LTS. Những năm gần đây, Đông Á thu hút sự quan tâm đặc biệt của thế giới, không chỉ vì đây là địa bàn chiến lược quan trọng có nhiều vấn đề "nóng", mà còn là vì khu vực này đã đạt được những thành công ngoạn mục về phát triển kinh tế và trở thành một đầu tầu của kinh tế thế giới, đóng góp rất quan trọng vào tăng trưởng toàn cầu, đặc biệt là trong bối cảnh kinh tế thế giới vừa trải qua một cuộc suy thoái nghiêm trọng nhất kể từ sau cuộc đại suy thoái 1929-1933. Nhân dịp Việt Nam đăng cai tổ chức Diễn đàn Kinh tế thế giới về Đông Á 2010 tại TP. Hồ Chí Minh vào đầu tháng 6 tới, TG&VN xin trân trọng giới thiệu cùng độc giả một số nét khái quát về nền kinh tế khu vực hàng đầu thế giới này.
Khu vực Đông Á bao gồm 18 nền kinh tế (7 nền kinh tế thuộc Đông Bắc Á + 11 nền kinh tế thuộc Đông Nam Á) với dân số 2,15 tỷ người (khoảng 1/3 dân số thế giới) và tổng GDP trên 13 nghìn tỷ USD (chiếm gần 1/4 GDP của toàn thế giới). Đông Á cũng chiếm tới gần 30% tổng thương mại của thế giới và hàng năm thu hút gần 1/3 tổng FDI toàn cầu. Đây là khu vực có hai nền kinh tế hàng đầu thế giới (sau Mỹ) là Nhật Bản và Trung Quốc. Trung Quốc hiện đã vươn lên thành nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu và dự trữ ngoại tệ với tổng số 2.450.000 tỷ USD.
Những sự trỗi dậy thần kỳ
Trong những năm 1960-1990, Đông Á được biết đến nhiều với sự vươn lên thần kỳ của 4 con "con hổ kinh tế" theo sau Nhật Bản, gồm Hàn Quốc, Đài Loan, HongKong và Singapore. Trong hơn 3 thập kỷ liền, các nền kinh tế này đã duy trì được sự tăng trưởng hết sức ngoạn mục với mức tăng bình quân hàng năm trên dưới 8%, có thời kỳ lên tới mức 2 con số, nhanh chóng vượt nghèo khó và lạc hậu để đứng vào hàng ngũ các nền kinh tế phát triển.
Kế tiếp và chậm hơn một chút là một số nền kinh tế thuộc ASEAN, như Malaysia, Thái Lan cũng đã đạt sự tăng trưởng đáng nể trong gần hai thập kỷ kể từ cuối thập niên 1970 cho đến khi xảy ra cuộc khủng hoảng Đông Á vào năm 1997. Nổi bật hơn cả là sự trỗi dậy mạnh mẽ của "con rồng" Trung Quốc bắt đầu từ thập niên 1980 và đang nhanh chóng vươn tới vị trí nền kinh tế thứ hai thế giới. Liền 3 thập kỷ, Trung Quốc cũng đã đạt được những thành tựu kinh tế vượt bậc, duy trì tốc độ tăng trưởng cao hàng đầu thế giới (trên 8%/năm, nhiều năm trên 10%).
Hoà vào sự "thăng hoa" mạnh mẽ của Đông Á, còn có cả những nền kinh tế thuộc hàng khiêm tốn hơn trong ASEAN như Indonesia, Philippines, Việt Nam, Campuchia, Lào. Tuy không gây nhiều ấn tượng lớn như "rồng" và "hổ", nhưng trong nhiều năm trở lại đây, các nền kinh tế này cũng đã và đang vươn lên với tốc độ "không thể xem thường".
Ngoại trừ Triều Tiên còn nhiều khó khăn do vẫn duy trì mô hình kinh tế lỗi thời và Đông Timo bé nhỏ bị giằng xé bởi những vấn đề nội bộ sau khi tách khỏi Indonesia, hầu hết các nền kinh tế Đông Á đều đã hoặc đang vươn lên với tốc độ phi thường. Đông Á đã thực sự là một khu vực năng động nhất thế giới, đóng góp cực kỳ quan trọng vào sự tăng trưởng của kinh tế thế giới trong nhiều thập kỷ qua. Đặc biệt cần nhấn mạnh, chính nhờ sự năng động và tăng trưởng cao của Đông Á đã giúp cho suy thoái kinh tế thế giới vừa qua bớt trầm trọng và sớm phục hồi hơn.
Niềm hy vọng của thế giới hậu khủng hoảng?
Năm 2009, trong khi hầu hết các nền kinh tế quan trọng ở các khu vực khác rơi vào suy thoái nặng (Mỹ -2,4%, khu vực đồng Euro - 3,9%, Anh - 4,6%, Canada - 2,5%) thì Trung Quốc và một số nền kinh tế Đông Á khác vẫn giữ được mức tăng trưởng khá cao (Trung Quốc 8,5%, Việt Nam 5,2%, Indonesia 4,4%). Bước sang 2010, Mỹ và phần lớn các nền kinh tế châu Âu vẫn còn "trầy trật" để thoát ra khủng hoảng, thậm chí EU vẫn đang phải đối mặt với khả năng suy thoái trở lại do khủng hoảng nợ Hy Lạp và nguy cơ tương tự tại Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và một số nước khác. Trong khi đó, phần lớn các nền kinh tế Đông Á vẫn tăng trưởng khá. Đặc biệt, Trung Quốc, quý I/2010, tăng trưởng trên 9% và tháng 4 là 12%. Ngân hàng Standard Chartered dự báo năm 2010, Trung Quốc sẽ tăng trưởng 10%. Như vậy, xem ra đầu tầu kinh tế Đông Á trong bối cảnh khủng hoảng toàn cầu vừa qua là khó có thể phủ nhận và hẳn vẫn đang còn là niềm hy vọng của thế giới hậu khủng hoảng.
Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận rằng, bức tranh kinh tế Đông Á không phải chỉ có một màu sáng, mà còn có cả những mảng tối, nếu chúng ta quan sát kỹ nó từ các góc độ khác. Những mảng tối chính là những khó khăn mà các nền kinh tế ở Đông Á đang phải đối mặt.
Thứ nhất, phát triển mất cân đối và kém bền vững. Đây không chỉ là yếu điểm chính của các nền kinh tế đang phát triển mà kể cả một số nền kinh tế thuộc diện phát triển ở Đông Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Kông, Singapore, Đài Loan. Phát triển mất cân đối thể hiện ở cơ cấu của nền kinh tế, cơ cấu thương mại, cơ cấu các loại thị trường, cơ cấu vùng miền, cơ cấu kinh tế vĩ mô, cơ cấu nguồn nhân lực và trong các mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với phát triển các thiết chế chính trị - xã hội, giữa kinh tế với giải quyết các vấn đề an sinh xã hội, môi trường... Các nền kinh tế ở khu vực đều chưa đạt tới mức độ cân bằng để có thể bảo đảm sự an toàn và phát triển bền vững. Tuy nhiên, mức độ mất cân đối và thiếu bền vững biểu hiện rất khác nhau trong từng nước. Hầu hết các nền kinh tế đang phát triển đối mặt với "căn bệnh này" ở mức nặng, thậm chí là đáng báo động.
Thứ hai, bất ổn đáng quan ngại về kinh tế vĩ mô ở một số nước. Trước hết là thâm hụt ngân sách cao, dẫn đến tình trạng nợ công tăng mạnh và trở thành gánh nặng (năm 2009, nợ công của Trung Quốc bằng 89% GDP, Thái Lan 43,5% GDP, Nhật 227% GDP, Philippine 58,7% GDP, Việt Nam 44,5% GDP). Tiếp đến là bất ổn về chính sách tiền tệ, lạm phát cao đang gia tăng áp lực ở một số nước như Việt Nam, Trung Quốc, Campuchia, sự yếu kém của hệ thống ngân hàng - tín dụng và việc kiểm soát không chặt các luồng vốn. Một số chuyên gia đã cảnh báo tình trạng "bong bóng" tài chính và bất động sản tăng đến mức báo động hiện nay ở một số nền kinh tế Đông Á, đặc biệt là ở Trung Quốc và Việt Nam, có thể đặt khu vực này trước nguy cơ làn sóng suy thoái thứ ba, tiếp theo làn sóng thứ hai đang có dấu hiệu tràn vào châu Âu hiện nay. Sau cùng là sự mất cân đối trong cán cân thương mại và sự lệ thuộc quá lớn của các nền kinh tế khu vực vào thị trường bên ngoài về xuất - nhập khẩu và FDI. Điều này khiến cho họ dễ bị tổn thương cao khi có những biến động lớn của thị trường quốc tế.
