đông Nam Á cũng vậy. Ngân sách quốc phòng của họ tăng khoảng 1/3 trong thập kỷ qua, ngay cả khi ngân sách quốc phòng của châu Âu giảm xuống. Các vũ khí nhập khẩu vào Inđônêxia, Xinhgapo và Malaixia tăng lên đến lần lượt là 84%, 146%, và 722% kể từ năm 2000. Sự chi tiêu này nhằm vào các phương tiện hải quân và không quân: các chiến hạm trên mặt nước, các tàu ngầm với hệ thống tên lửa tiên tiến và các máy bay chiến đấu tầm xa. Việt Nam gần đây đã chi 2 tỷ USD để mua 6 chiếc tàu ngầm lớp Kilo tối tân và 1 tỷ USD để mua các máy bay chiến đấu của Nga. Malaixia vừa mở một căn cứ tàu ngầm trên đảo Borneo . Trong khi Mỹ bị phân tâm bởi các cuộc chiến tranh trên đất liền ở khu vực Trung Đông rộng lớn hơn, sức mạnh quân sự đã lặng lẽ chuyển từ châu Âu sang châu Á.
Hiện nay Mỹ đảm bảo nguyên trạng không yên ổn ở Biển Đông, giới hạn sự xâm lược của Trung Quốc chủ yếu ở những tấm bản đồ và giữ vai trò kiềm chế các nhà ngoại giao và hải quân của Trung Quốc (mặc dù điều này không phải để nói rằng Mỹ trong sáng trong các hành động của mình và Trung Quốc đương nhiên là một kẻ ác). Những gì Mỹ mang lại cho các nước thuộc khu vực Biển Đông không hẳn là thực tế về đức hạnh dân chủ của nó mà là thực tế về sức mạnh cơ bắp. Chính sự cân bằng quyền lực giữa Mỹ và Trung Quốc cuối cùng đang giữ cho Việt Nam, Đài Loan, Philíppin, Inđônêxia, Xinhgapo và Malaixia được tự do, có thể làm cho nước lớn này chống lại nước lớn kia để có lợi cho mình. Và bên trong không gian tự do đó, chủ nghĩa khu vực có thể nổi lên như một sức mạnh tự nó, dưới hình thức Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Tuy nhiên, quyền tự do như vậy không thể tự nhiên mà có. Vì tình thế đối đầu căng thẳng đang diễn ra giữa Mỹ và Trung Quốc – mà mở rộng sang một loạt phức tạp các chủ đề từ thương mại đến cải cách tiền tệ đến an ninh mạng đến sự giám sát tình báo – cuối cùng đang đe dọa thay đổi theo hướng có lợi cho Trung Quốc ở Đông Á, phần lớn là do tính chất trung tâm về địa lý của Trung Quốc ở khu vực này.
Tổng kết toàn diện nhất về cảnh quan địa-chính trị mới của Châu Á không phải đến từ Oasinhtơn hay Bắc Kinh, mà từ Canbơrơ. Trong một bài viết dài 74 trang được xuất bản năm 2010 có tựa đề “Sự chuyển giao quyền lực: tương lai của Ôxtrâylia giữa Oasinhtơn và Bắc Kinh”, Hugh White, giáo sư nghiên cứu chiến lược tại trường Đại học Quốc gia Ôxtrâylia, miêu tả đất nước của ông là một cường quốc “nguyên trạng” tinh túy – một cường quốc hết sức muốn tình hình ở châu Á vẫn duy trì đúng như trên thực tế, với Trung Quốc tiếp tục phát triển để Ôxtrâylia có thể buôn bán ngày càng nhiều với nước này, trong khi Mỹ vẫn là “cường quốc mạnh mẽ nhất ở châu Á”, để là “người bảo vệ cuối cùng” của Ôxtrâylia. Nhưng như White viết, vấn đề là cả hai điều này không thể tiếp tục. Châu Á không thể tiếp tục thay đổi về mặt kinh tế mà không cần phải thay đổi về mặt chính trị và chiến lược; gã khổng lồ kinh tế Trung Quốc đương nhiên sẽ không hài lòng với sự vượt trội về quân sự của Mỹ ở châu Á.
Trung Quốc muốn gì? White thừa nhận rằng người Trung Quốc có thể mong muốn ở châu Á một loại đế chế theo phong cách mới mà Mỹ đã sắp đặt ở bán cầu Tây một khi Oasinhtơn đã đảm bảo sự thống trị đối với Vịnh Caribê (như Bắc Kinh hy vọng nước này sẽ thống trị đối với Biển Đông). Theo lời của White, đế chế kiểu mới này có nghĩa là các nước láng giềng của Mỹ “ít nhiều được tự do điều hành đất nước của chính họ”, ngay cả khi Oasinhtơn khăng khăng rằng các quan điểm của mình sẽ được “xem xét đầy đủ” và được ưu tiên hơn so với quan điểm của các cường quốc bên ngoài. Vấn đề với mô hình này là Nhật Bản, nước có thể không chấp nhận sự bá quyền của Trung Quốc, dù mềm mỏng thế nào. Điều đó để lại mô hình Sự hòa hợp của châu Âu, trong đó Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản và Mỹ và có thể một hay hai nước khác sẽ cùng ngồi thảo luận về sức mạnh châu Á một cách ngang bằng. Nhưng Mỹ có chấp nhận hay không một vai trò khiêm tốn như vậy, vì nước này đã gắn sự thịnh vượng và sự ổn định của châu Á với địa vị đứng đầu của mình? White cho rằng đứng trước sức mạnh đang nổi lên của Trung Quốc, sự chi phối của Mỹ từ nay trở đi có thể có nghĩa là sự bất ổn cho châu Á.
Sự chi phối của Mỹ được dự đoán trên quan điểm rằng bởi vì Trung Quốc độc đoán ở trong nước, nước này sẽ hành động “một cách không thể chấp nhận được ở bên ngoài”. Nhưng có thể không phải như vậy. Quan niệm của Trung Quốc về bản thân mình là một cường quốc ôn hòa, không mang tính bá quyền, một cường quốc không can thiệp vào triết lý nội bộ của các nước khác theo cách mà Mỹ vẫn làm – bằng kiểu đạo đức bao biện của mình. Bởi vì Trung Quốc tự xem mình là Vương quốc trung tâm, cơ sở sự thống trị của nước này là tính trung tâm vốn có của họ đối với lịch sử thế giới, chứ không phải bất cứ hệ thống nào mà họ tìm cách xuất khẩu.
Nói cách khác, Mỹ, chứ không phải Trung Quốc, có thể là một vấn đề trong tương lai. Chúng ta có thể thực sự quan tâm quá nhiều đến bản chất nội tại của chế độ Trung Quốc và tìm cách hạn chế sức mạnh của Trung Quốc ở bên ngoài bởi vì chúng ta không thích các chính sách trong nước của nước này. Thay vào đó, mục đích của Mỹ ở châu Á cần phải là làm cân bằng chứ không phải là thống trị. Đó chính xác là bởi vì quyền lực cứng vẫn là chìa khóa cho các mối quan hệ quốc tế mà chúng ta phải tạo không gian cho Trung Quốc đang trỗi dây. Mỹ không cần phải tăng cường sức mạnh hải quân của mình ở Tây Thái Bình Dương, nhưng nước này cũng không thể giảm đáng kể sức mạnh này.
Việc mất đi một nhóm tàu sân bay của Mỹ ở Tây Thái Bình Dương do những sự cắt giảm ngân sách hay sự tái triển khai sang Trung Đông có thể gây ra các cuộc thảo luận căng thẳng trong khu vực này về sự sa sút của Mỹ và kết quả là cần phải có những sự sửa đổi và các thỏa thuận phụ với Bắc Kinh. Một tình huống tối ưu là sự hiện diện của hải quân và không quân Mỹ ít nhiều ở mức độ hiện nay, ngay cả khi Mỹ làm tất cả trong quyền lực của mình để hình thành các mối quan hệ thân mật và có thể dự đoán được với Trung Quốc. Theo cách đó qua thời gian Mỹ có thể điều chỉnh cho thích nghi với hải quân biển khơi của Trung Quốc. Trong các vấn đề quốc tế, phía sau tất cả các câu hỏi về đạo đức là các câu hỏi về sức mạnh. Sự can thiệp nhân đạo ở Bancăng chỉ có thể có bởi vì chế độ Xécbi là yếu kém, không giống như chế độ Nga, từng phạm các tội ác quy mô tương tự ở Chesnia trong khi phương Tây chẳng làm gì cả. Ở Tây Thái Bình Dương trong các thập kỷ sắp tới, đạo đức có thể có nghĩa là từ bỏ một số lý tưởng được ưa thích nhất của chúng ta vì lợi ích của sự ổn định. Chúng ta có thể làm gì khác nữa để tạo không gian cho Trung Quốc gần như là độc đoán khi quân đội của họ mở rộng? Bản thân cán cân quyền lực, thậm chí còn hơn cả các giá trị dân chủ của phương Tây, thường là sự bảo vệ tốt nhất cho quyền tự do. Đó cũng sẽ là một bài học về Biển Đông trong thế kỷ 21 – một bài học khác mà những người theo chủ nghĩa lý tưởng không muốn nghe./.
Theo Foreignpolicy (số 9-10/2011)
Hương Trà (gt)
Thứ ba, 28 Tháng 6 2011
Viết bởi nguyen viet
Bài viết của TS. Emmanuel Karagiannis, Đại học Macedonia nêu những thuận lợi và khó khăn trong chiến lược xây dựng và duy trì những đường dẫn dầu xuyên quốc gia của Trung Quốc tại khu vực Trung và Đông Nam Á. Bài viết được in trong Series đặc biệt của tạp chí Harvard Asia Quarterly của Trường Đại học Havard với chủ đề "Tranh chấp biển- An ninh hàng hải tại Đông Á", (The Disputed Sea – Maritime Security in East Asia) tháng 12/2010.

Phần mở đầu
Sự trỗi dậy của đất nước đông dân nhất thế giới và những liên đới của nước này trong hệ thống quốc tế đã làm nóng các vấn đề ở phương Tây. Một điều dám chắc là: nền kinh tế đang bùng nổ của Trung Quốc cần nguồn cung năng lượng đầy đủ và an toàn để đảm bảo duy trì tốc độ tăng trưởng hiện nay. Nhu cầu năng lượng tăng vọt như vậy đã ảnh hưởng đến những ưu tiên trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc. Trong những năm gần đây, Bắc Kinh đã chuyển tập trung từ khu vực Đông Á sang những khu vực giàu năng lượng như Tây Phi, Trung Á, và Trung Đông.
Từ giữa thập niên 1990, các công ty dầu của Trung Quốc như Tập đoàn hóa dầu (Sinopec), Tập đoàn dầu khí quốc gia Trung Quốc (CNPC), và Tập đoàn khai thác dầu ngoài khơi Trung Quốc (CNOOC) đã được Bắc Kinh khuyến khích, nếu không phải là ra lệnh, đầu tư ra nước ngoài. Các công ty Trung Quốc đã mua các mỏ dầu và khí gas ở Sudan, Angola, Peru, Canada, Kazakhstan, và nhiều nước khác. Nhưng nhập khẩu năng lượng vẫn là vấn đề gây tranh cãi ở Trung Quốc, do giá dầu tăng cao và những quan ngại địa chính trị về an ninh nguồn cung. Bắc Kinh hiện đang cạnh tranh với châu Âu, Mỹ và Nhật Bản để giành các nguồn năng lượng khan hiếm tại thế giới đang phát triển. Việc chính trị hóa vấn đề năng lượng ngày càng tăng thậm chí đã khiến một số nhà phân tích Trung Quốc nhìn nhận các cuộc chiến tranh của Mỹ tại Afghanistan và Iraq là những nỗ lực để đảm bảo nguồn dầu mỏ và khí gas.
Mặc dù Trung Quốc phụ thuộc vào đường biển để nhập khẩu một lượng lớn dầu mỏ, nhưng Bắc Kinh không có khả năng quân sự để bảo vệ những tuyến đường này. Kết quả là, việc gián đoạn với nguồn cung nhập khẩu dầu có thể gây hại đến ổn định kinh tế Trung Quốc, Bắc Kinh ngày càng nhận thức rõ điều này. Vấn đề nổi trội nhất chính là Eo biển Malacca, dài 600 dặm nối Trung Đông và châu Phi với Đông Á.
Tháng 11 năm 2003, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã bày tỏ quan ngại của mình về khả năng tin tưởng vào khu vực Eo biển này. Tuy nhiên, người ta chưa mấy chú ý tới những kênh thay thế mà qua đó Trung Quốc có thể tiếp nhận năng lượng. Bắc Kinh đã đầu tư rất nhiều vào xây dựng đường ống dẫn dầu tại các nước láng giềng. Ở Trung Á, có đường ống dẫn dầu Trung Quốc - Kazakh và Trung Quốc –Turkmen, đồng thời, ống dẫn dầu Thái Bình Dương- Tây Siberia đang được xây dựng. Tại Đông Nam Á, một số đường ống dẫn dầu được thiết kế đặc biệt để đi qua Eo biển Malacca, như Trung Quốc – Miến Điện, đường ống dẫn dầu Kra Isthmus và Pakistan – Trung Quốc. Bài viết này ra soát những thuận lợi và khó khăn của chiến lược ống dẫn dầu này. Bắt đầu là mô tả vắn tắt ngành công nghiệp dầu mỏ và khí gas của Trung Quốc. Sau đó xem xét nền ngoại giao ống dẫn dầu của Trung Quốc tại khu vực Trung và Đông Nam Á. Luận điểm chính ở đây là trong khi ống dẫn dầu có thể là phương tiện hiệu quả nhất để vận chuyển một lượng lớn hydrocarbons qua một khoảng cách rất xa, chúng lại cực kỳ dễ bị tổn thương bởi các cuộc tấn công khủng bố. Do đó, điều quan trọng là phải đánh giá nguy cơ an ninh có khả năng xuất phát từ những xung đột cường độ thấp với các nhóm khủng bố và ly khai quanh khu vực các đường ống dẫn dầu. Vấn đề này tồn tại ở cả trong và bên ngoài biên giới Trung Quốc.
Ngành công nghiệp dầu và khí gas của Trung Quốc
Khi nước Cộng hòa Nhân Dân Trung Hoa (CHND) được thành lập năm 1949, hầu hết nhu cầu năng lượng đều được đáp ứng nhờ nhập khẩu. Nhưng từ khi mỏ dầu Đại Khánh được phát hiện ở phía tây Trung Quốc năm 1959, sản xuất dầu trong nước đã có thể thay thế nhập khẩu. Trái với bối cảnh thù địch của Mỹ, giới lãnh đạo Trung Quốc áp dụng chính sách tự lực dầu lửa (zili gengsheng).
Không có gì đáng ngạc nhiên là các cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973 và 1979 hầu như không mấy tác động đển nền kinh tế tập trung của Trung Quốc. Lúc đó, còn có tin đồn là sản xuất dầu mỏ của Trung Quốc sẽ vượt Mỹ và Liên Xô vào năm 1980. Chính sách mở của mà Đặng Tiểu Bình tuyên bố năm 1979 đã dần biến Trung Quốc thành một quốc gia công nghiệp hoá. Tuy nhiên, từ đầu thập niên 1990, ngành dầu lửa của nước này đã không còn đáp ứng được cầu tăng mạnh. Trung Quốc vẫn là một nước sản xuất năng lượng lớn, nhất là về than đá, nhưng trữ lượng dầu mỏ và khí gas của nước này lại hạn chế. Năm 2009, trữ lượng dầu mỏ được xác định là 16 tỷ thùng và khí gas là 2,2 nghìn tỷ mét khối (tcm). Năm 2008, Trung Quốc sản xuất 4 triệu thùng/ngày nhưng lại tiêu thụ 7.8 triệu thùng/ngày. Do đó, Trung Quốc đã phải nhập khẩu khoảng 3,9 triệu thùng/ ngày, và trở thành nước nhập khẩu dầu nhiều thứ ba thế giới, sau Mỹ và Nhật. Trong những năm gần đây, Ả Rập Saudi, Angola và Iran là ba nước cung cấp dầu thô lớn nhất cho Trung Quốc. Nhu cầu dầu mỏ tăng mạnh nhất ở các tỉnh ven biển phía đông năm, đáng chú ý là Phúc Kiến và Quảng Đông.
Trong thập kỷ qua, khí gas tự nhiên là nguồn nhiên liệu tăng nhanh nhất ở Trung Quốc, chủ yếu là do việc giảm mạnh trữ lượng than đá vì những quan ngại môi trường đang ngày càng gia tăng. Theo Robert Ebel, tương lai năng lượng của Trung Quốc phụ thuộc vào những vấn đề sau:
· Sự đa dạng trong các nguồn nhập khẩu dầu
· Mua được đủ dầu từ nước ngoài
· Phát triển năng lượng thuỷ điện và hạt nhân để giảm tình trạng lệ thuộc vào than đá
· Chuyển đổi năng lượng
Hơn nữa, vẫn chưa rõ ràng về việc cơ quan nào sẽ chịu trách nhiệm thiết kế và thực thi chính sách năng lượng khả thi. Bộ Công nghiệp nhiên liệu và hoá chất của Trung Quốc được thành lập năm 1970, nhưng đã bị giải thể 5 năm sau đó. Rút cuộc, Bộ Năng lượng được thành lập năm 1988 nhưng cũng giải thể năm 1993. Vào đầu thập niên 2000, chính quyền Trung Quốc đã thành lập Phòng năng lượng thuộc Uỷ ban Phát triển và Cải cách Quốc gia (NDRC) là cơ quan chịu trách nhiệm phát triển chiến lược dài hạn cho đất nước. Sau đó, Ủy ban Năng lượng đã thay phòng này vào tháng 6 năm 2008.
Các nguồn năng lượng của Trung Quốc được phân bổ ở những vùng đại lục kém phát triển, trong khi các trung tâm đô thị thịnh vượng và các ngành tiêu thụ nhiều năng lượng lại tập trung ở khu vực đông bắc và đông nam. Để đối phó với sự chênh lệch này, chính phủ Trung Quốc đã đề ra chính sách "Tây Tiến" vào phiên họp tháng 3 năm 2000 của Quốc hội. Chính sách này nhằm thúc đẩy sự phát triển của các tỉnh phía tây bằng cách khai thác nguồn năng lượng ở đây, sau đó chuyển tới các trung tâm đô thị và công nghiệp ở những khu vực khác của đất nước.
Trọng tâm của dự án này là dự án đường ống dẫn khí gas Đông-Tây dài 2500 dặm, trị giá 5,2 tỷ USD, nối những trữ lượng gas ở thềm lục địa Tarim của Tân Cương với Thượng Hải. Ống dẫn này bắt đầu cung cấp khí gas vào tháng Giêng năm 2005 và có công suất 1,2 tỷ mét khối/ năm. Đường ống dẫn dầu này cũng là xương sống của chính sách nhằm nới lỏng sự lệ thuộc nặng nề vào nhập khẩu dầu của chính phủ. Sản xuất dầu từ Tân Cương sẽ cải thiện an ninh năng lượng của Trung Quốc bằng cách giảm nhập khẩu năng lượng và giúp chính quyền Trung Quốc kiểm soát tốt hơn với các nguồn cung năng lượng trong nước.
Ngoại giao ống dẫn dầu của Trung Quốc trong khu vực Trung Á
Khi Trung Quốc trở thành nước nhập khẩu ròng dầu mỏ vào năm 1993, Bắc Kinh đã nỗ lực đa dạng hoá các con đường cung cấp dầu của mình. Eo biển Malacca là kênh cung cấp 80% lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc, chủ yếu từ Trung Đông và Tây Phi. Do đó, Bắc Kinh lo ngại rằng trong trường hợp xảy ra khủng hoảng với Mỹ, có thể là liên quan đến vấn đề Đài Loan hoặc vấn đề nào khác, hải quân Mỹ có thể sẽ cắt nguồn dầu vào Trung Quốc và do đó sẽ gây tổn hại đến nền kinh tế Trung Quốc. Vì vậy, điều quan trọng chiến lược với chính phủ Trung Quốc là thiết lập các kênh nhập khẩu dầu trên đất liền.
Kể từ khi phát hiện ra các nguồn dầu mỏ lớn ở biển bắc vào thập niên 1970, người ta chưa tìm thấy nguồn trữ lượng dầu mới nào có tầm cỡ thế giới trong suốt một thập kỷ. Tình hình chỉ thay đổi vào đầu thập niên 1990, khi các nguồn năng lượng khác được tìm thấy ở Biển Cáp-ca. Biển Cáp-ca, có bờ tây tạo thành hàng rào phía đông của Cáp-ca và bờ đông tạo thành nơi khởi đầu của Trung Á, đã được coi như một nguồn bổ sung dầu mỏ rất lớn cho Trung Quốc.
Kazakhstan là nước sản xuất dầu mỏ chủ chốt trong khu vực, với trữ lượng dầu mỏ ước tính gần 40 tỷ thùng. Quả thật, việc Kazakhstan phát hiện ra mỏ dầu khổng lồ Kasaghan, dự tính là một trong 5 mỏ dầu lớn nhất thế giới, là một nhân tố khiến Bắc Kinh để mắt đến Trung Á và Biển Cáp-ca. Đường ống dẫn Trung Quốc-Kazakh được kiến nghị lần đầu vào năm 1997, nhưng các cuộc đàm phán đã bị đình lại trong sáu năm cho đến khi người ta tìm thấy thêm trữ lượng dầu để dự án nói trên khả thi về mặt kinh tế. Cuối cùng, đường ống dẫn dầu Trung Quốc - Kazakh được khởi công vào tháng 9 năm 2004. Hai nước đã xây một phần từ Atasu, Kazakhstan đền thị trấn biên giới của Alashankou ở khu tự trị Tân Cương Uighur của Trung Quốc. Đường ống dẫn dài 620 dặm đã được hoàn thiện vào tháng 12 năm 2005 với chi phí 700 triệu USD. Cuối tháng 5 năm 2006, Trung Quốc đã nhận được dầu từ Kazakh lần đầu tiên qua đường ống dẫn Atasu-Alashankou. Dự án này có công suất ban đầu có thể vận chuyển 200.000 thùng dầu thô/ngày, dự kiến công suất sẽ được tăng gấp đôi vào năm 2011. PetroKazakhstan, công ty đã được CNPC mua với giá 4.2 tỷ USD vào tháng 10 năm 2005, cung cấp ống dẫn, nhưng các công ty dầu của Nga cũng sử dụng đường ống này để xuất khẩu dầu sang thị trường Trung Quốc. Việc xây dựng ống dẫn dầu Trung Quốc-Kazakh sẽ không chỉ giúp Trung Quốc bớt lệ thuộc vào Eo biển Malacca, mà còn tăng ảnh hưởng của Trung Quốc ở Trung Á, làm phương hại đến những lợi ích của Nga.
Việc hiện thực hoá dự án ống dẫn dầu Trung Quốc - Kazakh chỉ mới bắt đầu. Người Tuốc-men có trữ lượng khí gas lớn thứ 5 thế giới; trữ lượng khí gas tự nhiên đã được xác định là khoảng 3 nghìn tỷ mét khối. Song, trữ lượng của Tuốc-men hầu như chưa được khai thác do thiếu thị trường tiêu thụ xuất khẩu. Tháng 12 năm 2009, đường ống dẫn khí gas dài 1140 dặm đã được đưa vào hoạt động nối các mỏ ở Tuốc-men với thành phố biên giới Horgos của Trung Quốc. Đường ống dẫn này đi qua miền trung Uzbekistan và phía nam Kazakhstan trước khi đến phía tây Trung Quốc. Theo các điều khoản của thoả hiệp, trong ba thập kỷ, mỗi năm Trung Quốc sẽ mua 30 tỷ mét khối của Tuốc-men. Ban đầu, chỉ có khí gas của Tuốc-men đi qua đường ống dẫn này; nhưng đến năm 2010, Kazakhstan và Uzbekistan cũng sẽ sử dụng đường ống để xuất khẩu trữ lượng khí gas của họ sang Trung Quốc. Đường ống dẫn này được xây dựng chỉ 3 năm sau khi ký hiệp định Trung Quốc – Tuốcmen về việc xây dựng ống dẫn và cung cấp khí gas.
Trên thực tế, đường ống dẫn Trung Quốc-Tuốc men đã phá vỡ thế độc quyền của Nga về những con đường xuất khẩu khí gas từ Trung Á. Maxcova sẽ không thể mua thêm khối lượng lớn khí gas của Tuốc-men với giá thấp để tiêu thụ trong nước và rồi bán với gía thị trường nữa. Tuy nhiên, một công ty xây dựng của Nga, Stroytransgaz, đã giúp xây dựng đường ống dẫn Trung Quốc - Tuốc men. Do đó, Edward Chow và Leigh Hendrix đã yêu cầu là Maxcova muốn khí gas của Tuốc men đi theo hướng đông hơn là hướng tây, nơi mà đường ống này có thể cạnh tranh với khí gas của Nga trên thị trường chủ yếu của Châu Âu. Nói cách khác, Maxcova phải chung sống với những lợi ích năng lượng của Trung Quốc mà không làm phương hại đến chiến lược xuất khẩu khí gas của nước này. Nhân tố năng lượng cũng là lý do cải thiện nhanh chóng quan hệ Trung-Nga trong giai đoạn hậu chiến tranh lạnh. Những quan ngại về an ninh năng lượng đã buộc giới lãnh đạo Trung Quốc chú ý tới những mỏ dầu và khí gas cực lớn của Siberia. Công ty năng lượng tư nhân Yukos của Nga là công ty đầu tiên kiểm chứng khả năng xây dựng đường ống dẫn từ thị trấn Angarsk của Siberia - nơi công ty này vận hành một nhà máy lọc dầu - đến Đại Khánh Trung Quốc. Một góc khuất bất ngờ khác đó là Nhật Bản cũng bày tỏ quan tâm đến đường ống dẫn từ Nga sẽ đi qua Trung Quốc và chạm cảng phía đông của Nga, cảng Nakhodka. Đề xuất của Nhật được đưa ra với mục đích giảm sự lệ thuộc của Tokyo vào các nguồn từ Vịnh Persian, chứ không phải làm ảnh hưởng đến những lợi ích năng lượng của Trung Quốc. Dự án ống dẫn của Nga không mấy chốc trở thành một vấn đề cạnh tranh năng lượng giữa Trung - Nhật. Tuy nhiên, có quá nhiều vấn đề khiến cả Maxcova và Bắc Kinh không để việc xây dựng đường ống dẫn dầu này làm xói mòn quan hệ song phương. Hai nước đều là thành viên của Tổ chức Hợp tác Thượng Hải, đây là liên minh quân sự quan trọng nhất trong khu vực. Hơn nữa, họ có chung hoặc đồng quan điểm về những vấn đề lớn toàn cầu (như khủng hoảng Kosovo, chương trình hạt nhân Triều Tiên, trừng phạt Iran).
Sau một số lần trì hoãn, công ty độc quyền ống dẫn của Nga đã khởi công đường ống dẫn nối Đông Siberria- Thái Bình Dương (ESPO) vào tháng 4 năm 2006. Đướng ống dẫn này sẽ kéo dài 2500 dặm từ thành phố Taishet của Nga đến Thái Bình Dương. 1200 dặm đầu tiên đã hoàn tất năm 2009 và kéo đến Skovorodino, chỉ cách biên giới Trung Quốc 30 dặm. Giai đoạn đầu tiên bao gồm một nhánh đến Đại Khánh, có thể chuyển tải tối đa 600.000 thùng/ngày. Đoạn thứ hai sẽ chạm bờ biển Thái Bình Dương trên đất Nga. Con đường này sẽ cho phép vận chuyển dầu đến cả Trung Quốc và Nhật, điện Kremlin sẽ tăng cường an ninh cầu đối với xuất khẩu khí gas của Siberia.
Tóm lại, Trung Quốc là nước đến sau trong cuộc chay đua giành các nguồn năng lượng Caspian và Siberia. Song, Bắc Kinh đã theo đuổi, tương đối thành công con đường ngoại giao ống dẫn đa phương, tạo nên kết quả là việc xây dựng ba đường ống dẫn nêu trên. Các đường ống dẫn này sẽ được phát triển dựa trên những cân nhắc thương mại, chẳng hạn như thuế, thuế quan, và rủi ro môi trường. Nhưng các yếu tố kinh tế không đủ để lý giải những con đường ống dẫn của Trung Quốc - ở đây còn có vai trò của các nhân tố địa chính trị và địa kinh tế. Những đường ống dẫn này đã được xây dựng do vị thế ngày càng tăng của Trung Quốc với vai trò là một cường quốc lớn và là một bên chơi trong vấn đề năng lượng toàn cầu.
Chiến lược đi qua Malacca
Bắc Kinh đã coi sự đa dạng địa lý trong các con đường cung cấp dầu lửa và khí gas như một chiến lược quản lý rủi ro thiết yếu. Điều này lý giải tại sao Trung Quốc quan tâm đến việc xây dựng đường ống dẫn đi qua Malacca nhằm giảm sự phụ thuộc vào các bể chứa dầu từ viện Persia và Châu Phi. Những đường ống dẫn này sẽ giảm thiểu khả năng bị gián đoạn nguồn cung, giả sử nếu bất ngờ xảy ra tai nạn, bị tấn công khủng bố, hoặc bất ổn trên đường thuỷ.
Một ý tưởng được đưa ra là xây dựng một kênh dọc eo đất Kra của Thái Lan nhằm giảm bớt lượng dầu chảy qua eo biển Malacca. Năm 2005, một báo cáo được chuẩn bị cho Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Donald Rumsfeld bị rò rỉ trên Thời báo Washington tuyên bố Bắc Kinh đang xem xét việc tài trợ xây dựng kênh Kra 20 tỷ USD đi qua eo biển Malacca, như một phần trong chiến lược "chuỗi ngọc trai". Do chi phí xây dựng kênh này khá cao nên Băng-cốc đã đề xuất xây dựng một đường ống dẫn dầu ngầm dài 150 dặm xuyên qua phía Nam Thái Lan với chi phí ước tính 600-800 triệu USD. Nếu như con kênh hoặc đường ống dẫn dầu này được xây dựng, dầu sẽ chảy từ vịnh Bengal đến vịnh Thái Lan; như thế, những bể chứa dầu sẽ tránh được khu vực eo biển Malacca đông đúc và rút ngắn hành trình đến các cảng của Trung Quốc.
Tháng 3 năm 2009, Trung Quốc và Mi-an-ma đã ký một hiệp định xây đựng các đường ống dẫn dầu và khí gas song song từ phía Tây Mi-an-ma đến tỉnh Vân Nam của Trung Quốc. Những đường ống dẫn này dự kiến sẽ bắt đầu vận hành vào năm 2013. Trung Quốc sẽ đầu tư 1,5 tỷ USD vào đường ống dẫn dầu và 1 tỷ USD vào đường dẫn khí gas. Những đường ống này sẽ cung cấp dầu cho Trung Quốc được chuyển từ Trung Đông và Châu Phi, và khí gas từ những trữ lượng ngoài khơi rất lớn của Mi-an-ma. Theo quan điểm của Trung Quốc, việc xây dựng đường ống dẫn kép này sẽ xúc tiến sự đa dạng trong các nguồn cung năng lượng và tăng cường an ninh năng lượng của đất nước này. Trung Quốc từ lâu đã là đồng minh thân cận nhất của Mi-an-ma và là nước bảo hộ Mi-an-ma trong Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc. Do nền kinh tế đang suy thoái và tình trạng ly khai trên quốc tế, nên Mi-an-ma rất muốn trở thành cầu nối năng lượng đến Trung Quốc.