Thứ ba, phần lớn các nền kinh tế Đông Á, vẫn còn trong quá trình công nghiệp hóa và phát triển mạnh theo "chiều rộng", chưa nhiều theo "chiều sâu". Có nghĩa là, sự phát triển còn dựa quá nhiều vào các yếu tố sản xuất như đất đai, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động nhiều và rẻ. Vốn và công nghệ nhập từ bên ngoài là chủ yếu, chứ chưa dựa nhiều vào khoa học-công nghệ, đặc biệt là khoa học - công nghệ do tự mình tạo ra. Phương thức phát triển này đã và tiếp tục để lại những hậu quả trầm trọng về tính hiệu quả, sự bền vững và khả năng cạnh tranh lâu dài của nền kinh tế cũng như nhiều hậu quả về môi trường.
Thứ tư, tình hình chính trị nội bộ tại một số nước ở khu vực còn nhiều bất ổn, xung đột thậm chí gia tăng làm mất ổn định chính trị và xã hội, cản trở đáng kể sự phát triển kinh tế của các nước này, cũng như quá trình tăng cường các liên kết kinh tế khu vực. Thêm nữa, sự gia tăng căng thẳng và tranh chấp giữa các nước trong khu vực đồng thời với sự tăng cường tranh giành ảnh hưởng của các cường quốc tại khu vực cũng góp phần làm cho các thách thức tại Đông Nam Á thêm phức tạp và khó xử lý hơn.
Những khó khăn và thách thức kể trên không hề dễ dàng được khắc phục. Nó đòi hỏi các nước Đông Á phải chi rất nhiều nguồn lực và trong nhiều thập kỷ để sửa chữa, cải tạo di sản của tiến trình hiện tại. Vậy liệu Đông Á có thể tiếp tục là đầu tầu được bao lâu nữa? Câu trả lời không hề đơn giản và nằm chủ yếu ở việc các nước Đông Á sẽ giải quyết các khó khăn thế nào để có thể tiếp tục kéo được cả đoàn tầu kinh tế thế giới.
Những phong độ khác nhau
Hai nền kinh tế lớn nhất Đông Á hiện nay là Nhật Bản và Trung Quốc đang thể hiện phong độ rất khác nhau. Trung Quốc giống như một con rồng đang bay bổng, còn Nhật Bản lại giống như một con ngựa già mệt mỏi đang uể oải lê bước sau trận phong ba. Với tốc độ tăng trưởng trên dưới 10% như hiện nay, năm 2010, Trung Quốc chắc chắn sẽ vượt trên Nhật Bản để trở thành nền kinh tế thứ hai thế giới. Cũng khó có thể hy vọng kinh tế Nhật Bản sớm hồi phục vững chắc để lại phi nước đại trên chặng đường sắp tới.
Hàn Quốc và Đài Loan cũng không mấy dễ dàng lấy lại đà tăng trưởng cao của quá khứ, các dự báo khả quan nhất cho thấy khả năng tăng trưởng bình quân năm từ 2010-2012 là khoảng trên dưới 4% đối với Hàn Quốc, 5-5,5% đối với Singapore, 4-5% đối với HongKong, 4-4,6% đối với Đài Loan.
Triển vọng tăng trưởng chung của ASEAN sáng sủa hơn, có thể đạt 5-6% trong năm nay và vài năm tới, song do quy mô nền kinh tế của hầu hết các nước ASEAN còn nhỏ, nên xem ra gánh nặng sẽ đặt chính trên vai "người khổng lồ" Trung Quốc để vận hành "đầu tầu Đông Á" trong đoàn tầu kinh tế thế giới đang nặng nề vượt "núi suy thoái".
Mặc dù Trung Quốc đã chứng tỏ được sự phát triển thần kỳ trong ba chục năm qua và có khả năng còn tiếp tục duy trì được đà tăng trưởng cao trong những năm tới, nhưng cũng khó có thể đoán định chắc chắn được "con rồng Trung Quốc" sẽ còn bay cao được bao lâu nữa, bởi những yếu tố cản trở và tạo rủi ro đối với sự tăng trưởng của Trung Quốc hiện cũng không ít và ngày càng bộc lộ thành nguy cơ lớn hơn.
Tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới về Đông Á sẽ được tổ chức ở TP. Hồ Chí Minh vào tháng 6 tới, các nhà lãnh đạo chính phủ và nhiều tập đoàn kinh tế hàng đầu thế giới sẽ có dịp nhìn nhận và đánh giá kỹ hơn về vai trò "Đầu tàu Đông Á", đồng thời cũng sẽ thảo luận về nhiều vấn đề của khu vực. Hy vọng Diễn đàn sẽ giúp chúng ta có cái nhìn sâu sắc và đầy đủ hơn.
TS. Phạm Quốc Trụ, Học viện Ngoại giao
Ý kiến:
Ông Ben Bernanke - Chủ tịch Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed):
Sự trỗi dậy của các nền kinh tế châu Á kể từ Thế chiến II đã là một trong những câu chuyện về thành công lớn trong lịch sử phát triển kinh tế. Hiện nay, trong khi những rủi ro vẫn tồn tại trong triển vọng kinh tế thì dường như châu Á vẫn đang đi đầu về hồi phục. Kết quả này có được một phần vì châu Á đã có những cải tổ sau cuộc khủng hoảng những năm 1990 kèm theo những cải tiến các chính sách kinh tế vĩ mô, hệ thống ngân hàng châu Á ở vị trí tốt hơn để kiểm soát những biến động thời gian gần đây.
Báo cáo Triển vọng kinh tế thế giới - Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF):
Kinh tế toàn cầu đang phục hồi mạnh hơn dự kiến và sản lượng toàn cầu dự báo sẽ tăng 4,25% trong năm nay. Chính các thị trường đang nổi ở châu Á chứ không phải cường quốc nào khác, đóng vai trò đầu tàu phục hồi kinh tế toàn cầu. Trong đó, Trung Quốc và Ấn Độ sẽ dẫn đầu sự phục hồi. Dự báo GDP của Trung Quốc sẽ tăng khoảng 10% trong cả hai năm 2010 và 2011, còn GDP của Ấn Độ ước tăng 8,8% năm 2010 và 8,4% năm 2011, nhưng riêng Nhật Bản sẽ tụt hậu với GDP chỉ tăng 1,9% năm 2010 và 2% năm 2011.
Giáo sư Paul Krugman - Giải thưởng Nobel kinh tế năm 2008:
Các nền kinh tế châu Á sẽ phục hồi sau cuộc khủng hoảng kinh tế-tài chính toàn cầu với tốc độ nhanh hơn so với các khu vực khác. Vì các nước châu Á có lợi thế rõ rệt là vốn có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn hẳn ở các nước phương Tây. Các nền kinh tế châu Á vốn phụ thuộc chủ yếu vào sản xuất hàng hóa xuất khẩu đang gặp nhiều khó khăn do xuất khẩu giảm mạnh, nhưng tình trạng suy giảm ở các thị trường nhập khẩu hiện nay chỉ là tạm thời.
Nhưng châu Á không thể vượt qua khủng hoảng trong "một sớm một chiều" mà cần nỗ lực rất nhiều cùng các biện pháp tổng quát để giải quyết các vấn đề khó khăn hiện nay.
Báo cáo thường niên về Đông Á và Thái Bình Dương - Ngân hàng Thế giới (WB):
Trung Quốc đã trở thành nhân tố chủ đạo kích thích các quốc gia Đông Á, nhờ nhu cầu tiêu thụ ổn định từ nền kinh tế lớn thứ ba thế giới này. Sự phục hồi nhu cầu quốc tế, trong khi chi tiêu tiêu dùng trong nước tăng nhanh sẽ tiếp tục hỗ trợ kinh tế Đông Á tăng trưởng trong năm 2010. Tuy nhiên, Trung Quốc cần tìm cách giảm bớt phụ thuộc vào xuất khẩu như một đầu tàu tăng trưởng chủ chốt.