Một khả năng khác nữa là xây dựng đường ống nối Pakistan với phía tây Trung Quốc. Vị trí của Pakistan, liền kề Vịnh Persian, là lợi thế chiến lược trong việc vận chuyển các nguồn năng lượng đến thị trường Trung Quốc. Đường ống dẫn này đã được đề xuất lần đầu tiên bởi người sau này là Tổng thống Pervez Musharraf trong chuyến thăm của ông đến Bắc Kinh vào tháng 2 năm 2006. Đề nghị của ông được đưa ra sau gần một năm kể từ khi xây dựng cảng nước sâu tại Gwadar thuộc tỉnh Baluchistan - Pakistan. Cảng do Trung Quốc tài trợ xây dựng này chỉ cách eo biển Hormuz 390 hải lý, như vậy trong trường hợp có gián đoạn tại eo biển Malacca, việc nhập khẩu dầu sẽ được chuyển hướng sang đó và được vận chuyển qua vùng Gilgit sang phía tây Trung Quốc. Do đó, Pakistan sẽ trở thành một trung tâm quá cảnh quan trọng chở dầu đến Trung Quốc và nâng tầm quan trọng chiến lược của nước này tại Nam Á. Đồng thời, dự án này cũng có thể là một nguồn việc làm và thu nhập đáng hoan nghênh với nền kinh tế đang “đắm” của Pakistan. Tháng 7 năm 2009, Tổng thống Pakistan Asif Ali Zardari đã thảo luận dự án đường ống dẫn này với người đồng nhiệm Trung Quốc Ôn Gia Bảo. Vì những lợi ích năng lượng và mối liên kết chặt chẽ với Trung Quốc của Pakistan, chắc chắn rằng việc xây dựng đường ống này chỉ còn là vấn đề thời gian.
Đường ống dẫn dầu của Trung Quốc và những xung đột tần suất thấp ở Trung Á
Mặc dù việc xây dựng các đường ống dẫn có lẽ sẽ chắc chắn giảm thiểu sự lệ thuộc của Trung Quốc vào eo biển Malacca, nhưng những đường ống dẫn này không kém nguy cơ dễ bị gián đoạn do dễ bị tổn thương. Độ dài của các đường ống dẫn khiến chúng rất khó được bảo vệ. Điều này làm chúng trở thành mục tiêu tiềm năng của những kẻ nổi loạn và khủng bố. Trong những năm gần đây, nhiều đường ống dẫn dầu và khí gas đã bị tấn công ở Thổ Nhĩ Kỳ, Nga, Iraq, Nigeria, Yemen, và Colombia.
Chủ nghĩa ly khai Uighur là thách thức an ninh trầm trọng nhất mà Trung Quốc phải đối mặt hiện nay. Tân Cương (hay thường được biết đến là Đông Thổ) chủ yếu có dân số là người Uighur đạo hồi nói tiếng Thổ, nhưng người Hán cũng đang phát triển rất nhanh ở đây. Người Uighur, vốn có lịch sử lâu đời chống lại những quy định của Bắc Kinh, cảm thấy họ bị gạt ra ngoài lề cả về kinh tế và chính trị mặc dù khu vực của họ giữ hầu hết trữ lượng dầu và khí gas của Trung Quốc. Xem ra Tân Cương nhận được rất ít lợi ích từ những trữ lượng năng lượng của mình vì sản xuất năng lượng do các công ty quốc doanh kiểm soát, những công ty này lại muốn thuê người Hán hơn là người Uighur, sản phẩm của họ chủ yếu do Bắc Kinh và các thành phố ven biển tiêu thụ và thuế hầu như được nộp cho chính quyền trung ương. Mặc dù Bắc Kinh khăng khăng rằng các nguồn năng lượng này sẽ thay đổi cuộc sống ở Tân Cương, nhưng việc phát triển đường ống dẫn đã trở thành một nguồn cơn căng thẳng mới giữa cộng đồng Uighur và nhà nước Trung Quốc. Đồng thời, Bắc Kinh đã theo đuổi chính sách hiếu chiến chống lại các nhóm khủng bố Uighur, một các tiếp cận mà các nước láng giềng Trung Á khác vẫn hậu thuẫn rất tích cực. Hasan Mahsum đã thành lập và dẫn đầu Tổ chức Giải phóng Đông Thổ (Sharki Turkistan Azatlik Fronti – Tổ chức Giải phóng Đông Thổ) cho đến khi bị quan đội Pakistan hạ vào năm 2003. Tổ chức Giải phóng Đông Thổ nỗ lực ly khai Tân Cương khỏi Trung Quốc và thành lập nhà nước hồi giáo. Nhóm này đã phát động đánh bom trước khi diễn ra Olympic Bắc Kinh năm 2008. Mặc dù Tổ chức Giải phóng Đông Thổ là một nhóm khá nhỏ, nhưng rõ ràng là họ đã nhận được hỗ trợ hậu cần từ al-Qaeda và Taliban.
Tổ chức Giải phóng Đông Thổ, hoặc một nhóm kế tục, có thể sẽ cố gắng phá huỷ những đường ống dẫn và hạ tầng dầu lửa nếu những nhu cầu chính trị của họ không được đáp ứng. Hơn thế nữa, những náo động sắc tộc ở Tân Cương có thể gây nhiều hậu quả ở Kazakhstan, nơi mà dân địa phương hầu như đồng cảm với cộng đồng Uighur. Không khó để tưởng tượng về một cuộc biểu tình trả đũa phản đối đường ống dẫn Trung Quốc - Kazakh khi nó đi qua lãnh thổ Kazakh nếu Bắc Kinh dùng đến lực lượng ồ ạt chống lại những người ly khai Uighur. Quả thật, có một số bằng chứng cho thấy nhà cầm quyền Trung Quốc đã giải quyết những quan ngại về an ninh ống dẫn, chẳng hạn như Zhang Zhiheng, Tổng bí thư Đảng Cộng sản của khu vực tự trị Mông Cổ Bayangol, đã tuyên bố đường ống dẫn Đông - Tây “được chạy ngầm để tránh khí hậu khắc nghiệt và cả tiềm năng trở thành mục tiêu tấn công khủng bố”.
Nhưng sự đối đầu của Bắc Kinh với người Uighur không phải là xung đột tần suất thấp duy nhất đe doạ việc vận chuyển các nguồn năng lượng đến Trung Quốc. Từ đầu thập niên 1990, các nhóm hồi giáo quân sự đã phát triển nhanh ở Trung Á, họ nhắm vào cả quân nhân và cả dân thường. Có lẽ nhóm nguy hiểm nhất là phong trào hồi giáo ở Uzbekistan (O’zbekistan islamiy harakati) do hai chiến sĩ người Uzbek phát động ở Afghanistan năm 1998, tên là Tohir Yuldoshev và Juma Namangani. Trong mùa hè năm 1999 và 2000, phong trào này đã tổ chức 2 cuộc tấn công quy mô nhỏ bất ngờ vào Kyrgyzstan và Uzbekistan. Kết quả là năm 2000, Phong trào hồi giáo Uzbekistan bị Uỷ ban nhà nước Hoa Kỳ đưa vào danh sách tổ chức khủng bố. Ước tính số quân du kích của Phong trào hồi giáo Uzbekistan có từ vài trăm đến vài nghìn người. Phong trào hồi giáo Uzbekistan sau đó được cho là đã đổi tên thành Đảng Hồi giáo Thổ vào tháng 6 năm 2001, để đánh dấu sự mở rộng các mục tiêu của mình. Không chỉ là mục tiêu ban đầu thành lập nhà nước Hồi giáo ở Uzbekistan, nhóm này hiện muốn thành lập nhà nước hồi giáo ở tất cả các nước Trung Á, có thể bao gồm Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan, Turkmenistan, Uzbekistan, và tỉnh Tân Cương.
Phong trào hồi giáo Uzbekistan hầu như đã bị tiêu diệt bởi cuộc tấn công can thiệp của Mỹ ở Afghanistan năm 2001. Chính Namangani đã bị giết và những thành viên còn lại của nhóm buộc phải tị nạn trong các khu vực của bộ lạc dọc biên giới Afghani với Pakistan. Tuy nhiên, những phần tử Phong trào hồi giáo Uzbekistan vẫn hoạt động ở thung lũng Ferghana và nam Kazakhstan. Tháng 11 năm 2004, cơ quan an ninh của Kazakhstan tuyên bố họ đã đập tan một nhóm khủng bố trong vùng có dính líu đến Phong trào hồi giáo Uzbekistan và Al-Qaeda. Nhóm này, có cả công dân Uzbek và Kazakh, được cho là đã tham gia vào cuộc tấn công chống lại cảnh sát của Uzbek ở Tashkent vào tháng 3 năm 2004 và những cuộc đánh bom tự sát chống lại Israeli, các đại sứ quán Mỹ và tổng lãnh sự quán ở Tashkent vào tháng 7 năm 2004. Nhóm phải rút lui vào tháng 8 năm 2009 khi thủ lĩnh của họ được đưa tin là đã bị giết trong một cuộc tấn công tên lửa của Mỹ tại Nam Waziristan. Song, nhóm vẫn hoạt động và có thể tổ chức tấn công ở Trung Á.
Đông Nam Á
Tình hình cũng rắc rối không kém với những đường ống dẫn tiềm năng xuyên qua khu vực. Tất cả các nhà nước đề xuất xây đường ống quá cảnh (là Pakistan, Thái lan và Mi-an-ma) đang phải chịu những cuộc nổi dậy sắc tộc và tôn giáo kinh niên, điều này làm nguy hại đến sự ổn định trong khu vực và khiến việc phát triển ống dẫn trở nên phức tạp. Ở Pakistan, người Taliban địa phương đã dấy lên những cuộc tấn công phối hợp chống lại những lực lượng của chính phủ, biến các tỉnh phía tây bắc thành khu chiến sự. Hơn nữa, một cuộc nổi dậy đã xảy ra ở Baluchistan, nơi có cảng Gwadar, lấy đi hàng trăm sinh mạng. Những người theo chủ nghĩa dân tộc Baluch đã chủ trương thành lập Balunchistan độc lập, kết hợp một số phần của cả Pakistan và Iran. Quân giải phóng Baluchistani, nhóm nổi dậy lớn nhất ở Baluch, đã ám sát ba kỹ sư người Trung Quốc vào tháng 5 năm 2004. Bốn tháng sau đó, quân Tổ chức Giải phóng Đông Thổ sát hại hai Hoa kiều ở Gwadar. Do đó, về mặt chính trị mà nói, Pakistan có vẻ không phải là một nước đặc biệt hấp dẫn để có kế hoạch xây dựng đường ống dẫn dầu hay khí gas tự nhiên lớn xuyên qua nước này. Khó có thể biết được tình hình sẽ biến đổi thế nào trong thời gian tới.
Ớ Thái Lan xảy ra một cuộc nổi dậy của người hồi giáo ở ngay giữa khu vực Pattani, bạo lực không ngừng lan sang cả các tỉnh lân cận. Chính phủ Thái đã cáo buộc phong trào ly khai Pattani, hầu hết là người Mã Lai, chịu ảnh hưởng của al Qaeda và Jemaah Islamiyah. Trong bất cứ trường hợp nào, cuộc nổi dậy này cũng đã có thêm động lực mới sau việc làm táo bạo tháng 9 năm 2006. Những phương kế mạnh tay của quân đội Thái đã làm bùng lên sự oán giận trong cộng đồng hồi giáo địa phương. Tổ chức giải phóng thống nhất Pattani (PULO) đã tiến hành hàng chục cuộc tấn công chống lại quân lính và cảnh sát cũng như thường dân. Việc nổi dậy này, đã lấy đi hàng ngàn sinh mạng trong thập kỷ qua, không có khả năng sẽ sớm kết thúc.
Mi-an-ma đã trải qua sự bất ổn chính trị lớn vào năm 1988 khi chế độ quân sự vấp phải sự phản đối ồ ạt của phe dân chủ. Năm 1990, hội đồng tư vấn từ chối công nhận kết quả bầu cử mà đảng đối lập, Liên minh dân chủ quốc dân, thắng tuyệt đối với đa số phiếu bầu. Những cuộc biểu tình do những nhà hoạt động chính trị đối lập tổ chức cũng đã diễn ra trong năm 2007. Thêm nữa, đụng độ giữa lực lượng chính phủ và những nhóm nổi dậy khác nhau đã xảy ra ở các bang Shan và Kayin. Chính sách đàn áp của Mi-an-ma chống lại các nhóm dân tộc thiểu số có thể sẽ làm dấy thêm hoạt động nổi dậy trong những năm tới.
Do đường ống dẫn dầu là những tài sản chiến lược quan trọng, nên trách nhiệm bảo vệ chúng trước hết thuộc về nhà nước. Ở Trung Quốc, Cảnh sát vũ trang Nhân dân (PAP) có trách nhiệm bảo vệ những cơ sở năng lượng (như ống dẫn, các trạm bơm và ga lưu kho, nhà máy thuỷ điện) trước các cuộc tấn công khủng bố. Độ dài đường ống dẫn dầu và khí gas của Trung Quốc vào khoảng 43.000 dặm tính đến năm 2009 và dự báo sẽ lên đến 124.000 dặm vào năm 2020. Ngay cả khi lực lượng an ninh của Trung Quốc có đủ để bảo vệ những đường ống dẫn, thì việc các nhà nước quá cảnh có thực sự đủ khả năng bảo vệ chúng hay không vẫn còn là điều đáng bàn. Trong số đó có nhiều nhà nước không có đủ lực lượng an ninh, và việc này càng trở nên phức tạp khi khoảng cách của những đường ống dẫn rất xa nhau.
Tuy nhiên, nhà nước quá cảnh có thể viện đến những biện pháp ưu tiên nhất định để giảm thiểu khả năng tấn công khủng bố. Có những phương pháp chi phí thấp để đảm bảo an ninh phối hợp, chẳng hạn như canh gác hàng rào bằng những thiết bị cảm ứng, đặt máy quay theo dõi, rada tầm thấp, giám sát ban đêm, và mìn sát thương. Hơn nữa, các nhà nước quá cảnh có thể dựa vào sự hỗ trợ của những công ty dầu lửa, những công ty xây các đường ống đi qua vùng địa hình có tiềm ẩn thù địch trong hàng chục năm. Điển hình là sự hiện diện đơn thuần của xung đột tần suất thấp ở cấp địa phương không thể ngăn cản việc phát triển đường đống dẫn ra bên ngoài. Ngành năng lượng có kinh nghiệm quốc tế phong phú trong việc giảm thiểu tác hại trực tiếp đối với những tài sản hạ tầng của ngành. Người ta có thể nhanh chóng sửa đường ống dẫn và các bể dự trữ có thể giúp giảm thiểu phí tổn do việc bị gián đoạn gây ra.
Nói vậy nhưng không một biện pháp an ninh nào trong số nêu trên có thể bảo vệ tuyệt đối đường ống dẫn dài hàng trăm dặm khỏi việc bị tấn công du kích. Đặc biệt là, Chính sách chống khủng bố của Bắc Kinh ở Tân Cương hầu như đã chắc chắn gặp phải sự thù địch gay gắt từ những người Uighur, và như thế tạo ra khả năng xảy ra hành động khủng bố tấn công vào những đường ống dẫn của Trung Quốc.
Kết luận
Vì nền kinh tế Trung Quốc vẫn tiếp tục tăng trưởng mạnh, nên nhu cầu năng lượng của nước này đang bùng nổ. Những quan ngại về việc đa dạng hoá con đường cung cấp, yếu tố địa chính trị và sự bất ổn trên các thị trường năng lượng toàn cầu đã thúc đẩy Trung Quốc chuyển sự chú ý sang xây dựng các đường ống dẫn. Thứ nhất, Trung Quốc đang nỗ lực đòi lợi ích của mình trên biển Caspian, một mặt trận năng lượng mới. Trong đó, các đường ống dẫn Trung Quốc-Kazakh và Trung Quốc-Tuốc men là rất quan trọng. Thứ hai, những đường ống đi qua Malacca đang được xây dựng ở Đông Nam Á.
Tuy nhiên, mặt trái của chiến lược này là an ninh đường ống dẫn. Đường ống dẫn không kém dễ bị tổn thương hơn bể chứa. Sự đối đầu giữa nhà cầm quyền Trung Quốc và dân Uighur ở tỉnh Tân Cương, cũng như sự hiện diện cuả quân giải phóng hồi giáo ở Trung Á, làm tăng nguy cơ tấn công vào các đường ống dẫn qua biên giới. Những đường ống dẫn qua Malacca đi qua khu vực quân sự bất an ở Pakistan, Miến điện và Thái lan.
Nhất thiết phải xử lý vấn đề an ninh đường ống dẫn như một vấn đề chính trị chứ không phải là quân sự. Những mối đe doạ từ bên ngoài đối với việc vận chuyển dầu và khí gas là một phần của sự bất ổn chính trị trong toàn khu vực. Chỉ khi đảm bảo được những lợi ích xã hội và kinh tế với tất cả các nước và các nhóm sắc tộc, tôn giáo có liên quan, và những lợi ích này được minh chứng với tất cả các bên, thì đường ống dẫn mới an toàn. Việc chi mạnh tay vào các dự án phát triển dọc các đường ống dẫn có thể là một cách để đảm bảo sự ủng hộ ở địa phương.
TS. Emmanuel Karagiannis, Đại học Macedonia
Thùy Linh (dịch)
Mai Lan (hiệu đính)
Bản gốc tiếng Anh “CHINA’S PIPELINE DIPLOMACY: Assessing the Threat of Low-Intensity Conflicts”
Bài viết được in trong Seri đặc biệt của tạp chí Harvard Asia Quarterly với chủ đề “The Disputed Sea – Maritime Security in East Asia” tháng 12/2010
Đề nghị chỉ được dẫn đường link mọi thông tin, bài viết trên www.nghiencuubiendong.vn, không đăng lại khi chưa có sự đồng ý của Ban Biên tập NCBĐ.
Chang Zekun, “Shijie shiyou diyuan xin tujing xia de shiyou
Bo Kong, China’s International Petroleum Policy (Santa Barbara, CA: Praeger Security International, 2010), 129.
On China’s doctrine of self-reliance in the oil industry xem Lim Tai Wei, Oil in China: From Self-Reliance toi nternationalization (London: World Scientific, 2010), 57-78.
Xem Energy Information Agency, China: Country Analysis Brief (Washington, DC: Department of Energy, tháng 7 2009), đăng tại http://www.eia.doe.gov/cabs/China/Oil.html
Robert Ebel, China’s Energy Future: The Middle Kingdom Xemks Its Place in the Sun (Washington, DC: Center for Strategic
and International Studies, 2005), 3.
Xem Gawdat Bahgat, “China’s Energy Policy: Strategic Implications”, Middle East Economic Survey 49-2 (2007).
British Petroleum, Statistical Review of World Energy 2010, đăng tại http://www.bp.com/sectiongenericartile.do?categor
yId=9023769&contentId=7044915
Xuanli Liao, “Central Asia and China’s Energy Security,” China and Eurasia Forum Quarterly 4-4 (2006): 65.
“China-Kazakhstan Pipeline Start to Pump Oil,” China Daily, 15 tháng 12, 2005, đăng tại http://www.chinadaily.com.cn/english/doc/2005-12/15/content_503709.htm
March Lanteigne, “China’s Energy Security and Eurasian Diplomacy: The Case of Turkmenistan,” Politics 27 (tháng 10
2007), 151.
Stephen Blank, “The Strategic Implications of the Turkmenistan-China Pipeline Project,” China Brief [The Jamestown Foundation]10-3, 4 tháng 2, 2010.
Edward Chow and Leigh Hendrix, “Central Asia’s Pipelines:Field of Dreams and Reality,” National Bureau of Asian Research
(tháng 9, 2010): 38, đăng tại www.nbr.org/downloads/pdfs/eta/es_conf10_agenda.pdf
Bill Gertz, “China Builds Up Strategic Sea Lanes”, The Washington Times, 17 tháng 1, 2005, đăng tại http://www.washingtontimes.com/news/2005/jan/17/20050117-115550-1929r/
Ian Storey, “China’s Malacca Dilemma”, China Brief [The Jamestown Foundation] 6-8, 12 tháng 4, 2006.
Sudha Ramachandran, “China Secures Myanmar Energy Route”, Asian Times, 3 tháng 4, 2009 đăng tại http://www.
atimes.com/atimes/South_Asia/KD03Df03.html
“Pak to Build Rail Link, Pipeline from Gwadar to China”, The Nation, 9 tháng 7, 2010 đăng tại http://www.nation.com.pk/pakistan-news-newspaper-daily-english-online/Politics/09-Jul-2010/Pak-to-build-rail-link-pipeline-from-Gwadar-to-China
Jehangir Pocha, “In China, a Pipeline Spurs Ethnic Conflict”, The New York Times, 7 tháng 10, 2006.
Bernard D. Cole, “Oil for the Lamps of China” – Beijing’s 21st-Century Search for Energy,” McNair Paper 67 (Washington, D.C.: Institute for National Strategic Studies, 2003): 62.
R. Weitz, “Storm Clouds over Central Asia: Revival of the Islamic Movement of Uzbekistan?”, Studies in Conflict and Terrorism 27 (2004): 506.
Xem I. Alibekov, “IMU Reportedly Expands, Prepares to Strike Western Targets”, Eurasia Insight, October 29, 2002.
Xem M. Yermukanov, “Kazakh Security Services Trumpet Victory over Al-Qaida Members”, Central Asia-Caucasus Analyst, November 17, 2004.
“China’s Major Oil and Gas Pipelines Surpass 70,000 km in Length”, đăng tại http://www.gasandoil.com/GOC/news/nts102510.htm
Thứ năm, 19 Tháng 5 2011
Viết bởi nguyen viet
Trong thập niên vừa qua, Trung Quốc đã có những thái độ mạnh mẽ hơn đối với các vấn đề tranh chấp trong vấn đề Biển Đông nhằm bảo vệ lợi ích của mình. Mặc dù vậy, tâm lý phổ biến trong các nhà hoạch định chính sách và thành phần trí thức ở Trung Quốc là vẫn ủng hộ cách tiếp cận hợp tác đối với tranh chấp. Đây là 2 xu hướng đang diễn ra tại quốc gia này.
(Phần 1)

Chính sách “Ôn hòa có Tính toán” của Trung Quốc ở Biển Đông
Trong suốt những năm 1990, Trung Quốc đã có những nỗ lực lớn để bình thường hóa và cải thiện quan hệ với các quốc gia Đông Nam Á, một phần là để phòng ngừa một chính sách ngăn chặn/kiềm chế do Mỹ cầm đầu chống lại Trung Quốc. Thoát ra dần cách tiếp cận ban đầu là coi trọng quan hệ song phương, Trung Quốc đã tham gia nhiều hơn vào các thể chế đa phương và khu vực, đặc biệt là các thể chế cho phép Trung Quốc tăng cường đối thoại với ASEAN. Khi nguyên chủ tịch Giang Trạch Dân và các lãnh đạo ASEAN tổ chức hội nghị cấp cao ASEAN + Trung Quốc lần đầu tiên vào tháng 12 năm 1997, họ đã ra một tuyên bố chung thiết lập mối quan hệ láng giềng tốt, tin tưởng lẫn nhau trong thế kỷ hai mươi mốt. Kết quả là quan hệ kinh tế và chính trị giữa ASEAN và Trung Quốc phát triển nhanh chóng, nhưng quan hệ an ninh vẫn rất mờ nhạt vì những tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông. Tuy nhiên vào thời điểm chuyển giao của thế kỷ, căng thẳng đã bắt đầu giảm dần nhờ một loạt các thỏa thuận: Trung Quốc và Việt Nam ký Hiệp định Biên giới trên Bộ tháng 12 năm 1999, tiếp theo là Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ năm 2000, và tháng 11 năm 2002, Trung Quốc và ASEAN đã ký Tuyên bố về Cách Ứng xử của các Bên ở Biển Đông (DOC). Trước đó, tại Hội nghị Cấp cao ASEAN-Trung Quốc tháng 11 năm 2001, các lãnh đạo ASEAN đã chấp nhận đề xuất của Trung Quốc thành lập Khu vực Mậu dịch Tự do Trung Quốc-ASEAN (CAFTA) bao gồm Trung Quốc, Bru-nây, Ma-lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a, Phi-lip-pin, Xin-ga-po và Thái Lan vào năm 2010, tiếp theo là Cam-pu-chia, Lào, Mi-an-ma và Việt Nam vào năm 2015.
Nói chung, cách tiếp cận vấn đề Biển Đông của Trung Quốc trong thập niên qua phản ánh sự định hướng lại toàn bộ chính sách ngoại giao Trung Quốc đối với các nước Đông Nam Á, điều mà nhiều chuyên gia đã mô tả như là “cuộc tấn quyến rũ” hay “quyền lực mềm”. Trung Quốc chủ yếu nỗ lực tìm kiếm một sự cân bằng trong việc theo đuổi lợi ích về chủ quyền, kinh tế, và chiến lược của nước này trong cuộc tranh chấp. Vì tầm quan trọng chính trị, kinh tế, và chiến lược của Biển Đông đối với Trung Quốc, nhiều người Trung Quốc có thể ủng hộ việc sử dụng các biện pháp cương quyết để theo đuổi lợi ích của nước này trong khu vực đó. Tuy nhiên, trong thập niên qua, không có xung đột quân sự lớn nào giữa Trung Quốc và các bên tranh chấp khác. Những dự báo rằng các nước ASEAN sẽ không thể ép Trung Quốc vào đàm phán đa phương sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997, hóa ra lại không đúng. Trung Quốc một mặt giữ thái độ cương quyết đối với yêu sách chủ quyền của nước này ở tất cả các sự kiện ngoại giao, tiến hành từng hành động để củng cố sự hiện diện của nước này ở Biển Đông, và đáp lại bằng những lời cảnh báo cứng rắn mỗi khi các bên tranh chấp khác hành động ngược lại với lợi ích của Trung Quốc. Nhưng mặt khác, Bắc Kinh nhận thấy họ phải tập trung vào những mục tiêu quan trọng hơn trong chính sách đối ngoại với Đông Nam Á, điều này đã dẫn đến khá nhiều thay đổi quan trọng trong cách cư xử của Trung Quốc hiện tại.
Ví dụ, Trung Quốc đã thay đổi thái độ cương quyết trước đây về đàm phán song phương, và nay đang dần dần chấp nhận cách tiếp cận đa phương. Nước này đã ký DOC, dù không phải là một hiệp định có ý nghĩa pháp lý nhưng có tác dụng rằng buộc về mặt đạo đức đối với các bên liên quan. Nó cho thấy trong một chừng mực nào đó Trung Quốc chấp nhận những chuẩn mực để điều hòa các vấn đề có liên quan đến Biển Đông dù chuẩn mực đó còn sơ khai và không chính thức. Cùng với đề xuất “cùng khai thác”, DOC đã cho thấy rõ hơn thiện ý thỏa hiệp yêu sách chủ quyền của Trung Quốc. Cũng bằng cách tham gia Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ASEAN (TAC), Trung Quốc đã cam kết về mặt pháp lý là không sử dụng vũ lực chống lại các thành viên ASEAN. Một sự thay đổi nữa trong chính sách của Bắc Kinh là ý định ngày càng đẩy mạnh các chương trình cụ thể trong thỏa thuận phát triển chung của Trung Quốc, trong khi trước đây, Bắc Kinh đã bị chỉ trích vì chủ trương “gác tranh chấp, cùng khai thác” mà không có đề xuất thiết thực nào.
Tại sao Trung Quốc lại chấp nhận những chính sách tương đối ôn hòa hơn này? Đây là một câu hỏi lớn, không chỉ để hiểu lịch sử thập niên vừa qua mà còn có cả manh mối về diễn biến trong tương lai. Một nhân tố mà hầu hết các nhà quan sát có thể đồng tình là Hải Quân Quân đội Giải phóng Nhân dân (PLAN) không đủ khả năng, nhưng một mình nhân tố này chưa cho chúng ta lời giải thích thỏa đáng. Rốt cuộc, Bắc Kinh đã sử dụng những hành động vũ lực vào các năm 1974, 1988 và 1995 ngay cả khi hải quân của họ vẫn còn yếu kém hơn hiện nay. Thực tế, có ba nhân tố đồng thời có vai trò quyết định trong việc hình thành cách tiếp cận mới của Trung Quốc: nhu cầu cần có một vùng láng giềng hòa bình để thúc đẩy sự phát triển kinh tế trong nước, tầm quan trọng của ASEAN, và sức ép chiến lược từ những cường quốc bên ngoài.
Đặc biệt nhất là, Bắc Kinh tỏ ra nhiệt tình hơn trước trong việc tạo ra hình ảnh bản thân như một cường quốc có trách nhiệm để làm dịu đi “thuyết mối đe dọa Trung Quốc” và thể hiện mình là người ủng hộ các biện pháp đối thoại, xây dựng lòng tin, và quan hệ hợp tác thay vì thái độ hiếu chiến và đe họa, điều có thể gây tổn hại hơn đến lợi ích của bản thân nước này. Cách tiếp cận mới này không có nghĩa là Trung Quốc và các nước tranh chấp có thể dễ dàng vượt qua tranh chấp, nhưng điều đó có nghĩa là Trung Quốc sẵn sàng chú ý đến những lợi ích chính trị và chiến lược dài hạn của nước này ở Biển Đông và thực hiện giải pháp cùng có lợi. Các nhà phân tích cho rằng giải quyết tranh chấp Biển Đông trong khuôn khổ đối tác chiến lược sẽ tốt cho lợi ích cốt lõi của Trung Quốc, bao gồm cả những nỗ lực của Trung Quốc ngăn chặn Đài Loan độc lập.
Tục ngữ có câu, nhảy tăng-gô cần có hai người. Không có phản ứng tích cực và nhân nhượng lẫn nhau từ các bên tranh chấp khác, Biển Đông không thể có được trạng thái ổn định hiện nay. Chia sẻ các mối quan tâm tương tự Trung Quốc, các nước khác trong khu vực cũng sẵn sàng chấp nhận một quan điểm hòa giải hơn bởi vì tất cả các nước đều cần có môi trường bên ngoài hòa bình và ổn định để phát triển kinh tế nước họ. Nhiều trong số các nước này đã nhận ra rằng đối đầu với Trung Quốc ở Biển Đông sẽ có hại cho sự ổn định của mối quan hệ ASEAN – Trung Quốc. Các cường quốc bên ngoài khác như Hoa Kỳ và Nhật Bản cũng không muốn có xung đột ở Biển Đông vì sợ làm gián đoạn vận tải biển và phá vỡ hòa bình khu vực. Sự hiện diện quân sự chiếm ưu thế của Mỹ ở Đông Á và quan hệ an ninh rộng khắp với các nước Đông Nam Á của nước này là những nhân tố mà các nhà hoạch định chính sách của Trung Quốc phải tính đến. Bắc Kinh hiểu rằng cách tiếp cận nặng tay của Trung Quốc sẽ chỉ đẩy các nước tranh chấp khác đến gần hơn với Oa-sing-tơn trên vũ đài an ninh.
Xuất hiện thái độ cương quyết của Trung Quốc
Bất chấp tất cả những diến biến tích cực đã đề cập trên, có nhiều dấu hiệu cho thấy Trung Quốc có thể trở nên cương quyết hơn trong tranh chấp Biển Đông thời gian tới. Cùng lúc, tâm lý phổ biến trong các nhà hoạch định chính sách và thành phần trí thức ở Trung Quốc là vẫn ủng hộ cách tiếp cận hợp tác đối với tranh chấp. Hai xu hướng này sẽ diễn ra như thế nào? Sự đan xen giữa hai cách tiếp cận có làm cho tranh chấp trở nên tồi tệ và phức tạp hơn không? Hay liệu thái độ ngày càng cương quyết của Trung Quốc cùng với nỗ lực đẩy mạnh các chương trình và những thỏa thuận cùng có lợi sẽ dẫn đến hợp tác nhiều hơn ở Biển Đông?