Tuy nhiên, các nước có thu nhập trung bình như Việt Nam, Philippines, Thái Lan, Indonesia, cần phải đưa ra các chính sách mới để tạo ra sự đột phá về công nghệ và trong các ngành thu hút nhiều lao động. Các nền kinh tế đang phát triển ở Đông Á cần thắt chặt quan hệ kinh tế khu vực, nhằm thúc đẩy thương mại, giảm chi phí và tăng cường cạnh tranh quốc tế, đồng thời khuyến khích phát triển công nghệ "xanh" và sử dụng năng lượng hiệu quả.
Diễn đàn An ninh khu vực ARF khép lại hồi tháng 7 nhưng dư âm của nó còn kéo dài, làm nóng các trang báo ở các quốc gia liên quan, nhất là xoay quanh vấn đề Biển Đông, và trục quan hệ ASEAN - Trung Quốc - Mỹ.
Trong Tuyên bố của Chủ tịch hội nghị, các Ngoại trưởng thành viên ARF một lần nữa đã nhấn mạnh "tầm quan trọng của việc giữ gìn hòa bình và ổn định ở biển Đông", trên cơ sở thực hiện Tuyên bố về ứng xử giữa các bên ở biển Đông (DOC) và Công ước Luật biển của Liên Hợp Quốc (UNCLOS). Tại Hội nghị, đã có hơn một nửa trong tổng số 27 nước thành viên ARF, bao gồm cả các nước ASEAN lẫn các nước bên ngoài ASEAN, đề cập đến vấn đề hòa bình và ổn định ở biển Đông trong phát biểu của mình, cho thấy sự quan tâm rộng rãi của cộng đồng quốc tế đến vấn đề an ninh thiết thực này của khu vực.
Sau khi Hội nghị ARF Hà Nội kết thúc, giới học giả và truyền thông ở Trung Quốc cũng như các nước khác đã có nhiều ý kiến đánh giá tích cực những thành công của Hội nghị ARF đối với toàn khu vực. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng xuất hiện một số bình luận thái quá, có nội dung chỉ trích các nước ASEAN câu kết với Mỹ và các nước ngoài khu vực để chống Trung Quốc trong vấn đề biển Đông trên các diễn đàn đa phương. Luồng quan điểm tiêu cực này có khả năng gây ảnh hưởng không tốt đối với dư luận Trung Quốc và dư luận các nước ASEAN, không có lợi cho hợp tác trên biển Đông và quan hệ hợp tác toàn diện ASEAN-Trung Quốc.
Thực ra, phát biểu của các nước ASEAN về vấn đề biển Đông đã bị một số tác giả diễn giải sai lệch, và nếu ta bình tĩnh nhìn nhận đúng quan điểm của các nước ASEAN thì sẽ có lợi cho sự hiểu biết lẫn nhau giữa ASEAN và Trung Quốc, về lâu về dài tạo điều kiện thuận lợi cho việc giữ gìn môi trường hòa bình và ổn định ở khu vực.
Thực hư của vấn đề "quốc tế hóa" tranh chấp biển Đông
Việc đầu tiên cần thiết phải làm rõ là đánh giá đúng thực trạng tình hình tranh chấp ở biển Đông hiện nay để có thể khẳng định đây là một vấn đề an ninh thiết thực của khu vực, không thể không đề cập đến trong chương trình nghị sự của ARF hoặc các thể chế an ninh đa phương khác ở Châu Á-Thái Bình Dương. Nếu vấn đề tranh chấp biển Đông không nằm trong nội dung thảo luận thì chức năng, sứ mệnh của các diễn đàn an ninh này sẽ bị giảm đáng kể, thậm chí có nguy cơ mất vai trò.
Trên thực tế, vấn đề biển Đông luôn luôn là vấn đề ưu tiên, nổi trội trong chương trình nghị sự của ARF từ khi thành lập Diễn đàn cho đến nay chứ không phải bây giờ mới nêu lên. Trong thời gian gần đây, nhìn tổng thể thì tình hình biển Đông về cơ bản vẫn giữ được xu thế hòa dịu, nhưng đồng thời có xen lẫn một số diễn biến phức tạp có thể làm tổn hại đến đại cục. Điển hình là sự kiện Trung Quốc công khai hóa yêu sách "đường lưỡi bò" (còn gọi là đường đứt khúc 9 đoạn) trên biển Đông, ngang nhiên tuyên bố biển Đông xếp vào hạng "lợi ích cốt lõi" của Trung Quốc, cùng một loạt các hoạt động thiếu kiềm chế khác như bắt giữ ngư dân một số nước ASEAN và gây sức ép với các công ty dầu khí nước ngoài hoạt động trên biển Đông...
Trong bối cảnh như vậy, khó tránh khỏi một số nước trong và ngoài khu vực bày tỏ quan điểm một cách ôn hòa về vấn đề hòa bình, ổn định ở biển Đông tại Hội nghị ARF vừa qua, đồng thời nêu mong muốn các bên có liên quan tiếp tục kiềm chế, xử lý tranh chấp theo các chuẩn mực quốc tế như DOC và UNCLOS.
Việc một số bình luận trong báo giới Trung Quốc cho rằng đây chỉ là tranh chấp song phương giữa Trung Quốc và từng nước thành viên ASEAN, rằng các nước bên ngoài không nên can thiệp vào, đã làm không ít người ngạc nhiên, nhất là ở các quốc gia có bày tỏ quan điểm thiện chí tại Hội nghị ARF Hà Nội.
Thiết nghĩ về bản chất, tranh chấp chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa là vấn đề song phương giữa Việt Nam và Trung Quốc, nhưng tranh chấp chủ quyền quần đảo Trường Sa lại liên quan đến năm nước, sáu bên; đó là còn chưa kể đến các tranh chấp ranh giới trên biển rất phức tạp giữa nhiều bên trên biển Đông.
Nếu bản chất tranh chấp là song phương thì quả thật "đa phương hóa" chỉ làm phức tạp thêm tình hình, nhưng ngược lại nếu bản chất tranh chấp là đa phương thì cũng không thể giải quyết theo con đường song phương được; cũng giống như chơi trò ghép hình nhiều mảnh nhưng nếu có hai mảnh chỉ muốn ghép riêng với nhau thì không thể hoàn thiện bức tranh toàn cảnh được.
Hãy tạm gạt vấn đề tranh chấp chủ quyền sang một bên, vì quan tâm của các nước thành viên ARF không hẳn là vấn đề chủ quyền trên biển Đông, mà đúng hơn là vấn đề hòa bình, ổn định để phát triển ở khu vực - nội dung trọng tâm của diễn đàn ARF. Việc một số học giả Trung Quốc cho rằng tranh chấp chủ quyền trên biển Đông không liên quan gì đến tự do hàng hải, đến hòa bình ổn định ở khu vực tỏ ra không có sức thuyết phục.
Chúng ta đều biết rằng môi trường hòa bình ổn định ở khu vực phụ thuộc vào tình hình phát triển và liên kết kinh tế các quốc gia, mà trao đổi kinh tế giữa các nước Đông Á lại phụ thuộc rất lớn vào thương mại hàng hải. Các tuyến đường hàng hải huyết mạch ở biển Đông là các kênh vận tải chính của các nguồn năng lượng tối cần thiết cho sự phát triển của không chỉ Trung Quốc, các nước ASEAN, mà còn của Nhật Bản, Mỹ và nhiều nước khác.
Đó là còn chưa kể đến khía cạnh an ninh con người của biển Đông, vì xét đến thực tế là đời sống của nhân dân các nước khu vực phụ thuộc lớn vào kinh tế biển. Nếu tự do hàng hải ở biển Đông bị tắc nghẽn thì sẽ là một thảm họa đối với kinh tế và an ninh không chỉ của khu vực Đông Á mà còn ảnh hưởng đến kinh tế và an ninh toàn cầu.
Do vậy, một khi bản chất của vấn đề là đa phương, quốc tế thì việc chỉ trích một "âm mưu đa phương hóa, quốc tế hóa" nào đó sẽ trở nên vô nghĩa.