Những bất bình của Trung Quốc
Sự thay đổi thái độ của Trung Quốc theo chiều hướng cương quyết phản ánh sự bất bình của nước này đối với những hành động của các nước khác trong khu vực, mong muốn có được lợi ích kinh tế ở Biển Đông cùng với sự lớn mạnh về tiềm lực và sức mạnh của nước này. Trước hết, Trung Quốc rất giận giữ về những hành động vũ lực của các nước khu vực đối với ngư dân Trung Quốc ở vùng Trường Sa (A: Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd). Một bản báo cáo của Trung Quốc chỉ ra rằng cộng đồng nghề cá nước này đang ngày càng giảm hoạt động ở vùng Trường Sa (A: Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd), địa bàn đánh cá truyền thống của Trung Quốc ở Biển Đông. Diện tích đánh bắt thường xuyên của Trung Quốc ở Trường Sa (A: Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd) giờ đây đã bị giảm xuống 7800 ki-lô-mét vuông so với 83000 ki-lô-mét vuông vào năm 1989. Truyền thông Trung Quốc thống kê rằng kể từ năm 1989 đã có trên 300 trường hợp tàu cá Trung Quốc bị bắt giữ, xua đuổi, thậm chí là bị bắn ở khu vực Trường Sa (A: Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd), trên tám mươi thuyền cá và hơn 1800 ngư dân Trung Quốc đã bị bắt giữ.
Trong khi phần lớn các nhà phân tích đồng ý với chính phủ rằng “gác tranh chấp, cùng khai thác” vẫn nên là lập trường chính thức của Trung Quốc, một số nhà quan sát Trung Quốc ngày càng chỉ trích chính sách này. Họ cho rằng chính sách này thật ra đi ngược lại lợi ích Trung Quốc vì cho phép các nước yêu sách khác đơn phương khai thác tài nguyên ở Biển Đông. Bắc Kinh cũng không hài lòng trước nỗ lực của các nước tập hợp dưới lá cờ ASEAN để gây sức ép với Trung Quốc. Các nhà phân tích Trung Quốc tin rằng đã có sự thống nhất trong một số thành viên ASEAN về vấn đề Biển Đông để chống lại Trung Quốc. Ví dụ, Liu cho rằng ASEAN đã có vai trò chủ động trong việc phối hợp quan điểm của các quốc gia thành viên khối này, đưa ra tuyên bố chung bày tỏ những mối quan tâm chung của ASEAN, lôi kéo Trung Quốc để thảo luận các tranh chấp, và sử dụng Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) thảo luận vấn đề Biển Đông để gây sức ép với Trung Quốc.
Một phàn nàn đáng chú ý nữa của Trung Quốc là sự dính líu của các cường quốc lớn khác, đặc biệt là Hoa Kỳ. Theo cách hiểu của các học giả Trung Quốc, Oa-sing-tơn đang theo đuổi chính sách “trung lập chủ động” ở Biển Đông. Nhiều cuộc diễn tập hải quân do Mỹ cầm đầu ở Biển Đông đã củng cố cái nhìn tiêu cực của các nhà phân tích Trung Quốc về vai trò của Oa-sing-tơn trong tranh chấp. Họ nhận thấy rằng các cuộc diễn tập CARAT (Hợp tác Sẵn sàng Chiến đấu và Tập huấn Trên biển) giữa Mỹ và sáu quốc gia Đông Nam Á (Phi-lip-pin, Thái Lan, Xin-ga-po, Ma-lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a và Bru-nây) năm 2009 cho thấy Hoa Kỳ đang trở nên chủ động hơn trong tranh chấp Biển Đông, và chủ yếu để chống Trung Quốc. Bắc Kinh cũng quan ngại về sự cải thiện quan hệ quân sự giữa Oa-sing-tơn và Hà Nội. Các học giả Trung Quốc cho rằng ảnh hưởng có tính chiến lược và xu hướng Mỹ nghiêng về ủng hộ các nước tranh chấp khác sẽ cổ vũ các nước này củng cố hơn nữa những yêu sách chủ quyền, đẩy mạnh hơn sự chiếm đóng trên thực tế của họ, và đơn phương khai thác các nguồn năng lượng. Cuối cùng, nhiều nhà phân tích Trung Quốc kết luận rằng Hoa Kỳ tiếp tục theo đuổi chính sách giành ưu thế quân sự ở khu vực Biển Đông và sẽ trở nên chủ động hơn trong tranh chấp để thực hiện chiến lược bao vây và kiềm chế sự phát triển của Trung Quốc.
Trung Quốc Ngày Càng Cương Quyết
Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã bắt đầu chú ý nhiều hơn đến Biển Đông, với hy vọng sẽ thu lợi từ những nguồn năng lượng trong khu vực này. Bất chấp những nghi ngờ về báo cáo trữ lượng dầu khí ở Biển Đông của nhiều chuyên gia quốc tế, Trung Quốc dường như hoàn toàn chắc chắn về triển vọng của các nguồn năng lượng trong khu vực. Jian Fengjiu, một kỹ sư lâu năm của Tập đoàn Dầu khí Xa bờ Quốc gia Trung Quốc (CNOOC), báo cáo rằng cho đến năm 2007, Trung Quốc đã phát hiện 323,5 tỉ mét khối khí ga thiên nhiên ở Biển Đông. Ông cũng cho biết Trung Quốc đang khai thác 6 tỉ mét khối khí ga thiên nhiên ở Biển Đông mỗi năm, chiếm 88 % lượng khí ga sản xuất từ biển của Trung Quốc. Năm 2005 Bộ Đất đai và Tài nguyên Trung Quốc (Chinese Ministry of Land and Reresources) đã coi Biển Đông là một trong 10 vùng tài nguyên chiến lược và đã lập những kế hoạch đẩy mạnh nỗ lực khai thác dầu khí ở vùng nước sâu trong khu vực. CNOOC và một vài viện nghiên cứu khoa học ở Trung Quốc đã đẩy mạnh việc nghiên cứu sâu hơn về trữ lượng dầu khí trong vùng nước sâu của Biển Đông.
Nhiều viện nghiên cứu ở Trung Quốc đã bắt đầu nghiên cứu toàn diện về khí mê-tan và hy-đrat (còn gọi là băng cháy) ở Biển Đông. Tháng 8 năm 2006, Trung Quốc tuyên bố nước này đã có kế hoạch đầu tư 800 triệu Nhân dân tệ cho việc nghiên cứu khai thác băng cháy ở Biển Đông và dự định sẽ khai thác thử nghiệm vào trước năm 2015. Ước tính, chỉ riêng trữ lượng băng cháy ở phần phía bắc Biển Đông đã tương đương với 50 % toàn bộ trữ lượng dầu ở lục địa Trung Quốc. CNOOC có kế hoạch đầu tư 200 tỉ Nhân dân tệ (29 tỉ Đô la Mỹ) trước năm 2020 để lắp đặt 800 giàn dầu ở những vùng nước sâu. Tập đoàn này có kế hoạch sản xuất tương đương 250 triệu tấn dầu thô trong những vùng nước sâu đến năm 2015 và 500 triệu tấn vào năm 2020. Hiện tại, CNOOC đang nỗ lực phát triển công nghệ, trang thiết bị và nguồn nhân lực cần thiết để đạt được những mục tiêu đó.
Hơn một thập niên qua, Trung Quốc đã có nhiều nỗ lực để nâng cao khả năng thực thi luật hàng hải, bao gồm cả việc phát triển “khả năng chưa từng có”, sử dụng vệ tinh để giám sát và kiểm soát những hoạt động trong phạm vi vùng biển tranh chấp của nước này. Trung Quốc ngày càng gia tăng việc áp dụng những khả năng thực thi luật pháp của mình để bảo vệ lợi ích của nước này ở Biển Đông. Vào tháng Ba (năm 2000), có tin là các quan chức Trung Quốc đã thông báo với những người động nhiệm Mỹ rằng Trung Quốc sẽ không tha thứ cho bất cứ sự can thiệp từ bên ngoài vào Biển Đông, một trong những “lợi ích quốc gia cốt lõi” của Trung Quốc. Đây là lần đầu tiên Trung Quốc đưa vấn đề Biển Đông vào lợi ích quốc gia cốt lõi ngang bằng với các vấn đề Đài Loan và Tây Tạng.
Tư tưởng bất mãn phổ biến ở Trung Quốc (đặt biệt là trong công chúng), lợi ích kinh tế ngày càng tăng trong khu vực, và những tiềm lực được tăng cường đang tiếp nhiên liệu cho quan điểm cứng rắn của quốc gia này. Có những dấu hiệu không thể nhầm lẫn rằng Trung Quốc đang nỗ lực đòi quyền lợi ở khu vực Biển Đông, mặc dù các hành động cứng rắn này có thể còn nhằm mục đích khác, không liên quan đến tranh chấp Biển Đông. Đầu năm 2009, lực lượng không quân Quân Khu Quảng Châu đã tiến hành diễn tập quy mô lớn tại khu vực phía nam Biển Đông. Nhiều nhà phân tích Trung Quốc đã xem cuộc diễn tập này, đặc biệt có sự tham gia của loại máy bay chiến đấu phản lực J – 10 tiếp nhiên liệu trên không của Trung Quốc, như một tín hiệu răn đe đối với các nước tranh chấp khác ở Biển Đông. Cuộc diễn tập cho thấy Trung Quốc “đang từng bước áp dụng chiến lược cứng rắn hơn” đối với tranh chấp Biển Đông thay vì chỉ đơn giản là đưa ra các phản đối ngoại giao như nước này đã từng làm trong quá khứ. Tháng 3 năm 2009, Trung Quốc đã đưa tàu Ngư Chính 311, tàu tuần tra ngư nghiệp lớn nhất được sửa lại từ một tàu chiến cũ, đến Hoàng Sa [A: Paracel Islands, TQ: Xisha/Tây Sa – nd] để tuần tra. Trong tháng 5, một đội tàu Ngư Chính khác lại tuần tra khu vực Hoàng Sa [A: Paracel Islands, TQ: Xisha/Tây Sa – nd]. Ngày 01 tháng Tư năm 2010, hai tàu Ngư Chính Trung Quốc bắt đầu lên đường đến Trường Sa (A: Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd) để bảo vệ các hoạt động đánh cá của ngư dân Trung Quốc. Không giống những lần tuần tra trong quá khứ, lần này chính quyền Trung Quốc đã quyết định sử dụng đội tàu này để bắt đầu tuần tra thường xuyên ở khu vực Trường Sa (A: Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd). Trong lễ xuống thuyền, Lui Tianrong, một quan chức cấp cao của Ngư Chính Khu vực “Nam Hải” (Biển Đông) nói rằng thủy thủ hai tàu kiên quyết chống cướp biển, ngăn chặn các nước khác bắt giữ các tàu cá Trung Quốc, phản đối những hành động của nước khác xua đuổi tàu cá Trung Quốc và thể hiện chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông. Từ cuối tháng Ba đến đầu tháng Tư, một đội tàu nhỏ của Hạm đội Bắc Hải thuộc Hải quân Quân đội Giải phóng Nhân dân PLAN đã có chuyến tuần tra dài ngày và đã tiến hành tập trận ở Biển Đông.
Thái độ Cứng rắn và những Thiện ý của Trung Quốc
Mặc dù đang xuất hiện những tín hiệu về thái độ ngày càng cứng rắn của Trung Quốc, đã có những sức ép đáng kể có thể hạn chế sự hiếu chiến của quốc gia này. Trung Quốc phải đối mặt với một số tình thế tiến thoái lưỡng nan trong tranh chấp Biển Đông. Thứ nhất là sự khó khăn trong việc giữ cân bằng giữa việc bảo vệ chủ quyền và các quyền lợi khác của nước này ở Biển Đông và đồng thời duy trì quan hệ hòa bình, ổn định với các nước Đông Nam Á . Đông Nam Á vẫn thường được gọi là sân sau chiến lược của Trung Quốc. Bắc Kinh cần phải duy trì quan hệ tốt với các nước láng giềng Đông Nam Á để xua tan đi học thuyết về “Mối đe dọa Trung Quốc”, xây dựng hình ảnh tích cực về Trung Quốc trên trường quốc tế, và thúc đẩy hình thành hệ thống đa cực trong nền chính trị thế giới. Một cách tiếp cận nặng tay của Trung Quốc có thể dễ dàng đẩy các nước tranh chấp khác sang chiếc ô bảo trợ về an ninh của Mỹ và các cường quốc bên ngoài khác như Nhật Bản và Ấn Độ. Thứ hai, Bắc Kinh thường xuyên phải đối mặt với những tranh chấp biển đảo khó khăn với Nhật Bản ở Biển Hoa Đông. Thách thức ở Biển Hoa Đông cũng không kém phần phức tạp hơn tranh chấp Biển Đông. Thật ra trong những năm gần đây, giữa Trung Quốc và Nhật Bản đã xuất hiện nhiều tình huống khủng hoảng. Nhật Bản là một đối thủ mạnh hơn nhiều, cả về sức mạnh kinh tế và quân sự lẫn trong lĩnh vực hàng hải so với Trung Quốc. Thách thức đối với Trung Quốc là làm thế nào để tránh xảy ra leo thang xung đột trên biển cùng một lúc cả ở phía Đông và phía Nam. Điều này có nghĩa là Trung Quốc phải ứng xử cẩn thận ở Biển Đông để tránh một cuộc đối đầu từ hai phía trên biển. Thứ ba và có lẽ quan trọng nhất là lãnh đạo cấp cao Trung Quốc đang có một thái độ tỉnh táo, coi sự phát triển kinh tế xã hội trong nước là nhiệm vụ trung tâm trong những thập kỷ tới. Giới lãnh đạo Trung Quốc tin chắc rằng, môi trường hòa bình ổn định đặc biệt là trong các nước láng giềng Đông Á là không thể thiếu cho sự phát triển kinh tế bền vững từ đó giữ vững tính chính danh của giới cầm quyền hiện nay ở Trung Quốc.
Trong bối cảnh chiến lược rộng lớn hơn này, Bắc Kinh đã theo đuổi, và có thể sẽ tiếp tục theo đuổi chính sách an ninh khá ôn hòa ở Biển Đông. Nhu cầu phát triển kinh tế xã hội trong nước, tầm quan trọng của Đông Nam Á trong tổng thể chiến lược quốc tế, và chính sách khu vực của Trung Quốc cùng với sức ép chiến lược từ các cường quốc lớn - đặc biệt là Hoa Kỳ- đã tạo thành “một chính sách ôn hòa có tính toán” của Trung Quốc ở Biển Đông như đã bàn ở trên. Nhiều khả năng, những nhân tố đã khiến Trung Quốc áp dụng xu hướng hợp tác sẽ tiếp tục tồn tại và phát huy tác dụng. Không có dấu hiệu cho thấy Trung Quốc sẽ mạo hiểm hy sinh sự tăng trưởng kinh tế trong nước để tiến hành cách tiếp cận vũ lực đối với tranh chấp Biển Đông. Thậm chí, nhận thức về môi trường chiến lược của Trung Quốc gần đây về cơ bản chưa có gì thay đổi. Sách Xanh Châu Á – Thái Bình Dương 2010 do Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc xuất bản hồi tháng Tư kết luận rằng tình hình an ninh của Trung Quốc ở khu vực các nước láng giềng chưa được cải thiện chút nào. Sách cho rằng việc các cường quốc ở Đông Á tăng cường nỗ lực kiềm chế Trung Quốc và sự lo ngại Trung Quốc của các quốc gia nhỏ hơn trong khu vực đang ngày càng tăng do “nhận thức sai lệch của họ về sự trỗi dậy của Trung Quốc”. Cuốn sách đề nghị Bắc Kinh nên đối phó với môi trường an ninh này bằng cách áp dụng những chính sách sau: tăng cường sức mạnh của Trung Quốc, ổn định quan hệ Trung – Mỹ, theo đuổi chính sách láng giềng tốt để mở rộng ảnh hưởng của Trung Quốc trong khu vực láng giềng, và xây dựng quyền lực mềm để cải thiện hình ảnh của Trung Quốc trong khu vực. Việc các tàu tuần tra của Trung Quốc không sử dụng vũ lực đối với tàu cá của các nước khác trong cuộc tuần tra tháng Tư đã cho thấy Trung Quốc vẫn rất thận trọng trong những tham vọng mở rộng những lợi ích của mình. Mặc dù các hoạt động tuần tra ở khu vực Trường Sa (A: Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd) nay đã trở thành thường xuyên, Bắc Kinh vẫn có những biện pháp phòng tránh các cuộc đụng độ và những xích mích nhỏ có thể leo thang dẫn đến xung đột.
Mặc dù còn ở quy mô hạn chế, thái độ ngày càng cương quyết của Trung Quốc có thể gây sức ép khiến các nước tranh chấp khác phải xem xét nghiêm túc hơn các cơ chế hợp tác, như hợp tác chức năng hay “cùng phát triển”. Sáng kiến về các kế hoạch cùng có lợi của Trung Quốc chắc chắn sẽ giúp thúc đẩy sự hợp lâu dài giữa các bên tranh chấp. Một ví dụ rõ ràng về thiện ý của Trung Quốc là việc phân định Vịnh Bắc Bộ giữa Trung Quốc và Việt Nam. Theo hiệp định Trung Quốc và Việt Nam lần lượt được 46,77 và 53,23 % diện tích Vịnh. Hai nước đã đồng ý thiết lập vùng đánh cá chung và cùng thăm dò các nguồn năng lượng dọc đường ranh giới. Ngày 16 tháng 11 năm 2006, CNOOC và PetroVietnam đã ký thỏa thuận cùng thăm dò trữ lượng năng lượng ở khu vực hai bên đã thống nhất trong Vịnh Bắc Bộ. Việc phân định thành công Vịnh Bắc Bộ có thể là một ví dụ tốt cho việc Trung Quốc đang thúc đẩy những mục tiêu có thiện ý hơn ở Biển Đông.
Để thúc đẩy những thỏa thuận cùng có lợi, có một bước mà Trung Quốc cần cam kết là làm rõ hơn quan điểm về các yêu sách của nước này ở Biển Đông. Nhiều năm qua, Bắc Kinh đã đẩy mạnh chương trình “cùng phát triển” ở Biển Đông. Nhưng đồng thời, thỉnh thoảng Trung Quốc lại đòi hỏi rằng các quốc gia tranh chấp khác phải công nhận chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông như một điều kiện tiên quyết. Như ta có thể hình dung, các quốc gia khu vực thẳng thừng từ chối chấp nhận điều kiện tiên quyết của Trung Quốc. Thật ra, điều kiện đòi phải thừa nhận “chủ quyền của tôi” của Trung Quốc là một chướng ngại lớn cho bất cứ chương trình “cùng khai thác” nào. Với sự đồng thuận đang xuất hiện giữa các học giả Trung Quốc về xác định đường chữ U cùng với những thực tiễn song phương và đa phương ở Biển Đông, Trung Quốc có thể xác định rõ hơn những hệ lụy của đường chữ U và bắt đầu triển khai một cách linh hoạt điều kiện “lãnh thổ của tôi”của nước này .
Nhiều nhà phần tích cho rằng tốt hơn, Bắc Kinh nên đưa ra lời giải thích rõ ràng về đường chữ U càng sớm càng tốt trong bối cảnh các nước yêu sách khác đã tuyên bố EEZ (vùng đặc quyền kinh tế) và thềm lục địa của họ ở Biển Đông và tích cực khai thác các nguồn dầu và khí thiên nhiên trong vùng biển này. Các cuộc đàm phán đang diễn ra với Việt Nam về phân định vùng biển và khai thác tài nguyên ở nam Vịnh Bắc Bộ đã làm tăng thêm tính cấp bách của việc giải thích rõ ràng quan điểm về đường chữ U của Trung Quốc. Các nhà phân tích Trung Quốc nhận thức được tầm quan trọng của việc thực thi quyền tài phán liên tục trên thực tế trong các cuộc phân xử quốc tế về phân chia quyền sở hữu các đảo. Họ cho rằng những cuộc tuần tra có tính chính thức năm 2009 phù hợp với mục tiêu củng cố quyền tài phán trên các đảo và vùng nước ở Biển Đông. Tuy nhiên họ cũng cảnh báo rằng Trung Quốc sẽ phải công bố đường cơ sở trên biển ở quần đảo Trường Sa (A: Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd) cùng với EEZ (vùng đặc quyền kinh tế) và thềm lục địa của nước này. Tất cả các biện pháp này đều cấp bách vì những cuộc tuần tra của Trung Quốc giờ đây đã trở nên thường xuyên, và sẽ phải dựa trên nền tảng pháp lý vững chắc. Không có những cơ sở pháp lý này, các đội tuần tra Trung Quốc khó có thể xác định được giới hạn tuần tra của họ để có những hành động phù hợp bảo vệ quyền lợi trên biển của Trung Quốc ở khu vực Trường Sa (A:Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd).
Thay vì yêu sách toàn bộ khu vực Biển Đông, phần lớn các học giả Trung Quốc cho rằng Trung Quốc được hưởng “những quyền lịch sử” ở Biển Đông. Tranh luận nhiều năm giữa các học giả Trung Quốc đã đưa đến một cách hiểu rõ ràng hơn về nội dung “những quyền lịch sử” này. Trước hết, nhiều nhà phân tích Trung Quốc cho rằng Trung Quốc có ít cơ sở pháp lý để tuyên bố chủ quyền trên toàn bộ khu vực Biển Đông. Nói cách khác, “những quyền lịch sử” không có nghĩa là chủ quyền chính thức trên toàn bộ Biển Đông. Một nhóm các nhà nghiên cứu tại Vụ “Nam Hải” (Biển Đông – nd) của Cục Quản lý Nhà nước về Tài nguyên Biển (Trung Quốc) cho rằng đường chữ U nên chỉ biểu thị Trung Quốc sở hữu các đảo ở Biển Đông bởi vì đó là ý định ban đầu của chính quyền Trung Quốc năm 1947- 48 khi vẽ đường này. Họ tin rằng chỉ có quan điểm này mới phù hợp với những tuyên bố của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (PRC) và luật biển quốc tế hiện nay. Họ lập luận thêm rằng những lợi ích của Trung Quốc sẽ không bị thỏa hiệp quá nhiều vì nếu những hòn đảo này thuộc quyền sở hữu của Trung Quốc, chúng sẽ có lãnh hải, EEZ (vùng đặc quyền kinh tế), và thềm lục địa. Li Linghua, một nhà nghiên cứu thuộc Trung tâm Thông tin Biển Nhà nước (State Ocean Information Center), cho rằng đường cơ sở của Trung Quốc ở Hoàng Sa (A: Paracel Islands, TQ: Xisha/Tây Sa – nd) không phù hợp với UNCLOS và Trung Quốc nên nghiêm chỉnh tuân theo những nguyên tắc của UNCLOS khi công bố đường cơ sở của quốc gia này ở Trường Sa (A:Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd). Theo cách hiểu này, Trung Quốc sẽ yêu sách toàn bộ lãnh thổ trên các đảo và bãi đất khác, chấp nhận những điều khoản của UNCLOS cho vùng nước xung quanh các đảo và có “những quyền lịch sử” đối với các nguồn tài nguyên ngoài EEZ (vùng đặc quyền kinh tế) nhưng trong đường chữ U. Tuy nhiên vẫn chưa rõ các nhà phân tích Trung Quốc sẽ giải thích “những quyền lịch sử” ở Biển Đông như thế nào.
Chính phủ Trung Quốc đã nhiều lần tuyên bố rằng nước này yêu sách chủ quyền trên khắp các đảo và quyền chủ quyền trên khắp vùng nước bao quanh chúng ở Biển Đông. Chưa rõ Trung Quốc sẽ xác định giới hạn của “vùng nước bao quanh” như thế nào. Trung Quốc cũng đệ trình bản đồ Biển Đông với đường chữ U lên Uỷ ban Ranh giới thềm lục địa của Liên Hợp Quốc năm 2009 mà không giải thích cơ sở pháp lý và những hàm ý của đường này. Điều này làm tăng thêm mối quan ngại rằng Trung Quốc sẽ áp dụng sự mập mờ có tính toán trong những yêu sách của nước này ỏ Biển Đông. Nếu Trung Quốc có thể tuyên bố rõ ràng hơn rằng nước này không đòi chủ quyền đối với toàn bộ Biển Đông, nước này có thể bỏ đi điều kiện “chủ quyền của tôi” để tiến tới “cùng khai thác”. Trên thực tế, Trung Quốc đã thể hiện sự linh hoạt đáng kể trong điều kiện “chủ quyền của tôi” của nước này. Các tuyên bố và hành động của Trung Quốc đã làm yếu đi đáng kể nền tảng mà dựa trên đó Trung Quốc có thể tuyên bố vùng Biển Đông nằm trong đường chữ U là một phần lãnh thổ truyền thống hay vùng nước lịch sử của Trung Quốc. Trong nhiều tuyên bố chính thức, Bắc Kinh chỉ yêu sách “chủ quyền và quyền chủ quyền trên khắp các đảo và vùng nước bao quanh” ở Biển Đông. Trung Quốc đã công khai tuyên bố rằng nước này sẽ cho phép tự do liên lạc quốc tế ở Biển Đông, bao gồm giao thông hàng hải, các chuyến bay trên vùng trời Biển Đông, và lắp đặt cáp quang và đường ống dẫn dưới đáy biển. Chương trình nghiên cứu địa chấn chung giữa Trung Quốc - Phi-líp-pin - Việt Nam, về cơ bản là một phần của sáng kiến “cùng phát triển”, không đòi hỏi công nhận chủ quyền của Trung Quốc trong khu vực đang nghiên cứu. Trung Quốc đã chấp nhận “cùng khai thác” trong EEZ (vùng đặc quyền kinh tế), thềm lục địa của nước này ở Biển Hoa Đông với Nhật Bản và trong Vịnh Bắc Bộ với Việt Nam; trong cả hai trường hợp, Trung Quốc không yêu cầu bên khác thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc như một điều kiện tiên quyết. Trung Quốc cũng dứt khoát bác bỏ đề xuất của Việt Nam coi Vịnh Bắc Bộ là vùng nước lịch sử trong khi đàm phán phân định ranh giới. Trung Quốc hiện đang đàm phán với Việt Nam về chương trình “cùng phát triển” trong khu vực phía nam của Vịnh Bắc Bộ, một bộ phận của Biển Đông.
Nếu Trung Quốc quả thực giải thích yêu sách lịch sử ở Biển Đông như các nhà phân tích đề xuất, nước này không cần phải nhấn mạnh việc thừa nhận “lãnh thổ của tôi” như một điều kiện tiên quyết để “cùng phát triển”. Việc nhấn mạnh “lãnh thổ của tôi” trái với quan điểm “gác tranh chấp”. Thật ra tất cả các bên tranh chấp khác cũng có thể bỏ đi quan điểm của họ về chủ quyền trong các đề xuất khai thác chung vì UNLOS quy định không nước nào có chủ quyền ngoài giới hạn 12 hải lý lãnh hải. Suy cho cùng kế hoạch “cùng phát triển” không liên quan đến các đảo. Nếu Trung Quốc đi tiên phong trong việc giảm yêu sách chủ quyền ở các vùng nước trên Biển Đông, nước này sẽ xóa bỏ đáng kể rào cản của kế hoạch “cùng phát triển”.
Quan điểm rõ ràng hơn của Trung Quốc về yêu sách ở Biển Đông và thiện chí thúc đẩy những mục tiêu có thiện ý của nước này, ví dụ trạng thái cùng có lợi thực sự, sẽ tạo điểu kiện thuận lợi cho các đàm phán nghiêm túc những đề xuất lớn đã được nêu ra. Xue Li, nhà phân tích chiến lược cấp cao của Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc, đề xuất một Tổ chức Phát triển Năng lượng Trường Sa gồm cả bảy bên tranh chấp cùng thăm dò và khai thác các nguồn năng lượng ở khu vực Trường Sa (A:Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd). Một số học giả Trung Quốc cũng tin rằng thiết lập Vòng cung kinh tế Biển Đông sẽ là một ý tưởng hay. Việc giảm hơn nữa vấn đề chủ quyền ở Biển Đông sẽ giúp đẩy nhanh tiến bộ trong việc hình thành Vùng Kinh tế Vịnh Bắc Bộ (Pan-Beibu), kế hoạch mà chính quyền Trung Quốc muốn đẩy mạnh. Cùng phát triển và hội nhập kinh tế chặt chẽ hơn ở Biển Đông có thể giúp tăng cường hiểu biết, dần xây dựng sự đồng thuận thông qua hợp tác để một ngày trong tương lai, các bên có thể tìm ra những biện pháp thiết thực hơn để giải quyết dứt điểm một lần tất cả các vấn đề. Thậm chí các bên còn có thể đưa những tranh chấp lên trọng tài quốc tế trong tương lai.
Kết luận
Tranh chấp Biển Đông là vấn đề cực kỳ phức tạp. Rõ ràng, trông đợi một giải pháp cuối cùng trong tương lai gần là không thực tế. Trong những năm qua, tranh cãi giữa các bên yêu sách chưa bao giờ dừng lại. Bất cứ bước đi nào của một bên, dù chỉ là hành động tượng trưng để thể hiện quyền tài phán trên thực tế hay khai thác các đảo hoặc các vùng nước cho mục đích kinh tế, đều dẫn đến những phản ứng ngoại giao mạnh mẽ từ các bên khác. Tuy nhiên, những xích mích thường xuyên không làm lu mờ sự thực là các nước liên quan đã kiểm soát khá tốt tranh chấp trong thập niên qua. Không xảy ra xung đột quân sự lớn nào, và thực tế đã có một số tiến triển tích cực trong khu vực. Rõ ràng là các bên liên quan vẫn muốn tìm kiếm những cơ chế hợp tác để cải thiện tình trạng an ninh căng thẳng trong khu vực. Điều này tạo môi trường khu vực thuận lợi để Trung Quốc đẩy mạnh hơn nữa các kế hoạch hợp tác ở Biển Đông.
Điều chắc chắn là, không bên nào sẽ dễ dàng từ bỏ yêu sách của mình ở Biển Đông. May thay, lãnh đạo các nước đã nhận ra nguy cơ xung đột leo thang và đã quyết định tìm các biện pháp để duy trì ổn định chung của khu vực. Cuối cùng thì những người ra quyết định chính trị sẽ phải nhận ra rằng không quốc gia nào có yêu sách hoàn hảo ở Biển Đông. Việc tất cả các nước yêu sách đều đồng ý rằng có tồn tại tranh chấp ở Biển Đông thể hiện rằng những yêu sách này là không hoàn toàn vô căn cứ. Điều này nên là nền tảng cho hợp tác lâu dài.
Trung Quốc chắc chắn sẽ đóng vai trò cốt yếu trong việc quyết định sẽ có chiến tranh hay hợp tác ở Biển Đông. Khi sức mạnh hải quân, khả năng thực thi luật pháp và lợi ích kinh tế biển của nước này tăng lên, Trung Quốc có thể trở nên cứng rắn hơn trong những năm tới. Những cuộc tuần tra của PLAN (Hải Quân Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc) trong Vịnh Ê-đen dường như đã góp phần làm tăng sự tự tin của Trung Quốc trong việc thực hiện chính sách cứng rắn hơn ở Biển Đông. Nhưng cùng lúc Bắc Kinh sẽ nhận ra rằng nước này còn có những lợi ích chiến lược và chính trị thậm chí quan trọng hơn cần tính đến. Hiện tại, chưa rõ Trung Quốc sẽ đòi hỏi quyền lợi ở Biển Đông như thế nào, nhưng rất có thể, giới lãnh đạo Trung Quôc sẽ thường xuyên thử phản ứng từ các bên để tiếp tục hành động một cách phù hợp. Sự biểu hiện cũng như sự gia tăng thái độ cương quyết của Trung Quốc có vẻ sẽ khiêm tốn và có giới hạn.