Cũng cần lưu ý rằng không có phát biểu nào tại Hội nghị ARF 17 ủng hộ hay bác bỏ tuyên bố chủ quyền của bất kỳ bên nào ở biển Đông, mà chỉ xoay quanh vấn đề duy trì hòa bình và an ninh ở biển Đông mà thôi. Như vậy, các quốc gia đề cập tới vấn đề biển Đông tại ARF 17 thực ra chỉ bày tỏ sự quan tâm tới vấn đề liên quan đến lợi ích quốc gia của chính họ và lợi ích của khu vực, chứ không phải tập hợp lực lượng để ủng hộ hay chống lại bất kỳ bên tuyên bố chủ quyền nào.
Ngay cả khi có sự trùng hợp quan điểm giữa các nước ASEAN với một số nước bên ngoài khu vực cũng là do sự tương đồng về lợi ích hòa bình ổn định chứ không phải "có tổ chức" như một số cáo buộc đã nêu.
Liên quan đến hiện tượng Mỹ điều chỉnh chính sách tái can dự đối với khu vực và phát biểu của Ngoại trưởng Mỹ tại Hội nghị ARF 17, đã xuất hiện một số lời chỉ trích các nước ASEAN theo đuôi Mỹ chống Trung Quốc trên biển Đông. Không may là hiện tượng này xảy ra gần thời điểm với sự kiện chìm tàu Cheonan Hàn Quốc và những cuộc tập trận quy mô ở Đông Bắc Á, cùng với sự gia tăng căng thẳng trong quan hệ Mỹ-Trung từ đầu năm tới nay.
Tuy nhiên, các nước ASEAN không hề muốn gây phức tạp thêm cho quan hệ Mỹ-Trung vì điều này không có lợi cho các nước vừa và nhỏ ở Đông Nam Á. Chính sách truyền thống của các nước ASEAN đối với các nước lớn là hoan nghênh sự đóng góp của các nước lớn cho an ninh và phát triển ở Đông Nam Á, nhưng đồng thời nêu cao tinh thần ZOPFAN là độc lập tự chủ trong quan hệ với nước lớn. Các nước ASEAN không hề muốn Mỹ thâu tóm các công việc nội bộ của khu vực hay muốn Mỹ dính líu đến các đòi hỏi chủ quyền ở biển Đông.
Do vậy, không nên nhìn quan hệ ASEAN-Trung Quốc dưới lăng kính quan hệ Mỹ-Trung như một số bài báo gần đây đã mắc phải, mà cần phải phân biệt rõ tính độc lập của quan hệ ASEAN-Trung Quốc và quan hệ ASEAN-Mỹ.
Triển vọng quan hệ hợp tác ASEAN-Trung Quốc trên biển Đông
Nếu như ta tỉnh táo gạt bỏ những diễn biến bên lề mà có thể che lấp bản chất tích cực của sự việc, thì quả thật sự thành công của Hội nghị ARF Hà Nội vừa qua là tín hiệu tốt đối với quan hệ ASEAN-Trung Quốc nói chung và vấn đề biển Đông nói riêng. Phát biểu của các nước ASEAN và các nước ngoài khu vực, kể cả phát biểu của Trung Quốc, đã thể hiện một không khí trao đổi thẳng thắn trên tinh thần xây dựng, làm tăng thêm mức độ hiểu biết lẫn nhau giữa các nước ARF.
Việc này cũng có thể xem là một tín hiệu cảnh báo sớm nhằm lưu ý các nước ASEAN và Trung Quốc trước sự xuất hiện của những yếu tố tiêu cực có khả năng làm ảnh hưởng tới tiến trình hợp tác giữa hai bên.
Tuy nhiên, các bên cũng phải biết tiếp tục kiềm chế để tránh những phản ứng thái quá mà có thể vượt ra khỏi mức độ hợp lý của sự việc. Với báo giới, điều này đòi hỏi một sự minh bạch thông tin và ứng xử công bằng đối với quan điểm của tất cả các bên liên quan, tránh những thành kiến có thể dẫn tới diễn giải sai bản chất của sự việc.
Thành công của Hội nghị ARF Hà Nội không nằm ngoài khuôn khổ những thành tựu kinh tế-chính trị gần đây trong quan hệ hợp tác toàn diện ASEAN-Trung Quốc. Có thể nói quan hệ ASEAN-Trung Quốc đang ở mức phát triển tốt đẹp nhất từ trước đến nay, một phần nhờ vào sự thực hiện chính sách láng giềng thân thiện của chính phủ Trung Quốc. Không nên để bất cứ vấn đề nào ảnh hưởng đến đại cục quan hệ ASEAN-Trung Quốc mà hai bên đã dày công xây đắp.
Ngoài ra, cũng cần phải cảnh giác trước một số thế lực quốc tế cố tình thổi phồng những vụ việc gần đây trên biển Đông nhằm ly gián quan hệ ASEAN-Trung Quốc, như một số học giả đã cảnh báo.
Nhìn chung, triển vọng xử lý xung đột ở biển Đông giữa ASEAN và Trung Quốc là tích cực, do thông qua Hội nghị ARF 17 các bên đã đạt được nhiều hiểu biết nhất định và gia tăng mức độ đồng thuận trên một số vấn đề có liên quan. Phía Trung Quốc đã nhấn mạnh các nước khu vực đều muốn tiếp cận vấn đề tranh chấp ở biển Đông một cách hòa bình trên bình diện quan hệ láng giềng thân thiện hữu hảo.
Như Tuyên bố của Chủ tịch ARF đã nêu, hai văn kiện DOC và UNCLOS tiếp tục được khẳng định là cơ sở quan trọng để xử lý vấn đề biển Đông trong tương lai, có hướng tới mục tiêu xây dựng Bộ quy tắc ứng xử khu vực trên biển Đông (COC). Các nước ASEAN và Trung Quốc cũng thỏa thuận tổ chức cuộc họp tiếp theo của Nhóm công tác liên hợp ASEAN-Trung Quốc về triển khai DOC trước cuối năm 2010.
Có thể nói Hội nghị ARF Hà Nội là bước chuyển tích cực trong quan hệ hợp tác ASEAN-Trung Quốc trong vấn đề biển Đông, sau một thời gian hợp tác giữa hai bên bị ngưng trệ kéo dài vì nhiều lý do khác nhau.
Khoảng thời gian từ sau Hội nghị ARF 17 đến cuối năm 2010 là khoảng thời gian thử thách quan trọng đối với hợp tác ASEAN-Trung Quốc. Hội nghị Cấp cao ASEAN tháng 10/2010 và các hội nghị có liên quan sẽ tổ chức tại Hà Nội là điểm nhấn trong các hoạt động ngoại giao đa phương trên toàn khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, trong đó ASEAN và Trung Quốc là các hạt nhân tích cực. ASEAN và Trung Quốc có trách nhiệm phát huy sự thành công của Hội nghị ARF 17, tiếp tục đẩy tới sự hợp tác trên vấn đề biển Đông để góp phần quan trọng vào sự nghiệp hòa bình ổn định của khu vực, xây dựng một "Châu Á hài hòa" như quan điểm chiến lược của lãnh đạo Trung Quốc.
Trước mắt, việc triển khai thực hiện DOC một cách chân thành là hoạt động thiết thực nhất, vừa góp phần xây dựng lòng tin giữa các bên vừa tạo điều kiện thuận lợi cho một giải pháp công bằng, có lý có tình đối với tranh chấp ở biển Đông trong tương lai.
Tác giả: TS. Nguyễn Nam Dương (Học viện Ngoại giao)
Nội dung của bài viết chỉ phản ánh quan điểm của cá nhân tác giả
Duy trì một trạng thái xung đột ở mức độ thấp mang lại sức nặng cho Trung Quốc trong đàm phán và khẳng định vai trò của quốc gia này. Bài nghiên cứu chủ yếu tập trung vào quan điểm của Nhật Bản về điều kiện an ninh tại Đông Á (Đông Bắc Á và Đông Nam Á ), tình huống chiến lược tại Biển Đông và đánh giá sức mạnh quân sự của Trung Quốc trong bối cảnh của khu vực.