Cùng lúc, tâm lý bao trùm ở Trung Quốc là ủng hộ hợp tác để ổn định Biển Đông. Trung Quốc đang tăng cường khả năng để đối phó với những vấn đề an ninh phi truyền thống trong vùng biển. Nước này có thể đóng vai trò tích cực hơn trong tất cả các thách thức an ninh phi truyền thống ở Biển Đông. Trung Quốc có thể nỗ lực hành động đơn phương trong vấn đề này nếu các nước khác ngần ngại tham gia. Thật ra, Trung Quốc thậm chí có thể cố lấy lý do ngăn chặn các mối đe dọa an ninh phi truyền thống để thúc đẩy lợi ích của nước này ở Biển Đông. Sự chủ động của Trung Quốc ở Biển Đông có thể tạo ra tình thế tiến thoái lưỡng nan cho các nước khác. Các nước này có thể chống lại những những động thái cứng rắn của Trung Quốc, đơn phương hay đa phương hoặc thậm chí với sự hỗ trợ của một số cường quốc bên ngoài. Hậu quả của việc này sẽ làm trầm trọng thêm tình hình an ninh ở Biển Đông và ảnh hưởng xấu đến quan hệ giữa Trung Quốc và Đông Nam Á. Các nước này cũng có thể chọn tham gia với Trung Quốc để cùng giải quyết những thách thức khác nhau trên biển và thậm chí có thể đồng ý khai thác chung các nguồn năng lượng và tài nguyên thiên nhiên khác ở Biển Đông.
Trong cả hai trường hợp, những động lực mới có thể xuất hiện ở Biển Đông. Trên phạm vi rộng, tình trạng an ninh cuối cùng ở Biển Đông sẽ được hình thành bởi những hành động của Trung Quốc. Sau một thập niên thực hiện chính sách an ninh ôn hòa ở Biển Đông, xây dựng sự đồng thuận về tính chất và phạm vi tuyên bố của mình, và xúc tiến những thỏa thuận cùng có lợi với những quốc gia láng giềng ven biển của nước này, giờ đây Trung Quốc đã có thêm khả năng và sự linh hoạt để đưa ra những chương trình có thiện ý hơn và thúc đẩy lợi ích chung ở Biển Đông. Nếu quan điểm hợp tác trội hơn ở Trung Quốc, và các quốc gia khu vực thấy có lợi hơn khi hưởng ứng tích cực những đề xuất hợp tác, chúng ta có thể hy vọng rằng hòa bình và ổn định ở Biển Đông sẽ được duy trì ít nhất là trong thập kỷ tới.
Li Mingjiang là phó giáo sư của Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam, Đại học Công Nghệ Nanyang, Xin-ga-po. Lĩnh vực nghiên cứu chính của ông gồm sự trỗi dậy của Trung Quốc trong bối cảnh quan hệ khu vực Đông Á và Quan hệ Trung - Mỹ, lịch sử ngoại giao Trung Quốc, các nhân tố nội bộ trong việc hình thành các chiến lược quốc tế của Trung Quốc. Ông nhận bằng Tiến sĩ Khoa học Chính trị tại Đại học Boston. Ông đã từng học tại Đại học Ngoại Giao (Bắc Kinh) và Trung Tâm Hopkins-Nanjing. Ông cũng đã từng là phóng viên ngoại giao cho Tân Hoa Xã từ năm 1999 đến 2001. isjli@ntu.edu.sg
Li Ming jiang, phó giáo sư của Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam, Đại học Công Nghệ Nanyang, Xin-ga-po.
Người dịch: Nguyễn Văn Bình
Hiệu đính: Hoàng Thị Tuấn Oanh
Bản gốc tiếng Anh "China’s South China Sea delimma- Balancing sovereignty, development and security"
Bài viết trích trong " Security and International Politics In the South China Sea ", Chủ biên: Sam Bateman, Ralf Emmers, năm 2009.
Đề nghị chỉ được dẫn đường link mọi thông tin, bài viết trên www.nghiencuubiendong.vn, không đăng lại khi chưa có sự đồng ý của Ban Biên tập NCBĐ.
Thứ năm, 19 Tháng 5 2011
Viết bởi nguyen viet
Bài viết của PGS. Li Ming Jiang, Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam, Đại học Công Nghệ Nanyang, Xin-ga-po, nêu lên quan điểm của Trung Quốc đối với tầm quan trọng của Biển Đông. Sau đó, bài viết đánh giá những thay đổi trong chính sách của Trung Quốc đối với vấn đề Biển Đông trong thập niên vừa qua

Trung Quốc đáng được xem là bên quan trọng nhất trong tranh chấp Biển Đông. Tính chất và phạm vi yêu sách của Trung Quốc, tình hình an ninh, các hoạt động quân sự và kinh tế của nước này trong khu vực luôn tác động sâu sắc đến diễn biến tranh chấp trong những thập niên qua. Bài viết này thảo luận về cuộc tranh cãi xung quanh chính sách của Trung Quốc đối với vấn đề Biển Đông. Nghiên cứu cho thấy sự cân bằng giữa thái độ ngày càng cương quyết và mong muốn hợp tác của Trung Quốc sẽ trở thành một thách thức trong việc hoạch định chính sách [đối với Trung Quốc và các bên tranh chấp khác].
Trung Quốc đáng được xem là bên quan trọng nhất trong tranh chấp Biển Đông. Tính chất và phạm vi yêu sách của Trung Quốc, tình hình an ninh, các hoạt động quân sự và kinh tế của nước này trong khu vực luôn tác động sâu sắc đến diễn biến tranh chấp trong những thập niên vừa qua. Dĩ nhiên, Trung Quốc sẽ vẫn tiếp tục là nhân tố chủ yếu của bất cứ diễn biến lớn nào ở Biển Đông trong tương lai gần. Do đó, việc hiểu những động thái có thể của Bắc Kinh trong tranh chấp là một yêu cầu chính đáng và rất quan trọng.
Bài viết này mô tả và phân tích những quan điểm và xu hướng mới đang xuất hiện ở Trung Quốc liên quan đến vấn đề Biển Đông, đặc biệt là sự tương tác giữa thái độ ngày càng cương quyết và những nỗ lực thúc đẩy các biện pháp hợp tác. Trước tiên, bài viết điểm qua quan điểm của Trung Quốc đối với tầm quan trọng của Biển Đông. Sau đó, bài viết đánh giá những thay đổi trong chính sách của Trung Quốc đối với vấn đề Biển Đông trong thập niên vừa qua. Căn cứ vào thực tế rằng Trung Quốc ngày càng tỏ rõ sự khao khát các nguồn năng lượng ở Biển Đông và nước này đang phát triển nhanh chóng tiềm lực hải quân, trong những năm tới có vẻ Bắc Kinh sẽ trở nên cương quyết hơn ở Biển Đông (ví dụ tuần tra thường xuyên và với mật độ dày hơn ở khu vực Trường Sa (A: Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd) và có các biện pháp mạnh hơn để bảo vệ quyền lợi của Trung Quốc trong khu vực). Nói chung, những biện pháp này được quân đội và các cơ quan thực thi pháp luật ủng hộ. Những hành động cứng rắn như thế của Trung Quốc chắc chắn sẽ gây ra những mối quan ngại mới trong các nước Đông Nam Á và dẫn đến các biện pháp đáp trả trong một bộ phận các quốc gia khu vực, có lẽ cùng với những hỗ trợ ngấm ngầm hoặc công khai từ các cường quốc bên ngoài. Tuy nhiên, trong bối cảnh những mối quan tâm chiến lược của Trung Quốc chủ yếu là Đông Á và các lãnh đạo nước này đang quan tâm nhất tới việc phát triển kinh tế quốc nội, nhiều khả năng Trung Quốc sẽ giới hạn hành vi của mình trong một chừng mực có thể để tránh leo thang tranh chấp.
Trong khi đó, quan điểm chiếm ưu thế, được phe dân sự trong cộng đồng hoạch định chính sách đối ngoại ở Trung Quốc, gồm phần lớn các học giả ủng hộ, là giữ nguyên hiện trạng hoặc đẩy mạnh hợp tác hơn ở Biển Đông. Thật vậy, ngày càng có nhiều lời kêu gọi Trung Quốc đóng một vai trò tích cực hơn trong những chương trình hợp tác ở Biển Đông, như hợp tác đa phương về những vấn đề an ninh phi truyền thống và cùng khai thác các nguồn tài nguyên. Để đưa được các bên đang tranh chấp vào các chương trình hợp tác, Bắc Kinh sẽ phải thể hiện rõ hơn quan điểm của nước này trong tranh chấp và sẵn sàng chủ động thúc đẩy những đề xuất các bên cùng có lợi. Tôi nhận định trong bài này rằng Trung Quốc đã chuẩn bị tiến hành cả hai việc chủ yếu bởi vì đang xuất hiện sự đồng thuận trong cuộc tranh luận nội bộ về bản chất và phạm vi yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông cũng như những hệ quả pháp lý và chính sách từ chính những hành động mà Trung Quốc đã thực hiện đối với tranh chấp trong những thập niên qua.
Nhiều năm qua, Trung Quốc vẫn luôn than vãn rằng các bên tranh chấp khác đã không tích cực hưởng ứng đề xuất cùng phát triển của nước này ở Biển Đông. Có nhiều lý do dẫn đến sự thất bại này. Một phần là do thỉnh thoảng Trung Quốc lại đòi các bên khác phải công nhận điều kiện tiên quyết về “chủ quyền của chúng tôi”. Một phần khác là vì lý do kỹ thuật, ví dụ việc xác định các chương trình hợp tác cụ thể hay khả năng của các bên trong việc tiến hành hợp tác. Ngoài ra, tình hình chính trị nội bộ của nhiều bên cũng có tác động tiêu cực đối với việc thúc đẩy hợp tác đa phương ở Biển Đông. Liệu thái độ ngày càng cương quyết của Trung Quốc cùng với những nỗ lực trong việc thúc đẩy các chương trình hợp tác của nước này có tạo ra những động lực mới trong vấn đề tranh chấp Biển Đông phức tạp này không? Liệu các nước khu vực có cảm thấy sức ép từ Trung Quốc và hưởng ứng cách tiếp cận đang thay đổi của nước này bằng cách đánh giá nghiêm túc hơn các chương trình hợp tác hay họ sẽ đáp lại bằng các biện pháp chống trả quyết liệt hơn? Sẽ là mạo hiểm nếu đưa ra bất cứ câu trả lời rõ ràng nào cho những câu hỏi này bởi vì có quá nhiều điều bất định trong tranh chấp. Căn cứ vào diễn biến tranh chấp trong thập niên qua, tôi kết luận có hai xu hướng - sự cương quyết ngày càng tăng của Trung Quốc, chủ yếu gần như chỉ mang tính biểu tượng, và lợi ích ngày càng tăng trong việc thúc đẩy hợp tác – có khả năng tạo ra động lực mới trong tranh chấp Biển Đông. Trong những năm tới, Trung Quốc sẽ gặp phải thách thức trong việc làm thế nào để điều hòa giữa khuynh hướng thể hiện một lập trường ngày càng cương quyết hơn và thiện chí chính trị hợp tác hiện nay của nước này. Đây cũng sẽ là thách thức cho các nước Đông Nam Á có yêu sách trong việc đối phó với cách tiếp cận tranh chấp đang thay đổi của Trung Quốc.
Biển Đông trong Hoạch định Chiến lược của Trung Quốc
Cũng như đối với các bên tranh chấp khác, các nguồn năng lượng ở Biển Đông có lẽ là điều hấp dẫn lớn nhất đối với Trung Quốc. Tuy nhiên, có lẽ khác với các các nước tranh chấp khác, Trung Quốc coi tầm quan trọng chiến lược của khu vực là dầu khí: các nhà phân tích Trung Quốc xem tài nguyên thiên nhiên ở Biển Đông như nhu cầu có tính quyết định đối với tương lai của nền kinh tế Trung Quốc. Kể từ khi trở thành một nước nhập khẩu ròng dầu lửa năm 1993, nhu cầu năng lượng của Trung Quốc luôn tăng. Tại cuộc họp của chính quyền trung ương về các vấn đề kinh tế ngày 29 tháng 11 năm 2003, chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào đã nhấn mạnh vấn đề an ninh dầu lửa của nước này. Ông kêu gọi các cộng sự của mình xem xét vấn đề năng lượng từ một tầm cao chiến lược mới, đưa ra một chiến lược phát triển dầu lửa mới và tiến hành các biện pháp hữu hiệu để đảm bảo an ninh năng lượng của Trung Quốc. Biển Đông, thường được gán cho cái tên “Vịnh Ba Tư thứ hai” trong các báo cáo của Trung Quốc, được xem như một trong 10 nguồn cung dầu khí chiến lược quan trọng nhất của nước này.
Trong tình hình này, không có gì ngạc nhiên khi Trung Quốc tỏ ra khá khó chịu trước việc các nước tranh chấp khác khai thác tài nguyên năng lượng ở Biển Đông. Trung Quốc cho rằng bắt đầu từ những năm 1980 các nước tranh chấp khác đã lợi dụng tình trạng yếu kém về công nghệ và thiếu nguồn tài chính của Trung Quốc để đẩy mạnh nỗ lực khoan tìm các nguồn năng lượng trong khu vực. Các nhà quan sát Trung Quốc thường xuyên phàn nàn rằng các quốc gia tranh chấp khác đã xây dựng hơn một nghìn giếng dầu ở Biển Đông, và số lượng dầu khí các nước này sản xuất từ cá dự án này gấp vài lần sản lượng dầu khí ngoài khơi của Trung Quốc. Các nhà phân tích Trung Quốc than vãn rằng thậm chí Bắc Kinh chưa xây dựng được một giàn khoan và sản xuất lấy được một thùng dầu nào ở khu vực Quần đảo Trường Sa (A: Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd). Họ thấy rằng thật trớ trêu khi trên thực tế Trung Quốc phải nhập khẩu một khối lượng dầu lớn của các nước đang bơm dầu lên từ Biển Đông.
Còn một cân nhắc quan trọng nữa mà đối với Trung Quốc cũng là vấn đề chiến lược. Biển Đông kết nối Eo biển Ma-lắc-ca ở phía tây nam với Kênh đào Balintang, Kênh đào Bashi và Eo biển Đài Loan ở phía đông bắc, được coi như là “con đường huyết mạch” giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Các nhà phân tích Trung Quốc cho rằng Biển Đông có tầm quan trọng đặc biệt với Trung Quốc. Thứ nhất, Biển Đông được xem như tấm lá chắn tự nhiên đối với an ninh Trung Quốc ở phía nam. Các vùng miền nam Trung Quốc có đông dân và tương đối phát triển. Thứ hai, có một chỗ đứng vững chắc ở Biển Đông sẽ tạo cho vùng nội địa Trung Quốc một tuyến phòng thủ chiến lược hơn 1000 km, ý nghĩa an ninh của nó là không thể kể hết được.
Uy thế về an ninh của Trung Quốc ở Biển Đông sẽ có tác dụng như một nhân tố kiểm chế đối với Hạm đội Bảy của Mỹ đang tích cực hoạt động ở Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Thứ ba, về mặt địa lý, Trung Quốc bị bao quanh bởi chuỗi đảo phía đông. Trong bối cảnh Mỹ luôn có ý định duy trì sự hiện diện quân sự hùng mạnh ở Tây Thái Bình Dương, Bắc Kinh thấy rằng một chỗ đứng vững chắc ở Biển Đông ít nhất sẽ cho Trung Quốc thêm nhiều không gian di chuyển chiến lược hơn. Thứ tư, các nhà chiến lược Trung Quốc tin rằng, về địa chiến lược, Trung Quốc có thể bị tấn công từ cả đất liền và biển. Tính dễ bị tổn thương từ hai phía đã được cải thiện tới một mức độ nhất định sau khi Trung Quốc đã giải quyết các tranh chấp biên giới trên đất liền với tất cả các nước láng giềng của nước này, ngoại trừ Ấn Độ và Bu-tan. Họ cho rằng những thách thức đối với chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc trong tương lai sẽ chủ yếu đến từ biển, bao gồm Biển Đông.