1.Sự ổn định mong manh và tình thế lưỡng nan về an ninh bất đối xứng
Về bản chất, điều kiện an ninh tại Đông Á cơ bản ổn định, cho dù có một số sự kiện rắc rối xảy ra giữa Trung Quốc và các nước láng giềng, bao gồm cả Nhật Bản, thì những nước liên quan sẽ cố gắng thỏa hiệp càng sớm càng tốt thông qua ngoại giao thứ yếu (low-key)(giảm thiểu hết mức ảnh hưởng của báo chí và dư luận công chúng đối với chính sách ngoại giao), trong khi tình huống vẫn nằm trong tầm kiểm soát của các chính phủ. Nhưng điều này không có nghĩa là Đông Á sẽ có sự ổn định tuyệt đối. Căng thẳng tại Đông Á sẽ dao động trong phạm vi giới hạn nào đó. Nói cách khác, an ninh Đông Á về cơ bản là ổn định, nhưng đó là sự ổn định mong manh.
Có một vài lý do mang tính bản địa trong khu vực cho điều này, tại sao điều kiện anh ninh hiện tại Đông Á về cơ bản lại mang tính ổn định, nhưng lại không thực sự chắc chắn. Đầu tiên là sự thúc đẩy hợp tác mang tính khiên cưỡng giữa Nhật Bản, Mỹ và Trung Quốc, các quốc gia có sự ảnh hưởng lớn. Các quốc gia này đều biết rằng không một quốc gia đơn lẻ nào trên thế giới có thể tự mình vượt qua được cuộc khủng hoảng kinh tế trên phạm vi toàn cầu đang xảy ra, vì vậy họ không thể vượt ra cuộc khủng hoảng nếu không đặt ra ưu tiên cao nhất trong việc thúc đẩy hợp tác tiền tệvới các quốc gia khác nhằm cứu vớt con tàu kinh tế Châu Âu đang chìm một cách nhanh chóng. Cả ba quốc gia này đều ở chung trên một con thuyền trước một cơn bão lớn.
Tuy nhiên, đây là tình huống “đồng sàng, dị mộng” (Same bed, different dreams). Trung Quốc có lý do khác để tư duy theo cách này. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc cho rằng Mỹ có sức mạnh quân sự ưu việt tại Đông Á, là điều mà Trung Quốc không thể thách thức tại thời điểm này. Tuy nhiên, tính đến sự cân bằng quyền lực mang tính cục bộ tại khu vực Đông Á thì Trung Quốc lại có khả năng sử dụng sức mạnh hải quân cho những lợi ích chiến lược và chính trị của riêng mình ở ngoại vi phía đông của nước này, vì các quốc gia Đông Á và Đài Loan rất dễ bị tổn thương đối với sức mạnh hải quân đang gia tăng của Trung Quốc hơn là đối với Mỹ.
Nhưng khả năng bùng nổ về một cuộc chiến tranh giữa Trung Quốc và các quốc gia láng giềng phía đông lại mang tính rủi ro rất lớnđối với Trung Quốc vì cuộc chiến như vậy sẽ lôi kéo sự can thiệp quân sự của Mỹ, là một kịch bản mang tính phá hủy đối với những chiến lược của Trung Quốc. Sau khủng hoảng kinh tế năm 2008, sức mạnh tương đối của Mỹ đang bị suy giảm trong bối cảnh toàn cầu, nhưng lãnh đạo hiện tại của Trung Quốc lại không thích mạo hiểm.
Vì vậy Trung Quốc sẽ không dám thực hiện bất kỳ một hành động quân sự lớn nào nhằm chống lại các quốc gia láng giềng của mình, thậm chí những va chạm thường xuyên về vấn đề lãnh thổ với láng giềng như Việt Nam, Philippin và Nhật Bản, chống lại Trung Quốc, nhưng cho đến hiện tại Trung Quốc chỉ biểu dươngsức mạnh quân sự của mình.
Trái với hầu hết điểm bất lợi mang tính tuyệt đốicủa Trung Quốc về phạm vi quân sự, Trung Quốc lại có ưu điểm mang tính tương đối về phạm vi kinh tế ( như đất hiếm và nguồn nước). Khả năng về việc Trung Quốc mở rộng lợi thế phi quân sự chỉ khi xung đột quân sự ở mức độ đủ thấp đối với các quốc gia có liên quan để gia tăng sự phụ thuộc về kinh tế đối với Trung Quốc.
Chỉ khi căng thẳng ở mức độ thấp, cho dù khá rụt rè, họ sẽ theo đuổi một chính sách, chủ yếu xuất phát từ những lý do trong nước mà đặt ra ưu tiên cao hơn đối với những lợi ích kinh tế cụ thể/đã được xác định trong tương lai gần bằng sự hy sinh về rủi ro chiến lược chưa chắc chắn/còn mơ hồ trong tương lai xa. Tuy nhiên, một cách mỉa mai, nếu tình huống an ninh/chiến lược tại Đông Á hoàn toàn toàn không mang tính đối đầu thì sức đàm phán của Trung Quốc lại không được cao.
Nếu và chỉ nếu có mức độ nào đó về sự căng thẳng trong khu vực, thì nền kinh tế và vũ khí phi quân sự khác của Trung Quốc mới phát huy hiệu quả. Đối với Trung Quốc, căng thẳng ở mức độ nào đó lại hữu ích.
Sức mạnh của Trung Quốc hiện tại mang tính điều kiện, vì nước này này cần giữ một nhịp độ thấp để đạt được vị thế chiến lược có lợi hơn, bởi vì ở nhịp độ quá vội vàng sẽ dẫn đến rủi ro đối với Trung Quốc vì điều đó sẽ gây ra các phản ứng dữ dội hay tạo ra liên minh chống Trung Quốc từ các quốc gia Đông Á. Có thể họ sẽ miễn cưỡng quyết định hy sinh lợi ích kinh tế của chính mình khihọ nhìn thấy một con rồng hung dữ to lớn với bộ nanh vuốt đang lao về phía mình. Nếu nhịp độ đủ thấp, Trung Quốc có thể sử dụng thủ đoạn “chia để trị” đối với các quốc gia Đông Á (và với Mỹ) thông qua đàm phán ngoại giao.
Gần đây, Trung Quốc dường như đang theo đuổi cách tiếp cận mới ôn hòa hơn trong tranh chấp Biển Đông. Mục tiêu chủ yếu của chính sách thân thiện hơn là nhằm khôi phục hình ảnh của nước này ở Đông Á và ngăn chặn Mỹ thúc đẩy vai trò trong khu vực.Chưa biết cách tiếp cận mới của Bắc Kinh có thể kéo dài hay không, nhưng ít nhất nó cũng thể hiện Trung Quốc có thể điều chỉnh chính sách đối ngoại của họ.
Bắc Kinh công khai thách thức tính hợp pháp của các khoản đầu tư từ các công ty dầu lửa nước ngoài vào ngành năng lượng trên biển của Việt Nam và nhấn mạnh chủ quyền của Trung Quốc đối với các hòn đảo và các vùng nước cách xa đất liền Trung Quốc, bắt giữ hàng trăm ngư dân Việt Nam gần các hòn đảo bị Trung Quốc chiếm giữ, đồng thời quấy rối các tàu thuyền của Việt Nam và Philíppin đang thăm dò địa chấn ở các vùng biển mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền. Nhiều nước Đông Á coi thái độ của Trung Quốc như một dấu hiệu mới khẳng định Bắc Kinh sẵn sàng theo đuổi sức mạnh đối đầu và đơn phương hơn trong khu vực. Nhưng gần đây Trung Quốc theo đuổi cách tiếp cận mới ôn hòa hơn. Mục tiêu chủ yếu của chính sách thân thiện hơn là khôi phục hình ảnh của Trung Quốc ở Đông Á và ngăn chặn Mỹ thúc đẩy vai trò trong khu vực.Dấu hiệu đầu tiên thể hiện cách tiếp cận mới của Trung Quốc diễn ra tháng 6/2011, khi Hà Nội phái một quan chức ngoại giao đặc biệt đến Bắc Kinh để thảo luận những bất đồng trên biển giữa hai nước. Chuyến thăm mở đường cho một thỏa thuận tháng 7/2011 giữa Trung Quốc và 10 nước thành viên ASEAN về việc thực hiện Tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên Biển Đông năm 2002. Trong tuyên bố, các bên nhất trí “kiềm chế những hành động gây phức tạp hoặc leo thang các bất đồng”. Từ mùa Hè năm ngoái, các quan chức cấp cao Trung Quốc, đặc biệt các nhà lãnh đạo như Chủ tịch Hồ Cẩm Đào và Thủ tướng Ôn Gia Bảo, thường xuyên nhấn mạnh nguyên tắc chỉ đạo của Đặng Tiểu Bình khi giải quyết các xung đột trên biển của Trung Quốc là chú trọng hợp tác kinh tế đồng thời trì hoãn giải pháp cuối cùng của các tuyên bố quan trọng. Các phương tiện truyền thông của Trung Quốc cũng bắt đầu nhấn mạnh vấn đề hợp tác. Từ tháng 8/2011, Ban Quốc tế của tờ Nhân dân Nhật báo, dưới bút danh Chung Thanh, đã công bố nhiều bài viết khẳng định Trung Quốc sẽ ít đối đầu trên Biển Đông. Tháng 1/2012, Chung Thanh thảo luận tầm quan trọng của hợp tác để đạt được các kết quả cụ thể. Do tờ Nhân dân Nhật báo là tờ báo chính thức của Ban Chấp hành TW Đảng Cộng sản Trung Quốc, những bài báo như vậy có thể được coi là chủ trương của Đảng Cộng sản Trung Quốc nhằm giải thích chính sách mới đối với độc giả trong và ngoài nước.
Thực tế, Trung Quốc có nhiều tiến bộ trong việc gạt bỏ các bất đồng. Bên cạnh sự đồng thuận với ASEAN tháng 7/2011, tháng 10/2011 Trung Quốc đạt được một thỏa thuận với Việt Nam về “các nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết các vấn đề trên biển”. Thỏa thuận nhấn mạnh tuân thủ luật pháp quốc tế, đặc biệt Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển. Từ đó, hai nước thực hiện thoả thuận bằng cách thiết lập một nhóm công tác để phân chia ranh giới và phát triển khu vực phía Nam của Vịnh Bắc Bộ gần các hòn đảo tranh chấp. Trung Quốc cũng bắt đầu hoặc đã tham dự một số hội nghị nhằm giải quyết các mối lo ngại của khu vực trước sự quyết đoán của Bắc Kinh. Ngay trước khi Hội nghị cấp cao Đông Á tháng 11/2011, Bắc Kinh loan báo sẽ thiết lập quỹ 3 tỷ NDT (476 triệu USD) về hợp tác trên biển giữa Trung Quốc-ASEAN trong các lĩnh vực nghiên cứu khoa học, bảo vệ môi trường, tự do hàng hải, tìm kiếm và cứu hộ, chống tội phạm xuyên quốc gia trên biển. Sau đó, Trung Quốc tổ chức một số cuộc hội thảo về hải dương học và tự do hàng hải ở Biển Đông và tháng 1/2012, Bắc Kinh chủ trì một hội nghị của các quan chức cấp cao ASEAN nhằm thảo luận việc thực hiện Tuyên bố ứng xử năm 2002. Phạm vi của các hoạt động hợp tác cho thấy cách tiếp cận mới của Trung Quốc vẫn chỉ là chiến thuật tạm thời. Ngoài các nỗ lực mới để thể hiện Trung Quốc sẵn sàng theo đuổi cách tiếp cận hợp tác hơn, Bắc Kinh cũng ngừng thái độ quyết đoán hơn so với giai đoạn từ năm 2009-2011. Ví dụ, từ năm 2010, các tàu tuần tiễu của Cục Quản lý Đánh bắt cá Trung Quốc ít khi bắt giữ các ngư dân Việt Nam hơn (Từ năm 2005-2010, Trung Quốc bắt giữ 63 tàu thuyền đánh cá và ngư dân Việt Nam cho đến khi họ nộp đủ tiền phạt mới trả tự do). Các tàu thuyền của Việt Nam và Philíppin có thể tiến hành thăm dò dầu khí mà không bị Trung Quốc ngăn cản. Nhìn chung, gần đây Trung Quốc không gây khó khăn cho các hoạt động thăm dò ở các vùng biển mà Việt Nam và Trung Quốc đều tuyên bố chủ quyền. Rõ ràng, Trung Quốc kiềm chế can thiệp vào các hoạt động như vậy để chứng tỏ họ đang theo đuổi lựa chọn trở thành một nước láng giềng thân thiện hơn.
Nhưng tại sao Trung Quốc theo đuổi cách tiếp cận ôn hòa hơn như vậy? Hơn bao giờ hết, Bắc Kinh nhận ra rằng cách tiếp cận quyết đoán đang ảnh hưởng không tốt đến các lợi ích chính sách đối ngoại lớn hơn của Trung Quốc.Một nguyên tắc trong chiến lược quan trọng hiện nay của Bắc Kinh là duy trì quan hệ thân thiện với các nước lớn, các nước láng giềng chung biên giới và thế giới đang phát triển. Thông qua những hành động trên Biển Đông, Trung Quốc đã phá huỷ nguyên tắc này và làm mất đi hình ảnh thân thiện ở Đông Nam Á mà Trung Quốc xây dựng được trong thập kỷ trước. Bắc Kinh đã tạo nên mối quan tâm chung giữa các nước khu vực trong việc chống Trung Quốc và khiến các nước này quay sang tìm kiếm sự ủng hộ của Oasinhtơn. Bằng cách làm đó, hành động của Trung Quốc đã tạo cơ hội cho Mỹ can dự lớn hơn trong khu vực và đưa các bất đồng Biển Đông vào mối quan hệ Mỹ-Trung. Mùa Thu năm ngoái, Trung Quốc nhận thấy họ đã đi quá xa. Hiện nay Bắc Kinh muốn tăng hình ảnh ôn hòa hơn trong khu vực để ngăn chặn khả năng hình thành một nhóm nước châu Á liên kết với nhau chống Trung Quốc, ngăn chặn ý đồ của các nước Đông Nam Á thúc đẩy hơn nữa quan hệ với Mỹ, đồng thời làm suy yếu vai trò lớn hơn của Mỹ trong các bất đồng và khu vực. Đến nay, cách tiếp cận mới của Bắc Kinh dường như đang hiệu quả, đặc biệt với Việt Nam. Trung Quốc và Việt Nam đang tăng cường quan hệ thông qua các cuộc trao đổi cấp cao thường xuyên. Các chuyến thăm của Tổng Bí thư ĐCS Việt Nam Nguyễn Phú Trọng đến Bắc Kinh tháng 10/2011 và của Phó Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đến Hà Nội tháng 12/2011 nhằm củng cố tinh thần và bảo vệ mối quan hệ song phương rộng lớn hơn không bị ảnh hưởng bởi các bất đồng lãnh thổ trên Biển Đông. Tháng 10/2011, hai nước cũng nhất trí kế hoạch 5 năm nhằm thúc đẩy thương mại song phương lên 60 tỷ USD vào năm 2015. Và tháng 2/2012, bộ trưởng ngoại giao hai nước nhất trí thành lập các nhóm công tác về các vấn đề như tìm kiếm và cứu hộ trên biển, thiết lập đường dây nóng giữa hai bộ ngoại giao, bắt đầu đàm phán việc phân chia ranh giới Vịnh Bắc Bộ.