Kinh tế biển cũng là một nhân tố quan trọng trong các tính toán của Bắc Kinh. Nghành đánh bắt hải sản đã trở thành một phần quan trọng trong đời sống kinh tế người dân một số tỉnh duyên hải Trung Quốc tiếp giáp với Biển Đông, ví dụ Quảng Đông, Hải Nam, và Quảng Tây. Bắc Kinh đã bắt đầu chú ý nhiều hơn đến phát triển kinh tế biển. Một nhà nghiên cứu cấp cao của Cục Quản lý Nhà nước về Tài Nguyên Biển [State Ocean Administration] chỉ ra rằng biển đã trở thành một khu vực quan trọng trong cuộc đua về sức mạnh quốc gia và lợi thế chiến lược dài hạn. Trung Quốc đã nhận thấy rằng kinh tế biển của nước này chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong nền kinh tế tổng thể của nước này. Theo một nguồn thông tin của Trung Quốc, kinh tế biển chiếm 3,4 % tổng thu nhập quốc dân của Trung Quốc (GDP) năm 2002, thấp hơn nhiều các cường quốc biển phương Tây.
Giống như các nước tranh chấp khác, Biển Đông cũng quan trọng với Trung Quốc vì có nhiều tuyến đường hàng không và các tuyến liên lạc hàng hải. Biển Đông là cửa ngõ giao thông quan trọng ra eo biển Ma-lắc-ca, có vị trí rất quan trọng đối với an ninh năng lượng của Trung Quốc. Các nhà phân tích Trung Quốc thường đề cập đến một thực tế là khoảng bốn phần năm số lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc phải đi qua eo biển Ma-lắc-ca rồi sau đó đi qua Biển Đông.
Những Yêu sách Lịch sử của Trung Quốc ở Biển Đông
Như đã được biết đến rộng rãi trong cộng đồng học thuật, yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông chủ yếu chủ yếu dựa trên những nền tảng lịch sử. Các nhà phân tích Trung Quốc chủ yếu biện luận rằng Trung Quốc là nước đầu tiên khám phá và sử dụng những hòn đảo và tài nguyên ở Biển Đông. Họ cho rằng tổ tiên của người Trung Quốc đã phát hiện ra những hòn đảo ở Biển Đông vào thời nhà Hán ở Trung Quốc, thế kỷ thứ hai trước Công nguyên. Vào thời Tam Quốc thế kỷ thứ ba, một đoàn sứ thần Trung Quốc đến Cam-pu-chia (lúc bấy giờ theo tiếng Trung Quốc gọi là Fu Nan - Phù Nam) đã có những mô tả vắn tắt về Hoàng Sa (A: Paracel Islands, TQ: Xisha/Tây Sa – nd) và Trường Sa (A: Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd) trong một cuốn sách bằng tiếng Trung Quốc. Dưới thời Tống và Nguyên (thế kỷ 10 - 14), nhiều tài liệu chính thức và không chính thức của Trung Quốc dường như chỉ ra rằng khu vực Biển Đông nằm trong đường biên giới quốc gia Trung Quốc. Trong thời Minh và Thanh, nhiều bản đồ chính thức tính cả Trường Sa (A: Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd) vào lãnh thổ Trung Quốc. Chính quyền nhà Thanh đã có hành động thể hiện quyền tài phán đối với Hoàng Sa (A: Paracel Islands, TQ: Xisha/Tây Sa – nd) trong những năm đầu thế kỷ 20.
Người Trung Quốc cũng thường tuyên bố rằng ngư dân Trung Quốc đã khai thác tài nguyên hải sản ở Biển Đông nhiều thế kỷ và giữ những bản ghi chép tỉ mỉ về các tuyến hàng hải và tên các hòn đảo, đảo nhỏ và các bãi ngầm ở Biển Đông. Nhiều ngư dân Trung Quốc đã sống và được chôn cất trên một số hòn đảo ở Trường Sa (A: Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd). Khi các nhà thám hiểm Nhật Bản bắt đầu đến Trường Sa (A: Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd) vào cuối những năm 1910 và kế tiếp là người Pháp vào đầu những năm 1930, họ đã bắt gặp một số ngư dân Trung Quốc ở Trường Sa (A: Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd) và rất nhiều bằng chứng cho thấy những ngư dân Trung Quốc này đã dùng những đảo này làm nơi cư trú thường xuyên. Các học giả Trung Quốc khẳng định rằng ngư dân Trung Quốc đã chống lại những nỗ lực chiếm đóng các đảo ở Trường Sa của người Pháp trong những năm 1930. Hành động của nười Pháp ở Biển Đông đã gây ra một phong trào dân tộc chủ nghĩa mạnh mẽ ở Trung Quốc. Chính quyền Trung Quốc đã lên tiếng phản đối Pháp trong những năm 1930. Và vào đầu những năm 1930, để đáp trả những hành động của người Pháp ở Biển Đông, chính quyền Trung Quốc đã bắt đầu tăng cường nỗ lực để quy định chính thức việc xuất bản các bản đồ Trung Quốc liên quan đến Biển Đông. Việc này cuối cùng dẫn tới một bản đồ chính thức về các đảo và bãi ở Biển Đông được xuất bản vào tháng 4 năm 1935. Người Nhật Bản kiểm soát Trường Sa (A: Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd) trong Chiến tranh Thế giới Thứ hai, nhưng Trung Quốc đã thu hồi lại Quần đảo Trường Sa (A: Spratly Islands, TQ: Nansha/Nam Sa – nd)vào cuối năm 1946.
Tháng 12 năm 1947 chính quyền Cộng hòa Trung Hoa xuất bản một bản đồ không chỉ định vị các quần đảo chính, các đảo và những những thực thể nổi trên mặt nước khác ở Biển Đông mà còn có đường mười một đoạn (còn được gọi là đường hình chữ U) bao quanh phần lớn Biển Đông. Đây là lần đầu tiên đường mười một đoạn xuất hiện trong một bản đồ chính thức của Trung Quốc. Tháng 2 năm 1948 chính quyền Trung Quốc xuất bản một bản đồ hành chính minh họa những yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông. Các học giả Trung Quốc khẳng định rằng khi đường đứt đoạn được công bố lần đầu tiên, không nước nào phản đối về mặt ngoại giao. Họ nói thêm rằng sau đó nhiều nước thậm chí đã xuất bản các bản đồ công nhận đường 11 đoạn của Trung Quốc. Sau năm 1949, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (PRC) đã thừa hưởng đường 11 đoạn. Năm 1953, cố thủ tướng Chu Ân Lai đã quyết định bỏ đi hai đoạn trong vịnh Bắc Bộ và bản đồ Trung Quốc được xuất bản từ đó chỉ có đường chín đoạn ở khu vực Biển Đông.
Chính phủ Trung Quốc chưa bao giờ chính thức giải thích những ý nghĩa pháp lý của đường chữ U, cũng không làm rõ phạm vi tuyên bố của mình ở Biển Đông. Nhưng có một điều rõ ràng là: Bắc Kinh coi đường chữ U như một trong những chứng cứ quan trọng nhất cho yêu sách lịch sử của Trung Quốc. Trên thực tế, các học giả Trung Quốc tranh luận khá mạnh cho quyền chủ quyền của Trung Quốc đối với những hòn đảo và các thực thể nổi trên mặt nước khác ở Biển Đông bằng cách đề cập đến đường chữ U. Về vấn đề mâu thuẫn có thể có giữa đường chữ U và Công ước Liên hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS), các nhà phân tích Trung Quốc vẫn giữ quan điểm rằng đường chữ U của Trung Quốc đã được công khai từ lâu trước khi xuất hiện luật biển quốc tế hiện nay (bao gồm UNCLOS), và cơ chế pháp lý luật biển quốc tế mới không nên phủ nhận những quyền trước đây của Trung Quốc ở Biển Đông. Họ cho rằng Trung Quốc nên được hưởng cả quyền pháp lý được quy định trong UNCLOS, ví dụ, EEZ (vùng đặc quyền kinh tế) và thềm lục địa, cũng như những quyền lịch sử đối với khu vực nằm trong đường chữ U. Họ biện luận rằng các bên yêu sách khác không nên đòi hỏi EEZ và thềm lục địa hay những hòn đảo và các thực thể nổi trên mặt nước khác trong đường chữ U của Trung Quốc. Họ cho rằng UNCLOS chỉ giải quyết việc phân định các vùng biển, nó không cung cấp bất cứ cơ sở pháp lý nào về những yêu sách trên đảo và những loại bãi khác trên biển. Họ lập luận rằng ý nghĩa lịch sử và pháp lý của đường chữ U chỉ ra rằng những hòn đảo trong Biển Đông đã là lãnh thổ Trung Quốc rồi và như vậy các quốc gia tranh chấp khác không có quyền sử dụng yêu sách EEZ (vùng đặc quyền kinh tế) hay thềm lục địa của họ theo các điều khoản UNCLOS để đưa ra bất cứ đòi hỏi nào về những hòn đảo trong đường chữ U.
Đọc phần tiếp theo
Li Ming Jiang, Phó giáo sư Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam, Đại học Công Nghệ Nanyang, Xin-ga-po
Người dịch: Nguyễn Văn Bình
Hiệu đính: Hoàng Thị Tuấn Oanh
Bản gốc tiếng Anh "China’s South China Sea delimma- Balancing sovereignty, development and security"
Bài viết trích trong " Security and International Politics In the South China Sea ", Chủ biên: Sam Bateman, Ralf Emmers, năm 2009.
Đề nghị chỉ được dẫn đường link mọi thông tin, bài viết trên www.nghiencuubiendong.vn, không đăng lại khi chưa có sự đồng ý của Ban Biên tập NCBĐ.
Các đoạn sau đưa ra một bản báo cáo tóm tắt một số điểm quan trọng trong bằng chứng lịch sử mà các tài liệu chính thức và các bài viết học thuật Trung Quốc thường sử dụng. Để xem xét lại một cách toàn diện tất cả những yêu sách xung đột, xem Marwyn S. Samuels, Contest for the South China Sea (Niu-ooc và Luân đôn; 1982); Mark J. Valencia, China and The South China Sea Disputes: Conflicting claims and potential solutions in the South China Sea, Adelphi Paper, số. 298 (Luân đôn: International Institute for Strategic Studies, 1995); Liselotte Odgaard, Marine Security between China and Southeast Asia (Burlington, VT: Ashgate, 2002).
Thứ hai, 07 Tháng 5 2012
Viết bởi dinh tuan anh
Trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng tỏ ra quyết đoán trong tranh chấp lãnh thổ và lãnh hải tại Biển Đông, chủ yếu do tham vọng kinh tế, các nước trong khu vực đang coi việc "xích lại gần hơn" với Nhật Bản và Mỹ như một chiến lược nhằm ngăn chặn việc Trung Quốc thôn tính toàn bộ Biển Đông.

Mỹ và Nhật Bản bắt đầu can dự vào những tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông nhằm kiềm chế Trung Quốc. Mới đây, Mỹ và Nhật Bản đã đạt được một thỏa thuận mới về việc cùng sử dụng các căn cứ quân sự của Mỹ tại khu vực Thái Bình Dương. Theo các tin tức truyền thông, Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản dự kiến triển khai lực lượng cùng quân đội Mỹ tại Philíppin. Nếu được Manila phê chuẩn, Nhật Bản, Mỹ và Philíppin sẽ cùng nhau thực hiện huấn luyện quân sự đặc biệt tại các căn cứ quân sự của Philíppin. Trong những năm gần đây, Việt Nam và Philíppin đã giành được những lợi ích kinh tế lớn thông qua khai thác tài nguyên dầu khí tại Biển Đông. Trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng tỏ ra quyết đoán trong tranh chấp lãnh thổ và lãnh hải tại Biển Đông, chủ yếu do tham vọng kinh tế, các nước trong khu vực đang coi việc "xích lại gần hơn" với Nhật Bản và Mỹ như một chiến lược nhằm ngăn chặn việc Trung Quốc thôn tính toàn bộ Biển Đông. Đây chính là điều kiện thuận lợi và là thời điểm tốt để Mỹ và Nhật Bản cùng can dự vào những tranh chấp tại Biển Đông. Trong tiến trình tái tập trung chú ý chiến lược tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương, Đông Nam Á là một trọng tâm quan trọng của Mỹ. Trong hai năm qua, Mỹ đã gia tăng đầu vào chiến lược vào khu vực này. Về quân sự, Mỹ đang tìm kiếm sự đồn trú lâu dài tại một số căn cứ quân sự trong khu vực. Hiện nay, Mỹ đang đề nghị được trở lại căn cứ quân sự Vịnh Subic của Philíppin và cử tàu tuần duyên chiến đấu hiện đại nhất đến đó. Mỹ cũng đang tăng cường các cuộc tập trận tại các khu vực và vùng biển xung quanh Trung Quốc. Mặc dù không phải tất cả các cuộc tập trận trên đều nhằm vào Trung Quốc, nhưng một số cuộc tập trận thực sự nhằm răn đe Trung Quốc và tăng cường uy tín của Mỹ tại châu Á.
Không giống với Mỹ, Nhật Bản hành động một cách khôn ngoan hơn trong việc can thiệp vào các tranh chấp tại Biển Đông. Nhật Bản đã dỡ bỏ chính sách hạn chế xuất khẩu vũ khí sau khi Thủ tướng Yoshihiko Noda lên nắm quyền. Về bản chất, đây là sự chuẩn bị để hỗ trợ các nước Đông Nam Á có liên quan đến những tranh chấp tại Biển Đông thông qua việc xuất khẩu vũ khí cho những nước này. Ngoài ra, Nhật Bản cũng có kế hoạch cung cấp tàu tuần tra cho Philíppin và hỗ trợ nước này trong việc huấn luyện lực lượng tuần duyên. Những hành động trên cho thấy Nhật Bản đang mở rộng tầm với quân sự tại Biển Đông và xu hướng này sẽ tiếp tục phát triển trong tương lai. Tình hình lộn xộn tại Biển Đông có lợi cho Nhật Bản. Khi những tranh chấp chủ quyền giữa Nhật Bản và Trung Quốc tại quần đảo Điếu Ngư ngày một tăng, Nhật Bản hy vọng những "mối quan tâm" khác của Trung Quốc tại Biển Đông có thể làm xao lãng sự chú ý của Trung Quốc tại quần đảo Điếu Ngư. Sự can thiệp của các nước bên ngoài tại Biển Đông đang làm phức tạp thêm tình hình khu vực. Khi được Mỹ và Nhật Bản ủng hộ, các nước như Philíppin và Việt Nam dường như có thái độ cứng rắn hơn. Philíppin và Trung Quốc đối đầu nhau suốt hơn nửa tháng qua tại bãi đá cạn Scarborough (phía Trung Quốc gọi là đảo Hoàng Nham), có tiềm năng châm ngòi cho một cuộc chiến khu vực. Các nước Đông Nam Á cũng đang tăng cường hiện đại hóa quân sự thông qua việc nhập khẩu thêm các loại vũ khí hiện đại, đe dọa sự ổn định khu vực và có nguy cơ châm ngòi một cuộc chạy đua vũ trang.
Việc Mỹ và Nhật Bản hoàn toàn ủng hộ các nước Đông Nam Á trong tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông nhằm ngăn chặn Trung Quốc là một chiến lược thiển cận vì chiến lược này không những làm xáo trộn an ninh khu vực mà còn đe dọa sự tin tưởng lẫn nhau giữa Trung Quốc với Mỹ và Nhật Bản. Các nước Đông Nam Á như Việt Nam và Philíppin có thể đóng vai trò hiệu quả trong việc cân bằng Trung Quốc, nhưng không nên khuyến khích hai nước này nuôi tham vọng bá chủ khu vực.
Tác giả Zhou Yongsheng là phó giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Nhật Bản, Đại học Ngoại giao Trung Quốc
Theo Globalresearch (ngày 5/5)
Hương Trà (gt)
|