Mặc dù bầu không khí hiện nay trên Biển Đông có vẻ lắng xuống, nhưng Biển Đông có thể tiếp tục xảy ra những bất đồng trong thời gian tới. Bởi vì, thời tiết xấu đã hạn chế hoạt động của các tàu cá và các công ty dầu khí trên Biển Đông. Nhưng khi các hoạt động đánh bắt cá và thăm dò dầu khí trở lại trong mùa Xuân, các sự kiện có thể tăng lên. Nhưng cách tiếp cận mới của Trung Quốc khiến nhiều người hy vọng Trung Quốc sẽ tham gia các cuộc đàm phán về Bộ quy tắc ứng xử bắt buộc để thay thế Tuyên bố 2002 và tiếp tục hạn chế những hành động đơn phương. Nhưng do cách tiếp cận mới phản ánh lôgíc chiến lược, nó có thể kéo dài và cho thấy sự thay đổi chính sách đối ngoại quan trọng hơn của Bắc Kinh. Khi Đại hội Đảng lần thứ 18 đang đến gần, các nhà lãnh đạo Trung Quốc muốn một môi trường bên ngoài ổn định, vì sợ rằng một cuộc khủng hoảng quốc tế sẽ làm đảo lộn các kế hoạch thay thế lãnh đạo cuối năm nay. Và mặc dù sau khi các nhà lãnh đạo Đảng mới được bầu chọn, họ cũng sẽ tìm cách tránh các cuộc khủng hoảng quốc tế đồng thời củng cố quyền lực và chú trọng các thách thức trong nước. Cách tiếp cận ôn hòa hơn của Trung Quốc trên Biển Đông cũng cho thấy một bằng chứng nữa: Trung Quốc sẽ tìm cách tránh kiểu chính sách đối đầu như họ theo đuổi với Mỹ năm 2010. Như trong chuyến thăm Oasinhtơn hồi tháng Hai, ông Tập Cận Bình khẳng định Mỹ không cần lo sợ phản ứng của Bắc Kinh đối với chiến lược trở lại châu Á. Thay vào đó, Trung Quốc sẽ dựa vào các công cụ ngoại giao và kinh tế thông thường chứ không phản ứng quân sự trực tiếp đối với chiến lược này. Bắc Kinh cũng không thể quyết đoán hơn nếu điều đó khiến các nước Đông Nam Á tăng cường quan hệ với Mỹ. Chưa biết cách tiếp cận mới của Bắc Kinh có thể kéo dài hay không, nhưng ít nhất nó cũng thể hiện Trung Quốc có thể điều chỉnh chính sách đối ngoại của họ. Đây là dấu hiệu tốt cho sự ổn định trong khu vực.
Tác giả Taylor Fravel là Phó Giáo sư Khoa học Chính trị-thành viên Chương trình nghiên cứu an ninh của Viện Công nghệ Massachusetts
Trung Quốc đã phát tín hiệu phủ nhận UNCLOS bằng việc khẳng định “chủ quyền không thể tranh cãi” đối với Biển Đông, quan điểm của Bắc Kinh đã gây nên xung đột với các quốc gia khác. Để đạt giải pháp công bằng cho tất cả các bên, các nước ASEAN cần liên kết để tìm ra một tiếng nói chung trong cách tiếp cận để giải quyết vấn đề Biển Đông đối với Trung Quốc.
Công ước Luật biển của Liên Hiệp Quốc UNCLOS năm 1982 ghi nhận các đại dương là di sản chung của thế giới bằng một tập hợp các điều luật quy định về vùng đặc quyền quốc gia 200 hải lý từ bờ biển tương ứng của họ. Những vùng nước bên ngoài sẽ được mở ngỏ cho tất cả các hình thức sử dụng nhằm mục đích đóng góp cho các quan hệ hòa bình và hữu nghị. Bằng việc tuyên bố chủ quyền đối với Biển Đông, Trung Quốc đã bác bỏ bản công ước này. Những căng thẳng hiện nay trên Biển Đông bắt đầu từ năm 2009, sau khi Ủy ban Giới hạn Thềm lục địa của Liên Hiệp Quốc quy định hạn chót cho việc đệ trình yêu sách vùng thềm lục địa mở rộng dựa trên quy định 200 hải lý của UNCLOS. Sau khi Việt Nam và Malaysia đệ trình yêu sách của mình, Trung Quốc đã đưa ra một bản đồ với 9 đường đứt đoạn, yêu sách gần như toàn bộ Biển Đông. Sáu quốc gia có biên giới biển và những nước khác cũng rất quan tâm tới vấn đề. Đó là đường yêu sách mở rộng đằng sau những căng thẳng gia tăng tại Biển Đông. - YaleGlobal
Là trung tâm của nền kinh tế toàn cầu đang chuyển dịch về phương đông, nó phản ảnh sự trỗi dậy của Trung quốc như một một nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới. Những tuyến thương mại phục vụ khu vực cũng đạt được tầm quan trọng hơn, điều này đồng thời còn đem lại sự quan tâm mới đối với Công ước Luật biển của Liên Hiệp Quốc (UNCLOS) năm 1982. Đây là cơ chế luật pháp quốc tế đã duy trì trật tự hải dương từ hơn một thập kỷ rưỡi qua, và hiện nay, Đông Á đang nổi lên như một vũ đài xung đột mới.
Trung Quốc đã phát tín hiệu phủ nhận UNCLOS bằng việc khẳng định “chủ quyền không thể tranh cãi” đối với Biển Đông. Quan điểm này xung đột với những yêu sách của năm quốc gia tiếp giáp Biển Đông khác bao gồm Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei, cùng một bên là Đài Loan, vốn cũng có những yêu sách pháp lý đối với các vùng nước, các đặc tính và những hòn đảo dựa trên quy định của UNCLOS.
Cùng với sự xuất hiện như một quốc gia thương mại lớn, những yêu sách từ hàng thập kỷ trước bỗng trở thành cấp thiết, vì Trung Quốc đang phụ thuộc nhiều hơn bao giờ hết vào tuyến đường biển quốc tế kéo dài từ các vùng nước của Đông Á tới Trung Đông. Trước kia, Trung Quốc đã từng tự cung ứng về mặt năng lượng thì ngày nay họ đang phải nhập khẩu dầu mỏ, và sự phụ thuộc này sẽ ngày càng gia tăng đáng kể trong hai thập niên tới. Trung Quốc có những quan ngại đối với sự an toàn của tuyến đường vận chuyển trên biển và cho cả nhu cầu của họ đối với nguồn năng lượng hydrocarbon trầm tích tại Biển Đông, nơi được cho là có chứa một lượng dầu mỏ và khí gas dự trữ đáng kể.
Báo Thái Nationmultimedia: Trung Quốc cần nhận thấy rằng để giải quyết tranh chấp Biển Đông, cần thương lượng với tất cả các bên liên quan và thậm chí với cả nhóm nước. Bất cứ cố gắng nào nhằm chia rẽ các nước thành viên ASEAN sẽ có kết cục thất bại và sẽ trì hoãn việc giải quyết hòa bình tranh chấp.
Sau gần hai thập kỷ có mối quan hệ ổn định, ASEAN và Trung Quốc giờ đây đang có nhưng bất đồng liên quan đến hàng loạt mâu thuẫn xung đột trên Biển Đông. Trong quá khứ, sự đối đầu và bất đồng giữa ASEAN và Trung Quốc được xếp lại sang một bên vì e ngại rằng nếu nêu vấn đề ra sẽ làm cho tình hình khu vực trở nên căng thẳng hoặc làm cho cuộc xung đột trầm trọng thêm. Giờ đây, ngày càng có nhiều hãng thông tấn đã chủ động nêu ra vấn đề, đặc biệt từ quan điểm của một số nước ASEAN có tuyên bố về chủ quyền lãnh hải ở Biển Đông. Nhất là Phi-líp-pin và Việt Nam. Trong số các nước ASEAN có tuyên bố về chủ quyền, hiên nay Phi-líp-pin đã trở thành nước có phản ứng gay gắt nhất với Trung Quốc. Mục tiêu của Manila hoàn toàn rõ ràng là, làm cho tất cả các nước ASEAN đều tham gia vào cuộc tranh chấp chống lại chủ quyền lãnh hải của Trung Quốc.
Thời điểm hiện nay, các nước ASEAN đang bi chia rẽ, giữa những nước có tuyên bố chủ quyền với những nước không có tuyên bố. Trong đó hai nhóm nước hoàn toàn có quan điểm khác nhau. Hầu hết các nước ASEAN muốn Trung Quốc giải quyết tranh chấp xung đột theo phương thức hòa bình, theo cách đó cả hai bên cùng thắng. Tuy nhiên, dường như hiện nay tất cả các bên không từ bỏ hy vọng về chủ quyền của mình. Trong các thập kỷ trước, họ đều cố gắng thực hiện chính sách chung bắt đầu bằng 1 chương trình hợp tác chung, nhưng không nước nào đồng ý với nhau về những vấn đề kỹ thuật.
Trung Quốc luôn khẳng định, cuộc xung đột Biển Đông sẽ được giải quyết song phương với từng nước có yêu cầu về lãnh hải chứ không phải với tất cả các nước ASEAN khác. Mâu thuẫn này tiếp tục không giảm, và điều này cũng giải thích tại sao, ASEAN từ chối không mời Trung Quốc tham gia vào cuộc thảo luận xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử tại các khu vực tranh chấp, thực chất là tại vùng Biển Đông. Bắc Kinh mong muốn sớm trở thành thành viên trong cuộc thảo luận vấn đề trên. Trung Quốc biết rằng cuộc xung đột này sẽ đẩy uy tín quốc tế của mình vào thế lâm nguy.
Cả Phi-líp-pin và Việt Nam đều tiếp tục nhấn mạnh tính chất xâm lược của Trung Quốc, hi vọng cộng đồng quốc tế sẽ nhận thức được đây là điểm yếu của Trung Quốc. Manila đã yêu cầu ASEAN giúp đỡ giải quyết cuộc xung đột của mình với Trung Quốc và biết rõ sự hạn chế của nhóm nước khu vực. Lời đề nghị này buộc Campuchia hiện là Chủ tịch ASEAN phải đưa ra thảo luận. Tại Hội nghị cấp cao ASEAN vừa qua ở Phnom Penh, Thủ Tướng Hun Sen đã không tránh khỏi sự chỉ trích trong việc điều hành vấn đề tranh cãi trên.
Nếu như xu thế này tiếp diễn, quan hệ giữa các nước có tuyên bố chủ quyền và nước không có tuyên bố sẽ trở nên căng thẳng và có thể tạo ra hậu quả phức tạp hơn cho quan hệ hữu nghị giữa ASEAN và Trung Quốc và cho cả khu vực Đông Á. ASEAN cần phải nhanh chóng tiến hành tham vấn với Trung Quốc để bảo đảm rằng hai bên thỏa thuận được với nhau về Bộ Quy tắc ứng xử càng sớm càng tốt. Ngoài ra, các cuộc đụng độ trên biển sẽ tiếp tục, lôi kéo giới truyền thông vào cuộc và sẽ khích lệ ý định của tất cả các nước liên quan, một số nước ASEAN không muốn hoặc không thấy cần thiết vào thời điểm này.
Trung Quốc cũng phải nhận thấy rằng để giải quyết cuộc xung đột này, cần tiến hành các cuộc thương lượng với tất cả các bên liên quan có tuyên bố về chủ quyền lãnh hải và thậm chí với cả nhóm nước. Bất cứ cố gắng nào nhằm chia rẽ các nước thành viên ASEAN sẽ có kết cục thất bại và sẽ trì hoãn việc giải quyết xung đột theo phương thức hòa bình. Trung Quốc chắc hẳn nhận thấy chiến lược này đã không được triển khai ở thập kỷ trước. Việc ASEAN và Trung Quốc càng nhanh chóng đạt được thỏa thuận về Bộ Quy tắc ứng xử thì càng tốt. Cả ASEAN và Trung Quốc có thể đưa ra đề nghị phi quốc tế hóa vấn đề này theo lợi ích riêng của mình, nếu như họ có thiện chí chính trị để làm như vậy. Và hiện giờ là thời điểm để làm điều đó.
Việc tập đoàn cung cấp khí ga của Nga Gazprom gần đây ký thỏa thuận với tập đoàn dầu khí Việt Nam Petrovietnam về khai thác tại thềm lục địa Biển Đông không phải là điều hoàn toàn bất ngờ vì đây là một phần trong chiến lược dài hạn của công ty Nga, công ty có hoạt động kinh doanh tại 10 nước trên thế giới.
Trong chiến lược đó, Việt Nam là một trong những ưu tiên của Gazprom với nhiều hợp đồng đã được ký với PetroVietnam từ năm 2006. Gazprom có hơn 50% là vốn sở hữu nhà nước và các chính sách của Tập đoàn này có quan hệ chặt chẽ với các chính sách của Nga. Chính phủ Nga cũng đang nhìn Việt Nam với nhiều lợi ích trong đó. Hà Nội đối với Moscow không chỉ là liên minh trong kỷ nguyên Xô Viết mà còn là cửa ngõ vào ASEAN, một khu vực mà Nga đang tìm cách để thâm nhập vào bởi tính đa dạng về các quan hệ chính trị và thương mại. Việt Nam đã trở thành nước nhập khẩu nhiều vũ khí của Nga bao gồm cả tàu ngầm và máy bay chiến đấu. Nga cũng đang cố gắng bán vũ khí cho các nước ASEAN khác trong đó có cả Indonesia trong khi bắt đầu giảm bán vũ khí cho Trung Quốc. Cùng lúc đó, với cương vị chủ tịch APEC năm 2012 và tham gia thượng đỉnh Đông Á năm 2011, Nga đang tăng sự chú ý tới châu Á. Đây không chỉ là về mặt lô-gíc khi xét tới vị trí Châu Á – Thái Bình Dương đối với Nga. Nga cần xem xét quan hệ hiệu quả và ổn định với Trung Quốc như một tài sản lớn. Quan hệ kinh tế năng động giữa hai nước và hợp tác chính trị Nga - Trung về nhiều vấn đề quốc tế cần được đánh giá cao. Không lãnh đạo nào của Nga là không mong muốn quay trở về tình trạng thân thiện với Trung Quốc. Hơn nữa, Nga và Trung Quốc còn là đối tác trong nhiều lĩnh vực, mặc dù hai nước cũng là đối thủ cạnh tranh trong một số lĩnh vực. Một số học giả quốc tế thậm chí đã nhìn nhận khu vực này đang là sân sau của Trung Quốc và cho rằng Nga đang tụt hậu. Nga về phần mình tiếp tục duy trì quan hệ chặt chẽ với Việt Nam và Ấn Độ, những nước có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc.
Tuy nhiên, theo tác giả, sẽ là sai lầm nếu tập trung vào cạnh tranh, làm giảm lợi ích chung. Các nhà lãnh đạo của Nga, trái ngược với một vài lãnh đạo các nước láng giềng khác của Trung Quốc chưa bao giờ tỏ lo ngại về sự trỗi dậy của Trung Quốc trong 3 thập kỷ qua. Công luận Nga cũng chưa bao giờ cảm thấy hoảng hốt về vấn đề này mặc dù cân bằng quyền lực giữa Trung Quốc và Nga đang thay đổi nhanh chóng.Hiện quan hệ Nga - Trung đã đủ chín để duy trì thế cân bằng thích hợp giữa lợi ích chung và lợi ích quốc gia. Nga đang thừa nhận biển Đông là khu vực tranh chấp lãnh thổ và Nga hy vọng tranh chấp này sẽ được giải quyết hòa bình. Các dự án năng lượng của Gazprom ngoài khơi bờ biển Việt Nam vẫn nằm ngoài vùng nước tranh chấp do đó Nga sẽ không chọn cách xa Trung Quốc bằng việc đặt lợi ích lên trên an ninh quốc gia. Khi ông Vladimir Putin bước vào điện Kremlin với tư cách Tổng thống Nga lần 3, mục tiêu của ông là duy trì vị thế của Nga như một trong 5 nước quyền lực nhất thế giới. Trọng tâm của Nga sẽ chủ yếu tập trung vào kinh tế và điều này đòi hỏi Nga cần có quan hệ ổn định với Mỹ và Trung Quốc. Trong khái niệm một nước Nga hiện đại, quan điểm của ông Putin về một cường quốc lớn có nghĩa là trên tất cả phải có sự độc lập chiến lược với Mỹ và Trung Quốc. Liên minh Á - Âu của Putin có nghĩa là thiết lập quan hệ chặt chẽ và cân bằng hơn với châu Âu trong khi sẽ phải phát triển chiến lược châu Á mà trong chiến lược đó, Nga chắc chắn sẽ phải chú ý nhiều tới quan hệ đối tác và hợp tác với Trung Quốc. Tuy nhiên, Nga sẽ không bỏ qua lợi ích và cơ hội tại một số nước khác như Ấn Độ, Nhật Bản và Việt Nam. Nga hy vọng rằng Trung Quốc sẽ hiểu những động cơ đằng sau động thái của Nga.
Tác giả Dmitri Trelin là giám đốc Trung tâm Carnergie Moscow.